All posts by DieuNgoc Tran

Xuân Đất Khách

Ai có về bên kia đất nước
Thở giùm tôi hơi ấm quê hương
Tôi, con én lạc mùa xuân trước
Vẫn khóc âm thầm nơi viễn phương

Vẫn đến xuân về trên đất khách
Nghe buồn nhỏ giọt xuống vai tôi
Đèn ai thắp sáng bên kia phố
Nhớ quá, chao ôi, tiếng mẹ cười

Bếp lửa than hồng sao chẳng ấm
Tôi thèm một chiếc bánh chưng xanh
Thèm nghe ai nói lời tha thiết
Một lời chúc tụng bước sang năm

Ai có về bên kia đất nước
Chở giùm tôi nỗi nhớ qua sông
Hỡi em cô gái mùa xuân trước
Còn đứng hong khô áo lụa hồng

Lòng tôi cũng bạc theo màu áo
Chiếc pháo giao thừa cũng tả tơi
Chén rượu mừng xuân tôi chẳng uống
Chỉ uống đêm nay những ngậm ngùi

Trần Trung Đạo

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 1

Hình tượng người lính qua dòng nhạc Việt

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
(“Tây tiến”, thơ Quang Dũng)

 

Xa nhìn thấp thoáng trong mây

muôn bóng quân Nam chập chùng… (1)

 

Câu hát ấy, từ bao năm nay vẫn cứ theo tôi, theo tôi mãi. Câu chuyện bắt đầu tư những ngày xa xưa, thuở tôi còn là cậu học trò nhỏ vừa bước vào năm học đầu tiên của một trường trung học ở thành phố cao nguyên có cái biệt danh nghe buồn buồn là “Buồn-muôn-thuở”. Cậu học trò ấy, vào mỗi sáng thứ Hai, cùng chúng bạn đứng xếp hàng ngay ngắn trước sân cờ nao nức chờ đợi phút giây được tham dự vào nghi thức thượng kỳ đầu tuần trong bầu không khí thật trang nghiêm giữa sân trường thuở ấy.

 

“Đứng thẳng người,” thầy tôi dặn, “ngực ưỡn ra, miệng hát lớn, mắt hướng về lá quốc kỳ cho tới khi bài quốc ca chấm dứt.” Tôi đã làm theo đúng lời thầy, mắt dõi theo lá cờ từ từ từ từ được kéo lên, nhẹ bay trong gió. Lá cờ màu vàng tươi phấp phới bay trong nắng sớm giữa bầu trời lồng lộng, có từng cụm mây trắng lững lờ… Bỗng nhiên, trong một thoáng, câu hát ấy -không phải câu hát trong bài quốc ca – nghe vẳng lên trong đầu tôi, Xa nhìn thấp thoáng trong mây / muôn bóng quân Nam chập chùng… Cùng lúc, tôi như nhìn thấy thoáng ẩn thoáng hiện trong những cụm mây nơi phía chân trời mờ xa, “chập chùng” những đoàn quân đang tiến bước.

Tôi không thể biết chắc những gì tôi nghe thấy và trông thấy ấy, là tiếng nhạc ở trong đầu, là “bóng mây ảo giác”, hay là những bài hùng ca, những bài học lịch sử mà chúng tôi học được từ những người thầy đã in hằn trong tâm trí, khiến mỗi lần dõi mắt trông theo lá cờ vàng phất phới trong nắng trong gió là mỗi lần câu hát ấy lại vẳng lên và đoàn quân ấy lại “thấp thoáng trong mây”.

 

Chúng tôi trông đợi những sáng thứ Hai, trông đợi những phút được đắm mình vào không khí đầy vẻ cuốn hút của buổi lễ thượng kỳ. Không khí ấy, với tôi, như mang một vẻ gì thiêng liêng, như nhuốm một vẻ gì bi tráng của những trang sử Việt hào hùng, của những chiến công thần kỳ và của những nợ máu xương chồng chất. Trong những phút ấy, lòng tôi bỗng dâng lên những cảm xúc thật kỳ lạ, vừa là niềm ngưỡng phục, vừa là niềm tự hào, vừa ngùn ngụt hào khí trong máu trong tim cậu học trò ở tuổi vừa lớn, hòa cùng tiếng nhạc trầm hùng như giục giã những bước chân đi tới.

 

Công dân ơi! Mau hiến thân dưới cờ!…

 

Những năm học nối tiếp theo nhau, và ngày tháng trôi đi bình lặng.

Thế rồi, những năm tháng êm đềm vụt biến mất, cơn bão ủa lịch sử đã cuốn phăng đi tất cả, cuốn phăng đi biết bao nhiêu là số phận. Không còn nữa lá cờ vàng phất phới giữa bầu trời lồng lộng, không còn nữa những đoàn quân “thấp hoáng trong mây”, không còn nữa ngôi trường chúng tôi yêu quý. Chúng tôi tan tác như bầy chim hoảng loạn.

 

Thế nhưng câu hát ấy, bài hát ấy và những bài hát về người lính, về những “đoàn quân ra đi”, từ bao năm nay vẫn cứ theo tôi, mãi mãi không rời.

 

Hành trình của người lính

 

Đây đoàn quân ra đi nhịp nhàng

mang theo thiên hùng ca / thắm tươi trời Nam bốn phương

Ta anh hùng muôn quân phá tan cường binh

chí tang bồng đem theo khắp nơi tung hoành

 

Những câu hát “hào khí ngút trời” ấy ở trong bài “Lục quân Việt Nam” (1950) của Văn Giảng & Hương Việt. Những “đoàn quân ra đi”, những “thiên hùng ca”, những “anh hùng” xông pha trận mạc “phá tan cường binh” và “khắp nơi tung hoành”… đã làm dậy lên bầu máu nóng hừng hực và lòng yêu nước nồng nàn của bao thanh niên thuở ấy, những muốn đem tài trai phụng sự tổ quốc và vẫy vùng ngang dọc để thỏa “chí tang bồng”.

 

1. “Từng đoàn người trai đi viết sử xanh” (2)

 

Mai ra đi không chút vấn vương

chiến trường kín tranh đấu

Là tài trai chí bốn phương / một lòng quyết lên đường!…

Tiến bước lên! Chiến đấu cho

đất Việt bừng sáng muôn đời!

“Quanh lửa hồng”, Nguyễn Thiện Tơ & Văn Khôi)

 

“Chàng tuổi trẻ vốn giòng hào kiệt / xếp bút nghiên theo việc đao cung”. (3)Người trai ra đi với lời thề sắt son ghi trên báng súng. Màu áo chiến binh thay cho màu áo học trò.

 

Xếp áo thư sinh vui bước đăng trình

mười sáu tròn trăng

Ghi trên báng súng lời thề chinh nhân

tám hướng thành gần…

(“Mười sáu trăng tròn”, Trần Thiện Thanh)

 

Phút tiễn đưa chỉ có ánh mắt vời vợi trông theo của mẹ già như trao gửi nỗi niềm tin yêu.

 

Nhớ lúc lên đường đưa tiễn chân tôi

thương lên khoé mắt mẹ nhắn đôi lời,

“Diệt thù lập công cho xứng tài trai

sắt son ghi lòng chớ phai”

(“Biệt kinh kỳ”, Minh Kỳ & Hoài Linh)

 

“Hành trang giã từ” chàng trai mang theo luôn có lời dặn dò, nhắn nhủ thiết tha của người mẹ hiền yêu dấu.

 

Ra đi một sáng tinh sương

Mẹ ơi, con vẫn nhớ lời me khuyên,

“Con ơi, tình nước sâu hơn

hẹn ngày chiếng thắng con về vinh quang”

(“Ai về quê tôi”, Tiến Đạt)

 

Những bà mẹ Việt Nam đều giống nhau. Lòng thương con vô bờ nhưng “tình nước sâu hơn”, mẹ giấu đi nỗi bịn rịn và giọt lệ tiễn đưa để đứa con yêu thong dong lên đường.

 

Chàng trai đất Việt” trong câu hát của Thanh Châu được “minh họa” rõ nét là chàng “thanh niên Quốc Gia”, ra đi vì lý tưởng Quốc Gia.

 

Hôm ấy tay cầm tay trong thiết tha

anh là thanh niên Quốc Gia / lên đường vui xa quê nhà

(“Dặn dò”, Thanh Châu)

 

Những chàng trai trẻ đã hiến dâng cả tuổi thanh xuân, cả những tháng năm tươi đẹp nhất của đời mình cho tình yêu đất nước. Những chàng trai “trong tim thì sôi máu / khóe mắt có trăng sao” (“Kỷ niệm”, Phạm Duy), đi dưới một “rừng cờ phấp phới”, một bầu “trời Việt mênh mang”.

 

Một đoàn người trai hiên ngang

đeo trên vai nợ máu xương

vui ra đi không buồn nhớ thương…

Một rừng cờ phấp phới / một mầu vàng chiêu dương

và một nền vinh quang bằng máu

Một trời Việt yêu dấu / một trời Việt mênh mang

giục đoàn người lên đường hiên ngang

(“Khởi hành”, Phạm Duy)

 

Những đoàn người nối tiếp những đoàn người, mang tổ quốc trên vai, mang tình yêu nước trong tim, hàng hàng lớp lớp theo nhau lên đường theo tiếng gọi của non sông.

 

Người đi giúp núi sông

hàng hàng lớp lóp chưa về / hàng hàng nối tiếp câu thề

giành lấy quê hương

(“Khúc tình ca hàng hàng lớp lớp”, Nguyễn Văn Đông)

 

Tiếng gọi giục giã, nao nức …

Em không nghe ngoài kia

trời đông đã lên rồi / bao lót người đi…

(“Hành trang giã từ”, Trường Sa)

 

Thao trường đổ mồ hôi / chiến trường bớt đổ máu. Ngưỡng cửa đầu tiên các chàng trai phải vượt qua là những rèn luyện và thử thách của “đoạn đường chiến binh” nơi các quân trường để trở thành người lính thực thụ.

 

Đây tiếng ca vang nơi quân trường đầy hào hùng

Vai sát vai / ta thi tài trong tình quân ngũ…

Anh em ơi! Anh em ơi!

Đem sức trai nêu chí hùng / lưu tiéng ngàn thu…

Cố lên! Cố lên/ Dù nhọc nhằn

đem mồ hôi pha máu hồng / viết thành sử xanh

(“Thao trường vang tiếng gọi”, Trầm Tử Thiêng)

 

Như những mũi tên bắn đi bốn phương tám hướng trong ngày lễ ra trường, những chàng trai đất Việt “lên đường nhập ngũ tòng quân” vừa là đứng lên đáp lời sông núi, vừa để thỏa chí tang bồng hồ thỉ, vẫy vùng ngang dọc.

 

Vì thương nước thương dân, thương quê hương mịt mờ khói lửa, thương những kiếp người lầm than, những người trai hôm nay vào chiến dịch, nguyện thề “dâng cả đời trai với sa trường”. Những nắm tay xiết chặt, những bước chân đi tới, những ánh mắt rạng ngời.

 

Thương dân nghèo ruộng hoang cỏ cháy

thấy nỗi xót xa của kiếp đọa đày / Anh đi! …

 

Hành trang của người lính trong nhạc Phạm Đình Chương là lòng yêu nước thương dân, là lòng súng nhân đạo cứu người lầm than. Hành trang ấy là chính nghĩa, là lý tưởng của người lính miền Nam, là đối nghịch với sắt máu, với bạo tàn.

Dẫu biết rằng “cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi”, người lính chiến trên những tuyến đầu lửa đạn vẫn không hề nao núng lòng.

 

Không quên lời xưa đã ước thề

dâng cả đời trai với sa trường

Nam nhi cổ lai chinh chiến hề

nào ai ngại gì vì gió sương

“Anh đi chiến dịch”, Phạm Đình Chương)

Nhạc điệu rộn ràng và hùng tráng như một khúc quân hành.

 

2. “Anh đi mai về chiến thắng”

 

Người lính vẫn miệt mài đi, với lý tưởng phụng sự đất nước, với tinh thần quyết chiến quyết thắng cho một ngày hòa bình về trên quê hương.

 

Anh đi xây chiến thắng / dưới màu cờ quật cường

cho loài người hòa bình

“Dặn dò”, Thanh Châu)

 

Anh đi mai về chiến thắng

khi súng quân thù thôi vang trên non sông

Tươi thắm màu cờ vui reo trên kinh thành

(“Anh đi mai về”, Hoàng Nguyên)

 

Những đoàn quân trùng trùng tiến bước, “chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”.

 

Quân ra đi không luyến tiếc đời

Vui xa xôi xin nhớ phút về

đem vinh quang tô thắm nước nhà

Giờ đây đoàn quân cứ tiến!

(“Khởi hành”, Phạm Duy)

 

Câu nhạc kết thúc với hai nốt nhạc cuối rướn cao đột gột, mạnh mẽ, như bước chân dồn dập xốc tới… Những trái tim bừng bừng cảm xúc, những dòng máu sục sôi khí thế đã khơi nguồn nhạc hứng cho người nhạc sĩ để viết nên những bài hùng ca đẹp nhất và “hùng” nhất làm nức lòng chiến sĩ.

 

Ngày bao hùng binh tiến lên

bờ cõi vang lừng câu “Quyết chiến!”

Bước oai nghiêm theo tiếng súng đi tung hoành

Quân Việt Nam đi hồn non nước xây thành

Đi là đi chiến đấu! Đi là đi chiến thắng!

Đi là mang linh hồn non sông

“Xuất quân”, Phạm Duy)

 

“Xuất quân” của Phạm Duy là tiếng trống thúc quân dập dồn hòa cùng nhịp bước quân hành.

“Thúc quân” của Văn Giảng & Hương Việt là điệu kèn xung trận, là lời thúc giục bao trai tráng lên đường “diệt tan giống tham tàn”.

Nhìn trong hơi gió thoảng bóng quân Nam lướt đi

Thề cùng diệt tan giống tham tàn thúc quân vùng lên!

Nơi đây đất nước đang hiến bao đấng anh linh

Xương trắng xây thành / cố tâm đền núi sông ơn nhà

 

“Chí làm trai dặm nghìn da ngựa / gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao”(3) người lính chiến vào sinh ra tử, luôn cận kề những bất trắc hiểm nguy, tuy không da ngựa bọc thây nhưng cũng lắm khi đi không ai tìm xác rơi như những người hùng không tên tuổi.

 

Dù thân này tan tành gói da ngựa cũng cam

Thề trọn niềm trung thành với sơn hà nước Nam!

“Việt Nam minh châu trời đông”, Hùng Lân)

 

Người lính can trường xông pha trận mạc với tinh thần quyết chiến quyết thắng, với khí thế “đánh một trận, sạch không kình ngạc / đánh hai trận, tan tác chim muông” (4) làm khiếp đảm giặc thù.

 

Tiếng súng ta như mưa / khiến thù gục đầu

dường như vẫn còn nghe

(“Bài ca chiến thắng”, Minh Duy)

 

Như người lính chiến ôm súng mơ ngày về quang vinh trong nhạc Phạm Đình Chương, ngày vui chiến thắng, ngày thanh bình về trên quê hương là nỗi khát khao của cả một dân tộc trong một đất nước bao năm chiến tranh ròng rã.

 

Ngày mai ngày vui chiến thắng

đón anh về nắng vàng gieo nơi nơi

Đàn bé đùa nô trước thềm

Mẹ già vui / thôi hết khóc chia phôi

(“Gửi người giới tuyến”, Nhật Lệ)

 

Những đoàn quân ra đi năm nào với niềm tin tất thắng, nay trở về ca khúc khải hoàn trong vinh quang chiến thắng.

 

Thủ đô ơi, thủ đô! Đoàn quân ta đã về đây!

