Chiếc vòng của Mẹ

Tại một ngôi trường tiểu học trong một thị trấn nhỏ ở Hoa Kỳ hôm nay là ngày đầu tiên khai giảng cho năm học mới. Cô Thompson là giáo viên phụ trách dạy lớp Năm. Cô giáo đứng trước các học sinh trong lớp học của mình và tương tự như các giáo viên khác, cô cũng nhìn khắp lượt vào các em học sinh và nói là cô sẽ thương yêu tất cả các học trò của cô như nhau, không có sự phân biệt nào cả. Cô đã nói với các đứa trẻ này điều đó, một điều mà cô tự biết là không thật lòng và cô biết là mình sẽ không thực hiện được.

     Lý do không thể thực hiện đươc bởi vì cô đã nhìn thấy ngồi lù lù ngay dãy bàn học ở hàng đầu trong lớp là cậu Teddy Stoddard. Năm ngoái cô đã từng lưu ý tới cậu học trò nhỏ này và nhận thấy cậu ta thường chơi với đám bạn cùng lớp không được đàng hoàng. Teddy có vẻ không được ai ưa thích cả. Đã thế ăn mặc áo quần thì luộm thuộm lại thêm thân người không được sạch sẽ có lẽ vì lười biếng trong chuyện tắm rửa. Trong hồ sơ học bạ của Teddy vào năm ngoái cô Thompson còn ghi chú bằng bút đỏ, viết một chữ thập X rõ đậm nét vào đó. Rồi cô còn ghi thêm một chữ thật lớn nữa là F, hạng kém ngay phần phía trên đầu tờ giấy.

 

     Ở trường tiểu học của cô Thompson ở thị trấn này thì theo thông lệ vào mỗi đầu năm học các giáo viên đều phải xem lại quá trình học tập của từng học sinh trong những năm trước đó. Cô giáo Thompson đã nhét hồ sơ của Teddy xuống cuối cùng mới mở ra xem. Tuy thế khi đọc hồ sơ xong thì cô lại tỏ ra rất là ngạc nhiên.

     Trong hồ sơ, cô giáo dạy lớp Một đã đưa ra nhận xét rằng “Teddy là một học sinh thông minh và cười luôn miệng. Học giỏi và tính tình dễ thương… thường đem lại nguồn vui cho mọi người xung quanh”.

     Cô giáo dạy lớp Hai thời ghi rằng: “Teddy là một học sinh xuất sắc. Được cảm tình của các bạn bè học cùng lớp. Em đang lo âu vì bà mẹ bị đau ốm nặng sắp chết và cuộc sống gia đình của em thật sự quả là một sự phấn đấu”.

     Cô giáo phụ trách lớp Ba thì lại viết rằng: “Cái chết của mẹ Teddy đã gây ra khó khăn cho em. Tuy em đã cố gắng học hành, nhưng Bố em thì lại tỏ ra không quan tâm. Nếu em không được trợ giúp thì đời sống gia đình sẽ sớm ảnh hưởng đến em”.

     Cô giáo lớp Tư ghi: “Teddy tỏ ra lơ đãng, thiếu quan tâm, không hăng hái trong việc học tập. Cũng không có nhiều bạn bè. Thỉnh thoảng em còn ngủ gục trong lớp”.

     Cô giáo viên Thompson của lớp Năm đọc hồ sơ đến đây thì cô bỗng như nhận thức được ra vấn đề và cô cảm thấy tự hổ thẹn cho chính bản thân mình.

     Trong mùa Giáng Sinh giáo viên Thompson được đám học trò trong lớp đưa tặng quà. Những món quà này đều được bọc lại bằng giấy đủ màu sắc và có gắn thêm nơ thật đẹp. Cô rất áy náy khi nhận món quà của Teddy vì món quà của em thì lại gói vụng về bằng loại giấy màu nâu thường được dùng để gói thực phẩm. Khi mở gói quà của Teddy ra cùng lúc với các món quà khác thời cô cảm thấy đau trong lòng. Cô giơ lên cho các học sinh thấy món quà là một chiếc vòng đeo tay đã cũ có gắn kim cương giả, đã rơi mất vài hột và một lọ nước hoa nhỏ chỉ còn lại khoảng một phần tư.

     Có tiếng cười có vẻ chế giễu của vài học sinh trong lớp nhưng những tiếng cười đó đã bị dập tắt luôn khi cô giáo lớn tiếng khen chiếc vòng đeo tay là đẹp và sau đó đeo ngay cái vòng đó vào tay đồng thời lại còn lấy một chút nước hoa trong lọ và bôi lên cổ tay nữa.

     Bữa đó sau giờ tan học, cậu bé Teddy đã ở nán lại một lúc. Cậu lên cạnh bàn cô giáo và khẽ thưa rằng: “Thưa cô, hôm nay con thấy cô cũng thơm y như Mẹ con thời trước vậy đó!”

     Lúc các học sinh ra khỏi lớp và đã đi về hết, cô giáo viên Thompson ngồi lại một mình, khóc gần cả tiếng đồng hồ. Từ dạo ấy, cô giáo không còn đơn thuần chỉ dạy các môn Toán, dạy Văn và dạy viết lách cho đám học sinh, mà cô còn bắt đầu lưu tâm tới việc “giáo dục” lũ trẻ nữa. Cô khởi sự giảng giải cho các em về cuộc sống. Cô dạy dỗ bọn trẻ. Cô đã không giảng những bài như thường lệ trước kia nữa. Cô bỏ qua những bài tập viết và cả môn số học.

     Từ dạo đó, cậu Teddy như đuợc hồi sinh. Em càng ngày càng học giỏi hơn thêm. Và chẳng mấy chốc em đã trở thành một trong những học sinh xuất sắc của lớp vào cuối năm học đó. Cũng chính ngay từ hôm đó, ngoài việc dạy học cô giáo Thompson còn đặc biệt lưu tâm chăm sóc cho Teddy. Mỗi khi được cô giáo chỉ dẫn thêm hình như em lại càng lên tinh thần. Cô giáo càng khuyến khích, em càng tiến bộ nhanh lên thêm nữa.

     Kết quả là vào cuối năm học, Teddy đã trở thành một trong những học sinh xuất sắc nhất lớp. Và quả đúng như trái ngược với lời nói không chân thật của cô lúc đầu năm học là cô sẽ yêu thương mọi em học sinh như nhau, Teddy giờ đây đã trở thành một trong những học trò được cô giáo cưng nhất.

     Một năm trôi qua. Cô giáo nhận được một mẩu giấy của Teddy nhét dưới khe cửa. Trong giấy em thưa với cô rằng: “Cô là cô giáo tuyệt vời nhất trong suốt cuộc đời của em”.

     Sáu năm trời trôi qua sau đó. Cô giáo lại nhận được một bức thư ngắn của Teddy gửi tới. Trong thư em cho biết là em đã học xong bậc trung học và đuợc xếp hạng đứng thứ ba trong lớp. Em viết rằng: “Cô vẫn là cô giáo tuyệt vời nhất trong suốt cuộc đời của em.”

     Bốn năm trời nữa lại trôi qua. Cô giáo lại nhận được thêm một lá thư khác của Teddy. Thư nói rằng dù hoàn cảnh nhiều khi gặp trở ngai, đôi lúc tưởng chừng như bế tắc, em vẫn quyết tâm theo học tới cùng, quyết chí mong sao sớm tốt nghiệp được bậc đại học với thứ hạng xuất sắc nhất. Em viết rằng: “Cô vẫn còn là cô giáo tuyệt vời nhất và là người thầy mà em yêu quý nhất trong suốt cả cuộc đời”.

     Rồi thêm bốn năm sau nữa lại trôi qua. Cô giáo vẫn nhận được thư gửi tới. Trong lá thư lần này Teddy báo tin cho cô biết là cậu đã đậu xong văn bằng Cử Nhân. Cậu đang học thêm lên bậc cao nữa. Thư vẫn ghi rằng: “Thưa cô, cô vẫn là người thầy tuyệt vời và trân quý nhất của cuộc đời em!”. Nhưng giờ đây tên của cậu đã dài hơn một chút rồi vì cuối bức thư ký tên là: “Theodore F. Stoddard, bác sỹ”.

     Câu chuyện tới đây vẫn chưa tới hồi kết thúc. Vẫn lại còn một bức thư nữa được gửi đến cho bà giáo Thompson. Trong thư bác sỹ Teddy thưa là anh đã gặp gỡ một cô bạn gái, đôi bên tâm đầu ý hợp và anh chuẩn bị làm đám cưới với cô ta. Anh cho biết Mẹ anh thì qua đời đã lâu, còn ông Bố lại mới vừa chết cách đây mấy năm nên anh thiết tha mong bà giáo Thompson sẽ nhận lời đến tham dự lễ cưới của anh và sẽ ngồi ở vị trí danh dự vốn thường hay được dành riêng cho Mẹ chú rể.

 

     Tất nhiên là bà giáo Thompson chấp thuận đề nghị này. Ngày cưới hôm đó bà giáo đeo chiếc vòng kim cương giả, cái vòng đã bị rớt mất vài hột mà ngày xưa cậu học trò nhỏ đã biếu làm quà tặng. Hơn nữa bà giáo còn cố tình bôi thêm một chút nước hoa trong cái lọ nhỏ, cũng vẫn là quà tặng thuở xa xưa. Cái loại nước hoa này tỏa mùi thơm thoang thoảng mà Teddy nói là Mẹ cậu đã bôi vào lễ Giáng Sinh cuối cùng của hai mẹ con trước khi Mẹ từ giã cõi đời.

 

     Anh bác sỹ trẻ và bà giáo Thompson ôm nhau mừng rỡ. Bác sỹ Stoddard khẽ nói thầm vào tai bà Thompson: “Cám ơn cô Thompson đã có lòng tin tưởng vào nơi em. Cám ơn cô rất nhiều vì cô đã làm cho em cảm thấy mình quan trọng. Chính nhờ cô mà em có niềm tự tin rằng bản thân mình sẽ có thể đổi khác. Chính niềm tin đó đã tạo ra sự khác biệt lớn lao giúp em thay đổi cả cuộc đờinhư ngày nay.”  

     Bà Thompson vừa đầm đìa giọt lệ vừa nói nhỏ với chú rể:“Teddy, em lầm rồi. Chính em mới là người đã dạy cho tôi biết rằng tôi đã có thể đổi khác đi. Tôi đã không biết cách dạy học cho tới khi được gặp em đó. Chính nhờ gặp em, tôi mới biết thế nào là “giáo dục”.

 

(Tâm Minh Ngô Tằng Giao phóng tác)

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 1

Ngẫu nhiên hay tất nhiên

Một buổi trà dư tửu hậu, tôi cùng vài người bạn tán gẫu chuyện trên trời đưới đất một hồi thì anh Bình chuyển sang đề tài tu hành khi thấy có một tốp đàn ông, phụ nữ và trẻ em mặc đồ lam đi qua, anh nói:

– Hiện nay người tu hành tụng kinh niệm Phật ngày càng nhiều, vào những ngày mười bốn-rằm-hăm chín-ba mươi các quán ăn chay thực khách đông nghẹt có quán không đủ chỗ ngồi. Thời mạt pháp, đạo đức xuống cấp mà được như vậy là điều đáng mừng.

Điền cười:

– Người ta ăn chay niệm Phật là chuyện bình thường, con heo con bò nghe kinh hướng Phật mới là chuyện lạ hiếm thấy.

Bình nhìn Điền, nghiêm túc nói:

– Nè! Anh có thấy không? Có thấy mới nói chớ đừng đặt chuyện tiếu lâm bôi bác phỉ báng đạo Phật tội lỗi lắm nghen?

Điền tự tin:

– Nói có sách mách có chứng đàng hoàng. Tui không thấy nhưng con tui coi trên mạng kể lại cho tui nghe. Nó còn nói có cả hình ảnh và video clip gì nữa đó?

Bình quay qua hỏi Út Bích như để xác minh lời Điền:

-Anh thường xuyên xem tin tức trên mạng có thấy hai chuyện đó không?

Út Bích gật đầu nói có, Bình đề nghị anh ấy kể lại cho cả bọn nghe, Út Bích kể lại mạch lạc cụ thể:

-Chuyện thứ nhứt xảy ra lại làng Thần Đầu thuộc thành phố Ôn Châu tỉnh Chiết giang bên Trung quốc. Ông nông dân tên Hoàng nuôi con heo nặng 150k, hôm đó ông ta chuẩn bị bắt nó làm thịt bán nhưng nó xổng chuồng chạy đến sân một ngôi chùa cách đó khá xa, trong chùa đang có khóa lễ tụng kinh, nó bèn quì hai chân trước, đầu và hai tai hướng vào trong chùa như để nghe kinh. Ông Hoàng đến bắt nó về nhưng nó không chịu đứng dậy, đánh đập thế nào nó cũng trơ trơ, thấy thế chư tăng trong chùa ra tụng bài Bát Nhã Tâm Kinh cho nó nghe nó mới chịu đứng dậy đi theo ông Hoàng về nhà và bị ông ấy mần thịt!

Bình chắc lưỡi, thương tiếc:

-Tội nghiệp! Nếu là tui, tui sẽ nuôi nó tới già tới chết rồi đem chôn chớ không ăn thịt. Còn con bò? Số phận nó có bi đát như con heo không?

Út Bích tiếp tục kể:

-Chuyện thứ hai xảy ra tại chùa Pháp Hải ở ấp 2 xã Hưng Long huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh. Một thương lái mua một con bò về mần thịt bán, ông ta dẫn nó ngang chùa Pháp Hải, nó bỗng dưng đứng lại không chịu đi nữa. Ông lái và nhiều người khác dùng đủ mọi biện pháp để dẫn dắt, lôi kéo nó đi, xô đẩy nó lên xe tải nhưng bốn chân nó như trồng sâu xuống đất không cách nào lay chuyển được!. Thấy vậy, tăng ni trong chùa bèn ra tụng kinh, qui y Tam bảo cho nó, nó bèn quì xuống như nhận chịu. Sau đó tăng ni đề nghị với ông lái cho họ mua lại con bò và nhờ một phật tử cạnh chùa nuôi hộ tới giờ.

Bình vừa hân hoan vừa trách móc:

-Hoan hô tay lái bò sáng suốt, ít ra cũng phải như vậy chớ có đâu u mê vô cảm như lão Hoàng nào đó?. Đạo Phật cấm chúng ta sát sinh là muốn chúng ta chăm sóc, nuôi dưỡng và phát triển lòng từ bi, tính công bằng. Người có lòng từ bi, tính công bằng mới quí trọng sinh mạng chúng sinh, mới thương yêu, giúp đỡ và sẻ chia khổ đau bất hạnh của chúng sinh. Phật dạy “tất cả chúng sinh đều có Phật tính”, do có Phật tính nên con heo mới hướng về chánh pháp để mong giải thoát kiếp súc`sinh, đáng lẽ lão ta tôn trọng sinh mạng nó, thương yêu giúp đỡ nó được toại nguyện như con bò, cớ sao lại giết nó, không phải đáng trách lắm sao?

-Nghe đâu sau đó ông Hoàng hối hận lắm. Bích nói.

Đức, cựu giáo viên trung học bật cười, nói:

-Vật dưỡng nhơn mà mấy anh, tội nghiệp hối hận giống gì? Cấm sát sinh là cấm giết người chứ đâu cấm giết heo bò, anh Bình đừng mượn lời Phật dạy rồi đánh đồng con người với thú vật. Con người là con người, thú vật là thú vật, ranh giới rõ ràng chứ không lẫn lộn được. Chỉ có con người mới có khả năng thấu triệt giáo lý cao siêu của đức Phật, mới có điều kiện tu hành theo lời dạy bảo của Ngài. Còn thú vật ăn dơ ở dáy, không biết tiếng người, không đọc được kinh kệ, không biết tu hành thì làm sao gọi là chúng sinh được?. Tui cũng biết hai chuyện đó cho nên tui nghĩ con heo con bò quì trước cửa chùa là do chúng thiếu Vitamin E nên bị tê chân đau móng đi không nổi rồi dừng lại một cách ngẫu nhiên chứ không phải do có Phật tính và dừng lại nghe kinh..

Bình nín thinh, tôi trả lời thay anh ấy:

-Có thể anh đã hiểu nhầm, anh Đức? Thuật ngữ chúng sinh của nhà Phật không phải chỉ riêng con người mà chỉ chung bốn loài hữu tình gồm thai sinh, noãn sinh, hóa sinh và thấp sinh. Như vậy, từ con người đến các con heo bò, gà vịt, ong bướm, trùn dế, vân vân, đều là chúng sinh. Bên khoa học gọi chung là động vật và xếp loại thành từng bậc từ thấp đến cao tùy theo lối sống, nếp sinh hoạt và sự biểu hiện tình cảm xúc cảm với nhau của từng loài. Loài người là động vật cao cấp nhất, khôn ngoan hơn, thông minh hơn các loài khác. Ỷ lại vào đó, loài người tìm đủ mọi cách khống chế các loài khác, bắt chúng phục vụ cho mình rồi bảo vật dưỡng nhơn? Nếu thật vậy thì khi ta bắt chúng mần thịt, chúng phải ngoan ngoản vâng lời chứ đâu có chạy trốn, giãy giụa thoát thân và kêu la inh ỏi?

