All posts by Tuyet Nguyen

9 sở thích ăn uống đạm bạc để sống khỏe

Sơn hào hải vị thường chỉ đáp ứng khoái khẩu ăn uống nhất thời, còn những món ăn thanh đạm bình dân, nếu biết tận dụng đúng cách sẽ giúp bạn trường thọ, bách niên giai lão mà chẳng cần đến một viên thuốc bổ đắt tiền nào.

Bổ trợ kiến thức dinh dưỡng để sống trường thọ, vừa hữu ích cho chính bản thân mình, vừa tốt khi cần chăm sóc cho cha mẹ, người thân. Dưới đây là những sở thích được tổng kết từ những người sống thọ sống khỏe.

1. Lấy hạt “trân châu ngọc mễ” làm món ăn chính

Ngô còn có tên gọi khác là Ngọc trân châu, là “thực phẩm vàng” (đúng cả nghĩa đen và bóng) được toàn thế giới công nhận và cũng là món ăn chính mà người trường thọ không thể “rời xa”.

Các nhà khoa học Mỹ nhận thấy người Pueblo bản địa (người da đỏ) không ai bị cao huyết áp và xơ cứng động mạch. Nghiên cứu thì được biết là do người dân vùng này thường xuyên ăn ngô.

Các chuyên gia phát hiện ra rằng, trong ngô hàm chứa lượng lớn lecithin, acid linoleic, vitamin E, vì vậy không dễ gây ra cao huyết áp và xơ cứng động mạch.

2. Thích món khoai lang dân dã

Ăn khoai lang là một trong những sở thích của người già trường thọ.

Theo nghiên cứu, khoai lang có 5 tác dụng lớn:

  • Thứ nhất dinh dưỡng phong phú, điều hoà bổ máu;
  • Thứ hai là nhuận tràng thông khí, có lợi cho đại tiện;
  • Thứ ba là ích khí, tăng cường hệ thống miễn dịch;
  • Thứ tư là khoai lang hàm chứa chất chống ung thư, có thể phòng chống ung thư;
  • Thứ năm là phòng chống lão hoá, ngăn chặn xơ cứng động mạch.

Khoai lang hàm chứa lượng lớn chất keo protit vì vậy có thể ngăn ngừa các bệnh gan và thận, tăng cường hệ miễn dịch, tiêu trừ các gốc tự do, tránh bệnh ung thư do các gốc tự do gây ra.

Trong khoai lang lại còn chứa khá nhiều canxi, magie, vì vậy có thể phòng ngừa các bệnh về xương khớp. Từ đó có thể thấy, khoai lang là một báu vật không thể thiếu của người trường thọ.

3. Đậu phụ là lựa chọn đầu tiên 

Chuyên gia dưỡng sinh ví đậu phụ như là “thịt từ cây”, họ cho rằng: “Ăn cá sinh nóng, thịt sinh đờm, bắp cải, đậu phụ đảm bảo bình an”.

Sách “Tùy tức cư ẩm thực phổ” viết: “Món ăn này mọi nơi đều có thể làm được, thích hợp với cả người giàu lẫn người nghèo, xuất hiện trong bữa ăn chay cũng như bữa tiệc sang trọng, đặc biệt ăn vào mùa đông rất ngon”.

Đậu phụ có công dụng ích khí, bổ hư, lọc chì trong máu, bảo vệ gan, thúc đẩy chức năng trao đổi chất trong cơ thể. Thường xuyên ăn đậu phụ có lợi cho sức khoẻ và phát triển trí lực. Người già thường xuyên ăn đậu phụ có tác dụng rất tốt để trị liệu các chứng như xơ cứng mạch máu, xương cốt lỏng lẻo, rời rạc.

4. “Sùng bái” cải thảo – vua của các loại rau

Người già có kinh nghiệm thường nói: “cải thảo ăn nửa năm, thầy thuốc hưởng thanh nhàn”. Có thể thấy, thường xuyên ăn cải thảo hỗ trợ việc xua đuổi bệnh tật, kéo dài tuổi thọ.

Cải thảo có mùi vị tươi ngon, dinh dưỡng hài hoà, chứa chất khoáng, vitamin, protein, chất xơ, carotene, ngoài ra còn hàm chứa một loại chất có thể phân giải nitrosamine – một chất gây ra ung thư.

Danh họa Tề Bạch Thạch Trung Quốc đã để lại một bức tranh cải thảo rất có ý nghĩa, bức tranh độc luận cải thảo là “vua của các loại rau” và ca ngợi “trăm loại rau không bằng cải thảo”.

Nhìn từ công dụng dược lý, cải thảo có 7 công dụng lớn là: dưỡng dạ dày, nhuận tràng, giải rượu, lợi tiểu, giảm mỡ, thanh nhiệt và chống ung thư.

5. Mỗi ngày ăn một quả trứng gà

Tiến sĩ Chert Hansheng nhà kinh tế học nổi tiếng có tuổi thọ 100, đã tuân thủ theo chế độ dinh dưỡng học, mỗi ngày kiên trì ăn uống theo quy tắc “3 trong 1” tức là: “Sáng ăn 1 quả trứng gà, buổi trưa ăn 1 quả táo to, tối uống 1 cốc sữa”.

Ngoài ra, ngày ba bữa ăn nhiều rau xanh, hoa quả, ăn ít thịt, ăn uống điều độ… Đều đặn như thế thì sẽ trường thọ.

Lòng trắng trứng chứa nhiều nước và protein có tác dụng khôi phục tế bào gan bị tổn thương. Chất lecithin trong lòng đỏ trứng có thể thúc đẩy tế bào gan tái sinh, còn có thể nâng cao lượng protit huyết tương trong cơ thể, tăng cường chức năng bài tiết và chức năng miễn dịch. Sau khi lecithin được cơ thể tiêu hoá, sẽ giải phóng ra choline, choline có thể cải thiện trí nhớ. Trong lòng đỏ trứng hàm chứa muối vô cơ, canxi, photpho, sắt và vitamin khá phong phú.

6. Không quên củ cải

Người già trường thọ mùa đông không rời xa củ cải. Họ nói: “Mùa đông ăn củ cải, mùa hè ăn gừng, 1 năm 4 mùa đảm bảo an khang”.

Củ cải hàm chứa nhiều loại vitamin và khoáng chất, không chứa chất béo, có tác dụng đẩy mạnh trao đổi chất cũ mới, tăng cường cảm giác thèm ăn và giúp tiêu hoá.

Củ cải đích thực là thực phẩm bảo vệ sức khoẻ của người già. Y học cổ truyền cho rằng, củ cải có thể “hoá giải” và tiêu hoá thực phẩm tích trữ trong dạ dày, trị mất tiếng do ho, đờm gây ra; trị ho ra máu, chảy máu mũi; giải khát, trị kiết lỵ, giảm đau đầu, lợi tiểu…

Nếu ăn sống có thể giải khát, thanh nhiệt, giải đờm, ngăn hen suyễn và trợ giúp tiêu hoá;  luộc chín ăn có tác dụng bổ ích, khoẻ tỳ.

“Củ cải và trà” tức là ăn củ cải, sau đó uống trà, có thể tiêu trừ khô nhiệt, bài trừ khí nóng độc tích tụ trong cơ thể, có tác dụng rất tốt để khôi phục thanh khí và tinh thần.

Củ cải kho với thịt sẽ là một món rất ngon nhưng không được ăn cùng với nhân sâm và cam quýt.

7. Cà rốt là “vật báu” của người trường thọ

Cà rốt hàm chứa nhiều vitamin A, có chứa phong phú chất carotene. Nghiên cứu chỉ rõ, cà rốt có thể cung cấp các thành phần dinh dưỡng cần thiết để phòng ngừa bệnh tim mạch, trúng gió, cao huyết áp và xơ vữa động mạch.

Chất carotene ít bị phá hủy dù ở nhiệt độ cao mà cơ thể lại dễ hấp thụ. Vào cơ thể, carotene sẽ chuyển hoá thành vitamin A, giúp trị các chứng khô mắt và quáng gà do thiếu vitamin A gây nên.

Chất carotene chỉ dễ hấp thu khi có dầu mỡ vì vậy, những người già “trường thọ” có kinh nghiệm thường cắt cà rốt thành miếng nhỏ và xào với dầu mỡ, như thế khả năng bảo tồn của carotene có thể đạt trên 79%. Cà rốt cắt miếng vuông dài rán trong chảo dầu thì chất carotene có thể bảo tồn đến 81%. Cà rốt cắt miếng nấu với thịt, tỉ lệ bảo tồn chất carotene đạt đến 95%.

Cà rốt còn có tác dụng tăng cường trí nhớ. Trước khi đọc sách hay học bài nếu ăn một đĩa cà rốt xào, rất có lợi cho việc tăng cường và củng cố trí nhớ lại có thể duy trì đôi mắt không mỏi mệt, nhất cử lưỡng tiện.

8. Thích ăn cháo

Nhìn từ thói quen ăn uống, trong những người sống trường thọ thì không có một ai là không thích ăn cháo. Nhà kinh tế học nổi tiếng của Trung Quốc – Mã Dần Sơ và phu nhân Trương Quế Quân đều là những người trường thọ trăm tuổi. Hai người đặc biệt thích ăn cháo sáng và mỗi sáng đều lấy 50g yến mạch và 250g nước nấu thành cháo.

Người sống thọ trăm tuổi ở Thượng Hải là Tô Cục Tiên mỗi ngày ba bữa đều ăn cháo nấu từ gạo, định lượng mỗi bữa là một bát nhỏ.

Các nhà y học và dinh dưỡng từ bao đời nay đều cổ động người già nên ăn cháo vì nó tốt cho sức khoẻ. Cháo dễ tiêu hoá, hấp thụ, có thể điều hòa dạ dày, bổ tỳ, thanh lọc phổi, mát đường ruột.

Nhà dinh dưỡng học thời nhà Thanh – Tào Từ Sơn đã từng nói: “Người già, mỗi ngày nên ăn cháo, không kể bữa, có thể tăng cường sức khoẻ cho cơ thể và hưởng đại thọ”. Ông biên tập cách chế biến 100 loại cháo bổ dưỡng, chuyên dùng cho người già, được rất nhiều người yêu thích.

Là thanh niên “không bị móm” không cứ phải ăn cháo thường ngày nhưng bạn nên tăng số bữa cháo trong 1 tuần hoặc thường xuyên có 1 bát cháo khai vị cũng sẽ rất tốt cho sức khoẻ.

9. Các món kê

Hạt kê

Nhiều người thích nhất ăn kê và xem kê là thực phẩm bổ dưỡng tốt cho cơ thể. Kê từ trước đến nay đều được xứng danh với tên gọi mỹ miều là “đầu đàn ngũ cốc”. Người có thể chất ốm yếu, bệnh tật thường dùng kê để bồi bổ sức khoẻ.

Theo y học cổ truyền, hạt kê có ích cho ngũ tạng, đặc biệt là dạ dày (làm dày đường ruột, dạ dày), bổ sung tinh dịch, mạnh khoẻ gân cốt, cơ bắp.

Có một danh sư nổi tiếng thời nhà Thanh đã nói: “Hạt kê là dinh dưỡng tốt nhất cho sức khoẻ con người. Khi dùng hạt kê nấu cháo, dầu kê trong cháo có tác dụng tốt hơn cả canh nhân sâm”. Có thể nói, người già trường thọ thích ăn kê là rất đúng và có cơ sở.

Hoàng Kỳ (T/h)

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 43

Rượu tỏi

  •  Bài thuốc tuyệt vời được Tổ chức Y tế Thế giới khuyên dùng trọn đời

    Tỏi là gia vị đầu tay, nhân dân ta ai cũng biết; là vị thuốc y học dân tộc lương y nào cũng biết. Tuy nhiên, rượu tỏi có xuất xứ Ai Cập thì chưa nhiều người biết.

