BÀI HỌC CỦA SỰ THA THỨ

Tha thứ là một trong những bước quan trọng và khó khăn nhất để quên đi những điều không hay đã xảy ra. Nó giải thoát ta khỏi những u uất trong lòng, giúp ta thoát khỏi cảm giác trống trải và sợ hãi.
Nếu bạn là một người thông minh, bạn sẽ nhận ra rằng khi tha thứ, người được lợi trước tiên và nhiều nhất chính là mình. Chúng ta tha thứ không phải để xóa bỏ sai lầm mà là để giải thoát bản thân khỏi những cảm xúc tiêu cực đang bủa vây tâm trí. Dù thật khó khăn nhưng nó vẫn ít đau đớn hơn là để nỗi đau đè nặng lên trái tim. Chúng ta tha thứ vì nếu không làm thế, chúng ta sẽ gây tổn thương chính mình. Chúng ta tha thứ bởi suy cho cùng, đó là hành động khôn ngoan nhất mà ta có thể làm cho bản thân. Và cuối cùng, chúng ta tha thứ vì điều đó sẽ đem lại trong ta sự thanh thản.

Để thực sự tha thứ, chúng ta cần trải qua hai bước hay nói đúng hơn là hai giai đoạn vô cùng khó khăn. Trong giai đoạn thứ nhất, ta phải hiểu và chấp nhận rằng chúng ta nên tha thứ, rằng cuộc sống không phải lúc nào cũng diễn ra như ta mong đợi. Giai đoạn này đòi hỏi chúng ta phải vượt qua những bất ổn mà mình muốn từ bỏ. Giai đoạn thứ hai, quan trọng hơn, nằm ở nhận thức của chúng ta về việc khi nào ta nên bỏ qua quá khứ và tiến về phía trước. Nhận thức này đánh dầu sự trưởng thành thực sự ở mỗi người. Để làm được điều đó, trước tiên ta phải bỏ qua những vọng tưởng và ước mơ viễn vông. Có như thế, chúng ta mới có thể đưa ra những quyết định và việc làm đúng đắn. Điều này đòi hỏi chúng ta phải thực sự thấu hiểu mọi thương tổn trong lòng và chấp nhận rằng quá khứ là quá khứ, chúng ta không thể là gì để thay đổi chúng.

Ta chỉ có thể tha thứ và bỏ qua khi đã hoàn toàn phục hồi trước nhưng thương tổn trong quá khứ, đồng thời hiểu được rằng tha thứ cho người khác không đi đôi với việc ta phải thỏa hiệp ha miễn cưỡng bản thân.

” Khi tha thứ, ta sẽ nhận về sự thanh thản”. Đó là điều mà hầu như ai cũng biết nhưng không phải lúc nào cũng làm được. Trước kia, tôi luôn cho rằng tha thứ là một đặc ân quá hào phóng mà những người từng gây tổn thương cho tôi không đáng được nhận.

” Tại sao tôi phải tha thứ cho họ? Tại sao tôi phải cho họ quyền thanh thản sau những gì họ gây ra cho tôi?”. Nhưng thời gian đã giúp tôi hiểu rằng. Khi sẵn sàng bỏ qua mọi chuyện không hay, tôi sẽ rũ bỏ gánh nặng của sự bi hận đang nặng trĩu tâm trí mình.

Người ta không thể tha thứ cho người khác trong một sớm một chiều; cũng không thể tha thứ chỉ bởi vì đó là một việc nên làm. Tha thứ cũng không có nghĩa là ta phải miễn cưỡng gần gũi những người mà ta cần giữ khoảng cách, hoặc quay về quá khứ để sửa đổi lỗi lầm. Đơn giản, tha thứ là sẵn sàng sống với thực tại mà không đay nghiến hay phán xét những sai lầm đã qua. Trước khi tha thứ, hãy dành thời gian để cảm nhận và thấu hiểu cặn kẽ tất cả những khúc mắt trong lòng và để tâm hồn tự tháo bỏ những rào cản đó. Khi thực tâm tha thứ cho người khác, tâm hồn ta sẽ được giải phóng, trí óc ta sẽ không còn vướng bận nỗi đau quá khứ. Tất cả sẽ được bỏ lại sau lưng.

Chúc bạn…

Đủ hạnh phúc để trở nên ngọt ngào,

Đủ thử thách để trở nên mạnh mẽ,

Đủ nỗi đau để giữ bạn là con người,

Đủ hy vọng để bạn hạnh phúc,

Đủ thất bại để bạn khiêm tốn,

Đủ thành công để bạn khao khát,

Đủ bạn bè để mang lại cho bạn nguồn an ủi,

Đủ giàu có để đáp ứng những nhu cầu của bản thân,

Đủ háo hức để mong chờ,

Đủ niềm tin để xua đi muộn phiền,

Đủ quyết đoán để làm mỗi ngày trở nên tốt hơn hôm qua.

Sự tha thứ chính là món quà cuộc sống mang lại cho bạn!

Bạn hãy nhận thêm nhiều món quà và tặng người khác nhiều hơn nữa để thấy giá trị cuộc sống nhé!

Sưu tầm

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 4

CẢM TÁC NỖI LÒNG LƯU DÂN

Đông viễn xứ tiện nghi đầy đủ
Nhớ quê hương ấp ủ nổi sầu
Bắc phương lạnh rét tuyến đầu
Se lòng xót dạ gởi câu ân tình …
Bạch Vân Nhi

Đời như cánh phù bình trôi nổi
Chốn viễn phương ruột nhói tơ oằn
Nhớ về cố nội buâng khuâng
Chạnh lòng ai có biết chăng chạnh lòng
Nguyệt Lê

Thương đời trăm mối tơ vò
Người đau ta cũng xót cho cảnh trần
Tuy rằng do bởi Phước phần
Bao nhiêu giọt lệ khóc thân phận nghèo ?

Bạch Vân Nhi

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 3

Dưa Gang và Mướp Đắng

QUẢ DƯA GANG TRONG VÀNG NGOÀI TRẮNG
QUẢ MƯỚP ĐẮNG TRONG TRẮNG NGOÀI XANH…
(Ca Dao Việt Nam)

Vợ tưới bón bụi thanh long thế nào không biết mà bỗng dưng từ gốc thanh long mọc lên một dây leo. Cái dây leo thân thì khẳng khiu mà lá lại toả rộng rất tươi mát. Trông nó yếu ớt thế mà một ngày kia tôi khám phá ra nó không những leo gần kín bụi thanh long mà còn leo đầy cánh cổng vườn khiến cổng không mở được. Hơn thế nữa, nó lại tìm cách chui qua một cái khe tường rất hẹp để phát triển thành một dây nữa phía bên kia tường, cũng xanh tươi không kém cái thân chính bên ngoài.

Hai vợ chồng bàn cãi xem đây là cây gì. Chồng bảo đây là cây dại. Vợ cãi: “Dại gì mà dại! Nó tinh khôn như thế mà bảo là dại à?” Chồng bảo: “Vậy chắc nó là cây mướp.” Vợ lại cãi: “Mướp gì mà mướp! Cái lá nó bé tí hĩn thế này thì làm sao mà mướp được!” Chồng thua, ngồi im. Vợ mơ màng: “Đây là một thứ cây đặc biệt, Trời cho. Chắc là sẽ ra quả quý, trần gian ít thấy!” Chồng để yên cho vợ tha hồ mà mơ tưởng… hão.

Chẳng bao lâu, dây leo nở hoa vàng. Rồi cũng chẳng bao lâu sau đó, hoa kết thành quả; mà là quả mướp đắng, bà con miền Nam kêu là trái khổ qua! Quả mướp đắng phát triển thần tốc, đến một ngày chồng ra thăm nó, thấy nó to tướng, mới kêu “ối” lên một tiếng. Vợ tưởng chồng gặp tai nạn gì, thí dụ như bị sâu rụng xuống đầu hay kiến cắn ngón chân (chồng nhát như cáy) bèn chạy ù ra cứu, hoá ra là quả mướp đắng, liền nguýt chồng một cái rồi trịnh trọng rước mướp đắng vào nhà. Vợ thấy cái quả này to quá, mới lấy thước ra đo. Chồng giằng ngay lấy quả mướp đắng, đem so nó với chai rượu, thấy nó dài và to hơn cả chai rượu. Khiếp! Dài gì mà dài thế! To gì mà to thế!

Ai trong chúng ta cũng biết: mướp đắng là khổ qua. “Khổ” có nghĩa là “đắng.” Còn “qua” có nghĩa là “quả dưa.” Bởi thế “mướp đắng” mới được gọi là “khổ qua.” Người xưa dạy rằng, xét về vị thì có bốn vị chính, là “tân, toan, cam, khổ.” Tân là cay. Toan là chua. Cam là ngọt. Khổ là đắng. “Tân toan cam khổ” là “cay chua ngọt đắng.” Đó là vị thức ăn mà cũng là hương vị cuộc đời. Xem vậy thì đời người ta ba phần đau thương, chỉ có một phần hạnh phúc, chứ không phải “một chiều khổ cực bốn chiều say” như Hoàng Cầm viết trong “Huyền Sử – Hội Yếm Bay.”

Với ai thì không biết, nhưng “ba phần đau thương, một phần hạnh phúc” xem ra rất đúng với cuộc đời Mẹ tôi. Cả một đời bà hy sinh cho chồng con. Một tay bà chôn không biết bao nhiêu người nằm xuống, cả bên nhà mình lẫn bên nhà chồng. Thế mà lúc nào bà cũng tươi cười, lúc nào cũng mở rộng bàn tay chia sẻ. Bà chia sẻ cho đến giây phút cuối, tươi cười cho đến giây phút cuối, khi Chúa gọi bà về năm bà 103 tuổi.

