All posts by Adida

Lặng Nhìn

Đôi khi trời ngập nắng
Bỗng nghe lòng đổ mưa.
Một chiều mưa nhạt nhòa
Hồn lung linh bóng nắng.
Có khi trong bình lặng
Gờn gợn niềm xôn xao.
Giữa hạnh phúc ngọt ngào
Thoảng nghe mùi cay đắng.
Lắm khi trong sầu hận
Vẫn nồng nàn thương yêu.
Nơi khóe mắt trời chiều
Phía sau vàng rực lửa .
Nhìn sâu trong lời hứa
Đã nhuốm màu phôi pha.
Đôi môi nào thật thà
Chợt quên mình, gian dối..
Bước chân ngày lễ hội
Đã vang lời quạnh hiu.
Biển bình yên buổi chiều
Vỗ sóng ngầm khao khát.
Trong tương phùng khúc nhạc
Sóng sánh màu ly bôi .
Về đối diện đơn côi
Lặng , nghe niềm hạnh phúc.
Chiêm bao, mà rất thực
Mở mắt lại say nồng..
Đời là một dòng sông
Chảy xuôi cùng mộng mị.
Cuộc đời, ừm… lạ nhỉ!
Sóng vỗ bờ nhị nguyên
Thôi, ta về cõi Thiền
Lặng hai miền mỏi mệt.
Vui nào hơn Tịch diệt.
                                   TTTuệ
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 57

BÀI THƠ NÀY AI LÀM TUYỆT VỜI VÀ CHÍNH XÁC QUÁ!

Mai Tôi Đi
Mai tôi đi…chẳng có gì quan trọng,
Lẽ thường tình, như lá rụng công viên,
Như hoa rơi trước gió ở bên thềm,
Chuyện bé nhỏ giữa giòng đời động loạn…

Trên giường bệnh,tử thần về thấp thoáng,
Xin miễn bàn, thăm hỏi hoặc cầu an,
Khi xác thân thoi thóp trút hơi tàn,
Nằm hấp hối đợi chờ giờ vĩnh biệt.

Khoảnh khắc cuối… Đâu còn gì tha thiết…
Những tháng ngày hàn nhiệt ở trần gian.
Dù giàu sang hay danh vọng đầy tràn,
Cũng buông bỏ trở về cùng cát bụi…

Sẽ dứt điểm đời phù du ngắn ngủi,
Để đi vào ranh giới của âm dương,
Không bàng hoàng trước ngưỡng cửa biên cương,
Bên trần tục, bên vô hình cõi lạ…

Chỉ ước nguyện tâm hồn luôn thư thả,
Với hành trang thanh nhẹ bước qua nhanh,
Quên đàng sau những níu kéo giựt dành,
Kết thúc cuộc lữ hành trên dương thế…

Mắt nhắm rồi… Xin đừng thương rơi lệ,
Đừng vòng hoa,phúng điếu hoặc phân ưu,
Đừng quay phim, chụp ảnh để dành lưu.
Gây phiền toái,nợ thêm người còn sống…

Ngoảnh nhìn lại,đời người như giấc mộng,
Đến trần truồng và đi vẫn tay không.
Bao trầm thăng, vui khổ đã chất chồng,
Nay rũ sạch…lên bờ, thuyền đến bến…

Nếu tưởng nhớ..Xin âm thầm cầu nguyện,
Nên xem như giải thoát một kiếp người,
Cứ bình tâm, thoải mái với vui tươi,
Kẻ đi trước, người sau rồi sẽ gặp…

Mai-tôi đi …..

Bài thơ hay quá,!!! Cuộc đời là thế !!!Còn chút thời gian, xin hãy đối xử với nhau cho thật tốt, đừng tranh dành chút danh lợi nhỏ nhoi, tất cả đều là phù vân, tạm bợ. Bạn còn nâng ly được  xin cứ uống, còn gắp đuợc xin cứ ăn, còn vui được xin cứ vui, còn những người bạn tốt xin hãy gặp gỡ, liên-lạc tâm tình, kể chuyện xưa, nhắc cho nhau những kỷ niệm vui, buồn …. .

Bạn còn người phối ngẩu, xin hãy nâng niu, âu yếm vì có quá nhiều người đến tuổi mình đã không được như bạn mà phải lủi thủi một mình, sáng, trưa, chiều, tối nhìn quanh một mình !  Chỉ vì đời mình  ”  Đã tắt bình – minh  ” . . . .

 
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 77

Ngôi Làng Phật Giáo Bí Ẩn

Nằm trên thung lũng xanh Larung cao 4.000m, cách thị trấn Sertar, Garze, Tây Tạng khoảng 15 km, nhìn từ xa Học viện Phật giáo Larung Gar như một ngôi làng nhỏ xinh chứa đựng vô vàn điều thiêng liêng và dung dị nhất của đạo Phật.
Được xây dựng từ những năm 1980 ở một khu vực hoàn toàn không có người ở, nhưng học viện Larung Gar không ngừng phát triển. Tính đến thời điểm hiện tại, Larung Gar đã trở thành ngôi nhà cho hơn 40.000 tu sĩ, nữ tu ở khắp mọi nơi hội tụ về học tập rèn luyện.