    Y học cổ truyền đã dùng tỏi vào điều trị nhiều loại bệnh thu được hiệu quả tốt. Trong ngôi mộ cổ xưa ở Ai Cập, người ta đã tìm thấy đơn thuốc làm từ tỏi .

    Còn ở Trung Quốc, ngay từ năm 2600 trước Công nguyên đã có những bài thuốc bào chế từ tỏi. Ở nước Nga từ thế kỷ 19, người ta đã coi cây tỏi như một loài thảo dược…

    Tỏi tên khoa học Allium sativum L. thuộc họ Hành tỏi (Liliaceae). Trong củ tỏi có chứa 0,10 – 0,36% tinh dầu, trong đó hơn 90% chứa các hợp chất lưu huỳnh (S).

    Thành phần chủ yếu của tỏi là chất alicin có mùi đặc trưng tỏi. Nhưng trong tỏi tươi không có alicin ngay, mà có chất aliin (một loại acid amin) – chất này chịu tác động của enzym alinase cũng có trong củ tỏi khi giã giập mới cho alicin.

    Ngoài ra, củ tỏi còn chứa nhiều vitamin và chất khoáng… đặc biệt là selen.

    Y học phương Đông ghi về tỏi như sau: vị cay, tính ôn, hơi có độc, vào 2 kinh can và vị, tác dụng thanh nhiệt, giải độc, sát khuẩn, trừ phong, thông khiếu, tiêu nhọt, hạch ở cổ, tiêu đờm…

    Rượu tỏi có thể chữa được nhiều bệnh

    Rượu tỏi có thể chữa được nhiều bệnhCó thể dùng tỏi với những cách khác nhau, nhưng độc đáo là Ai Cập hầu như nhà nào cũng dùng “rượu tỏi”.

    Vào thập kỷ 70 của thế kỷ 20, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) nhận thấy Ai Cập là một nước nghèo, khí hậu sa mạc khắc nghiệt, nhưng sức khỏe chung của người dân lại vào loại tốt, ít bệnh tật, tuổi thọ trung bình vào loại tương đối cao.

    Thấy đây là một hiện tượng lạ, WHO đã cử nhiều chuyên gia y tế đến Ai Cập nghiên cứu.

    Các nhà nghiên cứu đã chia nhau về nông thôn và thâm nhập các vùng có khí hậu khắc nghiệt để nghiên cứu thu thập tài liệu có liên quan đến sức khỏe, bệnh tật.

    Họ có nhận xét chung là nhà nào cũng có một lọ rượu ngâm tỏi để uống, từ bao nhiêu thế kỷ nay, người dân Ai Cập vẫn giữ được tập quán này.

    Qua nghiên cứu phân tích cho thấy, rượu tỏi có thể chữa được 4 nhóm bệnh:

    Các bệnh xương khớp (viêm đau khớp, vôi hóa các khớp, mỏi xương khớp…).

    Bệnh đường hô hấp (viêm họng, viêm phế quản, hen phế quản…).

    Bệnh tim mạch (tăng huyết áp, huyết áp thấp, xơ vữa động mạch).

    Bệnh đường tiêu hóa (ợ chua, khó tiêu, viêm loét dạ dày – tá tràng).

    Cho tới năm 1983, các nhà y học Nhật Bản lại thông báo bổ sung thêm 2 nhóm bệnh nữa là: các bệnh trĩ, bệnh đái tháo đường và nhận xét đây là loại thuốc có hiệu quả chữa bệnh cao và không gây phản ứng phụ.

    Cách bào chế rượu tỏi và uống

    Tỏi khô (đã bóc bỏ vỏ) 40g thái nhỏ, cho vào chai ngâm với 100ml rượu trắng 40 – 45 độ, thỉnh thoảng lại lắc chai rượu, dần dần rượu chuyển từ màu trắng sang màu vàng, đến ngày thứ 10 thì chuyển sang màu nghệ và uống được.

    Mỗi ngày dùng 2 lần, sáng uống 40 giọt (tương đương 1 thìa cà phê) trước khi ăn, tối uống 40 giọt trước khi ngủ.

    Uống khoảng 20 ngày thì hết, bởi vậy cứ sau 10 ngày lại ngâm tiếp để ngày nào cũng có rượu tỏi dùng, uống liên tục suốt đời.

    Với một lượng rượu rất nhỏ như thế, người kiêng rượu hoặc không uống được rượu vẫn dùng được.

    Ở nước ta cũng đã có nhiều người áp dụng bài thuốc rượu tỏi này, nhưng liều lượng thì linh hoạt (thậm chí có người uống tới 3 thìa cà phê rượu tỏi/lần), nhưng không thấy phản ứng phụ.

    Các thông tin phản hồi đều cho biết rượu tỏi đã điều trị có hiệu quả nhiều bệnh mạn tính khác nhau, có nhiều người khỏi bệnh.

    Có thể nói, rượu tỏi là vị thuốc tuyệt vời, trời ban cho người nghèo…

    Sau này, tỏi lại được nhiều nhà khoa học ở nhiều nước nghiên cứu phát hiện nhiều đặc tính trị liệu quý của nó.

    Nổi bật là tác dụng kháng khuẩn, hoạt tính kháng nấm cũng đã được chứng minh – nghiên cứu dược lý thực nghiệm thấy tỏi có phổ kháng khuẩn và kháng nấm rộng.

    Tác dụng kháng virut cũng đã được nói đến.

    Với hệ tim mạch, những nghiên cứu mới cho thấy tỏi có tác dụng làm giảm triglycerid và giảm hàm lượng cholesterol xấu (LDL), nhưng lại tăng cholesterol tốt (HDL) do đó làm giảm các rối loạn chuyển hóa mỡ trong máu.

    Tỏi còn có khả năng giúp cơ thể phòng ngừa ung thư, đó là điều nhiều nhà khoa học đã thừa nhận, song có điều trị được ung thư khi nó đã phát triển thành khối u hay không thì chưa chứng minh được, còn cần nghiên cứu tiếp.

    Tỏi có nhiều hữu ích, đó là điều rõ ràng. Tuy nhiên, đã là thuốc thì phải tính đến liều lượng sử dụng thích hợp (thuốc dùng liều quá cao cũng có hại) và các phản ứng phụ, không nên lạm dụng.

    Nếu dùng tỏi quá nhiều có thể gây hơi thở hôi, rối loạn dạ dày – ruột, ức chế tuyến giáp…

    Bởi vậy, chỉ nên áp dụng bài thuốc rượu tỏi với liều lượng mà WHO đã dày công nghiên cứu, phổ biến. Với liều lượng ấy là có tác dụng phòng và chữa được nhiều bệnh.

    Coi trọng cách dùng an toàn là có thể dùng hàng ngày một cách lâu dài mà không lo nó gây ra những tác dụng xấu ngoài ý muốn. 

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 8

NHỮNG KỲ QUAN THẾ GIỚI

St. Mary’s Altar, Krakow , Poland
Nguồn: Internet
 
Corsica, France
Queen Victoria Clock in Chester , England
Prague
Secluded beach Amalfi Coast, Italy
River Seine, Paris
Milan, zodiac sundial, 1768 created by the Accademia di Brera – Summer solstice the rays strike the bronze on the floor and for Winter solstice it stretches to the meridian.
Assos, Kefalonia Island, Greece
Millau Viaduct, France
Switchback Mountain, Tianman Hwy, China
Lighthouse in Sunderland, England
Gate opening to Lake Como, Northern Italy
Astronomical clock, Prague, Czech Republic
St. Petersburg, Russia, up close
Pulpit Rock, Norway
Sheep Highway, Ireland
Dorset, England
Turquoise River, BC , Canada
Vinhedos do Douro. Portugal
Artic Cathedral, Norway
Peles Castle, Romania
Underwater Roller Coaster in Japan (No, thank you!)
Victoria Falls, Africa
Ireland
The Kremlin, Russia
Micheldever Wood, Hampshire, England
Rocky village, Liguria, Italy
Basque, Spain
Balls Pyramid off the Eastern coast of Australia
Massive Vietnam cave discovered in 2009
Lightning on Eiffel Tower, Paris, France

