Góc nhìn của người lính cũ: Du sinh Trung Cộng và du sinh Việt Nam

Một cuộc biểu tình trước Tòa Đại Sứ Trung Quốc tại Washington, DC. (Hình: Mark Wilson/Getty Images)

Theo một nguồn tin mới nhất thì Tòa Đại Sứ Mỹ tại Bắc Kinh vừa bất ngờ thu hồi một loại thị thực đặc biệt dành cho một số những nghiên cứu sinh của Trung Quốc.

Theo một thỏa thuận trước đó thì vào Tháng Mười Một, 2014, Trung Cộng và Hoa Kỳ đã ký một thỏa ước cho phép công dân Trung Quốc tới làm kinh doanh, nghiên cứu và du lịch ở Mỹ. Những thành phần này được phép xin thị thực nhập cảnh nhiều lần kéo dài trong 10 năm.

Nay thì sự ưu đãi đó đã chấm dứt.

Trước đó, vào Tháng Sáu, 2018, các sinh viên Trung Quốc khi tốt nghiệp các ngành học robot và công nghệ cao cấp sẽ không được ở lại làm việc 5 năm như trước mà rút lại chỉ còn có 6 tháng.

Cả hai biện pháp này được áp dụng khi cuộc chiến tranh thương mại Mỹ-Trung đến hồi căng thẳng và chính phủ Hoa Kỳ không chỉ tiến hành cuộc chiến thương mại với Trung Quốc trên mặt trận kinh tế mà đã lan sang nhiều lãnh vực khác, trong đó có giáo dục và huấn luyện.

Tổng Thống Donald Trump đã xếp Trung Cộng vào nhóm đối thủ chiến lược, cáo buộc quốc gia này chiếm đoạt sở hữu trí tuệ của Hoa Kỳ. Nên một mạng lưới ngăn chặn tình báo các ngành nghề của Trung Cộng xâm nhập vào hệ thống giáo dục huấn luyện, nghiên cứu của Hoa Kỳ để ăn cắp tài sản trí tuệ của nước Mỹ đã được Tổng Thống Trump cảnh báo và đưa ra những luật lệ để ngăn chặn.

Nhiều nhà phân tích cho rằng Bắc Kinh có lẽ cũng chẳng mất công nhiều để tổ chức các loại gián điệp tình báo này vì họ đã sẵn có một “đội quân thứ 5” là cộng đồng người Hoa ở khắp nơi trên thế giới và thường có tinh thần “đồng hương Bang Hội” khi được tự do cư trú của các nước họ di cư đến.

Chính tinh thần đồng hương đó đã dễ dàng hình thành cho mạng lưới tình báo “nhân dân” mà các chế độ Cộng Sản thường áp dụng. Cộng đồng người Hoa sẽ dễ dàng làm lợi cho nhà cầm quyền ở lục địa vì tình đồng hương mở rộng thành tình yêu nước, không phân biệt đó là nước Trung Hoa của chế độ Cộng Sản, một chế độ mà nếu cộng đồng người Hoa ở hải ngoại phải sống dưới sự cai trị của họ thì chắc chắn cũng sẽ chống lại.

Những chính phủ Hoa Kỳ trước chắc cũng hiểu rõ điều này nhưng vẫn thờ ơ, lơ là có lẽ vì tin rằng chủ nghĩa tự do tư bản sẽ tất thắng mọi chủ nghĩa trái với quyền sống và sự mơ ước của loài người.

Nhưng đến chính phủ của Tổng Thống Trump thì chuyện đó không thả nổi nữa mà phải đi vào khuôn phép luật lệ quốc tế như chuyện Biển Đông chẳng hạn. Chính sách di dân mới của Tổng Thống Trump đã được áp dụng và những biện pháp khắt khe đã được áp dụng.

Xem chuyện người lại chợt nghĩ đến chuyện mình, là du sinh Việt Nam. Hiện du sinh Việt Nam thì chưa bị ảnh hưởng gì từ những luật lệ quy tắc mới như du sinh Trung Cộng.

Nhưng nhìn vào con số du sinh Việt Nam cứ mỗi năm một tăng thì đó cũng là một vấn đề cho Việt Nam, cả về mặt nhà cầm quyền Việt Nam cũng như về mặt dân tộc và đất nước.

Theo báo cáo “Open Door” được công bố hàng năm vào Tuần Lễ Giáo Dục Quốc Tế, thì năm học 2017-2018, Việt Nam tiếp tục đứng thứ sáu trong danh sách những nước dẫn đầu về số lượng sinh viên du học tại Hoa Kỳ. Niên học năm nay số du sinh Việt Nam là 24,325 tăng 1,887 so với năm học trước. Bản báo cáo cũng nêu rõ trong số 24,325 du sinh ấy thì có 69.6% theo học đại học, 15.2% sau đại học, 8.6% tham gia thực tập nghiên cứu và 6.6% còn lại theo học các chương trình không cấp bằng.

Con số gia tăng này, theo các vị đại sứ Hoa Kỳ ở Việt Nam thì đó là công trạng và nỗ lực của họ. Từ Đại Sứ Peter Peterson, đại sứ đầu tiên sau ngày bang giao việt Mỹ được nối lại, cho đến đại sứ vừa mãn nhiệm như Ted Osius. Vị nào khi hết nhiệm kỳ cũng kể đến công lao khuyến khích vận động cho tuổi trẻ Việt Nam sang du học tại Hoa Kỳ.

Đây là một trong những chính sách chính của Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ mà theo nhiều nhà phân tích cho là nó ẩn dấu sự phát triển “diễn biến hòa bình” sẽ diễn ra trong chế độ CSVN. Lý do là các thành phần du học này về nước sẽ tham gia chính quyền và với tinh thần tự do, khoa học, chuyên môn họ được hưởng thụ trong những năm du học, khi về nước họ tham gia chính quyền họ sẽ thay đổi đường lối và chính sách độc tài, độc đảng của CSVN.

Nhưng thực tế lại đưa đến kết quả mà các nhà ngoại giao không lường đến.

Thứ nhất, theo những báo cáo của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo thì cứ 10 người đi học ở nước ngoài thì phần lớn đã xin ở lại các nước họ du học, để làm việc và sinh sống.

Thứ hai, những người về nước, số người là con cháu cán bộ đương quyền thì phần lớn bị cuốn hút vào guồng máy cai trị tham nhũng bè phái theo truyền thống của cha anh vốn là những cán bộ nay đã trở thành các “đại gia Đỏ,” nên họ phải phục vụ chế độ để giữ nguyên được địa vị ăn trên ngồi trốc.

Thứ ba, những du sinh con cháu cán bộ đại gia nhiều khi được cha anh đương quyền cho sang Mỹ du học không vì mục đích đầu tư chất xám mà chỉ vì mục đích làm cái đầu mối cho họ rửa những đồng tiền tham nhũng phi pháp để có được vốn liếng tài sản trong tương lai khi họ phải “hạ cánh an toàn.”

Cho nên sau gần 30 năm có những chương trình du học mà không thấy xuất hiện một nhân vật du sinh sáng giá nào trong chính quyền CSVN và chính quyền CSVN thì vẫn chủ trương trái ngược với những tôn chỉ đảng đề ra để lừa bịp nhân dân là “dân làm chủ, nhà nước quản lý và đảng lãnh đạo!”

Vậy thì đây là một thành công hay là một thất bại trong chủ trương “diến biến hòa bình” chế độ CSVN.

Nhưng cũng may, vì cái kết quả du học, nghiên cứu, thực nghiệm của du sinh Việt Nam không thành công như các vị đại sứ Hoa Kỳ nêu cao thì du sinh Việt Nam chắc chắn sẽ không bị theo dõi, hạn chế qua những luật lệ đang áp dụng cho du sinh Trung Cộng.

 (Chính Biên)

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 8

Tàn Thu

 

Dăm ba chiếc lá trên cành

Tàn Thu rồi đó mộng đành bay xa

Thời gian thoáng chỉ sát na

Bỗng dưng xao xuyến Ta Bà luyến lưu

Carolyn Do

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 7

Lời Dặn Dò Cuối Cùng Của Đức Phật

Biên soạn dựa theo một bài viết của Thiền sư và Giáo sư Triết học người Pháp

Gérard Pilet, đăng trong nội san của Hội Thiền học Quốc tế AZI (Association Zen Internationale), trụ sở tại Paris, và tài liệu của Bukkyo Dendo Kyokai (Society For the Promotion of Bouddhism), trụ sở tại Tokyo.

