All posts by Adida

BÀI HỌC CỦA SỰ THA THỨ

Tha thứ là một trong những bước quan trọng và khó khăn nhất để quên đi những điều không hay đã xảy ra. Nó giải thoát ta khỏi những u uất trong lòng, giúp ta thoát khỏi cảm giác trống trải và sợ hãi.
Nếu bạn là một người thông minh, bạn sẽ nhận ra rằng khi tha thứ, người được lợi trước tiên và nhiều nhất chính là mình. Chúng ta tha thứ không phải để xóa bỏ sai lầm mà là để giải thoát bản thân khỏi những cảm xúc tiêu cực đang bủa vây tâm trí. Dù thật khó khăn nhưng nó vẫn ít đau đớn hơn là để nỗi đau đè nặng lên trái tim. Chúng ta tha thứ vì nếu không làm thế, chúng ta sẽ gây tổn thương chính mình. Chúng ta tha thứ bởi suy cho cùng, đó là hành động khôn ngoan nhất mà ta có thể làm cho bản thân. Và cuối cùng, chúng ta tha thứ vì điều đó sẽ đem lại trong ta sự thanh thản.

Để thực sự tha thứ, chúng ta cần trải qua hai bước hay nói đúng hơn là hai giai đoạn vô cùng khó khăn. Trong giai đoạn thứ nhất, ta phải hiểu và chấp nhận rằng chúng ta nên tha thứ, rằng cuộc sống không phải lúc nào cũng diễn ra như ta mong đợi. Giai đoạn này đòi hỏi chúng ta phải vượt qua những bất ổn mà mình muốn từ bỏ. Giai đoạn thứ hai, quan trọng hơn, nằm ở nhận thức của chúng ta về việc khi nào ta nên bỏ qua quá khứ và tiến về phía trước. Nhận thức này đánh dầu sự trưởng thành thực sự ở mỗi người. Để làm được điều đó, trước tiên ta phải bỏ qua những vọng tưởng và ước mơ viễn vông. Có như thế, chúng ta mới có thể đưa ra những quyết định và việc làm đúng đắn. Điều này đòi hỏi chúng ta phải thực sự thấu hiểu mọi thương tổn trong lòng và chấp nhận rằng quá khứ là quá khứ, chúng ta không thể là gì để thay đổi chúng.

Ta chỉ có thể tha thứ và bỏ qua khi đã hoàn toàn phục hồi trước nhưng thương tổn trong quá khứ, đồng thời hiểu được rằng tha thứ cho người khác không đi đôi với việc ta phải thỏa hiệp ha miễn cưỡng bản thân.

” Khi tha thứ, ta sẽ nhận về sự thanh thản”. Đó là điều mà hầu như ai cũng biết nhưng không phải lúc nào cũng làm được. Trước kia, tôi luôn cho rằng tha thứ là một đặc ân quá hào phóng mà những người từng gây tổn thương cho tôi không đáng được nhận.

” Tại sao tôi phải tha thứ cho họ? Tại sao tôi phải cho họ quyền thanh thản sau những gì họ gây ra cho tôi?”. Nhưng thời gian đã giúp tôi hiểu rằng. Khi sẵn sàng bỏ qua mọi chuyện không hay, tôi sẽ rũ bỏ gánh nặng của sự bi hận đang nặng trĩu tâm trí mình.

Người ta không thể tha thứ cho người khác trong một sớm một chiều; cũng không thể tha thứ chỉ bởi vì đó là một việc nên làm. Tha thứ cũng không có nghĩa là ta phải miễn cưỡng gần gũi những người mà ta cần giữ khoảng cách, hoặc quay về quá khứ để sửa đổi lỗi lầm. Đơn giản, tha thứ là sẵn sàng sống với thực tại mà không đay nghiến hay phán xét những sai lầm đã qua. Trước khi tha thứ, hãy dành thời gian để cảm nhận và thấu hiểu cặn kẽ tất cả những khúc mắt trong lòng và để tâm hồn tự tháo bỏ những rào cản đó. Khi thực tâm tha thứ cho người khác, tâm hồn ta sẽ được giải phóng, trí óc ta sẽ không còn vướng bận nỗi đau quá khứ. Tất cả sẽ được bỏ lại sau lưng.

Chúc bạn…

Đủ hạnh phúc để trở nên ngọt ngào,

Đủ thử thách để trở nên mạnh mẽ,

Đủ nỗi đau để giữ bạn là con người,

Đủ hy vọng để bạn hạnh phúc,

Đủ thất bại để bạn khiêm tốn,

Đủ thành công để bạn khao khát,

Đủ bạn bè để mang lại cho bạn nguồn an ủi,

Đủ giàu có để đáp ứng những nhu cầu của bản thân,

Đủ háo hức để mong chờ,

Đủ niềm tin để xua đi muộn phiền,

Đủ quyết đoán để làm mỗi ngày trở nên tốt hơn hôm qua.

Sự tha thứ chính là món quà cuộc sống mang lại cho bạn!

Bạn hãy nhận thêm nhiều món quà và tặng người khác nhiều hơn nữa để thấy giá trị cuộc sống nhé!

Sưu tầm

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 48

CÁI TÔI LUÔN THAY MẶT ĐỔI TÊN

Những ngày nóng bức cuối cùng cũng đi qua. Những ngọn gió đầu thu dễ chịu vô cùng. Ngoại cảnh đang từng bước chuyển mình để thích ứng với mùa thu tới. Con người cũng phải từng bước chuyển mình để thích ứng cuộc sống mới. Sự phát triển và hoại diệt của muôn loài, sự đổi thay của ngoại cảnh. Ngay cả dòng tâm thức của con người cũng từng sát na sinh diệt . Đó không phải cuộc sống luôn đổi mới, dòng đời luôn luân lưu, trôi chảy để lúc nào cũng mới mẻ, tươi mát sao?