Tôi ngừng lại uống ngụm nước, Út Bích xin phép tôi cho anh ấy có ý kiến với Đức:

-Hồi nãy anh nói con heo con bò quì trước cửa chùa là sự trùng hợp ngẫu nhiên do chúng bị tê chân đau móng đi không nổi chứ không phải do chúng có Phật tính rồi dừng lại nghe kinh?.Tui xin trao đổi với anh điều nầy. Nói đến ngẫu nhiên không thể không nói đến tất nhiên vì chúng là một cặp phạm trù triết học. Giải thích dài dòng nên tui rút gọn ý chính cho nhanh. Tất nhiên là cái xuất hiện bên trong sự vật, nhất định xảy ra; ngẫu nhiên là cái xuất hiện bên ngoài sự vật, khi xảy ra khi không. Cả hai đều không tồn tại độc lập mà liên hệ hữu cơ với nhau tạo thành một thể thống nhất, cho nên trong bất cứ một hiện tượng, một quá trình nào cũng đều có sự thống nhất giữa tất nhiên và ngẫu nhiên. Do đó, nói theo anh thì tê chân đau móng xuất hiện bên trong là tất nhiên, đi không nổi xuất hiện bên ngoài là ngẫu nhiên. Còn nói theo anh Bình thì Phật tính xuất hiện bên trong là tất nhiên, hành động hướng Phật nghe kinh xuất hiện bên ngoài là ngẫu nhiên, đúng không?

Đức gật đầu, Út Bích nhìn lướt qua chúng tôi rồi tiếp:

-Chắc các anh đều thấy bất cứ con vật nào khi bị đánh đập đều bỏ chạy hết, nếu bị trói buộc hay bị tê chân đau móng chúng cũng giãy giụa bứt phá và bò lết thoát thân. Con heo con bò nầy lại khác, chúng không bứt phá, bò lết thoát thân mà cứ quì tại chỗ chịu trận và chỉ đứng lên đi lại bình thường sau khi được các tăng ni tụng kinh cho nghe! Chi tiết nầy rất thú vị, đáng đồng tiền bát gạo vì nó cho thấy chúng không hề bị tê chân đau móng và không phải đi không nổi. Như vậy, trong một hiện tượng mà không có tất nhiên ngẫu nhiên thì anh lấy gì làm cơ sở để kết luận đó là hiện tượng ngẫu nhiên? Ngược lại, không bị tê chân đau móng, không phải đi không nổi thì động lực nào thúc đẩy chúng quì trước sân chùa? Câu trả lời chắc chắn là do Phật tính nên chúng mới quì xuống hướng Phật nghe kinh. Điều nầy cũng phù hợp với cặp phạm trù vì có sự thống nhất giữa cái xuất hiện bên trong với cái xuất hiện bên ngoài, cho nên tui khẳng định đó là hiện tượng tất nhiên, nhất định xảy ra. Tui cũng xin nói thêm trường hợp nầy, khi bị đánh đập, nếu con heo con bò bứt phá, bò lết thoát thân thì chẳng những tui mà tất cả chúng ta đều cho đó là sự trùng hợp ngẫu nhiên, các anh thấy đúng không?

Tôi và các bạn đều đồng tình, trao đổi thêm một lúc nữa mới chia tay.

Ở đời không có việc gì không thể xảy ra. Và, một khi cái việc tưởng chừng không thể đó xảy ra khiến người ta bàng hoàng, bán tín bán nghi dù được chứng kiến tận mắt. Thật ra, hơn hai ngàn năm trăm năm trước Phật Thích Ca đã phát hiện chuyện nầy và chỉ cho chúng sinh biết, do tâm vọng động, nghiệp chướng phiền não chưa dứt nên chúng sinh cứ mãi trôi lăn trong lục đạo, luân hồi. Kinh Hoa Nghiêm.đã viết rõ ràng “…tham dục chẳng ngừng, luôn luôn si tưởng là pháp giới của súc sinh” và “…tham dục đã dứt, si tưởng chẳng sanh thì tâm súc sinh được liễu”. Tuy nhiên, do vô minh che khuất, căn cơ thấp kém thành thử chúng sinh vẫn còn bán tín bán nghi trước những hiện tượng như con heo con bò kể trên.

Thời gian qua, khoa học hiện đại đã khám phá nhiều điểm tương đồng giữa giáo lý Phật giáo và khoa học. Hy vọng trong tương lai không xa, khoa học sẽ có thêm những phát hiện mới cho sự thật hiển bày, xua tan nghi hoặc, đem lại niềm tin cho chúng sinh tinh tấn tu hành, phá bỏ vô minh, chứng đắc đạo pháp./

        TRƯƠNG HOÀNG MINH

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 1

Tản bộ

Êm  ái  hoàng hôn  đợi  nắng  tàn

Chim  đàn  về  tổ  gọi  bầy  sang 

Hành  thiền  mỗi  bước  dìu  tâm  tịnh

Niệm  chú  từng  câu  dẩn  trí  an

Lơ  lững  từng  không  mây  trắng  chuyển 

Mơ  màng  ráng  đỏ  gió  chiều  lan

Thảnh  thơi  vui  thú  cùng  cây  cỏ 

Thế  sự  đỗi  thay  khỏi  luận  bàn 

 

             THANH  HOÀ

 

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 31

Bạn Đang Yêu Hay Đang Bố Thí Tình Yêu?

Phần 1: Bạn chọn đứng trên mũi tàu Titanic hay đứng trên ghế đẩu?

Khổ nỗi, chúng ta sẽ chọn đứng trên mũi tàu Titanic chứ không muốn đứng trên ghế đẩu!

Ngày thôi nôi con gái đầu lòng, tôi mời nhiều bạn bè cũ tới ăn cơm. Trong đám bạn cũ có người từ chối!

Tôi hỏi vì sao, bạn tôi nói, tớ không đủ can đảm đến nhìn thấy hạnh phúc của cậu, tớ vừa sẩy thai và vừa hủy đám cưới. Đau đớn nào hơn.

Thì ra anh người yêu ngay trước đám cưới đã đánh cô ấy đến trụy thai, đám cưới cũng hủy luôn. Kết cục này, chúng tôi đã nhìn thấy từ hai năm trước, nhưng khuyên thế nào bạn mình cũng không chịu tin rằng, đấy là một người đàn ông cục súc và bản tính Chí Phèo đã ăn vào trong máu.

Can những kẻ đang yêu say đắm, nói thật, khó hơn lấy vòi cứu hỏa dập tắt núi lửa.

1. Dấu hiệu bất an của những cuộc tình bỏng cháy:

Tôi đã quan sát bao nhiêu vui buồn sướng khổ của bạn bè và của người quen, để tự rút ra một kinh nghiệm trớ trêu rằng, một cuộc tình bỏng cháy chính là một cuộc tình bất ổn, yếu ớt và chóng lụi tàn nhất. Lý do rất đơn giản: Cuộc tình càng nồng cháy, là chỉ bởi nó phải vượt qua nhiều khó khăn, thị phi, khác biệt, thời gian chớp nhoáng, vượt suối trèo đèo, điều kiện ngặt nghèo v.v… thì mới đến được với nhau. Và, nghĩa là, cuộc tình chẳng có gì để bấu víu nữa, khi vượt qua những khó khăn và bỏng cháy đó, những ngày tiếp nối thật nhạt nhẽo.

Còn những cuộc tình giản dị đến từ những tương đồng nho nhỏ trong đời sống, thì hóa ra lại rất bền vững. Vì những thứ bình thường nhỏ nhặt mới chính là cuộc sống thật của mỗi chúng ta. Người Hoa có câu phương ngôn đại ý, mạch nước nhỏ chảy lâu, thác ào ào chóng cạn. Yêu nhau bằng những thứ rất vĩ đại, thì chẳng mấy chốc chán nhau vì những thứ nhỏ nhoi. Mà một cuộc đời từ lúc sinh ra cho đến lúc chết, chúng ta ngày nào cũng sống với những cơn cảm xúc vĩ đại hoành tráng được sao?

Hay tàn nhẫn hơn là một sự thật: Một nụ hôn bỏng cháy được lập lại vài nghìn lần, có bỏng cháy như lần đầu tiên hôn hay không? Hay chúng ta cứ phải diễn mãi vai kịch nồng nàn trong mắt nhau?

Nhưng vấn đề là, bạn sẽ chọn yêu một anh chàng mà cứ cuối tuần là buổi sáng chạy bộ cùng bạn, buổi trưa đi chợ với bạn, về luộc rau kho thịt ăn cơm cùng bạn, chiều đi mua sắm, cà phê hay xem phim với bạn, tối ngồi uống trà với bố bạn nói chuyện, tâm sự với người yêu thì chỉ rủ rỉ tiền này tiêu món gì, mai trồng cho em cái cây leo, thật tầm thường và chẳng có tí kỳ tích gì. Hay bạn sẽ chọn yêu một anh chàng trèo rào vào, quỳ dưới cửa sổ suốt đêm mưa, dâng bông hồng đầy gai hoặc có hẳn 999 đóa hồng nhé, hay chàng thuê người bắn pháo hoa dưới cửa sổ khi mời bạn đi quán cà phê, tỏ tình bằng trực thăng?

Tôi có anh bạn, ngày xưa đứng suốt đêm ngoài cổng nhà bạn gái, để ném đá lên mái ngói nhà người yêu, chó sủa suốt đêm và ông bố người yêu cầm súng săn chạy ra dọa, mày mà không đi, tao bắn đấy nhé! Anh bạn tôi ưỡn ngực nói, cháu mà không yêu được con gái bác, thì cháu thà chết còn hơn!

Tôi còn nhớ hồi tôi chưa biết bơi, có một anh chàng tỏ tình bằng cách uy hiếp, lừa bế bổng mình lên mang ra ngoài hàng rào ven bờ hồ rồi bảo: “Em có yêu anh không? Nếu em yêu anh, anh sẽ bế em vào. Nếu em bảo không, anh sẽ vứt em xuống Hồ Tây!”

Thường dễ gặp hơn sẽ là những tình huống các chàng dọa dẫm và làm ra vẻ đáng thương hại như sau:

– Nếu em không yêu anh, anh sẽ chết ngay ở đây cho em xem!

– Nếu em không yêu anh, anh sẽ sống cô đơn suốt đời, không yêu ai cả!

– Nếu anh không yêu được em, thì chẳng thằng nào yêu được em cả! (Hoặc em cũng đừng hòng yêu ai!)

– Nếu em không quay lại với anh, anh sẽ đi uống rượu suốt đêm nay, rồi say rượu đi ngoài đường không biết điều gì sẽ xảy ra! Nếu anh mà gặp tai nạn thì đó là tại em!

– Vì em giận anh, anh đã thi trượt đại học! (Hoặc không có tâm trạng nào làm việc, bị sếp mắng!)

– Bố mẹ anh đã từ mặt anh rồi, nhưng anh quyết yêu em, anh đã bỏ nhà đi rồi!

– Anh chạy bao nhiêu cây số mới đến được đây, em lại nói với anh như thế à?

– Em có biết anh phải nhịn ăn nhịn mặc mấy tháng mới mua cho em sợi dây chuyền này không, sao em lại dám từ chối nhận quà của anh? V.v…

Rất nhiều những tình huống mà người con gái bị uy hiếp nhưng chẳng hề nhận ra là mình đang bị uy hiếp. Bạn chỉ thấy, chàng trai đang cố chứng minh rằng, anh ấy yêu bạn, anh ấy vì bạn, anh ấy sẵn sàng hy sinh vì bạn, anh ấy làm tất cả miễn sao bạn gật đầu. Anh ấy có thể trèo đèo lội suối, nhưng nếu bạn không yêu anh ấy, hay cho anh ấy thứ anh muốn, anh ấy sẽ phải chịu những thiệt thòi đau khổ do bạn gây ra, bạn nỡ nhẫn tâm vậy sao?

Thường, những phút kịch tính trong tình yêu sẽ mở ra cho người con gái những bi kịch! Bởi, một sự thật hiển nhiên của đời sống:

Khi bạn lên đến đỉnh núi, bên cạnh cảm giác thăng hoa sung sướng, thì trước mặt bạn là một chặng đường xuống dốc không phanh!

Người yêu ôm bạn đứng trên một chiếc ghế đẩu, làm sao cuồng nhiệt được như khi anh ấy đỡ tay bạn đứng trên mũi tàu Titanic!

Khổ nỗi, chúng ta thường sẽ chọn đứng trên mũi tàu Titanic chứ không muốn đứng trên ghế đẩu! Chúng ta sẽ yêu anh chàng cuồng nhiệt chứ không yêu một anh tẻ nhạt tầm thường. Chúng ta tin rằng tình yêu vượt qua bao trắc trở mới là tình yêu đích thực, còn tình yêu theo kiểu học cùng trường, nhà cạnh nhau, đi làm thì lại cùng công ty, chẳng yêu nhau thì yêu ai v.v… là thứ tình yêu thiếu cao trào, là cái lốp xe dự bị mà ta đi tạm trong thời quá độ, khi nào gặp người tình nồng nàn, ta sẽ đổi người yêu!

Ta thường quên mất rằng, sự lãng mạn của ghế đẩu chỉ hơn sự lãng mạn của mũi tàu Titanic ở một điểm này thôi: Cảm giác an toàn!

Kết thúc cuộc tình nóng bỏng, anh bạn ném đá lên mái ngói nhà người yêu mà tôi kể, mười năm qua đã cưới tới người vợ thứ ba rồi, cứ vài năm lại đổi vợ, có vẻ như cua gái rất lẹ. Cô vợ đầu tiên nói, bỏ nhau, con thì tớ nuôi. Anh ấy đến cái mái nhà hồi đó cũng đâu có thèm đền cho nhà tớ!

Các bạn sẽ hỏi, vậy mười mấy năm trước, Trang Hạ đã trả lời sao khi bị ép… yêu! Tôi chẳng trả lời sao cả. Số tôi còn may, Hồ Tây nông choèn chứ không phải sông Hồng, nếu không, vụ ăn vạ tình khéo biến thành vụ bức tử.

Và số trời run rủi sao, ngay phút tỏ tình căng thẳng ấy, có bốn anh cảnh sát giao thông xuất hiện, đỗ xịch xe ngay đó và xuống bảo: “Chào anh, chúng tôi kiểm tra hành chính. Anh cho xem giấy tờ và đăng ký xe!”

Giời ạ!

 

2. Có những thứ tình yêu được gọi là lòng thương hại:

Nếu cô gái không nhận lời, có thể chàng trai sẽ buông thả bản thân, đắm chìm trong rượu, bỏ bê học hành, nổi nóng đánh nhau ngoài đường, bỏ nhà ra đi, chán đời.

Nếu cô gái không làm lành, người yêu cô sẽ đứng suốt đêm như cây cột điện, sẽ thức trắng không ngủ chờ hồi âm, sẽ xóa toàn bộ nick trên mạng và biến mất khỏi thế giới Internet, sẽ cắt tay chảy máu, sẽ tự châm thuốc lá đang cháy vào tay như kiểu hành xác.

Nếu cô gái không nhận lời cưới chàng, chàng sẽ từ đó khinh rẻ toàn bộ lũ đàn bà, sẽ vung tiền mua dâm liên tục, sẽ sỉ nhục gái điếm, sẽ có thói quen mỉa mai bôi nhọ mọi người phụ nữ (trừ mẹ mình và em gái mình!).

Tôi tin bạn đã từng gặp phải hoặc từng chứng kiến, quen biết hay nghe kể những chuyện như thế, vì nó đầy rẫy trong cuộc sống. Khổ nhục kế là một trong những thủ pháp của đàn ông và đàn bà khi muốn chiếm nhau. Mức độ ngày càng nặng nề dần.

Bạn có chắc rằng, mọi cô gái đều tỉnh táo để thoát ra khỏi được cái bẫy đó không? Tôi thì nghĩ là không. Chỉ bởi một lẽ đơn giản. Không bao giờ có một thằng cha căng chú kiết lạ hoắc nào đó chạy tới trước mặt bạn đòi yêu kiểu đó đâu. (Nếu có thật thế, bạn đã gọi 113 cảnh sát cơ động tới xử lý nó rồi! Đúng không?). Mà những đòi hỏi ấy đều đến từ những chàng trai mà bạn vốn đã rất có cảm tình, thậm chí là người yêu cũ, người yêu hiện tại, chồng v.v… Vì họ và bạn đã có một mối quan hệ tình cảm trên bình thường, họ mới dám mở mồm ra đặt điều kiện như thế! Và vì tình cảm đã có, nên khi bị uy hiếp tình cảm, bạn không hề cảm thấy sợ hãi. Bạn chỉ thấy thương anh ta, thấy ái ngại, thấy mình có lỗi, thấy mình phải có trách nhiệm với hành vi của anh ấy, thấy mình không được quyền tàn nhẫn với anh ấy!

Xin lỗi các bạn, tôi chỉ muốn nói một câu thôi, làm ơn hãy tránh xa những gã đàn ông đang làm mình làm mẩy! Họ là tai họa cho đời bạn đấy, nếu bạn rước họ vào!

Chắc độc giả sẽ hỏi rằng, làm gì có liên hệ, giữa một anh chàng than thở với bạn gái, anh phải chạy mười cây số mới tới được chỗ em! Và một anh chàng, đánh vợ chưa cưới trụy thai?

Tôi thì nói có, vấn đề chỉ là thời gian thôi! Và chính bạn đã cho phép họ dấn sâu vào đời mình, một người đàn ông mà ngay từ lúc tỏ tình đã không hề mang cho bạn cảm giác an toàn, chỉ mang cho bạn sự ái ngại, thương hại, áy náy, thấy phải có trách nhiệm!

Tình yêu đâu phải là lòng thương hại. Nhưng có quá nhiều chàng trai (cả các cô gái nữa) đã dùng cách tạo sự thương hại, hoặc sự sợ hãi để có được tình yêu. Ví dụ đơn giản, hãy nhìn những fan cuồng của các ca sĩ dùng khổ nhục kế, sự quỵ lụy đáng thương hại, sự cuồng nhiệt và quá khích mà xem. Cách họ ứng xử chính là phản chiếu cách mà họ yêu! Nếu hành vi méo mó, yêu họ có an toàn không?