Xin hãy lắng lòng nghe,

chiêm nghiệm, và thực hành

những lời dặn dò cuối cùng của Đức Phật

để thân tâm an lạc thật sự.

Thật ra Phật đã đau yếu từ ba tháng trước và đã khởi sự dặn dò người đệ tử thân cận nhất là A-nan-đà. Phật bảo A-nan-đà tập họp các đệ tử để nghe giảng và thông báo trước sự tịch diệt của mình.

Lúc ấy Phật đã 80 tuổi. Trong những tháng cuối cùng, Phật đã gầy còm và mệt mỏi, nhưng vẫn đi thuyết giảng như thường, tuy không còn đi xa được nữa. A-nan-đà xin Phật hãy tĩnh dưỡng trong những ngày còn lại, nhưng Ngài khoát đi và dạy rằng:

 

“Thân ta tuy có kém mạnh khoẻ, nhưng lòng từ bi của ta, trí sáng suốt của ta không kém sút. Ta còn tại thế ngày nào thì ngày ấy không phải là một ngày vô ích”.

 

Trong một khu rừng cạnh thị trấn Câu-thi-na (Kusinaga, còn viết là Kuçinagara), ngày nay là một thị trấn nhỏ tên là Kasia, cách 50 cây số về phía đông tỉnh Gorakhpur, và cách 150 kilomét về phía bắc-đông-bắc Varanasi (Bénarès), Phật nằm nghỉ giữa hai gốc cây sa-la. Ngài tự gấp áo cà sa làm bốn, rồi nằm nghiêng về phía tay phải, đầu hướng về phía bắc, mặt hướng về phía tây, hai chân duỗi thẳng, chân này gác lên chân kia. Sau đó Phật ngỏ những lời cuối cùng với các đệ tử để nhắc lại một lần nữa tầm quan trọng của Đạo Pháp. Phật nhắc nhở các đệ tử phải hiểu rằng vị thầy của họ không phải là một nhân vật nào cả, dù đó là Phật, vị thầy đích thực của họ chính là Đạo Pháp. Phật cất tiếng và nhắn nhủ các đệ tử đang ngồi chung quanh Ngài như thế này:

 

“Này các đồ đệ, các con hãy tự làm đuốc để soi sáng cho các con, hãy trông cậy vào chính sức mạnh của các con; không nên lệ thuộc vào bất cứ ai. Những lời giảng huấn của ta sẽ làm ngọn đuốc dẫn đường cho các con, làm nơi nương tựa cho các con; không cần phải lệ thuộc thêm vào những lời giảng huấn nào khác nữa.

 

Hãy nhìn vào thân xác các con, các con sẽ thấy cái thân xác đó ô uế biết chừng nào. Khi các con hiểu được rằng lạc thú lẫn đớn đau của thân xác cũng chỉ là cội nguồn chung của khổ đau, khi hiểu được như thế, các con sẽ không thể nào tự buông lỏng cho dục vọng chi phối các con.

 

Hãy nhìn vào tâm thức các con, các con sẽ thấy cái tâm thức đó biến dạng không ngừng. Vì thế các con sẽ không thể nào tự buông rơi vào chính những ảo giác của tâm thức, để rồi tự duy trì những kiêu căng và ích kỷ do tâm thức tạo ra, nhất là khi các con đã hiểu rằng những xúc cảm đó nhất định chỉ mang đến khổ đau mà thôi.

 

Hãy nhìn vào tất cả các vật thể chung quanh xem có vật thể nào trường tồn hay chăng? Có vật thể nào không phải là những cấu hợp sinh ra hay không? Tất cả sẽ gẫy nát, tan rã và phân tán.  Các con chớ sợ hãi khi nhận thấy khổ đau cùng khắp mọi nơi, hãy noi theo những lời giáo huấn của ta, kể cả sau khi ta đã tịch diệt. Như thế các con sẽ loại bỏ được khổ đau. Thật vậy, cứ noi theo những lời giáo huấn của ta, rồi nhất định các con sẽ trở thành những đồ đệ thật sự của ta.

 

Này các đồ đệ của ta, những lời giáo huấn ta giảng cho các con, các con đừng bao giờ quên, đừng bao giờ để cho mai một đi. Phải bảo tồn những lời giáo huấn ấy, đem ra nghiên cứu và thực hành. Nếu theo đúng những lời giáo huấn ấy, các con sẽ đạt được an vui.

 

Những gì hệ trọng nhất trong những lời giáo huấn của ta là các con phải kiểm soát được tâm thức các con. Hãy gạt bỏ mọi thèm muốn và giữ cho thân xác đứng thẳng, tâm thức tinh khiết và ngôn từ chân thật. Nếu các con biết tự nhắc nhở là cuộc sống của các con chỉ là tạm bợ, các con sẽ đủ khả năng loại bỏ mọi thèm khát và hung dữ đưa đến khổ đau.

 

Nếu các con nhận ra được là tâm thức các con đang có xu hướng bám níu hay vướng mắc vào ham muốn, các con phải gạt bỏ ngay sự ham muốn và chận đứng sự cám dỗ đó. Các con phải làm chủ được tâm thức các con.

 

Tâm thức có khả năng biến một con người thành một vị Phật hay một con thú. Khi rơi vào sự lầm lẫn, ta có thể trở thành quỷ sứ, nhưng khi Giác Ngộ ta sẽ thành Phật. Vì thế, các con phải kiểm soát lấy tâm thức các con và không đi lạc ra ngoài Chánh Đạo.

 

Để có thể giữ đúng như lời giáo huấn của ta, các con hãy kính trọng lẫn nhau và đừng cãi vã. Đừng bắt chước như nước với dầu xô đẩy lẫn nhau; hãy bắt chước như nước với sữa, có thể hoàn toàn hòa lẫn vào nhau.

 

Hãy cùng nghiên cứu với nhau, cùng giảng giải cho nhau, thực hành với nhau. Không nên phí phạm tâm thức của các con và thời giờ của các con trong sự cãi vã hay lười biếng. Hãy hân hoan đón nhận hoa thơm của Giác Ngộ vào lúc ra hoa và hái lấy quả ngọt trên Đường Ngay Thật.

 

 

Những lời giáo huấn ta ban cho các con là do nơi kinh nghiệm của chính ta, và chính ta đã noi theo con đường đó. Các con nên tuân theo những lời giáo huấn ấy và giữ đúng như thế dù phải gặp hoàn cảnh khó khăn nào. Nếu các con xao lãng, có nghĩa là các con chưa hề gặp được ta, các con thật sự còn đang ở một nơi nào đó thật xa, dù cho trong lúc này đây các con đang ngồi bên cạnh ta cũng vậy. Nhưng nếu ngược lại, các con chấp nhận và đem ra thực hành những lời giáo huấn của ta, thì dù cho các con ở thật xa trong một chốn tận cùng của thế giới, nhưng cũng giống như các con đang ở bên cạnh ta trong lúc này.

 

Hỡi các đồ đệ, phút cuối cùng của ta đã gần kề, phút xa lìa giữa ta và các con không còn bao lâu nữa. Tuy nhiên các con không nên than khóc. Sự sống là một sự đổi thay không ngừng và không có gì cản trở được sự tan rã của xác thân. Cái sự thực đó, ta đang chứng minh cho các con thấy ngay trên thân xác của ta, thân xác ta sẽ tan rã như một cỗ xe hư nát. Đừng than khóc một cách vô ích, trái lại các con phải hân hoan khi nhận ra được cái quy luật biến đổi ấy và hiểu được rằng sự sống của con người chỉ là trống không mà thôi. Đừng cố gắng duy trì cái khát vọng phi lý, mong muốn những gì tạm bợ phải nhất định trở thành trường tồn.

 

Con quỷ của những dục vọng thế tục luôn luôn tìm cách đánh lừa tâm thức các con. Nếu có một con rắn độc trong phòng, các con sẽ không thể nào ngủ yên nếu chưa đuổi được nó ra ngoài. Các con phải cắt đứt những mối dây ràng buộc của thèm khát thế tục và dứt bỏ những mối dây đó như các con đã đuổi bỏ con rắn độc ra khỏi phòng.

Các con phải bảo vệ thật cẩn thận tâm thức các con.