Mẹ tôi, người nhỏ bé, vậy mà ý chí và sức mạnh nội tâm của bà thật phi thường. “Quả mướp đắng trong trắng ngoài xanh,” câu ca dao này có hai hướng cắt nghĩa khác nhau, hướng tích cực và hướng tiêu cực. Với Mẹ tôi, câu này được cắt nghĩa theo hướng tích cực: đừng nghĩ người bà bỏ bé thì nghị lực bà yếu đuối, cũng như đừng nghĩ bên ngoài quả khổ qua màu xanh thì ruột nó cũng xanh. Bố tôi mất sớm, một tay Mẹ tôi nuôi dạy chúng tôi, như dây khổ qua nuôi quả khổ qua. Quả càng lớn thì dây càng héo hắt. Khi tất cả quả đã to lớn đẫy đà thì cũng là lúc dây khổ qua tàn héo. Mẹ tôi và các bà mẹ Việt Nam đều là dây khổ qua cả.

Chiều hôm nay vợ tôi nấu canh khổ qua nhồi thịt. Khi bổ trái khổ qua “lớn hơn chai rượu” ra thì chúng tôi mới biết nó đã bắt đầu già. Ruột khổ qua trắng, nhưng khi già nó chuyển sang màu đỏ. Các bà mẹ Việt Nam càng già thì lòng càng son càng thắm.

Vợ chồng chúng tôi ăn canh khổ qua mà thổn thức nghĩ đến Mẹ chúng tôi.

Quyên Di

 

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 4

Chiếc vòng của Mẹ

Tại một ngôi trường tiểu học trong một thị trấn nhỏ ở Hoa Kỳ hôm nay là ngày đầu tiên khai giảng cho năm học mới. Cô Thompson là giáo viên phụ trách dạy lớp Năm. Cô giáo đứng trước các học sinh trong lớp học của mình và tương tự như các giáo viên khác, cô cũng nhìn khắp lượt vào các em học sinh và nói là cô sẽ thương yêu tất cả các học trò của cô như nhau, không có sự phân biệt nào cả. Cô đã nói với các đứa trẻ này điều đó, một điều mà cô tự biết là không thật lòng và cô biết là mình sẽ không thực hiện được.

     Lý do không thể thực hiện đươc bởi vì cô đã nhìn thấy ngồi lù lù ngay dãy bàn học ở hàng đầu trong lớp là cậu Teddy Stoddard. Năm ngoái cô đã từng lưu ý tới cậu học trò nhỏ này và nhận thấy cậu ta thường chơi với đám bạn cùng lớp không được đàng hoàng. Teddy có vẻ không được ai ưa thích cả. Đã thế ăn mặc áo quần thì luộm thuộm lại thêm thân người không được sạch sẽ có lẽ vì lười biếng trong chuyện tắm rửa. Trong hồ sơ học bạ của Teddy vào năm ngoái cô Thompson còn ghi chú bằng bút đỏ, viết một chữ thập X rõ đậm nét vào đó. Rồi cô còn ghi thêm một chữ thật lớn nữa là F, hạng kém ngay phần phía trên đầu tờ giấy.

     Ở trường tiểu học của cô Thompson ở thị trấn này thì theo thông lệ vào mỗi đầu năm học các giáo viên đều phải xem lại quá trình học tập của từng học sinh trong những năm trước đó. Cô giáo Thompson đã nhét hồ sơ của Teddy xuống cuối cùng mới mở ra xem. Tuy thế khi đọc hồ sơ xong thì cô lại tỏ ra rất là ngạc nhiên.

     Trong hồ sơ, cô giáo dạy lớp Một đã đưa ra nhận xét rằng “Teddy là một học sinh thông minh và cười luôn miệng. Học giỏi và tính tình dễ thương… thường đem lại nguồn vui cho mọi người xung quanh”.

     Cô giáo dạy lớp Hai thời ghi rằng: “Teddy là một học sinh xuất sắc. Được cảm tình của các bạn bè học cùng lớp. Em đang lo âu vì bà mẹ bị đau ốm nặng sắp chết và cuộc sống gia đình của em thật sự quả là một sự phấn đấu”.

     Cô giáo phụ trách lớp Ba thì lại viết rằng: “Cái chết của mẹ Teddy đã gây ra khó khăn cho em. Tuy em đã cố gắng học hành, nhưng Bố em thì lại tỏ ra không quan tâm. Nếu em không được trợ giúp thì đời sống gia đình sẽ sớm ảnh hưởng đến em”.

     Cô giáo lớp Tư ghi: “Teddy tỏ ra lơ đãng, thiếu quan tâm, không hăng hái trong việc học tập. Cũng không có nhiều bạn bè. Thỉnh thoảng em còn ngủ gục trong lớp”.

     Cô giáo viên Thompson của lớp Năm đọc hồ sơ đến đây thì cô bỗng như nhận thức được ra vấn đề và cô cảm thấy tự hổ thẹn cho chính bản thân mình.

     Trong mùa Giáng Sinh giáo viên Thompson được đám học trò trong lớp đưa tặng quà. Những món quà này đều được bọc lại bằng giấy đủ màu sắc và có gắn thêm nơ thật đẹp. Cô rất áy náy khi nhận món quà của Teddy vì món quà của em thì lại gói vụng về bằng loại giấy màu nâu thường được dùng để gói thực phẩm. Khi mở gói quà của Teddy ra cùng lúc với các món quà khác thời cô cảm thấy đau trong lòng. Cô giơ lên cho các học sinh thấy món quà là một chiếc vòng đeo tay đã cũ có gắn kim cương giả, đã rơi mất vài hột và một lọ nước hoa nhỏ chỉ còn lại khoảng một phần tư.

     Có tiếng cười có vẻ chế giễu của vài học sinh trong lớp nhưng những tiếng cười đó đã bị dập tắt luôn khi cô giáo lớn tiếng khen chiếc vòng đeo tay là đẹp và sau đó đeo ngay cái vòng đó vào tay đồng thời lại còn lấy một chút nước hoa trong lọ và bôi lên cổ tay nữa.

     Bữa đó sau giờ tan học, cậu bé Teddy đã ở nán lại một lúc. Cậu lên cạnh bàn cô giáo và khẽ thưa rằng: “Thưa cô, hôm nay con thấy cô cũng thơm y như Mẹ con thời trước vậy đó!”

     Lúc các học sinh ra khỏi lớp và đã đi về hết, cô giáo viên Thompson ngồi lại một mình, khóc gần cả tiếng đồng hồ. Từ dạo ấy, cô giáo không còn đơn thuần chỉ dạy các môn Toán, dạy Văn và dạy viết lách cho đám học sinh, mà cô còn bắt đầu lưu tâm tới việc “giáo dục” lũ trẻ nữa. Cô khởi sự giảng giải cho các em về cuộc sống. Cô dạy dỗ bọn trẻ. Cô đã không giảng những bài như thường lệ trước kia nữa. Cô bỏ qua những bài tập viết và cả môn số học.

     Từ dạo đó, cậu Teddy như đuợc hồi sinh. Em càng ngày càng học giỏi hơn thêm. Và chẳng mấy chốc em đã trở thành một trong những học sinh xuất sắc của lớp vào cuối năm học đó. Cũng chính ngay từ hôm đó, ngoài việc dạy học cô giáo Thompson còn đặc biệt lưu tâm chăm sóc cho Teddy. Mỗi khi được cô giáo chỉ dẫn thêm hình như em lại càng lên tinh thần. Cô giáo càng khuyến khích, em càng tiến bộ nhanh lên thêm nữa.

     Kết quả là vào cuối năm học, Teddy đã trở thành một trong những học sinh xuất sắc nhất lớp. Và quả đúng như trái ngược với lời nói không chân thật của cô lúc đầu năm học là cô sẽ yêu thương mọi em học sinh như nhau, Teddy giờ đây đã trở thành một trong những học trò được cô giáo cưng nhất.

     Một năm trôi qua. Cô giáo nhận được một mẩu giấy của Teddy nhét dưới khe cửa. Trong giấy em thưa với cô rằng: “Cô là cô giáo tuyệt vời nhất trong suốt cuộc đời của em”.

     Sáu năm trời trôi qua sau đó. Cô giáo lại nhận được một bức thư ngắn của Teddy gửi tới. Trong thư em cho biết là em đã học xong bậc trung học và đuợc xếp hạng đứng thứ ba trong lớp. Em viết rằng: “Cô vẫn là cô giáo tuyệt vời nhất trong suốt cuộc đời của em.”

     Bốn năm trời nữa lại trôi qua. Cô giáo lại nhận được thêm một lá thư khác của Teddy. Thư nói rằng dù hoàn cảnh nhiều khi gặp trở ngai, đôi lúc tưởng chừng như bế tắc, em vẫn quyết tâm theo học tới cùng, quyết chí mong sao sớm tốt nghiệp được bậc đại học với thứ hạng xuất sắc nhất. Em viết rằng: “Cô vẫn còn là cô giáo tuyệt vời nhất và là người thầy mà em yêu quý nhất trong suốt cả cuộc đời”.

     Rồi thêm bốn năm sau nữa lại trôi qua. Cô giáo vẫn nhận được thư gửi tới. Trong lá thư lần này Teddy báo tin cho cô biết là cậu đã đậu xong văn bằng Cử Nhân. Cậu đang học thêm lên bậc cao nữa. Thư vẫn ghi rằng: “Thưa cô, cô vẫn là người thầy tuyệt vời và trân quý nhất của cuộc đời em!”. Nhưng giờ đây tên của cậu đã dài hơn một chút rồi vì cuối bức thư ký tên là: “Theodore F. Stoddard, bác sỹ”.

     Câu chuyện tới đây vẫn chưa tới hồi kết thúc. Vẫn lại còn một bức thư nữa được gửi đến cho bà giáo Thompson. Trong thư bác sỹ Teddy thưa là anh đã gặp gỡ một cô bạn gái, đôi bên tâm đầu ý hợp và anh chuẩn bị làm đám cưới với cô ta. Anh cho biết Mẹ anh thì qua đời đã lâu, còn ông Bố lại mới vừa chết cách đây mấy năm nên anh thiết tha mong bà giáo Thompson sẽ nhận lời đến tham dự lễ cưới của anh và sẽ ngồi ở vị trí danh dự vốn thường hay được dành riêng cho Mẹ chú rể.

     Tất nhiên là bà giáo Thompson chấp thuận đề nghị này. Ngày cưới hôm đó bà giáo đeo chiếc vòng kim cương giả, cái vòng đã bị rớt mất vài hột mà ngày xưa cậu học trò nhỏ đã biếu làm quà tặng. Hơn nữa bà giáo còn cố tình bôi thêm một chút nước hoa trong cái lọ nhỏ, cũng vẫn là quà tặng thuở xa xưa. Cái loại nước hoa này tỏa mùi thơm thoang thoảng mà Teddy nói là Mẹ cậu đã bôi vào lễ Giáng Sinh cuối cùng của hai mẹ con trước khi Mẹ từ giã cõi đời.

     Anh bác sỹ trẻ và bà giáo Thompson ôm nhau mừng rỡ. Bác sỹ Stoddard khẽ nói thầm vào tai bà Thompson: “Cám ơn cô Thompson đã có lòng tin tưởng vào nơi em. Cám ơn cô rất nhiều vì cô đã làm cho em cảm thấy mình quan trọng. Chính nhờ cô mà em có niềm tự tin rằng bản thân mình sẽ có thể đổi khác. Chính niềm tin đó đã tạo ra sự khác biệt lớn lao giúp em thay đổi cả cuộc đờinhư ngày nay.”  

     Bà Thompson vừa đầm đìa giọt lệ vừa nói nhỏ với chú rể:“Teddy, em lầm rồi. Chính em mới là người đã dạy cho tôi biết rằng tôi đã có thể đổi khác đi. Tôi đã không biết cách dạy học cho tới khi được gặp em đó. Chính nhờ gặp em, tôi mới biết thế nào là “giáo dục”.

(Tâm Minh Ngô Tằng Giao phóng tác)

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 6

Ngẫu nhiên hay tất nhiên

Một buổi trà dư tửu hậu, tôi cùng vài người bạn tán gẫu chuyện trên trời đưới đất một hồi thì anh Bình chuyển sang đề tài tu hành khi thấy có một tốp đàn ông, phụ nữ và trẻ em mặc đồ lam đi qua, anh nói:

– Hiện nay người tu hành tụng kinh niệm Phật ngày càng nhiều, vào những ngày mười bốn-rằm-hăm chín-ba mươi các quán ăn chay thực khách đông nghẹt có quán không đủ chỗ ngồi. Thời mạt pháp, đạo đức xuống cấp mà được như vậy là điều đáng mừng.

Điền cười:

– Người ta ăn chay niệm Phật là chuyện bình thường, con heo con bò nghe kinh hướng Phật mới là chuyện lạ hiếm thấy.

Bình nhìn Điền, nghiêm túc nói:

– Nè! Anh có thấy không? Có thấy mới nói chớ đừng đặt chuyện tiếu lâm bôi bác phỉ báng đạo Phật tội lỗi lắm nghen?

Điền tự tin:

– Nói có sách mách có chứng đàng hoàng. Tui không thấy nhưng con tui coi trên mạng kể lại cho tui nghe. Nó còn nói có cả hình ảnh và video clip gì nữa đó?

Bình quay qua hỏi Út Bích như để xác minh lời Điền:

-Anh thường xuyên xem tin tức trên mạng có thấy hai chuyện đó không?

Út Bích gật đầu nói có, Bình đề nghị anh ấy kể lại cho cả bọn nghe, Út Bích kể lại mạch lạc cụ thể:

-Chuyện thứ nhứt xảy ra lại làng Thần Đầu thuộc thành phố Ôn Châu tỉnh Chiết giang bên Trung quốc. Ông nông dân tên Hoàng nuôi con heo nặng 150k, hôm đó ông ta chuẩn bị bắt nó làm thịt bán nhưng nó xổng chuồng chạy đến sân một ngôi chùa cách đó khá xa, trong chùa đang có khóa lễ tụng kinh, nó bèn quì hai chân trước, đầu và hai tai hướng vào trong chùa như để nghe kinh. Ông Hoàng đến bắt nó về nhưng nó không chịu đứng dậy, đánh đập thế nào nó cũng trơ trơ, thấy thế chư tăng trong chùa ra tụng bài Bát Nhã Tâm Kinh cho nó nghe nó mới chịu đứng dậy đi theo ông Hoàng về nhà và bị ông ấy mần thịt!

Bình chắc lưỡi, thương tiếc:

-Tội nghiệp! Nếu là tui, tui sẽ nuôi nó tới già tới chết rồi đem chôn chớ không ăn thịt. Còn con bò? Số phận nó có bi đát như con heo không?

Út Bích tiếp tục kể:

-Chuyện thứ hai xảy ra tại chùa Pháp Hải ở ấp 2 xã Hưng Long huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh. Một thương lái mua một con bò về mần thịt bán, ông ta dẫn nó ngang chùa Pháp Hải, nó bỗng dưng đứng lại không chịu đi nữa. Ông lái và nhiều người khác dùng đủ mọi biện pháp để dẫn dắt, lôi kéo nó đi, xô đẩy nó lên xe tải nhưng bốn chân nó như trồng sâu xuống đất không cách nào lay chuyển được!. Thấy vậy, tăng ni trong chùa bèn ra tụng kinh, qui y Tam bảo cho nó, nó bèn quì xuống như nhận chịu. Sau đó tăng ni đề nghị với ông lái cho họ mua lại con bò và nhờ một phật tử cạnh chùa nuôi hộ tới giờ.

Bình vừa hân hoan vừa trách móc:

-Hoan hô tay lái bò sáng suốt, ít ra cũng phải như vậy chớ có đâu u mê vô cảm như lão Hoàng nào đó?. Đạo Phật cấm chúng ta sát sinh là muốn chúng ta chăm sóc, nuôi dưỡng và phát triển lòng từ bi, tính công bằng. Người có lòng từ bi, tính công bằng mới quí trọng sinh mạng chúng sinh, mới thương yêu, giúp đỡ và sẻ chia khổ đau bất hạnh của chúng sinh. Phật dạy “tất cả chúng sinh đều có Phật tính”, do có Phật tính nên con heo mới hướng về chánh pháp để mong giải thoát kiếp súc`sinh, đáng lẽ lão ta tôn trọng sinh mạng nó, thương yêu giúp đỡ nó được toại nguyện như con bò, cớ sao lại giết nó, không phải đáng trách lắm sao?

-Nghe đâu sau đó ông Hoàng hối hận lắm. Bích nói.

Đức, cựu giáo viên trung học bật cười, nói:

-Vật dưỡng nhơn mà mấy anh, tội nghiệp hối hận giống gì? Cấm sát sinh là cấm giết người chứ đâu cấm giết heo bò, anh Bình đừng mượn lời Phật dạy rồi đánh đồng con người với thú vật. Con người là con người, thú vật là thú vật, ranh giới rõ ràng chứ không lẫn lộn được. Chỉ có con người mới có khả năng thấu triệt giáo lý cao siêu của đức Phật, mới có điều kiện tu hành theo lời dạy bảo của Ngài. Còn thú vật ăn dơ ở dáy, không biết tiếng người, không đọc được kinh kệ, không biết tu hành thì làm sao gọi là chúng sinh được?. Tui cũng biết hai chuyện đó cho nên tui nghĩ con heo con bò quì trước cửa chùa là do chúng thiếu Vitamin E nên bị tê chân đau móng đi không nổi rồi dừng lại một cách ngẫu nhiên chứ không phải do có Phật tính và dừng lại nghe kinh..

Bình nín thinh, tôi trả lời thay anh ấy:

-Có thể anh đã hiểu nhầm, anh Đức? Thuật ngữ chúng sinh của nhà Phật không phải chỉ riêng con người mà chỉ chung bốn loài hữu tình gồm thai sinh, noãn sinh, hóa sinh và thấp sinh. Như vậy, từ con người đến các con heo bò, gà vịt, ong bướm, trùn dế, vân vân, đều là chúng sinh. Bên khoa học gọi chung là động vật và xếp loại thành từng bậc từ thấp đến cao tùy theo lối sống, nếp sinh hoạt và sự biểu hiện tình cảm xúc cảm với nhau của từng loài. Loài người là động vật cao cấp nhất, khôn ngoan hơn, thông minh hơn các loài khác. Ỷ lại vào đó, loài người tìm đủ mọi cách khống chế các loài khác, bắt chúng phục vụ cho mình rồi bảo vật dưỡng nhơn? Nếu thật vậy thì khi ta bắt chúng mần thịt, chúng phải ngoan ngoản vâng lời chứ đâu có chạy trốn, giãy giụa thoát thân và kêu la inh ỏi?

Tôi ngừng lại uống ngụm nước, Út Bích xin phép tôi cho anh ấy có ý kiến với Đức:

-Hồi nãy anh nói con heo con bò quì trước cửa chùa là sự trùng hợp ngẫu nhiên do chúng bị tê chân đau móng đi không nổi chứ không phải do chúng có Phật tính rồi dừng lại nghe kinh?.Tui xin trao đổi với anh điều nầy. Nói đến ngẫu nhiên không thể không nói đến tất nhiên vì chúng là một cặp phạm trù triết học. Giải thích dài dòng nên tui rút gọn ý chính cho nhanh. Tất nhiên là cái xuất hiện bên trong sự vật, nhất định xảy ra; ngẫu nhiên là cái xuất hiện bên ngoài sự vật, khi xảy ra khi không. Cả hai đều không tồn tại độc lập mà liên hệ hữu cơ với nhau tạo thành một thể thống nhất, cho nên trong bất cứ một hiện tượng, một quá trình nào cũng đều có sự thống nhất giữa tất nhiên và ngẫu nhiên. Do đó, nói theo anh thì tê chân đau móng xuất hiện bên trong là tất nhiên, đi không nổi xuất hiện bên ngoài là ngẫu nhiên. Còn nói theo anh Bình thì Phật tính xuất hiện bên trong là tất nhiên, hành động hướng Phật nghe kinh xuất hiện bên ngoài là ngẫu nhiên, đúng không?