Có lẽ chúng ta chỉ quan tâm rằng, trong những lời chàng nói, những việc chàng làm, có bộc lộ nhiều tình yêu hay không, tình yêu có chân thành không. Mà quên không để ý rằng, ngoài bộc lộ tình cảm ở thời điểm đó ra, nó cũng bộc lộ bản chất của người đàn ông ra nữa!

– Đó là người đàn ông tự cao tự đại: Anh ta cho rằng những gì anh ta làm thật là to tát, ghê gớm, vất vả, nhọc công, thật là đáng kể. Anh ta đã đứng suốt đêm ngoài cửa sổ, ắt bạn phải có nghĩa vụ thò cái cổ bạn ra cho anh ta gặp mặt. Anh ta đã phải nhọc lòng làm gì đó cho bạn, bạn cần phải đáp trả cho xứng đáng! Thật là hợp lý, coi trọng bản thân mình nên tự cho mình quyền đòi hỏi đền đáp từ người khác. Nên nếu thấy lúc đó có một chàng khác cũng đang nhọc công tán bạn, anh ta sẽ tìm mọi cách hạ thấp đối thủ. Trời ơi, theo bạn đàn ông tốt là người đàn ông khi bị cạnh tranh, sẽ tìm cách làm cho bản thân mình tốt đẹp lên, hay tìm cách dìm hàng hạ giá đối thủ?

– Đó là kẻ có khuynh hướng bạo lực: Không phải tất thảy những gì chàng làm đều cố tỏ ra mạnh mẽ, tốn sức, phí công, rất đàn ông tính? Dùng sức để yêu hẳn cũng là người dùng sức để tát!

– Kẻ làm mình thảm hại đi trong mắt bạn: Anh ấy sẽ tự tạo ra những thiệt thòi, tổn thất cho bản thân. Cho bạn biết rằng, bạn quan trọng làm sao, có bạn thì đời anh ấy lên tiên, thiếu bạn thì đời anh ấy là đống rác. Xin lỗi chứ, những người đàn ông như thế bản thân họ đã là một đống xà bần rồi. Chẳng phải vì thất tình mà anh ấy thi trượt đại học, nếu lúc trước bạn yêu anh ấy, anh ấy vẫn trượt đại học mà thôi, vì thi cử là nơi chứng tỏ năng lực chứ không phải cứ có bồ sẽ thi đỗ. Hai người cãi nhau nên anh ấy nổi nóng với khách hàng, chửi sếp, nhưng bản thân người yêu mà anh ấy còn cãi cọ được, thì khách hàng chẳng yêu thương gì, anh ấy làm sao mà không cãi nhau? Vậy vấn đề của anh ấy luôn là của anh ấy, tại sao luôn đổ mọi thất bại, nhược điểm của anh ta lên đầu bạn gái?

Rất ái ngại là, hôm nọ có một độc giả gửi thư hỏi tôi rằng, chị chuẩn bị cưới chồng thì anh chồng tương lai cho biết, phải hoãn đã vì quan hệ của anh ấy với vợ trước không dứt khoát được, con anh ấy chán chường bỏ học. Cứ như thể, chính cô gái kia mới là lý do để cho con anh ấy bỏ học không bằng! Bản thân anh ấy không tự thu xếp được các vấn đề khó khăn của bản thân, như quan hệ gia đình, chăm lo con cái, trách nhiệm đàn ông, giờ lại ngoặc thêm cô gái mới vào, bắt cô phải chịu trách nhiệm với những gì anh ấy đang gây ra, có bất công không?

Thế mà, cô gái ấy hoàn toàn không phát hiện ra rằng, quan hệ của mình bất ổn không phải là vì hoàn cảnh của anh, điều kiện của anh, mà là từ tính cách và bản chất của anh ấy! Cô ấy cứ tưởng rằng, giải quyết được vụ con anh ấy bỏ học là xong, là có thể cưới người đàn ông ấy làm chồng!

3. Bạn có thể mang thân thể mình ra làm quà từ thiện cho đàn ông không?

Tôi nghĩ là nếu bạn thích, thì cũng không sao, nhưng chắc chỉ làm thế được một lần trong đời. Vì bạn không có cơ hội thứ hai đâu!

Nếu bạn thương hại anh ấy mà yêu anh ấy, tự nhủ mình không thể tàn nhẫn, không thể làm ngơ quay đi, mình phải cứu vớt đời anh ấy. Thì sao không nghĩ rằng, tại sao bạn lại phải có nghĩa vụ cứu vớt đời anh ấy? Sự thương hại thường chỉ khiến chúng ta móc hầu bao ra, mang cho tiền, mang cho kẻ đáng thương những thứ vật chất hoặc quà cáp, thời gian chăm sóc v.v… Thế thân thể bạn có phải là một món quà từ thiện không? Sao bạn lại mang tình yêu và thân thể mình ra như thể món quà từ thiện cho người đàn ông đang quỳ dưới chân bạn cầu xin tình yêu? Một khi bạn mủi lòng trước anh ấy, bạn sẽ nhanh chóng biến thành nạn nhân của chính mình. Cái phụ nữ cần là một người đàn ông đàng hoàng đang đứng ngang hàng và nhìn vào mắt bạn, chứ không phải là người đàn ông đang quỳ xuống hoặc cho bạn thấy là anh ta rất đáng thương.

Nếu bạn sợ hãi và thấy mình phải có trách nhiệm với những thứ mà “nếu không có bạn, anh ấy sẽ không có”, thì một sự thật hiển nhiên là: Đó chỉ là viễn cảnh trong lời anh ấy nói mà thôi. Còn sự thật thế nào, ai kiểm chứng. Có bạn rồi, vẫn chẳng có phép lạ nào xảy ra trong đời anh ấy cả. Bởi đơn giản, nói thì dễ, chứ làm thì khó biết bao. Dọa dẫm thì dễ, chứ bản lĩnh trong đời thì mấy?

Và nếu bạn sợ hãi khi anh ấy bảo: “Em mà không yêu anh thì anh sẽ treo cổ tự tử!”. Thậm chí anh ta làm thật, thì phải hiểu rằng: Nếu bạn yêu người đàn ông có khuynh hướng sát thương và tự sát thương, có khả năng sau này bạn mới là người bị anh ta treo cổ dưới sợi dây ấy! Và nếu bạn tự buộc mình phải có trách nhiệm với một kẻ đầu óc có vấn đề, coi thường các giá trị sống, coi thường cả sự sống của bản thân, thì tôi có một lời khuyên chân thành:

Hãy mua bảo hiểm thân thể, bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm tinh thần, bảo hiểm y tế trước khi yêu anh ấy!

Trong tình yêu, chúng ta nói nhiều đến lãng mạn, nồng nàn. Nhưng cái giữ ta lâu bền nhất với tình yêu và người yêu, thực ra lại là cảm giác an toàn. Có được cảm giác an toàn, chúng ta mới nghĩ được đến tương lai, đến đường dài, đến một mái nhà.

Không phải vậy sao?

Trang H

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 3

6 động tác giúp đẩy lùi cơn đau do thoái hóa đốt sống cổ

Có nhiều nguyên nhân gây ra bệnh thoái hóa đốt sống cổ như ngồi làm việc máy tính nhiều, thường xuyên ngồi một chỗ, ít vận động… Người bệnh luôn cảm thấy khó chịu, đau đớn, gặp khó khăn trong sinh hoạt cá nhân và làm việc.

Dưới đây là những động tác giúp đẩy lùi thoái hóa đốt sống cổ, đau nhức xương khớp:

Trượt cổ

Bạn ngồi tư thế thẳng cổ, sau đó từ từ đẩy cằm ra trước. Giữ trong 5 giây và quay lại vị trí ban đầu. Lặp lại 10 lần, thực hiện bất cứ khi nào rảnh giúp xoa dịu cơn đau mỏi, đẩy lùi thoái hóa cột sống cổ.

Ưỡn cổ

Thẳng lưng, nhẹ nhàng đưa đầu ra sau, sao cho mắt nhìn lên trên. Giữ trong 5 giây, rồi quay trở lại vị trí ban đầu. Thực hiện ít nhất 10 lần mỗi lần tập.

Nhún vai

Ngồi tư thế nhìn thẳng, từ từ nâng hai vai lên. Giữ trong vòng 5 giây, sau đó quay lại tư thế ban đầu. Lặp lại 10 lần.

Cúi nghiêng về phía trước

Giống động tác nhún vai, bạn ngồi tư thế nhìn thẳng về phía trước, từ từ xoay và hạ cằm về phía ngực. Giữ trong 5 giây, sau đó quay lại vị trí ban đầu. Lặp lại 10 lần.

Xoay cổ

6 động tác giúp đẩy lùi cơn đau do thoái hóa đốt sống cổ

Ngồi trên sàn hoặc ghế làm việc, thẳng lưng, mắt nhìn thẳng. Từ từ xoay đầu sang trái. Giữ trong 10 giây, sau đó quay lại tư thế ban đầu. Thực hiện tương tự với bên phải. Lặp lại 10 lần.

Bài tập với khăn tắm

6 động tác giúp đẩy lùi cơn đau do thoái hóa đốt sống cổ

Cuộn khăn tắm lại và đặt vòng sau gáy, dùng hai tay giữ hai đầu khăn tắm. Từ từ đưa mắt nhìn ra xa bằng cách ngửa đầu trên khăn tắm. Qua khăn, dùng một lực vừa phải tác động lên cột sống cổ khi ngửa đầu ra sau. Giữ trong vòng 5 giây, sau đó quay lại vị trí ban đầu. Lặp lại động tác 10 lần.

Bài tập này rất tốt trong khi bạn đang làm việc, đặc biệt những người thường xuyên làm việc máy tính. Thực hiện bài tập này 30 phút một lần để ngăn ngừa sự căng cơ cổ.

Lưu ý

– Khi ngồi cần giữ lưng và cổ được thẳng.

– Nên ngồi ghế có lưng tựa, tuy nhiên không nên quá ngả về phía sau.

– Thường xuyên vận động cơ thể, đặc biệt vùng cổ.

– Tránh ngồi một chỗ quá lâu.

Phương Nam

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 4

Biển- Em Và Anh

Có người muốn làm con tàu lắng sóng
Chia biển thành hai nửa – biển và em!
Anh sẽ không làm như thế đâu em
Thương biển lắm… và thương em lắm!
Con tàu cứ lênh đênh giữa hai khoảng lặng
Nghiêng ngả bên nào cũng thương nhớ bên kia
Anh xin làm hạt muối mặn sẻ chia
Hòa trong biển, biển là em – anh chẳng giữ gì cho riêng anh cả
Anh chính là anh, là hạt muối ngàn năm
Cứ mặn mà thủy chung, cứ trọn đời hòa tan trong ngực biển
Để khi kết tinh, hạt muối đời anh nhận từ em – thương mến!
Ba vạn sáu ngàn ngày – muối vẫn mặn, gừng cay!
(Khải Nguyên)

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 7

Lời Phật dạy cho những người nóng tính, nhất là phụ nữ càng nên đọc

Ba thứ đó là: “Tham, Sân, Si”. Trong kinh thường gọi ba thứ này là “Tam độc”.

Tức giận là một cơ chế phản xạ của con người khi đứng trước một sự việc không như ý. Tuy nhiên việc tức giận quá mức sẽ dẫn đến ức chế tinh thần, khi không kiểm soát được ắt sẽ bộc phát gây ra những hành động sai trái.

Phật khuyên mọi người chúng ta không nên nóng giận.

Phật không phân biệt nóng giận vì có lý do chính đáng hay không chính đáng, hợp lý hay không hợp lý. Chỉ biết rằng khi nóng giận, tâm con người chắc chắn không đủ để kiểm soát hành vi và ngôn ngữ. Phật nói : “Hãy từ bỏ nóng giận thì phiền não sẽ không đến với các người”.

​Chẳng hạn, điều gì mình không ưa thích mà cứ phải “chạm trán” liên tục thì tâm bất mãn bùng phát biến thành phẫn nộ, hoặc trong trường hợp thường xuyên bị kẻ khác chỉ trích tấn công với lời lẽ gay gắt thì sự bực phiền dồn nén trong lòng trào dâng chuyển thành cơn phẫn nộ. Phẫn nộ, do đó, là hệ quả của tâm giận dữ bất mãn bị kích động.

Đức Phật dạy rằng, cần phải học cách nhận diện và chuyển hóa cơn giận, khi giận, không nên đè nén trong lòng mà nên nói ra. Ta nên bày tỏ nỗi khổ của ta một cách rất chân tình và thật thà với người mà ta đang giận, có như thế mới có cách giải quyết vấn đề.

Lời Phật dạy cho những người nóng tính, nhất là phụ nữ càng nên đọc.

​Khi trao đổi bàn giải với nhau, cả hai nên dùng lời ái ngữ ôn hòa và phải tỏ ra một cách hết sức thành thật cởi mở. Cả hai nên dẹp bỏ lòng tự ái kiêu căng ngã mạn. Vì lòng tự ái là con đẻ của bản ngã. Chính nó gây nên thù hận và giết chết đời ta.

Phật khuyên ta nên lấy lòng từ bi và tính ôn hoà để thắng phẫn nộ. Đồng thời ta còn phải thận trọng lời nói, giữ gìn ngôn ngữ cho nhẹ nhàng, đúng đắn và không bao giờ nên thốt ra những lời nặng nề thô lỗ làm đau lòng người khác.

Thông thường, khi tức giận, con người thường muốn trừng phạt nặng nề đối phương, càng như thế, hiểu lầm càng lớn, thù hận càng sâu, chẳng phải càng bi ai hay sao, người giữ mối thâm thù làm sao có thể hạnh phúc được.

​Điều khó nhất là diệt từ hận thù từ trong tâm, khi không còn nghĩ đến tức giận, tự khắc cơn nóng giận sẽ nguội dần. Ta sẽ dùng tình thương và lòng bao dung để đáp lại mọi trường hợp mà người phàm tục cho là đáng giận, trong những lúc họ tranh giành phải trái hơn thua với nhau.

Hãy luôn nhớ rằng, dứt bỏ được nóng giận, hơn thua, cuộc đời sẽ tự nhiên thanh thản và dễ chịu hơn rất nhiều.

Lời Phật dạy cho những người nóng tính, đã là phụ nữ càng phải đọc
Nguồn: Sưu tầm
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 11

Một động tác bổ thận và giúp bạn ngủ ngon đến sáng

Một bác sĩ tâm sự: “Trước giờ tôi thường phải dậy đi tiểu vào lúc 1:30 đêm và 4 giờ sáng. Sau nhiều năm như vậy, tôi rất khổ tâm và không cách nào cải thiện được tình hình. Nhưng từ ngày tập luyện động tác này vào buổi tối trước khi đi ngủ, tôi không còn phải dậy một lần nào nữa.”
Bí quyết của vị bác sĩ nói trên chính là bài tập nhấc chân, thường kéo dài trong vòng 15 phút. Ông cho biết: Mỗi lần làm động tác nhấc chân này tôi không thể nào kéo dài quá 15 phút, vậy nên tôi tách ra làm ba lần.

Phương pháp
1. Bắt đầu nhấc chân lên đếm đến 200, sau đó hạ chân thấp xuống và duỗi thẳng, lại tiếp tục đếm đến 100 rồi đặt chân xuống nghỉ ngơi.
2. Sau đó nhấc chân lần hai, giơ chân thẳng và đếm đến 200, hạ thấp xuống và đếm đến 100.
3. Lần thứ ba nhấc chân lên và đếm đến 100 là hoàn thành, và như thế bạn có thể ngủ một mạch đến sáng.   
Tôi không biết vì sao giơ chân trước khi ngủ lại có thể khỏi được bệnh tiểu đêm, nhưng tôi thực sự vui mừng như trút được gánh nặng, vậy nên tôi quyết định chia sẻ bí quyết này của bản thân. Cũng qua đây tôi muốn cảm ơn người đã gửi tặng món quà này đến cho tôi.
Tôi hy vọng những người khác cũng nhận được lợi ích.

 

                                           Nhấc chân trước khi đi ngủ – ngủ một mạch đến sáng.
Thuốc bổ không bằng thức ăn, thức ăn không bằng vận động. Chỉ cần bạn muốn có sức khỏe, và chỉ cần bạn kiên trì giơ chân 15 phút mỗi ngày trong vòng 2-3 tháng, bạn có thể cải thiện cả về thể chất lẫn tinh thần.
Quy trình và phản ứng trong lúc thực hành:

1. Trước và sau khi nhấc chân cần uống 300 ml nước ấm, thư giãn, hít thở tự nhiên, dùng lực của eo và khí tại đan điền để hỗ trợ cho phần dưới của cơ thể để tránh bị mỏi.

Cơ thể và đùi tạo thành góc 90 độ, đùi và bắp chân cũng tạo thành một góc 90 độ, giữ như vậy ít nhất 15 phút.

2. Khi nhấc chân lên, máu sẽ nhanh chóng chạy về gan và thận để giải độc và bài độc, tăng cường trao đổi chất.

Từ thắt lưng trở xuống sẽ có phản ứng ê mỏi, vì độc tố đang được tăng cường bài tiết. Tuyến yên trong thận thể sẽ tự tiết ra hooc- môn, kích thích khả năng giải độc. Và cuối cùng trong quá trình ra mồ hôi, các độc tố sẽ được thải ra ngoài.

3. Trong quá trình nâng chân lên, khí không tốt trong cơ thể cũng được đẩy ra ngoài. Những tế bào lành mạnh sẽ phát triển thêm, và tế bào ung thư sẽ tự nhiên tiêu vong.

