All posts by DieuNgoc Tran

Bóng hồng nước Nga nổi bật tại lễ khai mạc World Cup 2018

Vietbf.com – Những bóng hồng nước Nga làm cầu trường như bùng nổ với nhan sắc nổi bật và giọng hát thiên thần trong buổi lễ khai mạc World Cup 2018 trên sân Luhzniki, bóng hồng này là người mẫu, diễn viên, MC,… vừa có niềm đam mê với trái bóng tròn.


Victoria Lopyreva được chọn làm đại sứ của World Cup tại Nga năm nay. Cô sinh ngày 26/7/1983 tại Rostov, từng đăng quang Hoa hậu Nga năm 2003. Bóng hồng nước Nga không còn xa lạ gì với những tạp chí sắc đẹp như Gala, L’Officiel, Cosmopolitan,… 


Lopyreva là một trong những cái tên nổi tiếng nhất tại Nga. Cô vừa là người mẫu, diễn viên, MC,… vừa có niềm đam mê với trái bóng tròn. Đại sứ World Cup 2018 từng dự khán nhiều “trận cầu đinh” và chụp ảnh cùng những HLV, cầu thủ nổi tiếng.


Không chỉ vậy, Lopyreva còn là cựu WAGs khi kết hôn với tiền đạo Fyodor Smolov của CLB Krasnodar. Tuy nhiên 2 người đã ly dị sau 2 năm chung sống. Trong hơn 1 năm trở lại đây, người đẹp 34 tuổi rất tích cực tham gia những sự kiện thể thao do FIFA tổ chức.


Nhan sắc của vị đại sứ cùng những bóng hồng xuất hiện tại World Cup năm nay là gia vị không thể thiếu để ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh thêm phần nóng bỏng.


Natalia Vodianova được vinh dự thực hiện sứ mệnh mang cúp vàng ra bên ngoài sân vận động Luzhniki. Cô sinh ngày 28/2/1982 tại Nga, hiện vừa là người mẫu, doanh nhân, vừa sắm vai diễn giả và thường xuyên làm từ thiện.


Dù đã bước sang tuổi 36, cô vẫn là một trong những siêu mẫu hàng đầu xứ sở bạch dương. Những thương hiệu thời trang nổi tiếng như Louis Vuitton, L’Oreal, Calvin Klein,… thường xuyên mời Vodianova làm gương mặt đại diện.


Người mẫu sinh năm 1982 còn có biệt danh là “Supernova”. Trong lễ khai mạc World Cup, Vodianova sánh bước cùng Casillas “trình làng” chiếc cúp vàng trong sự hân hoan của hàng vạn khán giả trên sân.


Tại lễ khai mạc World Cup 2018, ca sỹ Aida Garifullina kết hợp nhuần nhuyễn cùng ngôi sao nhạc pop người Anh Robbie Williams trình diễn bài hát “Angels”.


Aida Garifullina sinh ngày 30/9/1987 tại Kazan, Nga. Cô là nghệ sĩ Opera hát giọng soprano từng giành chiến thắng tại Operalia, cuộc thi Opera quốc tế vào năm 2013 cùng nhiều giải thưởng âm nhạc trên khắp thế giới.


Garifullina (trái) từng có thời gian hẹn hò với tay vợt số 1 nước Nga Marat Safin. Hiện tại, cô là thành viên của nhà hát Vienna State Opera, Áo.


Một cô gái trẻ vui mừng hòa theo điệu nhạc của bài Angels do 2 ca sĩ lừng danh Robbie Williams và Aida Garifullina trình diễn.


Trên khán đài sân Luzhniki tràn ngập 3 màu trắng – xanh – đỏ theo quốc kỳ của Nga.


Lần đầu tiên nước Nga tổ chức sự kiện lớn World Cup đã mang lại niềm vui lớn cho người dân xứ sở bạch dương. Không khí trên các khán đài sân Luzhniki khá sôi động trong suốt buổi khai mạc và trận đấu giữa chủ nhà Nga với Saudi Arabia.

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 2

Đừng đợi đến lúc bạn già rồi, mới biết được điều gì là hạnh phúc

Hạnh phúc là gì? Đến nơi đâu mới tìm được hạnh phúc? Con người vẫn luôn mong muốn tìm đến được bến bờ hạnh phúc, nhưng lại không hiểu một điều quan trọng…

otkc81-20161012-dung-doi-den-luc-ban-gia-roi-moi-biet-duoc-dieu-gi-la-hanh-phucHạnh phúc là gì? Đến nơi đâu mới tìm được hạnh phúc. (Ảnh: Internet)

Bạn nghèo khó, nhưng có người nguyện đi cùng bạn chính là hạnh phúc.

Bạn đau ốm, có người tận tình chăm sóc cho bạn chính là hạnh phúc.

Khi bạn lạnh, có người ôm bạn chính là hạnh phúc.

Khi bạn khóc, có người an ủi bạn, là hạnh phúc.

Khi bạn già, có người bầu bạn cùng, cũng là hạnh phúc.

Bạn sai, có người bao dung, tha thứ cho bạn, cái này là hạnh phúc.

Bạn vất vả, có người thương xót, đây cũng chính là hạnh phúc.

tìm kiếm, hạnh phúc, bao dung, Bài chọn lọc,

Hạnh phúc không phải là quanh bạn có bao nhiêu người, mà là có bao nhiêu người bên cạnh bạn. (Ảnh: Internet)

Hạnh phúc không phải là quanh bạn có bao nhiêu người, mà là có bao nhiêu người bên cạnh bạn.

Hạnh phúc không phải là bạn lái những chiếc xe sang trọng, mà là bạn lái xe về đến nhà bình an.

Hạnh phúc không phải là bạn tích trữ được bao nhiêu tiền, mà là mỗi ngày thể xác và tâm hồn được tự do, được làm những việc mình yêu thích.

tìm kiếm, hạnh phúc, bao dung, Bài chọn lọc,

Khi bạn già, có người bầu bạn cùng, cũng là hạnh phúc. (Ảnh: Internet)

Hạnh phúc không phải là vợ của bạn xinh đẹp ra sao, mà là vợ của bạn luôn có thể nở nụ cười rạng rỡ.

Hạnh phúc không phải được ăn ngon mặc đẹp, mà là không có bệnh, không có tai ương.

Hạnh phúc không phải lúc bạn thành công được tung hô nhiệt liệt, mà là lúc bạn sa cơ vẫn có người nói: “Bạn tôi à! Cố lên!”

Hạnh phúc không phải là bạn nghe qua bao nhiêu lời ngon ngọt, mà là khi bạn bi thương rơi lệ, vẫn có người nói với bạn: “Không sao đâu mà, có tôi ở đây…”

Tuệ Tâm

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 12

Chiếc khăn mu-soa


“…Huê nói: “Khăn này cô thêu tặng cho ba của con, nhưng không có duyên nên khăn lại trở về. Bây giờ, cô tặng cho con để kỷ niệm ngày cô cháu mình gặp nhau.” …

chiec-khan-tay

Hôm đó, tôi nhận được một CD gởi từ Bruxelles, nước Bỉ, trên CD thấy đề: “À Monsieur Tiêu Tu ». Chữ viết bằng bút feutre rõ nét, nói lên người viết có trình độ. Tuy viết “Tiểu Tử » không có dấu, người gởi viết tên của mình lại có dấu đầy đủ: “Exp: Nguyễn Thị Sương”!

Vừa ngạc nhiên vừa thích thú, tôi vội vã đặt dĩa vào máy, nghe. Đó là giọng một người con gái miền Nam, trong trẻo, phát âm rõ ràng. Những gì cô ta nói đã làm tôi xúc động, có lúc tôi ứa nước mắt! Tôi đã nghe nhiều lần và cố gắng ghi chép lại đây. Dĩ nhiên là tôi đã viết để đọc cho suông sẻ chớ cô gái nói còn nhiều chỗ nghe sượng hay dùng chữ chưa chính xác…:

…Thưa ông,  Con tên Nguyễn Thị Sương, con của Nguyễn  Văn Cương, một trong những nhân vật trong truyện ngắn “Con Rạch Nhỏ Quê Mình » của ông.
Thưa ông. Con sanh ra và lớn lên ở Pháp, biết nói tiếng Việt nhưng đọc và viết tiếng Việt còn  rất yếu. Vì vậy, con phải dùng cách này để liên lạc với ông. Xin ông thông  cảm!

Hôm chúa nhựt rồi, chị Loan bà con bạn dì của con ghé nhà nói: “Sương ơi! Người ta nói về ba của Sương ở trong truyện ngắn đăng trên internet cả tuần nay nè! Chị in ra đem qua đây đọc cho em nghe.” Rồi chỉ đọc. Đó là truyện “Con Rạch Nhỏ Quê Mình”.

Thưa ông. Con chưa biết Việt Nam, nhưng những gì ông tả trong truyện làm như con đã thấy qua rồi! Bởi vì hồi con mới lớn ba con thường hay kể chuyện về cái làng Nhơn Hòa và con rạch Cồn Cỏ của ba con, về những người bạn của ba con hồi thời tuổi nhỏ, kể  tỉ mỉ đến nỗi con có cảm tưởng như ba con đang cầm tay con dẫn đi coi chỗ này  chỗ nọ (nói đến đây, giọng cô gái như  nghẹn lại vì xúc động. Ngừng mấy giây rồi mới nói tiếp… ) Mà ba cứ kể đi kể lại hoài làm như là những hình ảnh đó nó ám ảnh ba dữ lắm. Sau này thì con mới hiểu khi ba con nói: “Hồi đó, ba đi Pháp quá sớm, ở cái tuổi chưa biết gì nhiều.

Rồi qua đây, chóa mắt ngất ngây với những văn minh tiến bộ của xứ người làm ba quên đi cái làng nhà quê của ba. Điều ân hận lớn nhứt của ba là đã không viết  gởi về một chữ để hỏi thăm bạn bè hồi đó. Ba phải về thăm lại Nhơn Hòa Cồn Cỏ, con à!” Nói đến đó, ba ứa nước mắt nắm bàn tay con dặc dặc: “Mà con cũng phải về với ba nữa! Về để cho ba lên tinh thần! Về để thấy ba biết xin lỗi mọi người! Về để thấy ba biết nhìn lại cái quê hương của ba cho dầu nó có quê mùa xấu xí bao nhiêu đi nữa! Về để thấy ba chưa đến nỗi là thằng mất gốc!” (đến đây, không còn nghe gì nữa!) Xin lỗi ông! Con đã ngừng thâu để con khóc (rồi giọng cô lạc đi) Con thương ba con! (ngừng một lúc)

Thưa ông. Ba má con đều là giáo sư toán, dạy ở lycée. Má con mất hồi con mười tuổi. Bây giờ con làm chủ một tiệm sách ở Bruxelles, ba con dạy ở cách nhà không xa lắm.

Một hôm, ba nói: “Ba được một  thằng bạn học hồi ở đại học, người Phi Châu, mời qua xứ nó giúp tổ chức lại hệ  trung học. Ba đã OK”. Rồi ba đưa cho con một phong bì loại A4, nói: “Con rán  tìm cách về Nhơn Hòa Cồn Cỏ, trao cái này cho cô Hai Huê nói ba không quên ai hết! “Con nhìn thấy trên phong bì ba viết: “Mến trả lại Huê, kỷ vật của thời tuổi nhỏ. Cương.” Vậy rồi ba qua Phi Châu làm việc rồi mất ở bển trong mấy trận nội chiến (chắc ngừng thâu ở đây nên không nghe gì nữa).

Thưa ông. Nhờ nghe đọc “Con Rạch Nhỏ Quê Mình” mà con biết được mối  tình một chiều của cô Hai Huê, biết được cái khăn mu-soa mà cô Hai đã thêu tặng ba con thuở thiếu thời. Cái khăn đó, bây giờ thì con biết nó đang nằm trong phong bì A4 mà con đang giữ để trả lại cô Hai.

Và bây giờ thì con thấy thương cô Hai vô cùng và cũng thấy tội nghiệp ba con vô cùng (chỗ này giọng cô gái lệch đi, ngừng một  chút mới nói tiếp). Con nhờ ông giới thiệu con cho bác Sáu Lân, người đã kể chuyện để ông viết về Nhơn Hòa Cồn Cỏ. Con sẽ xin bác Sáu đưa con về đó để con làm theo lời dặn của ba con…

Địa chỉ và số phôn của con như sau:
Melle Nguyên
…… ……………………
Con cám ơn ông.
Con: Sương

*****
Nhớ lại, cách đây khá lâu, một thằng bạn ở Marseille, miền Nam nước Pháp, gọi điện thoại lên Paris cho tôi, nói: “Dưới này trời tốt, mầy xuống chơi,  đi câu với tao. Sẵn dịp, tao giới thiệu mầy cho một ông bạn mới từ Việt Nam qua  định cư ở đây. Tao có khoe với ổng là mầy viết lách khá lắm. Ổng nói ổng muốn  nhờ mầy viết một chuyện nhỏ ở dưới quê của ổng để ổng tìm một người bạn. Tao thấy coi bộ ngộ à! Xuống, đi!” Vậy rồi tôi đi Marseille. Sau đó, tôi viết “Con rạch nhỏ quê mình” với câu gởi gắm của ổng: “Tôi nhờ ông viết lại giùm. Biết đâu chừng thằng Cương sẽ đọc. Để nhắc nó đừng quên con rạch Cồn Cỏ, đừng quên thằng Đực Nhỏ, thằng Lân, con Huê…”

Sau khi nghe CD và ghi chép lại, tôi gọi điện thoại xuống Marseille thì thằng bạn tôi cho hay là ông Lân đã dọn về ở ngoại ô Paris, cách đây mấy  năm. Nó cho tôi địa chỉ và số điện thoại của ổng. Vậy rồi ổng và tôi gặp nhau. Tôi kể sơ câu chuyện và đưa cho ổng mượn cái CD. Tôi thấy ổng rơm rớm nước mắt  khi nghe tôi nói làm tôi cũng xúc động: người đàn ông hiên ngang, xông xáo trong  trận mạc, gan lỳ đến nỗi mang hỗn danh “thằng Lân ăn pháo”… vậy mà bây giờ cũng  biết ứa nước mắt khi nhận được tin thằng bạn không bao giờ gặp lại!
Khi chia tay, ổng nói: “Cám ơn ông! Nhờ có bài viết của ông mà hôm  nay tôi mới có tin của thằng Cương! Tôi sẽ thay nó, đưa con gái nó về thăm Cồn  Cỏ! Và thắp cho nó ba cây nhang ở đầu vàm để vong hồn nó nương theo đó mà tìm  lại con đường về…”
*****
Hơn một tháng sau, ông Lân gọi điện thoại cho tôi nói ổng vừa ở Việt  Nam về, muốn gặp tôi để trả cái CD và để ổng kể chuyến đi này của ổng. Vậy là chúng tôi đã gặp nhau và tôi đã ghi những lời ổng kể…
 … Nhờ cái CD ông cho tôi mượn mà tôi liên lạc được con Sương.
Tội  nghiệp! Biết được là tôi gọi, nó khóc ồ ồ ở đầu dây bên kia! Sau đó, nó kêu tôi  bằng “Bác Sáu “, ngọt như tôi là bác ruột của nó vậy! Thấy thương quá!
Vậy rồi hai bác cháu tôi bay về Việt Nam. Ở Sài Gòn chúng tôi mướn một chiếc xe hơi có tài xế để về Nhơn Hòa Cồn Cỏ. Trên xe, tôi nói với con  Sương: “Ở Cồn Cỏ, ba của con không còn bà con gì hết, họ đã dọn lên tỉnh ở mấy  chục năm nay. Bây giờ, ba con chỉ còn có một người bạn thân…” Con nhỏ nói: “Cô  Hai Huê!” Tôi gật đầu ờ. Nó nói tiếp: “Cô Hai là người ba nhắc thường nhứt và ba hay thở dài nói ba có lỗi với cô Hai nhiều lắm! Thấy ba con như vậy, con cũng  nghe đau lòng, bác Sáu à!”. Thấy thương quá, tôi cầm bàn tay nó bóp nhẹ. Con  Sương nhìn cảnh vật bên ngoài nhưng vẫn để bàn tay nó trong lòng bàn tay tôi.
Ông biết không? Tôi không có con, bây giờ, trong cái cầm tay này, tôi bỗng cảm  thấy như thằng Cương vừa đặt vào tay tôi một đứa con. Trời Đất! Sao tôi muốn nói: “Sương ơi! Từ nay, bác Sáu sẽ thay ba con mà lo lắng bảo vệ con như con là con của bác vậy!” Nhưng thấy có vẻ cải lương quá nên tôi làm thinh!
Xe ngừng ở chợ Cồn Cỏ. Bác cháu tôi vô chợ nhà lồng đến sạp vải của  con Huê thì thấy một cô gái lạ. Cổ nói cổ là cháu kêu con Huê bằng dì và đến đây phụ bán vải từ mấy năm nay. Cổ nói: “Dì Huê có ở nhà, ông bà vô chơi! “
Chúng tôi đi lần theo con đường nằm dọc bờ rạch. Đường này bây giờ  được tráng xi-măng sạch sẽ. Tôi nói: “Nhà cô Hai có cây mù u nằm trước nhà cạnh bờ rạch, dễ nhận ra lắm!” Đến nơi, thấy còn nguyên như cách đây mấy chục năm:  cũng hàng rào bông bụp thấp thấp, qua một cái sân nhỏ là ngôi nhà xưa ngói âm  dương, kèo cột gỗ, ba gian hai chái với hàng ba rộng, một bên hàng ba có một bộ  ván nhỏ… Tôi hơi xúc động vì bắt gặp lại những gì của thời cũ. Chỉ có bao nhiêu đó thôi – nhỏ xíu – vậy mà sao gợi lại được vô vàn kỷ niệm! Tôi gọi lớn: “Huê ơi  Huê! “. Trong nhà chạy ra một người đàn bà tóc bạc nhìn tôi rồi la lên: “Trời  Đất! Anh Lân!” Tuy cô ta đang nhăn mặt vì xúc động, tôi vẫn nhận ra là Huê! Không kềm được nữa, Huê và tôi cùng bước tới nắm tay nhau vừa dặc dặc vừa nói “Trời Đất! Trời Đất!” mà không cầm được nước mắt! Một phút sau, Huê buông tay tôi ra quay sang con Sương, hỏi: “Còn ai đây?” Tôi nói: “Con Sương! Con thằng Cương!” Nó hỏi: “Còn anh Cương đâu?”. Con Sương thả rơi ba-lô xuống đất, bước lại phía con Huê, nói: “Ba con chết rồi, cô Hai ơi!”. Con Huê chỉ nói được có một tiếng “Chết” rồi xiêu xiêu muốn quị xuống. 