Đức gật đầu, Út Bích nhìn lướt qua chúng tôi rồi tiếp:

-Chắc các anh đều thấy bất cứ con vật nào khi bị đánh đập đều bỏ chạy hết, nếu bị trói buộc hay bị tê chân đau móng chúng cũng giãy giụa bứt phá và bò lết thoát thân. Con heo con bò nầy lại khác, chúng không bứt phá, bò lết thoát thân mà cứ quì tại chỗ chịu trận và chỉ đứng lên đi lại bình thường sau khi được các tăng ni tụng kinh cho nghe! Chi tiết nầy rất thú vị, đáng đồng tiền bát gạo vì nó cho thấy chúng không hề bị tê chân đau móng và không phải đi không nổi. Như vậy, trong một hiện tượng mà không có tất nhiên ngẫu nhiên thì anh lấy gì làm cơ sở để kết luận đó là hiện tượng ngẫu nhiên? Ngược lại, không bị tê chân đau móng, không phải đi không nổi thì động lực nào thúc đẩy chúng quì trước sân chùa? Câu trả lời chắc chắn là do Phật tính nên chúng mới quì xuống hướng Phật nghe kinh. Điều nầy cũng phù hợp với cặp phạm trù vì có sự thống nhất giữa cái xuất hiện bên trong với cái xuất hiện bên ngoài, cho nên tui khẳng định đó là hiện tượng tất nhiên, nhất định xảy ra. Tui cũng xin nói thêm trường hợp nầy, khi bị đánh đập, nếu con heo con bò bứt phá, bò lết thoát thân thì chẳng những tui mà tất cả chúng ta đều cho đó là sự trùng hợp ngẫu nhiên, các anh thấy đúng không?

Tôi và các bạn đều đồng tình, trao đổi thêm một lúc nữa mới chia tay.

Ở đời không có việc gì không thể xảy ra. Và, một khi cái việc tưởng chừng không thể đó xảy ra khiến người ta bàng hoàng, bán tín bán nghi dù được chứng kiến tận mắt. Thật ra, hơn hai ngàn năm trăm năm trước Phật Thích Ca đã phát hiện chuyện nầy và chỉ cho chúng sinh biết, do tâm vọng động, nghiệp chướng phiền não chưa dứt nên chúng sinh cứ mãi trôi lăn trong lục đạo, luân hồi. Kinh Hoa Nghiêm.đã viết rõ ràng “…tham dục chẳng ngừng, luôn luôn si tưởng là pháp giới của súc sinh” và “…tham dục đã dứt, si tưởng chẳng sanh thì tâm súc sinh được liễu”. Tuy nhiên, do vô minh che khuất, căn cơ thấp kém thành thử chúng sinh vẫn còn bán tín bán nghi trước những hiện tượng như con heo con bò kể trên.

Thời gian qua, khoa học hiện đại đã khám phá nhiều điểm tương đồng giữa giáo lý Phật giáo và khoa học. Hy vọng trong tương lai không xa, khoa học sẽ có thêm những phát hiện mới cho sự thật hiển bày, xua tan nghi hoặc, đem lại niềm tin cho chúng sinh tinh tấn tu hành, phá bỏ vô minh, chứng đắc đạo pháp./

        TRƯƠNG HOÀNG MINH

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 11

NHIỆM MẦU

Thiêng liêng mầu nhiệm ánh dương tràn ,
Ban rải tình thương đến muôn vàn,
Diễn giảng kinh vàng lan khắp chốn,    
Hoàng dương chánh pháp dứt kêu than.

Tâm hương khấn nguyện cả lòng thành,
Đạo nghiệp rèn tâm tạo bước nhanh
Chuyển hóa tâm mê về nẻo giác
Phước tuệ công phu mãi song hành.

Sống chốn trần gian thấy hữu duyên,
Đèn soi bát Nhã bớt oan khiên,
Lỗi lầm sám hối nguyền thanh tịnh,
Lạc đạo nương trần tiến mãn viên.
Giáo pháp Thế Tôn thật nhiệm mầu,
Chuyển tâm qui hướng hết u sầu,
Muôn loài dìu dắt xa ba nẻo,
Lay thức quần sinh giấc ngủ sâu.
Thế Tôn thông điệp  đến trần gian,
Bản giác thường còn cố bước sang,
Vi diệu Pháp thân tràn khắp nẻo,
Trang nghiêm cảnh Phật hướng lên đàng.
Linh thiêng thông điệp đấng Cha hiền,
Lợi lạc nhân gian khắp mọi miền,
Trí huệ từ bi xua biển khổ,
Tịnh bình rưới mát bớt oan khiên.
Trang nghiêm lễ Phật con xin nguyện,
Đạo cả huân tu sống kết duyên.
Vạn pháp duyên sanh là vốn huyển.
Nương theo phương tiện đến mãn viên.
                    Minh Đạo
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 9

Các nhà khoa học của đạo Hồi

Trong hai bài biên khảo về đạo Hồi lần trước, tác giả Phạm Văn Tuấn đã cho chúng ta biết rõ thêm về Hồi Giáo, một trong ba tôn giáo lớn có cùng nguồn gốc và cùng phát xuất từ vùng xa mạc của Trung Đông là Do Thái Giáo, Thiên Chúa Giáo và Hồi Giáo.
Vào thời cực thịnh của đạo Hồi, kéo dài từ thế kỷ thứ 9 cho tới thế kỷ 14, đạo Hồi đã có các nhà vật lý học, hóa học, toán học, thiên văn học, địa dư học… họ không những làm sống lại nền Khoa Học của xứ Hy Lạp mà còn nới rộng, đào sâu, xây dựng nền móng của nhiều bộ môn kiến thức ngày nay.
Nền văn minh và văn hóa của đạo Hồi đã suy tàn do cuộc xâm lăng của quân Mông Cổ đánh chiếm thành Baghdad vào năm 1258, và do các nhân vật Hồi giáo chính thống (orthodox Muslims) trong các thế kỷ về sau đã dùng quyền lực và uy tín để chống lại các cải cách và tiến bộ.
Đặc San Lâm Viên mời quý vị đọc bài biên khảo của tác giả Phạm Văn Tuấn về “Các Nhà Khoa Học Của Đạo Hồi” để biết thêm về khía cạnh khoa học rất đặc sắc của tôn giáo này.
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 10

10 đại cao thủ trong tiểu thuyết Kim Dung

Với 15 bộ tiểu thuyết, Kim Dung ghi dấu trong lòng bạn đọc nhiều thập niên khi xây dựng một thế giới võ hiệp đa sắc màu. Nhìn chung, các bậc đại cao thủ trong truyện Kim Dung phân chia thành hai phe: chính hoặc tà. Với chính phái, đó là những đại hiệp xả thân vì dân, cứu vớt kẻ yếu, còn tà phái là những nhân vật mưu mô, thâm hiểm với trí tuệ trác tuyệt. Ngoài ra, một số cao thủ có danh phận khiêm tốn hoặc chỉ được hồi tưởng qua ký ức của những nhân vật khác.

Vô danh thần tăng – Thiên long bát bộ

Nhà sư quét lá (Tảo địa thần tăng) trong Thiên long bát bộ (1963) là một trong những nhân vật được đề cập nhiều ở các cuộc bàn luận đi tìm đệ nhất cao thủ của truyện Kim Dung. Trong truyện, ông được miêu tả là nhà sư quét dọn Tàng Kinh Các của Thiếu Lâm Tự. Ông xuất hiện trong bộ áo cà sa sờn cũ nhằm hòa giải ân oán giữa Tiêu Viễn Sơn – cha của Tiêu Phong – và Mộ Dung Bác – cha của Mộ Dung Phục.

Nhà sư vô danh (trái) trong phim Thiên long bát bộ năm 2003.
Nhà sư vô danh (trái) trong phim ‘Thiên long bát bộ’ năm 2003.

Võ công của Vô danh thần tăng được miêu tả: một tay đỡ đòn Hàng Long Thập Bát Chưởng của Tiêu Phong, hai tay đánh gục Tiêu Viễn Sơn và Mộ Dung Bác. Không chỉ đạt cảnh giới võ học tối cao, nhà sư này còn am tường Phật pháp, y lý, khiến các cao tăng đại đức trong chùa cũng phải nghiêng mình kính phục.

Độc Cô Cầu Bại – Thần điêu hiệp lữ

Độc Cô Cầu Bại không hiện diện trực tiếp trong tiểu thuyết mà chỉ được hồi tưởng qua lời kể của các hậu bối. Ông được đề cập trong hai bộ tiểu thuyết Thần điêu hiệp lữ, Tiếu ngạo giang hồ và được nhắc đến ngắn gọn trong bộ Lộc đỉnh ký. Danh xưng Độc Cô Cầu Bại hàm ý về một cao thủ cô độc vì đã đạt đến trình độ đệ nhất, chỉ mong được một lần bại trận trong đời. Cuối đời, ông chết trong buồn bã ở một sơn cốc, sau khi chôn các thanh kiếm tại kiếm mộ cùng các chú giải về triết lý dùng kiếm.

Môn kiếm thuật đắc ý của ông là Độc Cô cửu kiếm cùng triết lý võ công “vô chiêu thắng hữu chiêu”. Các nhân vật có thể coi là truyền nhân của Độc cô cầu bại là Dương Quá (Thần điêu hiệp lữ), Phong Thanh Dương và Lệnh Hồ Xung (Tiếu ngạo giang hồ).

Đông Phương Bất Bại – Tiếu ngạo giang hồ

Là nhân vật phản diện số một trong tiểu thuyết Tiếu ngạo giang hồ, Đông Phương Bất Bại là giáo chủ của Nhật Nguyệt thần giáo – môn giáo bị xem là tà phái. Nhân vật này nổi tiếng với Quỳ Hoa bảo điển – võ học có cùng nguồn gốc với Tịch tà kiếm pháp. Trong truyện, Đông Phương Bất Bại được miêu tả là đệ nhất cao thủ. Một mình Đông Phương Bất Bại đánh bại ba cao thủ Lệnh Hồ Xung, Nhậm Ngã Hành, Hướng Vấn Thiên. Sau đó, vì bảo vệ người tình, nhân vật này chết dưới tay Nhậm Ngã Hành. Trên màn ảnh, Đông Phương Bất Bại là vai kinh điển do Lâm Thanh Hà đóng trong phim Tiếu ngạo giang hồ năm 1992.

Lý Liên Kiệt - Lâm Thanh Hà trong "Tiếu ngạo giang hồ" bản điện ảnh

Lý Liên Kiệt – Lâm Thanh Hà trong “Tiếu ngạo giang hồ” bản điện ảnh.