Nhận rõ và thấu suốt sự vận hành này, dòng chảy này để biết mình là ai và cuối cùng mình đi về đâu, không phải là Thiền sao? Đây cũng chính là  tinh thần giác ngộ mà đức Thế Tôn dạy. Nếu bên trong không thấu sự vận hành của nội tâm, ngoài không rõ được tiến trình sinh diệt của ngoại cảnh, đây là con mắt tâm chưa mở. Ta vẫn còn nhắm mắt mà đi, nhắm mắt mà sống.Trong đời thường, ta chỉ biết vay mượn mọi thứ, càng nhiều càng tốt, để tô bồi cái ta khôn ngoan, cái ta thông thái, cái ta giỏi giang của mình. Có câu chuyện Thiền rất thú vị: Sau giờ tọa thiền, trời tối, một anh thiền sinh mù, mượn cây đèn lồng của vị thầy để đi đường. Đang đi, chợt anh đụng vào một người đi ngược chiều với anh. Giận quá, anh quát: ” Bộ không thấy cây đèn người ta đang cầm sao? Người kia đáp: ” Đèn của anh tắt từ lúc nào rồi anh ơi “. Từ lúc nào, tuệ giác ta đã vắng mặt, sự nội quán không có nên thường không biết rõ về mình, về sự vận hành của tâm thức, về con người mình. Ta chỉ vay mượn những kiến thức, những kinh nghiệm bên ngoài để trang bị, khoe khoang và bảo vệ mình. Bình thường, ta thao thao không ngừng về cái thấy xa, hiểu rộng, cái vốn hiểu biết và kinh nghiệm cạn cợt của mình nhưng khi va chạm sự thật, ta ú ớ, ta…  ” mất thần thông”, chỉ còn biết để phiền khổ khống chế và trách móc người, nếu khá hơn, ta chỉ chịu đựng hay tìm cách xoa dịu, khuất lấp cho yên. Con mắt tâm không mở, tuệ giác không có, hay dùng ngôn ngữ phổ thông hơn là không tỉnh thức nên không có khả năng biết được cơn giận hay buồn phiền từ đâu có. Anh chàng thiền sinh mù trong chuyện này, anh quá tin vào cây đèn anh đang cầm mà quên rằng có lúc nó cũng tắt, anh quên một sự thật là anh mù và đang đi ngoài trời tối, còn một sự thật rõ ràng nữa là, mình mù nên mình đụng người mà tưởng là người đụng mình….

Đức Phật dạy, mỗi người hãy tự thắp đuốc lên mà đi. Ngọn đuốc này không có ai thắp sáng thay ta được, Phật, Bồ tát, chư Tổ hay các bậc Thầy chỉ cho ta biết, ta có nhiên liệu và có khả năng thắp lên ngọn đuốc tâm ấy, đuốc do ta thắp nên nếu lỡ tắt, ta biết thắp lại, dần dần ngọn đuốc cháy lâu hơn đến lúc sáng mãi. Thắp lên được ngọn đuốc tuệ giác, nhờ đó những máy động của thân,những vận hành của tâm thức lộ rõ. Tuệ giác càng sáng, ta thấy càng rõ và sâu sắc hơn, đằng sau những vận hành ấy là ai và cuối cùng thấu suốt nguồn gốc và thực chất khổ đau. Ngày xưa, buổi sơ khai, Thế Tôn chỉ dạy Kinh Tứ Diệu Đế và Thiền Tứ Niệm Xứ, đây là thiền kinh căn bản, là đầu mối khám phá nội tâm giúp người tu từng bước trên con đường nội quán để thành tựu sự giải thoát.  Từ căn bản, nếu ta không hay biết hơi thở vào ra thế nào trong thân, cảm giác đau nhức, ngứa ngấy nơi thân thì làm sao ta để ý và rõ được những tâm hành sâu sắc khác như, buồn, phiền, giận, hờn…vận hành ra sao? cũng như nguyên nhân và thực chất của những tâm hành và đối tượng của những tâm hành này? để cuối cùng dứt khổ, giải thoát. Các vị Thiền sư đã từng nói, chỉ cần dứt tình phàm, đâu cần cầu thánh giải? Phàm tình này, đâu không phải là những tình chấp, những ma tánh xuất hiện hàng ngày trong ta hay sao? Trong kinh, Phật vẫn gọi là ma phiền não, những ma tánh này thường có mặt những khi đối duyên xúc cảnh, trong cuộc sống đời thường. Nếu ma tánh vẫn còn sâu dày và khống chế ta, làm sao Phật tánh hiển lộ? Có phải, hàng ngày ta sống bằng ma tánh của ta hay không? Từ sáng đến chiều, cái gì thường vận hành trong ta? Ai suy nghĩ? Ai nói năng? Ai cho mình giỏi, mình đúng, Ai cho mình là thế này, thế kia?  Ai vui buồn khi cảnh thuận hay nghịch với những gì ta đặt để, cho là ?

Có vị Tăng hỏi Thiền sư Duy Khoan:

– Đạo ở đâu ?

Sư đáp:

– Ở trước mắt.

Ông tăng hỏi thêm:

– Sao con không thấy ?

Sư bảo:

– Vì ông còn có ngã (cái tôi).

Ông tăng hỏi tiếp:

– Con còn có cái tôi nên không thấy, vậy hòa thượng thấy không?

Sư đáp:

– Có ông, có ta rồi cũng không thấy.

Ông tăng lại hỏi thêm câu nữa:

– Không con, không kòa thượng lại thấy chăng ?

Sư đáp:

– Không ông không ta, còn ai cầu thấy ?

Những đám mây đen còn che kín, tuy mặt trời có đó nhưng làm sao hiễn lộ? Những ngày mây đen che kín, mưa gió và sấm chớp ầm ì, nếu có dịp đi phi cơ, ta thử để ý, khi phi cơ lên cao, vượt khỏi những lớp mây, bên trên là mặt trời sáng chói? Nhưng, mặt trời không thể chiếu xuyên qua những lớp mây dày để mặt đất sáng sủa được. Nếu mây tan, dưới đất sẽ không còn mưa bảo sấm chớp. Chỉ cần những đám mây thành kiến, định kiến, những khái niệm hay giỏi, đúng, sai..v.v…mà ta vay mượn để hình thành cái tôi của mình, những thứ này phải được tuệ giác thường xuyên soi chiếu, thì mới có ngày mây tan trăng hiện. Đây không phải “tình phàm hết, thể hiện bày” sao? Xin tiếp một ví dụ này để vấn đề sáng tỏ hơn. Có một người nghèo khổ, chỗ ở của  anh là căn lều mục nát, anh sống lây lất qua ngày bằng cách xin ăn. Một hôm, có người tốt bụng nói với anh rằng: Ngay trong căn lều anh ở, dưới chỗ anh thường nằm ngủ có mỏ vàng. Ban đầu, anh không tin, nhưng đến mùa mưa dầm, anh không thể nào sống trong mái lều ấy, cũng như không đi xin ăn được. Một hôm, nhớ lời người tốt bụng, anh tìm mượn được cây cuốc, âm thầm đào đất dưới chỗ anh nằm, quả nhiên, có vàng, nhưng không thể xử dụng được vì còn lẫn lộn với quặng. Anh lại kiên trì học cách lọc quặng, đãi vàng. Quặng lọc tới đâu, vàng nguyên chất hiễn lộ tới đó. Dần dần, anh bán vàng, xây dựng nhà cửa, cơ sở, giúp đỡ những người nghèo khó trong làng có công ăn chuyện làm, đồng thời, anh tiếp tục lọc quặng. Cuối cùng, anh trở thành người giàu có nhất làng vì anh có những khối vàng, thuần vàng.