Con Sương phóng tới đỡ con Huê, nói: “Cô Hai ơi!” Rồi hai cô cháu ôm nhau khóc nức nở. Tôi đứng tần ngần một lúc mới bước lại đặt tay lên vai Huê bóp nhẹ: “Tại cái số hết, Huê à! Thằng Cương đang dạy ở bên Bỉ, mắc gì mà qua Phi Châu làm việc để rồi chết mất xác trong chiến tranh ở bên đó. Tại cái số hết! Phải chịu vậy thôi!” Con Sương dìu Huê lại ngồi ở bực thềm, vói tay mở ba-lô lấy phong bì  A4, nói: “Ba con gởi cái này cho cô.” Huê cầm phong bì, nheo mắt đọc rồi lắc đầu  nhè nhẹ: “Chắc là cái khăn mu-soa!” Huê xé phong bì lấy khăn ra cầm hai góc khăn  đưa lên nhìn: khăn còn thẳng nếp, chưa có dấu hiệu sử dụng! Huê nhăn mặt, đưa khăn lau nước mắt của mình rồi sang qua lau nước mắt của con Sương làm nó cảm  động nấc lên khóc. Huê nói: “Khăn này cô thêu tặng cho ba của con, nhưng không có duyên nên khăn lại trở về. Bây giờ, cô tặng cho con để kỷ niệm ngày cô cháu mình gặp nhau.” Con Sương cầm lấy khăn rồi ngả đầu vào vai Huê, nói: “Con cám ơn  cô Hai.” Huê vừa gật đầu vừa choàng tay ôm con Sương lắc nhè nhẹ như vỗ về đứa con!
Tôi bước ra bờ rạch ngồi cạnh gốc cây mù u đốt thuốc hút. Tôi thấy trên thân cây có đóng một cây đinh dài đã rỉ sét đen thui, vắt lên cây đinh là một cuộn dây dừa cũ mèm như muốn mục. Tôi nghĩ chắc con Huê nó làm như vậy, nó vốn nhiều tình cảm và giàu tưởng tượng. Nó có ý nói con thuyền ngày xưa đã bỏ bờ đi mất, nếu một mai có trôi về được thì cũng có sẵn dây để cột con thuyền vào gốc cây mù u…
Tôi đốt thêm một điếu thuốc rồi đặt lên cuộn dây dừa, vái lâm râm: “Cương ơi! Mầy có linh thiêng thì về đây hút với tao một điếu thuốc!” Tự nhiên,  tôi ứa nước mắt! Khi tôi trở vô nhà thì cô cháu tụi nó ngồi cạnh nhau trên bộ ván, nói  chuyện coi bộ tương đắc! Thấy tôi, Huê nói để vô làm cơm cùng ăn. Tôi từ chối vì phải về trả xe. Huê xin cho con Sương ở lại chơi với nó mươi hôm, còn con Sương thì hớn hở: “Bác Sáu đừng lo! Con về một mình được!” Tôi bằng lòng nhưng  đề nghị cùng ra đầu vàm thắp ba cây nhang cho thằng Cương. Con Huê vô nhà lấy nhang và một tấm ni-lông để ra đó trải cho ba người ngồi. Khi đi ngang cây mù u, con Huê bước lại gốc cây lấy cuộn dây dừa liệng xuống rạch, rồi phủi tay, đi!

Sau khi cúng vái ở đầu vàm, cô cháu nó đưa tôi ra xe. Nhìn tụi nó cặp tay nhau mà thấy thương quá, ông ơi!

*****
… Bây giờ thì cô Sương đã đem cô Huê qua Bỉ ở với cổ. Nghe ông Lân  nói hai cô cháu rất “tâm đồng ý hợp.”
Còn chiếc khăn mu-soa thêu thì ông Lân nói cô Sương đã cho lộng vào một khuôn kiếng rất đẹp treo ở phòng khách, ở một vị trí mà ai bước vào cũng phải thấy!
 
Tiểu Tử
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 14

14px Bác sĩ gốc Việt lừng danh thế giới, ngỏ lời tạ ơn một trường nhỏ từng có lòng tốt đối với người tị nạn


Bác sĩ Phạm Sĩ hiện làm việc tại Mayo Clinic ở Minnesota. (Lebanon Valley College News)

LEBANON – Ông Phạm Sĩ từng học để trở thành bác sĩ ở Sài Gòn, thì ước mơ bỗng bị tan vỡ bởi cuộc chiến. Câu chuyện lưu lạc của ông đến nước Mỹ đã được nhật báo Lebanon Daily News tường thuật vào đầu tháng Năm, với nội dung như sau.

Ông thoát khỏi Việt Nam vào ngày 30 tháng Tư, 1975, ngày Sài Gòn và cả miền Nam Việt Nam rơi vào tay cộng sản. Ông có mặt trên một chiếc thuyền, bị tách rời khỏi đất nước, bỏ lại những người thân trong gia đình, và chỉ có bộ quần áo trên người.

Bốn mươi năm sau đó, Phạm Sĩ là một bác sĩ giải phẫu tim mạch tài ba hiếm hoi của thế giới, và là nhà nghiên cứu y khoa từng viết hơn 170 bài nghiên cứu và tham gia ca mổ ghép tim và gan cho cựu Thống Đốc Bob Casey của tiểu bang Pennsylvania.

Nhưng theo ông Phạm Sĩ nói, câu chuyện tay trắng làm nên sự nghiệp của ông chỉ có thể xảy ra là nhờ lòng nhân đạo của thị xã Annville và trường đại học nhỏ bé chuyên về khoa học và nghệ thuật tại thung lũng Lebanon này, được tỏ bày dành cho những người tị nạn chiến tranh cách đây hơn bốn thập niên.
Ông Phạm Sĩ kể rằng ông đã lớn lên cảm thấy bất lực trong một đất nước bị tàn phá bởi chiến tranh. Ông ước ao có thể chữa lành những vết thương mà bạn bè ông phải chịu đựng do bom đạn gây ra. Vì vậy ông vào Sài Gòn để học ngành bác sĩ.

Nhưng đến năm 1975, cuộc chiến diễn biến tệ hơn cho phía Việt Nam Cộng Hòa. Sau khi quân đội Mỹ rút khỏi, quân cộng sản Bắc Việt nhanh chóng xâm nhập và cưỡng chiếm miền Nam. Cha mẹ ông hồi đó sống ở miền Trung, và họ bị kẹt trong sự kiểm soát cộng sản khi cuộc xâm lăng tiến đến gần Sài Gòn.
Ông Phạm Sĩ nói, “Tôi biết chế độ cộng sản là gì và tôi biết dân chủ là gì, vì vậy tôi đã lựa chọn rời khỏi đất nước để rồi thành người tị nạn.”


Bác sĩ giải phẫu tim mạch Phạm Sĩ đang nhận giải thưởng Distinguished Alumnus (Cựu Sinh Viên Xuất Sắc) của trường Lebanon Valley College vào ngày 27 tháng Tư, 2018. (Hình cung cấp cho báo Lebanon Daily News)

Những người tị nạn được đưa tới đảo Guam, nơi họ ở lại cho tới tháng Sáu 1975, khi họ được phép đến trại Fort Indiantown Gap, nơi chứa 15,000 người tị nạn.

Ông nói, “Hồi đó tôi không có gì cả. Tôi chỉ có một bộ quần áo trên người.”
Những người tị nạn không được phép rời khỏi trại Gap, cho đến khi họ có được một người Mỹ bảo trợ, và những người độc thân như ông Sĩ đều nằm cuối danh sách mà sự ưu tiên là dành cho những gia đình. Tuy vậy, đến tháng Tám năm ấy, trường Lebanon Valley College (LVC) tạo một cơ hội cho 12 học sinh tị nạn được ghi danh và có được nơi ăn chốn ở, thông qua sự kết hợp giữa chương trình học bổng Pell Grants, chương trình vừa học vừa làm, một học bổng và một khoản tiền vay nhỏ. Thậm chí trường đại học này còn cung cấp các lớp học tiếng Anh bổ túc cho các sinh viên.

Giáo Sư Hóa Học Danh Dự Owen Moe, thời đó là một giáo sư nghiên cứu tại LVC, đã không lập tức để ý tới Phạm Sĩ. Cho đến khi họ bắt đầu cùng nhau làm việc trên các dự án, ông mới xác định ông Sĩ thuộc hạng sinh viên có thể vươn lên tới hàng đầu trong chức nghiệp.

Ông Moe nói, “Anh ấy có sự quyết tâm, và phải đối phó trước nhiều trở ngại. Anh đã tìm cách vượt qua mọi trở ngại đó.”


Bác sĩ Phạm Sĩ được ngồi cạnh vị Giáo Sư ân nhân Owen Moe (bên trái) và Viện Trưởng Lewis Thanye của trường Lebanon Valley College trong đêm trao giải thưởng 27 tháng Tư, 2018 tại trường này. (Hình cung cấp cho báo Lebanon Daily News)

Ông Phạm Sĩ nói rằng thầy Moe là một người dìu dắt tuyệt vời và là một niềm khích lệ lớn cho ông. Lúc đó ông rất biết ơn vì có cơ hội hoàn tất việc học tại một trường đại học Mỹ, với các giáo sư trực tiếp giảng dạy. Nhưng ít nhất mỗi tuần một lần, ông vẫn thức dậy và nghĩ rằng mình vẫn còn ở Việt Nam. Nơi đó cha mẹ ông đang sống dưới ách cai trị của cộng sản, và không biết ông còn sống hay đã chết.
Phạm Sĩ nói, “Chiến tranh làm cho người ta mau trưởng thành hơn. Đó là một vấn đề sống còn – bạn phải lớn lên, chiến đấu và tìm cách sống sót.”

Ông tốt nghiệp từ trường Lebanon Valley College, sau đó từ trường y khoa, và nhanh chóng vươn lên vượt qua hàng ngũ nghề nghiệp, trở thành trưởng khoa cấy ghép tim, phổi và tim nhân tạo, tại trường y khoa thuộc đại học University of Miami, ngoài những công việc khác. Ông đã công bố hơn 170 bài báo khoa học, giúp thành lập những phương pháp để ngăn chặn sự việc cơ thể tìm cách loại bỏ những bộ phận cấy ghép tim và phổi, và giúp một giải pháp được tiến xa hơn trong việc một phương thay thế phẫu thuật tim hở, theo thông tin do trường LVC cung cấp.

Vào năm 1993, ông là thành viên của một nhóm thực hiện ca cấy ghép gan và tim lần thứ bảy trên thế giới, mà bệnh nhân là cựu thống đốc Robert Casey của Pennsylvania.

Hiện nay ông đang làm việc cho Mayo Clinic tại Minnesota.
Tuy nhiên, những thành tựu mà ông Phạm Sĩ hãnh diện nhất sẽ không xuất hiện trong các cuốn sách lịch sử: đó là cung cấp các ca mổ cần thiết cho di dân, cho những người nghèo cư ngụ trong thành phố, và những người không có khả năng trả tiền giải phẫu.

Chính ở đó, ông Phạm Sĩ cảm thấy như thể đã hoàn thành sứ mạng ban đầu của ông: là sửa chữa những cơ thể bị phá hỏng, giống như những cơ thể mà cuộc chiến Việt Nam đã tìm cách hủy hoại. Ông cũng có cơ hội để chăm sóc các cựu chiến binh từng tham chiến ở Việt Nam. Trong số đo có một đại tá về hưu, người đã giúp lập một trại tị nạn nơi mà ông Phạm Sĩ từng ở.

Vì ông đam mê giúp đỡ người bệnh, một trong những thách thức chuyên nghiệp lớn nhất của ông là đối phó với thất bại sau một ca mổ có mức rủi ro cao.

Ông nói, “Bạn phải nói chuyện với các người thân trong gia đình, bạn biết đấy, nói cho người thân biết rằng bệnh nhân không thể qua khỏi. Thật khó, rất khó. Bạn phải học cách đối phó với chuyện đó và rồi tiếp tục đi tới. Nếu không, chuyện đó có thể trở nên khó khăn về mặt tâm lý.”

Mấy năm sau khi đến Mỹ, ông Sĩ mới có thể gửi thư cho cha mẹ thông qua một người bạn sống ở Canada. Bang giao giữa Hoa Kỳ và Việt Nam được nối lại vào cuối thập niên 1980, và trong thập niên 1990, ông đưa cha mẹ sang Mỹ để sống với ông trong một thời gian.

Đến lượt ông dẫn con cái về Việt Nam và tới các quốc gia nghèo kém khác, để các con ông có thể hiểu được sự may mắn mà chúng có được ở đất nước Hoa Kỳ này.

Ông đã nhận được giải thưởng cựu sinh viên xuất sắc của LVC, tại một buổi lễ ngày 27 tháng Tư, và ông rất vui khi lãnh thưởng. Thực vậy, ông ghi nhận công lao của cả trường LVC lẫn cộng đồng Annville đã đón tiếp những người tị nạn trắng tay như ông.

Ông nói, “Dân chúng Mỹ rất rộng lượng, giúp đỡ rất nhiều.” 
Vị bác sĩ này hy vọng mọi thành công của ông sẽ khích lệ những di dân khác, để họ không bị nản lòng khi theo đuổi ước mơ của họ.
Ông nói, “Mọi sự sẽ tốt đẹp hơn. Thời gian sẽ chữa lành nhiều vết thương.”

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 56

KHI NÀO THẤY

Khi nào thấy trên đường dài mệt mỏi 
Cần nghỉ ngơi đôi phút cạnh dòng sông 
Em hãy đến tìm tôi nơi bến đợi 
Tán đa tôi bóng mát vốn quen dừng 

Khi nào thấy buồn phiền gặm nhấm 
Cần một lời tiếp sức để đi xa 
Em hãy đến tìm tôi nơi bãi vắng 
Biển tôi chờ con sóng ngân nga 

Lúc nào đó lòng mang thương tích 
(Những vết thương vô ý tự gây nên) 
Em hãy đến bên tôi chiều tĩnh mịch 
Tôi xin làm con suối tắm cho em 

Nếu cần nữa tôi là hồ trên núi 
Trong hoang vu im lặng ngắm mây trời 
Em hãy đến, chim thiên nga, cánh mỏi 
Đậu yên lành trên gương mặt hồ tôi

Xuân Hoàng

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 4

Đi du lịch đừng để bị thất lạc hành lý máy bay với 7 mẹo vặt cực kỳ hữu ích này

Đây đều là những bí kíp bảo quản hành lý tránh thất lạc bạn nên bỏ túi kẻo tránh rơi vào trường hợp dở khóc dở cười.

Đợt nghỉ lễ dài đã bắt đầu rồi và nhiều người sẽ tranh thủ thời điểm này để đi du lịch. Thế nhưng, sẽ ác mộng biết bao khi đi du lịch mà bạn bỗng nhiên bị thất lạc hành lý.

Bỏ túi ngay những bí kíp này để bạn không phải “phát điên” khi hành lý không cánh mà bay.

1. Loại bỏ nhãn cũ sau mỗi chuyến bay

Nếu bạn có sở thích sưu tầm nhãn dán hành lý sau mỗi chuyến đi thì nguy cơ hành lý bị nhầm lẫn, thất lạc sẽ cao hơn đấy.

Bởi công việc của nhân viên hàng không rất nhiều và sai sót là điều không tránh khỏi. Do đó, loại bỏ nhãn cũ sau mỗi chuyến bay giúp nhân viên hàng không thuận lợi trong việc tìm kiếm hành lý của bạn, tránh nhầm lẫn chuyển sang máy bay khác.

2. Check in sớm

Đi du lịch đừng để bị thất lạc hành lý máy bay với 7 mẹo vặt cực kỳ hữu ích này - Ảnh 1.

Kinh nghiệm của các nhân viên hàng không đã chỉ ra rằng, càng làm thủ tục muộn thì hành lý của bạn càng dễ bị thất lạc hơn.

Đặc biệt là bạn check in vào những phút cuối cùng trước khi cửa lên máy bay đóng, hành lý của bạn sẽ dễ bị bỏ rơi, không kịp đi qua dải băng chuyển lên máy bay cùng chuyến với bạn.

3. Nhờ nhân viên dán nhãn “đồ dễ vỡ” lên vali

Đi du lịch đừng để bị thất lạc hành lý máy bay với 7 mẹo vặt cực kỳ hữu ích này - Ảnh 2.

Đây được cho là 1 thủ thuật, bạn hãy nhỏ nhẹ thông báo với nhân viên rằng trong vali của bạn có hành lý dễ vỡ, cần bê vác nhẹ nhàng, và quan tâm đặc biệt hơn.

Lúc này, họ sẽ không tiếc dán 1 chiếc nhãn đặc biệt cùng lời hứa sẽ quan tâm đặc biệt đến nó.

4. Chọn vali sáng màu, không quá đắt tiền

Đi du lịch đừng để bị thất lạc hành lý máy bay với 7 mẹo vặt cực kỳ hữu ích này - Ảnh 3.

Chiếc vali đắt tiền rất có thể sẽ khiến cho “kẻ trộm” để mắt tới nó. Vì thế, tốt nhất là bạn hãy chọn một chiếc vali sáng màu để có thể dễ nhận diện từ xa nhưng có mức giá tiền trung bình thôi nhé, để không “lọt vào mắt xanh” của những tên trộm muốn dòm ngó.

5. Dùng màng bọc vali

Đi du lịch đừng để bị thất lạc hành lý máy bay với 7 mẹo vặt cực kỳ hữu ích này - Ảnh 4.

Chắc chắn là tên trộm sẽ lười biếng hơn khi phải mở bao màng bọc vali của bạn để có thể “tấn công” vào sâu trong hành lý.

Thế nên bạn đừng ngại mà khoác lên chiếc vali của mình 1 lớp áo bảo vệ – việc này vừa hạn chế sự xâm nhập của kẻ gian mà còn giữ vali của bạn tránh trầy xước, gãy vỡ nữa đó!

6. Không nhồi nhét quá nhiều đồ vào vali

Đi du lịch đừng để bị thất lạc hành lý máy bay với 7 mẹo vặt cực kỳ hữu ích này - Ảnh 5.

Vì đi du lịch nên không ít bạn có thói quen “nhét cả thế giới” trong vali. Họ mang đủ thứ đồ lỉnh kỉnh, chèn chặt ự – điều này vô tình khiến nhân viên vận chuyển hành lý cảm thấy khó chịu, bực dọc khi phải nhấc lên nhấc xuống vài lần.

Kết quả là đôi khi vô tình đẩy bạn vào tình huống dở mếu dở cười, quăng vali ra góc khác chẳng hạn.

Và nói dại, nếu như chiếc vali của bạn bị thất lạc, bạn sẽ không còn quần áo, đồ dùng đâu để dùng nữa. Thế nên, cách thông minh là nếu đi cùng gia đình, hãy phân chia đồ đạc với người thân để phòng bất trắc xảy ra nhé!

7. Khóa vali cẩn thận, ghi thông tin cá nhân để bên trong

Đi du lịch đừng để bị thất lạc hành lý máy bay với 7 mẹo vặt cực kỳ hữu ích này - Ảnh 6.

Đôi khi bạn chủ quan cho rằng bên trong chẳng có gì quan trọng (chỉ vài bộ quần áo, dụng cụ cá nhân…) nên không khóa vali lại.

Đừng vô tư như thế nhé! Hãy luôn sử dụng một chiếc khóa nhỏ, hoặc cài khóa vali cẩn thận để bảo đảm mọi thứ đều nằm gọn trong vali của bạn.

Bên cạnh đó, bạn nên ghi thông tin cơ bản – tên, số điện thoại, địa chỉ nhà – lên 1 tấm giấy nhỏ, và đặt trong hành lý. Trong trường hợp vali thất lạc, người ta sẽ có thông tin để liên lạc được với khổ chủ 1 cách nhanh, dễ dàng hơn.

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 110

“Đồng Ứng Trị Liệu Pháp” một phương pháp tự chữa bệnh, dễ học và thực hành

Lưu ý: Như thường lệ, bài viết ngắn này chỉ là sự gợi ý và một góc nhìn của bản thân. Quý bạn nên tìm hiểu sâu xa hơn, hay bàn thảo với bác sĩ gia đình trước áp dụng.


Quý bạn thân mến,

Tôi có một vị đàn anh học cùng trường đã hơn 70, cách đây vài tháng, một sáng thức giấc thì phát giác ra là cái cổ của mình cứng ngắc, đau nhức vô cùng mỗi khi muốn xoay chuyển.  Cầm bàn chải đánh răng, hay muốn trở dậy từ trên giường đều là chuyện khó khăn, đau nhức cả vai bên phải.  Cấp tốc đi bác sĩ, chụp hình quang tuyến thì được biết là xương cổ đốt số 4 và 5 bị lệch đè lên giây thần kinh, khiến cổ bị tê cứng, dần dần chuyền đến vai, rồi tay.  Đang rầu rĩ cả tuần vì đã đi bác sĩ cho uống thuốc mà không bớt, lại có triển vọng là phải mổ nếu tình trạng kéo dài quá lâu, cũng có thể là cánh tay phải sẽ bị liệt, anh chợt nhớ lại là có người bạn trẻ có giới thiệu cùng anh cách trị bệnh theo “Đồng Ứng Trị Liệu Pháp” của ông Lý Phước Lộc mà anh bạn này mới học trước đó vài tuần. Anh bạn T. nghe tin anh N. bị nạn vội chạy đến hỏi thăm và đề nghị anh N. áp dụng thử cách chữa trị mới này xem sao. Dù chỉ theo tài liệu chỉ dẩn, không ngờ chỉ sau vài lần xoa các huyệt đạo và hơ nóng với máy sấy tóc, cơn đau của của anh N. đã giảm ngay đi chừng 95%, cổ có thể lắc qua lại dễ dàng hơn, và tầm nhìn cũng khá hơn. Sau đó thì anh N. tiếp tục ấn huyệt tự chữa cho mình, chừng tuần sau thì khỏi hẳn.

Theo Tây Y, anh N. bị Torticolis vì có thể trong lúc ngủ say vị  trí cổ của anh không được thẳng đã làm xiết vào chỗ  thần kinh từ đốt sống cổ ra làm bắp thịt vai bị co rút lại rất đau.  Nhờ người bạn  khi day  mạnh vào đúng những huyệt trên đường đi của dây thần kinh đã giúp cho  bắp thịt giãn ra và hết đau.  Thuốc Lorzone mà bác sĩ đã cho rất tốt nhưng phải có thời gian mới có kết quả. Thường là sau vài tháng cộng với cái màn Physical Therapy.  Thoát được cảnh mổ xẻ nơi quan trọng trong người thật là có phước đức lớn.

Do đã từng đau khổ với bệnh lệch xương sống từ 20 năm nay, cộng thêm bản tính hà tiện, gặp món nào lạ giúp cho sức khỏe, mà lại không tốn tiền thì tôi cũng hay tò mò tìm hiểu mà áp dụng cho sức khỏe của mình, sau đó thì chia sẻ cùng bạn hữu vì biết đâu sẽ giúp được người. Tôi vào Internet và đánh chữ “Lý Phước Lộc” thì ui trời ơi, cả hàng lô hàng dọc đề mục về ông này, cộng thêm cả trăm đoạn phim ngắn (clip) trên YouTube quay lại những lần ông trị bệnh, kèm theo lời dẫn giải rõ ràng của ông về bệnh trạng, nguyên do, và cách chữa trị.  Có thể nói là bệnh nhân nào cũng cảm thấy khá hơn sau khi được ông xoa nắn, day các huyệt đạo.  Ông không dấu diếm điều chi, đều chỉ dẩn cặn kẻ cho bệnh nhân và khuyên người ta về nhà tiếp tục tự làm, hoặc nhờ thân nhân làm để có thể tự chữa cho mình. Theo tôi hỏi thăm, ông đi đến đâu giảng đến đó, và chữa bệnh đều là miễn phí.

Đọc thêm nữa về tiểu sử ông Lý Phước Lộc thì được biết ông là học trò của ông Bùi Quốc Châu, người đã giới thiệu phương pháp “Diện Chẩn” ở VN từ thập niên 1980.  Ông Lộc đã thực hành châm cứu và chữa trị giúp bệnh nhân từ VN, cũng như hợp tác với ông Châu trong việc khai triển và giới thiệu môn Diện Chẩn rộng rãi. Ông qua Mỹ từ năm 1995 theo chương trình HO.  Do nhiều cơ duyên khác nhau, sau khi nhận ra môn Châm Cứu không thể phổ biến rộng rãi, cộng thêm bệnh trạng mỗi người mỗi khác, không thể áp dụng cách chữa trị theo công thức một cách cứng ngắc, ông đã quyết định bỏ không hành nghề châm cứu nữa mà tập trung vào học hỏi, tìm tòi, thống kê, hệ thống hóa một phương thức trị bệnh mới. Đó là môn “Đồng Ứng Trị Liệu Pháp” mà ông đã dày công nghiên cứu và giới thiệu cùng mọi người từ năm 2012.

Ông và những người học trò, cảm tình viên hình như có mở một văn phòng nhỏ ở Nam California giúp chửa bệnh.  Dù đã gần 80, ở đâu mời đến giảng thêm vê môn “Đồng Ứng Trị Liệu Pháp” và giúp chữa bệnh là ông Lộc cũng đều sẳn sàng lên đường.  Nhân dịp Tịnh Xá Hương Thiền ở Annandale, Virginia mời ông Lộc về giảng vào thượng tuần tháng 4/2018, tôi rủ cô hàng xóm cùng đi nghe cho biết, và biết đâu đủ duyên thì tụi tôi có thể ứng dụng những điều ông giảng mà tự chữa bệnh, cũng như giữ gìn sức khỏe cho mình.

Tôi đã đến nghe ông giảng về môn “Đồng Ứng Trị Liệu Pháp”, cùng xem các ứng dụng của môn này trong việc trị liệu.  Sau đây là vài nhận xét thô thiển của tôi về buổi giảng này, cũng như về cách trị bệnh của ông , qua sự quan sát tận mắt, dành cho hơn 60 bệnh nhân.  Chắc chắn là sẽ có nhiều thiếu xót, mong các bạn bỏ qua và giúp bổ túc thì rất cảm ơn.

1. Đã từ lâu tôi chưa gặp buổi giảng nào về Y Học, cùng lúc đượm đầy mùi vị Đạo như bài giảng ứng khẩu của ông Lý Phước Lộc. Ngồi nghe mấy tiếng liền mà không chán, tràn ngập sự thú vị và niềm vui vì được mở rộng sự hiểu biết cho mình, những áp dụng mình có thể làm mà kết quả thấy rất rõ ràng, hợp lý.

2. Tổng quát, việc quan trọng của phương pháp này là tìm ra được “Sinh Huyệt” vị trí đau Đồng Ứng với bệnh trạng, sau đó ấn và day mạnh 7 lần là xem như một lần chữa.  Người bệnh về nhà tiếp tục làm như vậy ba lần trong ngày, đến khi nào điểm đau đó không còn đau nữa thì ngưng, vì gốc của bệnh đã dứt. Việc tìm Sinh Huyệt được xác định qua sự đồng dạng của HÌNH, THẾ, và THỂ của vùng bị đau với điểm đau tìm được. Thường là ở một nơi khác, rất ít khi nằm ngay vùng bị đau. Việc tìm SINH HUYỆT và chữa bệnh trong thật đơn giản mà hiệu quả thì rõ rệt ngay trước mắt, làm tôi hơi sững sờ cứ là chuyện đùa. Ngày xưa tôi cũng có học sơ qua về kinh mạch, châm cứu, đông y nhưng vì trí nhớ kém, đành bỏ qua. Nay thấy cách chữa bệnh của ông làm tôi không dám tin chuyện trước mắt đang xãy ra.

3. Kết quả của sự chữa trị cho hơn 60 bệnh nhân trước mắt thật sự làm tôi “mất hồn”, vì các con bệnh đều xác nhận là có biến chuyển tốt hơn trên các vùng đau của họ, không ít thời nhiều, có người cơn đau còn biến hẳn.  Hâu hết các con bệnh ở trong số tuổi từ 50 xấp lên, các chứng bệnh đang mang đều là loại Đông Tây Y chữa hoài không hết, càng lúc càng bết.  Nay đi chữa theo phương pháp này như là một một hành động  mua số cho vui.  Ai dè lại trúng, mà trúng lớn nữa mới vui chứ!  Và tôi lai càng thấm thía câu “Thông Bất Thống, Thống Bất Thông”, chuyện ngay rõ ràng trước mắt là những cơn đau đớn của người bệnh là do khí huyết không đi được đến các vùng đó. Nay chỉ cần ấn và day đúng ngay Sinh Huyệt 7 lần là cơn đau bớt ngay, hay dứt hẳn vì khí huyết đã mang được đến nơi này.

4. Tôi dự tính ghi lại thật nhiều cách chữa bệnh, nhưng khổ nổi mình chưa quen thuộc phương pháp, mói có biết qua loa thì sợ là càng viết càng sai.  Chính người nghĩ ra phương pháp cũng còn phải thú nhận là “càng viết ra thấy càng thiếu”.  Mà muốn viết cho đầy đủ thì không ai có thời giờ mà xem.  Chính ông còn khuyên là người đến nghe không nên ghi chép chi hết, cố gắng nghe giảng và hiểu, rồi sau đó tự mình rút ra kinh nghiệm.  Tôi rất đồng tình với ông ở chổ là phương pháp chữa bệnh này không chính quy chút nào, không có bài bản chi hết, nhưng lại có thể làm giảm và hết bệnh.  Tình trạng cũng giống như trong truyện kiếm hiệp “Tiếu Ngạo Giang Hồ”, Lệnh Hồ Xung đã học kiếm pháp từ tổ sư Phong Thanh Dương và thành công khi dùng “vô chiêu thắng hữu chiêu” vậy. 🙂   
     – môn thở “Rùa Rắn Ngóc Đầu” rất hiệu quả trong việc làm dãn xương sống giúp giảm đau rất nhiều cho những ai bị lệch xương sống, hay xương sống thoái hóa.  Cái hay nữa là giúp cho những ai mất ngủ tìm lại được giấc ngủ ngon.
     – dùng bàn tay xoa vòng quanh môi bắt đầu từ phải qua trái để giúp tiêu hóa, trị táo bón, hay ngược lại từ trái qua phải sẽ làm bớt tiêu chảy.
     – xoa bóp trên tay giúp trị chứng “vọp bẻ” ở chân, cũng như trên người, v.v.
     – giúp những người lớn tuổi bớt đi chứng đi tiểu vặt nhiều lần trong ngày, cũng như hổ trợ cho thận lọc chất dơ tốt hơn.

5. Trên đường về nói chuyện cùng cô hàng xóm, tôi đồng ý là phương pháp này thật hay giúp cho người ta giữ sức khỏe, cũng như tự chữa bệnh.  Chúng tôi cùng đồng ý đây chính là thêm một phương cách mới cho những bệnh mà Tây và Đông Y đã bó tay.  Phương pháp chữa bệnh này sẽ giúp cho những người nghèo, thiếu phương tiện để tự chữa và giúp đở nhau lúc cần thiết.  Ví dụ như tôi hay đi chơi xa, nay biết được môn này để chữa trị các bệnh cấp thời thì còn gì hay hơn.

6. Tôi cũng rất tâm đắc với ông Lý Phước Lộc khi cho rằng chỉ có người bệnh tự chữa mới thật sự hết mà thôi.  Chứ nếu không thì chỉ có các vua chúa, người giàu có sống khỏe mạnh, sống lâu hay sao?!  Rõ ràng là cho dù tập trung các vị y sĩ tài giỏi chung quanh, các vua chúa ngày xưa thường là chết sớm. 🙂  Có lẻ nhờ ngộ với câu nói của người xưa “Di Thiện Tối Lạc”, thay vì giữ sự hiểu biết về phương pháp “Đồng Ứng Trị Liệu Pháp” cho riêng bản thân, trong gia đình, hay giòng họ để kiếm tiền, ông Lộc đã chọn con đường phổ biến cho mọi người cùng biết. Đây là một đóng góp lớn lao cho nền Y Khoa, và sức khỏe trước hết là cho người dân VN. Hy vọng sẽ gây được sự chú ý của nhiều người cùng chung ý hướng phục vụ mà tiếp tục nghiên cứu, và phát triển nhiều hơn nữa trong tương lai.

Các bạn, những ai muốn tìm hiểu sâu hơn, ý nghĩa và cách trị bệnh theo phương pháp “Đồng Ứng Trị Liệu Pháp” xin chịu khó theo dõi khóa học tại NPĐ Liên Hoa ở Virginia cuối năm 2017, như trang bên dưới.  Bảo đảm rất vui và hữu ích.  Những người học trò và tâm đắc với phương pháp chữa bệnh này đã thâu lại các buổi giảng, chữa bệnh của ông, và đăng lên trên Internet (YouTube).  Cũng như thiết lập một trang BLOG để mọi người có thể vào xem, nghiên cứu thêm, và có thể thư từ hỏi thăm trực tiếp với ông.

Khóa học tại NPĐ Liên Hoa: https://www.youtube.com/watch?v=Wkm23k1r-fY&t=5678s

BLOG Đồng Ứng Trị Liệu Pháp: http://vndongunglieuphap.blogspot.ca/

Có người bạn gởi cho tôi một tập tài liệu tóm lược về môn  “Đồng Ứng Trị Liệu Pháp” Nhập Môn và liệt kê những bệnh có thể chữa, cùng các Sinh Huyệt do mấy người học trò ra công ghi lại.  Tập này khá dày, chừng 70 trang.  Tập chỉ dẫn này được đăng trong Blog nơi phần Tài Liệu Tham Khảo, nếu muốn nghiên cứu sâu hơn thì hẳn in ra, và nên in màu cho dễ đọc.

Đường nối để đọc hai tài liệu căn bản về “Đồng Ứng Trị Liệu Pháp”.

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 40

Tháng Tư Buồn

Tháng Tư về,
nắng vàng phơi mái rạ 
Lúa đồng xanh, 
bay lả lả cánh cò 
Lũ chim chích
lách luồn trong đám lá 
Sục sạo tìm 
mà mãi chẳng đủ no. 

Tháng Tư về, 
nắng phơi vàng sân gạch 
Đàn gà mơ, 
chiêm chiếp, ngó ngơ quanh. 
Đống rơm cũ, 
bới đi, rồi bới lại 
Bên cối xay,
kìa lũ mối xây thành. 

Tháng Tư về,
nắng chang chang cồn bãi 
Tổ cha mi, 
chi nắng rứa hỡi trời ? 
Bà lão nạt, 
bầy trẻ ngơ ngác hãi 
Nắng bể đầu,
đi viện lũ mi toi.

Tháng Tư về, 
nắng vàng hoe trước ngõ 
Mắt mẹ buồn,
vời vợi ngó xa xăm 
Đàn ve khóc,
trên cành cây nức nở 
Khung trời xanh… 
nghe tiếng gió than thầm. 

Tháng Tư về, 
con chẳng về đâu mạ…
Nấm mồ hoang,
con nằm lại bên cồn 
Ngày chiến thắng
ăn mừng 
trên mắt mẹ… 
Ánh u hoài 
trông ngóng mãi đứa con.

Ngọc Thạch

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 12

THIÊN ĐƯỜNG HOA Ở NHẬT BẢN

Công viên Hitachi-  một thiên đường hoa luôn đẹp rực rỡ của đất nước mặt trời mọc. Mỗi ngọn đồi ở công viên Hitachi đều được trồng một loại hoa và chúng thay nhau nở trong suốt 4 mùa.

Chúng ta hãy cùng hòa mình vào thiên nhiên nơi đây để chiêm ngưỡng cảnh sắc tuyệt đẹp này.
 
Công viên HITACHI – Thiên đường hoa tại Nhật Bản
Vẻ đẹp công viên Hitachi Nhật Bản mùa hoa baby
Tùy theo mùa công viên sẽ trồng nhiều loại hoa tươi khác nhau, như lily, cúc bách nhật và nhiều loại hoa khác.
   
            
Công viên Hitachi mùa thu bao phủ bởi sắc đỏ
                  
Sắc hoa Cosmos tràn ngập cả ngọn đồi Miharashi
         
Thảm hoa Chi Anh đẹp ngây ngất ở Nhật Bản
  
Những loài hoa đua nhau khoe sắc tại Nhật Bản
 
Rừng tre xanh mướt, đồi hoa lộng lẫy, những lâu đài cổ kính và đền đài trang nghiêm khiến cho du khách như lạc vào một thế giới khác.
Vườn hoa Kawachi Fuji (Fukuoka): Hành lang với vòm cây đan cài đem lại cảm giác bình yên, tĩnh tại. Vườn có hơn 150 cây tử đằng thuộc 20 loại. Lễ hội hoa tử đằng được tổ chức vào cuối tháng 4 hàng năm, khi hoa nở rực rỡ nhất.
Hồ Happo (Nagano): Con đường dẫn tới hồ Happo từ Hakuba, ngôi làng trượt tuyết nổi tiếng, là một trong những đường leo núi đẹp nhất Nhật Bản. Hồ nước nằm ở độ cao 2.060 m so với mực nước biển. Dù không lớn, vẻ đẹp của hồ Happo khiến du khách phải sững sờ.
Đền Motonosumi-inari (Yamaguchi): 123 cổng Torii màu đỏ rực rỡ trải dọc đường từ đền Motonosumi-inari tới vách đá nhìn ra biển khiến du khách cảm tưởng đang ở một thế giới thần tiên..
Thác Nachi (Wakayama): Với độ cao 133 m, Nachi là thác nước lớn nhất Nhật Bản. Cạnh thác có đền Kumano Nachi Taishai với kiến trúc độc đáo và hài hòa với cảnh quan.

Khu trượt tuyết Zao (Yamagata): Với 15 sườn dốc và 12 đường trượt, Zao là một trong những khu du lịch nổi tiếng nhất Nhật Bản. Du khách tới đây không phải chỉ trượt tuyết mà còn chiêm ngưỡng những cây thông phủ tuyết trắng xóa.
Cáp treo Kintetsu Beppu (Oita): Tuyến cáp treo này có thể đưa 101 hành khách lên đỉnh núi Tsurumi ở độ cao 1.375 m trong 10 phút. Vào mùa xuân, từ trên đỉnh núi, du khách có thể chiêm ngưỡng khung cảnh lộng lẫy khi hơn 2..000 cây anh đào nở hoa.
Lâu đài Matsumoto (Nagano): Được gọi là “lâu đài quạ” do màu sơn đen, Matsumoto là lâu đài gỗ cổ nhất xứ mặt trời mọc, được xây dựng từ 400 năm trước.
Hồ Koya (Niigata): Mùa thu trên núi Hiuchi đem lại cho Koya những sắc màu rực rỡ. Hồ nước cạn và phủ đầy cây này thay chiếc áo màu vàng, đỏ và xanh như khu rừng bao quanh. Đây là điểm dừng chân thú vị trên đường lên núi.

Đền Motsu-ji (Hiraizumi): Vào chủ nhật cuối cùng của tháng 5, đền Motsu-ji lại mời những người yêu thơ tới sáng tác cạnh dòng suối trong khuôn viên. Trong lúc họ sáng tác, những chén sake được thả trên dòng suối và đưa tới cho từng người.
Công viên Hitachi Seaside (Ibaraki): Hơn 4 triệu bông hoa Nemophila bừng nở từ cuối tháng 4 tới tháng 5 ở công viên nằm trên đồi Miharashi tạo ra khung cảnh lãng mạn tuyệt vời.
Sagano (Kyoto): Được coi là một trong những khu rừng đẹp nhất thế giới, những cây tre xanh mướt đung đua trong gió tạo cho nơi này một không khí huyền ảo, thần tiên.

Lễ hội hoa đăng Otaru (Hokkaido): Hàng trăm ngọn nến được thả xuống kênh Otaru trong lễ hội hoa đăng kéo dài 10 ngày.

Đền Usa (Oita): Được xây dựng vào thế kỷ 8, đền Usa là công trình quan trong nhất để thờ phụng Hachiman, thần cung tên và chiến tranh.

Núi Daisen (Tottori): Ngọn núi cao 1.709 m này được coi là chốn linh thiêng từ thời Jomon và Tayori. Việc leo lên đây bị cấm, cho tới thời Edo cách đây 200 năm.

==============================   
 
Thiên nhiên đã tạo ra những thung lũng có phong cảnh tuyệt đẹp khiến con người ngỡ ngàng.
1. Thung lũng Lauterbrunnen, Thụy Sĩ
10 thung lung tuyet dep du khach khong the bo qua - Anh 1
Đây là thung lũng đẹp nhất thuộc dãi núi Alps ở Thụy Sĩ, với vách núi đá và thác nước kỳ vĩ. Du khách có thể dễ dàng tới thung lũng này bằng ô tô. Khung cảnh trong hành trình tới Lauterbrunnen cũng khiến bạn phải mê mẩn.
2. Thung lũng Nubra, Ấn Độ
10 thung lung tuyet dep du khach khong the bo qua - Anh 2
Nằm cách thị trấn Leh khoảng 150km, thung lũng Nubra có diện tích rộng lớn và phong cảnh tuyệt đẹp. Tuy nhiên, du khách nước ngoài cần có những giấy phép cần thiết từ chính quyền địa phương mới có thể khám phá địa điểm này.
3. Thung lũng Haa, Bhutan
10 thung lung tuyet dep du khach khong the bo qua - Anh 3
Thung lũng này mang nét đẹp tiềm ẩn mà phần lớn du khách trên thế giới chưa từng trải nghiệm. Thời điểm thích hợp nhất để khám phá thung lũng Haa ở Bhutan là vào mùa xuân hằng năm.
4. Thung lũng Romsdal, Na Uy
10 thung lung tuyet dep du khach khong the bo qua - Anh 4
Du khách sẽ được chiêm ngưỡng dòng sông phẳng lặng và phong cảnh tuyệt đẹp khi tới thung lũng Romsdal. Địa điểm này được bao quanh bởi những dãy núi cao tới hơn 1.500 m.
5. Thung lũng Simplon, Italia
10 thung lung tuyet dep du khach khong the bo qua - Anh 5
Thung lũng Simplon nằm giữa hai dãy núi Pennine và Lepontine, thuộc dãy Alps. Vì nằm giữa biên giới giữa Italia và Thụy Sĩ, nên du khách có thể khám phá thung lũng này từ hai quốc gia khác nhau.
6. Thung lũng Ten Peaks, Canada
10 thung lung tuyet dep du khach khong the bo qua - Anh 6
Một trong những thung lũng đẹp nhất thế giới là Ten Peaks, nằm trong một vườn quốc gia ở Canada. Nó được bao quanh bởi 10 đỉnh núi và hồ Moraine rộng lớn. Du khách có thể tới thung lũng bằng cách đi dọc con đường từ hồ Moraine.
7. Thung lũng Harau, Indonesia
10 thung lung tuyet dep du khach khong the bo qua - Anh 7
Nằm trên đảo Tây Sumatra ở Indonesia, thung lũng Harau là một trong những phong cảnh thiên nhiên đẹp nhất trên thế giới. Khi tới đây, du khách sẽ có cơ hội khám phá nhiều dãy núi và cấu trúc đá với rừng và ruộng bậc thang. Các nhà nghỉ được xây dựng ngay tại thung lũng, thuận tiện cho khách tham quan.
8. Thung lũng Lotschental, Thụy Sĩ
10 thung lung tuyet dep du khach khong the bo qua - Anh 8
Đây là thung lũng rộng nhất và đẹp nhất ở Thụy Sĩ, với diện tích kéo dài khoảng 27km và được bao quanh bởi những dãy nũi hùng vĩ cao hơn 300m. Tại đây, du khách cũng có cơ hội ngắm những dòng sông băng kỳ vĩ.
9. Thung lũng Kalalau, Hawaii
10 thung lung tuyet dep du khach khong the bo qua - Anh 9
Thung lũng trên đảo Kaua’I là nơi có một trong những bãi biển đẹp nhất thế giới mang tên Kalalau Beach. Nếu dự định khám phá nơi này, du khách chuẩn bị sẵn sàng cho thử thách đi bộ đường trường vì các phương tiện giao thông không thể tiếp cận thung lũng này.
10. Thung lũng Barun, Nepal
10 thung lung tuyet dep du khach khong the bo qua - Anh 10
Thung lũng Barun nằm dưới chân núi Makalu thuộc dãy núi Himalaya trong vườn quốc gia Makalu Barun. Tới đây, du khách có thể thưởng ngoạn nhiều phong cảnh đẹp như thác nước, hẻm núi sâu và rừng xanh ngắt.
__._,_.___sa
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 0

Xuân Đất Khách

Ai có về bên kia đất nước
Thở giùm tôi hơi ấm quê hương
Tôi, con én lạc mùa xuân trước
Vẫn khóc âm thầm nơi viễn phương

Vẫn đến xuân về trên đất khách
Nghe buồn nhỏ giọt xuống vai tôi
Đèn ai thắp sáng bên kia phố
Nhớ quá, chao ôi, tiếng mẹ cười

Bếp lửa than hồng sao chẳng ấm
Tôi thèm một chiếc bánh chưng xanh
Thèm nghe ai nói lời tha thiết
Một lời chúc tụng bước sang năm

Ai có về bên kia đất nước
Chở giùm tôi nỗi nhớ qua sông
Hỡi em cô gái mùa xuân trước
Còn đứng hong khô áo lụa hồng

Lòng tôi cũng bạc theo màu áo
Chiếc pháo giao thừa cũng tả tơi
Chén rượu mừng xuân tôi chẳng uống
Chỉ uống đêm nay những ngậm ngùi

Trần Trung Đạo

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 3

Hình tượng người lính qua dòng nhạc Việt

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
(“Tây tiến”, thơ Quang Dũng)

 

Xa nhìn thấp thoáng trong mây

muôn bóng quân Nam chập chùng… (1)

 

Câu hát ấy, từ bao năm nay vẫn cứ theo tôi, theo tôi mãi. Câu chuyện bắt đầu tư những ngày xa xưa, thuở tôi còn là cậu học trò nhỏ vừa bước vào năm học đầu tiên của một trường trung học ở thành phố cao nguyên có cái biệt danh nghe buồn buồn là “Buồn-muôn-thuở”. Cậu học trò ấy, vào mỗi sáng thứ Hai, cùng chúng bạn đứng xếp hàng ngay ngắn trước sân cờ nao nức chờ đợi phút giây được tham dự vào nghi thức thượng kỳ đầu tuần trong bầu không khí thật trang nghiêm giữa sân trường thuở ấy.

 

“Đứng thẳng người,” thầy tôi dặn, “ngực ưỡn ra, miệng hát lớn, mắt hướng về lá quốc kỳ cho tới khi bài quốc ca chấm dứt.” Tôi đã làm theo đúng lời thầy, mắt dõi theo lá cờ từ từ từ từ được kéo lên, nhẹ bay trong gió. Lá cờ màu vàng tươi phấp phới bay trong nắng sớm giữa bầu trời lồng lộng, có từng cụm mây trắng lững lờ… Bỗng nhiên, trong một thoáng, câu hát ấy -không phải câu hát trong bài quốc ca – nghe vẳng lên trong đầu tôi, Xa nhìn thấp thoáng trong mây / muôn bóng quân Nam chập chùng… Cùng lúc, tôi như nhìn thấy thoáng ẩn thoáng hiện trong những cụm mây nơi phía chân trời mờ xa, “chập chùng” những đoàn quân đang tiến bước.

Tôi không thể biết chắc những gì tôi nghe thấy và trông thấy ấy, là tiếng nhạc ở trong đầu, là “bóng mây ảo giác”, hay là những bài hùng ca, những bài học lịch sử mà chúng tôi học được từ những người thầy đã in hằn trong tâm trí, khiến mỗi lần dõi mắt trông theo lá cờ vàng phất phới trong nắng trong gió là mỗi lần câu hát ấy lại vẳng lên và đoàn quân ấy lại “thấp thoáng trong mây”.

 

Chúng tôi trông đợi những sáng thứ Hai, trông đợi những phút được đắm mình vào không khí đầy vẻ cuốn hút của buổi lễ thượng kỳ. Không khí ấy, với tôi, như mang một vẻ gì thiêng liêng, như nhuốm một vẻ gì bi tráng của những trang sử Việt hào hùng, của những chiến công thần kỳ và của những nợ máu xương chồng chất. Trong những phút ấy, lòng tôi bỗng dâng lên những cảm xúc thật kỳ lạ, vừa là niềm ngưỡng phục, vừa là niềm tự hào, vừa ngùn ngụt hào khí trong máu trong tim cậu học trò ở tuổi vừa lớn, hòa cùng tiếng nhạc trầm hùng như giục giã những bước chân đi tới.

 

Công dân ơi! Mau hiến thân dưới cờ!…

 

Những năm học nối tiếp theo nhau, và ngày tháng trôi đi bình lặng.

Thế rồi, những năm tháng êm đềm vụt biến mất, cơn bão ủa lịch sử đã cuốn phăng đi tất cả, cuốn phăng đi biết bao nhiêu là số phận. Không còn nữa lá cờ vàng phất phới giữa bầu trời lồng lộng, không còn nữa những đoàn quân “thấp hoáng trong mây”, không còn nữa ngôi trường chúng tôi yêu quý. Chúng tôi tan tác như bầy chim hoảng loạn.

 

Thế nhưng câu hát ấy, bài hát ấy và những bài hát về người lính, về những “đoàn quân ra đi”, từ bao năm nay vẫn cứ theo tôi, mãi mãi không rời.

 

Hành trình của người lính

 

Đây đoàn quân ra đi nhịp nhàng

mang theo thiên hùng ca / thắm tươi trời Nam bốn phương

Ta anh hùng muôn quân phá tan cường binh

chí tang bồng đem theo khắp nơi tung hoành

 

Những câu hát “hào khí ngút trời” ấy ở trong bài “Lục quân Việt Nam” (1950) của Văn Giảng & Hương Việt. Những “đoàn quân ra đi”, những “thiên hùng ca”, những “anh hùng” xông pha trận mạc “phá tan cường binh” và “khắp nơi tung hoành”… đã làm dậy lên bầu máu nóng hừng hực và lòng yêu nước nồng nàn của bao thanh niên thuở ấy, những muốn đem tài trai phụng sự tổ quốc và vẫy vùng ngang dọc để thỏa “chí tang bồng”.

 

1. “Từng đoàn người trai đi viết sử xanh” (2)

 

Mai ra đi không chút vấn vương

chiến trường kín tranh đấu

Là tài trai chí bốn phương / một lòng quyết lên đường!…

Tiến bước lên! Chiến đấu cho

đất Việt bừng sáng muôn đời!

“Quanh lửa hồng”, Nguyễn Thiện Tơ & Văn Khôi)

 

“Chàng tuổi trẻ vốn giòng hào kiệt / xếp bút nghiên theo việc đao cung”. (3)Người trai ra đi với lời thề sắt son ghi trên báng súng. Màu áo chiến binh thay cho màu áo học trò.

 

Xếp áo thư sinh vui bước đăng trình

mười sáu tròn trăng

Ghi trên báng súng lời thề chinh nhân

tám hướng thành gần…

(“Mười sáu trăng tròn”, Trần Thiện Thanh)

 

Phút tiễn đưa chỉ có ánh mắt vời vợi trông theo của mẹ già như trao gửi nỗi niềm tin yêu.

 

Nhớ lúc lên đường đưa tiễn chân tôi

thương lên khoé mắt mẹ nhắn đôi lời,

“Diệt thù lập công cho xứng tài trai

sắt son ghi lòng chớ phai”

(“Biệt kinh kỳ”, Minh Kỳ & Hoài Linh)

 

“Hành trang giã từ” chàng trai mang theo luôn có lời dặn dò, nhắn nhủ thiết tha của người mẹ hiền yêu dấu.

 

Ra đi một sáng tinh sương

Mẹ ơi, con vẫn nhớ lời me khuyên,

“Con ơi, tình nước sâu hơn

hẹn ngày chiếng thắng con về vinh quang”

(“Ai về quê tôi”, Tiến Đạt)

 

Những bà mẹ Việt Nam đều giống nhau. Lòng thương con vô bờ nhưng “tình nước sâu hơn”, mẹ giấu đi nỗi bịn rịn và giọt lệ tiễn đưa để đứa con yêu thong dong lên đường.

 

Chàng trai đất Việt” trong câu hát của Thanh Châu được “minh họa” rõ nét là chàng “thanh niên Quốc Gia”, ra đi vì lý tưởng Quốc Gia.

 

Hôm ấy tay cầm tay trong thiết tha

anh là thanh niên Quốc Gia / lên đường vui xa quê nhà

(“Dặn dò”, Thanh Châu)

 

Những chàng trai trẻ đã hiến dâng cả tuổi thanh xuân, cả những tháng năm tươi đẹp nhất của đời mình cho tình yêu đất nước. Những chàng trai “trong tim thì sôi máu / khóe mắt có trăng sao” (“Kỷ niệm”, Phạm Duy), đi dưới một “rừng cờ phấp phới”, một bầu “trời Việt mênh mang”.

 

Một đoàn người trai hiên ngang

đeo trên vai nợ máu xương

vui ra đi không buồn nhớ thương…

Một rừng cờ phấp phới / một mầu vàng chiêu dương

và một nền vinh quang bằng máu

Một trời Việt yêu dấu / một trời Việt mênh mang

giục đoàn người lên đường hiên ngang

(“Khởi hành”, Phạm Duy)

 

Những đoàn người nối tiếp những đoàn người, mang tổ quốc trên vai, mang tình yêu nước trong tim, hàng hàng lớp lớp theo nhau lên đường theo tiếng gọi của non sông.

 

Người đi giúp núi sông

hàng hàng lớp lóp chưa về / hàng hàng nối tiếp câu thề

giành lấy quê hương

(“Khúc tình ca hàng hàng lớp lớp”, Nguyễn Văn Đông)

 

Tiếng gọi giục giã, nao nức …

Em không nghe ngoài kia

trời đông đã lên rồi / bao lót người đi…

(“Hành trang giã từ”, Trường Sa)

 

Thao trường đổ mồ hôi / chiến trường bớt đổ máu. Ngưỡng cửa đầu tiên các chàng trai phải vượt qua là những rèn luyện và thử thách của “đoạn đường chiến binh” nơi các quân trường để trở thành người lính thực thụ.

 

Đây tiếng ca vang nơi quân trường đầy hào hùng

Vai sát vai / ta thi tài trong tình quân ngũ…

Anh em ơi! Anh em ơi!

Đem sức trai nêu chí hùng / lưu tiéng ngàn thu…

Cố lên! Cố lên/ Dù nhọc nhằn

đem mồ hôi pha máu hồng / viết thành sử xanh

(“Thao trường vang tiếng gọi”, Trầm Tử Thiêng)

 

Như những mũi tên bắn đi bốn phương tám hướng trong ngày lễ ra trường, những chàng trai đất Việt “lên đường nhập ngũ tòng quân” vừa là đứng lên đáp lời sông núi, vừa để thỏa chí tang bồng hồ thỉ, vẫy vùng ngang dọc.

 

Vì thương nước thương dân, thương quê hương mịt mờ khói lửa, thương những kiếp người lầm than, những người trai hôm nay vào chiến dịch, nguyện thề “dâng cả đời trai với sa trường”. Những nắm tay xiết chặt, những bước chân đi tới, những ánh mắt rạng ngời.

 

Thương dân nghèo ruộng hoang cỏ cháy

thấy nỗi xót xa của kiếp đọa đày / Anh đi! …

 

Hành trang của người lính trong nhạc Phạm Đình Chương là lòng yêu nước thương dân, là lòng súng nhân đạo cứu người lầm than. Hành trang ấy là chính nghĩa, là lý tưởng của người lính miền Nam, là đối nghịch với sắt máu, với bạo tàn.

Dẫu biết rằng “cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi”, người lính chiến trên những tuyến đầu lửa đạn vẫn không hề nao núng lòng.

 

Không quên lời xưa đã ước thề

dâng cả đời trai với sa trường

Nam nhi cổ lai chinh chiến hề

nào ai ngại gì vì gió sương

“Anh đi chiến dịch”, Phạm Đình Chương)

Nhạc điệu rộn ràng và hùng tráng như một khúc quân hành.

 

2. “Anh đi mai về chiến thắng”

 

Người lính vẫn miệt mài đi, với lý tưởng phụng sự đất nước, với tinh thần quyết chiến quyết thắng cho một ngày hòa bình về trên quê hương.

 

Anh đi xây chiến thắng / dưới màu cờ quật cường

cho loài người hòa bình

“Dặn dò”, Thanh Châu)

 

Anh đi mai về chiến thắng

khi súng quân thù thôi vang trên non sông

Tươi thắm màu cờ vui reo trên kinh thành

(“Anh đi mai về”, Hoàng Nguyên)

 

Những đoàn quân trùng trùng tiến bước, “chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”.

 

Quân ra đi không luyến tiếc đời

Vui xa xôi xin nhớ phút về

đem vinh quang tô thắm nước nhà

Giờ đây đoàn quân cứ tiến!

(“Khởi hành”, Phạm Duy)

 

Câu nhạc kết thúc với hai nốt nhạc cuối rướn cao đột gột, mạnh mẽ, như bước chân dồn dập xốc tới… Những trái tim bừng bừng cảm xúc, những dòng máu sục sôi khí thế đã khơi nguồn nhạc hứng cho người nhạc sĩ để viết nên những bài hùng ca đẹp nhất và “hùng” nhất làm nức lòng chiến sĩ.

 

Ngày bao hùng binh tiến lên

bờ cõi vang lừng câu “Quyết chiến!”

Bước oai nghiêm theo tiếng súng đi tung hoành

Quân Việt Nam đi hồn non nước xây thành

Đi là đi chiến đấu! Đi là đi chiến thắng!

Đi là mang linh hồn non sông

“Xuất quân”, Phạm Duy)

 

“Xuất quân” của Phạm Duy là tiếng trống thúc quân dập dồn hòa cùng nhịp bước quân hành.

“Thúc quân” của Văn Giảng & Hương Việt là điệu kèn xung trận, là lời thúc giục bao trai tráng lên đường “diệt tan giống tham tàn”.

Nhìn trong hơi gió thoảng bóng quân Nam lướt đi

Thề cùng diệt tan giống tham tàn thúc quân vùng lên!

Nơi đây đất nước đang hiến bao đấng anh linh

Xương trắng xây thành / cố tâm đền núi sông ơn nhà

 

“Chí làm trai dặm nghìn da ngựa / gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao”(3) người lính chiến vào sinh ra tử, luôn cận kề những bất trắc hiểm nguy, tuy không da ngựa bọc thây nhưng cũng lắm khi đi không ai tìm xác rơi như những người hùng không tên tuổi.

 

Dù thân này tan tành gói da ngựa cũng cam

Thề trọn niềm trung thành với sơn hà nước Nam!

“Việt Nam minh châu trời đông”, Hùng Lân)

 

Người lính can trường xông pha trận mạc với tinh thần quyết chiến quyết thắng, với khí thế “đánh một trận, sạch không kình ngạc / đánh hai trận, tan tác chim muông” (4) làm khiếp đảm giặc thù.

 

Tiếng súng ta như mưa / khiến thù gục đầu

dường như vẫn còn nghe

(“Bài ca chiến thắng”, Minh Duy)

 

Như người lính chiến ôm súng mơ ngày về quang vinh trong nhạc Phạm Đình Chương, ngày vui chiến thắng, ngày thanh bình về trên quê hương là nỗi khát khao của cả một dân tộc trong một đất nước bao năm chiến tranh ròng rã.

 

Ngày mai ngày vui chiến thắng

đón anh về nắng vàng gieo nơi nơi

Đàn bé đùa nô trước thềm

Mẹ già vui / thôi hết khóc chia phôi

(“Gửi người giới tuyến”, Nhật Lệ)

 

Những đoàn quân ra đi năm nào với niềm tin tất thắng, nay trở về ca khúc khải hoàn trong vinh quang chiến thắng.

 

Thủ đô ơi, thủ đô! Đoàn quân ta đã về đây!

Sau bao nhiêu ngày luôn ước mơ

ngày chiến thắng quay về chốn xưa

 

“Bài ca chiến thắng” của Minh Duy là một trong những bài hùng ca đẹp nhất làm dậy lên niềm tự hào về một quân lực đi là đi chiến đấu! đi là đi chiến thắng!

 

Thủ đô ơi thủ đô! Đoàn quân ta đã về đây!

Tiếng reo vang, vang dậy một trời

lớp lớp tinh kỳ bay trong gió!

(“Bài ca chiến thắng”, Minh Duy)

 

Vòng hoa chiến thắng mà người dân hậu phương choàng vào cổ những người lính vừa trở về từ chiến trường lửa đạn là vòng hoa của tình quân dân thắm thiết, của lòng cảm phục, biết ơn và tin cậy.

 

Kìa đoàn quân chiến thắng trở về với xóm làng

thành công còn ghi dấu đầu súng

Những tấm gương kiêu hùng / phất phới vui trong lòng

Bầu trời thủ đô đón mừng!

(“Bài ca chiến thắng”, Minh Duy)

 

Còn nỗi mừng vui nào lớn hơn, còn nỗi xúc động nào lớn hơn được trông thấy lại lá cờ thân yêu bay lồng lộng giữa bầu trời tổ quốc, trên thành phố quê ta vừa chiếm lại đêm qua bằng máu. Lá cờ vàng thấm máu những người lính kiêu hùng vừa ngã xuống đêm qua.

 

Cờ bay! Cờ bay oai hùng trên thành phố thân yêu

vừa chiếm lại đêm qua bằng máu…

Cờ bay! Cờ bay tung trời ta về với quê hương

từng ngóng đợi quân ta tiến về

(“Cờ ta bay trên Quảng Trị thân yêu”, Lê Kim Hoa)

 

Những người lính quả cảm dựng lại ngọn cờ vàng trên những thành quách đổ nát sau trận chiến khốc liệt giành lại từng tấc đất quê hương là một trong những cảnh tượng bi hùng nhất của những trang sử Việt.

 

“Lòng ta như thành này

Vinh quang trong tan nát?”

 

Câu thơ của Cao Tiêu là cảm xúc thực lòng của người lính trong những phút lặng nhìn ngọn cờ chiến thắng tung bay giữa hoang tàn đổ nát, khi chiến trận vừa kết thúc.

 

Vui bên nhau mắt lệ nghẹn ngào / quỳ hôn đất thân yêu

Quảng Trị ơi, chào quê hương giải phóng!

(“Cờ ta bay trên Quảng Trị thân yêu”, Lê Kim Hoa)

 

Những hy sinh gian khổ, những máu xương người lính đổ ra nơi tiền tuyến để giữ yên bờ cõi và mang về cuộc sống yên lành, ấm êm cho hậu phương vẫn luôn được người đời khắc ghi.

 

Anh về thủ đô biết bao là vui

đã để lại đây mến thương đầy vơi

Người dân nước Việt ghi ơn các anh

đã hy sinh vì giống nòi

(“Anh về thủ đô”, Y Vân)

 

Chiến thắng nào, vinh quang nào cũng phải trả giá. Cái giá đắt nhất người lính chiến phải trả là máu xương, là xác thân mình. Có xác phơi thây chiến địa, dưới chiến hào hay trên bờ tường. Có xác nằm lại trên đồi cao hay dưới vực sâu, bên khe suối hay cạnh bìa rừng. Có xác của người chiến sĩ vô danh, máu thấm vào lòng đất mẹ, thịt xương rã mục lẫn vào cỏ cây hoa lá. Làm sao kể hết được những hy sinh đền nợ nước của những anh hùng liệt sĩ sống anh dũng, chết hiên ngang, “nhẹ xem tính mệnh như mầu cỏ cây”. (3)

 

Ngày nào phơi xác nhớ không!

Thây rơi mênh mông trên khắp phố phường

Thân ôm tường / đầu gục đầu!

Ai trên đường / người nhuộm máu

Thây rơi trong đêm khuya lấp chiến hào

“Khởi hành”, Phạm Duy)

 

Biết bao người lính đi không hẹn ngày về, đi không về lại nữa. Biết bao người lính đã để lại một phần thân thể mình trên khắp các mặt trận để mang về những chiến công.

 

Chàng về / chàng về nay đã cụt tay

Máu đào đã nhuốm trên thây bao nhiêu quân thù

(“Nhớ người thương binh”, Phạm Duy)

 

Người lính miền Nam đã chiến đấu can trường và hy sinh anh dũng để gìn giữ từng tấc đất cha ông để lại và bảo vệ vùng trời, vùng biển quê hương, cho dù máu xương có hòa lẫn vào lòng đất mẹ, cho dù xác thân có vùi sâu dưới lòng biển cả hay tan biến vào không gian.

 

Chiều nao / thương ôi rụng cánh đại bàng! …

Chiều nao huy hoàng / bụi vàng bay khắp không gian

(“Huyền sử ca một người mang tên Quốc”, Phạm Duy)

 

Biết bao nhiêu khúc hát về người lính, biết bao nhiêu khúc nhạc hào hùng (chưa kể những khúc quân hành, những bài hùng ca, chiến đấu ca của các quân binh chủng) ngợi ca tinh thần chiến đấu và hy sinh cao cả của người lính chiến một lòng vì nước vì dân trong kho tàng âm nhạc Việt.

 

Bản trường ca về người lính

 

“Nhạc lính”, như cách gọi ở miền Nam Việt Nam từ những năm đầu thập niên 1960’s, được hiểu là những bài nhạc nói về người lính và đời lính, hoặc về những nỗi niềm, những tâm tình của người lính. Nhạc lính đã đi vào đời sống của người dân trong một đất nước chiến tranh triền miên, trong đó người lính trở thành hình ảnh thật quen thuộc trong mắt, và trong lòng mọi người.

 

1. Phác họa về người lính

 

Anh là người lính chiến

áo bạc mầu đấu tranh

(“Tình quê hương”, Đan Thọ & Phan Lạc Tuyên)

 

Câu hát ấy là một trong những nét ký họa hình ảnh người lính trong số bao nhiêu người lính thời chiến tranh ta vẫn gặp đâu đó trên khắp các nẻo đường đất nước.

 

Tôi lại gặp anh / người trai nơi chiến tuyến

súng trên vai bước về qua đường phố

(“Trăng tàn trên hè phố”, Phạm Thế Mỹ)

 

“Người trai nơi chiến tuyến” ấy, một chiều nào trên bước đường hành quân, ghé qua một thôn làng miền Trung. Làng quê nghèo xơ xác, nhưng ấm áp tình người. Một vạt nắng vàng, một bóng trăng lung linh, chút tình cảm vấn vương, xao xuyến.

 

Anh về qua xóm nhỏ /Em chờ dưới bóng dừa

Nắng chiều lên mái tóc / Tình quê hương đơn sơ

 

“Tình quê hương đơn sơ” như hạnh phúc thật đơn sơ, thật êm đềm làm ấm lòng người lính chiến.

 

Anh sẽ là anh đàn em nhỏ

là con của mẹ giữ quê hương

(“Tình quê hương”, Đan Thọ & Phan Lạc Tuyên)

 

Là con của mẹ giữ quê hương…, có hình tượng nào gần gũi hơn, thân thiết hơn! Từ những mẹ già đến những em thơ, từ thành thị đến thôn quê, chàng lính chiến luôn luôn là hình ảnh thân quen, luôn luôn được nhắc đến với những tình cảm thương yêu và tin cậy. Người lính có thể là người chồng, người cha, người con, người anh, người em, người bạn, người tình…, những người đang nắm chắc tay súng giữ yên bờ cõi, đem yên vui về cho làng xóm ruộng vườn, cho người người được hít thở không khí tự do, cho nhà nhà được đêm đêm tròn giấc ngủ.

 

Bờ tre quê hương tay súng anh gìn giữ

“Trăng tàn trên hè phố”, Phạm Thế Mỹ)

 

Những đêm “trăng treo đầu súng”, những đêm trăng di hành thay cho những đêm trăng hò hẹn của những chuyện tình thư sinh”.

 

Những đêm mười sáu trăng tròn

vượt con đường mòn đi giữ làng thôn.

(“Mười sáu trăng tròn”, Trần Thiện Thanh)

 

Tình quân dân thắm thiết qua những ánh mắt trao gửi, dõi theo bước chân đoàn quân ra đi.

 

Bao em tôi đôi mắt sáng ngời

trông say sưa quân dồn bước tiến

Tóc bạc trắng đây là những me tôi

lòng già buồn vui nhìn toán quân xa vời

(“Đoàn quân đi”, Việt Lang)

 

Cảm xúc “lòng già buồn vui” là cảm xúc nao nao của lòng thương mến và nỗi tự hào về đàn con yêu hiến dâng đời mình cho tổ quốc.

 

Trong trái tim mơ mộng của những cô gái đang xuân thuở ấy là hình ảnh chàng lính chiến phong sương với “nhịp bước oai hùng chàng tiến trong tim em”

 

Chiến sĩ của lòng em đắm đuối ước mơ

ngoài chiến trường xa dãi nắng dầm mưa

Nhịp bước oai hùng chàng tiến trong tim em

trong khi vang ca say theo chiến thắng

(“Chiến sĩ của lòng em”, Trịnh Văn Ngân)

 

Bài hát một thời rất được yêu chuộng qua những giọng Tâm Vấn, Thái Thanh, Thúy Nga… (nhớ lối nhấn giọng ở hai nốt nhạc “đắm đuối” của Thúy Nga trong câu hát “… em đắm đuối ước mơ”, nghe rất là… đắm đuối).

 

Những câu hát về nỗi lòng các cô gái là “người yêu của lính” thuở ấy vẫn có những nhịp bước “oai hùng” như thế…

 

Chiều nay quân xuôi qua thôn vắng

có cô em ngây thơ dừng gót hồng

nhìn theo anh binh tươi trong nắng / bước đi oai hùng

(“Mơ người lính chiến”, Mai Sơn)

 

Anh / nơi biên thùy xa / vắng muôn màu hoa

Không hề nao núng lòng / oai hùng nơi chiến trường

(“Tôi nhớ tên anh”, Hoàng Thi Thơ)

 

Vẫn có khí phách “hiên ngang” như thế…

 

Lòng em say vì nhớ đến chàng

đang hiên ngang tung hoành trong khói súng

(“Chàng đi theo nước”, Hiếu Nghĩa)

 

Khi nước nhà phút ngả nghiêng

em mơ người trai anh dũng

mang thân thế hiến giang san

chí quật cường hiên ngang

(“Chiến sĩ của lòng em”, Trịnh Văn Ngân)

 

Tôi đi tìm anh / người lính quá hiên ngang

cầm súng giữ giang san xây Cộng Hoà

(“Tìm anh”, Hoàng Thi Thơ)

 

Người lính quá hiên ngang trong những câu hát ấy được “minh họa” rõ nét là người lính Cộng Hòa trên khắp nẻo đường đất nước. Tôi đã “đi tìm” và… “tôi đã gặp”:

 

Tôi đã gặp anh / người anh quá hiên ngang

đi xây cuộc đời / vì lứa tuổi đôi mươi.

Biên cương xa xôi / anh vì yêu sông núi

đem vinh quang gieo ngàn nơi

(“Tôi đã gặp”, Minh Kỳ)

 

Không chỉ “oai hùng”, “hiên ngang”, người “chiến sĩ của lòng em” ngày ấy còn đượm những nét “phong trần”, “phong sương” của mưa rừng gió núi, của nắng sớm sương chiều và những gian truân đời lính.

 

Ngắm em thơ ngập ngừng

nhìn người lính chiến phong trần

niềm thương dâng lên mầu mắt

(“Chim trời chưa mỏi cánh”, Đào Duy)

 

Chợt thấy lòng lưu luyến / và tâm hồn xao xuyến

Trông anh trai phong sương / em thấy mà thương

(“Đò chiều”, Trúc Phương)

 

Những đoàn quân ra đi trong tiếng nhạc hùng tráng, rộn rã, thúc giục, và những “khăn hồng” tiễn đưa.

 

Ra biên cương! ra biên cương!

Thiết tha lòng gái / hôm nay nâng khăn hồng

đưa chân anh hùng ngàn phương

(“Đường ra biên ải”, Phạm Duy)

 

“Đường ra biên ải” có thể xem là bài hát đầu tiên về những “em gái hậu phương” tiễn đưa những anh trai tiền tuyến nô nức lên đường.

 

Đoàn quân đi giữa sóng mến thương

Xuân về mùa thắm

Tôi thấy những nàng khăn hồng lệ thắm

(“Đoàn quân đi,, Việt Lang)

 

Người ở lại vui trong nỗi đợi chờ, cầu mong người chiến sĩ lập nhiều “chiến công oai hùng”, với giấc mơ mùa xuân nào thanh bình chàng trở về chốn cũ, nơi “lệ thắm khăn hồng tiễn đưa”.

 

Rồi xuân đến dưới gốc mai xưa

nơi lệ thắm khăn hồng tiễn đưa

Em chào đón chàng về vinh quang

bên chàng say đắm một trời xuân thanh bình…

 

Em chúc cho chàng lập chiến công oai hùng

Vang vang lời chiến thắng

muôn thu danh chàng lừng lẫy núi sông

(“Chàng đi theo nước”, Hiếu Nghĩa)

 

Người ra đi không hẹn ngày về, không vướng bận tình thê nhi. Người ở lại vẫn một niềm son sắt thủy chung.

 

Anh ơi, anh cứ đi / mai về, em vẫn đợi

Anh cứ đi / anh cứ đi giết thù

không vấn vương / không luyến thương

(“Lời người ở lại”, Hoàng Nguyên)

 

“Anh đi em ở lại nhà / Vườn dâu em hái, mẹ già em thương”. Nỗi lòng người chinh phụ thuở xưa và những “cánh hoa thời loạn” đời nay không khác nhau bao nhiêu.

 

Thương người gió lạnh đường xa

khuê phòng em đan áo

Thương đời bé bỏng miền quê / anh giữ yên biên thùy

(“Tình chàng ý thiếp”, Y Vân)

 

Phía sau những chiến tích vẻ vang của người lính luôn có bàn tay góp sức của những người thân yêu, những người hy sinh hạnh phúc riêng tư, gánh chịu mọi thiệt thòi, chấp nhận mọi mất mát, rủi ro và chia sớt những nhọc nhằn của người lính trong cuộc chiến đấu gian nan chống kẻ thù xâm lược.

 

2. Nỗi niềm người lính

 

Tôi là lính / âm thầm tôi nghĩ thế thôi…

(“Lính nghĩ gì?”, Hoài Linh)

 

Câu hát ấy cho thấy người lính vẫn có những nỗi niềm, những tâm sự đầy vơi trong những lúc “bạn cùng cây súng”.

Những nỗi niềm ấy đọc thấy qua những dòng thư viết từ chiến trường gửi về người mẹ hiền yêu dấu nơi chốn xa quê nhà, hẹn ngày về bên mẹ khi non nước yên vui, khi quê hương không còn bóng giặc thù.

 

Mẹ ơi, thôi đừng khóc nữa!

cho lòng già nặng sầu thương

Con đi say tình viễn xứ / đâu có quên niềm cố hương

Thương ngóng về quê cũ /gót thù xéo thảm thê

Bầy trai thầm rơi lệ / súng gươm hẹn mai về

(“Lá thư gửi mẹ”, Nguyễn Hiền & Thái Thủy)

 

Hay trong những câu hát bày tỏ nỗi thương quê nhớ mẹ của người lính xa nhà.

 

Đây những chiều hành quân / Xóm nghèo dừng chân nhớ thương mẹ già nơi quê nhà xa xôi lắm

“Chiều biên khư”, Tuấn Khanh & Châu Ngân)

 

Nhớ thương là vậy, thế nhưng… “Mẹ thà coi như chiếc lá bay” (7) khi quê hương còn tiếng súng, khi những đồng đội con còn đón xuân ngoài chiến trường. “Mẹ thương con xin đợi ngày mai…”, câu hát réo rắt cất lên mỗi lần Tết đến xuân về, qua giọng chứa chan tình cảm của Duy Khánh làm chảy nước mắt những bà mẹ già ngày ngày tựa cửa ngóng tin con.

 

Con biết không về mẹ chờ em trông

nhưng nếu con về bạn bè thương mong

Bao lứa trai cùng chào xuân chiến trường

không lẽ riêng mình êm ấm

Mẹ thương con xin đợi ngày mai

(“Xuân này con không về”, Trịnh Lâm Ngân)

 

Những nỗi niềm ấy cũng gửi gấm trong lá thư kể chuyện đời lính gửi về “người em nho nhỏ quê nhà” …

 

Đã cách xa bao năm / sống cuộc đời quân nhân

súng bên mình nay mai rày đây đó

Chiến đấu ngăn quân thù

vì anh xót thương khi quê hương lầm than

(“Lá thư người chiến sĩ”, Phạm Đình Chương)

 

“Cuộc đời quân nhân” là cuộc chiến đấu gian nan, là những cuộc hành quân lội suối băng rừng, là những đoạn đường chiến binh người lính đã vượt qua và những trăn trở về một quê hương rách nát vì chiến tranh.

 

Tôi thường đi đó đây / bùn đen in dấu giày …

Đêm đêm nằm đường ngăn bước thù

Áo nhà binh thương lính / lính thương quê / vì đời mà đi

(“Trên bốn vùng chiến thuật”, Trúc Phương)

 

Những nỗi niềm ấy cũng là chuyện “buồn vui đời lính” của những lần về phép, những chuyến về thăm nhà.

 

Ngồi bên lửa bếp gia đình êm ấm

lặng nghe anh kể cuộc đời buồn vui

(“Chiều biên khu”, Tuấn Khanh & Châu Ngân)

 

Chuyện đời lính kể mãi kể hoài không hết, từ những mẩu chuyện chiến trường đến nỗi nhớ thương quê nhà canh cánh bên lòng.

 

Ngày trở về trong bếp vui / anh nói chuyện nghe

chuyện đời chiến sĩ / sống say mê

đường xa lắm khi nương hồn về quê

(“Ngày trở về”, Phạm Duy)

 

Những nỗi niềm ấy cũng là lời giải bày với người vợ hiền đầu gối tay ấp hay với người tình gắn bó thương yêu về những hoài bão và lý tưởng của người trai thời chiến.

 

Nếu biết người đi vì sông núi

Cách chia này cho hạnh phúc mai sau

chắc em không buồn vì người đi cho lý tưởng

(“Kể chuyện trong đêm”, Hoàng Trang)

 

Chiến tranh là cách ngăn, chia lìa. Chút niềm riêng đành gác lại, vì tình nước sâu hơn tình lứa đôi.

 

Đời dâng cho núi sông

Lòng này thách với tang bồng

đừng làm má thắm phai hồng / buồn lắm em ơi!

(“Khúc tình ca hàng hàng lớp lớp”, Nguyễn Văn Đông)

 

Khi quê hương còn mịt mù khói súng, còn tơi bời lửa đạn thì mơ chi chuyện lứa đôi.

 

Nếu hiểu rằng / anh đi vì lũ giặc tham tàn

thì em ơi, em chớ sầu thương chi

Em thấy chăng khói súng của giặc thù

còn mịt mùng và còn che khuất mờ

(“Anh đi mai về”, Hoàng Nguyên)

 

Lời hát và nhạc điệu nghe réo rắt, gợi nhớ tiếng hát đôi song ca Ngọc Cẩm-Nguyễn Hữu Thiết quyện vào nhau ngọt ngào và thiết tha của một mùa nào.

Những lời vỗ về, nhắn nhủ thiết tha ân cần, và hẹn một ngày về không xa.

 

Em ơi, anh đi vì nước non mình đợi chờ

Muôn quân đang reo / lửa khói tung ngập mầu cờ

Thân trai ra đi nợ nước đôi vai gánh nặng

Buồn chi cách xa / vì ngày vui sẽ không xa

(“Buồn chi em ơi”, Lam Phương)

 

Những thoáng hạnh phúc hiếm hoi bên người mình thương yêu.

 

Đừng buồn khi xa nhau em nhé!

Thăm em đôi ngày rồi anh đi

(“Hoa soan bên thềm cũ”, Tuấn Khanh)

 

Những phút “tâm tình bên nhau” thật ngắn ngủi, và chia tay vội vã.

 

Nụ cười đầu môi anh khẽ nói

“Về thăm em chiều nay thôi

sông hồ mai sớm lại đi” …

(“Chiều mưa anh về”, Trần Thiện Thanh)

 

Con đường đấu tranh gian khổ còn dài, người lính chiến, những chàng trai ôm mộng hải hồ, bạn cùng sương gió, dừng chân phút giây thôi rồi lại lên đường, lại miệt mài đi trên những dặm sơn khê, trên khắp các nẻo đường đất nước để mang về mùa xuân mới cho quê hương.

 

3. Giấc mơ người lính

 

Ai nói với em lính không sầu nhớ / không có trái tim đắm say mộng mơ… (“Ai nói với em”, Minh Kỳ & Huy Cường), câu hát quen thuộc vẫn nghe trên các làn sóng phát thanh ở miền Nam một thời nào, cho thấy hình ảnh “cổ điển” của những người lính “lạnh lùng vung gươm ra sa trường” (“Chiến sĩ Việt Nam”, Văn Cao) đã… lỗi thời. Thay cho mẫu người lính sắt đá, lạnh lùng là hình ảnh gần gũi, thân quen, đẹp và đôi lúc pha những nét… “lãng mạn đời lính”.

 

Anh như ngàn gió / ham ngược xuôi theo đường mây

Tóc tơi bời lộng gió bốn phưong

(“Mấy dặm sơn khê”, Nguyễn Văn Đông)

Trên “mấy dặm sơn khê”, trên bốn vùng chiến thuật, nơi đâu cũng in hằn dấu chân người lính. Cuộc đời lính chiến và những năm dài chinh chiến điêu linh đã khiến cho những lứa đôi yêu nhau phải… người ở một phương nhớ một phương.

 

Em biết chăng đời lính / nắng sớm với sương chiều

Gió rừng rồi mưa núi / đã làm anh vui nhiều

(“Niềm tin”, Anh Linh & Nhất Tuấn)

 

“Chí lớn chưa về bàn tay không” (5) thi sá gì chút tình riêng. Người trai ra đi mang trong tim hoài bão thiết tha phụng sự đất nước, nối chí người xưa để mang về một vận hội mới cho quê hương.

 

Còn đây đêm cuối cùng

nhìn em muốn nói chuyện người Kinh Kha

ngại khơi nước mắt nhạt nhòa môi em

(“Khúc tình ca hàng hàng lớp lớp”, Nguyễn Văn Đông)

 

Những “em gái hậu phương”, như những đóa hồng bên những hầm hố và hàng rào kẽm gai, vẫn mong được bàn tay người trai hùng “đem tưới vun trong vườn”.

 

Xin anh che chở / tấm đời nhỏ bé hậu phương

như câu chuyện tình “Người hùng và giai nhân “

Những cánh hoa hồng / bên hàng rào kẽm hầm chông

vẫn mong bàn tay người đem tưới vun trong vườn

(“Cánh hoa thời loạn”, Y Vân)

 

Chàng lính chiến vui say đời quân ngũ ngoài chiến trường xa vẫn có những phút thả hồn theo mây gió, trăng sao tìm về bên người mình yêu.

 

Bao tháng ngày phong sương đường xa

vui chiến trường quên áo hào hoa

Tôi sẽ về tìm em / khi trời lấp lánh sao đêm

và gió trăng theo từng bước chân êm…

(“Tôi sẽ về thăm em”, Hoàng Nguyên)

 

Nét “lãng mạn đời lính” còn theo bước chân người lính trên những dặm đường hành quân.

 

Ngày hành quân / anh đi về cánh rừng thưa

thấy sắc hoa tươi nên mơ màu áo năm xưa

(“Màu kỷ niệm”, Phạm Đình Chương)

 

Hay trên những tiền đồn heo hút miền địa đầu giới tuyến.

 

Anh ở đồn biên giới / thương về một khung trời

(“Niềm tin”, Anh Linh & Nhất Tuấn)

 

Khung trời nào đây, nếu không phải là thành phố ấy, thành phố cao nguyên đầy mây trắng và sương mù. Câu hát làm nhớ câu thơ của “người lính” Vũ Thành.

 

“Nơi em về có gì vui

Nơi anh đồn trú suốt đời mây bay”

 

“Suốt đời mây bay” nên quên cả ngày tháng, quên cả bốn mùa, cho đến lúc trông thấy những nụ mai vàng mới nở ở bìa rừng mới hay là… mùa xuân đang về.

 

Đồn anh đóng ven rừng mai

Nếu mai không nở / anh đâu biết xuân về hay chưa

(“Đồn vắng chiều xuân”, Trần Thiện Thanh)

 

Giữa đêm giao mùa, giữa phiên gác đêm, giữa tiếng súng xa vang rền, người lính mơ về những ngày xuân êm đềm.

 

Xác hoa tàn rơi trên báng súng

ngỡ rằng pháo tung bay / ngờ đâu hoa lá rơi

(“Phiên gác đêm xuân”, Nguyễn Văn Đông)

 

Rồi đây, khi mùa dứt chiến chinh / gió dâng khúc đàn thanh bình(6) là khi người chiến binh “giã tư vũ khí”, tìm về bên người yêu dấu để tay trong tay đi xây lại chuyện tình và nối lại những giấc mơ chưa tròn.

 

Nếu một mai khi hòa bình / anh sẽ trở về như giấc mơ

cho từng ngón tay đan lại ái ân ngọt mềm …

Từng đêm không còn tiếng súng

Ngủ đi em / ngủ cho yên…

(“Lời cho người yêu nhỏ”, Trần Thiện Thanh)

 

“Anh sẽ trở về như giấc mơ”, câu hát thật là đẹp! Giấc mơ ấy cũng thật là đẹp. “Đêm không còn tiếng súng”, quê mình thôi hết chiến tranh, giấc mơ ấy không chỉ riêng của người lính mà của triệu triệu người Việt, của cả một dân tộc khao khát tự do, mơ ước thanh bình sau bao năm dài quê hương chìm ngập trong khói lửa chiến tranh.

 

Mai đây núi sông yên vui / anh xong nhiệm vụ người trai

sẽ sống với em cuộc đời

hạnh phúc trong gió tự do muôn nơi

Em yêu, đôi chờ em ơi!…

(“Lá thư người chiến sĩ”, Phạm Đình Chương)

 

Em yêu, đợi chờ em ơi!… Câu hát ấy, lời nhắn nhủ ấy nghe thiết tha đến chạnh lòng! Như người mẹ già ngày ngày tựa cửa ngóng tin con, “người chinh phụ” đời nay vẫn năm chờ tháng đợi mỏi mòn.

Người lính vẫn hẹn một ngày về, người vợ hiền ở miền quê xa xôi -như bao người vợ hiền thuở ấy- vẫn cứ đợi chờ, đợi chờ mãi trong giấc mơ ngày nào người lính trở về.

 

4. Màu cờ còn tươi, tình yêu còn thắm

 

Lòng yêu nước thương dân, tinh thần hy sinh gian khổ và chiến đấu anh dũng vì lý tưởng tự do và sự sống còn của đất nước trong những hoàn cảnh nghiệt ngã nhất là những nét chính khắc họa nên hình tượng người lính Việt Nam Cộng Hòa.

 

Chiến tranh đã đi qua nhưng những khúc hát về người lính quả cảm từng cầm súng chiến đấu dưới màu cờ tổ quốc để bảo vệ ừng tấc đất quê hương, mỗi lần nghe lại vẫn nghe dậy lên niềm kiêu hãnh, nỗi tự hào về một thiên anh hùng ca của dân tộc.

 

Những lời ca tiếng nhạc ấy, “bản trường ca về người lính” ấy, hơn lúc nào hết, trỗi dậy trong tôi vào một ngày thật khó quên, ngày tôi được gặp lại lá cờ tôi yêu, gặp lại những người lính năm xưa “chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”.

Những người lính năm xưa ấy, một số đã lìa đời, một số tóc đã điểm sương hay đã bạc trắng mái đầu, tôi vẫn gặp đâu đó, vẫn sống lặng lẽ đâu đó quanh đây trong buổi hoàng hôn của đời người.

 

Những người lính “một thời ngang dọc” ấy, những người lính “nợ nước vai mang” ấy, từng phụng sự cho những lý tưởng cao đẹp, từng trải những vinh quang và nhục nhằn của một thời kỳ bi tráng nhất trong lịch sử dân tộc.

Những người lính ấy hẳn phải có trái tim rất lớn.

 

Sau những vẻ mặt lặng yên, tưởng như bình thản ấy, là những tơi bời của lửa đạn đã im tiếng, là những giông bão của lịch sử đã lắng chìm. Những người lính cũ tôi gặp lại hôm nay, lòng vẫn hướng về quê hương tội tình, vẫn nhớ về những “mảnh đất chiến trường xưa” của một thời binh lửa, vẫn ngậm ngùi một nỗi tiếc thương những đồng đội đi mãi không về.

 

Hơn bao giờ hết, tôi nhận rõ một điều, những người cựu chiến binh ấy, những “người lính già” ấy “không bao giờ chết, họ chỉ nhạt mờ đi thôi”. Những người lính dũng cảm của một quân lực dũng cảm vẫn đang sống và còn sống mãi trong tâm tưởng người đời, như ngọn lửa vĩnh cửu vẫn tỏa sáng trên những đài tưởng niệm chiến sĩ anh hùng, như ngọn cờ màu vàng tươi vẫn bay ngờm ngợp trong nắng, trong gió giữa trời tự do.

Lá cờ phơi phới như mang theo niềm tin yêu mới.

 

Tôi hiểu được vì sao tôi vẫn gặp những người cựu chiến binh ấy trong những lễ chào quốc kỳ. Tình yêu của họ dành cho lá cờ ấy vẫn còn nguyên vẹn, vẫn không hề nhạt phai.

Ngước mắt trông theo lá cờ ấy, tôi vẫn còn trông thấy “muôn bóng quân Nam chập chùng”, vẫn còn trông thấy “thấp thoáng trong mây” những anh hùng tử sĩ, những chiến sĩ vô danh.

 

Ngước mắt trông theo lá cờ ấy, tôi vẫn còn trông thấy tình yêu của biết bao người, những người tôi thương tôi yêu và tôi ngưỡng phục. Những người đã dám sống và dám chết cho màu cờ ấy. Những người đã nằm xuống để giữ cho tình yêu ấy còn nguyên vẹn màu cờ.

Tình yêu ấy không mất đi, như lá cờ ấy không mất đi. Tình yêu ấy còn sống mãi, như lá cờ ấy còn sống mãi, còn bay bay mãi trong nắng sớm, trong gió chiều. Ôi những đoàn quân ra đi, ôi bao chiến sĩ hiên ngang đã “hiến thân dưới cờ” để giữ cho màu cờ ấy còn tươi mãi, cho tình yêu ấy còn thắm mãi.

 

Những trang sử Việt đời đời còn ghi mãi những chiến tích vẻ vang, những chiến công lừng lẫy một thời của biết bao người lính đã chiến đấu can trường, đã hiến dâng đời mình và cả máu xương mình cho tình yêu đất nước.

 

Nguồn sử xanh âm thầm vẫn sống

Bao mối thương vang động trong lòng!… (7)

Lê Hữu

trích: “Âm Nhạc Của Một Thời”, 2011

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 4

Lại Một Mùa Xuân Viễn Xứ

 

cũng chỉ mình anh nhìn qua cửa sổ
sân nhà người vạn thọ đã vàng bông
với đôi mắt cũng vàng hoe cố xứ
nghe hắt hiu chút nắng tạt bên lòng

lại chỉ mình anh qua hè phố lạ
chân lênh đênh không bước kịp tình người
nửa kiếp sống cứ thua hoài thiên hạ
sự nghiệp buồn gió thổi chiều ba mươi

rồi cũng mình anh ngùi thương kỷ niệm
giận ngày xưa quên tính chuyện ngày về
khi dong ruỗi với trăm lần lỡ vận
bỗng nghe thèm tắm lại nước sông quê

khu vườn nhà anh năm nay bão lớn
biết em còn qua ngõ cũ tìm nhau?
tóc có đủ che quanh ngày bất hạnh
khi mùa xuân chưa tới đã xanh xao

mẹ ở đó cũng buồn hơn tháng chạp
lòng mỏi mòn tựa cửa chừng ấy năm
buổi tàn đông trời vẫn làm mưa bấc
ngọn đèn run trong mắt mẹ âm thầm

anh ở phương nam dòng sông tưởng nhớ
ôi quê người không thể ấm thân quen
ai gọi tên anh một thằng viễn xứ
hồn đong đưa trên mấy sợi ưu phiền

chỉ biết một mình lui về ngõ hẹp
người chung quanh chắc đã đón giao thừa
anh xa xứ nên mùa xuân với Tết
cũng mơ hồ như những chuyện đời xưa.

Hoàng Lộc
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 10

HÃY THONG THẢ SỐNG !

Tôi vẫn mãi tâm đắc với câu nói của một thiền sư “Mình sợ cái chết, mình quỳ lạy van xin  nó, thì nó cũng sẽ đến. Sớm hoặc muộn thôi. Không ai tránh khỏi cả ! Vậy thì tại sao phải sợ nó ? Hãy sống vui, sống từng ngày, sống-và-biết-mình-cũng-sẽ-phải-chết nên trân trọng từng giây phút sống hàng ngày…”.
Cá nhân tui : tối nay đi ngủ, rùi sáng mai hổng dậy nữa, thì tui cho đó là hạnh phúc, có một cái chết perfect, và sẽ rất mang ơn thượng-đế.
Sống lây lất, sống tũi nhục, sống phải dựa vào người khác, cho dù ngươi đó là ai, sẽ rất khổ sở 
RDN. 
 
 

HÃY THONG TH SNG !
Tr
n Mng Tú.


Nhi
u khi chúng ta sng mà quên bng đi là mình có th chết bt clúc nào. Ta hi h sng, vui, bun, khe, yếu, ta c lướt qua ri không ngoái đu li nhìn chui ngày tháng ta đã tiêu hao ca mt đi người.
 
Cho đ
ến khi có mt người bn va ngã bnh, bnh nng, không biết s mt đi lúc nào, lúc đó ta mi xa, gn, ht hong gi nhau.
T
ưởng như chưa tng có người bn nào “Chết” bao gi
Hay ta có m
t người thân trong gia đình, đang rt khe va báo tin b bnh him nghèo. Gia đình, h hàng cung lên, s hãi như chưa nghe đến ai nói v cái chết bao gi, chưa chng kiến cnh vào bnh vin, cnh tang ma bao gi.
 
C
 hai người trên có thđã ngoài 70 tui. L tht ! Cái tui nếu có chết thì cũng đã sng khá lâu trên đi ri, sao nhng người chung quanh còn hong ht đến thế.
Hóa ra ng
ười ta, không ai mun nghe đến ch“Chết”, dù ch đó đến vi mình hay vi người thân ca mình.
 
Hình nh
ư không ai đ ý đến mi sáng chúng ta thc dy, nhìn thy mt tri mc (nếu còn đ ý đến mt tri mc) là chúng ta đã tiêu dùng cái ngày hôm qua ca đi sng mình
 
Có ng
ười vì công vic làm ăn, c tun mi có thi gi ngng mt nhìn lên mt tri.
Bu
i sáng còn ti đt đã hp tp ra đi, bui chiu vi vã tr v lúc thành ph đã lên đèn, làm gì nhìn thy mt tri. Nhưng mt tri vn nhìn thy h, vn đếm mi ngày trong đi h. Htiêu mt cái vn thi gian ca mình lúc nào không biết.
Tiêu d
n dn vào cái vn Tri cho mà đâu có hay. Ri mt hôm nào đó bng nhìn k trong gương, thy mình trng tóc.
H
t hong, tiếc thi gian quá! Khi nghe tin nhng người bn bng tui mình, bnh tt đến, tt theo nhau rơi xung nhanh như mt tri rơi xung nước, h va thương tiếc bn va lo nghĩ đến phiên mình.
 
Th
t ra, nếu chúng ta bình tâm nghĩ li mt chút, s thy “Cái chết” nó cũng đến t nhiên như Cái sng” .
Đ
ơn gin, mình phi hiu gia sng và chết là mt s liên h mt thiết, vì lúc nào cái chết cũng đi song song tng ngày vi cái sng.
 
D
u biết rng, đôi khi cũng có nhng cái chết đến quá sm, nhưng ta cũng đâu có quyn tkhước chết.
 
Tôi bi
ết có người m tr, con ca bn thân tôi. Ch b ung thư, ch cu xin Thượng Đế cho sng đến khi đa con duy nht ca mình vào Đi Hc.
Ch
 không cưỡng li cái chết, ch ch mc c vi Thượng Đế v thi gian vì con ch lúc đó mi lên 3 tui.
Th
ượng Đế đã nhn li ch. Ngày con ch tt nghip Trung Hc, chngi xe lăn đi d l ra trường ca con và tun l sau ch qua đi, bình thản ra đi…
Trong su
t mười my năm tr bnh, ch vn làm đ mi vic: ch đi tóc gi đi làm, đến sđu đn, ly ngày nghhè và ngày ngh bnh đi tr liu.
 
Nh
ng bn làm chung không ai biết ch b ung thư, ngay c xếp ca ch. Khi h biết ra, thì là lúc ch không đng được trên đôi chân mình na.
Ch
 sa son tng ngày cho cái chết của mình vi n cười trên môi. Vn va đi làm, va cơm nước cho chng con, ân cn săn sóc cha m, hin hòa giúp đ anh em trong nhà, ch mang nim tin đến cho tt c nhng người thân yêu ca mình.
Sau ba năm ch
 mt, cu con trai mi năm vn nhn được mt tm thip sinh nht m viết cho mình (M đã nhqua người dì gi h).
Hôm sinh nh
t 21 tui ca cu cũng vào ngày gi năm th ba ca M, cu nhn được tm thip mng sinh nht mình, vi dòng chnguch ngoc, ch viết cho con: “Mng sinh nht th 21 ca con. Hãy bước vui trong đi sng và nh rng mluôn luôn bên cnh con. “
 
Tôi đ
c nhng dòng chmà a nước mt.
 Tôi nghĩ đ
ến ch vi tt c lòng cm phc. Ch là người biết sng trong ni chết.
Khi không th
ng được bnh tt, ch biết hòa gii vi nó đ sng chm li vi nó tng ngày cho con mình. Chc “Cái chết” cũng nhân nhượng vi ch, thông cm vi ch nhưmt người bn.
 
M
t ch bn k cho nghe v mt bà bn khác. Bà này mi ngoài sáu mươi, nhanh nhn, khe mnh và tính nết vui v, yêu đi.
Nh
ưng khi nàđi ra khi nhà bà cũng mang theo mt b qun áo đc bit, đ c giy v b vào mt cái túi nh riêng trong va-li.
H
i bà, sao li đ b này ra riêng mt gói vy, bà thn nhiên nói:“Nếu tôi chết bt thình lình đâu, tôi có sn qun áo lim, không phin đến ai phi lo cho mình.”
Bà mang theo nh
ư thếlâu lm ri, tôi không biết có khi nào bà ngm nghía mãi, thy chưa dùng ti, bà li đi mt b mi khác cho ưng ýkhông?
Gi
ng như người ph nsp đi d tic hay cm lên, đ xung, thay đi áo qun sao cho đp. Đi vào cái chết cũng có thcoi như đi d mt đám tic.
 
Tôi nghĩ đây là m
t người khôn ngoan, sn sàng cho cái chết mà bà biết nó s đến bt c lúc nào.
Bà đón nh
n cái chết t nhiên, gin d nhưđi d tic, hay mt chuyến đi xa, đi gn, nào đó c
a mình.
 
Nh
ưng không phi ai cũng nghĩ v cái chết gin d như vy. Phn đông mun được sng lâu, nên bao gi gp nhau cũng thích chúc cho nhau tui th.
Thích h
i nhau ăn gì, ung gì cho tr trung mãi. Loài người nói chung, càng ngày càng thích sng hơn chết.
H
 tìm kiếm đ mi phương thuc đ kéo dài tui th. Người ta c đoán, trong mt tương lai rt gn, loài người có th sng đến 120 tui ddàng vi nhng môn thuc ngăn nga bnh tt và bi dưỡng sc khe.
 
R
i người ta s còn to ra nhng b phn mi ca ni tng đ thay thếcho nhng b phn gc b nhim bnh.
Gan, ru
t, bao t v.v, sđược thay như ta thay nhng phn máy móc ca mt cái xe cũ. Chúng ta, ri s sng chen chúc nhau trên mt đt này.
 
Ch
 tiếc mt điu là song song vi vic khám phá ra thuc trường thngười ta cũng phi phát minh ra nhng người máy (robot) đ chăm sóc nhng người già này, vì con cháu quá bn (chc đang chúi đu tìm thuc trường sinh) không ai có thi gichăm sóc cha m già.
 
Theo tôi, ng
m nhìn hình nh mt c ông hay mt c bà lưng còng, tóc bc, đang cô đơn ngi trong mt căn bung trng vng, được mt người máy đút cơm vào ming, tht khó mà cm đng, đôi khi còn cho ta cái cm giác ti thân na.
 
Nh
ưng sng như vy mà có người vn thích sng.
M
t người đàn ông ngoài by mươi, b bnh tim nng, đang nm trong phòng đc bit (ICU) lúc mơ màng tnh dy, nhn vi các con cháu là khi nào vào thăm không ai được mc áo mu đen. Ông kiêng c mu ca thn chết. Ông quên rng thn chết, đôi khi, có th đến vi chiếc áo mu hng.
 
Th
t ra, chính nh “cái chết” cho ta nhn biết là “cái sng” đp hơn và có giá tr hơn, dù cóngười sng rt cơ cc vn thy cuc đi là đp.
 
Nh
ng bc thiên tài, nhng nhà văn ln đã ttìm v cái chết khi hbt đu nhìn thy cái vô v trong đi sng nhưnhà văn Ernest Hemingway, Yasunari Kawabata và ha sĩ Vincent van Gogh, v.v… Chc h không mun sng vì thy mình không còn kh năng hưởng hết v đp ca “cái sng” na.
H
 là mt vài người trong s nh trên mt đt này sau khi chết đli tên tui trên nhng trang s, lưu li hu thế, còn phn đông nhân loi, sau khi chết mt thi gian, không đ li mt di tích nào Con cháu có th cúng được mt hai thế h, sau đó tên tui m dn, mt hn theo ngày tháng, vì chính nhng k thphng đó li tiếp theo nm xung cùng cát bi.
 
Ð
i sng con người chóng qua như c, nhưbông hoa n trong cánh đng, mt cơn gióthong đ làm nó biến đi, nơi nó mc cũng không còn mang vết tích.(Thánh Vnh)
 
Th
ượng Đế khi đem mình vào đi, có hi ý kiến mình đâu. Nên chc chn là khi Ngài gi mình đi cũng chng cn thông báo trước.
 
Chúng ta c
 thong thsng tng ngày, khi nào chết thì chết, mt tri mc ri mt tri ln, bông hoa n ri bông hoa tàn, thế thôi.
 
T
i sao ta phi cay cú vi cái chết? Hãy dùng trí tưởng tượng ca mình, th hình dung ra mt thế gii không có cái chết(*)
 
Ch
c lúc đó chúng ta skhông còn không khí mà th ch đng nghĩ đến có mt phiến đt cho bàn chân đng.
 
Tr
n Mng Tú .
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 11

Katherine Commale: cứu sống hàng triệu trẻ em ở Châu Phi

https://baomai.blogspot.com/
Katherine Commale 7 tuổi cứu sống hàng triệu trẻ em ở Châu Phi.
Liệu bạn có đang thắc mắc, một cô bé sẽ làm gì để cứu hàng triệu trẻ em khác, trong khi em mới đang tuổi ăn, tuổi lớn, đến trường và vui chơi. Thông thường, người lớn chúng ta thường đánh giá thấp khả năng của những đứa trẻ. Vậy, hãy cùng khám phá câu chuyện của Katherine Commale, cô bé sẽ cho chúng ta biết các em mạnh mẽ và có năng lực lớn hơn chúng ta nghĩ rất nhiều.
Vào một buổi chiều cuối xuân, 6 tháng 4 năm 2006, Katherine Commale, lúc đó là một cô bé 5 tuổi đang chăm chú theo dõi một chương trình truyền hình trên ti vi. Đó là bộ phim tài liệu nói về nạn sốt rét tại lục địa đen. Căn bệnh truyền nhiễm này đã gây ra thảm cảnh ở châu Phi thời điểm đó, cứ 30 giây lại có một trẻ em bị chết vì sốt rét.
https://baomai.blogspot.com/
Katherine ngẩn người trước những gì cô bé nghe được. Em không biết căn bệnh đó như thế nào, cũng không hình dung được cuộc sống khổ cực của người dân ở xứ sở xa xôi ấy. Nhưng cô bé biết và ấn tượng với con số vừa nghe.
Em ngồi xòe bàn tay nhỏ của mình, kiên nhẫn đếm từ 1 đến 30, rồi quay sang nhìn mẹ: “Mẹ ơi, vừa lại có một bạn nhỏ châu Phi nữa chết rồi. Chúng ta phải làm gì đó!”. 
https://baomai.blogspot.com/
Mẹ Lynda không biết trong tâm hồn của con gái bé nhỏ đang diễn ra điều gì. Cô chỉ biết, con gái đang thực sự quan tâm đến vấn đề này. Trái tim của con đang hướng về những đứa trẻ ở xa xôi ngàn dặm, cô bé đang lo lắng cho những bạn của mình.
Không chần chừ, cô Lynda cùng con lên mạng để kiểm tra và tìm hiểu thêm thông tin về căn bệnh. Khi mắc sốt rét, tính mạng của trẻ em rất mong manh, cơ hội sống không nhiều.
Katherine lo lắng hỏi mẹ, tại sao lại có nhiều người bị mắc sốt rét đến vậy. Vì châu Phi có quá nhiều muỗi, đây chính là thủ phạm khiến cho căn bệnh này trở nên phổ biến và lấy đi nhiều sự sống.
https://baomai.blogspot.com/
Chân dung cô gái nhỏ có tấm lòng nhân hậu.
Nhìn mẹ, Katherine tiếp tục hỏi, vậy có cách gì giúp bảo vệ họ trước những con muỗi hay không? Thật may mắn, có một cách: Họ phải dùng những chiếc màn. Chúng được tẩm chất diệt muỗi nên có thể giữ an toàn cho con người khỏi loài vật nhỏ nhưng nguy hại ấy. “Tại sao họ lại không dùng màn hả mẹ?”, cô gái nhỏ mong được hiểu đến cùng sự việc. “Vì những chiếc màn quá đắt đối với họ, họ không đủ tiền để mua chúng con ạ”, Lynda đã giải thích cho con gái của mình. Khatherine nghe và hiểu rõ.. Nhưng cô bé vẫn tự lư và tự nói với chính mình “Chúng ta cần làm gì đó”.
Một vài hôm sau, cô giáo gọi điện về cho mẹ Lynda thông báo rằng Katherine không nộp tiền ăn nhẹ. Thấy lạ, người mẹ trẻ đã nhẹ nhàng hỏi con rằng cô bé đã dùng số tiền đó để làm gì.. Và dưới đây là câu trả lời:
“Mẹ ơi, nếu con không ăn đồ ăn nhẹ ở trường, bình thường không ăn vặt, cũng không mua búp bê nữa, vậy thì có đủ để mua một chiếc màn không ạ?”. Vậy ra từ hôm xem xong chương trình đến giờ, cô gái nhỏ vẫn đang tìm cách để “làm một điều gì đó” cho các bạn nhỏ đang bị sốt rét đe dọa mạng sống. Mẹ Lynda đã hiểu mình phải làm gì, cô dẫn con gái tới siêu thị. Họ mua một chiếc màn để gửi tới châu Phi.
Mẹ còn giúp Katherine tìm một tổ chức để gửi món quà của em tới tận tay người cần nó. Họ đã may mắn tìm được Nothing But Net (tạm dịch: Không có gì ngoài chiếc màn) – một tổ chức chuyên gửi màn trực tiếp tới châu Phi xa xôi. Katherine đã tận tay gửi chiếc màn cho tổ chức này. Chỉ vài ngày sau em nhận được thư cảm ơn.
https://baomai.blogspot.com/
Ảnh tuyên truyền cho chiến dịch. Dòng chữ trên ảnh viết: 6,2 triệu người đã được cứu sống, nhưng chúng ta vẫn có thể cứu hàng tỉ người.
Qua thư, cô bé biết được rằng, mình là người nhỏ tuổi nhất quyên tặng màn. Hơn nữa, khi em quyên tặng đủ 10 chiếc màn, tổ chức sẽ trao tặng em một giấy chứng nhận.
Vậy là cô gái bé nhỏ xin mẹ cùng đi bán đồ cũ trong nhà. Cô bé muốn kiếm thêm tiền để mua màn tặng cho các bạn nhỏ châu Phi. Hiểu tấm lòng của con gái, cô Lynda đã cùng con bày bán đồ trong phiên chợ đồ cũ. Nhưng cách làm này không hiệu quả. Rất ít người để ý tới sạp hàng của họ.
https://baomai.blogspot.com/
Tuy nhiên, điều này không làm Katherine buồn. Em nghĩ tới tờ giấy chứng nhận mà Nothing But Net sẽ trao tặng cho những ai quyên đủ 10 chiếc màn. Đó chính là gợi ý: 
Em cũng có thể trao tặng một tờ giấy chứng nhận cho những người sẽ quyên tiền để em mua màn ủng hộ các bạn ở châu Phi. Một lần nữa, ý tưởng và tấm lòng của Khatherine bé nhỏ được cả nhà ủng hộ. Mẹ chuẩn bị nguyên liệu, bố dọn dẹp bàn làm việc còn em trai Katherine giúp chị vẽ những hình trái tim xinh xắn lên những tấm giấy chứng nhận. Còn công việc của cô bé chính là viết nên sứ mệnh của tấm giấy này: “Nhân danh bạn, chúng ta mua một chiếc mùng để gửi đến châu Phi”.
Katherine  tự tay làm những tờ giấy chứng nhận để dành tặng những người quyên tiền, với sự trợ giúp của cả nhà.
https://baomai.blogspot.com/
Khi nhìn thấy tấm giấy chứng nhận và được nghe câu chuyện của cô bé, những người hàng xóm  đã rất cảm động. Họ không chỉ mua những tờ giấy này mà còn tình nguyện góp công sức của mình để trợ giúp cho em. Mọi người cùng nhau làm thêm nhiều giấy chứng nhận khác nữa. Đó cũng chính là những người đã giúp Katherine quyên góp được 10 chiếc màn đầu tiên.
Tổ chức Nothing But Net nhanh chóng gửi thư cảm ơn đến cho em.. Họ không quên báo cho cô bé biết, 10 trong số 550 hộ gia đình ở làng Stiga (Ghana) đã nhận được món quà quý báu của em. Katherine nhận ra rằng 10 chiếc mùng là một con số quá nhỏ. Em tiếp tục nuôi dưỡng ước mơ của mình.
https://baomai.blogspot.com/
Katherine và mẹ Lynda trong một buổi diễn thuyết tại nhà thờ.
Không chỉ cha mẹ, những người hàng xóm, mục sư trong khu vực khi biết chuyện đã mời cô bé tới nhà thờ trò chuyện. Lần đó, Katherine đã quyên góp được 800 đô la. 
Sau buổi diễn thuyết này, em tiếp tục tới các nhà thờ khác để kể câu chuyện ở châu Phi xa xôi. Tấm lòng quan tâm, thái độ chân thành, trong sáng của em đã khiến nhiều người cảm động. Khi mới 6 tuổi, Katherine đã quyên góp được cho tổ chức Nothing But Net 6.316 đô la.
https://baomai.blogspot.com/
Nothing But Net đã đăng tải câu chuyện của Katherine lên internet, và nó đã mang đến rất nhiều hiệu ứng tích cực. Trong một lần xem các quảng cáo của tổ chức này, cô bé nhận ra có một người nổi tiếng cũng có chung niềm quan tâm với mình. Cầu thủ David Beckham, anh đã xuất hiện trong một quảng cáo của Nothing But Net. Điều này hẳn đã giúp rất nhiều trẻ em châu Phi có được tấm màn để tránh muỗi.
https://baomai.blogspot.com/
Katherine viết thư để cảm ơn Beckham vì hành động của anh, không quên đính kèm tờ giấy chứng nhận do em và những người hàng xóm đã làm. Một thời gian sau, bức thư được chính Beckham chia sẻ trên trang cá nhân. Tấm lòng, sự quan tâm của Khatherine dành cho các bạn nhỏ châu Phi vì thế cũng trở thành ngọn gió Đông, thổi tới tâm hồn của rất nhiều người khác.
Nhưng đó chưa phải là điều tuyệt vời nhất Katherine nhận được. Ngày 8 tháng 6 năm 2007, cô bé “đại sứ màn chống muỗi” đã nhận được thư từ chính những người bạn châu Phi. Các bạn gửi lời cảm ơn đến em và không quên cho cô bé biết một điều thú vị: “Cảm ơn màn mà bạn đã gửi cho chúng mình, chúng mình đã thấy ảnh của bạn, mọi người đều cảm thấy bạn rất xinh!”.     
https://baomai.blogspot.com/
Những trẻ em châu Phi đã nhận được tấm màn chống muỗi từ những trái tim nhân hậu như Katherine
Đây chính là động lực lớn giúp Katherine và những người bạn tiếp tục làm 100 tờ giấy chứng nhận để gửi cho 100 tỷ phú hàng đầu nước Mỹ, theo danh sách mà tạp chí Forbe công bố. Trong số đó, có đoạn cô bé viết cho tỷ phú Bill Gate. Chân thành, không chút sợ hãi, cô bé nêu lên yêu cầu của mình:
“Kính gửi ông Bill Gates, không có mùng chống muỗi, các bạn nhỏ ở châu Phi sẽ bị mất mạng do bệnh sốt rét. Họ cần tiền, nhưng nghe nói tiền đều ở chỗ của ông…”
Để đáp lại lời yêu cầu thẳng thắn của Katherine, Quỹ từ thiện của Bill Gate đã quyên góp 3 triệu đô la cho tổ chức Nothing But Net vào ngày 5 tháng 4 năm 2011.
https://baomai.blogspot.com/
Chỉ từ mong muốn “làm một điều gì đó” cho các bạn ở châu Phi, Katherine đã trải qua một hành trình dài và kỳ diệu để mang tới hàng triệu trẻ em châu Phi niềm hy vọng được sống. Cô bé không khi nào phải gồng mình hay diễn thuyết quá nhiều, lần nào em cũng cho mọi người hiểu được mong muốn duy nhất của mình “Cháu muốn tất cả những người ở châu Phi cần một chiếc màn sẽ có được một chiếc màn”.
https://baomai.blogspot.com/
Katherine cùng mô hình mùng cho trẻ em châu Phi của mình.
Đến năm 10 tuổi, Katherine đã quyên góp được 180.000 đô la để mua màn cho trẻ em châu Phi. Sau đó, em nhận được tin rằng số liệu khiến em ấn tượng khi 5 tuổi ấy đang ngày càng cao lên, thời điểm đó là 45 giây. Nghĩa là đã có nhiều trẻ em được cứu sống ở nơi xa xôi ấy. Hiện tại, con số này là 60 giây.
Bạn có thấy cô bé này đã làm được một điều kỳ diệu, và cũng không phải nói quá nếu nói rằng em đã làm được một công việc vĩ đại so với tuổi trẻ của mình. Điều gì khiến cô bé có thể làm được điều đó? Không phải là sự giàu có về tiền bạc, mà chính tình thương chân thật em mang trong trái tim đã tạo nên điều kỳ diệu đó. Bởi một trái tim yêu thương có thể khơi dậy được rất nhiều những trái tim yêu thương khác. Bạn thấy đấy, Katherine đã tạo nên một cộng hưởng tuyệt vời của những trái tim hướng về những người khốn khó mong manh.
https://baomai.blogspot.com/
Vậy bạn đã cảm nhận được năng lực của trẻ thơ, và nguồn cội của năng lực kỳ lạ đó? 
Trẻ em tuyệt vời hơn người lớn ở chỗ các em mang trong mình tình thương thuần khiết trong tim, và không có bất kỳ một quan niệm nào trong tâm hồn. Trong tâm hồn của những đứa trẻ không có người giàu hay người nghèo, chỉ có người cần giúp và người có thể giúp đỡ mà thôi.
https://baomai.blogspot.com/
Nhưng cũng cần dành một lời cảm ơn chân thành đến người mẹ nhân hậu của Katherine, cô Lynda Commale, người đã lắng nghe và giúp cho tình thương của cô gái nhỏ bay xa tới như vậy.
Câu chuyện của Katherine đã lay động trái tim của hàng triệu người.
https://baomai.blogspot.com/
Katherine đáng yêu và nhân ái.
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 19

Vào Xuân

 

Đi vào nẻo xuân
Gặp đường lụa đỏ
Ai chờ em đó
Mà hoa trắng ngần

Đi vào thanh tân
Như về quê ngoại
Lúa hương đồng gần
Đương thì con gái

Hẹn cưới phân vân
Em nhìn mê mải
Chuồn ngô ngủ mãi
Bờ ao cúc tần

Khép tà áo mới
Em vào đêm xuân.

Hoàng Cầm 

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 12