All posts by carolyn do

Có Những Việc Chính Mắt Mình Thấy Vẫn Không Hẵn Là Đúng

Có Những Việc Chính Mắt Mình Thấy Vẫn Không Hẵn Là Đúng

 Chuyện kể:

Khổng Tử có rất nhiều đệ tử, trong đó có hai người xuất sắc là Nhan Hồi và Tử Lộ. Nhan Hồi là người rất siêng năng , cần mẫn, sống giản dị, chất phát, người mà ta có thể tin tưởng được. Nhưng có điều Nhan Hồi chết rất sớm, 29 tuổi đầu bạc phơ, 32 tuổi thì mất.
Tử Lộ là người hiếu thảo. Cha mẹ già, người phải đi hái rau, gánh gạo thuê để nuôi cha mẹ. Sau khi cha mẹ chết được vua trọng dụng. Khi đã giàu sang thì cha mẹ không còn nữa, ông ngửa mặt lên trời mà than:
Cây muốn lặng mà gió không chịu ngừng
Con muốn phụng dưỡng cha mẹ nhưng không còn nữa
Thời buổi  loạn lạc, ai cũng bữa cháo, bữa rau. Thầy trò Khổng Tử cũng không ngoại lệ. Một hôm thầy trò về đến nước Tề, có một người nhà giàu nghe tiếng Không Tử đã lâu, kính trọng nên đem tặng cho ông một ít  gạo. Khổng Tử tin tưởng Nhan Hồi chân thật, khi nấu cơm sẽ không ăn lén ở trong nhà bếp( vì thật ra thời buổi khó khăn người ta dễ lừa thầy , phản bạn) vì thế ngài bảo Nhan Hồi đi nấu cơm, còn Tử Lộ thì dẫn một vài đệ tử nữa vào rừng để hái rau.  Khổng Tử ngồi trên nhà trên đọc sách, vô tình nhìn xuống nhà bếp thấy Nhan Hồi đang xới cơm và vắt một nắm cơm bỏ vào miệng ăn. Ông thật sự không tin vào con mắt của mình, người học trò mà ông đặt hết tin tưởng, chân thật, thế mà lại làm như vậy. Ông buồn và thất vọng vô . Sau khi Tử Lộ đem rau về nhà nấu xong , dọn ra ăn. Các đệ tử khoanh tay mời thầy ăn. Trước khi ăn thì Khổng Tử nói: Trong thời buổi loạn lạc, mà chúng ta được một bữa ăn như thế nầy thì thật là quá quí, thời buổi loạn lạc, đói khổ mà các trò không bỏ thầy đi cũng thật là quá quí…Nên khi thấy bữa ăn nầy thầy lại nhớ đến cha mẹ của thầy, vậy thầy xin các đệ tử cho thầy cúng cha mẹ trước rồi mới ăn có được không? Tất cả các đệ tử ai cũng nói được , chỉ có Nhan Hồi yên lặng. Sau đó Nhan Hồi xin phép thầy thưa chuyện: Khi chiều thầy giao cho con nấu cơm, cơm chín con dở nắp ra xới cơm, thì có gió lớn bay vào nhà bếp, bụi và mấy con sâu bay vào làm cho cơm bị dơ, con dích ra định bỏ .Nhưng con nghĩ thời buổi loạn lạc nầy cơm không đủ ăn, mình bỏ đi thì uổng, còn để lại thì huynh đệ phải ăn cơm dơ. Con xin phép thầy lúc nãy cơn đã ăn trước phần cơm dơ đó mà không bỏ phí, bây giờ con no rồi . Con cũng thưa thầy, cơm nầy con đã ăn trước nên không cúng được. Nghe chuyện xong đức Khổng Tử ngửa mặt lên trời than:
 Chao ôi! Thế ra trên đời nầy  có những cái đích mắt mình nhìn thấy,   cũng chưa chắc nó thật sự xấu, đúng như mình nghĩ. May quá, may mà Nhan Hồi nói ra, nếu không Khổng Tử nầy là một kẻ hồ đồ, đáng trách!!!…..
 
 

Hits: 56

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Đề Đô Thành Nam Trang

Đề Đô Thành Nam Trang

Đề Đô Thành Nam Trang ( hay còn gọi Đề Tích Sở Kiến Xứ) là một trong rất ít những bài thơ Đường thi nói về chủ đề tình yêu của tác giả Thôi Hộ. Tuy sáng tác it nhưng Thôi Hộ được” lưu danh thiên cổ”cũng nhờ vào bài thất ngôn tứ tuyệt gắn liền với thiên tình sử nhiều giai thoại nầy:
Đề Đô Thành Nam Trang
Khứ niên kim nhật thử môn trung
Nhân diện đào hoa tương ánh hồng
Nhân diện bất tri hà xứ khứ
Đào hoa y cựu tiếu đông phong
Dịch: Thất Ngôn Tứ Tuyệt
Năm ngoái ngày nầy tại cổng đây
Hoa đào cùng mặt nàng hồng thay!
Nay nàng không biết nơi nao nhì?
Chỉ thấy hoa đào cười gió đông
Giai thoại
Một lần nhân tiếc Thanh Minh, chàng trai Thôi Hộ dạo chơi phía nam thành Lạc Dương. Nhân thấy một khuôn viên trồng đào rất đẹp, tươi thắm những hoa, chàng đến gõ cổng xin nước uống. Lát sau thấy một thiếu nữ diễm lệ e ấp núp trong vườn đào. Uống nước xong ra đi.
Năm sau cũng trong tiếc Thanh Minh, người con trai trở lại chốn cũ, nhưng cổng đóng  then cài, gọi mãi không thấy ai. Chàng viết bài thơ dán lên cổng. Lâu sau nữa khi trở lại, chợt nghe tiếng khóc từ trong nhà vọng ra, rồi thấy một ông lão ra hỏi chàng có phải là Thôi Hộ không, và cho biết con gái của cụ sau khi đọc xong bài thơ bỏ cả ăn uống, đã chết, xác vẫn còn nằm ở trong nhà. Thôi Hộ tìm vào đến bên xác người con gái, tuy đã tắt thở nhưng vẩn còn ấm và mặt mày vẫn còn hồng nhuận. Chàng quì xuống than van kể lể. Người con gái sống lại và họ thành vợ chồng. Bài thơ ghi lại mối tơ duyên bất hũ, nhuốm màu sắc một huyền thoại.

Hits: 78

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Chân Dung Khái Hưng- Nhất Linh

Chân dung Khái Hưng-Nhất Linh

KhaiHungKhái Hưng sinh 1896, Nhất Linh ra đời muộn hơn gần 10 năm (1906) nhưng họ là đôi bạn thân thiết nổi tiếng trong Văn học Việt Nam hiện đại. Cả hai trong thời kỳ xây dựng nền văn học mới của ta, đã sáng lập Tự lực văn đoàn, điều khiển hai tờ Phong hóa và Ngày nay cũng như nhà xuất bản Đời nay tới thành công mỹ mãn. Đặc biệt hơn nữa, họ đã sáng chung nhiều truyện dài và truyện ngắn như Anh phải sống, Gánh hàng hoa và Đời mưa gió, những tiểu thuyết được khuyên son và được nhiều thế hệ trân trọng đốt lò hương cũ.
Trong các tác phẩm viết chung thường ghi rõ dấu ấn của từng tác giả. Trong các tiểu thuyết võ hiệp hiện đại, Kim Dung được coi là cây viết tài ba, kế đến là Lương Vũ Sinh. Hai nhà văn này đã từng có cơ hội hợp tác viết Thiên long bát bộ đăng từng kỳ trên Minh báo (Hồng Kông) vì có lúc Kim Dung bận việc để Lương Vũ Sinh viết thế vài chương. Người đọc có thể thấy ngay bút pháp của họ Lương ở những chương nói về Thiên sơn đồng mỗ, Nam viện đại vương vì cây bút này ưa những chi tiết ly kỳ và trọng việc mô tả võ nghệ, trong khi Kim Dung lại thích chữ “hiệp” và chữ “tình”.

Qua Gánh hàng hoa và Đời mưa gió khó tìm ra đâu là phần đóng góp của Khái Hưng và nơi nào là bút pháp của Nhất Linh. Hai cây bút của ta có quá nhiều điểm tương đồng và phần nổi bật nhất là cá tính hai nhà văn có nhiều điểm chung và sự cảm thông giữa họ vô cùng khắng khít.
Buffon (1707-1788) của Tây phương có nói “văn tức là người”. Còn Bồ Tùng Linh (1640-1715) của Đông phương trong Liêu trai chí dị có truyện Tư văn lang cũng cùng ý đó (nhân vật nhà sư mù trong truyện chỉ cần bảo người ta đốt bài văn và ngửi mùi khói là biết văn của ai, thấp hay cao hay hoặc dở, và cốt cách của người viết ra sao là quân tử hay tiểu nhân).
Ta thử đọc lại những tác phẩm của hai cây bút chủ lực trong Tự lực văn đoàn xem sao. Rõ ràng qua tác phẩm của họ, người đọc tưởng tượng tác giả phải là người phóng khoáng về tư tưởng, có lý tưởng cải tạo xã hội, đa cảm trước việc đời, trước con người xấu số và cảnh sắc quê hương muôn vẻ. Họ phải là kẻ sĩ tâm huyết, nghệ sĩ tài hoa và trí thức dấn thân. Văn thì vậy, còn con người thực thì sao? Tống Chi Vấn đời Đường nổi tiếng học giỏi và thơ hay nhưng con người lại rất tồi bại, dù gần trọn cuộc đời vì danh vọng nên bất chấp thủ đoạn kể cả hại bạn bè và thân thích, và cúc cung tận tụy với Võ Tắc Thiên nhưng cuối cùng cũng bị Võ hậu giết và ô danh ngàn đời.

