Bệnh Mất Trí Nhớ

Hiện tượng mất trí nhớ thật ra không phải là một chứng bệnh, nhưng phải hiểu là một hội chứng bao gồm các vấn đề khó khăn trong việc nhớ và suy nghĩ. Có nhiều nguyên do hay bệnh trạng đưa đến tình trạng mất trí nhớ (dementia), mà bệnh Alzheimer chỉ là một trong những nguyên nhân ấy. Người bị tai biến não hay bị tiểu đường không kiểm soát cũng làm cho mất trí nhớ. Sự mất trí nhớ có thể xảy ra cho mọi lứa tuổi nhưng thường xảy ra cho người già nhiều hơn, gây khó khăn cho chính đương sự và người thân khi phải săn sóc họ.
Hội chứng mất trí nhớ cũng khác với sự lãng trí, nhưng lại bắt đầu từ những dấu hiệu của sự lãng trí. Khi chúng ta làm nhiều việc cùng một lúc, không tập trung trí óc, lãng trí có thể xảy ra. Lâu lâu bị lãng trí như bỏ quên đồ vật trong nhà không tìm được là chuyện thường, nhưng là một vấn đề nếu những triệu chứng đó tiến dần đến việc không còn nhận biết thời gian ví dụ như năm 1975 và năm 2015, hay không phân biệt được không gian như đang ở Việt Nam hay đang ở Mỹ, hoặc không còn nhớ được những đồ vật hay người quen.
Tình trạng mất trí nhớ (dementia) thường xảy ra cho người già, nhưng không phải mọi người khi già đều mất trí nhớ. Nhiều người tưởng lầm là sự mất trí nhớ và bệnh Alzheimer cùng là một thứ bệnh, nhưng thật ra không phải như vậy. Trung bình chỉ có 10% số người trên 65 tuổi bị bệnh Alzheimer, nhưng cho những cụ trên 85, tỉ số là 1/3. Hiện nay, theo ước tính, có khoảng năm triệu người Mỹ trên 65 tuổi bị bệnh Alzheimer và trên toàn thế giới có khoảng 35.6 triệu người bị mất trí nhớ.
Nói đúng ra, trí nhớ của tất cả mọi người đều không hoàn hảo. Có những dữ kiện chúng ta tưởng là nhớ đúng 100% nhưng trên thực tế theo thời gian, trí nhớ bị phai mờ với những “lỗ hổng”. Bộ não chúng ta sẽ tìm cách điền vào những “chỗ trống” đó bằng những hư cấu không có thực hay không chính xác. Vì thế khi chúng ta lớn tuổi, chuyện giảm trí nhớ xảy ra cho tất cả mọi người, nhưng mức độ và tốc độ suy sụp tùy theo bản chất của mỗi cá nhân. Riêng những người bị Alzheimer, tốc độ suy sụp rất nhanh, có khi trong vòng vài tháng đã thấy sự khác biệt.
Thế thì, những dấu hiệu khác biệt đó là gì?
Hầu hết các sách y khoa đều nói rằng dấu hiệu sớm nhất của bệnh Alzheimer là mất trí nhớ. Khổ nỗi là sự mất trí nhớ không xảy ra qua đêm trong thời gian đầu nên rất khó mà nhận biết. Mà nếu có chút lãng trí xảy ra thì thường bị bỏ qua, hay bị người thân phán cho những chữ như “già rồi, lẩm cẩm” là xong câu chuyện. Một khi sự mất trí nhớ xảy ra có thể nhận thấy được thì thường là quá trễ.
Người có triệu chứng Alzheimer thường bắt đầu lặp lại những câu chuyện hay câu hỏi nhiều lần và bất chợt. Ví dụ, có khi họ đang nói chuyện thời năm 1975, đùng một cái nhảy qua nói chuyện đánh football năm 2015, rồi quay lại thời cụ Diệm bị đảo chánh và vài ngày sau lại nhắc lại những chuyện đó. Hoặc, họ có vấn đề theo dõi câu chuyện của người khác. Ví dụ người ta đang bàn chuyện đám cưới, người có vấn đề lại “đóng góp”chuyện lính Mỹ đổ bộ ở Normandy! Nghĩa là, nhớ đâu nói đó, không có thứ tự. Không nên nhầm lẫn với thói quen tư duy của người bệnh. Đa số, thường bị bỏ qua là “lâu nay tánh vẫn thế!”
Cùng lúc với chuyện lãng trí, quên chỗ này, chỗ kia, dấu hiệu sớm nhất của bệnh Alzheimer là việc đi đứng không vững và hay té ngã. Dĩ nhiên là khi người lớn tuổi, hay bị té ngã có thể do nhiều nguyên do khác nhau đưa đến, nhưng không nên bỏ qua mà phán cho câu “già yếu nên như vậy”. Có người đang ngồi trên ghế vẫn bị té lăn quay xuống đất vì không giữ được thăng bằng, như vậy không phải hoàn toàn là yếu!
Người bị Alzheimer thường có dáng đi như lê lết trên mặt đất như chim cánh cụt. Họ không nhấc được bàn chân khỏi mặt đất và hai chân thường hay bị quíu, như không biết chân nào phải bước trước và chân nào theo sau. Có khi họ như lúng túng muốn bước hai chân tới trước cùng một lúc. Đó là lý do tại sao họ dễ bị té.
Ngoài ra, lý do dễ mất thăng bằng, và hay bị té là khả năng nhìn vật thể chung quanh theo định thức không gian 3 chiều không còn chính xác nữa. Thí dụ cái bàn, cái ghế có thể bị nhìn méo đi, hay khoảng cách ước lượng từ điểm A đến điểm B không còn đúng nữa.
Khoa học vẫn chưa tìm ra gene di truyền gây ra bệnh Alzheimer. Người ta đã tìm khắp bộ DNA của con người và ghi nhận được 33 điểm khả nghi. Tuy nhiên những người có gene apolipoprotein E (APOE) ở trên nhiễm sắc thể số 19 sẽ có nguy cơ tăng cao. Ngoài ra nguy cơ có thể thay đổi qua sự tương tác giữa gene và môi trường.
Căn nguyên của bệnh Alzheimer là do những vẩy (plaques) chung quanh tế bào não, tương tự như vẩy đóng trong mạch máu. Khác với vẩy cholesterol trong máu, những vẩy trong não này được tạo thành bởi chất protein. Những vẩy protein như những chất cách điện, hệ quả là những tín hiệu được truyền đi từ một tế bào thần kinh nầy đến tế bào khác bị ngăn chặn. Hiện tượng cách ly này không chỉ xảy ra giữa tế bào này với tế bào khác mà còn ở ngay trong tế bào thần kinh, như những chùm tơ nhện, gọi là “tangles of Tau protein”. Ngoài việc cách ly sóng điện, những vẩy protein còn tiết ra chất độc để hủy diệt tế bào thần kinh, vì thế não bộ dần dần teo nhỏ lại.
Hiện tượng đóng vẩy không xảy ra qua đêm mà kéo dài có khi cả chục năm trước khi triệu chứng đầu tiên xuất hiện. Nói cho dễ hiểu, “người thường” không có bệnh Alzheimer cũng bị đóng vẩy trong não chút đỉnh khi… già yếu. Nhưng đối với người có bệnh, tốc độ suy sụp, đổ dốc sẽ rất nhanh.
Dĩ nhiên, triệu chứng mấu chốt của bệnh mất trí nhớ phải là sự mất khả năng tư duy, khả năng nhớ, nhưng những triệu chứng khác do sự suy yếu của não bộ đưa đến, ví dụ như khả năng nói và vệ sinh cá nhân sẽ xảy ra cùng lúc, chứ không theo thứ tự.
Như thế, sự suy yếu xảy ra một cách toàn bộ, từ trí nhớ, đến suy yếu thị giác và khả năng giữ thăng bằng. Khi bệnh càng nặng, người bệnh sẽ mất khả năng tư duy, không còn nhận biết người quen, không nhớ những chuyện mới xảy ra gần như tức thì. Họ sẽ có vấn đề hiểu câu hỏi, sử dụng từ ngữ để diễn tả hay tốn nhiều thì giờ để trả lời một câu hỏi có khi rất đơn giản. Khuôn mặt như khờ đi, không biểu lộ được cảm xúc. Họ mất khái niệm về thời gian và không gian. Tâm tính của người bị mất trí nhớ cũng thay đổi, có khi họ trở nên trầm cảm, cô đơn nhưng có lúc hung dữ, bướng bĩnh vì trong tư duy hạn hẹp, không ai hiểu được họ. Cuối cùng là mất luôn khả năng vệ sinh cá nhân như tiểu tiện và đại tiện. Người bệnh chỉ nhận biết được một vài người thân săn sóc cho họ. Khi thiếu những người này, hay khi phải rời xa những môi trường quen thuộc, thường sẽ bị kích động những cơn sợ khủng hoảng tinh thần, gọi là panic attacks, làm cho họ cứng người đi, càng dễ bị té ngã thêm.
Trong phạm vi bài viết này, tôi không đi sâu vào việc chẩn bệnh và thuốc chữa trị. Tuy nhiên, dựa trên những kiến thức cơ bản ở trên, tôi hy vọng bạn đọc có thể phát hiện ra bệnh tình của người thân và đưa họ đến gặp bác sĩ càng sớm càng tốt. Nên nhớ tất cả các loại “thuốc chữa” hiện nay không có khả năng chữa dứt bệnh mà chỉ làm cho tốc độ phát triển của bệnh chậm đi. Và nếu thuốc chữa càng sớm thì chất lượng đời sống của bệnh nhân cũng như của người thân săn sóc cho bệnh nhân sẽ đỡ khổ hơn nhiều.
image.png
Nói chung, mọi người khi lớn tuổi đều có nguy cơ bị mất trí nhớ. Để giảm bớt nguy cơ bị mất trí nhớ, một số biện pháp cần thực thi ngay từ bây giờ:
Trước hết, bạn phải có một chế độ ăn uống cân bằng, điều độ, nhiều rau trái, tập thể dục đều đặn, như đi bộ ba tới năm giờ mỗi tuần, và ngủ đủ tám tiếng mỗi ngày. Ngủ đêm không đủ thì tranh thủ ngủ ngày! Những người ngủ đầy đủ và có ngủ trưa thường sống lâu và ít bị mất trí nhớ.
1. Học khiêu vũ:
Ta nói nôm na là tập… “nhảy đầm”. Nghiên cứu đăng trên tờ New England Journal of Medicine năm 2003 cho biết khiêu vũ vừa là một môn thể dục thể thao, vừa là một trò chơi đòi hỏi suy nghĩ, tiến thoái trong mỗi bước. Khi khiêu vũ, lượng máu không những chỉ dồn về bắp thịt mà còn đổ về phía não bộ nhiều hơn vì khiêu vũ đòi hỏi cả thể lực lẫn trí tuệ.
2. Học chơi một thứ nhạc cụ hoặc nghe nhạc:
Nhiều nghiên cứu cho thấy người chơi nhạc cụ trên 10 năm sẽ có trí nhớ tốt hơn một người không chơi nhạc. Trong trường hợp bạn không có đủ thời giờ hay năng khiếu âm nhạc, nên tập nghe và thưởng thức âm nhạc.
3. Học một ngôn ngữ khác:
Một nghiên cứu đăng trên tờ Neurology năm 2013 cho biết những người nói thông thạo hai thứ tiếng, khả năng bị mất trí nhớ chậm đi bốn năm rưỡi so với người chỉ biết một thứ tiếng.
4. Học đánh cờ hay chơi video game:
Một nhiên cứu của Pháp năm 2013 cho thấy những ai chơi cờ, hay chơi các loại game như bingo, xì lát, poker… (nhưng đừng ghiền quá, và cũng tránh “ngồi computer” hay TV nhiều nhé), khả năng bị mất trí nhớ giảm đi 15%.
5. Đọc sách:
Không cần phải đọc nhiều, nhưng khi đọc sách nên bỏ thì giờ suy nghĩ, nghiền ngẫm nội dung của sách, truyện. Đọc truyện mới lạ có lợi hơn là đọc chuyện cũ đã biết. Đừng đọc Thiên Long Bát Bộ hay Tam Quốc Chí đến lần thứ 10!
6. Chú tâm làm một việc cho xong, đừng ôm đồm nhiều thứ vô một:
Người chú tâm làm xong một việc ít bị lãng trí hay mất trí nhớ hơn người làm hai ba việc cùng một lúc. Ví dụ khi ăn thì đừng xem TV! Ngoài ra nên biết dùng thời giờ một cách hữu hiệu.
7. Học đan, may vá, hay làm vườn:
Khảo sát thống kê năm 2013 cho biết những người có những thú vui kể trên, trí óc minh mẫn hơn những người không có “thú vui” để tiêu khiển.
8. Sống có mục đích: 
Sống lạc quan, yêu đời và có giao thiệp với bạn bè người thân làm bớt tình trạng cô độc, sầu muộn.
9. Tập viết:
Viết văn, viết truyện, viết thơ cho bạn bè, viết nhật ký, viết hồi ký… làm giảm khả năng mất trí nhớ về sau.
10. Cuối cùng, tập làm việc nhà:
Những người làm lụng chân tay, làm việc trong nhà ít bị mất trí nhớ hơn người ngồi một chỗ xem TV hay nhìn “bóng câu qua khung cửa sổ”.
Nói chung là phải tích cực động não. Tất cả các hoạt động trên đây nên bắt đầu từ hôm nay, bất kỳ ở lứa tuổi nào. Không nên đợi tới 60, 70 mới lo ngăn ngừa mất trí nhớ!
Bác sĩ Hồ Ngọc Minh  

Hits: 0

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Một ngôi sao vừa lim tắt trên bầu trời âm nhạc Hollywood

Hàng triệu fans ái mộ trên thế giới vô cùng thương tiếc một ngôi sao tài sắc vẹn toàn, một huyền thoại âm nhạc vừa giã từ khán giả hâm mộ: Nữ ca sĩ Doris Day của những thập niên 1950′ và 1960′.

Nhất là các khán giả tại Sài Gòn, Miền Nam trước năm 1975 không thể quên Doris Day qua một danh sách dài top hits bất hủ vượt thời gian như “When I Fall In Love”, “Pillow Talk”, “Secret Love”, và “Que Sera, Sera” (What Will Be Will Be), v.v…  
Khi được mời cùng đóng với James Stewart trong phim L’homme Qui en Savait Trop (The Man Who Knew Too Much) với đạo diễn tài ba về phim kinh dị Alfred Hitchcock và được yêu cầu hát bài Que Sera Sera, cô đã từ chối vì cô thường hát các bản tình ca hơn là bái hát về thiếu nhi. Sau một thời gian suy nghĩ trước những thuyết phục, cô đã hát bài Que Sera, Sera trong bộ phim :”Người đàn ông Biết Quá Nhiều” đó, và không ngờ bài hát Que Sera Sera đã đưa cô lên cao hơn nữa trên đỉnh cao danh vọng, và cả thế giới biết đến cô qua ca khúc dễ thương này. 
Xin cùng nghe lại ba bài “When I Fall In love”,”Secret Love”, và “Que Sera Sera” như một tưởng nhớ đến người ca sĩ tài sắc vẹn toàn Doris Day – trong hai thập niên huy hoàng của VNCH.
Phạm Gia Đại

Hits: 3

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Em Vẫn Đợi… Tháng Năm

Anh đã hẹn thăm em khi Phượng nở
Tháng năm rồi anh liệu nhớ hay không?
Hè sang rực đỏ Phượng hồng
Bao giờ Phượng nó trổ bông anh về

Nơi miền quê em vẫn chờ vẫn đợi
Thắp lửa tình vui duyên mới anh quên
Để em lệ chảy ướt nhèm
Tháng năm lại thấy nghẹn thêm nhói lòng

Lời đã hứa làm em mong đợi mãi
Tháng năm về thêm khắc khoải nhớ thương
Ngày xưa đã hẹn chung đường
Giờ đây nước mắt em vương nghẹn ngào!

ST 

Hits: 2

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Tu-líp Tạ Tình

Tu-líp Tạ Tình
Mỗi năm tại Ottawa, thủ đô của Miền Đất Thiên Đàng, khách du xuân lại tụ về đây để tham dự hội hoa tu-líp.

DSCF5428
Hoa tu-líp trồng nhiều nơi trên nước Canada, bên Âu Châu và khắp thế giới; nhưng hoa tu-líp trồng ở Ottawa mang một ý nghĩa đặc biệt.
Nguồn gốc của ngày lễ hội hoa tu-lip cũng mang một ý nghĩa sâu xa, thắm thiết của lòng biết ơn của nước Hà Lan (Netherland) với Canada từ hồi Đệ Nhị Thế Chiến.DSCF5448
Khi Âu Châu bị Đức Quốc Xã xâm chiếm, Hoàng Gia Dutch (Hà Lan) đã phải trốn chạy bọn Phát-xít. Họ đã tìm mọi cách để đào thoát khỏi bọn quỷ dữ Nazi, và Canada chính là miền đất bao dung đã ân cần tiếp đón họ.DSCF5464
Vì vậy năm 1945 ngay sau Đệ Nhị Thế Chiến Hoàng Gia đã gởi 100,000 củ  tu-líp đến Ottawa để cảm ơn dân Canada đã cho Công Chúa Juliana và con gái của người được trú ẩn trong thời gian người Dutch bị bọn Đức Quốc Xã Nazi xâm chiếm.
Điều đặc biệt đáng ghi nhớ nhất là Công Nương Margriet con gái của công chúa  Juliana đã được hạ sinh tại nhà thương Ottawa Civic Hospital. Cô bé Juliana được mang quốc tịch Dutch (người Hà Lan) vì khu hộ sinh của nhà thương được xem như thuộc vùng đất quốc tế, không thuộc quốc gia nào.DSCF5500
Cứ thế mỗi năm, Juliana gởi tặng thủ đô Canada là Ottawa 10,000 củ hoa  tu-líp. Ottawa dần dần trở nên nỗi tiếng về hoa  tu-líp. Mãi cho đến năm 1953 Ban Thương Mại Ottawa và nhà nhiếp ảnh Malak Karsh đã tổ chức hội hoa  tu-líp đầu tiên của Canada.
Năm 2002 công nương Margriet trở lại Ottawa để kỷ niệm 50 năm ngày hội hoa  tu-líp.DSCF5470
Trong hội hoa  tu-líp ở Ottawa, du khách sẽ thấy những hoa  tu-líp rất đặc biệt không có trồng ở những nơi khác. Những hoa  tu-líp màu nhung tím, màu ca phê sửa, màu sen hồng, và những hoa  tu-líp hồng có viền màu trắng như tuyết.DSCF5446
Tạ tình bằng hoa, nhất là hoa  tu-líp, là một nghĩa cử văn hóa cao thượng và tao nhã. Như những nhà thơ, nhạc sĩ, họa sĩ tặng nhau những món quà văn nghệ. Chẳng ai tặng nhau mấy cây vàng!DSCF5451
Giây phút cuối cùng ra đi, vàng bạc của cải chẳng có ý nghĩa gì nhưng những món quà văn nghệ sẽ còn lưu trong tâm thức.DSCF5497
Hoàng Gia Dutch đã chọn cách nói lên sự biết ơn của mình bằng một ngôn ngữ vừa là họa, vừa là thơ, vừa là nhạc…không lời. Truyền thống tốt đẹp đó còn tiếp tục đến ngày hôm nay.
KMVN vừa ghé thăm hội hoa tu-líp tại Ottawa tuần rồi May 15, xin gởi đến các bạn một ít hình ảnh về ngày hội hoa nhé.

Vũ Tam Thừa

Hits: 176

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Tương lai khi già ai sẽ nuôi dưỡng bạn?

“Nuôi con dưỡng già” là quy luật bất thành văn từ ngàn đời này. Tuy nhiên, ngày nay khi đọc tin tức, có rất nhiều bài viết về “người già vô gia cư, con tranh chấp tài sản của bố mẹ”, bạn có nghĩ rằng quan niệm “nuôi con dưỡng già” vẫn còn đúng?

Bạn hãy xem câu chuyện bên dưới để suy ngẫm và tìm câu trả lời cho chính mình nhé.

Có một người mẹ đơn thân nuôi con, chồng bỏ đi từ sớm, cô ấy sống bằng nghề dạy học, với thu nhập khá khiêm tốn đã nuôi dưỡng con trai khôn lớn thành tài.
Lúc còn nhỏ, con trai rất ngoan ngoãn, vâng lời. Cô vất vả nuôi dạy con đến tuổi trưởng thành, và cậu con trai được đi Mỹ du học. Sau khi con trai tốt nghiệp đại học đã ở lại Mỹ làm việc, kiếm được khá nhiều tiền rồi mua nhà, và lấy vợ, sinh con, xây dựng một gia đình hạnh phúc đầm ấm.
Người mẹ già này, dự định sau khi nghỉ hưu sẽ đến Mỹ đoàn tụ cùng con trai và con dâu, hưởng phúc gia đình vui vẻ sum vầy. Chỉ ba tháng trước khi cô sắp nghỉ hưu, cô đã nhanh chóng viết một lá thư cho con trai, nói với con về nguyện vọng này.
Trong tâm cô rất đỗi vui mừng khi nghĩ đến chặng đường “nuôi con dưỡng già” của mình sắp đến hồi kết tốt đẹp, cùng những ánh mắt hâm mộ của bà con, bạn bè xung quanh. Vì thế mà một mặt cô đợi hồi âm của con, một mặt cô thu xếp bán nhà và nộp đơn nghỉ hưu.
Vào đêm trước ngày nghỉ hưu, cô nhận được thư hồi âm của con trai gửi từ Mỹ về, mở thư ra xem, trong thư có kèm một tấm ngân phiếu 30 ngàn đô la Mỹ.
Cô cảm thấy rất lạ, bởi vì từ trước đến giờ con trai không bao giờ gửi tiền về, cô vội vàng mở thư, bức thư viết rằng: “Mẹ à, sau khi vợ chồng con cùng nhau bàn bạc, quyết định là không thể đón mẹ đến Mỹ sống chung được. Cứ cho rằng mẹ có công nuôi dưỡng con trước đây, toàn bộ chi phí đó, thì tính theo giá cả thị trường bây giờ khoảng 20 ngàn đô Mỹ. Nhưng con sẽ gửi thêm một chút, là tấm chi phiếu 30 ngàn đô này. Hy vọng từ nay về sau mẹ đừng viết thư cho con nữa, cũng đừng kể lể về những việc như thế này nữa.”
Sau khi người mẹ đọc xong lá thư này thì nước mắt đầm đìa. Cô lặng im một hồi lâu, thật khó mà chấp nhận được sự thật này. Nhưng với tấm lòng người mẹ bao la như biển cả, cô không trách con trai, chỉ cảm thấy tủi phận cho một đời góa bụa. Khi trẻ đơn độc nuôi con, bây giờ cần nơi nương tựa vẫn lẻ bóng, lòng cô đau như cắt!.
Sau đó, cô tìm đến cửa Phật, và bắt đầu học Phật Pháp. Học được một thời gian, cô cảm thấy tâm thái nhẹ nhõm, suy nghĩ cũng thông mọi chuyện. Cô dùng 30 ngàn đô đó để đi du lịch khắp thế giới, lần đầu tiên trong đời, cô được mở mang tầm mắt thấy được quang cảnh thế giới này thật đẹp biết bao.
Như cởi được tất cả mọi sân si, hờn giận, cô thanh thản viết cho con trai mình một bức thư.
“Con trai à, con muốn mẹ đừng viết thư cho con nữa, thế thì, cứ xem như lá thư này là bổ sung cho bức thư con đã gửi mẹ trước đây. Mẹ nhận tấm séc rồi, cũng đã dùng nó để thực hiện một chuyến du lịch vòng quanh thế giới.
Trong chuyến đi này, mẹ đột nhiên cảm thấy rằng nên cảm ơn con, cảm ơn con đã giúp mẹ hiểu thấu được mọi chuyện, có thể buông bỏ nhân tâm, khiến mẹ nhận ra tình thân quyến, tình bạn và tình yêu của con người trên thế gian này đều không phải là vĩnh cửu, chỉ như như bèo dạt mây mà trôi, tất cả đều đang thay đổi từng ngày.
Nếu ngày hôm nay mẹ không thông suốt, vẫn còn ôm giữ bao nhiêu sân si, hờn giận, đau khổ thì có thể một vài năm nữa, mẹ có lẽ sẽ không sống nổi. Sự tuyệt tình của con khiến mẹ ngộ được chữ “duyên” nơi trần gian này, chẳng phải duyên hợp lại tan đó sao! Tất cả đều là vô thường!  Mẹ cũng học được cách giữ tâm mình thanh tĩnh và ung dung tự tại. Mẹ đã không còn con cái nữa, tâm đã vô lo, nên mới có thể đi đến bất cứ nơi đâu mà tâm không mảy may vướng bận.”
“Thật đáng thương cho cái tâm của các bậc làm cha mẹ trên thế giới này”, vì họ luôn muốn điều tốt đẹp nhất cho con cái của mình, nhưng kết quả cuối cùng lại chưa hẳn là tốt nhất.
Có một câu nói rằng: “Nhà của cha mẹ là nhà của con cái, nhà của con cái không bao giờ là nhà của cha mẹ. Sinh con là nhiệm vụ, nuôi con là nghĩa vụ, nhưng dựa vào con là sai lầm.”
Mặc dù không phải tất cả con cái đều vô lương tâm như người con trai trong câu chuyện này. Nhưng những bậc làm cha mẹ nhất định không nên nghĩ rằng sẽ dựa vào con cái của mình. Chân thành mà nói, bạn hãy chỉ dựa vào chính bản thân mình. Con cháu nếu có hiếu thảo với bạn, thì đó cũng là phúc đức của bạn. Còn nếu chúng không hiếu thảo, thì bạn cũng không thể cưỡng cầu mà có được. Cách tốt nhất là hãy sớm lên kế hoạch “dưỡng già” ngay từ bây giờ, sẽ không bao giờ là quá muộn cả!.

Sưu Tầm  

Hits: 5

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hoa Đà Lạt

Trời Đà Lạt
lạnh se se
nụ cười e ấp nón che
ngàn thông gió thổi tình nghe ngọt ngào

môi thơm ngát
má hồng tơ
anh bay trong cõi trời thơ
nắng mai chiếu sáng trên bờ tóc mây

thân ở đây
mộng phương nào
núi đồi xanh mướt chiêm bao
hồn ai xao động đã bao nhiêu mùa

ong bay lượn
bướm nô đùa
Cám ơn em ngọn gió lùa
Hương còn thơm ngát bốn mùa trời anh

Vũ Tam Thừa
Photo Mario Đàm
(Một bài thơ theo thể thơ 3, 3, 6, 8)

Hits: 3373

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Tháng Tư! Vùi Đất Lạ!

Cứ mỗi độ tháng Tư về, những người tha hương như chúng ta lại nhớ, lại bùi ngùi trong tấc dạ với lòng thương cảm hướng về đồng bào ruột thịt, đã bỏ mình trên biễn cả! Về thân phận những người Việt Nam phiêu bạt quê người, nhà thơ Du Tử Lê viết về cái chết: “Vùi đất lạ thịt xương e khó rã. Hồn không đi sao trở lại quê nhà?”  

***
 
Bán đảo Kuku chỉ là môt trong hàng chục trại tạm cư dành cho thuyền nhân Việt Nam khắp vùng Đông Nam Á. Kuku là một rẻo rừng dừa trên đảo Jemayah, thuộc quần đảo Anambas, tỉnh Riau, cách thủ đô Jakarta của Nam Dương hơn 1300km.

(Kuku có nghĩa là “Cậu”, theo tiếng Hoa! Vì cách đây hơn nửa thế kỷ có một người Tàu đã đến đây khai hoang để trồng dừa. Ông là một người tốt bụng, thường giúp đỡ dân nghèo nên được mọi người thương mến gọi bằng “Cậu”. Sau đó, dân địa phương ở đây đặt tên rừng dừa này là Kuku.)

Từ năm 1979 đến giữa thập niên 1980, có lần lượt khoảng 40.000 thuyền nhân Việt Nam đã đặt chân lên Kuku. Cả Nam Dương thì con số này lên đến 180.000 thuyền nhân. Khi những thuyền nhân VN cuối cùng rời trại Kuku để chuyển về trại Galang, chờ đi định cư ở một nước thứ ba; Kuku lại trở về hoang vắng, tiêu điều như thuở ban sơ. Cả một rẻo rừng rộng lớn, từng xôn xao bóng hàng chục ngàn thuyền nhân năm nào, bây giờ chỉ là một vạt rừng dừa xanh ngăn ngắt, hoang vu!

Bãi biển thênh thang ngày xưa bây giờ hẹp lại vì rừng lấn dần ra biển! Cầu tàu, rồi các dãy lều tạm cư đã biến mất vào hư vô? Chỉ còn xác mấy chiếc thuyền vượt biên trơ sườn; vì cát biển theo hàng vạn đợt thủy triều, nắng gió đã chôn vùi phần đáy, nhưng vẫn còn ráng nhú mũi ghe lên nắm níu, như một bia mộ của một thời dâu bể! Đâu rồi lán trại, chùa, nhà thờ, văn phòng Cao ủy? Đâu rồi Trạm xá ? Đâu rồi bãi đáp trực thăng trên đỉnh đồi?

Những năm 80, hàng ngày có cả chục, cả trăm người chết… Xác tấp vào bờ hoang, xác trôi bập bềnh giữa biển, xác nằm vắt trên ghe… Thảm lắm! Các câu chuyện thuyền nhân bi thảm đó như thể mới vừa xảy ra hôm qua đó thôi!

Khi những người năm cũ trở lại rừng xưa đã khép, không còn gì nữa cả. Nếu còn chỉ là mộ thuyền nhân nằm rải rác trên đồi thân nhân đến viếng mộ phải băng qua con suối hoặc trảng cỏ và những con dốc cheo leo. “Mẹ tôi chết! Con tôi chết! Chồng tôi chết! Vợ tôi chết… Hiện giờ còn đang nằm lại ở Ku ku!”

Mỗi ngày ít nhất có một người chết. Khi họ chết rồi cũng không có gì để liệm, chỉ có một bộ đồ dính thân. Bà con đào một cái lổ, hạ huyệt, lấy một cục đá hay cành cây viết họ tên người chết mà thôi.

Mộ phần thuyền nhân hoang phế, mộ bia nghiêng ngã, bể gãy, cỏ mọc cao tới đầu rất thảm thương” khiến người trở lại viếng thăm không cầm được nước mắt trong hoàng hôn bủa lưới nhanh trên biển, ráng chiều từ từ lặn xuống cuối chân mây!

Băng qua một trảng cỏ, vượt qua một sườn dốc, cây cối rậm rạp để lên viếng mộ nằm cạnh một bãi đáp trực thăng, chỉ có tiếng gió xào xạc và vài tiếng chim lẻ loi trên ngọn đồi u tịch! Khi ánh nắng cuối ngày sắp tắt, trước lúc rời đảo về lại đất liền, nguời con chí hiếu nầy đi một vòng thắp những nén nhang cho những đồng bào xấu số vùi thân nơi đất lạ, nằm lại ở Kuku.

***

Tháng Sáu, năm 1982, sau một chuyến hải hành gian nan đã đến được Kuku, Nam Dương. Mừng vì đến được bến bờ tự do chưa thỏa thì đau đớn thay chỉ hai tháng sau, cơn sốt rừng ác tính đã mang vợ tôi đi mãi mãi!”

Một thuyền nhân tỵ nạn ở Ku ku ngày xưa hồi tưởng: “Tôi đã chôn theo em gương, lược, áo quần! Chiếc nhẫn cưới em vẫn còn đeo trên ngón tay áp út!”Mộ em trên sườn đồi, cạnh bãi đáp trực thăng, là một vùng đất sét pha cát, khá xốp, chứ không phải đá núi nên chiếc quan tài của Cao ủy trong đó xác bọc bằng một tấm ni long lúc hạ huyệt cũng sâu tới hai thước đất. Một chiếc thánh giá bằng gỗ đơn sơ, tên em và ngày mất được khắc lên trên đó. Giờ khai quật, cẩn trọng đào xuống gần hai tiếng đồng hồ, chiếc áo quan hiện ra, nắp ván thiên đã mục rã thành cát bụi sau thời gian dài đăng đẳng. Trên nền xi-măng của bãi trực thăng dưới cơn mưa nặng hạt, tôi thu nhặt toàn bộ mẩu xương cốt, những di vật, gương lược và chiếc nhẫn cưới ngày xưa trên ngón tay áp út tôi đã từng chôn theo em, được bỏ trong chiếc bọc ni long.

Hài cốt được hỏa thiêu dần dần biến thành tro trắng! Cát bụi đã trở về cát bụi!

Nhìn lên đỉnh đồi phủ mờ mây trắng như một dải khăn tang nghìn trùng xa cách

Xin tạ ơn đất trời Kuku, dẫu quê người, vẫn rộng lượng cho xác thân em tạm nương náu suốt 37 năm qua.

Ngày xưa, khi chiếc tàu Cao ủy xa dần Kuku, tôi đã thầm nói lời từ biệt với em và hẹn ngày trở lại. Bây giờ tôi trở lại vì ai nỡ bỏ em mồ hoang cỏ lạnh cho đành!

Trời Kuku bỗng đổ một cơn mưa rừng nhiệt đới! Cơn mưa rừng nhiệt đới ngày xưa phân ly, tôi đi, em ở! Và cơn mưa rừng nhiệt đới chiều nay tôi trở về Ku Ku để tìm lại em…”

Tháng Tư lại trở về trên quê người viễn xứ! Xin hãy rót xuống một giọt rượu để giải oan cho những cái chết tức tưởi trong cuộc biển dâu nầy!

Đoàn Xuân Thu
Melbourne

Hits: 2

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Tuổi trẻ tàu : ước mơ hay sống vội ?

Ảnh mang tính minh họa. Nguồn Notebookcheck

Người ta thường nói lịch sử một dân tộc thuộc về những người trẻ biết ước mơ. Ước mơ là động lực làm thay đổi đất nước tốt đẹp hơn.

Có quốc gia nào mà không truyền hy vọng và ước mơ cho tuổi trẻ mà tuổi trẻ lại có được sức mạnh để xây dựng và phát triển đất nước hay không? Nước Mỹ chỉ với lịch sử hơn 200 năm đã tạo lập cho mình ngôi vị cường quốc số một thế giới, phải chăng đã nhờ ước mơ vĩ đại của những bậc tiên phong và các thế hệ sau nối tiếp?

Ước mơ thường tạo nên con người. Con người dấn thân, xây dựng. Cuộc đời không có ước mơ giống như con tàu không có bánh lái.

Một người mà ước mơ không vượt qua thỏa mãn nhu cầu ở từng sinh lý cá nhơn trong hiện tại thì cũng không khác gì không có ước mơ .

Ngày nay người ta cho rằng có một bộ phận lớn tuổi trẻ không có những ước mơ về tương lai như những lớp đàn anh trước đây vì chúng cho rằng tương lai còn xa vời lắm mà chúng chỉ muốn hưởng thụ ngay bây giờ. Nếu quả thật như vậy thì không có gì buồn hơn. Không chỉ buồn cho lớp trẻ ngày nay mà còn buồn cho cả dân tộc.

Nhơn đây, qua thông tin báo chí, chúng ta thử lướt qua tuổi trẻ tàu để biết chúng có ước mơ hay không? Nếu có thì chúng ước mơ gì?

Vào trường và vào đời

Thế hệ những năm 1990, tức thế hệ con trai duy nhứt, được cưng chiều, đi học được nhồi nhét chủ nghĩa yêu nước, được tuyên truyền đất nước phát triển mạnh, nay đã trưởng thành. Chúng đang sống tại những thành phố lớn hay vừa, sung sướng, hoàn toàn, không biết những xáo trộn xã hội như những thế hệ trước. Chúng như sống trong một nhà kiếng nên phần lớn không có những giấc mơ, nhưng có quan hệ với thế giới nhờ mạng lưới xã hội.

Tuổi từ 12 tới 19 có 159 triệu, chiếm 11% dân số, mỗi người tiêu xài mỗi tuần 201 yuans bằng 25 euros. Riêng sinh viên có 21, 4 triệu, trong số đó có 1, 2 triệu học ở ngoại quốc . Có 1/3 lước mạng, 83% xài điện thoại cầm tay, 62% có tài khoản trên một microblog .

Lối 80% thanh niên tàu nghĩ Tàu là một nước quan trọng nhứt trên thế giới và tự hào về những truyền thống của đất nước. Tuy nhiên có 60% thanh niên quan tâm tới nếp sống của nhiều xứ khác.

Có phân nửa tỏ ra lo ngại tình trạng xứ sở bị ô nhiệm (TNS Rechearch International China, Courrier International số 1106 trích dẫn)

Sinh viên ra trường thường ráng tìm việc làm trong xí nghiệp ngoại quốc. Nếu làm cho Đại Hàn thì khá vất vả vì thường về trễ và hôm sau bắt đầu sớm. Người đi làm muốn tranh thủ giờ nghỉ ngơi, phải mang theo đầy đủ phụ tùng cá nhơn, như bàn chảy và kem đánh răng . Nhưng kiếm được việc làm không dễ vì xã hội tàu ngày nay hoàn toàn không tạo cho lớp trẻ cơ hội lập thân và thăng tiến, mặc dầu chúng học xuất sắc nếu cha mẹ không có những quan hệ tốt.
Vì vậy có một số không nhỏ thanh niên học xong, thất nghiệp dài hạn. Chúng mang nặng tâm trạng muốn nổi loạn hơn là mơ ước .

Làm sao kiếm được chồng giàu?

Đi học khó, kiếm được việc làm khó, lấy chồng cũng không dễ. Nhưng điều này cũng không phải ngụ ý muốn nói con trai tàu ngày nay là những giá trị quí hiếm.
Ở ngay tại Bắc kinh,Viện Deyu không lúc nào vắng các cô vào học cách ngồi vào bàn ăn và ăn uống, cách chơi các trò chơi giải trí như đánh golf, cách uống trà và mời khách…

Một bà mai mối trong giới nhà giàu nhìn nhận, không phải chỉ các cậu ấm mà cả các cô chiêu, phần lớn thật sự rất khó tìm được một mối tình. Vì ngày nay rất tiếc các cô phần lớn đều thiếu giáo dục. Nếu không muốn nói nặng lời là vô giáo dục.

Theo kết quả điều tra về tình trạng chồng con và tình cảm ở Tàu do Hội Quốc gia Phụ nữ tàu phổ biến thì ở Tàu có 180 triệu phụ nữ độc thân. Chỉ riêng ở Bắc kinh, người ta tính có ít nhứt 500 000 phụ nữ độc thân, tuổi từ 28 trở lên.

Năm 2010, một cô đang làm cho một xí nghiệp Hàn quốc, từ chức để lập cho mình một việc làm riêng. Đó là Viện Deyu mở những lớp chuyên dạy về phẩm cách người phụ nữ. Lúc đầu, các cô học viên tỏ ra coi thường những lời hướng dần của huấn luyện viên. Có người bảo huấn luyện viên quá quan tâm đến tầm quan trọng của sự lịch sự trong quan hệ xã hội. Thật ra các cô đều dư biết hết mọi thứ thì tại sao phải nhai lại chuyện giáo dục nữa? Để nâng cao hơn trình độ giáo dục chăng? Như vậy phải chăng huấn luyện viên cho rằng các cô không được giáo dục?

Cho tới một hôm, một cô học viên chịu không nổi nữa vì điều mong đợi khi đóng tiền đi học đã không được huấn luyện viên đề cặp tới, bèn hỏi thẳng: «Tại sao bà không nói cho chúng tôi biết loại cô gái nào mà đàn ông nhà giàu muốn tìm làm vợ, còn hơn ở đó cứ nói những điều lịch sự, tư cách phụ nữ, ngôn hạnh phụ nữ,…? Chúng tôi chỉ muốn biết làm sao chốp được một khứa có nhiều tiền!» .

Những phức tạp lúc đầu qua mau. Lớp học ngày càng đông. Các cô nhờ theo dõi những hướng dẫn về trao dồi nếp sống lịch sự và nhứt là phẩm hạnh của người phụ nữ nên kiếm được tấm chồng ưng ý. Đời sống hạnh phúc.

Và nay, lớp học có tên quen thuộc «Làm thế nào kiếm được chồng giàu»!

Một cái ví Hermès nếu không, thà chết

Ở Tàu, tuổi trẻ nếu không thể mua sắm được những món xịn thì cứ mua cái họp hay cái bao gói hàng xịn, có nhãn hiệu đàng hoàng cũng được vì khi sử dụng nhờ cái bề ngoài đó mà vớt vát thể diện.

Vì vậy thanh niên mới tự hỏi làm thế nào có được một cái ví (sắc) hàng hiệu đúng hiệu mà chi rất ít? Rất đơn giản «Ta mua thứ hàng nhái với 1 ticket trả tiền với một cái bao có in cùng thứ hiệu».

Ngày nay có nhiều người không thể mua nổi món hàng hiệu danh tiếng nên đành mua một cái bao có in hiệu thứ hàng đó để xách đi, đánh lừa như mình đang xài đây. Trên internet, người ta có thể có đủ các thứ liên hệ tới món hàng như khi mua món hàng đó mà có vậy: ticket trả tiền, bản hướng dẫn sử dụng, nhãn hiệu, … Giá từng món « phụ tùng » đó có thể thương lượng. Có thể nói đó là cách « tiêu thụ để giữ thể diện».

Trên báo Thanh Niên Tàu, có một bài điều tra giới trẻ. Trong số 1104 người được hỏi, có 84% xác nhận xài hàng giả, chỉ xài bao bì, nhản hiệu chớ không có hàng, …đúng là cách «tiêu thụ để giử thể diện». Quan điểm này hiện rất phổ biến, không chỉ riêng trong giới tuổi trẻ mà cả trong những người chung quanh chúng nó nữa.

Cũng trên internet, có một site rao bán đủ bộ phụ tùng cho một món hàng hiệu như Hermès hay Cartier, giá từ 2 yuans tới 200 yuans (0, 24 – 24 €) . Một site khác bán họp cạt-tông (bao bì) hiệu hàng xịn, mới giá 200 yuans, củ, còn tốt, giá 30 yuans . Tuy là bao bì nhưng không phải muốn mua lúc nào cũng có vì thường hết hàng, phải chờ ít hôm.

Một người chủ cửa hàng trên internet giải thích hiện tượng giới trẻ tàu mua và xài hàng ảo này: «Không phải người ta mua xài một cái ví, mà mua cho mình một địa vị xã hội, một não trạng và một bề ngoài» .

Từ nay, «tiêu thụ để giữ thể diện» và «xài sang» đã trở thành thời thượng của xã hội tàu .

Nêu gương xấu

Ở những thành phố lớn của tàu, khi vào một cửa hàng sang trọng, nếu khách hàng ăn mặc xuềnh xoàng hay khiêm tốn, sẽ được người bán hàng chào với thái độ tối thiểu. Nói chuyện cũng vừa đủ lịch sự . Không hề có cách tiếp đải «Vui lòng khách đến, vừa lòng khách đi»!

Cả trong giới sinh viên, những người thuộc gia đình khá giả không chơi với sinh viên gia đình nghèo nên xài «hàng hiệu loại nhái» hay chỉ xài «bao bì hiệu» là để xóa đi sự chênh lệch giai cấp, ít ra ở bề ngoài.

Theo ông Yang Chunxue, nhà nghiên cúu và Phó Giám đốc Viện Khoa học Xã hội Bắc kinh, thì hiện tượng giới trẻ chạy theo thể diện như vậy là do cán bộ cao cấp đảng viên đã làm gương xấu cho xã hội ; họ thích xe xua và tôn thờ bề ngoài.

Nhiều người muốn nói cho mọi người biết họ là người thành công nên họ phải có bề ngoài hào nhoáng, sang trọng . Cách ứng xử này ảnh hưởng mạnh xã hội tàu ngày nay, khoát lên cho xã hội tàu một bộ mặt mới .

Không có tiền túi, nữ sinh trung học bán dâm

Ở Việt nam, đảng và nhà nước cộng sản cho phép nữ sinh viên bán dâm kiếm tiến dưới 4 lần. Ở Tàu, để mua sắm nữ trang, quần áo, đi chơi, nữ sinh trung học Thượng Hải tìm được cách gỉải quyết nhu cầu rất đơn giản: bán thân kiếm tiền.

Trong số này, có những đứa bé mới 14 tuổi. Những đứa khác khai với cảnh sát đã bán dâm nhiều lần trước năm 18 tuổi.

Việc bán dâm, từ năm 2009, được tổ chức qua internet và điện thoại cầm tay. Hẹn nhau hoặc giới thiệu người mới. Có nhiều cô vừa hành nghề, vừa giới thiệu bạn lấy huê hồng. Qua nhiều cuộc thẩm vấn các cô bé vị thành niên này, Tòa án ngạc nhiên là các cô bé đều trả lời hoàn toàn không cảm thấy xấu hổ, mà còn hỏi lại «tại sao xấu hổ?».

Nhiều cô bé là con em gia đình khá giả, bán dâm chỉ vì thiếu tiền túi để đi chơi, mua sắm. Tất cả các cô bé cần tiền không biết bao nhiêu là đủ nên khi thấy thiếu là tìm khách hẹn nhau.

Trong số bán dâm này, có một cô làm nên sự nghiệp. Cô bé bắt đầu vào nghề năm 17 tuổi, 7 năm sau, cô bé kiếm được 2, 4 triêu yuans bằng 295 000 €.

Cô bé thuộc gia đình khá giả. Cha mẹ cho cô tiền túi hằng tháng nhưng với cô không đủ. Cô bé đang học tại một tường trung học dạy nghề ở thượng Hải. Nhìn về tương lai, cô bé thấy không có gì khả quan cả mà cô không thể chấp nhận cuộc sống vừa đủ. Cô cần có tiền mua sắm nữ trang, y phục, ăn chơi, …nên cô chọn cách kiếm tiền mau, khỏe ru, thì không có cách nào khác hơn bán thân !

Nguyễn thị Cỏ May  

Hits: 4

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

New York Tháng Năm

Tưng bừng lá hoa

Du khách gần xa

Về đây thăm viếng

Những nơi nổi tiếng

Tượng thần Tự Do

Ghé nơi tưởng niệm

Tháp đôi nơi này

Nay hai hố sâu

Anh hùng ghi dấu

Thảm họa loài người

Chính là thù hận

Oán hờn càng sâu

Chất chồng khổ đau

Họa trung hữu phúc

Giữa những thương đau

Tâm lành bừng sáng

Tránh gieo khổ sầu

“Sống thương yêu nhau

Ai ai cũng giàu”

Chúa Phật đều dạy

Càng dành phần mình

Càng nghèo trắng tay

        Vũ Tam Thừa

Hits: 51

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

‘31 Tháng Tư,’ tiếc đã muộn!

Tiếc Muộn

 

Cho dù tiếc muộn vẫn hơn không !!!

Giặc chiếm quê hương, chửa chạnh lòng !?

Giới trẻ thích chơi bời láo nháo !

Lớp già mê nhậu nhẹt long nhong !

Mặc cho dân Hán tràn biên giới;

Bất kể lính Tàu ngập núi sông.

Chẳng tự giúp mình…ai cứu nổi?

Tương lai nước Việt sẽ…đi đong.  

Cuốn “Hơn Nửa Đời Hư” in ở Sài Gòn của nhà văn Vương Hồng Sển. (Hình: Zing)
 
Ai cũng biết Tháng Tư chỉ có 30 ngày. Riêng ngày “30 Tháng Tư năm 1975” thì người dân Sài Gòn không thể nào nhớ lộn, không thể nào nói hay viết lầm được.
 
Nhưng nhà văn Vương Hồng Sển, trong cuốn “Nửa Đời Còn Lại” đã viết ít nhất hai lần “ngày 31 Tháng Tư năm 1975.” Lần đầu, trong bản in năm 1996 của nhà xuất bản Văn Nghệ, California, ở trang 285, cụ viết: “…tôi xin được lẩn thẩn lấy theo sức học đáy giếng mà luận việc trên cao để được tỏ chút nỗi lòng một dân Nam thấp hèn buổi 31-4-1975.”
 
Xin nhắc lại, Vương Hồng Sển viết: “…một dân Nam thấp hèn buổi 31 Tháng Tư, 1975.”
 
Cụ còn “viết lộn” thêm một lần nữa, trang 291: “…tôi đây đã trải cảnh chịu đựng sau ngày 31-4-1975 ở Sài Gòn, làm tôi bắt nhớ Nguyễn Du năm 1802,…”
 
Các “bạn trẻ” dưới 60 tuổi có thể không biết nhà văn Vương Hồng Sển là ai; độc giả sống ở miền Bắc càng ít người biết đến cụ.
 
Vương Hồng Sển là một “nhân chứng” cho những nhà viết sử. Cụ thường kể chuyện đời mình, để ghi lại cuộc biển dâu diễn ra chung quanh. Lâu lâu mới châm biếm chuyện chính trị. Cụ thường kể chuyện “Sài Gòn Năm Xưa,” tên một cuốn hồi ký. Cụ rỉ rả bàn về thú chơi đồ cổ, coi hát bội. Cụ tự chế nhạo mình sống “Hơn Nửa Đời Hư,” một cuốn hồi ký khác. Năm 1993, đã ngoài 90 tuổi, cụ vẫn gắng sức ngồi viết kể tiếp những chuyện mình đã từng trải qua cuốn “Nửa Đời Còn Lại.”

Hai lần “viết lầm” ngày 31 Tháng Tư, 1975, có thể vì cụ Vương Hồng Sển tuổi già đã lẫn lộn, hay là người đánh máy lại cuốn sách đã bấm lộn số không thành số một trên computer?
 
Cụ Vương đã viết lầm chăng? Nhưng, trong sáu, bảy trang sách mà viết lộn tới hai lần, giống hệt nhau, thì chuyện đó khó xảy ra. Vì khi đọc cả cuốn tự sự này, chúng ta thấy ông còn rất minh mẫn. Vương Hồng Sển nổi tiếng là người có thói quen ky cóp cất giữ các kỷ vật, ghi chép các biến cố trong đời mình rất cẩn thận. Ngoài 90 tuổi, ông nhắc lại những chuyện thời 1922 hay 1946, vẫn nhớ và ghi lại từng chi tiết. Ông còn giữ cái toa thuốc của Bác Sĩ Nguyễn Văn Thinh viết ngày 17 Septembre 1924.
 
Còn người đánh máy, nếu ngón tay bấm sai nút trên máy vi tính, thì chỉ lộn zero sang số 9 chứ không thể bấm số 1, vì trên bàn máy hai số zero và số một nằm ở hai đầu xa nhau.
 
Cho nên, có thể đoán cụ Vương cố ý viết hai lần ngày 30 thành 31 Tháng Tư.
 
Đó là một cách phát biểu ý kiến về chính trị, theo lối văn “đặc biệt Vương Hồng Sển!” Trong các tác phẩm, cụ Sển thường dùng lối văn “cà rỡn, cà tửng” theo phong thái Miệt Vườn. Cụ kể chuyện miên man, chuyện nọ xọ chuyện kia, rồi lâu lâu “đánh du kích” một câu thấm thía! Đó là những lúc cụ bàn xéo về chính trị! Viết ngày 30 thành 31 là một lối nói “cà tửng,” để gửi một thông điệp cho người đọc hiểu thâm ý của mình, người miền Bắc gọi là “nói kháy!”
 
Hai lần cố ý viết ngày 30 thành 31, là hai lần tác giả đang viết với tấm lòng đầy cảm khái. Lần thứ nhất, cụ nói đến thân phận “một dân Nam thấp hèn buổi 31-4-1975” sau khi tự nhận mình thấp hèn như “ốc ngồi đáy giếng” đòi bàn luận việc “trên cao.”
 
Lần viết lộn thứ hai là đoạn Vương Hồng Sển tự so sánh mình với kiếp “hàng thần lơ láo phận mình ra đâu” của Nguyễn Du khi phải làm tôi triều Nguyễn. Vương Hồng Sển đã viết rất dài về tâm sự Nguyễn Du trong thời gian đầu thế kỷ 19, để biện luận rằng trong thân phận “hàng thần” đó Tố Như không thể bình tâm mà sáng tác truyện Kiều được.
 
Lần thứ ba viết đến ngày lịch sử này thì Vương Hồng Sển viết chính xác, khi mô tả quang cảnh một khu phố Sài Gòn thay đổi, ở trang 333, “…từ ngày 30-4-1975 và hiện nay đã trở nên phố xá tấp nập lớp buôn bán, lớp làm cửa hàng to…” Ba lần viết đến ngày 30 Tháng Tư, hai lần viết lộn. Chắc là cố ý.
 
Cố ý, nhưng là ý gì? Vương Hồng Sển là dùng một ngày “không có thật,” 31-4-1975, để nói tóm gọn tất cả những năm tháng sau ngày 30 Tháng Tư, sau cuộc đổi đời! Đọc những chữ này, độc giả sẽ chia sẻ nỗi niềm của người dân miền Nam trong thời buổi “sau ngày 30 Tháng Tư!”
 
Vương Hồng Sển là công chức trong chế độ Việt Nam Cộng Hòa nhưng không chịu cảnh tù biệt xứ. Cụ nhắc đến lúc đoàn quân của Nguyễn Ánh ra chiếm Bắc Hà, nhắc lại rằng chỉ có hai người trong giới sĩ phu của Nhà Lê và nhà Tây Sơn bị chế độ mới hành hạ, là Phan Huy Ích bị bỏ tù và Cống Chỉnh bị đánh đến chết vì thù riêng. Vương Hồng Sển nhắc chuyện đời Gia Long chính là để so sánh với cái thông cáo lừa bịp để bắt giam hàng trăm ngàn người đi tù mút mùa gọi là “cải tạo!”
 
Có đoạn đang bàn chuyện Phạm Quỳnh, cụ Vương tự nhiên “đánh” một câu: “…trong này có miệng mà khó nói nên lời, có tay cầm viết mà khó ghi lời nào khỏi bị sửa chữa, cắt xén – vả lại tôi là người gì mà được phép nói…” (trang 267). Viết “trong này” tức là trong miền Nam; và “ngày nay” tức là với khác với trước 1975.
 
Tôi là người gì mà dám nói? Nhưng cụ Vương có lúc bỗng trở nên nồng nhiệt, dầu vẫn rụt rè nhưng nhất quyết phải nói, khi cụ lên tiếng bênh vực một danh nhân miền Nam vẫn bị đảng Cộng Sản buộc tội và bêu riếu một cách thô bạo, bất công là Phan Thanh Giản. Sau khi biện luận để phục hồi danh dự Phan Thanh Giản, Vương Hồng Sển viết: “…người đời nay học thuyết mới, tư tưởng theo mới, quên ơn kẻ trồng cây, quên ơn sanh thành đào tạo,…”
 
Ai cũng biết, sau ngày 30 Tháng Tư, 1975, lẫn trong đám các nhà văn, nhà thơ và học giả miền Bắc vào Sài Gòn, có nhiều người mang thái độ kiêu ngạo của “bên thắng cuộc,” lên mặt “dạy dỗ, cải tạo” giới văn nghệ và học thuật miền Nam, họ được bọn “cách mạng 30” nhi nhô đóng vai chỉ điểm.
 
Cảnh tiếp xúc hai miền Nam Bắc lúc đó, Vũ Hoàng Chương đã diễn tả qua hai câu: “Rằng vách có tai, thơ có họa – Biết lòng ai đỏ, mắt ai xanh!” Những người trí thức Sài Gòn như Vương Hồng Sển (hoặc Nguyễn Hiến Lê, Dương Nghiễm Mậu,…) chọn sống ẩn dật chứ không chịu ra làm tay sai cho bọn vua quan mới. Cụ Vương ví mình với con dế: “Tôi dư biết cho thân, thà làm dế sống trong hang, có lẽ được yên thân hơn là múa gáy cho trẻ nhỏ nó biết chỗ trốn, chúng đổ nước ngập hang, bắt dế về nuôi trong hộp diêm, hộp quẹt, thỉnh thoảng bắt ra đá độ, gãy càng queo râu toi mạng” (trang 84).
 
Sống trong một xã hội đầy những “vách có tai, thơ có họa” nhìn chung quanh không “biết lòng ai đỏ, mắt ai xanh,” Vương Hồng Sển không thể nói thẳng mà chỉ dùng mật ngữ. Có lúc kể chuyện Sài Gòn đời xưa từ 1867, trải qua trào Tây, trào Nhật, cụ lại quay qua nói chuyện vua Napoleon III bên Pháp, rồi chợt cảm khái: “Trở lại người dân đất Sài Gòn, như tôi đã nói, dám chắc không dân nào trí lanh tay xảo hơn. Khi bỏ áo giáp, tuột giầy trận, chịu đi đày, bán từ bàn thờ tổ tiên, bán ván gõ để nằm dưới gạch, căn đày kiếp đọa, tiếc đã muộn..” (trang 55).
 
Trong mấy dòng này là những ám hiệu cho “dân Sài Gòn” hiểu với nhau! Những nét chấm phá độc đáo: Kẻ thì “bỏ áo giáp, tuột giầy trận, chịu đi đày;” người ở lại nhà thì “bán bàn thờ tổ tiên, căn đày kiếp đọa!” Và tất cả đều “tiếc đã muộn!”
 
“Căn đày kiếp đọa, tiếc đã muộn!” Vương Hồng Sển gói ghém bao nhiêu nỗi đoạn trường trong thời buổi “31 Tháng Tư!”
 
Mấy trang tiếp, sau khi kể chuyện cà kê Kép Tư Út hát bài Anh Khóa đời xưa, tiếp đến chuyện ngôi nhà Tổng Đốc Phương bị tháo gỡ bán qua Đài Loan, bỗng nhiên Vương Hồng Sển lại viết: “Dân Sài Gòn tự khoe tiến bộ ký quỹ, gửi tiền nhà băng, giải phóng vào, hốt sạch sành sanh, thua xa dân Thổ Trà Vinh, Sốc Trăng… bán lúa mùa này xong, chôn bạc giữa lẫm rồi đổ lúa mới lên trên…” (trang 57). Kể lại cách cất giấu tiền của dân Thổ (người Việt gốc Khmer) đời xưa, để so sánh với dân Sài Gòn thời 1975, chỉ cốt viết một câu kết án: “Giải phóng vào, hốt sạch sành sanh!” Trong bảy chữ, Vương Hồng Sển cực tả một vụ cướp bóc đại quy mô, một vụ “ăn cướp hoành tráng.” Hốt sạch sành sanh!
 
Vào cái buổi 31 Tháng Tư, người miền Nam sống ra sao? Có lúc cụ Vương đang kể miên man những chuyện lẩm cẩm ở Sài Gòn từ thời Tây qua thời Nhật, bỗng tóm gọn một câu: “Kẻ trí đi ra nước ngoài, người ở lại phải giả dại qua ải” (trang 58). Phải sống “giả dại qua ải” nhưng Vương Hồng Sển cũng sống đủ lâu, được chứng kiến bản lãnh dân miền Nam vững vàng. Cụ viết: “Nói chi thì nói, phải nhìn nhận dân Sài Gòn vẫn có bản lĩnh – nước dưới sông thấy đó mà chặt không đứt, dứt không rời…” (trang 80). Cho nên “trải mấy trào liên tiếp mà dân vẫn là dân, cảnh có đổi mà dân không đổi…” Thơ Đỗ Phủ viết “Quốc phá, sơn hà tại,” chế độ vỡ, núi sông vẫn còn. Vương Hồng Sển không nói đến núi sông, mà chú ý tới “dân Sài Gòn vẫn có bản lĩnh” vững chãi như sông, như núi!
 
Ai cũng biết vào cái “Buổi 31 Tháng Tư” thì xã hội miền Nam đã thay đổi. Ai cũng có thể so sánh “trước ngày 30” và sau “buổi 31 Tháng Tư.”
 
Trước ngày 30 Tháng Tư năm 1975, trẻ em miền Nam vẫn giữ được những lời nói, cử chỉ kính trọng các thầy cô giáo hơn bây giờ. Mà các thầy cô hồi đó cũng giữ được tư cách đạo đức hơn buổi 31 Tháng Tư.
 
Trước ngày 30 Tháng Tư, 1975, ở miền Nam trai thiếu gái thừa, nhưng chưa có người mẹ nào bán con cho người ngoại quốc với giá mấy trăm đô la. Không có những cô gái xếp hàng trưng bày cho đàn ông ngoại quốc chọn. Không có người mẹ nào đem con gái bán cho các mụ Tú Bà.
 
Trước ngày 30 Tháng Tư, 1975, mặc dù đang chiến tranh dân miền Nam vẫn dám biểu tình phản đối chính phủ, không thua gì dân Nam Hàn, Đài Loan cùng thời gian đó. Sinh viên Sài Gòn biểu tình đòi giáo sư y khoa phải dạy bằng tiếng Việt, ký giả biểu tình phản đối bộ thông tin đóng cửa báo, các công nhân đình công, bãi thị, các học sinh bãi khóa. Tinh thần độc lập, tự chủ của người dân rất cao. Ngày nay, chỉ cần viết cho nhau trên Internet, nói chuyện tự do dân chủ, chống Trung Cộng xâm chiếm Hoàng Sa, cũng bi ghép tội rồi bỏ tù.
 
Nhưng chúng ta có thể tin tưởng như Vương Hồng Sển, là dân Việt Nam rất có bản lãnh. Dân vẫn là dân, các chế độ đi qua rồi sẽ biến mất. Chính Vương Hồng Sển cũng có lúc tỏ ý lạc quan. Đọc lại cuốn “Hơn Nửa Đời Hư” in ở Sài Gòn, cụ đã cải chính mấy đoạn đã bị cắt xén, trong cuốn ách tiếp theo, in ở nước ngoài. Nhân dịp đó, cụ còn tỏ ý tha thứ cho nhà xuất bản và hy vọng: “…tự xét tuổi gần đất xa trời, cũng nên hỉ xả họa may nối thêm được một ít lâu để chờ xem mãn cuộc… cuộc gì cũng chưa dám nói và nên hiểu ngầm…” (trang 277)!” Mãn cuộc gì? Ai cũng hiểu!
 
Vương Hồng Sển đã qua đời, chưa thấy hồi mãn cuộc. Nhưng “hồi mãn cuộc” cũng sắp tới rồi! Cái “buổi 31 Tháng Tư” đang tới hồi kết thúc, người Việt Nam có ngày sẽ trở lại làm người Việt Nam, giống như “trước 30 Tháng Tư!”
 
Ngô Nhân Dụng

Hits: 9

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Bài viết hay nên đọc Lúc về già …

Trong hình ảnh có thể có: 1 người, đang đứng và văn bản
Quốc Tú  

“Khi chúng ta chết đi, tiền của chúng ta vẫn còn ở trong ngân hàng…Tuy nhiên khi chúng ta còn sống, chúng ta lại nghĩ mình không có đủ tiền. Thực tế thì khi chúng ta qua đời chúng ta vẫn còn rất nhiều tiền chưa tiêu đến
Một ông trùm người Trung Quốc qua đời, để lại cho vợ 1,9 tỉ đô trong ngân hàng. Bà vợ ông sau đó đã lấy người lái xe của chính ông. Người lái xe nói: Tôi đã nghĩ tôi phải làm việc cho ông chủ mình. Nhưng giờ đây tôi mới nhận ra rằng cả đời ông chủ làm việc cho tôi.
Điều quan trọng là sống lâu hơn là có nhiều của cải. Vì vậy chúng ta phải cố gắng để sống khỏe mạnh.
Bạn có biết
Với một chiếc điện thoại xịn thì 70% chức năng của nó chúng ta không dùng đến
Với một chiếc xe đắt tiền thì 70% tốc độ và các đồ phụ kiện là không cần thiết
Với 1 căn biệt thự thì đến 70% không gian là chúng ta không dùng đến
70% quần ào trong tủ của bạn không được mặc tới
Cả cuộc đời làm việc thì đến 70% số tiền kiếm được là dành cho người khác tiêu
Vì vậy chúng ta phải bảo vệ và tận dụng hết khả năng 30% còn lại của chính mình bằng cách
– Đi kiểm tra sức khỏe thường xuyên, cho dù không ốm đau
– Uống nhiều nước, ngay cả khi không khát
– Học cách buông bỏ, ngay cả khi đối diện với những vấn đề nghiêm trọng
– Học cách thỏa hiệp ngay cả khi bạn là người đúng
– Học cách khiêm tốn, ngay cả khi bạn giàu có và có quyền lực
– Học cách bằng lòng ngay cả khi bạn không giàu
– Tập luyện thể thao ngay cả khi bạn bận rộn
– Dành thời gian cho những người bạn yêu mến
Cuộc sống này rất ngắn ngủi, vì vậy hãy hưởng thụ nó một cách trọn vẹn nhất.
ST

Hits: 8

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Bài Quê Hương Nỗi Nhớ

Trở về tìm mái nhà quê
Tìm hình bóng mẹ bộn bề nắng mưa
Tìm nắng xuyên ngọn cây dừa
Tìm hương mạ mới gió lùa thơm tho
Tìm đàn trâu với con đò
Áo bà ba mẹ câu hò trên sông
Nón lá nghiêng nắng nước ròng
Miền quê khó nhọc con còng con cua
Lục bình tim tím mùa mưa
Bồng bềnh một khúc sông khua mái chèo
Khói lên cháy bếp nhà nghèo
Con gà cục tác con mèo quẫy đuôi
Heo gà chạy ngược chạy xuôi
Chân bùn tay lấm nụ cười chân quê
Cánh cò trắng xóa vọng về
Ngân nga vọng cổ bốn bề thiên nhiên
Đậm đà ký ức giao duyên
Xương cha máu mẹ dịu hiền ca dao
Con dù biền biệt phương nào
Quê hương một dạ dạt dào khó phai.

Hoàng Thanh Tâm 

Hits: 11

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Lúc về già …

1. Lúc về già mình sẽ tuyệt đối không được chủ quan nghĩ rằng còn khoẻ, còn sung sức để nghĩ và làm những việc như hồi thanh niên. Tiền bạc là của con, địa vị là tạm thời, vẻ vang là quá khứ, SỨC KHOẺ là của mình.
2. Lúc về già mình nên quan tâm đến BẢN THÂN, sống thế nào cho vui thì sống, việc nào muốn và thích thì làm, ai nói sao mặc kệ vì mình đâu phải sống vì ý thích hay không thích của người khác, nên sống thật với mình.
3. Lúc về già mình sẽ SỐNG GẦN CON mà không sống chung với bất cứ đứa nào, chỉ sống với…vợ. Nếu cứ thương con cái, sống với chúng nó thể nào cũng đến lúc mình ở trọ trong chính ngôi nhà của mình. Con không có tiền mua nhà thì thuê, không đủ tiền thuê mình hỗ trợ, quyết không ở chung, trai gái dâu rể gì cũng vậy hết, một tuần đến thăm nhau 1 lần vào ngày cuối tuần là đủ.
4. Lúc về già… rất già, nên đặt một chỗ ở một trung tâm DƯỠNG LÃO nào đó. Tiền ít ở chỗ xoàng, tiền nhiều ở chỗ tươm để được chăm sóc y tế tốt và có nhiều cơ hội vui chơi bên bạn đồng trang lứa.. 
5. Lúc về già nên và chỉ nói hai chữ “ngày xưa” (đúng hơn là những câu chuyện hoài niệm) với BẠN đồng niên, tuyệt đối không nói với lũ trẻ, vì chúng sẽ cho mình bị dở hơi. Với tụi trẻ chỉ nói “ngày mai” và chỉ trả lời khi chúng hỏi. Về lại chốn xưa, gặp lại người thân, cùng nhắc lại những ước mơ thuở nhỏ, cùng bạn học nhớ lại bao chuyện vui thời trai trẻ, có như vậy mới tìm lại được cảm giác của một thời đầy sức sống. Quý trọng và được đắm mình trong những tình cảm chân thành là một niềm vui lớn của tuổi già. Nếu bạn đã cố hết sức mà vẫn không thay đổi tình trạng không hài lòng thì mặc kệ nó! Đó cũng là một sự giải thoát. Chẳng việc gì cố mà được, quả ngắt vội không bao giờ ngọt.
6. Lúc về già, mình sẽ dành thời gian đi THĂM QUAN những vùng đất mà chưa bao giờ đặt chân đến.
7. Lúc về già mình phải thay đổi quan niệm cũ kỹ đi, hãy chia tay với “ông sư khổ hạnh”, hãy làm “CON CHIM BAY LƯỢN”. Cần ăn thì ăn, cần mặc thì mặc, cần chơi thì chơi, luôn luôn nâng cao chất lượng cuộc sống, hưởng thụ những thành quả công nghệ cao, đó mới là ý nghĩa sống của tuổi già.
8. Lúc về già đừng bao giờ đến CƠ QUAN CŨ nếu như chưa nhận được một lời mời trân trọng, vào những dịp đặc biệt.
9. Lúc về già cần HIỂU rõ:
– Hạnh phúc do mình tạo ra. Vui sướng là mục tiêu cuối cùng của đời người, niềm vui ẩn chứa trong những sự việc vụn vặt nhất trong đời sống, mình phải tự tìm lấy. Hạnh phúc là cảm giác, cảm nhận, điều quan trọng là ở tâm trạng.
– Tiền không phải là tất cả nhưng không phải không là gì. Đừng quá coi trọng đồng tiền, càng không nên quá so đo, nếu hiểu ra thì sẽ thấy nó là thứ ngoại thân, khi ra đời chẳng mang đến, khi chết chẳng mang đi. Nếu có người cần giúp, rộng lòng mở hầu bao, đó là một niềm vui lớn. Nếu dùng tiền mua được sức khỏe và niềm vui thì tại sao không bỏ ra mà mua? Nếu dùng tiền mà mua được sự an nhàn tự tại thì đáng lắm chứ! Người khôn biết kiếm tiền biết tiêu tiền. Làm chủ đồng tiền, đừng làm tôi tớ cho nó.
– Cha mẹ yêu con là vô hạn; con yêu cha mẹ là có hạn. Con ốm cha mẹ buồn lo; cha mẹ ốm con nhòm một chút hỏi vài câu là thấy đủ rồi. Con tiêu tiền cha mẹ thoải mái; cha mẹ tiêu tiền con chẳng dễ. Nhà cha mẹ là nhà con; nhà con không phải là nhà cha mẹ. Khác nhau là thế, mình phải coi việc lo liệu cho con là nghĩa vụ, là niềm vui, mà không mong báo đáp, chờ báo đáp là tự làm khổ mình.
– Ốm đau trông cậy ai? Trông cậy con ư? Nếu ốm dai dẳng chẳng có đứa con có hiếu nào ở bên giường đâu. Trông vào bạn đời ư? Người ta lo cho bản thân còn chưa xong, có muốn đỡ đần cũng không làm nổi. Vậy nên cần chuẩn bị tài chính để sẵn sàng thuê người chăm sóc để con cái đỡ vất vả vì mình. 
– Người ngu gây bệnh (hút thuốc, say rượu, tham ăn tham uống….). Người dốt chờ bệnh (ốm đau mới đi khám chữa bệnh). Người khôn phòng bệnh, chăm sóc bản thân, chăm sóc cuộc sống. Khát mới uống, đói mới ăn, mệt mới nghỉ, thèm ngủ mới ngủ, ốm mới khám chữa bệnh…. Tất cả đều là muộn.
– Chất lượng cuộc sống của người già cao hay thấp chủ yếu tùy thuộc vào cách tư duy, tư duy tích cực là bất cứ việc gì đều xét theo yếu tố có lợi, dùng tư duy lạc quan để thiết kế cuộc sống tuổi già sẽ làm cho tuổi già đầy sức sống và sự tự tin, cuộc sống có hương vị; tư duy hướng hại là tư duy tiêu cực, sống qua ngày với tâm lý bi quan, sống như vậy sẽ chóng già chóng chết.
– “Hoàn toàn khỏe mạnh” là thân thể, tâm lý và đạo đức đều khỏe mạnh. Tâm lý khỏe mạnh là biết chịu đựng, biết tự chủ, biết giao thiệp; đạo đức khỏe mạnh là có tình thương yêu, sẵn lòng giúp người, có lòng khoan dung, người chăm làm điều thiện sẽ sống lâu.
10. Lúc về già mình sẽ thực hiện : 3 QUÊN, 4 CÓ, 5 KHÔNGvà 6 VỊ BÁC SĨ .
– 3 QUÊN
* Một quên mình tuổi đã già
Sống vui, sống khỏe, lo xa làm gì.
* Hai là bệnh tật quên đi
Cuộc đời nó thế, việc gì nhọc tâm
* Ba quên thù hận cho xong
Ăn ngon ngủ kỹ để lòng thảnh thơi.
                                                