4. Trong quá trình nhấc chân cũng tác động vận khí qua rốn, đả thông huyệt nhâm đốc, mở rộng lỗ chân lông, làm tăng hô hấp da và sự trao đổi chất. Khi luyện khí tại đan điền thì sẽ giảm gánh nặng cho phổi, khí độc trong khoang ngực sẽ tự tống ra ngoài. Giải thể tối đa những phiền não và áp lực, làm cho tinh thần luôn trong trạng thái thoải mái. Phục hồi chức năng tim, áp lực tâm lý giảm đáng kể, cuối cùng huyết áp cũng ổn định trở lại.

5. Trong khi giữ chân thì mồ hôi cũng toát ra, nên độc tố có tính axit và chất béo trong máu cũng tự nhiên được đốt cháy.

Động tác này phải khống chế cả hai tay hai chân, vì vậy có thể làm ổn định lượng đường trong máu, cải thiện chức năng của lá lách, tính tình cũng được cải thiện tốt hơn, ôn hòa, ân cần và dễ gần hơn.

6. Khi giơ chân thì ruột già sẽ tự nhiên động đậy, bàng quang càng mạnh hơn, giảm thiểu táo bón, kinh nguyệt không còn bị rối loạn. Chức năng tiêu hóa của dạ dày trở về ổn định, 
ăn uống ngon miệng và khiến cho cơ thể không quá gầy cũng không quá béo.

7. Trong khi nhấc chân, cột sống duy trì đúng với tiêu chuẩn, cơ bắp linh hoạt, máu lưu thông, các đốt xương sẽ sản sinh thêm tủy, thần kinh hai bên cột sống phục hồi chức năng dẫn truyền về trạng thái bình thường nhất, làm giảm thoái hóa khớp và hết đau thần kinh tọa.

8. Khi nâng chân thì các bộ phận nội tạng của cơ thể cũng vận động theo, não bộ trở nên linh hoạt, thông minh, tăng trí nhớ, tăng cường ý chí và sự bền bỉ, cân bằng tâm lý và sinh lý về trạng thái bình thường, cải thiện mất ngủ.

 
Theo monquacuocsong.net
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 14

Hè sang

Bầu  trời  tĩnh  lặng  mái  hiên  che

Cái nóng  râm ran  tựa  giữa  hè

Nắng  rộ  hoa  tàn  ong  hết  lượn

Mưa  khan  cỏ  úa  bướm  thôi  về

Vừa  đây  nụ  hé  bao  mong  ước

Mới  đó  chim  ca  lắm  hẹn  thề

Hối  hả  xuân  đi  nào  luyến  tiếc

Đễ  mình  ngơ ngẫn  nhớ  lê thê

 

                  THANH  HOÀ

 

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 27

Con Gái của Người Ta

Với bài viết tựa đề “Viện Dưỡng lão và Viện Mồ Côi”, Trần Thiện Phi Hùng có tên trong danh sách nhận giải đặc biệt Viết Về Nước Mỹ 2013. Tác giả cho biết ông nguyên là lính Hải Quân VNCH; 12 năm 4 tháng đúng, tính đến ngày 30 tháng Tư 75, tự lái tầu vượt biển năm 1982, hiện định cư tại Úc. Bài mơi nhất của ông, vẫn với chi tiết về nhà hộ sinh và viện dưỡng lão như từng kể, nhưng gần như quay một vòng 360 độ, biến thành một câu chuyện khác hẳn.
* * *

Tiệc rửa lon trung úy của tôi chung với tiệc đầy tháng của con gái tôi và “con gái của người ta”.

Con gái của người ta sau 24 giờ sinh ra đã trở thành con gái của tôi và chỉ sinh sau con gái của tôi có 4 giờ tại Bảo Sinh Viện Quân Đội Thành phố Nha Trang năm 1972. Mẹ của nó còn trẻ lắm nhưng lanh lợi sành đời. Cô ta sinh xong mạnh khỏe đi đứng bình thường chứ không nằm liệt như bà vợ tôi. Cô ta nói với vợ tôi cô ta là vợ của một Trung úy Biệt Kích. Anh ta ít khi về nhà và công tác ở đâu không bao giờ nói. Cô ta đi làm sỡ Mỹ ở Chu Lai vì sinh kế sao đó nên nhảy dù với Mỹ. Tai nạn có thai ngoài ý muốn nhưng không biết con của Chồng hay của Mỹ nên cứ sinh xong rồi tính. Con chồng thì để nuôi; con Mỹ thì cho.

Nghe vợ nói lại, tôi sang phòng cô ta gõ cửa xin vào xem đứa nhỏ ra sao. Trong bóng đèn mờ của căn phòng, con bé nằm bó mình trong khăn lông; chỉ lòi cái mặt da trắng đỏ và cái miệng nhỏ xíu hai môi như chu ra làm tôi nghĩ ngay con bé nầy chắc sau nầy hỗn lắm! Tôi không nói gì với cô ta mà về phòng bảo bà vợ tôi:

– Mình xin Con Bé nuôi luôn nhen Em ?

– Làm sau đũ sữa cho 2 đứa? Thiên hạ nói bậy bạ làm sau chịu nổi?

– Cho uống sữa bò; Anh mướn thêm người giúp việc nửa cho em.

– Tùy anh.

Thế là thủ tục Xin của Tôi và đồng ý cho con do cô ta viết được đưa cho Cô Mụ; nhưng sáng hôm sau thì cô ta đã rời khỏi bệnh viện, bỏ con lại mà thủ tục chưa hoàn tất. Ban Xã hội Quân đội cũng dễ dàng hoàn tất nốt thủ tục nhận con nuôi mà làm khai sinh giống như thủ tục khai sinh của con gái của tôi. Đây có lẽ là trường hợp hy hữu một đứa trẽ Lai Mỹ mà khai sinh do hai vợ chồng là người miền Đông và Tây Nam Việt Nam coi như sinh ra. (rất tiếc trong cơn biến loạn di tản năm 75 tất cả hình ảnh đều mất hết. Trong tiệc đầy tháng; 2 đứa bé như cặp song sinh; nhưng một Việt một Mỹ đẹp như thiên thần!); nhưng mà khổ cho thân tôi! Hai đứa trẻ đứa nào cũng đòi bồng một lúc. Đứa trên lưng thì đứa kia phải bế trên tay. Lưng Tôi bị thoái hóa cột sống năm 2000 có lẽ cũng vì hai đứa con ngày một lớn dần mà cứ phải thay đổi đứa trên lưng đứa trên tay mấy năm.

Tháng Tư đen 1975, tôi bị rã ngũ. Tôi không thể về quê ngoại như ước muốn sống ở Rừng Dừa năm xưa vì nay B52 cày nát thành bình địa. Tôi muốn phá hoang trồng lại; nhưng phải trình diện vào tù cải tạo. Một tháng trôi qua, rồi một năm, rồi năm nữa..! Vợ không thấy đi thăm mà con cũng không bao giờ được gặp mặt. Mỗi tháng chỉ có Mẹ tôi được 15 phút thăm nuôi. Hỏi gì mẹ tôi cũng nói tất cả bình an; các con ngoan và khỏe mạnh. Tôi lúc nào cũng nhờ Mẹ lưu tâm cho Thùy An, tên đứa Con Lai Mỹ. Chắc là Nó bị kỳ thị ở trường học và sống với mọi người sẽ rất khó khăn! Mẹ tôi nói con khỏi lo. Nó sống rất tốt học rất giỏi nên được Thầy Cô và bạn bè quí mến. Mẹ tôi lúc nào cũng né tránh khi tôi hỏi đến vợ và con gái của tôi, Thanh An. Tôi đoán có lẽ chuyện gì không tốt đã xảy ra nhưng đành bó tay không biết hỏi ai!

Bốn năm sau tôi được ra tù. Con gái mang 2 dòng máu ôm tôi khóc như mưa; nhưng con gái và vợ tôi thì không thấy đâu nữa. Tôi đoán biết chuyện không hay nên cũng không hỏi mẹ. Cơm chiều xong, con gái xin tôi:

– Ba cho con ngủ chung với Ba đêm nay?

– Ngày thường con ngủ một mình?

– Không Con ngủ với Bà Nội.

– Ừ! nếu con muốn.

Con bé thỏ thẻ kể hết cho tôi nghe. Ba đi rồi mấy tháng sau má dẫn Chị Hai đi với Má về thăm Ngọai mà không cho con đi và từ đó không về nữa. Con hỏi Nội Má con chừng nào về? Nội nói Nội không biết.

Một năm trôi qua; tính ra tôi đi làm “lao động xã hội chủ nghĩa” có nghĩa “ăn cơm nhà làm lao động nặng không công” khoảng hơn 3 tháng. Đào kinh, đắp đường, gánh lúa thuê…v.v.. Cạnh đó là làm thuê, làm mướn đi lao động thay cho người trả tiền để khỏi đi. Tôi hết thời gian quản chế một năm, làm phó thường dân, rồi được đề cử làm Đại Đội trưởng Lao động; chuyên đi kêu người đi lao đông. Ai thấy mặt tôi đến thăm là biết phải cơm gạo nhà đem đi làm không công mấy ngày hay nửa tháng.

Thời chinh chiến; tiền lương của 3 đứa con cho Mẹ, mẹ tôi xài tiện tặn có dư, hễ đủ 1 chỉ thì mua 1 chỉ vàng y; đủ 10 chỉ thì đổi thành 1 lượng. nhét kẹt giường, đào nền nhà, tủ làm 2 nóc để cất vàng. Con thất thế sa cơ Mẹ bán vàng nuôi con. Mẹ cho con vàng để vượt biên.

Năm 1982, tôi và em gái tôi vượt biên. Con gái của tôi nhứt định Ba đâu con ở đó; Con không sợ chết. Con chỉ sợ phải xa Ba! Tôi lái tàu ra khơi lần cuối cùng để một là chết, hai là được thật sự tự do. Tôi thành công sang bến bờ tự do. Con gái tôi bắt đầu vào Trung học; có lẽ nhờ cái máu Mỹ của nó hay sao mà chỉ mấy tháng thì nó nói tiếng Mỹ như súng liên thanh; cứ có dịp là đeo bên tay Cha khi đi chợ hay đi ăn nhà hàng hay có đám tiệc…. Hình ảnh một ông già Việt Nam có một cô gái hoàn toàn Mỹ không thấy có gì lai đeo theo một bên và nhõng nhẽo thì chắc chưa có ai bằng. Tối ngày gặp mặt gọi Daddy; không thấy mặt thì daddy, Ba đâu rồi. Tôi vui với con gái của người ta và là nguồn an ủi cho tôi vui sống. Tôi làm công nhân cho hãng làm phụ tùng xe hơi, lương cũng dư sức nuôi con lên đại học và mua nhà trả góp. Phải mất 5 năm tôi mới trả hết nợ nhà. Năm 1995 con gái tôi thành y sĩ nhãn khoa và có việc làm ngay. Ngày làm lễ Mãn khóa; cầm mảnh bằng trên tay, con gái ôm tôi khóc như chưa bao giờ khóc như thế. Tôi bảo:

– Con vui mừng sao lại khóc dữ thế?

– Cám ơn; Con cám ơn Daddy nhiều lắm; Con đang nghĩ không biết có bao nhiêu ngàn hay chục ngàn đứa trẻ bị cha mẹ bỏ rơi mà có bằng Đại học như con. Con thương Daddy nhiều lắm.

– Daddy cũng cám ơn Con; nhờ có con mà cuộc sống của Ba mới có ý nghĩa mà vui sống tiếp bấy lâu nay.

Hai Cha Con dị chủng ôm nhau cùng khóc.

Bạn bè của con biết thì không có gì lạ về sự khắng khích của Hai Cha Con Việt Mỹ nầy; nhưng những người xa lạ thì hiếu kỳ nghĩ suy lung tung nhưng không thể nào ra được đáp án. Cha Việt sao con Mỹ mà không có chút gì là dáng vẻ Việt Nam.

Tôi đi làm đem cơm theo ăn nay làm thêm phần cho con gái. Lương của con gái đưa hết cho tôi và chỉ lấy 100 bạc để đổ xăng và ăn quà vặt. Khi cần mua sắm gì thì nói xin. Tôi từ chối cách nào cũng không được nên mỡ một sổ bank riêng bỏ hết tiền của con gái đưa để khi nó cần đưa lại cho nó. Hai năm sau, em Gái của tôi bán 2 cái nhà cũ để mua cái nhà lớn hơn, tôi bảo con gái vay tiền ngân hàng mua cả 2 cái. Vì không vay được một lúc gần nửa triệu bạc nên tôi dùng cái nhà tôi để thế chấp vay mua 2 cái nhà cho con gái đứng tên và cho mướn.

20 năm trôi qua nhanh. Lưng của tôi bị thoái hóa cột sống nên đau càng ngày càng nhiều. Chân tôi bắt đầu bị tê. Lái xe lúc nào chân cũng phải nhịp nhịp thử coi còn hoạt động được hay không; nhỡ bị tê khi cần thắng mà không xử dụng được thì nguy to. Tinh thần tôi bị hoảng loạn khi nghĩ đến lúc không cữ động được tay chân bởi dây thần kinh bị gai xương sống ép nên không hoạt động được. Mổ xương sống thì xác xuất rủi ro khá cao; nên khi còn gượng đi đừng được tôi không chịu mổ để cắt gai cột sống. Con gái thì đeo theo một bên ít đi chơi ít giao thiệp với bạn bè. Đi làm về là quanh quẩn bên Cha làm tôi thêm lo lắng.

– Sao Con không có bạn trai? Con lập gia đình cho ba yên tâm!

– Ai bảo Ba con không có bạn trai. Bạn trai của con đang ghi tên học tiếng Việt; bao giờ nói được tiếng Việt con sẽ đem về ra mắt Ba. Anh ta người Đức nhưng sinh trưởng ở đây và chịu điều kiện phải sống chung với Ba suốt đời; nhưng con thêm điều kiện phải nói được những câu thông dụng tiếng Việt Nam.

– Ba nói tiếng Anh cũng tạm hiểu được mà Con.

Nhưng con muốn con của con sau nầy phải nói được tiếng Việt, nên anh ta ghi tên học một năm tiếng Việt ở Đại học Victoria.

Tuổi 60 cũng đúng lúc tôi được phép về hưu vì là cựu quân nhân nên sớm hơn dân sự 5 năm. Con Gái thì hối thúc Ba nghỉ việc đi; tiền hưu Ba đủ sức tiêu dùng; nếu có cần mua gì hay đi đâu con lo cho ba được.

Tôi xin nghỉ việc về hưu. Sáng nào 5.30AM cũng đi bơi để chữa trị bệnh đau lưng. Con gái cũng đi theo. Sáng nào hai cha con xe ai nấy lái đến hồ bơi. Con tập Gym, cha thì Bơi. Con gái đem quần áo uniform thay đi làm luôn.

Một hôm con gái tôi nói:

– Ngày mai con không đi làm; Ba có muốn con chở Ba đi thăm Bác Hoàn không? Con nghe con gái của Bác nói Bác đã bị đưa vào Viện Dưỡng lão tuần rồi.

– Sau con lại dùng chữ “bị”? Chẵng lẽ Bác Hoàn không muốn vào Nursing home mà bị bắt buộc vào hay sao?

– Bác Hoàn bị stroke té; xe cấp cứu đem vào nhà thương; Bác bị méo mặt và miệng không nói được nên các con của Bác xin Bác sĩ cho vào Viện Dưỡng lão; vì nếu về nhà sau nầy xin vào thì Bộ Y tế sẽ check sức khỏe và trí nhớ khó khăn lắm mới được chấp nhận nên để nhà Thương quyết định thì khỏi phải check gì hết!

– Bác chỉ hơn Ba có 2 tuổi và trí nhớ còn tốt lắm mà! Ừ! Ba với con đi thăm Bác kẻo tội nghiệp; hơn nữa mai mốt Ba có vào sẽ có người thăm lại ba.

– Không bao giờ có chuyện đó Ba đừng mơ; Con không bao giờ gởi Ba vô Viện Dưỡng Lão đâu. Con tập Gym để đủ sức bồng Ba khi Ba cần đến; Con cũng chọn chồng lớn con để phụ với Con. Ba xài Computer và Internet thường xuyên, trí nhớ của ba sẽ không bị Dementia hay Alzheimer.

– Cám ơn con; nhưng con còn công việc và cuộc sống của riêng con.

– Viện Mồ Côi không dành cho con thì Viện Dưỡng Lão cũng không dành cho ba.

– Con nhớ mua trái cây biếu Bác; nhớ đừng mua bánh ngọt vì Bác ấy cử ăn đường.

Hai cha con tôi vào Viện Dưỡng Lão Cửu Long vừa sau giờ ăn sáng; nên gặp Bác Hoàn ngay phòng ăn. Mặt và miệng của Bác Hoàn trở lại gần bình thường và giọng nói tuy có biến giọng nhưng vẫn còn nghe rõ lắm. Bác bắt tay tôi coi vẻ mừng và cảm động lắm nhưng hai mắt lệ ứ tròng. Con gái tôi lúc nào đi với tôi đều là mục tiêu để nhiều người chú ý và tò mò muốn biết về Cha Con Viêt Mỹ nầy. Hơn nữa vẻ trìu mến và lúc nào cũng như nhõng nhẽo với cha từ lúc còn bé thành thói quen làm mọi người càng chú ý hơn. Thăm Bác Hoàn khoảng một tiếng sau hai cha con xin phép ra về. Con gái tôi lái xe ghé Chợ và nói:

– Con đãi ba ăn bún bò Huế.

– Ừ! ăn thì ăn.

Con gái mở cửa cho tôi và kéo ghế cho tôi ngồi; gần như ai cũng quay ngó chúng tôi. Cô bé chạy bàn thì quen quá với cha con tôi vì nhiều lần ăn ở quán nầy.

– 2 tô bún bò Huế phải không Chú?

– Ờ! Cháu cho Chú 2 tô.

Con gái mở cái xách tay của nó ra; mà nó đổi cái xách tay lớn hơn hồi nào tôi không để ý. Nó kéo ra một bịch nylon và kéo Rau kinh giới ra. Nó để rau kinh giới tím qua một bên và nói:

– Cái nầy của Daddy.

Rồi kéo mớ khác là kinh giới xanh và nói:

– Cái nầy của con.

Ông ngồi bàn gần kế bên quay sang

– Cô Tây nầy sau nói tiếng Việt rành quá và rành ăn bún bò Huế hơn cả người Việt Nam!

– Nó là người Việt Nam chứ không phải Tây. Nó chê rau kinh giới tím ăn nồng quá mà tôi thì thích kinh giới tím hơn nên nó hái riêng hai loại cho cha con chúng tôi.

– Cô ta là Dâu của Anh?

– Không. Nó là con gái của tôi.

– Hai tô bún bò Huế được bưng ra; cuộc đàm thoại ngưng tại đây và có lẽ ai cũng liếc mắt xem khi cô Tây 100% vắt chanh và ngắt từng cọng rau bỏ vào tô cho cha. Tôi hãnh diện là đã không lầm khi bỏ công bao năm cơ cực nuôi “con của người ta.”

Về tới nhà chưa kịp thay quần áo thì điện thoại reo. Bạn Hoàn, người tôi vừa đi thăm, phone cho tôi từ Viện Dưỡng Lão.

– Anh mới về tới nhà phải không? Hồi nãy tôi gọi không ai bốc phone. Sau khi Anh về rồi có một Bà trong Viện dưỡng lão này hỏi anh có phải Hải Quân hay không và đứa con gái Mỹ đi theo Anh là con của Anh? Bà ta nói là người quen của Anh ở Nha Trang khi xưa; muốn xin số phone của Anh, nên tôi hỏi Anh trước. Có phải nhân tình cũ ngày xưa hay không? Nếu phải thì vào gặp gấp đi; dễ gì xa xứ gặp cố tri!

– Ừ! Thì Anh cứ cho; có sao đâu. Bốn mươi mấy năm rồi làm sao ai còn nhớ được ai!

Một ý nghĩ thoáng qua trong óc tôi: Không lẽ là Mẹ ruột của con gái của tôi? Chứ nếu bà ta là người vợ bỏ tôi ngày nào thì chắc chúng tôi phải nhìn nhau, chứ chẳng lẽ tình chồng vợ sống với nhau 5 năm mà nhìn nhau không ra! Nhưng nếu là mẹ ruột của con gái của tôi, tôi phải làm sao đây, vì dù sao cũng là… “Con gái của người ta”.

Trần Thiện Phi Hùng

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 31

Một câu chuyện buồn

Tôi nhớ rất rõ chuyện xẩy ra rất lâu khi tôi gần tròn bốn tuổi.

Hồi đó, gia-đình tôi sống gần một làng chài ở Mỹ-khê, Đông-Giang thuộc quận ba thành-phố Đà nẵng.
Ba tôi phục-vụ trong quân-đội VNCH, đơn-vị đóng ngoài Quảng-Trị, cấp bậc hạ-sĩ. Mẹ tôi bán cá ngoài chợ Sơn-trà. Mẹ tôi mua cá của những ghe chài cập bến vào sáng sớm, để đem ra chợ bán.
Một buổi trưa Chúa nhật, hai anh em tôi chơi banh ngoài sân cỏ bên cạnh nhà, chờ mẹ về cho ăn cơm. Anh tôi học lớp đệ thất trường Trung-học Đông-Giang, tôi học lớp mẫu-giáo của một trường tư trong phường. Đang chơi, vô tình trái banh do anh tôi đá quá mạnh, tôi đỡ không nổi nên bị trái banh trúng vào mặt. Đau quá tôi khóc ầm lên, anh tôi chạy đến dỗ dành tôi, lấy tay lau nước mắt cho tôi, xoa nhẹ vào má tôi, nơi bị đau.
Vừa lúc đó mẹ tôi từ chợ về.Thấy mẹ, tôi càng khóc lớn thêm.
Khi biết được sự việc, mẹ tôi quơ tay đập nhẹ mấy cái vào đầu anh tôi mắng: “Cha mi, làm em đau,” rồi vội dẫn tôi vào nhà, lấy khăn ướt lau mặt cho tôi, để tôi vào võng đưa qua đưa lại, dỗ dành: “Nín đi con, sau nầy đừng chơi banh nữa, tháng tới sinh nhật con, ba về mẹ nói ba mua cho con chiếc xe đạp nhỏ, con đạp đi học giống như anh Hai của con.” Nói xong, mẹ tôi đi vào bên trong nhà rồi trở ra, một lá thơ trên tay: “Đây là thơ của ba con gởi về hôm tháng rồi” mẹ tôi đọc:
– ‘Tháng tới, ngày 27 tháng 4 sinh-nhật của cu Tấn, anh sẽ xin phép về vài ngày. Em xem mấy cửa hàng bên chợ Hàn nơi nào bán xe đạp vừa tầm cỡ cu Tấn, anh về sẽ mua cho con một chiếc  ‘.
Nghe vậy, tôi ngừng khóc. Mẹ tôi ngồi vào võng, ôm tôi nằm sấp vào lòng, vừa đưa võng vừa nói, “Bữa ni mới 10 tây tháng hai, còn hơn hai tháng nữa ba mới về. Từ đây đến ngày đó, nếu con còn nhõng nhẽo không nghe lời của mẹ và anh hai thì mẹ nói ba không mua xe đạp cho con đâu.”