 

Này các môn đệ của ta, giây phút cuối cùng của ta đã đến, tuy vậy các con phải hiểu rằng cái chết chỉ là sự tan rã của xác thân vật chất mà thôi. Thân xác được cha mẹ sinh ra, nó lớn lên nhờ thức ăn, nó không có cách gì tránh khỏi bịnh tật và cái chết. Một vị Phật đích thực không mang thân xác con người, mà vỏn vẹn chỉ là sự Giác Ngộ. Chỉ có sự Giác Ngộ mà thôi. Thân xác con người phải tiêu tan, nhưng Trí Tuệ của Giác Ngộ sẽ trường tồn vô tận trong thực thể của Đạo Pháp, trên con đường tu tập Đạo Pháp. Nếu có ai chỉ thấy thân xác ta thì kẻ ấy không thấy ta một cách thật sự. Chỉ có người nào chấp nhận những lời giáo huấn của ta mới thật sự nhìn thấy ta.

 

Sau khi ta tịch diệt, Đạo Pháp thay ta làm vị thầy cho các con. Biết noi theo Đạo Pháp, ấy chính là cách các con tỏ lòng trung thành với ta. Trong bốn mươi lăm năm sau cùng trong cuộc đời của ta, ta không hề giấu giếm điều gì trong những lời giáo huấn.

Chẳng có một lời giáo huấn nào bí mật, không có một lời nào mang ẩn ý. Tất cả những lời giảng của ta đều được đưa ra một cách ngay thật và minh bạch.

Này các con yêu quý của ta, đây là giây phút chấm dứt. Trong một khoảnh khắc nữa ta sẽ nhập vào Niết Bàn.

Những lời này là những lời dặn dò cuối cùng của ta cho các con”.

 

Người chép lại những lời này của Phật xin chắp tay mong rằng:

– Vì Phật, chúng ta hãy đọc lại những lời nhắn nhủ trên đây thêm một lần.

– Vì tất cả chúng sinh, vì sự đau khổ của muôn loài, chúng ta lại đọc thêm một lần nữa.

– Để gửi đến từng đơn vị nhỏ nhoi nhất của sự sống, chúng ta lại đọc thêm một lần nữa, đọc thêm một lần nữa…

 

Chúng ta nguyện sẽ đọc lên và đọc lên cho từng chúng sinh một, ta đọc cho đến khi nào những lời dặn dò trên đây của Phật trở thành những lời dặn dò xuất phát từ chính tâm thức ta, để nhắn nhủ cho chính ta, nhắn nhủ những người chung quanh ta,

kể cả những sinh linh nhỏ nhoi nhất của sự sống. Khi những lời nhắn nhủ chân thật và tràn đầy Từ Bi trên đây của Phật trở thành làn hơi thở của của chính ta,

thì biết đâu lúc ấy ta cũng sẽ là một vị Phật.

Bures-Sur-Yvette (Pháp quốc)

(Biên soạn dựa theo một bài viết của Thiền sư và Giáo sư Triết học người Pháp Gérard Pilet, đăng trong nội san của Hội Thiền học Quốc tế AZI (Association Zen Internationale), trụ sở tại Paris, và tài liệu của Bukkyo Dendo Kyokai (Society For the Promotion of Bouddhism), trụ sở tại Tokyo).

sự quyền uy, trang nghiêm hoặc sự cao thượng..jpg
NAM GIANG TỬ 
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 8

Cô giáo biến Steve Jobs từ học sinh cá biệt thành huyền thoại công nghệ

“Tôi chắc chắn rằng nếu không nhờ những giáo viên như cô Hill, kết cục của tôi là ngồi tù”, Steve Jobs từng bày tỏ sự biết ơn.

Steve Jobs (1955-2011) là doanh nhân, nhà sáng chế người Mỹ, đồng sáng lập hãng Apple. Trước khi trở thành người có sức ảnh hưởng bậc nhất làng công nghệ thế giới, ông là đứa trẻ sinh ra ngoài ý muốn, được bà Clara và ông Paul Jobs nhận nuôi ngay sau khi chào đời, trải qua cuộc đời nhiều thăng trầm.
“Siêu quậy” ở trường tiểu học
Theo sách Tiểu sử Steve Jobs của Walter Isaacson, trước khi vào tiểu học, mẹ Jobs đã dạy ông cách đọc. Tuy nhiên, điều này gây ra một số vấn đề. “Tôi khá chán trong vài năm đầu, nên tôi khiến bản thân trở nên bận rộn bằng cách gây rắc rối”, cha đẻ Apple từng kể lại. Ông cảm thấy những quy định ở trường đang cố đánh bại sự tò mò, ham khám phá.
co-giao-bien-steve-jobs-tu-hoc-sinh-ca-biet-thanh-huyen-thoai-cong-nghe
           Cha đẻ Apple là học sinh cá biệt thời đi học. Ảnh: CNBC

Trường tiểu học Monta Loma gồm một số dãy nhà nền móng thấp, xây dựng từ năm 1950. Những trò ngỗ nghịch do Jobs bày ra trong thời gian học ở đây đều có sự tham gia của Rick Ferrentino, người bạn cũng muốn chống lại sự nhàm chán. Chẳng hạn, cả hai tự làm những tờ áp phích nhỏ loan tin “Mang thú cưng của bạn đến trường”, gây cảnh hỗn loạn khi chó mèo đuổi nhau quanh giáo viên.

Một lần khác, hai học trò moi được thông tin về mã số khóa xe đạp của một số bạn bè. Họ ra ngoài, tráo tất cả ổ khóa, khiến nhiều người phải loay hoay đến tối mới lấy được xe. Khi lên lớp 3, những trò đùa trở nên quái hơn, bao gồm thả rắn trong lớp. “Chúng tôi từng đặt thuốc nổ dưới ghế của cô Thurman, khiến cô căng thẳng thần kinh”, Jobs nói thêm.
Jobs bị đuổi về nhà hai hoặc ba lần trước khi kết thúc năm lớp 3. Tuy nhiên, vào thời điểm đó, bố bắt đầu đối xử đặc biệt với ông. Thái độ bình tĩnh nhưng cứng rắn, ông Paul Jobs yêu cầu nhà trường đối xử tương tự với con trai mình. “Hãy nhìn xem, đó không phải lỗi của thằng bé. Nếu không thể khiến nó quan tâm đến việc học, đó là lỗi của thầy cô”, ông Paul nói với các giáo viên.
Steve Jobs không bao giờ bị bố mẹ phạt vì những vi phạm ở trường. “Ông nội tôi nghiện rượu và đã đánh bố tôi bằng thắt lưng, nhưng tôi không chắc là mình đã bị đánh nhẹ vào mông lần nào hay chưa”, ông trùm công nghệ kể lại trong cuốn tiểu sử.
Được cô giáo “hối lộ” để làm bài tập
Lên lớp 4, trường quyết định tách Jobs và Ferrentino ra hai lớp riêng biệt để hạn chế trò ngỗ nghịch. Trong năm học này, Jobs may mắn gặp cô giáo Imogene Hill, thường gọi là Teddy, người ông xem là “một trong những vị thánh”. Chỉ sau vài tuần theo dõi Jobs, cô đã hình dung ra cách tốt nhất để khơi dậy sự hào hứng của ông.
Một ngày nọ, cô đưa cho nam sinh quậy phá một cuốn sách và nói: “Cô muốn em mang nó về và giải các bài toán trong đó”. Chưa kịp hết ngạc nhiên, Jobs được cô treo thưởng năm đôla và những chiếc kẹo mút khổng lồ nếu hoàn thành và giải đúng gần hết. Chiêu hối lộ này phát huy tác dụng tích cực. Jobs nộp lại sách cho cô Teddy chỉ sau hai ngày. Đáp lại, cô đưa Jobs bộ dụng cụ để tự làm nên chiếc máy ảnh cho riêng mình.
Vài tháng sau đó, ông thậm chí không còn mong đợi sự hối lộ. “Tôi chỉ muốn học và khiến cô hài lòng”, huyền thoại công nghệ cho biết.
co-giao-bien-steve-jobs-tu-hoc-sinh-ca-biet-thanh-huyen-thoai-cong-nghe-1
Ông gọi cô giáo lớp 4 là “một trong những vị thánh của đời tôi”. Ảnh: Loopfy
Gần cuối lớp 4, cô Hill kiểm tra sức học của Jobs, nhận thấy ông đạt trình độ học sinh lớp 7. Giờ đây, rõ ràng không chỉ Jobs và bố mẹ mà các giáo viên cũng phải thừa nhận trí tuệ vượt trội của ông. Nhà trường đề xuất cho Jobs “nhảy cóc” lên thẳng lớp 7, mong muốn tạo môi trường thách thức cho cậu học trò thông minh.
Tuy nhiên, bố mẹ quyết định chỉ để ông bỏ qua một lớp. Nam sinh lớp 4 trở thành học sinh trường trung học cơ sở Crittenden.
Sự chuyển đổi này mang lại sóng gió cho Steve Jobs. Ông trở thành kẻ cô đơn, khó hòa nhập với những đứa trẻ lớn hơn một tuổi. Chỉ cách trường cũ một chặng ngắn, trường Crittenden lại như một thế giới hoàn toàn tách biệt, nằm trong khu vực chứa nhiều thành phần phức tạp.
Trong sự hỗn loạn đó, Jobs thường xuyên bị bắt nạt ở trường vì quá thông minh. Giữa năm lớp 7, ông đưa ra tối hậu thư cho bố mẹ, khăng khăng đòi chuyển trường dù việc này gây ra khó khăn về mặt tài chính.
Giá trị của giáo viên giỏi
Chặng đường tương lai của Jobs còn nhiều trắc trở, chẳng hạn phải bỏ đại học ngay năm đầu tiên vì không thể lo nổi học phí, từng phải ngủ nhờ ở sàn nhà trong phòng bạn, bán vỏ chai lấy tiền mua thức ăn, đi bộ 11 km để nhận thức ăn miễn phí ở một ngôi đền vào chủ nhật. Tuy nhiên, cơ duyên gặp cô Teddy vào những năm tháng tuổi thơ là bước ngoặt thay đổi nhận thức của ông một cách rõ rệt.
Đối với Jobs, những gì tiếp thu được trong năm lớp 4 nhiều hơn bất kỳ năm nào khác ở trường, và cô Teddy đã dạy ông nhiều điều hơn bất kỳ giáo viên nào khác. “Cô nhìn thấy điều gì đó ở tôi. Tôi chắc chắn rằng nếu không nhờ những giáo viên như cô Hill, kết cục của tôi là ngồi tù”, Steve Jobs bày tỏ sự biết ơn trong một cuộc phỏng vấn năm 1995.
Hiểu sâu sắc giá trị của giáo viên giỏi, Jobs thể hiện tâm huyết khi chia sẻ kiến thức cho người khác. Jonathan Rotenberg, đồng sáng lập Hiệp hội Máy tính Boston – tổ chức của người sử dụng máy tính cá nhân lớn nhất thế giới đã viết cuốn sách “Thầy Steve Jobs của tôi”, theo Your Story.
Trong đó, Rotenberg kể chi tiết về cuộc gặp gỡ với Jobs năm 18 tuổi và cách huyền thoại công nghệ trở thành người thầy vĩ đại trong cuộc đời ông như thế nào. “Steve đã sớm biết cuộc sống có thể trở nên vô hạn nếu chúng ta cởi mở để nhìn mọi thứ theo cách khác biệt”, Rotenberg viết.
Thùy Linh
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 9

: Tìm Về Nguồn Cội Tâm Linh

ÂN ĐỨC CỦA NHƯ LAI
Đức Phật xuất hiện để phá tan cái tăm tối của vô minh và để chỉ cho nhân gian 
biết phương pháp giải thoát khỏi khổ đau.
 
Đức Phật là hiện thân của tất cả những phẩm hạnh mà Ngài thuyết giảng. Trong 
thành quả của 45 năm dài hoằng pháp, Ngài đã chuyển lời nói thành hành động.
 Không lúc nào mà Ngài không trình bầy bất cứ cái yếu đuối của con người hay 
bất cứ dục vọng căn bản nào. Giới luật của Đức Phật là giới luật toàn hảo nhất 
mà thế giới từng được biết đến.
 
Trên 25 thế kỷ qua, hàng triệu người đã tìm được nguồn cảm hứng và 
an ủi trong Giáo Lý của Ngài. Ngày nay sự vĩ đại của Ngài vẫn rực rỡ như 
vầng thái dương chiếu sáng nơi tối tăm. Giáo Lý của Ngài vẫn đem yên ổn và 
bình an của Niết Bàn cho người hành hương lo âu. Không có ai đã hy sinh 
quá nhiều lạc thú trần gian để cứu khổ cho nhân loại như Ngài.
 
Đức Phật là vị lãnh đạo tôn giáo đầu tiên trong lịch sử thế giới khiển trách
 việc dùng sanh mạng con vật để hy sinh bất cứ vì lý do gì, và kêu gọi con người
 không nên hại bất cứ sinh vật nào.
 
Với Đức Phật, tôn giáo không phải là chuyện mặc cả nhưng là đường lối
 để tiến tới giác ngộ. Ngài không muốn tín đồ của Ngài mù quáng; Ngài muốn họ
 suy gẫm một cách tự do và trí tuệ. Toàn thể nhân loại được Ngài ban phước 
qua sự hiện diện của Ngài.
 
Chưa có lúc nào Ngài dùng đến những lời bất nhã với bất cứ một ai. Ngay cả
 đến những người chống đối Ngài, những kẻ thù xấu nhất, Ngài cũng không 
bao giờ tỏ ra thiếu thân thiện với họ. Một số người có thành kiến, chống đối 
Ngài và muốn giết Ngài, nhưng với họ, Đức Phật vẫn không coi họ là kẻ thù. 
Đức Phật có lần nói:
 
‘Như voi chiến ra trận, 
 hứng lãnh làn tên mữi đạn, 
 cũng thế ấy,  Như Lai phải chịu đựng lời nguyền rủa’.
 (Kinh Pháp Cú, Câu 320).
 
Trong biên niên sử, không có một nhân vật nào đã hy sinh đem hạnh phúc c
ho nhân loại như Đức Phật đã làm. Từ giờ Giác Ngộ cho đến lúc Nhập Diệt, 
Ngài không ngừng tranh đấu để nâng cao nhân loại. Ngài chỉ ngủ có hai giờ 
một ngày. Hai Mươi Năm Lăm thế kỷ trôi qua từ khi Vị Đại Đạo Sư này đã qua 
đời, thông điệp tình thương và trí tuệ của Ngài vẫn hiện hữu thuần khiết như 
lúc ban đầu. Thông điệp của Ngài vẫn ảnh hưởng sâu xa đến vận mệnh của
 nhân loại. Ngài là một Đấng Từ Bi cao cả nhất đã soi sáng thế giới với 
tình thương thân ái.
 
Sau khi nhập Niết Bàn, Ngài đã để lại bức thông điệp bất tử cho chúng ta. 
Ngày nay hòa bình thế giới của chúng ta bị đe dọa khủng khiếp. Không bao giờ
 trong lịch sử của thế giới thông điệp của Ngài lại thiết yếu hơn như cho thời đại này.
 
Đức Phật đản sanh để xóa tan cái tăm tối của vô minh, chỉ cho thế gian làm sao
 thoát khỏi khổ đau, bệnh não, suy tàn, cái chết và tất cả lo âu, đau đớn 
khổ sở của chúng sanh.
 
Theo một số tín ngưỡng, một đấng thiêng liêng nào đó sẽ thỉnh thoảng xuất hiện
 để diệt kẻ ác, và che chở người lương thiện. Đức Phật không xuất hiện trên thế gian
 này để diệt kẻ ác nhưng để dạy họ con đường chân chính.
 
Trong lịch sử thế giới cho đến thời kỳ Đức Phật, chúng ta chưa hề nghe thấy một
 vị thầy trong bất cứ tôn giáo nào lại chan chứa tình cảm thương yêu đối với 
loại khổ đau như Đức Phật?  Đồng thời với Đức Phật, chúng ta có nghe thấy một
 số nhà hiền triết Hy Lạp như Socrates, Plato, và Aristotle. Nhưng các vị này
chỉ là những triết gia, những nhà tự do tư tuởng và những người đi tìm chân lý; 
họ đều thiếu sự phát triển tình thương trước sự đau khổ bao la của chúng sanh.
 
Con đường cứu độ nhân loại của Đức Phật là dạy cho con người làm sao tìm 
được giải thoát. Ngài không chú trọng đến làm nhẹ bớt một vài trường hợp 
về thân và tâm bệnh. Ngài quan tâm nhiều đến việc vạch ra con 
Đường để mọi người đi theo.
 
 Chúng ta hãy lấy tất cả những triết gia, tâm lý, những nhà tự do tư tưởng,
 khoa học gia, duy lý luận, xã hội, các nhà cách mạng vĩ đại nhất của tất cả các
 đạo sư của các tôn giáo khác, và với một tinh thần không thiên vị, chúng ta đem
so sánh những vĩ đại của họ, đức hạnh của họ, ân đức phục vụ của họ, và trí tuệ 
của họ với đức hạnh, lòng từ tâm và sự giác ngộ của Đức Phật. 
Ta có thể thấy ngay Đức Phật đứng trong một vị thế nào giữa những người này.
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 6

NGƯỜI TRUNG QUỐC NUÔI HÀNG TỶ CON GIÁN ĐỂ LÀM GÌ?

Cách đây ít lâu, tờ South China Morning Post xuất bản ở Hong Kong cho biết, thành phố Tây Xương, tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc, có một trại chăn nuôi vĩ đại mà ít ai biết, mỗi năm nuôi sáu tỷ con gián nghĩa là gần bằng số đầu người trên Trái Đất này.
Xin nhấn link nầy để đọc tiếp:
http://www.carolyndo.com/gop-nhat-tram-hoa/nguoi-trung-quoc-nuoi-hang-ty-con-gian-de-lam-gi/
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 8

Đường về Linh Thứu

Thời gian vỗ cánh làm sao níu
Giữ bước chân tôi giữa núi này!
Lưu luyến làm sao rời Linh Thứu
Hương tòa Phật ngự chớm mây bay ..
Biết đến bao giờ tôi trở lại
Thắp nén trầm hương ý trọn đầy.
Ngày sau, ai biết ngày sau nữa
Tôi về tâm thức đã đổi thay.
Một chuyến hành hương về xứ Phật
Tái tạo đời con xác lẫn hồn .
 ” Tạ ơn ”, lời suối nguồn chân thật
Ngẫng đầu con khẽ gọi ” Từ Tôn !”
Hôm nay tứ chúng hàng đệ tử
Từ khắp muôn phương nhóm tụ về
Cùng một tâm tình con viễn xứ
Thương về đất Phật giống thương quê Mấy vòng Thánh địa đôi chân mỏi
Thương Phật ngày xưa luống nhọc nhằn.
Vì đời khổ lụy Ngài đi tới
Ngại gì núi cản với sông ngăn .
Chúng con đồng chắp tay cầu nguyện
Phật pháp ngàn sau mãi sáng ngời
Vang tiếng kinh cầu, hương khói quyện
Là cầu sanh chúng hết chơi vơi…
Hành hương xứ Phật đầy rung cảm
Chiêm ngưỡng Từ Tôn, ngó lại lòng.
Những đóa sen hồng vừa kết nụ
Như thầm… vươn đến tận hư không…
 Như Nhiên
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 18

TÌM THẤY VIÊN NGỌC TRÊN ĐƯỜNG BÙN

Gudo tuy là quốc sư, nhưng ngài vẫn hay du hành như một kẻ khất sĩ lang thang. Một hôm trên đường đi Edo, một trung tâm văn hóa và chính trị quan trọng, ngài đến gần một ngôi làng có tên là Takenaka. Trời đã tối và mưa tầm tả, Gudo ướt mẹp và đôi dép rơm đã tơi tả. – một căn nhà tranh gần làng, ngài thấy có khoảng bốn hay năm đôi dép bày ở cửa sồ và muốn vào hỏi mua một đôi. Người đàn bà thấy ngài ướt lạnh, thương tình mời ngài trú qua đêm. Gudo nhận lời và cám tạ bà ta. Ngài đến trước bàn thờ giữa nhà tụng một thời kinh. Sau đó bà mẹ của bà chủ và bầy con ra chào. Nhìn thấy cả nhà buồn bả, ngài hỏi cớ sự. “Chồng con là kẻ cờ bạc say sưa”, người đàn bà kể lể. “Khi ổng ăn bạc thì uống rượu say mèm rồi về nhà đánh đập vợ con. Nếu ổng thua thì đi vay mượn khắp nơi. Lắm khi say quá lại không về nhà. Con phải làm sao?”

“Ðể bần tăng giúp cho,” Gudo nói. “Ðây có ít tiền, hãy đi mua một chung rượu ngon và ít đồ nhấm. Rồi bà đi nghỉ đi. Bần tăng sẽ tọa thiền trước bàn thờ.” Nữa đêm, ông chồng say khướt trở về, la lối om xòm. “Con mẹ nó đâu, tao về nhà đây này. Có cái gì ăn không?”

“Có” Gudo nói, “Bần tăng bị mắc mưa và được bà nhà thương tâm cho tạm trú qua đêm. Ðể đền đáp bần tăng có mua một ít rượu và đồ nhấm dành cho ông dùng.”

Gã đàn ông hài lòng, uống sạch chung rượu rồi ngã lăn trên sàn mà ngủ. Gudo tọa thiền cạnh bên. Sáng sớm hôm sau, gã đàn ông tỉnh dậy quên hẳn mọi chuyện đêm qua.

“Ông là ai? – đâu đến đây?” gã hỏi Gudo khi ngài vẫn còn trầm tư mặc tưởng. “Bần tăng là Gudo từ Ðông Kinh đến, trên đường đi Edo,” Thiền sư trả lời.

Gã đàn ông xấu hổ quá, liền miệng xin lỗi quốc sư. Gudo mĩm cười.

“Mọi sự, mọi vật trên đời đều vô thường,” ngài giảng giải. “Cuộc đời rất ngắn ngủi. Nếu ông cứ tiếp tục cờ bạc và rượu chè thì ông chẳng làm được việc gì hữu sự, lại còn làm khổ vợ con.”

Gã đàn ông chợt ngộ, như ra khỏi cơn mê.

“Ðại sư nói đúng,” anh ta dõng dạc. “Làm sao con có thể đền bù cho ngài về lời dạy này! Hay là để con mang hành lý hộ ngài và tin ngài một đoạn đường.ẽ

“Nếu ông muốn,” Gudo tán đồng.

Hai người lên đường. Sau khoảng ba dặm, Gudo bảo y quay về.

“Xin được thêm năm dặm nữa,” gã nài nỉ. Họ tiếp tục đi.

“Giờ ông nên quay về,” Gudo khuyên.

“Hẳn thêm mười dặm nữa,” gã đàn ông xin.

“Hãy về ngay,” Gudo bảo sau khi đã đi hết mười dặm.

“Xin cho con theo Ðại sư suốt đời,” gã tuyên bố.

Những thiền sư hiện đại của Nhật đều là môn đệ của người kế thừa Gudo. Tên của ngài là Mu-nan, người đàn ông đã không bao giờ quay trở lại. 

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 15

MỘT CỐC TRÀ

Nan-In, một thiền sư Nhật vào thời Minh – Trị (1868- 1912), tiếp một vị giáo sư đại học đến tham vấn về Thiền. Nan-In đãi trà. Ngài chế một cốc đầy và vẫn tiếp tục rót. Vị giáo sư nhìn cốc nước tràn cho đến khi không nhịn được, bèn lên tiếng: “Nó đã đầy tràn rồi, không thêm được nữa đâu!”

“Thì cũng như chiếc cốc này” Nan-In thong thả nói, “ông đã mang đầy tư kiến và thành kiến. Làm sao tôi có thể chỉ cho ông về Thiền nếu ông không cạn cốc của ông?”

Sưu Tầm

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 14

Tôi Còn Nợ Anh

http://www.carolyndo.com/gop-nhat-tram-hoa/toi-con-no-anh/

 Ân đền nợ trả là luật đời bất thành văn “ân oán giang hồ”. Nợ tình với em, nợ hiếu với cha mẹ, nợ trung với tổ quốc, nợ tang bồng với chí trai, và nợ nhân nghĩa với trần hoàn. Nợ phải trả, nhưng mấy ai được may mắn như Nguyễn Công Trứ “nợ tang bồng trang trắng vỗ tay reo!” Thường tình, người ta vẫn băn khoăn tự hỏi làm sao trả dứt được nợ nước, nợ người và nợ đời ? Bao trường hợp “nửa đường đứt gánh” rồi ôm hận xuống tuyền đài như chàng trai mũ đỏ tên Đương, như ngũ tướng Nam- Hưng-Hai-Phú- Vỹ..

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 24

ÁO HOA HÃY RŨ BỤI VÀNG

Đi thôi em,
Giọt sương mai
Ánh dương ló rạng, hình hài sương tan
Đi thôi, 
Gió núi mây ngàn,
Tụ duyên, mây sẽ ngập tràn mưa sa
Đi thôi, 
Vạt nắng hiên nhà
Hong chưa khô áo lụa đà, đêm sang
Ngỡ ngàng chi, 
Nụ hoàng lan,
Nhụy chưa tỏa ngát, cánh toan rụng rời!
Nụ cười thiếu nữ trên môi
Nét son nhạt với xuân đời qua nhanh
Ngắn ngủi lắm,
Kiếp chúng sanh
Thả trôi ngày tháng loanh quanh muộn màng
Áo hoa, hãy rũ bụi vàng
Bè lau đã kết, non ngàn dặm trông
Đi thôi,
Đạo lộ xuôi dòng
Ba La Bát Nhã,
Chẳng trong, chẳng ngoài.
Đi lên chót đỉnh tâm khai
Gặp trong hương gió một đài liên hoa
Trên triền ngũ uẩn đâu xa
Là vô lượng kiếp, ngôi nhà Phật xưa. 
Huệ Trân
(Tào-Khê tịnh thất, buổi sáng quét lá thu rơi)
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 17

CHÚNG TA ĐANG TÌM KIẾM CÁI GÌ? Krishnamrti | Phạm Công Thiện dịch

 

Hầu hết chúng ta đang đi tìm gì? Mỗi người trong chúng ta muốn được gì? Nhất là giữa thời thế tao loạn này, mọi người đều muốn tìm một thứ an bình nào đó, một thứ hạnh phúc nào đó, nơi trú ẩn nào đó, vì thế chúng ta cần phải tìm cho ra chúng ta muốn tìm kiếm gì trên cuộc đờinày, điều ấy dĩ nhiên là vô cùng quan trọng, phải thế không? Chúng ta cần phải biết đang đi tìm cái gì, chúng ta đang cố gắng khám phá ra điều gì.

Có lẽ hầu hết tất cả chúng ta đều đang đi tìm kiếm thứ hạnh phúc nào đó, một thứ thanh bình nào đó; trong một thế giới hỗn loạnxáo trộn, đầy chiến tranh phân ly, phân tán, tất cả chúng ta đều cần có một nơi trú ẩn để mà có thể tìm được một chút thanh bình nào đó. Tôi nghĩ rằng đó là điều tất cả chúng ta, hầu hết tất cả chúng ta đều muốn đạt tới. Vì thế chúng ta chạy tìm đuổi theo một người lãnh tụ này đến một người lãnh tụ khác, từ một tổ chức tôn giáo này đến một tổ chức tôn giáokhác, từ một bậc thầy này đến một bậc thầy khác.

Vậy thì có phải chúng ta đang tìm một thứ hạnh phúc hay là phải chăng chúng ta đang đi tìm một sự thỏa mãn nào đó để mong được hạnh phúc? Hạnh phúc và sự thỏa mãn hoàn toàn khác nhau. Các bạn có thể tìm hạnh phúc không? Có lẽ các bạn chỉ thấy thỏa mãnnhưng nhất định các bạn không bao giờ tìm ra hạnh phúcHạnh phúc chỉ là phụ thôi; nó xuất phát từ một cái gì khác.

Vì thế, trước khi chúng ta để cả tâm trí vào một sự việc cần nhiều trang trọng, chú ý, tư tưởng, chăm sóc, phải chăng chúng ta cũng nên tìm hiểu chúng ta đang muốn tìm kiếmgì; có phải chúng ta đang tìm kiếm hạnh phúc hay chỉ là sự thỏa mãn. Tôi cho rằng hầu hết tất cả chúng ta đều tìm kiếm sự thỏa mãnChúng ta muốn được thỏa mãnchúng tamuốn tìm được một cảm giác sung mãn tràn trề theo sau cuối con đường tìm kiếm của chúng ta.

Thực ra nếu chúng ta đi tìm thanh bình chúng ta có thể tìm thấy nó một cách quá dễ dàng, người ta có thể tự dâng hiến một cách mù quáng cho một lý tưởng nào đó và trú mình ẩn náu trong đó. Hiển nhiên nếu làm như vậy thì không giải quyết được vấn đề nào hết. Chỉ cô lập hóa mình trong một ý tưởng ràng buộc thì không thể nào giải thoát khỏi sự đụng độ va chạmPhải chăng chúng ta cần tìm cho được mỗi người trong chúng ta đang muốn tìm kiếm gì ở bên trong tâm hồn cũng như ở thế giới bên ngoài.

Nếu chúng ta minh bạch khúc triết trong vấn đề này thì chúng ta không cần phải đi đâu cả, không cần phải đi tìm bất cứ một vị thầy nào, không cần phải đi vào bất cứ một nhà thờ nào và không cần phải tham dự bất cứ một tổ chức nào. Do đó, nỗi khó khăn nhất của ta hiện nay là làm thế nào minh bạch khúc triết trong tâm trí đối với ý định của mình, phải thế không? Chúng ta có thể nào minh bạch được không?

Phải chăng sự minh bạch ấy chỉ xuất hiện qua sự tìm kiếm, và sự tìm hiểu những gì người khác nói, từ một bậc đại sư cao siêu nhất cho đến một người giảng đạo thông thường nhất ở một giáo đường nào đó quanh đầu phố? Các bạn có cần đi đến một người nào đó để mà khám phá ra sự thực không? Phải chăng đó là điều chúng ta đang làm?

Chúng ta đọc quá nhiều sách, chúng ta tham dự quá nhiều cuộc hội thảo để tranh luậnbàn tánchúng ta gia nhập nhiều tổ chức khác nhau để mà tìm một phương thuốc trị liệucho nỗi xung đột tâm tư, cho sự khốn cùng trong đời sống của chúng ta. Hoặc nếu chúng ta không làm thế thì chúng ta nghĩ rằng chúng ta đã tìm thấy sự thực, chúng ta nói rằng một tổ chức đặc biệt nào đó, một bậc tôn sư đặc biệt nào đó, một quyển sách đặc biệtnào đó đã thỏa mãn chúng tachúng ta đã tìm thấy tất cả sự thực mà chúng ta muốn đạt trong những thứ ấy; và chúng ta duy trì ứ đọng đóng nhốt tự mình trói buộc mình trong những điều mình tưởng như là thấy được sự thật.

Trải qua những sự hỗn loạn, có phải chăng chúng ta đi tìm một cái gì thường còn, một cái gì cố định tồn tạitrường tồn, một cái gì mà chúng ta gọi là thực tại, như Thượng đếchân lý, hay muốn gọi gì thì gọi vì danh từ không quan trọng: hiển nhiênchữ nghĩakhông phải là sự vật. Chúng ta đừng để bị lôi cuốn trói buộc trong những lời, những tiếng, chúng ta hãy để điều đó cho những giảng sư nhà nghề. Có phải các bạn tìm kiếm một cái gì trường tồn trong tâm hồn một cái gì mà chúng ta có thể bám vào, đeo vào, một cái mang đến cho chúng ta sự bảo đảm, một miền hy vọng nào đó, một sự hăng say tin tưởng nào đó, một sự cố định trường tồn nào đó.

Bởi vì chúng ta cảm thấy bất an vô định trong tâm hồnChúng ta không tự hiểu chúng taChúng ta biết rất nhiều về những sự kiện, về nội dung của sách vở; nhưng chúng takhông tự biết mìnhchúng ta chẳng có một kinh nghiệm trực tiếp nào cả. Điều mà chúng ta gọi là trường tồn là cái gì? Điều ấy là điều gì mà chúng ta đang tìm kiếm, điều mà chúng ta mong rằng sẽ mang đến cho chúng ta sự cố định trường cửu? Có phải chúng tađang đi tìm hạnh phúc trường cửu, sự thỏa mãn trường tồnsự cố định trường cửu?

Chúng ta muốn một điều gì đó được trường tồn mãi mãi để vẫn làm thỏa mãn được chúng ta. Nếu chúng ta cởi bỏ những tiếng, những lời để nhìn thẳng vào điều ấy, đó chính là lòng thỏa mãn lâu dài là điều chúng ta muốn thể hiệnChúng ta muốn cơn khoái lạc được trường tồn, sự thỏa mãn được lâu dài và chúng ta gọi đó là chân lýThượng đếhay là một danh hiệu nào khác.

Đúng thế, chúng ta muốn có được khoái lạc. Có lẽ điều ấy đã được trình bày một cách thô bạo như vậy, nhưng đó là lòng khát khao thực sự, chúng ta muốn có kiến thức nào mang đến cho chúng ta sự khoái cảm, kinh nghiệm nào mang đến cho chúng ta sự khoái lạc, sự thỏa mãn mà không phôi pha tàn phai với thời gian.

Chúng ta đã trải qua tất cả những sự thỏa mãn đa dạng và những sự thỏa mãn ấy, tất cả những sự thỏa mãn ấy đã tàn phai tiêu ma thế thì bây giờ chúng ta mong tìm được sự thỏa mãn trường tồn vĩnh cửu trong thực tại nào đó, chẳng hạn như trong Thượng đếDĩ nhiên đó là chính những gì mà tất cả chúng ta thường tìm kiếm: những kẻ khôn ngoan và những người khờ khệch, lý thuyết gia và con người thực tế, tất cả đều đang tìm kiếm đeo đuổi một cái gì đó. Có sự thỏa mãn nào vĩnh cửu hay không? Có sự thể nào mà vẫn trường tồn mãi mãi?

Thế mà nếu các bạn tìm kiếm một sự thỏa mãn trường tồn và gọi đó là Thượng đế hay Chân lý hay bất cứ một danh từ nào khác, (danh từ không quan trọng) chắc các bạn phải hiểu đó là điều các bạn muốn tìm, các bạn có nên hiểu thế không? Khi các bạn nói rằng ‘tôi đang đi tìm một sự hạnh phúc vĩnh cửu’ – Thượng đế hoặc Chân lý hay là bất cứ một danh từ nào khác, các bạn có nên tìm hiểu cái gì đang tìm kiếm, nghĩa là tìm hiểu chính kẻ tìm kiếm, người tìm kiếm?

Bởi vì có thể trên đời không có cái mà người ta gọi là sự an ninh vĩnh cửu sự hạnh phúctrường tồnChân lý có thể là một cái gì khác hẳn, hoàn toàn khác hẳn; và tôi nghĩ rằng chân lý thì hoàn toàn khác hẳn những gì các bạn có thể thấy, có thể ý niệm hội ý, có thể đặt hình tượng phương trình. Vì thế trước khi chúng ta tìm kiếm thực thể trường cửuthực ra có cần thiếtvô cùng cần thiết, là phải tìm hiểu chính người tìm kiếm? Người tìm kiếm có khác sự việc mà hắn tìm kiếm?

Khi các bạn nói ‘tôi đang tìm kiếm hạnh phúc’ thì người tìm kiếm có khác đối tượng của sự tìm kiếm ấy không? Tư tưởng gia có khác tư tưởng không? Phải chăng cả hai đều là một hiện tượng liên kết duy nhất, chứ không phải là những tiến trình cách biệt? Do đó, phải chăng tìm hiểu người tìm kiếm là một điều chính yếu trước khi chúng ta tìm hiểuđiều mà hắn đang kiếm tìm.

Vì thế đã đến lúc chúng ta phải tự hỏi một cách nghiêm trọng và sâu sắc rằng sự thanh bìnhhạnh phúcthực tạiThượng đế hoặc một danh từ nào khác, có thể được mang đếncho chúng ta qua trung gian của một người nào khác hay không? Có thể nào sự tìm kiếmliên tục này, sự khát khao hoài vọng này đưa đến cho chúng ta hưởng thụ cảm giác về thực tại tuyệt vờitrạng thái sáng tạo của tâm hồn, mà những cảm trạng ấy thì chỉ có thể hiện đến khi chúng ta thực sự tự hiểu mình? Phải chăng sự tự hiểu biết chính bản thânmình chỉ thể hiện qua sự tìm kiếm, bằng cách đi theo gót một người nào khác, bằng cách gia nhập vào một đoàn thể nào đó, bằng cách đọc sách, vân vân?

Tựu chung, phải chăng đó là vấn đề chính yếu: khi mà tôi chưa hiểu được mình, tôi không thể có được căn bản để suy tư, và tất cả sự tìm kiếm của tôi chỉ là vô vọng hão huyền. Tôi có thể chạy trốn trong những ảo giác, tôi có thể chạy trốn sự khó khăn dày xéo, cơn quằn quại nội tâm; tôi có thể phụng thờ kẻ khác, tôi có thể tự cứu tôi qua trung gian một người khác. Nhưng khi mà tôi vẫn chưa hiểu được tôi, khi mà tôi không ý thứcđược tiến trình trọn vẹn của chính nội tâm tôi thì không thể nào tôi có được nền tảng để suy tư, để thương yêu lưu luyến, để hành động xử thế.

Nhưng đây là điều ít người muốn đạt tới: tự hiểu mình. Nhất định đó là nền tảng duy nhấtmà chúng ta phải xây dựng. Nhưng trước khi xây dựng sáng tạo, trước khi chuyển hóa, trước khi chúng ta kết án hay phá hủychúng ta phải biết rằng chúng ta là gì. Đi tìm kiếmchân lý, thay đổi những đạo sưthực hành Yoga, điều hòa hơi thởchấp trì những nghi lễtôn giáo, theo chân những bậc đại sư và tất cả những thứ đại loại như vậy đều hoàn toànvô ích, phải thế không?

Những sự việc ấy không có ý nghĩa gì cả, ngay đối với cả những bậc thánh nhân khi họ nói với chúng ta rằng ‘hãy tự hiểu mình’ thì việc ấy cũng vô nghĩa, bởi vì chúng ta là gì thì thế giới là như thế ấy. Nếu chúng ta bần tiện, nhỏ nhoi, ghen tuông, phù phiếm tham lam, nếu đó là những điều chúng ta tạo ra chung quanh ta thì đó cũng là điều tạo ra xã hội mà chúng ta đang sống.

Theo tôi thì trước khi chúng ta lên đường để tìm hiểu Thực tại, để tìm thấy Thượng đế, trước khi chúng ta hành động, trước khi chúng ta có thể giao tiếp xử thế với nhau (nghĩa là sự giao tế trong xã hội) thì trước hết chúng ta phải cần hiểu chúng ta. Tôi cho rằng một người đứng đắn là một người hoàn toàn bận tâm về việc ấy trước hết, chứ không phải tìm cách đi tới một mục đích nhất định, bởi vì nếu các bạn và tôi không tự hiểu mình thì làm thế nào hành động của chúng ta có thể mang đến sự đổi thay cho xã hội, cho sự giao tế của xã hội hay cho bất cứ sự việc nào mà chúng ta thể hiện?

Khi tôi nói tự tìm hiểu mình thì không có nghĩa là chống đối, ly cách trong tương quan giữa mình với người khác. Điều ấy hiển nhiên không có nghĩa là đặt trọng tâm vào cá thể, vào bản thân để đối nghịch lại quần chúng đám đông, để đối nghịch lại với kẻ khác.

Vậy nếu mà không tự biết mình, nếu mà không hiểu đường lối tư tưởng của mình, không hiểu lý do tại sao mình nghĩ sự việc như vậy, không hiểu bối cảnh qui định của mình, không hiểu lý do tại sao mình đã có những tín ngưỡng đặc biệt nào đó về nghệ thuật và tôn giáo, về tổ quốc quê hương về kẻ láng giềng và về chính bản thân mình thì làm thế nào chúng ta có thể biết suy tư thật sự về bất cứ sự vật nào?

Nếu không biết bối cảnh của mình, không biết bản chất thực sự của tư tưởng mình, và duyên do của tư tưởng ấy thì nhất định sự tìm kiếm của các bạn chỉ là hoàn toàn phù phiếm vô ích, hành động của các bạn phải chăng không có ý nghĩa gì nữa? Dù là các bạn là người Mỹ hay người Ấn độ hay dù các bạn thuộc tôn giáo nào nữa thì việc ấy cũng vô nghĩa. Trước khi chúng ta có thể tìm hiểu cứu cánh mục đích của đời sống là gì, ý nghĩacủa nó là gì như chiến tranh, những sự xung đột quốc gia, những sự va chạm, và tất cả những sự hỗn loạn ấy chúng ta phải bắt đầu tìm hiểu chúng ta, bắt đầu nơi bản thânmình phải thế không?

Việc ấy có vẻ như đơn giản nhưng nó thật vô cùng khó khăn. Muốn theo dõi mình, muốn thấy sự vận hành của tư tưởng mình, mình phải tỉnh thức một cách phi thường để mà khi mình bắt đầu ý thức mãnh liệt về những mê cung chằng chịt của chính tư tưởng mình và những đáp ứng và những cảm giác, mình bắt đầu đạt tới một ý thức bén nhạy hơn chẳng những ý thức về mình mà còn ý thức về kẻ khác mà mình đang giao tiếp. Tìm hiểu chính bản thân mình là tìm hiểu mình trong hành động, đó chính là tương giao.

Nỗi khó khăn của chúng ta là chúng ta quá nóng nảy, thiếu kiên nhẫnchúng ta muốn đi tới một cách hấp tấp, chúng ta muốn đạt tới cứu cánh, vì thế chúng ta không để chúng tacó thời gian hay có dịp để học tập, để nghiên cứu. Thay vì thế chúng ta lao mình vào những sinh hoạt khác nhau như việc mưu sinh, việc nuôi nấng con cái, hay là đảm nhiệm những trọng trách của nhiều tổ chức; chúng ta lao thân vào những đường lối khác nhau bận bịu lo lắng và không còn thì giờ để suy tưởng bản thân, để quan sát, để khảo sát. Vì thế, thực ra trách nhiệm về phản ứng chúng ta là tùy vào chúng ta, chứ không phải vào người khác.

Khắp thế giới sự tìm kiếm đạo sư và hệ thống đạo lý của họ, việc đọc những quyển sách mới xuất bản về vấn đề này hoặc vấn đề khác vân vân, đối với tôi là hoàn toàn rỗng, hoàn toàn phù phiếm, vì các bạn có thể lang thang khắp địa cầu để tìm kiếm, nhưng rồi các bạn cũng phải trở về lại với chính mình. Vì hầu hết chúng ta đều hoàn toàn vô ý thứcvề chính bản thân mình, do đó thực là vô cùng khó khăn khi chúng ta bắt đầu tìm thấy, nhìn thấy rõ rệt biến trình của tư tưởng chúng tacảm giác và hành động của chúng ta.

Khi các bạn càng tự hiểu mình thì sự minh bạch khúc triết càng dễ xuất hiện. Sự tự tìm hiểu mình không có cứu cánh, các bạn không phải đi tới một sự tựu thành nào cả, các bạn không phải đi tới một sự kết luận nào cả. Chân lý là một dòng sông bất tận. Khi mình nhìn theo dòng sông, khi mình đi sâu vào sự thực thì mình cảm thấy thanh bình trong tâm hồn. Chỉ khi nào tâm trí được trầm lặng nhờ sự tự giác, chứ không phải nhờ vào một kỷ luật bản ngã ràng buộc, chỉ có lúc ấy, chỉ trong sự trầm tĩnh ấy, trong sự im lặng ấy thì Thực tại mới có thể thực hiện được.

Chỉ có lúc ấy mới có thể có sự ngây ngất xuất thần, chỉ có lúc ấy mới có thể có được hành động sáng tạo trác truyệt. Đối với tôi, nếu không có sự hiểu biết ấy, không có kinh nghiệm ấy mà lại đọc sách, đi dự những buổi nói chuyện, đi làm tuyên truyền thì thật là ấu trĩ: đó chỉ là một hành động vô nghĩatrái lại nếu mình có thể hiểu mình thì mình mới có thể khơi dậy niềm hạnh phúc sáng tạo trác tuyệt, khơi dậy sự thể hiện vượt ngoài tâm trí, chỉ lúc ấy có lẽ mới thể hiện được sự chuyển hóa hoàn toàn trong mối giao tiếp giữa chúng ta và thế giới chúng ta đang sống.

 

J. KRISHNAMURTI

Phạm Công Thiện dịch

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 17

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng

  

 

Một ông già mù bắt taxi, lúc xuống xe đồng hồ tính tiền báo 450 nghìn. Tài xế đẹp trai dìu ông đến nơi an toàn và nói cháu không lấy tiền của ông, bởi vì cháu kiếm tiền dễ hơn ông.

Thật trùng hợp, lúc này một bà lão từ khu dân cư đi ra và nói muốn đi taxi. Trên đường đi, bà trò chuyện tâm sự với lái xe rất vui vẻ. Lúc xuống xe, đồng hồ tính tiền hiện ra 550 nghìn, bà lão rút ra 1 triệu đưa cho lái xe rồi nói: “Tiền này bao gồm cả tiền đi xe của ông lão vừa rồi, ta cũng không vĩ đại gì nhưng ta kiếm tiền dễ hơn cháu, hy vọng cháu có thể tiếp tục làm việc tốt”.

Có một câu chuyện đầy cảm hứng muốn mọi người cùng chia sẻ. Vào một đêm bão tuyết xảy ra tại Texas, nước Mỹ, có một chàng thanh niên trẻ tên là Kress bị kẹt xe ở vùng ngoại ô khu. Trong khi anh vô cùng lo lắng thì có một người đàn ông cưỡi ngựa qua và thấy được tình cảnh này.

Người đàn ông liền dùng ngựa của mình kéo chiếc xe ô tô của Kress về thị trấn nhỏ. Kress vô cùng cảm kích và mong muốn biếu người đàn ông này tiền để tỏ lòng biết ơn. Nhưng người đàn ông nói: “Tôi giúp cậu không cần báo đáp nhưng muốn cậu hứa với tôi một điều, khi cậu gặp người khác khó khăn thì cần mở lòng giúp đỡ”.

Kress luôn nhớ câu nói này và mỗi khi ai đó muốn cảm ơn anh sau khi anh đã giúp họ, anh thường nói với họ hãy ghi nhớ câu này.

Nhiều năm sau, đột nhiên có lần Kress bị mắc kẹt trong một trận lũ quét trên một hòn đảo khi đi du lịch, một cậu thanh niên đã liều mình cứu sống anh. Sau khi Kress cảm ơn cậu thanh niên, không ngờ cậu ấy cũng nói một câu giống y như câu mà Kress đã nói rất nhiều lần: “Tôi giúp ông không cần báo đáp nhưng muốn ông hứa…”

Kress cảm thấy thật ấm lòng và thầm nghĩ: “Hóa ra, mình đã tặng lòng tốt của mình cho nhiều người và cuối cùng thông qua cậu thanh niên này mình lại nhận được nó, cảm ơn Thượng Đế từ bi đã giúp con nhận ra rằng cho đi cũng chính là nhận lại”.

Nếu bạn có may mắn đọc được lời hứa này, xin vui lòng chuyển tiếp tới bạn bè và người thân của mình. Tôi tin rằng có rất nhiều người cần sự giúp đỡ của chúng ta và chính nghĩa sẽ được lan truyền, bởi vì suy cho cùng việc tốt, việc Thiện mà mọi người làm ở hiện tại cũng vì tương lai của bản thân.

1. Gặp một quán vỉa hè vào ban đêm, bạn có thể mua thêm một vài thứ mà không cần mặc cả. Nếu hoàn cảnh gia đình không khó khăn, ai lại đi bán hàng giữa trời đêm lạnh giá như vậy.

2. Gặp học sinh đi làm việc thêm ngoài giờ, đặc biệt là nữ sinh trung học, cô bé có bán gì đó bạn hãy mua một chút. Nếu không phải gia đình khó khăn, đi làm công cũng cần một sự dũng cảm, hãy cổ vũ cho cô bé.

3. Nhặt được ví tiền hãy tìm người đánh mất. Thông thường người mất ví không quan tâm đến tiền bạc mà là các giấy tờ quan trọng như CMND, giấy phép lái xe… Bạn trả lại ví tiền, người ta sẽ rất biết ơn bạn.

4. Gặp người hỏi đường, nếu bạn biết địa chỉ, hãy chủ động nói cho họ biết. Đừng sợ! Sẽ không có ai cười bạn.

5. Nếu khi đổ rác, bên trong có thủy tinh, lưỡi dao cạo, đinh ghim… xin hãy bọc lại cẩn thận để nhân viên vệ sinh hoặc người nhặt rác tránh khỏi bị thương. Hầu hết họ không có bảo hiểm y tế và chế độ chăm sóc không tốt.

Bạn làm việc tốt nhất định sẽ có phúc báo!

ST

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 30

Tháng Mười Hai

Tháng mười hai em về qua góc phố
Cây tương tư rụng chiếc lá sau cùng
Chẳng còn ai nhắc lời thề hoa cỏ
Chiều gối đầu trên những cánh nhớ nhung

Hồn đọng lại chút niềm xưa hò hẹn
Ngước nhìn mây, mây miên viễn đa tình
Trôi, trôi mãi biết nơi đâu là bến
Cúi xuống đời, đời đã lắm điêu linh

Gió cũng biết sang Đông là từ tạ
Người xa người, chiều vội vã biệt ly
Rồi về đâu những ngày sau hối hả
Hành trang xa còn giữ lại được gì?

Tình mãi mãi là cuộc tình không trọn
Nơi anh về mùa chờ đón đưa ai?
Chiếc lá rụng nhành tương tư rũ xuống
Lá lìa cành cây hụt hẫng vòng tay

Tháng mười hai có hồi chuông tịnh độ
Bến mê nào em còn giữ riêng em
Khi hạnh phúc dường mong manh như cỏ
Giữa Đông sang là cỏ chết im lìm

Thôi anh nhé, tháng mười hai em viết
Bài chia xa, bài tiễn biệt cho nhau
Quà Giáng Sinh anh làm sao hay biết
Trái tim hiền, em nhận một nỗi đau…
(Trần Tường Vi)

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 34

KHUÔN MẶT VĂN NGHỆ MỚI