– 4 CÓ
* Một nên có một gia đình
Vì không – homeless – người khinh lẽ thường
* Hai cần phải có nhà riêng
Đói no cũng chẳng làm phiền dâu, con
* Ba là trương mục ngân hàng
Ít nhiều tiết kiệm an thân tuổi già
* Bốn cần có bạn gần xa
Tri âm, tri kỷ để mà hàn huyên.
– 5 KHÔNG
* Một không vô cớ bán nhà
Dọn vào chung chạ la cà với con
* Hai không nhận cháu để trông
Nhớ thì thăm hỏi bà, ông, cháu mừng
* Ba không cố gắng ở chung
Tiếng chì, tiếng bấc khó lòng tránh lâu
* Bốn không từ chối yêu cầu
Ít nhiều quà cáp con, dâu, cho mình
* Năm không can thiệp nhiệt tình
Đời tư hay việc riêng phần của con.
– 6 VỊ BÁC SĨ TỐT NHẤT TRONG ĐỜI :
  *  Ánh nắng mặt trời
  *  Nghỉ ngơi
  *  Thể dục
  *  Ăn uống điều độ
  *  Tự tin
  *  Bạn bè
Cuối cùng luôn xác định TƯ TƯỞNG: 
“Sinh  – bệnh – lão – tử” là quy luật ở đời, không chống lại được. Khi thần chết gọi thì thanh thản mà đi. Cốt sao sống đàng hoàng để không hổ thẹn với lương tâm và cuối cùng đặt cho mình một dấu CHẤM HẾT THẬT TRÒN ./.
Sưu tầm 

Hits: 7

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Chuyện Một Người Mang Tên Nguyễn Thị Di Tản

ditantruyen

Hình trên net

Tên tôi là Nguyễn Thị Di Tản. Cái họ Nguyễn của tôi đã chứng tỏ tôi là người Việt Nam chính hiệu con nai vàng. Song có điều tôi là đứa bé Việt Nam chào đời ở một miền đất lạ xa – đảo Guam – một nơi chốn thật lạ lẫm với quê hương tôi. Theo lời mẹ tôi kể tôi chào đời vào những tháng ngày buồn thảm nhất của miền Nam Việt Nam. Tôi đã nằm trong bụng mẹ, theo mẹ trên con đường di tản của dân tộc tôi.

Tôi đã là một chứng nhân của lịch sử. Tiếng khóc chào đời của tôi ở một quần đảo nơi quê người đã giúp mẹ tôi nhiều can đảm vượt qua những thử thách, gian truân của cuộc đời.

Tôi là Nguyễn Thị Di Tản từ ngày ấy. Đã hơn một phần tư thế kỷ kể từ 30 tháng 4 năm ấy. Thế mà đã 44 năm qua…

Đã 44 năm qua. Tôi đã lớn. Đã trưởng thành nơi miền đất tạm dung của một tỉnh lỵ miền Tây Canada. Thành phố Winnipeg buồn hắt hiu như tâm sự “Người Di Tản Buồn” của mẹ. Mẹ rất yêu bản nhạc “Người Di Tản Buồn” của Nam Lộc. Ngày còn bé, bằng bài hát ấy mẹ đã ru tôi ngủ.. Riết rồi tôi quen với từng lời ca tiếng nhạc. Mẹ bảo đêm nào không nghe bài hát ấy tôi không ngủ. Đến lúc tôi bập bẹ biết nói mẹ dạy tôi hát. Tôi vừa quấn quít bên mẹ vừa đỏ đẻ hát:

Chiều nay có một người đôi mắt buồn
Nhìn xa xăm về quê hương rất xa
Chợt nghe tên Việt Nam ôi thiết tha
Và rưng rưng lệ vương mắt nhạt nhòa
Bạn ơi đó là người di tản buồn
Ngày ra đi lặng câm trong đớn đau
Rồi đêm khuya hằn lên đôi mắt sâu
Thời gian đâu còn những phút nhiệm mầu
Cho tôi xin lại một ngày, ở nơi nơi thành phố cũ
Cho tôi xin lại một đời, một đời sống với quê hương
Cho tôi đi lại đoạn đường, hàng cây vươn dài bóng mát
Cho tôi yêu lại từ đầu, bên người yêu dấu ngày xưa
Chiều nay có một người di tản buồn
Nhìn quê hương còn ai, hay mất ai?
Còn bao nhiêu thằng xông pha chiến khu?
Và bao nhiêu nằm trong những lao tù?
Ở đây có những chiều mưa rất nhiều!
Nhiều hơn khi hành quân trong tháng mưa
Buồn hơn khi rừng khuya vang tiếng bom
Ngày vui ơi giờ đâu nước không còn
Cho tôi xin lại một lần, ở nơi tôi dừng quân cũ
Cho tôi xin lại bìa rừng, nơi từng chiến đấu bên nhau
Cho tôi xin một lời chào, chào bao nhiêu người đã khuất
Cho tôi xin một mộ phần, bên ngàn chiến hữu của tôi!

Tôi hát như sáo. Mẹ hát sao tôi hát theo vậy. Mẹ bằng lòng lắm. Dần dà tôi có thể hát được cả bài. Bạn bè của mẹ đến nhà chơi, mẹ đem con sáo của mẹ ra khoe. Mẹ bắt tôi hát. Mỗi lần hát xong các bác, các cô, bạn của mẹ ai cũng đều rươm rướm nước mắt. Có lần tôi thỏ thẻ hỏi mẹ:
– Sao con hát hay mà mẹ với các bác lại khóc?

Mẹ ôm tôi vào lòng và nói:
– Bao giờ con lớn con sẽ hiểu tại sao.

Cái trí óc non nớt ngày ấy của tôi mơ hồ cảm nhận có một điều gì khác thường ở mẹ, một cái gì mất mát lớn lao trong đời mẹ. Những lúc rảnh rỗi, sau giờ cơm chiều mẹ dạy tôi nói, tôi đọc:

– Con là người gì? 
– Dạ thưa con là người Việt nam
– Con tên gì?
– Con tên là Di Tản
– Con có yêu nước Việt Nam không?
– Con yêu Việt Nam lắm!

Tôi đã thuộc nằm lòng những câu mẹ dạy. Tôi đã quen thuộc với cái tên Di Tản. Tôi thấy tên tôi nó ngồ ngộ, dễ thương làm sao. Đến lúc tôi lên năm, mẹ dắt tôi đến một ngôi trường Tiểu Học ở gần nhà để ghi tên đi học. Từ ngày còn bé tôi chỉ loanh quanh ở cái Apartment (chung cư) mẹ ở mà thôi. Chung cư nầy đa số là người Việt Nam. Lần đầu tiên đến trường, một khung cảnh mới, người mới. Các học sinh cùng lớp với tôi hoàn toàn là những khuôn mặt lạ xa.

Cô giáo cũng thế. Không giống mẹ. Không giống các bác, các cô đến chơi nhà mẹ. Lúc mẹ chào cô giáo ra về, tôi ở lại trường với tâm trạng thật lạc lõng, bơ vơ. Tôi muốn khóc. Tôi muốn theo mẹ ra về làm sao. Tôi ngồi cô đơn một góc lớp. Cô giáo rất trẻ, đến bên tôi nhỏ nhẹ hỏi:
– “What is your name?” (Tên con là gì?)

Tôi cúi mặt, bặm môi chừng như rướm máu, lí nhí đáp bằng cái giọng Việt Nam đặc sệt “Dạ .. Di Tản”. Cô giáo chừng như không hiểu, cô xem lại quyển sổ và hỏi lại tôi “Your name is Đaithen”. Tôi lắc đầu và lập lại “Di Tản”. Cả lớp rộ lên cười. Tôi bật khóc. Tôi khóc ngon lành như bị ai ức hiếp.

Sau buổi học, mẹ đến đón tôi về. Trên suốt quãng đường từ trường về nhà tôi lặng thinh, không nói một điều gì cả với mẹ. Mẹ âu yếm hỏi tôi “Con đi học có vui không”. Chừng như tôi chỉ chờ mẹ hỏi, tôi òa lên khóc và bảo:

– Sao mẹ không đặt cho con một cái tên nào dễ kêu như Helen, như Cindy hay Linda như tụi nó mà mẹ đặt tên con là Di Tản. Cô giáo đọc không được tên con, mấy đứa cùng lớp tụi nó chọc ghẹo con.

Mẹ tôi dịu dàng, từ tốn bảo:
– Con có biết cả nước Canada nầy có biết bao nhiêu là Helen, là Cindy không con? Còn tên Di Tản chỉ có mỗi một mình con. Con không thấy con đặc biệt sao con. Con phải hãnh diện vì cái tên rất là Việt Nam của con mới phải.

Tôi nũng nịu pha một chút hờn dỗi:
– Mà cô giáo đọc là Đaithen mẹ thấy có kỳ không?

Mẹ trìu mến đưa tay vuốt tóc tôi, hiền hòa khẽ bảo:
– Tại cô giáo không biết cách phát âm của người Việt Nam mình đó thôi. Con phải đọc lại cho cô biết rồi từ từ cô sẽ đọc đúng.

Giọng mẹ thiết tha hơn, chùng xuống, sũng đầy nước mắt.
– Mẹ đã mất tất cả rồi con ơi! Mẹ chỉ còn cái tên Việt Nam mẹ gửi cho con. Con có biết như thế không?

Đầu óc của một đứa bé lên năm làm sao tôi hiểu được hết những gì mẹ nói, song tôi biết mẹ buồn lắm. Có một cái gì làm cho mẹ khổ tâm lắm. Tôi cảm thấy ân hận. Tôi ôm mẹ, hôn mẹ, và bảo:
– Con xin lỗi mẹ. Con làm mẹ buồn lắm phải không mẹ?

Tôi thấy mắt mẹ long lanh ngấn lệ.
– Không phải đâu con, con của mẹ ngoan lắm.

Đó là câu chuyện ngày lên năm của tôi. Mãi cho đến những năm sau nầy tên tôi vẫn là một đề tài cho lũ bạn chọc ghẹo. Cái chọc ghẹo cho vui chứ không có một ác ý nào cả. Lúc tôi vào Highschool (Trung Học) tôi đã lớn lắm rồi. Tôi đã hiểu những u uất của đời mẹ. Tôi thương mẹ hơn bao giờ hết.

Thấm thoát mà tôi đã là cô gái 18. Soi gương tôi cũng biết mình đẹp lắm. Mẹ không cho tôi cắt tóc ngắn. Cả trường con gái mái tóc dài chấm lưng với khuôn mặt Á Đông của tôi vẫn là một đề tài nổi bật nhất.

Lại thêm cái tên Di Tản nữa. Lúc nầy tôi không còn buồn mỗi lần bị giáo sư đọc trật tên. Bạn bè tôi, những đứa quen nhau từ lớp Mẫu Giáo đến giờ được tôi huấn luyện cách phát âm nên đọc tên tôi đúng lắm. Tụi nó bỏ dấu còn lơ lớ nhưng tạm được. Nhưng mỗi lần bắt đầu một niên học mới, tên tôi lại là một tràng cười cho lũ bạn cùng lớp mỗi khi các giáo sư mới gọi tên tôi. Giáo sư nào cũng thế. Ngập ngừng một hồi lâu rồi mới đọc.

Tôi cũng không nín cười được cái giọng như ngọng nghịu của một giáo sư người Canada đọc một cái tên lạ quơ lạ hoắc chưa bao giờ thấy và gặp trong lịch sử dân tộc. Trên tay cầm bài test của tôi, ngập ngừng rồi vị thầy gọi “Đai then”.. Cả lớp ồ lên một loạt “Oh, my god”. Vị giáo sư lúng túng, đảo mắt nhìn quanh lớp. Cả lớp nhao nhao lên như bầy ong vỡ tổ. Chừng như tụi nó thích những dịp như thế để câu giờ, “nhứt quỉ, nhì ma, thứ ba học trò” mà. Con Linda ngồi cạnh, hích nhẹ cùi chỏ vào tôi và khẽ bảo:

– Ditan, ổng đọc sai tên mầy rồi kìa, mầy sửa cho ổng đi.

Tôi đỏ mặt. Tôi chưa kịp nói gì cả thì tụi con trai ngồi sau lưng tôi ào ào lên như chợ nhóm “Ditản, Ditản not Đai then”. Vị giáo sư lúc đó mới vỡ lẽ ra, mới biết là mình phát âm sai, ông gục gặc đầu nói lời xin lỗi và lập lại “Ditản Ditản”.

Lúc nầy tôi không còn nhút nhát như ngày xưa nữa. Bạn bè tôi Tây, Tàu, Canadian nữa đều “cứu bồ” tôi mỗi lần có tình trạng như trên vừa xảy ra. Dần dà mọi người gọi tên tôi rất ư là dễ thương. Đến bây giờ nhớ lại những lời mẹ nói với tôi ngày nào, tôi hãnh diện vô cùng về cái tên mẹ đã cho tôi. Tôi thương mẹ vô cùng.

Cái đất nước Việt Nam khổ đau muôn chiều đã gắn liền với mẹ tôi như hình với bóng trong cuộc đời lưu lạc xứ người hơn một phần tư thế kỷ.

Một điều mà tôi có thể khẳng định rằng “dù hoàn cảnh có thể tách rời mẹ ra khỏi quê hương, nhưng không có một hoàn cảnh nào tách rời quê hương ra khỏi tâm hồn mẹ được”.

Mẹ sống như chờ đợi, như mong mỏi một điều gì sẽ đến. Có lần tôi bắt gặp mẹ ngồi một mình trong đêm, tay mân mê, vuốt ve bức ảnh bán thân của bố tôi. Mẹ vẫn nuôi hy vọng Bố còn sống và sẽ có lần gia đình tôi lại đoàn tụ như xưa. Nhưng định mệnh đã an bài. Sau khi nhờ một người bạn làm ở Usaid đưa mẹ con tôi di tản, Bố hứa Bố sẽ gặp lại mẹ sau.

Trong lúc dầu sôi lửa bỏng Bố bảo sao, mẹ nghe vậy. Một mình mẹ bụng mang dạ chửa mẹ đã lên phi cơ, theo đoàn người di tản và mong có ngày gặp lại Bố.

Nhưng niềm hy vọng đó đã vơi dần theo năm tháng cho đến một ngày mẹ được tin Bố đã nằm xuống nơi trại cải tạo.

Mẹ như điên loạn.
Rồi mẹ tỉnh lại.
Mẹ biếng cười, biếng nói.
Cuộc sống của Mẹ đã thầm lặng bây giờ càng thầm lặng hơn xưa.

Ngoài giờ ở sở, về nhà cơm nước xong, trò chuyện với tôi đôi lát rồi Mẹ vào phòng. Cái khoảng đời quá khứ ngày xưa. Những kỷ niệm ngọc ngà ngày nào của Bố và Mẹ như chút dấu yêu còn sót lại. Thời gian không làm nhạt nhòa mà ở Mẹ không một hình ảnh nào mà Mẹ không nhớ.

Mỗi lần nhắc tới Bố, Mẹ như trẻ lại. Mắt Mẹ long lanh ngời sáng. Mẹ kể cho tôi nghe chuyện tình của cô sinh viên Văn Khoa với chàng thủy thủ Hải Quân.

Tôi thuộc nhiều bài hát Việt Nam lắm nên tôi ghẹo Mẹ “Mẹ và Bố giống em hậu phương còn anh nơi tiền tuyến quá”. Ngoài tình mẹ con ra, tôi như một người bạn nhỏ để Mẹ tâm sự, để Mẹ trang trải nỗi niềm nào là “con biết không Bố hào hoa và đẹp trai lắm”… v.v… và v..v…

Tôi nịnh Mẹ:
– Bố không đẹp trai làm sao cua được Mẹ.

Mẹ cười thật dễ thương. 

Một điều mà tôi biết chắc chắn rằng không ai có thể thay thế hình bóng Bố tôi trong tim Mẹ.

Tôi không ích kỷ, song điều đó làm tôi yên tâm hơn. Tôi muốn cùng Mẹ nâng niu, giữ gìn những kỷ niệm dấu yêu, ngọc ngà của Mẹ và Bố cho đến suốt cuộc đời.

Hôm nay nhân ngày giỗ lần thứ 44 của Bố. Con muốn thưa với Bố một điều. Con cám ơn Bố Mẹ đã tạo cho con nên hình, nên vóc. Dù chưa một lần gặp mặt Bố. Dù bây giờ Bố đã nằm xuống. Bố đã đi thật xa, không có lần trở lại với Mẹ, với con. Song với con Bố vẫn là một hiện hữu bên con từng giờ, từng phút.

Con nghĩ Bố đã che chở Mẹ con con hơn một phần tư thế kỷ nay. Xin Bố hãy giữ gìn, che chở Mẹ, con trong suốt quãng đời còn lại. Con mong làm sao ngày nào đất nước thật sự thanh bình Mẹ sẽ đưa con trở về thăm lại quê hương. Con sông xưa sẽ trở về bờ bến cũ. Ngày ấy ở một phía trời nào đó của quê hương con thấy bố mỉm cười và Bố nói với con: “Bố sung sướng lắm, con biết không? Con yêu dấu!”

Hoàng Thị Tố Lang

Hits: 10

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Thế hệ bố, có lẽ, là thế hệ đầu tiên biết lắng nghe con cái

“Một hôm. cậu con trai hỏi bố của mình:
“Bố ơi, con không hiểu ngày xưa bố và mọi người sống như thế nào khi không có Internet. không có máy tính, không có tivi, không có điều hòa, không có điện thoại di động? “

Người bố trả lời:
“Thì cũng giống như thế hệ ngày nay thôi con: sống mà không biết đến nguyện cầu, không có lòng trắc ẩn, không có danh dự, không có sự tôn trọng, không biết xấu hổ, không khiêm tốn và không thích đọc sách…”.
“Thế hệ bố, và thế hệ trước, sinh ra trong khoảng thời gian từ năm 1945-1985 thật là may mắn, khi:
– Ai cũng không ngại đi học một mình từ sau ngày đầu tiên đến trường.
– Sau giờ học, ai cũng được chơi đến tận tối mịt.
– Không ai ôm tivi từ giờ này qua giờ khác. Và ai cũng có những người bạn thực sự chứ không phải với những người bạn từ Internet..
– Nếu như khát, bọn bố uống luôn nước máy, chứ không phải nước đóng chai.
– Bọn bố ít bị ốm, dù rằng hay ăn chung uống chung, như 4 đứa cùng uống chung 1 cốc nước quả. Nếu có ốm thì ông bà chữa bệnh cho bằng các loại thuốc rẻ tiền trong nước sản xuất, hay là bằng các bài thuốc dân gian.
– Bọn bố không bị béo phì, dù rằng ngày nào cũng chén căng bánh mì và khoai tây.
– Bọn bố chơi bằng các đồ chơi tự làm lấy và chia sẻ đồ chơi, sách truyện với nhau.
– Ngày xưa, các gia đình hầu hết là không giàu có. Nhưng các ông bố bà mẹ đã tặng cho con cái tình yêu của mình, dạy cho con biết trân trọng những giá trị tinh thần chứ không phải là vật chất, dạy cho con biết thế nào là giá trị thực sự của con người : Sự trung thực, Lòng trung thành, Sự tôn trọng và Tình yêu lao động.
– Ngày xưa, bọn bố chưa bao giờ có điện thoại di động, đầu DVD, trò chơi điện tử Play Station, máy tính, không biết thế nào là Internet, chat…
Nhưng bọn bố có những người bạn thực sự, là khi:
– Thường đến chơi nhà nhau mà chả cần phải có lời mời, đến nhà ai gặp gì ăn nấy.
– Ký ức của thế hệ ngày đó chỉ là những tấm ảnh đen trắng, nhưng đầy ánh sáng và rực rỡ, ai cũng trân trọng lật mở cuốn album gia đình với sự thích thú, tôn kính, trong cuốn album đó luôn lưu giữ chân dung của ông bà cụ kỵ các con…
– Thế hệ bố không bao giờ ném sách vào thùng rác, mà đứng chồn chân trong hàng để mua sách, rồi sau đó đọc chúng suốt ngày đêm.
– Bọn bố không bao giờ đưa cuộc sống riêng tư của thiên hạ ra để đàm tiếu, cũng như biết giữ bí mật cuộc sống của gia đình mình, không phải như những gì bây giờ đang xảy trên Facebook và Instagram….
– Thế hệ bố, có lẽ, là thế hệ cuối cùng mà con cái biết nghe lời cha mẹ.
– Thế hệ bố, có lẽ, là thế hệ đầu tiên biết lắng nghe con cái.
– Thế hệ bố là như thế đó, là “phiên bản giới hạn”, vậy nên các con hãy biết tận hưởng những ngày bên bố mẹ, hãy biết học hỏi và trân quý…
…Trước khi thế hệ này biến mất, nhé con “

Sưu tầm 

Hits: 11

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

KHUÔN MẶT VĂN NGHỆ MỚI