Sau bao nhiêu ngày luôn ước mơ

ngày chiến thắng quay về chốn xưa

 

“Bài ca chiến thắng” của Minh Duy là một trong những bài hùng ca đẹp nhất làm dậy lên niềm tự hào về một quân lực đi là đi chiến đấu! đi là đi chiến thắng!

 

Thủ đô ơi thủ đô! Đoàn quân ta đã về đây!

Tiếng reo vang, vang dậy một trời

lớp lớp tinh kỳ bay trong gió!

(“Bài ca chiến thắng”, Minh Duy)

 

Vòng hoa chiến thắng mà người dân hậu phương choàng vào cổ những người lính vừa trở về từ chiến trường lửa đạn là vòng hoa của tình quân dân thắm thiết, của lòng cảm phục, biết ơn và tin cậy.

 

Kìa đoàn quân chiến thắng trở về với xóm làng

thành công còn ghi dấu đầu súng

Những tấm gương kiêu hùng / phất phới vui trong lòng

Bầu trời thủ đô đón mừng!

(“Bài ca chiến thắng”, Minh Duy)

 

Còn nỗi mừng vui nào lớn hơn, còn nỗi xúc động nào lớn hơn được trông thấy lại lá cờ thân yêu bay lồng lộng giữa bầu trời tổ quốc, trên thành phố quê ta vừa chiếm lại đêm qua bằng máu. Lá cờ vàng thấm máu những người lính kiêu hùng vừa ngã xuống đêm qua.

 

Cờ bay! Cờ bay oai hùng trên thành phố thân yêu

vừa chiếm lại đêm qua bằng máu…

Cờ bay! Cờ bay tung trời ta về với quê hương

từng ngóng đợi quân ta tiến về

(“Cờ ta bay trên Quảng Trị thân yêu”, Lê Kim Hoa)

 

Những người lính quả cảm dựng lại ngọn cờ vàng trên những thành quách đổ nát sau trận chiến khốc liệt giành lại từng tấc đất quê hương là một trong những cảnh tượng bi hùng nhất của những trang sử Việt.

 

“Lòng ta như thành này

Vinh quang trong tan nát?”

 

Câu thơ của Cao Tiêu là cảm xúc thực lòng của người lính trong những phút lặng nhìn ngọn cờ chiến thắng tung bay giữa hoang tàn đổ nát, khi chiến trận vừa kết thúc.

 

Vui bên nhau mắt lệ nghẹn ngào / quỳ hôn đất thân yêu

Quảng Trị ơi, chào quê hương giải phóng!

(“Cờ ta bay trên Quảng Trị thân yêu”, Lê Kim Hoa)

 

Những hy sinh gian khổ, những máu xương người lính đổ ra nơi tiền tuyến để giữ yên bờ cõi và mang về cuộc sống yên lành, ấm êm cho hậu phương vẫn luôn được người đời khắc ghi.

 

Anh về thủ đô biết bao là vui

đã để lại đây mến thương đầy vơi

Người dân nước Việt ghi ơn các anh

đã hy sinh vì giống nòi

(“Anh về thủ đô”, Y Vân)

 

Chiến thắng nào, vinh quang nào cũng phải trả giá. Cái giá đắt nhất người lính chiến phải trả là máu xương, là xác thân mình. Có xác phơi thây chiến địa, dưới chiến hào hay trên bờ tường. Có xác nằm lại trên đồi cao hay dưới vực sâu, bên khe suối hay cạnh bìa rừng. Có xác của người chiến sĩ vô danh, máu thấm vào lòng đất mẹ, thịt xương rã mục lẫn vào cỏ cây hoa lá. Làm sao kể hết được những hy sinh đền nợ nước của những anh hùng liệt sĩ sống anh dũng, chết hiên ngang, “nhẹ xem tính mệnh như mầu cỏ cây”. (3)

 

Ngày nào phơi xác nhớ không!

Thây rơi mênh mông trên khắp phố phường

Thân ôm tường / đầu gục đầu!

Ai trên đường / người nhuộm máu

Thây rơi trong đêm khuya lấp chiến hào

“Khởi hành”, Phạm Duy)

 

Biết bao người lính đi không hẹn ngày về, đi không về lại nữa. Biết bao người lính đã để lại một phần thân thể mình trên khắp các mặt trận để mang về những chiến công.

 

Chàng về / chàng về nay đã cụt tay

Máu đào đã nhuốm trên thây bao nhiêu quân thù

(“Nhớ người thương binh”, Phạm Duy)

 

Người lính miền Nam đã chiến đấu can trường và hy sinh anh dũng để gìn giữ từng tấc đất cha ông để lại và bảo vệ vùng trời, vùng biển quê hương, cho dù máu xương có hòa lẫn vào lòng đất mẹ, cho dù xác thân có vùi sâu dưới lòng biển cả hay tan biến vào không gian.

 

Chiều nao / thương ôi rụng cánh đại bàng! …

Chiều nao huy hoàng / bụi vàng bay khắp không gian

(“Huyền sử ca một người mang tên Quốc”, Phạm Duy)

 

Biết bao nhiêu khúc hát về người lính, biết bao nhiêu khúc nhạc hào hùng (chưa kể những khúc quân hành, những bài hùng ca, chiến đấu ca của các quân binh chủng) ngợi ca tinh thần chiến đấu và hy sinh cao cả của người lính chiến một lòng vì nước vì dân trong kho tàng âm nhạc Việt.

 

Bản trường ca về người lính

 

“Nhạc lính”, như cách gọi ở miền Nam Việt Nam từ những năm đầu thập niên 1960’s, được hiểu là những bài nhạc nói về người lính và đời lính, hoặc về những nỗi niềm, những tâm tình của người lính. Nhạc lính đã đi vào đời sống của người dân trong một đất nước chiến tranh triền miên, trong đó người lính trở thành hình ảnh thật quen thuộc trong mắt, và trong lòng mọi người.

 

1. Phác họa về người lính

 

Anh là người lính chiến

áo bạc mầu đấu tranh

(“Tình quê hương”, Đan Thọ & Phan Lạc Tuyên)

 

Câu hát ấy là một trong những nét ký họa hình ảnh người lính trong số bao nhiêu người lính thời chiến tranh ta vẫn gặp đâu đó trên khắp các nẻo đường đất nước.

 

Tôi lại gặp anh / người trai nơi chiến tuyến

súng trên vai bước về qua đường phố

(“Trăng tàn trên hè phố”, Phạm Thế Mỹ)

 

“Người trai nơi chiến tuyến” ấy, một chiều nào trên bước đường hành quân, ghé qua một thôn làng miền Trung. Làng quê nghèo xơ xác, nhưng ấm áp tình người. Một vạt nắng vàng, một bóng trăng lung linh, chút tình cảm vấn vương, xao xuyến.

 

Anh về qua xóm nhỏ /Em chờ dưới bóng dừa

Nắng chiều lên mái tóc / Tình quê hương đơn sơ

 

“Tình quê hương đơn sơ” như hạnh phúc thật đơn sơ, thật êm đềm làm ấm lòng người lính chiến.

 

Anh sẽ là anh đàn em nhỏ

là con của mẹ giữ quê hương

(“Tình quê hương”, Đan Thọ & Phan Lạc Tuyên)

 

Là con của mẹ giữ quê hương…, có hình tượng nào gần gũi hơn, thân thiết hơn! Từ những mẹ già đến những em thơ, từ thành thị đến thôn quê, chàng lính chiến luôn luôn là hình ảnh thân quen, luôn luôn được nhắc đến với những tình cảm thương yêu và tin cậy. Người lính có thể là người chồng, người cha, người con, người anh, người em, người bạn, người tình…, những người đang nắm chắc tay súng giữ yên bờ cõi, đem yên vui về cho làng xóm ruộng vườn, cho người người được hít thở không khí tự do, cho nhà nhà được đêm đêm tròn giấc ngủ.

 

Bờ tre quê hương tay súng anh gìn giữ

“Trăng tàn trên hè phố”, Phạm Thế Mỹ)

 

Những đêm “trăng treo đầu súng”, những đêm trăng di hành thay cho những đêm trăng hò hẹn của những chuyện tình thư sinh”.

 

Những đêm mười sáu trăng tròn

vượt con đường mòn đi giữ làng thôn.

(“Mười sáu trăng tròn”, Trần Thiện Thanh)

 

Tình quân dân thắm thiết qua những ánh mắt trao gửi, dõi theo bước chân đoàn quân ra đi.

 

Bao em tôi đôi mắt sáng ngời

trông say sưa quân dồn bước tiến

Tóc bạc trắng đây là những me tôi

lòng già buồn vui nhìn toán quân xa vời

(“Đoàn quân đi”, Việt Lang)

 

Cảm xúc “lòng già buồn vui” là cảm xúc nao nao của lòng thương mến và nỗi tự hào về đàn con yêu hiến dâng đời mình cho tổ quốc.

 

Trong trái tim mơ mộng của những cô gái đang xuân thuở ấy là hình ảnh chàng lính chiến phong sương với “nhịp bước oai hùng chàng tiến trong tim em”

 

Chiến sĩ của lòng em đắm đuối ước mơ

ngoài chiến trường xa dãi nắng dầm mưa

Nhịp bước oai hùng chàng tiến trong tim em

trong khi vang ca say theo chiến thắng

(“Chiến sĩ của lòng em”, Trịnh Văn Ngân)

 

Bài hát một thời rất được yêu chuộng qua những giọng Tâm Vấn, Thái Thanh, Thúy Nga… (nhớ lối nhấn giọng ở hai nốt nhạc “đắm đuối” của Thúy Nga trong câu hát “… em đắm đuối ước mơ”, nghe rất là… đắm đuối).

 

Những câu hát về nỗi lòng các cô gái là “người yêu của lính” thuở ấy vẫn có những nhịp bước “oai hùng” như thế…

 

Chiều nay quân xuôi qua thôn vắng

có cô em ngây thơ dừng gót hồng

nhìn theo anh binh tươi trong nắng / bước đi oai hùng

(“Mơ người lính chiến”, Mai Sơn)

 

Anh / nơi biên thùy xa / vắng muôn màu hoa

Không hề nao núng lòng / oai hùng nơi chiến trường

(“Tôi nhớ tên anh”, Hoàng Thi Thơ)

 

Vẫn có khí phách “hiên ngang” như thế…

 

Lòng em say vì nhớ đến chàng

đang hiên ngang tung hoành trong khói súng

(“Chàng đi theo nước”, Hiếu Nghĩa)

 

Khi nước nhà phút ngả nghiêng

em mơ người trai anh dũng

mang thân thế hiến giang san

chí quật cường hiên ngang

(“Chiến sĩ của lòng em”, Trịnh Văn Ngân)

 

Tôi đi tìm anh / người lính quá hiên ngang

cầm súng giữ giang san xây Cộng Hoà

(“Tìm anh”, Hoàng Thi Thơ)

 

Người lính quá hiên ngang trong những câu hát ấy được “minh họa” rõ nét là người lính Cộng Hòa trên khắp nẻo đường đất nước. Tôi đã “đi tìm” và… “tôi đã gặp”:

 

Tôi đã gặp anh / người anh quá hiên ngang

đi xây cuộc đời / vì lứa tuổi đôi mươi.

Biên cương xa xôi / anh vì yêu sông núi

đem vinh quang gieo ngàn nơi

(“Tôi đã gặp”, Minh Kỳ)

 

Không chỉ “oai hùng”, “hiên ngang”, người “chiến sĩ của lòng em” ngày ấy còn đượm những nét “phong trần”, “phong sương” của mưa rừng gió núi, của nắng sớm sương chiều và những gian truân đời lính.

 

Ngắm em thơ ngập ngừng

nhìn người lính chiến phong trần

niềm thương dâng lên mầu mắt

(“Chim trời chưa mỏi cánh”, Đào Duy)

 

Chợt thấy lòng lưu luyến / và tâm hồn xao xuyến

Trông anh trai phong sương / em thấy mà thương

(“Đò chiều”, Trúc Phương)

 

Những đoàn quân ra đi trong tiếng nhạc hùng tráng, rộn rã, thúc giục, và những “khăn hồng” tiễn đưa.

 

Ra biên cương! ra biên cương!

Thiết tha lòng gái / hôm nay nâng khăn hồng

đưa chân anh hùng ngàn phương

(“Đường ra biên ải”, Phạm Duy)

 

“Đường ra biên ải” có thể xem là bài hát đầu tiên về những “em gái hậu phương” tiễn đưa những anh trai tiền tuyến nô nức lên đường.

 

Đoàn quân đi giữa sóng mến thương

Xuân về mùa thắm

Tôi thấy những nàng khăn hồng lệ thắm

(“Đoàn quân đi,, Việt Lang)

 

Người ở lại vui trong nỗi đợi chờ, cầu mong người chiến sĩ lập nhiều “chiến công oai hùng”, với giấc mơ mùa xuân nào thanh bình chàng trở về chốn cũ, nơi “lệ thắm khăn hồng tiễn đưa”.

 

Rồi xuân đến dưới gốc mai xưa

nơi lệ thắm khăn hồng tiễn đưa

Em chào đón chàng về vinh quang

bên chàng say đắm một trời xuân thanh bình…

 

Em chúc cho chàng lập chiến công oai hùng

Vang vang lời chiến thắng

muôn thu danh chàng lừng lẫy núi sông

(“Chàng đi theo nước”, Hiếu Nghĩa)

 

Người ra đi không hẹn ngày về, không vướng bận tình thê nhi. Người ở lại vẫn một niềm son sắt thủy chung.

 

Anh ơi, anh cứ đi / mai về, em vẫn đợi

Anh cứ đi / anh cứ đi giết thù

không vấn vương / không luyến thương

(“Lời người ở lại”, Hoàng Nguyên)

 

“Anh đi em ở lại nhà / Vườn dâu em hái, mẹ già em thương”. Nỗi lòng người chinh phụ thuở xưa và những “cánh hoa thời loạn” đời nay không khác nhau bao nhiêu.

 

Thương người gió lạnh đường xa

khuê phòng em đan áo

Thương đời bé bỏng miền quê / anh giữ yên biên thùy

(“Tình chàng ý thiếp”, Y Vân)

 

Phía sau những chiến tích vẻ vang của người lính luôn có bàn tay góp sức của những người thân yêu, những người hy sinh hạnh phúc riêng tư, gánh chịu mọi thiệt thòi, chấp nhận mọi mất mát, rủi ro và chia sớt những nhọc nhằn của người lính trong cuộc chiến đấu gian nan chống kẻ thù xâm lược.

 

2. Nỗi niềm người lính

 

Tôi là lính / âm thầm tôi nghĩ thế thôi…

(“Lính nghĩ gì?”, Hoài Linh)

 

Câu hát ấy cho thấy người lính vẫn có những nỗi niềm, những tâm sự đầy vơi trong những lúc “bạn cùng cây súng”.

Những nỗi niềm ấy đọc thấy qua những dòng thư viết từ chiến trường gửi về người mẹ hiền yêu dấu nơi chốn xa quê nhà, hẹn ngày về bên mẹ khi non nước yên vui, khi quê hương không còn bóng giặc thù.

 

Mẹ ơi, thôi đừng khóc nữa!

cho lòng già nặng sầu thương

Con đi say tình viễn xứ / đâu có quên niềm cố hương

Thương ngóng về quê cũ /gót thù xéo thảm thê

Bầy trai thầm rơi lệ / súng gươm hẹn mai về

(“Lá thư gửi mẹ”, Nguyễn Hiền & Thái Thủy)

 

Hay trong những câu hát bày tỏ nỗi thương quê nhớ mẹ của người lính xa nhà.

 

Đây những chiều hành quân / Xóm nghèo dừng chân nhớ thương mẹ già nơi quê nhà xa xôi lắm

“Chiều biên khư”, Tuấn Khanh & Châu Ngân)

 

Nhớ thương là vậy, thế nhưng… “Mẹ thà coi như chiếc lá bay” (7) khi quê hương còn tiếng súng, khi những đồng đội con còn đón xuân ngoài chiến trường. “Mẹ thương con xin đợi ngày mai…”, câu hát réo rắt cất lên mỗi lần Tết đến xuân về, qua giọng chứa chan tình cảm của Duy Khánh làm chảy nước mắt những bà mẹ già ngày ngày tựa cửa ngóng tin con.

 

Con biết không về mẹ chờ em trông

nhưng nếu con về bạn bè thương mong

Bao lứa trai cùng chào xuân chiến trường

không lẽ riêng mình êm ấm

Mẹ thương con xin đợi ngày mai

(“Xuân này con không về”, Trịnh Lâm Ngân)

 

Những nỗi niềm ấy cũng gửi gấm trong lá thư kể chuyện đời lính gửi về “người em nho nhỏ quê nhà” …

 

Đã cách xa bao năm / sống cuộc đời quân nhân

súng bên mình nay mai rày đây đó

Chiến đấu ngăn quân thù

vì anh xót thương khi quê hương lầm than

(“Lá thư người chiến sĩ”, Phạm Đình Chương)

 

“Cuộc đời quân nhân” là cuộc chiến đấu gian nan, là những cuộc hành quân lội suối băng rừng, là những đoạn đường chiến binh người lính đã vượt qua và những trăn trở về một quê hương rách nát vì chiến tranh.

 

Tôi thường đi đó đây / bùn đen in dấu giày …

Đêm đêm nằm đường ngăn bước thù

Áo nhà binh thương lính / lính thương quê / vì đời mà đi

(“Trên bốn vùng chiến thuật”, Trúc Phương)

 

Những nỗi niềm ấy cũng là chuyện “buồn vui đời lính” của những lần về phép, những chuyến về thăm nhà.

 

Ngồi bên lửa bếp gia đình êm ấm

lặng nghe anh kể cuộc đời buồn vui

(“Chiều biên khu”, Tuấn Khanh & Châu Ngân)

 

Chuyện đời lính kể mãi kể hoài không hết, từ những mẩu chuyện chiến trường đến nỗi nhớ thương quê nhà canh cánh bên lòng.

 

Ngày trở về trong bếp vui / anh nói chuyện nghe

chuyện đời chiến sĩ / sống say mê

đường xa lắm khi nương hồn về quê

(“Ngày trở về”, Phạm Duy)

 

Những nỗi niềm ấy cũng là lời giải bày với người vợ hiền đầu gối tay ấp hay với người tình gắn bó thương yêu về những hoài bão và lý tưởng của người trai thời chiến.

 

Nếu biết người đi vì sông núi

Cách chia này cho hạnh phúc mai sau

chắc em không buồn vì người đi cho lý tưởng

(“Kể chuyện trong đêm”, Hoàng Trang)

 

Chiến tranh là cách ngăn, chia lìa. Chút niềm riêng đành gác lại, vì tình nước sâu hơn tình lứa đôi.

 

Đời dâng cho núi sông

Lòng này thách với tang bồng

đừng làm má thắm phai hồng / buồn lắm em ơi!

(“Khúc tình ca hàng hàng lớp lớp”, Nguyễn Văn Đông)

 

Khi quê hương còn mịt mù khói súng, còn tơi bời lửa đạn thì mơ chi chuyện lứa đôi.

 

Nếu hiểu rằng / anh đi vì lũ giặc tham tàn

thì em ơi, em chớ sầu thương chi

Em thấy chăng khói súng của giặc thù

còn mịt mùng và còn che khuất mờ

(“Anh đi mai về”, Hoàng Nguyên)

 

Lời hát và nhạc điệu nghe réo rắt, gợi nhớ tiếng hát đôi song ca Ngọc Cẩm-Nguyễn Hữu Thiết quyện vào nhau ngọt ngào và thiết tha của một mùa nào.

Những lời vỗ về, nhắn nhủ thiết tha ân cần, và hẹn một ngày về không xa.

 

Em ơi, anh đi vì nước non mình đợi chờ

Muôn quân đang reo / lửa khói tung ngập mầu cờ

Thân trai ra đi nợ nước đôi vai gánh nặng

Buồn chi cách xa / vì ngày vui sẽ không xa

(“Buồn chi em ơi”, Lam Phương)

 

Những thoáng hạnh phúc hiếm hoi bên người mình thương yêu.

 

Đừng buồn khi xa nhau em nhé!

Thăm em đôi ngày rồi anh đi

(“Hoa soan bên thềm cũ”, Tuấn Khanh)

 

Những phút “tâm tình bên nhau” thật ngắn ngủi, và chia tay vội vã.

 

Nụ cười đầu môi anh khẽ nói

“Về thăm em chiều nay thôi

sông hồ mai sớm lại đi” …

(“Chiều mưa anh về”, Trần Thiện Thanh)

 

Con đường đấu tranh gian khổ còn dài, người lính chiến, những chàng trai ôm mộng hải hồ, bạn cùng sương gió, dừng chân phút giây thôi rồi lại lên đường, lại miệt mài đi trên những dặm sơn khê, trên khắp các nẻo đường đất nước để mang về mùa xuân mới cho quê hương.

 

3. Giấc mơ người lính

 

Ai nói với em lính không sầu nhớ / không có trái tim đắm say mộng mơ… (“Ai nói với em”, Minh Kỳ & Huy Cường), câu hát quen thuộc vẫn nghe trên các làn sóng phát thanh ở miền Nam một thời nào, cho thấy hình ảnh “cổ điển” của những người lính “lạnh lùng vung gươm ra sa trường” (“Chiến sĩ Việt Nam”, Văn Cao) đã… lỗi thời. Thay cho mẫu người lính sắt đá, lạnh lùng là hình ảnh gần gũi, thân quen, đẹp và đôi lúc pha những nét… “lãng mạn đời lính”.

 

Anh như ngàn gió / ham ngược xuôi theo đường mây

Tóc tơi bời lộng gió bốn phưong

(“Mấy dặm sơn khê”, Nguyễn Văn Đông)

Trên “mấy dặm sơn khê”, trên bốn vùng chiến thuật, nơi đâu cũng in hằn dấu chân người lính. Cuộc đời lính chiến và những năm dài chinh chiến điêu linh đã khiến cho những lứa đôi yêu nhau phải… người ở một phương nhớ một phương.

 

Em biết chăng đời lính / nắng sớm với sương chiều

Gió rừng rồi mưa núi / đã làm anh vui nhiều

(“Niềm tin”, Anh Linh & Nhất Tuấn)

 

“Chí lớn chưa về bàn tay không” (5) thi sá gì chút tình riêng. Người trai ra đi mang trong tim hoài bão thiết tha phụng sự đất nước, nối chí người xưa để mang về một vận hội mới cho quê hương.

 

Còn đây đêm cuối cùng

nhìn em muốn nói chuyện người Kinh Kha

ngại khơi nước mắt nhạt nhòa môi em

(“Khúc tình ca hàng hàng lớp lớp”, Nguyễn Văn Đông)

 

Những “em gái hậu phương”, như những đóa hồng bên những hầm hố và hàng rào kẽm gai, vẫn mong được bàn tay người trai hùng “đem tưới vun trong vườn”.

 

Xin anh che chở / tấm đời nhỏ bé hậu phương

như câu chuyện tình “Người hùng và giai nhân “

Những cánh hoa hồng / bên hàng rào kẽm hầm chông

vẫn mong bàn tay người đem tưới vun trong vườn

(“Cánh hoa thời loạn”, Y Vân)

 

Chàng lính chiến vui say đời quân ngũ ngoài chiến trường xa vẫn có những phút thả hồn theo mây gió, trăng sao tìm về bên người mình yêu.

 

Bao tháng ngày phong sương đường xa

vui chiến trường quên áo hào hoa

Tôi sẽ về tìm em / khi trời lấp lánh sao đêm

và gió trăng theo từng bước chân êm…

(“Tôi sẽ về thăm em”, Hoàng Nguyên)

 

Nét “lãng mạn đời lính” còn theo bước chân người lính trên những dặm đường hành quân.

 

Ngày hành quân / anh đi về cánh rừng thưa

thấy sắc hoa tươi nên mơ màu áo năm xưa

(“Màu kỷ niệm”, Phạm Đình Chương)

 

Hay trên những tiền đồn heo hút miền địa đầu giới tuyến.

 

Anh ở đồn biên giới / thương về một khung trời

(“Niềm tin”, Anh Linh & Nhất Tuấn)

 

Khung trời nào đây, nếu không phải là thành phố ấy, thành phố cao nguyên đầy mây trắng và sương mù. Câu hát làm nhớ câu thơ của “người lính” Vũ Thành.

 

“Nơi em về có gì vui

Nơi anh đồn trú suốt đời mây bay”

 

“Suốt đời mây bay” nên quên cả ngày tháng, quên cả bốn mùa, cho đến lúc trông thấy những nụ mai vàng mới nở ở bìa rừng mới hay là… mùa xuân đang về.

 

Đồn anh đóng ven rừng mai

Nếu mai không nở / anh đâu biết xuân về hay chưa

(“Đồn vắng chiều xuân”, Trần Thiện Thanh)

 

Giữa đêm giao mùa, giữa phiên gác đêm, giữa tiếng súng xa vang rền, người lính mơ về những ngày xuân êm đềm.

 

Xác hoa tàn rơi trên báng súng

ngỡ rằng pháo tung bay / ngờ đâu hoa lá rơi

(“Phiên gác đêm xuân”, Nguyễn Văn Đông)

 

Rồi đây, khi mùa dứt chiến chinh / gió dâng khúc đàn thanh bình(6) là khi người chiến binh “giã tư vũ khí”, tìm về bên người yêu dấu để tay trong tay đi xây lại chuyện tình và nối lại những giấc mơ chưa tròn.

 

Nếu một mai khi hòa bình / anh sẽ trở về như giấc mơ

cho từng ngón tay đan lại ái ân ngọt mềm …

Từng đêm không còn tiếng súng

Ngủ đi em / ngủ cho yên…

(“Lời cho người yêu nhỏ”, Trần Thiện Thanh)

 

“Anh sẽ trở về như giấc mơ”, câu hát thật là đẹp! Giấc mơ ấy cũng thật là đẹp. “Đêm không còn tiếng súng”, quê mình thôi hết chiến tranh, giấc mơ ấy không chỉ riêng của người lính mà của triệu triệu người Việt, của cả một dân tộc khao khát tự do, mơ ước thanh bình sau bao năm dài quê hương chìm ngập trong khói lửa chiến tranh.

 

Mai đây núi sông yên vui / anh xong nhiệm vụ người trai

sẽ sống với em cuộc đời

hạnh phúc trong gió tự do muôn nơi

Em yêu, đôi chờ em ơi!…

(“Lá thư người chiến sĩ”, Phạm Đình Chương)

 

Em yêu, đợi chờ em ơi!… Câu hát ấy, lời nhắn nhủ ấy nghe thiết tha đến chạnh lòng! Như người mẹ già ngày ngày tựa cửa ngóng tin con, “người chinh phụ” đời nay vẫn năm chờ tháng đợi mỏi mòn.

Người lính vẫn hẹn một ngày về, người vợ hiền ở miền quê xa xôi -như bao người vợ hiền thuở ấy- vẫn cứ đợi chờ, đợi chờ mãi trong giấc mơ ngày nào người lính trở về.

 

4. Màu cờ còn tươi, tình yêu còn thắm

 

Lòng yêu nước thương dân, tinh thần hy sinh gian khổ và chiến đấu anh dũng vì lý tưởng tự do và sự sống còn của đất nước trong những hoàn cảnh nghiệt ngã nhất là những nét chính khắc họa nên hình tượng người lính Việt Nam Cộng Hòa.

 

Chiến tranh đã đi qua nhưng những khúc hát về người lính quả cảm từng cầm súng chiến đấu dưới màu cờ tổ quốc để bảo vệ ừng tấc đất quê hương, mỗi lần nghe lại vẫn nghe dậy lên niềm kiêu hãnh, nỗi tự hào về một thiên anh hùng ca của dân tộc.

 

Những lời ca tiếng nhạc ấy, “bản trường ca về người lính” ấy, hơn lúc nào hết, trỗi dậy trong tôi vào một ngày thật khó quên, ngày tôi được gặp lại lá cờ tôi yêu, gặp lại những người lính năm xưa “chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”.

Những người lính năm xưa ấy, một số đã lìa đời, một số tóc đã điểm sương hay đã bạc trắng mái đầu, tôi vẫn gặp đâu đó, vẫn sống lặng lẽ đâu đó quanh đây trong buổi hoàng hôn của đời người.

 

Những người lính “một thời ngang dọc” ấy, những người lính “nợ nước vai mang” ấy, từng phụng sự cho những lý tưởng cao đẹp, từng trải những vinh quang và nhục nhằn của một thời kỳ bi tráng nhất trong lịch sử dân tộc.

Những người lính ấy hẳn phải có trái tim rất lớn.

 

Sau những vẻ mặt lặng yên, tưởng như bình thản ấy, là những tơi bời của lửa đạn đã im tiếng, là những giông bão của lịch sử đã lắng chìm. Những người lính cũ tôi gặp lại hôm nay, lòng vẫn hướng về quê hương tội tình, vẫn nhớ về những “mảnh đất chiến trường xưa” của một thời binh lửa, vẫn ngậm ngùi một nỗi tiếc thương những đồng đội đi mãi không về.

 

Hơn bao giờ hết, tôi nhận rõ một điều, những người cựu chiến binh ấy, những “người lính già” ấy “không bao giờ chết, họ chỉ nhạt mờ đi thôi”. Những người lính dũng cảm của một quân lực dũng cảm vẫn đang sống và còn sống mãi trong tâm tưởng người đời, như ngọn lửa vĩnh cửu vẫn tỏa sáng trên những đài tưởng niệm chiến sĩ anh hùng, như ngọn cờ màu vàng tươi vẫn bay ngờm ngợp trong nắng, trong gió giữa trời tự do.

Lá cờ phơi phới như mang theo niềm tin yêu mới.

 

Tôi hiểu được vì sao tôi vẫn gặp những người cựu chiến binh ấy trong những lễ chào quốc kỳ. Tình yêu của họ dành cho lá cờ ấy vẫn còn nguyên vẹn, vẫn không hề nhạt phai.

Ngước mắt trông theo lá cờ ấy, tôi vẫn còn trông thấy “muôn bóng quân Nam chập chùng”, vẫn còn trông thấy “thấp thoáng trong mây” những anh hùng tử sĩ, những chiến sĩ vô danh.

 

Ngước mắt trông theo lá cờ ấy, tôi vẫn còn trông thấy tình yêu của biết bao người, những người tôi thương tôi yêu và tôi ngưỡng phục. Những người đã dám sống và dám chết cho màu cờ ấy. Những người đã nằm xuống để giữ cho tình yêu ấy còn nguyên vẹn màu cờ.

Tình yêu ấy không mất đi, như lá cờ ấy không mất đi. Tình yêu ấy còn sống mãi, như lá cờ ấy còn sống mãi, còn bay bay mãi trong nắng sớm, trong gió chiều. Ôi những đoàn quân ra đi, ôi bao chiến sĩ hiên ngang đã “hiến thân dưới cờ” để giữ cho màu cờ ấy còn tươi mãi, cho tình yêu ấy còn thắm mãi.

 

Những trang sử Việt đời đời còn ghi mãi những chiến tích vẻ vang, những chiến công lừng lẫy một thời của biết bao người lính đã chiến đấu can trường, đã hiến dâng đời mình và cả máu xương mình cho tình yêu đất nước.

 

Nguồn sử xanh âm thầm vẫn sống

Bao mối thương vang động trong lòng!… (7)

Lê Hữu

trích: “Âm Nhạc Của Một Thời”, 2011

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 1

Lại Một Mùa Xuân Viễn Xứ

 

cũng chỉ mình anh nhìn qua cửa sổ
sân nhà người vạn thọ đã vàng bông
với đôi mắt cũng vàng hoe cố xứ
nghe hắt hiu chút nắng tạt bên lòng

lại chỉ mình anh qua hè phố lạ
chân lênh đênh không bước kịp tình người
nửa kiếp sống cứ thua hoài thiên hạ
sự nghiệp buồn gió thổi chiều ba mươi

rồi cũng mình anh ngùi thương kỷ niệm
giận ngày xưa quên tính chuyện ngày về
khi dong ruỗi với trăm lần lỡ vận
bỗng nghe thèm tắm lại nước sông quê

khu vườn nhà anh năm nay bão lớn
biết em còn qua ngõ cũ tìm nhau?
tóc có đủ che quanh ngày bất hạnh
khi mùa xuân chưa tới đã xanh xao

mẹ ở đó cũng buồn hơn tháng chạp
lòng mỏi mòn tựa cửa chừng ấy năm
buổi tàn đông trời vẫn làm mưa bấc
ngọn đèn run trong mắt mẹ âm thầm

anh ở phương nam dòng sông tưởng nhớ
ôi quê người không thể ấm thân quen
ai gọi tên anh một thằng viễn xứ
hồn đong đưa trên mấy sợi ưu phiền

chỉ biết một mình lui về ngõ hẹp
người chung quanh chắc đã đón giao thừa
anh xa xứ nên mùa xuân với Tết
cũng mơ hồ như những chuyện đời xưa.

Hoàng Lộc
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 8

HÃY THONG THẢ SỐNG !

Tôi vẫn mãi tâm đắc với câu nói của một thiền sư “Mình sợ cái chết, mình quỳ lạy van xin  nó, thì nó cũng sẽ đến. Sớm hoặc muộn thôi. Không ai tránh khỏi cả ! Vậy thì tại sao phải sợ nó ? Hãy sống vui, sống từng ngày, sống-và-biết-mình-cũng-sẽ-phải-chết nên trân trọng từng giây phút sống hàng ngày…”.
Cá nhân tui : tối nay đi ngủ, rùi sáng mai hổng dậy nữa, thì tui cho đó là hạnh phúc, có một cái chết perfect, và sẽ rất mang ơn thượng-đế.
Sống lây lất, sống tũi nhục, sống phải dựa vào người khác, cho dù ngươi đó là ai, sẽ rất khổ sở 
RDN. 
 
 

HÃY THONG TH SNG !
Tr
n Mng Tú.


Nhi
u khi chúng ta sng mà quên bng đi là mình có th chết bt clúc nào. Ta hi h sng, vui, bun, khe, yếu, ta c lướt qua ri không ngoái đu li nhìn chui ngày tháng ta đã tiêu hao ca mt đi người.
 
Cho đ
ến khi có mt người bn va ngã bnh, bnh nng, không biết s mt đi lúc nào, lúc đó ta mi xa, gn, ht hong gi nhau.
T
ưởng như chưa tng có người bn nào “Chết” bao gi
Hay ta có m
t người thân trong gia đình, đang rt khe va báo tin b bnh him nghèo. Gia đình, h hàng cung lên, s hãi như chưa nghe đến ai nói v cái chết bao gi, chưa chng kiến cnh vào bnh vin, cnh tang ma bao gi.
 
C
 hai người trên có thđã ngoài 70 tui. L tht ! Cái tui nếu có chết thì cũng đã sng khá lâu trên đi ri, sao nhng người chung quanh còn hong ht đến thế.
Hóa ra ng
ười ta, không ai mun nghe đến ch“Chết”, dù ch đó đến vi mình hay vi người thân ca mình.
 
Hình nh
ư không ai đ ý đến mi sáng chúng ta thc dy, nhìn thy mt tri mc (nếu còn đ ý đến mt tri mc) là chúng ta đã tiêu dùng cái ngày hôm qua ca đi sng mình
 
Có ng
ười vì công vic làm ăn, c tun mi có thi gi ngng mt nhìn lên mt tri.
Bu
i sáng còn ti đt đã hp tp ra đi, bui chiu vi vã tr v lúc thành ph đã lên đèn, làm gì nhìn thy mt tri. Nhưng mt tri vn nhìn thy h, vn đếm mi ngày trong đi h. Htiêu mt cái vn thi gian ca mình lúc nào không biết.
Tiêu d
n dn vào cái vn Tri cho mà đâu có hay. Ri mt hôm nào đó bng nhìn k trong gương, thy mình trng tóc.
H
t hong, tiếc thi gian quá! Khi nghe tin nhng người bn bng tui mình, bnh tt đến, tt theo nhau rơi xung nhanh như mt tri rơi xung nước, h va thương tiếc bn va lo nghĩ đến phiên mình.
 
Th
t ra, nếu chúng ta bình tâm nghĩ li mt chút, s thy “Cái chết” nó cũng đến t nhiên như Cái sng” .
Đ
ơn gin, mình phi hiu gia sng và chết là mt s liên h mt thiết, vì lúc nào cái chết cũng đi song song tng ngày vi cái sng.
 
D
u biết rng, đôi khi cũng có nhng cái chết đến quá sm, nhưng ta cũng đâu có quyn tkhước chết.
 
Tôi bi
ết có người m tr, con ca bn thân tôi. Ch b ung thư, ch cu xin Thượng Đế cho sng đến khi đa con duy nht ca mình vào Đi Hc.
Ch
 không cưỡng li cái chết, ch ch mc c vi Thượng Đế v thi gian vì con ch lúc đó mi lên 3 tui.
Th
ượng Đế đã nhn li ch. Ngày con ch tt nghip Trung Hc, chngi xe lăn đi d l ra trường ca con và tun l sau ch qua đi, bình thản ra đi…
Trong su
t mười my năm tr bnh, ch vn làm đ mi vic: ch đi tóc gi đi làm, đến sđu đn, ly ngày nghhè và ngày ngh bnh đi tr liu.
 
Nh
ng bn làm chung không ai biết ch b ung thư, ngay c xếp ca ch. Khi h biết ra, thì là lúc ch không đng được trên đôi chân mình na.
Ch
 sa son tng ngày cho cái chết của mình vi n cười trên môi. Vn va đi làm, va cơm nước cho chng con, ân cn săn sóc cha m, hin hòa giúp đ anh em trong nhà, ch mang nim tin đến cho tt c nhng người thân yêu ca mình.
Sau ba năm ch
 mt, cu con trai mi năm vn nhn được mt tm thip sinh nht m viết cho mình (M đã nhqua người dì gi h).
Hôm sinh nh
t 21 tui ca cu cũng vào ngày gi năm th ba ca M, cu nhn được tm thip mng sinh nht mình, vi dòng chnguch ngoc, ch viết cho con: “Mng sinh nht th 21 ca con. Hãy bước vui trong đi sng và nh rng mluôn luôn bên cnh con. “
 
Tôi đ
c nhng dòng chmà a nước mt.
 Tôi nghĩ đ
ến ch vi tt c lòng cm phc. Ch là người biết sng trong ni chết.
Khi không th
ng được bnh tt, ch biết hòa gii vi nó đ sng chm li vi nó tng ngày cho con mình. Chc “Cái chết” cũng nhân nhượng vi ch, thông cm vi ch nhưmt người bn.
 
M
t ch bn k cho nghe v mt bà bn khác. Bà này mi ngoài sáu mươi, nhanh nhn, khe mnh và tính nết vui v, yêu đi.
Nh
ưng khi nàđi ra khi nhà bà cũng mang theo mt b qun áo đc bit, đ c giy v b vào mt cái túi nh riêng trong va-li.
H
i bà, sao li đ b này ra riêng mt gói vy, bà thn nhiên nói:“Nếu tôi chết bt thình lình đâu, tôi có sn qun áo lim, không phin đến ai phi lo cho mình.”
Bà mang theo nh
ư thếlâu lm ri, tôi không biết có khi nào bà ngm nghía mãi, thy chưa dùng ti, bà li đi mt b mi khác cho ưng ýkhông?
Gi
ng như người ph nsp đi d tic hay cm lên, đ xung, thay đi áo qun sao cho đp. Đi vào cái chết cũng có thcoi như đi d mt đám tic.
 
Tôi nghĩ đây là m
t người khôn ngoan, sn sàng cho cái chết mà bà biết nó s đến bt c lúc nào.
Bà đón nh
n cái chết t nhiên, gin d nhưđi d tic, hay mt chuyến đi xa, đi gn, nào đó c
a mình.
 
Nh
ưng không phi ai cũng nghĩ v cái chết gin d như vy. Phn đông mun được sng lâu, nên bao gi gp nhau cũng thích chúc cho nhau tui th.
Thích h
i nhau ăn gì, ung gì cho tr trung mãi. Loài người nói chung, càng ngày càng thích sng hơn chết.
H
 tìm kiếm đ mi phương thuc đ kéo dài tui th. Người ta c đoán, trong mt tương lai rt gn, loài người có th sng đến 120 tui ddàng vi nhng môn thuc ngăn nga bnh tt và bi dưỡng sc khe.
 
R
i người ta s còn to ra nhng b phn mi ca ni tng đ thay thếcho nhng b phn gc b nhim bnh.
Gan, ru
t, bao t v.v, sđược thay như ta thay nhng phn máy móc ca mt cái xe cũ. Chúng ta, ri s sng chen chúc nhau trên mt đt này.
 
Ch
 tiếc mt điu là song song vi vic khám phá ra thuc trường thngười ta cũng phi phát minh ra nhng người máy (robot) đ chăm sóc nhng người già này, vì con cháu quá bn (chc đang chúi đu tìm thuc trường sinh) không ai có thi gichăm sóc cha m già.
 
Theo tôi, ng
m nhìn hình nh mt c ông hay mt c bà lưng còng, tóc bc, đang cô đơn ngi trong mt căn bung trng vng, được mt người máy đút cơm vào ming, tht khó mà cm đng, đôi khi còn cho ta cái cm giác ti thân na.
 
Nh
ưng sng như vy mà có người vn thích sng.
M
t người đàn ông ngoài by mươi, b bnh tim nng, đang nm trong phòng đc bit (ICU) lúc mơ màng tnh dy, nhn vi các con cháu là khi nào vào thăm không ai được mc áo mu đen. Ông kiêng c mu ca thn chết. Ông quên rng thn chết, đôi khi, có th đến vi chiếc áo mu hng.
 
Th
t ra, chính nh “cái chết” cho ta nhn biết là “cái sng” đp hơn và có giá tr hơn, dù cóngười sng rt cơ cc vn thy cuc đi là đp.
 
Nh
ng bc thiên tài, nhng nhà văn ln đã ttìm v cái chết khi hbt đu nhìn thy cái vô v trong đi sng nhưnhà văn Ernest Hemingway, Yasunari Kawabata và ha sĩ Vincent van Gogh, v.v… Chc h không mun sng vì thy mình không còn kh năng hưởng hết v đp ca “cái sng” na.
H
 là mt vài người trong s nh trên mt đt này sau khi chết đli tên tui trên nhng trang s, lưu li hu thế, còn phn đông nhân loi, sau khi chết mt thi gian, không đ li mt di tích nào Con cháu có th cúng được mt hai thế h, sau đó tên tui m dn, mt hn theo ngày tháng, vì chính nhng k thphng đó li tiếp theo nm xung cùng cát bi.
 
Ð
i sng con người chóng qua như c, nhưbông hoa n trong cánh đng, mt cơn gióthong đ làm nó biến đi, nơi nó mc cũng không còn mang vết tích.(Thánh Vnh)
 
Th
ượng Đế khi đem mình vào đi, có hi ý kiến mình đâu. Nên chc chn là khi Ngài gi mình đi cũng chng cn thông báo trước.
 
Chúng ta c
 thong thsng tng ngày, khi nào chết thì chết, mt tri mc ri mt tri ln, bông hoa n ri bông hoa tàn, thế thôi.
 
T
i sao ta phi cay cú vi cái chết? Hãy dùng trí tưởng tượng ca mình, th hình dung ra mt thế gii không có cái chết(*)
 
Ch
c lúc đó chúng ta skhông còn không khí mà th ch đng nghĩ đến có mt phiến đt cho bàn chân đng.
 
Tr
n Mng Tú .
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 7

Katherine Commale: cứu sống hàng triệu trẻ em ở Châu Phi

https://baomai.blogspot.com/
Katherine Commale 7 tuổi cứu sống hàng triệu trẻ em ở Châu Phi.
Liệu bạn có đang thắc mắc, một cô bé sẽ làm gì để cứu hàng triệu trẻ em khác, trong khi em mới đang tuổi ăn, tuổi lớn, đến trường và vui chơi. Thông thường, người lớn chúng ta thường đánh giá thấp khả năng của những đứa trẻ. Vậy, hãy cùng khám phá câu chuyện của Katherine Commale, cô bé sẽ cho chúng ta biết các em mạnh mẽ và có năng lực lớn hơn chúng ta nghĩ rất nhiều.
Vào một buổi chiều cuối xuân, 6 tháng 4 năm 2006, Katherine Commale, lúc đó là một cô bé 5 tuổi đang chăm chú theo dõi một chương trình truyền hình trên ti vi. Đó là bộ phim tài liệu nói về nạn sốt rét tại lục địa đen. Căn bệnh truyền nhiễm này đã gây ra thảm cảnh ở châu Phi thời điểm đó, cứ 30 giây lại có một trẻ em bị chết vì sốt rét.
https://baomai.blogspot.com/
Katherine ngẩn người trước những gì cô bé nghe được. Em không biết căn bệnh đó như thế nào, cũng không hình dung được cuộc sống khổ cực của người dân ở xứ sở xa xôi ấy. Nhưng cô bé biết và ấn tượng với con số vừa nghe.
Em ngồi xòe bàn tay nhỏ của mình, kiên nhẫn đếm từ 1 đến 30, rồi quay sang nhìn mẹ: “Mẹ ơi, vừa lại có một bạn nhỏ châu Phi nữa chết rồi. Chúng ta phải làm gì đó!”. 
https://baomai.blogspot.com/
Mẹ Lynda không biết trong tâm hồn của con gái bé nhỏ đang diễn ra điều gì. Cô chỉ biết, con gái đang thực sự quan tâm đến vấn đề này. Trái tim của con đang hướng về những đứa trẻ ở xa xôi ngàn dặm, cô bé đang lo lắng cho những bạn của mình.
Không chần chừ, cô Lynda cùng con lên mạng để kiểm tra và tìm hiểu thêm thông tin về căn bệnh. Khi mắc sốt rét, tính mạng của trẻ em rất mong manh, cơ hội sống không nhiều.
Katherine lo lắng hỏi mẹ, tại sao lại có nhiều người bị mắc sốt rét đến vậy. Vì châu Phi có quá nhiều muỗi, đây chính là thủ phạm khiến cho căn bệnh này trở nên phổ biến và lấy đi nhiều sự sống.
https://baomai.blogspot.com/
Chân dung cô gái nhỏ có tấm lòng nhân hậu.
Nhìn mẹ, Katherine tiếp tục hỏi, vậy có cách gì giúp bảo vệ họ trước những con muỗi hay không? Thật may mắn, có một cách: Họ phải dùng những chiếc màn. Chúng được tẩm chất diệt muỗi nên có thể giữ an toàn cho con người khỏi loài vật nhỏ nhưng nguy hại ấy. “Tại sao họ lại không dùng màn hả mẹ?”, cô gái nhỏ mong được hiểu đến cùng sự việc. “Vì những chiếc màn quá đắt đối với họ, họ không đủ tiền để mua chúng con ạ”, Lynda đã giải thích cho con gái của mình. Khatherine nghe và hiểu rõ.. Nhưng cô bé vẫn tự lư và tự nói với chính mình “Chúng ta cần làm gì đó”.
Một vài hôm sau, cô giáo gọi điện về cho mẹ Lynda thông báo rằng Katherine không nộp tiền ăn nhẹ. Thấy lạ, người mẹ trẻ đã nhẹ nhàng hỏi con rằng cô bé đã dùng số tiền đó để làm gì.. Và dưới đây là câu trả lời:
“Mẹ ơi, nếu con không ăn đồ ăn nhẹ ở trường, bình thường không ăn vặt, cũng không mua búp bê nữa, vậy thì có đủ để mua một chiếc màn không ạ?”. Vậy ra từ hôm xem xong chương trình đến giờ, cô gái nhỏ vẫn đang tìm cách để “làm một điều gì đó” cho các bạn nhỏ đang bị sốt rét đe dọa mạng sống. Mẹ Lynda đã hiểu mình phải làm gì, cô dẫn con gái tới siêu thị. Họ mua một chiếc màn để gửi tới châu Phi.
Mẹ còn giúp Katherine tìm một tổ chức để gửi món quà của em tới tận tay người cần nó. Họ đã may mắn tìm được Nothing But Net (tạm dịch: Không có gì ngoài chiếc màn) – một tổ chức chuyên gửi màn trực tiếp tới châu Phi xa xôi. Katherine đã tận tay gửi chiếc màn cho tổ chức này. Chỉ vài ngày sau em nhận được thư cảm ơn.
https://baomai.blogspot.com/
Ảnh tuyên truyền cho chiến dịch. Dòng chữ trên ảnh viết: 6,2 triệu người đã được cứu sống, nhưng chúng ta vẫn có thể cứu hàng tỉ người.
Qua thư, cô bé biết được rằng, mình là người nhỏ tuổi nhất quyên tặng màn. Hơn nữa, khi em quyên tặng đủ 10 chiếc màn, tổ chức sẽ trao tặng em một giấy chứng nhận.
Vậy là cô gái bé nhỏ xin mẹ cùng đi bán đồ cũ trong nhà. Cô bé muốn kiếm thêm tiền để mua màn tặng cho các bạn nhỏ châu Phi. Hiểu tấm lòng của con gái, cô Lynda đã cùng con bày bán đồ trong phiên chợ đồ cũ. Nhưng cách làm này không hiệu quả. Rất ít người để ý tới sạp hàng của họ.
https://baomai.blogspot.com/
Tuy nhiên, điều này không làm Katherine buồn. Em nghĩ tới tờ giấy chứng nhận mà Nothing But Net sẽ trao tặng cho những ai quyên đủ 10 chiếc màn. Đó chính là gợi ý: 
Em cũng có thể trao tặng một tờ giấy chứng nhận cho những người sẽ quyên tiền để em mua màn ủng hộ các bạn ở châu Phi. Một lần nữa, ý tưởng và tấm lòng của Khatherine bé nhỏ được cả nhà ủng hộ. Mẹ chuẩn bị nguyên liệu, bố dọn dẹp bàn làm việc còn em trai Katherine giúp chị vẽ những hình trái tim xinh xắn lên những tấm giấy chứng nhận. Còn công việc của cô bé chính là viết nên sứ mệnh của tấm giấy này: “Nhân danh bạn, chúng ta mua một chiếc mùng để gửi đến châu Phi”.
Katherine  tự tay làm những tờ giấy chứng nhận để dành tặng những người quyên tiền, với sự trợ giúp của cả nhà.
https://baomai.blogspot.com/
Khi nhìn thấy tấm giấy chứng nhận và được nghe câu chuyện của cô bé, những người hàng xóm  đã rất cảm động. Họ không chỉ mua những tờ giấy này mà còn tình nguyện góp công sức của mình để trợ giúp cho em. Mọi người cùng nhau làm thêm nhiều giấy chứng nhận khác nữa. Đó cũng chính là những người đã giúp Katherine quyên góp được 10 chiếc màn đầu tiên.
Tổ chức Nothing But Net nhanh chóng gửi thư cảm ơn đến cho em.. Họ không quên báo cho cô bé biết, 10 trong số 550 hộ gia đình ở làng Stiga (Ghana) đã nhận được món quà quý báu của em. Katherine nhận ra rằng 10 chiếc mùng là một con số quá nhỏ. Em tiếp tục nuôi dưỡng ước mơ của mình.
https://baomai.blogspot.com/
Katherine và mẹ Lynda trong một buổi diễn thuyết tại nhà thờ.
Không chỉ cha mẹ, những người hàng xóm, mục sư trong khu vực khi biết chuyện đã mời cô bé tới nhà thờ trò chuyện. Lần đó, Katherine đã quyên góp được 800 đô la. 
Sau buổi diễn thuyết này, em tiếp tục tới các nhà thờ khác để kể câu chuyện ở châu Phi xa xôi. Tấm lòng quan tâm, thái độ chân thành, trong sáng của em đã khiến nhiều người cảm động. Khi mới 6 tuổi, Katherine đã quyên góp được cho tổ chức Nothing But Net 6.316 đô la.
https://baomai.blogspot.com/
Nothing But Net đã đăng tải câu chuyện của Katherine lên internet, và nó đã mang đến rất nhiều hiệu ứng tích cực. Trong một lần xem các quảng cáo của tổ chức này, cô bé nhận ra có một người nổi tiếng cũng có chung niềm quan tâm với mình. Cầu thủ David Beckham, anh đã xuất hiện trong một quảng cáo của Nothing But Net. Điều này hẳn đã giúp rất nhiều trẻ em châu Phi có được tấm màn để tránh muỗi.
https://baomai.blogspot.com/
Katherine viết thư để cảm ơn Beckham vì hành động của anh, không quên đính kèm tờ giấy chứng nhận do em và những người hàng xóm đã làm. Một thời gian sau, bức thư được chính Beckham chia sẻ trên trang cá nhân. Tấm lòng, sự quan tâm của Khatherine dành cho các bạn nhỏ châu Phi vì thế cũng trở thành ngọn gió Đông, thổi tới tâm hồn của rất nhiều người khác.
Nhưng đó chưa phải là điều tuyệt vời nhất Katherine nhận được. Ngày 8 tháng 6 năm 2007, cô bé “đại sứ màn chống muỗi” đã nhận được thư từ chính những người bạn châu Phi. Các bạn gửi lời cảm ơn đến em và không quên cho cô bé biết một điều thú vị: “Cảm ơn màn mà bạn đã gửi cho chúng mình, chúng mình đã thấy ảnh của bạn, mọi người đều cảm thấy bạn rất xinh!”.     
https://baomai.blogspot.com/
Những trẻ em châu Phi đã nhận được tấm màn chống muỗi từ những trái tim nhân hậu như Katherine
Đây chính là động lực lớn giúp Katherine và những người bạn tiếp tục làm 100 tờ giấy chứng nhận để gửi cho 100 tỷ phú hàng đầu nước Mỹ, theo danh sách mà tạp chí Forbe công bố. Trong số đó, có đoạn cô bé viết cho tỷ phú Bill Gate. Chân thành, không chút sợ hãi, cô bé nêu lên yêu cầu của mình:
“Kính gửi ông Bill Gates, không có mùng chống muỗi, các bạn nhỏ ở châu Phi sẽ bị mất mạng do bệnh sốt rét. Họ cần tiền, nhưng nghe nói tiền đều ở chỗ của ông…”
Để đáp lại lời yêu cầu thẳng thắn của Katherine, Quỹ từ thiện của Bill Gate đã quyên góp 3 triệu đô la cho tổ chức Nothing But Net vào ngày 5 tháng 4 năm 2011.
https://baomai.blogspot.com/
Chỉ từ mong muốn “làm một điều gì đó” cho các bạn ở châu Phi, Katherine đã trải qua một hành trình dài và kỳ diệu để mang tới hàng triệu trẻ em châu Phi niềm hy vọng được sống. Cô bé không khi nào phải gồng mình hay diễn thuyết quá nhiều, lần nào em cũng cho mọi người hiểu được mong muốn duy nhất của mình “Cháu muốn tất cả những người ở châu Phi cần một chiếc màn sẽ có được một chiếc màn”.
https://baomai.blogspot.com/
Katherine cùng mô hình mùng cho trẻ em châu Phi của mình.
Đến năm 10 tuổi, Katherine đã quyên góp được 180.000 đô la để mua màn cho trẻ em châu Phi. Sau đó, em nhận được tin rằng số liệu khiến em ấn tượng khi 5 tuổi ấy đang ngày càng cao lên, thời điểm đó là 45 giây. Nghĩa là đã có nhiều trẻ em được cứu sống ở nơi xa xôi ấy. Hiện tại, con số này là 60 giây.
Bạn có thấy cô bé này đã làm được một điều kỳ diệu, và cũng không phải nói quá nếu nói rằng em đã làm được một công việc vĩ đại so với tuổi trẻ của mình. Điều gì khiến cô bé có thể làm được điều đó? Không phải là sự giàu có về tiền bạc, mà chính tình thương chân thật em mang trong trái tim đã tạo nên điều kỳ diệu đó. Bởi một trái tim yêu thương có thể khơi dậy được rất nhiều những trái tim yêu thương khác. Bạn thấy đấy, Katherine đã tạo nên một cộng hưởng tuyệt vời của những trái tim hướng về những người khốn khó mong manh.
https://baomai.blogspot.com/
Vậy bạn đã cảm nhận được năng lực của trẻ thơ, và nguồn cội của năng lực kỳ lạ đó? 
Trẻ em tuyệt vời hơn người lớn ở chỗ các em mang trong mình tình thương thuần khiết trong tim, và không có bất kỳ một quan niệm nào trong tâm hồn. Trong tâm hồn của những đứa trẻ không có người giàu hay người nghèo, chỉ có người cần giúp và người có thể giúp đỡ mà thôi.
https://baomai.blogspot.com/
Nhưng cũng cần dành một lời cảm ơn chân thành đến người mẹ nhân hậu của Katherine, cô Lynda Commale, người đã lắng nghe và giúp cho tình thương của cô gái nhỏ bay xa tới như vậy.
Câu chuyện của Katherine đã lay động trái tim của hàng triệu người.
https://baomai.blogspot.com/
Katherine đáng yêu và nhân ái.
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 15

Vào Xuân

 

Đi vào nẻo xuân
Gặp đường lụa đỏ
Ai chờ em đó
Mà hoa trắng ngần

Đi vào thanh tân
Như về quê ngoại
Lúa hương đồng gần
Đương thì con gái

Hẹn cưới phân vân
Em nhìn mê mải
Chuồn ngô ngủ mãi
Bờ ao cúc tần

Khép tà áo mới
Em vào đêm xuân.

Hoàng Cầm 

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 12

Tóc Rơi

Một sợi tóc
dù rơi đi phù phiếm
Cũng anh ơi
hãy nhặt lại dùm em
Thì nhỡ mai
lạc lõng giữa mùa quên
Anh sao biết
tìm đâu ra kỷ niệm
Ngày xô ngày
bóng ngã nhoài ngất lịm
Vọng lời em
nhắn trả nợ thời gian
Sợi tóc xưa
ngoan giấc giữa hưng-tàn
Xanh nguyên vẹn
Giữa bạt ngàn lau trắng .

Thanh Pham

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 16

Bố – người tốt nhất và cô đơn nhất

 

Papa   

(Elvis Phương hát)

Người tốt nhất thế gian này là bố, người cô đơn nhất cũng là bố

Tình yêu của bố rất kín đáo, cũng rất lặng lẽ, mặc dù tình yêu của bố không trực tiếp như của mẹ, nhưng bố có thể vì con mà hi sinh tất cả, bao gồm cả mạng sống. Tình yêu của bố cũng vị tha như tình yêu của mẹ, bố cũng không cần hồi đáp; tình yêu của bố là tình yêu vô hình, chỉ có người để tâm mới cảm nhận được.

Lại một năm nữa đã trôi qua, rất nhiều người cha vẫn đang ở ngoài kia cặm cụi, cần mẫn làm việc, những giọt mồ hôi rơi xuống tất cả cũng chỉ vì gia đình mình, vì những đứa con của mình. Hi vọng thời gian trôi chậm lại một chút thôi, tóc bố đang bạc dần rồi kìa.

‘Bố ơi, những ngày tháng sau này, con muốn nắm lấy đôi tay bố giống như hồi xưa bố nắm tay dạy con những bước đi đầu tiên, cùng bố đi hết con đường này’.

Bạn đã từng thử cảm nhận những nỗi vất vả của bố chưa? Nếu như bạn yêu bố, nếu như bạn đang nhớ bố, thì hãy xem phần tiếp sau đây.

1. Trên thế giới này, người khó hiểu nhất là bố. Bố vừa dạy bạn biết thế nào là tiết kiệm, vừa lén lút cho bạn tiền tiêu vặt hàng ngày.

2. Bên ngoài thì đang trách mắng bạn vì bạn đã làm sai, nhưng trong lòng lại chẳng hề muốn bạn bị mắng tẹo nào.

3. Tuy bố chưa từng mở miệng khen bạn tài giỏi như thế nào, nhưng trong lòng lại luôn tự hào về bạn.

4. Bố không bao giờ cho phép bạn yêu sớm, nhưng trong lòng lại hi vọng, sau này bạn sẽ có được một gia đình hạnh phúc.

5. Trên thế giới này, người yêu bạn sâu đậm nhất nhưng không hề biểu hiện ra ngoài, chính là bố bạn

6. Có ai bằng lòng làm ngựa cho bạn cưỡi không? Có ai tình nguyện làm gối cho bạn kê đầu không? Có ai tình nguyện quạt cho bạn mát vào những buổi trưa hè mất điện không?… Người ấy chỉ có thể là bố thôi.

7. Trên thế gian này, người chịu áp lực nặng nhất, chịu đựng hết mọi gánh nặng, tranh đấu vì miếng cơm manh áo nhiều nhất, chính là bố.

8. Trên thế gian này, người cô đơn nhất cũng là bố.

9. Trong những người xung quanh bạn, người trải qua nhiều khó khăn vất vả nhất là bố, người nhận được ít lời tán khen nhất cũng là bố.

……..Bố ơi, con thương bố , lạy Trời cho Bố sống mãi với con !

 DoanhDoanh Sưu tầm

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 26

TRỞ VỀ CÁT BỤI

GIÃ TỪ CĂN PHÒNG NURSING HOME.
( Viết thay chị Hồng Thủy khi nghe tin mẹ chị qua đời. Jan 09, 2018 

Mẹ tôi vừa qua đời,
Giã từ căn phòng trong nursing home quen thuộc, 
Giã từ người bạn chung phòng không quen biết, 
Hai người chung phòng nhưng chưa bao giờ nói chuyện, 
Dù chỉ một câu, 
Vì cả hai cùng già cùng mất trí như nhau.

Những lần tôi đến thăm,
Trong căn phòng nhỏ, 
Bức màn chia hai người, 
Hai thế giới xa lạ. 
Mẹ tôi ngồi trong chiếc xe lăn gục đầu như tượng đá,
Bà kia cũng ngồi trong chiếc xe lăn, 
Mắt nhìn mông lung về bức tường trước mặt, 
Thỉnh thoảng cười cười chẳng ai hiểu vì đâu. 

Mấy năm trời bên nhau, 
Họ đã cùng thời gian ăn ngủ, 
Cùng thở chung một bầu không khí, 
Cùng trải qua những đêm yên lành 
Những khi thức giấc, 
Hay những khi ốm đau khó ở…. 

Hôm nay mẹ tôi qua đời,
Chiếc giường vắng người, 
Tôi thấy bà bạn chung phòng của mẹ, 
Vẫn ngồi trong chiếc xe lăn lặng lẽ,  
Đôi mắt vô hồn, 
Nụ cười ngu ngơ, 
Bà đâu biết rằng người bạn bên giường kia vừa mới đi xa. 

Ôi những người gìà, 
Như mẹ tôi, 
Như bà bạn chung phòng,                 
Sống trong nursing home những ngày cuối đời ,

                                    Flickr/Zimmerman
Chiếc lá cuối mùa tàn tạ,
Sẽ rụng rơi, 

                                    Flickr/ Christos Zoumides
Và trở về cội nguồn cát bụi.

Nguyễn Thị Thanh Dương. 

( Jan. 09, 2018)
            
                                                        *****
          
                                         *****
          

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 29

Em Ở Đâu

Chiều ngả dần về phía chẳng còn em
Làn tóc rối, môi mềm trong ánh mắt
Anh đâu biết xa em là sự thật
Gió đông sang hiu hắt một khoảng trời

Dòng tâm sự cũng chẳng thể nào vơi
Khi cô đơn khiến lòng anh nhung nhớ
Đêm thao thức bóng hình ôm trăn trở
Suốt canh dài khói thuốc lặng lờ bay

Em ở đâu giữa mùa đông này đây?
Sao nỡ quên giây phút mộng ban đầu
Năm canh thâu đèn khuya in một bóng
Rét trời đông lạnh lẽo những ưu sầu

Em vẫn thế trong anh những cơn mơ
Vẫn bờ vai và ánh mắt ngây thơ
Vẫn nụ cười nghiêng nghiêng chiều rạng nắng
Vẫn làm anh say đắm với thẫn thờ

Nhưng đêm nay nguyệt chết với mong chờ
Sao thôi sáng, sương mờ giăng đêm tối
Một mình anh giữa đêm dài gió thổi
Lê gót mòn thờ thẫn lối không em…
(Huỳnh Minh Nhật)

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 19

Đợt Rét Cuối Mùa

Cơn gió khẽ ru hồn đông tê buốt
Khói thuốc buông rét lạnh một nụ đài
Tình yêu về lạc lõng giữa hoang khai
Ta nghe tiếng: Đông ơi! Mùa gió cuối

Em bên ai giữa đêm sao rong ruổi?
Tay trong tay mà sương ướt bờ vai
Mái tóc xanh lấm tấm cánh nguyệt dài
Nhớ hay quên một mùa đông thuở trước?

Sao phố cũ bỗng tiêu điều, phố hỡi?
Nhớ dáng ta như năm trước đợi người
Hay nhớ về ta với nụ cười tươi?
Mà đau đớn giữa mùa đông quạnh vắng

Ta đấy thôi! Nhưng tâm tư trầm lặng
Em kia thôi! Chỉ khác một khoảng trời
Gió cuối mùa rét lạnh nỗi đơn côi
Xơ xác quá! Hồn thơ đêm sương giá…
(Huỳnh Minh Nhật)

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 6

NHẠC NGUYỄN VĂN ĐÔNG QUA GIỌNG HÁT CA SĨ HÀ THANH

image



Vào năm 1956, đơn vị tôi đóng quân ở Chiến khu Đồng Tháp Mười, được xem là mặt trận tiền tiêu nóng bỏng vào thời bấy giờ.. Khi ấy, tôi mang cấp bực Trung úy, mới 24 tuổi đời, còn bạch diện thư sinh. Tuy hồn vẫn còn xanh nhưng tâm tình đã nung trong lửa chín ở quân trường. Chính tại Đồng Tháp Mười, vùng đất địa linh nhân kiệt, đã gợi hứng cho tôi sáng tác những bản hùng ca như Súng Đàn, Vui Ra Đi, một thuở được hát vang trong Chiến dịch Thoại Ngọc Hầu. Rồi tiếp sau đó là các bản nhạc Phiên Gác Đêm Xuân, Chiều Mưa Biên Giới, Sắc Hoa Màu Nhớ được ra đời cũng tại vùng đất thiêng này. Khi đi vào vùng hỏa tuyến, là chàng trai trẻ độc thân, với một mối tình nho nhỏ thời học sinh mang theo trong ba-lô, tôi bước nhẹ tênh vào cuộc chiến đầu đời.

 

image



Ngày đó Đồng Tháp Mười còn là đồng không mông quạnh, lau sậy ngút ngàn, dân cư thưa thớt, sống co cụm trên những gò đất cao giữa vùng đồng lầy nước nổi quanh năm. Người ở hậu phương lúc bấy giờ nhìn về Đồng Tháp Mười như là vùng đất bí hiểm với những huyền thoại Lúa Ma nuôi quân đánh giặc, về Tổng Đốc Binh Kiều, Thiên Hộ Vương thời chống Pháp qua những trận đánh lẫy lừng ở Gãy Cờ Đen, Gò Tháp mà chiến tích được tạc vào bia đá ở Tháp Mười Tầng còn lưu lại đến ngày nay.

 

image



Mùa xuân năm đó, đơn vị tôi đóng trên Gò Bắc Chiêng, có tên là Mộc Hoá, nằm sát biên giới Việt Nam-Campuchia, sau này là Tỉnh lỵ Kiến Tường. Đơn vị của tôi đã có những cuộc giao tranh đẫm máu vào những ngày giáp tết trên những địa danh Ấp Bắc, Kinh 12 và tuyến lửa Thông Bình, Cái Cái, Tân Thành. Dù vậy, mùa xuân vẫn có cánh én bay về trên trận địa và hoa sen Tháp Mười vẫn đua nở trong đầm dù bị quần thảo bởi những trận đánh ác liệt. Cứ mỗi độ xuân về, sông Vàm Cỏ lại mang về từng đàn tôm cá từ biển hồ Tông Lê Sáp, vượt vũ môn theo đám lục bình trôi về vùng Tam Giác Sắt, như nhắc nhở Bộ Tư Lệnh Tiền Phương Đồng Tháp Mười lập danh sách cho những người được về quê ăn Tết. Vì còn độc thân nên tên tôi được ưu tiên ghi vào Sổ Nhật Ký Hành Quân và ở lại đơn vị trong những ngày Tết. Dù không ai nghĩ có đánh nhau ngày đầu năm nhưng quân lệnh phải được tuân hành nghiêm chỉnh.. Trước ba ngày Tết, tôi được lệnh lên chốt tiền tiêu, tăng cường cho cứ điểm, mang theo chiếc ba-lô với chút hành trang lương khô, cùng tấm ảnh của người em gái hậu phương, cũng là cơ duyên sau đó để tôi viết nên bài tình ca Sắc Hoa Màu Nhớ.

 

image

https://www.youtube..com/ watch? v=RipWygP3ENY

 

Tiền đồn cuối năm, đêm 30 Tết, trời tối đen như mực, phút giao thừa lạnh lẽo hắt hiu, không bánh chưng xanh, không hương khói gia đình. Tôi ngồi trên tháp canh quan sát qua đêm tối, chỉ thấy những bóng tháp canh mờ nhạt bao quanh khu yếu điểm như những mái nhà tranh, chập chờn dưới đóm sáng hỏa châu mà mơ màng về mái ấm gia đình đoàn tụ lúc xuân sang. Thay cho lời chúc Tết là tiếng kẻng đánh cầm canh và tiếng hô mật khẩu lên phiên gác.. Vào đúng thời điểm giao thừa, ngọn đèn bão dưới chiến hào thắp sáng lên như đón chào năm mới thì cũng là lúc những tràng súng liên thanh nổ rền từ chốt tiền tiêu. Khi ấy vào buổi tinh mơ của trời đất giao hòa, vạn vật như hòa quyện vào trong tôi, có hồn thiêng của sông núi, có khí phách của tiền nhân. Tôi nghe tâm hồn nghệ sĩ của mình rộn lên những xúc cảm lạ thường, làm nảy lên những cung bậc đầu tiên của bài Phiên Gác Đêm Xuân:

 

image

https://www.youtube.com/watch? v=59t-kUAd3og

 

“Đón giao thừa một phiên gác đêm
chào Xuân đến súng xa vang rền.
Xác hoa tàn rơi trên báng súng
ngở rằng pháo tung bay
ngờ đâu hoa lá rơi…”
Rồi mơ ước rất đời thường:
“Ngồi ngắm mấy nóc chòi canh
mơ rằng đây máinhà tranh
mà ước chiếc bánh ngày xuân
cùng hương khói vương niềm thương…”

Bài Phiên Gác Đêm Xuân được ra đời trong hoàn cảnh như thế, cách đây nửa thế kỷ, đánh dấu một chuỗi sáng tác của tôi về đời lính như Chiều Mưa Biên Giới, Mấy Dặm Sơn Khê, Sắc Hoa Màu Nhớ, Khúc Tình Ca Hàng Hàng Lớp Lớp, Xin Đừng Trách Anh, Lá Thư Người Lính Chiến, Anh Trước Tôi Sau, Lời Giã Biệt… vân vân. Sau ngày 30 tháng Tư năm 75, các bản nhạc này cùng chung số phận tan tác như cuộc đời chìm nổi của tôi.

 

Còn với hãng dĩa Continental:

 

image

Vào năm 1960, tôi và người bạn cao niên tên là Huỳnh Văn Tứ, một nhà doanh nghiệp có tiếng ở Sàigòn, cùng đứng ra sáng lập hãng dĩa Continental và Sơn Ca. Ông Huỳnh Văn Tứ phụ trách Giám Đốc Sản Xuất, nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông phụ trách Giám Đốc Nghệ Thuật. Chủ trương của chúng tôi là nhắm vào hai bộ môn Tân Nhạc và Sân Khấu Cải Lương Ca Cổ. 

 

image

Về lãnh vực Tân Nhạc, tôi cho ra đời hàng trăm chương trình mang dấu ấn của hãng Continental, Sơn Ca, Premier. Chính hãng Continental, Sơn Ca đã đi tiên phong trong việc thực hiện Album riêng cho từng cá nhân ca sĩ, như Khánh Ly với Sơn Ca số 7, Lệ Thu với Sơn Ca số 9, Thái Thanh và Ban Hợp Ca Thăng Long với Sơn Ca số 10 và nhiều Album cho Phương Dung, Thanh Tuyền, Giao Linh, làm vinh danh những tài năng này ở thập niên 60 và 70. Riêng về bộ môn Sân Khấu Cải Lương Ca Cổ , tôi đã thực hiện hàng trăm chương trình Tân Cổ Giao Duyên và trên 50 vở tuồng cải lương kinh điển nổi tiếng như Nửa Đời Hương Phấn, Đoạn Tuyệt, Tiếng Hạc Trong Trăng, Sân Khấu Về Khuya, Mưa Rừng… vân vân.

image

Chính trong thời gian này, tôi tạo thêm hai bút danh nữa là nhạc sĩ Phượng Linh và soạn giả Đông Phương Tử, nhằm phục vụ cho bộ môn Cải Lương Sân Khấu và Tân Cổ Giao Duyên. Bút danh Phượng Linh để sáng tác phần nhạc đệm và bài ca tân nhạc lồng trong các vở tuồng cải lương, phối hợp với giàn cổ nhạc gồm những danh cầm như Văn Vỹ, Năm Cơ, Hai Thơm. Còn bút danh Đông Phương Tử là soạn các bài tân cổ giao duyên và đạo diễn thâu thanh các vở tuồng cải lương. Tiếc thay, những công trình tâm huyết đó đã bị gạt ra bên lề xã hội sau biến cố lịch sử 30 tháng Tư năm 1975.


Nói về những nhạc phẩm sau này, nhạc sĩ NVĐ tâm sự

Sau tháng 4/1975, tôi đi học tập “cải tạo” 10 năm. Khi trở về nhà, tôi mang theo nhiều chứng bệnh trầm trọng, tinh thần và thể xác bị suy sụp. Suốt 30 năm qua, tôi không tham gia bất cứ hoạt động nào ở trong nước cũng như ngoài nước. Vào năm 2003, nhà nước Việt Nam có cho phép lưu hành 18 bài hát của tôi, gồm: Hải Ngoại Thương Ca, Nhớ Một Chiều Xuân, Về Mái Nhà Xưa, Khi Đã Yêu, Đom Đóm, Thầm Kín, Vô Thường, Niềm Đau Dĩ Vãng, Tình Cố Hương, Cay Đắng Tình Đời, Tình Đầu Xót Xa, Khúc Xuân Ca, Kỷ Niệm Vẫn Xanh, Truông Mây, Bài Ca Hạnh Phúc, Trái Tim Việt Nam, Núi và Gió…


Rất tiếc một số bài hát tâm đắc không được nhà nước cho phép. Tôi hy vọng rồi đây theo thời gian mọi việc sẽ tốt đẹp hơn. Đặc biệt trong lãnh vực văn hoá, văn nghệ, tôi nghiệm rằng những gì có giá trị nghệ thuật, dù bị vùi dập vì sự ganh tỵ hay hiểu lầm, sẽ có ngày được mang trả lại vị trí đích thực của nó. Tôi chỉ tiếc đời người ngắn ngủi mà tôi đã phí phạm quãng thời gian dài 30 năm. Thật lấy làm tiếc!

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 16

Bùi Giáng Viết Về Thơ Tuệ Sĩ

Tuệ Sỹ một vị sư. Ông viết văn quá nghiêm túc, những sở tri của ông về Phật học quả thật quảng bác vô cùng. Thấy ông vẻ người khắc khổ, không ai ngờ rằng linh hồn kia còn ẩn một nguồn thơ thâm viễn u u…. 
Một bữa ông đọc cho tôi nghe hai câu thơ chữ Hán của ông:
Thâm dạ phong phiêu nghiệp ảnh tùy
Hiện tiền vị liễu lạc hoa phi
Ông bảo làm sao tiếp cho hai câu để nên một bài tứ tuyệt. Tôi đề nghị với ông nên nhờ ni cô Trí Hải tiếp giùm. Ông ngượng nghịu bảo tôi đừng nên rỡn đùa như thế. Vậy tôi xin lai rai thử viết:
Thâm dạ phong phiêu nghiệp ảnh tùy
Hiện tiền vị liễu lạc hoa phi
Phiêu bồng tâm sự tân toan lệ
Trí Hải đa tàm trúc loạn ty
Và xin ông chả nên lấy thế làm bực mình.
Nhưng ai có ngờ đâu nhà sư kín đáo e dè kia, không hề bao giờ có vướng lụy, lại còn mang một nguồn thơ Việt phi phàm? 
Một bài thơ “Không đề” của ông đủ khiến ta khiếp vía mất ăn mất ngủ:
Đôi mắt ướt tuổi vàng khung trời hội cũ
Áo màu xanh không xanh mãi trên đồi hoang
Phút vội vã bỗng thấy mình du thủ
Thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn
Mới nghe bốn câu thôi, tôi đã cảm thấy lạnh buốt linh hồn, tê cóng cả cõi dạ.
Từ núi lạnh đến biển im muôn thuở
Đỉnh đá này và hạt muối đó chưa tan
Cười với nắng một ngày sao chóng thế
Nay mùa đông mai mùa hạ buồn chăng
Đếm tóc bạc tuổi đời chưa đủ
Bụi đường dài gót mỏi đi quanh
Giờ ngó lại bốn vách tường ủ rũ
Suối nguồn xa ngược nước xuôi ngàn
Tôi hoảng vía đề nghị : 
Đại Sư nên gác bỏ viết sách đi. 
Và làm thơ tiếp nhiều cho, Nếu không thì nền thi ca Việt mất đi một thiên tài quá lớn.
Ông đáp :
-Để về hỏi lại cô Trí Hải xem có đúng như lời thế chăng.
Đôi mắt ướt tuổi vàng
Khung trời
Hội cũ
Xin xuống giòng thư thả như thế. Ắt nhìn thấy chất trang trọng dị thường của hoài niệm. 
Hoài niệm gì? – Cung trời hội cũ.
Một hội đạp thanh ? 
Một hội nao nức ? 
“Giờ nao nức của một thời trẻ dại ?”.
Đôi mắt ướt tuổi vàng khung trời hội cũ…
Mở lời ra, nguồn thơ trực nhập vào trung tâm cơn mộng chiêm niệm. 
Đầy đủ hết mọi yếu tố bát ngát: một cung trời xán lạn bao la, 
một hội cũ xao xuyến, 
một tuổi vàng long lanh…. 
Một đôi mắt ướt ngậm ngùi của hiện tại.
Nhưng mạch thơ đi ngầm. 
Tiết nhịp âm thầm nhiếp dẫn. 
Thi sĩ không cần tới một hình dung từ nào cả, vẫn nói được hết mọi người đều “phải nói” với mọi người “muốn nghe” với riêng mình “không thiết chi chuyện nói”.
Người thi sĩ xuất chúng xuất thần thường có phong thái khác thường đó. Họ nói tất ít mà nói rất nhiều. Họ nói rất nhiều mà chung quy hồ như chẳng thấy gì hết. 
Họ nói cho họ, mà như nói hết cho mọi người. 
Nói cho mọi người mà cơ hồ chẳng bận tâm gì tới chuyện thiên hạ nghe hay chẳng nghe. 
Nỗi vui, nỗi buồn của họ, dường như chẳng phi giống lối vui buồn của chúng ta. Do đó chúng ta trách móc họ một cách lệch lạc hết cả (par manque de justice interne).
Trong một cuộc vui, ta hỏi họ vài điều. Họ lơ đễnh thờ ơ, ta tưởng họ kiêu bạc. 
Trong lúc mọi người đang gào khóc giữa đám tang, họ phiêu nhiên đi qua, trông có vẻ như mỉm cười, niêm hoa vi tiếu. Ta tưởng họ tàn nhẫn thô bạo.
Vua Gia Long ngày xưa đã từng lấy làm quái dị về thái độ Nguyễn Du :
“Trẫm dùng người, không phân biệt kẻ Nam kẻ Bắc. Ai có tài thì trẫm trọng dụng (…). Cớ sao khanh lại u sầu ít nói suốt năm như thế?”.
Ông vua kia lấy làm lạ là phải lẽ lắm, hợp với lương tri thói thường thiên hạ lắm. Ông không thể hiểu vì sao vị di thần kia cứ miên man như nằm trong cõi mộng thần di, hồn dịch!
Vua đã ban cho chan hòa mưa móc, lộc trọng quyền cao đặc ân thâm hậu như thế, cớ sao Liệp Hộ chưa vừa lòng, vẫn chưa cứ thả mộng chạy lang thang về chân trời hướng khác.
Đáp: 
Ấy chính bởi đôi mắt nhìn đây mà thấy những đâu đâu.
Đôi mắt ướt tuổi vàng
Khung trời hội cũ
Đôi mắt ướt? 
Đôi mắt của ai? 
Vì sao ướt? 
Vì lệ trào, hay là vì quá long lanh?
Thi sĩ không nói rõ. Ấy là giữ một khoảng trống vắng lặng phóng nhiệm cho thơ.
Tha hồ chúng ta tự do nghĩ hai ba lối. Hoặc là đôi mắt thi nhân ướt trong hiện tại vì nhớ nhung một trời hội cũ. Hoặc là đôi mắt giai nhân nào long lanh dịu mật như nước suối chan hòa, soi bóng một khung trời hội cũ bất tuyệt nào, mà ngày nay tại hạ đã đánh mất rồi chăng?
“Áo màu xanh không xanh mãi trên đồi hoang”
Áo nào màu xanh? 
Màu xanh màu chàm của cô gái Mán gái Mường, gái núi nào xưa kia băng rừng và thi nhân đã ngẫu nhiên một lần nhìn đắm đuối?
Tôi nói không sai sự thật mấy đâu. Vì Tuệ Sỹ vốn xưa kia ở Lào. 
Cha mẹ ông kiều cư trên đất Thượng Lào Trung Việt. Bà mẹ ông thỉnh thoảng cũng trở về Sài Gòn tới chùa viếng ông đem quà cho ông một đôi dép riêng biệt, một tấm khăn quàng riêng tây.
Đôi mắt ướt tuổi vàng
Khung trời hội cũ
Áo màu xanh
Không xanh mãi
Trên đồi hoang
Phút vội vã bỗng thấy mình du thủ.
Thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn
Phút vội vã bỗng thấy mình du thủ?
Mình là thân Bồ tát, quanh năm kinh kệ trai chay, thế sao bỗng nhiên một phút vội vã lại dám làm thân du thủ? 
Dám gác bỏ kệ kinh? 
Dám mở cuộc thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn?
Phải có nhìn thấy khuôn mặt khắc khổ chân tu của Tuệ Sỹ, mới kinh hoàng vì lời nói thăm thẳm đơn sơ nọ. Lời nói như ngân lên từ đáy sâu linh hồn tiền kiếp, từ một quê hương trên thượng du bao la rừng núi gió sương canh chiều nguyệt rung rinh trong đêm lạnh.
Từ núi lạnh đến biển im muôn thuở
Đỉnh đá này và hạt muối đó chưa tan
Cười với nắng một ngày sao chóng thế
Nay mùa đông mai mùa hạ buồn chăng
Mối tình rộng thả suốt biển non im lìm lạnh lẽo. Một hạt muối vẫn chưa tan. Một nếp u ẩn của lòng mình bơ vơ không gột rửa.
Từ núi lạnh đến biển im muôn thuở
Đỉnh đá này và hạt muối đó chưa tan
Ta tưởng như nghe ra “cao cách điệu” bi hùng của một Liệp Hộ, một Nerval, một chỗ trầm thanh nhất trong cung bậc Nietzche.
Thy nhân đã mấy phen ngồi ngó trăng tàn? 
Ngồi trên một đỉnh đá? 
Bốn bề rừng thiêng giăng rộng ngút ngàn màu trăng xanh tiếp giáp tới chân trời xa xuôi đại hải?
Đỉnh đá và hạt muối là hai chốn kết tụ tinh thể của núi và biển. Đỉnh đá quy tụ về mọi hương màu trời mây rừng rú. 
Hạt muối chứa chất cái lượng hải hàm của trùng dương. 
Đó là cái bất tận của tâm tình dừng sững tại giữa tuyết nguyệt phiêu du:
Cười với nắng một ngày sao chóng thế
Nay mùa đông mai mùa hạ buồn chăng
Một tiếng “buồn chăng” lơ lửng nửa như chất vấn, nửa như ngậm ngùi ta thán, dìu về cả một khúc tâm thanh đoạn trường:
Sen tàn cúc lại nở hoa
Sầu dài ngày ngắn đông đà sang xuân
Đếm tóc bạc tuổi đời chưa đủ
Bụi đường dài gót mỏi đi quanh
Tiết nhịp lời thơ lại biến đổi :
Đếm tóc bạc
Tuổi đời
Chưa
Đủ
Bụi đường dài
Gót
Mỏi
Đi
Quanh
Tiết điệu rạc rời như gót mỏi đi quanh. 
Một tuổi đời chưa đủ? 
Một tuổi xuân chưa vừa? 
Một tuổi vàng sớm chấm dứt? Một tuổi “đá” sớm từ giã mọi yêu thương?
Giờ ngó lại bốn vách tường ủ rũ
Suối nguồn xa
Ngược nước
Xuôi ngàn
Bài thơ dừng lại. Dư âm bất tuyệt kéo dài trong đêm lữ thứ khép mình trong bốn bức tường với nhạt nhòa ủ rũ ngục tù.
Chỉ một bài thơ, Tuệ Sỹ đã trùm lấp hết chân trời mới cũ Đường Thi Trung Hoa tới Siêu Thực Tây Phương.
Bùi Giáng
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 15

Người Thái phát minh ra chiếc bát làm từ lá cây, thay thế cho hộp đựng thức ăn

Với những chiếc bát đĩa từ lá cây này, những tác giả người Thái mong chúng sẽ giữ gìn môi trường sống tốt hơn. Xuất phát từ quan ngại về sự gia tăng trong việc sử dụng những đồ đựng thức ăn làm từ xốp styrofoam gây ô nhiễm môi trường , một nhóm nghiên cứu tại Đại học Naresuan đã sáng tạo và phát triển một loại bát từ lá cây. Những chiếc bát này có khả năng tự phân huỷ và không thấm nước.

Các giáo sư trong khoa công nghệ của trường đã dành hơn 1 năm để phát triển thành công quy trình sản xuất này, tạo ra những chiếc bát chắc chắn, hữu dụng từ lá cây để thay thế những đồ đựng thức ăn bằng xốp. Qua nhiều thử nghiệm và cả những sai sót, nhóm nghiên cứu đã phát hiện ra rằng lá của 3 loại cây bastard teak, teak và banyan là những vật liệu tốt nhất để sản xuất bát đĩa đựng thức ăn. Những chiếc bát này có thể đựng được nước nóng mà không bị rò rỉ và chúng có khả năng phân huỷ trong tự nhiên sau khi sử dụng xong.

Trưởng khoa Sirintip Tantanee cho biết những chiếc bát này đang trong quá trình chờ cấp bằng sáng chế , tuy nhiên khoa công nghệ sẽ phối hợp với hội đồng thành phố để quảng bá việc sử dụng chúng tại các lễ hội ẩm thực thường niên được tổ chức trong suốt dịp lễ Songkran và năm mới.

Samorn Hiranpraditsakul- giáo sư khoa kỹ thuật công nghiệp cũng đã chia sẻ cảm hứng để sáng tạo nên những chiếc bát thân thiện với môi trường. Đó là sau khi cô tới thăm một ngôi đền ở phía Bắc Thái Lan, tại đây cô đã chứng kiến cảnh tượng những bát đĩa xốp với nguy cơ gây ô nhiễm môi trường được xếp thành những chồng khổng lồ.

Nhóm nghiên cứu đã sử dụng tinh bột để tạo thêm độ bóng cho những chiếc bát đĩa từ lá cây này. Sản phẩm sẽ được giới thiệu đến công chúng trong dịp lễ Songkran vào tháng 4 năm nay với rất nhiều kiểu dáng khác nhau.

Các thành viên của nhóm nghiên cứu Đại học Naresuan chụp ảnh bên những chiếc bát đựng thức ăn không thấm nước từ lá cây với đủ kiểu dáng khác nhau do chính họ sáng tạo ra (Ảnh: Chinnawat Singha).

 

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 18

Nhà thơ Hữu Loan

KỂ CHUYỆN BỐ MẸ VỢ BỊ HÀNH QUYẾT TRONG CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT
Hình ảnh nội tuyến 1
Tôi sinh ra trong một gia đình nghèo, hồi nhỏ không có cơ may cắp sách đến trườngnhư bọn trẻ cùng trang lứa, chỉ được cha dạy cho dăm chữ bữa có bữa không ở nhà. Cha tôi tuy là tá điền nhưng tư chất lại thông minh hơn người. Lên trung học, theo ban thành chung tôi cũng học tại Thanh Hóa, không có tiền ra Huế hoặc Hà Nội học. Đến năm 1938 – lúc đó tôi cũng đã 22 tuổi – Tôi ra Hà Nội thi tú tài, để chứng tỏ rằng con nhà nghèo cũng thi đỗ đạt như ai. Tuyệt nhiên tôi không có ý định dấn thân vào chốn quan trường. Ai cũng biết thi tú tài thời Pháp rất khó khăn. Số người đậu trong kỳ thi đó rất hiếm, hiếm đến nỗi 5-6 chục năm sau những người cùng thời còn nhớ tên những người đậu khóa ấy, trong đó có Nguyễn Đình Thi , Hồ Trọng Gin, Trịnh văn Xuấn , Đỗ Thiện và …tôi – Nguyễn Hữu Loan.
Với mảnh tú tài Tây trong tay, tôi rời quê nhà lên Thanh Hóa để dạy học. Nhãn mác con nhà nghèo học giỏi của tôi được bà tham Kỳ chú ý, mời về nhà dạy cho hai cậu con trai. Tên thật của bà tham Kỳ là Đái thị Ngọc Chất, bà là vợ của của ông Lê Đỗ Kỳ, tổng thanh tra canh nông Đông Dương, sau này đắc cử dân biểu quốc hội khóa đầu tiên. Ở Thanh Hóa, Bà tham Kỳ có một cửa hàng bán vải và sách báo, tôi thường ghé lại xem và mua sách, nhờ vậy mới được bà để mắt tới.Bà tham Kỳ là một người hiền lành, tốt bụng, đối xử với tôi rất tốt, coi tôi chẳng khác như người nhà.
Nhớ ngày đầu tiên tôi khoác áo gia sư, bà gọi mãi đứa con gái – lúc đó mới 8 tuổi- mới chịu lỏn lẻn bước ra khoanh tay, miệng lí nhí: ” Em chào thầy ạ!” Chào xong, cô bé bất ngờ mở to đôi mắt nhìn thẳng vào tôi. Đôi mắt to, đen láy, tròn xoe như có ánh chớp ấy đã hằn sâu vào tâm trí tôi, theo tôi suốt cả cuộc đời. Thế là tôi dạy em đọc, dạy viết. Tên em là Lê Đỗ Thị Ninh, cha làm thanh tra nông lâm ở Sài Gòn nên sinh em trong ấy, quen gọi mẹ bằng má. Em thật thông minh, dạy đâu hiểu đấy nhưng ít nói và mỗi khi mở miệng thì cứ y như một “bà cụ non”. Đặc biệt em chăm sóc tôi hằng ngày một cách kín đáo: em đặt vào góc mâm cơm chổ tôi ngồi ăn cơm lúc thì vài quả ớt đỏ au, lúc thì quả chanh mọng nước em vừa hái ở vườn, những buổi trưa hè, nhằm lúc tôi ngủ trưa, em lén lấy áo sơ mi trắng tôi treo ở góc nhà mang ra giếng giặt …..
Có lần tôi kể chuyện ” bà cụ non” ít nói cho hai người anh của em Ninh nghe, không ngờ chuyện đến tai em, thế là em giận! Suốt một tuần liền, em nằm lì trong buồng trong, không chịu học hành… Một hôm bà tham Kỳ dẫn tôi vào phòng nơi em đang nằm thiếp đi. Hôm ấy tôi đã nói gì, tôi không nhớ nữa, chỉ nhớ là tôi đã nói rất nhiều, đã kể chuyện em nghe, rồi tôi đọc thơ… Trưa hôm ấy, em ngồi dậy ăn một bát to cháo gà và bước ra khỏi căn buồng. Chiều hôm sau, em nằng nặc đòi tôi đưa lên khu rừng thông. Cả nhà không ai đồng ý: “Mới ốm dậy còn yếu lắm, không đi được đâu” Em không chịu nhất định đòi đi cho bằng được. Sợ em lại dỗi nên tôi đánh bạo xin phép ông bà tham Kỳ đưa em lên núi chơi …..Xe kéo chừng một giờ mới tới được chân đồi. Em leo đồi nhanh như một con sóc, tôi đuổi theo muốn đứt hơi. Lên đến đỉnh đồi, em ngồi xuống và bảo tôi ngồi xuống bên em.Chúng tôi ngồi thế một hồi lâu, chẳng nói gì. Bất chợt em nhìn tôi, rồi ngước mắt nhìn ra tận chân trời, không biết lúc đó em nghĩ gì. Bất chợt em hỏi tôi:- Thầy có thích ăn sim không ?- Tôi nhìn xuống sườn đồi: tím ngắt một màu sim. Em đứng lên đi xuống sườn đồi, còn tôi vì mệt quá nên nằm thiếp đi trên thảm cỏ …
Khi tôi tỉnh dậy, em đã ngồi bên tôi với chiếc nón đầy ắp sim. Những quả sim đen láy chín mọng.- Thầy ăn đi.Tôi cầm quả sim từ tay em đưa lên miệng trầm trồ:-Ngọt quá.Như đã nói, tôi sinh ra trong một gia đình nông dân, quả sim đối với tôi chẳng lạ lẫm gì, nhưng thú thật tôi chưa bao giờ ăn những quả sim ngọt đến thế! Cứ thế, chúng tôi ăn hết qủa này đến qủa khác. Tôi nhìn em, em cười. Hai hàm răng em đỏ tím, đôi môi em cũng đỏ tím, hai bên má thì….tím đỏ một màu sim. Tôi cười phá lên, em cũng cười theo! Cuối mùa đông năm ấy, bất chấp những lời can ngăn, hứa hẹn can thiệp của ông bà tham Kỳ, tôi lên đường theo kháng chiến. Hôm tiễn tôi, em theo mãi ra tận đầu làng và lặng lẽ đứng nhìn theo. Tôi đi… lên tới bờ đê, nhìn xuống đầu làng ,em vẫn đứng đó nhỏ bé và mong manh. Em giơ bàn tay nhỏ xíu như chiếc lá sim ra vẫy tôi. Tôi vẫy trả và lầm lũi đi…Tôi quay đầu nhìn lại… em vẫn đứng yên đó … Tôi lại đi và nhìn lại đến khi không còn nhìn thấy em nữa.
Những năm tháng ở chiến khu, thỉnh thoảng tôi vẫn được tin tức từ quê lên, cho biết em vẫn khỏe và đã khôn lớn. Sau này, nghe bạn bè kể lại, khi em mới 15 tuổi đã có nhiều chàng trai đên ngỏ lời cầu hôn nhưng em cứ trốn trong buồng, không chịu ra tiếp ai bao giờ …
Chín năm sau, tôi trở lại nhà…Về Nông Cống tìm em. Hôm gặp em ở đầu làng, tôi hỏi em , hỏi rất nhiều, nhưng em không nói gì, chỉ bẽn lẽn lắc hoặc gật đầu. Em giờ đây không còn cô học trò Ninh bướng bỉnh nữa rồi. Em đã gần 17 tuổi, đã là một cô gái xinh đẹp….Yêu nhau lắm nhưng tôi vẫn lo sợ vì hai gia đình không môn đăng hộ đối một chút nào. Mãi sau này mới biết việc hợp hôn của chúng tôi thành công là do bố mẹ em ngấm ngầm ” soạn kịch bản”.
Một tuần sau đó chúng tôi kết hôn. Tôi bàn việc may áo cưới thì em gạt đi, không đòi may áo cưới trong ngày hợp hôn, bảo rằng là: ” yêu nhau, thương nhau cốt là cái tâm và cái tình bền chặt là hơn cả”. Tôi cao ráo, học giỏi, Làm thơ hay…lại đẹp trai nên em thường gọi đùa là anh chồng độc đáo. Đám cưới được tổ chức ở ấp Thị Long, huyện Nông Công, tỉnh Thanh Hóa của gia đình em, nơi ông Lê Đỗ Kỳ có hàng trăm mẫu ruộng. Đám cưới rất đơn sơ, nhưng khỏi nói, hai chúng tôi hạnh phúc hơn bao giờ hết! Hai tuần phép của tôi trôi qua thật nhanh, tôi phải tức tốc lên đường hành quân, theo sư đoàn 304, làm chủ bút tờ Chiến Sĩ.
Hôm tiễn tôi lên đường, em vẫn đứng ở đầu làng, nơi chín năm trước em đã đứng. Chỉ có giờ em không còn cô bé Ninh nữa mà là người bạn đời yêu quý của tôi. Tôi bước đi, rồi quay đầu nhìn lại…..Nếu như chín năm về trước, nhìn lại chỉ thấy một nỗi buồn man mác thì lần này, tôi thật sự đau buồn. Đôi chân tôi như muốn khuỵu xuống. Ba tháng sau, tôi nhận được tin dữ: vợ tôi qua đời! Em chết thật thảm thương: Hôm đó là ngày 25 tháng 5 âm lịch năm 1948, em đưa quần áo ra giặt ngoài sông Chuồn (thuộc ấp Thị Long, Nông Cống), vì muốn chụp lại tấm áo bị nước cuốn trôi đi nên trượt chân chết đuối! Con nước lớn đã cuốn em vào lòng nó, cướp đi của tôi người bạn lòng tri kỷ, để lại tôi tôi nỗi đau không gì bù đắp nỗi. Nỗi đau ấy, gần 60 năm qua, vẫn nằm sâu thẳm trong trái tim tôi.Tôi phải giấu kín nỗi đau trong lòng, không được cho đồng đội biết để tránh ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu của họ. Tôi như một cái xác không hồn …
Dường như càng kềm nén thì nỗi đau càng dữ dội hơn. May sao, sau đó có đợt chỉnh huấn, cấp trên bảo ai có tâm sự gì cứ nói ra, nói cho hết. Chỉ chờ có thế, cơn đau trong lòng tôi được bung ra. Khi ấy chúng tôi đang đóng quân ở Nghệ An, tôi ngồi lặng đi ở đầu làng, hai mắt tôi đẫm nước, tôi lấy bút ra ghi chép. Chẳng cần phải suy nghĩ gì, những câu những chữ mộc mạc cứ trào ra: “Nhà nàng có ba người anh đi bộ đội… Những em nàng có em chưa biết nói. Khi tóc nàng đang xanh…” Tôi về không gặp nàng…Về viếng mộ nàng, tôi dùng chiếc bình hoa ngày cưới làm bình hương, viết lại bài thơ vào chiếc quạt giấy để lại cho người bạn ở Thanh Hóa… Anh bạn này đã chép lại và truyền tay nhau trong suốt những năm chiến tranh.
Đó là bài thơ Màu Tím Hoa Sim. Đến đây, chắc bạn biết tôi là Hữu Loan, Nguyễn Hữu Loan, sinh ngày 2-4-1916 hiện tại đang “ở nhà trông vườn” ở làng Nguyên Hoàn – nơi tôi gọi là chỗ “quê đẻ của tôi đấy” thuộc xã Mai Lĩnh, huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa. Em Ninh rất ưa mặc áo màu tím hoa sim. Lạ thay nơi em bị nước cuốn trôi dưới chân núi Nưa cũng thường nở đầy những bông hoa sim tím. Cho nên tôi viết mới nổi những câu : “Chiều hành quân, qua những đồi sim… Những đồi sim, những đồi hoa sim.. Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết.. Màu tím hoa sim, tím cả chiều hoang biền biệt…Và chiều hoang tím có chiều hoang biết…Chiều hoang tim tím thêm màu da diết.”
Mất nàng, mất tất cả, tôi chán đời, chán kháng chiến, bỏ đồng đội, từ giã văn đàn về quê làm ruộng, một phần cũng vì tính tôi” hay cãi, thích chống đối, không thể làm gì trái với suy nghĩ của tôi”. Bọn họ chê tôi ủy mị, hoạch hoẹ đủ điều, không chấp nhận đơn từ bỏ kháng chiến của tôi. Mặc kệ! Tôi thương tôi, tôi nhớ hoa sim của tôi quá! Với lại tôi cũng chán ngấy bọn họ quá rồi!
Đó là thời năm 1955 – 1956, khi phong trào văn nghệ sĩ bùng lên với sự xuất hiện của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm chống chính sách độc tài, đồng thời chống những kẻ bồi bút đan tâm lừa thầy phản bạn, dốc tâm ca ngợi cái này cái nọ để kiếm chút cơm thừa canh cạn. Làm thơ thì phải có cái tâm thật thiêng liêng thì thơ mới hay. Thơ hay thì sống mãi. Làm thơ mà không có tình, có tâm thì chả ra gì! Làm thơ lúc bấy giờ là phải ca tụng, trong khi đó tôi lại đề cao tình yêu, tôi khóc người vợ tử tế của mình, người bạn đời hiếm có của mình. Lúc đó tôi khóc như vậy họ cho là khóc cái tình cảm riêng….Y như trong thơ nói ấy, tôi lấy vợ rồi ra mặt trận, mới lấy nhau chưa được hơn một tháng, ở nhà vợ tôi đi giặt rồi chết đuối ở sông …
Tôi thấy đau xót, tôi làm bài thơ ấy tôi khóc, vậy mà họ cho tôi là phản động. Tôi phản động ở chỗ nào? Cái đau khổ của con người, tại sao lại không được khóc? Bọn họ xúc phạm đến tình cảm thiêng liêng của tôi đối với người vợ mà tôi hằng yêu quý, cho nên vào năm 1956, tôi bỏ đảng, bỏ cơ quan, về nhà để đi cày. Họ không cho bỏ, bắt tôi phải làm đơn xin. Tôi không xin, tôi muốn bỏ là bỏ, không ai bắt được! Tôi bỏ tôi về, tôi phải đi cày đi bừa, đi đốn củi, đi xe đá để bán. Bọn họ bắt giữ xe tôi, đến nỗi tôi phải đi xe cút kít, loại xe đóng bằng gỗ, có một bánh xe cũng bằng gỗ ở phía trước, có hai cái càng ở phía sau để đủn hay kéo. Xe cút kít họ cũng không cho, tôi phải gánh bộ. Gánh bằng vai tôi, tôi cũng cứ gánh, không bao giờ tôi bị khuất phục. Họ theo dõi, ngăn cản, đi đến đâu cũng có công an theo dõi, cho người hại tôi …
Nhưng lúc nào cũng có người cứu tôi! Có một cái lạ là thơ của tôi đã có lần cứu sống tôi! Lần đó tên công an mật nói thật với tôi là nó được giao lệnh giết tôi, nhưng nó sinh ở Yên Mô, thường đem bài Yên Mô của tôi nói về tỉnh Yên Bình quê nó ra đọc cho đỡ nhớ, vì vậy nó không nỡ giết tôi. Ngoài Yên Mô, tôi cũng có một vài bài thơ khác được mến chuộng. Sau năm 1956 , khi tôi về rồi thấy cán bộ khổ quá, tôi đã làm bài Chiếc Chiếu, kể chuyện cán bộ khổ đến độ không có chiếc chiếu để nằm!
Định mệnh đưa đẩy, dắt tôi đến với một phụ nữ khác, sống cùng tôi cho đến tận bây giờ. Cô tên Phạm Thị Nhu, cũng là phụ nữ có tâm hồn sâu sắc. Cô vốn là một nạn nhân của chiến dịch cải cách ruộng đất, đấu tố địa chủ năm 1954, 1955. Lúc đó tôi còn là chính trị viên của tiểu đoàn. Tôi thấy tận mắt những chuyện đấu tố. Là người có học , lại có tâm hồn nghệ sĩ nên tôi cảm thấy chán nản quá, không còn hăng hái nữa.
Thú thật, lúc đó tôi thất vọng vô cùng. Trong một xã thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa, cách xa nơi tôi ở 15 cây số, có một gia đình địa chủ rất giàu, nắm trong gần năm trăm mẫu tư điền. Trước đây, ông địa chủ đó giàu lòng nhân đạo và rất yêu nước. Ông thấy bộ đội sư đoàn 304 của tôi thiếu ăn nên ông thường cho tá điền gánh gạo đến chổ đóng quân để ủng hộ. Tôi là trưởng phòng tuyên huấn và chính trị viên của tiểu đoàn nên phải thay mặt anh em ra cám ơn tấm lòng tốt của ông, đồng thời đề nghị lên sư đoàn trưởng trao tặng bằng khen ngợi để vinh danh ông.
Thế rồi, một hôm, tôi nghe tin gia đình ông đã bị đấu tố. Hai vợ chồng ông bị đội Phóng tay phát động quần chúng đem ra cho dân xỉ vả, rồi chôn xuống đất, chỉ để hở hai cái đầu lên. Xong họ cho trâu kéo bừa đi qua đi lại hai cái đầu đó cho đến chết. Gia đình ông bà địa chủ bị xử tử hết, chỉ có một cô con gái 17 tuổi được tha chết nhưng bị đội Phóng tay phát động đuổi ra khỏi nhà với vài bộ quần áo cũ rách. Tàn nhẫn hơn nữa, chúng còn ra lệnh cấm không cho ai được liên hệ, nuôi nấng hoặc thuê cô ta làm công. Thời đó, cán bộ cấm đoán dân chúng cả việc lấy con cái địa chủ làm vợ làm chồng. Biết chuyện thảm thương của gia đình ông bà địa chủ tôi hằng nhớ ơn, tôi trở về xã đó xem cô con gái họ sinh sống ra sao vì trước kia tôi cũng biết mặt cô ta. Tôi vẫn chưa thể nào quên được hình ảnh của một cô bé cứ buổi chiều lại lén lút đứng núp bên ngoài cửa sổ nghe tôi giảng Kiều ở trường Mai Anh Tuấn. Lúc gần tới xã, tôi gặp cô ta áo quần rách rưới, mặt mày lem luốc. Cô đang lom khom nhặt những củ khoai mà dân bỏ sót, nhét vào túi áo, chùi vội một củ rồi đưa lên miệng gặm, ăn khoai sống cho đỡ đói. Quá xúc động, nước mắt muốn ứa ra, tôi đến gần và hỏi thăm và được cô kể lại rành rọt hôm bị đấu tố cha mẹ cô bị chết ra sao. Cô khóc rưng rức và nói rằng gặp ai cũng bị xua đuổi; hằng ngày cô đi mót khoai ăn đỡ đói lòng, tối về ngủ trong chiếc miếu hoang, cô rất lo lắng, sợ bị làm bậy và không biết ngày mai còn sống hay bị chết đói. Tôi suy nghĩ rất nhiều, bèn quyết định đem cô về làng tôi, và bất chấp lệnh cấm, lấy cô làm vợ.
Sự quyết định của tôi không lầm. Quê tôi nghèo, lúc đó tôi còn ở trong bộ đội nên không có tiền, nhưng cô chịu thương chịu khó , bữa đói bữa no…. Cho đến bây giờ cô đã cho tôi 10 người con – 6 trai, 4 gái – và cháu nội ngoại hơn 30 đứa! Trong mấy chục năm dài, tôi về quê an phận thủ thường, chẳng màng đến thế sự, ngày ngày đào đá núi đem đi bán, túi dắt theo vài cuốn sách cũ tiếng Pháp, tiếng Việt đọc cho giải sầu, lâu lâu nổi hứng thì làm thơ, thế mà chúng vẫn trù dập, không chịu để tôi yên. Tới hồi mới mở cửa, tôi được ve vãn, mời gia nhập Hội Nhà Văn, tôi chẳng thèm gia nhập làm gì.
Năm 1988, tôi ” tái xuất giang hồ” sau 30 năm tự chôn và bị chôn mình ở chốn quê nghèo đèo heo hút gió. Tôi lang bạt gần một năm trời theo chuyến đi xuyên Việt do hội văn nghệ Lâm Đồng và tạp chí Langbian tổ chức để đòi tự do sáng tác, tự do báo chí – xuất bản và đổi mới thực sự. Vào tuổi gần đất xa trời, cuối năm 2004, công ty Viek VTB đột nhiên đề nghị mua bản quyển bài Màu Tím Hoa Sim của tôi với giá 100 triệu đồng. Họ bảo đó là một hình thức bảo tồn tài sản văn hóa. Thì cũng được đi. Khoản tiền 100 triệu trừ thuế đi còn 90 triệu, chia “lộc” cho 10 đứa con hết 60 triệu đồng, tôi giữ lại 30 triệu đồng, phòng đau ốm lúc tuổi già, sau khi trích một ít để in tập thơ khoảng 40 bài mang tên Thơ Hữu Loan. Sau vụ này cũng có một số công ty khác xin ký hợp đồng mua mấy bài thơ khác, nhưng tôi từ chối, thơ tôi làm ra không phải để bán.
© Hữu Loan 
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 13