Trong thiền Đông độ, có giải ngộ và chân ngộ. Khi giải ngộ, hành giả chỉ hiểu và nhận ra mình có cái chân thật, (Phật tánh) nhờ nghe giảng hay nghiên cứu kinh, luận và thiền sử, trường hợp này, hoàn toàn là kiến giải, tức khái niệm về Phật tánh. Còn chân ngộ, hành giả cũng nghiên cứu kinh, luận và thiền sử, nhưng nhờ sự trăn trở, thao thức dứt khổ là động cơ đẩy mạnh công phu nội quán, bền bỉ và sâu sắc, đến lúc chín muồi, nhờ duyên ngoài tác động, như cơn gió thổi qua làm rụng trái chín. Trong giây phút chớp lòe ấy, Phật tánh hiển lộ, hành giả hỉ lạc vô cùng, những chấp thô rơi rụng nhưng những chấp trước vi tế ( nhỏ nhiệm, sâu, khó thấy) vẫn còn; ngay lúc này, cái chấp ngã ôm lại trạng thái ngộ và ý thức liền hình thành khái niệm kiến tánh, ngộ đạo. Từ đó cái tôi kiến tánh, cái tôi ngộ đạo có mặt. Ta khó nhận ra chỗ này, vì ta đang là một với cái thấy biết mới, cao hơn, nếu duyên may gặp người chỉ điểm, giúp ta vượt qua. Bằng không, ta dễ ỷ lại chỗ ngộ và nghĩ mình đã xong việc. Nếu lòng tha thiết muốn thoát ly sinh tử, đạt đến giải thoát hoàn toàn, hành giả sẽ dễ nhận ra chỗ này và tiếp tục rõ mình, rõ người trong những lúc đối duyên xúc cảnh, để thấu suốt những bóng mây còn ẩn kín, nhờ vậy, cái tôi và những thay mặt, đổi tên của cái tôi (phóng hiện của bản ngã), không còn lừa dối được ta . Đây là đoạn 153 -154 trong kinh Pháp Cú:

– Ta lang thang trong vòng luân hồi qua bao kiếp sống, tìm mãi mà không gặp kẻ làm nhà. Đau khổ thay kiếp sống cứ tái diễn mãi ! Hỡi kẻ làm nhà! Nay ta gặp được ngươi rồi. Ngươi không thể làm nhà nữa. Cột và đòn tay của ngươi đều gãy cả, nóc và xà nhà của ngươi đã tan vụn rồi. Ta đã chứng đắc Niết bàn, bao nhiêu dục ái đều dứt sạch.

Gom những cột, kèo và đòn tay, người thợ đã xây dựng thành nóc nhà, xà nhà rồi thành căn nhà. Cũng như suốt đời ta vay mượn nhiều thứ bên ngoài để hình thành ngôi nhà ngã chấp. Người làm nhà đâu không phải chính cái tôi của mình hay sao? Đức Thế Tôn đã từng căn dặn: Vô ngã thị Niết Bàn. Khi nào rõ ràng, thấu suốt được cái tôi, khi ấy mới thực chứng Niết Bàn. Chính ngài, ngài đã phát hiện, đã chạm mặt người thợ làm nhà nên cái tôi tạo tác căn nhà sinh tử không còn tiếp tục nữa và ngôi nhà ấy cũng sụp đổ hoàn toàn. Ngài dứt khổ, giải thoát và thực chứng cái vô lượng vô biên không thể nghĩ bàn.

 Ngay những câu đầu của đoạn kinh:

– Ta lang thang trong vòng luân hồi qua bao kiếp sống, tìm mãi mà không gặp kẻ làm nhà. Đau khổ thay kiếp sống cứ tái diễn mãi !

Lời than thật thiết tha, thật đau xót cho chính ta. Ta lang thang, trôi nổi, lặn ngụp trong khổ đau biết bao nhiêu đời kiếp rồi, nếu ta chưa gặp và chạm mặt người thợ làm nhà, thử hỏi, ta còn quanh quẩn, đắm chìm trong khổ đau luân hồi bao nhiêu đời kiếp nữa?

Ta đã từng đóng biết bao vai, tùy theo trình độ thăng tiến của ta, ta vẽ và xây biết bao nhiêu căn nhà, để rồi, ta khư khư bảo vệ nó, tô bồi nó, và khổ đau vì nó. Ta không biết, ngày nào chưa tìm ra người thợ làm nhà, là ngày đó ta còn xây nhà, còn ôm chặt những gì ta sở hữu, khi ai đụng đến những chấp cứng này, ta phiền não và sẵn sàng nhào ra chống trái, bảo vệ, gây tạo vô số tội, để cả cuộc đời không sao có ngày vui. Nếu cứ tiếp tục như vậy, cuối cùng ta được gì và đi về đâu?  

Nhận rõ sự vận hành của nội tâm để bắt gặp người thợ làm nhà, là ta đặt chân đến đầu nguồn của dòng sinh tử, làm chủ và đổi mới tâm thức mình để luôn hòa nhịp cùng sự mới lạ, tươi mát, trôi chảy của dòng đời và cảnh vật.

THÔNG HỘI

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 12

Khúc Nguyệt Quỳnh

Đêm nghiêng một đóa Quỳnh hương nở

Ngan ngát ru hồn ai lãng quên.

Thùy miên trong cõi đời sinh tử

Sực tỉnh, trăng tàn, quá nửa đêm..

Khuya nao thiền khách chờ hoa nở

Chén trà chưa nguội đã chiêm bao.

Nắng đêm loang loáng cài song cửa

Thức giấc hoa phai tự lúc nào! 

Nghìn xưa hoa với đời như mộng

Nở đóa vô thường trong cõi mê .

Chỉ thoáng trần tâm vừa giao động

Khuất lấp trăm năm một nẻo về . 

Đêm lắng, hoa vời thiên thu lại

Ai cười vỡ nát mộng hằng sa.

Xưa mê ôm cõi đời si dại

Đâu ngờ … muôn kiếp vốn không hoa!.. 

Trăng lên soi rạng hồn nhân thế

Bụt ngồi bóng đỗ xuống dòng sông.

Hiên chùa một nụ Quỳnh Hương hé

Ai vừa… hội ngộ khắp mênh mông… 

Thích Tánh Tuệ 

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 104

Cái lạnh nào đáng sợ nhất?

  lanhcongCái lạnh nào đáng sợ nhất Mùa đông đến, những cơn gió se lạnh, những đợt gió bấc thổi ném vào người mà thấy như ai lấy dao cắt da cắt thịt ta. Mọi người đều phải trang bị cho mình những chiếc áo thật ấm, những chiếc khăn thật dài, những đôi tất thật dày, những đôi giày thật đẹp, những chiếc mũ thật xinh để chống lại cái lạnh giá của mùa đông. Tất cả mọi người ai ai cũng sợ cái lạnh, cái lạnh được ví như con dao cắt da, cắt thịt, hoặc lạnh buốt đến tận xương.

Cái lạnh chẳng trừ một ai. Cái lạnh nó đến với cả làng chứ chẳng riêng gì ai. Chẳng ai thích cái lạnh, cái rét làm gì cho khổ, nhưng cực chẳng đã, con người dù không muốn cũng phải chịu. Đi trong thành phố những ngày này, nếu quan sát kĩ, ta thấy những nghịch cảnh: người ngồi làm việc trong các văn phòng mặc ba, bốn tầng áo ấm mà vẫn thấy lạnh cóng, ở ngoài đường thấy mọi người đi xe môtô bịt kín, chỉ hở hai con mắt để quan sát đường đi, nhưng vẫn có những người nông dân phong phanh áo vải gánh những thúng rau, thúng hoa quả đi bán rong giữa phố phường.
 

Rét như thế, nhưng về nhà quê thấy mọi người vẫn lội dưới ruộng nước cày cuốc, đắp bời, vơ cỏ. Nhìn thấy họ làm việc vất vả trong lạnh giá như vậy, tôi thấy sởn gai ốc. Có người ngủ trong phòng kín, có đầy đủ chăn bông gối đệm mà nhiều khi vẫn thấy lạnh, nhưng có biết bao nhiêu người trong các khu nhà ổ chuột, ở gầm cầu, nhà cửa của họ rất đơn sơ, làm sao họ có thể qua được cái lạnh của mùa đông khắc nghiệt . Nhưng lạ thay, họ vẫn phải sống, họ vẫn phải tồn tại năm này qua năm khác, thế hệ này qua thế hệ khác, và cái rét thì vẫn thế, vẫn theo họ và con cháu họ suốt đời. Có nhiều người vô gia cư nằm ngủ cuộn tròn trong những manh chiếu rách, với mấy bộ quần áo rách quấn kín lấy người, không chăn, không màn, không gối, không đệm.

Trong xã hội văn minh, hiện đại ngày nay còn có những cái lạnh, thiết nghĩ, còn đáng sợ hơn cái lạnh của mùa đông nhiều và rất nhiều lần. Cái lạnh của lòng người, cái vô cảm của con người, đó là khi ta nhìn thấy những người đau khổ mà không có chút động lòng; hoặc khi ta thờ ơ trước những bàn tay xương xẩu đang dơ lên xin ta chỉ một đồng tiền lẻ để sống qua ngày, khi ta lãnh đạm trước những người gặp cảnh khó khăn cần đến ta. Không gì lạnh hơn những con người “lương tháng thì có, lương tâm thì không”, khi một bác sĩ để một người nghèo không có “phong bì” phải chết oan khi vào bệnh viện cấp cứu. Không có cái lạnh nào bằng cái lạnh của một cán bộ khi hạch sách người dân khi họ đến xin một chữ ký mà không có “phong bì”. Không có cái lạnh nào bằng cái lạnh khi người khác chào hỏi mà ngoảnh mặt đi không trả lời, khi người với người nhìn nhau bằng ánh mắt lạnh lùng xa cách, nói với nhau những câu lạnh nhạt xỉa sói không lọt được vào tai, khinh bỉ nhau, nói xấu nhau, thấy ai hơn mình thì buồn, tìm cách trừ diệt, hạ bệ.

Cái lạnh lọt cả vào những nơi được coi là tốt nhất, ấm nhất của xã hội, nơi người “kĩ sư tâm hồn” thay vì nói sự thật, nói chân lý, thì lại gieo rắc những tư tưởng, những triết lý sai lầm, những điều đi ngược với chân lý, đi ngược với lương tâm con người.

Cái lạnh thâm nhập cả trong gia đình khi con cái lạnh nhạt với cha mẹ, để cha mẹ chịu đói, rét, để cha mẹ phải đi ăn xin, tục ngữ có câu:
“Lúc sống con chẳng cho ăn, 
đến khi thác xuống làm văn tế ruồi”. 

 
Vợ chồng lạnh nhạt với nhau dẫn đến ly dị, bỏ con bơ vơ vất vưởng. Anh em lạnh nhạt với nhau, khinh bỉ nhau chỉ vì những chuyệt rất nhỏ dẫn đến chia rẽ nhau, cổ nhân có câu: 
“Anh em thì thật là hiền, 
chỉ vì đồng tiền mà mất lòng nhau”.
Mức sống của xã hội càng lên cao thì cái lạnh lòng người càng lộ rõ: có những người quý chó hơn người giúp việc, quý chó hơn đồng loại, quý chó hơn người trong nhà. Không biết bao nhiêu con người đang chết dần chết mòn, chết dai dẳng, chết âm thầm không phải vì cái lạnh của mùa đông mà là cái lạnh của lòng người. Có người chết lạnh giữa mùa hè nóng bức, có người chết lạnh giữa chăn bông gối đệm, có người chết lạnh trong biệt thự, có người chết lạnh trong khách sạn, có người chết lạnh giữa những người thân. Có thể số người chết vì lạnh, cái lạnh của lòng người còn lớn hơn rất nhiều lần so với số người chết lạnh vì thời tiết.

Cái lạnh của thời tiết đã là rất đáng sợ với những người nghèo, những người sống vô gia cư, vô tài sản, với những người sống bằng nghề bới rác, những người làm ruộng, lội ngập sâu trong nước. Nhưng còn chưa đáng sợ bằng những cái lạnh do con người gây ra cho nhau, cái lạnh lòng người quả là đáng ghê sợ hơn gấp bội phần.

                                                                                                                      Tâm Ngữ

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 11

HỮU DUYÊN VÔ PHẬN. HỮU PHẬN VÔ DUYÊN

(Có duyên mà không có phận, có phận mà không có duyên)

Mỗi người đều có những cuộc gặp mà suốt đời này không thể nào quên, có những cuộc gặp là mãi mãi, nhưng cũng có những cuộc gặp sớm đứt gánh giữa đường.

Duyên phận là điều gì đó rất kì lạ, không ai có thể thực sự nói rõ về nó. Có thể hữu duyên vô tình quen biết nhưng lại hiểu thấu nhau. Có thể hài hòa với nhau, mà không thể gần nhau. Không cố ý theo đuổi thì có, bỏ tâm cố gắng lại chẳng thành. Như là “có lòng trồng hoa, hoa chẳng nở, vô tình cắm liễu, liễu lại xanh”.

Dân gian có câu: ”duyên do trời định, phận do nhân định”. Đó là cách nói nôm na, nhưng kỳ thực, gặp nhau & bên nhau là do Nhân Duyên tụ hội. Dựa vào đôi bên gìn giữ, phát triển thì duyên một lần gặp gỡ mới thành mối phận trăm năm. Nhưng duyên phận dài ngắn thế nào lại chẳng ai hay, ai biết? Một năm, năm năm, cả đời? Hết thảy chúng ta đều không đoán đươc.

Hôm nay có duyên phận không có nghĩa là vĩnh viễn sẽ có duyên phận. Phật dạy về nhân duyên rằng, cái gì cũng chỉ có thời điểm, duyên phận cũng vậy. Bởi thế mà những mối duyên lành phải biết ý thức và trân quí.

Tuy nhiên, đã là duyên phận thì không nên cưỡng cầu, mất đi rồi cũng không nên ủ rũ, càng không thể cảm thấy cả thế giới sụp đổ vì duyên đã hết, phận đã đứt, cưỡng cầu chỉ thêm đau lòng. Người mất đi nhất định không phải người thích hợp nhất, vật mất đi nhất định không phải vật tốt đẹp nhất. Mất đi chỉ chứng minh rằng ta với người chẳng qua là cùng nhau đi một đoạn đường, gặp hạnh ngộ rồi chia li.

Kỳ thực, trong cuộc đời mỗi người có rất nhiều điều là không thể lý giải. Chính bởi vì không hiểu điều này mà khiến cho con người ta lúc nào cũng tràn đầy suy tưởng. Mọi người sống trên thế gian đều có cảm tưởng dường như mọi việc là theo sự an bài sẵn vậy! Đến thời điểm nào sẽ gặp ai, sự tình gì sảy ra đều là đã được nhân duyên vận chuyển.

Làm người cốt học được cách điềm nhiên đối đãi với hết thảy, dùng bình tĩnh để đối đãi với mọi sự công bằng và bất công bằng trong cuộc sống, thản nhiên tiếp nhận mọi sự an bài hợp ý và không hợp ý mình. Ấy mới là cách đối đãi của bậc trí huệ. Duyên đến không cần phải vui mừng quá đỗi, duyên đi cũng không cần phải khóc lóc thảm thiết.

Không có tình yêu thì bên cạnh bạn vẫn có bạn bè.

Không có bạn bè tri kỷ thì bên cạnh bạn vẫn còn có gia đình

Không có gia đình thì bạn vẫn còn sinh mệnh của chính mình.

Duyên hợp, duyên tan đều lưu lại một điều gì đó tốt đẹp và một chút tiếc nuối.

Trong sinh mệnh mỗi người, điều gì là của bạn thì sẽ không mất, còn như điều gì không là của bạn thì cuối cùng cũng không thuộc về bạn.

Mọi sự tùy duyên, điều gì qua đi thì hãy buông bỏ để nó qua đi, nên bình tĩnh đối diện, quý trọng hết thảy những gì đang có ở hiện tại, như vậy mới sống được tự nhiên, thanh thản. Còn nếu như cố gắng níu giữ thì chỉ khiến bạn sống triền miên trong vô vọng và tâm linh bị đè nặng mà thôi.

Con người thế gian, nếu như so đo, tính toán quá nhiều thì sẽ tạo thành một loại ràng buộc, bị mê lạc quá lâu thì sẽ tạo thành một loại gánh nặng. Vì vậy, không cần quá để ý, khi có được điều gì hãy thật lòng trân quý, khi mất đi điều gì cũng đừng đau khổ tiếc nuối. Để ý quá nhiều, quá sâu sẽ khiến bạn mất đi một nửa hạnh phúc, xem nhẹ hết thảy sẽ khiến cuộc sống thăng hoa hơn, nhẹ nhàng hơn rất nhiều.

“Có duyên mà không có phận, có phận mà không có duyên” 

đều là một phần trong nghiệp mệnh, nó không nên trở thành bước đệm dẫn bạn đến bước đường cùng của cuộc đời. Đừng vì “duyên đi” mà sinh ra tâm oán thù, hay nuối tiếc.

Sống trên đời, điều gì đến thì hãy quý trọng, điều gì phải đi thì nên buông tay, như thế mới sống được tự do tự tại thực sự.

Sống thuận theo tự nhiên là một loại trí tuệ, cũng là một loại cảnh giới cao của người giác ngộ.

Duyên đến, duyên đi, duyên như nước chảy qua cầu!

Từ Tâm
__(())__


Ngàn năm danh lợi sống đời
Không nghe Phật Pháp…kiếp người uổng thay
Dù cho sống chỉ một ngày
Được nghe Chánh Pháp…quý thay kiếp người!

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
NAM GIANG TỮ
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 21

Mùa Báo Hiếu Nhớ Mẹ

Chuông ngân vọng gọi mùa báo hiếu
Đấng sinh thành dưỡng dục cù lao
Vấn vương mắt trẻ nghẹn ngào
Hướng về lòng mẹ, dạt dào mẹ ơi !

Nơi đất khách lẻ đời cô quạnh
Lạc rừng yêu lành lạnh buồn tênh
Tháng năm trôi nổi lênh đênh
Sông sâu đò vắng, gập ghềnh tuổi thơ

Nhớ bóng mẹ phơ phơ đầu bạc
Dáng thân gầy, tuổi hạt cao non
Đóa hoa hồng, trái tim son
Dâng về cài mẹ năm mòn tháng hao

Đèn hiu hắt, lao xao khói trắng
Qua mấy mùa cay đắng ngồi chong
Nửa hồn lưu xứ lệ đong
Nửa hồn về mẹ, cầu mong an lành

Ân hiếu nghĩa cam đành dang dở
Công mẹ cha, con nợ khắc sâu
Chuông lòng ngân đọng chất sầu
Tình nhà, sông núi đậm mầu trầm kha !
(Vi Vi)

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 32

Tâm Thiền

Trong nắng xuân tâm thiền thanh thoát
Gót chân Sen vượt cát bụi trần
Cảnh chiều gió thoảng bâng khuâng
Hồn thơ bay bỗng theo vầng trăng non

Tình thi sĩ vẫn còn đậm dấu
Mỗi câu văn tiết tấu vui buồn
Đời cho ta những suối nguồn
Yêu thương hòa ái thôi tuôn lệ hồng

Biển đón nhận trăm sông hội tụ
Nước xuôi dòng sạch rũ rong rêu
Thuận duyên vạn sự ít nhiều
Kết giao tri ngộ trọn điều ước mong.

Bạch Vân Nhi

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 24

Lời Phật dạy cho những người nóng tính, nhất là phụ nữ càng nên đọc

Ba thứ đó là: “Tham, Sân, Si”. Trong kinh thường gọi ba thứ này là “Tam độc”.

Tức giận là một cơ chế phản xạ của con người khi đứng trước một sự việc không như ý. Tuy nhiên việc tức giận quá mức sẽ dẫn đến ức chế tinh thần, khi không kiểm soát được ắt sẽ bộc phát gây ra những hành động sai trái.

Phật khuyên mọi người chúng ta không nên nóng giận.

Phật không phân biệt nóng giận vì có lý do chính đáng hay không chính đáng, hợp lý hay không hợp lý. Chỉ biết rằng khi nóng giận, tâm con người chắc chắn không đủ để kiểm soát hành vi và ngôn ngữ. Phật nói : “Hãy từ bỏ nóng giận thì phiền não sẽ không đến với các người”.

​Chẳng hạn, điều gì mình không ưa thích mà cứ phải “chạm trán” liên tục thì tâm bất mãn bùng phát biến thành phẫn nộ, hoặc trong trường hợp thường xuyên bị kẻ khác chỉ trích tấn công với lời lẽ gay gắt thì sự bực phiền dồn nén trong lòng trào dâng chuyển thành cơn phẫn nộ. Phẫn nộ, do đó, là hệ quả của tâm giận dữ bất mãn bị kích động.

Đức Phật dạy rằng, cần phải học cách nhận diện và chuyển hóa cơn giận, khi giận, không nên đè nén trong lòng mà nên nói ra. Ta nên bày tỏ nỗi khổ của ta một cách rất chân tình và thật thà với người mà ta đang giận, có như thế mới có cách giải quyết vấn đề.

Lời Phật dạy cho những người nóng tính, nhất là phụ nữ càng nên đọc.

​Khi trao đổi bàn giải với nhau, cả hai nên dùng lời ái ngữ ôn hòa và phải tỏ ra một cách hết sức thành thật cởi mở. Cả hai nên dẹp bỏ lòng tự ái kiêu căng ngã mạn. Vì lòng tự ái là con đẻ của bản ngã. Chính nó gây nên thù hận và giết chết đời ta.

Phật khuyên ta nên lấy lòng từ bi và tính ôn hoà để thắng phẫn nộ. Đồng thời ta còn phải thận trọng lời nói, giữ gìn ngôn ngữ cho nhẹ nhàng, đúng đắn và không bao giờ nên thốt ra những lời nặng nề thô lỗ làm đau lòng người khác.

Thông thường, khi tức giận, con người thường muốn trừng phạt nặng nề đối phương, càng như thế, hiểu lầm càng lớn, thù hận càng sâu, chẳng phải càng bi ai hay sao, người giữ mối thâm thù làm sao có thể hạnh phúc được.

​Điều khó nhất là diệt từ hận thù từ trong tâm, khi không còn nghĩ đến tức giận, tự khắc cơn nóng giận sẽ nguội dần. Ta sẽ dùng tình thương và lòng bao dung để đáp lại mọi trường hợp mà người phàm tục cho là đáng giận, trong những lúc họ tranh giành phải trái hơn thua với nhau.

Hãy luôn nhớ rằng, dứt bỏ được nóng giận, hơn thua, cuộc đời sẽ tự nhiên thanh thản và dễ chịu hơn rất nhiều.

Lời Phật dạy cho những người nóng tính, đã là phụ nữ càng phải đọc
Nguồn: Sưu tầm
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 57

Kiếp người mơ hồ vẫn trầm luân bể khổ, hãy giác ngộ

Vạn sự vô thường, hưng vượng suy vi, hợp tan ly biệt, kiếp người mơ hồ vẫn trầm luân bể khổ, chỉ có giác ngộ trong tu luyện, mới vĩnh viễn thoát khổ trần gian.

tu luyện, kiếp người, bể khổ, Vị Bà La Môn nghe xong lời dạy của Đức Phật đã vô cùng cảm tạ, gạt bỏ tư tâm chuyên tâm tu luyện, về sau đắc quả vị La Hán. (Ảnh: Internet)

Kiếp người ngắn ngủi chìm trong bể khổ trầm luân, hãy giác ngộ !

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni sống ở một thôn nọ gần gia đình một vị Bà La Môn. Người này sinh được cô con gái không chỉ xinh đẹp mà còn thông minh hoạt bát, ít người sánh kịp. Tuy nhiên khi đến độ 14, 15 tuổi, con gái vị này bỗng dưng bị trọng bệnh, không thể chữa trị khỏi và cuối cùng đã qua đời.

Cha mẹ vốn hết mực yêu thương cô con gái độc nhất này, bởi vậy mà họ vô cùng đau khổ. Ngày nào họ cũng khóc than thương con gái, đau đớn quá đến nỗi tưởng chừng phát điên.

Một hôm tình cờ đôi vợ chồng đau khổ này đến chỗ Phật Đà đang ở, vừa nhìn thấy Đức Phật, tinh thần họ bỗng chốc tỉnh táo hẳn, vội hướng Phật hành lễ.

Tiếp đó người cha buồn rầu tâm sự: “Tôi không có con trai, chỉ sinh được mụn con gái, thương yêu nó như châu, như ngọc. Con gái là niềm vui vô tận của cha mẹ. Vậy mà bỗng lâm trọng bệnh, chết trước mặt tôi, kêu không tỉnh, gọi không đáp. Tôi gào Trời chẳng ứng, kêu Đất chẳng linh, trong tim buồn khổ không sao tả nổi, mong Phật Đà giúp tôi thoát khỏi nỗi khổ này”.

Giọng vị Bà La Môn nghẹn ngào, vừa nói vừa khóc nấc lên, khiến ai ai xung quanh cũng đều mủi lòng thương xót.

Phật Đà bèn nói với người cha đang đau khổ này rằng:

Thế gian có 4 thứ không thể tồn tại vĩnh viễn:

Thứ nhất: Vạn sự đều vô thường

Tức là, tất cả sự vật đều không thể tồn tại vĩnh hằng, bất biến, nguyên vẹn hình dạng ban đầu. Vạn sự vạn vật từng giờ, từng khắc đều đang biến đổi, bản chất cũng từ từ thay đổi, cuối cùng sẽ tiêu tan. Ví dụ như thân thể của chúng ta, từng giờ từng khắc đang thay đổi, trải qua sinh, lão, bệnh, tử, cuối cùng cũng tiêu tan trong thế gian này. Đất đai, sông, núi, địa cầu, vũ trụ, từng giờ, từng khắc đang trải qua quá trình thành, trụ, hoại, không; sinh, trụ, dị, diệt.

Thứ hai: Phú quý mấy cũng không thể trường tồn

Có nghĩa là một người giàu sang phú quý thế nào, rốt cục rồi cũng suy kiệt. Tục ngữ có câu: ‘Không ai giàu ba họ’ là vậy. Hi hữu lắm là khi đời đời hành thiện, tích đức mới có thể duy trì được vinh hoa, phú quý của tử, tôn. Nhưng những kẻ phàm phu nơi trần thế là con người đều không buông tâm tham lam, keo kiệt, không chịu bố thí, phú quý sẽ không thể trường tồn.

Thứ ba: Có hợp tất có tan

Lục thân, gia quyến ở cùng nhau, hoặc bạn bè thân thích thường qua lại, nhưng chắc chắn đến một ngày sẽ phải li tán. Cái đó gọi là ‘không có nhà không tan, chẳng có nước bất bạ’”. Vào thời đại càng về sau, con cái trưởng thành thường bỏ quê hương đi mưu sinh xứ người, bỏ song thân tại điền viên cố hương. Cho dù có được sống cùng nhau, cuối cùng cũng sinh ly, tử biệt.

Thứ tư: Người khỏe mạnh rồi cũng chết

Cho dù có trẻ thế nào, thân thể cường tráng, cuối cùng cũng đến lúc phải chết, dù có thọ đến mấy, chung quy cũng phải chết. Bất cứ là ai, khi được sinh ra đều bị phán án tử hình vô thời hạn! Cái chết luôn rình rập ở mỗi người. Cho nên người đang sống phải sớm giải quyết xong đại sự sau khi chết, để sống cũng an mà chết cũng an, đó gọi là ‘Sớm nghe đạo, chiều chết cũng cam vậy!’”.

tu luyện, kiếp người, bể khổ, Chỉ có gạt bỏ tư tâm hướng Phật mới mong thoát khỏi bể khổ trầm luân này!. (Ảnh: Internet)

Rồi Phật Đà ngâm nga 4 câu sau:

Vạn sự đều sẽ kết thúc

Cao mấy rồi cũng phải hạ

Có hợp tất có li

Có sinh tất có tử

Vị Bà la môn đó sau nghi nghe xong lời Phật dạy xong, tâm lập tức được giác ngộ, cung kính vái lạy cảm tạ. Về sau người này gạt bỏ mọi tư tâm, nỗ lực tuy luyện khi trở thành Tì Kheo, cuối cùng đắc quả vị La Hán.

Câu chuyện trên đây rất ý nghĩa đối với những gì mà con người như chúng ta coi là “khổ”. Con người khổ vì không ngộ được rằng, trên thế gian không có gì là tồn tại vĩnh viễn, không có gì bất biến. Vạn vật đều đổi thay, sinh-ly-tử-biệt là lẽ thường tình, có đau khổ đến mấy cũng chẳng thay đổi được gì mà còn làm hại bản thân. Làm người muốn thoát bể khổ trầm luân đó, con đường duy nhất chỉ là hướng Phật mà tu luyện, đắc quả vị, đạt đến tầng khai công khai ngộ và từ bi.

Theo minhbao.net

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 66

Đời người rốt cuộc chỉ gói gọn trong 6 chữ này, hiểu được thì hạnh phúc an nhiên

Nhân sinh muôn hình vạn trạng, như hoa nở mùa xuân, mỗi người một sắc thái khác nhau. Cuộc đời bất quá cũng chỉ là một kiếp phù du, bình bình lặng lặng cũng một kiếp người, đấu tranh hư ảo cũng gì khác hơn?

Chúng ta sinh ra trong cõi trần gian, người may mắn tìm ra chân lý, kẻ không may xuôi ngược một đời để cuối cũng chỉ là mộng ảo phù du, bon chen cả đời để cuối cùng thân mang nghiệp chướng.

Nhưng dù mỗi người có sắc thái ra sao thì cũng đều được gói gọn bởi 6 chữ sau đây, cuộc đời là vậy, thành bại cũng chỉ là bởi hai chữ tâm thái mỗi người quyết định.

Chữ thứ 1: Sinh

 

Vạn vật bắt nguồn đều bởi chữ sinh, vui buồn oán hận cũng từ đó mà ra. Sinh, khởi nguồn mọi cay đắng ngọt bùi của con người.

Sinh là sinh mệnh, mang lại cho chúng ta cơ hội theo đuổi cũng như sự ràng buộc của nó.

Chữ thứ 2: Khổ

Có câu đời người là bể khổ, có khổ mới là kiếp nhân sinh. Chuyện đời người 10 phần thì có đến 7, 8 phần không như ý, đâu có chuyện trước sau thuận buồm xuôi gió.

Vậy nên, làm người cũng cốt bởi chữ tâm, sống mà có tâm có đức thì trong trời đất bao la này đâu cũng có chỗ lập thân. Ngoài điều này ra thì lại cần phải có kỹ năng, kỹ năng thì cần phải qua tôi luyện mới có.

Tiếp sau kỹ năng thì cần phải có ước mơ và khát vọng. Phải kỳ công thực thi, biến ước mơ thành hiện thực. Khi ước mơ thực hiện thì hạnh phúc cũng mỉm cười.

Khổ mới là kiếp nhân sinh, có khổ mới tôi luyện được ý chí, tăng trưởng trí huệ.

Đời người một kiếp nhân sinh, chìm đắm đời thường đã là khổ. (Ảnh: anhdep360.com)

Chữ thứ 3: Mệt

Theo năm tháng thêm nhiều, vai diễn của mỗi người cũng mỗi khác và góc độ cũng thêm nhiều biến hoá, trách nhiệm trên vai cũng ngày càng thêm nặng, đường đời cũng ngày một khó khăn.

Vậy nên mệt mỏi cũng là điều mà mỗi người đều phải trải qua, nỗ lực không ngừng, vượt qua mệt mỏi cũng chính là điều mà mỗi một sinh mệnh cần phải thực thi.

Chỉ khi nào chúng ta có thể vượt qua mệt mỏi, vượt lên hoàn cảnh, dùng tâm thái an nhiên tự tại đối đãi mọi chuyện, khi đó mới có được niềm vui của cuộc sống. Tâm thái khác nhau, cảnh giới khác nhau và cuộc sống cũng khác nhau.

Chữ thứ 4: Tình

Tình thân quyến, tình bạn, tình yêu, đó là nguồn tài phú mà mỗi người cần nên trân quý, con người được sinh ra là bởi chữ tình, sống trong cái tình đó là điều mà mỗi ai cũng không thể khác.

Sống ở đời thì không cầu đại phú đại quý chỉ cầu cha mẹ song thân được bình an. Không cầu bạn bè đông đúc nhưng cầu 1 người tri kỷ hiểu mình. Không cầu đào hoa kết nghĩa nhưng cầu một tấm chân tình.

Tiền bạc hết rồi lại có thể kiếm ra, còn tình cảm mất đi sẽ khó lòng lấy lại, chớ làm điều khờ dại mà hại thân tâm.

Chữ thứ 5: Bằng

Vận mệnh mỗi người luôn công bằng, ông trời không lấy không hay cho không ai cái gì cả. Vạn sự trên đời có mất ắt có được. Điều thú vị nhất của con người chính là luôn luôn có cơ hội để đổi mình.

Trong cuộc sống cánh cửa này đóng thì ắt có cảnh cửa khác mở ra, ngã rồi thì hãy đứng lên, cơ hội thì không khi nào không có. Cái chính là chúng ta dùng tâm thái nào để đón nhận nó mà thôi.

Vậy nên, làm người thì sống phải càng ngồi càng vững, dũng khí càng tăng.

Đấng tạo hóa luôn công bằng, khi chúng ta thiếu điều gì đó luôn có một thứ tương đương ban tặng cho ta (Ảnh: Youtube)

Chữ thứ 6: Trọng

Có một số người, đôi khi gặp một lần cũng là mãi mãi, cơ hội không có lần thứ hai. Trân trọng những người bên ta, trân quý những việc hiện tại, không làm những việc chờ đợi vô vị, không theo đuổi những điều vô nghĩa.

Hi vọng vào những điều tốt đẹp, mang theo con tim chân thành và nhiệt huyết tiến về phía trước bạn nhé!

* Theo Dkn

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 66

Matthieu Ricard – “Người Hạnh Phúc Nhất Thế Giới”

Nhà sư Matthieu Ricard, một tăng sĩ của Phật giáo Tây Tạng, được các nhà khoa học chứng minh là người hạnh phúc nhất thế giới, đã chia sẻ rằng bất kỳ ai cũng có hạnh phúc nếu biết huấn luyện não bộ.
 
'Người hạnh phúc nhất thế giới' tiết lộ bí quyết sống - ảnh 1Nhà sư Matthieu Ricard được xem là “người hạnh phúc nhất thế giới” – Ảnh: AFP

Nhà sư Matthieu Ricard, 69 tuổi, sinh ra tại Pháp trong một gia đình danh giá có cha là triết gia nổi tiếng, mẹ là hoạ sĩ và bà cũng đã đi theo Phật giáo. Từ nhỏ, ông đã hình thành tư tưởng triết học và Phật giáo, cũng như mang trong mình niềm đam mê tu hành.
Đến năm 26 tuổi, Matthieu Ricard, lúc ấy là tiến sĩ ngành phân tử học đang làm việc tại Viện Pasteur đã từ bỏ công việc và sự nghiệp để xuống tóc đi tu, tìm đến vùng đất Tây Tạng và trở thành tăng sĩ. Hiện nay, ông đang sống ở vùng núi Himalaya.
 
 
Trước đó, nhà sư “hạnh phúc nhất thế giới” từng gây sửng sốt cho giới khoa học khi họ nghiên cứu về não bộ của ông.
Cụ thể, nhà thần kinh học Richard Davidson, thuộc Đại học Wiscousin (Mỹ), đã kết nối hộp sọ của nhà sư với 250 cảm biến, cho thấy rằng khi ngẫm nghĩ về sự từ bi, bộ não của thầy Matthieu Ricard sản xuất ra một cường độ những bước sóng gamma mạnh mẽ khác thường – đây là những bước sóng liên quan đến ý thức, khả năng tập trung, việc học và trí nhớ.
'Người hạnh phúc nhất thế giới' tiết lộ bí quyết sống - ảnh 2
Nhà sư Matthieu Ricard trên đồng cỏ vùng núi Himalaya – Ảnh chụp màn hình Business Insider
Nhà sư thông thái đã chia sẻ những bí quyết để trở nên hạnh phúc.
 
Không nghĩ về cái tôi cá nhân: Khi bạn nghĩ về bản thân mình và muốn làm những điều có lợi cho mình, điều này chỉ khiến bạn thêm căng thẳng, mệt mỏi. Đó không phải nền tảng của hạnh phúc. Hạnh phúc đến từ lòng từ bi. Khi tâm trí bạn ngập tràn sự bao dung, bản thân bạn cũng thoải mái và khiến người khác hạnh phúc.
Tờ Business Insider bình luận, lý thuyết nghe dễ dàng, nhưng liệu một con người bình thường có thể từ bi hỷ xả mà không có những suy nghĩ ích kỷ không ?
 
Huấn luyện não bộ: Nhà sư Matthieu Ricard tin rằng bất cứ ai cũng có thể có hạnh phúc nếu họ biết cách huấn luyện bộ não mà cụ thể là việc thiền định mỗi ngày. Khi bạn hít vào, hãy tập hợp khổ đau của mọi người và cảm nhận trong tim bạn, nhưng đừng để điều này thành gánh nặng.
Khi bạn thở ra, hãy nói: mong sao tất cả hạnh phúc của tôi, tất cả những việc làm tốt đẹp của tôi, sẽ được hiến dâng cho mọi người.
 

******************

Matthieu Ricard – “Người Hạnh Phúc Nhất Thế Giới”

Một ngày trong cuộc sống của “người đàn ông hạnh phúc nhất thế giới” – một nhà sư Phật giáo – là thức dậy lúc bình minh ngắm mặt trời mọc, chỉ có một vài bộ áo quần nhưng lại dành nhiều giờ để cầu chúc hạnh phúc cho người khác.
https://i0.wp.com/phapbao.org/wp-content/uploads/2018/01/Jan-18-B25-H01.jpg
Matthieu Ricard – nhà sư Phật giáo Tây Tạng, “người đàn ông hạnh phúc nhất thế giới”. (Ảnh: Jim Brandenburg)
Nếu cuộc sống của một nhà sư Phật giáo Tây Tạng điển hình là yêu cầu phải tách khỏi đời sống hiện đại hỗn độn, dành phần lớn thời gian trong tự viện trên các dãy núi thì Matthieu Ricard không phải là một nhà sư điển hình.
Sinh ra tại Pháp vào năm 1946, cha là một nhà triết học và mẹ là một họa sĩ, Ricard giành được bằng tiến sĩ di truyền học phân tử tại Viện Pasteur danh tiếng trước khi tận hiến cuộc đời mình cho Phật giáo ở dãy Himalaya. Matthieu Ricard trở thành nhà sư ở tuổi 30 và trở thành thông dịch viên Pháp ngữ cho Đạt Lai Lạt Ma vào năm 1989.
Ricard cùng chấp bút một cuốn sách chung với cha mình vào năm 1997 có tên “The Monk and the Philosopher” (tạm dịch: “Nhà sư và Triết gia”), chủ yếu miêu tả những trải nghiệm của bản thân nhưng cuốn sách bỗng nhiên trở thành một bestseller ở Pháp. Và khi giới truyền thông để ý đến Ricard thì ông miễn cưỡng phải trở thành một nhân vật nổi tiếng.
Truyền thông phương Tây cũng xem Matthieu Ricard là “người đàn ông hạnh phúc nhất”, một danh hiệu mà Ricard đã thất bại để chối bỏ sau một nghiên cứu đo sóng gamma não bộ khi thiền định được tiến hành tại Đại học Wisconsin vào năm 2000. Khi ấy, sóng gamma não bộ của Ricard được ghi lại mạnh nhất trong số các nhà sư tham gia thực nghiệm.
Dưới sự dẫn dắt của Đạt Lai Lạt Ma, Ricard đã quyết định sử dụng một kênh truyền thông để truyền tải các bài giảng về hạnh phúc và vị tha, bất cứ lợi nhuận nào thu được từ những bài giảng của mình ông đều dành cho tổ chức phi lợi nhuận Karuna-Shechen của ông.
Matthieu Ricard dành hầu hết thời gian trong năm của mình ở nước ngoài tại nhiều chùa chiền tự viện hay nói chuyện với công chúng thuộc một cơ quan tổ chức nào đó như TED, Google, Liên hiệp quốc nhưng ngôi nhà thực sự của ông chính là Chùa Shechen ở Nepal.

Dân Nguyễn (Pháp Bảo)

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 51

KHUÔN MẶT VĂN NGHỆ MỚI