Tiếng mẹ tôi nghe nhỏ dần, trong mơ tôi nghe tiếng ba tôi khen “Cu Tấn đạp xe giỏi quá”, tiếng mẹ và anh hai: “Coi chừng té! coi chừng té”, và tiễng vỗ tay của ba người.
***********
Một buổi sáng, tôi đã thức dậy nhưng còn nằm nuớng trên giường với mẹ. Hôm đó biển động nên không có cá bán, mẹ ở nhà. Mẹ tôi ôm tôi: “Còn gần một tháng nữa, ba con về phép mua xe cho con, con lớn rồi, bốn tuổi đâu còn nhỏ nữa mà hở đâu khóc đó” Tôi mắc cở, dụi đầu vào lòng mẹ thì nghe có tiếng đập cửa rất mạnh.
Tiếng bác Hội hỏi lớn: “Thiếm Tiếng có nhà không? thiếm Tiếng có ở nhà không? “Mẹ tôi vùng ngồi dậy, trả lời:
–  Dạ, có tôi ở nhà, hôm nay biển động nên không có cá. Có chuyện gì không anh?
Mẹ tôi mở cửa. Tôi nghe tiếng  bác Hội:
– Tụi Việt-cộng đã tấn công vào Quảng-trị. Kỳ nầy nghe đâu bọn nó tấn công khắp nơi. Đơn vị của chồng thiếm bị tan hàng, một số bị bắt, một số bỏ chạy, một số bị thương trước đó, được đưa vào bịnh-viện Huế. Chú Tiếng, chồng thiếm nghe nói bị thương, đang nằm ở bịnh-viện Huế.Tin nầy do thằng Báu vừa chạy về cho biết. Hai đứa nó cùng đơn-vị.
 Mẹ tôi khóc. Tôi thấy mẹ tôi như tàu chuối héo, rũ người trên ghế.Tôi và anh hai tôi sợ sệt, vội chạy đến bên mẹ trố mắt nhìn mẹ, không biết nói gì. Nghe tiếng ồn ào, hàng xóm chạy qua, mỗi người một tiếng khuyên mẹ tôi bình-tĩnh nhưng mẹ tôi vẫn khóc.
 Hai ngày sau mẹ tôi đi Huế để tìm ba. Hai anh em tôi được mẹ nhờ bác Hội trông nom săn sóc. Mẹ tôi mua một bao gạo và kho sẵn mấy nồi cá dành cho hai anh em tôi ăn dần khi bà đi Huế.
Bác Hội là bạn cùng xóm với ba tôi. Nhà hai gia-đình sát vách nhau. Hai người chơi với nhau khi cả hai người còn nhỏ. Bác hơn ba tôi năm tuổi. Ba tôi rất thương bác Hội , ba là con duy nhất của ông bà nội. Bác cũng thương ba tôi như em. Sau nầy tôi được biết bác đã muốn gả em gái cho ba tôi, nhưng chuyện hôn nhân không thành.
Bác Hội thi tú tài không đậu nên bác tình nguyện xin đi học Trung-sĩ để khỏi bị bắt làm lính khi đến tuổi thi hành quân-dịch. Bác phục-vụ tại sư-đoàn 2 bộ-binh đóng tại Quảng- ngãi. Năm 1972, bác bị thương, mất một chân và được giải ngũ. Ngày bác cưới vợ, ba tôi dự tiệc, uống rượu rồi gây gổ ồn ào với một ông khách tham dự lễ cưới. Cảnh-sát quốc-gia can thiệp, bắt và chuyển ba qua Quân-cảnh tư pháp vì tội trốn quân dịch.
Ra tòa án quân-sự, ba tôi bị xử đi quân dịch. Ba tôi được đưa đi huấn-luyện  tại Trung tâm huấn luyện Hòa-Cầm ở quận Hiếu-Đức,Tỉnh Quảng- nam. Lúc đó ba tôi đã có vợ và anh Hai tôi độ chừng bảy tuổi. Ba tôi đóng quân tại tỉnh Quảng-trị và hai lần được thưởng Anh-dũng bội tinh tại mặt-trận.
Bác Hội thường nói với anh Hai tôi:”Ba mầy hiền lành như con gái nhưng ra ngoài mặt trận với địch quân, ba mầy gan dạ, không biết sợ chết là gì, được gắn huy chương, được  thăng cấp ngoài mặt trận, còn bác chẳng được gì ráo, lúc nào cũng chỉ mang lon trung-sĩ quèn”.
Mẹ tôi đi Huế tìm thăm ba đã hơn hai tuần mà chưa thấy về. Ba nồi cá kho ăn đã gần hết. Hai anh em tôi ngày nào cũng khóc vì nhớ mẹ. Buổi tối bác Hội thường qua nhà ngồi chơi, an ủi hai anh em tôi đến khuya với về lại nhà bác. Và từ đó hai anh em tôi không còn gặp lại ba và mẹ nữa.
 ********
Một hôm, trong xóm bỗng nhiên tiếng chó sủa vang, tiếng người gọi nhau inh-ỏi, tiếng súng nổ, lính tráng từ đâu đổ về đầy xóm, đầy bãi biển. Xe cộ nối đuôi nhau nằm ụ hai bên vệ đường. Người dân đủ cỡ, đàn bà con nít, ông già bà cả dìu dắt nhau đi, vừa hớt hãi chạy, vừa khóc, tất cả đều theo huớng ra bờ biển.
Trong xóm tôi, vài gia đình cũng bồng bế nhau chạy ra bãi biển. Vài người gọi với vào nhà tôi: “Chạy đi, cộng-sản sắp vào tới rồi!”. Hai anh em tôi đứng trong nhà nhìn đoàn người lũ lượt đi…và nhớ đến ba mẹ, chỉ biết khóc.Tôi nghe tiếng bác Hội nói với những người cùng xóm rủ bác đi lánh nạn: “Tôi chỉ còn có một chân mà chạy đi đâu? ” Tối hôm đó bác qua nhà tôi bảo anh Hai tôi hạ cây cờ vàng ba sọc đỏ xuống. Bác nói:
– Thằng Tấn anh, mày leo lên đem lá cờ xuống dấu kỹ một chỗ, sau nầy dùng lại; nếu không, lũ khốn-nạn đó vào mà thấy được, chúng sẽ không để yên cho sống đâu.
Anh hai tôi đem lá cờ xuống xếp nhỏ lại, rồi thoăn thoắt leo lên cột nhà để vào chỗ nứt của đầu kèo nhà, nơi mà anh tôi hay giấu những đồ chơi quý mà anh không muốn cho tôi phá vì sợ bị làm hư.
Rồi một ngày, đồng loạt tất cả nhà nhà trong xóm đều treo cờ đỏ sao vàng. Anh em tôi được phát mỗi đứa một  khăn quàng đỏ và ngày nào cũng đi sinh hoạt thiếu nhi, có ngày mệt quá hai đứa tôi không ăn uống gì hết, tối về đến nhà là lăn ra ngủ, quên cả khóc nhớ ba mẹ.
 Ông thợ may đầu xóm thành ông tổ trưởng dân phố. Mấy con ông, cả trai và gái đứa nào cũng có súng, đi lục soát từng nhà tìm bắt những người đã làm việc cho “ngụy”. Tôi nghe bác Hội gọi lén lũ nầy là bọn “ôn dịch”, “ăn cơm quốc gia thờ ma cộng-sản”. 
Cá kho hết, anh em tôi ăn cơm với nước mắm. Hết nước mắm, anh em tôi ăn cơm với muối. Đến khi hết gạo thì bác Hội cho tụi tôi ăn cơm độn khoai mì. Nhà bác Hội nghèo, có bác gái và hai đứa con nên phần cơm chia sẽ cho anh em tôi không đủ no bụng. Bác Hội giúp anh Hai tôi bán cái Radio, rồỉ đến chiếc xe đạp…rồi đến một ngày trong nhà không còn gì để bán. Nhà bác Hội cũng không còn gì để bán.
Bắt chước mấy người trong xóm, hai anh em tôi đi khắp nơi lượm bao nylon đem ra biển rửa sạch, phơi khô ,vài ba ngày gom lại đem bán lấy tiền mua gạo.Những lúc phơi bao nylon trên bãi biển,tôi phải ngồi canh chừng,nếu không kẻ khác lấy mất. Có lúc canh chừng mà tôi ngũ quên, kẻ gian lấy hết. Anh Hai tôi không nói gì, nhưng nhìn thấy mặt anh buồn thiu.
 ********
Bác Hội gái không còn đuợc cho đi dạy học. Bác chuyển sang mua cá ngoài bến ghe chài đem bán dạo trong xóm. Nhớ trước đây mẹ tôi bán cá trong chợ, tôi hỏi tại sao bác không bán trong chợ như mẹ tôi trước đây? Bác nói “Bác không vào hợp tác xã nên không bán ngoài chợ đươc.” Bác phải mua cá của những ghe chài bán lậu trước khi cập bến.
Để tránh sự dành  giật nhau khi mua cá lậu, bác rủ anh tôi cùng phụ bác đi mua bán cá. Khi ghe bán lậu cá còn xa bờ, anh hai tôi bơi ra ghe mua cá rồi đem vào. Cá được cho vào một sô nhựa, bác Hội gái và anh tôi thay nhau xách đi bán khắp nơi trong phường, khóm, có khi đi qua trung tâm thành phố. Công việc kéo dài được vài tháng thì bị công an phường cấm. Anh em tôi không còn gì để ăn, tôi hay đói nên lúc nào cũng đòi ăn. Hàng xóm thương tình, người cho củ khoai, người cho củ sắn nhưng không làm sao hết đói.
 Rồi một buổi sáng sớm, anh hai tôi dắt tôi đến bịnh-viện, anh tôi bảo tôi ngồi chờ anh trước cổng, anh đi vào bên trong.Tôi ngồi chờ lâu quá nên tựa lưng vào tường ngủ gật. Khi anh đánh thức tôi dậy thì mặt trời đã chiếu  ngay trên đầu. Anh kéo tôi đi nhanh khỏi bịnh viên, anh nói: “Tấn em chắc đói nhiều lắm rồi phải không?”.
 Tôi chưa kịp trả lời anh rằg “từ hôm qua đến giờ em có gì để ăn đâu! ” thì anh nói tiếp: “Anh cũng đói lắm, hai ngày ni anh cũng chẳng có gì để ăn hết….bây giờ anh em mình tìm gì để ăn.” Anh đi vào con hẻm bên kia đường.Tự nhiên tôi đứng lại không chịu đi theo anh. Kéo mạnh tay tôi, anh nói: “Vào đây anh em mình ăn bún.” Tôi lắc đầu: “Mình không có tiền mà!”. Anh khựng lại nhìn tôi, hai mắt anh sáng lên, giọng anh như reo vui: “Hôm nay anh có tiền!” Anh cho tay vào túi rút ra mấy tờ giấy bạc cho tôi thấy, lúc đó tôi mới chịu đi theo anh. Gánh bún bên lề đường đông người, hai anh em phải chờ khá lâu. Bụng tôi cứ vang lên tiêng rột…rột..nước miếng cứ chảy ra. Hôm đó anh mua ba tô bún, mỗi người một tô, tô thứ ba được chia làm hai, nhưng anh dồn hết phần thịt cho tôi, anh chỉ lấy phần bún.
 Ăn xong tôi theo anh vào chợ mua gạo khoai mì và nước mắm. Ngày hôm sau anh thức dậy sóm, nấu cơm ghế khoai mì. Hai anh em ăn cơm ghế khoai với nước mắm.
 Bắt đầu một ngày mới. Hai anh em tiếp tục đi nhặt bao nylon.
Hai tuần sau, anh lại đưa tôi đến trước bịnh-viện, tôi đứng chờ trước cổng, anh đi vào trong và khi anh trở ra anh lại đưa tôi đi ăn bún. Anh cũng mua ba tô, mỗi người một tô, tô thứ ba chia hai, anh chia hết phần thịt cho tôi.Từ hôm đó tôi cứ trông đến ngày anh hai tôi dẫn tôi đến trước bịnh-viện, tôi sẽ đứng bên ngoài chờ, anh đi vào bên trong, lúc trở ra anh lại đưa tôi đi ăn bún.
 Lần thứ ba, anh hai tôi dẫn tôi đến bịnh-viện, tôi cũng đứng trước cổng chờ. Lần này tôi nhìn thấy bác Hội từ bên trong bịnh-viện đi ra, cùng lúc ấy bác cũng nhìn thấy tôi, bác hỏi: “Tấn em làm gì đứng đó?”.Tôi trả lời: ” Con đợi anh hai con, anh ấy vào trong đó” tôi vừa nói, vừa chỉ tay vào bịnh viện. Bác nói: “Anh hai con vào trong đó làm gì vậy  kìa? Nó có nói với con không?”.Tôi lắc đầu. Bác đứng lại với tôi, lấy thuốc ra hút….Anh hai tôi từ trong bịnh-viện đi ra. Bỗng nhiên anh đứng khựng lai, vẻ mặt sợ hãi, có lẽ vì nhìn thấy bác Hội? Cùng lúc ấy, bác Hội hỏi:
“- Con vô đây làm chi rứa?”
 Anh hai tôi không trả lời, mặt nhìn xuống đất, tôi nhìn thấy trong mắt anh chớp chớp, như có những giọt nước. Bác Hội sẵng giọng:”Con vào đó bán máu phải không?”. Anh tôi không trả lời, hai vai anh run nhẹ, những tờ giấy bạc rơi lả tả xuống đất. Bác Hội lê bước tới nắm tay anh kéo đi.Tôi lượm lại mấy tờ giấy bạc chạy theo. Đến một khoảng vắng, bác vứt cây nạng gỗ xuống đất, bác kéo anh tôi vào lòng, bác khóc, anh hai tôi khóc và tôi cũng khóc.
 Về đến nhà, bác hỏi anh hai tôi ai chỉ vẽ cho anh đi bán máu, anh nói:”Trong xóm mình nhiều người đi bán máu lắm, họ rủ con đi”. Bác thở dài,   lẩm bẩm: “Khốn nạn cho cái xã-hội mới nầy”!
 *******
Một hôm trời mưa, hai anh em tôi không đi lượm bao nylon. Tôi qua chơi với hai đứa con của bác Hội. Buổi trưa về, vừa mở cửa vào phòng, tôi thấy tên công an Được đang ở trong nhà. Nó vứt mấy đồng bạc trên giường và nói: “Giữ lấy mà mua gạo ăn!”. Tôi nhìn anh tôi dò hỏi nhưng anh im lặng.
 Từ đó, anh tôi không còn vui cười, mặt lầm lì, hay tránh mặt tôi. Vài ngày sau, bác Hội đưa anh vào bịnh-viện vì anh bị đi cầu ra máu. Về nhà, bác lẩm bẩm suốt ngày: “Tên khốn khiếp! có súng, tau bắn nát đầu mầy”.
Bác Hội xin được cho anh hai tôi công việc gỡ lưới bắt cá trên một ghe chài của một người bà con bên vợ.
Hàng ngày tôi đi lượm bao nylon một mình. Buổi tối tôi ngủ một mình. Anh hai tôi theo ghe chài hai ngày mới về bến một lần. Tôi ăn uống bên nhà bác Lộc.
 Một đêm, tôi đang ngủ, có cảm giác như có ai ôm mình vào lòng. Tôi nghĩ chắc anh hai tôi đã đi biển về, tôi quay người lại nhưng cái cảm giác chạm vào da thịt của anh hai tôi không giống như thuờng ngày, tôi mở mắt, qua ánh sáng đèn từ ngoài đường chiếu vào, tên Được đang nằm bên tôi. Tôi hoảng sợ, dùng hết sức mạnh hai chân đạp vào bụng tên Được rồi nhảy xuống guờng chạy ra khỏi nhà. Tiếng tên Được gọi theo:” Đừng chạy, tau bắt đưa về công an phường bây giờ”. Nhưng tôi vẫn chạy, chạy qua bao nhiêu con hẽm trong xóm, chạy ra huớng biển và thẳng đến bến ghe chài.
 Tôi ngồi tựa lưng vào cái thúng chài trên bờ. Trước mặt tôi một màu đen mênh-mông, tiếng gió hòa cùng tiếng sóng biển tạo ra một âm thanh kỳ bí làm tôi sợ hãi. Tôi ngồi chờ anh hai tôi trở về bến. Tôi không dám quay trở về nhà, tôi phải trốn tên công-an Được.
Bỗng có tiếng chân người đi ven mé biển trước mặt tôi, càng lúc càng nhiều.Tiếng thì thầm thúc dục mà mang âm điệu sợ hãi. Tiếng trẻ con khóc, tiếng “xuỵt xuỵt ” bảo im lặng. Tiếng gọi tên nhau thì thầm. Tôi nghe tiếng máy nổ của một chiếc ghe từ xa càng lúc càng gần. Ở quanh tôi, đám đông đã đi lên hết trên cầu tàu.
 Chiếc ghe đã cập cầu bến cá. Mọi người lần lượt lên ghe…Tôi nghe tiếng một người đàn ông hỏi:
– Bà con lên hết chưa? Đếm xem đủ người của mình chưa? Nhanh lên! để ghe rời bến, nhanh lên! nhanh lên! công an nó đuổi tới nơi bây giờ!” Tôi bủn rũn khi nghe mấy tiếng “công-an đuổi đến bây giờ”, tôi nhớ đến lời của tên Được: “Tau bắt đưa về công-an phường bây giờ! “Sợ hãi, tôi leo nhanh lên cầu tàu. Một người chạy đến túm lấy tôi ném lên ghe: “Còn một đứa nhỏ, con ai đây? ..xong rồi! mở máy cho ghe chạy đi, trời bắt đầu sáng rồi.”
 Trong ghe tối đen, tôi không nhìn thấy ai là ai. Một người lay tôi dậy. Trời đã sáng. Mọi người ngồi ép vào nhau.Vài người lao nhao hỏi tôi: “Cháu là con ai vậy? Tên là gì? Đi với ai?. Tôi chỉ khóc, không biết trả lời như thế nào. Một bà dang tay ra ôm và an ủi tôi. Tôi nói với bà: “Con chờ anh con đi theo ghe đánh cá trở về..rồi một người nào đó ném con lên ghe này khi ghe bắt đầu chạy”.
 Buổi chiều hôm đó, mọi người được chủ ghe cho phép lần lượt ra khỏi lòng ghe để thở chút gió mát. Quanh tôi, biển mông mênh không thấy đâu là bờ.Tôi nhớ đến anh hai tôi, nhớ ba mẹ tôi, nhớ gia đình bác Hội, nhớ mọi người trong xóm.
Tôi nghe hai người đàn ông nói chuyện với nhau:
– Chuyến này như vậy là thành công, hai lần truớc bị bắt khi ghe vừa rời bến, nhưng lần nầy thì mình thoát, ghe đang chạy vào hải phận quốc tế rồi. ..”
 Hai ngày sau ghe bị đột ngột chết máy, phải thả bồng bềnh trên biển. Trong lúc nguy khổn, may sao ghe được một tàu hàng Do-Thái đi ngang cứu, và chúng tôi được đưa đến trại tỵ nạn cọng-sản ở đảo Galang của nước Nam-dương.
 *********
Tôi được một gia-đình người Pháp gốc Do-Thái nhận làm con nuôi, định-cư tại Tel-Aviv sau mấy tháng sống tại tỵ-nạn Galang.
Hôm xuống tàu để sang Singapour, những người tỵ-nạn còn đang bị tạm lưu lại đảo, tụ tập ngoài cầu tàu để tiễn những người được định cư, đi đến các nước đã nhận cưu mang họ. Con tàu xa dần bến, người đưa tiễn khuất dần trong tầm nhìn. Nỗi cô-đơn ngập trong tôi, tôi cảm nhận kể từ phút đó, tôi mất tất cả những gì gọi là hình bóng Viêt-Nam.Tôi gục đầu vào thành tàu, nghe những thổn thức tràn ngập trong lòng. Tôi khóc.
 *******
 Ba mẹ nuôi nguời Do-Thái của tôi không có con. Họ đã có hai người con nuôi trước khi nhận tôi. Ba nuôi tôi có một nông trại trồng cam còn mẹ nuôi tôi là một giáo sư ngôn ngữ học. Hai người anh của tôi là một người da màu, gốc Madagascar còn nguời anh kia gốc Ai-cập.Trong ba người, tôi nhỏ tuổi nhất, kém người anh cả tám tuổi, kém người thứ hai năm tuổi.
 Chúng tôi được nuôi ăn học đàng-hoàng, sống rất hòa thuận và đều theo Do-Thái giáo. Bà mẹ nuôi tôi hay than với tôi: “Đất nước của con sao mà nhiều thống khổ quá! chỉ tội cho người dân. Con cố học hành và đừng quên tiếng Việt, sẽ cần cho con sau nầy khi con muốn tìm về cội nguồn.”
 Khi tôi lên trung học, mẹ nuôi tôi bắt đầu dạy tôi học tiếng Việt. Trong những giờ dạy tiếng Việt, bà yêu cầu tôi kể những gì liên quan đến gia đình tôi mà tôi còn nhớ được.Tôi kể bằng tiếng Việt gia đình và về hoàn cảnh của tôi. Mẹ tôi đã ghi lại trên giấy và vào buổi cơm tối ngày hôm sau bà đọc lại cho mọi người trong gia-đình cùng nghe bằng tiếng Do-Thái. Sự việc nầy kéo dài hàng năm cho đến lúc tôi không còn nhớ gì thêm để kể lại. Sau này những lúc chỉ có hai người, mẹ nuôi tôi thường nói tiếng Việt với tôi. Bà bảo đã hai lần đi Việt-nam, tìm đến những nơi mà tôi đã kể cho bà nghe để tìm tin tức gia-đình tôi nhưng vô hiệu. Có lẽ trí nhớ và số tuổi nhỏ của tôi đã không kể lại đủ chuyện gia-đình cũng như nơi chốn  gia-đình tôi sinh sống trước đây cho bà nghe.
 Sau khi tốt nghiệp đại-học, tôi được học bổng của trường đại học Sorbonne Pháp để học tiếng Pháp tại Paris. Một hôm đang ăn trưa tại một tiệm phở thuộc khu phố người Việt quận 13, một bác phục vụ nhà hàng lại bàn nói chuyện với tôi.  Bác hỏi thăm và cho biết bác cũng là người gốc quận ba Đà-nẵng trước đây. Bác và gia-đình vượt biển sau khi thành-phố Đà-nẵng bị mất vào tay Cộng-sản. Bác khoe có trở về Đà-nẵng vài lần, nên bác cho biết các sự đổi thay và chỉ dẫn tôi cách tìm đường về nơi tôi đã đuợc sinh ra và lớn lên. Bác khuyên tôi nên về Đà-nẵng một chuyến để tìm lại gốc gác gia đình.
 ********
Tôi đi dạy được hai năm thì cưới vợ và rồi có hai con, một trai một gái. Khi đứa con trai đầu của tôi được tròn bốn tuổi, tôi mua cho nó một chiếc xe đạp nhân ngày sinh-nhật của nó. Khi đem chiếc xe về nhà, kỷ niệm của ngày xa xôi ở quê nhà trở về …tôi nằm trên võng nghe mẹ tôi đọc lá thơ của ba tôi viết từ chiến trường…ba hứa khi về nhà sẽ mua cho tôi chiếc xe đạp mừng sinh-nhật …nhưng rồi mơ uớc đó không bao giờ đến.
Nhìn con trai tập đạp xe, tôi ứa nước mắt, bùi ngùi nhớ lại tuổi thơ của mình, tội nghiệp cho thằng bé là mình hai chục năm trước. Tôi tự hỏi nếu ngày đó tôi có được chiếc xe, không biết tôi có những cử chỉ vụng về, loạng quạng khi tập đạp xe như con tôi bây giờ?
Tôi hay nói với vợ tôi,”Cho đến tuổi nầy, anh chưa bao giờ bước lên yên xe đạp”. Vợ tôi an ủi: “Anh lại trở về với quá khứ rồi, hãy quên đi!”
Tôi chỉ biết thở dài…Làm sao mà quên được!
 ********
Mùa hè năm 2010, mẹ nuôi tôi khuyên tôi nên trở về Đà nẵng tìm thăm tin-tức gia-đình. Nếu tôi tìm được, bà định sẽ đem hết đại gia đình cùng đi với tôi trong một chuyến đi sau.
 Tôi về đến Đà-nẵng. Theo lời hướng dẫn của cô tiếp-viên khách-sạn và những chi tiết bác đồng-hương tại một nhà hàng bên Pháp cho biết năm nào, tôi tìm đuờng ra bờ sông Hàn rồi tìm phà qua sông. Bến phà này mấy mươi năm trước anh hai đã đưa tôi qua lại mấy lần để đến bịnh-viện bán máu lấy tiền mua gạo. Mọi vật đã đổi thay, phà đã ngừng đưa khách, chiếc cầu mới đã được bắc ngang hai bờ sông. Bác xe ôm lớn tuổi chở tôi chạy vòng qua bao nhiêu khu phố mà ở cái tuổi tôi thời ấy chưa có, bây giờ các khu phố đã mọc lên che lấp những bờ dương và bãi cát cùng sóng biển.
Tôi ra đi ở cái tuổi lên năm, chưa có ý-niệm gì về tên làng, tên xóm, tên phường, tên con đường hẻm chạy qua trước nhà….nên bao nhiêu năm qua tôi không thể nào liên lạc đuợc về nhà cũ, quê hương dường như đã chết trong tôi.Tôi nhờ bác lái xe ôm hỏi thăm và đưa tôi đến nơi có bến ghe cá mấy mươi năm trước. Tôi hy vọng từ đó tôi sẽ tìm ra nhà cũ của ba mẹ tôi. Bác lái xe ôm đã đưa tôi đến bến ghe cá cũ, nhưng nay chỉ còn cái tên  của ngày trước vì bến đã dời đi nơi khác, thay vào đó là một khách-sạn đã được xây lên cùng những ngôi nhà cao tầng.Tôi hỏi thăm nhà ba mẹ tôi, hỏi thăm nhà bác Hội, hỏi thăm tên anh hai tôi, mọi người đều lắc đầu, trả lời với một giọng nói có âm sắc cao và sắc mà tôi chưa hề được nghe khi còn thuở thơ ấu.
 Lòng nặng chĩu và thấy lạc-lõng, tôi rưng rưng muốn khóc. Cả buổi trưa tôi lang-thang, từ khu nầy qua khu khác, áo đẫm mồ hôi, tôi đứng tựa vào một tường nhà có bóng mát tránh nắng.Tôi đã định quay trở về khách sạn nghỉ và sẽ tiếp tục trở lại khu nầy ngày hôm sau. Bỗng tôi nghe có tiếng ve sầu vang lên đâu đây nghe thật buồn não. Ngày xưa trong xóm chỉ có nhà tôi có cây phượng vĩ. Mùa hè hoa nở đỏ rực, lũ ve sầu từ đâu đến buông tiếng kêu râm ran và rầu rĩ, như ru tôi ngủ trong những buổi trưa hè nóng bức.
Khi có cơn gió mạnh, những cánh phượng rơi lả tả xuống sân nhà, mẹ tôi cầm chổi quét. Một lần tôi nghe mẹ tôi phàn nàn với ba tôi: “Anh ơi, hãy đốn cây phượng làm củi cho rồi. Ngày nào cũng quét hoa và lá rụng, mệt quá”.  Ba tôi cười trả lời: “Cây phượng nầy do ông nội trồng để tưởng nhớ bà nội sau khi bà nội chết, bà nội mấy đứa nhỏ tên Phượng, mình không đốn cây được đâu.” Tôi lần đi về hướng có tiếng ve rền-rĩ…màu đỏ của hoa phượng chan hòa trước mắt tôi: một cây phượng to lớn im lìm dưới nắng chói chang…Tôi dừng chân bên cây phượng được trồng ngay bên cổng vào một căn nhà…
 Tôi nhìn kỹ, hình ảnh ngôi nhà xa xưa của tôi hiện ra rõ ràng trong trí nhớ. Tôi đã tìm ra được nhà tôi. Hàng hiên không có gì đổi thay, tất cả còn nguyên như cũ.Tôi lặng nguời vì vui mừng. Lòng hồi hộp nhưng cố giữ bình -tĩnh, một lát sau, tôi gọi vọng vào bên trong:
– Có ai trong nhà không, cho tôi hỏi thăm? ”
Tôi gọi đến lần thứ ba thì cánh cửa nhà hé mở, một đứa bé trai bước ra nhìn tôi rồi vội quay vào đóng cửa lại.Tôi kiên nhẫn chờ. Cánh cửa lại mở, một người đàn ông râu tóc bạc phơ chống nạng bước ra. Tôi nhận ra ngay bác Hội ngày xưa của tôi. Bác già quá nhiều. Bác chống cây nạng gỗ mà người cứ run run. Bác lấy tay che trán nhìn tôi. Tôi bồi-hồi, xúc-động nói lớn:
– Bác Hội còn nhớ con không? Con là Tấn em đây. Bác đi khập khiễng ra cổng, giọng lắp bắp:
– Tấn em hả? con còn sống hả? Trời ơi! con còn sống hả?.. Vào đi, vào đi con.
Hai bác cháu loạng choạng ôm nhau, cả hai cùng khóc, khóc vì mừng gặp lại nhau và khóc cho thân phận của mỗi người và thân phận của nhau. Tôi theo bác vào nhà, đưa mắt nhìn quanh, vội hỏi bác:
– Ba mẹ cháu đâu? anh hai cháu đâu bác?” Bác khựng lại rồi nói:
– Chuyện còn dài, rồi bác sẽ kể lại cho con nghe. Con ngồi nghỉ cho khỏe đã!
 *********
Và bác kể:
“Ngày mẹ con đi Huế tìm thăm ba con bị thương ở Quảng-Trị và được đưa vào điều trị tại bịnh-viện Huế đến nay, bác chỉ nghe bạn đồng đội của ba con kể lại. Khi mẹ con ra đến bịnh viện thì ba con đã bị chính quyền mới của Cộng-sản đuổi ra khỏi bịnh viện cùng với các đồng đội khác cũng bị thương. Những người thương-binh và các nguời nuôi bệnh cùng cảnh này tụ-tập sống dưới chân cầu Tràng-tiền, nhờ vào sự giúp đỡ của dân chúng. Sau đó họ dìu dắt nhau theo quốc lộ 1 trở về Đà-nẵng, ngày xin ăn, tối ngủ bờ ngủ bụi.
Khi đến Cầu-Hai thì ba con kiệt sức vì vết thương làm độc nên chết tại đây. Sau khi được dân Cầu-Hai giúp chôn cất ba con xong thì ngày hôm sau mẹ con, lúc đó cũng đau yếu, thất thểu đi một mình trên đuờng vào Đà Nẵng. Rồi từ ngày ấy đến nay, không ai biết tăm tích của mẹ con ở đâu nữa. Chắc là chết ở đâu rồi, vì nếu còn sống mẹ con thế nào cũng tìm về nhà ở Đà nẵng với hai anh em con.”
 Tôi gục đầu xuống bàn, thổn thức. Giọng bác đều đều:
” Khi con mất tích, anh hai con, gia-đình bác cùng bà con lối xóm ngày đêm tìm kiếm hoài không ra. Anh hai con buồn lắm, sống như một cái bóng thui thủi trong căn nhà này – bác nhìn quanh nơi bác và tôi đang ngồi-. Ba năm sau, anh hai con đến tuổi “thi hành nghiã vụ quân sự” thì bị đưa qua chiến trường Campuchia. Chỉ sáu tháng sau, địa phương báo cho bác biết anh hai con đã tử thương. Người ta hứa sẽ đưa xác về, nhưng đó chỉ là lời hứa suông thôi, không bao giờ có xác về.
Bác đã lấy một mảnh đất sau vườn nhà con xây một ngôi mộ nhỏ, lập bia chung cho cả ba người, ba mẹ con và thằng Tấn anh của con.  Hằng ngày bác thắp nhang cho linh hồn ba mẹ con và anh hai  con khỏi lạnh lẽo. Còn riêng phần con, bác nghĩ là con không chết, có lẽ con đã đi lạc đến một nơi nào đó, có người đem về nuôi, một mai khôn lớn con sẽ tìm ra gốc gác gia đình để trở về.. Anh hai con cũng có ý nghĩ như bác nên trước ngày bị đưa đi Campuchia, anh con đã giao hết giấy tờ nhà đất cho bác giữ hộ và dặn:”Nếu con có mệnh hệ nào thì xin bác giao lại cho thằng Tấn em con.” Bác giữ đã lâu mà vẫn không có tin tức gì của con, bác sợ chính quyền sẽ tịch thu căn nhà nên bác đã xoay sở sang tên ngôi nhà cho bác, nhờ vậy, cái nhà vẫn còn. Nay con trở về, bác sẽ giao nhà lại cho con.
 Tôi theo bác ra sau vườn, ngôi mộ nằm bên một góc vườn. Mộ bằng xi-măng, sạch sẽ. Tôi đọc tên ba, mẹ và anh hai tôi ghi trên mộ bia. Tôi quỵ người xuống, gục đầu vào thành bia, nước mắt trào ra. Lòng tê tái, tôi đau đớn nghĩ đến cha mẹ, đến anh hai tôi và tự xót thuơng cho thân phận mình mồ côi, cô độc, tìm ra gốc gác gia đình chỉ để nhận thêm một sự thực rằng truớc sau gì tôi vẫn không còn cha mẹ, anh em, không có ai là người ruột thịt…đến lúc bác Hội nắm tay kéo tôi đứng lên, đèn trong nhà bác đã thắp sáng.
 Ngày hôm sau, tôi vẫn giữ căn phòng ở khách-sạn nhưng về sống với gia-đình bác Hội. Một hôm bác đưa tôi dạo quanh xóm cũ, phần lớn dân cư tù nơi khác đến.Tình cờ ngang qua một tiệm sửa xe, tôi gặp Hiền, người bạn cùng học lớp mẫu giáo với tôi ngày xưa. Hai đứa nhận ra nhau. Cả hai bồi hồi, xúc-động. Bằng tuổi tôi nhưng Hiền mang dáng dấp của một ông lão. Ba của Hiền, ngày xưa là Trung-úy của quân lực Việt Nam Cọng-hòa. bị chính-quyền mới bắt đi tù cải-tạo ở Trung–phước rồi chết tại đó.
Vì có lý-lịch con của “ngụy” nên Hiền không tìm được công ăn việc làm, nên đành lấy hiên nhà làm tiệm sửa xe từ mấy chục năm nay. Con cái học hành không tới đâu, nhà quá nghèo.Vợ cũng phải phụ chồng sửa xe. Bất chợt cơn mưa rào chợt đến. Hiền vội vã tìm thau và chậu để hứng nhưng cả tiệm sửa xe vẫn tràn đầy nước từ trên mái đổ xuống. Hiền nói: “Cái nhà đã ‘rệu’ từ chục năm nay, không tiền để sửa, bây giờ lo cái ăn cho gia-đình khỏi đói là đủ mệt rồi”.
Tôi nghe mà lòng bỗng dưng cồn-cào như bị cái đói ngày xưa hành hạ, cái đói mà anh Hai tôi phải bán máu, chất dinh dưỡng cơ thể để đổi lấy cái ăn mà sự dinh-dưỡng cơ thể đang cần…một cái vòng lẩn quẩn khốn-nạn của nhu cầu sinh tồn.
 Buổi chiều truớc ngày từ giã gia-đình bác Hội để về lại Do-Thái, bác cùng tôi ngồi tâm-sự trong phòng khách. Bác kể lại tình bạn giữa bác và ba tôi, kể đến đâu, bác thở dài đến đó, bác ngậm ngùi nhớ đến kỷ niệm của một thời đã qua.Tôi tựa đầu vào thành ghế, tai chăm chú nghe nhưng mắt lơ đãng nhìn lên trần nhà. Tôi hướng mắt về phía cái kèo nhà có cái khe nứt, sực nhớ lại chuyện ngày trước bác Hội đã thúc hối anh hai tôi tháo cờ ba sọc đỏ dấu đi….anh hai tôi đã leo cột nhà đem dấu vào chỗ khe nứt đó…bỗng nhiên tôi đứng lên đi vòng vòng trong phòng khách, mắt cứ nhìn chăm chăm vào khe nứt trên kèo nhà. Có lẽ bác Hội ngạc nhiên nên hỏi tôi:
– Con tìm cái chi rứa?
Tôi trả lời:
– Bác còn nhớ,ngày xưa khi cộng sản vào thành phố, bác thúc anh hai con đem cây cờ ba sọc đỏ giấu đi và anh Hai con đã đem lá cờ giấu vào cái lỗ đó”, tôi vừa nói vừa chỉ tay lên lỗ nứt trên kèo nhà. Bác Hội “ờ” lên một tiếng rồi nói “thằng ni nhớ dai ghê, như vậy thì nó còn ở đó; từ đó cho tới ni, chỗ đó không ai động đến, mà lâu quá không biết lá cờ có mục có nát không?”
Nói xong bác tiến đến cửa lớn nhìn ra ngoài và nói với vẻ thận trọng:
– Sắp nhỏ chạy chơi đâu hết rồi, con muốn xem cái đó thì leo lên xem thử.
Nói xong bác khép cửa lại, gài chốt ngang.Tôi đã định xin phép bác leo lên xem thử lá cờ còn đó không, thì nghe bác khuyến khích làm tôi vừa sung-sướng vừa hồi hộp. Tôi đang loay hoay tìm cách leo lên cây cột (nhà xây theo kiểu xưa, có nhiều cột) thì bác đẩy cái bàn đèn sát cây cột nhà rồi để thêm cái ghế lên trên bàn, bác nói:
– Làm như thế ni leo dễ hơn!
Tôi thận trọng bước lên bàn, bước lên ghế, dùng hai tay đu lên sà nhà. Tôi chợt nhớ đến anh hai tôi, hồi đó anh leo lên cột sao dễ dàng và nhanh nhẹn như sóc vậy.
Tôi thọc tay vào khe hở bên kèo nhà, tay chạm vào một vật mềm mềm, kéo ra, một cuộn vải màu vàng đã phai màu..Tôi nói với bác Hội:
– Nó còn đây bác ơi!. Tôi ném cuộn vải màu vàng xuống cho bác. Bác nhặt cuộn vải  lên, mở ra, tay giũ giũ mấy lần, lá cờ ba sọc đỏ hiện ra trước mắt tôi…tôi nghe bác nói:
– Còn nguyên si, chỉ bạc màu chút thôi. Tôi tuột xuống đứng bên bác. Bác trùm lá cờ lên đầu bác. Tôi nghe bác hít…mấy cái rồi bác lặng yên, chừng một phút sau bác lấy lá cờ ra khỏi đầu. Tôi nhìn thấy hai mắt bác đỏ và long lanh nước. Bác trao lá cờ cho tôi giữ và mở cửa đi ra ngoài rồi quay lại với một lọ thủy tinh trên tay, bác nói với tôi:
– Con cuộn lá cờ lại bỏ vào cái lọ ni, đem ra chôn bên mộ của ba con, ba con chết không có ai phủ cờ, mình nay đem chôn cạnh ba con như rứa ba con cũng ấm lòng.
Tôi cuộn lá cờ cho vào lọ, đậy nắp lại. Bác và tôi cùng đi ra ngôi mộ sau vườn. Bác dùng con dao chẻ củi đào một cái lỗ trên đầu mộ, tôi để cái lọ vào đó và bác lấp đất lại.Tôi nghe giọng bác thì thào như nguời tâm sự:
– Tổ quốc chưa kịp ghi ơn em thì Tổ quốc đã mất.Tổ quốc chỉ còn một chút nầy, em mang theo để sống với kỷ niệm của một giai đoạn lịch-sử…và biết đâu Tổ quốc sẽ sống lại với con cháu của chúng ta sau nầy.
Chiều hôm đó tôi từ giã gia-đình bác Hội.Trên đường đi từ trong nhà bác ra đường lớn đón xe để về khách-sạn, bác nhắc tôi:
– Con nhớ đừng quên giúp đỡ Hiền, thằng bạn của con. Nó cần sửa lại căn nhà dột nát của nó, không biết cả đời nó có tiền sửa được không. Tôi nói:
– Bác yên tâm, con sẽ giúp tận tình, con sẽ chuyển tiền về cho bác để bác đưa cho Hiền. Nếu không đủ con sẽ chuyển thêm cho đủ.
Tôi lại nói với bác:
– Dường như cả đời, bác đã lo hết cho gia đình ba mẹ con và anh em con, con nhớ ơn bác vô cùng. Nay bác có tuổi rồi,bác nên quan tâm cho sức khỏe bác nhiều hơn”.
Bác nắm chặt tay tôi hỏi:
– Còn ngôi nhà của ba mẹ con, con tính sao đây?  Nay con còn đó, bác tiếp tục giữ nhà thì lòng bác ngại quá..! Tôi trả lời trong nghẹn ngào:
– Tình cảm và công ơn bác dành cho gia-đình con như trời biển, có một trăm ngôi nhà như vậy cũng không thấm vào đâu đối với tấm lòng của bác… Con chưa bao giờ có một ý nghĩ nào về ngôi nhà đó là của ba mẹ con hay của con. Nó là của bác… nó là của bác. Bác nên lo cho Bác nhiều hơn! 
******* 
Thay vì đi máy bay từ Hà-nội thẳng về Do-thái, tôi đổi vé đi Paris. Nước Pháp có vài ngôi chùa Việt-nam còn bên Do-thái không có.
Tôi tìm đến một ngôi chùa ở ngoại ô Paris để xin lập bài-vị thờ ba mẹ và anh hai tôi theo như lời bác Hội khuyên.
Vị-sư trụ trì chùa tiếp tôi sau chánh điện, hỏi:
Anh cho biết tên thân-sinh của anh.
Tên cha?
Đoàn-minh-Tiếng.
Ngày và năm sinh?
Dạ, thưa thầy con không biết.
Ngày và năm chết?
Dạ, thưa thầy con không biết.
Pháp-danh?
Dạ, thưa thầy con không biết.
Vị sư trụ trì nhìn tôi với đôi mắt khác thường, rồi lắc đầu:
Ngày sinh, tháng đẻ của cha anh mà anh không biết, lạ thật!
Vậy tên của mẹ anh là gì?
Nguyễn-thị kim Ngân.
Ngày và năm sinh?
Dạ, thưa thầy con không biết.
Ngày và năm chết?
Dạ, thưa thầy con không biết.
Pháp-danh?
Dạ, thưa thầy con không biết.
Vị sư trụ trì đứng dậy đi tới đi lui rồi nhìn tôi với đôi mắt nheo lại như nghi ngờ tôi đang đùa với ông một cách không nghiêm chỉnh.
Sư lại ngồi xuống, hỏi tiếp:
Anh còn muốn lập bài vị cho ai nữa không?
Dạ, còn người anh.
Tên gì?
Đoàn-tấn Anh.
Ngày sinh và năm sinh?
Da, thưa thầy con không biết.
Ngày chết và năm chết?
Dạ, thưa thầy con không biết.
Pháp-danh?
Da, thưa thầy con không biết.
Thầy trụ trì ném cây bút xuống bàn rồi niệm Phật:
“Nam mô A-di-Đà-Phật”
Thầy thở dài hỏi tôi:
Anh muốn lập bài vị để thờ người thân trong chùa mà không nhớ ngày sinh tháng đẻ, ngày chết, Pháp-danh thì chùa làm sao cúng kiến cầu siêu được?
Dạ thưa thầy, con lạc gia-đình cha mẹ và anh con từ lúc năm tuổi nên con không biết ngày sinh tháng đẻ, ngày chết cũng như Pháp-danh của họ.
Sư trù-trì nhìn tôi, chấp hai tay lại niệm:
“Nam-mô A-di-Đà-Phật.”
Tôi gục đầu xuống bàn.
Một bàn tay của thầy để trên vai tôi.
Nguyễn đại Thuật
Viết trong tháng tư buồn.
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 13