 
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 34

CON CHÁU BÀ TRƯNG TẠI HOA KỲ

Những nữ Quân nhân có cấp bậc cao trong QUÂN ĐỘI HOA KỲ (United States Armed Forces)
Trước 1975 quân lực VNCH cũng có Nữ quân nhân phục vụ trong công tác xã hội, tâm lý chiến và một thiểu số nữ trong ngành CSQG. Những người có cấp bậc cao nhất được nhiều người biết đến ở hải ngoại là bà cố Trung tá Nguyễn Thị Hạnh Nhơn, (Hội Trưởng Hội HO Cứu Trợ Thương Phế Binh) và thiếu tá Nguyễn Thị Thanh Thuỷ, Biệt Ðội Trưởng Thiên Nga (Khối Ðặc Biệt – Bộ Tư Lệnh CSQG). Sau 1975 thế hệ thứ II theo gia đình đến định cư tại Hoa Kỳ, thành công trên mọi lãnh vực: kinh tế, khoa học kỹ thuật, chính trị, thương mãi, văn học nghệ thuật, âm nhạc …  và một bước tiến xa hơn các cô vào quân đội chiến đấu anh hùng như những đấng mày râu, thật đáng tự hào là con cháu Hai Bà Trưng, làm rạng danh cho người Việt Nam chúng ta và cũng cho thế giới thấy người đàn bà Việt Nam rất thông mình, trí tuệ không có thua ai trên thế giới.
Hàng ngàn quân nhân gốc Việt văn vỏ song toàn phục vụ trong quân đội Hoa Kỳ Trong số đó có Thiếu Tướng Trương Xuân Việt; Chuẩn Tướng Châu Lập Thể Flora, Chuẩn tướng William H. Selly III, và rất nhiều sĩ quan cấp Tá cũng như cấp Uý gốc VN. Trong bài nầy chúng tôi chỉ sưu tầm những nữ chỉ huy có cấp bậc cao trong quân đội:
Ðại Tá nữ bác sĩ Mylene Trần Huỳnh (sắp lên Chuẩn Tướng).
Ðại Tá Bác Sĩ Không Quân Mylene Trần Huỳnh, giám đốc của Air Force Medical Service(AFMS), thuộc chương trình Chuyên Viên Y Tế Quốc Tế (International Health Specialist – IHS), trực thuộc văn phòng “Office of the Air Force Surgeon General,” Đại Tá Trần Huỳnh là con của cựu Y Sĩ Thiếu Tá Trần Đoàn thuộc binh chủng Nhẩy Dù QLVNCH. Năm 2017 nằm trong danh sách đề nghị vinh thăng Chuẩn Tướng.
ĐẠI TÁ HẢI QUÂN HK VŨ THẾ THÙY ANH
Cô Vũ Thế Thùy Anh, ái nữ của Cựu Đại úy Hải Quân VNCH, Vũ Thế Hiệp, được vinh thăng Đại Tá (Hải Quân HK) hồi Tháng Bảy, 2015. Hiện trong danh sách hàng đầu vinh thăng Chuẩn Tướng.
Cô Thùy Anh sinh năm 1968, theo gia đình định cư ở Hoa Kỳ năm cô lên 7 tuổi. Lớn lên cô theo học ngành Dược ở University of Maryland, tốt nghiệp năm 1994. Sau khi ra trường cô làm việc ở John Hopkin Hospital. Chín năm sau, năm 2003 cô gia nhập Hải Quân Hoa Kỳ vì lý tưởng thích đi xa để phục vụ, giúp đỡ nhiều người. Hiện cô làm việc tại một căn cứ Quân sự ở Bethesda.
ĐẠI TÁ DANIELLE NGÔ – US CORPS OF ENGINEERS (Công Binh) (sắp lên Chuẩn Tướng).
Đại tá Danielle Ngô tốt nghiệp cử nhân ngành tài chánh tại đại học Massachusetts. Cô cũng đã hoàn tất 2 văn bằng cao hoc tại trường chỉ huy và tham mưu (Command and General Staff College) và đại học Georgetowns. Ngoài ra, cô cũng theo các khóa học quân sự như: khóa căn bản và cao cấp sĩ quan công binh; khóa CAS3 tại trường chỉ huy tham mưu và trường cao cấp quân sự (School for Advanced Military Studied).
Đại Tá Danielle J. Ngô hiên là Lữ Đoàn Trưởng, Lữ Đoàn 130 Công Binh Lục Quân Hoa Kỳ. từng tham dự cuộc hành quân Operation Iraq Freedom I, Iraq; Sĩ quan bộ tham mưu liên quân (Joint Chiefs of Staff Intern) …Phụ tá quân sự cho Chủ tịch ủy ban quân sự khối NATO tại Brussels, Bỉ quốc…Cô được thăng cấp Đại tá ngày 28/8/2014.
Trung Tá ELIZABETH PHẠM – US MARINE CORPS (Thuỷ Quân Lục Chiến).
Cô Elizabeth Phạm sinh tại Seattle, Washington (hậu duệ VNCH), tốt nghiệp đại học University of California, San Diego (UCSD). Sau khi tốt nghiệp đại học, cô gia nhập Không Quân. Học kỹ thuật bay tại trường huấn luyện phi hành T34 của Hải Quân Hoa Kỳ tại Pensacola, Florida, với cấp bậc thiếu úy. Sau đó, cô tiếp tục theo học về kỹ thuật bay cấp cao T45 Goshawk tại trung tâm huấn luyện Meridian của Hải Quân Hoa Kỳ tại tiểu bang Mississippi. Cuối năm 2003, Trung Úy Elizabeth Phạm tốt nghiệp “Top Hook” (thủ khoa), được đại tướng chỉ huy trưởng đích thân trao bằng tốt nghiệp và được tuyển chọn là phi công đầu tiên của Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ điều khiển một chiến đấu cơ siêu thanh F-18 Hornet trị giá $66 triệu. Elizabeth Phạm được thăng đại úy năm 2005.
Cô đã từng phục vụ tại lực lượng tiền phương vùng Thái Bình Dương, chiến trường Trung Đông. Tại Iraq, Đại Úy Liz Phạm phục trong Không Đoàn 242 TQLC Yễm Trợ và Tấn Công Dưới Mọi Thời Tiết (Marine All Weather Attack Fighter Squadron 242). Không Đoàn này còn vang danh trong Quân Chủng TQLC Hoa Kỳ với danh xưng là Không Đoàn “Bats” (Con Dơi – Cú đánh bất ngờ và chính xác, không chậm trễ). Không Đoàn này có nhiệm vụ không yễm cực cận cho các lực lượng bộ binh khi chạm địch trên các mặt trận tại Iraq. Những phi công của không đoàn này được tuyển từ những phi công ưu tú nhất của Quân Chủng TQLC Hoa Kỳ và Elizabeth Phạm là người nữ phi công duy nhất có mặt trong không Đoàn này. Trung Tá Phạm có khả năng yểm trợ hỏa lực chính xác nơi mục tiêu cách xa với đồng ngũ Thủy quân Lục chiến dưới đất không tới 200 yards, vì bay rất thấp nên F-18 của Phạm đã nhiều lần trúng đạn tại Iraq. Bạn đồng ngũ gọi Phạm là “miracle woman”. Phạm là phụ nữ gốc Á châu đầu tiên lái Fighter F-18.
Sau một thời gian phục vụ tại Bộ Quốc Phòng tại vùng thủ đô Hoa Thịnh Đốn, nhiệm vụ mới của tân trung tá Elizabeth Phạm sẽ là phi công trong lực lượng ứng chiến thường trực tiền phương của Quân Lực Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương, căn cứ tại Nhật Bản với hàng không mẫu hạm Kitty Hawk.
Trung Tá Michelle Vũ là nữ phi công duy nhất trong Phi đội kỵ binh 6-17.
Nữ phi công chiến đấu của quân đội Hoa Kỳ. Người trước là Elizabeth Phạm lái phi cơ phản lực F18. Người sau này là Michelle Vũ lái trực thăng. Cả hai đều có thời kỳ phục vụ tại chiến trường Iraq.
Trung Tá  JOSEPHINE CẨM VÂN – US NAVY (Hải Quân) .
Cô Josephine Cẩm Vân Nguyễn đỗ hạng nhì (Á khoa) tại Học Viện Hải Quân Annapolis, Maryland năm 1999; đây là nơi đào tạo với chương trình 4 năm các sĩ quan hiện dịch của quân chủng Hải Quân và Thủy Quân Lục Chiến.
Vài cựu sinh viên sĩ quan nổi tiếng trong số nhiều vị khác là cựu tổng thống Jimmy Carter (sĩ quan tiềm thủy đĩnh nguyên tử), nghị sĩ John McCain (sĩ quan phi hành trên hàng không mẫu hạm), nghị sĩ Jim Webb (sĩ quan Thủy Quân Lục Chiến). Theo hệ thống tự chỉ huy của quân trường, cô Cẩm Vân chỉ huy 2 tiểu đoàn sinh viên sĩ quan với quân số 2,000. Mỗi năm Học Viện tiếp nhận một khóa khoảng 1,000 sinh viên và luôn có 4 khoá tại trường.
Cô theo học y khoa tại Stanford University, khi tốt nghiệp thực tập tại Bethesda Naval Medical Center, trung tâm y tế có nhiệm vụ theo dõi và săn sóc sức khoẻ cho các tổng thống đương nhiệm. Sau khi theo học phi hành tại Pensacola, Florida, cô được thăng cấp hải quân đại úy với nhiệm sở tại Yokosuka và đi theo hàng không mẫu hạm Kitty Hawk trong vai trò bác sĩ quân y phi hành từ 2005-2009.  cô là Trung Tá  làm việc tại Trung tâm quân y Walter Reed, tiểu bang Maryland.
Bà Dương Nguyệt Ánh, Tổng Giám Đốc về Khoa Học và Kỹ Thuật của Trung Tâm Nghiên Cứu và Chế Tạo Vũ Khí Hải Quân Hoa Kỳ ở Maryland
 
Bà Giao Phan giữ chức vụ Phó Tổng Giám Đốc về “Điều Hành” dự án đóng Hàng không mẫu hạm. Công việc của bà rất quan trọng trong việc làm sao cho dự án được thực hiện đúng thời hạn, trong vòng ngân khoản đã được chấp thuận.
Chúng tôi cũng muốn sưu tầm những người đàn bà tài giỏi trong nước, thì có người đã trả lời dùm trong nước hiện nay có hai người đàn bà nổi tiếng là: bà chuyên môn đóng quan tài cho bệnh nhân vì bị dùng thuốc giả và một bà có tài cho cá ăn cả rổ ….
 
Advertisements
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 16

ĐÔI LỜI THỰC TẾ TRAO ĐỔI VỚI CÁC BẠN GIÀ , Viet Đo

 Lời nói thực tế của một nhóm người già

Có một tổ ấm của riêng ta, chưa đến lúc chết, xin nhớ muôn ngàn lần chớ bỏ mất nó đi.
Có một người bạn đời thân thiết, phải cùng đối đãi và chăm sóc tốt cho nhau,
Có một cái thân thể, tự mình phải biết bảo trọng, có một cái tâm thái tốt, tự mình vui sướng!
Chúng ta đã già rồi! Nhưng mà hiện tại sức khoẻ vẫn còn tốt, đầu óc hãy còn minh mẫn, già rồi trông cậy vào ai! Phải phân chia ra nhiều giai đoạn mà nói.
  Giai đoạn thứ nhứt
Sau khi đã về hưu, tuổi từ 60 đến 70, sức khoẻ cũng như điều kiện hãy còn tốt. Thích ăn gì thì ăn, thích mặc gì thì cứ mặc, thích chơi đùa gì thì cứ chơi đùa, chẳng nên tự bạc đãi mình, vì những ngày giờ này sẽ không còn là bao lâu nữa, cần phải nắm lấy (cơ hội). Nắm giữ một ít tiền, giữ lại căn nhà, biết tự an bài tốt cho con đường sau cùng của mình.
Tình trạng kính tế của con cái được tốt là của chính chúng, con cái hiếu thuận là phẩm hạnh tốt của chúng. Chúng ta chẳng nên cự tuyệt sự giúp đỡ của con cái, không nên cự tuyệt sự hiếu kính của chúng. 
Nhưng quan trọng nhứt là phải biết tự nương tựa vào chính mình,  tự an bài tốt cho sinh hoạt của chính chúng ta. 
Giai đoạn thứ hai
Qua hết đoạn tuổi bảy mươi (tức ở vào tuổi bát tuần) mà không có bệnh hoạn gì, cuộc sống hãy còn được tự do, đó là không có những vấn đề gì lớn xảy ra, nhưng phải nên nhớ rằng mình đúng là đã già rồi, thể lực và tinh lực sẽ không còn tốt nữa, các phản ứng tự nhiên của mình cũng sẽ từ từ xấu đi.
Nên ăn cơm chậm lại để đề phòng mắc nghẹn; đi đứng cần chậm lại để đề phòng bị té ngã.
Chẳng nên tranh hơn người, cần biết tự chăm sóc cho chính bản thân mình!
Đừng nên đi “quán xuyến” việc này việc kia, lo lắng sinh hoạt của con cái. Có người còn đi giữ cháu nội cháu ngoại nữa.
Cần phải biết “ích kỷ” một chút để, tự chăm sóc, trông coi chính mình.
Mọi việc phải biết để cho nó hoà theo tự nhiên, phải làm tí công việc quét dọn rác, phải biết cố gắng giữ gìn cho cái trạng thái sức khoẻ của mình được lâu dài hơn.
Để cho cái năng lực tự chủ về cuộc sống của mình có thể kéo dài thêm, không phải nhờ vào sự chăm sóc của người khác, thì có phải là tốt hơn không?
  Giai đoạn thứ ba
Sức khoẻ đã suy yếu rồi, phải cần đến người giúp chăm sóc cho mình, việc này nhất định phải được chuẩn bị từ trước, tuyệt đại đa số con người ít ai tránh khỏi được cái cửa ải này.
Phải biết điều chỉnh tốt cho lòng mình, phải biết thích ứng với hoàn cảnh, sinh lão bịnh tử, với cái Tử là cái việc thường tình của đời người.
Ta cứ thản nhiên mà đối diện với nó, vì đó là cái đoạn cuối của đời người, chẳng có gì mà phải sợ nó, đã có chuẩn bị trước rồi, thì chẳng có chi mà cảm thấy phải khó chịu.
Hoặc là vào viện dưỡng lão, hoặc là mướn người đến nhà trông coi chăm sóc cho mình, lượng sức lượng tình mà làm, nhất định là phải có biện pháp.
Nguyên tắc là chẳng nên “làm khổ” con cái của mình, đừng để con cái mang nặng cái tâm lý không tốt, làm thêm nhiều công việc nhà, gánh nặng thêm sự tốn hao tài chánh hạn hẹp của gia đình.
Tự mình phải biết khắc phục thêm một chút, cái cuộc đời nầy của mình, cái gì khổ, cái gì khó khăn cũng đã qua rồi, hãy tin tưởng rằng cái đoạn đường nhân sinh cuối cùng cũng sẽ dễ dàng mà bước qua.
Giai đoạn thứ tư
Đầu óc ta minh mẫn, bệnh tật đeo mang không cách nào thoát khỏi, lúc mà cái phẩm chất của sinh mạng đến điểm tệ hại nhất, phải biết dám đối diện với cái chết, cương quyết không để người nhà phải lao khổ tái cứu sinh, không để bà con thân hữu phải chịu hứng chịu những hao tốn vô ích.
“Già rồi” trông cậy vào ai? Chính mình, chính mình, lại vẫn là chính mình.
Già rồi thì phải làm sao?

