All posts by DieuNgoc Tran

Nữ đạo diễn gốc Việt gây tiếng vang ở Pháp với vở kịch ‘Sài Gòn’

Caroline Guiela Nguyen, mang trong mình dòng máu Việt và Pháp, mượn sân khấu để kể những câu chuyện đời giản dị mà có sức mạnh lay động lòng người.

Đạo diễn vở kịch Sài Gòn Caroline Guiela Nguyen. Ảnh: Viện Pháp tại TP HCM.

Đạo diễn vở kịch “Sài Gòn” Caroline Guiela Nguyen. Ảnh: Viện Pháp tại TP HCM.

Sinh năm 1981 trong một gia đình có mẹ là người Việt Nam xa xứ và cha là người Pháp hồi hương từ Alegria, Caroline Guiela Nguyen sở hữu khuôn mặt của một nữ minh tinh với đôi mắt hút hồn và mái tóc dài đen tuyền. Là con lai, cô không được biết về quá khứ của gia đình và bị từ chối nói về cội rễ của mình vì cha mẹ hy vọng nhờ vậy cô sẽ hội nhập tốt hơn vào xã hội Pháp. Chỉ còn ẩm thực, những món ăn Việt Nam là mối liên hệ duy nhất mà họ chia sẻ với nhau và truyền lại cho các thế hệ sau. “Dấu ấn mà cha mẹ để lại trong tôi là tình yêu ẩm thực. Tôi có thể không nói được tiếng Việt nhưng tôi nấu các món ăn Việt Nam rất khá”, nữ đạo diễn mở đầu cuộc phỏng vấn với VnExpress.

Ở tuổi 37, Caroline Guiela Nguyen, hiện là thành viên thường trực của Nhà hát quốc gia Odéon, có hơn 10 năm kinh nghiệm làm nghề. Tác phẩm mới nhất của cô, vở “Sài Gòn”, sau khi gây tiếng vang lớn tại Liên hoan sân khấu Avignon 2017, đã được trình diễn tại 14 thành phố trên thế giới, sẽ ra mắt công chúng Việt Nam vào ngày 21 và 22/9 tại TP HCM. “Tên của vở kịch đã nói lên tất cả”, Caroline Guiela Nguyen cho biết cô đặc biệt xúc động khi mang vở “Sài Gòn” về quê mẹ.

‘Nhân dạng Việt Nam’

Đạo diễn Caroline Guiela Nguyen trong buổi phỏng vấn qua mạng thực hiện tại Tổng lãnh sự quán Pháp ở TP HCM ngày 7/9. Ảnh: Hạnh Phạm.

Đạo diễn Caroline Guiela Nguyen trong buổi phỏng vấn qua mạng thực hiện tại Tổng lãnh sự quán Pháp ở TP HCM ngày 7/9. Ảnh: Hạnh Phạm.

Lấy bối cảnh là một nhà hàng Việt Nam với căn bếp nằm ở bên trái, phòng hát karaoke nằm ở bên phải, sân khấu của vở “Sài Gòn” đưa khán giả vượt thời gian về Paris năm 1996 và Sài Gòn năm 1956. “Đây là hai mốc thời gian rất quan trọng”, đạo diễn nói.

Năm 1956 là thời hạn chót người Pháp buộc phải rút khỏi Việt Nam sau thất bại ở trận Điện Biên Phủ. Đi cùng những lính Pháp cuối cùng là nhiều người Việt Nam rời quê hương. Họ ra đi mà không biết rằng phải đợi 40 năm trôi qua mới có thể trở về. Năm 1996 là thời điểm Mỹ và Việt Nam bình thường hóa quan hệ. “Lúc đó, trong gia đình tôi, câu hỏi đặt ra là chúng tôi có nên trở về hay không”, nữ đạo diễn nhớ lại.

Và Caroline Guiela Nguyen, khi đó 15 tuổi, đã cùng mẹ và bà ngoại đã trở về Sài Gòn. Lần đầu tiên đến Việt Nam, cô cảm thấy mọi thứ “hoàn toàn xa lạ”. Cảm giác này choáng ngợp đến mức cô ở trong nhà suốt hai tuần và không dám bước ra ngoài.

Cô cảm thấy một phần nào đó mình là người Việt Nam nhưng cảm giác này chỉ rõ ràng khi cô ở Pháp. Còn khi về đến Việt Nam, cô không cảm thấy mình giống người Việt Nam vì “tôi cao lớn hơn người Việt và tôi không nói được tiếng Việt”. Nữ đạo diễn giải thích cha mẹ cô không muốn dạy tiếng Việt cho các con – thế hệ con lai sinh ra và lớn lên ở Pháp- “bởi vì họ muốn chúng tôi hội nhập với xã hội bên này”.

“Tôi gặp những người họ hàng có khuôn mặt giống mẹ tôi, dì tôi nhưng cuộc sống và điều kiện kinh tế của họ rất khác biệt, chính điều đó làm cho tôi thấy đáng nhẽ Việt Nam phải là nơi rất thân thuộc lại trở nên xa lạ. Và tôi cảm thấy không thoải mái trong một thời gian dài khi sống trong sự nhập nhằng đó”, cô tâm sự.

Vở “Sài Gòn” kể câu chuyện về niềm khắc khoải không nguôi của những người sống xa xứ như cha mẹ của Caroline Guiela Nguyen. Cô cho biết cha cô không bao giờ nhắc lại giai đoạn ông sống ở Algeria. Những người như cha cô, được gọi là “pied noir” (bàn chân đen), là những thực dân Pháp da trắng sống tại Algerie trước khi đất nước này giành được độc lập.

Nhiều người Pháp trong nước đổ lỗi cho đồng bào sống trên lục địa đen về sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân Pháp và không chào đón họ quay trở về. Trong khi đó, những người này cũng không thể sống ở Algerie bởi sự thù địch của dân bản xứ. Những người như cha của Caroline Guiela Nguyen bị giằng xé giữa quê hương và mảnh đất nơi họ sinh sống. 

Tuy nhiên, nữ đạo diễn nhấn mạnh vở “Sài Gòn” không phải là tự truyện của gia đình cô. “Đây không chỉ là câu chuyện một nhóm người tha hương, về cộng đồng Việt kiều sống ở Pháp, mà là về một phần lịch sử quan trọng của nước Pháp. Câu chuyện này thuộc về tất cả mọi người”.

“Sài Gòn” kể câu chuyện về cuộc đời của những người Pháp và Việt Nam bị đưa đẩy theo dòng lịch sử trải dài suốt 40 năm. Đó là câu chuyện giữa Mai và Hào. Họ yêu nhau nhưng buộc phải chia ly. Năm 1956, Hào phải rời Việt Nam để sang Pháp, bỏ lại phía sau tình yêu lớn nhất của cuộc đời mình. Bốn mươi năm sau, lúc đã có tuổi, Hào cùng con gái của mình quay trở lại Sài Gòn. Ông tưởng như bắt gặp lại hình bóng của người xưa ở đâu đó.

Đó là câu chuyện giữa Linh và Édouard. Họ quen nhau trong giai đoạn chiến tranh Đông Dương. Anh lính người Pháp đã đưa Linh sang Pháp. Cô gái trẻ ngây thơ tưởng rằng một cuộc sống hạnh phúc đang chờ đợi họ ở đó.

Đó là câu chuyện giữa Linh về già và cậu con trai tên là Antoine. Antoine không hiểu ngôn ngữ cũng như vẻ bề ngoài lạnh lùng của mẹ. Anh không thể nào hiểu được quá khứ của bà.

Đó là câu chuyện về Marie-Antoinette, chủ một nhà hàng tốt bụng, người phụ nữ Việt Nam được cha mẹ đặt tên theo tên của “Bà hoàng Pháp”. Marie-Antoinette nhận được tin con trai mình không còn nữa sau khi nhập ngũ năm 1939. Đằng sau vẻ bề ngoài luôn niềm nở với thực khách, bà lặng lẽ khóc vào mỗi tối trong góc bếp. Hàng năm, bà mặc bộ đầm đẹp nhất vào ngày sinh nhật của con trai.

Nữ đạo diễn Pháp gốc Việt kể câu chuyện của những người tha hương 

 

Phóng sự của kênh truyền hình Arte về vở kịch “Sài Gòn” trong đợt công diễn tại nhà hát Odéon vào tháng 1 và 2. 

Vở kịch dài gần 4 tiếng không chỉ đưa khán giả du hành từ thời kỳ này đến thời kỳ khác mà còn từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác. Những tưởng việc các diễn viên đan xen thoại bằng tiếng Pháp và tiếng Việt, sẽ gây khó khăn cho người xem nhưng vở kịch đã được đón nhận nồng nhiệt ở nhiều nước như Thụy Điển, Trung Quốc và Italy, nơi khán giả hoàn toàn không hiểu cả tiếng Pháp lẫn tiếng Việt.

Theo nữ đạo diễn, khán giả quốc tế không có mối liên hệ với Việt Nam vẫn cảm thấy kết nối với những chuyện đời trong vở kịch. “Sài Gòn cộng hưởng với trí tưởng tượng của khán giả”, cô nói.

‘Con đường đẫm nước mắt ở Sài Gòn’

Bằng phong cách dàn dựng tinh tế và lối kể chuyển khơi gợi trí tưởng tượng, Caroline Guiela Nguyen nhẹ nhàng đưa lên sân khấu nỗi đau thầm kín của những con người bình thường. Khi xây dựng vở kịch, cô và ê-kíp sản xuất không có chủ đích tạo ra một vở bi kịch. “Cụm từ này là do khán giả và báo chí nhận xét”, cô nói. “Với tôi, có lẽ nếu gọi đây là ‘vở kịch tình cảm’ thì phù hợp hơn vì cảm xúc lan tỏa từ từ nhờ vào sự ứng diễn của diễn viên”.

Nữ đạo diễn kể trong thời gian ở Việt Nam tìm chất liệu cho vở “Sài Gòn”, cô cảm thấy mọi thứ ở Sài Gòn “đều dẫn dắt tới con đường đẫm nước mắt” như những bản tình ca da diết hay những câu chuyện buồn cô được lắng nghe. Do vậy, khi dựng vở kịch, cô muốn tái hiện những thứ đã cảm nhận được ở Sài Gòn. “Đây là cách kể chuyện ở Việt Nam với thật nhiều nước mắt”, theo lời tự sự của nhân vật trong vở kịch.

Kể từ lần đầu tiên về Việt Nam năm 1996, nữ đạo diễn trở về quê mẹ mỗi năm một lần. Để dựng vở “Sài Gòn”, trong suốt hai năm, Caroline Guilea Nguyen đã đi lại nhiều lần giữa Việt Nam và Pháp, giữa Paris và TP HCM. Và khi quay trở lại Paris, cô đã viết vào sổ tay một dòng ngắn gọn “Không được quên Sài Gòn” để nhắc bản thân “không được quên những gì đã cảm nhận ở nơi đó”.

Cô cho biết khi có mặt ở Sài Gòn, cô có thể hiểu về thành phố, nắm bắt bầu không khí ở đây và cân đong đo đếm đến từng chi tiết mà cô quan sát được thông qua “việc lắng nghe âm nhạc, gặp gỡ mọi người, ăn các món ăn Việt Nam trong thứ không khí nóng ẩm”. Cùng các cộng sự âm thanh, ánh sáng, thiết kế sân khấu và phục trang, cô “đã ngắm tất cả bằng một con mắt nghệ thuật, không phải trần thuật để từ đó sáng tạo vở diễn trong sự tưởng tượng”.

Cô nhớ hình ảnh người tài xế taxi sụt sùi khi nghe bài hát buồn về tình yêu, những quán karaoke nơi người ta thì thầm hát và khóc rất nhiều. “Và chúng tôi bị nhiễm cái tinh thần đó”, nữ đạo diễn nói. Vở kịch khiến người ta nhỏ nước mắt về một phần lịch sử Pháp mà không nhiều người biết đến và những câu chuyện gắn với một giai đoạn di dân ít được kể lại.

Hai năm chuẩn bị cho vở kịch còn giúp Caroline Guilea Nguyen hiểu một cách sâu sắc về Việt Nam. Ấn tượng của cô về đất nước gọi lên bằng từ “lãng quên”. “Bà ngoại tôi có 9 người con và mẹ tôi là con cả nhưng bà luôn gọi mẹ tôi là ‘Hai’, nghĩa là đứa con thứ hai. Tôi đã không hiểu nổi vì rõ ràng mẹ tôi là người con thứ nhất. Và sau khi ở Việt Nam một thời gian dài, tôi mới biết mọi người gọi như thế vì họ quan niệm luôn có một đứa con bị lãng quên ở đâu đó. Như vậy, ngay trong ngôn ngữ sự quên lãng đã ngự trị rồi”, cô giải thích.

Trên sân khấu của “Sài Gòn”, những diễn viên người Việt, cùng các cộng sự chuyên nghiệp người Pháp và các diễn viên không chuyên Việt kiều, kể lại những mất mát, những đấu tranh nội tâm của những con người tha hương và những mảnh ký ức về chiến tranh Đông Dương.

“Câu chuyện thật giản dị, không từ ngữ đao to búa lớn, không bạo lực, không bi kịch, không đam mê thái quá. Mà chỉ là một câu chuyện buồn. Buồn một cách tuyệt vọng. Và tuyệt đẹp. Caroline Guilea Nguyen đã bắt được tinh thần ấy”, như tờ Télérama nói về nữ đạo diễn mang trong mình dòng máu Việt.

Hạnh Phạm

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 18

Một cơn giận

Một buổi tối mùa đông, chúng tôi ngồi trước lò sưởi, trong một căn buồng ấm áp. Tự nhiên trong câu chuyện, một người nói đến những cơn giận tự nhiên đến tràn ngập cả tâm hồn ta và có khi gây nên nhiều cái kết quả không hay. Rồi mỗi người đều bày tỏ ý kiến riêng của mình.

Anh Thanh, từ nãy đến giờ vẫn lặng yên có vẻ trầm ngâm, cất tiếng nói:
– Sự giận dữ có thể sai khiến ta làm những việc nhỏ nhen không ai ngờ. Tôi biết hơn ai hết, vì chính tôi đã trải qua sự đó. Tôi sẽ kể các anh nghe một câu chuyện mà cái kỷ niệm còn in sâu trong trí nhớ tôi.
Cũng một buổi chiều mùa đông như hôm nay, tôi ở tòa báo ra về, trong lòng chán nản và buồn bực. Có những ngày mà tự nhiên không hiểu tại sao, ta thấy khó chịu, và hay gắt gỏng, không muốn làm việc gì. Tôi đang ở vào một ngày như thế mà chiều trời hôm ấy lại ảm đạm và rét mướt càng khiến cho cảm giác đó rõ rệt hơn.
Tôi đi vài bước trên con đường phố vắng người. Một cái xe tay đằng xa đi lại, anh phu xe co ro vì rét, hai tay giấu dưới manh áo tơi tàn. Theo lệ như mọi khi, tôi mặc cả:
– Xe đi không? Bốn xu về gần nhà bò Yên Phụ.
– Thầy cho sáu xu.
– Không, bốn xu là đúng giá rồi.

Tôi vừa nói vừa bước đi. Người phu xe đã có tuổi, cứ kéo cái xe theo sau tôi mà lẩm bẩm: “Bốn đồng xu từ đây về nhà bò”. Cái tiếng nhà bò anh ta nhắc đi nhắc lại làm cho tôi khó chịu. Tôi biết đó là một cách của các phu xe cứ đi theo sau khách để làm cho người ta bực tức, tôi lại càng ghét và quay lại gắt:
– Có đi hay không thì thôi! Đừng có theo sau người ta mà lải nhải.
Thấy tôi gắt, người phu xe đứng lại, không dám theo nữa. Nhưng để tôi đi một quãng xa, anh ta ới gọi:
– Lại đây đi mà.
Rồi anh ta hạ càng xe xuống, cứ đứng yên chỗ ấy đợi chứ không kéo lại phía tôi. Cái cử chỉ ấy làm tôi sinh ghét thêm, đã toan không đi, nhưng lúc ấy không có cái xe nào khác. Tôi giận dữ bước mạnh lên xe, vừa mắng:
– Anh thật là lắm chuyện, không đi ngay lai còn vẽ.
Anh xe cãi lại:
– Từ đây về đấy thầy cho được bốn đồng xu thật rẻ quá!
– Thì ai bảo anh đi? Không có tôi đã gọi xe khác.
Người phu xe khẽ thở dài, yên lặng nhấc xe lên. Lúc bấy giờ tôi mới ngả mình ra phía sau, nhưng thấy cái đệm cứng như gỗ đập vào lưng, tôi cúi xuống bên nhìn cái tay xe.
Tôi đoán không sai, chính là một cái xe hiệu “con lợn” cái tên hiệu cũng xứng đáng một hạng xe tàng ở ngoại ô mà tôi vẫn phải đi. Anh xe này đã vào đây kéo trộm, vì xe ngoại ô không được phép vào thành phố đón khách, nếu không tuân lệnh thì bị phạt từ ba đến bốn đồng bạc. Sự tồi tàn của cái xe làm tôi càng ghét anh xe nữa.
– Xe khổ thế này mà anh lại còn đòi cao giá.
– Xe thế mà thầy chê thì còn thế nào nữa!
Anh xe bướng bỉnh cũng không chịu kém. Tôi nói câu gì là anh ta đối lại liền. Sau cùng, giận quá, tôi dẫm mạnh chân xuống sàn xe, gắt:
– Thôi, câm họng đi, đừng lải nhải nữa.

Sự giận dữ làm cho tôi quên rằng anh xe cũng chỉ có trả lời những câu mắng của tôi mà thôi, và chính tại tôi gắt với anh ta nhiều quá. Nhưng lúc bấy giờ tôi chỉ thấy tức người xe ấy đến cực điểm, vì hắn dám cãi lại tôi mà không sợ.
Xe đi khỏi nhà máy nước thì gặp một người đội xếp tây đi xe đạp lại, theo sau một người đội xếp ta. Tôi nhận thấy anh xe kéo tôi có ý luống cuống và sợ hãi. Có lẽ vì thế mà người cảnh sát để ý, đi giáp vào cái xe kéo để xem dấu hiệu.
– Ê! Đứng lại!
Người kéo xe dừng chân… Anh ta quay lại tôi hớt hải van xin:
– Lạy thầy… thầy nói giúp con… thầy làm ơn…
Dưới ánh đèn tôi thấy mặt anh xe tái mét. Những vết răn in sâu xuống trên mặt già nua hốc hác, chân tay người khốn nạn ấy run bật lên và tôi thấy cái rung động chuyển cả vào chiếc thân xe.
Người cảnh sát tây đến, nói bằng tiếng ta hơi sõi:
– Mày chết nhé! Mày sẽ bị phạt!
Người phu xe ấp úng nói thì ông ta khoát tay bảo im, rồi quay lại tôi hỏi, lần này bằng tiếng Pháp.
– Người này kéo ông từ trong phố ra hay ông đi khứ hồi?
Tôi liếc mắt nhìn anh kéo xe. Trong bóng tối của vành nón qua ngang mặt, tôi thấy hai mắt anh ta long lanh nhìn tôi, như khẩn cầu van xin yên lặng. Tôi biết lời nói của tôi sẽ làm anh ta bị bắt hay không. Những khi nói chuyện với các phu xe khác, tôi được biết rằng nếu người khách nói là đi khứ hồi từ ngoại ô, thì người xe không việc gì. Nhưng lúc ấy, lời van xin của anh xe kia không làm cho tôi động lòng, mà lại làm cho tôi ghét anh thêm. Tôi trả lời người đội xếp:
– Tôi đi từ phố hàng Bún.
– Vậy phiền ông xuống xe.

Rồi anh ta nhìn anh phu xe, cười một cách tinh quái:
– Allez! Đi về bót!
Khi anh phu xe run sợ và hai người cảnh sát đã khuất đầu phố, tôi mới quay đi thong thả trên bờ hè. Cơn giận của tôi đã hết rồi. Sự hối hận dần thấm thía vào lòng tôi, tôi thấy một cái chán nản bực tức rung động trong người.
Tôi rung mình nghĩ đến số phận của anh xe khốn nạn. Ba đồng bạc phạt! Anh ta phải vay cai xe để nộp phạt; nhưng ba đồng bạc nợ ấy, bao giờ anh ta trả xong, sau những ngày nhịn đói, bị cai xe hành hạ, đánh đập vì thù hằn?
Tôi càng nghĩ đến bao nhiêu lại càng khinh bỉ tôi bấy nhiêu. Qua ô Yên Phụ, nhìn thấy những thợ thuyền tấp nập làm việc dưới ánh đèn trong những căn nhà lá lụp xụp, tôi rảo bước đi mau, hình như trông thấy tôi họ sẽ biết cái hành vi khốn nạn và nhỏ nhen đáng bỉ của tôi ban nãy.
Những ngày hôm sau thực là những ngày khổ cho tôi. Lòng hối hận không để tôi yên. Hình như có một cái gì nặng nề đè nén trên ngực làm cho tôi khó thở, và lúc nào hình ảnh anh phu xe cũng hiển hiện ra trước mắt.
Tôi nhất đinh đem tiền đến cho người xe kia để chuộc tội lỗi của mình. Đến phố hàng Bột hỏi dò những người chung quanh xưởng xe, tôi biết được anh xe bị phạt đêm hôm ấy là tên Dư, và ở trong một dãy nhà quá ngã tư Khâm Thiên.
Lần ấy là lần đầu tôi bước vào một chỗ nghèo nàn, khổ sở như thế. Các anh thử tưởng tượng một dãy nhà lụp xụp và thấp lè tè, xiêu vẹo trên bờ một cái đầm mà nước đen và hôi hám tràn cả vào đến thềm nhà. Trong cái hang tối tăm bẩn thỉu ấy, sống một đời khốn nạn những người gầy gò, rách rưới như những người trong một cơn mê.

Người phu xe Dư ở trong ấy. Một bà cụ già gầy giơ xương ngồi cắn chấy ở vệ hè chỉ cho tôi một cái cửa thấp bé ở đầu nhà. Tôi cúi mình bước vào, chỉ thấy tối như bưng lấy mắt và thấy hơi ẩm lạnh thấm vào tận trong mình. Có tiếng người đàn bà khẽ hỏi:
– Bẩm thầy muốn gì?
Khi mắt mắt đã quen tối, tôi nhận thấy người đàn bà vừa hỏi, một bà già ở mép một chiếc giường tre mục nát kê ở sát tường. Sau lưng bà này, một người đàn bà nữa ngồi ôm trong lòng một vật gì hơi động đậy. Cả hai cùng ngước mắt lên nhìn tôi một cách ngạc nhiên và đầu họ chạm vào mái nhà thấp, đầy những mảng giẻ rách nát vắt trên xà.
– Bác Dư có nhà không?
– Bẩm, chú nó đi về quê vắng từ hôm nọ.
Một vẻ sợ hãi thoáng qua trên mặt đủ tỏ cho tôi biết họ không nói thật, tôi giảng giải:
– Không, cụ cứ nói thật cho tôi biết. Tôi đến để giúp bác ta chứ không có ý gì khác.
Bà cụ nhìn tôi nghĩ ngợi một lát rồi nói:
– Thế thầy đã biết việc chú nó bị bắt xe hôm nọ?
Tôi gật đầu ra hiệu cho bà cụ cứ nói:
– Hôm ấy cai nó phải đem tiền lên nộp phạt để chuộc xe về. Chú nó đã xin khất với cai để rồi trả dần số tiền đó. Nhưng nó nhất định không nghe, bắt phải trả một nửa ngay. Khốn nạn, thì lấy đâu ra mà trả. Thế là bị nó lột quần áo đánh một trận thừa sống thiếu chết thầy ạ. Khi về đây lê đi không đuợc nữa. Thế mà nó còn bắt mai phải trả ngay.
Người đàn bà ngồi trong cất tiếng ốm yếu nói theo:
– Nó còn bảo hễ không trả nó sẽ bắt lấy thẻ.
– Thế bây giờ bác ta đâu?
Bà cụ trả lời:
– Đi ngay từ hôm ấy, mà không biết đi đâu. Đã ba hôm nay chúng tôi dò mà không thấy. Chắc là sợ cai không dám về nữa, dù có về mà không có tiền cũng chết với nó. Thật cũng là cái vạ, nghe đâu chú nó nói hôm ấy tại người khách đi xe không biết nói với người đội xếp thế nào mới bị bắt, chứ không cũng chẳng việc gì.
Tôi yên lặng, trong lòng náo nức.
Bà cụ chép miệng, chỉ người đàn bà ngồi sau:
– Tội cho vợ con chú đây, ốm đã mấy ngày hôm nay không có thuốc. Đứa cháu không biết có qua khỏi được không?
Tôi đứng lại gần xem. Trên cánh tay người mẹ, chỉ còn là một dúm thịt con đã nhăn nheo: đứa bé há hốc miệng thở ra, măt xám nhợt. Người mẹ thỉnh thỏang lấy cái lông gà dúng vào chén mật ong để bên cạnh, phết lên lưỡi của đứa bé.
– Cháu nó sài đã hơn một tháng nay. Hôm nọ đã đỡ. Mấy hôm nay vì không có tiền mua thuốc lại tăng. Ông lang bảo cháu khó qua khỏi được.
Người mẹ nói xong nấc lên một tiếng rồi nức nở khóc. Bà cụ già lê nhích lại gần, cúi xuống khe khẽ kéo lại những cái tã rách như xơ mướp.

Cái cảnh đau thương ấy làm tôi rơm rướm nước mắt. Một cảm giác nghẹn ngào đưa lên chẹn lấy cổ. Tôi lấy tờ giấy bạc năm đồng đưa cho người mẹ, rồi vội vàng bước ra cửa, để mặc hai người nhìn theo ngờ vực.
Qua ngưỡng cửa, tôi va phải một người đàn ông ốm yếu tay cắp một cái áo quan con bằng gỗ mới. Đến bên đường, tôi nghe thấy trong căn nhà lụp xụp đưa ra tiếng khóc của hai người đàn bà.

Đứa bé con đã chết.

Anh Thanh lặng yên một lát như nghĩ ngợi, rồi nói tiếp:
– Cái kỷ niệm buồn rầu ấy cứ theo đuổi tôi mãi mãi đến bây giờ, rõ rệt như các việc mới xảy ra hôm qua. Sự đó nhắc cho tôi nhớ rằng người ta có thể tàn ác một cách dễ dàng. Và mỗi lần tôi nghĩ đến anh phu xe ngoại ô kia, lại thấy đau đớn trong lòng, như có một vết thương chưa khỏi.

Thạch Lam

__._,_.___

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 17

Bí quyết sống lâu, sống khoẻ của người Nhật

Click image for larger versionName: 22.jpgViews: 0Size: 73.4 KBID: 1249927 

Người Nhật có chế độ sinh hoạt hàng ngày rất khoa học. Người Nhật nổi tiếng là sống lâu và sống thọ nhất thế giới, vậy bí quyết của họ là gì?


1. Ít ăn đồ chiên rán, tôn trọng hương vị nguyên bản của thực phẩm

Thực phẩm chiên rán với nhiệt độ cao sẽ làm mất đi các thành phần dinh dưỡng ban đầu, thậm chí làm tăng nguy cơ gây ung thư. Vì thế, người Nhật thích ăn rau, thích luộc hấp hơn là xào rán.

Một trong những đặc điểm nổi bật của các món ăn Nhật là hương vị tươi ngon, tinh khiết đến tự nhiên của các loại nguyên liệu, kết hợp với màu sắc hài hòa và cách bày trí vô cùng đẹp mắt.

Khi ăn hải sản, các sản phẩm từ đậu nành và rau, người Nhật thường ăn gỏi hoặc chế biến thành salad tổng hợp. Hấp, luộc và làm salad là các phương pháp chế biến thức ăn giúp tối đa hóa khả năng cung cấp chất xơ, vitamin và khoáng chất của thực phẩm, giảm thiểu các chất gây ung thư. Do đó, người Nhật thường lựa chọn phương thức nấu ăn này để tốt cho sức khỏe và kéo dài tuổi thọ.

2. Thường xuyên ăn hải sản

Nhật Bản nằm trong 6 nước có mức độ tiêu thụ hải sản cao nhất thế giới. Người Nhật ngay từ nhỏ đã làm quen với việc ăn cá.

Nhiều nghiên cứu chứng minh rằng nếu ăn cá trong thời gian dài, đặc biệt là cá biển sâu như cá hồi, cá ngừ… không chỉ có thể ngăn ngừa bệnh tim mạch, giảm cholesterol, mà còn có thể làm giảm tỉ lệ mắc bệnh tim mạch lên tới hơn 52%. Các món ăn như bạch tuộc, mực, tôm, cua, hàu, cá loại sò ốc… cùng nhiều hải sản giàu axit amin và taurine khác có thể làm giảm cholesterol trong máu, giảm lượng chất béo trung tính.

Ngoài ra, người Nhật còn hay ăn tảo bẹ, rong biển nori và wakame- những thực phẩm giàu nguyên tố vi lượng và chất xơ, có khả năng phòng tránh huyết áp cao và tiểu đường.

Thường xuyên ăn hải sản, hạn chế đồ chiên rán là một trong những bí quyết sốnThường xuyên ăn hải sản, hạn chế đồ chiên rán là một trong những bí quyết sống khỏe của người Nhật

3. Duy trì chế độ ăn ít muối

Các chuyên gia chỉ ra rằng, muối là yếu tố rất quan trọng được chứng minh là có mối quan hệ đến các bệnh mãn tính như cao huyết áp, dẫn đến phì đại cơ tim và xơ vữa động mạch.

Trong ẩm thực Nhật Bản, các món ăn hầu hết đều ít dầu, ít muối và ít gia vị. So với các quốc gia khác, người Nhật ăn muối cũng rất ít, lượng muối ăn vào mỗi ngày ít hơn một nửa số muối mà người Trung Quốc tiêu thụ.

4. Bữa ăn cung cấp nhiều nước

Các bữa ăn Nhật Bản có xu hướng cung cấp nhiều nước cho người ăn nhưng họ không uống nước trong bữa ăn. Hầu hết thực đơn mỗi bữa của họ đều có món súp.

5. Hạn chế uống rượu và ăn đồ ngọt

Hầu hết người Nhật có tửu lượng không tốt, do đó họ thường uống rất ít rượu, hơn nữa còn uống rất chậm, điều này đối với sức sức khỏe mà nói thì trái lại lại là điều tốt.

Bên cạnh đó, người Nhật cũng ăn rất ít đường, lượng đường tiêu thụ hàng năm của mỗi người chỉ ở mức 22 kg (trong khi con số này ở người Mỹ là 71 kg. Họ cũng ít uống đồ có gas, thức uống chính được ưu tiên chọn lựa luôn là trà xanh.

6. Uống trà xanh

Các nhà khoa học tin rằng, trà xanh là một trong những bí mật liên quan đến tuổi thọ của người Nhật. Trà xanh có thể làm giảm nguy cơ mắc bệnh tim, ức chế sự hấp thu cholesterol, giảm cholesterol xấu, diệt khuẩn, chống viêm, làm giảm hoặc trì hoãn xơ vữa động mạch, thúc đẩy đốt cháy chất béo.

Trà xanh chứa lượng axit tannic phong phú, góp phần vào việc làm chậm quá trình lão hóa, trong đó khả năng chống oxy hóa cao tới 18 lần so với vitamin E. Trà xanh chứa catechin polyphenols là một chất ôxi hóa mạnh, ức chế sự đột biến tế bào, ngăn ngừa ung thư.

Trà xanh, thường xuyên đi bộ là một trong những bí mật liên quan đến tuổi Trà xanh, thường xuyên đi bộ… là một trong những bí mật liên quan đến tuổi thọ của người Nhật

7. Tiếp xúc nhiều với ánh mặt trời

Trong quá khứ Nhật Bản, có một hiện tượng rất lạ đó là, họa sĩ thường sống rất thọ, trong khi các nhà văn lại chỉ sống một cuộc đời ngắn ngủi. Họ đã đặt câu hỏi là tại sao lại có một điểm chung kỳ lạ này. Sau đó, họ nghiên cứu và cho rằng, các họa sĩ vì mục đích công việc, để pha màu sắc chính xác, họ thường ra ngoài làm việc, nơi có nhiều ánh sáng mặt trời. Trong khi các nhà văn, thường làm việc vào ban đêm, thời gian tiếp xúc với ánh sáng bị hạn chế.

Từ ví dụ cổ xưa này, mà người Nhật tin rằng, những người sống tiếp xúc nhiều với ánh sáng mặt trời, có thể sống thọ hơn những người thiếu ánh sáng. Từ đó, họ xem đây là một ưu tiên trong việc chăm sóc sức khỏe.

8. Thích đi bộ

Do mật độ dân số cao và mỗi cộng đồng dân cư đều tập trung nhiều tiện ích, nên trong quan điểm của người Nhật thì đi bộ vừa hiệu quả lại tiện lợi. Họ thường thích đi bộ hoặc xe đạp. Tính bình quân trong khoảng 100 người, thì số lượng người Nhật Bản sở hữu xe đạp là lớn nhất trên thế giới. Thêm nữa, do Nhật Bản là đất nước nhiều đồi núi, nên khi đạp xe lên/xuống dốc cũng tương đương với gia tăng vận động, điều này có lợi rất lớn cho sức khỏe mỗi người.

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 26

Ngôi nhà có hàng phượng vĩ và vườn cây nhiệt đới ngay cạnh Little Saigon

Ngọc Lan/Người Việt

ANAHEIM, California (NV) – Khi nhận được điện thoại của độc giả gọi đến tòa soạn để “mách cho biết” rằng thì là “có một ngôi nhà ở Anaheim có mấy cây phượng vĩ đang nở bông đẹp lắm,” trong đầu tôi cứ nghĩ có lẽ đó là những cây phượng còn nhỏ, mới ra hoa lần đầu. Nhưng vậy cũng là “sự kiện” đáng chú ý lắm rồi, bởi Cali đâu phải đất dành cho phượng vĩ, chỉ có phượng tím chiếm lĩnh ngôi nữ hoàng mà thôi.

Thế nhưng

Lái xe trên đường Euclid theo hướng Bắc về phía thành phố Anaheim, đến ngay góc đường Cerritos quẹo phải. Không cần tìm số nhà, tôi cũng đã biết chính xác nơi tôi cần phải ghé vào là đâu: cả một khoảnh trời đỏ rực màu phượng vĩ.

Không phải một cây, hai cây, mà những ba cây phượng thuộc hàng cổ thụ chi chít hoa nhẹ lay trong chiều Hè như muốn làm bừng lên ký ức cả một thời cắp sách của những đứa học trò Việt Nam thuở nào.

Vợ chồng bác Bảo Trâm, chủ nhân ngôi nhà có những cây phượng vĩ hiếm hoi tại miền Nam California. (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)

Trồng được phượng là ‘vì số trời cho’

Vợ chồng bác Bảo Trâm, chủ nhân của ngôi nhà đẹp như mơ, đã mở rộng cửa từ lúc nào để đón tôi, kẻ tò mò đến xem thử những cây phượng to nhỏ ra sao.

“Cứ việc ra xem và chụp hình đi con,” cả hai bác cùng nói bằng giọng thân tình.

Sau khi sang Mỹ 10 năm, những cây phượng đầu tiên tôi bắt gặp lại là ở Key West, Florida. Tôi nhớ khi đó cứ nhìn những chùm bông phượng nho nhỏ đong đưa dọc theo con đường lang thang đến nhà của “Ông Già và Biển Cả” Ernest Hemingway, mà cứ thấy lòng xao xuyến, nao nao.

Thế mà giờ đây, nơi chỉ cách nhà mình chừng 15 phút lái xe thôi, rất gần trung tâm Little Saigon, lại có thể trông thấy những cây phượng đến gần 30 tuổi đời, đang mùa nở rộ, hoa đỏ tươi chen với những cánh đỏ cam, lộng lẫy, ngạo nghễ, thì quả thật không biết phải diễn tả như thế nào cho hết sự ngỡ ngàng.

Hai cây ngoài sân. Một cây trong sân. Như những chiếc dù bung ra, soi mát cả một khoảng sân, rực rỡ cả một vùng trời.

Hai cây phượng vĩ nằm trên đường Cerritos, thành phố Anaheim làm rực rỡ cà khoảng trời. (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)

“Những cây này bác trồng từ năm 1990, do ngẫu nhiên thôi,” bác trai cho biết.

Bác kể “khi đến vườn bán cây, thấy họ bán phượng, bỗng nhớ thời còn ở Việt Nam người ta trồng phượng rất là đẹp. Nhớ vậy nên mua về trồng để làm kỷ niệm cho bây giờ và cho tương lai.”

“Cali không phải là đất trồng phượng nhưng vì sao bác lại trồng được những cây phượng to lớn đến như thế?” Tôi thắc mắc.

Bác trai nói, “Đúng là vào những năm 90 thời tiết rất lạnh. Bác trồng tới mười mấy cây nhưng thời tiết lạnh bị chết hết, chỉ còn có mấy cây đó thôi. Bác có đem lên cúng chùa Huệ Quang một cây nhưng nó cũng bị chết vì lạnh. Giờ thì thời tiết nóng dần lên rồi nên có lẽ trồng phượng sẽ dễ hơn.”

“Còn hỏi vì sao những cây phượng này còn sống và đẹp như vậy là vì số trời cho thôi, không nói được. Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên,” bác Bảo Trâm trai cười giòn theo câu trả lời.

Theo lời chủ nhân thì “những cây phượng này rất dễ chăm sóc, lâu lâu tưới nước cho nó, tuần hai lần, hay trong tháng những khi rảnh rang mình tưới cho nó là được.”

Trong khi đó thì bác Bảo Trâm gái lại là người “rất mê phượng” với lý do giản dị là “tuổi học trò ở Việt Nam ai cũng mê hoa phượng. Thời đi học mỗi khi thấy hoa đỏ đỏ là biết mình sắp nghỉ hè rồi.”

Mê phượng nên bác gái cho rằng “hằng năm cứ đến Tháng Tư là lại ra ngắm coi nụ ra chưa, đến đầu Tháng Sáu thì ra hoa, và Tháng Bảy thì nở rộ, và kéo dài đến Tháng Mười Một.”

“Nhưng năm nay do đợt nắng gắt vừa rồi đến 114 độ, nụ non bị rụng hết nên cô nghĩ những cây phượng này còn đẹp chỉ vài tuần nữa thôi,” bác gái nói thêm.

Thực tế, dù có bị cơn nắng “lịch sử” ở Nam Cali vừa rồi vùi dập, nhưng những cây phượng cổ thụ nơi đây vẫn cứ rực rỡ, kiêu sa. Đặc biệt là cây phượng trong sân, với những tầng những tán như có bàn tay sắp đặt. Đẹp đến lạ lùng.

Một trong những cây vải đang ra trái trong vườn nhà của ông bà Bảo Trâm ở thành phố Anaheim. (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)

Vườn cây nhiệt đới trong căn nhà phố

Ngoài phượng, sân trước nhà bác Bảo Trâm, chủ nhân cửa hàng mỹ phẩm Bảo Trâm trong khu chợ Phước Lộc Thọ, còn có một cây “quý hiếm” khác, đó là cây bàng.

“Cây bàng thiệt đó, cây bàng Việt Nam trong truyện Nhặt Lá Bàng của Nhất Linh, là nó đó. Cây này mua từ Hawaii mang về. Năm nay bắt đầu ra hoa. Cây bàng có lá màu sắc rất đẹp. Trái bàng cũng rất đẹp, nhìn y như mặt trăng khuyết vậy đó,” bác trai giới thiệu.

Đúng là truyện ngắn “Nhặt Lá Bàng” của Nhất Linh được mở đầu bằng bốn câu thơ của Thế Lữ:

“Cơn gió thổi… lá bàng rơi lác đác./Cùng rơi theo loạt nước đọng trên cành/Những cây khô đã chết cả màu xanh/Trong giây phút lạnh lùng tê tái ấy…”

Đứng ngay giữa Quận Cam, vừa nhìn phượng, ngắm lá bàng, lại còn miên man về một thời Tự Lực Văn Đoàn, một thời Thơ Mới thì đúng là không gian và thời gian của hiện tại phải dừng lại hết bên ngoài con phố đang ầm ào tiếng xe chạy kia.

Nếu sân trước nhà còn có cây bồ đề được chủ nhân uốn cong thành ba vòm độc đáo, có hai chú trâu trắng bằng đá thật to nhưng ánh mắt lại hiền đến ngây thơ, và rất nhiều tượng Phật cùng những cây mai vàng Việt Nam hãy còn lác đác hoa Xuân trong Hè, cùng nhiều cây quý hiếm khác, thì sân sau ngôi nhà này quả là giấc mơ của những ai yêu thích cây trái, nhất là trái cây miền nhiệt đới.

Khoảnh vườn sau nhà bác Bảo Trâm dễ rộng đến cả acre, được bố trí, sắp đặt gọn gàng, tinh tươm, nhìn vào là có thể thấy ngay bàn tay chăm bón, nâng niu của chủ nhân.

Chăm sóc, tỉa tót cây cành chính là một trong những thú vui của người đam mê với vườn tược, hoa lá. (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)

Bước đi trên mảnh vườn này có lẽ ai cũng phải ngất ngây với nào là vải đang mùa sai trái, nào xoài, nào nhãn, nào sapoche lủng lỉnh trên cành.

Này là mãng cầu xiêm “để xay sinh tố,” này là mãng cầu dai, kia là cây mít, đây là cây lê, rồi hồng giòn, hồng ướt.

Này là lựu ngọt, này là bưởi, bưởi 5 roi, bưởi Biên Hòa, cả bưởi không nhớ tên. Rồi ổi không hột, ổi xá lị, mận Mỹ Tho. Kia là táo tào, táo xanh Thái Lan.

Đến cả khế, chùm ruột, cóc cũng có đã đành, mà cây trâm, cây hồng quân, cây sấu cũng hiện diện một cách “hiên ngang” trên mảnh vườn này.

Dĩ nhiên cà pháo, bí bầu, thiên lý, hay thanh long, quýt đường, cam ngọt cũng không thể thiếu.

Chưa kể những cây sứ đủ màu, trắng, vàng, hồng, đỏ, cố khoe hương với những cây ngọc lan thơm nức mũi.

Và mai. Không biết bao nhiêu mà đếm cho xuể những cây mai tứ quý Mỹ, tứ quý Việt.

“Còn cây gì thích mà cô chưa trồng được?” Tôi hỏi bác gái sau một hồi say sưa ngắm nghía, chụp hình.

“Cô thích nhất là trồng cây chôm chôm nhưng tiếc là khí hậu ở đây chưa trồng được,” chủ nhà trả lời.

Một trong những cây sapoche đang mùa sai trái trong vườn nhà ông bà Bảo Trâm ở thành phố Anaheim. (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)

Lạ một điều, trồng nhiều cây trái như thế, nhưng cây mà bác gái mê nhất lại là ngọc lan.

“Cô mê nhất là ngọc lan, nhà có hai cây thật to phía trước, phía sau có thêm một cây là ba cây. Ngày nào cũng ra hái cả hai dĩa vào cúng Phật rất là thơm. Ngoài ra cô cũng mê cây mai vàng Việt Nam nữa. Chỉ vậy thôi,” bác gái cười nói một cách hiền từ.

Chủ nhân ngôi nhà của biết bao là trái ngon trái quý này lại khiến tôi ngạc nhiên hơn khi nói, “Với cây ăn trái thì thật sự hai bác chỉ thích trồng để coi nó ra trái, thích coi nó đẹp, thích hái cho bạn bè, con cái, đó là niềm vui. Còn ăn thì chỉ thích ăn trái nhãn thôi.”

Quả thật trồng cây, làm vườn đôi khi chỉ là thú vui, một thú vui chỉ người đam mê mới hiểu.

Và, cuối cùng, quan trọng nhất, chủ nhân ngôi nhà có lời mời tất cả những ai muốn ngắm phượng vĩ cứ tự nhiên đến ngắm hoa, chụp ảnh tại địa chỉ 1643 West Cerritos Ave, Anaheim, CA 92802.

Bạn bè, đồng nghiệp nghe tôi xuýt xoa về khu vườn sau, hỏi thêm, “Thế chủ nhà có cho vào ngắm vườn cây ăn trái không?”

Á à, chắc hên xui, bác gái có kêu tôi hãy trở lại khi vải và sapoche chín. Khi đó, tôi rủ mọi người theo cùng thì có lẽ sẽ được ngắm vườn luôn! (Ngọc Lan)

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 39

Thơ Thiền

Người vừa đến cũng vừa đi rất vội
Bỏ lại nơi này một thoáng bâng khuâng
Khoảng cách xa nhưng cũng lại rất gần
Mà bước mãi chân trần không tới được
… Nếu có gặp cũng xin đừng hẹn trước
… Bởi hôm nay ai biết được ngày mai
Sợ mùa thu cây lúa sẽ thay màu
Vô thường đến tâm con người cũng đổi
Không hẹn trước nhưng xin người cứ đợi
Dẫu ngàn năm hay suốt cả luân hồi
Trọn một đời dù chỉ sát na thôi
Vì tất cả cảnh trần là mộng huyễn
Tôi không hẹn nhưng rồi tôi sẽ đến
Bên kia bờ của bến đỗ không mê
Ai ra đi mà lại chẳng quay về
Lòng sẽ tưởng gặp người nơi xứ Phật.
~ Sưu tầm ~
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 16

Biển- Em Và Anh

Có người muốn làm con tàu lắng sóng
Chia biển thành hai nửa – biển và em!
Anh sẽ không làm như thế đâu em
Thương biển lắm… và thương em lắm!
Con tàu cứ lênh đênh giữa hai khoảng lặng
Nghiêng ngả bên nào cũng thương nhớ bên kia
Anh xin làm hạt muối mặn sẻ chia
Hòa trong biển, biển là em – anh chẳng giữ gì cho riêng anh cả
Anh chính là anh, là hạt muối ngàn năm
Cứ mặn mà thủy chung, cứ trọn đời hòa tan trong ngực biển
Để khi kết tinh, hạt muối đời anh nhận từ em – thương mến!
Ba vạn sáu ngàn ngày – muối vẫn mặn, gừng cay!
(Khải Nguyên)

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 32

Một câu chuyện buồn

Tôi nhớ rất rõ chuyện xẩy ra rất lâu khi tôi gần tròn bốn tuổi.

Hồi đó, gia-đình tôi sống gần một làng chài ở Mỹ-khê, Đông-Giang thuộc quận ba thành-phố Đà nẵng.
Ba tôi phục-vụ trong quân-đội VNCH, đơn-vị đóng ngoài Quảng-Trị, cấp bậc hạ-sĩ. Mẹ tôi bán cá ngoài chợ Sơn-trà. Mẹ tôi mua cá của những ghe chài cập bến vào sáng sớm, để đem ra chợ bán.
Một buổi trưa Chúa nhật, hai anh em tôi chơi banh ngoài sân cỏ bên cạnh nhà, chờ mẹ về cho ăn cơm. Anh tôi học lớp đệ thất trường Trung-học Đông-Giang, tôi học lớp mẫu-giáo của một trường tư trong phường. Đang chơi, vô tình trái banh do anh tôi đá quá mạnh, tôi đỡ không nổi nên bị trái banh trúng vào mặt. Đau quá tôi khóc ầm lên, anh tôi chạy đến dỗ dành tôi, lấy tay lau nước mắt cho tôi, xoa nhẹ vào má tôi, nơi bị đau.
Vừa lúc đó mẹ tôi từ chợ về.Thấy mẹ, tôi càng khóc lớn thêm.
Khi biết được sự việc, mẹ tôi quơ tay đập nhẹ mấy cái vào đầu anh tôi mắng: “Cha mi, làm em đau,” rồi vội dẫn tôi vào nhà, lấy khăn ướt lau mặt cho tôi, để tôi vào võng đưa qua đưa lại, dỗ dành: “Nín đi con, sau nầy đừng chơi banh nữa, tháng tới sinh nhật con, ba về mẹ nói ba mua cho con chiếc xe đạp nhỏ, con đạp đi học giống như anh Hai của con.” Nói xong, mẹ tôi đi vào bên trong nhà rồi trở ra, một lá thơ trên tay: “Đây là thơ của ba con gởi về hôm tháng rồi” mẹ tôi đọc:
– ‘Tháng tới, ngày 27 tháng 4 sinh-nhật của cu Tấn, anh sẽ xin phép về vài ngày. Em xem mấy cửa hàng bên chợ Hàn nơi nào bán xe đạp vừa tầm cỡ cu Tấn, anh về sẽ mua cho con một chiếc  ‘.
Nghe vậy, tôi ngừng khóc. Mẹ tôi ngồi vào võng, ôm tôi nằm sấp vào lòng, vừa đưa võng vừa nói, “Bữa ni mới 10 tây tháng hai, còn hơn hai tháng nữa ba mới về. Từ đây đến ngày đó, nếu con còn nhõng nhẽo không nghe lời của mẹ và anh hai thì mẹ nói ba không mua xe đạp cho con đâu.”

Tiếng mẹ tôi nghe nhỏ dần, trong mơ tôi nghe tiếng ba tôi khen “Cu Tấn đạp xe giỏi quá”, tiếng mẹ và anh hai: “Coi chừng té! coi chừng té”, và tiễng vỗ tay của ba người.
***********
Một buổi sáng, tôi đã thức dậy nhưng còn nằm nuớng trên giường với mẹ. Hôm đó biển động nên không có cá bán, mẹ ở nhà. Mẹ tôi ôm tôi: “Còn gần một tháng nữa, ba con về phép mua xe cho con, con lớn rồi, bốn tuổi đâu còn nhỏ nữa mà hở đâu khóc đó” Tôi mắc cở, dụi đầu vào lòng mẹ thì nghe có tiếng đập cửa rất mạnh.
Tiếng bác Hội hỏi lớn: “Thiếm Tiếng có nhà không? thiếm Tiếng có ở nhà không? “Mẹ tôi vùng ngồi dậy, trả lời:
–  Dạ, có tôi ở nhà, hôm nay biển động nên không có cá. Có chuyện gì không anh?
Mẹ tôi mở cửa. Tôi nghe tiếng  bác Hội:
– Tụi Việt-cộng đã tấn công vào Quảng-trị. Kỳ nầy nghe đâu bọn nó tấn công khắp nơi. Đơn vị của chồng thiếm bị tan hàng, một số bị bắt, một số bỏ chạy, một số bị thương trước đó, được đưa vào bịnh-viện Huế. Chú Tiếng, chồng thiếm nghe nói bị thương, đang nằm ở bịnh-viện Huế.Tin nầy do thằng Báu vừa chạy về cho biết. Hai đứa nó cùng đơn-vị.
 Mẹ tôi khóc. Tôi thấy mẹ tôi như tàu chuối héo, rũ người trên ghế.Tôi và anh hai tôi sợ sệt, vội chạy đến bên mẹ trố mắt nhìn mẹ, không biết nói gì. Nghe tiếng ồn ào, hàng xóm chạy qua, mỗi người một tiếng khuyên mẹ tôi bình-tĩnh nhưng mẹ tôi vẫn khóc.
 Hai ngày sau mẹ tôi đi Huế để tìm ba. Hai anh em tôi được mẹ nhờ bác Hội trông nom săn sóc. Mẹ tôi mua một bao gạo và kho sẵn mấy nồi cá dành cho hai anh em tôi ăn dần khi bà đi Huế.
Bác Hội là bạn cùng xóm với ba tôi. Nhà hai gia-đình sát vách nhau. Hai người chơi với nhau khi cả hai người còn nhỏ. Bác hơn ba tôi năm tuổi. Ba tôi rất thương bác Hội , ba là con duy nhất của ông bà nội. Bác cũng thương ba tôi như em. Sau nầy tôi được biết bác đã muốn gả em gái cho ba tôi, nhưng chuyện hôn nhân không thành.
Bác Hội thi tú tài không đậu nên bác tình nguyện xin đi học Trung-sĩ để khỏi bị bắt làm lính khi đến tuổi thi hành quân-dịch. Bác phục-vụ tại sư-đoàn 2 bộ-binh đóng tại Quảng- ngãi. Năm 1972, bác bị thương, mất một chân và được giải ngũ. Ngày bác cưới vợ, ba tôi dự tiệc, uống rượu rồi gây gổ ồn ào với một ông khách tham dự lễ cưới. Cảnh-sát quốc-gia can thiệp, bắt và chuyển ba qua Quân-cảnh tư pháp vì tội trốn quân dịch.
Ra tòa án quân-sự, ba tôi bị xử đi quân dịch. Ba tôi được đưa đi huấn-luyện  tại Trung tâm huấn luyện Hòa-Cầm ở quận Hiếu-Đức,Tỉnh Quảng- nam. Lúc đó ba tôi đã có vợ và anh Hai tôi độ chừng bảy tuổi. Ba tôi đóng quân tại tỉnh Quảng-trị và hai lần được thưởng Anh-dũng bội tinh tại mặt-trận.
Bác Hội thường nói với anh Hai tôi:”Ba mầy hiền lành như con gái nhưng ra ngoài mặt trận với địch quân, ba mầy gan dạ, không biết sợ chết là gì, được gắn huy chương, được  thăng cấp ngoài mặt trận, còn bác chẳng được gì ráo, lúc nào cũng chỉ mang lon trung-sĩ quèn”.
Mẹ tôi đi Huế tìm thăm ba đã hơn hai tuần mà chưa thấy về. Ba nồi cá kho ăn đã gần hết. Hai anh em tôi ngày nào cũng khóc vì nhớ mẹ. Buổi tối bác Hội thường qua nhà ngồi chơi, an ủi hai anh em tôi đến khuya với về lại nhà bác. Và từ đó hai anh em tôi không còn gặp lại ba và mẹ nữa.
 ********
Một hôm, trong xóm bỗng nhiên tiếng chó sủa vang, tiếng người gọi nhau inh-ỏi, tiếng súng nổ, lính tráng từ đâu đổ về đầy xóm, đầy bãi biển. Xe cộ nối đuôi nhau nằm ụ hai bên vệ đường. Người dân đủ cỡ, đàn bà con nít, ông già bà cả dìu dắt nhau đi, vừa hớt hãi chạy, vừa khóc, tất cả đều theo huớng ra bờ biển.
Trong xóm tôi, vài gia đình cũng bồng bế nhau chạy ra bãi biển. Vài người gọi với vào nhà tôi: “Chạy đi, cộng-sản sắp vào tới rồi!”. Hai anh em tôi đứng trong nhà nhìn đoàn người lũ lượt đi…và nhớ đến ba mẹ, chỉ biết khóc.Tôi nghe tiếng bác Hội nói với những người cùng xóm rủ bác đi lánh nạn: “Tôi chỉ còn có một chân mà chạy đi đâu? ” Tối hôm đó bác qua nhà tôi bảo anh Hai tôi hạ cây cờ vàng ba sọc đỏ xuống. Bác nói:
– Thằng Tấn anh, mày leo lên đem lá cờ xuống dấu kỹ một chỗ, sau nầy dùng lại; nếu không, lũ khốn-nạn đó vào mà thấy được, chúng sẽ không để yên cho sống đâu.
Anh hai tôi đem lá cờ xuống xếp nhỏ lại, rồi thoăn thoắt leo lên cột nhà để vào chỗ nứt của đầu kèo nhà, nơi mà anh tôi hay giấu những đồ chơi quý mà anh không muốn cho tôi phá vì sợ bị làm hư.
Rồi một ngày, đồng loạt tất cả nhà nhà trong xóm đều treo cờ đỏ sao vàng. Anh em tôi được phát mỗi đứa một  khăn quàng đỏ và ngày nào cũng đi sinh hoạt thiếu nhi, có ngày mệt quá hai đứa tôi không ăn uống gì hết, tối về đến nhà là lăn ra ngủ, quên cả khóc nhớ ba mẹ.
 Ông thợ may đầu xóm thành ông tổ trưởng dân phố. Mấy con ông, cả trai và gái đứa nào cũng có súng, đi lục soát từng nhà tìm bắt những người đã làm việc cho “ngụy”. Tôi nghe bác Hội gọi lén lũ nầy là bọn “ôn dịch”, “ăn cơm quốc gia thờ ma cộng-sản”. 
Cá kho hết, anh em tôi ăn cơm với nước mắm. Hết nước mắm, anh em tôi ăn cơm với muối. Đến khi hết gạo thì bác Hội cho tụi tôi ăn cơm độn khoai mì. Nhà bác Hội nghèo, có bác gái và hai đứa con nên phần cơm chia sẽ cho anh em tôi không đủ no bụng. Bác Hội giúp anh Hai tôi bán cái Radio, rồỉ đến chiếc xe đạp…rồi đến một ngày trong nhà không còn gì để bán. Nhà bác Hội cũng không còn gì để bán.
Bắt chước mấy người trong xóm, hai anh em tôi đi khắp nơi lượm bao nylon đem ra biển rửa sạch, phơi khô ,vài ba ngày gom lại đem bán lấy tiền mua gạo.Những lúc phơi bao nylon trên bãi biển,tôi phải ngồi canh chừng,nếu không kẻ khác lấy mất. Có lúc canh chừng mà tôi ngũ quên, kẻ gian lấy hết. Anh Hai tôi không nói gì, nhưng nhìn thấy mặt anh buồn thiu.
 ********
Bác Hội gái không còn đuợc cho đi dạy học. Bác chuyển sang mua cá ngoài bến ghe chài đem bán dạo trong xóm. Nhớ trước đây mẹ tôi bán cá trong chợ, tôi hỏi tại sao bác không bán trong chợ như mẹ tôi trước đây? Bác nói “Bác không vào hợp tác xã nên không bán ngoài chợ đươc.” Bác phải mua cá của những ghe chài bán lậu trước khi cập bến.
Để tránh sự dành  giật nhau khi mua cá lậu, bác rủ anh tôi cùng phụ bác đi mua bán cá. Khi ghe bán lậu cá còn xa bờ, anh hai tôi bơi ra ghe mua cá rồi đem vào. Cá được cho vào một sô nhựa, bác Hội gái và anh tôi thay nhau xách đi bán khắp nơi trong phường, khóm, có khi đi qua trung tâm thành phố. Công việc kéo dài được vài tháng thì bị công an phường cấm. Anh em tôi không còn gì để ăn, tôi hay đói nên lúc nào cũng đòi ăn. Hàng xóm thương tình, người cho củ khoai, người cho củ sắn nhưng không làm sao hết đói.
 Rồi một buổi sáng sớm, anh hai tôi dắt tôi đến bịnh-viện, anh tôi bảo tôi ngồi chờ anh trước cổng, anh đi vào bên trong.Tôi ngồi chờ lâu quá nên tựa lưng vào tường ngủ gật. Khi anh đánh thức tôi dậy thì mặt trời đã chiếu  ngay trên đầu. Anh kéo tôi đi nhanh khỏi bịnh viên, anh nói: “Tấn em chắc đói nhiều lắm rồi phải không?”.
 Tôi chưa kịp trả lời anh rằg “từ hôm qua đến giờ em có gì để ăn đâu! ” thì anh nói tiếp: “Anh cũng đói lắm, hai ngày ni anh cũng chẳng có gì để ăn hết….bây giờ anh em mình tìm gì để ăn.” Anh đi vào con hẻm bên kia đường.Tự nhiên tôi đứng lại không chịu đi theo anh. Kéo mạnh tay tôi, anh nói: “Vào đây anh em mình ăn bún.” Tôi lắc đầu: “Mình không có tiền mà!”. Anh khựng lại nhìn tôi, hai mắt anh sáng lên, giọng anh như reo vui: “Hôm nay anh có tiền!” Anh cho tay vào túi rút ra mấy tờ giấy bạc cho tôi thấy, lúc đó tôi mới chịu đi theo anh. Gánh bún bên lề đường đông người, hai anh em phải chờ khá lâu. Bụng tôi cứ vang lên tiêng rột…rột..nước miếng cứ chảy ra. Hôm đó anh mua ba tô bún, mỗi người một tô, tô thứ ba được chia làm hai, nhưng anh dồn hết phần thịt cho tôi, anh chỉ lấy phần bún.
 Ăn xong tôi theo anh vào chợ mua gạo khoai mì và nước mắm. Ngày hôm sau anh thức dậy sóm, nấu cơm ghế khoai mì. Hai anh em ăn cơm ghế khoai với nước mắm.
 Bắt đầu một ngày mới. Hai anh em tiếp tục đi nhặt bao nylon.
Hai tuần sau, anh lại đưa tôi đến trước bịnh-viện, tôi đứng chờ trước cổng, anh đi vào trong và khi anh trở ra anh lại đưa tôi đi ăn bún. Anh cũng mua ba tô, mỗi người một tô, tô thứ ba chia hai, anh chia hết phần thịt cho tôi.Từ hôm đó tôi cứ trông đến ngày anh hai tôi dẫn tôi đến trước bịnh-viện, tôi sẽ đứng bên ngoài chờ, anh đi vào bên trong, lúc trở ra anh lại đưa tôi đi ăn bún.
 Lần thứ ba, anh hai tôi dẫn tôi đến bịnh-viện, tôi cũng đứng trước cổng chờ. Lần này tôi nhìn thấy bác Hội từ bên trong bịnh-viện đi ra, cùng lúc ấy bác cũng nhìn thấy tôi, bác hỏi: “Tấn em làm gì đứng đó?”.Tôi trả lời: ” Con đợi anh hai con, anh ấy vào trong đó” tôi vừa nói, vừa chỉ tay vào bịnh viện. Bác nói: “Anh hai con vào trong đó làm gì vậy  kìa? Nó có nói với con không?”.Tôi lắc đầu. Bác đứng lại với tôi, lấy thuốc ra hút….Anh hai tôi từ trong bịnh-viện đi ra. Bỗng nhiên anh đứng khựng lai, vẻ mặt sợ hãi, có lẽ vì nhìn thấy bác Hội? Cùng lúc ấy, bác Hội hỏi:
“- Con vô đây làm chi rứa?”
 Anh hai tôi không trả lời, mặt nhìn xuống đất, tôi nhìn thấy trong mắt anh chớp chớp, như có những giọt nước. Bác Hội sẵng giọng:”Con vào đó bán máu phải không?”. Anh tôi không trả lời, hai vai anh run nhẹ, những tờ giấy bạc rơi lả tả xuống đất. Bác Hội lê bước tới nắm tay anh kéo đi.Tôi lượm lại mấy tờ giấy bạc chạy theo. Đến một khoảng vắng, bác vứt cây nạng gỗ xuống đất, bác kéo anh tôi vào lòng, bác khóc, anh hai tôi khóc và tôi cũng khóc.
 Về đến nhà, bác hỏi anh hai tôi ai chỉ vẽ cho anh đi bán máu, anh nói:”Trong xóm mình nhiều người đi bán máu lắm, họ rủ con đi”. Bác thở dài,   lẩm bẩm: “Khốn nạn cho cái xã-hội mới nầy”!
 *******
Một hôm trời mưa, hai anh em tôi không đi lượm bao nylon. Tôi qua chơi với hai đứa con của bác Hội. Buổi trưa về, vừa mở cửa vào phòng, tôi thấy tên công an Được đang ở trong nhà. Nó vứt mấy đồng bạc trên giường và nói: “Giữ lấy mà mua gạo ăn!”. Tôi nhìn anh tôi dò hỏi nhưng anh im lặng.
 Từ đó, anh tôi không còn vui cười, mặt lầm lì, hay tránh mặt tôi. Vài ngày sau, bác Hội đưa anh vào bịnh-viện vì anh bị đi cầu ra máu. Về nhà, bác lẩm bẩm suốt ngày: “Tên khốn khiếp! có súng, tau bắn nát đầu mầy”.
Bác Hội xin được cho anh hai tôi công việc gỡ lưới bắt cá trên một ghe chài của một người bà con bên vợ.
Hàng ngày tôi đi lượm bao nylon một mình. Buổi tối tôi ngủ một mình. Anh hai tôi theo ghe chài hai ngày mới về bến một lần. Tôi ăn uống bên nhà bác Lộc.
 Một đêm, tôi đang ngủ, có cảm giác như có ai ôm mình vào lòng. Tôi nghĩ chắc anh hai tôi đã đi biển về, tôi quay người lại nhưng cái cảm giác chạm vào da thịt của anh hai tôi không giống như thuờng ngày, tôi mở mắt, qua ánh sáng đèn từ ngoài đường chiếu vào, tên Được đang nằm bên tôi. Tôi hoảng sợ, dùng hết sức mạnh hai chân đạp vào bụng tên Được rồi nhảy xuống guờng chạy ra khỏi nhà. Tiếng tên Được gọi theo:” Đừng chạy, tau bắt đưa về công an phường bây giờ”. Nhưng tôi vẫn chạy, chạy qua bao nhiêu con hẽm trong xóm, chạy ra huớng biển và thẳng đến bến ghe chài.
 Tôi ngồi tựa lưng vào cái thúng chài trên bờ. Trước mặt tôi một màu đen mênh-mông, tiếng gió hòa cùng tiếng sóng biển tạo ra một âm thanh kỳ bí làm tôi sợ hãi. Tôi ngồi chờ anh hai tôi trở về bến. Tôi không dám quay trở về nhà, tôi phải trốn tên công-an Được.
Bỗng có tiếng chân người đi ven mé biển trước mặt tôi, càng lúc càng nhiều.Tiếng thì thầm thúc dục mà mang âm điệu sợ hãi. Tiếng trẻ con khóc, tiếng “xuỵt xuỵt ” bảo im lặng. Tiếng gọi tên nhau thì thầm. Tôi nghe tiếng máy nổ của một chiếc ghe từ xa càng lúc càng gần. Ở quanh tôi, đám đông đã đi lên hết trên cầu tàu.
 Chiếc ghe đã cập cầu bến cá. Mọi người lần lượt lên ghe…Tôi nghe tiếng một người đàn ông hỏi:
– Bà con lên hết chưa? Đếm xem đủ người của mình chưa? Nhanh lên! để ghe rời bến, nhanh lên! nhanh lên! công an nó đuổi tới nơi bây giờ!” Tôi bủn rũn khi nghe mấy tiếng “công-an đuổi đến bây giờ”, tôi nhớ đến lời của tên Được: “Tau bắt đưa về công-an phường bây giờ! “Sợ hãi, tôi leo nhanh lên cầu tàu. Một người chạy đến túm lấy tôi ném lên ghe: “Còn một đứa nhỏ, con ai đây? ..xong rồi! mở máy cho ghe chạy đi, trời bắt đầu sáng rồi.”
 Trong ghe tối đen, tôi không nhìn thấy ai là ai. Một người lay tôi dậy. Trời đã sáng. Mọi người ngồi ép vào nhau.Vài người lao nhao hỏi tôi: “Cháu là con ai vậy? Tên là gì? Đi với ai?. Tôi chỉ khóc, không biết trả lời như thế nào. Một bà dang tay ra ôm và an ủi tôi. Tôi nói với bà: “Con chờ anh con đi theo ghe đánh cá trở về..rồi một người nào đó ném con lên ghe này khi ghe bắt đầu chạy”.
 Buổi chiều hôm đó, mọi người được chủ ghe cho phép lần lượt ra khỏi lòng ghe để thở chút gió mát. Quanh tôi, biển mông mênh không thấy đâu là bờ.Tôi nhớ đến anh hai tôi, nhớ ba mẹ tôi, nhớ gia đình bác Hội, nhớ mọi người trong xóm.
Tôi nghe hai người đàn ông nói chuyện với nhau:
– Chuyến này như vậy là thành công, hai lần truớc bị bắt khi ghe vừa rời bến, nhưng lần nầy thì mình thoát, ghe đang chạy vào hải phận quốc tế rồi. ..”
 Hai ngày sau ghe bị đột ngột chết máy, phải thả bồng bềnh trên biển. Trong lúc nguy khổn, may sao ghe được một tàu hàng Do-Thái đi ngang cứu, và chúng tôi được đưa đến trại tỵ nạn cọng-sản ở đảo Galang của nước Nam-dương.
 *********
Tôi được một gia-đình người Pháp gốc Do-Thái nhận làm con nuôi, định-cư tại Tel-Aviv sau mấy tháng sống tại tỵ-nạn Galang.
Hôm xuống tàu để sang Singapour, những người tỵ-nạn còn đang bị tạm lưu lại đảo, tụ tập ngoài cầu tàu để tiễn những người được định cư, đi đến các nước đã nhận cưu mang họ. Con tàu xa dần bến, người đưa tiễn khuất dần trong tầm nhìn. Nỗi cô-đơn ngập trong tôi, tôi cảm nhận kể từ phút đó, tôi mất tất cả những gì gọi là hình bóng Viêt-Nam.Tôi gục đầu vào thành tàu, nghe những thổn thức tràn ngập trong lòng. Tôi khóc.
 *******
 Ba mẹ nuôi nguời Do-Thái của tôi không có con. Họ đã có hai người con nuôi trước khi nhận tôi. Ba nuôi tôi có một nông trại trồng cam còn mẹ nuôi tôi là một giáo sư ngôn ngữ học. Hai người anh của tôi là một người da màu, gốc Madagascar còn nguời anh kia gốc Ai-cập.Trong ba người, tôi nhỏ tuổi nhất, kém người anh cả tám tuổi, kém người thứ hai năm tuổi.
 Chúng tôi được nuôi ăn học đàng-hoàng, sống rất hòa thuận và đều theo Do-Thái giáo. Bà mẹ nuôi tôi hay than với tôi: “Đất nước của con sao mà nhiều thống khổ quá! chỉ tội cho người dân. Con cố học hành và đừng quên tiếng Việt, sẽ cần cho con sau nầy khi con muốn tìm về cội nguồn.”
 Khi tôi lên trung học, mẹ nuôi tôi bắt đầu dạy tôi học tiếng Việt. Trong những giờ dạy tiếng Việt, bà yêu cầu tôi kể những gì liên quan đến gia đình tôi mà tôi còn nhớ được.Tôi kể bằng tiếng Việt gia đình và về hoàn cảnh của tôi. Mẹ tôi đã ghi lại trên giấy và vào buổi cơm tối ngày hôm sau bà đọc lại cho mọi người trong gia-đình cùng nghe bằng tiếng Do-Thái. Sự việc nầy kéo dài hàng năm cho đến lúc tôi không còn nhớ gì thêm để kể lại. Sau này những lúc chỉ có hai người, mẹ nuôi tôi thường nói tiếng Việt với tôi. Bà bảo đã hai lần đi Việt-nam, tìm đến những nơi mà tôi đã kể cho bà nghe để tìm tin tức gia-đình tôi nhưng vô hiệu. Có lẽ trí nhớ và số tuổi nhỏ của tôi đã không kể lại đủ chuyện gia-đình cũng như nơi chốn  gia-đình tôi sinh sống trước đây cho bà nghe.
 Sau khi tốt nghiệp đại-học, tôi được học bổng của trường đại học Sorbonne Pháp để học tiếng Pháp tại Paris. Một hôm đang ăn trưa tại một tiệm phở thuộc khu phố người Việt quận 13, một bác phục vụ nhà hàng lại bàn nói chuyện với tôi.  Bác hỏi thăm và cho biết bác cũng là người gốc quận ba Đà-nẵng trước đây. Bác và gia-đình vượt biển sau khi thành-phố Đà-nẵng bị mất vào tay Cộng-sản. Bác khoe có trở về Đà-nẵng vài lần, nên bác cho biết các sự đổi thay và chỉ dẫn tôi cách tìm đường về nơi tôi đã đuợc sinh ra và lớn lên. Bác khuyên tôi nên về Đà-nẵng một chuyến để tìm lại gốc gác gia đình.
 ********
Tôi đi dạy được hai năm thì cưới vợ và rồi có hai con, một trai một gái. Khi đứa con trai đầu của tôi được tròn bốn tuổi, tôi mua cho nó một chiếc xe đạp nhân ngày sinh-nhật của nó. Khi đem chiếc xe về nhà, kỷ niệm của ngày xa xôi ở quê nhà trở về …tôi nằm trên võng nghe mẹ tôi đọc lá thơ của ba tôi viết từ chiến trường…ba hứa khi về nhà sẽ mua cho tôi chiếc xe đạp mừng sinh-nhật …nhưng rồi mơ uớc đó không bao giờ đến.
Nhìn con trai tập đạp xe, tôi ứa nước mắt, bùi ngùi nhớ lại tuổi thơ của mình, tội nghiệp cho thằng bé là mình hai chục năm trước. Tôi tự hỏi nếu ngày đó tôi có được chiếc xe, không biết tôi có những cử chỉ vụng về, loạng quạng khi tập đạp xe như con tôi bây giờ?
Tôi hay nói với vợ tôi,”Cho đến tuổi nầy, anh chưa bao giờ bước lên yên xe đạp”. Vợ tôi an ủi: “Anh lại trở về với quá khứ rồi, hãy quên đi!”
Tôi chỉ biết thở dài…Làm sao mà quên được!
 ********
Mùa hè năm 2010, mẹ nuôi tôi khuyên tôi nên trở về Đà nẵng tìm thăm tin-tức gia-đình. Nếu tôi tìm được, bà định sẽ đem hết đại gia đình cùng đi với tôi trong một chuyến đi sau.
 Tôi về đến Đà-nẵng. Theo lời hướng dẫn của cô tiếp-viên khách-sạn và những chi tiết bác đồng-hương tại một nhà hàng bên Pháp cho biết năm nào, tôi tìm đuờng ra bờ sông Hàn rồi tìm phà qua sông. Bến phà này mấy mươi năm trước anh hai đã đưa tôi qua lại mấy lần để đến bịnh-viện bán máu lấy tiền mua gạo. Mọi vật đã đổi thay, phà đã ngừng đưa khách, chiếc cầu mới đã được bắc ngang hai bờ sông. Bác xe ôm lớn tuổi chở tôi chạy vòng qua bao nhiêu khu phố mà ở cái tuổi tôi thời ấy chưa có, bây giờ các khu phố đã mọc lên che lấp những bờ dương và bãi cát cùng sóng biển.
Tôi ra đi ở cái tuổi lên năm, chưa có ý-niệm gì về tên làng, tên xóm, tên phường, tên con đường hẻm chạy qua trước nhà….nên bao nhiêu năm qua tôi không thể nào liên lạc đuợc về nhà cũ, quê hương dường như đã chết trong tôi.Tôi nhờ bác lái xe ôm hỏi thăm và đưa tôi đến nơi có bến ghe cá mấy mươi năm trước. Tôi hy vọng từ đó tôi sẽ tìm ra nhà cũ của ba mẹ tôi. Bác lái xe ôm đã đưa tôi đến bến ghe cá cũ, nhưng nay chỉ còn cái tên  của ngày trước vì bến đã dời đi nơi khác, thay vào đó là một khách-sạn đã được xây lên cùng những ngôi nhà cao tầng.Tôi hỏi thăm nhà ba mẹ tôi, hỏi thăm nhà bác Hội, hỏi thăm tên anh hai tôi, mọi người đều lắc đầu, trả lời với một giọng nói có âm sắc cao và sắc mà tôi chưa hề được nghe khi còn thuở thơ ấu.
 Lòng nặng chĩu và thấy lạc-lõng, tôi rưng rưng muốn khóc. Cả buổi trưa tôi lang-thang, từ khu nầy qua khu khác, áo đẫm mồ hôi, tôi đứng tựa vào một tường nhà có bóng mát tránh nắng.Tôi đã định quay trở về khách sạn nghỉ và sẽ tiếp tục trở lại khu nầy ngày hôm sau. Bỗng tôi nghe có tiếng ve sầu vang lên đâu đây nghe thật buồn não. Ngày xưa trong xóm chỉ có nhà tôi có cây phượng vĩ. Mùa hè hoa nở đỏ rực, lũ ve sầu từ đâu đến buông tiếng kêu râm ran và rầu rĩ, như ru tôi ngủ trong những buổi trưa hè nóng bức.
Khi có cơn gió mạnh, những cánh phượng rơi lả tả xuống sân nhà, mẹ tôi cầm chổi quét. Một lần tôi nghe mẹ tôi phàn nàn với ba tôi: “Anh ơi, hãy đốn cây phượng làm củi cho rồi. Ngày nào cũng quét hoa và lá rụng, mệt quá”.  Ba tôi cười trả lời: “Cây phượng nầy do ông nội trồng để tưởng nhớ bà nội sau khi bà nội chết, bà nội mấy đứa nhỏ tên Phượng, mình không đốn cây được đâu.” Tôi lần đi về hướng có tiếng ve rền-rĩ…màu đỏ của hoa phượng chan hòa trước mắt tôi: một cây phượng to lớn im lìm dưới nắng chói chang…Tôi dừng chân bên cây phượng được trồng ngay bên cổng vào một căn nhà…
 Tôi nhìn kỹ, hình ảnh ngôi nhà xa xưa của tôi hiện ra rõ ràng trong trí nhớ. Tôi đã tìm ra được nhà tôi. Hàng hiên không có gì đổi thay, tất cả còn nguyên như cũ.Tôi lặng nguời vì vui mừng. Lòng hồi hộp nhưng cố giữ bình -tĩnh, một lát sau, tôi gọi vọng vào bên trong:
– Có ai trong nhà không, cho tôi hỏi thăm? ”
Tôi gọi đến lần thứ ba thì cánh cửa nhà hé mở, một đứa bé trai bước ra nhìn tôi rồi vội quay vào đóng cửa lại.Tôi kiên nhẫn chờ. Cánh cửa lại mở, một người đàn ông râu tóc bạc phơ chống nạng bước ra. Tôi nhận ra ngay bác Hội ngày xưa của tôi. Bác già quá nhiều. Bác chống cây nạng gỗ mà người cứ run run. Bác lấy tay che trán nhìn tôi. Tôi bồi-hồi, xúc-động nói lớn:
– Bác Hội còn nhớ con không? Con là Tấn em đây. Bác đi khập khiễng ra cổng, giọng lắp bắp:
– Tấn em hả? con còn sống hả? Trời ơi! con còn sống hả?.. Vào đi, vào đi con.
Hai bác cháu loạng choạng ôm nhau, cả hai cùng khóc, khóc vì mừng gặp lại nhau và khóc cho thân phận của mỗi người và thân phận của nhau. Tôi theo bác vào nhà, đưa mắt nhìn quanh, vội hỏi bác:
– Ba mẹ cháu đâu? anh hai cháu đâu bác?” Bác khựng lại rồi nói:
– Chuyện còn dài, rồi bác sẽ kể lại cho con nghe. Con ngồi nghỉ cho khỏe đã!
 *********
Và bác kể:
“Ngày mẹ con đi Huế tìm thăm ba con bị thương ở Quảng-Trị và được đưa vào điều trị tại bịnh-viện Huế đến nay, bác chỉ nghe bạn đồng đội của ba con kể lại. Khi mẹ con ra đến bịnh viện thì ba con đã bị chính quyền mới của Cộng-sản đuổi ra khỏi bịnh viện cùng với các đồng đội khác cũng bị thương. Những người thương-binh và các nguời nuôi bệnh cùng cảnh này tụ-tập sống dưới chân cầu Tràng-tiền, nhờ vào sự giúp đỡ của dân chúng. Sau đó họ dìu dắt nhau theo quốc lộ 1 trở về Đà-nẵng, ngày xin ăn, tối ngủ bờ ngủ bụi.
Khi đến Cầu-Hai thì ba con kiệt sức vì vết thương làm độc nên chết tại đây. Sau khi được dân Cầu-Hai giúp chôn cất ba con xong thì ngày hôm sau mẹ con, lúc đó cũng đau yếu, thất thểu đi một mình trên đuờng vào Đà Nẵng. Rồi từ ngày ấy đến nay, không ai biết tăm tích của mẹ con ở đâu nữa. Chắc là chết ở đâu rồi, vì nếu còn sống mẹ con thế nào cũng tìm về nhà ở Đà nẵng với hai anh em con.”
 Tôi gục đầu xuống bàn, thổn thức. Giọng bác đều đều:
” Khi con mất tích, anh hai con, gia-đình bác cùng bà con lối xóm ngày đêm tìm kiếm hoài không ra. Anh hai con buồn lắm, sống như một cái bóng thui thủi trong căn nhà này – bác nhìn quanh nơi bác và tôi đang ngồi-. Ba năm sau, anh hai con đến tuổi “thi hành nghiã vụ quân sự” thì bị đưa qua chiến trường Campuchia. Chỉ sáu tháng sau, địa phương báo cho bác biết anh hai con đã tử thương. Người ta hứa sẽ đưa xác về, nhưng đó chỉ là lời hứa suông thôi, không bao giờ có xác về.
Bác đã lấy một mảnh đất sau vườn nhà con xây một ngôi mộ nhỏ, lập bia chung cho cả ba người, ba mẹ con và thằng Tấn anh của con.  Hằng ngày bác thắp nhang cho linh hồn ba mẹ con và anh hai  con khỏi lạnh lẽo. Còn riêng phần con, bác nghĩ là con không chết, có lẽ con đã đi lạc đến một nơi nào đó, có người đem về nuôi, một mai khôn lớn con sẽ tìm ra gốc gác gia đình để trở về.. Anh hai con cũng có ý nghĩ như bác nên trước ngày bị đưa đi Campuchia, anh con đã giao hết giấy tờ nhà đất cho bác giữ hộ và dặn:”Nếu con có mệnh hệ nào thì xin bác giao lại cho thằng Tấn em con.” Bác giữ đã lâu mà vẫn không có tin tức gì của con, bác sợ chính quyền sẽ tịch thu căn nhà nên bác đã xoay sở sang tên ngôi nhà cho bác, nhờ vậy, cái nhà vẫn còn. Nay con trở về, bác sẽ giao nhà lại cho con.
 Tôi theo bác ra sau vườn, ngôi mộ nằm bên một góc vườn. Mộ bằng xi-măng, sạch sẽ. Tôi đọc tên ba, mẹ và anh hai tôi ghi trên mộ bia. Tôi quỵ người xuống, gục đầu vào thành bia, nước mắt trào ra. Lòng tê tái, tôi đau đớn nghĩ đến cha mẹ, đến anh hai tôi và tự xót thuơng cho thân phận mình mồ côi, cô độc, tìm ra gốc gác gia đình chỉ để nhận thêm một sự thực rằng truớc sau gì tôi vẫn không còn cha mẹ, anh em, không có ai là người ruột thịt…đến lúc bác Hội nắm tay kéo tôi đứng lên, đèn trong nhà bác đã thắp sáng.
 Ngày hôm sau, tôi vẫn giữ căn phòng ở khách-sạn nhưng về sống với gia-đình bác Hội. Một hôm bác đưa tôi dạo quanh xóm cũ, phần lớn dân cư tù nơi khác đến.Tình cờ ngang qua một tiệm sửa xe, tôi gặp Hiền, người bạn cùng học lớp mẫu giáo với tôi ngày xưa. Hai đứa nhận ra nhau. Cả hai bồi hồi, xúc-động. Bằng tuổi tôi nhưng Hiền mang dáng dấp của một ông lão. Ba của Hiền, ngày xưa là Trung-úy của quân lực Việt Nam Cọng-hòa. bị chính-quyền mới bắt đi tù cải-tạo ở Trung–phước rồi chết tại đó.
Vì có lý-lịch con của “ngụy” nên Hiền không tìm được công ăn việc làm, nên đành lấy hiên nhà làm tiệm sửa xe từ mấy chục năm nay. Con cái học hành không tới đâu, nhà quá nghèo.Vợ cũng phải phụ chồng sửa xe. Bất chợt cơn mưa rào chợt đến. Hiền vội vã tìm thau và chậu để hứng nhưng cả tiệm sửa xe vẫn tràn đầy nước từ trên mái đổ xuống. Hiền nói: “Cái nhà đã ‘rệu’ từ chục năm nay, không tiền để sửa, bây giờ lo cái ăn cho gia-đình khỏi đói là đủ mệt rồi”.
Tôi nghe mà lòng bỗng dưng cồn-cào như bị cái đói ngày xưa hành hạ, cái đói mà anh Hai tôi phải bán máu, chất dinh dưỡng cơ thể để đổi lấy cái ăn mà sự dinh-dưỡng cơ thể đang cần…một cái vòng lẩn quẩn khốn-nạn của nhu cầu sinh tồn.
 Buổi chiều truớc ngày từ giã gia-đình bác Hội để về lại Do-Thái, bác cùng tôi ngồi tâm-sự trong phòng khách. Bác kể lại tình bạn giữa bác và ba tôi, kể đến đâu, bác thở dài đến đó, bác ngậm ngùi nhớ đến kỷ niệm của một thời đã qua.Tôi tựa đầu vào thành ghế, tai chăm chú nghe nhưng mắt lơ đãng nhìn lên trần nhà. Tôi hướng mắt về phía cái kèo nhà có cái khe nứt, sực nhớ lại chuyện ngày trước bác Hội đã thúc hối anh hai tôi tháo cờ ba sọc đỏ dấu đi….anh hai tôi đã leo cột nhà đem dấu vào chỗ khe nứt đó…bỗng nhiên tôi đứng lên đi vòng vòng trong phòng khách, mắt cứ nhìn chăm chăm vào khe nứt trên kèo nhà. Có lẽ bác Hội ngạc nhiên nên hỏi tôi:
– Con tìm cái chi rứa?
Tôi trả lời:
– Bác còn nhớ,ngày xưa khi cộng sản vào thành phố, bác thúc anh hai con đem cây cờ ba sọc đỏ giấu đi và anh Hai con đã đem lá cờ giấu vào cái lỗ đó”, tôi vừa nói vừa chỉ tay lên lỗ nứt trên kèo nhà. Bác Hội “ờ” lên một tiếng rồi nói “thằng ni nhớ dai ghê, như vậy thì nó còn ở đó; từ đó cho tới ni, chỗ đó không ai động đến, mà lâu quá không biết lá cờ có mục có nát không?”
Nói xong bác tiến đến cửa lớn nhìn ra ngoài và nói với vẻ thận trọng:
– Sắp nhỏ chạy chơi đâu hết rồi, con muốn xem cái đó thì leo lên xem thử.
Nói xong bác khép cửa lại, gài chốt ngang.Tôi đã định xin phép bác leo lên xem thử lá cờ còn đó không, thì nghe bác khuyến khích làm tôi vừa sung-sướng vừa hồi hộp. Tôi đang loay hoay tìm cách leo lên cây cột (nhà xây theo kiểu xưa, có nhiều cột) thì bác đẩy cái bàn đèn sát cây cột nhà rồi để thêm cái ghế lên trên bàn, bác nói:
– Làm như thế ni leo dễ hơn!
Tôi thận trọng bước lên bàn, bước lên ghế, dùng hai tay đu lên sà nhà. Tôi chợt nhớ đến anh hai tôi, hồi đó anh leo lên cột sao dễ dàng và nhanh nhẹn như sóc vậy.
Tôi thọc tay vào khe hở bên kèo nhà, tay chạm vào một vật mềm mềm, kéo ra, một cuộn vải màu vàng đã phai màu..Tôi nói với bác Hội:
– Nó còn đây bác ơi!. Tôi ném cuộn vải màu vàng xuống cho bác. Bác nhặt cuộn vải  lên, mở ra, tay giũ giũ mấy lần, lá cờ ba sọc đỏ hiện ra trước mắt tôi…tôi nghe bác nói:
– Còn nguyên si, chỉ bạc màu chút thôi. Tôi tuột xuống đứng bên bác. Bác trùm lá cờ lên đầu bác. Tôi nghe bác hít…mấy cái rồi bác lặng yên, chừng một phút sau bác lấy lá cờ ra khỏi đầu. Tôi nhìn thấy hai mắt bác đỏ và long lanh nước. Bác trao lá cờ cho tôi giữ và mở cửa đi ra ngoài rồi quay lại với một lọ thủy tinh trên tay, bác nói với tôi:
– Con cuộn lá cờ lại bỏ vào cái lọ ni, đem ra chôn bên mộ của ba con, ba con chết không có ai phủ cờ, mình nay đem chôn cạnh ba con như rứa ba con cũng ấm lòng.
Tôi cuộn lá cờ cho vào lọ, đậy nắp lại. Bác và tôi cùng đi ra ngôi mộ sau vườn. Bác dùng con dao chẻ củi đào một cái lỗ trên đầu mộ, tôi để cái lọ vào đó và bác lấp đất lại.Tôi nghe giọng bác thì thào như nguời tâm sự:
– Tổ quốc chưa kịp ghi ơn em thì Tổ quốc đã mất.Tổ quốc chỉ còn một chút nầy, em mang theo để sống với kỷ niệm của một giai đoạn lịch-sử…và biết đâu Tổ quốc sẽ sống lại với con cháu của chúng ta sau nầy.
Chiều hôm đó tôi từ giã gia-đình bác Hội.Trên đường đi từ trong nhà bác ra đường lớn đón xe để về khách-sạn, bác nhắc tôi:
– Con nhớ đừng quên giúp đỡ Hiền, thằng bạn của con. Nó cần sửa lại căn nhà dột nát của nó, không biết cả đời nó có tiền sửa được không. Tôi nói:
– Bác yên tâm, con sẽ giúp tận tình, con sẽ chuyển tiền về cho bác để bác đưa cho Hiền. Nếu không đủ con sẽ chuyển thêm cho đủ.
Tôi lại nói với bác:
– Dường như cả đời, bác đã lo hết cho gia đình ba mẹ con và anh em con, con nhớ ơn bác vô cùng. Nay bác có tuổi rồi,bác nên quan tâm cho sức khỏe bác nhiều hơn”.
Bác nắm chặt tay tôi hỏi:
– Còn ngôi nhà của ba mẹ con, con tính sao đây?  Nay con còn đó, bác tiếp tục giữ nhà thì lòng bác ngại quá..! Tôi trả lời trong nghẹn ngào:
– Tình cảm và công ơn bác dành cho gia-đình con như trời biển, có một trăm ngôi nhà như vậy cũng không thấm vào đâu đối với tấm lòng của bác… Con chưa bao giờ có một ý nghĩ nào về ngôi nhà đó là của ba mẹ con hay của con. Nó là của bác… nó là của bác. Bác nên lo cho Bác nhiều hơn! 
******* 
Thay vì đi máy bay từ Hà-nội thẳng về Do-thái, tôi đổi vé đi Paris. Nước Pháp có vài ngôi chùa Việt-nam còn bên Do-thái không có.
Tôi tìm đến một ngôi chùa ở ngoại ô Paris để xin lập bài-vị thờ ba mẹ và anh hai tôi theo như lời bác Hội khuyên.
Vị-sư trụ trì chùa tiếp tôi sau chánh điện, hỏi:
Anh cho biết tên thân-sinh của anh.
Tên cha?
Đoàn-minh-Tiếng.
Ngày và năm sinh?
Dạ, thưa thầy con không biết.
Ngày và năm chết?
Dạ, thưa thầy con không biết.
Pháp-danh?
Dạ, thưa thầy con không biết.
Vị sư trụ trì nhìn tôi với đôi mắt khác thường, rồi lắc đầu:
Ngày sinh, tháng đẻ của cha anh mà anh không biết, lạ thật!
Vậy tên của mẹ anh là gì?
Nguyễn-thị kim Ngân.
Ngày và năm sinh?
Dạ, thưa thầy con không biết.
Ngày và năm chết?
Dạ, thưa thầy con không biết.
Pháp-danh?
Dạ, thưa thầy con không biết.
Vị sư trụ trì đứng dậy đi tới đi lui rồi nhìn tôi với đôi mắt nheo lại như nghi ngờ tôi đang đùa với ông một cách không nghiêm chỉnh.
Sư lại ngồi xuống, hỏi tiếp:
Anh còn muốn lập bài vị cho ai nữa không?
Dạ, còn người anh.
Tên gì?
Đoàn-tấn Anh.
Ngày sinh và năm sinh?
Da, thưa thầy con không biết.
Ngày chết và năm chết?
Dạ, thưa thầy con không biết.
Pháp-danh?
Da, thưa thầy con không biết.
Thầy trụ trì ném cây bút xuống bàn rồi niệm Phật:
“Nam mô A-di-Đà-Phật”
Thầy thở dài hỏi tôi:
Anh muốn lập bài vị để thờ người thân trong chùa mà không nhớ ngày sinh tháng đẻ, ngày chết, Pháp-danh thì chùa làm sao cúng kiến cầu siêu được?
Dạ thưa thầy, con lạc gia-đình cha mẹ và anh con từ lúc năm tuổi nên con không biết ngày sinh tháng đẻ, ngày chết cũng như Pháp-danh của họ.
Sư trù-trì nhìn tôi, chấp hai tay lại niệm:
“Nam-mô A-di-Đà-Phật.”
Tôi gục đầu xuống bàn.
Một bàn tay của thầy để trên vai tôi.
Nguyễn đại Thuật
Viết trong tháng tư buồn.
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 49

Lợi ích sức khỏe của mướp đắng

muop dang tot cho sk
Mướp đắng thường được sử dụng để nấu ăn. Nhưng trên thực tế, nước khổ qua cũng được coi là một thức uống giá trị có tác dụng chữa bệnh cao.
Dưới đây xin được đề cập đến những công dụng hữu ích của khổ qua (mướp đắng).
Theo các nghiên cứu mới nhất cho thấy trong mướp đắng có chứa nhiều chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể, chẳng hạn như carotene, protein và vitamin… Thường xuyên ăn mướp đắng rất có lợi cho sức khỏe.

muop dang tot cho sk 
Mướp đắng để uống là tốt nhất, có thể giải độc, làm đẹp. Hơn nữa thường xuyên ăn có thể cải thiện sự thèm ăn.
1. Thúc đẩy sự thèm ăn và giúp tiêu hóa
Mướp đắng đối với những bệnh nhân có vấn đề về đường tiêu hóa, đường ruột, cũng như trĩ nội, trĩ ngoại đều có hiệu quả điều trị tốt.
Nghiên cứu cho thấy, thường xuyên ngâm mướp đắng trong nước để uống giúp hỗ trợ đường tiêu hóa, ăn ngon miệng hơn.
2. Làm giảm lượng đường trong máu
muop dang tot cho skCác nhà khoa học hiện đã chiết xuất từ mướp đắng một số loại thuốc insulin. Những chất này sau khi tiến nhập vào thân thể có tác dụng rất tốt trong việc làm giảm lượng đường trong máu. Đối với những bệnh nhân tiểu đường, là một phương pháp hữu hiệu.
3. Làm đẹp
muop dang tot cho skĐem những lát mướp đắng ngâm trong nước để uống một thời gian dài, làn da sẽ được cải thiện và nhuận hồng hơn, mang lại hiệu quả thẩm mỹ cao.
Báo cáo cho rằng nước mướp đắng sau khi vào cơ thể có thể thúc đẩy lành vết thương và tái tạo da, nhưng cũng có thể làm tăng sức sống biểu bì da. Thậm chí còn có tác dụng điều trị những nốt mụn xuất hiện trên da.
4. Chống tia bức xạ
muop dang tot cho sk
Uống một ly sinh tố khổ qua cũng mang lại công dụng phòng chống bức xạ rất hữu ích.
Nhiều nhân viên văn phòng thường xuyên phải ngồi làm việc phía trước màn hình máy tính. Do bức xạ lớn nên cũng gây tổn thương đáng kể đến da.
Vậy làm thế nào mới có thể ngăn chặn bức xạ?
Thật ra rất đơn giản, hãy uống một ly nhỏ nước ép mướp đắng hàng ngày, nó có tác dụng rất tốt phòng chống bức xạ. Có thể đem 2 – 3 miếng mướp đắng đã sấy khô thả vào nước sôi để ngâm. Sau đó đậy nắp khoảng 10 phút và có thể uống.
Ngoài ra, nếu bạn cảm thấy vị khá đắng, cũng có thể cho thêm một ít đường vàng hoặc mật ong, thêm lá Stevioside cũng là một cách rất tốt. Hoặc trà xanh cũng được, đều có tác dụng chống bức xạ.
5. Tốt cho gan và lợi tiểu
muop dang tot cho sk
Các nhà khoa học đã phát hiện ra rằng mướp đắng cắt lát ngâm trong nước để uống có hiệu quả bảo vệ gan và lá lách. Đồng thời có hiệu quả trong việc làm giảm chất béo, tăng huyết áp, lượng cholesterol cao và lượng đường trong máu cao, mang lại rất nhiều lợi ích cho cơ thể. Ngoài ra, tác dụng lợi tiểu thận cực tốt.
6. Thanh mát, giải độc
Mướp đắng rất giàu vitamin C, vì vậy sau khi vào cơ thể giúp loại trừ mệt mỏi, giải độc. Qua đó giúp tinh thần phấn chấn vui vẻ.
Theo Secretchina–My My biên dịch
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 75

Bóng hồng nước Nga nổi bật tại lễ khai mạc World Cup 2018

Vietbf.com – Những bóng hồng nước Nga làm cầu trường như bùng nổ với nhan sắc nổi bật và giọng hát thiên thần trong buổi lễ khai mạc World Cup 2018 trên sân Luhzniki, bóng hồng này là người mẫu, diễn viên, MC,… vừa có niềm đam mê với trái bóng tròn.


Victoria Lopyreva được chọn làm đại sứ của World Cup tại Nga năm nay. Cô sinh ngày 26/7/1983 tại Rostov, từng đăng quang Hoa hậu Nga năm 2003. Bóng hồng nước Nga không còn xa lạ gì với những tạp chí sắc đẹp như Gala, L’Officiel, Cosmopolitan,… 


Lopyreva là một trong những cái tên nổi tiếng nhất tại Nga. Cô vừa là người mẫu, diễn viên, MC,… vừa có niềm đam mê với trái bóng tròn. Đại sứ World Cup 2018 từng dự khán nhiều “trận cầu đinh” và chụp ảnh cùng những HLV, cầu thủ nổi tiếng.


Không chỉ vậy, Lopyreva còn là cựu WAGs khi kết hôn với tiền đạo Fyodor Smolov của CLB Krasnodar. Tuy nhiên 2 người đã ly dị sau 2 năm chung sống. Trong hơn 1 năm trở lại đây, người đẹp 34 tuổi rất tích cực tham gia những sự kiện thể thao do FIFA tổ chức.


Nhan sắc của vị đại sứ cùng những bóng hồng xuất hiện tại World Cup năm nay là gia vị không thể thiếu để ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh thêm phần nóng bỏng.


Natalia Vodianova được vinh dự thực hiện sứ mệnh mang cúp vàng ra bên ngoài sân vận động Luzhniki. Cô sinh ngày 28/2/1982 tại Nga, hiện vừa là người mẫu, doanh nhân, vừa sắm vai diễn giả và thường xuyên làm từ thiện.


Dù đã bước sang tuổi 36, cô vẫn là một trong những siêu mẫu hàng đầu xứ sở bạch dương. Những thương hiệu thời trang nổi tiếng như Louis Vuitton, L’Oreal, Calvin Klein,… thường xuyên mời Vodianova làm gương mặt đại diện.


Người mẫu sinh năm 1982 còn có biệt danh là “Supernova”. Trong lễ khai mạc World Cup, Vodianova sánh bước cùng Casillas “trình làng” chiếc cúp vàng trong sự hân hoan của hàng vạn khán giả trên sân.


Tại lễ khai mạc World Cup 2018, ca sỹ Aida Garifullina kết hợp nhuần nhuyễn cùng ngôi sao nhạc pop người Anh Robbie Williams trình diễn bài hát “Angels”.


Aida Garifullina sinh ngày 30/9/1987 tại Kazan, Nga. Cô là nghệ sĩ Opera hát giọng soprano từng giành chiến thắng tại Operalia, cuộc thi Opera quốc tế vào năm 2013 cùng nhiều giải thưởng âm nhạc trên khắp thế giới.


Garifullina (trái) từng có thời gian hẹn hò với tay vợt số 1 nước Nga Marat Safin. Hiện tại, cô là thành viên của nhà hát Vienna State Opera, Áo.


Một cô gái trẻ vui mừng hòa theo điệu nhạc của bài Angels do 2 ca sĩ lừng danh Robbie Williams và Aida Garifullina trình diễn.


Trên khán đài sân Luzhniki tràn ngập 3 màu trắng – xanh – đỏ theo quốc kỳ của Nga.


Lần đầu tiên nước Nga tổ chức sự kiện lớn World Cup đã mang lại niềm vui lớn cho người dân xứ sở bạch dương. Không khí trên các khán đài sân Luzhniki khá sôi động trong suốt buổi khai mạc và trận đấu giữa chủ nhà Nga với Saudi Arabia.

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 17

Đừng đợi đến lúc bạn già rồi, mới biết được điều gì là hạnh phúc

Hạnh phúc là gì? Đến nơi đâu mới tìm được hạnh phúc? Con người vẫn luôn mong muốn tìm đến được bến bờ hạnh phúc, nhưng lại không hiểu một điều quan trọng…

otkc81-20161012-dung-doi-den-luc-ban-gia-roi-moi-biet-duoc-dieu-gi-la-hanh-phucHạnh phúc là gì? Đến nơi đâu mới tìm được hạnh phúc. (Ảnh: Internet)

Bạn nghèo khó, nhưng có người nguyện đi cùng bạn chính là hạnh phúc.

Bạn đau ốm, có người tận tình chăm sóc cho bạn chính là hạnh phúc.

Khi bạn lạnh, có người ôm bạn chính là hạnh phúc.

Khi bạn khóc, có người an ủi bạn, là hạnh phúc.

Khi bạn già, có người bầu bạn cùng, cũng là hạnh phúc.

Bạn sai, có người bao dung, tha thứ cho bạn, cái này là hạnh phúc.

Bạn vất vả, có người thương xót, đây cũng chính là hạnh phúc.

tìm kiếm, hạnh phúc, bao dung, Bài chọn lọc,

Hạnh phúc không phải là quanh bạn có bao nhiêu người, mà là có bao nhiêu người bên cạnh bạn. (Ảnh: Internet)

Hạnh phúc không phải là quanh bạn có bao nhiêu người, mà là có bao nhiêu người bên cạnh bạn.

Hạnh phúc không phải là bạn lái những chiếc xe sang trọng, mà là bạn lái xe về đến nhà bình an.

Hạnh phúc không phải là bạn tích trữ được bao nhiêu tiền, mà là mỗi ngày thể xác và tâm hồn được tự do, được làm những việc mình yêu thích.

tìm kiếm, hạnh phúc, bao dung, Bài chọn lọc,

Khi bạn già, có người bầu bạn cùng, cũng là hạnh phúc. (Ảnh: Internet)

Hạnh phúc không phải là vợ của bạn xinh đẹp ra sao, mà là vợ của bạn luôn có thể nở nụ cười rạng rỡ.

Hạnh phúc không phải được ăn ngon mặc đẹp, mà là không có bệnh, không có tai ương.

Hạnh phúc không phải lúc bạn thành công được tung hô nhiệt liệt, mà là lúc bạn sa cơ vẫn có người nói: “Bạn tôi à! Cố lên!”

Hạnh phúc không phải là bạn nghe qua bao nhiêu lời ngon ngọt, mà là khi bạn bi thương rơi lệ, vẫn có người nói với bạn: “Không sao đâu mà, có tôi ở đây…”

Tuệ Tâm

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 57

Chiếc khăn mu-soa


“…Huê nói: “Khăn này cô thêu tặng cho ba của con, nhưng không có duyên nên khăn lại trở về. Bây giờ, cô tặng cho con để kỷ niệm ngày cô cháu mình gặp nhau.” …

chiec-khan-tay

Hôm đó, tôi nhận được một CD gởi từ Bruxelles, nước Bỉ, trên CD thấy đề: “À Monsieur Tiêu Tu ». Chữ viết bằng bút feutre rõ nét, nói lên người viết có trình độ. Tuy viết “Tiểu Tử » không có dấu, người gởi viết tên của mình lại có dấu đầy đủ: “Exp: Nguyễn Thị Sương”!

Vừa ngạc nhiên vừa thích thú, tôi vội vã đặt dĩa vào máy, nghe. Đó là giọng một người con gái miền Nam, trong trẻo, phát âm rõ ràng. Những gì cô ta nói đã làm tôi xúc động, có lúc tôi ứa nước mắt! Tôi đã nghe nhiều lần và cố gắng ghi chép lại đây. Dĩ nhiên là tôi đã viết để đọc cho suông sẻ chớ cô gái nói còn nhiều chỗ nghe sượng hay dùng chữ chưa chính xác…:

…Thưa ông,  Con tên Nguyễn Thị Sương, con của Nguyễn  Văn Cương, một trong những nhân vật trong truyện ngắn “Con Rạch Nhỏ Quê Mình » của ông.
Thưa ông. Con sanh ra và lớn lên ở Pháp, biết nói tiếng Việt nhưng đọc và viết tiếng Việt còn  rất yếu. Vì vậy, con phải dùng cách này để liên lạc với ông. Xin ông thông  cảm!

Hôm chúa nhựt rồi, chị Loan bà con bạn dì của con ghé nhà nói: “Sương ơi! Người ta nói về ba của Sương ở trong truyện ngắn đăng trên internet cả tuần nay nè! Chị in ra đem qua đây đọc cho em nghe.” Rồi chỉ đọc. Đó là truyện “Con Rạch Nhỏ Quê Mình”.

Thưa ông. Con chưa biết Việt Nam, nhưng những gì ông tả trong truyện làm như con đã thấy qua rồi! Bởi vì hồi con mới lớn ba con thường hay kể chuyện về cái làng Nhơn Hòa và con rạch Cồn Cỏ của ba con, về những người bạn của ba con hồi thời tuổi nhỏ, kể  tỉ mỉ đến nỗi con có cảm tưởng như ba con đang cầm tay con dẫn đi coi chỗ này  chỗ nọ (nói đến đây, giọng cô gái như  nghẹn lại vì xúc động. Ngừng mấy giây rồi mới nói tiếp… ) Mà ba cứ kể đi kể lại hoài làm như là những hình ảnh đó nó ám ảnh ba dữ lắm. Sau này thì con mới hiểu khi ba con nói: “Hồi đó, ba đi Pháp quá sớm, ở cái tuổi chưa biết gì nhiều.

Rồi qua đây, chóa mắt ngất ngây với những văn minh tiến bộ của xứ người làm ba quên đi cái làng nhà quê của ba. Điều ân hận lớn nhứt của ba là đã không viết  gởi về một chữ để hỏi thăm bạn bè hồi đó. Ba phải về thăm lại Nhơn Hòa Cồn Cỏ, con à!” Nói đến đó, ba ứa nước mắt nắm bàn tay con dặc dặc: “Mà con cũng phải về với ba nữa! Về để cho ba lên tinh thần! Về để thấy ba biết xin lỗi mọi người! Về để thấy ba biết nhìn lại cái quê hương của ba cho dầu nó có quê mùa xấu xí bao nhiêu đi nữa! Về để thấy ba chưa đến nỗi là thằng mất gốc!” (đến đây, không còn nghe gì nữa!) Xin lỗi ông! Con đã ngừng thâu để con khóc (rồi giọng cô lạc đi) Con thương ba con! (ngừng một lúc)

Thưa ông. Ba má con đều là giáo sư toán, dạy ở lycée. Má con mất hồi con mười tuổi. Bây giờ con làm chủ một tiệm sách ở Bruxelles, ba con dạy ở cách nhà không xa lắm.

Một hôm, ba nói: “Ba được một  thằng bạn học hồi ở đại học, người Phi Châu, mời qua xứ nó giúp tổ chức lại hệ  trung học. Ba đã OK”. Rồi ba đưa cho con một phong bì loại A4, nói: “Con rán  tìm cách về Nhơn Hòa Cồn Cỏ, trao cái này cho cô Hai Huê nói ba không quên ai hết! “Con nhìn thấy trên phong bì ba viết: “Mến trả lại Huê, kỷ vật của thời tuổi nhỏ. Cương.” Vậy rồi ba qua Phi Châu làm việc rồi mất ở bển trong mấy trận nội chiến (chắc ngừng thâu ở đây nên không nghe gì nữa).

Thưa ông. Nhờ nghe đọc “Con Rạch Nhỏ Quê Mình” mà con biết được mối  tình một chiều của cô Hai Huê, biết được cái khăn mu-soa mà cô Hai đã thêu tặng ba con thuở thiếu thời. Cái khăn đó, bây giờ thì con biết nó đang nằm trong phong bì A4 mà con đang giữ để trả lại cô Hai.

Và bây giờ thì con thấy thương cô Hai vô cùng và cũng thấy tội nghiệp ba con vô cùng (chỗ này giọng cô gái lệch đi, ngừng một  chút mới nói tiếp). Con nhờ ông giới thiệu con cho bác Sáu Lân, người đã kể chuyện để ông viết về Nhơn Hòa Cồn Cỏ. Con sẽ xin bác Sáu đưa con về đó để con làm theo lời dặn của ba con…

Địa chỉ và số phôn của con như sau:
Melle Nguyên
…… ……………………
Con cám ơn ông.
Con: Sương

*****
Nhớ lại, cách đây khá lâu, một thằng bạn ở Marseille, miền Nam nước Pháp, gọi điện thoại lên Paris cho tôi, nói: “Dưới này trời tốt, mầy xuống chơi,  đi câu với tao. Sẵn dịp, tao giới thiệu mầy cho một ông bạn mới từ Việt Nam qua  định cư ở đây. Tao có khoe với ổng là mầy viết lách khá lắm. Ổng nói ổng muốn  nhờ mầy viết một chuyện nhỏ ở dưới quê của ổng để ổng tìm một người bạn. Tao thấy coi bộ ngộ à! Xuống, đi!” Vậy rồi tôi đi Marseille. Sau đó, tôi viết “Con rạch nhỏ quê mình” với câu gởi gắm của ổng: “Tôi nhờ ông viết lại giùm. Biết đâu chừng thằng Cương sẽ đọc. Để nhắc nó đừng quên con rạch Cồn Cỏ, đừng quên thằng Đực Nhỏ, thằng Lân, con Huê…”

Sau khi nghe CD và ghi chép lại, tôi gọi điện thoại xuống Marseille thì thằng bạn tôi cho hay là ông Lân đã dọn về ở ngoại ô Paris, cách đây mấy  năm. Nó cho tôi địa chỉ và số điện thoại của ổng. Vậy rồi ổng và tôi gặp nhau. Tôi kể sơ câu chuyện và đưa cho ổng mượn cái CD. Tôi thấy ổng rơm rớm nước mắt  khi nghe tôi nói làm tôi cũng xúc động: người đàn ông hiên ngang, xông xáo trong  trận mạc, gan lỳ đến nỗi mang hỗn danh “thằng Lân ăn pháo”… vậy mà bây giờ cũng  biết ứa nước mắt khi nhận được tin thằng bạn không bao giờ gặp lại!
Khi chia tay, ổng nói: “Cám ơn ông! Nhờ có bài viết của ông mà hôm  nay tôi mới có tin của thằng Cương! Tôi sẽ thay nó, đưa con gái nó về thăm Cồn  Cỏ! Và thắp cho nó ba cây nhang ở đầu vàm để vong hồn nó nương theo đó mà tìm  lại con đường về…”
*****
Hơn một tháng sau, ông Lân gọi điện thoại cho tôi nói ổng vừa ở Việt  Nam về, muốn gặp tôi để trả cái CD và để ổng kể chuyến đi này của ổng. Vậy là chúng tôi đã gặp nhau và tôi đã ghi những lời ổng kể…
 … Nhờ cái CD ông cho tôi mượn mà tôi liên lạc được con Sương.
Tội  nghiệp! Biết được là tôi gọi, nó khóc ồ ồ ở đầu dây bên kia! Sau đó, nó kêu tôi  bằng “Bác Sáu “, ngọt như tôi là bác ruột của nó vậy! Thấy thương quá!
Vậy rồi hai bác cháu tôi bay về Việt Nam. Ở Sài Gòn chúng tôi mướn một chiếc xe hơi có tài xế để về Nhơn Hòa Cồn Cỏ. Trên xe, tôi nói với con  Sương: “Ở Cồn Cỏ, ba của con không còn bà con gì hết, họ đã dọn lên tỉnh ở mấy  chục năm nay. Bây giờ, ba con chỉ còn có một người bạn thân…” Con nhỏ nói: “Cô  Hai Huê!” Tôi gật đầu ờ. Nó nói tiếp: “Cô Hai là người ba nhắc thường nhứt và ba hay thở dài nói ba có lỗi với cô Hai nhiều lắm! Thấy ba con như vậy, con cũng  nghe đau lòng, bác Sáu à!”. Thấy thương quá, tôi cầm bàn tay nó bóp nhẹ. Con  Sương nhìn cảnh vật bên ngoài nhưng vẫn để bàn tay nó trong lòng bàn tay tôi.
Ông biết không? Tôi không có con, bây giờ, trong cái cầm tay này, tôi bỗng cảm  thấy như thằng Cương vừa đặt vào tay tôi một đứa con. Trời Đất! Sao tôi muốn nói: “Sương ơi! Từ nay, bác Sáu sẽ thay ba con mà lo lắng bảo vệ con như con là con của bác vậy!” Nhưng thấy có vẻ cải lương quá nên tôi làm thinh!
Xe ngừng ở chợ Cồn Cỏ. Bác cháu tôi vô chợ nhà lồng đến sạp vải của  con Huê thì thấy một cô gái lạ. Cổ nói cổ là cháu kêu con Huê bằng dì và đến đây phụ bán vải từ mấy năm nay. Cổ nói: “Dì Huê có ở nhà, ông bà vô chơi! “
Chúng tôi đi lần theo con đường nằm dọc bờ rạch. Đường này bây giờ  được tráng xi-măng sạch sẽ. Tôi nói: “Nhà cô Hai có cây mù u nằm trước nhà cạnh bờ rạch, dễ nhận ra lắm!” Đến nơi, thấy còn nguyên như cách đây mấy chục năm:  cũng hàng rào bông bụp thấp thấp, qua một cái sân nhỏ là ngôi nhà xưa ngói âm  dương, kèo cột gỗ, ba gian hai chái với hàng ba rộng, một bên hàng ba có một bộ  ván nhỏ… Tôi hơi xúc động vì bắt gặp lại những gì của thời cũ. Chỉ có bao nhiêu đó thôi – nhỏ xíu – vậy mà sao gợi lại được vô vàn kỷ niệm! Tôi gọi lớn: “Huê ơi  Huê! “. Trong nhà chạy ra một người đàn bà tóc bạc nhìn tôi rồi la lên: “Trời  Đất! Anh Lân!” Tuy cô ta đang nhăn mặt vì xúc động, tôi vẫn nhận ra là Huê! Không kềm được nữa, Huê và tôi cùng bước tới nắm tay nhau vừa dặc dặc vừa nói “Trời Đất! Trời Đất!” mà không cầm được nước mắt! Một phút sau, Huê buông tay tôi ra quay sang con Sương, hỏi: “Còn ai đây?” Tôi nói: “Con Sương! Con thằng Cương!” Nó hỏi: “Còn anh Cương đâu?”. Con Sương thả rơi ba-lô xuống đất, bước lại phía con Huê, nói: “Ba con chết rồi, cô Hai ơi!”. Con Huê chỉ nói được có một tiếng “Chết” rồi xiêu xiêu muốn quị xuống. 

Con Sương phóng tới đỡ con Huê, nói: “Cô Hai ơi!” Rồi hai cô cháu ôm nhau khóc nức nở. Tôi đứng tần ngần một lúc mới bước lại đặt tay lên vai Huê bóp nhẹ: “Tại cái số hết, Huê à! Thằng Cương đang dạy ở bên Bỉ, mắc gì mà qua Phi Châu làm việc để rồi chết mất xác trong chiến tranh ở bên đó. Tại cái số hết! Phải chịu vậy thôi!” Con Sương dìu Huê lại ngồi ở bực thềm, vói tay mở ba-lô lấy phong bì  A4, nói: “Ba con gởi cái này cho cô.” Huê cầm phong bì, nheo mắt đọc rồi lắc đầu  nhè nhẹ: “Chắc là cái khăn mu-soa!” Huê xé phong bì lấy khăn ra cầm hai góc khăn  đưa lên nhìn: khăn còn thẳng nếp, chưa có dấu hiệu sử dụng! Huê nhăn mặt, đưa khăn lau nước mắt của mình rồi sang qua lau nước mắt của con Sương làm nó cảm  động nấc lên khóc. Huê nói: “Khăn này cô thêu tặng cho ba của con, nhưng không có duyên nên khăn lại trở về. Bây giờ, cô tặng cho con để kỷ niệm ngày cô cháu mình gặp nhau.” Con Sương cầm lấy khăn rồi ngả đầu vào vai Huê, nói: “Con cám ơn  cô Hai.” Huê vừa gật đầu vừa choàng tay ôm con Sương lắc nhè nhẹ như vỗ về đứa con!
Tôi bước ra bờ rạch ngồi cạnh gốc cây mù u đốt thuốc hút. Tôi thấy trên thân cây có đóng một cây đinh dài đã rỉ sét đen thui, vắt lên cây đinh là một cuộn dây dừa cũ mèm như muốn mục. Tôi nghĩ chắc con Huê nó làm như vậy, nó vốn nhiều tình cảm và giàu tưởng tượng. Nó có ý nói con thuyền ngày xưa đã bỏ bờ đi mất, nếu một mai có trôi về được thì cũng có sẵn dây để cột con thuyền vào gốc cây mù u…
Tôi đốt thêm một điếu thuốc rồi đặt lên cuộn dây dừa, vái lâm râm: “Cương ơi! Mầy có linh thiêng thì về đây hút với tao một điếu thuốc!” Tự nhiên,  tôi ứa nước mắt! Khi tôi trở vô nhà thì cô cháu tụi nó ngồi cạnh nhau trên bộ ván, nói  chuyện coi bộ tương đắc! Thấy tôi, Huê nói để vô làm cơm cùng ăn. Tôi từ chối vì phải về trả xe. Huê xin cho con Sương ở lại chơi với nó mươi hôm, còn con Sương thì hớn hở: “Bác Sáu đừng lo! Con về một mình được!” Tôi bằng lòng nhưng  đề nghị cùng ra đầu vàm thắp ba cây nhang cho thằng Cương. Con Huê vô nhà lấy nhang và một tấm ni-lông để ra đó trải cho ba người ngồi. Khi đi ngang cây mù u, con Huê bước lại gốc cây lấy cuộn dây dừa liệng xuống rạch, rồi phủi tay, đi!

Sau khi cúng vái ở đầu vàm, cô cháu nó đưa tôi ra xe. Nhìn tụi nó cặp tay nhau mà thấy thương quá, ông ơi!

*****
… Bây giờ thì cô Sương đã đem cô Huê qua Bỉ ở với cổ. Nghe ông Lân  nói hai cô cháu rất “tâm đồng ý hợp.”
Còn chiếc khăn mu-soa thêu thì ông Lân nói cô Sương đã cho lộng vào một khuôn kiếng rất đẹp treo ở phòng khách, ở một vị trí mà ai bước vào cũng phải thấy!
 
Tiểu Tử
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 66