Chiếc khăn mu-soa


“…Huê nói: “Khăn này cô thêu tặng cho ba của con, nhưng không có duyên nên khăn lại trở về. Bây giờ, cô tặng cho con để kỷ niệm ngày cô cháu mình gặp nhau.” …

chiec-khan-tay
 
Hôm đó, tôi nhận được một CD gởi từ Bruxelles, nước Bỉ, trên CD thấy đề: “À Monsieur Tiêu Tu ». Chữ viết bằng bút feutre rõ nét, nói lên người viết có trình độ. Tuy viết “Tiểu Tử » không có dấu, người gởi viết tên của mình lại có dấu đầy đủ: “Exp: Nguyễn Thị Sương”!

Vừa ngạc nhiên vừa thích thú, tôi vội vã đặt dĩa vào máy, nghe. Đó là giọng một người con gái miền Nam, trong trẻo, phát âm rõ ràng. Những gì cô ta nói đã làm tôi xúc động, có lúc tôi ứa nước mắt! Tôi đã nghe nhiều lần và cố gắng ghi chép lại đây. Dĩ nhiên là tôi đã viết để đọc cho suông sẻ chớ cô gái nói còn nhiều chỗ nghe sượng hay dùng chữ chưa chính xác…:

…Thưa ông,  Con tên Nguyễn Thị Sương, con của Nguyễn  Văn Cương, một trong những nhân vật trong truyện ngắn “Con Rạch Nhỏ Quê Mình » của ông.
Thưa ông. Con sanh ra và lớn lên ở Pháp, biết nói tiếng Việt nhưng đọc và viết tiếng Việt còn  rất yếu. Vì vậy, con phải dùng cách này để liên lạc với ông. Xin ông thông  cảm! 

Hôm chúa nhựt rồi, chị Loan bà con bạn dì của con ghé nhà nói: “Sương ơi! Người ta nói về ba của Sương ở trong truyện ngắn đăng trên internet cả tuần nay nè! Chị in ra đem qua đây đọc cho em nghe.” Rồi chỉ đọc. Đó là truyện “Con Rạch Nhỏ Quê Mình”

Thưa ông. Con chưa biết Việt Nam, nhưng những gì ông tả trong truyện làm như con đã thấy qua rồi! Bởi vì hồi con mới lớn ba con thường hay kể chuyện về cái làng Nhơn Hòa và con rạch Cồn Cỏ của ba con, về những người bạn của ba con hồi thời tuổi nhỏ, kể  tỉ mỉ đến nỗi con có cảm tưởng như ba con đang cầm tay con dẫn đi coi chỗ này  chỗ nọ (nói đến đây, giọng cô gái như  nghẹn lại vì xúc động. Ngừng mấy giây rồi mới nói tiếp… ) Mà ba cứ kể đi kể lại hoài làm như là những hình ảnh đó nó ám ảnh ba dữ lắm. Sau này thì con mới hiểu khi ba con nói: “Hồi đó, ba đi Pháp quá sớm, ở cái tuổi chưa biết gì nhiều.