Toàn cảnh Học viện Phật giáo Larung Gar 

Cách trở, xa xôi và tách biệt hoàn toàn với thế giới bên ngoài, nhưng Larung Gar vẫn thu hút được sinh viên và trở thành “ngôi làng Phật giáo” lớn nhất thế giới. Nếu từng một lần đến thăm Larung Gar, chắc chắc tất cả các du khách sẽ sửng sốt trước kiến trúc hoàn toàn giống nhau của các ngôi nhà bằng gỗ với hai gam màu chủ đạo: nâu trầm và đỏ thẫm. Những ngôi nhà nằm sát nhau nối tiếp như những đợt sóng đỏ dài bất tận.
Mỗi ngôi nhà có từ 1 đến 3 phòng, thường không có lò sưởi và nhà vệ sinh. Tất cả các hoạt động sinh hoạt được quy định trong một địa điểm chung của từng khu vực. Nơi ở của các tăng ni phật tử được đặt gần trường đại học và được phân theo độ tuổi, giới tính.
Trong 40.000 tăng ni, phật tử hội tụ về Larung Gar thì hơn nửa số đó nữ tu. Hầu hết các sinh viên Phật giáo đang theo học tại học viện đến từ các quốc gia và khu vực có ảnh hưởng của đạo Phật như Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Singapore và Malaysia. Tùy theo trình độ mà nhà quản lý phân chia lớp học theo tiếng phổ thông và tiếng Tây Tạng.
Để đến được Larung Gar cũng không phải là một chuyện dễ dàng, bởi thành phố gần học viện nhất là Thành Đô cũng cách gần 650km, mất nhiều giờ đi đường ghập ghềnh khúc khuỷu. Wanson Luk, một phật tử 34 tuổi đã phải ngồi xe mất 20 giờ đồng hồ để đến Larung Gar.
Cảm nhận đầu tiên của Luk về Larung Gar đó là sự thanh bình, yên tĩnh nhưng cũng không thiếu đi những sắc màu riêng của một cuộc sống tôn giáo. Larung Gar chào đón tất cả du khách thập phương và tạo điều kiện cho những người như Luk được tham gia và trải nghiệm những buổi tụng kinh cầu nguyện và hành lễ.
Ở lại Larung Gar hai ngày, Luk may mắn có dịp được chứng kiến lễ thiên táng của vùng đất Tây Tạng. “Tôi ngạc nhiên nhất về cách mọi người cảm nhận về cái chết”, Luk nói. 
“Tôi đã tham gia vào buổi lễ an táng ngoài trời, nơi có hàng trăm, hàng nghìn con kền kền đang chờ đợi lặng lẽ. Có 7 thi thể người chết vào ngày hôm đó, trong đó có một đứa trẻ”.
“Trong buổi lễ, một nhà sư sẽ cầu nguyện, sau đó các thi thể sẽ được cắt thành từng phần phơi ra giữa khu vực thiên táng rộng lớn. Kết thúc buổi lễ là hình ảnh lũ kền kền tha các phần thi thể người đi khắp nơi. Họ tin rằng càng có nhiều kền kền ăn thịt thì càng tốt và kền kền sẽ không ăn thi thể của những người xấu”, Luk nói.
Ở học viện Larung Gar, tivi bị cấm, nhưng các tăng ni phật tử được phép sử dụng điện thoại, nhiều người trong số đó cũng sở hữu những chiếc iPhone 4S như một công cụ để liên lạc. 


Những ngôi nhà bằng gỗ nằm san sát nhau
|

Các khu ở được phân theo độ tuổi và giới tính, ngăn cách nhau bằng một con đường.


Mỗi ngôi nhà có 1 đến 3 phòng và không có lò sưởi hay nhà vệ sinh


Mọi sinh hoạt được gói gọn trong một địa điểm chung của từng khu vực


Trường đại học, nơi các phật tử đến học tập hàng ngày


Các lạt ma đang ngồi nghe giảng kinh


Một phòng của hai vị tu học


Một nửa trong số 40.00 sinh viên học viên là nữ tu


Larung Gar đã trở thành ngôi làng Phật giáo lớn nhất hành tinh

Những hòn đá trang trí, có câu chân ngôn Lục tự Đại Minh chữ Phạn (Om mani Padme Hum) trong khuôn viên học viện
Học viện Larung Gar khi lên đèn
                                          Nguồn Web
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 51

Hai Mặt

SỰ THẬT có 6 chữ
GIẢ DỐI cũng 6 luôn
Mặt trái và mặt phải
Trắng đen ôi khó lường!

TÌNH YÊU có 7 chữ
PHẢN BỘI cũng thế thôi
Chúng là hình với bóng
Rất dễ dàng đổi ngôi.

Chữ YÊU là 3 chữ
HẬN là ba, giống nhau.
Người say men Hạnh phúc
Kẻ thành Lý Mạc Sầu.

BẠN BÈ có 5 chữ
KẺ THÙ đếm cũng năm
Hôm nao lời ngọt mật
Hôm nay chìa.. dao găm.

Từ VUI có 3 chữ
Tiếng SẦU cũng đồng như.
Quá vui thường mất trí,
Mất trí đời đổ hư.

Chữ KHÓC có 4 chữ
CƯỜI cũng vậy, giống in
Ai ” giòn cười, tươi khóc ”
Ấy cảm thọ nhận chìm.

Chữ ĐẠO gồm 3 chữ
ĐỜI cũng rứa, là ba
ĐỜI thường hay ôm giữ
ĐẠO buông xả, cười xòa.

Cuộc sống là hai mặt
Giới tuyến một đường tơ .
Chấp nhận mà không vướng
Nhẹ bước qua hai bờ .

T. T. Tuệ

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 54

Đôi Bàn Tay Yêu Thương

Bất chợt chiều nay nhìn lại
Bàn tay mẹ hái hoa hường
Đôi tay một thời nhẫn nại
Bây chừ.., ngón đã trơ xương .

Từ lâu đôi bàn tay ấy
Tôi quên cầm lấy một lần
Ôi bàn tay…thương biết mấy
Dịu dàng, độ lượng, từ tâm .

Bàn tay thuở ngồi khâu vá
Đèn khuya bóng mẹ âm thầm
Nâng niu, vỗ về thơ ấu
” Canh chầy thức đủ vừa năm ..”

Bàn tay dắt dìu tuổi nhỏ
Ngày xua chẳng chịu đến trường
Buổi mai đưa vào lớp học
Dặn dò : ” con gắng Mẹ thương !”

Mo cau đựng đầy hạt dẻo
Thương con Mẹ bới ra đồng
Rồi tay cấy từng luống mạ
Thu nào lúa đã đầy bông

Một thời tay là sen búp
Từng đêm chắp lại nguyện cầu
Thương Cha miệt mài chinh chiến
không về . Mẹ sống lo âu .

Bàn tay dạn dầy sương nắng
Đời con một sớm xuân hồng
Vì con tận tình lo lắng
Nên người, ấy Mẹ chờ mong

Thương sao đôi bàn tay Mẹ !
Nghìn năm vẫn cứ mặn mà
Ngàn lời thơ con muốn kể
Đâu bằng Mẹ tháng ngày qua …

Xin hôn đôi bàn tay Mẹ
Bàn tay đẹp đẽ lạ thường
Sức sống vươn lên mầu nhiệm
Đong đầy tất cả yêu thương.

                        TTTuệ
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 45

KHÔNG RƯỢU MÀ SAY

(Thuật theo chuyện kể của Hòa thượng Trí Nghiêm)

Vào một buồi chiều tịnh mịch ở Kỳ viên tinh xá, sau khi giảng pháp cho chư tăng và cư sĩ khắp nơi tụ về, Đức Thế tôn vào Hương thất an nghỉ. Vừa đặt lưng xuống, Ngài bỗng nghe tiếng đập cửa thình thịch và tiếng khè khè của một gã say rượu thừa lúc cổng mở, đã lẻn vào tinh xá. Hắn vừa đập cửa vừa gọi:

– Ông Phật ơi, ông Phật! Cho tui làm Phật với! Tui cũng muốn … làm Phật! Khà khà! Bộ chỉ mình ông làm Phật được mà thôi à? Há?

Đức Thế tôn ngồi dậy ra mở chốt. Thấy gã say dơ dáy, y phục tả tơi, Ngài động lòng trắc ẩn gọi thị giả A Nan:

– Này, A Nan, ông tắm rửa, cạo tóc và cho nó một cái y sạch. Rồi tìm chỗ cho nó nằm nghỉ.

A Nan vâng lệnh. Sau khi tắm rửa sạch sẽ, cạo tóc đắp y, gã say được đưa đến một gốc cây im mát trong tinh xá. Gã đánh một giấc ngon lành cho đến sáng hôm sau. Khi tỉnh dậy, hắn bỡ ngỡ nhìn quanh thấy toàn thầy tu mặc áo vàng đi bách bộ, dòm lại mình cũng đang đắp y, sờ đầu nghe trụi lũi, hắn kinh hoàng không biết mình là ai, vội vàng bỏ chạy một mạch ra phía cổng. Các tỳ kheo đuổi theo bắt lại. Nhưng một số khác biết chuyện, ngăn bạn:

– Này, chư hiền, để cho hắn chạy. Hắn chỉ là một gã say, hôm qua Thế tôn bảo tôn giả A Nan tắm rửa cạo tóc đắp y vào cho hắn đấy.

– Thật Thế sao? Tại sao đức Thế tôn làm chuyện lạ nhỉ? Biết hắn say mà vẫn độ cho hắn xuất gia?

– Hãy để hắn đi cho khuất, rồi chúng ta sẽ đến thỉnh giáo đức Thế tôn về việc này.

Thế là họ kéo nhau đến Hương thất đức Phật, bạch hỏi:

– Bạch đức Thế tôn, chúng con không hiểu vì nguyên nhân gì Ngài lại độ cho một gã say như thế? Xin Đấng Thiện Thế giải rõ cho chúng con.

– Này các tỳ kheo, các ông dường như trách ta vì đã độ cho một gã say. Nhưng ta hỏi các ông, trong lúc hắn say, tại sao không cầu chuyện gì khác, mà lại cầu làm Phật? Như thế là hắn đã gieo một cái nhân tốt đẹp, ta phải giúp duyên cho hắn, vì ta không hẹp gì mà không cho hắn làm Phật. Vả lại, có bao nhiêu người “tỉnh” biết cầu làm Phật như hắn? Vậy thì ai tỉnh, ai say? Huống chi, hắn có nhậu rượu vào mà say, thì bất quá chỉ say vài tiếng đồng hồ rồi tỉnh lại. Cho nên, bệnh say của hắn, ta không cho là trầm trọng. Trái lại, biết bao kẻ trên thế gian này, dù không uống rượu mà vẫn say, không phải say vài tiếng đồng hồ như hắn, mà say muôn kiếp ngàn đời chưa tỉnh. Cái bệnh say đó, say trong vô minh ái dục, Ta mới gọi là một chứng bệnh trầm kha!.
Trích: Đường Vào Nội Tâm (T.N. Trí Hải)

–o0o–

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 43

BỒ TÁT THÂN NAI (Kỳ 2)

Một hôm, tại Diệu pháp đường trong tinh xá Kỳ hoàn, chúng tỳ kheo đang ngồi ca tụng ân đức Thế tôn, đã cứu được hai mẹ con và lại còn đặt lên ngôi vị thánh. Đức Phật đi vào biết chuyện, dạy:

– Này các tỳ kheo, không phải trong đời này Như lai đã cứu hai mẹ con Ca Diếp, mà trong đời kiếp lâu xa khi còn làm súc sanh, ta cũng đã từng cứu hai mẹ con ấy.

Rồi Ngài kể lại chuyện tiền thân ngài làm Nai chúa như sau.

Thuở ấy đức Phật làm một con nai chúa tể cả đàn nai trong rừng. Nai chúa có bộ lông và đôi mắt tuyệt đẹp. Vị vua trị vì lúc bấy giờ rất khoái thịt nai, ngày nào cũng bắt dân chúng vào rừng săn bẫy nai đem về cung cấp cho đầu bếp nhà vua. Vì phải bỏ bê việc nhà vào rừng săn nai hàng ngày, dân chúng bàn nhau huy động toàn lực để bắt hết tất cả nai trong rừng về, vây lại trong vườn thượng uyển để đầu bếp mỗi ngày vào đó mà bắt nai, khỏi phiền nhiễu tới dân chúng. Đàn nai của Bồ tát bị tóm trọn, cùng với một đàn nai khác cũng do một nai chúa cầm đầu, là tiền thân của Devadatta.

Khi cả hai đàn nai đều bị bắt về ngự uyển, vua đến xem, và trông thấy hai con nai chúa xinh đẹp, liền bảo đầu bếp chừa lại đừng giết. Những con khác thì cứ mỗi ngày làm thịt cho vua dùng. Từ đấy hàng ngày tên thợ săn và đầu bếp của vua lại đến, dùng cung nỏ bắn hạ một con trong hai đàn nai để về làm thịt. Mỗi khi thợ săn đến, hai đàn nai chạy tán loạn, thợ săn bắn tên vào chúng, nhiều con bị trúng thương, phải chịu đau đớn nhiều ngày trước khi chết. Thảm kịch tái diễn hàng ngày, khiến cho đàn nai hãi hùng khủng khiếp. Bồ tát nai liền họp tất cả đàn mình và đàn nai Đề bà để thương nghị:

– Để tránh tình trạng kinh hoàng cho hai bầy nai, chúng ta hãy luân phiên bắt thăm, ngày hôm nay đàn nai tôi nạp một mạng, ngày mai đàn nai anh nạp một mạng. Như vậy những nai còn lại được sống yên ổn, cho đến khi tới phiên mình nạp mạng.

Toàn thể đều chấp thuận sự sắp đặt ấy. Một hôm, đến lượt đàn nai Đề bà bốc thăm, trúng phiên một chị nai có bầu sắp sinh. Nai mẹ khẩn khoản với nai chúa:

– Xin hãy tha cho tôi, nếu tôi bị giết thì chết tới hai mạng chứ không phải một, Như vậy không công bằng. Tôi sẽ xin nạp mình sau khi sanh nở xong.

Nai Đề bà nhất quyết không chịu. Nai mẹ bèn đến cầu cứu nai Bồ tát. Bồ tát nói:

– Được, chị yên tâm trở về đi. Ngày mai, chị khỏi phải đến nạp mạng.

Nai mẹ mừng rỡ cảm ơn ra về. Hôm sau, khi tên đầu bếp của vua đi đến chỗ hành quyết nai, thì thấy Bồ tát nai chúa đang nằm kê đầu trên cái thớt chờ lát đao chặt xuống. Đôi mắt Nai trong sáng đượm buồn, nhưng bình an. Nai ngước nhìn tên đầu bếp với vẻ thương xót, không lộ vẻ gì là sợ sệt, thù hận. Đầu bếp ngạc nhiên hỏi:

– Này bồ đi, sao nằm đó? Vua bảo tha chết cho bồ kia mà. Đàn nai của bồ chết tiệt cả rồi sao?

– Không phải đâu, đầu bếp. Đàn nai tôi còn nhiều, nhưng hôm nay tới phiên một chị nai có bầu nạp mạng. Nếu chị ấy chết thì chết cả mẹ lẫn con. Tôi không nỡ bảo ai thay thế chị, vì ai cũng tham sống sợ chết cả. Do vậy tôi nạp mình thay cho chị. Đầu bếp cứ việc hạ đao đi.

Người đầu bếp trở về tâu vua chuyện lạ. Nhà vua đích thân theo ông đến vườn nai, thấy Nai chúa vẫn nằm kê đầu trên thớt, đôi mắt long lanh như hai viên ngọc ngước nhìn vua. Do năng lực từ tâm của Bồ tát, vua phát sinh một lòng thương vô hạn. Vua ngồi xuống bên nai:

– Này nai chúa, hãy đứng dậy. Ta tha chết cho ngươi.

– Tâu đại vương, ngài tha chết cho tôi, nhưng còn những nai khác trong vườn thì sao?

– Ta cũng tha luôn tất cả nai trong vườn.

– Nai trong vườn được tha, còn tất cả loài nai thì sao?

– Ta cũng tha giết tất cả loài nai.

– Loài nai được tha, nhưng các loài thú khác trên mặt đất thì sao?

– Ta cũng tha nốt.

– Loài thú trên đất được tha, nhưng cá dưới nước thì sao?

– Ta cũng tha luôn loài cá.

– Loài dưới nước được tha, còn loài chim bay trên không thì sao?

– Loài chim bay cũng được tha luôn.

– Lành thay, đại vương. Tất cả chúng sinh đều tham sống sợ chết, bởi thế không nên giết hại, đánh đập, gieo rắc sự sợ hãi. Ngài hãy sống với từ tâm, thì đời này được an lạc, giấc ngủ nhẹ nhàng, sống không bệnh tật, chết được an lành, sinh lên các cõi trời trường thọ.

Nhờ bồ tát Nai cảm hóa, từ đấy nhà vua phát tâm ăn chay, không còn ý tưởng giết hại.

Nai mẹ được bồ tát cứu, về sau sanh hạ một chú nai con kháu khỉnh, đó là tiền thân hoàng tử Ca Diếp ngày nay. Nai mẹ chính là tỳ kheo ni được Phật giải oan trong kiếp hiện tại, còn nhà vua là tiền thân của A nan tôn giả.(Hết)

Nguồn: Internet

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 37

SOI LÒNG

SOI LÒNG

Có đôi lúc ta cần nên thận trọng
Ngồi lắng nghe dư luận nói về mình.
Khộng lệ thuộc trước những lời hư vọng,
Chẳng coi thường bao góp ý công minh.

Vì..’không lửa thì làm sao có khói!’
Nên lắng lòng xem xét lẽ thực, hư.
Và cười nhẹ, khi biết mình không lỗi
Hiểu thêm rằng.. dư luận vốn luận dư..

Khi cầm mảnh gương soi vào tâm khảm
Ta biết mình đẹp, xấu, đục hay trong?
Vườn tâm địa vương vấn nhiều cỏ dại
Mà cũng không thiếu vắng những hoa hồng.

Thánh nhân nào mà không mang quá khứ
Tội nhân nào chẳng thể có tương lai.
Chính vì vậy, nhủ lòng luôn khoan thứ
Kiếp con người ai thoát khỏi lầm sai?

Sau mưa gió bên kia trời ửng nắng
Sau lỗi lầm, cay đắng, trưởng thành hơn.
Điều quan trọng là tự tri, vượt thắng.
Những đam mê, giới hạn của tâm hồn.

Thường soi bóng bên dòng sông tâm niệm
Nếu ta cười ảnh hiện nụ cười ta
Cùng thế ấy, luôn sống đời hướng thiện
Vững tin mai Hạnh phúc lại trao quà.

Có đôi lúc ta hãy nên nhìn ngắm
Thế gian này bằng đôi mắt trẻ thơ.
Để nghe tiếng Thương yêu từ sâu thẳm
Chỉ cái nhìn nhân thế hết bơ vơ..

Thích Tánh Tuệ
Himachal mùa An Cư 2014

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 45

BỒ TÁT THÂN NAI

 BỒ TÁT THÂN NAI

Thuở Phật tại thế, có nhà triệu phú sinh được người con gái xinh đẹp đã trồng căn lành từ vô lượng kiếp, có trí tuệ của bậc xuất trần thượng sĩ. Khi lớn lên nàng không màng chuyện chồng con, mà muốn xuất gia trong Pháp và Luật của Phật. Nàng xin cha mẹ:

– Thưa cha mẹ, con không ưa đời sống gia đình, xin cha mẹ cho con xuất gia, sống đời giải thoát như Phật Thế tôn.

Ông bà triệu phú kinh hoảng bác ngay lời nàng:

– Này con yêu dấu, đừng nói bậy. Nhà ta đại phú, con muốn cúng dường bố thí bao nhiêu cha mẹ cũng không cấm. Nhưng con là con gái cưng độc nhất của cha mẹ, không đời nào cha mẹ lại cho phép con xuất gia.

Bị từ chối, cô gái suy nghĩ: “Vậy, khi nào cha mẹ gả chồng, ta sẽ xin chồng xuất gia.” Và cha mẹ đã chọn người rể xứng đáng, gả nàng. Cô gái theo về nhà chồng, thâm tâm vẫn nuôi ý định xuất gia. Vào một ngày hội lớn trong nước, mọi người đều trang sức lộng lẫy, nhưng cô gái vẫn không đeo đồ nữ trang, y phục vẫn đơn giản như thường ngày. Chồng nàng hỏi:

– Tại sao em không trang điểm phấn son gì cả? Hôm nay là ngày hội vui cả nước, em không tham dự sao?

– Thân này là đãy da chứa toàn ô uế, phấn son trang điểm cho nó chẳng khác gì trang hoàng một cái thùng phân.

– Em nói nghe như là người đã thoát vòng tục lụy. Vậy sao em không vào chùa tu luôn đi?

– Nếu được phép, em sẽ xuất gia ngay bây giờ.

– Vậy thì được, cho phép em xuất gia.

Nàng hoan hỉ cảm ơn, và chồng nàng đưa nàng tới một ni viện dưới sự lãnh đạo của Đề bà đạt đa (Devadatta). Đề bà đạt đa đã gây chia rẽ trong tăng chúng, bằng cách đưa ra năm điều luật khắc khe hơn giới luật Phật chế, và nhờ vậy thâu được một số đông đệ tử mới của Phật về phái mình, những người có khuynh hướng cực đoan, khoái khổ hạnh.

Thiếu phụ khi xuất gia, hoàn toàn không biết mình đã mang thai. Sau khi thọ giới cụ túc, bụng càng ngày càng lớn. Chúng tỳ kheo ni trông thấy, bèn đi mách với Đề bà. Đề bà ra lệnh trục xuất ngay, vì cho là cô ấy phạm giới. Cô cực lực phản đối, bảo:

– Tôi xuất gia với đức Đạo sư, không phải xuất gia với sự lãnh đạo của Devadatta. Xin cho tôi đến yết kiến đức Phật Thế tôn.

Chúng ni bèn đưa nàng đến trước Phật. Phật biết nàng vô tội, song vì nàng ở trong tăng đoàn Đề Bà, nên ngài muốn làm sáng tỏ vấn đề trước vua Ba tư nặc để quần chúng khỏi dị nghị, cho rằng Ngài tranh giành đệ tử. Một phiên xử công khai được triệu tập để xét xử nội vụ. Nhiều trưởng giả, đại thần, mệnh phụ tham dự, trong đó có bà Visakha là một phụ nữ nổi tiếng. Bà được đề cử để khám xét thiếu phụ tỳ kheo ni. Sau khi khám, bà công bố cô có thai khi còn là gia chủ, và do đó cô vô tội. Phiên xử kết thúc mỹ mãn, tỳ kheo ni được trở về chùa. Đến kỳ khai hoa nở nhụy, cô hạ sanh một bé trai được nuôi trong chùa. Khi vua Ba tư nặc đi dạo chơi ngang chùa, nghe tiếng trẻ khóc bèn hỏi quan hầu cận:

– Quái lạ, sao trong chùa lại có tiếng trẻ khóc nhỉ?

– Tâu đại vương, đó là hài nhi của vị ni cô được triều đình tuyên bố vô tội dạo trước.

Vua nhớ ra, bèn xin Phật cho đưa đứa bé về cung để hoàng hậu và các cung nữ nuôi giùm. Đến kỳ đặt tên, hài nhi có tên là “hoàng tử Ca Diếp”, được nuôi dạy chung với các hoàng tử. Khi lên bảy, hoàng tử Ca Diếp xin Phật xuất gia. Sau khi thụ đại giới, trưởng lão Ca Diếp trở thành vị thuyết pháp đệ nhất trong tăng đoàn của Phật. Trưởng lão ni mẹ của ngài và ngài đều chứng quả A La Hán. ( kỳ 1)

Nguồn Internet

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 102

SOI GƯƠNG

SOI GƯƠNG

Thế gian như một tấm gương
Nếu mặt mày ta nhăn nhó
Bóng hình trong gương cau có
Lỗi đó, đâu phải là gương?

Cuộc đời là một tấm gương
Cười, bóng trong gương cười lại,
Vì thế chớ nên ngần ngại
Nhìn ai…gửi nụ cười hiền.

Thế gian lắm nỗi muộn phiền
Nếu lau gương lòng cho sáng
Sẽ thấy đời luôn tỏ rạng
Dù ngoài kia vẫn mù sương..

Mọi người là một tấm gương
Bài học hằng luôn phản chiếu.
Nếu lòng có Thương và Hiểu
Đời vi diệu ngát hương hoa…

T. Tánh Tuệ

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 39

BUÔNG TÂM

 

Tìm ta giữa mấy thiên hà,
Tìm ta trong cỏ lá hoa bụi hồng;
Tìm ta hạt nước cuối sông,
Tìm trong hạt nước trên nguồn suối reo;

 

Tìm ta hạt nắng lưng đèo,
Tìm trong gió sớm đùa reo giữa trời;
Tìm ta giữa cuộc đầy vơi,
Hạt sương trong nắng giữa trời mênh mông;

Tìm ta bóng nước dòng sông,
Trong đôi mắt biếc ngắm hồng hạc bay;
Tìm ta trong tháng và ngày,
Rêu thời gian trắng tóc bay trên đầu;

Nước xưa còn chảy qua cầu,
Mòn con sông cũ đá sầu ai hay;
Tìm ta trong khóm trúc lay,
Giữa trăng và nguyệt ai hay lúc nào;

Tìm ta có tự thuở nào,
Có từ trăng biết cùng sao giỡn đùa;
Tìm ta tìm giữa non xưa,
Tìm trong hạt bụi bay qua phố phường;

Tìm ta tìm giữa vô thường,
Giữa sinh và diệt thả hương giữa trời!
Thả sương cho nắng reo cười,
Thả tâm muôn sự vạn đời tịch nhiên.

                                          Tuệ Nguyên – TTH

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 60

Sóng Và Người

Trên mặt biển bao la
Nhấp nhô những con sóng
Những đợt sóng gần xa
Sóng to kề sóng nhỏ
Sóng nhỏ ngầm tủi thân
Buồn rầu hỏi sóng lớn
Sao lớn mạnh như thần
Còn tôi nhỏ lăn tăn
Sóng lớn cười hiền hòa
Khẽ khàng bảo sóng nhỏ
Vì bạn chẳng nhận ra
Gốc gác thật của bạn
Thật ra thực chất mình
Chúng ta đều là nước
Cần chi phải bất bình
Dù ai to ai nhỏ
Bỏ đi vỏ sóng ngòai
Thì tôi cũng như bạn
Cũng là nước như nhau
Tất nhiên ta bình đẳng
Con người nếu ngộ ra
Biết ta từ đâu đến
Cái gì tạo nên ta
Thì có đâu giai cấp
Dù ai sang ai hèn
Cùng đinh hay tột đỉnh
Cho dù cố bon chen
Cũng không thể phủ nhận
Cởi đi bộ áo ngòai
Lau sạch đi son phấn
Thì ai cũng như ai
Và sẽ về cát bụi
        Người Phương Nam
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 46

Một Tách Trà

  Thiền sư Nhật sống vào thời Minh Trị (1868-1912), tiếp một giáo sư đại học đến hỏi về Thiền. Nam Ẩn đãi trà. Sư rót trà vào tách của khách, đến khi tách đã tràn mà sư vẫn tiếp tục rót. Vị giáo sư ngồi nhìn nước tràn ra ngoài, đến lúc không chịu đựợc nữa kêu lên, “Đầy quá, hết chỗ chứa rồi!” Nam Ẩn nói, “Cũng giống như cái tách này, ông đầy ắp những quan niệm, những suy lý, làm sao tôi có thể chỉ Thiền cho ông được, trừ phi ông cạn cái tách của ông trước?

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 65

Anh Hùng Vô Danh

Một video clip về một thanh niên tốt bụng.
Anh giúp bà già bán hàng rong đẩy xe qua đường
Giúp mẹ con đứa bé ăn xin có tiền để cháu đi học
Cho con chó hoang thức ăn
Nhường chổ cho phụ nữ trên xe buýt
Tặng bà hàng xóm nải chuối

Anh chẳng được gì
Chẳng giàu có hơn
Chẳng nổi tiếng hơn
Chẳng được đưa lên TV

Điều anh nhận được là
Anh chứng kiến được hạnh phúc
Hiểu biết sâu sắc hơn về cuộc đời
Cảm thấy được sự yêu thương
Nhận được những thứ mà tiền bạc không mua được
Khiến thế giới tốt đẹp hơn

Còn bạn thì sao? Điều gì bạn thấy cần nhất trong đời.

Adida sưu tầm

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 64

Lý Long Tường – Ông Tổ của Người Tỵ Nạn

Lý Long Tường là Hoàng tử nhà Lý nước Đại Việt, Hoa Sơn Tướng quân (Hwasan Sanggun) nước Cao Ly và là ông tổ của một dòng họ Lý ngày nay tại Hàn Quốc.

Lý Long Tường sinh năm 1174 (Giáp Ngọ), là con thứ bảy của vua Lý Anh Tông (trị vì 1138-1175) và Hiền Phi Lê Mỹ Nga. Ông được vua Trần Thái Tông phong chức: Thái sư Thương trụ quốc, Khai phủ Nghi đồng Tam ty, Thượng thư Tả bộc xạ, lĩnh Đại đô đốc, tước Kiến Bình Vương.

Năm 1225, Trần Thủ Độ lật đổ nhà Lý bằng cách đưa cháu là Trần Cảnh vào hầu Lý Chiêu Hoàng, dàn xếp để Trần Cảnh lấy Lý Chiêu Hoàng và nhường ngôi để lập ra nhà Trần. Sau đó Trần Thủ Độ tiến hành tàn sát con cháu nhà Lý, buộc con cháu nhà Lý đổi qua họ Nguyễn, đày con cháu nhà Lý đi lên vùng núi non hiểm trở phía bắc.

Tị nạn

Năm 1226 (tức niên hiệu Kiến Trung thứ hai đời Vua Thái Tông nhà Trần), để bảo toàn tính mạng và lo việc thờ cúng tổ tiên, Lý Long Tường đã mang đồ thờ cúng, vương miện, áo long bào và thanh Thượng phương bảo kiếm truyền từ đời Vua Lý Thái Tổ cùng sáu ngàn gia thuộc qua cửa Thần Phù, Thanh Hóa chạy ra biển Đông trên ba hạm đội. Sau một tháng lênh đênh trên biển, đoàn thuyền gặp bão lớn phải ghé vào Đài Loan. Khi Lý Long Tường quyết định lên đường thì con trai là Lý Long Hiền ốm nặng nên phải ở lại cùng 200 gia thuộc. Trên đường đi tiếp đoàn thuyền bị bão dạt vào Trấn Sơn, huyện Bồn Tân, tỉnh Hoàng Hải, trên bờ biển phía tây Cao Ly (gần Pusan ngày nay). Tương truyền rằng trước đó Vua Cao Tông của Cao Ly nằm mơ thấy một con chim cực lớn bay từ phương Nam lên, vì vậy ông lệnh cho chính quyền địa phương tiếp đón ân cần, và đồng ý cho Lý Long Tường ở lại dung thân.

Tại đây Lý Long Tường cùng tướng sĩ, gia thuộc trồng trọt, đánh cá, chăn nuôi. Ông cho mở Độc thư đường dạy văn (thi phú, lễ nhạc, tế tự) và Giảng võ đường dạy võ (binh pháp, võ thuật). Học trò theo học rất đông, lúc nào cũng trên nghìn người.

Chống quân Nguyên Mông

Năm 1232, Đại hãn Oa Khoát Đài đem quân tiến đánh Cao Ly bằng hai đường thủy bộ. Về đường thủy, quân Nguyên Mông vượt biển tiến đánh Hoàng Hải nhưng bị Lý Long Tường lãnh đạo tướng sĩ, gia thuộc và quân dân địa phương đẩy lui. Khi ra trận, ông thường cưỡi ngựa trắng đôn đốc quân sĩ, nhân dân gọi ông là Bạch Mã Tướng quân.

Năm 1253, Đại hãn Mông Ca lại đem quân đánh Cao Ly lần thứ hai. Quân Nguyên Mông do Đường Cơ chỉ huy tấn công Hoàng Hải cả đường thủy lẫn đường bộ. Lý Long Tường lãnh đạo quân dân trong vùng chống trả quân Nguyên Mông suốt 5 tháng ròng. Sau chiến công này, Vua Cao Ly đổi tên Trấn Sơn thành Hoa Sơn, phong Lý Long Tường làm Hoa Sơn Tướng quân. Nơi quân Nguyên Mông đầu hàng gọi là Thụ hàng môn và Vua Cao Ly cũng cho lập bia tại đây để ghi công ông (di tích này hiện nay vẫn còn).

Khi mất, ông được chôn tại chân núi Di Ất, gần Bàn Môn Điếm bây giờ. Thời gian sống ở Hoa Sơn, Lý Long Tường thường lên đỉnh núi ngồi trông về phương Nam mà khóc, nơi ấy gọi là Vọng quốc đàn.

Đền Đô (hay còn gọi là đền Lý Bát Đế hoặc Cổ Pháp điện) thờ 8 vị vua nhà Lý.

Một vài tờ báo hải ngoại phong đùa ông là “Ông tổ tị nạn” hay “Ông tổ thuyền nhân”. Ngày nay hậu duệ họ Lý dòng dõi Lý Long Tường có khoảng hơn 600 người.

Hậu duệ

Ngày 6 tháng 11 năm 1958, trong dịp viếng thăm Việt Nam Cộng hòa, Lý Thừa Vãn, Tổng thống Đại Hàn Dân Quốc đã tuyên bố rằng tổ tiên ông là người Việt. Theo nhà nghiên cứu Trần Đại Sỹ thì Lý Thừa Vãn là hậu duệ đời thứ 25 của Lý Long Tường.

Cũng có giả thuyết rằng Cựu Tổng thống Đài Loan Lý Đăng Huy là hậu duệ của Lý Long Hiền – con trai Lý Long Tường.

Năm 1994, ông Lý Xương Căn, cháu đời thứ 26 (có tài liệu là đời thứ 31) của Lý Long Tường, qua Việt Nam, tìm đến từ đường họ Lý ở làng Đình Bảng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh để bái tổ tiên.

Nguồn: Internet. Góp Nhặt: Adida

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 133