Muốn biết chân dung bề trong Khái Hưng và Nhất Linh phải để người trong cuộc, nhưng từng chống đối họ, nhận xét mới khách quan. Nhân vật này là nhà thơ Huy Cận. Huy Cận (1919-2005) ở tuổi hai mươi được Nhất Linh thưởng thức tài năng và nâng đỡ trên đường sự nghiệp thơ văn. Sau này Huy Cận rẽ sang lãnh vực chính trị và cũng như Xuân Diệu, Thế Lữ vì “gặp thời thế, thế thời phải thế” có lúc chỉ trích Nhất Linh, Khái Hưng một cách tệ hại. Nhưng về già, khi đã mòn chân mỏi gối vì danh lợi, tác giả Lửa thiêng mới nhớ lại ân tình của những kẻ từng đỡ đầu mình, đã giúp mình tạo được thành tựu về văn chương, thứ sự nghiệp chân chính và vĩnh cửu, nên đã có những nhận xét sau đây khởi từ đáy lòng chứ không bắt nguồn từ ngụy tín:
“Lần đầu tiên tôi gặp Nhất Linh là vào dịp Tết Mậu Dần (1938), lúc bài thơ Chiều xưa của tôi được đăng trên báo Ngày nay số Tết; và Tết đó tôi từ Huế ra chơi Hà Nội cùng anh Xuân Diệu. Anh Xuân Diệu giới thiệu tôi với Nhất Linh. Nhất Linh đọc ngay câu thơ đầu của bài Chiều xưa “Buồn gieo theo gió veo hồ – Đèo cao quán chật, bến đò lau thưa”. Thì ra Nhất Linh đã chú ý bài thơ của tôi đăng số Tết vừa phát hành. Rồi anh nói: “Hồn xưa trong một câu thơ lục bát rất mới! Chắc anh đã làm nhiều thơ? Về Huế anh nhớ gởi đều thơ ra báo chúng tôi”. Xong rồi Nhất Linh nói sang chuyện khác, chuyện chợ Tết, chuyện đi mua hoa, chuyện làng quê còn giữ được không khí Tết ngày xưa như hồi anh ấy còn đi học. Anh có mời tôi trở lại nhà báo chơi trước khi tôi trở về Huế tiếp tục học ban tú tài. Tôi đã trở lại tờNhat_Linh báo Ngày nay ở số 80 đường Quan Thánh Hà Nội, thăm Nhất Linh và Khái Hưng trước khi đáp tàu hỏa về Huế. Câu chuyện thân mật, thân tình không có gì là khách sáo, không có gì là “hàn lâm”. Tôi có nhắc qua những truyện tôi đã được đọc của các anh, tôi có nói qua phong trào Thơ mới, nói sự hâm mộ của thanh niên học sinh ở Huế, ở trường Quốc học đối với báo Ngày nay và sách của nhà xuất bản Đời nay. Nhất Linh và Khái Hưng không nhấn mạnh vào sự hâm mộ và hoan nghênh ấy của công chúng độc giả. Hai người nói nhiều với tôi về truyền thống nghìn năm văn vật của đất Thăng Long, của thành Hà Nội. Qua câu chuyện tôi cảm thấy những tình cảm của quê hương đất nước mà các anh đã diễn tả một cách kín đáo trong các truyện, các bài văn là một tình cảm sâu sắc, nung nấu trong lòng qua nhiều năm tháng. Trong câu chuyện cả Nhất Linh và Khái Hưng đều xen những câu hóm hỉnh, một thứ hu-mua rất Việt Nam, nhưng ở Nhất Linh thì kín đáo và đượm chút trữ tình, còn ở Khái Hưng thì bộc lộ thoải mái và điểm những tiếng cười, y như các cụ ta ngày xưa khi bàn chuyện tâm đắc với nhau.
Nhất Linh vẽ rất khéo, đặc biệt là vẽ những côn trùng, những con vật để minh họa những câu chuyện nửa văn chương, nửa khoa học của anh đăng trên báo Phong hóa. Anh cũng đã minh họa tiểu thuyết Hồn bướm mơ tiên của Khái Hưng bằng những nét vẽ rất gợi cảm; những tháng anh đã học trường mỹ thuật trước kia không phải là vô ích. Học khoa học nhưng về nước thì anh cùng Khái Hưng lo xây dựng sự nghiệp văn chương, hơn là đi dạy học như đa số những bạn du học như anh. Nhất Linh lại có một hồi mê học nhạc, đặc biệt là mê thổi kèn Clarinét; thường tôi đến tòa soạn báo Ngày nay hay gặp anh thổi những bài nhạc theo những điệu hát trong các phim nổi tiếng hồi bấy giờ là bài Horsay, Nàng Bạch Tuyết và bảy chàng lùn… Thỉnh thoảng anh cũng thổi một vài bản nhạc cổ điển Âu Tây ngắn như bài Sêrênát của Sube, bài Ánh trăng của Bitôven… Lúc Nhất Linh chúm môi thổi Clarinét thì vẻ mặt anh trầm lắng, hai mắt say sưa, thật dễ gây cảm tình.
Về Khái Hưng tôi cũng ghi sau đây một vài kỷ niệm. Lần đầu tiên tôi gặp Khái Hưng cũng là những ngày Tết Mậu Dần (đầu năm 1938). Khái Hưng hơn Nhất Linh mười tuổi, người mảnh khảnh, nước da mai mái, mắt hơi mài mại. Dáng dấp của Khái Hưng rất nhẹ nhõm, chân đi không nghe tiếng, người ta bảo đó là tướng mèo, có thể là biểu hiện một sự thư thái, thoải mái trong tâm hồn, mà cũng có thể là biểu hiện một sự rụt rè, thiếu tự tin. Đó là cách nói của các thầy tướng, còn tôi thì tôi thấy Khái Hưng rất hoạt bát, rất cởi mở, gần như có lúc bộp chộp nữa. Khái Hưng cũng có cái cười hồn nhiên, chào đón, môi cười mà hình như mắt cũng cười theo. Khái Hưng ngồi làm việc, nghĩa là ngồi viết suốt ngày ở cái bàn to của phòng họp tòa báo giữa một đống báo ngổn ngang, bên cạnh luôn luôn có một cái kính lúp để thỉnh thoảng anh lại dùng để đọc những chữ quá nhỏ hoặc quá khó đọc trên một trang báo hay trong một quyển tự vị. Khái Hưng viết truyện dài đăng trên báo Ngày nay, thường là viết hằng tuần một, theo nhịp độ in tờ báo. Đó cũng là cách làm anh phải viết nhanh, viết kịp thời, những điều đó cũng ảnh hưởng đến sự trau chuốt câu văn, và ít nhiều cũng ảnh hưởng đến sự bố cục tình huống. Nói vậy thôi, chứ Khái Hưng viết truyện đã có dàn bài trước, tính cách nhân vật đã được nghiên cứu tương đối kỹ khi đặt bút viết, tất nhiên nhiều tình tiết sẽ được sáng tạo trong quá trình viết, trong quá trình văn đưa lên in trang báo. Còn văn của Khái Hưng thường thì trong sáng, trong trẻo nữa, và có những đoạn mang tính chất thơ như trong Hồn bướm mơ tiên, trong một số tập truyện ngắn của tập Dọc đường gió bụi. Văn của Khái Hưng còn một ưu điểm nữa là rất Việt Nam, một thứ văn Việt Nam mới, hiện đại nhưng tính dân tộc trong câu văn rất rõ. Khái Hưng đọc nhiều tiểu thuyết của phương Tây, và theo tôi biết anh đặc biệt thích đọc các tiểu thuyết của Somerset Maugham và của Dickens. Anh cũng đọc Stendhal, Flaubert và Balzac. Điều mà tôi quí nơi anh là anh còn ham đọc những sách chữ Hán, chữ Nôm của ông cha để lại (Khái Hưng hồi nhỏ đã học chữ Hán đến 12 tuổi rồi mới học chữ quốc ngữ và chữ Pháp). Khái Hưng trong lúc làm việc thích uống cà phê và nhờ bà vợ hoặc người nhà ra mua cà phê ở quán Joseph ở bên kia đường Quan Thánh, trước mặt tòa báo. Cũng có mấy lần anh mời tôi đi uống cà phê ở quán này, và tất nhiên là ăn bánh ngọt nữa. Ông chủ quán quen thân với nhà văn, biệt tính nhà văn uống cà phê đậm nên bao giờ cũng cho lượng bột cà phê gấp rưỡi hoặc gấp đôi vào cái phin. Đối với các bài thơ của tôi đăng đều trên báo Ngày nay anh đều xem kỹ và mau thuộc. Rất nhiều lần tôi đến tòa báo gặp anh thì anh đọc một loạt mấy câu thơ trong những bài đã đăng trước đây, tỏ ra thích thú và có khi bình luận lý thú. Anh cứ ngạc nhiên tại sao tôi là một người học mới, không biết chữ Nho, mà hồn nhiều bài thơ của tôi lại có phong cách dân tộc đậm đà như vậy và cũng có những bài phảng phất hồn thơ Đường mặc dù không phải là bắt chước thơ Đường, và cấu trúc bài thơ, và cũng như cấu tứ bài thơ lại hiện đại. Đến lúc tập thơ Lửa thiêng của tôi sắp in anh tha thiết muốn tôi đề tặng bài Buồn đêm mưa, sau đó lại tiếc bài Tràng giang và lại đề nghị tôi cho anh bài thơ đó. Thành thử một bài đề tặng Khái Hưng và một bài đề tặng Trần Khánh Giư là tên khai sanh của anh. Để đáp lại tình cảm, duyên văn tự ấy, anh đã tặng tôi bản thảo viết tay bằng mực màu đen nhánh một truyện vừa anh đã biết lúc mới vào đời văn. Bản thảo này tôi để trong một cái rương đã bị cháy ở Hương Khê lúc đầu kháng chiến chống Pháp, cháy cùng một số bản thảo và mấy bản Lửa thiêng giấy đẹp của tôi. Khái Hưng những ngày chủ nhật và những dịp lễ dài ngày thường rủ bạn bè đi thăm danh lam thắng cảnh, đặc biệt anh thích đi vãn cảnh chùa vùng Bắc Ninh Bắc Giang, là nơi nhiều chùa chiền đẹp xây dựng từ đời Lý đời Trần. Cũng trong một chuyến đi thăm chùa Tiêu Sơn ở Bắc Ninh mà anh đã nảy ra cái ý viết quyển tiểu thuyết Tiêu sơn tráng sĩ. Cảnh chùa Tiêu Sơn gợi cảm, đã thúc giục anh viết nhanh, viết hào hứng quyển truyện gọi là lịch sử, nhưng có tính chất kiếm hiệp này. Anh cũng thường giao du với một số vị sư mà anh quen biết trong cuộc đời nay đây mai đó trước đây của anh, lúc anh còn là một nhà buôn tài tử, trước khi về sống ổn định ở Hà Nội đi dạy học ở trường Thăng Long. Chính anh và Nhất Ling đã mời tôi đi xem chùa Thầy và cảnh núi Sài Sơn ở huyện Quốc Oai, Sơn Tây vào một ngày hè năm 1940. Anh rất thạo về đạo Phật và thuyết minh cặn kẽ cho tôi hiểu về ngôi chùa, về Từ Đạo Hạnh, về các vị La hán thờ trong hậu tự, về kiến trúc cổ kính của ngôi chùa. Lên thăm cảnh chợ trời trên núi Sài Sơn, chúng tôi lại cùng nhau ngâm lại những câu thơ phóng khoáng, đầy gợi cảm của Hồ Xuân Hương:
Buổi sớm gió đưa, trưa nắng đứng
Ban chiều mây họp, tối trăng chơi…
Khái Hưng mang cốt cách một người tài tử, thích ngao du nay đây mai đó, du sơn du thủy như một cụ nhà Nho ngày xưa. Những cảnh cật vùng trung du mà anh thường hay tả trong các truyện của anh (vùng Phú Thọ, vùng Bắc Ninh, Bắc Giang, vùng Sơn Tây, Hòa Bình…) chính là những cảnh anh đã sống, đã thân thuộc, đã yêu mến với tấm lòng “lãng tử” của anh. Chính vì vậy mà thứ tình quê hương nhẹ nhàng nhưng thấm thía mà anh đã gợi lên trong văn của anh có sức hấp dẫn, có sức thuyết phục. Lần đầu tiên trong văn học Việt Nam, cảnh đồng quê, cả ở vùng trung du và vùng đồng bằng được gợi lên một cách đẹp đẽ và dễ cảm tình như vậy, khác hẳn với những cái cảnh “cổ điền” được ghép lại bằng những hình tượng vay mượn trong sách xưa của ta hay của Tàu. Nhưng thôi, lúc khác tôi sẽ bình luận về văn và truyện của Khái Hưng. Trong Tự lực văn đoàn, Nhất Linh là người chỉ đạo, nhưng Khái Hưng là lực lượng có thể nói là nền móng. Sức sáng tác dồi dào của anh, sự hoan nghênh của công chúng lúc bấy giờ đối với những tác phẩm của anh là chỗ dựa chính cho sự tồn tại của tờ báo Ngày nay và của nhà xuất bản Đời nay.” (Huy cận -Hồi ký song đôi)

Hits: 65

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Đó Quê Hương Tôi

Đó Quê Hương Tôi, nhạc Vĩnh Điện, ca sĩ Thế Sơn

Nghe bản Đó Quê Hương Tôi của nhạc sĩ Vĩnh Điện, Thế Sơn hát với cây đàn thùng , tôi thật xúc động. Mới đây mà đã 40 mươi năm lưu lạc rồi sao? Những hình ảnh đau thương của đất nước 40 mươi năm về trước, như bày ra trước mắt tôi. Lửa, khói và tuổi thơ sống trong thảng thốt. Tôi muốn quên, nhưng càng lại nhớ. Nghẹn ngào, quê hương tôi đó sao? Chiến tranh, rồi gọi là hòa bình, nhưng lại hòa bình trong muôn ngàn đổ nát, dưới lớp áo ngàn hoa… Nghe lại khúc nhạc nầy, như đốt một nén nhang tưởng niệm cho những người đã ra đi, đã hy sinh vì chiến tranh, để cho chúng ta có những ngày như hôm nay… Xin cám ơn tất cả…

Hits: 53

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Thản Nhiên

Thản Nhiên

Mai ta nằm chết trên đồi
Bốn bề cây cỏ hát lời du dương
Khắp trời mây trắng còn vương
Vi vu gió tự nghìn phương thổi về
Xoãi tay lìa hết nhiêu khê
Nghe triền sóng vỗ cuộc mê mẩn nào
Môi cười dưới lá lao xao
Khép mi tình vẫn thì thào trong ta
Yêu người, yêu giọt mưa qua
Thương đời, thương cả cành hoa chóng tàn
Mai sau dù khói hương vàng
Ra đi dứt một tiếng đàn thản nhiên.
Nguyễn Vạn Toàn 1973
                                                         

Hits: 1326

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Thạch Lam, nhà văn tâm lý xuất sắc Tác Gỉa Hoàng Yên Lưu