Rồi qua đây, chóa mắt ngất ngây với những văn minh tiến bộ của xứ người làm ba quên đi cái làng nhà quê của ba. Điều ân hận lớn nhứt của ba là đã không viết  gởi về một chữ để hỏi thăm bạn bè hồi đó. Ba phải về thăm lại Nhơn Hòa Cồn Cỏ, con à!” Nói đến đó, ba ứa nước mắt nắm bàn tay con dặc dặc: “Mà con cũng phải về với ba nữa! Về để cho ba lên tinh thần! Về để thấy ba biết xin lỗi mọi người! Về để thấy ba biết nhìn lại cái quê hương của ba cho dầu nó có quê mùa xấu xí bao nhiêu đi nữa! Về để thấy ba chưa đến nỗi là thằng mất gốc!” (đến đây, không còn nghe gì nữa!) Xin lỗi ông! Con đã ngừng thâu để con khóc (rồi giọng cô lạc đi) Con thương ba con! (ngừng một lúc)

Thưa ông. Ba má con đều là giáo sư toán, dạy ở lycée. Má con mất hồi con mười tuổi. Bây giờ con làm chủ một tiệm sách ở Bruxelles, ba con dạy ở cách nhà không xa lắm.

Một hôm, ba nói: “Ba được một  thằng bạn học hồi ở đại học, người Phi Châu, mời qua xứ nó giúp tổ chức lại hệ  trung học. Ba đã OK”. Rồi ba đưa cho con một phong bì loại A4, nói: “Con rán  tìm cách về Nhơn Hòa Cồn Cỏ, trao cái này cho cô Hai Huê nói ba không quên ai hết! “Con nhìn thấy trên phong bì ba viết: “Mến trả lại Huê, kỷ vật của thời tuổi nhỏ. Cương.” Vậy rồi ba qua Phi Châu làm việc rồi mất ở bển trong mấy trận nội chiến (chắc ngừng thâu ở đây nên không nghe gì nữa).

Thưa ông. Nhờ nghe đọc “Con Rạch Nhỏ Quê Mình” mà con biết được mối  tình một chiều của cô Hai Huê, biết được cái khăn mu-soa mà cô Hai đã thêu tặng ba con thuở thiếu thời. Cái khăn đó, bây giờ thì con biết nó đang nằm trong phong bì A4 mà con đang giữ để trả lại cô Hai.

Và bây giờ thì con thấy thương cô Hai vô cùng và cũng thấy tội nghiệp ba con vô cùng (chỗ này giọng cô gái lệch đi, ngừng một  chút mới nói tiếp). Con nhờ ông giới thiệu con cho bác Sáu Lân, người đã kể chuyện để ông viết về Nhơn Hòa Cồn Cỏ. Con sẽ xin bác Sáu đưa con về đó để con làm theo lời dặn của ba con…

Địa chỉ và số phôn của con như sau:
Melle Nguyên
…… ……………………
Con cám ơn ông.
Con: Sương
*****
Nhớ lại, cách đây khá lâu, một thằng bạn ở Marseille, miền Nam nước Pháp, gọi điện thoại lên Paris cho tôi, nói: “Dưới này trời tốt, mầy xuống chơi,  đi câu với tao. Sẵn dịp, tao giới thiệu mầy cho một ông bạn mới từ Việt Nam qua  định cư ở đây. Tao có khoe với ổng là mầy viết lách khá lắm. Ổng nói ổng muốn  nhờ mầy viết một chuyện nhỏ ở dưới quê của ổng để ổng tìm một người bạn. Tao thấy coi bộ ngộ à! Xuống, đi!” Vậy rồi tôi đi Marseille. Sau đó, tôi viết “Con rạch nhỏ quê mình” với câu gởi gắm của ổng: “Tôi nhờ ông viết lại giùm. Biết đâu chừng thằng Cương sẽ đọc. Để nhắc nó đừng quên con rạch Cồn Cỏ, đừng quên thằng Đực Nhỏ, thằng Lân, con Huê…”

Sau khi nghe CD và ghi chép lại, tôi gọi điện thoại xuống Marseille thì thằng bạn tôi cho hay là ông Lân đã dọn về ở ngoại ô Paris, cách đây mấy  năm. Nó cho tôi địa chỉ và số điện thoại của ổng. Vậy rồi ổng và tôi gặp nhau. Tôi kể sơ câu chuyện và đưa cho ổng mượn cái CD. Tôi thấy ổng rơm rớm nước mắt  khi nghe tôi nói làm tôi cũng xúc động: người đàn ông hiên ngang, xông xáo trong  trận mạc, gan lỳ đến nỗi mang hỗn danh “thằng Lân ăn pháo”… vậy mà bây giờ cũng  biết ứa nước mắt khi nhận được tin thằng bạn không bao giờ gặp lại!
Khi chia tay, ổng nói: “Cám ơn ông! Nhờ có bài viết của ông mà hôm  nay tôi mới có tin của thằng Cương! Tôi sẽ thay nó, đưa con gái nó về thăm Cồn  Cỏ! Và thắp cho nó ba cây nhang ở đầu vàm để vong hồn nó nương theo đó mà tìm  lại con đường về…”
*****
Hơn một tháng sau, ông Lân gọi điện thoại cho tôi nói ổng vừa ở Việt  Nam về, muốn gặp tôi để trả cái CD và để ổng kể chuyến đi này của ổng. Vậy là chúng tôi đã gặp nhau và tôi đã ghi những lời ổng kể…
 … Nhờ cái CD ông cho tôi mượn mà tôi liên lạc được con Sương.
Tội  nghiệp! Biết được là tôi gọi, nó khóc ồ ồ ở đầu dây bên kia! Sau đó, nó kêu tôi  bằng “Bác Sáu “, ngọt như tôi là bác ruột của nó vậy! Thấy thương quá!
Vậy rồi hai bác cháu tôi bay về Việt Nam. Ở Sài Gòn chúng tôi mướn một chiếc xe hơi có tài xế để về Nhơn Hòa Cồn Cỏ. Trên xe, tôi nói với con  Sương: “Ở Cồn Cỏ, ba của con không còn bà con gì hết, họ đã dọn lên tỉnh ở mấy  chục năm nay. Bây giờ, ba con chỉ còn có một người bạn thân…” Con nhỏ nói: “Cô  Hai Huê!” Tôi gật đầu ờ. Nó nói tiếp: “Cô Hai là người ba nhắc thường nhứt và ba hay thở dài nói ba có lỗi với cô Hai nhiều lắm! Thấy ba con như vậy, con cũng  nghe đau lòng, bác Sáu à!”. Thấy thương quá, tôi cầm bàn tay nó bóp nhẹ. Con  Sương nhìn cảnh vật bên ngoài nhưng vẫn để bàn tay nó trong lòng bàn tay tôi.
Ông biết không? Tôi không có con, bây giờ, trong cái cầm tay này, tôi bỗng cảm  thấy như thằng Cương vừa đặt vào tay tôi một đứa con. Trời Đất! Sao tôi muốn nói: “Sương ơi! Từ nay, bác Sáu sẽ thay ba con mà lo lắng bảo vệ con như con là con của bác vậy!” Nhưng thấy có vẻ cải lương quá nên tôi làm thinh!
Xe ngừng ở chợ Cồn Cỏ. Bác cháu tôi vô chợ nhà lồng đến sạp vải của  con Huê thì thấy một cô gái lạ. Cổ nói cổ là cháu kêu con Huê bằng dì và đến đây phụ bán vải từ mấy năm nay. Cổ nói: “Dì Huê có ở nhà, ông bà vô chơi! “
Chúng tôi đi lần theo con đường nằm dọc bờ rạch. Đường này bây giờ  được tráng xi-măng sạch sẽ. Tôi nói: “Nhà cô Hai có cây mù u nằm trước nhà cạnh bờ rạch, dễ nhận ra lắm!” Đến nơi, thấy còn nguyên như cách đây mấy chục năm:  cũng hàng rào bông bụp thấp thấp, qua một cái sân nhỏ là ngôi nhà xưa ngói âm  dương, kèo cột gỗ, ba gian hai chái với hàng ba rộng, một bên hàng ba có một bộ  ván nhỏ… Tôi hơi xúc động vì bắt gặp lại những gì của thời cũ. Chỉ có bao nhiêu đó thôi – nhỏ xíu – vậy mà sao gợi lại được vô vàn kỷ niệm! Tôi gọi lớn: “Huê ơi  Huê! “. Trong nhà chạy ra một người đàn bà tóc bạc nhìn tôi rồi la lên: “Trời  Đất! Anh Lân!” Tuy cô ta đang nhăn mặt vì xúc động, tôi vẫn nhận ra là Huê! Không kềm được nữa, Huê và tôi cùng bước tới nắm tay nhau vừa dặc dặc vừa nói “Trời Đất! Trời Đất!” mà không cầm được nước mắt! Một phút sau, Huê buông tay tôi ra quay sang con Sương, hỏi: “Còn ai đây?” Tôi nói: “Con Sương! Con thằng Cương!” Nó hỏi: “Còn anh Cương đâu?”. Con Sương thả rơi ba-lô xuống đất, bước lại phía con Huê, nói: “Ba con chết rồi, cô Hai ơi!”. Con Huê chỉ nói được có một tiếng “Chết” rồi xiêu xiêu muốn quị xuống. 

Con Sương phóng tới đỡ con Huê, nói: “Cô Hai ơi!” Rồi hai cô cháu ôm nhau khóc nức nở. Tôi đứng tần ngần một lúc mới bước lại đặt tay lên vai Huê bóp nhẹ: “Tại cái số hết, Huê à! Thằng Cương đang dạy ở bên Bỉ, mắc gì mà qua Phi Châu làm việc để rồi chết mất xác trong chiến tranh ở bên đó. Tại cái số hết! Phải chịu vậy thôi!” Con Sương dìu Huê lại ngồi ở bực thềm, vói tay mở ba-lô lấy phong bì  A4, nói: “Ba con gởi cái này cho cô.” Huê cầm phong bì, nheo mắt đọc rồi lắc đầu  nhè nhẹ: “Chắc là cái khăn mu-soa!” Huê xé phong bì lấy khăn ra cầm hai góc khăn  đưa lên nhìn: khăn còn thẳng nếp, chưa có dấu hiệu sử dụng! Huê nhăn mặt, đưa khăn lau nước mắt của mình rồi sang qua lau nước mắt của con Sương làm nó cảm  động nấc lên khóc. Huê nói: “Khăn này cô thêu tặng cho ba của con, nhưng không có duyên nên khăn lại trở về. Bây giờ, cô tặng cho con để kỷ niệm ngày cô cháu mình gặp nhau.” Con Sương cầm lấy khăn rồi ngả đầu vào vai Huê, nói: “Con cám ơn  cô Hai.” Huê vừa gật đầu vừa choàng tay ôm con Sương lắc nhè nhẹ như vỗ về đứa con!
Tôi bước ra bờ rạch ngồi cạnh gốc cây mù u đốt thuốc hút. Tôi thấy trên thân cây có đóng một cây đinh dài đã rỉ sét đen thui, vắt lên cây đinh là một cuộn dây dừa cũ mèm như muốn mục. Tôi nghĩ chắc con Huê nó làm như vậy, nó vốn nhiều tình cảm và giàu tưởng tượng. Nó có ý nói con thuyền ngày xưa đã bỏ bờ đi mất, nếu một mai có trôi về được thì cũng có sẵn dây để cột con thuyền vào gốc cây mù u…
Tôi đốt thêm một điếu thuốc rồi đặt lên cuộn dây dừa, vái lâm râm: “Cương ơi! Mầy có linh thiêng thì về đây hút với tao một điếu thuốc!” Tự nhiên,  tôi ứa nước mắt! Khi tôi trở vô nhà thì cô cháu tụi nó ngồi cạnh nhau trên bộ ván, nói  chuyện coi bộ tương đắc! Thấy tôi, Huê nói để vô làm cơm cùng ăn. Tôi từ chối vì phải về trả xe. Huê xin cho con Sương ở lại chơi với nó mươi hôm, còn con Sương thì hớn hở: “Bác Sáu đừng lo! Con về một mình được!” Tôi bằng lòng nhưng  đề nghị cùng ra đầu vàm thắp ba cây nhang cho thằng Cương. Con Huê vô nhà lấy nhang và một tấm ni-lông để ra đó trải cho ba người ngồi. Khi đi ngang cây mù u, con Huê bước lại gốc cây lấy cuộn dây dừa liệng xuống rạch, rồi phủi tay, đi!

Sau khi cúng vái ở đầu vàm, cô cháu nó đưa tôi ra xe. Nhìn tụi nó cặp tay nhau mà thấy thương quá, ông ơi!
*****
… Bây giờ thì cô Sương đã đem cô Huê qua Bỉ ở với cổ. Nghe ông Lân  nói hai cô cháu rất “tâm đồng ý hợp.”
Còn chiếc khăn mu-soa thêu thì ông Lân nói cô Sương đã cho lộng vào một khuôn kiếng rất đẹp treo ở phòng khách, ở một vị trí mà ai bước vào cũng phải thấy!
Tiểu Tử
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 16

“Chết cười” với định nghĩa ‘vợ là gì?’

Hóa ra ‘vợ’ lại có nhiều định nghĩa đến vậy. Từ triết học, đến kinh tế, xã hội, khảo cổ… đều có một định nghĩa riêng về ‘vợ’. Phụ nữ mà biết được điều này hẳn sẽ rất vui mừng. 

Vợ là gì???
 
Về mặt triết học: Vợ là một thực thể độc lập tồn tại bên ngoài ta, ngoài ý muốn của ta, là phạm trù chỉ sự sợ hãi của đàn ông.
Về mặt kinh tế: Vợ là ngân hàng vô luật pháp, không thể lệ: gửi vào thì dễ, rút ra thì khó mà không thể kiện cáo gì được.

Về mặt tài sản: Vợ là cái gì đó rất cũ mà không thể thanh lý được.
Về mặt xã hội: Vợ là cá nhân tự do, tình nguyện về chung sống với ta nhưng lại luôn tố cáo ta làm mất tự do của cô ấy, và nếu như ta trả lại thì lại không nhận.
Về mặt khảo cổ học: Vợ là một loại đồ cổ càng để lâu càng mất giá.
Về mặt sinh học: Vợ được ví như là sư tử.
Về mặt vật lý: Vợ là một loại vật chất tồn tại vĩnh cữu nhất.
Về mặt công nghệ: Vợ là một trạm radar thu phát sóng nhanh nhất.
Về mặt võ thuật: Vợ là một võ sư sưu tập được rất nhiều môn phái từ tiểu hổ võ, boxing võ, vắt chanh võ, ngắt chuối võ,…
Về mặt toán học: Vợ là một hàm bất biến và có giới hạn là vô cùng, không có tiệm cận. Rất nhiều nghiệm càng giải càng đau đầu, ức chế.
Nhà động vật học: Vợ là một cá thể không thuần chủng do lai tạo giữa nai và sư tử.
Người nông dân: Vợ là miếng đất cằn cỗi nhưng chúng ta cứ phải cày vì cầm cố, rao bán không được.
Nhà giáo: Vợ là một học sinh tối dạ, cứ hỏi đi hỏi lại một câu hỏi.
Người bán vé số: Vợ là tờ vé số khi mới mua ai cũng hi vọng sẽ trúng độc đắc.
Nhà vật lý học: Vợ có thể chuyển hóa từ dạng này sang dạng khác, từ dạng cho chồng ra khỏi nhà đến dạng bầm dập te tua, là cơ sở để đàn ông đào hố, nhảy lầu.
Vợ là gì nhỉ?
Trong thể thao:
Khi 20, cô ấy là quả bóng tròn…có đến 22 cầu thủ tranh giành, cô ta không cần nhìn ai hết.
Khi 30, cô ấy là quả bóng chuyền… chỉ còn 12 anh tranh chấp, cô ta ngại ngần chẳng biết bỏ ai.
Khi 40, cô ấy là quả bóng tennis… 2 người, bố vợ và con rể đùn qua đẩy lại, không ai muốn nhận cô.
Khi 50, vợ là quả banh golf… chỉ còn lại 1 người, chồng cô ta cố gắng đẩy quả bóng đi xa, càng xa càng tốt,… nhưng cuối cùng cũng phải đi theo.
Vợ là gì?
* Vợ là bà xã, hiệu là phụ nhân.
* Vợ là tổng hợp: bạn thân, bảo mẫu, tình nhân, mẹ hiền.
* Vợ là ngân khố, kho tiền… Gửi vào nhanh gọn, hơi phiền rút ra.
* Vợ là biển cả bao la…đôi khi nổi sóng kiến ta chìm phà.:-))
Đối với nhà thơ:
Vợ là người chẳng họ hàng   
Thế mà giờ đẹp lại sang nhà mình.
Ngày đầu trông thật là xinh
Môi tươi mắt thắm đến đình cũng xiêu.
Vợ là đáng kính đáng yêu
Kính vợ đắc thọ là điều đương nhiên.
Nhớ vòng chung kết toàn cầu
Nhì trời nhất vợ đứng đầu bảng A.
Vợ là con của người ta
Mà sao tình lại thiết tha mặn nồng.
Vợ là chăn ấm mùa đông
Là dòng suối mát ngày không có tiền.
Vầng trăng vằng vặc trước hiên
Đinh ninh xin giữ lời nguyền nộp lương.
Vợ là két sắt, tủ tường
Muốn mở phải nhả lời thương ngọc ngà.
Vợ là một đôi thùng loa
Mỗi khi điên tiết cả nhà nổi giông.
Dáng như sư tử Hà Đông
Cha con lấm lét mà không dám cười.
Vợ là bình cũ lâu đời
Ai mua chẳng bán tứ thời nâng niu.
Vắng vợ có một buổi chiều
Cha con chống chếnh như diều đứt dây.
Ước gì có vợ về ngay
Để mang tiếng hát làm say cả nhà!
Tuyen T Nguyen (bài do bạn Bá Trần giới thiệu)

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 13

KHUÔN MẶT VĂN NGHỆ MỚI