Tại sao lại có cái ý nghĩ nầy, đó là do bởi tôi luôn nhận thấy, người già trên 80, không cần phải hạn chế đồ ăn của họ phải thanh đạm, cũng không cần phải giảm cân, ăn được là quan trọng nhứt

Muốn ăn gì thì cứ ăn, có thể cho là ăn được những món ngon của thế gian nầy, để cho cuộc sống càng thêm vui sướng và thích thú. Hạn chế người già không được làm cái nầy, ăn cái kia là đi ngược lại cái nhân tính của con người, mà lại cũng chẳng có gì gọi là căn cứ khoa học cả.
Trên thực tế, càng ngày càng có nhiều hiển thị chứng cứ của khoa học là, người già cần ăn ngon thêm một chút, cần mập thêm một tí, để cho cơ thể họ có thêm năng lực để đối kháng bệnh tật, đối kháng tính trầm cảm.
Tôi mong ước là, các cụ lão niên đều có thể hưởng thụ được sự tốt đẹp của đoạn cuối con đường nhân sinh của chính mình, mà không phải lưu lại bất cứ một điều gì hối tiếc.
Có thể cũng đừng kỳ vọng chờ đợi để lại cho thế hệ kế tiếp.

Lời kết luận:

Câu nói đúng của tục ngữ: “biết lo về tài chánh thì không nghèo, có kế hoạch thì không rối rắm, có chuẩn bị thì không bận rộn”. Chúng ta với tư cách là lão niên “dự bị quân” đã có ý tốt chuẩn bị hay chưa?
Chỉ cần sự việc chưa xảy ra, phải có chuẩn bị cho tốt, sau nầy sẽ khỏi phải lo lắng cho cuộc sống ở tuổi xế chiều.
Thứ nhất: Lão Kiện
Sự chuẩn bị trước tiên là cái khả năng làm cho sức khỏe tốt ở tuổi già, ngày thường cần chú ý đến “tam dưỡng”:
1-ăn uống dinh dưỡng,
2-chú trọng bảo dưỡng,
3-phải biết tu dưỡng.
Thứ hai: Lão Cư
a/- Đối với sự việc cùng con cháu ở chung, phải rán nhẫn nhịn bằng cách im hơi lặng tiếng trong cuộc sống, chi bằng
b/- Vui sống hưởng thụ với cuộc sống đơn lẻ độc thân, bất luận là trong thành phố hay khu ngoại ô, những nơi thích hợp cho chính bản thân mình, đồng thời là nơi có những quán ăn gần nhà mà mình ưa thích nhứt.
Thứ ba: Lão Bổn

– Đã nuôi dưỡng được con cái, mà không thể có cách nào để dưỡng già. Là cha mẹ của người ta thì phải nhớ biết tự lập tự cường, chưa vào trong quan tài thì đừng bao giờ chia gia sản.
Thứ tư: Lão Hữu– Có được một người bạn tốt, người hảo hữu cùng ăn chung và người bạn đời đều quan trọng như nhau, bình thường cần phải biết kết rộng thiện duyên, nhận thức nhiều về các loại bằng hữu, là để hưởng thụ được cái bí quyết của nhân sinh.
Nói tóm lại, dù bạn là một trường thọ lão ông hay lão phụ, cuối cùng, bạn cũng chỉ là một con người.
Cái câu nói nầy thật không bi thiết chút nào, lại cũng không có gì phải lo sợ, hoàn toàn do bạn tự an bài cách sống như thế nào, để coi bạn có hay không có cái tâm lý thành thục, có yêu thích cái gì đó thì rất đáng để bạn trực tiếp đi làm.
Có được cái sức khoẻ tốt hay hạnh phúc, cũng đừng hy vọng để lại cho con cái.
Các lão bằng hữu ơi, cần phải ghi nhớ là chúng ta đều là những con người của cái thế hệ cuối cùng hiếu thuận với cha mẹ, lại cũng là những con người của cái thế hệ thứ nhất bị con cái bỏ rơi.

Xin đừng có “nhân tại thiên đàng, tiền tại ngân hàng”, cái gọi là “một mình rất buồn tẻ”, “già rồi mà chẳng có ai phục dịch”, những tín hiệu phiến diện v.v và v.v… đã là những câu nói lỗi thời từ lâu rồi.
Hãy nhận thức cách rõ ràng là: tiền tài, giàu sang chỉ là những số tự mà thôi, danh lợi cũng chỉ là một đoản kỳ tạm hư vinh,cuộc sống mới đúng là cái toàn diện của đời người,

Hãy là cái người “vui sống hưởng thụ cái cảnh già độc thân”, thì cuộc đời mình sẽ có những mùa Xuân rực rỡ trở lại, với chính mình, điều kiện là: thân thể cường tráng, có tiền, có thì giờ, có bạn bè, lại cũng có cái không gian chuyên thuộc của riêng mình.

Có đủ sức độc lập tự chủ, có được cái lạc thú nhân sinh, chắc chắn là tự mình cung cấp cho mình cái công đức tối đại vậy. 
Tác giả – không rõ tính danh

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 45

Dầu Dừa- Alzheimer

Hỏi 4:

 Kính xin Bác sĩ vui lòng cho tôi biết về bệnh mất trí nhớ (Alzheimer). Dầu dừa có trị được bệnh này không? tôi thấy có phổ biến trên internet, phổ biến sự việc chữa bệnh này và nhiều bệnh loại khác rất hiệu nghiệm, cũng có người lại nói với tôi là dầu dừa dùng trị bệnh không tốt. Xin Bác sĩ giải thích có nên dùng dầu dừa trị bệnh hay không?Cám ơn Bác sĩ.

Vô Danh

Đáp:
Dầu dừa tiếng Anh gọi là coconut oil là chất lỏng ép ra từ cùi của trái dừa già, thường được dùng để chiên rán thực phẩm. Vì dầu có nhiều chất béo bão hòa cho nên các nhà dinh dưỡng khuyên không nên tiêu thụ quá nhiều, e rằng có thể gây ra một số bệnh như tắc nghẽn động mạch vì cholesterol quá cao trong máu sẽ bám vào. Ngoài ra dầu dừa cũng được dùng trong kỹ nghệ mỹ phẩm như kem làm mềm da, bóng tóc…Chúng tôi có tìm đọc nhưng chưa thấy tài liệu có căn bản khoa học nào nói dầu dừa có thể điều trị bệnh Alzheimer. Cũng có nhiều quảng cáo nói là dầu dừa chữa nhiều bệnh, từ tăng cường miễn nhiễm tới phòng ngừa ung thư…nhưng không có dẫn chứng khoa học.Cho tới nay, chưa có dựoc phẩm nào chữa được bệnh Alzheimer mà chỉ có vài loại thuốc có thể giúp bệnh nhân  tỉnh táo một phần nào cũng như giảm thiểu một số triệu chứng như dễ dàng bị kích thích, khó tính, ngủ nghỉ được …mà thôi và đa số mãn phần sau mươi năm bị bệnh vì suy dinh dưỡng, bệnh nhiễm ở phổi….Sự điều trị tập trung vào việc chăm sóc sóc hỗ trợ để bệnh nhân  sống được thoải mái

Nhắc lại là Alzheimer là bệnh trong đó các tế bào thần kinh chịu trách nhiệm về trí mhớ, suy luận bị hủy hoại lần lần và không trở lại bình thường được. Nguyên nhân gây bệnh chưa được biết rõ. Rủi ro đưa tới bệnh có thể là là tuổi già, di truyền, virus…

Nói chung thì chưa có chứng minh khoa học nào kết luận rằng dầu dừa chữa được bệnh. Nhưng có bệnh thì vái tứ phưong, nhiều bệnh nhân muốn thử một phương thức nào đó thì cứ thử, miễn là hỏi qua ý kiến của bác sĩ đang điều trị cho mình và dùng phương thức đó một cách dè dặt, để ý coi có tác dụng có hại nào không.

Chúc ông được mạnh và vui.

BS Nguyễn Ý Đức

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 19

Đêm Buồn Qui Nhơn

Biển Qui Nhơn chiều nay sao vắng khách
Để sóng hờn, sóng giận vỗ khơi xa…
Con thuyền trôi như không bến không nhà
Bờ cát trắng chờ hoài mà chẳng thấy

Trăng Qui Nhơn đêm nay như run rẩy
Bởi tiếng lòng Mạc Tử khóc người yêu
Mộng Cầm hỡi để bến vắng tiêu điều?!
Sao đành nỡ mà chiều nay chẳng tới?!

Trời Qui Nhơn một mình anh đứng đợi

Một vầng “Trăng” đã mất tự bao giờ
Để giờ đây anh mãi miết làm thơ
Một chuyện tình ai đâu ngờ…đã mất

Cùng Mạc Tử ngồi đây trong góc khuất
Để nhớ về nơi ấy một vầng Trăng
Trời hỡi Trời ông có biết cho chăng!?
Hai kẻ lạ đang khó cbằng…lệ máu!

Dương Thành Đăng

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 26

VÀI CỤM RAU THƠM TRONG VƯỜN NHÀ TA

Món ăn ngon tùy thuộc vào phẩm chất của thực phẩm và kinh nghiệm nấu nướng của người làm bếp. Nhưng món ăn ngon, đặc biệt là đối với các món ăn Việt Nam, cũng nhờ được thêm vào những chất phụ, những ngọn rau có hương vị khác nhau.
Thực vậy, những ngọn rau thơm đã nâng cao giá trị của các món ăn, làm cho món ăn trở nên hấp dẫn hơn với các mầu sắc khác nhau, làm tăng hương vị món ăn với các tinh dầu có sẵn trong rau.
 Số lượng rau gia vị thêm vào mỗi món ăn không cần nhiều, mà chỉ loáng thoáng nhưng thiếu chúng là không được. 
Và vì thế, khi bắt đầu cuộc sống xa quê hương hơn ba mươi năm về trước, mỗi người chúng ta đều e ngại không có rau thơm để ăn. Nhất là ở nước Mỹ, khi mà lệnh cấm nhập cảng các loại hạt giống cũng như rau trái cây bị nghiêm ngặt cấm. Từ nước ngoài trở về Mỹ, nhất là từ vùng Ðông Nam châu Á là được các thầy cô quan thuế phi, hải cảng cặn kẽ, soi mói hỏi: có thịt, có trái cây, hạt giống…không. Và hành lý bị lục tung để khám xét.
Ấy vậy mà những con Rồng cháu Tiên cũng đã có cách. Ðủ loại rau được trồng, từ Bắc kỳ rau muống tới Nam kỳ diếp cá… Ði qua cửa nhà nào thấy có khoảnh đất nhỏ xanh um mấy loại rau thơm thì y chang là bà con “anamitoòng” mình.
Ngày nay, chúng ta có đủ loại rau thơm mà quê hương ta trồng được. Nhờ đó, món ăn Việt Nam đượm dân tộc tính, làm giàu cho nền văn hóa ẩm thực các quốc gia có người Việt sinh sống.
Xin tìm hiểu hữu dụng của mấy ngọn rau thơm này.