Thạch Lam, nhà văn tâm lý xuất sắc

 Tác Gỉa Hoàng Yên Lưu

Thạch Lam có đời sống tâm lý rất phong phú, lại có nhiều cơ hội sống với nội tâm vì ngoài vài người bạn thân thiết lâu lâu ghé thăm như Đinh Hùng, Huyền Kiêu…thì ông thường một mình bên người bạn đời tận tụy, bên lửa túy hương và gắn bó với căn nhà bên bờ hồ Tây cùng cây liễu trước nhà. Tuy ông cùng hai anh là Nhất Linh và Hoàng Đạo xây dựng cho tờ Phong Hóa và Ngày Nay, hai tờ báo của Tự Lực văn đoàn, và có lúc tham dự vào ban trị sự của văn đoàn nhưng chỉ trong thời gian ngắn, đối với ông việc cầm bút mới là mục đích nhân sinh.
Từ 1940 trở đi, Nhất Linh xê dịch nhiều, Hoàng Đạo bận rộn cả việc công chức lẫn nghề cầm viết, ngoài ra họ còn dấn thân vào chính trị, kẻ lưu vong, người bị bắt, trong khi ấy Thạch Lam là cây viết cô đơn quanh quẩn ở Hà Nội và đôi khi về Cầm Giàng (Hải Dương) và chỉ có vài người bạn thân như nhà văn đương thời Đỗ Đức Thu (1909-1979) kể lại: “Thạch Lam rất thận trọng trong việc giao du. Bạn bè của anh có thể đếm trên đầu ngón tay. Thỉnh thoảng có người lui tới cái nhà ở Tây hồ. Khách phần nhiều cũng yên lặng như chủ, đó là những người có thể ngồi im hàng giờ cạnh khay chè, đã đạt được cái thuật đối diện đàm tâm của các bậc túc nho. Cuộc sống ẩn sĩ như thế, lại là người có óc quan sát tỉ mỉ, và khả năng nội quan sâu sắc, và khả năng sử dụng ngôn ngữ bén nhạy nên truyện ngắn của Thạch Lam ghi lại được những biến động về tâm lý hết sức tinh tế”.
Nhận xét của Đỗ Đức Thu rất xác đáng. Ngày nay đọc lại truyện ngắn của Thạch Lam mới thấy ông là bậc thầy phân tích tâm lý con người, ngay cả trường hợp phức tạp nhất. Trong Gió đầu mùa có truyện ngắn “Đói”. Truyện kể lại một thanh niên tên Sinh thất nghiệp và trắng tay trong cơn đói “như cào ruột, làm người chàng mệt lả đi, mắt hoa lên, trông vật gì cũng lờ mờ như lay động”. Mai, vợ chàng, trước đây từng là hoa khôi nơi son phấn, nhưng giờ đây gặp nghịch cảnh phải chịu cảnh nghèo đói với chồng. Nhưng Mai trong cảnh cơ hàn, dù yêu chồng nhưng do bản năng, bị cuốn về con đường cũ, nàng đã hẹn hò với một khách làng chơi lấy tiền mua thức ăn cho chồng đang trong cơn đói lả. Nàng đã nói dối Sinh là do một phụ nữ từ tâm quen biết cũ giúp cho tiền bạc và còn hứa cả cho việc làm. Sinh đang đói nhưng tình cờ vào phút chót khám phá ra hành vi phản bội của vợ, đã hất đổ gói đồ ăn xuống đất và mắng chửi vợ thậm tệ. Nhưng khi Mai nức nở bỏ đi thì cơn đói giày vò chàng tới mức chàng không thể cưỡng được mùi vị của những miếng thịt béo ngậy, chiếc bánh thơm giòn cho dù thực phẩm hấp dẫn này có nguồn gốc nhơ bẩn và rồi cơn tự ái của chàng vẫn ngấm ngầm đâu đó trong tâm tư bỗng nhiên biến mất:
“Cơn đói lại sôi nổi như cào ruột xé gan, mãnh liệt, át hẳn cả nỗi buồn. Chàng muốn chống cự lại, muốn quên đi, nhưng không được, cái cảm giác đói đã lan cả khắp người như nước triều tràn lên bãi cát. Mỗi lần cơn gió, mỗi lần chàng ngửi thấy cái mùi ngậy béo của miếng thịt ướp, mùi thơm của chiếc bánh vàng, mũi Sinh tự nhiên nở ra, hít mạnh vào, cái mùi thơm thấu tận gan ruột, như thấm nhuần vào xương tủy.
Sinh cúi xuống nhìn vào gói đồ ăn tung tóe dưới bàn: chàng lấm lét đưa mắt nhìn quanh, không thấy Mai đứng đấy nữa… Khẽ đưa tay như ngập ngừng sợ hãi, Sinh vớ lấy miếng thịt hồng hào.
Sinh ăn vội vàng, không kịp nhai kịp nuốt. Chàng nắm chặt miếng thịt trong tay, nhây nhớp mỡ, không nghĩ ngợi gì, luôn luôn đưa vào miệng.
Trong gói giấy đồ ăn đã hết chỉ còn những cái vụn nhỏ dính trên mặt giấy bóng mỡ. Sinh thấy nóng ran ở trong bụng. Chàng ưỡn người ra đằng sau khoan khoái thở dài. Nhưng rồi nhớ lại bức thư, cuốn giấy bạc, nhớ lại tiếng khóc thổn thức của Mai nép bên tường, nhớ lại những lời khinh bỉ mỉa mai chua xót. Chàng nhớ lại nỗi uất ức, đau đớn của mình… Một cái chán nản mênh mông tràn ngập cả người. Sinh lại hai tay ôm đầu, cúi đầu khóc nức nở”.
Cảm giác đói được Thạch Lam tả như vẽ và chân thực tới mức độ có ai không muốn tin rồi cũng phải tin vào sự thực con người, ngay cả những kẻ có nhân cách nhưng trong cơn thử thách sinh tồn cũng có khả năng sống với bản năng thấp kém.
Hơn nữa, qua ngòi bút tác giả Gió đầu mùa, đời sống của những kẻ bần hàn cũng được ông phác họa vô cùng sinh động và cảm động. Đặc biệt là số phận của những kẻ kém may mắn vào ngày cuối năm. Trong truyện ngắn Tối ba mươi, ông ghi lại từng nét như khắc họa bi kịch của con người xấu số như hai cô gái giang hồ lạc loài trong đô thị phồn hoa như Liên và Huệ vào một ngày cuối năm:

“Huệ lặng im, tự dưng thoáng nghĩ đến thân thế lưu lạc của hai chị em và lòng se lại. Huệ nhìn bạn âu yếm. Giờ chỉ còn Liên là người thân thiết nhất với nàng.
Xếp các giấy gói sang một bên, Liên quay lại bảo Huệ:
– Chúng mình bày cỗ cúng đi.
– Bày làm quái gì vội. Bây giờ mấy giờ rồi?
– Không biết. Dễ gần mười một giờ rồi đấy. Sửa soạn đi thì vừa.
Huệ không đáp, đi đến cửa sổ, tì trán vào cửa kính nhìn xuống đường. Mưa bụi vẫn bay tơi tả, hình như bóng tối khắp nơi dồn lại quãng phố hẹp này. Trên hè ướt át và nhớp nháp bùn, không một bóng người qua lại. Cái vắng lạnh như mênh mông ra tận đâu đâu ở khắp các phố Hà Nội đêm nay. Huệ tưởng đến những căn nhà ấm cúng và sáng đèn, then cửa cài chặt, mọi người trong nhà đang tấp nập sửa soạn đón năm mới trong sự thân mật của gia đình. Chỉ có chị em nàng xa cửa, xa nhà. Nhưng nàng còn nhà đâu nữa mà về? Mẹ chết rồi, cha đi lấy vợ khác không biết ở đâu. Đã bảy, tám năm nay, nàng không về đến làng. Những người quen thuộc còn ai không? Huệ nghĩ lại thương hại cho Liên, em họ nàng. Liên còn cha mẹ, nhưng Liên không dám về. Hai người sống cái đời trụy lạc ở Hà Nội từ lúc bỏ nhà ra đi. Hôm nay, ngày cuối năm sum họp hai người ở căn buồng này, trong một cảnh ăn tết lạnh lẽo.
Huệ nhắm mắt lại. Vì trông mưa bụi hay vì nàng khóc thật? Hình như có chút nước mắt vừa rơm rớm ở mi nàng. Huệ chớp khẽ rồi nhớ đến cuộc đời mình, lúc trẻ thơ, lúc còn con gái, ở nhà quê. Một buổi sáng mồng một Tết, –nàng không nhớ rõ là Tết năm nào, nhưng đã lâu lắm rồi thì phải, nàng mặc áo mới đứng trên thềm nhìn mấy bông hoa đào ở trước vườn. Tại sao nàng chỉ nhớ có cái cảnh ấy? Huệ không biết, nàng chỉ mang máng cảm giác một sự gì trong mát, tươi non… Khác hẳn bây giờ. Tâm hồn Huệ u ám và nặng trĩu xuống.
Bỗng Huệ giật mình quay lại; Liên vỗ vai nàng, cười:
– Nghĩ gì mà thần người ra thế? Phải vui vẻ lên một tí chứ! Sắp giao thừa rồi đây này.
Huệ theo Liên đi vào và gật đầu.
– Thôi, cúng đi. Chị sửa soạn xong chưa?
Trên chiếc bàn rửa mặt đầy vết bẩn. Liên đã đặt đĩa cam quýt, cái bánh chưng và thếp vàng. Mấy gói lạp xường và giò cũng để ngay bên. Các đồ cúng nghèo nàn bỗng bày lộ ra trước mắt hai người. Huệ tìm lấy thẻ hương. Nàng quay lại hỏi Liên:
– Chị có mua gạo không?
– Có gạo đây. Nhưng đổ vào cái gì bây giờ?
Hai chị em nhìn quanh gian buồng, nghĩ ngợi. Liên bỗng reo lên:
– Đổ vào cái cốc này. Phải đây, rất là…
Nàng im bặt dừng lại. Hình ảnh ô uế vừa đến trí nàng. Cái cốc bẩn ở góc tường, mà cả đến những khách làng chơi cũng không thèm dùng đến, nàng định dùng làm bát hương cúng tổ tiên! Liên cúi mặt xuống, rồi đưa mắt lên trông Huệ, hai người thoáng nhìn nhau. Liên biết rằng những ý nghĩ ấy cũng vừa mới đến trong trí bạn.
Huệ cất tiếng nói trước, thản nhiên như không có gì:
– Hay cắm trên cái chai này… Không! Cắm trên tường này cũng được, mày nhỉ.
Liên không dám trả lời, sẽ gật đầu.
Nàng đến cạnh giường lật đệm lên lấy bao diêm.
Nhưng giật mình nàng quay lại: có tiếng người gõ cửa buồng.
– Ai đấy?
– Tôi. Cô mở cửa cho tôi với.
Hai chị em luống cuống nhìn các đồ cúng trên bàn. Hai người muốn cất dọn hết, nhưng chắc không kịp. Nhanh trí, Huệ đứng tựa bên bàn che khuất đi, trong lúc Liên ra mở cửa. Người nồi “săm” ngó đầu vào.
– À, bác Tâm. Hỏi gì thế?
– Tôi gửi cô giữ hộ chìa khó.
– Bác về đằng nhà bây giờ à?
Anh bồi “săm” tươi cười:
– Vâng, phải về ăn Tết chứ. Thôi. Cô làm ơn trông hộ nhà nhé. Giờ này cũng chẳng ai đến nữa mà sợ.
Liên thấy đằng sau, tiếng Huệ đáp:
– Đêm nay thì còn ma nào đến. Bác cứ về.
Người bồi sắp bước đi, lại quay lại:
– À, chút nữa quên, tôi xin chúc mừng trước hai cô nhé! Chúc hai cô sang năm mới được… được…
Người bồi ấp úng, không biết nói gì thêm. Liên vội đỡ lời cám ơn, rồi đóng cửa buồng lại. Một lát, tiếng cánh cổng sắt dưới nhà rít lên trong yên lặng lạnh lùng.
Giờ chỉ còn hai chị em trong căn nhà. Gian buồng bỗng trở nên rộng rãi quá chừng: một cái lạnh thấm thía đến tâm hồn. Ngoài đường trời hẳn còn mưa, mưa buồn rầu và âm thầm trong bóng tối. Trong gian buồng, ẩm ướt tăng thêm. Liên và Huệ đưa mắt nhìn xung quanh. Cái giường sắt lạnh, đệm và gối hoen bẩn, cái thau gỉ, cái bô, và cái bàn rửa mặt gỗ đã mọt… Đó là khung cảnh của cuộc đời trụy lạc đã từ lâu… Huệ đứng dậy hỏi bạn để cho tan sự yên lặng:
– Chị đã thắp hương chưa?
Liên cũng tự nhiên gọi Huệ là chị:
– Chưa. Chị thắp đi. Bao diêm ở bên cạnh đĩa ấy.
Khói hương lên thẳng và tỏa ra mùi thơm ngát đem lại cho hai nàng kỷ niệm những ngày cúng giỗ ở nhà, khi hai chị em còn là những con gái trong sạch và ngây thơ.
– Sắp đến mười hai giờ đấy, Liên nhỉ?
– Có lẽ đến rồi. Năm mới!
Huệ đặt lại các đĩa trên bàn, xếp vàng cho ngay ngắn. Nàng quay lại bảo Liên:
– Chị ra khấn đi.
Liên tiến đến trước bàn thờ đứng yên.
– Em biết khấn làm sao bây giờ?
Nàng bỗng nấc lên, rung động cả vai rồi gục xuống ghế, tay ấp mặt. Những giọt nước măt nóng chảy tràn mi mắt, nàng không giữ được; Liên cảm thấy một nỗi tủi cực mênh mang tràn ngập cả người, một nỗi thương tiếc vô hạn; tất cả thân thế nàng lướt hiện qua trước mắt với những ước mong tuổi trẻ, những thất vọng chán chường.
Huệ nhìn Liên rồi nhẹ nhàng đến gần, buồn rầu vỗ vai bạn:
– Liên, khóc làm gì nữa, buồn lắm.
Tiếng nàng cũng cảm động nghẹn ngào. Dưới bàn tay thân mật của bạn, Liên càng nức nở. Hai chị em giờ này cảm thấy trơ trọi quá. Liên ngẩng mặt lên nhìn Huệ, cố gắng nở nụ cười héo hắt!
– Chị cũng khóc đấy ư?
Huệ gục xuống vai bạn, không trả lời. Nước mắt cũng ứ lên rồi lặng lẽ trào ra má. Nàng quàng tay ôm hết sức chặt lấy Liên.
Tiếng pháo giao thừa bỗng nổ vang gần đấy rồi từ nhà nọ sang nhà kia lan rộng mãi vào đêm tối. Liên nói sẽ như thì thầm:
– Giao thừa.
Huệ không trả lời. Hai chị em nép sát vào nhau, yên lặng”.

Có giờ phút nào thiêng liêng như đêm giao thừa, thời khắc đầy ước mơ thịnh vượng, đoàn tụ và bình yên? Có kiếp sống bi đát nào hơn cuộc sống chỉ có dĩ vãng, mà không hiện tại và không tương lai như đời của Huệ và Liên? Cảm thông được nỗi lòng của hai bông hoa dại lạc loài này chỉ có Thạch Lam và những khách tha hương “sòng đời thua đến trăng hai tay”!

Hoàng Yên Lưu

Hits: 2588

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Đông Hồ và quê hương Hà Tiên

Đông Hồ và quê hương Hà Tiên

Hà Tiên là một vùng đất phía tây đất nước, được một người Minh hương là Mạc Cửu (1655-1735) khai phá và được Chúa Nguyễn là Nguyễn Phúc Chu thuận cho thần phục vào năm 1708 và đất này chính thức ghi trong bản đồ Đại việt từ 1714. Nhờ công lớn, Mạc Cửu được chúa Nguyễn ban cho chức Tổng binh trấn Hà Tiên và phong tước là Cửu Ngọc hầu. Theo Đông Hồ, dưới thời Pháp thuộc, “từ Sài Gòn tới hà tiên không quá 350 cây số. Xe hơi chạy 10 giờ, tàu thủy chạy hai ngày”. Ngày ấy, Hà Tiên được coi là một tỉnh lỵ xa xôi ít nhiễm văn minh Âu Tây và chưa theo kịp đà tiến bộ của các thành thị lớn ở Nam Kỳ. Tỉnh lỵ này giáp biển cả và có núi non nên phong cảnh rất ngoạn mục, sản vật phong phú và nhân dân có nếp sống thuần lương, với nhiều sắc dân hòa hợp duy trì được nhiều phong tục cổ kính. Khi phong trào chữ quốc ngữ khởi lên ở Lục Tỉnh với những học giả nổi danh như Trương Vĩnh Ký và Huỳnh Tịnh Của và các tờ báo như Nông cổ mín đàm, Lục tỉnh tân văn, Nam kỳ địa phận, Công luận báo… thì Hà Tiên chưa mấy người biết chữ quốc ngữ. Sau khi Nam phong ra đời, phong trào truyền bá văn tự mới lên tới đỉnh cao thì một nhà giáo trẻ, Đông Hồ Lâm Tấn Phác, là một trong những người đầu tiên xây dựng phong trào học chữ quốc ngữ tại quê hương Hà Tiên của mình qua việc thành lập Trí đức học xá. Trí đức học xá trong gần chục năm (1926-1934) đã đào tạo được một số học sinh xuất sắc, tập luyện văn tự mới để sáng tác và gửi bài đăng trên Nam Phong. Thành tựu của nhóm này là sự xuất hiện của hai nhà thơ được văn học sử Việt Nam tiền bán thế kỷ XX ghi nhận, ngoài Đông Hồ (1906-1969) ra là Mộng Tuyết (1914-2007)(phu nhân của Đông Hồ). Về văn xuôi, nhóm Đông Hồ đã dùng văn tự mới giới thiệu quê hương mình qua bài du ký có tên là Cảnh vật Hà Tiên đăng trên Nam phong nhiều kỳ từ số 150 tới số 154 (tháng 5 đến tháng 9, 1930). Cảnh vật Hà Tiên là một tác phẩm có giá trị không những về văn học mà còn về lịch sử, phong tục và địa dư về một phần đất nước mà trước đó chỉ có sách Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức ghi chép sơ lược. Người yêu thơ văn thường nghe tới phong cảnh Hà Tiên và Hà Tiên thập vịnh. Nhờ Đông Hồ, chúng ta mới được thưởng thức những trang gấm vóc của văn chương và vẻ ngoạn mục của quê hương. Sau đây là phần trích trong thiên du ký Cảnh vật Hà Tiên của Đông Hồ và Nguyễn Văn Kiểm: “Đông Hồ ở gần thành phố Hà Tiên. Ai đi đến Đông Hồ cũng đều cho cảnh ấy là đẹp. Đông Hồ là một cảnh thiên nhiên của tạo hóa nung đúc điểm tô “rõ mồn một như một bức tranh tuyệt đẹp, mà màu sơn nét bút tươi sáng biết dường nào”. Đông Hồ không phải bể nước con con, bên này trông rõ bên kia được. Đông Hồ không phải bể nước ở giữa đồng bằng vườn dâu ruộng lúa bao quanh, không vẻ chi hùng dũng. Đông Hồ cũng không phải vũng nước hôi tanh, cả mấy nghìn năm không thông thương nơi nào được. Đông Hồ không phải thế. Ba bề có bốn năm trái núi xanh rờn, lại có mấy đường nước nhỏ hẹp mà sâu xa tản đi các nơi, và có hai ngã sông, ngã đi ra biển, ngã đi Giang Thành. Ghe buôn, tàu thủy qua lại dập dìu, có thuyền con ngư ông đánh lưới. Bắt trên con sông Giang Thành đi xuống vàm, thì trước nhất trông thấy mấy đống đất đổ theo mé cừ hai bên lạch, cây bần mọc xanh như rừng, và hai bên cừ đã thành như mấy cái cù lao nho nhỏ; chiều lại chim cò về ngủ tại đây. Khỏi mấy cù lao là đến giữa hồ. Bề dài chạy theo hướng nam bắc, đầu dưới chếch lên về mé tây một chút, mặt nước thoáng cả mấy nghìn mẫu. Bờ bên này dòm bên kia mù mù, giăng cây thâm thấp. Mấy khi mưa lớn, sa mù, hay là ngày đốt cỏ năng ngoài đồng lối tháng Ba tháng Tư, thì không thấy chi cả. Vào giữa hồ, mấy khi nước lớn, gió lớn, có sóng ầm ầm; nhưng có khi không có sóng gió, mặt nước tự nhiên êm lặng, có hơi gợn tí nước reo gành. Tứ bề lồng lộng chỉ có cây xanh nước biếc màu mè xinh xắn biết bao. Mé tay hữu, có núi Thạch Động, xóm Thị Vạng, núi Ngũ Hồ nhành dương phơ phất. Mé trước mặt là khúc sông Hà Tiên ra biển, rồi lần về tay trái, là núi Tiểu Tô Châu, Đại Tô Châu, xóm Cai Mến, rừng tràm xóm củi Rạch Vượt, rừng tràm Trà Tiên. Vàm Rạch Vượt đi vô xóm củi, có nhiều ghe lớn đang đậu chờ xuồng con lòi chở củi ra cho chín, mười ngày. Vàm Thị Vạng có ghe chở vôi đợi nước lớn mới vô xóm Cầu Giữa cho khỏi cạn. Giữa hồ có chỗ đóng cây từng khóm như chiếc đệm, gọi là cắm chà. Cá vô trong đó, thì bao lưới bắt. Lại có sáu, bảy cái rớ, cái bắt cá nước lớn, cái chờ cá nước ròng, khiến cho không mất màu tranh sơn thủy của nước nhà. Xóm Tô Châu là xóm nhà sàn, phân nửa cái nhà, phân nửa trên mặt nước. Xóm chạy quanh chân núi rất xa. Dài theo xóm, có nhiều ghe lưới, rượng lưới, có nhiều nhà lúp xúp tận trong chân núi hay nửa triền núi, lại có mấy hàng dừa tha thướt theo ngọn gió chiều. Rượng đáy có chim nhạn, cò, diệc hay là chàng nghịch, chăng bè đang đứng chờ mồi. Tiểu Tô Châu nằm ngang theo bậc sông; ở sau là Đại Tô Châu chạy theo hướng nam bắc, núi dài, triền gần đứng sững như bờ tường. Tiểu Tô Châu trông như hai con rùa nằm đâu mỏ. Trời chiều, mưa mới tạnh, núi đọa bóng dưới nước tối đen. Tháng Một, tháng Chạp, nước ròng, cảnh hồ đẹp lắm. Mỗi khi trời động, trong hồ sóng gió càng thêm dữ dội, xuồng con không dám đi ra. Có lắm khi giọt nước dòng chảy quá mạnh, ghe vôi ghe củi gần chìm, còn chiếc đò ngang thì trôi gần ra biển. “Đẹp nhất là trời về mặt tây, bóng dương đã xế, mây vàng vẩn vơ”. Trông ra mặt hồ, thấy quang cảnh đã đẹp lại vui, đã vui lại cảm, xa xa có chiếc tàu thủy từ từ vô bến, thỉnh thoảng lại rúc còi làm rộn cho hành khách dưới tàu. Màu sắc càng xem càng đẹp, càng ngắm càng hay. Cảnh hoàng hôn ở đây chưa kém cảnh nào: tiều phu về nhà, ngư ông gác mái, trống chùa ai đánh thì thùng. Tháng Hai, tháng Ba, miền Trà Tiên, Phú Mỹ đốt đồng cho chết cỏ năng đặng làm ruộng. xa xa có khóm lửa đỏ hồng hồng, khói lên trắng trắng. Mấy khi đốt đồng bắt được qui rùa thật nhiều. Lửa cháy cả đêm ngày. Nhằm lúc trăng mới lên, ta đã thấy vàng gieo ngấn nước. trăng đã lên cao soi sáng tỏ rạng, khắp cả hồ cũng như một mảnh gương của tạo hóa đem để đó vậy. Có khi mây đen che cả mặt trăng, mặt nước cũng đen, thình lình hé một, hai chỗ, trăng rọi xuống như đèn rọi của chiến thuyền giữa đêm tăm tối. Tiết Trung thu, nào xuồng nào ghe ngổn ngang trên mặt nước. Trên rớ nào thi nhân mặc khách du thưởng thanh nhàn. Biết đâu chẳng có kẻ trông trăng mà nhớ cái khổ cảnh vong quốc, có kẻ nhìn nước mà sợ cái thảm trạng tiêu hồn, lòng mình chỉ có cổ nhân chứng biết. Văng vẳng lại nghe câu ngâm câu hát đưa vào bờ, có lẽ cũng vui thú như tiếng “chuông chùa Hàn Sơn” vậy. – Một hồ rờ rỡ tiết thu quang, Giữa có vầng trăng nổi rõ ràng. – Đưa em cho tới Đông Hồ, Anh mua trái mít, em bồ trái xiêm. Thế mới hay cái cảnh hồ Đông Hồ thú trăng thanh gió mát khiến cho người khách phải sinh mến sinh yêu biết dường nào. Từ Đông Hồ ra gần bờ biển đặt nhiều rớ nữa. Mấy thứ bắt được thường là cá mai, cá cơm, tôm, cua. Hai bờ sông đều có nhà. Mé sông bên tả có bến đò, có xóm bên sông, lại có cây mọc nhiều vì là rừng sát. Bên hữu toàn là nhà ngói, có cái khít, có cái lại rời, tùy theo ranh đất. Có chợ buôn bán tấp nập, có bến xe hơi, có đường quan lộ. Bên hữu, chỉ huốt chợ một chút thì mấy đường Hàng Dương đi thẳng đến Tòa Bố. Gần đường có cái cầu sở thương chánh. Ở chợ muốn qua bên sông, tất phải đi đò. Đò chèo một người tốn hai xu; đò xe hơi năm sáu người kéo, vừa xe vừa người đều khỏi tốn tiền. Tháng nước đổ, tháng 8, tháng 9, có lục bình trôi xuống nhồi theo lượng sóng. Qua mùa bấc, bọt nước trôi mấy đường dài, không khác ở Cửu Long Giang. Qua khỏi chợ, gặp nhiều cồn xấp theo mặt nước. Cồn Pháo Đài, người trong làng thường đến bắt cá xiểu, đập hào, cào nghêu, lặn vòm, bắt sò cùng là lượm chem chép. Ở bến chợ, có ghe đậu nhiều, ghe khoai, ghe bắp, ghe mía, ghe gạo. Mà ghe vôi, ghe cải là nhiều hơn hết. Gần Tết, thì ghe các tỉnh vô chở dưa hấu và rau câu. Ở cầu thương chánh, có ghe bầu chở nước mắm hòn, ghe bầu chở cây váng Phú Quốc. Có cả ghe Xiêm, tàu Hải Nam chở heo, cà thuê, dầu lửa, cùng các thứ ngoại hóa. Tàu Hải Nam thì hạ buồm xuống dưới, chỉ có cột trơ trọi như ghe chài, còn ghe bầu thì buồm cuốn lại và treo vòng xiên đòng đưa theo cột. Tàu Hải Nam khác hơn ghe chài mà lại lớn hơn thập bội. Cách chèo tam bản lại khác hơn nữa. Ghe tam bản có mấy cây chèo rất lớn để ngay tấm bổ ngực lớn mà cả sáu, bảy người chèo, tam bản chạy ùa sóng. Chiều chiều, họ đi đi lại lại quanh tàu, cho ướt mấy đường trét chai. Mỗi chiếc tàu chở chín, mười ngàn tạ. Về buổi trưa, các xuồng nhỏ ra bến chợ hay lên Đông Hồ chài tôm. Có ghe hai người ngồi, một người chèo, một người vãi chài. Có người lại chài bộ, đi bộ dọc theo mé sông chớ không đi ghe, họ vãi mồi cho cá ăn trước rồi mới chài sau. Tối lại ghe nào ghe nấy phải thắp đèn treo trên cột buồm, xa xa thấy ngọn đèn cũng hiểu được là ghe đậu. Nhằm mùa có sam, về tháng Bảy, tháng Tám, nhiều người thắp đèn chài đi từ Pháo Đài dẫn đến Đông Hồ để đem đi bán hay là trộn gỏi uống rượu. Đông Hồ nối liền với Vàm Hàng vàm sông Giang Thành; nơi ấy có dinh Cậu, tàu ghe qua lại rất cung kính. Từ đó trở lên và tại bãi Bùn, cá sấu rất nhiều. Chỗ vàm sông, có bỏ đá hàng lại, thuở có giặc Xiêm, nên chỗ ấy gọi là trên Hàng. Cảnh Đông Hổ tốt đẹp; nhằm lúc trăng trong gió mát, tôi cùng các ông bạn ra bến Đông Hồ xem trăng hay là bơi chiếc thuyền con đủng đỉnh giữa dòng cũng đủ vui thú mà tiêu sầu thoát khổ được”. Hoàng Yên Lưu

Hits: 67

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Ngày xưa

Ngày xưa I
Ngày xưa nắng dịu dàng say
Theo em, đường rợp hoa lay bóng chiều.
Ngẩn ngơ, đâu chắc là yêu
Mà trang thơ nhuốm ít nhiều phấn hương .
Nhớ nhung nào chẳng khói sương ?
Cơn mơ nào chẳng yêu thương rộn ràng ?
Mùa Xuân , hôn cánh mai vàng
Thầm trao em, phút mơ màng, lẻ loi.

Yêu ai chưa kịp nên lời
Hôm nay nắng cháy, mộng đời đã xa.

Ngày xưa II
Ngày xưa nắng mộng đường hoa
Gió ân cần nhẹ nâng tà áo bay
Em cười, thơm nỗi thơ ngây
Mắt thuyền sương khói như say mộng đời
Chiều đưa niềm nhớ lên khơi
Tình riêng phong kín một lời chưa trao
Giọt mưa bay ướt phương nào ?
Bến sông ngày ấy dạt dào sóng đưa.
Mười năm nhắn lại người xưa :
Môi son thiếu phụ đã vừa nhạt phai.

Nguyễn Vạn Toàn

Hits: 63

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Tranh Luận Về Truyện Kiều

Truyện Kiều hay Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du, hành thế cho đến nay gần hai trăm năm kể từ khi tác giả qua đời (1820), đã chứng tỏ có khả năng vượt không gian và thời gian nhờ chính giá trị của nó. Các cuộc tranh luận về truyện Kiều, trước đây về vấn đề luân lý và sau này về chính trị hay về ý thức hệ, đều chỉ là phản ứng bình thường của dư luận đối với một đại tác phẩm. Sự khác biệt về ý kiến chỉ có vai trò điểm xuyết cho tác phẩm thêm xán lạn mà thôi như viên ngọc quý qua mài giũa.truyenkieu[1]

Qua gạn lọc của thời gian ngày nay mâu thuẫn đã tan, dị biệt đã hết, tác phẩm được mọi thế hệ trân trọng như sách gối đầu giường và người yêu tiếng Việt coi như kho tàng để tham khảo và kim chỉ nam để học tập về văn tự và văn học.
Trở lại những năm đầu thế kỷ XX, khi nhóm Nam Phong gây nên phong trào tôn sùng truyện Kiều đã tạo nên cuộc bút chiến với lớp Nho gia chống đối việc sùng bái quá đáng một tác phẩm văn chương đưa nó lên hàng quốc hoa, quốc hồn, quốc túy, thánh thư và vận mệnh của cả một dân tộc.

Ngôn từ nhóm Nam phong dùng để đề cao truyện Kiều vì sử dụng trên báo chí, trên diễn đàn có mục đích cổ võ nên đôi khi quá “thậm xưng” và “khoa trương” cũng không có gì quá đáng. Nhưng trong hoàn cảnh đất nước đang có phong trào giải phóng dân tộc từ Duy tân, Đông du tới các cuộc khởi nghĩa của Hoàng Hoa Thám, Lương Ngọc Quyến khiến nhiều bậc quốc sĩ cảm thấy bất bình, phải lên tiếng. Tại sao? Vì kẻ sĩ nghĩ tới vận nước ngả nghiêng nên bất an trước bả văn chương diễm tình, còn nhà nho theo truyền thống của Hàn Dũ trong bài Tiến học giải nối chí thầy Mạnh bài bác Dương Chu và Mặc Địch (cho là tà thuyết).

Đó là trường hợp một số nho gia từng chống đối guồng máy bảo hộ, từng bị án “quốc sự phạm”, lại có báo trong tay, cho rằng nhóm Phạm Quỳnh đã dấy lên một “tà thuyết” có hại cho tiền đồ đất nước nên họ có bổn phận phải mang “chính học” ra để bài trừ. Đại diện cho nhóm này là cụ nghè Ngô Đức Kế, chủ bút tờ Hữu Thanh, một tờ báo nhỏ ở Hà nội.

Ngô Đức Kế sinh năm 1878, hiệu Tập Xuyên, người làng Trảo Nha, huyện Thạch Hà, phủ Hà Thanh, tỉnh Hà Tĩnh, xuất thân từ một gia đình quyền quý.

ngo-duc-ke

Năm Tân Sửu (1901), ông dự thi Đình, đỗ tiến sĩ nên được gọi là cụ nghè Ngô. Tuy nhiên, ông không ra làm quan ở nhà dạy học, đọc tân thư, liên hệ với Phan Bội Châu và đứng ra đề xướng lối học mới và bài xích cái học từ chương và cử nghiệp. Đồng thời, ông cùng các đồng chí lập ra Triều Dương thương điếm ở Vinh với mục đích thực hiện việc duy tân.

Năm Mậu Thân (1908), ông bị bắt và bị đày ra Côn Đảo cho đến năm 1921 mới được phóng thích.

Năm sau (1922), ông làm Chủ bút báo Hữu thanh của Hội Công thương tương tế, đồng thời sáng tác thơ vǎn. Trên báo Hữu thanh, ông đã viết một số bài “đả kích thơ văn lãng mạn và quyết liệt bài xích nhóm Nam Phong vì đã đề xướng việc sùng bái Kiều”. Năm 1927, Hữu thanh bị đóng cửa, Ngô Đức Kế mở Giác quần thư xã, để xuất bản một số sách có tư tưởng cách mạng trong số đó có “Phan Tây Hồ di thảo” của Phan Chu Trinh.
Ngô Đức Kế qua đời ở Hà nội ngày 10 tháng 12 năm 1929.

Trong bài “Luận về chánh học cùng tà thuyết” (đăng trên báo Hữu thanh, tháng 9/1924), ông đã kịch liệt chống lại chủ trương đề cao Truyện Kiều của PQ. Vì theo ông, tác phẩm ấy đã làm cho các thanh niên “say đắm trong trời tình biển ái mà mềm nhũn cái lòng sắt đá, bỏ mất cái chí nguyện cao xa”.

Sau đây là một phần của bài Chính học và Tà thuyết của Ngô Đức Kế:

Chính học và Tà thuyết (trích)
Vận nước thịnh hay suy, quan-hệ tại đâu? — Tại nhân tâm thế đạo. Nhân tâm thế đạo xấu hay tốt, cỗi gốc tại đâu? — Tại học-thuyết tà hay chính.
Rộng xét năm châu, trải xem lịch-sử, dọc ngang mấy vạn dặm, trên dưới mấy nghìn năm, từ đông đến tây, từ xưa đến nay, hễ nước nào khi vận nước cường tất là khi ấy trong nước chính-học sáng rệt, nước nào khi vận nước suy đốn, tất là khi ấy trong nước tà-thuyết lưu hành; chính-học sáng rệt thì thế-đạo nhân-tâm phải tốt, mà vận nước cũng theo chính học nổi lên, tà-thuyết lưu hành thì nhân-tâm thế đạo phải hư mà vận nước cũng theo tà thuyết mà đắm mất.

Khi chính-học đang quang minh, thì tà thuyết không có chỗ nào xen vào được; tà-thuyết lưu-hành trong nước như gió lướt cỏ, như nước vỡ đê; không ai ngăn cản, thì thường vào lúc chính-học đã suy đồi, mà nhất là lúc việc đời biến cải, việc nước đổi thay, quốc thị mơ màng, nhân tâm bỡ-ngỡ, nền cũ đã đổ, nhà mới chưa thành bậc hiền nhân quân-tử, thì kín tiếng dấu tăm, nằm co ở nơi thảo dã, mà bọn bỉ-phu tục tử thì khua chuông gõ mõ, nhảy-nhót ở trên vũ đài; lúc ấy chính là lúc tà thuyết thừa cơ mà lấn lướt chính-học.
Truyện « Thanh tâm tài nhân » (tức là truyện Kiều) là một bộ tiểu thuyết tầm thường không có giá trị gì. Xem bộ « Tình sử » của Tàu, biết bao nhiêu chuyện li-kỳ hơn nữa. Và dù sự tích ấy mà có thiệt đi nữa, thì một đôi thiếu niên nam nữ, đêm thanh người vắng, trèo tường trổ ngõ, ước hội chuyện trò với nhau, đối với phong hóa đạo-đức là việc bất chính, mở đầu quyển sách như thế, dù sau có tô vẽ hiếu nghĩa gì đâu nữa, cũng không đủ làm gương tốt cho đời.

Nói về văn chương quốc âm của ông Nguyễn Du, thì vẫn là hay thiệt, song cái lối văn vận, ngâm nga ngợi hát, chỉ là một lối trong đạo văn chương. Văn tuy hay, mà truyện là truyện phong tình, thì có vẻ ai dâm sầu oán, đạo dục tăng bi, tám chữ ấy không tránh đàng nào cho khỏi. Cái bản ý ông Nguyễn Du làm truyện « Đoạn-Trường tân-thanh » ấy (tức là truyện Kiều) chỉ là mượn văn chương mà ngụ chút tâm sự mình; cho nên ông đã có câu: « Lời quê góp nhặt nên bài, mua vui cũng được một vài trống canh ». Xem thế thì biết truyện ấy chỉ là một thứ văn chương ngâm vịnh chơi bời, để lúc thanh nhàn mà đọc đôi câu cho tiêu khiển, chứ không phải một thứ văn chương chính đại theo đường chính học, mà đem ra dạy đời được đâu.

Ngày trước, các cụ tiền bối thường cấm con em xem truyện Kiều: trong xã hội, ai hay đọc Kiều nghêu ngao, thì cho là kẻ đàng điếm. Ý các cụ nghĩ rằng: các gã thiếu niên chí khí chưa định, tình dục đang nồng, xem truyện thì mê, rồi sinh cái tư tưởng trộm ngọc cắp hương, khêu hoa ghẹo nguyệt, say đắm trong trời tình bể ái, mà mềm nhũn cái gan lòng sắt đá, bỏ mất cái chí nguyện cao xa. Cái phép gia đình giáo dục của các cụ như thế, thiệt phải lắm. Vì cái tính trộm ngọc cắp hương, say hoa đắm nguyệt, người sinh ra không dạy cũng biết, vẫn cấm mà không được, huống chi lại thấy trong sách trong truyện, ngâm nga ngợi hát, thành ra một việc rất phong nhã rất hào hoa.

Thế mà ngày nay « đức » văn-sĩ giả dối ta biểu dương truyện Kiều lên, để khai hóa cho quốc dân, đem truyện Kiều làm sách « quốc văn giáo khoa » (sách dạy) làm sách « sư phạm giảng nghĩa » (sách thầy). Văn-sĩ thường nói rằng: « học Hán văn là học mượn, học Pháp văn là học mượn; học Quốc văn mới là học nhà: truyện Kiều tức là sách nhà đó ».

Ôi! Học làm quốc văn thì học thế nào? — Bài này chưa có thể nói kỹ được: song có phải là học nghĩa-lý, danh từ, về các khoa học, luân lý, cách-trí, chính-trị, cùng là phép luân lý, phép ký-sự, để xem các sách về ngôn luận của ta cho hiểu, để đem tư tưởng sở đắc trong Pháp-học mà phát ra làm trước thuật ngôn luận của ta cho thông không? hay là học cái lối thơ phú ca ngâm, nắn một chữ cho hay, dùng những điển cho lạ, rung đùi lắc gối như lối học ngày xưa đã vì thế mà người ngu nước yếu nay lại đổi ra chữ nôm? hay là những cái danh từ tài tử giai nhân, ba sinh duyên nợ, gương thề quạt ước, liễu dựa hoa kề, rày ước mai ao, thầm yêu trộm nhớ, xưa nay không ai dạy mà không mấy ai không thuộc lòng, trong các bức hoa tình không câu nào không Kiều, mà nay còn phải dạy nữa cho thêm hay thêm giỏi, thế là học quốc văn ư? Một anh giả dối lóp lép, đứng đầu sùng bái Kiều, mà một bọn u mê hờ hững gào hơi rán sức để họa theo, còn một lớp người chỉ nghe lóm nhìn mồm thì về tay tán thưởng, khiến người phải bịt tai bưng mũi, phải nhức đầu long óc vì những tiếng to « quốc văn… Kim-Vân-Kiều… Nguyễn Du… »

Cứ như ý họ, thì nước ta ở thế kỷ này, mà muốn chế cái tễ thuốc « thập toàn đại bổ » cho dân cho nước, thì không chi bằng quyển sách « trăm năm trong cõi người ta ». Cứ như lời họ, thì từ lúc Gia-long lại nay, nước Nam ta có cái của rất quí báu, mà người mình ngu dại không biết là quí, nay nhờ đức văn-sĩ có cái đại-nhãn đại-thức mà phát-minh cái của báu ấy cho dân cho nước được nhờ: kể cái công phát kiến không kém gì ông Kha-Luân-Bố (Colomb) tìm được Mỹ-châu vậy!

Vậy cho nên, trong nước ngày nay, nào là bình phẩm văn chương Kiều, nào là phê-bình Kiều, nào là chú-thích Kiều, nào là thơ vịnh Kiều, cho đến hát tuồng Kiều, diễn kịch Kiều, chớp ảnh Kiều, trong nhà ngoài đường, trên trời dưới đất đâu đâu cũng Kiều. Cứ xem hiện trạng ấy, thì nước Việt-Nam ngày nay gọi tên là Kim-Vân-Kiều quốc, nòi giống Việt-Nam ta mà gọi là đại Kim-Vân-Kiều tộc cũng đúng lắm chứ không sai!

Thậm chí sùng bái truyện Kiều mà nói rằng: « truyện Kiều là quốc hoa, là quốc hồn, là quốc túy của Việt-Nam »: — Không biết có còn quốc gì không? — Xưng tụng ông Nguyễn Du mà nói rằng: Nguyễn Du đổ máu làm mực, làm vẻ vang cho giống nòi ». Ông Nguyễn Du dịch Kiều từ đời Gia-long; thế thì từ Gia-long về trước, chưa có truyện Kiều, thì nước ta không quốc-hoa, không quốc-túy, không quốc-hồn; thế thì cái văn-trí vũ-công mấy trào Đinh, Lý, Trần, Lê, sáng chói rực rỡ đó, đều là ở đây đem đến cho bọn « học thuê viết mướn » ấy mà thôi; thế thì những bậc đại hào kiệt, đại huân nghiệp, cứu dân giúp nước, tái tạo giang-sơn, mở mang bờ cõi cho nước ta ngày xưa, không ai làm được vẻ vang cho nòi giống, không ai đáng kỷ niệm cả; mà chỉ ông văn-sĩ làm sách « trăm năm trong cõi » là làm vẻ vang giống nòi, là đáng kỷ niệm mà thôi? Giống nòi ta vẻ vang ra thế nào?!…

Thậm nữa lại nói rằng « truyện Kiều quan hệ văn hóa Việt-Nam, truyện Kiều quan hệ quốc-văn Việt-Nam nếu không có truyện Kiều thì tình trạng dân tộc Việt-Nam chưa biết đến thế nào »: thiệt là con oanh học nói, xằng xiên bậy bạ, dồ dại điên cuồng, tà thuyết vu dân đến thế là cực! Mà có ai cho là tà-thuyết đâu; nay đã nhà treo một bức, cửa yết một tờ, kèn trống rước vào, hương hoa cúng lễ rồi: « truyện Kiều là văn hóa Việt-Nam; truyện Kiều là sách học quốc-văn », in vào trong óc, thấm vào trong lòng, tỉ như ngoại tà đã nhập đến ngũ tạng, quỉ-tà đã ám mất linh hồn, thì dù lang-y hay giỏi đến đâu, pháp sư cao tay đến đâu, tưởng cũng không cứu được nữa.

Trịnh Khải ở đời Đường, vì tiếng hay thơ, mà làm quan Tể-tướng (cụ lớn); anh ta lấy làm ái ngại mà tự nói rằng: « Trịnh-Khải mà làm Tể-Tướng thì cuộc đời chẳng nói cũng biết rồi », Ôi! than ôi! Kim vân Kiều mà cai trị nước Việt Nam, thì xã hội Việt Nam không nói cũng biết rồi!…”

Bài Chính học và Tà Thuyết tuy không chỉ đích danh Phạm Quỳnh nhưng ai cũng hiểu rằng cụ Ngô chỉ trích ông Quỳnh. Ông Quỳnh giữ thái độ im lặng không hồi đáp. Nhưng 5 năm sau trên Phụ nữ Tân văn ông Phan Khôi, một cây bút nhà nho sắc sảo và nổi tiếng là “ngự sử văn đàn”, gợi lại chuyện cũ (trong bài Cảnh cáo các nhà học phiệt) và chất vấn tại sao Phạm Quỳnh không trả lời Ngô Đức Kế hoặc nhận thua lý hoặc vì có thái độ học phiệt coi thường đối phương. Lúc đó Phạm Quỳnh bó buộc lên tiếng. Cũng trên Phụ nữ tân văn số 67 ra ngày 28.8.30 có đăng bài trả lời cho ông Phan Khôi về câu chuyện “học phiệt”. Ông chủ bút NPH biện minh rằng ông không trả lời Ngô Đức Kế vì bài trên Hữu thanh là “câu chuyện cá nhân, câu chuyện quyền lợi, không quan hệ đến học vấn tư tưởng gì cả…”. Trong phần trả lời, Phạm Quỳnh cho rằng cụ Ngô có thủ đoạn cạnh tranh bất chính (rằng Hữu thanh của cụ Ngô ghen Nam Phong của Phạm Quỳnh) và gán cho đối thủ là “hàng thịt nguýt hàng cá”, “thỏa lòng ác cảm”, “đạo đức hương nguyện”.

Một nhà nho thành danh khác (lúc đó cũng là một nhà báo chủ bút tờ Tiếng dân ở Huế) là Hoàng giáp Huỳnh Thúc Kháng (1876-1947) vào cuộc bênh cụ nghè Ngô trong bài Chiêu tuyết những lời bài báng cho một chí sĩ mới qua đời. Cụ Huỳnh đã viết trên Phụ nữ tân văn phản đối thái độ của Phạm Quỳnh:

“Những lời nói trên mà xuất tự một người văn sĩ xằng nào thì không đủ trách; song tự lỗ miệng và ngòi bút một người tân nhân vật, nghiễm nhiên tự nhận cái gánh gầy dựng một nền văn hóa mới cho nước nhà, lại chủ trương một cái cơ quan ngôn luận trong nước mười mấy năm nay, mà có lời thô bỉ tỏ cái tâm sự hiềm riêng, nói xấu cho một người thiên cổ, thì không thể bỏ qua được.”
Cuộc tranh luận đến đó tạm kết thúc.

Ngày nay xét lại cuộc bút chiến giữa hai nhà báo Phạm Quỳnh (của Nam Phong) và Ngô Đức Kế (của Hữu thanh) người ta cảm thấy cả hai đều có thiện chí. Phạm Quỳnh có thể thực tâm muốn cổ động cho việc học chữ quốc ngữ, muốn tạo sự độc lập về văn hóa cho quốc gia, nên suy tôn truyện Kiều. Còn Ngô Đức Kế cũng như Huỳnh Thúc Kháng vốn có thành kiến Phạm Quỳnh thân Pháp, nên e rằng chủ trương của họ Phạm đã khiến thế hệ trẻ lạc đường vì say đắm văn chương ủy mị quên bổn phận canh tân và nhụt chí tiến thủ. Ý hướng của cả hai đều tốt nhưng vì đường lối khác nhau trong hoàn cảnh nước ta còn trong vòng đô hộ của ngoại bang, kẻ quốc sĩ phải náu mình, kín tiếng, nên khó tránh mâu thuẫn và ngộ nhận.

Ngoài ra, cuộc bút chiến về Truyện Kiều trong thế hệ 1913-1932 nhuốm màu sắc lập trường chính trị chứ không còn là cuộc tranh luận về giá trị văn học của một tác phẩm.

Riêng chủ trương bảo thủ của Ngô Đức Kế nếu thích hợp với hiện tình đất nước những năm đầu thế kỷ XX khi chúng ta còn băn khoăn giữa ngã ba đường cũ và mới, giữa tồn cổ và Âu hóa thì ngày nay chỉ còn là những tài liệu dùng để tham khảo trong cuộc canh tân văn hóa theo trào lưu dân-chủ-hóa sau hơn một thế kỷ chiến tranh.

Vào thập niên 1960, ở Sài gòn Giáo sư Nguyễn văn Trung lật lại Vụ án truyện Kiều và cho rằng Nam Phong là công cụ văn hóa của thực dân và việc suy tôn truyện Kiều cũng là một sách lược văn hóa của chính quyền bảo hộ. Cuộc tranh luận về chính trị và văn học, Nam phong và Phạm Quỳnh, lại nổi lên khá sôi nổi nhưng sau đó nhạt dần trước tình hình chiến sự mỗi lúc một khốc liệt.

 Hoàng Yên Lưu

Hits: 212

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Phật Và Phân

Phật Và Phân

Tô Đông Pha và Phật Ấn thiền sư là hai người bạn. Một hôm Tô Đông Pha hỏi Phật Ấn thiền sư:

Đại Sư à! Ngài nhìn tôi ngồi ở đây giống cái gì?
Phật Ấn trả lời:
Xem ra giống một vị Phật.
Tô Đông Pha nói:
Nhưng ngược lại tôi nhìn thấy ngài ngồi giống một đống phân.
Phật Ấn cười nói:
Ũa vậy à!
 Tô Đông Pha:
Ha ha ngài tôn tôi là Phật, tôi nói ngài là đống phân mà ngài không giận sao?
Phật Ấn:
Tôi phải nên vui mừng mới đúng, vì sao mà nổi giận được. Bỡi vì Tâm mình là Phật thì thấy ai cũng là Phật. Còn Tâm mình là phân thì thấy ai cũng giống phân ha ha…
Thế giới đi theo cặp mắt của mỗi người mà hiện ra. Người như thế nào thì sẽ thấy thế giới như thế ấy. Tâm như thế nào sẽ sanh ra kết luận như vậy.

Hồ Ly Và Bồ Đào Viên

 

Một con Hồ Ly nhìn thấy trong vườn nho Bồ Đào kết nhiều trái.

Hồ Ly cười nói: Ha ha vào đó chén một bữa no nê. Nhưng mà nó mập quá không chui lọt hàng rào. Do đó nó nhịn 3 ngày, 3 đêm không ăn uống để thân thể nhỏ ốm chui vào vườn đào.

Sau đó nó nói:

Ồ! cuối cùng ta cũng chui vào được rồi. Trời ơi ngon quá, cực kỳ ngon ha ha, mình ăn cho đã đời rồi mới  chui ra.

 Thế là Hồ Ly chén đã đời nên chui ra không lọt. Chàng Hồ Ly phải nhịn đói lại 3 ngày, 3 đêm mới chui ra được.

Ngẫm việc đời, con người lúc đến trần trụi, lúc ra đi cũng trụi trần. Cứ mãi quẩn quanh, quanh quẩn, rồi cuối cùng cũng phải Buông bỏ rồi đi…. Sống là một nghệ thuật, tự mình làm an lạc chính mình…

 

 

Hits: 51

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Khuynh hướng quốc gia của Phạm Quỳnh trong du ký

 

Khuynh hướng quốc gia của Phạm Quỳnh trong du ký

Hoàng Yên Lưu

Phạm Quỳnh ở tuổi chưa đầy ba mươi (sinh 1892) bộc lộ tinh thần quốc gia rõ rệt. Những hoạt động trong giai đoạn từ 1917 tới khi vào Huế làm quan (1932), từ viết báo, diễn thuyết, viết du ký đều chứng tỏ ông rất nhiệt tình thực hiện mộng tưởng của một trí thức ôm ấp hoài bão quốc gia rất cao. Đọc Một tháng ở Nam Kỳ, một thiên du ký ông viết vào năm 1919, có thể thấy rõ điều này.phamquynh013013-188x300
Khi vào Nam, trong một tháng Phạm Quỳnh không những chú ý tới cảnh sắc Lục tỉnh và con người của sông Tiền, sông Hậu mà còn để tâm quan sát tinh vi tới sinh hoạt văn học chữ quốc ngữ thể hiện bằng báo chí và cả tình trạng kinh tế của mảnh đất phồn vinh này. Nhiều lần ông nhắc tới cái họa China và họa Chà và mong mỏi có biện pháp sớm chấm dứt hiểm họa cho đất nước ta vì bị các thế lực kinh tế này lũng đoạn. Ông từng viết:
“Cái ‘China họa’ (le péril chinois) ở xứ Bắc mình tuy đã thâm lắm mà tỉ với Nam Kỳ còn chưa thấm vào đâu: Hải Phòng tức là Chợ Lớn Bắc Kỳ có 8.991 người Khách, mà Chợ Lớn Nam Kỳ có những 75.000 Khách với 4.873 người Minh Hương! Hà Nội có 3.377 người Khách với 825 người Minh Hương, mà Sài Gòn có những 22.079 người Khách với 677 người Minh Hương! Coi đó thì biết cái nguy cho xứ Nam Kỳ to là dường nào… Nay nhân nói về Khách Hải Phòng, chỉ muốn so sánh qua cái số người Tàu trong Nam ngoài Bắc, cho biết cái vạ China ở hai xứ hơn kém nhau thế nào. Song dù hơn, dù kém, dù ít, dù nhiều, cũng vẫn là một cái vạ lớn cho nước Nam mình, quốc dân ta nên sớm tỉnh ngộ mà mưu trừ đi, mới mong có ngày thu phục được mối thương quyền mà ra tranh đua trên thị trường thế giới.”
Trong phần dưới ông nói tới mối họa thứ hai mà nhà nông Nam Việt phải gánh vác:
“Cái hiểm tượng ấy là cái hiểm tượng bọn Chà và (Tây đen) cho vay, trong Nam kỳ gọi là bọn “xả tri” (tức ngoài ta gọi là “xét ty” = chetty). Bọn Chà cho vay này cũng hại cho người dân bằng bọn “Chệt” buôn gạo kia, khiến cho có người đã nói rằng: “Dân Nam kỳ có hai cái họa lớn: là cái họa Chệt và cái họa Chà”. Dân làm ruộng thì ở đâu cũng vậy, suốt năm chỉ trông vào mùa gặt mà tiêu dùng cả năm. Ngộ gặp năm mất mùa, hay là giữa năm túng tiền tiêu thì biết hỏi vào đâu? Tất phải đến khất vay bọn “xả-tri”, bọn đó bắt lãi rất nặng, đã túng thì thế nào chẳng phải vay. Đến hạn trả được thì chớ, không trả được thì lãi phụ vào gốc thành món nợ mới, mỗi ngày lại một nặng lên. Nhiều người cùng không trả được bị tịch ký mất cả ruộng đất, lắm khi đến thất nghiệp, cùng vô sở xuất. Ấy cái “họa Chà” ghê như vậy, chẳng kém gì cái “họa Chệt” trên kia, một cái hại riêng từng người, một cái hại chung cả xứ, hai cái cùng độc bằng nhau.”
Hiển nhiên quan niệm trên xuất phát từ nhiệt tâm của một người trí thức phải chứng kiến đất nước đang trì trệ, người dân phải sống trong cảnh “một cổ đôi ba tròng”, và phản ánh đúng thực tế nhưng cách diễn tả không khỏi có người cho rằng đó là sản phẩm của một chủ trương bảo thủ, có phần hữu khuynh và cực đoan.
Để hiểu rõ hơn nhiệt tâm đối với vận mệnh quốc gia của Phạm Quỳnh trong tuổi thanh niên, xin đọc phần trích sau đây trong du ký Một tháng ở Nam kỳ khi ông bàn về cuộc Nam Tiến của dân tộc ta:

Cuộc “Nam tiến” của dân tộc ta
“Thử xét cả cuộc lịch sử dân An Nam ta là một cuộc “Nam tiến” vô hồi vô hạn. Giống Giao chỉ nguyên phát tích tự đất trung châu xứ Bắc Kỳ, rồi mỗi ngày một bành trướng mãi ra, mà bành trướng về phía Bắc không sao được, gặp những rừng núi ngăn trở, lại có giống mạnh hơn không thể tranh nổi, thì tất phải tràn về phía Nam, càng ngày càng lan rộng mãi ra gặp những dân thổ trước thì tiêu diệt cho tàn, hoặc dung hóa cho hết: Chiêm thành, Chân lạp khi xưa hiển hách biết bao mà nay còn gì? Người đã bị ta diệt, còn sót lại tấm thành cổ góc miếu xưa, để làm cái chứng cho đời sau rằng xưa kia đã có một giống người sinh trưởng trước ta ở chốn đó! Ôi! Khốc liệt thay cái lẽ sinh tồn cạnh tranh của trời đất.
Giống Chiêm thành không phải là giống hèn: tức là một giống thượng võ, văn minh cũng chẳng kém gì mình, cứ xem những đền đài lăng tháp còn lại thì đủ biết. Chỉ vì mình kiên nhẫn và mình nhiều người hơn nó, lại bị cái lẽ sinh tồn nó bắt buộc phải liều sống liều chết mà tràn vào phía nam cho được, không thì chật hết chỗ không biết sống vào đâu, nên mình đánh nó, mãi nó phải thua, nhưng trước sau biết bao nhiêu thắng phụ, kể đến ngót một nghìn năm mới tiêu diệt được hết, ước đến thế kỷ thứ 16 thì đã gồm được suốt dải đất Trung kỳ, bước tới nơi đồng bằng Lục tỉnh.
Lục tỉnh bấy giờ còn là Thủy chân lạp. Giống chân lạp tức là giống Cao miên ngày nay. Người Chân lạp còn ở rải rác mọi nơi, thành từng làng xóm nho nhỏ ở giữa đồng ruộng mênh mông: những tên đất tên tỉnh ở miền tây-nam xứ Nam Kỳ ngày nay phần nhiều là gốc tự tiếng Chân lạp cả như Sadec, Sóc trăng, Cần thơ, Bạc liêu, vân vân không phải là tên chữ mà cũng không phải là tiếng Nôm của mình.
Người mình tới nơi mỗi ngày một xua đuổi dân Cao miên lên chốn Cao Nguyên; còn những bình nguyên đất tốt mình chiếm cứ lấy. Đến đầu bản triều thì cả đất Thủy chân lạp (tức là Nam kỳ) đã về ngay giống mình rồi. Bấy giờ lại đi ngược lên mà tràn sang Lục chân lạp, là đất Cao miên ngày nay. Giống Cao miên yếu hèn, vả cũng ít người mình tới đâu nó chạy tới đó, nên sự cạnh tranh không kịch liệt lắm, nhưng cũng lắm phen người Cao miên sang cầu cứu ở Xiêm viện quân Xiêm sang giúp: Nên ta phải đánh nhau với Xiêm mấy trận, Xiêm bị thua. Vua Miên chạy trốn, triều đình ta bèn đặt bảo hộ ở đất Cao Miên, dựng thành trấn Nam Vang: về triều Thiệu trị-Tự Đức, nước ta thường có quan khâm sai tổng đốc ở Nam Vang (Phnom Penh). Thử coi cái sức bành trướng của dân mình có ghê không, khác nào cái vết dầu trên tờ giấy trắng vậy. Trước còn nhỏ mà sau cứ thấm dần ra mãi, không có gì ngăn lại được.
Coi đó thì biết sự ‘Nam tiến’ là cái phép lớn trong lịch sử giống Việt Nam ta. Trong hơn hai nghìn năm ta chỉ tiến về phía Nam mà ta mới sống được. Cái cuộc Nam tiến đó đến Nguyễn triều đã tạm gọi là xong. Nhưng nhà Nguyễn còn là mới khai thác được một nửa xứ Nam Kỳ mà thôi. Còn một nửa kia từ sông Hậu giang trở xuống phải đợi đến nhà nước Đại Pháp sang mới bắt đầu mở mang nốt. Nên trong địa dư xứ Nam Kỳ rõ biệt hẳn ra hai phần: cái phần tự sông Tiền giang (Fleuve Antérieur) trở lên là đất cũ của bản triều đã mở mang từ trước, nhân dân tụ họp đã lâu, ruộng đất thành thuộc gần khắp, cách cày cấy trồng trọt nhiều nơi làm mỗi năm hai mùa đã gần giống như ngoài Bắc, người dân cũng đã chịu cảm hóa của triều đình sâu, xưa kia đã từng sản được nhiều người tài giỏi có công với xã tắc; cái phần tự sống Tiền giang trở xuống là phần đất mới khai thác tự sau khi nhà nước Đại pháp sang chiếm lãnh, trước sau chưa có một chút lịch sử gì, có lắm nơi tỉnh thành chỉ mới thành lập được mười lăm năm nay, nhưng phần đất này đất phì nhiêu có một, hễ phát hoang tới đâu là thành ruộng tới đó, cày cấy tốt quá, thóc gạo không biết bao nhiêu mà kể. Hiện nay những tỉnh giàu nhất, lớn nhất ở Nam kỳ là thuộc về phần đó, còn phần trên tuy có văn vật hơn mà đã cho là đất kiệt đất cũ rồi.”

Đọc phần trích giảng trên và theo dõi toàn thiên hồi ký Một tháng ở Nam Kỳ, thấy rõ ông chủ bút Nam Phong lúc nào cũng muốn gắn liền báo chí với vai trò mở mang kiến thức cho độc giả và hô hào bảo vệ những tài sản quý báu của dân tộc, kể cả tài sản kinh tế.
Qua đó cũng có thể thấy rõ hơn:
– Lối văn của Phạm Quỳnh so với thời đại ông là lối văn chuẩn mực nhưng ngày nay người đọc dễ dàng cảm nhận sự dài dòng, sử dụng nhiều từ Hán Việt trong lối hành văn cách đây gần một thế kỷ (1919-2013).
– Quan niệm của Phạm Quỳnh về lịch trình diễn tiến cuộc Nam tiến của dân tộc ta cũng như động lực của tiến trình này nhìn chung là cổ điển (quan niệm của Quốc sử quán) và nhiều phần chính xác. Tuy nhiên, cách lý luận và niềm tự hào, cũng như tham vọng của ông đôi khi phản ánh chủ nghĩa quốc gia cực đoan, nhất là khi ông đề cập tới việc nước ta thôn tính và đồng hóa Chiêm thành và Chân lạp và trong phần chúng tôi không trích dẫn, ông còn dự đoán chúng ta sẽ bành trướng sang Xiêm!
Cũng đừng nên quên Phạm Quỳnh viết những dòng trên khi công trình khảo cứu về ngồn gốc dân tộc Việt Nam cũng như lịch trình của cuộc Nam Tiến của ta còn chưa có biên khảo quy mô và khách quan hơn như của Đào Duy Anh, Trần Trọng Kim, H. Maspero, Léonard Aurousseau, Nguyễn văn Tố và Phan Khoang…
Hoàng Yên Lưu

Hits: 42

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Tú Mỡ, xuôi dòng thời cuộc!

 

Tú Mỡ, xuôi dòng thời cuộc!

Hoàng Yên Lưu

Trước 1945, Tú Mỡ nổi tiếng với Giòng nước ngược, dùng ngòi bút để vẽ ra bức tranh xã hội nửa phong kiến, nửa thực dân, đầy hủ tục; phê phán những điều trái tai gai mắt, với cuộc sống ngổn ngang thói hư tật xấu trong buổi giao thời Đông Tây; và đấu tranh cho mục đích cải thiện xã hội cấp thiết của Tự lực văn đoàn. tumoNhờ thế ông được độc giả cho tới ngày nay còn yêu quý thái độ quả cảm và những vần thơ sắc bén, thấm tình yêu điều thiện, nồng nàn chính nghĩa của ông.

Nhưng sau 1945, với nhiều tác phẩm chạy theo thời cuộc từ bút danh “Bút chiến đầu” của Hồ Trọng Hiếu, thơ trào phúng của Tú Mỡ đã lột xác, trở thành những bài vè và chỉ là những đoạn thời sự được viết bằng văn vần. Cũng vì thế một người đồng thời với ông, nhà thơ Xuân Sách (1932-2008) trong tập Chân dung nhà văn, đã viết vài câu châm biếm ông bằng giọng nhẹ nhàng nhưng thấm thía:

Một nắm xương khô cũng gọi Mỡ

Quanh năm múa bút để mua vui

Tưởng cụ vẫn bơi dòng nước ngược

Nào ngờ trở gió lại trôi xuôi!

Do đó, ngày nay chẳng mấy ai nhớ tác giả Giòng nước ngược cũng là tác giả Nụ cười kháng chiến(1952), Nụ cười chính nghĩa (1958) và Bút chiến đấu (1960) nữa.

Cũng vì sau 1945, những bài vè cạn dòng cảm hứng của Tú Mỡ phần lớn chạy theo tin tức và giáo điều nên khi “xuất xưởng” mau chóng trở thành phản tác dụng, và không những không gây được tiếng cười, sự đồng tình của độc giả về đối tượng tác giả châm biếm hoặc lên án, mà “gậy ông đập lưng ông”: chính nhà thơ chịu búa rìu dư luận vì nụ cười giả dối, lời chỉ trích hàm hồ, sai lầm một cách nực cười!

Điển hình cho nụ cười đầy những lời đao to búa lớn, đổi trắng thay đen của Bút chiến đấu là một bài trường ca tố cáo “tội ác Mỹ Ngụy” nhân vụ “đầu độc ở Phú Lợi”.

Sau 1975, ở Sài Gòn, bộ máy tuyên truyền nhắc đi nhắc lại “thảm kịch Phú Lợi” bằng những lời thống thiết, gay gắt nhất. Truyền thông ngày ấy đã lên án thủ đoạn bạo tàn của “chế độ thực dân mới” vào một năm giữa thập niên 1950 ở nhà tù Phú Lợi (ở Bình Dương), nơi giam giữ tù nhân chính trị.

Câu chuyện kinh hoàng, kể rằng chính quyền đã sát hại hơn 1000 tù nhân ở Phú Lợi và gây tổn hại cho 4000 tù nhân khác bằng thủ đoạn đầu độc. Ai nghe cũng ghê tởm tội ác, nhất là đọc thơ Tú Mỡ, khi ông ở xa Phú Lợi hơn 1000 km, tận Hà Nội, chỉ đọc báo biết tin này đã dùng cả một tập thơ dài để vẽ “thảm kịch Phú Lợi” bằng những lời đầy máu lửa và hận thù:

Biến đau thương thành sức mạnh

Chuyển căm thù quyết định thi đua

Triệu người cùng một động cơ

Trả thù Phú lợi phất cờ Cần lao…

Bọn tớ thầy giết người Phú lợi

Phải có ngày đền tội nhân dân

Máu đền nợ máu cho cân

Sát nhân giả tử là tuân luật hình

Điều quả báo ứng linh chứng thực

Kẻ nào dùng thuốc độc, súng gươm

Giết người trung thực hiền lương

Tránh sao thuốc độc súng gươm giết mình!

Lời Tú Mỡ khi ấy chẳng khác gì giọng điệu đấu tố lúc ấy đang lan tràn ở thôn quê đồng bằng sôngHồng và sông Thái Bình.

Nhưng sự thực có vụ đầu độc ở Phú Lợi hay không?

Một nhà nghiên cứu hiện đại là Vu Gia trong tác phẩm Tú Mỡ, người gieo tiếng cười, do nhà xuất bảnThanh niên, TP. HCHM, ấn hành năm 2008, cho biết “thảm kịch” tù chính trị bị đầu độc ở Phú Lợi vào năm 1956 hoàn toàn là hư cấu của bộ máy tuyên truyền mà thôi.

Ông Vu Gia cho biết, vào năm 1987, ông được giám đốc Nhà xuất bản Sông Bé giao cho ông và một cây bút khác (Hàng Chức Nguyên) viết một cuốn sách về vụ đầu độc ở Phú Lợi. Hai cây viết trẻ khi ấy đã mời những cựu tù nhân Phú Lợi tới họp tại ngay nhà tù Phú Lợi (ở cách thị xã Thủ Dầu một chừng 3 cây số ngày nay đã biến thành một công viên) để tìm nhân chứng trong “vụ đầu độc’ và dự định lập bia cho những liệt sĩ đã chết vì “bị đầu độc”. Nào ngờ các cựu tù được mời tới, sau 1975 đều là nhân vật cao cấp, vai vế trong chế độ mới, đã khẳng định không hề có vụ đầu độc nào cả, và chẳng có ai chết để lập bia, mà chuyện đầu độc chỉ là sản phẩm của chiến tranh tâm lý. Một nhân chứng kể lại: “Nhân có lễ lạt chi đó, tù nhân chúng tôi được ăn no một bữa thịt heo. Tối về có người bị bội thực, ói mửa. Anh em ra hái rau muống giã nước cho bạn uống”. Từ đó có người tung tin ra ngoài là bị đầu độc. Tin này được thổi phồng và xảy ra, một vài cuộc biểu tình tố cáo tội ác của Đế quốc ở Phú Lợi. Nhưng rồi nội vụ vì “bé xé ra to” và “hư cấu” nên mau chóng rơi vào quên lãng trừ guồng máy tuyên truyền lâu lâu lâu lại nhắc lại.

Tuy có lúc Tú Mỡ phải xuôi dòng, thì ta cũng nên thông cảm với ông. Vào thập niên 1950, ông đã già trước tuổi (sinh 1900), thân cô thế cô, con cái đông, bạn bè thân thiết trong Tự lực văn đoàn có người bị giết (Khái Hưng), có kẻ lưu vong (Nhất Linh và Hoàng Đạo), sau 1954 con cái có người di cư vào Nam (như phu nhân của nhà văn tự do Doãn Quốc Sĩ là bà Hồ thị Thảo, con gái của Tú Mỡ) trong khi áp lực xã hội quá mạnh và quá khắc nghiệt (điển hình là vụ đàn áp Nhân văn-Giai phẩm), nên ông không thể không thuận dòng để sinh tồn.

Điều không nên quên là trong cảnh “may thuê viết mướn kiếm ăn lần hồi”, viết theo chỉ thị, Tú Mỡkhông thể làm khác nhưng vẫn giữ thủy chung với Tự lực văn đoàn, một văn đoàn bị phê phán kịch liệt sau 1945 dựa vào giáo điều do ông Trường Chinh đưa ra:

Sau cơn khủng bố trắng 30-31, một sự buồn rầu, u uất tràn ngập tâm hồn nhân dân Việt Nam. Văn chương lãng mạn Tự lực văn đoàn ra đời. Giai cấp tư sản dân tộc không dám đấu tranh bằng chính trị và quân sự chống đế quốc nữa, bèn chuyển sang đấu tranh bằng văn hóa chống phong kiến quan liêu (các báo Phong hóa, Ngày nay và sách Tự lực văn đoàn) chủ nghĩa lãng mạn trong văn học nghệ thuật đi đôi với phong trào vui vẻ trẻ trung có tính chất trụy lạc của thanh niên trí thức thành thị.” (Cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân Việt Nam)

Trước giáo điều sắt thép như trên, giới cầm bút ở miền Bắc khi ấy đều lên án Tự lực văn đoàn, nhất là mạt sát Nhất Linh thậm tệ. Riêng Tú Mỡ vẫn giữ vững sự chung thủy với người bạn kính mến Nguyễn Tường Tam.

Người ta kể lại vào 1950 trong một cuộc họp giữa các nhà văn ngoài kháng chiến để phê bình sinh hoạt văn học 32-45, cụ thể là Tự lực văn đoàn, do Tô Hoài làm tổ trưởng, Tú Mỡ là người duy nhất dám đứng lên để bênh vực Nhất Linh khiến cho Tô Hoài đứng tim.

Vào tuổi 70, Tú Mỡ nhìn lại quãng đời hoạt động văn hóa của mình, vẫn khẳng định mục tiêu của Tự lực văn đoàn là đúng: “Kể về công, anh em đã thực hiện được mục đích của đoàn, điều chính là làm giàu thêm văn sản trong nước, đã có một đóng góp đáng kể vào văn học Việt Nam, tạo cho đoàn một tiếng tăm vang dội một thời, một thành tích mà các văn đoàn ra đời sau không đạt được, một chân giá trị riêng trong một giai đoạn nhất định mà giới văn học ngày nay phải công nhận”.

Chương trình xây dựng nhà ánh sáng của Tự lực văn đoàn bị nhóm phê bình giáo điều chỉ trích là cải lương, là thỏa hiệp với thực dân, nhưng Tú Mỡ từng hô hào xây dựng nhà ánh sáng trên tờ Phong hóa:

Các ngài hãy để tiền trăm bạc ngàn

Giúp đoàn ánh sáng món tiền

Dựng nhà cao ráo khắp miền thôn quê

Cho dân nghèo sống thỏa thuê

Ấy là quả phúc nên vê cho tròn

(Quả phúc)

Sau 1945, Tú Mỡ vẫn tự hào về chương trình này và coi nó là ý hướng tiến bộ của nhóm ông.

Trong Hồi ký trontg bếp núc của Tự lực văn đoàn Tú Mỡ tỏ lòng thương tiếc văn đoàn và anh em trong văn đoàn, ông viết bằng cả tấm lòng của kẻ “trải qua một cuộc bể dâu”:

Cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc ta bùng nổ. Cái thất tinh hội “Tự lực văn đoàn” tan tác trong cơn phong ba như những sao đổi ngôi…

Chỉ còn ba chúng tôi người cũ trong Tự lực văn đoàn là may mắn, tan rồi lại hợp (chỉ Tú Mỡ, Thế Lữ và Xuân Diệu), còn các anh khác biệt vô âm tín.

Tôi không biết anh Khái Hưng có ra được vùng tự do mà tìm được con đường sống như anh đã nói với tôi hay không? Bẵng đi mấy năm mới được tin anh chết nhưng không rõ anh chết ở đâu, vì sao mà chết?

Sau đó lại được tin anh Hoàng Đạo đã rơi rụng trên đất Quảng Châu (Trung Quốc) sau một thời gian phiêu bạt, ốm yếu nơi đất khách quê người.

Anh Trần Tiêu cũng mất tại quê hương.

Thế là Thất tinh hội đã rơi rụng mất ba.”

Đối với Nhất Linh, Tú Mỡ tỏ lòng cảm thương cái chết của người tri âm này và cho tới những năm cuối đời và trong một bài thơ cuối cùng ông vẫn nhắc tới nỗi lòng thương bạn và kỷ niệm khó quên khi theoNhất Linh làm báo Phong Hóa tại một căn nhà nhỏ ở ấp Thái Hà vào năm 1932:

Duyên văn nghệ là duyên tri ngộ

Từng vui buồn sướng khổ có nhau

Khi cà phê, khi phở tái, khi thuốc sái, khi trà tàu

Khi sắm vai trên sân khấu, khi làm báo suốt đêm thâu…

Không nên quên Hồi ký trong bếp núc của Tự lực văn đoàn hoàn thành 12-08-1969 nhưng 20 năm sau nó mới được phép ra mắt bạn đọc trên hai kỳ Tạp chí Văn học 1987 khi Tú Mỡ đã chết được hai chục năm.

Hoàng Yên Lưu

 

 

Hits: 132

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin