All posts by KhueVy Hoang

CHÚNG TA ĐANG TÌM KIẾM CÁI GÌ? Krishnamrti | Phạm Công Thiện dịch

 

Hầu hết chúng ta đang đi tìm gì? Mỗi người trong chúng ta muốn được gì? Nhất là giữa thời thế tao loạn này, mọi người đều muốn tìm một thứ an bình nào đó, một thứ hạnh phúc nào đó, nơi trú ẩn nào đó, vì thế chúng ta cần phải tìm cho ra chúng ta muốn tìm kiếm gì trên cuộc đờinày, điều ấy dĩ nhiên là vô cùng quan trọng, phải thế không? Chúng ta cần phải biết đang đi tìm cái gì, chúng ta đang cố gắng khám phá ra điều gì.

Có lẽ hầu hết tất cả chúng ta đều đang đi tìm kiếm thứ hạnh phúc nào đó, một thứ thanh bình nào đó; trong một thế giới hỗn loạnxáo trộn, đầy chiến tranh phân ly, phân tán, tất cả chúng ta đều cần có một nơi trú ẩn để mà có thể tìm được một chút thanh bình nào đó. Tôi nghĩ rằng đó là điều tất cả chúng ta, hầu hết tất cả chúng ta đều muốn đạt tới. Vì thế chúng ta chạy tìm đuổi theo một người lãnh tụ này đến một người lãnh tụ khác, từ một tổ chức tôn giáo này đến một tổ chức tôn giáokhác, từ một bậc thầy này đến một bậc thầy khác.

Vậy thì có phải chúng ta đang tìm một thứ hạnh phúc hay là phải chăng chúng ta đang đi tìm một sự thỏa mãn nào đó để mong được hạnh phúc? Hạnh phúc và sự thỏa mãn hoàn toàn khác nhau. Các bạn có thể tìm hạnh phúc không? Có lẽ các bạn chỉ thấy thỏa mãnnhưng nhất định các bạn không bao giờ tìm ra hạnh phúcHạnh phúc chỉ là phụ thôi; nó xuất phát từ một cái gì khác.

Vì thế, trước khi chúng ta để cả tâm trí vào một sự việc cần nhiều trang trọng, chú ý, tư tưởng, chăm sóc, phải chăng chúng ta cũng nên tìm hiểu chúng ta đang muốn tìm kiếmgì; có phải chúng ta đang tìm kiếm hạnh phúc hay chỉ là sự thỏa mãn. Tôi cho rằng hầu hết tất cả chúng ta đều tìm kiếm sự thỏa mãnChúng ta muốn được thỏa mãnchúng tamuốn tìm được một cảm giác sung mãn tràn trề theo sau cuối con đường tìm kiếm của chúng ta.

Thực ra nếu chúng ta đi tìm thanh bình chúng ta có thể tìm thấy nó một cách quá dễ dàng, người ta có thể tự dâng hiến một cách mù quáng cho một lý tưởng nào đó và trú mình ẩn náu trong đó. Hiển nhiên nếu làm như vậy thì không giải quyết được vấn đề nào hết. Chỉ cô lập hóa mình trong một ý tưởng ràng buộc thì không thể nào giải thoát khỏi sự đụng độ va chạmPhải chăng chúng ta cần tìm cho được mỗi người trong chúng ta đang muốn tìm kiếm gì ở bên trong tâm hồn cũng như ở thế giới bên ngoài.

Nếu chúng ta minh bạch khúc triết trong vấn đề này thì chúng ta không cần phải đi đâu cả, không cần phải đi tìm bất cứ một vị thầy nào, không cần phải đi vào bất cứ một nhà thờ nào và không cần phải tham dự bất cứ một tổ chức nào. Do đó, nỗi khó khăn nhất của ta hiện nay là làm thế nào minh bạch khúc triết trong tâm trí đối với ý định của mình, phải thế không? Chúng ta có thể nào minh bạch được không?

Phải chăng sự minh bạch ấy chỉ xuất hiện qua sự tìm kiếm, và sự tìm hiểu những gì người khác nói, từ một bậc đại sư cao siêu nhất cho đến một người giảng đạo thông thường nhất ở một giáo đường nào đó quanh đầu phố? Các bạn có cần đi đến một người nào đó để mà khám phá ra sự thực không? Phải chăng đó là điều chúng ta đang làm?

Chúng ta đọc quá nhiều sách, chúng ta tham dự quá nhiều cuộc hội thảo để tranh luậnbàn tánchúng ta gia nhập nhiều tổ chức khác nhau để mà tìm một phương thuốc trị liệucho nỗi xung đột tâm tư, cho sự khốn cùng trong đời sống của chúng ta. Hoặc nếu chúng ta không làm thế thì chúng ta nghĩ rằng chúng ta đã tìm thấy sự thực, chúng ta nói rằng một tổ chức đặc biệt nào đó, một bậc tôn sư đặc biệt nào đó, một quyển sách đặc biệtnào đó đã thỏa mãn chúng tachúng ta đã tìm thấy tất cả sự thực mà chúng ta muốn đạt trong những thứ ấy; và chúng ta duy trì ứ đọng đóng nhốt tự mình trói buộc mình trong những điều mình tưởng như là thấy được sự thật.

Trải qua những sự hỗn loạn, có phải chăng chúng ta đi tìm một cái gì thường còn, một cái gì cố định tồn tạitrường tồn, một cái gì mà chúng ta gọi là thực tại, như Thượng đếchân lý, hay muốn gọi gì thì gọi vì danh từ không quan trọng: hiển nhiênchữ nghĩakhông phải là sự vật. Chúng ta đừng để bị lôi cuốn trói buộc trong những lời, những tiếng, chúng ta hãy để điều đó cho những giảng sư nhà nghề. Có phải các bạn tìm kiếm một cái gì trường tồn trong tâm hồn một cái gì mà chúng ta có thể bám vào, đeo vào, một cái mang đến cho chúng ta sự bảo đảm, một miền hy vọng nào đó, một sự hăng say tin tưởng nào đó, một sự cố định trường tồn nào đó.

Bởi vì chúng ta cảm thấy bất an vô định trong tâm hồnChúng ta không tự hiểu chúng taChúng ta biết rất nhiều về những sự kiện, về nội dung của sách vở; nhưng chúng takhông tự biết mìnhchúng ta chẳng có một kinh nghiệm trực tiếp nào cả. Điều mà chúng ta gọi là trường tồn là cái gì? Điều ấy là điều gì mà chúng ta đang tìm kiếm, điều mà chúng ta mong rằng sẽ mang đến cho chúng ta sự cố định trường cửu? Có phải chúng tađang đi tìm hạnh phúc trường cửu, sự thỏa mãn trường tồnsự cố định trường cửu?

Chúng ta muốn một điều gì đó được trường tồn mãi mãi để vẫn làm thỏa mãn được chúng ta. Nếu chúng ta cởi bỏ những tiếng, những lời để nhìn thẳng vào điều ấy, đó chính là lòng thỏa mãn lâu dài là điều chúng ta muốn thể hiệnChúng ta muốn cơn khoái lạc được trường tồn, sự thỏa mãn được lâu dài và chúng ta gọi đó là chân lýThượng đếhay là một danh hiệu nào khác.

Đúng thế, chúng ta muốn có được khoái lạc. Có lẽ điều ấy đã được trình bày một cách thô bạo như vậy, nhưng đó là lòng khát khao thực sự, chúng ta muốn có kiến thức nào mang đến cho chúng ta sự khoái cảm, kinh nghiệm nào mang đến cho chúng ta sự khoái lạc, sự thỏa mãn mà không phôi pha tàn phai với thời gian.

Chúng ta đã trải qua tất cả những sự thỏa mãn đa dạng và những sự thỏa mãn ấy, tất cả những sự thỏa mãn ấy đã tàn phai tiêu ma thế thì bây giờ chúng ta mong tìm được sự thỏa mãn trường tồn vĩnh cửu trong thực tại nào đó, chẳng hạn như trong Thượng đếDĩ nhiên đó là chính những gì mà tất cả chúng ta thường tìm kiếm: những kẻ khôn ngoan và những người khờ khệch, lý thuyết gia và con người thực tế, tất cả đều đang tìm kiếm đeo đuổi một cái gì đó. Có sự thỏa mãn nào vĩnh cửu hay không? Có sự thể nào mà vẫn trường tồn mãi mãi?

Thế mà nếu các bạn tìm kiếm một sự thỏa mãn trường tồn và gọi đó là Thượng đế hay Chân lý hay bất cứ một danh từ nào khác, (danh từ không quan trọng) chắc các bạn phải hiểu đó là điều các bạn muốn tìm, các bạn có nên hiểu thế không? Khi các bạn nói rằng ‘tôi đang đi tìm một sự hạnh phúc vĩnh cửu’ – Thượng đế hoặc Chân lý hay là bất cứ một danh từ nào khác, các bạn có nên tìm hiểu cái gì đang tìm kiếm, nghĩa là tìm hiểu chính kẻ tìm kiếm, người tìm kiếm?

Bởi vì có thể trên đời không có cái mà người ta gọi là sự an ninh vĩnh cửu sự hạnh phúctrường tồnChân lý có thể là một cái gì khác hẳn, hoàn toàn khác hẳn; và tôi nghĩ rằng chân lý thì hoàn toàn khác hẳn những gì các bạn có thể thấy, có thể ý niệm hội ý, có thể đặt hình tượng phương trình. Vì thế trước khi chúng ta tìm kiếm thực thể trường cửuthực ra có cần thiếtvô cùng cần thiết, là phải tìm hiểu chính người tìm kiếm? Người tìm kiếm có khác sự việc mà hắn tìm kiếm?

Khi các bạn nói ‘tôi đang tìm kiếm hạnh phúc’ thì người tìm kiếm có khác đối tượng của sự tìm kiếm ấy không? Tư tưởng gia có khác tư tưởng không? Phải chăng cả hai đều là một hiện tượng liên kết duy nhất, chứ không phải là những tiến trình cách biệt? Do đó, phải chăng tìm hiểu người tìm kiếm là một điều chính yếu trước khi chúng ta tìm hiểuđiều mà hắn đang kiếm tìm.

Vì thế đã đến lúc chúng ta phải tự hỏi một cách nghiêm trọng và sâu sắc rằng sự thanh bìnhhạnh phúcthực tạiThượng đế hoặc một danh từ nào khác, có thể được mang đếncho chúng ta qua trung gian của một người nào khác hay không? Có thể nào sự tìm kiếmliên tục này, sự khát khao hoài vọng này đưa đến cho chúng ta hưởng thụ cảm giác về thực tại tuyệt vờitrạng thái sáng tạo của tâm hồn, mà những cảm trạng ấy thì chỉ có thể hiện đến khi chúng ta thực sự tự hiểu mình? Phải chăng sự tự hiểu biết chính bản thânmình chỉ thể hiện qua sự tìm kiếm, bằng cách đi theo gót một người nào khác, bằng cách gia nhập vào một đoàn thể nào đó, bằng cách đọc sách, vân vân?

Tựu chung, phải chăng đó là vấn đề chính yếu: khi mà tôi chưa hiểu được mình, tôi không thể có được căn bản để suy tư, và tất cả sự tìm kiếm của tôi chỉ là vô vọng hão huyền. Tôi có thể chạy trốn trong những ảo giác, tôi có thể chạy trốn sự khó khăn dày xéo, cơn quằn quại nội tâm; tôi có thể phụng thờ kẻ khác, tôi có thể tự cứu tôi qua trung gian một người khác. Nhưng khi mà tôi vẫn chưa hiểu được tôi, khi mà tôi không ý thứcđược tiến trình trọn vẹn của chính nội tâm tôi thì không thể nào tôi có được nền tảng để suy tư, để thương yêu lưu luyến, để hành động xử thế.

Nhưng đây là điều ít người muốn đạt tới: tự hiểu mình. Nhất định đó là nền tảng duy nhấtmà chúng ta phải xây dựng. Nhưng trước khi xây dựng sáng tạo, trước khi chuyển hóa, trước khi chúng ta kết án hay phá hủychúng ta phải biết rằng chúng ta là gì. Đi tìm kiếmchân lý, thay đổi những đạo sưthực hành Yoga, điều hòa hơi thởchấp trì những nghi lễtôn giáo, theo chân những bậc đại sư và tất cả những thứ đại loại như vậy đều hoàn toànvô ích, phải thế không?

Những sự việc ấy không có ý nghĩa gì cả, ngay đối với cả những bậc thánh nhân khi họ nói với chúng ta rằng ‘hãy tự hiểu mình’ thì việc ấy cũng vô nghĩa, bởi vì chúng ta là gì thì thế giới là như thế ấy. Nếu chúng ta bần tiện, nhỏ nhoi, ghen tuông, phù phiếm tham lam, nếu đó là những điều chúng ta tạo ra chung quanh ta thì đó cũng là điều tạo ra xã hội mà chúng ta đang sống.

Theo tôi thì trước khi chúng ta lên đường để tìm hiểu Thực tại, để tìm thấy Thượng đế, trước khi chúng ta hành động, trước khi chúng ta có thể giao tiếp xử thế với nhau (nghĩa là sự giao tế trong xã hội) thì trước hết chúng ta phải cần hiểu chúng ta. Tôi cho rằng một người đứng đắn là một người hoàn toàn bận tâm về việc ấy trước hết, chứ không phải tìm cách đi tới một mục đích nhất định, bởi vì nếu các bạn và tôi không tự hiểu mình thì làm thế nào hành động của chúng ta có thể mang đến sự đổi thay cho xã hội, cho sự giao tế của xã hội hay cho bất cứ sự việc nào mà chúng ta thể hiện?

Khi tôi nói tự tìm hiểu mình thì không có nghĩa là chống đối, ly cách trong tương quan giữa mình với người khác. Điều ấy hiển nhiên không có nghĩa là đặt trọng tâm vào cá thể, vào bản thân để đối nghịch lại quần chúng đám đông, để đối nghịch lại với kẻ khác.

Vậy nếu mà không tự biết mình, nếu mà không hiểu đường lối tư tưởng của mình, không hiểu lý do tại sao mình nghĩ sự việc như vậy, không hiểu bối cảnh qui định của mình, không hiểu lý do tại sao mình đã có những tín ngưỡng đặc biệt nào đó về nghệ thuật và tôn giáo, về tổ quốc quê hương về kẻ láng giềng và về chính bản thân mình thì làm thế nào chúng ta có thể biết suy tư thật sự về bất cứ sự vật nào?

Nếu không biết bối cảnh của mình, không biết bản chất thực sự của tư tưởng mình, và duyên do của tư tưởng ấy thì nhất định sự tìm kiếm của các bạn chỉ là hoàn toàn phù phiếm vô ích, hành động của các bạn phải chăng không có ý nghĩa gì nữa? Dù là các bạn là người Mỹ hay người Ấn độ hay dù các bạn thuộc tôn giáo nào nữa thì việc ấy cũng vô nghĩa. Trước khi chúng ta có thể tìm hiểu cứu cánh mục đích của đời sống là gì, ý nghĩacủa nó là gì như chiến tranh, những sự xung đột quốc gia, những sự va chạm, và tất cả những sự hỗn loạn ấy chúng ta phải bắt đầu tìm hiểu chúng ta, bắt đầu nơi bản thânmình phải thế không?

Việc ấy có vẻ như đơn giản nhưng nó thật vô cùng khó khăn. Muốn theo dõi mình, muốn thấy sự vận hành của tư tưởng mình, mình phải tỉnh thức một cách phi thường để mà khi mình bắt đầu ý thức mãnh liệt về những mê cung chằng chịt của chính tư tưởng mình và những đáp ứng và những cảm giác, mình bắt đầu đạt tới một ý thức bén nhạy hơn chẳng những ý thức về mình mà còn ý thức về kẻ khác mà mình đang giao tiếp. Tìm hiểu chính bản thân mình là tìm hiểu mình trong hành động, đó chính là tương giao.

Nỗi khó khăn của chúng ta là chúng ta quá nóng nảy, thiếu kiên nhẫnchúng ta muốn đi tới một cách hấp tấp, chúng ta muốn đạt tới cứu cánh, vì thế chúng ta không để chúng tacó thời gian hay có dịp để học tập, để nghiên cứu. Thay vì thế chúng ta lao mình vào những sinh hoạt khác nhau như việc mưu sinh, việc nuôi nấng con cái, hay là đảm nhiệm những trọng trách của nhiều tổ chức; chúng ta lao thân vào những đường lối khác nhau bận bịu lo lắng và không còn thì giờ để suy tưởng bản thân, để quan sát, để khảo sát. Vì thế, thực ra trách nhiệm về phản ứng chúng ta là tùy vào chúng ta, chứ không phải vào người khác.

Khắp thế giới sự tìm kiếm đạo sư và hệ thống đạo lý của họ, việc đọc những quyển sách mới xuất bản về vấn đề này hoặc vấn đề khác vân vân, đối với tôi là hoàn toàn rỗng, hoàn toàn phù phiếm, vì các bạn có thể lang thang khắp địa cầu để tìm kiếm, nhưng rồi các bạn cũng phải trở về lại với chính mình. Vì hầu hết chúng ta đều hoàn toàn vô ý thứcvề chính bản thân mình, do đó thực là vô cùng khó khăn khi chúng ta bắt đầu tìm thấy, nhìn thấy rõ rệt biến trình của tư tưởng chúng tacảm giác và hành động của chúng ta.

Khi các bạn càng tự hiểu mình thì sự minh bạch khúc triết càng dễ xuất hiện. Sự tự tìm hiểu mình không có cứu cánh, các bạn không phải đi tới một sự tựu thành nào cả, các bạn không phải đi tới một sự kết luận nào cả. Chân lý là một dòng sông bất tận. Khi mình nhìn theo dòng sông, khi mình đi sâu vào sự thực thì mình cảm thấy thanh bình trong tâm hồn. Chỉ khi nào tâm trí được trầm lặng nhờ sự tự giác, chứ không phải nhờ vào một kỷ luật bản ngã ràng buộc, chỉ có lúc ấy, chỉ trong sự trầm tĩnh ấy, trong sự im lặng ấy thì Thực tại mới có thể thực hiện được.

Chỉ có lúc ấy mới có thể có sự ngây ngất xuất thần, chỉ có lúc ấy mới có thể có được hành động sáng tạo trác truyệt. Đối với tôi, nếu không có sự hiểu biết ấy, không có kinh nghiệm ấy mà lại đọc sách, đi dự những buổi nói chuyện, đi làm tuyên truyền thì thật là ấu trĩ: đó chỉ là một hành động vô nghĩatrái lại nếu mình có thể hiểu mình thì mình mới có thể khơi dậy niềm hạnh phúc sáng tạo trác tuyệt, khơi dậy sự thể hiện vượt ngoài tâm trí, chỉ lúc ấy có lẽ mới thể hiện được sự chuyển hóa hoàn toàn trong mối giao tiếp giữa chúng ta và thế giới chúng ta đang sống.

 

J. KRISHNAMURTI

Phạm Công Thiện dịch

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 17

: Những bức ảnh cho thấy smartphone đang thống trị mọi ngõ ngách trong cuộc sống

Những bức ảnh cho thấy smartphone đang thống trị mọi ngõ ngách trong cuộc sốngMột người đàn ông 70 tuổi sử dụng tới 15 chiếc smartphone để chơi trò chơi Pokemon Go tại thành phố Đài Bắc, Đài Loan ngày 12/11/2018. Chính vì kiểu chơi game độc đáo này mà ông có biệt danh là “Ông già Pokemon”. (Ảnh: Tyrone Siu / Reuters)

Kể từ khi iPhone ra đời năm 2007, điện thoại thông minh (smartphone) mới chính thức bước vào kỉ nguyên huy hoàng.

Theo báo cáo của một số công ty nghiên cứu thị trường, trong đó có Forrester Research, tổng số người dùng smartphone trên toàn thế giới sẽ đạt 3 tỷ trong năm nay, tương đương 40% dân số thế giới. Đối với nhiều người, smartphone đã trở thành công cụ không thể thiếu để liên lạc, giải trí, kinh doanh, mua sắm, tham gia mạng xã hội, cập nhật tin tức, học tập và còn nhiều thứ khác nữa.

Với sự tăng trưởng chóng mặt trong vòng 10 năm trở lại đây, chúng ta khó mà bắt gặp một cảnh tượng mà không có ít nhất một người sử dụng smartphone.Những bức ảnh dưới đây được chụp bởi nhiều nhiếp ảnh gia trên khắp thế giới. Chúng cho thấy smartphone đã len lỏi vào mọi ngõ ngách của cuộc sống như thế nào.

day la bang chung cho thay smartphone co mat o khap moi ngo ngach trong cuoc songKhán giả sử dụng smartphone để chụp ảnh tại show diễn thời trang L’Oreal trên đại lộ Champs Elysees trong tuần lễ thời trang Paris, Pháp vào ngày 01/10/2017. (Ảnh: Charles Platiau / Reuters)day la bang chung cho thay smartphone co mat o khap moi ngo ngach trong cuoc songMột người phụ nữ Palestine rút điện thoại chụp ảnh một thành viên của lực lượng an ninh Israel khi người đàn ông này chụp hình của cô trên một con phố ở Jerusalem vào ngày 16/12/2017. (Ảnh: Ahmad Gharabli / AFP / Getty)day la bang chung cho thay smartphone co mat o khap moi ngo ngach trong cuoc songHai cô gái trẻ nằm trong một bể bóng nhựa để chụp ảnh selfie tại bảo tàng Supercandy! Pop-Up vào 05/10/2018 ở Cologne, Đức (Ảnh: Michael Gottschalk / Getty)day la bang chung cho thay smartphone co mat o khap moi ngo ngach trong cuoc songInna Salminen, 27 tuổi, một kỹ sư lâm nghiệp đang sử dụng smartphone khi cô kiểm tra một khu rừng ở Nurmijarvi, Phần Lan, ngày 5 tháng 11 năm 2018. Inna sử dụng ứng dụng trên smartphone của cô để kiểm soát rừng, lên kế hoạch bảo tồn và đảm bảo các khu rừng không bị khai thác trái phép. (Ảnh: Alessandro Rampazzo / AFP / Getty)day la bang chung cho thay smartphone co mat o khap moi ngo ngach trong cuoc songMột streamer 21 tuổi người Trung Quốc đang sử dụng smartphone để tác nghiệp tại studio của cô ở Bắc Kinh, ngày 07/11/2018. (Ảnh: Nicolas Asfouri / AFP / Getty)day la bang chung cho thay smartphone co mat o khap moi ngo ngach trong cuoc songTrăng tròn mọc lên phía sau người đàn ông đang chụp ảnh selfie cùng xe đạp. Bức ảnh này được chụp tại Van, Thổ Nhĩ Kỳ vào ngày 27/07/2018. (Ảnh: Ozkan Bilgin / Anadolu Agency / Getty)day la bang chung cho thay smartphone co mat o khap moi ngo ngach trong cuoc songĐây là Reda Zerrouki, người Al-giê-ri 36 tuổi. Anh là một trong số hàng ngàn người di cư băng qua Balkan với hy vọng đến châu Âu. Anh chia sẻ, điện thoại thông minh không chỉ là một cách để nhắn tin cho gia đình và bạn bè mà còn là một công cụ quan trọng để vạch ra lộ trình của mình qua vùng Balkan và tránh cảnh sát tuần tra biên giới khi các nhóm người di cư đi qua Bosnia và tìm cách vượt qua bất hợp pháp vào Croatia. (Ảnh: Elvis Barukcic / AFP / Getty)day la bang chung cho thay smartphone co mat o khap moi ngo ngach trong cuoc songNhững người hâm mộ dùng smartphone để ghi lại hình ảnh biểu diễn trực tiếp của nhóm nhạc nam Modern Brothers tại tỉnh Liêu Ninh,Trung Quốc ngày 30/06/2018. Modern Brothers có hơn 20 triệu người theo dõi trên ứng dụng TikTok, một nền tảng mạng xã hội video ngắn có lồng nhạc rất phổ biến tại Trung Quốc. (Ảnh: VCG via Getty)day la bang chung cho thay smartphone co mat o khap moi ngo ngach trong cuoc songNhà lai tạo gia súc Pier Domenico Dotta sử dụng điện thoại thông minh của mình để kiểm tra điều kiện sức khỏe của từng con bò trong trang trại của ông ở Villafalletto, Italy, ngày 25/10/2018. Mỗi con bò được đeo một chiếc đai đặc biệt ở cổ với một con chip được sử dụng để kết nối từng con vật với phần mềm ứng dụng. (Ảnh: Marco Bertorello / AFP / Getty)day la bang chung cho thay smartphone co mat o khap moi ngo ngach trong cuoc songNhững người ủng hộ Selahattin Demirtaş, ứng cử viên tổng thống bị bỏ tù của đảng Dân chủ Nhân dân (HDP), cầm cờ HDP và điện thoại di động của họ trong không khí trong một chiến dịch bầu cử ở Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ, vào ngày 17/06/2018. (Ảnh: Yasin Akgul / AFP / Getty)day la bang chung cho thay smartphone co mat o khap moi ngo ngach trong cuoc songMột phụ nữ đang sử dụng smartphone trong một quán bar tại thủ phủ thành phố Thimphu, Bhutan ngày 11/12/2017. (Ảnh: Cathal McNaughton / Reuters)day la bang chung cho thay smartphone co mat o khap moi ngo ngach trong cuoc songImelda Mumbi năm nay 13 tuổi. Em đang học trực tuyến thông qua một ứng dụng trên smartphone trong khu vực sinh hoạt chung của khu chung cư bên cạnh nhà ở ngoại ô Riruta Nairobi, Kenya, ngày 08/11/2018. Mumbi đã học bốn năm trên nền tảng này. Đây là phần mềm được phát triển bởi Eneza Education nhằm cung cấp các cơ hội giáo dục, đặc biệt là cho các khu vực nông thôn ở châu Phi, thông qua SMS hoặc Internet. Học phí mỗi tuần là 10 shillings Kenya (khoảng 2.300 đồng). Hiện nền tảng này có khoảng năm triệu học viên đăng ký ở Kenya, Ghana và Bờ Biển Ngà. (Ảnh: Tony Karumba / AFP / Getty)day la bang chung cho thay smartphone co mat o khap moi ngo ngach trong cuoc songMọi người chụp ảnh hoàng hôn trên cầu Pershing Square tại thành phố New York ngày 13/07/2018. (Ảnh: Gary Hershorn / Getty)day la bang chung cho thay smartphone co mat o khap moi ngo ngach trong cuoc songCác cô gái đang tạo dáng chụp ảnh selfie với những chiếc smartphone tại quảng trường Duomo, thị trấn Milan, Italy ngày 25/02/2016 (Ảnh: Stefano Rellandini / Reuters)day la bang chung cho thay smartphone co mat o khap moi ngo ngach trong cuoc songMuhammad Noshad người Pakistan là một nhân viên của Công ty cung cấp điện Islamabad (IESCO). Anh đang dùng smartphone và gậy selfie để chụp ảnh số công tơ đồng hồ, chuẩn bị làm báo cáo tiêu thụ điện gửi cho khách hàng. (Ảnh: Aamir Qureshi / AFP / Getty)day la bang chung cho thay smartphone co mat o khap moi ngo ngach trong cuoc songThượng nghị sĩ Hoa Kỳ Jeff Flake nói chuyện với các phóng viên sau khi họp với thượng nghị sĩ Mitch McConnell về việc đề cử Brett Kavanaugh trên Capitol Hill vào ngày 28/09/2018 tại Washington, DC. (Ảnh: Brendan Smialowski / AFP / Getty)day la bang chung cho thay smartphone co mat o khap moi ngo ngach trong cuoc songNhiếp ảnh gia và nhà báo người Bun-ga-ri Vera Gotseva chụp ảnh sinh viên của mình trong một khóa học nhiếp ảnh tại làng Sarnitsa ngày 03/11/2018. (Ảnh: Dimitar Dilkoff / AFP / Getty)day la bang chung cho thay smartphone co mat o khap moi ngo ngach trong cuoc songNgười tị nạn Nigeria, Aicha Younoussa, đang chụp ảnh trước lều của cô. Do mối đe dọa của Boko Haram, Aicha và gia đình rời Nigeria cách đây bốn năm tìm nơi trú ẩn trong trại tị nạn Baga Sola ở miền nam Chad. (Ảnh: Michele Cattani / AFP / Getty)day la bang chung cho thay smartphone co mat o khap moi ngo ngach trong cuoc songKhách mời chụp ảnh trong buổi trình diễn của hãng thời trang Addition Elle tại Tuần lễ thời trang New York diễn ra tại thành phố New York, Mỹ vào ngày 11/09/2017. (Ảnh: Angela Weiss / AFP / Getty)day la bang chung cho thay smartphone co mat o khap moi ngo ngach trong cuoc songMột du khách Trung Quốc như đang múa võ với cây gậy chụp ảnh selfie trước sân nhà hát lớn ở Frankfurt, Đức ngày 02/03/2017. (Ảnh Michael Probst / AP)day la bang chung cho thay smartphone co mat o khap moi ngo ngach trong cuoc songNhững người di cư Honduras tranh thủ sạc điện thoại di động tại một nơi trú ẩn tạm thời ở Juchitan de Zaragoza, bang Oaxaca, Mexico trong cuộc hành trình đến Mỹ ngày 30/10/2018. (Ảnh: Guillermo Arias / AFP / Getty)day la bang chung cho thay smartphone co mat o khap moi ngo ngach trong cuoc songSangeeta Agnes Hosea (ở giữa), ca sĩ chính của ban nhạc Ấn Độ, Midnight Poppies, chụp ảnh với điện thoại thông minh của cô trong một buổi tập ở Bangalore vào ngày 10/11/2018. Hosea sử dụng smartphone để ghi lại các bài hát của mình và cũng để quảng cáo cho ban nhạc trên các phương tiện truyền thông xã hội. (Ảnh: Manjunath Kiran / AFP / Getty)day la bang chung cho thay smartphone co mat o khap moi ngo ngach trong cuoc songCụ già 75 tuổi Ngô Thị Phô đang sử dụng điện thoại khi bán hàng rong ven đường ở tỉnh Hà Giang ngày 28/10/2018. (Ảnh: Nhac Nguyen / AFP / Getty)day la bang chung cho thay smartphone co mat o khap moi ngo ngach trong cuoc songMột cậu bé đang dùng thử những chiếc iPhone trong dịp lễ khai trương cửa hàng Apple Store chính thức đầu tiên tại Thái Lan. Cửa hàng này nằm trong khu ICONSIAM, một khu phức hợp dân cư và trung tâm thương mại cao cấp trên bờ sông Chao Praya. (Ảnh: Lillian Suwanrumpha / AFP / Getty)day la bang chung cho thay smartphone co mat o khap moi ngo ngach trong cuoc songNhững người tham dự chụp ảnh và quay video Tổng thống Donald Trump khi ông tham dự Hội nghị thượng đỉnh các lãnh đạo trẻ da đen năm 2018 tại Phòng phía Đông của Nhà Trắng ở Washington, ngày 26/10/2018. (Ảnh: Cathal McNaughton / Reuters)day la bang chung cho thay smartphone co mat o khap moi ngo ngach trong cuoc songMột người đàn ông hóa trang thành bức tượng Nữ thần tự do đang sử dụng điện thoại trong một trận bão tuyết ở New York ngày 07/01/2017. (Ảnh: Eduardo Munoz Alvarez / AFP / Getty)day la bang chung cho thay smartphone co mat o khap moi ngo ngach trong cuoc songKhán giả chụp ảnh Tiger Woods khi anh đang thi đấu trong giải tranh cup Northern Trust FedEx ngày 23/08/2018. (Ảnh: Tim Clayton / Corbis via Getty)Đạt Vũ (Tổng hợp)

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 34

Nỗi Buồn Tíếng Việt – Chu Đậu

Ngôn ngữ thay đổi theo thời gian, theo sinh hoạt xã hội. Mỗi ngày, từ những đổi mới của đời sống, từ những ảnh hưởng của văn minh ngoại quốc mà ngôn ngữ dần dần chuyển biến. Những chữ mới được tạo ra, những chữ gắn liền với hoàn cảnh sinh hoạt xưa cũ đã quá thời, dần dần biến mất. Cứ đọc lại những áng văn thơ cách đây chừng năm mươi năm trở lại, ta thấy nhiều cách nói, nhiều chữ khá xa lạ, vì không còn được dùng hàng ngày. Những thay đổi này thường làm cho ngôn ngữ trở nên sinh động hơn, giàu có hơn, tuy nhiên, trong tiếng Việt khoảng mấy chục năm gần đây đã có những thay đổi rất kém cỏi. Ban đầu những thay đổi này chi giới hạn trong phạm vi Bắc vĩ tuyến 17, nhưng từ sau ngày cộng sản toàn chiếm Việt Nam, 30 tháng tư năm 1975, nó đã xâm nhập vào ngôn ngữ miền Nam. Rồi, đau đớn thay, lại tiếp tục xâm nhập vào tiếng Việt của người Việt ở hải ngoại. Người ta thuận theo các thay đổi xấu ấy một cách lặng lẽ, không suy nghĩ, rồi từ đó nó trở thành một phần của tiếng Việt hôm nay. Nếu những thay đổi ấy hay và tốt thì là điều đáng mừng ; Nhưng than ôi, hầu hết những thay đổi ấy là những thay đổi xấu, đã không làm giầu cho ngôn ngữ dân tộc mà còn làm tiếng nước ta trở nên tối tăm. 
Thế nhưng dựa vào đâu mà nói đó là những thay đổi xấu ? 
Nếu sự thay đổi đưa lại một chữ Hán Việt để thay thế một chữ Hán Việt đã quen dùng, thì đây là một thay đổi xấu, nếu dùng một chữ Hán Việt để thay một chữ Việt thì lại càng xấu hơn. Bởi vì nó sẽ làm cho câu nói tối đi. Người Việt vẫn dễ nhận hiểu tiếng Việt hơn là tiếng Hán Việt. Nhất là những tiếng Hán Việt này được mang vào tiếng Việt chỉ vì người Tầu ở Trung Hoa bây giờ đang dùng chữ ấy. Nếu sự thay đổi để đưa vào tiếng Việt một chữ dùng sai nghĩa, thì đây là một sự thay đổi xấu vô cùng. Hãy duyệt qua vài thay đổi xấu đã làm buồn tiếng Việt hôm nay : 
1. Chất lượng : 
Ðây là chữ đang được dùng để chỉ tính chất của một sản phẩm, một dịch vụ. Người ta dùng chữ này để dịch chữ quality của tiếng Anh. Nhưng than ôi ! Lượng không phải là phẩm tính, không phải là quality. Lượng là số nhiều ít, là quantity. Theo Hán Việt Tự Ðiển của Thiều Chửu, thì lượng là : đồ đong, các cái như cái đấu, cái hộc dùng để đong đều gọi là lượng cả. Vậy tại sao người ta lại cứ nhắm mắt nhắm mũi dùng một chữ sai và dở như thế. Không có gì bực mình hơn khi mở một tờ báo Việt ngữ ở hải ngoại rồi phải đọc thấy chữ dùng sai này trong các bài viết, trong các quảng cáo thương mãi. Muốn nói về tính tốt xấu của món đồ, phải dùng chữ phẩm. Bởi vì phẩm tính mới là quality. Mình đã có sẵn chữ phẩm chất rồi tại sao lại bỏ quên mà dùng chữ ‘chất lượng’. Tại sao lại phải bắt chước mấy anh cán ngố, cho thêm buồn tiếng nước ta. 
2. Liên hệ : 
Cũng từ miền Bắc, chữ này lan khắp nước và nay cũng tràn ra hải ngoại. Liên hệ là có chung với nhau một nguồn gốc, một đặc tính. Người cộng sản Việt Nam dùng chữ liên hệ để tỏ ý nói chuyện, đàm thoại. Tại sao không dùng chữ Việt là ‘nói chuyện’ cho đúng và giản dị. Chữ liên hệ dịch sang tiếng Anh là ‘to relate to …’, chứ không phải là ‘to communicate to …’ 
3. Ðăng ký : 
Ðây là một chữ mà người Cộng Sản miền Bắc dùng vì tinh thần nô lệ người Tầu của họ. Ðến khi toàn chiếm lãnh thổ, họ đã làm cho chữ này trở nên phổ thông ở khắp nước, Trước đây, ta đã có chữ ghi tên (và ghi danh) để chỉ cùng một nghĩa. Người Tầu dùng chữ đăng ký để dịch chữ ‘register’ từ tiếng Anh. Ta hãy dùng chữ ghi tên hay ghi danh cho câu nói trở nên sáng sủa, rõ nghĩa. Dùng làm chi cái chữ Hán Việt kia để cho có ý nô lệ người Tầu ? ! 
4. Xuất khẩu, Cửa khẩu : 
Người Tầu dùng chữ khẩu, người Việt dùng chữ cảng. Cho nên ta nói xuất cảng, nhập cảng, chứ không phải như cộng sản nhắm mắt theo Tầu gọ là xuất khẩu, nhập khẩu. Bởi vì ta vẫn thường nói phi trường Tân Sơn Nhất, phi cảng Tân Sơn Nhất, hải cảng Hải Phòng, giang cảng Sài Gòn, thương cảng Sài Gòn. Chứ không ai nói phi khẩu Tân Sơn Nhất, hải khẩu Hải Phòng, thương khẩu Sài Gòn trong tiếng Việt. Khi viết tin liên quan đến Việt Nam, ta đọc bản tin của họ để lấy dữ kiện, rồi khi viết lại bản tin đăng báo hay đọc trên đài phát thanh tại sao không chuyển chữ (xấu) của họ sang chữ (tốt) của mình, mà lại cứ copy y boong ? 
5. Khả năng : 
Chữ này tương đương với chữ ability trong tiếng Anh, và chỉ được dùng cho người, tức là với chủ từ có thể tự gây ra hành động động theo chủ ý. Tuy nhiên hiện nay ở Việt Nam người ta dùng chữ khả năng trong bất kỳ trường hợp nào, tạo nên những câu nói rất kỳ cục. Ví dụ thay vì nói là ‘trời hôm nay có thể mưa’, thì người ta lại nói : ‘trời hôm nay có khả năng mưa’, nghe vừa nặng nề, vừa sai. 
6. Tranh thủ :
Thay vì dùng một chữ vừa rõ ràng vừa giản dị là chữ ‘cố gắng’, từ cái tệ sính dúng chữ Hán Việt của người cộng sản, người ta lại dùng một chữ vừa nặng nề vừa tối nghĩa là chữ ‘tranh thủ’. Thay vì nói : ‘anh hãy cố làm cho xong việc này trước khi về’, thì người ta lại nói : ‘anh hãy tranh thủ làm cho xong việc này trước khi về’. 
7. Khẩn trương : 
Trước năm 1975 chúng ta đã cười những người lính cộng sản, khi họ dùng chữ này thay thế chữ ‘nhanh chóng’. Nhưng than ôi, ngày nay vẫn còn những người ở Việt Nam (và cả một số người sang Mỹ sau này) vẫn vô tình làm thoái hóa tiếng Việt bằng cách bỏ chữ ‘nhanh chóng’ để dùng chữ ‘khẩn trương’. Ðáng lẽ phải nói là : ‘Làm nhanh lên’ thì người ta nói là : ‘làm khẩn trương lên’. 
8. Sự cố, sự cố kỹ thuật : 
Tại sao không dùng chữ vừa giản dị vừa phổ thông trước đây như ‘trở ngại’ hay ‘trở ngại kỹ thuật’ hay giản dị hơn là chữ ‘hỏng’ ? (Nói ‘xe tôi bị hỏng’ rõ ràng mà giản dị hơn là nói ‘xe tôi có sự cố’) 
9. Tham quan : 
Đi thăm, đi xem thì nói là đi thăm, đi xem cho rồi tại sao lại phải dùng cái chữ này của người Tầu ? ! Sao không nói là ‘Tôi đi Nha Trang chơi’, ‘tôi đi thăm lăng Minh Mạng’, mà lại phải nói là ‘tôi đi tham quan Nha Trang’, ‘tôi đi tham quan lăng Minh Mạng’. 
10. Nghệ nhân :
Ta vốn gọi những người này là ‘nghệ sĩ’. Mặc dù đây cũng là tiếng Hán Việt, nhưng người Tầu không có chữ nghệ sĩ, họ dùng chữ nghệ nhân. Có những người tưởng rằng chữ nghệ nhân cao hơn chữ nghệ sĩ, họ đâu biết rằng nghĩa cũng như vậy, mà sở dĩ người cộng sản Việt Nam dùng chữ nghệ nhân là vì tinh thần nô lệ Trung Hoa. 
11. Chuyển ngữ : 
Ðây là một chữ mới, xuất hiện trên báo chí Việt Nam ở hải ngoại trong vài năm gần đây. Trước đây chúng ta đã có một chữ giản dị hơn nhiều để tỏ ý này. Ðó là chữ dịch, hay dịch thuật. Dịch tức là chuyển từ một ngôn ngữ này sang một ngôn ngữ khác. Ðoàn Thị Ðiểm dịch Chinh Phụ Ngâm Khúc của Ðặng Trần Côn Phan Huy Vịnh dịch Tỳ Bà Hành của Bạch Cư Dị, Nguyễn Hiến Lê dịch Chiến Tranh Và Hòa Bình của Leon Tolstoi … Người viết ở hải ngoại bây giờ hình như có một mặc cảm sai lầm là nếu dùng chữ dịch thì mình kém giá trị đi, nên họ đặt ra chữ ‘chuyển ngữ’ để thấy mình oai hơn. Chữ dịch không làm cho ai kém giá trị đi cả, chữ ‘chuyển ngữ’ cũng chẳng làm giá trị của ai tăng thêm chút nào. Tài của dịch giả hiện ra ở chỗ dịch hay, dịch đúng mà thôi. Chứ đặt ra chữ mới nghe cho kêu không làm tài năng tăng lên chút nào, hơn nữa nó còn cho thấy sự thiếu tự tin, sự cầu kỳ không cần thiết của người dịch. 
12. Tư liệu : 
Trước đây ta vốn dùng chữ tài liệu, rồi để làm cho khác miền nam, người miền bắc dùng chữ ‘tư liệu’ trong ý : ‘tài liệu riêng của người viết’. Bây giờ những người viết ở hải ngoại cũng ưa dùng chữ này mà bỏ chữ ‘tài liệu’ mặc dù nhiều khi tà liệu sử dụng lại là tài liệu đọc trong thư viện chứ chẳng phải là tài liệu riêng của ông ta. 
13. Những danh từ kỹ thuật mới : 
Thời đại của điện tử, của computer tạo ra nhiều danh từ kỹ thuật mới, hay mang ý nghĩa mới. Những danh từ này theo sự phổ biến rộng rãi của kỹ thuật đã trở nên thông dụng trong ngôn ngữ hàng ngày. Hầu hết những chữ này có gốc từ tiếng Anh, bởi vì Hoa Kỳ là nước đi trước các nước khác về kỹ thuật. Các ngôn ngữ có những chữ cùng gốc (tiếng Ðức, tiếng Pháp …) thì việc chuyển dịch trở nên tử nhiên và rõ ràng, những ngôn ngữ không cùng gốc, thì người ta địa phương hóa những chữ ấy mà dùng. Riêng Việt Nam thì làm chuyện kỳ cục là dịch những chữ ấy ra tiếng Việt (hay mượn những chữ dịch của người Tầu), tạo nên một mớ chữ ngây ngô, người Việt đọc cũng không thể hiểu nghĩa những chứ ấy là gì, mà nếu học cho hiểu nghĩa thì khi gặp những chữ ấy trong tiếng Anh thì vẫn không hiểu. Ta hãy nhớ rằng, ngay cả những người Mỹ không chuyên môn về điện toán, họ cũng không hiểu đích xác nghĩa của những danh từ này, nhưng họ vẫn cứ chỉ biết là chữ ấy dùng để chỉ các vật, các kỹ thuật ấy, và họ dùng một cách tự nhiên thôi. Vậy tại sao ta không Việt hóa các chữ ấy mà phải mất công dịch ra cho kỳ cục, cho tối nghĩa. Ông cha ta đã từng Việt hóa biết bao nhiêu chữ tương tự, khi tiếp xúc với kỹ thuật phương tây cơ mà. Ví dụ như ta Việt hóa chữ ‘pomp’ thành ‘bơm’ (bơm xe, bơm nước), chữ ‘soup’ thành ‘xúp’, chữ ‘phare’ thành ‘đèn pha’, chữ ‘cyclo’ thành ‘xe xích lô’, chữ ‘manggis’ (tiếng Mã Lai) thành ‘quả măng cụt’, chữ ‘durian’ thành ‘quả sầu riêng’, chữ ‘bougie’ thành ‘bu-gi, chữ ‘manchon’ thành ‘đèn măng xông’, chữ ‘boulon’ thành ‘bù-lon’, chữ ‘gare’ thành ‘nhà ga’, chữ ‘savon’ thành ‘xà bông’ … Bây giờ đọc báo, thấy những chữ dịch mới, thì dù đó là tiếng Việt, người đọc cũng vẫn không hiểu như thường. Hãy duyệt qua một vài danh từ kỹ thuật bị ép dịch qua tiếng Việt Nam, như : 
a. Scanner dịch thành ‘máy quét’. Trời ơi ! ’máy quét’ đây, thế còn máy lau, máy rửa đâu ? ! Mới nghe cứ tưởng là máy quét nhà ! 
b. Data Communication dịch là ‘truyền dữ liệu’. 
c. Digital camera dịch là ‘máy ảnh kỹ thuật số’. 
d. Data base dịch là ‘cơ sở dữ liệu’. Những người Việt đã không biết data base là gì thì càng không biết ‘cơ sơ dữ liệu’ là gì luôn. 
e. Software dịch là ‘phần mềm’, hardware dịch là ‘phần cứng’ mới nghe cứ tưởng nói về đàn ông, đàn bà. Chữ ‘hard’ trong tiếng Mỹ không luôn luôn có nghĩa là ‘khó’, hay ‘cứng’, mà còn là ‘vững chắc’ ví dụ như trong chữ ‘hard evident’ (bằng chứng xác đáng) … Chữ soft trong chự ‘soft benefit’ (quyền lợi phụ thuộc) chẳng lẽ họ lại dịch là ‘quyền lợi mềm’ sao ? 
f. Network dịch là ‘mạng mạch’. 
g. Cache memory dịch là ‘truy cập nhanh’. 
h. Computer monitor dịch là ‘màn hình’ hay ‘điều phối’. 
i. VCR dịch là ‘đầu máy’ (Như vậy thì đuôi máy đâu ? Như vậy những thứ máy khác không có đầu à ?). Sao không gọi là VCR như mình thường gọi TV (hay Ti-Vi). Nếu thế thì DVD, DVR thì họ dịch là cái gì ? 
j. Radio dịch là ‘cái đài’. Trước đây mình đã Việt hóa chữ này thành ra-đi-ô hay ra-dô, hơặc dịch là ‘máy thu thanh’. Nay gọi là ‘cái đài’ vừa sai, vừa kỳ cục. Ðài phải là một cái tháp cao, trên một nền cao (ví dụ đài phát thanh), chứ không phải là cái vật nhỏ ta có thể mang đi khắp nơi được. 
k. Channel gọi là ‘kênh’. Trước đây để dịch chữ TV channel, ta đã dùng chữ đài, như đài số 5, đài truyền hình Việt Nam … gọi là kênh nghe như đang nói về một con sông đào nào đó ở vùng Hậu Giang ! 
Ngoài ra, đối với chúng ta, Sài Gòn luôn luôn là Sài Gòn, hơn nữa người dân trong nước vẫn gọi đó là Sài Gòn. Các xe đò vẫn ghi bên hông là ‘Sài Gòn – Nha Trang’, ‘Sài Gòn – Cần Thơ’ … trên cuống vé máy bay Hàng Không Việt Nam người ta vẫn dùng 3 chữ SGN để chỉ thành phố Sài Gòn. Vậy khi làm tin đăng báo, tại sao người Việt ở hải ngoại cứ dùng tên của một tên chó chết để gọi thành phố thân yêu của chúng mình ? ! Ði về Việt Nam tìm đỏ mắt không thấy ai không gọi Sài Gòn là Sài Gòn, vậy mà chỉ cần đọc các bản tin, các truyện ngắn viết ở Hoa Kỳ ta thấy tên Sài Gòn không được dùng nữa. Tại sao ? 
Ðây chỉ là một vài ví dụ để nói chơi thôi, chứ cứ theo cái đà này thì chẳng mấy chốc mà người Việt nói tiếng Tầu luôn mất ! Tất nhiên, vì đảng cộng sản độc quyền tất cả mọi sinh hoạt ở Việt Nam, nên ta khó có ảnh hưởng vào tiếng Việt đang dùng trong nước, nhưng tại sao các nhà truyền thông hải ngoại lại cứ nhắm mắt dùng theo những chữ kỳ cục như thế ? ! Cái khôi hài nhất là nhiều vị trong giới này vẫn thường nhận mình là giáo sư (thường chỉ là giáo sư trung học đệ nhất cấp (chưa đỗ cử nhân) hay đệ nhị cấp ở Việt Nam ngày trước, chứ chẳng có bằng Ph.D. nào cả), hay là các người giữ chức này chức nọ trong các hội đoàn tự cho là có trách nhiệm về văn hóa Việt Nam ở ngoài nước ! 
Trước đây Phạm Quỳnh từng nói : ‘Truyện Kiều còn thì tiếng ta còn, tiếng ta còn thì nước ta còn’, bây giờ Truyện Kiều vẫn còn mà cả tiếng ta lẫn nước ta lại đang đi dần xuống hố sâu Bắc Thuộc. Than ôi !
Chu Đậu
11/2007
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 10

ĐẠO DIỄN CAROLINE GUIELA NGUYỄN

NHỮNG GIỌT NƯỚC MẮT LÀ CHIẾC CẦU NỐI GIỮA QUÁ KHỨ & HIỆN TẠI”

Mùa hè năm 2017, tại Liên hoan sân khấu Avignon, vở kịch SAIGON của một nữ đạo diễn Pháp gốc Việt đã thành công rực rỡ và tiếp tục tạo tiếng vang khi trình diễn tại Paris và nhiều thành phố khác trên thế giới. Việt Nam và Pháp, Sài Gòn và Paris, năm 1956 và 1996… thời gian và nơi chốn, những khoảng cách địa lý, những lỗ hổng lịch sử, những câu chuyện về sự ra đi và trở về… đã được tái hiện song hành trên sân khấu và để lại những giọt nước mắt,  sự thổn thức cho khán giả. Caroline Guiela Nguyen, sinh năm 1981, đạo diễn của vở kịch có mái tóc đen nhánh, xinh đẹp như một nữ tài tử. Mẹ cô là người Việt và cha là kiều dân Pháp từ Algeria. Cô đã đến TPHCM nhiều lần để trải nghiệm và thu thập những chất liệu cho vở kịch đột phá của mình. Nhân vở kịch SAIGON được trình diễn tại nhà hát Bến Thành (TPHCM) vào ngày 21 và 22/9, Caroline Guiela Nguyen đã trả lời phỏng vấn của Tuổi trẻ cuối tuần từ nước Pháp.

Caroline Guiela Nguyen

Bố mẹ chị đều là người nhập cư ở Pháp. Bố chị là người Algerie, còn mẹ đến từ Việt Nam. Vậy thì tại sao chị lại chọn Sài Gòn, Việt Nam – quê hương của mẹ làm đề tài, bối cảnh cho vở kịch của mình mà không phải là Algerie – quê của bố?

Câu hỏi của anh rất thú vị. Tôi chỉ có thể trả lời đơn giản như thế này: Tôi chưa bao giờ đến Algérie nhưng tôi đã đến Việt Nam hơn 10 lần rồi. Bố tôi cũng chưa bao giờ quay trở về Algérie và điều này có ý nghĩa vì ông không bao giờ làm được điều đó nữa. Lần duy nhất mà ông đã quay lại Bắc Phi là lúc chúng tôi đi Maroc. Khi chúng tôi đến sân bay, bố tôi đã giàn giụa nước mắt. Bố tôi đã qua đời mà chưa một lần được quay trở về nơi ông đã sinh ra và là nơi mà một số người thân trong gia đình được chôn cất ở đó.

Mẹ tôi thì có thể quay trở về nơi bà đã sinh ra và bây giờ, bà đang sống giữa 2 nơi là Pháp và Việt Nam. Vì vậy mà mối liên hệ với Việt Nam đến với tôi dễ dàng và trực tiếp hơn. Tôi đã đến Việt Nam và tôi đã cảm nhận điều đấy. Nhưng Algérie cũng vẫn là một đề tài mà tôi muốn khai thác. Đề tài này chắc chắn là còn ít được nhắc đến hơn là đề tài mà tôi đã có thể tưởng tượng được từ mẹ tôi. Điều đó thật ngạc nhiên.

Hầu hết các tiểu thuyết, phim ảnh, nghệ thuật nói chung về Việt Nam của những Việt kiều, hay nói đúng hơn là của những nghệ sĩ lớn lên ở nước ngoài có dòng máu Việt thường có yếu tố tự truyện, tự thuật, hồi ức qua câu chuyện của bố mẹ, gia đình hay cá nhân họ. Nhưng với vở SAIGON, chị không chọn con đường tự truyện hay thuyết giảng cho vở kịch của mình mà với tư cách một người quan sát, trải nghiệm và có nhiều yếu tố khách quan. Tại sao chị chọn cách này?

Như tôi vẫn thường nói, SAIGON là vở kịch rất gần với thực tế, theo nghĩa là tôi đã thu thập và quan sát các câu chuyện. Nhưng vở kịch tự thân nó là một sản phẩm hư cấu. Chính vì vậy mà những từ như “tự truyện” hay “kịch tài liệu” không phù hợp để nói về vở kịch này. Tôi không làm theo kiểu nghe như thế nào thì kể lại y như vậy. Vở kịch là sản phẩm của sự tưởng tượng. Tôi không rõ ở Việt Nam thì như thế nào, chứ ở Pháp, đây là một đề tài rất được quan tâm. Chính vì vậy, SAIGON là một vở kịch được sáng tác từ nước Pháp chứ không phải từ Việt Nam. Tôi không tự cho phép mình nói thay cho người Việt Nam vì tôi không phải là người Việt. Tôi là con của một Việt kiều và là người Pháp. Vậy nên tôi chỉ nói từ nơi tôi quan sát, đó chính là nước Pháp.

Quay trở lại vấn đề về sự tưởng tượng vì điều đó rất quan trọng. Ở Pháp, chúng tôi không hoặc ít tưởng tượng về mối liên hệ giữa Pháp và Việt Nam. Chúng ta có bộ phim “Đông Dương”, được cho là hay hay dở thì tùy vào sở thích của từng người. Nhưng chúng ta chỉ có vậy thôi. Tôi nghĩ để kết nối người với người, điều quan trọng nhất đó chính là khả năng tưởng tượng. Hơn nữa, chúng ta thường nghe nói “tôi không thể hình dung được là làm thế nào khi phải ra đi mà không bao giờ có thể quay trở lại”. Như tôi chẳng hạn, tôi không thể hình dung được những gì mẹ tôi đã trải qua. Không phải thực tế đã dẫn dắt tôi đến những câu chuyện trong vở kịch này, mà đó chính là sự tưởng tượng. Tôi đã làm điều này cùng các thành viên trong đoàn kịch. Chúng tôi đã cùng làm việc với các diễn viên, đặt họ vào một tình huống giống với thực tế của thời đó. Sau đó, chúng tôi đã ứng tác, tưởng tượng, ví dụ như làm cách nào để một anh lính người Pháp đem lòng yêu mến một cô gái Việt. Chúng tôi đã vận dụng trí tưởng tượng. Chính vì vậy mà tôi không nghĩ vở kịch SAIGON là một tự truyện, cũng không phải là kịch tài liệu hay là một vở kịch hồi ức kể lại câu chuyện của gia đình tôi.

Trả lời phỏng vấn một kênh truyền thông của Pháp, chị từng nói: “Những lỗ hổng không chỉ có những vết thương mà là khởi nguồn của trí tưởng tượng.” Vậy thì những lỗ hổng về Việt Nam, như chị tự nhận “Tôi không có khả năng nói về Việt Nam, tôi không phải là người Việt Nam”, đã mang lại những “vết thương” và “khởi nguồn của trí tưởng tượng” như thế nào về Việt Nam?

Khi còn bé, có những điều mà người ta gọi là “bí mật gia đình”. Gia đình nào cũng thế. Bố mẹ không kể tất cả vì sợ làm tổn thương con cái hay những người khác. Nhà phân tâm học người Pháp Serge Tisseron cho rằng khi một người không biết một bí mật gì đó, người đó thường có khuynh hướng tưởng tượng, đi rất xa, và thậm chí còn tưởng tượng ra những điều còn tồi tệ hơn những điều bí mật. Khi nói về “những lỗ hổng” là tôi muốn nói về điều đó. Những lỗ hổng khơi gợi sự tưởng tượng, sự hư cấu trong tôi.

Chuyến trở về Sài Gòn để trải nghiệm, tìm kiếm chất liệu và cảm hứng cho vở kịch đã mang lại cho chị những chất liệu quý giá gì? Có điều gì ở Sài Gòn – TPHCM ngày hôm nay vượt xa trí tưởng tượng của chị? Có điều gì gần với hình dung hay những lời kể của mẹ chị? Và điều gì khiến chị thấy gần gũi, đồng cảm hay xúc động nhất khi sống ở Sài Gòn?

Điều làm tôi cảm thấy xúc động ở Sài Gòn và điều làm cho những chuyến đi sang Việt Nam của tôi trở nên cần thiết, đó chính là sự khác biệt. Ví dụ, đó là sự khác biệt giữa những gì mẹ tôi đã kể và những gì tôi đã khám phá khi đến Việt Nam. Đó chính là  điều làm tôi cảm thấy xúc động nhất. Tôi yêu TPHCM. Đây làm một trong những thành phố trên thế giới làm tôi cảm thấy xúc động nhất. Việt Nam là một đất nước rất xinh đẹp. Tuy nhiên, trong thực tế, chính những Việt kiều mới làm tôi xúc động nhất. Đó là sự cách biệt, khoảng cách, sự tương đồng, giữa một Việt Nam do họ kể lại và một Việt Nam như ngày nay. Ví dự như tôi đã rất xúc động khi thấy các diễn viên Việt kiều trở về, nhìn lại những không gian, những con đường ngày xưa nay đã thay đổi bằng những ánh mắt như khi họ còn bé. Họ phải tiếp xúc với một thứ tiếng Việt không còn như trước. Những điều này là vô cùng quan trọng trong vở kịch của chúng tôi. Chúng tôi hiểu ra rằng tiếng Việt mà các Việt kiều nói không phải là thứ tiếng Việt đang được sử dụng ngày nay. Vậy là họ đúng là Việt kiều: họ là người Việt nhưng mãi mãi sẽ là những người nước ngoài trên chính quê hương của họ. Họ cứ thế mà “lơ lửng” giữa hai nơi chốn. Tôi nghĩ đến câu nói đùa của một người anh họ. Anh ấy bảo: “Chúng ta là người Việt khi ở Pháp nhưng lại là người Pháp khi ở Việt Nam”. Tôi đã không đến Việt Nam như là một khách du lịch. Chuyến đi tìm hiểu để sáng tác vở kịch Sài Gòn đã giúp tôi chấm dứt sự “lơ lửng” giữa Pháp và Việt Nam.

Một trích đoạn trong vở kịch SAIGON

Vở kịch Sài Gòn gây tiếng vang ở Pháp và khiến nhiều khán giả, đặc biệt là những Việt kiều xúc động và thổn thức vì gợi lại những ký ức tha hương của họ. Nhà văn Thuận sống ở Paris cũng chia sẻ cảm xúc của chị trên trang cá nhân rằng: “Vở kịch hay đến mức người vốn cứng rắn trước nghệ thuật như tôi mà mắt cũng nhòe đi không ít lần. Xúc động vì những thứ rất gần với kitsch, sém một chút là sến sẩm, nhưng dưới bàn tay tài hoa của đạo diễn hợp thành một tác phẩm đầy sáng tạo và thuyết phục, vượt ra khỏi khuôn khổ địa lý. Sài Gòn, Việt Nam bỗng trở nên đương đại và cũng gần gũi bội phần.”

Chị có thể chia sẻ thêm khi nhìn thấy những giọt nước mắt sau vở kịch này, mà bản thân chị cũng từng gọi nó cũng là một “hành trình nước mắt”?

Trước hết, tôi cảm thấy xúc động và hạnh phúc vì những lời nhận xét của nhà văn Thuận. Tôi xin cảm ơn cô ấy. Tôi luôn đặc biệt quan tâm đến việc vở kịch được các khán giả Việt kiều đón nhận như thế nào và tôi cũng để tâm đến việc có các khán giả Việt kiều trong khán phòng. Ở Pháp, không có nhiều Việt kiều hay những người gốc Algérie trong các khán phòng cũng như trên sân khấu.

Tôi thường được hỏi về hành trình nước mắt và khó để trả lời, bởi vì phải nói và giải thích về một cảm xúc. Điều tôi cảm nhận được khi đến Việt Nam đó là những giọt nước mắt. Dĩ nhiên là những giọt nước mắt này vẫn có liên quan tới các Việt kiều. Khi nói với tôi về Sài Gòn, mắt họ khi nào cũng đẫm lệ. Lần nào cũng thế cả. Tôi nghĩ TPHCM là nơi đã có nhiều người ra đi và là nơi nhiều người có người thân sống ở nước ngoài. Tôi thường kể là bà ngoại tôi có 9 người con, mẹ tôi là con cả nhưng bà luôn gọi mẹ tôi là “Hai”, nghĩa là đứa con thứ hai. Trong một thời gian dài, tôi đã hỏi tại sao. Nhưng không ai trả lời tôi cả. Phải đến khi tôi gặp ông Ngọc là một đạo diễn sân khấu nổi tiếng ở Việt Nam thì tôi mới tìm được câu trả lời. Ông ấy bảo rằng ở Việt Nam mọi người gọi như thế vì họ quan niệm luôn có một đứa con bị lãng quên ở đâu đó. Lời giải thích này dường như giúp tôi hiểu được cái cảm giác tôi đã có trước đây mà không biết tại sao. TPHCM là nơi của sự thiếu vắng và nước mắt. Đó chính là điều tôi muốn nói khi tôi dùng từ “hành trình nước mắt”. Và tôi muốn thể hiện hành trình này trong vở kịch SAIGON.

Trong cuốn tiểu thuyết có tính tự truyện “Người cha im lặng”(1) của nhà văn, nhà báo Pháp gốc Việt Doan Bui, chị ấy cũng viết rằng: “Những giọt nước mắt mà tôi chưa bao giờ nhìn thấy chảy trên má của cha mẹ tôi tạo nên hôm nay là một chiếc cầu nối giữa hiện tại và quá khứ, giữa con người mà họ đã từng là hiện nay và con người mà họ đã từng là trước đây, giữa nước Pháp và nước Việt, hai quê hương của họ.” Chị có nghĩ rằng những giọt nước mắt cũng là chiếc cầu nối giữa hiện tại và quá khứ, giữa nước Pháp và nước Việt trong lòng người tha hương ở vở kịch SAIGON không?

Tôi đã kể câu chuyện theo cách của tôi, nhưng rốt cuộc là tôi cảm nhận đúng những điều cô ấy đã nói. Những giọt nước mắt là chiếc cầu nối giữa quá khứ và hiện tại, giữa nơi này và nơi kia. Khi chúng tôi sáng tác vở Sài Gòn, tôi tự nhủ làm thế nào để vở kịch phải thể hiện đúng hình ảnh một Việt kiều: vừa ở quá khứ vừa ở hiện tại, vừa ở Pháp vừa ở Việt Nam. Đó phải là gạch nối giữa hai thời kỳ, giữa hai vùng địa lý. Và vở diễn phải là điểm quy nạp tất cả những điều này. Đó là tình cảnh của Việt kiều ngày nay: họ vừa là người Việt vừa không phải là người Việt, họ vừa đắm mình trong quá khứ vừa trong hiện tại, họ hiện hữu vừa ở nơi họ đang sinh sống vừa ở nơi chôn rau cắt rốn của họ. Tôi cảm nhận những điều đó rất rõ nét ở Việt kiều và và đó là điều làm tôi cảm thấy xúc động nhất.

Khung cảnh trong vở SAIGON là một nhà hàng Việt. Ta đang ở Sài Gòn hay Paris, năm 1956 hay 1996? Ta cũng không biết nữa. Có lẽ là ở cả 2 giai đoạn và cả 2 thành phố. Chính vì thế mà vở diễn đã bắt đầu bằng cảnh mẹ của Antoine, một Việt kiều, bỗng nhiên bị mất trí nhớ. Một chứng bệnh không nghiêm trọng, nhưng làm ta mất đi những cột mốc không gian và thời gian. Bà ấy không còn biết mình là ai, đang ở thời điểm nào. Và đối với tôi, có vẻ như bình thường khi một phụ nữ Việt kiều bị chứng mất trí nhớ này. Bà nói với con trai mình bằng tiếng Việt, điều bà chưa từng làm trước đây. Bà hỏi mình đang ở đâu… Một lỗ hổng không gian-thời gian đã mở đầu vở kịch. Khung cảnh của vở diễn cũng thế. Đó là một lỗ hổng không gian-thời gian.

Ẩm thực và âm nhạc hình như là hai “nguyên liệu” chính để chị “chế biến” vở kịch SAIGON? Tại sao chị chọn hai “nguyên liệu” này? Vậy còn ngôn ngữ và sự đánh mất ngôn ngữ thì sao ?

Ẩm thực và âm nhạc đóng vai trò quan trọng trong vở diễn vì các câu chuyện diễn ra trong một nhà hàng có sân khấu để hát karaoke, thứ giải trí ưa thích của người Việt. Ngay cả khi chúng ta kể cho nhau nghe những điều làm xáo trộn cuộc sống thì chúng ta cũng kể khi đang thưởng thức một bát phở hay uống một ly trà. Tương tự, khi có vài điều cần tâm sự, chúng ta bước lên sân khấu và cất lên một bản tình ca.

Ẩm thực cũng chịu sự tác động của cuộc sống tha hương. Món phở ở Việt Nam và món phở ở Pháp không giống nhau.

Vấn đề ngôn ngữ trong vở SAIGON là vô cùng quan trọng. Chắc đây là phần quan trong nhất trong vở diễn. Anh sẽ thấy điều này ở phần cuối của vở diễn, khi một Việt kiều về nước và nói thứ tiếng Việt không còn được sử dụng trong nước. Hay đó là Linh, một phụ nữ Việt kiều không dạy tiếng Việt cho con trai của mình. Điều này có nghĩa là gì? Trong gia đình tôi, chúng tôi có tổng cộng 18 người anh, chị, em họ. Thế mà không một ai nói tiếng Việt. Thường thì nhiều người Việt lập gia đình với những người không phải gốc Việt. Nhưng họ không dạy tiếng Việt cho con cái cũng là do mong muốn hội nhập. Họ sợ con cái mình hội nhập không tốt nếu chúng nói tiếng Việt ở nhà. Bản thân họ đã từng gặp khó khăn khi học tiếng Pháp. Vậy nên họ muốn việc này phải nhẹ nhàng hơn đối với con cái của họ.

Vấn đề ngôn ngữ cũng được bắt gặp trong giọng kể chuyện của vở kịch. Khi đến TPHCM, tôi có các phiên dịch đi cùng để giúp tôi hiểu những điều người khác nói. Thông qua các phiên dịch mà tôi đã bắt đầu cảm nhận cái đẹp trong tiếng Việt. Ví dụ có lần bạn phiên dịch đã dịch câu “tôi vẫn còn buồn” thành “cô ấy vẫn chưa hết nguôi ngoai nỗi đau của mình”. Trong tiếng Pháp, người ta không bao giờ nói vậy. Tôi thấy câu tiếng Việt này rất đẹp. Thế là tôi muốn lồng vào vở kịch một giọng kể chuyện của một cô gái đã học tiếng Pháp nhưng với một cái đầu và sự tưởng tượng của người Việt. Trong giọng kể chuyện này, có sự pha trộn ngôn ngữ mà tôi vừa đề cập. Vậy nên anh thấy đó, ngôn ngữ chiếm một vị trí rất quan trọng trong vở diễn.

Toàn cảnh sân khấu của vở kịch SAIGON

Chị có tham khảo một số tác phẩm nghệ thuật của những đạo diễn Việt kiều khác khi làm về Việt Nam? Bộ ba phim của đạo diễn Pháp gốc Việt Trần Anh Hùng về Việt Nam; bộ phim Three Seasons của đạo diễn Mỹ gốc Việt Tony Bùi (cũng chọn thời điểm trở về sau khi Mỹ dỡ bỏ lệnh cấm vận); tiểu thuyết của Linda Le, Thuận, Nguyen Thanh Viet… Nếu có, điều gì gây cảm hứng cho chị và điều gì khiến gì phải tạo ra một tác phẩm khác biệt?

Tôi có đọc một số trong các tác phẩm này sau khi sáng tác kịch bản Sài Gòn, nhưng trước đó thì không. Trong cách tôi sáng tác, tôi không muốn bị ảnh hưởng. Tôi cần phóng theo sự tưởng tượng của tôi để hình thành nên ngôn ngữ của riêng tôi.

Tôi đã đọc các tác phẩm của Doan Bui. Cô ấy đã viết nhiều về mối quan hệ của cô với gia đình. Tôi cũng đã đọc tác phẩm Ru của Kim Thuy, một Việt kiều sống ở Québec. Tôi đã bắt gặp nhiều điều tương đồng. Chính vì thế mà tôi đã nói vấn đề của tôi là vấn đề của “lịch sử và địa lý”. Một vài câu chuyện trong gia đình tôi gắn liền với cuộc sống tha hương và với vấn đề là Việt kiều. Đó không phải là một câu chuyện gia đình bị tách ra khỏi bối cảnh lịch sử và xã hội.

Một vài nhận định trên báo Pháp cho rằng vở kịch SAIGON của chị rất gần với điện ảnh và thậm chí có báo (Le Monde) so sánh vở kịch với bộ phim In the Mood for Love của đạo diễn Hongkong Vương Gia Vệ, đặc biệt là khả năng diễn ứng tác (không theo kịch bản) trên sân khấu hay cách sử dụng màu sắc, âm nhạc để phát triển cảm xúc… Chị nghĩ gì về nhận định này? Liệu sau sân khấu, chị có ý định làm phim và chuyển thể vở kịch Sài Gòn thành một tác phẩm điện ảnh?

Vâng, điện ảnh rất quan trọng đối với tôi. Tôi thường bắt gặp chính mình trong điện ảnh nhiều hơn là trong kịch nghệ. Trong đoàn kịch, chúng tôi thường chia sẻ cho nhau những bộ phim hay. Chúng tôi rất thích Vương Gia Vệ, nhưng chúng tôi thường nói nhiều đến Alejandro González Iñárritu (2). Ông ấy thường làm các bộ phim “choraux” (gồm nhiều tuyến truyện song hành) với nhiều nhân vật. Điều này đã gợi nhiều cảm hứng cho tôi và giúp tôi nhiều trong công việc dàn dựng vở kịch. Tôi có nghĩ đến việc làm một bộ phim từ vở Sài Gòn nhưng vẫn còn quá sớm để nói về việc này.

Sau khi trình diễn ở nhiều thành phố trên thế giới, vở kịch SAIGON sẽ được công diễn ngay tại Sài Gòn – TPHCM vào ngày 21, 22/9 này. Điều này có một ý nghĩa như thế nào với chị? Chị chờ đợi điều gì ở khán giả Sài Gòn, Việt Nam của ngày hôm nay và có điều gì chị muốn nhắn gửi đến họ?

Chúng tôi đang lưu diễn khắp thế giới. Nhưng những ngày biểu diễn ở Việt Nam chắc chắn là những ngày quan trọng nhất, có ý nghĩa nhất đối với chúng tôi. Trước hết, tôi rất vui vì các diễn viên và phiên dịch người Việt sau khi đã xa nhà từ 2 năm nay, nay đã có thể giới thiệu vở diễn cho người thân của mình. Tôi cũng rất vui vì các diễn viên Việt kiều có thể biểu diễn ngay tại Việt Nam. Và cuối cùng tôi vui vì những diễn viên Pháp có thể mang câu chuyện này đến Việt Nam.

Tôi không có thông điệp gì để nhắn gửi. Tôi chỉ kể chuyện và mong những câu chuyện đó có thể chạm được trái tim của khán giả. Chúng tôi cảm thấy vừa háo hức vừa chừng mực khi đến biểu diễn tại TPHCM. Câu chuyện mà chúng tôi kể là câu chuyện của nước Pháp, chứ không phải của Việt Nam, một câu chuyện ít được nhắc đến ở Pháp. Vì vậy, tôi cảm thấy cần phải nhắc để người Pháp không lãng quên nó, một câu chuyện vừa phức tạp vừa mãnh liệt. Câu chuyện này không chỉ thuộc về Việt kiều mà thuộc về tất cả những người Pháp. Và vở kịch cũng hoàn toàn có liên quan đến Việt Nam và đan xen với Việt Nam. Vì vậy, chúng tôi cảm thấy rất xúc động khi đến biểu diễn tại TPHCM.

Lê Hồng Lâm – Tuổi Trẻ cuối tuần

_____

Chú thích:

(1) Người cha im lặng là cuốn tự truyện của nhà văn, nhà báo Pháp gốc Việt Doan Bui do nhà văn Thuận chuyển ngữ và được Phương Nam Book & NXB Hội Nhà Văn phát hành năm 2018 tại Việt Nam.

(2) Đạo diễn người Mexico, ông đoạt 4 giải Oscar cho 2 bộ phim Hollywood thành công gần đây là Birdman (2015) và The Revenant (2017). Ông bắt đầu được thế giới biết đến với bộ phim Amores Perros (2000), sử dụng phong cách kể chuyện gồm nhiều tuyến truyện, tuyến nhân vật song hành mà Caroline Guiela Nguyễn đề cập.

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 45

Mùa lá đỏ trên con đèo 48 khúc cua ở Nhật

Con đèo Irohazaka chạy qua những vạt rừng mùa thu thay lá ngập tràn sắc đỏ, vàng tạo nên cảnh tượng ngoạn mục.

Irohazaka là một cặp đường đèo quanh co nối thành phố Nikko với vùng cao Oku-Nikko, thuộc tỉnh Tochigi, Nhật Bản. Ảnh:IkidaneNippon.
Mùa lá đỏ trên con đèo 48 khúc cua ở Nhật
Tên gọi của địa danh này được tạo thành từ hai yếu tố. Trong đó, “i-ro-ha” là ba ký tự đầu tiên trong bảng chữ cái 48 ký tự của tiếng Nhật trước đây; “zaka” có nghĩa là “độ dốc”. Ảnh: IkidaneNippon.
Mùa lá đỏ trên con đèo 48 khúc cua ở Nhật
Con đèo được đặt tên như vậy bởi nó có 48 khúc cua, cũng là số lượng chữ trong bảng chữ cái Nhật Bản. Mỗi khúc cua được đặt tên với một ký tự tương ứng. Ảnh: IkidaneNippon.
Mùa lá đỏ trên con đèo 48 khúc cua ở Nhật

Những đoạn đường đầu tiên được xây dựng vào năm 1954 và 1965. Đến nay, dù con đường đã được hiện đại hóa và nới rộng nhưng số lượng khúc cua vẫn giữ nguyên. Đây là tuyến đường duy nhất nối thành phố Nikko với vùng Oku-nikko. Ảnh: Japankuru.
Mùa lá đỏ trên con đèo 48 khúc cua ở Nhật
Đèo Irohazaka vào mùa thu nhìn từ vệ tinh. Ảnh: Google Maps.
Mùa lá đỏ trên con đèo 48 khúc cua ở Nhật
Hiện nay, con đường Irohazaka thứ nhất là lối đi xuống với 28 khúc cua có điểm dừng chân ngắm khung cảnh hai thác nước. Ảnh: Itchy Feet.
Mùa lá đỏ trên con đèo 48 khúc cua ở Nhật
Đường Irohazaka thứ hai có 20 khúc cua, chỉ dành cho các phương tiện đi lên cao nguyên Akechidaira. Ảnh:IkidaneNippon.
Mùa lá đỏ trên con đèo 48 khúc cua ở Nhật
Tuyến cáp treo đưa du khách từ bãi đỗ xe ở cao nguyên đến đài quan sát Akechidaira trong 3 phút với giá 750 yên (khoảng 150.000 đồng). Ảnh: IkidaneNippon.
Mùa lá đỏ trên con đèo 48 khúc cua ở Nhật
Từ đây, du khách có thể thấy núi Nantai, hồ Chuzenji và thác Kegon. Đây là nơi tốt nhất để nhìn ngắm vẻ đẹp lộng lẫy của thiên nhiên. Thời gian phổ biến nhất để đến Irohazaka là mùa thu, từ giữa tháng 10 đến đầu tháng 11 khi lá cây bắt đầu thay đổi màu sắc. Ảnh: AmusingPlanet.
Mùa lá đỏ trên con đèo 48 khúc cua ở Nhật
Một đoạn đèo Irohazaka nhìn từ trên cao. Ảnh: Pinterest.
Mùa lá đỏ trên con đèo 48 khúc cua ở Nhật
Thông thường, mất khoảng 20 đến 30 phút lái xe để đi hết con đèo Irohazaka. Nhưng vào dịp cuối tuần, lượng du khách đổ về đây tham quan rất đông khiến thời gian có thể lên tới 4 giờ. Ảnh: Ảnh: IkidaneNippon.
Mùa lá đỏ trên con đèo 48 khúc cua ở Nhật
Toàn cảnh vùng núi của tỉnh Tochigi. Ảnh: AmusingPlanet.
Kiều Dương (TheoVnexpress)
Theo Ikidane Nippon
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 36

Cô gái trẻ âm thầm trả tiền cho hai người lính cứu hỏa

Người ta nói lòng tốt là một vòng tuần hoàn: Khi bạn trao đi lòng tốt, nó sẽ trở về bên bạn. Khi bạn gieo mầm hạt giống thiện lương, nó sẽ kết hoa thơm trái ngọt. Và, câu chuyện dưới đây có lẽ sẽ cho bạn thêm niềm tin vào điều đó.

Liz Woodward là một nhân viên phục vụ trong một cửa hàng thức ăn nhanh phục vụ 24/24h tại New Jersey. Cô luôn bắt đầu ngày làm việc mỗi ngày lúc 4 giờ sáng, khi trời vẫn còn tờ mờ.

                                 Liz Woodward. Một ngày nọ, hai nhân viên cứu hỏa với gương mặt mệt mỏi bước vào của hàng nơi Liz đang làm việc và nói bằng giọng khản đặc: “Cô gái, cho chúng tôi hai tách cà phê espresso.”

Hai người họ vừa tham gia cứu hỏa cho một vụ cháy lớn. Ngọn lửa trong nhà kho vô cùng dữ dội. Họ đã chiến đấu với nó suốt 12 giờ và cả đêm không hề chợp mắt. Lúc này, họ đang vô cùng kiệt sức và rất cần một ly cà phê để tỉnh táo lại.

Có lẽ chẳng mấy người có thể hiểu được nỗi nhọc nhằn của những người làm lính cứu hỏa. 

 

Liz chăm chú lắng nghe câu chuyện của hai người lính cứu hỏa Paul và Tom trong khi pha cà phê. Cô rất cảm kích bởi những gì họ đã làm. Cô muốn mời họ 2 ly cà phê và chuẩn bị một bữa sáng thật ngon thay cho lời cảm ơn những người hùng thầm lặng. 

Trên mặt sau của hóa đơn, Liz viết: “Tôi đã trả tiền cho bữa ăn sáng ngày hôm nay. Cảm ơn sự đóng góp của các anh. Khi tất cả mọi người đều tìm cách thoát thân, các anh lại không màng tính mạng lao vào ngọn lửa. Bất kể trách nhiệm là gì, các anh là người dũng cảm, mạnh mẽ nhất, cũng là tấm gương tốt nhất cho tất cả mọi người. Cám ơn vì mọi việc các anh đã làm, hãy nghỉ ngơi thật tốt”.

Hai người đàn ông mạnh mẽ bỗng bật khóc sau khi đọc được những lời khích lệ ấm áp từ cô gái trẻ. Họ đã làm công việc này rất nhiều năm, chứng kiến biết bao nỗi đau thương tâm sau mỗi vụ hỏa hoạn, nhưng có lẽ chẳng mấy người có thể hiểu được nỗi nhọc nhằn của những người làm lính cứu hỏa. Sự quan tâm của một cô gái trẻ chưa từng quen biết đã chạm tới trái tim mềm yếu của họ. Liz nhìn hai người đàn ông đang rưng rưng nước mắt, hai người cũng nhìn Liz. Họ dành cho nhau ánh mắt ấm áp và nở nụ cười, cuối cùng vẫy tay từ biệt. 

Liz không ngờ rằng một hành động nhỏ của mình lại nhận được sự báo đáp lớn đến như vậy. (Ảnh: Liz Woodward Facebook)Sau khi trở về nhà, càng nghĩ về Liz, Tim càng cảm thấy cảm động. Anh đã chia sẻ câu chuyện này trên mạng xã hội, kèm theo lời nhắn gửi tới bạn bè: Hãy tới cửa hàng đầy ấm áp đó. Nếu như gặp được cô gái lương thiện này, hãy trả thêm một ít tiền.

Thật bất ngờ, chỉ trong một đêm, lời nhắn nhủ của Tim đã nhận được rất nhiều ủng hộ từ cư dân mạng. Tấm lòng lương thiện của Liz được truyền đi khắp nơi. Nhiều người còn đích thân tới cửa hàng để khen ngợi, ủng hộ với cô gái.

Lúc này, mọi người mới biết về hoàn cảnh của Liz. Trên thực tế, gia đình của Liz không giàu có, thậm chí là khá túng thiếu. Đầu năm 2010, cha cô bị liệt do tổn thương não. Gia đình không đủ khả năng mua một chiếc xe hơi  có hệ thống đưa xe lăn lên xuống, nên người cha bị ốm của cô quanh năm phải nằm trên giường. Còn Liz, cô phải gánh vác toàn bộ công việc gia đình. Hiện tại, cô đang làm 3 công việc bán thời gian suốt ngày đêm.

Sau khi biết được hoàn cảnh của Liz, chàng lính cứu hỏa Tim không thể diễn tả được tâm trạng của mình. Anh đã cùng với một số đồng nghiệp của mình lên kế hoạch giúp đỡ cô gái lương thiện này. Chẳng mấy chốc họ đã tạo ra một trang gây quỹ cộng đồng để mua một chiếc ô tô cho cha của Liz. Ban đầu họ chỉ kỳ vọng quyên góp được 17.000 USD, không ngờ rằng số lượng người tham gia rất lớn và số tiền thu được lên đến 86.000 USD.

Lòng tốt là một vòng tuần hoàn. Khi bạn trao đi lòng tốt, nó sẽ trở về bên bạn. (Ảnh: pinterest)


Khi Tim tới thăm cha của Liz và trao cho cô số tiền đó. Liz đã ôm lấy anh và bật khóc. Cảnh tượng này cũng khiến cho những anh chàng cứu hỏa đi cùng rơi nước mắt. Có lẽ Liz cũng không ngờ rằng một hành động nhỏ của mình lại nhận được sự báo đáp lớn đến như vậy. 

Được biết, trước khi cha của Liz bị liệt, ông đã làm “nhân viên khắc phục thảm họa” trong nhiều thập kỷ. Trong mỗi thảm họa, dù lớn hay nhỏ, ông đều lao vào hiện trường để hoàn thành công việc của mình mà không màng tính mạng của bản thân. Lòng tốt ấy của ông có lẽ đã truyền cho con gái mình, và rồi cuối cùng lại quay trở về bên cạnh ông.

Vậy nên, người ta mới nói: Lòng tốt là một vòng tuần hoàn. Khi bạn trao đi lòng tốt, nó sẽ trở về bên bạn. Khi bạn gieo mầm hạt giống thiện lương, nó sẽ kết hoa thơm trái ngọt.

Hải Dương

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 18

BÊN THỀM THU SẮP HẾT

Ôi sài gòn mùa thu trong tháng chín
Chỉ mưa nhiều nắng gắt đến hanh hao
Cây vẫn xanh người vội vã ồn ào
Nhiều chỉ lắm chênh chao vài chiếc lá

Ừ cuộc sống nên mọi người hối hả
Quên mất rồi một chiếc lá vàng bay
Để mùa thu rơi xuống tiếng thở dài
Theo mưa đổ bên ngoài hiên lất phất

Thu tháng chín sắp qua rồi đi mất
Chỉ còn tôi luyến tiếc lá vàng rơi
Cả mùa thu hoa cúc đẹp rạng ngời
Và chợt nhớ mối tình thời xưa quá

Thu tháng chín sài gòn đêm hối hả
Mưa hạt buồn lất phất cả màn đêm
Chợt góc xa đôi bạn trẻ ướt mèm
Hôn vội vã bên thềm thu sắp hết.

 Người Hy Vọng

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 20

VÀNG THU THÁNG CHÍN

Vàng thu tháng chín đong đưa
Thoáng màu hoa Cúc ai vừa mến trao
Ngỡ là tình thắm duyên nhau
Nghẹn ngào thu khóc như vào lãng quên

Vàng thu lá úa mông mênh
Tình xa tình ngỡ lênh đênh chốn nào
Nghe mùa thương cũ cấu cào
Dỗi hờn nỗi nhớ thì thào nắng mưa

Vàng thu tháng chín hương đưa
Tình ai hờ hững trêu đùa thoáng qua
Trách gì nhau những mặn mà
Có còn chăng…cũng đã xa úa vàng

Vâng mùa thu ấy có lần
Vô tình chạm những lỡ làng trong ta
Vàng thu tháng chín ngang qua
Níu màu hoa ấy vỡ oà bóng mây

Còn đây một sớm xuân gầy
Sắt se mùa úa dệt đầy tháng năm
Còn đây một đoá trăng rằm
Thắp lên màu nắng lặng thầm dáng thu !

Thu Trang

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 29

Người Việt trẻ ở Pháp níu giữ thế hệ thứ hai với nguồn cội

Cha mẹ trẻ gốc Việt muốn những đứa con của họ sinh ra ở Pháp sẽ bay cao, bay xa nhưng vẫn được sợi dây nguồn cội Việt níu giữ. 

“Úi giời ơi, mấy đứa trẻ đều là người Việt Nam mà lại không biết nói tiếng Việt à?”, chị Nguyễn Quỳnh Mai, sống hơn 20 năm ở Pháp, kể với VnExpress những lần về chơi hay bị các ông bà “mắng yêu” như vậy.

Chị Quỳnh Mai luôn nuôi dưỡng môi trường song ngữ ở nhà cho con gái lớn 10 tuổi và con trai 8 tuổi, ví dụ chị hoàn toàn giao tiếp bằng tiếng Việt với các con suốt ba năm đầu đời. Nhưng càng lớn các bé càng chuyển dần sang nói tiếng Pháp.

Câu chuyện gia đình nhà chị Mai cũng giống nhiều gia đình trẻ gốc Việt ở Pháp. Cha mẹ định cư ở Pháp để tận dụng cơ hội việc làm tốt hơn và cuộc sống chất lượng hơn so với ở quê nhà. Họ mang trong lòng nỗi nhớ Việt Nam da diết và cảm giác giằng xé giữa quê hương mới và quê hương cũ. Nhưng con cái họ, thế hệ thứ hai sinh ra ở Pháp, mặc dù được cha mẹ dạy dỗ trong môi trường gia đình đậm đặc tính truyền thống Việt Nam, các bé vẫn bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi văn hóa và ngôn ngữ Pháp.

Hiểu về cội nguồn

Chị Quỳnh Mai thừa nhận gặp nhiều khó khăn khi hướng con tìm hiểu về quê hương. Chị kể ngay khi con gái Linh Chi bắt đầu đi học mẫu giáo, chị đặt ra quy định về nhà chỉ nói tiếng Việt. Sau một thời gian, chị nhận thấy Linh Chi ngày càng ít nói chuyện với mẹ mà chỉ nói chuyện với bố. “Lúc đầu tôi tưởng con bé giận dỗi nhưng hóa ra không phải. Một lần gặng hỏi, cháu bảo ‘Con phải dịch cho mẹ từ tiếng Pháp sang tiếng Việt. Mệt lắm'”, chị Quỳnh Mai bật cười kể lại. Và lúc đó, chị hiểu rằng mình phải tạo ra nhu cầu học tiếng Việt cho con, phải có môi trường để cháu tiếp cận với ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam.

Nghĩ là làm, chị Quỳnh Mai, cùng các ông bố bà mẹ ở Paris, xây dựng nhóm Cánh Diều để các con thực hành tiếng Việt thông qua các hoạt động múa, học vẽ, tập võ và ca hát.

Video Player is loading.

0:16
/
0:23
Loaded: 0%

Progress: 0%

Lớp học võ tại Cánh Diều tổ chức ở một văn phòng trên phố Rue du Caire, Paris, Pháp. Nguồn: Cánh Diều

Là người đồng sáng lập ra nhóm Cánh Diều, tiến sĩ Giáo dục học Nguyễn Thụy Phương, nhà nghiên cứu tại đại học Genève & Paris Diderot kiêm giám đốc Hội Chuyên gia và Khoa học Việt Nam Toàn cầu, cho rằng ngay từ khi những đứa trẻ gốc Việt sinh ra ở nước ngoài chưa ý thức được về “nhận dạng bản thể cá nhân”, về nguồn gốc hay sự khác biệt về hình thức của mình với số đông còn lại, chúng đã thường xuyên đối mặt với những nhận xét hay câu hỏi của mọi người xung quanh như “Con là người Việt, người Pháp hay người Trung Quốc?”.

“Và điều đó làm cho trẻ sớm ‘tự vấn’ về mình”, chị Thụy Phương nói.

Tất cả các phụ huynh nhận lời trả lời phỏng vấn của VnExpress đều thừa nhận rằng khi đi học, các con thấy mình khác biệt so với bạn. Ban đầu, các bé không chấp nhận điều này. Và để giống các bạn, các bé “từ chối nói tiếng Việt, chỉ nói tiếng Pháp”. Tuy nhiên, sau một thời gian tham gia Cánh Diều, bọn trẻ gặp rất nhiều bạn đồng trang lứa nói được cả hai thứ tiếng. “Tự nhiên, các con tự tin hơn, không cảm thấy mình trơ trọi một mình nữa”, chị Quỳnh Mai nhận xét.

Theo nhiều nghiên cứu khoa học, trong giai đoạn trưởng thành, thế hệ nhập cư thứ hai thường phải đấu tranh, thậm chí vật lộn để xác định “bản sắc” của mình. Mặc dù, thông thạo ngôn ngữ và hòa nhập về mặt văn hóa với xã hội nơi được sinh ra, thế hệ thứ hai vẫn ám ảnh về sự khác biệt của mình so với mọi người xung quanh. Trong bài nghiên cứu về thế hệ nhập cư châu Á của thạc sĩ Nazli Kibri tại trường đại học Johns Hopkins, Mỹ, diễn biến tâm lý này trỗi dậy mạnh mẽ nhất trong thời niên thiếu khi con người bắt đầu nhận thức về “cái tôi”.

“Với tôi, các con có thể nói tốt tiếng Việt vô cùng quan trọng. Hiểu về cội nguồn của mình là một nhu cầu rất tất yếu của con người”, chị Quỳnh Mai giải thích khi biết tiếng Việt, bọn trẻ sẽ hiểu về văn hóa của dân tộc và đặc tính của con người Việt Nam. “Như vậy các con sẽ trả lời được câu hỏi ‘Tôi là ai?'”

Nỗi niềm của người xa xứ

Các bé trong nhóm Cánh Diều chụp vào tháng 1/2016. Ảnh: Trung Kiên. 

Các bé trong nhóm Cánh Diều chụp vào Tết Bính Thân năm 2016. Ảnh: Trung Kiên. 

Anh Trung Kiên, kỹ sư công trình xây dựng hệ thống tàu điện ngầm, sang Pháp từ năm 2002 để học đại học. Sau đó, Trung Kiên quyết định định cư và xây dựng tổ ấm trên đất Pháp. Hiện hai vợ chồng Trung Kiên và ba con từ 8 đến 1 tuổi đang sống ở Paris. Tương tự, anh Hoàng Phương sang Pháp năm 2005 học thạc sĩ về kiến trúc, rồi thực tập ở các công ty và được nhận vào làm chính thức, sau đó anh ổn định cuộc sống với gia đình ở Kinh đô Ánh sáng. 

Anh Trung Kiên và Hoàng Phương, cùng vợ của họ, đều là những trí thức trẻ sinh ra và lớn lên ở Việt Nam sau đó sang Pháp học tập và lập nghiệp. Họ thuộc làn sóng nhập cư người Việt đến Pháp sau năm 1975. “Không giống các thế hệ di tản trong chiến tranh, mình không giữ trong lòng uẩn khúc gì với quê nhà nên không có lý do gì mà không khích lệ các con nói tiếng Việt”, Trung Kiên nói. Bên cạnh đó, việc đi lại giữa Pháp và Việt Nam dễ dàng hơn trước kia nên thế hệ thứ hai càng có điều kiện và nhu cầu tìm hiểu về văn hóa quê hương. 

Đại sứ quán Việt Nam tại Pháp dẫn kết quả một cuộc điều tra dân số của Pháp ước tính số người Việt Nam hiện gần 300.000 người, chủ yếu những người đã nhập quốc tịch Pháp hoặc thường trú dài hạn. Cộng đồng người Việt là một trong 80 cộng đồng người nước ngoài sinh sống tại Pháp nổi tiếng nhờ sự hội nhập thành công vào xã hội Pháp, mối quan hệ tốt đẹp với người dân địa phương và niềm đam mê tri thức. Nhiều người có trình độ học vấn cao và có một vị trí tốt, thu nhập cao trong xã hội Pháp. Trên thực tế, khoảng 40.000 người Việt Nam có bằng đại học hoặc sau đại học trong các chuyên ngành khác nhau. Đa phần người Việt định cư ở các thành phố lớn và sầm uất như thủ đô Paris với khoảng 70.000 người và thành phố cảng Marseille hơn 20.000 người.

Anh Trung Kiên cho các con tham gia tích cực nhóm Cánh Diều từ khi mới chỉ 3-4 tuổi. Các phụ huynh rất tâm đắc với các tên Cánh Diều vì nó hàm chứa ước mong những đứa trẻ gốc Việt sinh ra và lớn lên ở Pháp ngày một bay cao bay xa nhưng vẫn có một sợi dây nguồn cội níu giữ.

Mỗi tháng hai lần, vào Chủ nhật, một văn phòng chật hẹp ở quận trung tâm của Paris lại rộn ràng tiếng cười đùa của khoảng 30 đứa trẻ chen chúc trong các lớp học múa, học vẽ, học võ và ca hát kể chuyện.”Cánh Diều là một nơi để các gia đình Việt sống ở Pháp gặp gỡ nhau và giao thoa với nhau, mỗi gia đình đóng góp một góc nhìn riêng về văn hóa Việt Nam. Từ đó các con có sự chia sẻ và tăng vốn văn hóa, ngôn ngữ của các cháu”, Trung Kiên nói.

Ông bố 35 tuổi kể rằng trước kia, các con anh toàn nói tiếng Việt không dấu. Bố mẹ ở nhà hàng ngày không nhận ra điều đó mãi cho đến khi bạn bè hoặc họ hàng từ Việt Nam sang mới phát hiện ra. “Giờ chúng nói tốt hơn nhiều rồi, đã biết đọc truyện tranh cho bố mẹ nghe và có dấu đàng hoàng”.

Nhóm Cánh Diều học vẽ cây đào nhân dịp Tết Mậu Tuất 2018. Ảnh: Hoàng Phương.

Nhóm Cánh Diều học vẽ cây đào nhân dịp Tết Mậu Tuất 2018. Ảnh: Hoàng Phương.

Trong khi đó, anh Hoàng Phương, thầy dạy vẽ tại Cánh Diều hơn 4 năm, luôn cố gắng lồng ghép chủ đề về văn hóa Việt Nam vào các bài tập vẽ nhằm khơi gợi trí tò mò của các con về quê hương. “Bọn tôi ở bên này có một nỗi sợ là sợ con cái quên mất nguồn gốc của mình. Quốc tịch Pháp chỉ là trên giấy tờ thôi. Trong đầu lúc nào cũng nghĩ là mình là người Việt Nam chứ không phải người Pháp”, anh Hoàng Phương bày tỏ.

Cứ vào mỗi dịp Tết, cộng đồng người Việt sinh sống ở Paris lại tổ chức chương trình ca nhạc với quy mô lớn để kết nối những người con xa xứ. Tết Mậu Tuất năm nay, riêng đội hậu cần đã lên tới 700 người. 

Cánh Diều đóng góp màn múa múa công của các mẹ và các con. Và sau đó, các con hát bài “Long Phụng Sum Vầy”. Trong khi, bọn trẻ lên sân khấu biểu diễn sau hơn hai tháng tập luyện chăm chỉ, bố mẹ ở dưới hò hét, cổ vũ tưng bừng. “Chúng tôi xúc động nhất trong những dịp như thế khi xung quanh mình toàn là người Việt, tất cả mọi thứ đều liên quan đến Việt Nam. Nhìn các con trên sân khấu, cảm giác như kiểu trồng cây tới ngày hái quả ngọt vậy”, anh Hoàng Phương nói.

Hạnh Phạm

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 15

TỊNH KHẨUTỊNH KHẨU

Inline image

Trong chùa, có một anh câm. Không ai nhớ anh ta đến chùa từ bao giờ, vả lại cũng không mấy người để ý đến anh ta. 

Anh ta lo mấy sào vườn ở sau chùa, lúc thì trồng rau, lúc thì trồng đậu, làm việc rất là siêng năng. Lúc rảnh, anh ta vào bếp giã gạo và vào những ngày sóc vọng, chùa đông khách, anh ta giúp việc dưới bếp, và rửa bát ở bờ ao cạnh bếp.
 
Vì anh ta câm, nên chẳng ai nói với anh và nếu có việc cần nói thì phải ra hiệu. Hết việc, tối nào anh cũng quanh quẩn ở trên chánh điện, quét dọn, lau chùi, và mỗi năm vào kỳ Kết hạ, mỗi lúc có khóa giảng thì anh ta cầm chổi đứng gần cửa phòng hội, ra vẻ đang quét nhà, nhưng thật ra là nghe giảng kinh …
 
Một ngày kia, không thấy anh, vị tri sự bước vào căn phòng nhỏ xíu của anh ở góc vườn, lúc đó mới biết rằng anh câm bị đau, sốt nặng không dậy được. Vị tri sự trình Tổ và mọi người thấy Tổ vào thăm anh câm. Ngài ngồi với anh rất lâu và khi Ngài trở về phòng, nét mặt trang nghiêm của Ngài thoáng vẻ hân hoan.
 
Từ hôm ấy, chú tiểu ngày hai ba lần mang cháo vào cho anh câm và Tổ mỗi khi xuống thăm thì ngồi cả giờ, mọi người cho rằng anh câm có phúc, được Tổ thương và nếu có mệnh hệ nào thì được Ngài độ cho.
 
Vào đúng giờ Ngọ hôm đó, người ta thấy Tổ chậm rãi bước ra khỏi phòng anh câm và khi Tổ nhận thấy mọi người chắp tay vây quanh thì Tổ nói rất ngắn: “Ngài đã viên tịch rồi”.

Ai ai cũng tỏ vẻ ngạc nhiên: Tổ gọi anh câm cuốc vườn là Ngài! Tổ là một thiền sư đạo hạnh nổi tiếng không những trong vùng, mà ngay cả ở chốn kinh kỳ xa xôi nữa. Nhưng không ai dám hỏi Tổ cả.
 
Cho đến khi làm lễ hoả thiêu xong, bài vị của anh câm đã được đặt trên chùa, và khóa cầu siêu thường lệ chấm dứt, mọi người được nghe Tổ nói như sau:
 
“Thật ra, vị chấp tác làm vườn ở chùa ta là một vị tăng, không những là một vị tăng ở kiếp này, mà là từ kiếp trước. Kiếp trước, Ngài tu hành tinh tấn, nhưng Ngài vẫn tái sinh làm kiếp người, chưa lên được cõi trên vì nghiệp của Ngài còn nặng. Kiếp này, Ngài lại tu nữa, và do ta giúp đỡ, Ngài biết rằng Ngài chưa xóa được khẩu nghiệp. Vì thế Ngài phát nguyện tu tịnh khẩu nghiệp. Ngài tịnh khẩu, ai cũng tưởng là Ngài câm. Đến nay thân, khẩu, ý của Ngài đều đã thanh tịnh nên Ngài đã ngộ, vì thế ta mới nói rằng Ngài tịch diệt. Bàn thờ Ngài ở kia, có thể bỏ đi được, nhưng thôi hãy cứ để đấy, không phải là để cúng Ngài, mà chính là để nêu cái gương tu hành cho mọi người.”
 
Người nghe chuyện, ai ai cũng yên lặng cúi đầu, nghiền ngẫm về sự tu hành. Từ ngày đó, trong chùa, không ai bảo ai, người ta chỉ nói vừa đủ, những mong đến lúc nào đó tịnh được khẩu nghiệp, thoát khỏi sinh tử luân hồi như vị bồ-tát đóng vai anh câm làm việc sau chùa. 
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 23

18 Nơi Cổ Xưa Nhất Ở Sài Gòn

01. Ngôi trường xưa nhất

Trường Lê Quý Đôn được xây vào năm 1874, hoàn tất năm 1877 do người Pháp quản lý. Lúc đầu trường có tên Collège Indigène (Trung học bản xứ), rồi đổi thành Collège Chasseluop Laubat. Năm 1954, trường mang tên Jean Jacques Rousseau. Năm 1967, trường được trả cho người Việt quản lý mang tên Trung tâm giáo dục Lê Quý Đôn. Từ năm 1975 đến nay đổi tên là trường Trung học phổ thông Lê Quý Đôn. Hơn một thế kỷ qua trường vẫn giữ được kiến trúc ban đầu.
02.Nhà máy điện xưa nhất

Nhà máy điện Chợ Quán được xây vào năm 1896, máy phát điện chạy bằng hơi nước có 5 lò hơi với 150m2, cung cấp dòng điện 3 pha, công suất chưa tới 120MW [Megawatt]. Máy phát điện chính công suất 1000A/h [A=Ampere hay Amp./h=hour]. Hiện nay, nhà máy đã được trang bị hiện đại với 7 máy phát điện, hòa với lưới điện quốc gia cung ứng phần quan trọng cho lưới điện thành phố. Nhà máy tọa lạc tại số 8 Bến Hàm Tử, quận 5.
 

03. Bệnh viện xưa nhất

Bệnh viện Chợ Quán được xây vào năm 1826 do một số nhà hảo tâm đóng góp, sau đó hiến cho nhà nước. Năm 1954-1957 [Bệnh viện được] giao cho Quân đội và đổi tên thành Viện Bài lao Ngô Quyền. Năm 1974, đổi thành Trung tâm Y tế Hàn-Việt với 522 giường. Tháng 9/1975, mang tên Bệnh viện Chợ Quán. Đến ngày 5/9/1989 chuyển thành Trung tâm Bệnh Nhiệt đới. Hiện nay có 610 Cán bộ-Công nhân viên và 550 giường bệnh.

04. Nhà hát xưa nhất

Nhà hát thành phố do kiến trúc sư người Pháp khởi công và hoàn tất vào ngày 17/1/1900. Các phù điêu bên trong được một họa sĩ tên tuổi ở Pháp vẽ giống như mẫu của các nhà hát ở Pháp cuối thế kỷ XIX. Nhà hát là nơi trình diễn ca nhạc kịch cho Pháp kiều xem. Năm 1956-1975, Nhà hát được dùng làm trụ sở Hạ nghị viện cho các chính phủ Đệ I & II Việt Nam Cộng Hòa; tháng 5/1975 trở thành Nhà hát thành phố với 750 chỗ ngồi. Kỷ niệm 300 năm Sài Gòn, toàn bộ phần kiến trúc bên ngoài Nhà hát đã được tu sửa lại như lúc nguyên thủy.
05. Khách sạn xưa nhất

Khách sạn Continental tọa lạc tại 132-134 Đồng Khởi, được xây vào năm 1880 do Kiến trúc sư người Pháp thiết kế, tên khách sạn có ngay từ những ngày đầu. Sau ngày cướp được miền Nam, khách sạn Continental bị Bắc Việt đổi thành Hải Âu. Đến năm 1989, khách sạn được nâng cấp, chỉnh trang và lấy lại tên cũ Continental với diện tích 3430m2, cao 3 tầng, nơi đây đã từng đón tiếp các vị tổng thống, thống đốc, nhà văn, người mẫu nổi tiếng. Ngày nay, khách sạn Continental là một trong những khách sạn đạt tiêu chuẩn quốc tế.

06. Nhà thờ xưa nhất
Nhà thờ Chợ Quán tọa lạc tại số 20 Trần Bình Trọng, P.2 [phường], Q.5 [quận] được xây vào năm 1674 là nhà thờ cổ nhất tại Sài Gòn và cổ nhất ở miền Nam. Ngôi thánh đường nằm ở vị trí trung tâm, có kiến trúc kiểu phương Tây, lợp ngói đỏ, có thể chứa khoảng 1000 người. Ngoài việc sinh hoạt tôn giáo, Họ đạo Chợ Quán tích cực tham gia công tác xã hội giúp đỡ người nghèo. Trải qua hơn 3 thế kỷ Nhà thờ Chợ Quán đã được trùng tu nhiều lần. Hiện nay, nơi đây có phòng khám và phát thuốc từ thiện dưới quyền quản lý của Hội Chữ thập đỏ [Hội Hồng Thập Tự] Quận 5.
07. Ngôi đình xưa nhất

Một trong những ngôi đình cổ nhất của đất Gia Định xưa và xưa nhất Nam Bộ là đình Thông Tây Hội, được xây vào khoảng năm 1679, là chứng tích còn nguyên vẹn nhất của thời kỳ dân Ngũ Quảng kéo vào khai khẩn vùng Gò đất có nhiều cây Vắp (từ đó trở thành tên địa phương là Gò Vấp). Đình lúc đầu là của thôn Hạnh Thông–thôn khởi nguyên của Gò Vấp, sau đổi thành Thông Tây Hội (do sự sáp nhập của thôn Hạnh Thông Tây (thôn Mới) và thôn An Hội). Đình Thông Tây Hội có vị Thành Hoàng rất độc đáo. Hai vị thần thờ ở đình là hai hoàng tử con vua Lý Thái Tổ, do tranh ngôi với thái tử Vũ Đức nên bị đày đi khai hoang ở vùng cực Nam tổ quốc và trở thành “Thủy tổ khai hoang” trong lịch sử Việt Nam; hai vị thần đó là: Đông Chinh Vương và Dục Thánh Vương. Ngôi đình còn giữ được khá nguyên vẹn về quy mô và kiến trúc, kết cấu, với những chạm khắc đặc trưng Nam bộ. Đình Thông Tây Hội thuộc P.11, Gò Vấp.

08. Nhà văn hóa xưa nhất

Cung Văn hóa Lao Động. Năm 1866, với tên gọi Cèrcle Sportif Saigonnais được xây dựng làm sân thể thao cho các quan chức người Pháp với những hồ bơi, sân quần vợt, phòng đấu kiếm và phòng nhảy đầm. Thời Mỹ chiếm đóng, sân chơi được mở rộng hơn [và] phục vụ cho cả giới quý tộc. Tháng 11/1975, Ủy ban Quân quản Sài Gòn–Gia Định trao toàn bộ khu này cho Liên đoàn Lao động Thành phố để biến cải thành khu hoạt động văn hóa thể thao và vui chơi giải trí cho công nhân lao động, lấy tên là Câu lạc bộ Lao Động, sau đổi thành Nhà văn hóa Lao Động, và rồi là Cung Văn hóa Lao Động. Diện tích 2.8ha, với 132 năm hình thành và phát triển, Cung Văn hóa Lao Động là Nhà văn hóa cổ và lớn nhất của Sài Gòn.

09. Công viên lâu đời nhất

Thảo Cầm Viên do người Pháp xây vào năm 1864, nhà thực vật học nổi tiếng người Pháp Louis Pierre làm giám đốc đầu tiên. Mục đích xây dựng Thảo Cầm Viên để ươm cây giống trồng dọc các đại lộ Sài Gòn, đồng thời là nơi nuôi & trồng những động & thực vật [thuộc] miền nhiệt đới mà các Thảo Cầm Viên của Pháp [lúc bấy giờ] chưa có. Năm 1865, chính phủ Nhật đã hỗ trợ khoảng 900 giống cây quý như: Chizgnamat, Goyamtz, Acamatz, Coramatz, Kayanoki, Kayamaki, Enoki, Maiki, Asoumaro, Sengni, Momi, Cashi, Kiaki, Inoki… Động vật của Thảo Cầm Viên khá phong phú như: gà lôi, sếu, cu gáy, hồng hoàng, công, hưu, nai, cọp, khỉ, chồn hương, tắc kè, rùa, cọp xám, báo đen, gà lôi xanh, chim cú lợn… Đến năm 1989, Thảo Cầm Viên được trùng tu, mở rộng và nhận thêm nhiều giống thú mới, trồng thêm cây quý. Hiện nay, có 600 đầu thú thuộc 120 loài, 1823 cây gỗ thuộc 260 loài và nhiều loại cây kiểng quý trên diện tích 21.352m2. Năm 1990, Thảo Cầm Viên là thành viên chính thức của Hiệp hội các vườn thú Đông Nam Á. Thảo Cầm Viên đã tròn 134 tuổi, số lượng động & thực vật ngày càng tăng, nơi đây đã gắn bó với từng bước đi lên của thành phố và là một trong những công viên khoa học lớn nhất Đông Dương.
10. Ngôi nhà xưa nhất

Ngôi nhà có tuổi thọ lâu đời nhất còn hiện diện tại Sài Gòn nằm trong khuôn viên Tòa Tổng Giám Mục Sài Gòn, số 180 Nguyễn Đình Chiểu, P.6, Q.3. Năm 1790, Vua Gia Long cho cất ngôi nhà này ở gần Rạch Thị Nghè làm nơi ở cho Linh Mục Bá-Đa-Lộc và làm nơi dạy học cho Hoàng tử Cảnh. Ngôi nhà được xây bên bờ sông Thị Nghè trong địa phận Thảo Cầm Viên bây giờ. Năm 1799, Bá-Đa-Lộc chết, ngôi nhà được giao cho linh mục khác. Từ năm 1811 đến năm 1864 ngôi nhà bị đóng cửa vì chính sách cấm đạo của triều đình Huế. Sau khi vua Tự Đức ký hòa ước với Pháp, ngôi nhà được trao lại cho Tòa Giám Mục và được di chuyển về vị trí đường Alexandre de Rhodes hiện nay. 

Sau đó năm 1900 Tòa Giám Mục được xây cất tại 180 đường Richaud (nay là đường Nguyễn Đình Chiểu) thì ngôi nhà gỗ lại được dời về đây làm nhà thờ của Tòa Giám Mục. Ngôi nhà 3 gian 2 chái, lợp ngói âm dương, sườn, cột bằng gỗ, khung cửa và các khung thờ đều được chạm trổ công phu [với] hình hoa, lá, chim thú, hoa văn. Trong các di vật còn lại của ngôi nhà có một di vật có giá trị lịch sử lớn, đó là đôi liễn gỗ có tám chữ triện khảm xà cừ là tám chữ vua Gia Long ban tặng giám mục Bá-Đa-Lộc, một bên là “Tứ Kỳ Thịnh Hy”, một bên là “Thần Chi Cách Tư”.

Ngôi nhà được tu sửa vào năm 1980, cách tu sửa có tính chất vá víu, cốt giữ lại những gì có thể giữ được. Trải qua hai thế kỷ ngôi nhà không giữ được nguyên trạng nhưng đây là một di tích kiến trúc mang dấu ấn lịch sử, tôn giáo và văn hóa nghệ thuật. Đây là một tài sản có giá trị mà các bậc tiền nhân đã để lại cho chúng ta, không chỉ là truyền thống – bản sắc dân tộc mà còn là bộ mặt quá khứ mang tính văn hóa kiến trúc, một khía cạnh văn minh tại một vùng đất mới mọc lên từ đầm lầy, kênh rạch.

11. Ngôi chùa xưa nhất

Ngôi chùa có cảnh trí đẹp nhưng nằm ở địa điểm không tiện đi lại nên được ít người biết đến, [đó] là chùa Huê Nghiêm, tọa lạc ở 20/8 Đặng Văn Bi, Thủ Đức. Chùa được thành lập năm 1721 do Tổ Thiệt Thùy (Tánh Tường) khai sáng. Tên chùa lấy từ tên bộ kinh Hoa Nghiêm. Đây là chùa cổ xưa nhất trong các chùa ở TP Sài Gòn nên còn gọi là Huê Nghiêm Cổ Tự. Những ngày đầu là một ngôi chùa nhỏ được xây cất trên vùng đất thấp cách địa thế chùa hiện nay khoảng 100m. Sau đó, Phật tử Nguyễn Thị Hiên pháp danh Liễu Đạo cúng đất để xây lại ngôi chùa rộng rãi khang trang như hiện nay. 

Qua nhiều lần trùng tu vào các năm 1960, 1969, 1990 mặt tiền chùa ngày nay mang dáng vẻ kiến trúc của chùa hiện đại nhưng các gian phía trong vẫn giữ nguyên kiến trúc cổ truyền, mái gian mặt tiền được cấu trúc gồm 3 lớp, nhỏ dần về phía trên. Các đường gờ mái chạy dài xuống cuối đầu đăng đều trang trí bằng hoa văn hình cánh sen đối xứng, giữa là hình bánh xe luân pháp, đặt trên hoa sen. Mái lợp ngói ống màu đỏ, đường viền mái ngói màu xanh. 

Vườn chùa có nhiều cây xanh bóng mát, có 9 ngôi tháp cổ với nhiều kiểu dáng khác nhau như những cánh sen vươn lên. Những hàng cột gỗ trong chùa được khắc nổi các câu đối bằng chữ Hán màu đen kết hợp với việc chạm khắc mô típ “long ẩn vân” dùng trang trí.

Chùa Huê Nghiêm là một di tích Phật giáo quan trọng, là nơi dừng chân, sống đạo và hành đạo của nhiều vị danh tăng uyên thâm Phật pháp, có đạo hạnh và có đạo đức. Chùa cũng là bằng chứng về trình độ kiến trúc và phong tục tập quán của người Việt trên vùng đất mới khai phá, mở ra nền văn minh trên vùng đất hoang sơ.
12. Đường sắt đầu tiên ở thành phố

Tuyến đường sắt đầu tiên ở nước ta là đoạn đường sắt Sài Gòn–Mỹ Tho dài 71km, được xây vào năm 1881. Ga chính trước chợ Bến Thành, văn phòng đường sắt là tòa nhà 2 tầng chiếm cả khu đất bao bọc bởi ba đường Hàm Nghi–Huỳnh Thúc Kháng–Nam Kỳ Khởi Nghĩa, nay là Xí nghiệp Liên hợp đường sắt khu vực 3. Xe lửa chạy bằng máy hơi nước phải dùng than củi đốt nồi súp-de nên xe chạy khá chậm. Vì không cạnh tranh nổi với xe đò trong việc chuyên chở hàng hóa và hành khách, đường xe lửa Sài Gòn–Mỹ Tho đã ngưng hoạt động từ lâu. Sau năm 1975, Ga xe lửa Sài Gòn được dời về Ga Hòa Hưng. Vào ngày 8/8/1998, người ta khởi công xây cất Trung Tâm Văn Hóa Thương Mại Sài Gòn trên nền Ga Sài Gòn cũ.

13. Người Việt đầu tiên viết sử Việt Nam bằng tiếng Pháp

Ông Trương Vĩnh Ký (1837-1898). Năm 1859, Pháo hạm Pháp bắn vào cửa biển Đà Nẵng và thành cũ Gia Định, triều đình nhà Nguyễn bắt buộc chấp nhận mở cửa đất nước cho tư bản thực dân Pháp xâm nhập. Trong giai đoạn lịch sử mới, người Việt Nam từng bước tiếp xúc với ngôn ngữ và văn minh mới. Trương Vĩnh Ký là một trong những người sớm tiếp xúc và hấp thụ ngôn ngữ văn hóa phương Tây đã trở thành học giả có nhiều sáng tác nhất bằng cả tiếng Pháp và tiếng Hán–Việt. Ông là người Việt Nam đầu tiên viết sử Việt Nam bằng tiếng Pháp. Cuốn “Giáo trình lịch sử An Nam” đã được xuất bản gồm hai tập dày 462 trang. Đây thực sự là một công trình bác học biên soạn công phu dưới ánh sáng của một phương pháp luận khoa học tiến bộ so với đương thời.

14. Tờ báo bằng chữ Quốc Ngữ đầu tiên
Tờ “Gia Định Báo” là tờ báo chữ Quốc ngữ đầu tiên ở nước ta ra đời tháng 4/1865. Tờ báo đăng những thông tin nghị định của nhà nước và những tin kinh tế xã hội, lời bàn về thời cuộc, luân lý, lịch sử. Báo ra hằng tháng. Sau 4 năm phát hành, chính quyền thuộc địa cho phép báo phát hành hàng tuần bằng quyết định số 51 ngày 18/3/1869.
15. Tờ báo đầu tiên của Phụ nữ Việt Nam

Ngày 1/2/1918 tờ báo chuyên về Phụ nữ đầu tiên ra đời là tờ “Nữ Giới Chung” nhằm nâng cao trí thức, khuyến khích công-nông-thương, đề cao người Phụ nữ trong xã hội, chú trọng đến việc dạy đức hạnh, nữ công, phê phán những ràng buộc đối với Phụ nữ, đánh đổ mê tín dị đoan, động viên Phụ nữ quan tâm đến việc “Nữ quyền”. Muốn có vị trí ngang hàng với nam giới ngoài việc tề gia nội trợ phải am hiểu “tình trong thế ngoài”.

Chủ bút tờ báo là nữ sĩ Sương Nguyệt Anh, con gái nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu, vốn có lòng yêu nước, yêu thương đồng bào như thân phụ nên khi làm báo Bà có ý muốn làm diễn đàn để tỉnh thức lòng yêu nước trong dân chúng. Tuy chỉ tồn tại được hơn 6 tháng nhưng “Nữ Giới Chung” cũng đã gióng lên một hồi chuông nữ quyền còn vang mãi đến ngày nay.

16. Cuốn từ điển tiếng Việt đầu tiên
“Đại Nam Quốc Âm Tự Vị” là cuốn từ điển tiếng Việt quốc ngữ La-tinh của Huỳnh Tịnh Của gồm hai tập: Tập I xuất bản năm 1895, tập II xuất bản 1896 tại Sài Gòn. Bộ từ điển chứa nhiều từ ngữ xưa, thành ngữ, tục ngữ, từ ngữ về thảo mộc, cầm thú của Việt Nam và của miền Nam. Bộ từ điển này trở thành Từ điển Bách khoa toàn thư đầu tiên về Nam Bộ.

17. Người kiến trúc sư Việt Nam đầu tiên

Ông Nguyễn Trường Tộ (1828-1871) người làng Bùi Chu, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Gia đình ông theo đạo Thiên Chúa, ông giỏi chữ Nho, thông hiểu Ngũ Kinh Tứ Thư, học chữ Quốc ngữ và chữ Pháp với các giáo sĩ. Ông được giám mục Gauthier đưa sang Paris năm 1858. Ông am hiểu chính trị, kinh tế, quân sự, ngoại giao, pháp luật. Năm 1861 ông trở về nước, tàu ghé Sài Gòn thì nơi đây đã đổi chủ, ông buộc phải làm phiên dịch cho người Pháp.

Trong lúc ở Sài Gòn, ông đã đứng ra xây cất tu viện dòng thánh Phao-lô (số 4 Tôn Đức Thắng). Đây là công trình xây cất theo kiến trúc Châu Âu do người Việt Nam thực hiện tại Sài Gòn. Công trình được khởi công từ tháng 9/1862 đến 18/7/1864 hoàn thành gồm nhà nguyện với ngọn tháp nổi bật trên cao xây theo kiểu Gô-thic, một tu viện, một nhà nuôi trẻ mồ côi và một tháp chuông. Công trình xây cất này là kết quả nghiên cứu kiến trúc châu Âu của Nguyễn Trường Tộ khi ông ở Hồng Kông. Qua nhiều lần sửa chữa trùng tu, ngày nay tu viện thánh Phao-Lô vẫn giữ được đường nét kiến trúc xưa, chứng tỏ tài năng kiến trúc của Nguyễn Trường Tộ không thua gì các kiến trúc sư người Pháp.

18. Người Việt Nam đầu tiên vẽ bản đồ địa lý và đồ họa Sài Gòn theo phương pháp phương Tây
Ông Trần Văn Học, sinh quán ở Bình Dương, giỏi Quốc ngữ, La-tinh và tiếng Tây Dương, được giới thiệu làm thông ngôn cho Nguyễn Ánh. Ông phụ trách việc dịch sách kỹ thuật phương Tây, đồng thời kiêm việc chế tạo hỏa xa, địa lôi và các loại binh khí. Năm 1790, Nguyễn Ánh xây thành Bát Quái. Trần Văn Học phụ trách “phác họa đường sá và phân khu phố phường”.
Ông rất có tài vẽ địa đồ, họa đồ và kỹ thuật bản đồ như: tỷ lệ, trắc địa, và vẽ gần như chính xác các thành trì và công trình. Ông được coi [như là] người đầu tiên vẽ bản đồ Sài Gòn-Gia Định theo phương pháp Tây phương.

Bản đồ Gia Định – Sài Gòn – Bến Nghé do Trần Văn Học vẽ 1815. Khu vực trong và ngoài thành Bát Quái (Phiên An – trung tâm tâm đô thị Sài Gòn) là những con đường ngang dọc vuông vức mà hiện chúng ta đang đi. Từ hai thành Phiên An, Gia Định, các trục lộ chính tỏa bốn hướng giờ vẫn còn: Hai Bà Trưng (giữa thành, qua Phú Nhuận, xuống Gò Vấp và quay lại thành), đường Nguyễn Trãi (đi Chợ Lớn), đường Nguyễn Thị Minh Khai (bên trái thành đi miền Tây, phải thành đi miền Đông, ra xa lộ Hà Nội, QL1), Cách Mạng Tháng 8 (đi Campuchia), Nguyễn Tất Thành (đi Q.7, Nhà Bè, Cần Giờ).
Kim Phượng sưu tầm
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 26

Tuổi xuân huy hoàng, tuổi già hiu quạnh.

Cuộc đời của một chính trị gia khiến người ta nhận ra chân lý vĩnh hằng Margaret Thatcher là nữ thủ tướng đầu tiên của Anh quốc, cũng là một trong những chính trị gia quyền lực nhất trong lịch sử, được truyền thông gọi là “Người đàn bà thép” (Iron Lady) của nước Anh.

Nhưng đằng sau hào quang chính trị, “người phụ nữ thép” ấy lại phải chịu đựng nỗi buồn vô tận của sự cô độc và bi ai.

 Có sự nghiệp và tình yêu, nhưng thất bại khi làm mẹ

Thatcher từng nói rằng, trong thế hệ của bà, sẽ không có một người phụ nữ nào trở thành thủ tướng.

 Nhưng chính bà lại làm được điều ấy. Bà không chỉ trở thành nữ thủ tướng đầu tiên ở Anh, chứng minh rằng phụ nữ có thể đặt chân lên bục vinh quang vốn thuộc về nam giới, mà còn làm được điều mà nam giới không thể làm.

 

Thời trẻ, Thatcher học hành rất chăm chỉ, nhờ vào nghị lực và sự kiên trì bền bỉ, bà đã thi đậu vào trường đại học Oxford. Thatcher đã trở thành nữ ứng cử viên của Đảng Bảo Thủ ở tuổi 25.

 

Vào thời điểm này, bà gặp Denis, một thương nhân giàu có đang điều hành tập đoàn của gia đình.

 

Denis yêu Thatcher ngay từ cái nhìn đầu tiên, lúc ấy là một cô gái trẻ xinh đẹp và có đầu óc chính trị.

 

Không lâu sau hai người tiến đến hôn nhân, sau hai năm kết hôn họ sinh được đôi long phụng – một trai, một gái.

 

Nhưng bà mẹ trẻ như Thatcher không có nhiều thời gian dành cho con cái. Khi cặp song sinh mới được hơn hai tuần tuổi, bà lập tức quay trở lại với sự nghiệp chính trị của mình. Lúc ấy, Denis luôn ở phía sau âm thầm ủng hộ vợ,

 

Thatcher đạt được hạnh phúc viên mãn trong hôn nhân nhưng trong quan hệ với con cái bà lại là một người mẹ thất bại.

 

Bà bận rộn với các hoạt động chính trị, bỏ bê việc giáo dục con cái, cuối cùng trở thành trường hợp “mẫu từ tử bại”, ý nói mẹ tài giỏi nhưng con thì thất bại.

Những năm cuối đời, Thatcher từng nói rằng: “Nếu thời gian có thể quay ngược lại, tôi tuyệt đối sẽ không bước chân vào đấu trường chính trị, vì gia đình tôi đã phải trả giá quá đắt cho điều ấy”.

 

M.THATCHER

Cựu thủ tướng Anh Margaret Thatcher

 

Bởi vì trong suốt sự nghiệp, Thatcher luôn bận rộn với các hoạt động chính trị, đến mức không còn thời gian và tâm trí dành cho con cái.

 

Quan hệ giữa bà với cô con gái Carol vô cùng lạnh nhạt; mặc dù cậu con trai Mark gần gũi hơn nhưng

 

lại không cho bà được nở mày nở mặt.

Cậu bé ham chơi, lười học, chẳng những thành tích học tập kém mà còn ỷ lại vào quyền thế của mẹ mà tỏ ra cao ngạo, thường “xưng vương xưng bá” trong những năm học đường.

 

Sau khi trưởng thành, Mark tham gia cuộc đua xe Paris-Dakar Rally năm 1982, sau đó bị lạc nhiều ngày trong sa mạc Sahara. Đây là lần đầu tiên kể từ khi tiếp nhận vị trí thủ tướng, Thatcher rơi nước mắt trước mặt công chúng. Bà đã phải chỉnh cầu chính phủ các nước giúp đỡ để giải cứu con trai.

 

Sau khi được cứu, con trai của Thatcher lại tiêu phí một lượng rượu lớn trong khách sạn nhưng không chịu chi trả. Cậu cho rằng việc chính phủ giải quyết giúp mình là điều đương nhiên nên không ngừng tranh chấp với ban ngoại giao và các nhân viên khách sạn, cuối cùng cảnh sát phải đích thân can thiệp.

 

Những năm sau đó, Mark lại mượn địa vị của mẹ và tiền tài của vợ mà không ngừng chơi bời, tham gia các hoạt động mạo hiểm, tiêu tiền tốn của.

 

Khi tham gia vào cuộc đảo chính ở Guinea, cậu bị bắt ở Nam Phi và bị kết án 4 năm tù treo cùng với khoản tiền phạt khoảng 313.000 bảng Anh.

 

Bà Thatcher cũng buộc phải cầm tiền đi Nam Phi để chuộc con trai về.

 

Những năm cuối cùng khiến người đời cảm thán mãi không thôi .

 

Thủ tướng Thatcher từng nói rằng, nhà là nơi mà bạn không cần phải làm bất cứ điều gì.

 

Trong ngày kỷ niệm 50 năm kết hôn, Thatcher bất ngờ đột quỵ và mất đi một phần ký ức.

 

 

Hai năm sau chồng bà qua đời, đó là cú sốc mạnh đối với Thatcher khiến trí nhớ của bà ngày càng kém hơn, bà thường nghĩ rằng ông vẫn còn sống trên đời.

 

Nỗi đau mất chồng không hề thuyên giảm theo thời gian, có một lần tỉnh dậy giữa đêm khuya, bà đã khoác lên mình một bộ quần áo trang trọng, rồi đi đến viếng mộ phần của ông.

 

Trong lễ sinh nhật lần thứ 77, Thatcher nhận được bốn tấm thiệp chúc mừng, bà bày chúng lên bàn và đăm chiêu ngắm nhìn.

 

Lúc ấy, con trai bà sống ở Tây Ban Nha, con gái thì ở Thụy Sĩ, những đứa cháu đang ở Mỹ, tất cả những người thân yêu đều hiếm khi trở về thăm bà.

 

 

Carol, con gái của Thatcher tâm sự: “Một người mẹ không thể mong đợi những đứa con đã trưởng thành của mình bỗng chốc trở nên vồn vã, nồng ấm – điều mà chúng không quen”.

 

 

Đánh đổi cho những năm tháng huy hoàng trên vũ trường chính trị là một tuổi già cô đơn, hiu quạnh.

 

Bà không thể hy vọng được vui hưởng tuổi già bên con cháu, thậm chí một mơ ước con cái sẽ trở về thăm nhà cũng là mơ ước quá xa vời.

 

Đời người giống như một vòng quay tuần hoàn, khoảng thời gian không có người thân bên cạnh ai ai cũng từng trải qua, với Thatcher là những năm cuối đời trống trải, còn với các con của bà là một tuổi thơ thiếu vắng hình bóng mẹ.

 

M.THATCHER

 

“Người phụ nữ thép” Margaret Thatcher

 

 

Vào lễ đại thọ ba năm sau, có lẽ vì quá tưởng nhớ đến những ngày tháng nhộn nhịp trước kia, nên bà đã tổ chức đại tiệc với 650 khách tham dự, ngay cả Nữ hoàng Elizabeth II, Hoàng tử Charles và Thủ tướng Tony Blair đều đến chúc thọ bà.

 

Thatcher đã lấy lại phong thái năm xưa, vẫn là nụ cười tự tin như ngày nào, nhưng đáng tiếc tất cả chỉ giống như một ánh đèn loé lên trong phút chốc.

Còn lại bên bà, vẫn là màn đêm tịch mịch và những căn phòng hoang vắng không một bóng người thân.

 

Ở tuổi xế chiều, nhà mới là nơi cuối cùng chúng ta trở về.

 

Trong những năm tháng dài dằng dặc cùng với nỗi cô độc lúc cuối đời, Thatcher lại bị đột quỵ. Mọi thứ đối với bà đều trở thành thử thách, ngay đến xem báo cũng rất khó khăn, vừa đọc câu sau đã quên câu trước. Ở tuổi xế chiều, Thatcher phải chịu nỗi khổ về tinh thần, cơ thể cũng bị bệnh tật tàn phá, lại còn phải chịu đựng sự lạnh nhạt và xa cách của con cái.

 

Trong phòng, bà đặt rất nhiều bức ảnh của chồng, con, và các cháu. Nhưng bên cạnh bà lại không có bất cứ người thân nào, làm bạn với bà chỉ có bác sĩ và y tá. Cho đến phút lâm chung, con trai, con gái cũng không có mặt kịp thời để lo lắng hậu sự cho bà.

 

Những năm cuối đời của Thatcher thật khiến người đời phải cảm thán, nhưng làm sao trách được mệnh Trời?

 

Ai ai cũng phải sống cho xã hội, cho thân nhân, và cho chính mình.

 

Những năm tháng son trẻ khiến con người ta chìm đắm trong sự nghiệp, trong danh vọng và hào quang của quyền lực.

 

Nhưng khi ánh hào quang ấy qua đi, ta chỉ còn lại ta, chỉ còn lại cái thân xác đã hao mòn vì năm tháng.

 

Vậy thì, đâu mới là cuộc sống đích thực của chúng ta? Là tuổi trẻ ước mơ hoài bão, là những năm tháng phồn hoa, là vinh quang tột đỉnh, hay là một tinh thần thản đãng và bình yên?

 

MT--

Đám tang của bà Margaret Thatcher

 

 

Với cố thủ tướng Anh Margaret Thatcher, có lẽ bà là người thấu hiểu hơn ai hết rằng: Sự nghiệp có thể cho chúng ta danh tiếng, địa vị và cảm giác thành tựu.

 

Nhưng đến lúc chúng ta cởi bỏ chiếc áo choàng danh vọng ấy, thì trong đêm khuya một mình thanh tĩnh cũng là lúc chúng ta hiểu rằng ai cũng sẽ dần dần già đi.

 

Danh tiếng cuối cùng rồi cũng sẽ phai nhạt, cảm giác thành tựu rồi cũng dần tan biến.

Tiền dẫu còn giữ lại được, thì khi già cả yếu ớt, cả núi vàng biển bạc cũng không thể mang lại hạnh phúc. Cuối cùng, chỉ có gia đình mới là nơi trở về, nơi cho ta nương tựa.

 

Lúc bị thương, nhà là một chiếc ô che mưa chắn gió, lúc vui vẻ nhà là nơi hạnh phúc ấm áp đong đầy.

 

Sự nghiệp không thể nào thay thế cho tình người, công danh cũng không thể thay thế cho một gia đình hạnh phúc.

 

Đáng tiếc đến giai đoạn cuối cùng của cuộc đời, rất nhiều tỷ phú và những chính trị gia quyền lực mới nhận ra điều này.

 

Mong rằng những ai đọc bài viết này sẽ hiểu được, tiền tài, danh tiếng chỉ là những thứ nhất thời, đều không thể đem lại cho chúng ta hạnh phúc lâu dài, chỉ có gia đình mới là nơi chúng ta dựa dẫm cả đời, là nơi đáng tin cậy và là nơi cuối cùng chúng ta đi về.

 

Nguyện cho những ai đọc bài viết này đều cùng gia đình sống hòa thuận, hạnh phúc một đời.

 

Theo Soundofhope

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 2

Những ngôi đền Phật giáo đẹp đến ngỡ ngàng ở Nga

image
Phật giáo không phải là tôn giáo phổ biến nhất ở Nga khi chỉ có khoảng một triệu tín đồ nhưng tại đây lại có nhiều đền thờ Phật giáo đẹp đến ngỡ ngàng.
Thiền viện Ivolginsky ở Buryatia (miền Đông Siberia) được xây dựng từ năm 1945

 

Đây là trung tâm Phật giáo của Nga. Ban đầu ngôi đền này chỉ là căn nhà gỗ nhỏ nhưng giờ nó đã là một tổ hợp hơn 10 tòa nhà tuyệt đẹp

 

Đền thờ Phật Thích Ca Mâu Ni (Shakyamuni) được xây ở trung tâm Elista, thủ phủ nước Cộng hòa Kalmykia

 

Được khai trương từ năm 2005, đây là biểu tượng của văn hóa và tôn giáo của Kalmykia và có thể được nhìn thấy từ bất cứ nơi đâu trong thành phố Elista

 

Điều ấn tượng nhất của ngôi đền có 7 tầng này là bức tượng Đức Phật mạ vàng được cho là cao nhất ở châu Âu

 

Thiền viện Gunzechoinei ở St.. Petersburg được thành lập từ năm 1909 là một trong những công trình Phật giáo đắt đỏ nhất châu Âu khi được xây từ đá granite và được trang trí rất cầu kỳ với cửa kính màu được vẽ bởi họa sỹ nổi tiếng Nikolai Roerich.

 

Mỗi ngày có từ 300-500 khách viếng thăm thiền viện này

 

Được xây từ năm 1825, Thiền viện Atsagatsky (trước kia là Thiền viện Kurbinsky), nằm ở làng Naryn-Atsagat, nước Cộng hòa Buryatia

 

Những năm 1930 trở về trước, đây là trung tâm Phật giáo của Buryatia. Năm 1936, nơi này bị đóng cửa nhưng lại mở cửa trở lại sau khi Liên bang Xô viết tan rã

 

Thiền viện Sakusn-Syume ở nước Cộng hòa Kalmykia nằm khá xa Elista mà một tổ hợp khá rộng, một trung tâm giáo dục tâm linh được khai trương từ năm 1996

 

Sakusn-Syume được xây giống như các ngôi đền thờ Phật giáo ở Tây Tạng

 

Một trong những ngôi đền Phật giáo lớn nhất ở Nga là tổ hợp Ustuu-Khuree được xây dựng từ năm 1905 nhưng cũng bị chính quyền Xô viết đóng cửa vào những năm 1930 như nhiều ngôi đền khác

 

Năm 1999, chính quyền Nga khôi phục lại ngôi đền và tổ chức một Liên hoan nhạc sống và tín ngưỡng quốc tế tại đây để thu hút sự quan tâm của các tín đồ Phật giáo cũng như du khách. Liên hoan này được tổ chức thường niên từ đó đến nay
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 18

Người Iceland sinh tồn bằng xác động vật thối rữa

https://baomai.blogspot.com/ 
Tuyết rơi cao xung quanh chái nhà ngoài nhỏ của nhà hàng mà tôi đang ngồi, chỉ cách đại dương rét buốt vài ba mét, nhưng bên trong này thì ấm áp, được trang trí với những chiếc lưới cá và mai cua và thi thoảng là hình ảnh vài chú lùn.
Trên chiếc đĩa trước mặt tôi là món xúc xích gan được chế biến bằng nước sữa chua, thịt cừu xông khói từ lửa nhóm bằng phân và một chút cá thối rữa có mùi khai nồng.
Món xúc xích gan chua vừa phải và món thịt cừu thì cho ta thấy rõ rằng bọn cừu tiêu hóa không tốt cho lắm – tức là ta cũng có thể gọi đó là món thịt cừu thui cỏ.
Mùi vị kinh khủng
Khi tôi giơ chiếc nĩa lên với miếng cá đầu tiên, có một giọng nói từ phía bên kia căn phòng la với sang phía tôi.
“Skata! Ha!”
https://baomai.blogspot.com/ 
Skate, hay món cá thối, là món ăn truyền thống ở Iceland
Đó là một anh chàng Băng Đảo trong độ tuổi từ khoảng 25-29, lùn, để râu cằm và trông phục phịch một chút – một người hướng dẫn du lịch đưa vào vài du khách Trung cộng.
Tên anh là Gísli, người là hướng dẫn của tôi vào đêm trước đó ở thị trấn nhỏ miền bắc Akureyri này. Chúng tôi đã có một buổi tối đáng nhớ đuổi theo Bắc Cực quang trong chiếc xe thể thao SUV của anh, nghe tiếng đàn glockenspiels, tiếng chập cheng, tiếng đàn guitar và giọng gió vốn bao trùm trong âm nhạc nổi tiếng là êm dịu và thanh thoát của Băng Đảo.
“Ngon chứ? Anh thích chứ?” Gísli cất giọng ồm ồm. Tôi nói với anh ấy là tôi vẫn chưa ăn thử.
“Anh sẽ thích nó! Nó thật kinh khủng!”
https://baomai.blogspot.com/ 
Sau đó tôi ăn thử. Món cá đuối nóng hổi do chỉ vừa được lấy khỏi lò, nhưng cái độ phỏng mà tôi cảm giác trên đầu lưỡi là hiệu ứng hóa học – kết quả của phản ứng hóa học mạnh mẽ đang diễn ra trên miếng cá đang phân hủy. Tôi đã cau mày nhăn mặt.
“Ha!” Gísli quay lại ở phía bên kia căn phòng với nhóm khách của mình nhưng vẫn để mắt tới tôi. “Kinh khủng phải không? Ha, tôi rất thích món này. Họ đưa tôi một miếng, tôi sẽ ăn hết và xin thêm. Món ăn ngon của người Viking! Nồng! Ha!”
Khó mà đoán biết được dưới chiếc áo ấm dày cộp và chiếc áo khoác to dầy của anh ấy trông thế nào, nhưng có lẽ với tiếng ‘ha’ sau cùng anh ấy đã ưỡn ngực lên.
Quan hệ đặc biệt với thức ăn
Tôi ăn hết miếng cá còn lại và quay trở lại tiệc buffet để lấy một ít thịt thủ cừu. Đó là ngày thứ hai trong chuyến đi kéo dài một tuần của tôi, và chỉ mới là bữa ăn thứ ba.
https://baomai.blogspot.com/ 
Nhưng ngay tại bữa trưa vào ngày hôm trước ở một nơi gọi là Kaffi Kú (Quán ăn Bò), nơi tôi đã ăn một tô bò hầm to trong một phòng ăn mà xung quanh là kính nhô ra bên trên chuồng gia súc nơi những con bò trước khi được đưa đi chế biến món ăn đang đi qua đi lại.
Tôi đã có ấn tượng rằng người dân Băng Đảo có một mối quan hệ khác với thức ăn của họ so với hầu hết các dân tộc khác.
Đưa con người đến sát với nguồn gốc thức ăn của họ là điều hợp lý đáng ngưỡng mộ, nhưng món cá thối đó thì không hề chút nào. Khi tôi ăn ở các nơi dọc đường đến thủ đô Reykjavik và khắp các chỗ trong thành phố, được ăn những món ăn thối hơn, chua hơn và được xông khói bằng phân nhiều hơn, tôi đã có cảm giác rằng nền văn hóa ẩm thực Băng Đảo không chỉ lạ lùng mà còn đặc trưng nữa.
https://baomai.blogspot.com/ 
Mặc dù việc ăn những bộ phận rẻ tiền hơn và thường là ít có vẻ ngon lành hơn của động vật và cây cỏ không có gì là lạ – mỗi nền ẩm thực quốc gia khác mà tôi đã từng thử qua đều tự hào họ đã chế biến được ngon như thế nào món bao tử bê (người Bulgaria gọi là shkembe), món óc cừu (người Ma-rốc gọi là mokh mchermel) hay món đuôi bò (món đuôi bò hầm của người Jamaica).
Nhưng dường như những người Băng Đảo như Gísli lại thích thú với việc món ăn truyền thống của họ tệ đến mức nào.
Không phải người Viking
Mọi người thường nghĩ rằng người Viking đối với người Băng Đảo cũng gần giống như người La Mã đối với người Ý. Và người Viking thì khét tiếng là chì – họ cười thẳng vào mặt gian khổ, họ có thể chịu đựng đến cùng cực và đánh thẳng vào ngay giữa lòng kẻ thù.
https://baomai.blogspot.com/ 
Nhưng đây mới là vấn đề: người Băng Đảo không phải là người Viking. Chưa bao giờ.
Theo một chú dẫn tương đối khiêm tốn ở gần điểm bắt đầu của cuộc triển lãm thường trực 871±2 tại Bảo tàng Thành phố Reykjavik, người Băng Đảo chủ yếu là hậu duệ của những nông dân Na Uy muốn thoát khỏi ách của người Viking và canh tác trên cánh đồng của họ và chăn nuôi gia súc một cách yên bình.
“Đó là một trong những điều mới mẻ tuyệt vời,” ông Jesse Byock, tác giả của cuốn ‘Băng Đảo trong Kỷ nguyên Viking’ và là giáo sư lịch sử Băng Đảo thời ban sơ và văn học saga Na Uy cổ tại Đại học California ở Los Angeles (UCLA) và đồng thời ở Đại học Băng Đảo, cho biết.
“Người Băng Đảo chưa bao giờ thật sự gắn kết họ với thế giới của người Viking, họ luôn là người Băng Đảo. Tuy nhiên những người trẻ thì rất háo hức về người Viking, và tất cả bọn họ đều cố gắng để chứng tỏ rằng họ có thể ăn những thứ này.”
https://baomai.blogspot.com/ 
Người Băng Đảo luôn ăn món ăn này – những thanh thịt cá mập thối rữa nổi tiếng có tên gọi là hákarl có bán ở các cửa tiệm thông thường bên đường ở Reykjavik – nhưng khi ngành du lịch vượt qua ngành nông nghiệp và đánh cá, chiếm 31% tổng doanh thu xuất khẩu vào năm 2015 thì thế hệ trẻ đã chấp nhận cái vỏ bọc Viking mà du khách thích thú – có thể họ đã xem mình gắn bó hơn với di sản này.
Lịch sử đói kém
Tuy nhiên theo ông Byock thì lịch sử thật sự đằng sau món ăn này, và mối quan hệ của người Băng Đảo hiện đại với nó, thì thú vị hơn nhiều so với những chòm râu xồm xoàm và những chiếc mũ có chóp nhọn của người Viking.
https://baomai.blogspot.com/ 
Khi những người dân Scandinavia đầu tiên ra đến Băng Đảo vào năm 871 (có thể là sớm hơn hay muộn hơn đôi ba năm – đó là lý do cuộc triển lãm đó có tên gọi 871±2), họ đã tìm thấy một hòn đảo có cây cối rậm rạp vốn dường như thích hợp để canh tác.
Nhưng khi những người định cư bắt đầu xuất hiện trong vòng 100 năm kế tiếp, nói cho đúng ra họ thật sự đến vào khoảng thời gian năm 1.000, họ đã dần dần nhận ra được tất cả những cánh rừng mà họ đã chặt xuống để lấy gỗ xây nhà và lấy củi sưởi ấm thì không mọc trở lại, và đàn cừu của họ thì gặm cỏ ở khắp nơi.
Khi không còn cây cối nữa, lớp đất mặt bắt đầu bị xói mòn, khiến cho việc trồng trọt hoặc chăn nuôi gia súc trở nên rất khó khăn và thường là không thể làm được.
Họ ở cách lục địa châu Âu tới mức không thể nhập khẩu thực phẩm và do đó nền văn hóa và xã hội Băng Đảo đã phát triển trong một trạng thái gần như lúc nào cũng thiếu đói, lúc nào cũng bên bờ vực bị chết đói, và họ phải ứng biến với tất cả những thứ gì mà họ có thể chộp lấy và săn tìm, và sử dụng phân khi không có gỗ để sưởi ấm và nấu nướng.
“Giả sử xảy ra một cơn bão,” ông Byock nói. “Một con cá voi bị chết và chìm xuống dưới đáy rồi sau nổi lên, trôi dạt vào bờ biển, anh sẽ có hàng tấn thịt. Anh sẽ làm gì đây? À, trước hết, anh phải chém giết lẫn nhau để xem ai có thể có được nó, sau đó anh kéo nó lên, anh có những thùng nước sữa và bỏ những tảng lớn thịt cá voi vào trong đó.”
https://baomai.blogspot.com/ 
Tổ tiên của người Băng Đảo là những người kiên cường, nhưng họ không phải là người Viking. Họ là những người nông dân đang chết dần mòn vì đói và phải làm mọi thứ để sinh tồn.
Bí quyết sinh tồn
Mặc dù giờ đây người Băng Đảo không còn ăn xác cá voi trôi dạt vào bờ nữa, nhưng cách tìm xác chết để làm thức ăn này chính là nguồn gốc của món hákarl, phiên bản nhẹ nhàng hơn của món cá đuối thối mà tôi ăn ở Akureyri.
Mặc dù thịt của những cá mập Greenland khổng lồ thường là độc đối với con người – nồng độ urea cao dẫn đến những khó chịu ở da, mắt và hệ hô hấp – nhưng một khi được để cho thối rữa một chút, theo cách làm truyền thống là trong một cái hốc ở bãi biển (ngày nay đặt trong những cái thùng nhựa), thì nó sẽ trở thành một nguồn protein quý giá.
https://baomai.blogspot.com/ 
Cá đuối và các loại các mập lớn khác cũng có độc như vậy, nhưng cũng có thể ăn được khi được để cho thối rữa hoặc lên men. Và do nó đã bị thối rữa, nó cũng được bảo quản rất tốt.
Cho nên qua hàng trăm năm, những thực phẩm có mùi vị kinh tởm này lại chính là làm nên sự khác biệt giữa sự sống và cái chết. Khả năng của người Băng Đảo chịu được mùi vị thật sự khủng khiếp là chìa khóa quan trọng giúp cho họ tồn tại và sự phát triển của Băng Đảo cũng như tầm quan trọng của khả năng người Viking thứ thiệt đối phó với những gian khổ trong việc đi xa và đánh trận đối với bán đảo Scandinavia.
Với hai triệu du khách đến thăm mỗi năm, ẩm thực quốc gia của Băng Đảo đã thay đổi trong vòng ba thập niên qua và nghiêng nhiều về phía pizza, mì ống và burger. Nhưng đây vẫn là một quốc gia nhỏ, với chỉ 330.000 dân, và truyền thống của họ không chỉ là những điều thu hút du khách; đó là điều giúp neo giữ những người Scandinavia đã phải rời bỏ quê hương này với quá khứ và kết nối họ với nhau.
https://baomai.blogspot.com/ 
Mỗi mùa Giáng sinh, và mỗi tháng Þorri – tháng cổ của người Băng Đảo tương ứng với cuối tháng Giêng và đầu tháng Hai – là thời gian được dành cho các món ăn truyền thống mà, bên cạnh các loại cá thối rữa còn có món tinh hoàn cừu (súrsaðir hrútspungar), thủ cừu luộc với phần lông được thui (svið), thịt cừu xông khói (hangikjöt), chi trước của hải cẩu (seishreifar) và mỡ cá voi được ủ trong sữa chua (súr hvalur).
Bạn có thể tìm thấy những suối nước nóng như Đầm Xanh nổi tiếng và những đồng băng bao phủ nội địa của hòn đảo ở một số nơi, nhưng tôi không biết có quốc gia nào khác mà lịch sử, sự phát triển và sự sống còn của nó lại gắn chặt một cách có ý thức và được tôn vinh trong nền ẩm thực đến như vậy.
Và thật lòng mà nói, món thịt thủ cừu thì rất ngon.
Bert Archer
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 54