Trương Tam Phong – Ỷ thiên Đồ long ký

Trương Tam Phong là một trong những nhân vật có thật trong lịch sử Trung Hoa, được Kim Dung đưa vào sách. Ông tên thật là Trương Quân Bảo, lần đầu xuất hiện trong truyện Thần điêu hiệp lữ. Ông được sư phụ – Giác Viễn đại sư – truyền dạy một phần của Cửu Dương chân kinh. Cộng thêm với trí tuệ trác tuyệt, ông lập nên phái Võ Đang.

Cụ ông 82 tuổi đóng Trương Tam Phong trong Ỷ thiên Đồ long ký 2018.
Cụ ông 82 tuổi đóng Trương Tam Phong trong “Ỷ thiên Đồ long ký 2018”.

Trong truyện Ỷ thiên Đồ long ký, Kim Dung miêu tả ông là bậc tôn sư võ học ngoài 100 tuổi, nội công đã đạt đến “lô hỏa thuần thanh” (lửa trong lò đã hóa màu xanh, ngụ ý chỉ cảnh giới tối cao). Những năm cuối đời, ông sáng tạo ra môn Thái cực quyền và Thái cực kiếm. Nguyên lý của môn này lấy tĩnh chế động, lấy nhu khắc cương, tương phản với võ học đương thời.

Vương Trùng Dương – Anh hùng xạ điêu

Vương Trùng Dương xuất hiện lần đầu trong bộ Anh hùng xạ điêu, được miêu tả là người sáng lập phái Toàn Chân, từng nắm giữ Cửu Âm chân kinh – võ học cao nhất thời bấy giờ. Trong lần luận kiếm thứ nhất ở Hoa Sơn, ông đứng đầu trong “võ lâm ngũ bá” với ngoại hiệu Trung Thần Thông. Bốn cao thủ – Đông Tà, Tây Độc, Nam Đế, Bắc Cái – đều khuất phục trước ông. Ở bộ Thần điêu hiệp lữ, nhân vật này tiếp tục được nhắc đến ở tình tiết Dương Quá đọc được một số võ công Cửu Âm chân kinh khắc trên tường đá Cổ Mộ. Ngoài đời, ông là nhân vật có thật – một đạo sĩ sống vào thế kỷ 12, đời nhà Tống.

Tiêu Phong – Thiên long bát bộ

Tiêu Phong là một trong bộ ba nhân vật chính của Thiên long bát bộ, bên cạnh Đoàn Dự và Hư Trúc. Từng là bang chủ Cái Bang, ông nổi tiếng với Hàng Long Thập Bát Chưởng, là người rút gọn bộ chưởng pháp này từ 28 chiêu xuống còn 18 chiêu. Nhờ nền tảng nội lực thâm hậu và năng khiếu võ học, những môn nào ông thi triển đều đạt uy lực tối cao. Võ công của Tiêu Phong được miêu tả kỹ trong trận ác chiến tại Tụ Hiền Trang và chùa Thiếu Lâm.

Tiêu Phong đại chiến ở Tụ Hiền Trang phiên bản năm 2003

Tiêu Phong đại chiến ở Tụ Hiền Trang phiên bản năm 2003.

Quách Tĩnh – Anh hùng xạ điêu

Trong truyện, Quách Tĩnh vốn là chàng trai khờ khạo, nói năng vụng về. Nhờ Hoàng Dung, chàng liên tiếp được Hồng Thất Công, bang chủ Cái Bang truyền thụ Hàng Long Thập Bát Chưởng. Về sau, khi lên Đào Hoa đảo, chàng gặp Chu Bá Thông, được truyền thụ hai môn võ lợi hại là Song Thủ Hỗ Bác, bảy mươi hai lộ Không Minh Quyền và vô tình học được toàn bộ Cửu Âm chân kinh. Sang bộ Thần điêu hiệp lữ, võ công của chàng càng tiến triển, một mình chống lại binh đoàn Mông Cổ, đánh trả Kim Luân Pháp Vương – cao thủ phản diện trong truyện.

Quách Tĩnh bắn cung trong "Anh hùng xạ điêu" 2017

Quách Tĩnh bắn cung trong “Anh hùng xạ điêu” 2017.

Dương Quá – Thần điêu hiệp lữ

Là nhân vật chính của Thần điêu hiệp lữ, với tư chất thông minh, từ đầu truyện, Dương Quá nhanh chóng học được nhiều môn võ của các cao thủ như Âu Dương Phong, Hồng Thất Công, Hoàng Dược Sư… Nhờ chỉ dẫn của thần điêu, Dương Quá biết được cách luyện công của tiền bối Độc Cô Cầu Bại. Từ đó, võ công chàng tăng tiến, đạt đến cảnh giới rất cao. Trong 16 năm chờ đợi Tiểu Long Nữ, Dương Quá đã sáng tạo ra môn võ công Ám Nhiên Tiêu Hồn Chưởng, sau đó đánh bại Kim Luân Pháp Vương trong trận chiến Tương Dương. Trong cuộc Hoa Sơn luận kiếm lần thứ ba, Dương Quá được tôn là Tây Cuồng – một trong Thiên hạ ngũ tuyệt (thay thế cho danh xưng Võ lâm ngũ bá).

* “Thần điêu đại hiệp” – phim chuyển thể truyện Kim Dung

Thần điêu đại hiệp (1995)

Trương Vô Kỵ – Ỷ thiên Đồ long ký

Ở đầu truyện, Trương Vô Kỵ vốn là con trai Trương Thúy Sơn của môn pháp Võ Đang. Bị trúng độc chưởng từ nhỏ, chàng cùng Trương Tam Phong đi khắp nơi tìm phương pháp chữa trị. Bước ngoặt trong hành trình luyện võ của Trương Vô Kỵ là khi chàng vô tình tìm được Cửu Dương chân kinh – võ học trước kia Trương Tam Phong chỉ luyện được một phần. Sau đó, chàng học được Càn khôn đại na di – môn võ uy trấn của Minh giáo, võ công tiếp tục tiến triển. Vô Kỵ về sau được Trương Tam Phong truyền thụ hai môn Thái cực quyền và Thái cực kiếm, được chỉ điểm nhiều điểm bí ảo trong võ học. Cuối truyện, chàng được tôn là minh chủ võ lâm, thống lĩnh quần hùng.

Lệnh Hồ Xung – Tiếu ngạo giang hồ

Là nhân vật được yêu thích với trí thông minh, tính cách phóng khoáng, lãng tử, Lệnh Hồ Xung là bậc đại cao thủ về kiếm thuật. Chàng được thái sư thúc tổ Phong Thanh Dương truyền cho môn kiếm pháp Độc Cô cửu kiếm. Về sau, chàng mất hết võ công do trọng thương. Một lần vô tình bị giam dưới Tây Hồ, chàng học được Hấp Tinh đại pháp do Nhậm Ngã Hành ghi lại bí kíp. Từ đó, chàng chữa được chấn thương, võ công tăng vượt bậc. Sau này, Lệnh Hồ Xung còn được Phương Chứng đại sư – chưởng môn phái Thiếu Lâm – truyền cho Dịch Cân Kinh để chữa di chứng của Hấp tinh đại pháp. 

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 8

Ta tìm thấy gì ???

Tìm trong quá khứ có tương lai
Tìm hương vô tận cũng đã phai
Tìm gió chiều đông ngày cuối hạ
Nhìn nghiệp ngày nay, thương ngày mai.

Tìm trong hơi thở có tử sinh
Tìm bóng hoàng hôn lúc bình minh
Tìm trong giòng máu luân lưu gió
Nhè nhẹ ra vào, vưọt tử sinh.

Tìm trong ganh tị chút đáng thương
Gắm án mây trôi thấy trùng dương
Tô thêm Tự Ngã màu Vô Ngã
Nhìn sâu để hiểu, hiểu để thương.
Chơn Nguyên

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 11

CÁI TÔI LUÔN THAY MẶT ĐỔI TÊN

Những ngày nóng bức cuối cùng cũng đi qua. Những ngọn gió đầu thu dễ chịu vô cùng. Ngoại cảnh đang từng bước chuyển mình để thích ứng với mùa thu tới. Con người cũng phải từng bước chuyển mình để thích ứng cuộc sống mới. Sự phát triển và hoại diệt của muôn loài, sự đổi thay của ngoại cảnh. Ngay cả dòng tâm thức của con người cũng từng sát na sinh diệt . Đó không phải cuộc sống luôn đổi mới, dòng đời luôn luân lưu, trôi chảy để lúc nào cũng mới mẻ, tươi mát sao?

Nhận rõ và thấu suốt sự vận hành này, dòng chảy này để biết mình là ai và cuối cùng mình đi về đâu, không phải là Thiền sao? Đây cũng chính là  tinh thần giác ngộ mà đức Thế Tôn dạy. Nếu bên trong không thấu sự vận hành của nội tâm, ngoài không rõ được tiến trình sinh diệt của ngoại cảnh, đây là con mắt tâm chưa mở. Ta vẫn còn nhắm mắt mà đi, nhắm mắt mà sống.Trong đời thường, ta chỉ biết vay mượn mọi thứ, càng nhiều càng tốt, để tô bồi cái ta khôn ngoan, cái ta thông thái, cái ta giỏi giang của mình. Có câu chuyện Thiền rất thú vị: Sau giờ tọa thiền, trời tối, một anh thiền sinh mù, mượn cây đèn lồng của vị thầy để đi đường. Đang đi, chợt anh đụng vào một người đi ngược chiều với anh. Giận quá, anh quát: ” Bộ không thấy cây đèn người ta đang cầm sao? Người kia đáp: ” Đèn của anh tắt từ lúc nào rồi anh ơi “. Từ lúc nào, tuệ giác ta đã vắng mặt, sự nội quán không có nên thường không biết rõ về mình, về sự vận hành của tâm thức, về con người mình. Ta chỉ vay mượn những kiến thức, những kinh nghiệm bên ngoài để trang bị, khoe khoang và bảo vệ mình. Bình thường, ta thao thao không ngừng về cái thấy xa, hiểu rộng, cái vốn hiểu biết và kinh nghiệm cạn cợt của mình nhưng khi va chạm sự thật, ta ú ớ, ta…  ” mất thần thông”, chỉ còn biết để phiền khổ khống chế và trách móc người, nếu khá hơn, ta chỉ chịu đựng hay tìm cách xoa dịu, khuất lấp cho yên. Con mắt tâm không mở, tuệ giác không có, hay dùng ngôn ngữ phổ thông hơn là không tỉnh thức nên không có khả năng biết được cơn giận hay buồn phiền từ đâu có. Anh chàng thiền sinh mù trong chuyện này, anh quá tin vào cây đèn anh đang cầm mà quên rằng có lúc nó cũng tắt, anh quên một sự thật là anh mù và đang đi ngoài trời tối, còn một sự thật rõ ràng nữa là, mình mù nên mình đụng người mà tưởng là người đụng mình….

Đức Phật dạy, mỗi người hãy tự thắp đuốc lên mà đi. Ngọn đuốc này không có ai thắp sáng thay ta được, Phật, Bồ tát, chư Tổ hay các bậc Thầy chỉ cho ta biết, ta có nhiên liệu và có khả năng thắp lên ngọn đuốc tâm ấy, đuốc do ta thắp nên nếu lỡ tắt, ta biết thắp lại, dần dần ngọn đuốc cháy lâu hơn đến lúc sáng mãi. Thắp lên được ngọn đuốc tuệ giác, nhờ đó những máy động của thân,những vận hành của tâm thức lộ rõ. Tuệ giác càng sáng, ta thấy càng rõ và sâu sắc hơn, đằng sau những vận hành ấy là ai và cuối cùng thấu suốt nguồn gốc và thực chất khổ đau. Ngày xưa, buổi sơ khai, Thế Tôn chỉ dạy Kinh Tứ Diệu Đế và Thiền Tứ Niệm Xứ, đây là thiền kinh căn bản, là đầu mối khám phá nội tâm giúp người tu từng bước trên con đường nội quán để thành tựu sự giải thoát.  Từ căn bản, nếu ta không hay biết hơi thở vào ra thế nào trong thân, cảm giác đau nhức, ngứa ngấy nơi thân thì làm sao ta để ý và rõ được những tâm hành sâu sắc khác như, buồn, phiền, giận, hờn…vận hành ra sao? cũng như nguyên nhân và thực chất của những tâm hành và đối tượng của những tâm hành này? để cuối cùng dứt khổ, giải thoát. Các vị Thiền sư đã từng nói, chỉ cần dứt tình phàm, đâu cần cầu thánh giải? Phàm tình này, đâu không phải là những tình chấp, những ma tánh xuất hiện hàng ngày trong ta hay sao? Trong kinh, Phật vẫn gọi là ma phiền não, những ma tánh này thường có mặt những khi đối duyên xúc cảnh, trong cuộc sống đời thường. Nếu ma tánh vẫn còn sâu dày và khống chế ta, làm sao Phật tánh hiển lộ? Có phải, hàng ngày ta sống bằng ma tánh của ta hay không? Từ sáng đến chiều, cái gì thường vận hành trong ta? Ai suy nghĩ? Ai nói năng? Ai cho mình giỏi, mình đúng, Ai cho mình là thế này, thế kia?  Ai vui buồn khi cảnh thuận hay nghịch với những gì ta đặt để, cho là ?

Có vị Tăng hỏi Thiền sư Duy Khoan:

– Đạo ở đâu ?

Sư đáp:

– Ở trước mắt.

Ông tăng hỏi thêm:

– Sao con không thấy ?

Sư bảo:

– Vì ông còn có ngã (cái tôi).

Ông tăng hỏi tiếp:

– Con còn có cái tôi nên không thấy, vậy hòa thượng thấy không?

Sư đáp:

– Có ông, có ta rồi cũng không thấy.

Ông tăng lại hỏi thêm câu nữa:

– Không con, không kòa thượng lại thấy chăng ?

Sư đáp:

– Không ông không ta, còn ai cầu thấy ?

Những đám mây đen còn che kín, tuy mặt trời có đó nhưng làm sao hiễn lộ? Những ngày mây đen che kín, mưa gió và sấm chớp ầm ì, nếu có dịp đi phi cơ, ta thử để ý, khi phi cơ lên cao, vượt khỏi những lớp mây, bên trên là mặt trời sáng chói? Nhưng, mặt trời không thể chiếu xuyên qua những lớp mây dày để mặt đất sáng sủa được. Nếu mây tan, dưới đất sẽ không còn mưa bảo sấm chớp. Chỉ cần những đám mây thành kiến, định kiến, những khái niệm hay giỏi, đúng, sai..v.v…mà ta vay mượn để hình thành cái tôi của mình, những thứ này phải được tuệ giác thường xuyên soi chiếu, thì mới có ngày mây tan trăng hiện. Đây không phải “tình phàm hết, thể hiện bày” sao? Xin tiếp một ví dụ này để vấn đề sáng tỏ hơn. Có một người nghèo khổ, chỗ ở của  anh là căn lều mục nát, anh sống lây lất qua ngày bằng cách xin ăn. Một hôm, có người tốt bụng nói với anh rằng: Ngay trong căn lều anh ở, dưới chỗ anh thường nằm ngủ có mỏ vàng. Ban đầu, anh không tin, nhưng đến mùa mưa dầm, anh không thể nào sống trong mái lều ấy, cũng như không đi xin ăn được. Một hôm, nhớ lời người tốt bụng, anh tìm mượn được cây cuốc, âm thầm đào đất dưới chỗ anh nằm, quả nhiên, có vàng, nhưng không thể xử dụng được vì còn lẫn lộn với quặng. Anh lại kiên trì học cách lọc quặng, đãi vàng. Quặng lọc tới đâu, vàng nguyên chất hiễn lộ tới đó. Dần dần, anh bán vàng, xây dựng nhà cửa, cơ sở, giúp đỡ những người nghèo khó trong làng có công ăn chuyện làm, đồng thời, anh tiếp tục lọc quặng. Cuối cùng, anh trở thành người giàu có nhất làng vì anh có những khối vàng, thuần vàng.

Trong thiền Đông độ, có giải ngộ và chân ngộ. Khi giải ngộ, hành giả chỉ hiểu và nhận ra mình có cái chân thật, (Phật tánh) nhờ nghe giảng hay nghiên cứu kinh, luận và thiền sử, trường hợp này, hoàn toàn là kiến giải, tức khái niệm về Phật tánh. Còn chân ngộ, hành giả cũng nghiên cứu kinh, luận và thiền sử, nhưng nhờ sự trăn trở, thao thức dứt khổ là động cơ đẩy mạnh công phu nội quán, bền bỉ và sâu sắc, đến lúc chín muồi, nhờ duyên ngoài tác động, như cơn gió thổi qua làm rụng trái chín. Trong giây phút chớp lòe ấy, Phật tánh hiển lộ, hành giả hỉ lạc vô cùng, những chấp thô rơi rụng nhưng những chấp trước vi tế ( nhỏ nhiệm, sâu, khó thấy) vẫn còn; ngay lúc này, cái chấp ngã ôm lại trạng thái ngộ và ý thức liền hình thành khái niệm kiến tánh, ngộ đạo. Từ đó cái tôi kiến tánh, cái tôi ngộ đạo có mặt. Ta khó nhận ra chỗ này, vì ta đang là một với cái thấy biết mới, cao hơn, nếu duyên may gặp người chỉ điểm, giúp ta vượt qua. Bằng không, ta dễ ỷ lại chỗ ngộ và nghĩ mình đã xong việc. Nếu lòng tha thiết muốn thoát ly sinh tử, đạt đến giải thoát hoàn toàn, hành giả sẽ dễ nhận ra chỗ này và tiếp tục rõ mình, rõ người trong những lúc đối duyên xúc cảnh, để thấu suốt những bóng mây còn ẩn kín, nhờ vậy, cái tôi và những thay mặt, đổi tên của cái tôi (phóng hiện của bản ngã), không còn lừa dối được ta . Đây là đoạn 153 -154 trong kinh Pháp Cú:

– Ta lang thang trong vòng luân hồi qua bao kiếp sống, tìm mãi mà không gặp kẻ làm nhà. Đau khổ thay kiếp sống cứ tái diễn mãi ! Hỡi kẻ làm nhà! Nay ta gặp được ngươi rồi. Ngươi không thể làm nhà nữa. Cột và đòn tay của ngươi đều gãy cả, nóc và xà nhà của ngươi đã tan vụn rồi. Ta đã chứng đắc Niết bàn, bao nhiêu dục ái đều dứt sạch.

Gom những cột, kèo và đòn tay, người thợ đã xây dựng thành nóc nhà, xà nhà rồi thành căn nhà. Cũng như suốt đời ta vay mượn nhiều thứ bên ngoài để hình thành ngôi nhà ngã chấp. Người làm nhà đâu không phải chính cái tôi của mình hay sao? Đức Thế Tôn đã từng căn dặn: Vô ngã thị Niết Bàn. Khi nào rõ ràng, thấu suốt được cái tôi, khi ấy mới thực chứng Niết Bàn. Chính ngài, ngài đã phát hiện, đã chạm mặt người thợ làm nhà nên cái tôi tạo tác căn nhà sinh tử không còn tiếp tục nữa và ngôi nhà ấy cũng sụp đổ hoàn toàn. Ngài dứt khổ, giải thoát và thực chứng cái vô lượng vô biên không thể nghĩ bàn.

 Ngay những câu đầu của đoạn kinh:

– Ta lang thang trong vòng luân hồi qua bao kiếp sống, tìm mãi mà không gặp kẻ làm nhà. Đau khổ thay kiếp sống cứ tái diễn mãi !

Lời than thật thiết tha, thật đau xót cho chính ta. Ta lang thang, trôi nổi, lặn ngụp trong khổ đau biết bao nhiêu đời kiếp rồi, nếu ta chưa gặp và chạm mặt người thợ làm nhà, thử hỏi, ta còn quanh quẩn, đắm chìm trong khổ đau luân hồi bao nhiêu đời kiếp nữa?

Ta đã từng đóng biết bao vai, tùy theo trình độ thăng tiến của ta, ta vẽ và xây biết bao nhiêu căn nhà, để rồi, ta khư khư bảo vệ nó, tô bồi nó, và khổ đau vì nó. Ta không biết, ngày nào chưa tìm ra người thợ làm nhà, là ngày đó ta còn xây nhà, còn ôm chặt những gì ta sở hữu, khi ai đụng đến những chấp cứng này, ta phiền não và sẵn sàng nhào ra chống trái, bảo vệ, gây tạo vô số tội, để cả cuộc đời không sao có ngày vui. Nếu cứ tiếp tục như vậy, cuối cùng ta được gì và đi về đâu?  

Nhận rõ sự vận hành của nội tâm để bắt gặp người thợ làm nhà, là ta đặt chân đến đầu nguồn của dòng sinh tử, làm chủ và đổi mới tâm thức mình để luôn hòa nhịp cùng sự mới lạ, tươi mát, trôi chảy của dòng đời và cảnh vật.

THÔNG HỘI

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 10

5 cung đường ngắm hoa dã quỳ ở Đà Lạt

Du khách có thể dạo xe đến Trại Mát, Cầu Đất hay hồ Tuyền Lâm, đường hầm đất sét để ngắm hoa nở.

Theo dân gian, loài hoa tượng trưng cho tình yêu mãnh liệt vượt lên nghịch cảnh khó khăn. Tuỳ thời tiết mà mỗi năm, hoa sẽ nở vào thời điểm khác nhau. Năm nay, hoa đã nở ở nhiều nơi, dưới đây là gợi ý 5 tuyến đường có hoa nở.
Hoa dã quỳ có thể sống ở nơi khô cằn, bắt đầu nở rộ vào tháng 11. Ảnh: Ngô Anh Tuấn.

Hoa dã quỳ có thể sống ở nơi khô cằn, bắt đầu nở rộ vào tháng 11. Ảnh: Ngô Anh Tuấn.
Trại Mát – Cầu Đất – thị trấn D’ran
Cung đường Trại Mát – Cầu Đất cách trung tâm thành phố khoảng 30 km. Tuyến này được xem là cung đường có hoa nở đẹp nhất ở Đà Lạt, nhất là đoạn từ Trại Mát về đến đồi chè Cầu Đất. Hiện hoa đã nở vàng rực ở hai bên đường. Bạn có thể kết hợp chuyến “săn” hoa với khám phá đồi chè. Từ đèo D’ran (thuộc địa phận thị trấn Đơn Dương), chân đập nước Đa Nhim cũng là nơi bạn dễ ngắm hoa nhất.
Đèo Prenn và cao tốc Liên Khương
Vào mùa hoa dã quỳ, đèo Prenn như “thay áo mới”, đoạn đi qua đèo đến quốc lộ 20 rồi rẻ phải vào quốc lộ 27. Bên cạnh những hàng thông thẳng tắp hai bên là sắc vàng nổi bật của hoa. Tuy nhiên, nếu chọn cung này, bạn lưu ý chạy xe cẩn thận vì đường cũng là cửa ngõ chính của nhiều xe vận tải lớn.
Tương tự ở cao tốc Liên Khương, du khách sẽ bắt gặp nhiều lối mòn nhỏ dẫn vào nhà người dân có hoa nở nhưng mật độ không nhiều. Bạn có thể ghé vào hàng quán bên đường để thưởng thức các món ăn ngon. Bạn cũng đừng bỏ lỡ hướng về núi Voi, nơi có nguyên một quả đồi được “nhuộm” vàng sắc hoa.
Những con đường đất đỏ có hoa nở vàng hai bên níu chân du khách khắp nơi. Ảnh: Ngô Anh Tuấn.
Những con đường đất đỏ có hoa nở vàng hai bên níu chân du khách khắp nơi. Ảnh: Ngô Anh Tuấn.
Dinh 3 – Hồ Tuyền Lâm – Đường hầm đất sét
Khởi hành từ Dinh 3, bạn sẽ đi qua một đoạn đường dài có hoa dã quỳ. Tuy nhiên, năm nay, hoa tại đây chưa nở rộ. Tiếp theo, đến ngã ba rẽ theo đường vào hầm đất sét, bạn sẽ tiếp tục gặp rất nhiều hoa dã quỳ nối dài cho đến khu vực hồ Tuyền Lâm.
Nếu lần đầu đến Đà Lạt, đây là dịp bạn có thể kết hợp tham quan hồ Tuyền Lâm, Thiền Viện Trúc Lâm và đường hầm đất sét.
Tu Tra – Bồng Lai
Cung đường này khá xa trung tâm thành phố. Bạn có thể mất một ngày để di chuyển và trải nghiệm. Bù lại, bạn sẽ có cơ hội khám phá dải hoa dã quỳ nằm sâu trong những thung lũng. Hoa còn mọc theo những lối nhỏ dẫn vào rừng thông già xanh mướt.
Trung tâm thành phố
Nếu ngại di chuyển đường dài, bạn có thể lái xe quanh thành phố để tìm hoa dã quỳ. Một số điểm mọi năm có hoa như trường Đại học Đà Lạt, đoạn đường Phạm Hồng Thái bên cạnh nhà ga hoặc lối vào Chủng viện Minh Hoà.
Minh Quân(Theo Vnexpress)
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 6

Tiền & Thời Gian

meditacion (5)

Có một người rất keo kiệt, lúc nào cũng chắt bóp chẳng dám ăn tiêu gì.

Tích cóp cả đời, anh ta để dành được cả một gia tài lớn. Không ngờ một ngày,

Thần Chết đột nhiên xuất hiện đòi đưa anh ta đi. Lúc này anh ta mới nhận ra mình chưa kịp

hưởng thụ chút gì từ số tiền kia. Anh ta bèn nài nỉ:

– Tôi chia một phần ba tài sản của tôi cho Ngài,  chỉ cần cho tôi sống thêm một năm thôi. 

– Không được. Thần Chết lắc đầu. 

– Vậy tôi đưa Ngài một nửa. Ngài cho tôi nửa năm nữa, được không? – 

Anh ta tiếp tục van xin. – Không được. – Thần Chết vẫn không đồng ý. 

Anh ta vội nói: 

– Vậy… tôi xin giao hết của cải cho Ngài. Ngài cho tôi một ngày thôi, được không? 

– Không được. – Thần Chết vừa nói, vừa giơ cao chiếc lưỡi hái trên tay.

Người đàn ông tuyệt vọng cầu xin Thần Chết lần cuối cùng: 

– Thế thì Ngài cho tôi một phút để viết chúc thư vậy.

Lần này, Thần Chết gật đầu. Anh run rẩy viết một dòng: 

 
– Xin hãy ghi nhớ: “Bao nhiều tiền bạc cũng không mua nổi một ngày“.
 
– Tiền có thể mua được một chiếc đồng hồ, nhưng không mua được thời gian.
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 12

Khúc Nguyệt Quỳnh

Đêm nghiêng một đóa Quỳnh hương nở

Ngan ngát ru hồn ai lãng quên.

Thùy miên trong cõi đời sinh tử

Sực tỉnh, trăng tàn, quá nửa đêm..

Khuya nao thiền khách chờ hoa nở

Chén trà chưa nguội đã chiêm bao.

Nắng đêm loang loáng cài song cửa

Thức giấc hoa phai tự lúc nào! 

Nghìn xưa hoa với đời như mộng

Nở đóa vô thường trong cõi mê .

Chỉ thoáng trần tâm vừa giao động

Khuất lấp trăm năm một nẻo về . 

Đêm lắng, hoa vời thiên thu lại

Ai cười vỡ nát mộng hằng sa.

Xưa mê ôm cõi đời si dại

Đâu ngờ … muôn kiếp vốn không hoa!.. 

Trăng lên soi rạng hồn nhân thế

Bụt ngồi bóng đỗ xuống dòng sông.

Hiên chùa một nụ Quỳnh Hương hé

Ai vừa… hội ngộ khắp mênh mông… 

Thích Tánh Tuệ 

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 29

Cái lạnh nào đáng sợ nhất?

  lanhcongCái lạnh nào đáng sợ nhất Mùa đông đến, những cơn gió se lạnh, những đợt gió bấc thổi ném vào người mà thấy như ai lấy dao cắt da cắt thịt ta. Mọi người đều phải trang bị cho mình những chiếc áo thật ấm, những chiếc khăn thật dài, những đôi tất thật dày, những đôi giày thật đẹp, những chiếc mũ thật xinh để chống lại cái lạnh giá của mùa đông. Tất cả mọi người ai ai cũng sợ cái lạnh, cái lạnh được ví như con dao cắt da, cắt thịt, hoặc lạnh buốt đến tận xương.

Cái lạnh chẳng trừ một ai. Cái lạnh nó đến với cả làng chứ chẳng riêng gì ai. Chẳng ai thích cái lạnh, cái rét làm gì cho khổ, nhưng cực chẳng đã, con người dù không muốn cũng phải chịu. Đi trong thành phố những ngày này, nếu quan sát kĩ, ta thấy những nghịch cảnh: người ngồi làm việc trong các văn phòng mặc ba, bốn tầng áo ấm mà vẫn thấy lạnh cóng, ở ngoài đường thấy mọi người đi xe môtô bịt kín, chỉ hở hai con mắt để quan sát đường đi, nhưng vẫn có những người nông dân phong phanh áo vải gánh những thúng rau, thúng hoa quả đi bán rong giữa phố phường.
 

Rét như thế, nhưng về nhà quê thấy mọi người vẫn lội dưới ruộng nước cày cuốc, đắp bời, vơ cỏ. Nhìn thấy họ làm việc vất vả trong lạnh giá như vậy, tôi thấy sởn gai ốc. Có người ngủ trong phòng kín, có đầy đủ chăn bông gối đệm mà nhiều khi vẫn thấy lạnh, nhưng có biết bao nhiêu người trong các khu nhà ổ chuột, ở gầm cầu, nhà cửa của họ rất đơn sơ, làm sao họ có thể qua được cái lạnh của mùa đông khắc nghiệt . Nhưng lạ thay, họ vẫn phải sống, họ vẫn phải tồn tại năm này qua năm khác, thế hệ này qua thế hệ khác, và cái rét thì vẫn thế, vẫn theo họ và con cháu họ suốt đời. Có nhiều người vô gia cư nằm ngủ cuộn tròn trong những manh chiếu rách, với mấy bộ quần áo rách quấn kín lấy người, không chăn, không màn, không gối, không đệm.

Trong xã hội văn minh, hiện đại ngày nay còn có những cái lạnh, thiết nghĩ, còn đáng sợ hơn cái lạnh của mùa đông nhiều và rất nhiều lần. Cái lạnh của lòng người, cái vô cảm của con người, đó là khi ta nhìn thấy những người đau khổ mà không có chút động lòng; hoặc khi ta thờ ơ trước những bàn tay xương xẩu đang dơ lên xin ta chỉ một đồng tiền lẻ để sống qua ngày, khi ta lãnh đạm trước những người gặp cảnh khó khăn cần đến ta. Không gì lạnh hơn những con người “lương tháng thì có, lương tâm thì không”, khi một bác sĩ để một người nghèo không có “phong bì” phải chết oan khi vào bệnh viện cấp cứu. Không có cái lạnh nào bằng cái lạnh của một cán bộ khi hạch sách người dân khi họ đến xin một chữ ký mà không có “phong bì”. Không có cái lạnh nào bằng cái lạnh khi người khác chào hỏi mà ngoảnh mặt đi không trả lời, khi người với người nhìn nhau bằng ánh mắt lạnh lùng xa cách, nói với nhau những câu lạnh nhạt xỉa sói không lọt được vào tai, khinh bỉ nhau, nói xấu nhau, thấy ai hơn mình thì buồn, tìm cách trừ diệt, hạ bệ.

Cái lạnh lọt cả vào những nơi được coi là tốt nhất, ấm nhất của xã hội, nơi người “kĩ sư tâm hồn” thay vì nói sự thật, nói chân lý, thì lại gieo rắc những tư tưởng, những triết lý sai lầm, những điều đi ngược với chân lý, đi ngược với lương tâm con người.

Cái lạnh thâm nhập cả trong gia đình khi con cái lạnh nhạt với cha mẹ, để cha mẹ chịu đói, rét, để cha mẹ phải đi ăn xin, tục ngữ có câu:
“Lúc sống con chẳng cho ăn, 
đến khi thác xuống làm văn tế ruồi”. 

 
Vợ chồng lạnh nhạt với nhau dẫn đến ly dị, bỏ con bơ vơ vất vưởng. Anh em lạnh nhạt với nhau, khinh bỉ nhau chỉ vì những chuyệt rất nhỏ dẫn đến chia rẽ nhau, cổ nhân có câu: 
“Anh em thì thật là hiền, 
chỉ vì đồng tiền mà mất lòng nhau”.
Mức sống của xã hội càng lên cao thì cái lạnh lòng người càng lộ rõ: có những người quý chó hơn người giúp việc, quý chó hơn đồng loại, quý chó hơn người trong nhà. Không biết bao nhiêu con người đang chết dần chết mòn, chết dai dẳng, chết âm thầm không phải vì cái lạnh của mùa đông mà là cái lạnh của lòng người. Có người chết lạnh giữa mùa hè nóng bức, có người chết lạnh giữa chăn bông gối đệm, có người chết lạnh trong biệt thự, có người chết lạnh trong khách sạn, có người chết lạnh giữa những người thân. Có thể số người chết vì lạnh, cái lạnh của lòng người còn lớn hơn rất nhiều lần so với số người chết lạnh vì thời tiết.

Cái lạnh của thời tiết đã là rất đáng sợ với những người nghèo, những người sống vô gia cư, vô tài sản, với những người sống bằng nghề bới rác, những người làm ruộng, lội ngập sâu trong nước. Nhưng còn chưa đáng sợ bằng những cái lạnh do con người gây ra cho nhau, cái lạnh lòng người quả là đáng ghê sợ hơn gấp bội phần.

                                                                                                                      Tâm Ngữ

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 10

Những địa danh có thật trong tiểu thuyết của cố nhà văn Kim Dung

Những tín đồ bộ truyện võ hiệp nổi tiếng của cố nhà văn Kim Dung hẳn sẽ rất tò mò về các vùng đất có khung cảnh như tiên giới xuất hiện trong tiểu thuyết. Cùng khám phá xem địa danh nào đã làm nên nhiều trang tiểu thuyết kinh điển đó.

Ngày 30/10, nhà văn Kim Dung – cha đẻ của hàng loạt tiểu thuyết võ hiệp đặc sắc như Thiên long bát bộ, Anh hùng xạ điêu, Thần điêu hiệp lữ, Tiếu ngạo giang hồ… đã qua đời vì tuổi cao, hưởng thọ 94 tuổi.
Với những tín đồ của bộ truyện hẳn sẽ rất tò mò về các vùng đất có khung cảnh như tiên giới xuất hiện ở từng trang tiểu thuyết. Để tưởng nhớ về cố nhà văn Kim Dung, hãy cùng khám phá đâu là những địa danh có thật bước ra từ trang sách kinh điển ấy.
Núi Nga Mi
Nhắc đến Nga Mi Sơn, ắt hẳn nhiều người sẽ nhớ ngay tới nhân vật nổi tiếng trong bộ truyện “Ỷ thiên Đồ long ký” của cố nhà văn là Chu Chỉ Nhược, Diệt Tuyệt sư thái. Theo nội dung từ cuốn tiểu thuyết, võ lâm Trung Nguyên có 3 phái lớn gồm Thiếu Lâm, Võ Đang và Nga Mi. Trong đó, môn phái võ thuật Nga Mi ra đời ở núi Nga Mi, do Quách Tương – con gái Quách Tĩnh và Hoàng Dung sáng lập, được truyền bá rộng rãi tại Tứ Xuyên.
Bước ra từ trang tiểu thuyết, núi Nga Mi là địa danh hoàn toàn có thật, cũng nhờ đó trở thành một trong những điểm đến hút du khách bậc nhất tại Trung Quốc.
Núi Nga Mi cao 3099m, là một trong 4 ngọn núi danh thắng, được gọi là “Tứ đại Phật giáo danh sơn”, nằm ở Tứ Xuyên. Đỉnh cao nhất của núi là Vạn Phật, nằm trên ngọn núi chính Kim Đính.
Nga Mi sơn như chốn bồng lai tiên cảnh
Nga Mi sơn như chốn bồng lai tiên cảnh
Trên Nga Mi Sơn có chùa Vạn Niên là ngôi chùa mang kiến trúc đậm dấu ấn Đạo giáo. Trong chùa có bức tượng Phổ Hiền Bồ Tát nặng 62 tấn, được đúc bằng đồng mạ 20kg vàng bên ngoài, sớm trở thành điểm đến không thể bỏ lỡ khi tới ngọn núi danh tiếng này.
Nhạn Môn Quan
Nhạn Môn Quan là một cửa ải của Vạn Lý Trường Thành nằm trên thung lũng thuộc tỉnh Sơn Tây. Đây là địa danh có hai bên là vách núi dựng đứng hùng vỹ. Sở dĩ địa danh mang tên Nhạn Môn Quan bởi ở đây có nhiều chim nhạn và chỉ chúng mới bay qua được.
Nhạn Môn Quan là địa danh từng chứng kiến nhiều cuộc chiến khốc liệt
Nhạn Môn Quan là địa danh từng chứng kiến nhiều cuộc chiến khốc liệt
Địa danh Nhạn Môn Quan dưới ngòi bút của Kim Dung đã trở thành vùng đất huyền thoại trong bộ tiểu thuyết “Thiên Long Bát Bộ”. Nơi này gắn liền với nhân vật Kiều Phong, một đại anh hùng đã dùng chính sinh mạng của mình đổi lấy sự bình yên của dân hai nước Tống – Liêu.
Nhạn Môn Quan cách thành phố Hân Châu, tỉnh Sơn Tây chừng 20km về phía Bắc, đồng thời là cửa ải trọng yếu của trường thành trước kia. Nơi này từng chứng kiến rất nhiều cuộc chiến khốc liệt trong lịch sử. Bởi vậy, ngày nay khi đến với Nhạn Môn Quan, không chỉ thăm thú danh lam thắng cảnh, du khách có dịp tìm hiểu thêm lịch sử trầm hùng của vùng đất này.
Đây là một trong những cửa ải rất quan trọng
Đây là một trong những cửa ải rất quan trọng
Hiện tại, 3 cửa ải của Nhạn Môn Quan vẫn được bảo vệ tốt. Địa danh này đã trở thành một phần quan trọng của Di sản Văn hóa Thế giới.
Hoa Sơn
Hoa Sơn là một trong 5 ngọn núi danh tiếng nhất của Trung Quốc, mang trong mình ý nghĩa lịch sử to lớn về tín ngưỡng. Năm 1990, Hoa Sơn được UNESCO công nhận là Di sản Thiên nhiên Thế giới.
Nếu là tín đồ của tiểu thuyết Kim Dung, sẽ không ai xa lạ với cụm từ “Hoa Sơn luận kiếm” của Đông tà Hoàng Dược Sư, Tây độc Âu Dương Phong trong bộ “Anh hùng xạ điêu”. Cũng nhờ địa hình hiểm trở, cố nhà văn Kim Dung đã chọn Hoa Sơn là nơi tỷ võ chọn Đệ nhất võ lâm Trung Nguyên, bởi đơn giản, chỉ những bậc võ nghệ cao cường mới vượt được dãy núi hiểm trở để lên đỉnh.
Núi Hoa Sơn cấu tạo từ đá hoa cương, có hình dáng dựng đứng, xòe rộng như bông hoa, nên gọi với cái tên như vậy. Gồm 5 đỉnh núi chính, trong đó đỉnh cao nhất 2154m gọi là Nam Phong hay Lạc Nhạn.
Tới thăm Hoa Sơn, du khách có cảm giác lạc giữa chốn bồng lai tiên cảnh, như bước vào thế giới kiếm hiệp từ trang tiểu thuyết năm nào. Cũng vì lẽ đó, từ lâu Hoa Sơn đã trở thành điểm du lịch hút khách, đặc biệt với những tín đồ của bộ truyện võ hiệp Kim Dung.
Hoàng Hà (TheoDantri)
 
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 29

KHUÔN MẶT VĂN NGHỆ MỚI