1-Rau Răm Inline image

Rau răm có mùi thơm, vị chát, hơi cay cay, đặc biệt hấp dẫn. Hấp dẫn như người thiếu phụ hơi nhiều tình cảm mà lại có “con mắt lá răm, lông mày lá liễu”… Người Trung Hoa gọi răm là Thủy Liễu, Lão Liễu.
Về phương diện ẩm thực, ăn hột gà hột vịt lộn mà thiếu rau răm thì có thể gây ra đầy bụng, khó tiêu. 
Canh sáo thịt bò, cật heo phải có mươi lá rau răm thái nhỏ cho ngọt nước, ngọt thịt. 
Bát bún thang cần vài sợi rau răm, vài giọt tinh dầu cà cuống thì mới đúng là bún thang Hà Nội ngàn năm văn vật. 
Cá diếc nấu với rau sam và ớt tươi vẫn cần mấy lá răm để dịu mùi tanh. Riêu hến, riêu trai cộng thêm mấy lá răm ăn vào mát ơi là mát! 
Và tô bún bò Huế nóng hổi, cay đến chẩy nước mắt bắt buộc là phải có những lá rau răm thon thon, xanh xanh …
Rau răm được dùng để kích thích tiêu hóa, đầy hơi, đau bụng, chống nôn mửa, thông tiểu tiện, chữa nóng sốt, chữa rắn cắn, sâu quảng, hắc lào trên da…
Rau răm còn được những người “tiết dục” ưa dùng vì cho rằng rau có khả năng làm bớt tinh khí, “dịu tình, giảm cơn bốc dục”.

2-Húng quế Inline image

“Húng làng Láng, đào Nhật Tân” chắc là đang đi vào dĩ vãng, vì sự đô thị hóa thành phố, di dời dân chúng. Những khu nhà cao tầng, cơ sở nhà nước đang được dựng lên thay cho rau cỏ, hoa lá.. Làng Láng nằm ở ven đô Hà nội. Dân chúng cha truyền con nối trồng các loại rau, nổi tiếng là rau thơm. 
Húng làng Láng đã đi vào văn học dân gian với:
“Vải Quang, Húng Láng, Ngổ Đầm,
Cá rô Đầm Sét, sâm cầm Hồ Tây” 
hoặc:
“Ở đâu thơm húng, thơm hành,
Có về làng Láng, cho anh theo cùng
Theo ai vai gánh vai gồng
Rau xanh níu gót bóng hồng sông Tô”
Húng quế còn có tên gọi là húng chó, húng giổi, rau é. 
Húng có nguồn gốc từ Ấn Ðộ, Trung Hoa, nhưng hiện nay được trồng tại nhiều quốc gia để lấy tinh dầu chế biến chất thơm. Ở Việt Nam trước đây húng được trồng để lấy lá làm gia vị và hạt làm nước giải khát.
Húng có mùi thơm thoang thoảng, vị cay nhè nhẹ rất thích hợp với phở nước, phở xào, bò bẩy món, gỏi cuốn, tái dê, dồi lợn …
Húng quế còn đi với “cờ tây”, bò bía, bì cuốn hoặc với “tứ thời bát tiết canh chung thủy” Mà phải là tiết canh lợn, tiết canh dê, tiết canh vịt, tiết canh chó chứ chớ có tiết canh gà, vì các cụ cho là huyết gà ăn sống rất độc…Một miếng tiết canh với chút nước chanh, mấy hạt đậu phọng, vài lá ngò gai, ngò ôm, húng quế mà chiêu với hớp rượu lúa mới thì, hết chỗ nói..
Rau húng héo thâm đen rất nhanh, nhất là khi để trong tủ lạnh. Tuy nhiên, sau khi ngâm vào nước khoảng nửa giờ thì rau tươi trở lại. Nên cất rau trong túi giấy kín miệng, để ở chỗ có nhiệt độ mát.
Húng có nhiều dầu thơm, được sử dụng trong kỹ nghệ chế biến chất thơm và làm thuốc.
Trong y học, húng quế được dùng để chữa cảm mạo, long đờm thông đường hô hấp, đau dạ dày, đầy bụng khó tiêu, ngậm trong miệng để bớt hôi miệng, chữa đau răng, sâu răng, lợi tiểu tiện, diệt giun sán, trị nấm ngoài da … 
Hột húng quế có nhiều chất nhờn. Khi ngâm vào nước, chất nhờn nở ra, bao quanh hạt và được dùng để nấu chè hột é, uống vào giải nhiệt, bớt táo bón.

3-Thì là Inline image

Thìa là có nguồn gốc từ vùng ôn đới nên cây thường được trồng vào mùa đông- xuân ở miền bắc Việt nam, còn các tỉnh phía nam thì hầu như không có thảo gia vị này.
Lá thìa là mảnh mai như những chiếc kim khâu, nhưng có vị cay và mùi thơm “mãnh liệt” có thể làm át mùi tanh của các loại cá.
Cho nên canh chua cá lóc, chả cá Lã Vọng, Sơn Hải, cá quả nấu ám, lẩu cá lăng Việt Trì… mà không có nắm rau xanh xanh mảnh mai này đi kèm với các gia vị khác thì chắc cũng có nhiều người không muốn nhúng đũa. 
Giò trâu, chả trâu, chả rươi mà loáng thoáng có những sợi thìa là thì ăn thơm khó tả…
Ba ba nướng chả, ngoài nghệ, tía tô, riềng, tiêu, chanh, ớt vẫn cần có thêm một nắm thìa là mới dậy vị.
Dân gian dùng nước cất hoặc tinh dầu quả thìa là để trị đau bụng trẻ em, lợi sữa cho bà mẹ, kích thích trung tiện, giúp cho sự tiêu hóa, đái rắt, sốt rét, thận suy, tỳ yếu… 
Tinh dầu thìa là cũng được dùng để ướp trà, làm xà phòng thơm.

4-Rau diếp cá Inline image

Diếp cá còn có tên là cây lá giấp, rau giấp, trấp cá, ngư tinh tảo.
Diếp cá có vị cay, mùi tanh hôi, tính ấm mát, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, tiêu viêm, lợi tiểu.
Diếp cá mọc hoang khắp nơi và lan tràn rất mau. Mấy cọng rau mới cài ở góc vườn ngày nào, mà chỉ vài tuần sau đã um tùm những diếp cá.
Đây là món ăn ưa thích của người miền Nam, nhưng hơi lắc đầu “nhăn mặt” với người miền Bắc, vì vị tanh tanh. Nhưng cái tanh tanh, béo béo của diếp cá lại rất “hợp nhất” với cái tanh của những miếng cá còn tươi. Phải chăng đây là duyên tiền định với tên “diếp cá”, ngư tinh tảo. Diếp cá thường được ăn sống với các loại rau thơm khác.
Theo Y học cổ truyền, diếp cá có vị cay, mùi tanh, tính mát có tác dụng giải độc, thanh nhiệt, lợi tiểu, điều kinh.
Lá diếp cá ăn vào rất mát, có thể làm trĩ hậu môn xẹp xuống. 
Ngoài ra, diếp cá cũng được y học dân gian tại nhiều quốc gia dùng làm thuốc lợi tiểu tiện, hạ cao huyết áp, giảm ho, tiêu diệt vi khuẩn, chữa kiết lỵ, viêm phổi, sởi ở trẻ em, viêm tắc tia sữa, viêm xoang, viêm sưng tai giữa, đau mắt đỏ, kinh nguyệt không đều…
Người Nhật ưa thích gội đầu với nước ép diếp cá và nước, vì họ thấy mái tóc rất sạch và đẹp. Bị đau lưng, đau khớp mà tắm với nước nóng pha với nước diếp cá cũng bớt đau.
Bài thuốc với diếp cá theo kinh nghiệm dân gian:
Trĩ: 5-10g diếp cá, sắc lấy nước, ngâm vùng bị trĩ đồng thời ăn sống rau diếp cá vào mỗi bữa cơm.
Kinh nguyệt không đều, viêm phổi, viêm ruột: Diếp cá tươi, sắc lấy nước uống thường xuyên.
Diếp cá tươi cần được rửa sạch, cất trong tủ lạnh hoặc nơi mát.

5-Sả Inline image

Sả hoặc cỏ sả, sả chanh, hương mao là loại cỏ lá dài như lá lúa, sống lâu năm, mọc thành từng bụi. Cây và lá sả có một mùi thơm đặc biệt có thể hòa hợp với nhiều thực phẩm như thịt, tôm, lươn, ếch, cua ….Sả giúp món ăn dễ tiêu hóa hơn
Có nhiều món ăn có thể nấu với sả như ếch xào sả ớt, bún bò Huế, mì căn xào sả, thịt gà nạc xào củ sả, cá chiên ướp tỏi sả, lươn rang muối hoặc hầm với sả, pha nước mắm chấm với sả và nhiều vật liệu khác…
Vì có mùi thơm nên tinh dầu sả được dùng để làm nước hoa, xà phòng thơm. 
Lá sả nấu sôi với lá chanh, ngải cứu làm nước xông, kích thích đổ mồ hôi, giải cảm. 
Nước chiết củ sả có tính cách lợi tiểu, ra mồ hôi. 
Cây sả trồng ở góc vườn vừa đuổi muỗi vừa khiến cho rắn không dám bén mảng tới gần nhà.

6-Tía tô Inline image

Tía tô hay tử tô là loại thảo thân thẳng có lông, lá mọc đối mép có khía răng, mầu xanh tím hoặc tím tía. 
Tía tô được trồng khắp mọi nơi để làm gia vị hoặc làm thuốc. Tất cả các bộ phận của cây từ lá, hoa, củ tới cành, hạt đều dùng được, nhưng dùng nhiều nhất vẫn là lá.
Bún chả Hà Nội mà không có mấy là tía tô xanh xanh- tím tím ăn sam với rau sống thì cũng mất ngon. 
Món giả ba ba, ốc nhồi, ếch, đậu phụ với mấy lá tía tô thái nhỏ chan lên bát bún là món ăn rất độc đáo. 
Lại còn đậu phụ chiên chấm với mắm tôm kèm vài lá kinh giới, tía tô để mấy cụ nhâm nhi chút rượu; cà bung đậu phụ tía tô cho người muốn giảm béo; cháo trắng thật nóng kèm thêm vài củ hành ta, mấy lá tía tô thái nhỏ thì mồ hôi đầm đìa, cảm lạnh ra đi, người bệnh thấy khỏe khoắn, nhẹ nhõm…
Về phương diện y hoc cổ truyền, tía tô có vị cay, tính ấm, phát tán phong hàn, giải độc, tiêu tích, hạ khí. 
Y học dân tộc mình dùng tía tô để trị ngoại cảm, nôn mửa, kích thích tiêu hóa, chữa ho, hạ đàm, giảm hen suyễn, tê thấp, giải ngộ độc cua cá, cầm máu, giúp ngủ ngon, kháng vi khuẩn, nấm, phòng ngừa sẩy thai, kích thích đổ mồ hôi …
Hạt tía tô có nhiều tinh dầu được dùng ở Nhật Bản, Ðại Hàn quét lên dù, lên giấy để tránh thầm nước.
Dân Nhật cũng hay uống trà tía tô để kích thích tuần hoàn, bổ thần kinh, giảm cân; rửa mặt gội đầu với nước tía tô để da, tóc khỏi khô.

 Inline image
7-Kinh giới
Kinh giới hoặc khương giới có vị cay ấm với công năng trừ phong, giải độc, tiêu viêm, cầm máu.
Món ăn gồm có bún, đậu phụ, mắm tôm với rau sống, lá kinh giới ở ngõ Phất Lộc Hà Nội luôn luôn đông khách, dù là món ăn rất bình dân. 
Rau muống xào với tỏi mỡ phải ăn kèm với vài lá kinh giới mới ngon miệng.
Chả cá, bún chả Hà Nội, các món gỏi cần có mấy lá kinh giới kèm với rau sống thì mới thỏa mãn khẩu vị.
Hoa và lá kinh giới được dùng trong dân gian để chữa cảm mạo, nhức đầu, hoa mắt, nóng sốt, viêm sưng cuống họng, nhức mình, nôn mửa, đổ máu cam, đại tiểu tiện ra máu, lở ngứa ngoài da….
Có nghiên cứu nói đậu phụ ăn với kinh giới có thể phòng chống loãng xương ở phụ nữ, nhờ có estrogen thực vật trong hai loại thức ăn này
Danh y Trung Hoa Hoa Ðà đã thành công chữa một sản phụ bị băng huyết bằng bột hoa kinh giới sao khô tán nhỏ

8-Xương sông lá lốt Inline imageInline image


Xương sông là loại cây cỏ, thân đứng, lá mọc so le hình mác, cạnh khía răng. Rau có nhiều ở vùng nhiệt đới. Toàn cây có mùi rất đặc biệt, tương tự như mùi dầu hôi.
Lá là bộ phận được dùng để làm gia vị và thuốc chữa bệnh.
Vì có mùi hơi lạ, nên không ai ăn lá xương sông sống mà được dùng để gói thịt heo, thịt bò nướng chả. Lá sẽ tái đi, tinh dầu ngấm vào thịt và cho một vị béo ngậy khác thường. 
Lá xương sông nấu canh thịt, canh cá ăn rất ngon..
Nước lá xương sông đun sôi được dùng để chữa cảm sốt, ho sởi, trúng phong, đầy bụng …hoặc rang nóng rồi chườm lên khớp xương đau nhức.
Xương sông thường đi đôi với lá lốt. 
Lá lốt to như lá trầu không, có vị nồng, hơi cay.
Lá lốt gói thịt heo hay thịt bò băm nhỏ, thêm gia vị mắm muối rồi nướng than hồng, khi ăn chấm với mắm nêm pha chanh, ớt, đường, tỏi… 
Lá lốt thái nhỏ nấu với ốc là món ăn rất hấp dẫn. 
Lá lốt có tác dụng chữa đau xương, tê thấp, đổ mồ hôi tay, đầy hơi, tiêu chẩy…
Nước sắc lá lốt được dùng để ngâm chân tay khi đổ nhiều mồ hôi …
 
Rồi lại còn rau ngổ um lươn; ngò gai ăn với thịt heo luộc chấm mắm tôm chua xứ Huế; khế chua, chuối xanh, hành sống, gừng già, kinh giới, tía tô, mùi tầu ăn với thịt ba chỉ luộc chấm mắm tép đồng ruộng; giềng lót nồi cá kho tộ, giềng kết nghĩa với “cầy tơ” bẩy món; me, muỗm, nhót nấu canh thịt canh cá; lá chanh non ăn với thịt gà đồng quê luộc, bộ ba lá mơ tam thể, đinh lăng và lá sung kết hợp với gỏi cá, nem chạo; khế chua nấu riêu với cua đồng …
Và nhiều ngọn rau thơm khác nữa….

Nhà văn ẩm thực danh tiếng Băng Sơn của Hà Nội có viết: “Gia vị chỉ là vai phụ trong sân khấu bữa ăn, nhưng thiếu vai phụ này thì vai chính chả diễn được với ai. Người diễn viên phụ chỉ ra sân khấu thoáng qua, nhưng ấn tượng để lại là không thể phai mờ”.
Thật là một nhận xét rất xác đáng!


Bác sĩ Nguyễn Ý Ðức
Texas-Hoa Kỳ
 
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 21

Tâm thư xúc động của Nữ sĩ Quỳnh Dao

 
image
Nữ sĩ Quỳnh Dao dặn dò con lo chuyện hậu sự, trong thư có đoạn: “Khi còn sống, nguyện là ánh lửa, cháy hết mình tới phút cuối cuộc đời. Lúc chết đi, nguyện là hoa tuyết, lất phất rơi, hóa thành cát bụi”.
 
Nữ sĩ Quỳnh Dao nổi tiếng với vai trò nhà văn, nhà biên kịch với các tác phẩm điện ảnh nổi tiếng được chuyển thể như “Dòng Sông Ly Biệt”, “Hoàn Châu Cách Cách”,… Mới đây, bà đã có một tâm thư dặn dò con trai và con dâu lo lắng cho chuyện hậu sự sau này của bà.
Ở độ tuổi 79 gần đất xa trời, nữ sĩ Quỳnh Dao cho biết, gần đây bà đọc được một bài viết mang tên “Lời cáo biệt tốt đẹp dành cho bản thân” và nhận ra rằng pháp luật có một thứ gọi là “Quyền được quyết định của người bệnh” – được Đài Loan thông qua và ban hành từ năm 2009, theo đó người bệnh có thể toàn quyền quyết định về cái chết của mình, không cần bác sĩ hoặc người nhà quyết định hộ nữa.
Nữ sĩ Quỳnh Dao cho biết, bà đã dặn dò hai con là Tú Quỳnh và Trung Duy về chuyện hậu sự, hai người con đều hoàn toàn tôn trọng ý kiến của mẹ, song bà vẫn muốn chia sẻ tâm thư của mình cho tất cả mọi người được biết vì sợ rằng sau này nhỡ hai con hối hận, không nỡ cho mẹ rời xa dương gian: “Mẹ nghĩ rằng, các con đều hiểu rõ mẹ sợ hãi cái ngày định mệnh ấy đến nhường nào. Giờ đây, mẹ muốn nói rõ về “quyền lợi” của mình, những ai đọc được bức thư này có thể làm chứng, rằng dù thế nào đi chăng nữa, dù gặp bất cứ áp lực nào cũng không được lưu giữ hài cốt của mẹ, không được biến mẹ thành “cứu sống không được, để chết không xong”. Nếu các con làm thế thì sẽ là “đại bất hiếu”!”.
Quỳnh Dao viết thêm: “Năm nay mẹ 79 tuổi, năm sau đã là 80. Quả là đời người đã dài, mẹ không vì chiến tranh, bệnh tật, nghèo đói, thiên tai,… mà đi trước một bước.. Sống đến tuổi này đã là điễm phúc lắm rồi. Chính vì lẽ đó, từ giờ trở đi, mẹ sẽ đón nhận cái chết với nụ cười trên môi. Mong muốn của mẹ chỉ là:
 
1. Dù mẹ có lâm trọng bệnh thế nào, nhất quyết không được phẫu thuật, hãy để mẹ ra đi nhanh chóng. Chừng nào mẹ còn minh mẫn làm chủ được mọi thứ thì hãy để mẹ làm chủ, bằng không thì phải nghe theo ý nguyện của mẹ.
2. Không được đưa mẹ vào phòng điều trị hồi sức cấp cứu đặc biệt.
3. Bất luận là chuyện gì, tuyệt đối không được lắp ống thở cho mẹ. Bởi vì một khi mẹ đã mất khả năng nuốt, tức là cũng mất đi niềm vui ăn uống. Mẹ không muốn sống cuộc sống như vậy.
4. Thêm một điều nữa, dù có chuyện gì, cũng không được đặt ống truyền chất bổ cho mẹ. Kể cả ống thông, ống thở,… đều không được.
5. Mẹ đã từng nhắc nhở rồi, những biện pháp cứu sống như điện giật, các loại máy móc, tất cả đều không được dùng. Mẹ muốn ra đi nhẹ nhàng, điều này còn quan trọng hơn việc để mẹ sống trong đớn đau.
Mẹ đã từng nói:  “Khi còn sống, nguyện là ánh lửa, cháy hết mình tới phút cuối cuộc đời. Lúc chết đi, nguyện là hoa tuyết, lất phất rơi, hóa thành cát bụi”. 
 
Nữ sĩ quyết định bà không muốn mai táng theo nghi thức tôn giáo truyền thống mọi người vẫn hay làm. Bà dặn con không đăng cáo phó, không làm lễ truy điệu, không đốt vàng mã,… Bà muốn mọi việc diễn ra lặng lẽ, đơn giản, không phô trương. “Cái chết là việc riêng, đừng làm phiền người khác, càng đừng làm phiền những người yêu mến mẹ. Nếu thật lòng yêu mẹ, họ sẽ hiểu cho mẹ…” ,
 
Được biết, Quỳnh Dao sinh năm 1938, là nhà văn, nhà biên kịch đương đại nổi tiếng Trung Quốc. Nhiều tác phẩm của bà như Song ngoạiThủy vân gianMai hoa lạc, Hoàn Châu cách cách, Yên vũ mông mông… được chuyển thể thành phim, làm nên tên tuổi của nhiều diễn viên như Lâm Thanh Hà, Tưởng Cần Cần (Thủy Linh), Triệu Vy, Lâm Tâm Như…. Bà cũng là tác giả phần lời của nhiều khúc tình ca lãng mạn, được đông đảo khán giả yêu thích.
Đình Bảo (theo sohu)
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 27

Em bé Việt được đến Mỹ thử thuốc trị bệnh hiểm nghèo nhờ Facebook

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 12

Bài Tình Ca Mùa Đông

Em hãy thắp ngọn lửa đêm
cho hồng tháng Chạp
trắng cả một trời
tuyết trắng mênh mông
mùa đông của em
là những tàng cây trơ nhánh
tiếc mãi một thời xanh lá trên cao
cánh rừng xưa
đã già nua cằn cỗi
trăng cuối mùa
cũng chết giữa hư hao

Không còn gì
ngoài bóng đêm và lời tình phụ
như giá băng
phủ kín trái tim người
đôi tay gầy chẳng níu được tương lai
khi trong tim còn đoái hoài quá khứ

Em hãy hát vang gọi mùa xuân cỏ biếc
nuôi nỗi buồn còn sống mãi trăm năm
em hãy cười trên niềm đau tiễn biệt
giọt lệ nào lặng lẽ hoá thành băng

giữa hoang vắng lời yêu thương thề nguyện
giữa muôn trùng quay quắt những đợi mong
chào mừng tuổi đất trời không ước hẹn
mang nỗi buồn em hát một mùa đông…

Phạm Ngọc

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 36

Những di sản văn hóa và kiến trúc cổ nhất ở Sàigòn..

  01. Ngôi trường xưa nhất
 

Trường Lê Quý Đôn được xây vào năm 1874, hoàn tất năm 1877 do người Pháp quản lý. Lúc đầu trường có tên Collège Indigène (Trung học bản xứ), rồi đổi thành Collège Chasseloup Laubat. Năm 1954, trường mang tên Jean Jacques Rousseau. Năm 1967, trường được trả cho người Việt quản lý mang tên Trung tâm giáo dục Lê Quý Đôn. Từ năm 1975 đến nay đổi tên là trường Trung học phổ thông Lê Quý Đôn. Hơn một thế kỷ qua trường vẫn giữ được kiến trúc ban đầu.
02.Nhà máy điện xưa nhất

Nhà máy điện Chợ Quán được xây vào năm 1896, máy phát điện chạy bằng hơi nước có 5 lò hơi với 150m2, cung cấp dòng điện 3 pha, công suất chưa tới 120MW[Megawatt]. Máy phát điện chính công suất 1000A/h [A=Ampere hay Amp./h=hour].Hiện nay, nhà máy đã được trang bị hiện đại với 7 máy phát điện, hòa với lưới điện quốc gia cung ứng phần quan trọng cho lưới điện thành phố. Nhà máy tọa lạc tại số 8 Bến Hàm Tử, quận 5.
 
03. Bệnh viện xưa nhất
         
Bệnh viện Chợ Quán được xây vào năm 1826 do một số nhà hảo tâm đóng góp, sau đó hiến cho nhà nước. Năm 1954-1957 [Bệnh viện được] giao cho Quân đội và đổi tên thành Viện Bài lao Ngô Quyền. Năm 1974, đổi thành Trung tâm Y tế Hàn-Việt với 522 giường. Tháng 9/1975, mang tên Bệnh viện Chợ Quán. Đến ngày 5/9/1989 chuyển thành Trung tâm Bệnh Nhiệt đới. Hiện nay có 610 Cán bộ-Công nhân viên và 550 giường bệnh.
                            04. Nhà hát xưa nhất
                           
Nhà hát thành phố do kiến trúc sư người Pháp khởi công và hoàn tất vào ngày 17/1/1900. Các phù điêu bên trong được một họa sĩ tên tuổi ở Pháp vẽ giống như mẫu của các nhà hát ở Pháp cuối thế kỷ XIX. Nhà hát là nơi trình diễn ca nhạc kịch cho Pháp kiều xem. Năm 1956-1975, Nhà hát được dùng làm trụ sở Hạ nghị viện cho các chính phủ Đệ I & II Việt Nam Cộng Hòa; tháng 5/1975 trở thành Nhà hát thành phố với 750 chỗ ngồi. Kỷ niệm 300 năm Sài Gòn, toàn bộ phần kiến trúc bên ngoài Nhà hát đã được tu sửa lại như lúc nguyên thủy.
                          05. Khách sạn xưa nhất
Khách sạn Continental tọa lạc tại 132-134 Đồng Khởi, được xây vào năm 1880 do Kiến trúc sư người Pháp thiết kế, tên khách sạn có ngay từ những ngày đầu. Sau ngày cướp được miền Nam, khách sạn Continental bị Bắc Việt đổi thành Hải Âu. Đến năm 1989, khách sạn được nâng cấp, chỉnh trang và lấy lại tên cũ Continental với diện tích 3430m2, cao 3 tầng, nơi đây đã từng đón tiếp các vị tổng thống, thống đốc, nhà văn, người mẫu nổi tiếng. Ngày nay, khách sạn Continental là một trong những khách sạn đạt tiêu chuẩn quốc tế.
                         06. Nhà thờ xưa nhất
                            
Nhà thờ Chợ Quán tọa lạc tại số 20 Trần Bình Trọng, P.2 [phường], Q.5 [quận] được xây vào năm 1674 là nhà thờ cổ nhất tại Sàigòn và cổ nhất ở miền Nam. Ngôi thánh đường nằm ở vị trí trung tâm, có kiến trúc kiểu phương Tây, lợp ngói đỏ, có thể chứa khoảng 1000 người. Ngoài việc sinh hoạt tôn giáo, Họ đạo Chợ Quán tích cực tham gia công tác xã hội giúp đỡ người nghèo. Trải qua hơn 3 thế kỷ Nhà thờ Chợ Quán đã được trùng tu nhiều lần. Hiện nay, nơi đây có phòng khám và phát thuốc từ thiện dưới quyền quản lý của Hội Chữ thập đỏ [Hội Hồng Thập Tự] Quận 5.
                           07. Ngôi đình xưa nhất
                
Một trong những ngôi đình cổ nhất của đất Gia Định xưa và xưa nhất Nam Bộ là đình Thông Tây Hội, được xây vào khoảng năm 1679, là chứng tích còn nguyên vẹn nhất của thời kỳ dân Ngũ Quảng kéo vào khai khẩn vùng Gò đất có nhiều cây Vắp (từ đó trở thành tên địa phương là Gò Vấp). Đình lúc đầu là của thôn Hạnh Thông–thôn khởi nguyên của Gò Vấp, sau đổi thành Thông Tây Hội (do sự sáp nhập của thôn Hạnh Thông Tây (thôn Mới) và (thôn An Hội). Đình Thông Tây Hội có vị Thành Hoàng rất độc đáo. Hai vị thần thờ ở đình là hai hoàng tử con vua Lý Thái Tổ, do tranh ngôi với thái tử Vũ Đức nên bị đày đi khai hoang ở vùng cực Nam tổ quốc và trở thành “Thủy tổ khai hoang” trong lịch sử Việt Nam; hai vị thần đó là: Đông Chinh Vương và Dục Thánh Vương. Ngôi đình còn giữ được khá nguyên vẹn về quy mô và kiến trúc, kết cấu, với những chạm khắc đặc trưng Nam bộ. Đình Thông Tây Hội thuộc P.11, Gò Vấp.
                         08. Nhà văn hóa xưa nhất
           
Cung Văn hóa Lao Động. Năm 1866, với tên gọi Cèrcle Sportif Saigonnais được xây dựng làm sân thể thao cho các quan chức người Pháp với những hồ bơi, sân quần vợt, phòng đấu kiếm và phòng nhảy đầm. Thời Mỹ chiếm đóng, sân chơi được mở rộng hơn [và] phục vụ cho cả giới quý tộc. Tháng 11/1975, Ủy ban Quân quản Sàigòn–Gia Định trao toàn bộ khu này cho Liên đoàn Lao động Thành phố để biến cải thành khu hoạt động văn hóa thể thao và vui chơi giải trí cho công nhân lao động, lấy tên là Câu lạc bộ Lao Động, sau đổi thành Nhà văn hóa Lao Động, và rồi là Cung Văn hóa Lao Động. Diện tích 2.8ha, với 132 năm hình thành và phát triển, Cung Văn hóa Lao Động là Nhà văn hóa cổ và lớn nhất của Sàigòn.
                         09. Công viên lâu đời nhất
          
Thảo Cầm Viên do người Pháp xây vào năm 1864, nhà thực vật học nổi tiếng người Pháp Louis Pierre làm giám đốc đầu tiên. Mục đích xây dựng Thảo Cầm Viên để ươm cây giống trồng dọc các đại lộ Sàigòn, đồng thời là nơi nuôi & trồng những động & thực vật [thuộc] miền nhiệt đới mà các Thảo Cầm Viên của Pháp [lúc bấy giờ] chưa có. Năm 1865, chính phủ Nhật đã hỗ trợ khoảng 900 giống cây quý như: Chizgnamat, Goyamtz, Acamatz, Coramatz, Kayanoki, Kayamaki, Enoki, Maiki, Asoumaro, Sengni, Momi, Cashi, Kiaki, Inoki… Động vật của Thảo Cầm Viên khá phong phú như: gà lôi, sếu, cu gáy, hồng hoàng, công, hưu, nai, cọp, khỉ, chồn hương, tắc kè, rùa, cọp xám, báo đen, gà lôi xanh, chim cú lợn… Đến năm 1989, Thảo Cầm Viên được trùng tu, mở rộng và nhận thêm nhiều giống thú mới, trồng thêm cây quý. Hiện nay, có 600 đầu thú thuộc 120 loài, 1823 cây gỗ thuộc 260 loài và nhiều loại cây kiểng quý trên diện tích 21.352m2. Năm 1990, Thảo Cầm Viên là thành viên chính thức của Hiệp hội các vườn thú Đông Nam Á. Thảo Cầm Viên đã tròn 134 tuổi, số lượng động & thực vật ngày càng tăng, nơi đây đã gắn bó với từng bước đi lên của thành phố và là một trong những công viên khoa học lớn nhất Đông Dương.
                            10. Ngôi nhà xưa nhất
                  
Ngôi nhà có tuổi thọ lâu đời nhất còn hiện diện tại Sàigòn nằm trong khuôn viên Tòa Tổng Giám Mục Sàigòn, số 180 Nguyễn Đình Chiểu, P.6, Q.3. Năm 1790, Vua Gia Long cho cất ngôi nhà này ở gần Rạch Thị Nghè làm nơi ở cho Linh Mục Bá-Đa-Lộc và làm nơi dạy học cho Hoàng tử Cảnh. Ngôi nhà được xây bên bờ sông Thị Nghè trong địa phận Thảo Cầm Viên bây giờ. Năm 1799, Bá-Đa-Lộc chết, ngôi nhà được giao cho linh mục khác. Từ năm 1811 đến năm 1864 ngôi nhà bị đóng cửa vì chính sách cấm đạo của triều đình Huế. Sau khi vua Tự Đức ký hòa ước với Pháp, ngôi nhà được trao lại cho Tòa Giám Mục và được di chuyển về vị trí đường Alexandre de Rhodes hiện nay. 
Sau đó năm 1900 Tòa Giám Mục được xây cất tại 180 đường Richaud (nay là đường Nguyễn Đình Chiểu) thì ngôi nhà gỗ lại được dời về đây làm nhà thờ của Tòa Giám Mục. Ngôi nhà 3 gian 2 chái, lợp ngói âm dương, sườn, cột bằng gỗ, khung cửa và các khung thờ đều được chạm trổ công phu [với] hình hoa, lá, chim thú, hoa văn. Trong các di vật còn lại của ngôi nhà có một di vật có giá trị lịch sử lớn, đó là đôi liễn gỗ có tám chữ triện khảm xà cừ là tám chữ vua Gia Long ban tặng giám mục Bá-Đa-Lộc, một bên là “Tứ Kỳ Thịnh Hy”, một bên là “Thần Chi Cách Tư”.
Ngôi nhà được tu sửa vào năm 1980, cách tu sửa có tính chất vá víu, cốt giữ lại những gì có thể giữ được. Trải qua hai thế kỷ ngôi nhà không giữ được nguyên trạng nhưng đây là một di tích kiến trúc mang dấu ấn lịch sử, tôn giáo và văn hóa nghệ thuật. Đây là một tài sản có giá trị mà các bậc tiền nhân đã để lại cho chúng ta, không chỉ là truyền thống – bản sắc dân tộc mà còn là bộ mặt quá khứ mang tính văn hóa kiến trúc, một khía cạnh văn minh tại một vùng đất mới mọc lên từ đầm lầy, kênh rạch.
                               11. Ngôi chùa xưa nhất
Ngôi chùa có cảnh trí đẹp nhưng nằm ở địa điểm không tiện đi lại nên được ít người biết đến, [đó] là chùa Huê Nghiêm, tọa lạc ở 20/8 Đặng Văn Bi, Thủ Đức. Chùa được thành lập năm 1721 do Tổ Thiệt Thùy (Tánh Tường) khai sáng. Tên chùa lấy từ tên bộ kinh Hoa Nghiêm. Đây là chùa cổ xưa nhất trong các chùa ở TP Sàigòn nên còn gọi là Huê Nghiêm Cổ Tự. Những ngày đầu là một ngôi chùa nhỏ được xây cất trên vùng đất thấp cách địa thế chùa hiện nay khoảng 100m. Sau đó, Phật tử Nguyễn Thị Hiên pháp danh Liễu Đạo cúng đất để xây lại ngôi chùa rộng rãi khang trang như hiện nay. 
Qua nhiều lần trùng tu vào các năm 1960, 1969, 1990 mặt tiền chùa ngày nay mang dáng vẻ kiến trúc của chùa hiện đại nhưng các gian phía trong vẫn giữ nguyên kiến trúc cổ truyền, mái gian mặt tiền được cấu trúc gồm 3 lớp, nhỏ dần về phía trên. Các đường gờ mái chạy dài xuống cuối đầu đăng đều trang trí bằng hoa văn hình cánh sen đối xứng, giữa là hình bánh xe luân pháp, đặt trên hoa sen. Mái lợp ngói ống màu đỏ, đường viền mái ngói màu xanh. 
Vườn chùa có nhiều cây xanh bóng mát, có 9 ngôi tháp cổ với nhiều kiểu dáng khác nhau như những cánh sen vươn lên. Những hàng cột gỗ trong chùa được khắc nổi các câu đối bằng chữ Hán màu đen kết hợp với việc chạm khắc mô típ “long ẩn vân”dùng trang trí.
Chùa Huê Nghiêm là một di tích Phật giáo quan trọng, là nơi dừng chân, sống đạo và hành đạo của nhiều vị danh tăng uyên thâm Phật pháp, có đạo hạnh và có đạo đức. Chùa cũng là bằng chứng về trình độ kiến trúc và phong tục tập quán của người Việt trên vùng đất mới khai phá, mở ra nền văn minh trên vùng đất hoang sơ.
                 12. Đường sắt đầu tiên ở thành phố
                
Tuyến đường sắt đầu tiên ở nước ta là đoạn đường sắt Sàigòn–Mỹ Tho dài 71km, được xây vào năm 1881. Ga chính trước chợ Bến Thành, văn phòng đường sắt là tòa nhà 2 tầng chiếm cả khu đất bao bọc bởi ba đường Hàm Nghi–Huỳnh Thúc Kháng–Nam Kỳ Khởi Nghĩa, nay là Xí nghiệp Liên hợp đường sắt khu vực 3. Xe lửa chạy bằng máy hơi nước phải dùng than củi đốt nồi súp-de nên xe chạy khá chậm. Vì không cạnh tranh nổi với xe đò trong việc chuyên chở hàng hóa và hành khách, đường xe lửa Sàigòn–Mỹ Tho đã ngưng hoạt động từ lâu. Sau năm 1975, Ga xe lửa Sàigòn được dời về Ga Hòa Hưng. Vào ngày 8/8/1998, người ta khởi công xây cất Trung Tâm Văn Hóa Thương Mại Sàigòn trên nền Ga Sàgòn cũ.
13. Người Việt đầu tiên viết sử Việt Nam bằng tiếng Pháp
                                         
Ông Trương Vĩnh Ký (1837-1898). Năm 1859, Pháo hạm Pháp bắn vào cửa biển Đà Nẵng và thành cũ Gia Định, triều đình nhà Nguyễn bắt buộc chấp nhận mở cửa đất nước cho tư bản thực dân Pháp xâm nhập. Trong giai đoạn lịch sử mới, người Việt Nam từng bước tiếp xúc với ngôn ngữ và văn minh mới. Trương Vĩnh Ký là một trong những người sớm tiếp xúc và hấp thụ ngôn ngữ văn hóa phương Tây đã trở thành học giả có nhiều sáng tác nhất bằng cả tiếng Pháp và tiếng Hán–Việt. Ông là người Việt Nam đầu tiên viết sử Việt Nam bằng tiếng Pháp. Cuốn “Giáo trình lịch sử An Nam”đã được xuất bản gồm hai tập dày 462 trang. Đây thực sự là một công trình bác học biên soạn công phu dưới ánh sáng của một phương pháp luận khoa học tiến bộ so với đương thời.
14. Tờ báo bằng chữ Quốc Ngữ đầu tiên
                                   
Tờ “Gia Định Báo” là tờ báo chữ Quốc ngữ đầu tiên ở nước ta ra đời tháng 4/1865. Tờ báo đăng những thông tin nghị định của nhà nước và những tin kinh tế xã hội, lời bàn về thời cuộc, luân lý, lịch sử. Báo ra hằng tháng. Sau 4 năm phát hành, chính quyền thuộc địa cho phép báo phát hành hàng tuần bằng quyết định số 51 ngày 18/3/1869.
15. Tờ báo đầu tiên của Phụ nữ Việt Nam
                                      
Ngày 1/2/1918 tờ báo chuyên về Phụ nữ đầu tiên ra đời là tờ “Nữ Giới Chung” nhằm nâng cao trí thức, khuyến khích công-nông-thương, đề cao người Phụ nữ trong xã hội, chú trọng đến việc dạy đức hạnh, nữ công, phê phán những ràng buộc đối với Phụ nữ, đánh đổ mê tín dị đoan, động viên Phụ nữ quan tâm đến việc “Nữ quyền”. Muốn có vị trí ngang hàng với nam giới ngoài việc tề gia nội trợ phải am hiểu “tình trong thế ngoài”.
Chủ bút tờ báo là nữ sĩ Sương Nguyệt Anh, con gái nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu, vốn có lòng yêu nước, yêu thương đồng bào như thân phụ nên khi làm báo Bà có ý muốn làm diễn đàn để tỉnh thức lòng yêu nước trong dân chúng. Tuy chỉ tồn tại được hơn 6 tháng nhưng “Nữ Giới Chung” cũng đã gióng lên một hồi chuông nữ quyền còn vang mãi đến ngày nay.
               16. Cuốn từ điển tiếng Việt đầu tiên
                   
“Đại Nam Quốc Âm Tự Vị” là cuốn từ điển tiếng Việt quốc ngữ La-tinh của Huỳnh Tịnh Của gồm hai tập: Tập I xuất bản năm 1895, tập II xuất bản 1896 tại Sàigòn. Bộ từ điển chứa nhiều từ ngữ xưa, thành ngữ, tục ngữ, từ ngữ về thảo mộc, cầm thú của Việt Nam và của miền Nam. Bộ từ điển này trở thành Từ điển Bách khoa toàn thư đầu tiên về Nam Bộ.
     17. Người kiến trúc sư Việt Nam đầu tiên
                                           
Ông Nguyễn Trường Tộ (1828-1871) người làng Bùi Chu, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Gia đình ông theo đạo Thiên Chúa, ông giỏi chữ Nho, thông hiểu Ngũ Kinh Tứ Thư, học chữ Quốc ngữ và chữ Pháp với các giáo sĩ. Ông được giám mục Gauthier đưa sang Paris năm 1858. Ông am hiểu chính trị, kinh tế, quân sự, ngoại giao, pháp luật. Năm 1861 ông trở về nước, tàu ghé Sài Gòn thì nơi đây đã đổi chủ, ông buộc phải làm phiên dịch cho người Pháp.
Trong lúc ở Sàigòn, ông đã đứng ra xây cất tu viện dòng thánh Phao-lô (số 4 Tôn Đức Thắng). Đây là công trình xây cất theo kiến trúc Châu Âu do người Việt Nam thực hiện tại Sàigòn. Công trình được khởi công từ tháng 9/1862 đến 18/7/1864 hoàn thành gồm nhà nguyện với ngọn tháp nổi bật trên cao xây theo kiểu Gô-thic, một tu viện, một nhà nuôi trẻ mồ côi và một tháp chuông. Công trình xây cất này là kết quả nghiên cứu kiến trúc châu Âu của Nguyễn Trường Tộ khi ông ở Hồng Kông. Qua nhiều lần sửa chữa trùng tu, ngày nay tu viện thánh Phao-Lô vẫn giữ được đường nét kiến trúc xưa, chứng tỏ tài năng kiến trúc của Nguyễn Trường Tộ không thua gì các kiến trúc sư người Pháp.
18. Người Việt Nam đầu tiên vẽ bản đồ địa lý và đồ họa Sài Gòn theo phương pháp phương Tây
Ông Trần Văn Học, sinh quán ở Bình Dương, giỏi Quốc ngữ, La-tinh và tiếng Tây Dương, được giới thiệu làm thông ngôn cho Nguyễn Ánh. Ông phụ trách việc dịch sách kỹ thuật phương Tây, đồng thời kiêm việc chế tạo hỏa xa, địa lôi và các loại binh khí. Năm 1790, Nguyễn Ánh xây thành Bát Quái. Trần Văn Học phụ trách “phác họa đường sá và phân khu phố phường”.
Ông rất có tài vẽ địa đồ, họa đồ và kỹ thuật bản đồ như: tỷ lệ, trắc địa, và vẽ gần như chính xác các thành trì và công trình. Ông được coi [như là] người đầu tiên vẽ bản đồ Sàigòn-Gia Định theo phương pháp Tây phương.
Bản đồ Gia Định – Sàigòn – Bến Nghé do Trần Văn Học vẽ 1815. Khu vực trong và ngoài thành Bát Quái (Phiên An – trung tâm tâm đô thị Sàigòn) là những con đường ngang dọc vuông vức mà hiện chúng ta đang đi. Từ hai thành Phiên An, Gia Định, các trục lộ chính tỏa bốn hướng giờ vẫn còn: Hai Bà Trưng (giữa thành, qua Phú Nhuận, xuống Gò Vấp và quay lại thành), đường Nguyễn Trãi (đi Chợ Lớn), đường Nguyễn Thị Minh Khai (bên trái thành đi miền Tây, phải thành đi miền Đông, ra xa lộ Hànội, QL1), Cách Mạng Tháng 8 (đi Campuchia), Nguyễn Tất Thành (đi Q.7, Nhà Bè, Cần Giờ).
Kim Phượng sưu tầm
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 33

Mùa phượng tím rực rỡ ở Sydney

The Rocks, Vườn bách thảo Royal hay Paddington là những nơi du khách có thể chìm đắm trong khung cảnh lãng mạn của mùa hoa phượng tím.

Mùa phượng tím rực rỡ ở Sydney

Sydney là nơi có nhiều cảnh đẹp tự nhiên, một điểm đến thu hút du khách khắp thế giới. Đặc biệt khi đến Sydney tháng 11 này du khách còn được ngắm nhìn mùa phượng tím (jacaranda) rực rỡ. Trong hình là khu vực phố Circular Quay, nơi neo đậu nhiều du thuyền. Ảnh: Hamilton Lund. 

Mùa phượng tím rực rỡ ở Sydney

Nếu bạn đang tìm những địa điểm chụp hình đẹp với các hàng cây phượng tím ở Sydney, hãy đến với The Rocks, Vườn bách thảo Royal hay Paddington… Ảnh: Hamilton Lund.

Mùa hoa phượng tím rực rỡ ở Sydney

 
 

Mùa phượng tím ở Sydney năm nay. Video: rongbtv.

Mùa phượng tím rực rỡ ở Sydney

Khu The Rocks tập hợp những con đường lát đá, cửa hàng, quán rượu cổ thu hút du khách. Đây là nơi bạn có thể leo lên cầu cảng Sydney để phóng tầm mắt nhìn khắp khu cảng, dành thời gian đi bộ khám phá các bảo tàng, phòng triển lãm, chợ và rất nhiều nhà hàng. Trong hình là khuôn viên Bảo tàng Nghệ thuật đương đại. Ảnh: Hamilton Lund.

Mùa phượng tím rực rỡ ở Sydney

Sắc tím của hoa phượng bung nở trong khuôn viên Vườn bách thảo Royal. Ảnh: thecarousel.

Mùa phượng tím rực rỡ ở Sydney

Kiribilli, một khu vực ngoại ô khác của Sydney cũng là nơi du khách nên ghé qua nếu muốn chiêm ngưỡng sắc hoa phượng nhuộm tím những con đường. Ảnh: Supplied.

Mùa phượng tím rực rỡ ở Sydney

Ngoài Kiribilli, khu vực Bắc Sydney còn có Lavender Bay, Greenwich, Waverton, Hunters Hill, Woolwich, Longueville và Wollstonecraft là những nơi du khách, người dân địa phương có thể mang đồ ăn uống, tổ chức dã ngoại tận hưởng không khí trong lành dưới những hàng cây. Ảnh: Hamilton Lund.

Mùa phượng tím rực rỡ ở Sydney

Góc nhìn nhà hát Opera House dưới một vòm cây phượng tím nở đầy hoa rất lãng mạn. Ảnh: Hamilton Lund.

Mùa phượng tím rực rỡ ở Sydney
— 
Phuoc
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 20

Thời Gian – Khoảng Cách

Yêu em lắm tuy xa khoảng cách
Cho lòng buồn thử thách thời gian
Một mình suy nghĩ miên man
Nhìn đêm buông xuống ngắm màn sương rơi

Anh vẫn biết ở nơi xa đó
Em hàng đêm lệ nhỏ sầu bi
Gửi vào đêm vắng những gì
Để nhờ làn gió mang đi tới nàng

Nhìn ánh mắt mơ màng nơi ấy
Anh nơi này cũng thấy buồn sao
Con tim thầm nhủ ước ao
Tình mình đẹp lắm lẽ nào chia hai

Ngày mới đến ban mai rực nắng
Mình bên nhau trao tặng yêu thương
Hoa tình yêu nở ngát hương
Vòng tay ân ái môi hường trao duyên

Thời gian sẽ đưa thuyền cặp bến
Rồi niềm vui sẽ đến mọi nhà
Xuân về rạng rõ sắc hoa
Tình đôi mình mãi đậm đà thủy chung.

~*~ST online

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 40

KHUÔN MẶT VĂN NGHỆ MỚI