All posts by KhueVy Hoang

Bí quyết sống hạnh phúc vui vẻ là gì?

Người có trí tuệ xưa nay thường không sống “trong miệng” của người khác, cũng không sống “trong mắt” 
của người khác. Gặp nhau là duyên mà không gặp cũng là duyên, gặp lại là duyên mà biệt ly cũng là duyên. 
Trần thế mênh mông giữa đến và đi cho nên gặp hay không gặp cần gì phải đau khổ luyến lưu? 

Vậy bí quyết sống hạnh phúc vui vẻ là gì?

Bất luận bạn làm tổn thương ai thì xét về lâu về dài, đó đều là sẽ tự làm tổn thương đến mình.. Có thể hiện giờ bạn sẽ không cảm nhận thấy được nhưng nó nhất định sẽ chuyển động ngược trở lại và quẩn quanh bên bạn. Phàm là bạn làm việc gì đối với người khác thì cũng là đối với mình, bạn khiến người khác trải qua điều gì thì sau này bạn nhất định sẽ trải qua điều đó.. Phật giáo truyền giảng về nhân quả không phải để hù dọa con người mà chính là có ý muốn nhắc nhở, bảo ban con người.
Đây là chân lý, cho dù bạn có tin hay không thì nó vẫn cứ tồn tại không cách nào bị mất đi.

 
Đến với giáo lý nhà Phật không phải là để ký thác khi mất đi mà là để đối đãi đúng đắn với cuộc đời. Nhìn thấu sự “vô thường” của nhà Phật chúng ta sẽ nhận thấy rất nhiều điều mặc dù là tốt đẹp nhưng sẽ không bền vững lâu dài. Hay rất nhiều khi chúng ta rơi vào thống khổ tưởng như không thể chịu đựng được nữa nhưng rồi chúng lại qua đi nhanh chóng. Cho nên,”vô thường” là gợi ý tốt nhất cho cuộc đời. Nó khiến cho chúng ta ở trong hoàn cảnh biến đổi thất thường của cuộc đời mà có thể thăng hoa trí tuệ.
 
Học giáo lý nhà Phật để làm gì? Chính là để điều phục tự tâm (tạm hiểu: điều hòa, thu phục tâm). 
Rất nhiều người chỉ vì một lòng muốn cầu sống lâu, cầu không bệnh tật, cầu tiền tài, cầu sinh con trai mà đến tu trì.. 
Kỳ thật, đây đều là đã đi ngược lại với Phật Pháp.
 
Bái lạy 
không phải chỉ là khom lưng cúi người xuống mà là buông bỏ ngạo mạn. 
 
Niệm Phật 
không phải là thể hiện ở số lượng thanh âm mà là thể hiện ở sự thanh tịnh của tâm địa
 
Chắp tay 
không phải chỉ là khép hai tay lại mà còn thể hiện sự cung kính. 
 
Thiền định 
không phải là ngồi lâu đến mức không dậy nổi mà là trong tâm không bị dao động bởi bên ngoài. 

Vui mừng
 
không phải là ở khuôn mặt rạng rỡ mà là ở sự khoan khoái, dễ chịu trong lòng.
 
Thanh tịnh 
không phải là ở sự vứt bỏ dục vọng mà là thể hiện ở tâm địa không mưu cầu cái lợi. 
 
Bố thí 
quyên tặng không phải chỉ là cho đi hết vật chất mà là chia sẻ tấm lòng yêu thương. 
 
Tín Phật
không phải là học tập tri thức mà là thực hiện vô ngã.
 
Có những người khi ăn chỉ chuyên chọn những thứ mình yêu thích, ở cũng chọn chỗ mình yêu thích, kết giao bạn bè cũng chỉ chấp nhận người mình ưa thích… 
Vậy một khi gặp được điều mình không ưa thích sẽ không có cách nào tiếp nhận. Kỳ thực, ngoại cảnh không thể vĩnh viễn cho bạn sự sung sướng, hạnh phúc. 
Chỉ có học được cách thích ứng được với cả điều mình không yêu thích thì mới vĩnh viễn 
có được niềm hạnh phúc!
 
Sống trên đời, 
không tranh giành chính là từ bi
không tranh cãi chính là trí tuệ, 
không nghe thấy chính là thanh tịnh
không nhìn chính là tự tại, 
không tham lam chính là bố thí, 
đoạn tuyệt cái ác chính là làm việc thiện, 
sửa đổi chính là sám hối, 
khiêm tốn chính là lễ Phật, 
tha thứ chính là giải thoát
thấy đủ chính là buông bỏ
lợi người chính là lợi mình.
 
Rất nhiều khi chúng ta nhìn thấy sự hào nhoáng, phù hoa mà lại không nhìn thấy một “mạch nước ngầm” đang khởi động: Có một ít người biểu hiện bề ngoài hạnh phúc là bởi vì họ đang che dấu nỗi khổ khó tả. 
Có một ít người bên ngoài nở nụ cười nhưng trong lòng lại đang có âm thanh của nước mắt. 
Có một ít người thường hay khoa trương nhưng kỳ thực trong tâm linh lại có nhiều hư không…
 
Bình luận của người khác thực sự không quá trọng yếu như vậy, 
Hạnh phúc và vui vẻ của bản thân là 
không phải ở trong con mắt của người khác 
mà là ở chính trong tâm mình!
ST  ONLINE
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Sông Thu

Một chiều lang thang bên dòng sông Thu, đẹp nhưng sao buồn quá, lá rụng tơi bời tan tác bên sông, cảm cảnh, vẽ cho mình một : Dòng Sông Thu
Dòng sông mùa Thu
Rồi sẽ về đâu…
Khi Tuổi thơ tôi
Như nước trôi qua
Nhìn lại mình ta
Dáng đã hao gầy
Xuân Hạ Thu Đông
Giờ như chiều Thu
Lá rụng tiêu điều…

Không phải thơ mà là bão của Tâm. CD

 
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Ghé Về Phố Cũ

Ta ghé ngang một chiều phố cũ
Hoàng hôn buồn vàng võ chân rêu
Tiếng gió gọi mơ hồ xào xạc
Dư hương xưa chợt vướng ngang chiều

Phố thân quen bây chừ xa lạ
Ta loay hoay đợi phố lên đèn
Rằng hôm nay mưa không tầm tã
Hay bên đời thiếu dấu chân quen?

Này yêu dấu buổi đầu tím nhớ
Thành phố sầu lạc lõng sương thu
Và tâm hồn ướt mềm sỏi đá
Đã tan tành khúc nhạc tình ru

Phố buồn lắm buồn không kể xiết
Bóng dòng người giết bóng đời ta
Ta thương nhớ ai về ai biết
Phố ồn ào cùng gió phôi pha

Tìm đâu đây một thời yêu dấu
Trót chia lìa tan cõi hư không
Tìm đâu đây một thời để nhớ
Đã bao ngày mỏi mắt chờ trông

Mỗi lần về ghé ngang phố cũ
Lối em về phong kín mưa giăng?
Hay cuối đường có ai đứng đợi
Em đi về quên một mùa trăng!

HMN

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Cuối Thu

Đêm nay hồn lặng làm sao
Cảnh thu ôm cả chiêm bao vào lòng
Sao xanh lợt tím tơ đồng
Gió ơi là gió, buồn đông thổi về
Không gian mưa lệ đầm đìa
Đầy sân trắng toát hoa lê đầu mùa
Trời lam ứ đặc tình thu
Ô kìa mây bạc nặng lùa về tây!
Hồn sao không động mà say!
Chà đôi chim khướu nó bay tung trời …
Nhạc đâu bỗng vót từng khơi
Hồn theo với nhạc, hồn ơi là hồn
Buồn thôi như rượu thấm dồn
Lên men nồng khướt, xoay tròn trên không

Bích Khê

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Thần đồng Nga tự nhận là người sao Hỏa tái

Boriska thể hiện vốn hiểu biết phi thường về vũ trụ từ khi còn nhỏ,

tự nhận từng là người sao Hỏa trước khi tới Trái Đất.

 

                                    Inline image
                                             Boriska trong phim tài liệu Camelot năm 2007. Ảnh: Sun.
 
Boriska Kipriyanovich sinh năm 1996 tại thành phố Volgograd, tây nam nước Nga. Cậu biết nói khi mới 4 tháng tuổi và thường thảo luận với bố mẹ về các chủ đề họ chưa từng dạy cậu, như các nền văn minh ngoài hành tinh, theo Sun.
 
Mẹ của Boriska là bác sĩ, cho biết dấu hiệu cho thấy con trai là người đặc biệt xuất hiện 15 ngày sau sinh, khi cậu bé biết giữ thẳng đầu mà không cần hỗ trợ.
 
Năm một tuổi, cậu bé đã biết đọc tiêu đề báo và lên hai tuổi, em bắt đầu học vẽ. 6 tháng sau, Boriska đã vẽ thành thạo. Trí nhớ phi thường, kỹ năng ngôn ngữ và trí thông minh của cậu bé khiến các thầy cô ở trường mẫu giáo lập tức chú ý, khi Boriska đi nhà trẻ năm hai tuổi.
 
Boriska lấy tri thức từ những nguồn vô hình khác, khiến bố mẹ ngạc nhiên. Họ thường thấy cậu ngồi thiền định, sau đó kể cho bố mẹ nghe những điều họ không hiểu.
 
“Không ai dạy cháu cả”, mẹ của Boriska nói. “Thỉnh thoảng, cháu ngồi thiền tư thế hoa sen, và bắt đầu kể cho chúng tôi nghe chi tiết về sao Hỏa, các hệ thống hành tinh và những nền văn minh khác, khiến chúng tôi hết sức bối rối”.
 
Cậu kể nhiều về không gian, cách lái tàu vũ trụ, sao Hỏa mất khí quyển thế nào và về những thành phố ngầm dưới lòng đất vẫn tồn tại tới nay. Cậu cho biết từng sống ở sao Hỏa, nơi nhiều cuộc chiến đẫm máu xảy ra đã tàn phá hành tinh, phá hủy bầu khí quyển và thay đổi con người.
 
Họ từng phát triển công nghệ đóng gói năng lượng, được thiết kế để gây ra các vụ nổ lớn trên Sao Mộc nhằm biến nó thành Mặt Trời thứ hai. Tuy nhiên, trước khi thành công, chiến tranh nổ ra đã thay đổi mọi thứ, biến sao Hỏa thành nơi hoang tàn do thảm họa hạt nhân. Một số người sống sót ẩn náu dưới lòng đất trên hành tinh Đỏ, hít thở khí CO2 và cao tới hai mét.
 
Họ bất tử, ngừng lão hóa từ 35 tuổi. Họ sở hữu nhiều công nghệ tiên tiến và đủ năng lực du hành liên sao. Boriska giải thích trong quá khứ, người sao Hỏa từng liên lạc mật thiết với người Ai Cập cổ đại trên Trái Đất. Cậu nói rằng mình từng làm phi công và bay tới địa cầu một lần.
 
Những tri thức về không gian và sao Hỏa kỳ lạ của Boriska khiến các nhà làm phim thuộc Dự án Camelot quyết định làm một bộ phim tài liệu ngắn về cậu năm 2007.
 
“Ngày 8/10, chúng tôi phỏng vấn Boriska và mẹ cậu bé, bà Nadya, tại một địa điểm gần Moscow, nơi bà Nadya đưa con trai tới học trường dành cho thần đồng. Họ sống trong một căn hộ một phòng. Bố cậu bé không có mặt”, Bill Ryan, người làm phim tài liệu, cho biết.
 
Boriska kể về tàu vũ trụ của người sao Hỏa, về những nhóm người ngoài hành tinh khác, về công nghệ, về cuộc chiến họ từng trải qua. Họ không sử dụng dầu hoặc khí đốt vì động cơ công suất lớn đòi hỏi nhiều năng lượng, nếu sử dụng những nguồn năng lượng này, nguồn tài nguyên sẽ nhanh chóng cạn kiệt.
 
Một số chuyên gia hỏi Boriska tại sao tàu vũ trụ do người Trái Đất chế tạo thường bị hỏng khi tiếp cận sao Hỏa.
 
“Người sao Hỏa phát đi các tín hiệu đặc biệt phá hủy tàu chứa bức xạ có hại”, cậu giải thích.
 
Boriska nói thêm cuộc sống ở Trái Đất sẽ thay đổi đáng kể khi tượng Nhân sư ở kim tự tháp Giza tại Ai Cập được “mở khóa”. “Cơ chế mở khóa ẩn sau tai Nhân sư, nhưng cụ thể thì tôi không nhớ chính xác”.
 
Tuy nhiên, ngoài bộ phim tư liệu của Dự án Camelot, cho tới nay vẫn chưa có bất cứ công trình nghiên cứu khoa học nào xác nhận những thông tin mà Boriska đưa ra. Truyền thông Nga cũng không nhắc tới tên của thần đồng này từ đó đến nay.
 
Hồng Hạnh
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Viết Cho Người Tình Xa

Yêu xa xôi nhớ nhung là vậy
Chẳng được gần mong hãy hiểu nhau
Đừng hờn ghen để nước mắt trào
Không bên cạnh thõa bao nhung nhớ

Người thương ơi nhiều đêm trăn trở
Mơ vòng tay ấm áp vỗ về
Nụ hôn nồng khao khát đam mê
Đêm cháy bỏng cận kề môi mắt

Biết yêu xa nhớ nhung quay quắt
Nhưng cũng đành nén chặt nhớ thương
Giữ trong lòng hình bóng vấn vương
Đêm mộng mị canh trường thao thức

Muốn gần bên trao người hạnh phúc
Nhưng địa hình ngăn cách xa xôi
Đành nhủ lòng chờ đợi mà thôi
Yêu xa cách cả trời mong nhớ.

H.A.H (Tổng hợp)

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Và Em Là Thu

Em là thu đó, em biết chăng?
Hoàng hôn nắng đổ bóng chiều giăng
Thu chết ngả nghiêng trên làn tóc
Em đứng trông theo lá úa vàng

Em là thu đó, em biết không?
Là nỗi tình thu của nhớ mong
Đứng lên em hỡi gom thu lại
Đừng để mùa đông nhỏ lệ hồng

Tôi thấy gió sầu của chia ly
Em có đưa tay cố ôm ghì ?
Gió đông đến rồi! Đừng bỡ ngỡ
Xin giữ trong lòng trái tim si

Em là mùa thu, em là thu
Em là mong nhớ của tình ai
Đừng sang đông nhé! Em – thu hỡi!
Để vương chút nắng ngõ hồn dài..

Và em là thu, em là thu!

ST Online

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Tình Ảo

Thôi anh nhé vẫy chào lần cuối
Để từ đây tiếc nuối giấc mơ
Hè qua Thu đến hững hờ
Buồn trong nỗi nhớ ngẩn ngơ cõi lòng !
Thương với nhớ còn mong chi nưã_
Chờ với trông lần nữa… ra đi
Ngậm ngùi hai chữ biệt ly…
Nén lòng khép vội bờ mi tủi sầu …!
Nỗi đau nhức nhối gối đầu …
Đêm thâu lệ ướt nhạt nhòa tình ơi…?
Đắng cay một kiếp …má hồng
Từng đêm ôm mộng ảo chi…cho bẽ bàng…!
Còn đâu nữa… tình đầy gian dối…????
Người yêu người cho chăn chở đêm thâu…
Dư âm tiếng nói đầu môi…!
Chỉ là giọt đắng khơi lòng nỗi đau …!

ST

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

CHUYỆN TÌNH TTKH – HAI SẮC HOA TI-GÔN

Trong những bài thơ tác giả ẩn danh hoặc ký tên nhưng không biết rõ người ấy là ai, Hai sắc hoa ty gôn và TTKh là một huyền thoại lãng mạn đã gây mối trắc ẩn cho nhiều thế hệ yêu thơ.
Câu chuyện bắt đầu cách đây gần 80 năm, ngày 27/9/1937 trên tuần báo Tiểu Thuyết Thứ Bẩy, số 174 xuất bản tại Hà Nội, có đăng truyện ngắn Hoa ty-gôn của Thanh Châu, nội dung kể lại mối tình tan vỡ của đôi trai gái ngày trước đã hò hẹn dưới giàn hoa ty gôn. Ít lâu sau, có người đàn bà trẻ, dáng dấp bé nhỏ, nét mắt u buồn, mang đến tòa soạn Tiểu Thuyết Thứ Bẩy một phong bì dán kín, gửi cho ông chủ bút, trong có bài thơ Hai sắc hoa ty gôn, ký tên TTKh. Bài thơ Hai sắc hoa ty gôn được đăng trên Tiểu Thuyết Thứ Bẩy số 179, ra ngày 30/10/1937, và sau đó còn ba bài nữa cũng ký tên TTKh được gửi bằng đường bưu điện đến tòa soạn :
– Bài thơ thứ nhất, Tiểu Thuyết Thứ Bẩy số 182 (20/11/1937), 
– Đan áo cho chồng, đăng trên Phụ Nữ Thời Đàm, 
– Bài thơ cuối cùng, Tiểu Thuyết Thứ Bẩy, số 217 (23/7/1938).
Bài thơ thứ nhất xuất hiện sau Hai sắc hoa ty gôn gần một tháng, và Bài thơ cuối cùng đăng tám tháng sau.
Ngay khi Hai sắc hoa ty gôn ra đời, giới văn nghệ sĩ đã xôn xao, thi sĩ J. Leiba, người cùng tâm sự với TTKh và là tác giả hai câu thơ nổi tiếng “Người đẹp vẫn thường hay chết yểu. Thi nhân đầu bạc sớm hơn ai”, chép lại nguyên văn bài Hai sắc hoa ty gôn trên Ngọ Báo với lời mở đầu:
Anh chép bài thơ tự trái tim
Của người thiếu phụ lỡ làng duyên
Lời thơ tuyệt vọng ca đau khổ
Yên ủi anh và để tặng em.
Nguyễn Bính sau khi đọc Bài thơ thứ nhất đã viết bài Dòng dư lệ để tặng TTKh, in lại trong tập Lỡ bước sang ngang và Thâm Tâm có ba bài Màu máu ti gôn, Dang dở và Gửi TTKh, và nhiều thế hệ sau còn có những bài thơ khác sụt sùi thương cảm cho số phận TTKh. Vậy TTKh là ai ?
Giọt lệ tương tư mới
Hai sắc hoa ty gôn mở đường cho một lối lãng mạn khác với lãng mạn Đông Hồ, Tương Phố. Có thể nói Hai sắc hoa ty gôn là giọt lệ tương tư mới, nơi TTKh, không phải là giọt lệ khóc chồng của Tương Phố, khóc vợ của Đông Hồ, mà là giọt lệ khóc cho tình yêu; hơn thế nữa, khóc người tình ngoài hôn nhân, một đối tượng tự do, phóng khoáng, vượt khỏi khuôn khổ lễ giáo thời bấy giờ. Và lần đầu tiên hai chữ người ấy được chính thức đưa vào thi ca, sau này nó sẽ trở thành “cổ điển”, trở thành ngôn ngữ gối đầu giường của giới trẻ trong nhiều thế hệ:
Một mùa thu trước, mỗi hoàng hôn (1)
Nhặt cánh hoa rơi chẳng thấy buồn,
Nhuộm ánh nắng tà qua mái tóc,
Tôi chờ người đến với yêu đương.
Người ấy thường hay ngắm lạnh lùng
Dải đường xa vút bóng chiều phong,
Và phương trời thẳm mờ sương, cát,
Tay vít dây hoa trắng chạnh lòng.
Người ấy thường hay vuốt tóc tôi,
Thở dài trong lúc thấy tôi vui,
Bảo rằng:”Hoa, dáng như tim vỡ,
Anh sợ tình ta cũng vỡ thôi!”
Thuở ấy, nào tôi đã hiểu gì
Cánh hoa tan tác của sinh ly,
Cho nên cười đáp:”Màu hoa trắng
Là chút long trong chẳng biến suy.”
Đâu biết lần đi một lỡ làng,
Dưới trời đau khổ chết yêu đương.
Người xa xăm quá ! – Tôi buồn lắm,
Trong một ngày vui pháo nhuộm đường…
Từ đấy, thu rồi, thu lại thu,
Lòng tôi còn giá đến bao giờ
Chồng tôi vẫn biết tôi thương nhớ…
Người ấy, cho nên vẫn hững hờ.
Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời
Ái ân lạt lẽo của chồng tôi,
Mà từng thu chết, từng thu chết,
Vẫn giấu trong tim bóng “một người”.
Buồn quá! hôm nay xem tiểu thuyết
Thấy ai cũng ví cánh hoa xưa
Nhưng hồng tựa trái tim tan vỡ.
Và đỏ như màu máu thắm pha !
Tôi nhớ lời người đã bảo tôi
Một mùa thu trước rất xa xôi…
Đến nay tôi hiểu thì tôi đã,
Làm lỡ tình duyên cũ mất rồi !
Tôi sợ chiều thu phớt nắng mờ,
Chiều thu, hoa đỏ rụng chiều thu
Gió về lạnh lẽo chân mây vắng,
Người ấy ngang sông đứng ngóng đò.
Nếu biết rằng tôi đã lấy chồng,
Trời ơi! Người ấy có buồn không ?
Có thầm nghĩ tới loài hoa… vỡ
Tựa trái tim phai, tựa máu hồng ?
Bài thơ thứ nhất – TTKh (2)
Thuở trước hồn tôi phơi phới quá 
Lòng thơ nguyên vẹn một làn hương 
Nhưng nhà nghệ sĩ từ đâu lại 
Êm ái trao tôi một vết thương. 
Tai ác ngờ đâu gió lại qua 
Làm kinh giấc mộng những ngày hoa 
Thổi tan tâm điệu du dương trước 
Và tiễn người đi bến cát xa.. 
Ở lại vườn Thanh có một mình 
Tôi yêu gió rụng lúc tàn canh 
Yêu trăng lặng lẽ rơi trên áo 
Yêu bóng chim xa nắng lướt mành. 
Và một ngày kia tôi phải yêu 
Cả chồng tôi nữa lúc đi theo 
Những cô áo đỏ sang nhà khác 
Gió hỡi làm sao lạnh rất nhiều. 
Từ đấy không mong không dám hẹn 
Một lần gặp nữa dưới trăng nghiêm 
Nhưng tôi vẫn chắc nơi trời lạ 
Người ấy ghi lòng vẫn nhớ em. 
Đang lúc lòng tôi muốn tạm yên 
Bỗng ai mang lại cánh hoa tim 
Cho tôi ép nốt dòng dư lệ 
Nhỏ xuống thành thơ khóc chút duyên. 
Đẹp gì một mảnh lòng tan vỡ 
Đã bọc hoa tàn dấu xác xơ 
Tóc úa giết dần đời thiếu phụ 
Thì ai trông ngóng chả nên chờ. 
Viết đoạn thơ đầu lo ngại quá 
Vì tôi còn nhớ hẹn nhau xưa: 
“Cố quên đi nhé câm mà nín 
Đừng thở than bằng những giọng thơ”. 
Tôi run sợ viết lặng im nghe 
Tiếng lá thu khô xiết mặt hè 
Như tiếng chân người len lén đến
Song đời nào dám gặp ai về. 
Tuy thế tôi tin vẫn có người 
Thiết tha theo đuổi nữa than ôi 
Biết đâu tôi một tâm hồn héo 
Bên cạnh chồng nghiêm luống tuổi rồi.
Đan áo cho chồng – TTKh (3)
Chị ơi, nếu chị đã yêu 
Đã từng lỡ hái ít nhiều đau thương 
Đã xa hẳn quãng đời hương 
Đã đem lòng gửi gió sương mịt mùng 
Hay chăng chị mỗi chiều đông 
Đáng thương những kẻ có chồng như em 
Vẫn còn giá lạnh trong tim 
Đan đi đan lại áo len cho chồng 
Con chim ai nhốt trong lồng 
Hạt mưa nó rụng bên sông bơ thờ 
Lưng trời nổi tiếng tiêu sơ 
Hay đâu gió đã sang bờ ly tan 
Tháng ngày miễn cưỡng em đan 
Kéo dài một chiếc áo lam cho chồng 
Như con chim nhốt trong lồng 
Tháng ngày than tiếc ánh hồng nơi nao 
Ngoài trời hoa nắng xôn xao 
Ai đem khóa chết chim vào lồng nghiêm 
Ai đem lễ giáo giam em 
Sống hờ hết kiếp trong duyên trái đời 
Lòng em khổ lắm chị ơi 
Trong bao ngờ vực với lời mỉa mai 
Quang cảnh lạ, tháng năm dài 
Đêm đêm nằm tưởng ngày mai giật mình.
Bài thơ cuối cùng – TTKh (4)
Anh hỡi, tháng ngày xa quá nhỉ ? 
Một mùa thu cũ một lòng đau…
Ba năm ví biết anh còn nhớ,
Em đã câm lời có nói đâu!
Đã lỡ thôi rồi chuyện biệt ly,
Càng khơi càng thấy lụy từng khi 
Trách ai mang cánh “ti gôn” ấy 
Mà viết tình em được ích gì? 
Chỉ có ba người đã đọc riêng 
Bài thơ “đan áo” của chồng em 
Bài thơ “đan áo” nay rao bán 
Cho khắp người đời thóc mách xem…
Là giết đời nhau đấy biết không ? 
…Dưới giàn hoa máu tiếng mưa rung 
Giận anh, em viết dòng dư lệ,
Là chút dư hương điệu cuối cùng!
Từ nay anh hãy bán thơ anh 
Còn để yên tôi với một mình 
Những cánh hoa lòng, hừ! đã ghét 
Thì đem mà đổi lấy hư vinh. 
Ngang trái đời hoa đã úa rồi,
Từng mùa gió lạnh sắc hương rơi…
Buồng nghiêm thờ thẩn hồn eo hẹp 
Đi nhớ người không muốn nhớ lời! 
Tôi oán hờn anh mỗi phút giây,
Tôi run sợ viết, bởi rồi đây, 
Nếu không yên được thì tôi … chết 
Đêm hỡi, làm sao tối thế này ?
Năm lại năm qua cứ muốn yên 
Mà phương ngoài gió chẳng làm quên; 
Và người vỡ lỡ duyên thầm kín 
Lại chính là anh? anh của em!
Tôi biết làm sao được hỡi trời?
Giận anh không nỡ nhớ không thôi!
Mưa buồn mưa hắt trong lòng ướt…
Sợ quá đi, anh… “có một người”!…
Gửi T.T. Kh. – Thâm Tâm (5)
Các anh hãy uống thật say,
Cho tôi những cốc rượu đầy rồi im
Giờ hình như quá nửa đêm ?
Lòng đau đem lại cái tin cuối mùa
Hơi đàn buồn như trời mưa
Các anh tắt nốt âm thừa đi thôi
Giờ hình như ở ngoài trời
Tiếng xe đã nghiến đã rời rã đi.
Hồn tôi lờ mờ sương khuya
Bởi chưng tôi viết bài thơ trả lời
Vâng, tôi biết có một người
Một đêm cố tưởng rằng tôi là chồng
Ðể hôm sau khóc trong lòng
Vâng tôi có biết cánh đồng thời gian
Hôm nay rụng hết lá vàng
Và tôi lỡ chuyến chiều tàn về không.
Tiếng xe trong vết bụi hồng
Nàng đi thuở ấy nhưng trong khói mờ.
Tiếng xe trong xác pháo xưa,
Nàng đi có bốn bài thơ trở về.
Tiếng xe mở lối vu qui
Nay là tiếng khóc nàng chia cuộc đời !
Miệng chồng Khánh gắn trên môi
Hình anh mắt Khánh sáng ngời còn mơ.
Từ ngày đàn chia đường tơ
Sao tôi không biết hững hờ nàng đan.
Kéo dài một chiếc áo len
Tơ càng đứt mối, nàng càng nối giây.
Nàng còn gỡ mãi trên tay
Thì tơ duyên mới đã thay hẳn màu.
Góp hai thứ tóc đôi đầu,
Sao còn đan nối những câu tâm tình ?
Từng năm từng đứa con non
Mỉm cười vá kín vết thương lại lành.
Khánh ơi còn hỏi gì anh?
Xưa tình đã vỡ, nay tình lại nguyên
Em về đan mối tơ duyên
Vào tà áo mới, đừng tìm duyên xưa.
Bao nhiêu giọt lệ còn thừa,
Hãy dành mà khóc những giờ vị vong.
Bao nhiêu giọt lệ còn thừa,
Hãy dâng cho trọn nghĩa chồng, hồn cha.
Nhắc làm chi chuyện đôi ta
Cuộc đời anh đã phong ba dập vùi…
Hãy vui lên các anh ơi
Nàng đi, tôi gọi hồn tôi trở về
Tâm hồn lạnh nhạt đêm nghe
Tiếng mùa lá chết đã xê dịch chiều
Giờ hình như gió thổi nhiều
Những loài “hoa máu” đã gieo nốt đời.
Bao nhiêu nghệ sĩ nổi trôi
Sá chi cái đẹp dưới trời mong manh ?
Sá chi những chuyện tâm tình
Lòng đau đem chứa trong bình rượu cay.
Người ấy
Trong văn xuôi Việt Nam, hai chữ người ấy đã được Nguyễn Trọng Quản dùng để chỉ người tình trong truyện ngắn Thày Lazaro Phiền từ 1887. Vậy Nguyễn Trọng Quản là người đầu tiên đưa danh từ Người ấy vào trong văn Việt. Và Thanh Châu xướng lên hình ảnh hoa ty gôn trong truyện ngắn đăng trước bài thơ của TTKh một tháng, trên Tiểu Thuyết Thứ Bẩy.
Nhưng TTKh là người đầu tiên sử dụng hai chữ “người ấy” và hình ảnh “hoa ty gôn” vào thơ, như một hình tượng nghệ thuật mơ hồ và phiếm định về người tình và cuộc tình tan vỡ. Về mặt tâm lý xã hội, người đàn bà có chồng những năm 36 – 37, mấy ai dám nói đến người tình một cách công khai ? TTKh đã viết nên những lời tâm sự của bao nhiêu người đàn bà cùng cảnh ngộ ngang trái, sống trong xã hội Khổng Mạnh đầu thế kỷ:
Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời
Ái ân lạt lẽo của chồng tôi,
Mà từng thu chết, từng thu chết,
Vẫn giấu trong tim bóng “một người”.
TTKh là ai ?
Trong Bài thơ thứ nhất, in sau Hai sắc hoa ty gôn hai tháng, có những yếu tố xác định rõ hơn về cuộc tình này :
Ở lại vườn Thanh có một mình 
Tôi yêu gió rụng lúc tàn canh 
Yêu trăng lặng lẽ rơi trên áo 
Yêu bóng chim xa nắng lướt mành.
và nhất là hai câu cuối :
Biết đâu tôi một tâm hồn héo 
Bên cạnh chồng nghiêm luống tuổi rồi.
Vườn Thanh và chồng nghiêm là hai yếu tố gây tranh luận về nơi xẩy ra cuộc tình và tên người chồng. Vườn Thanh ở đâu? Có phải ở Thanh Hóa không? Và người chồng của TTKh tên là gì ? Có phải là Nghiêm không ?
Đến bài thơ thứ ba, bài Đan áo cho chồng, lời thơ xa xót đầy nước mắt :
Ngoài trời mưa gió xôn xao 
Ai đem khóa chết chim vào lồng nghiêm 
Ai đem lễ giáo giam em 
Sống hờ trọn kiếp trong duyên trái đời.
Và Bài thơ cuối cùng có những câu gần như khó hiểu:
Trách ai mang cánh “ti gôn” ấy 
Mà viết tình em được ích gì ?
Bởi nếu TTKh là người đem chuyện của mình ra viết thành thơ, thì tại sao nàng lại trách ai ? Vậy ai đây là ai ? Nàng trách chính nàng hay nàng trách người yêu? Nhất là đoạn sau, lời hờn giận càng thêm gay gắt:
Là giết đời nhau đấy biết không ? 
Dưới giàn hoa máu tiếng mưa rung 
Giận anh em viết dòng dư lệ 
Là chút dư hương điệu cuối cùng.
Tất cả những lời trách móc u uẩn này với nhịp điệu du dương, lời thơ tha thiết, gắn bó, làm cho toàn bộ tác phẩm trở thành huyền thoại.
Nếu so sánh 4 bài thơ ký tên TTKh và 3 bài thơ “trả lời” của Thâm Tâm in trên Tiểu Thuyết Thứ Bẩy sau đó, người ta có thể mở được những nấc cửa đầu tiên vào những bí ẩn này. Bài Gửi TTKH của Thâm Tâm có những câu sau đây:
Tiếng xe trong vết bụi hồng
Nàng đi thuở ấy nhưng trong khói mờ
Tiếng xe trong xác pháo xưa,
Nàng đi có bốn bài thơ trở về
Tiếng xe mở lối vu qui
Nay là tiếng khóc nàng chia cuộc đời!
Miệng chồng, Khánh gắn trên môi
Hình anh, mắt Khánh sáng ngời còn mơ.
Từ ngày đàn chia đường tơ
Sao tôi không biết hững hờ nàng đan
Kéo dài một chiếc áo len
Tơ càng đứt mối, nàng càng nối dây.
Nàng còn gỡ mãi trên tay, 
Thì tơ duyên mới đã thay hẳn màu.
Góp hai thứ tóc đôi đầu,
Sao còn đan nối những câu tâm tình?
Khánh ơi còn hỏi gì anh?
Lá rơi đã hết mầu xanh màu vàng.” 
….
Thâm Tâm nhắc đến người yêu tên Khánh. Vậy TTKh là gì ? Có phải là những chữ Thâm Tâm – Khánh, viết tắt ? Hay là Tuấn Trình – Khánh (vì Thâm Tâm tên thật là Nguyễn Tuấn Trình). Hay TTKh là Trần Thị Khánh, người yêu của Thâm Tâm ?
Có thể nói hầu hết những nhà biên khảo từ Hoài Thanh, Hoài Chân, trong Thi Nhân Việt Nam (1940), Phạm Thế Ngũ trong Việt Nam Văn Học Sử Giản Ước Tân Biên (1965), Nguyễn Hữu Long, Nguyễn Tấn Trọng trong Việt Nam Thi Nhân Tiền Chiến (1968) … và gần đây trong Tuyển Tập Thơ Mới 1932-1945 Tác Giả và Tác Phẩm do Lại Nguyên Ân và Ý Nhi tập hợp phát hành năm 1992, tất cả đều đánh dấu hỏi về TTKh.
Lập luận của Nguyễn Tấn Long và Nguyễn Hữu Trọng
Nguyễn Tấn Long và Nguyễn Hữu Trọng là hai nhà biên khảo đầu tiên có ý tìm hiểu kỹ nhất về cái mà hai ông gọi là “Nghi án TTKH và Thâm Tâm”. Trong bộ Việt Nam Thi Nhân Tiền Chiến, hai ông đưa ra những nhân chứng và những giả thuyết đã xuất hiện trên báo chí, văn đàn từ năm 38 đến 68 của các ông Giang Tử, Thạch Hồ, Y Châu, Nguyễn Bá Thế, Lê Công Tâm, Anh Đào. Người thì cho rằng TTKh chính là Thâm Tâm. Người lại quả quyết TTKh là Trần Thị Khánh, người yêu của Thâm Tâm.
Ông Giang Tử thuật lại cuộc gặp gỡ với nhà thơ Tế Hanh vào tháng 11 năm 1944 trên chuyến xe đi Quảng Ngãi: “Tế Hanh cho biết TTKh chính là Trần Thị Khánh, người em gái đồng tông với mình ở Thanh Hoá và kể rõ thiên tình hận của nàng và thi sĩ Thâm Tâm. Giả thuyết này không đứng vững vì Tế Hanh không phải người Thanh Hoá mà Quảng Ngãi và vườn Thanh trong bài thơ không chắc đã là Thanh Hoá.
Ông Thạch Hồ và ông Y Châu đều cho biết: TTKh là nhân vật có thật, đã đôi ba lần đến thăm thi sĩ Thâm Tâm ở Khâm Thiên, lúc ông này ở chung với Nguyễn Bính và Trần Huyền Trân (giả thuyết này phù hợp với lời tường thuật của Nguyễn Vỹ sau này).
Ông Nguyễn Bá Thế, tức nhà văn Thế Nguyên lại xác định: 
TTKh chính là nhà văn Thẩm Thệ Hà, có tên thật là Tạ Thành Kỉnh, TT là Tạ Thành còn K và H là chữ Kỉnh viết tắt. Việc này bị Thẩm Thệ Hà phủ định hoàn toàn.
Nhưng có ba giả thuyết đáng chú ý :
– Trên tạp chí Giáo Dục Phổ Thông, số 49, ra ngày 1/11/1959, tại Sài Gòn, ông Lê Công Tâm cho biết: TTKh chính là thi sĩ Thâm Tâm, người đã dàn cảnh một thiếu phụ bị ép duyên, khóc tình dang dở bằng những bài thơ Hai sắc hoa ty gôn và Bài thơ thứ nhất.
– Báo Sống ra ngày 15/4/1967, ông Nguyễn Tố, xác định đã sống chung với Thâm Tâm năm 1936, cùng với Trần Huyền Trân, Vũ Trọng Can. Thâm Tâm có mấy bài thơ ký tên TTKh như bài Hai sắc hoa ty gôn. Lúc đó Khánh là người mà Thâm Tâm yêu say đắm, lúc Khánh đi lấy chồng, Thâm Tâm đau khổ gần như phát điên. Lũ chúng tôi vừa giễu cợt, vừa khuyên lơn. Chính trong thời gian thất tình, Thâm Tâm viết được mấy bài thơ ký tên TTKh.
– Nhưng trong báo Nhân Loại, bộ mới số 108 ra tháng 7 năm 1958 tại Sàigòn, ông Anh Đào lại đưa ra một thoại mới mà thoại này, theo ông, do chính Thâm Tâm kể lại. Ông Anh Đào kể rằng: Năm 1941, trong một đêm thu lạnh lẽo, ông được ngồi giữa hai nhà thơ Nguyễn Bính và Thâm Tâm bên một bàn đèn thuốc phiện và chính ông được nghe Thâm Tâm tâm sự. Thâm Tâm nói rằng: TTKh. là tên một thiếu phụ mà trước kia tôi yêu. Và Thâm Tâm xác định những bài thơ đăng trên báo là của nàng, và ông Anh Đào kết luận rằng Thâm Tâm xứng đáng là “người ấy” của TTKh.
Sau khi đưa ra các luận chứng và giả thuyết trên đây, Nguyễn Tấn Long và Nguyễn Hữu Trọng, tác giả Việt Nam Thi Nhân Tiền Chiến, kết luận :
TTKh. không thể là sản phẩm tưởng tượng của Thâm Tâm vì đó là nỗi lòng tha thiết của một người, với những vần thơ lâm ly như thế thì người khác không thể viết thay được. Vậy Thâm Tâm là Thâm Tâm và TTKh là TTKh. Hai người có thể là đôi tri kỷ nhưng không thể cùng là một người. Các tác giả Việt Nam Thi Nhân Tiền Chiến muốn đóng hồ sơ nghi án trên một huyền thoại.
Sự xác định của Nguyễn Vỹ
Nguyễn Vỹ là một trong những nhà thơ tiên phong trong phong trào Thơ Mới. Năm 1970, khi Nguyễn Vỹ xuất bản cuốn Văn Thi Sĩ Tiền Chiến tại Sàigòn, thì ông đã đưa sự thực về Thâm Tâm và TTKh ra ánh sáng.
Trang bià quyển Văn Thi Sĩ Tiền Chiến và bài viết về TTKh của nhà thơ Nguyễn Vỹ(Nguồn : thinhanquangngai.worldpress.com)
Trang bià quyển Văn Thi Sĩ Tiền Chiến và bài viết về TTKh của nhà thơ Nguyễn Vỹ
Như chúng ta đã biết, sau Phan Khôi, Nguyễn Vỹ cùng với Lưu Trọng Lư, Nguyễn Thị Manh Manh, Thế Lữ là những người đã phát triển phong trào Thơ Mới. Nguyễn Vỹ và Mộng Sơn lập trường phái Bạch Nga, chủ trương cách tân thơ, chú trọng đến khía cạnh âm nhạc và hình thức xếp chữ trong thơ. Trường phái Bạch Nga bị Thế Lữ và Hoài Thanh đả kích kịch liệt, thơ Nguyễn Vỹ không được tiếp nhận đúng mức. Đánh giá thơ Nguyễn Vỹ là một vấn đề khác mà chúng tôi không đề cập đến trong bài này. Nguyễn Vỹ là bạn thân của Lan Khai, Lưu Trọng Lư, Trương Tửu và trong cuốn Văn Thi Sĩ Tiền Chiến ông đã vẽ lại chân dung 35 nhà văn, nhà thơ sinh hoạt trong không khí văn học từ đầu thế kỷ đến 1945. Một tư liệu quý cho những người nghiên cứu văn học.
Sau hơn 30 năm im lặng, 1970, một năm trước khi mất, Nguyễn Vỹ đã công bố những lời tâm sự của Thâm Tâm 22 năm sau khi Thâm Tâm qua đời trong bài viết Thâm Tâm và sự thât về TTKh. mà chúng tôi xin lược trình sau đây:
Năm 1936, 37 có xuất hiện ở phố Chợ Hôm, ngoại ô Hà Nội, một nhóm văn sĩ trẻ với bút hiệu là Trần Huyền Trân, Thâm Tâm và một vài người nữa. Ít ai để ý đến họ. Huyền Trân và Thâm Tâm đều mới 18, 19 tuổi. Họ có một tờ tuần báo nhỏ, tên là Bắc Hà ở phố Chợ Hôm. Chủ động trên tờ báo là Trần Huyền Trân. Báo Bắc Hà bán không chạy lắm, tuy có vài mục hài hước, vui, nhờ mấy bức vẽ của Tuấn Trình. Thâm Tâm là bút hiệu của Tuấn Trình. Tuấn Trình vẽ nhiều hơn viết, thỉnh thoảng đăng một bài thơ, vài mẩu truyện ngắn. Đôi khi thấy xuất hiện trên mặt báo vài ba bài thơ có tính cách ca dao, ái tình của Nguyễn Bính học sinh lớp nhất trường tiểu học Hà Đông. Nguyễn Bính thi rớt, nghỉ học luôn.
Tôi – tức là Nguyễn Vỹ – tuy không chơi thân, nhưng quen biết Trần Huyền Trân khá nhiều vì anh ta ở trọ một căn nhà trong ngõ Khâm Thiên, phía sau chợ. Tôi ở một gác trọ của đường Khâm Thiên, gần Ô Chợ Dừa. Đôi khi Trần Huyền Trân nhờ tôi viết bài cho tuần báo Bắc Hà “cho vui” vì không có tiền nhuận bút. Để tỏ tình thông của văn nghệ, tôi có viết một truyện ngắn khôi hài, và chỉ có một lần.
Trong một số báo đặc biệt Mùa Hè, Tuấn Trình có vẽ một cặp Bạch Nga bơi trên Hồ Hoàn Kiếm và ghi ở dưới “Nguyễn Vỹ và Mộng Sơn”.
Tôi quen biết Tuấn Trình là do Trần Huyền Trân giới thiệu. Nhà anh ở Chợ Hôm, cách chợ độ ba, bốn trăm thước. Anh đẹp trai, y phục lúc nào cũng bảnh bao, người có phong độ hào hoa, lịch thiệp. Tôi thấy ở Sàigòn có anh Hoàng Trúc Ly, nhà văn, na ná giống Tuấn Trình về dáng điệu cũng như tính tình, tư cách. Nhiều khi gặp Hoàng Trúc Ly trên đường Bonnard Sàigòn, tôi quên lững, cứ tưởng như gặp Tuấn Trình trên phố Chợ Hôm Hà Nội.
Một buổi chiều gần tối, Tuấn Trình đi lang thang gần chợ Khâm Thiên. Tôi từ Hà Nội về nhà, tôi tưởng anh đến Trần Huyền Trân, nhưng anh bảo: Thằng Huyền Trân nó đi đâu, không có nhà. Tôi rủ anh về gác trọ của tôi ở cuối phố. Hôm ấy, tôi có vài chục bạc trong túi, có thể làm một tiệc bánh giò chả lụa với Tuấn Trình. Tôi bảo anh ở lại ngủ với tôi cho vui. Đêm ấy cao hứng, Tuấn Trình ngà ngà say rượu Văn Điển, kể chuyện tình của anh với cô Khánh cho tôi nghe.
Câu chuyện tình
Trần Thị Khánh là một cô học trò lớp nhất trường tiểu học Sinh Từ. Thi hỏng, cô ở nhà giúp mẹ làm việc nội trợ. Nhà cô cũng ở đường Sinh Từ, ngay cạnh Thanh Giám, nơi đền thờ Khổng Tử.
Thanh Giám là một thắng cảnh Hà Nội, đã liệt vào cổ tích Việt Nam, xây cất từ đời nhà Lý, tu bổ cho tới đời nhà Lê, hình chữ nhật, xung quanh xây tường đá ong, cao độ hai thước Đền thì ở trong cùng, trước đền có Hồ Tròn, hai bên hồ có những tấm bia ghi tên các tiến sĩ đời nhà Lê. Vào Thanh Giám có cổng tam quan lớn, trước cổng có tấm bia đề hai chữ Hán “Hạ mã” và hai trụ cao. Trong vườn trồng rất nhiều cây cổ thụ và các cây kiểng, nơi đây rất yên tĩnh và mát mẻ, cũng là nơi các cặp trai gái hẹn hò tâm sự. Trước kia có một bầy quạ chiều tối bay về đây ngủ, cho nên người Pháp cũng gọi là Pagode des corbeaux. Chùa Quạ, ngoài danh từ lịch sử Temple de Confucius, Đền Khổng Tử.
Cô nữ sinh Trần Thị Khánh là một thiếu nữ đẹp. Tuấn Trình có một người cô, nhà ở phố Chợ Cửa Nam, gần Sinh Từ. Anh thường đến đây thăm cô và trông thấy cô Khánh đi chợ mỗi buổi sáng. Lúc ấy vào khoảng tháng 2 năm 1936, họa sĩ Tuấn Trình -tên gọi hồi đó- mới 19 tuổi, và cô Khánh 17 tuổi. Tuấn Trình mới bắt đầu vẽ và viết chút ít trong tờ tuần báo Bắc Hà của Trần Huyền Trân vừa xuất hiện.
Sau một vài tháng theo dõi, Tuấn Trình làm quen được với cô Khánh và gởi báo Bắc Hà tặng cô. Cô gái 17 tuổi, cảm mến người nghệ sĩ tài hoa, tình yêu chớm nở như cành hoa antigone trắng cũng vừa chớm nở trong tháng đầu hè trước sân nhà cô.
Hoa ti gôn hồng (antigonon leptopus).  Antigone là loại hoa của người Pháp đem qua hồi đầu thế kỷ, không thơm nhưng đẹp. Nó là loại hoa dây, lá giống như lá nho, cho nên ở miền Nam nhiều người gọi là hoa nho. Có hai loại : hoa trắng và hoa hồng. Hoa nở vào đầu mùa hè thành những chùm rất dễ thương, nụ hoa giống hình trái tim nho nhỏ. Ở Hà Nội người ta trồng rất nhiều và bán cũng rất nhiều ở chợ Đồng Xuân, cũng như ở Chợ Hoa, bờ hồ Hoàn Kiếm. Cắm nó vào lọ để phòng khách, nó buông ra một vẻ lãng mạn, khả ái lắm. Người Bắc gọi tắt là hoa ty gôn. Ở phố Sinh Từ, antigone mọc rất nhiều, như trước sân nhà ông Nguyễn Văn Vĩnh và Nguyễn Nhược Pháp. Nhà trọ của Lưu Trọng Lư và Lê Tràng Kiều ở phố Hàm Long có cả một giàn hoa trắng và hồng. Nhưng mùa đông lá rụng, hoa tàn thì không cảnh nào tiêu sơ quạnh quẽ bằng.
Tình yêu của Tuấn Trình và Trần Thị Khánh chớm nở ngay lúc những chùm hoa antigone vừa hé nụ, và chết giữa mùa đông năm đó, trong lúc giàn hoa ty gôn úa tàn, rụng ngập đầy sân. Thời kỳ mơ mộng ngắn ngủi trong mấy tháng hè, sang hết mùa thu, không đem lại chút thỏa mãn nào cho tâm hồn khao khát của Tuấn Trình.
Chính lúc này Tuấn Trình lấy bút hiệu là Thâm Tâm. Một vài bài thơ tình thức đêm làm tặng cô Khánh. Những bài thơ đầu tiên đăng trên tuần báo Bắc Hà đều ký là Thâm Tâm, nhưng các tranh vẽ trong báo vẫn ký Tuấn Trình. Nhưng cô gái 17 tuổi, dè dặt, theo lễ giáo của gia đình, chưa thật bao giờ đáp ứng đúng với tình yêu tha thiết của Tuấn Trình Thâm Tâm.
Trong lúc những cặp tình nhân trẻ trung dắt nhau đi du ngoạn khắp nơi thơ mộng ở Hà Nội và ngoại ô, thì Trần Thị Khánh cứ phải từ chối những lời mời của Thâm Tâm. Cô thường nói: “Thầy mẹ em nghiêm lắm, gia đình em nghiêm lắm.” Lần nào cô Khánh cũng lặp lại chữ nghiêm gia giáo ấy để trả lời kỳ vọng khát khao của người yêu.
Chỉ được hai lần Khánh đến nơi hẹn, nhưng không được lâu. Lần thứ nhất, một đêm trăng, Khánh lẻn băng qua đường vào vườn Thanh Giám. Tuấn Trình đã chờ người yêu nơi đây, dưới bóng cổ thụ. Nhưng cả hai cũng không nói được gì, Khánh run sợ. Tuấn Trình bối rối, tất cả những lời lẽ bay bướm đã sắp sẵn, bây giờ quên hết. Cuối cùng lại trách móc nhau vì những chữ “Thầy mẹ em nghiêm lắm” và rồi Khánh cũng vội vã chạy về nhà.
Lần thứ hai, vườn Thanh Giám đêm ấy cũng ngập ánh trăng thu. Nhiều người nói Thanh là Thanh Hóa, là hoàn toàn sai sự thật. Nhưng thái độ của Khánh lạ lùng, khó hiểu. Hình như Khánh muốn nói với Tuấn Trình một điều gì, nhưng ngại ngùng không nói. Rồi nàng buồn bã hỏi: “Anh định bao giờ đến xin thầy mẹ cho chúng mình ?” Chàng họa sĩ bối rối trước câu hỏi bất ngờ. Chàng lơ đễnh bảo: “Anh chưa nghĩ đến việc ấy, vì…” Câu chuyện bị bỏ dở nơi đây cho đến khi từ giã.
Hai người vẫn thư từ với nhau cho đến một hôm… Tuấn Trình nhận được bức thư của người yêu, không, của người đã hết yêu, báo tin nàng sắp lấy chồng. Thư viết bằng mực tím, trên bốn trang giấy học trò, xé trong một quyển vở Nam Phương Hoàng hậu (loại vở học trò rất thông dụng lúc bấy giờ).
Đại khái trong thư Khánh nhắc lại tình yêu “thơ mộng” của cô với “người nghệ sĩ tài hoa son trẻ”, đó là những chữ cô dùng trong thư.. Tình yêu rất đẹp, nhưng vì thầy mẹ của cô rất “nghiêm” theo lễ giáo, nên dù vị hôn phu của cô là một người chỉ mới biết sơ thôi nhưng cô vẫn có “bổn phận phải giữ tròn chữ hiếu”, cô than thở đời cô khổ nên tình duyên ngang trái, cô khóc suốt đêm, v.v…. Cuối thư ký tắt Kh.
Tuy Khánh không viết gì về vị hôn phu và ngày cưới, nhưng sau dọ hỏi, Tuấn Trình được biết chồng Khánh là một nhà buôn giàu có ở phố Hàng Ngang, 39 tuổi, đẹp trai, góa vợ và không có con. (Trong câu thơ bên cạnh chồng nghiêm luống tuổi rồi là chỉ sự cách biệt tương đối giữa tuổi 39 của người chồng và tuổi vị thành niên của Khánh). Tiệc cưới rất linh đình, rước dâu bằng 10 chiếc Citroën mới. Cô dâu đeo nữ trang rực rỡ, mặc chiếc áo màu đỏ tươi, lộng lẫy ngồi cạnh người chồng mặc áo gấm xanh.
Đêm trước hôm cô Khánh lên xe hoa, Thâm Tâm tổ chức tại tòa báo Bắc Hà một tiệc thịt chó, uống Mai quế lộ, mời Trần Huyền Trân, Nguyễn Bính và Vũ Trọng Can tham dự. Họ say sưa ngâm thơ, làm thơ, cười đùa cho đến khuya rồi lăn ra ngủ trên đất.
Trái với mọi dự đoán, Khánh rất hạnh phúc với chồng. Người đau khổ là Tuấn Trình Thâm Tâm.. Vừa nhớ thương đơn phận, vừa bị mặc cảm của người nghệ sĩ nghèo bị người yêu bỏ rơi, lại còn bị mấy thằng bạn chế nhạo, đùa bỡn, nhất là Vũ Trọng Can.
Vì một chút tự ái văn nghệ, Tuấn Trình đã thức suốt đêm, theo lời anh thuật lại, để làm bài thơ Hai sắc hoa ty gôn, ký tên TTKh, với thâm ý cho Trần Huyền Trân và Vũ Trọng Can tin là của Khánh làm ra để thương tiếc mối tình tan vỡ. Muốn giữ tính cách bí mật, Tuấn Trình nhờ cô em họ chép lại bài thơ trên, dán kín bao thơ và nhờ cô này mang thư đến tòa báo.
Tất nhiên là giọng thơ lãng mạn của Tuấn Trình hoàn toàn khác với lời tâm sự trong bức thư cuối cùng của Khánh báo tin sắp lấy chồng. Cô Khánh không biết làm thơ. Và theo lời Tuấn Trình, cô ghét những bài thơ của Thâm Tâm. Sau khi nhận được bức thư cuối cùng của Khánh, trong thư Khánh tỏ ý không bằng lòng Tuấn Trình đã mượn tên cô để làm thơ kể chuyện tình duyên cũ trên báo, có thể làm hại đến cuộc đời của cô. Trong lá thư phản đối đó, Khánh xưng tôi chứ không xưng em nữa.
Thâm Tâm lấy lại những lời, những chữ trách móc giận dữ của Khánh trong thư để làm Bài thơ cuối cùng ký tên TTKh, với những câu:
Trách ai mang cánh “ti gôn” ấy 
Mà viết tình em được ích gì ?
Bài thơ đan áo nay rao bán 
Cho khắp người đời thóc mách xem. 
Là giết đời nhau đấy biết không ? 
Dưới giàn hoa máu tiếng mưa rung 
Giận anh em viết dòng dư lệ 
Là chút dư hương điệu cuối cùng. 
Từ nay anh hãy bán thơ anh 
Còn để yên tôi với một mình
Rồi để đáp lại Bài thơ cuối cùng, Thâm Tâm làm bài Dang dở tặng TTKh, cũng là bài thơ kết thúc niềm đau của mối tình dang dở:
Nhưng anh biết cái gì xưa đã chết, 
Anh càng buồn càng muốn kết thành thơ, 
Mộng đang xanh, mộng hóa bơ phờ, 
Đây bài thơ chót kính dâng tặng bạn.
Huyền thoại Hai sắc hoa ti gôn, sở dĩ được những tên tuổi nổi tiếng của thi ca đương thời phụ hoạ và đứng vững lâu dài trong lòng người đọc, bởi nó chở những đớn đau chân thực của một người tình, dù viết dưới bàn tay trá hình Thâm Tâm. Và cũng nhờ tài năng của Thâm Tâm mà chúng ta có được hai hình tượng mới: người ấy và hoa ty gôn. Tính mơ hồ bóng gió của người ấy và cái chết thảm khốc của Antigone ẩn trong một chùm hoa nhỏ, xinh như mộng, càng làm tăng thêm chất bi đát thầm lặng của tình yêu, liệm thêm sự bí mật của những chữ TTKh.
(rfI – Âm Nhạc)
Cứ mỗi lần Thu mang bao sầu thương 
Thu về trong mắt buồn . 
Mình nghe lòng đau 
Thương ai ngày xưa thương mùa Thu trước . 
Ngày đó giữa nắng hôn hoàng rơi 
Chờ đón nhau nghe mang mang niềm vui 
Người ấy thường lặng im đứng nhìn 
Xa vun vút bóng chiều phai . 
Hỏi rằng vì đâu , anh hay buồn vương 
Hay là anh dỗi hờn 
Để cho niềm đau len qua hồn ai 
Bên giàn hoa tim vỡ ? 
Người ấy vuốt tóc tôi lặng câm 
Rồi bảo sao khi anh trông màu hoa 
Lòng vẫn sợ tình yêu chúng mình 
Lại tan vỡ như màu hoa . 
Hoa tigôn lại sầu khi ta xa lần đầu 
Người ơi nào ai hay, ai biết giết con tỉm 
Rồi đây dưới trời đau thương 
anh có buồn hay không ? 
Trong một ngày vui pháo cưới nhuộm đường 
Người ơi thôi hết 
Đâu còn gì luyến thương 
Biết hoa rơi về đâu ? 
Thế rồi từng Thu thu đi lại Thu 
Thu về tan tác lòng 
Để tôi nhìn Thu trông hoa đỏ rơi mang niềm đau tới 
Trời hỡi lỡ dứt câu hẹn xưa 
Người có hay tôi sang sông buồn không ? 
Lòng đã thầm chuyện hai chúng mình 
Là hoa vỡ tan chờ trông .
ST
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Gây tê và gây mê trong giải phẫu

 

Khi còn là bác sĩ nội trú về Sản Phụ Khoa tại bệnh viện Parkland Memorial Hospital, Dallas, Texas, tôi được gửi qua huấn luyện bên chuyên khoa về gây tê và gây mê (anesthesiology). Thoạt đầu, tôi cho rằng đây là dịp được nghỉ xả hơi sau những tháng bận rộn bên khoa sản. Thế nhưng, trái với sự mong đợi, tôi không được “cưỡi ngựa xem hoa” mà do thiếu nhân lực, “thiếu lính”, tôi bị đẩy ngay xuống “giao thông hào” để làm việc như là một bác sĩ nội trú chuyên về khoa gây tê mê. Nghĩa là, tôi được phân công gây mê toàn phần cho các ca mổ, dưới sự hướng dẫn của một bác sĩ đàn anh và sự giám sát của một bác sĩ thầy.

Đứng bên nầy hàng rào, “trái tay nghề” vì phải “hành nghề tay trái”, tôi mới thông cảm cho các đồng nghiệp bác sĩ tê mê. Nói là hàng rào, nhưng chỉ là một tấm màn chắn ngăn đôi, từ phía vai trở lên là thuộc phận sự của bác sĩ gây mê, còn phía bên kia là trách nhiệm của bác sĩ mổ.

Một “surgical team” hay một “đội giải phẫu” trách nhiệm ca mổ, thường bao gồm một bác sĩ giải phẫu là đội trưởng, hay “thuyền trưởng”, một hay nhiều bác sĩ phụ mổ, một bác sĩ gây mê, một y tá hay kỹ thuật viên phụ mổ, và một y tá điều hợp. Để cho ca mổ được tiến triển tốt đẹp, đội giải phẫu phải làm việc với nhau thật nhịp nhàng, cụ thể là sự “ăn khớp” giữa bác sĩ gây mê và bác sĩ mổ.

Dĩ nhiên là ngoài việc gây mê toàn phần, tôi cũng được huấn luyện các phương cách gây tê khác như “gây tê tại chỗ” (local anesthesia), “gây tê vùng” (regional anesthesia), “gây tê ngoài màng cứng” (epidural anesthesia).

Gây tê và gây mê là các phương pháp áp dụng những loại thuốc tê mê để làm cho bạn dịu xuống, bớt căng thẳng, giảm hay ngăn chặn cảm giác đau, và trên nguyên tắc, “bất tỉnh nhân sự” không còn biết gì cả trong khi được giải phẫu.

Có bao nhiêu phương pháp gây tê và gây mê?

  1. Gây tê tại chỗ, làm tê một chỗ nhỏ trong thân thể như một vết thương nhỏ, ngoài da, vết thương ở da đầu, vết thương ngón tay, ngón chân,… Gây tê tại chỗ áp dụng cho những vùng phẫu thuật nhỏ. Thí dụ, bạn sẽ được tiêm thuốc tê vào ngay chỗ cần được may hay mổ, và, bạn vẫn còn tỉnh táo.
  2. Gây tê vùng, là làm tê một vùng rộng hơn. Thuốc tê tiêm vào để ngăn chận cảm giác đau được chi phối bởi một sợi dây thần kinh hay một nhóm dây thân kinh, thí dụ như cánh tay từ bả vai xuống, bàn tay, bàn chân, cẳng chân, hay khuôn mặt…
  3. Gây tê ngoài màng cứng xảy ra khi thuốc tê được tiêm vào bên trong cột sống. Cảm giác đau bị khống chế từ đoạn cột sống trở xuống, thí dụ như bụng, hông, đôi chân. Phương pháp nầy thường được dùng cho sản phụ trong khi lâm bồn để bớt đau và nếu cần trước khi sanh mổ.
  4. Gây mê toàn phần tác động đến não bộ làm mất tri gác, ngủ say mê, “bất tỉnh nhân sự,” mất hết cảm giác toàn thân thể.. Bệnh nhân có thể được tiêm thuốc mê vào trong tĩnh mạch, hay cho hít thở thuốc gây mê.

Trong khi được gây mê, bệnh nhân cần có sự giúp đỡ của máy trợ thở để cho phổi trao đổi oxygen với máu. Tim là cơ quan tự động nên dù mê, tim vẫn đập tự động nhưng cũng cần phải theo dõi qua máy đọc điện tâm đồ và máy đo huyết áp.

https://i0.wp.com/hellobacsi.com/wp-content/uploads/2017/03/ThinkstockPhotos-524582175.jpg?resize=671%2C447&ssl=1

Ở đây ,trách nhiệm của bác sĩ gây tê và gây mê rất quan trọng trong việc giúp kiểm soát nhịp thở, điều hòa lượng oxygen, áp suất máu, lưu lượng máu, và nhịp đập của con tim trong suốt ca mổ.

Thế thì, phương pháp nào thích hợp cho ca mổ?

Để lựa chọn một trong các phương pháp trên dùng cho cuộc giải phẫu, bác sĩ gây mê cần biết một số yếu tố như:

  1. Tình trạng sức khoẻ của bệnh nhân. Điều nầy bao gồm cả những cuộc giải phẫu từng có trước đây, nếu có các dị ứng với thuốc mê, và các bệnh đang có thí dụ như bệnh về tim mạch, bệnh tiểu đường, bệnh cường tuyến giáp…
  2. Loại giải phẫu, nặng hay nhẹ, sức chịu đựng của mỗi bệnh nhân. Có khi nếu bệnh dễ bị kinh hãi, phương pháp gây mê toàn phần có thể lựa chọn để bệnh nhân dễ chịu hơn.
  3. Tùy theo thử nghiệm máu và điện tâm đồ.

Những nguy cơ nào có thể xảy ra?

Bất cứ loại tê mê nào cũng đều có những nguy cơ có thể xảy ra, thí dụ như:

Sau khi gây mê, bị rối loạn tim mạch, áp suất bất thường, sưng phổi, đau cuống họng, nôn mữa.

Trong trường hợp gây tê tại chỗ hay gây tê vùng, thuốc tê có thể chạy vào mạch máu đi hết cơ thể và ảnh hưởng đến não bộ cũng như tim mạch.

Gây tê ngoài màng cứng có thể bị nhức đầu nếu “màng cứng” bao quanh cột sống bị thủng. Có khi bác sĩ phải “vá” chỗ thủng bằng cách tiêm máu của chính bệnh nhân vào chung quanh vết thủng, gọi là “blood patch.”

https://i1.wp.com/www.kidsplaza.vn/blog/wp-content/uploads/2016/06/de-khong-dau1.jpg

Gây tê ngoài màng cứngNhững nguy cơ nầy còn tùy thuộc vào phương pháp gây tê mê, tuổi tác của bệnh nhân, tình trạng sức khỏe, mức độ phản ứng thuốc. Nguy cơ có thể tăng nếu bị bệnh phổi, uống một số thuốc nào đó, hút thuốc lá, uống rượu, hay ghiền ma túy.

Thuốc tê, thuốc mê gồm những loại nào?

Thuốc tê tại chỗ, thuốc tê vùng, hay tê ngoài màng cứng gồm có: Lidocain (Xylocain®), bupivacain (Marcain®).

Thuốc mê tiêm vào tĩnh mạch gồm có Thiopental (Penthotal® ), Medizolam (Versed®), Propofol (Diprivan ), Fentanyl (Sublimaze®). Mở ngoặc, Thiopental và Medizolam còn được dùng cho các cuộc xử tử mà hiện nay các hãng thuốc đã từ chối cung cấp cho nhà tù. Propofol được ca nhạc sĩ Michael Jackson lạm dụng làm thuốc ngủ và ông đã ngủ yên!

Thuốc mê cho qua ống thở gồm có: Isoflurane, Sevoflurane và Nitrous oxide.

Một số thuốc giảm cơ, thuốc an thần, thuốc chống ói…

Cần chuẩn bị gì trước ca mổ gây mê?

  1. Không được ăn hay uống tối thiểu là 8 giờ trước khi mổ. Trung bình đồ ăn tốn khoảng 8 tiếng để đi suốt chiều dài của đường ruột. Lý do vì trong khi mổ, đồ ăn hay nước dịch từ bao tử có thể chạy ngược ống thực quản và lọt vào phổi. Chất acid có thể đốt cháy phổi và gây ra sưng phổi trầm trọng làm chết người. Chuyện có thật, tôi có một bệnh nhân đến phòng mổ với một ly cà phê Starbucks trong tay, vì bác sĩ chỉ dặn… không được uống nước!
  2. Trước khi mổ có thể bị lo lắng, bồn chồn. Thư giãn tinh thần sẽ giúp bệnh nhân giảm bớt lo lắng.
  3. Sau khi mổ cần có người đón về, không được tự lái xe ra về. Một số hiệu ứng của gây mê có thể kéo dài hàng giờ sau mổ, có khi đến 24 tiếng sau.

Sau khi gây mê, bạn có thể bị tê hay mất cảm giác một phần hay toàn thân nếu được gây tê tại chỗ hay gây tê vùng. Sự điều khiển các cơ và sự phối hợp cử động bi ảnh hưởng, không được bình thường.. Bạn có thể bị ói mữa do ảnh hưởng của thuốc mê. Bạn có thể bị lạnh cóng khi mới tỉnh dậy.

Mỗi năm ở nước Mỹ có khoảng 40 triệu ca mổ lớn nhỏ, cần đến gây tê hay gây mê. Mặc dù tỉ số nguy cơ rất thấp, có lẽ thấp hơn nguy cơ bị rớt máy bay rất nhiều. Tử vong hay tổn thương nặng vì gây mê thường hiếm có và thường liên quan đến những biến chứng của phẫu thuật nhiều hơn. Tử vong có thể xảy ra trong 1/250.000 trường hợp với gây mê toàn phần. Tất nhiên tỉ lệ nguy cơ sẽ cao hơn với những người có tình trạng sức khỏe kém hay bệnh nghiêm trọng. Vì thế, giữ gìn sức khỏe là điều quan trọng để trước nhất, tránh khỏi bị mổ và phải gây tê hay mê. Cho dù trong trường hợp phải bị gây tê hay gây mê, nguy cơ sẽ giảm nhiều nếu tình trạng sức khỏe tốt.

BS Hồ Ngọc Minh

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Vàng Thu Tháng Chín

Vàng thu tháng chín đong đưa
Thoáng màu hoa Cúc ai vừa mến trao
Ngỡ là tình thắm duyên nhau
Nghẹn ngào thu khóc như vào lãng quên
Vàng thu lá úa mông mênh
Tình xa tình ngỡ lênh đênh chốn nào
Nghe mùa thương cũ cấu cào
Dỗi hờn nỗi nhớ thì thào nắng mưa
Vàng thu tháng chín hương đưa
Tình ai hờ hững trêu đùa thoáng qua
Trách gì nhau những mặn mà
Có còn chăng…cũng đã xa úa vàng
Vâng mùa thu ấy có lần
Vô tình chạm những lỡ làng trong ta
Vàng thu tháng chín ngang qua
Níu màu hoa ấy vỡ oà bóng mây
Còn đây một sớm xuân gầy
Sắt se mùa úa dệt đầy tháng năm
Còn đây một đoá trăng rằm
Thắp lên màu nắng lặng thầm dáng thu !
Thu Trang
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Chiều Thạch Hãn

Chung chiêng nón trắng trời mây
Nghiêng chiều Thạch Hãn rót gầy mắt em.
Nõn nường con nước dâng men
Dòng thơm ngọt lịm đào tiên đuối trời.

Em tìm về cuối miền tôi
Vu vơ để lạc đường ngôi giữa ngày.
Đôi bờ
sông thở nồm say
Vai thon
cứu vớt một ngày gần qua…

Búp măng mười ngón thiệt thà
Níu căng khúc hát dòng hoa trầm hùng
Cõi trăm trầm tích tận cùng
Cuộc chiều hoán giấc ngại ngùng đáy sông.

Nguyễn Văn Chức

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin