All posts by KhueVy Hoang

Cô gái trẻ âm thầm trả tiền cho hai người lính cứu hỏa

Người ta nói lòng tốt là một vòng tuần hoàn: Khi bạn trao đi lòng tốt, nó sẽ trở về bên bạn. Khi bạn gieo mầm hạt giống thiện lương, nó sẽ kết hoa thơm trái ngọt. Và, câu chuyện dưới đây có lẽ sẽ cho bạn thêm niềm tin vào điều đó.

Liz Woodward là một nhân viên phục vụ trong một cửa hàng thức ăn nhanh phục vụ 24/24h tại New Jersey. Cô luôn bắt đầu ngày làm việc mỗi ngày lúc 4 giờ sáng, khi trời vẫn còn tờ mờ.

                                 Liz Woodward. Một ngày nọ, hai nhân viên cứu hỏa với gương mặt mệt mỏi bước vào của hàng nơi Liz đang làm việc và nói bằng giọng khản đặc: “Cô gái, cho chúng tôi hai tách cà phê espresso.”

Hai người họ vừa tham gia cứu hỏa cho một vụ cháy lớn. Ngọn lửa trong nhà kho vô cùng dữ dội. Họ đã chiến đấu với nó suốt 12 giờ và cả đêm không hề chợp mắt. Lúc này, họ đang vô cùng kiệt sức và rất cần một ly cà phê để tỉnh táo lại.

Có lẽ chẳng mấy người có thể hiểu được nỗi nhọc nhằn của những người làm lính cứu hỏa. 

 

Liz chăm chú lắng nghe câu chuyện của hai người lính cứu hỏa Paul và Tom trong khi pha cà phê. Cô rất cảm kích bởi những gì họ đã làm. Cô muốn mời họ 2 ly cà phê và chuẩn bị một bữa sáng thật ngon thay cho lời cảm ơn những người hùng thầm lặng. 

Trên mặt sau của hóa đơn, Liz viết: “Tôi đã trả tiền cho bữa ăn sáng ngày hôm nay. Cảm ơn sự đóng góp của các anh. Khi tất cả mọi người đều tìm cách thoát thân, các anh lại không màng tính mạng lao vào ngọn lửa. Bất kể trách nhiệm là gì, các anh là người dũng cảm, mạnh mẽ nhất, cũng là tấm gương tốt nhất cho tất cả mọi người. Cám ơn vì mọi việc các anh đã làm, hãy nghỉ ngơi thật tốt”.

Hai người đàn ông mạnh mẽ bỗng bật khóc sau khi đọc được những lời khích lệ ấm áp từ cô gái trẻ. Họ đã làm công việc này rất nhiều năm, chứng kiến biết bao nỗi đau thương tâm sau mỗi vụ hỏa hoạn, nhưng có lẽ chẳng mấy người có thể hiểu được nỗi nhọc nhằn của những người làm lính cứu hỏa. Sự quan tâm của một cô gái trẻ chưa từng quen biết đã chạm tới trái tim mềm yếu của họ. Liz nhìn hai người đàn ông đang rưng rưng nước mắt, hai người cũng nhìn Liz. Họ dành cho nhau ánh mắt ấm áp và nở nụ cười, cuối cùng vẫy tay từ biệt. 

Liz không ngờ rằng một hành động nhỏ của mình lại nhận được sự báo đáp lớn đến như vậy. (Ảnh: Liz Woodward Facebook)Sau khi trở về nhà, càng nghĩ về Liz, Tim càng cảm thấy cảm động. Anh đã chia sẻ câu chuyện này trên mạng xã hội, kèm theo lời nhắn gửi tới bạn bè: Hãy tới cửa hàng đầy ấm áp đó. Nếu như gặp được cô gái lương thiện này, hãy trả thêm một ít tiền.

Thật bất ngờ, chỉ trong một đêm, lời nhắn nhủ của Tim đã nhận được rất nhiều ủng hộ từ cư dân mạng. Tấm lòng lương thiện của Liz được truyền đi khắp nơi. Nhiều người còn đích thân tới cửa hàng để khen ngợi, ủng hộ với cô gái.

Lúc này, mọi người mới biết về hoàn cảnh của Liz. Trên thực tế, gia đình của Liz không giàu có, thậm chí là khá túng thiếu. Đầu năm 2010, cha cô bị liệt do tổn thương não. Gia đình không đủ khả năng mua một chiếc xe hơi  có hệ thống đưa xe lăn lên xuống, nên người cha bị ốm của cô quanh năm phải nằm trên giường. Còn Liz, cô phải gánh vác toàn bộ công việc gia đình. Hiện tại, cô đang làm 3 công việc bán thời gian suốt ngày đêm.

Sau khi biết được hoàn cảnh của Liz, chàng lính cứu hỏa Tim không thể diễn tả được tâm trạng của mình. Anh đã cùng với một số đồng nghiệp của mình lên kế hoạch giúp đỡ cô gái lương thiện này. Chẳng mấy chốc họ đã tạo ra một trang gây quỹ cộng đồng để mua một chiếc ô tô cho cha của Liz. Ban đầu họ chỉ kỳ vọng quyên góp được 17.000 USD, không ngờ rằng số lượng người tham gia rất lớn và số tiền thu được lên đến 86.000 USD.

Lòng tốt là một vòng tuần hoàn. Khi bạn trao đi lòng tốt, nó sẽ trở về bên bạn. (Ảnh: pinterest)


Khi Tim tới thăm cha của Liz và trao cho cô số tiền đó. Liz đã ôm lấy anh và bật khóc. Cảnh tượng này cũng khiến cho những anh chàng cứu hỏa đi cùng rơi nước mắt. Có lẽ Liz cũng không ngờ rằng một hành động nhỏ của mình lại nhận được sự báo đáp lớn đến như vậy. 

Được biết, trước khi cha của Liz bị liệt, ông đã làm “nhân viên khắc phục thảm họa” trong nhiều thập kỷ. Trong mỗi thảm họa, dù lớn hay nhỏ, ông đều lao vào hiện trường để hoàn thành công việc của mình mà không màng tính mạng của bản thân. Lòng tốt ấy của ông có lẽ đã truyền cho con gái mình, và rồi cuối cùng lại quay trở về bên cạnh ông.

Vậy nên, người ta mới nói: Lòng tốt là một vòng tuần hoàn. Khi bạn trao đi lòng tốt, nó sẽ trở về bên bạn. Khi bạn gieo mầm hạt giống thiện lương, nó sẽ kết hoa thơm trái ngọt.

Hải Dương

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 12

BÊN THỀM THU SẮP HẾT

Ôi sài gòn mùa thu trong tháng chín
Chỉ mưa nhiều nắng gắt đến hanh hao
Cây vẫn xanh người vội vã ồn ào
Nhiều chỉ lắm chênh chao vài chiếc lá

Ừ cuộc sống nên mọi người hối hả
Quên mất rồi một chiếc lá vàng bay
Để mùa thu rơi xuống tiếng thở dài
Theo mưa đổ bên ngoài hiên lất phất

Thu tháng chín sắp qua rồi đi mất
Chỉ còn tôi luyến tiếc lá vàng rơi
Cả mùa thu hoa cúc đẹp rạng ngời
Và chợt nhớ mối tình thời xưa quá

Thu tháng chín sài gòn đêm hối hả
Mưa hạt buồn lất phất cả màn đêm
Chợt góc xa đôi bạn trẻ ướt mèm
Hôn vội vã bên thềm thu sắp hết.

 Người Hy Vọng

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 13

VÀNG THU THÁNG CHÍN

Vàng thu tháng chín đong đưa
Thoáng màu hoa Cúc ai vừa mến trao
Ngỡ là tình thắm duyên nhau
Nghẹn ngào thu khóc như vào lãng quên

Vàng thu lá úa mông mênh
Tình xa tình ngỡ lênh đênh chốn nào
Nghe mùa thương cũ cấu cào
Dỗi hờn nỗi nhớ thì thào nắng mưa

Vàng thu tháng chín hương đưa
Tình ai hờ hững trêu đùa thoáng qua
Trách gì nhau những mặn mà
Có còn chăng…cũng đã xa úa vàng

Vâng mùa thu ấy có lần
Vô tình chạm những lỡ làng trong ta
Vàng thu tháng chín ngang qua
Níu màu hoa ấy vỡ oà bóng mây

Còn đây một sớm xuân gầy
Sắt se mùa úa dệt đầy tháng năm
Còn đây một đoá trăng rằm
Thắp lên màu nắng lặng thầm dáng thu !

Thu Trang

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 23

Người Việt trẻ ở Pháp níu giữ thế hệ thứ hai với nguồn cội

Cha mẹ trẻ gốc Việt muốn những đứa con của họ sinh ra ở Pháp sẽ bay cao, bay xa nhưng vẫn được sợi dây nguồn cội Việt níu giữ. 

“Úi giời ơi, mấy đứa trẻ đều là người Việt Nam mà lại không biết nói tiếng Việt à?”, chị Nguyễn Quỳnh Mai, sống hơn 20 năm ở Pháp, kể với VnExpress những lần về chơi hay bị các ông bà “mắng yêu” như vậy.

Chị Quỳnh Mai luôn nuôi dưỡng môi trường song ngữ ở nhà cho con gái lớn 10 tuổi và con trai 8 tuổi, ví dụ chị hoàn toàn giao tiếp bằng tiếng Việt với các con suốt ba năm đầu đời. Nhưng càng lớn các bé càng chuyển dần sang nói tiếng Pháp.

Câu chuyện gia đình nhà chị Mai cũng giống nhiều gia đình trẻ gốc Việt ở Pháp. Cha mẹ định cư ở Pháp để tận dụng cơ hội việc làm tốt hơn và cuộc sống chất lượng hơn so với ở quê nhà. Họ mang trong lòng nỗi nhớ Việt Nam da diết và cảm giác giằng xé giữa quê hương mới và quê hương cũ. Nhưng con cái họ, thế hệ thứ hai sinh ra ở Pháp, mặc dù được cha mẹ dạy dỗ trong môi trường gia đình đậm đặc tính truyền thống Việt Nam, các bé vẫn bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi văn hóa và ngôn ngữ Pháp.

Hiểu về cội nguồn

Chị Quỳnh Mai thừa nhận gặp nhiều khó khăn khi hướng con tìm hiểu về quê hương. Chị kể ngay khi con gái Linh Chi bắt đầu đi học mẫu giáo, chị đặt ra quy định về nhà chỉ nói tiếng Việt. Sau một thời gian, chị nhận thấy Linh Chi ngày càng ít nói chuyện với mẹ mà chỉ nói chuyện với bố. “Lúc đầu tôi tưởng con bé giận dỗi nhưng hóa ra không phải. Một lần gặng hỏi, cháu bảo ‘Con phải dịch cho mẹ từ tiếng Pháp sang tiếng Việt. Mệt lắm'”, chị Quỳnh Mai bật cười kể lại. Và lúc đó, chị hiểu rằng mình phải tạo ra nhu cầu học tiếng Việt cho con, phải có môi trường để cháu tiếp cận với ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam.

Nghĩ là làm, chị Quỳnh Mai, cùng các ông bố bà mẹ ở Paris, xây dựng nhóm Cánh Diều để các con thực hành tiếng Việt thông qua các hoạt động múa, học vẽ, tập võ và ca hát.

Video Player is loading.

0:16
/
0:23
Loaded: 0%

Progress: 0%

Lớp học võ tại Cánh Diều tổ chức ở một văn phòng trên phố Rue du Caire, Paris, Pháp. Nguồn: Cánh Diều

Là người đồng sáng lập ra nhóm Cánh Diều, tiến sĩ Giáo dục học Nguyễn Thụy Phương, nhà nghiên cứu tại đại học Genève & Paris Diderot kiêm giám đốc Hội Chuyên gia và Khoa học Việt Nam Toàn cầu, cho rằng ngay từ khi những đứa trẻ gốc Việt sinh ra ở nước ngoài chưa ý thức được về “nhận dạng bản thể cá nhân”, về nguồn gốc hay sự khác biệt về hình thức của mình với số đông còn lại, chúng đã thường xuyên đối mặt với những nhận xét hay câu hỏi của mọi người xung quanh như “Con là người Việt, người Pháp hay người Trung Quốc?”.

“Và điều đó làm cho trẻ sớm ‘tự vấn’ về mình”, chị Thụy Phương nói.

Tất cả các phụ huynh nhận lời trả lời phỏng vấn của VnExpress đều thừa nhận rằng khi đi học, các con thấy mình khác biệt so với bạn. Ban đầu, các bé không chấp nhận điều này. Và để giống các bạn, các bé “từ chối nói tiếng Việt, chỉ nói tiếng Pháp”. Tuy nhiên, sau một thời gian tham gia Cánh Diều, bọn trẻ gặp rất nhiều bạn đồng trang lứa nói được cả hai thứ tiếng. “Tự nhiên, các con tự tin hơn, không cảm thấy mình trơ trọi một mình nữa”, chị Quỳnh Mai nhận xét.

Theo nhiều nghiên cứu khoa học, trong giai đoạn trưởng thành, thế hệ nhập cư thứ hai thường phải đấu tranh, thậm chí vật lộn để xác định “bản sắc” của mình. Mặc dù, thông thạo ngôn ngữ và hòa nhập về mặt văn hóa với xã hội nơi được sinh ra, thế hệ thứ hai vẫn ám ảnh về sự khác biệt của mình so với mọi người xung quanh. Trong bài nghiên cứu về thế hệ nhập cư châu Á của thạc sĩ Nazli Kibri tại trường đại học Johns Hopkins, Mỹ, diễn biến tâm lý này trỗi dậy mạnh mẽ nhất trong thời niên thiếu khi con người bắt đầu nhận thức về “cái tôi”.

“Với tôi, các con có thể nói tốt tiếng Việt vô cùng quan trọng. Hiểu về cội nguồn của mình là một nhu cầu rất tất yếu của con người”, chị Quỳnh Mai giải thích khi biết tiếng Việt, bọn trẻ sẽ hiểu về văn hóa của dân tộc và đặc tính của con người Việt Nam. “Như vậy các con sẽ trả lời được câu hỏi ‘Tôi là ai?'”

Nỗi niềm của người xa xứ

Các bé trong nhóm Cánh Diều chụp vào tháng 1/2016. Ảnh: Trung Kiên. 

Các bé trong nhóm Cánh Diều chụp vào Tết Bính Thân năm 2016. Ảnh: Trung Kiên. 

Anh Trung Kiên, kỹ sư công trình xây dựng hệ thống tàu điện ngầm, sang Pháp từ năm 2002 để học đại học. Sau đó, Trung Kiên quyết định định cư và xây dựng tổ ấm trên đất Pháp. Hiện hai vợ chồng Trung Kiên và ba con từ 8 đến 1 tuổi đang sống ở Paris. Tương tự, anh Hoàng Phương sang Pháp năm 2005 học thạc sĩ về kiến trúc, rồi thực tập ở các công ty và được nhận vào làm chính thức, sau đó anh ổn định cuộc sống với gia đình ở Kinh đô Ánh sáng. 

Anh Trung Kiên và Hoàng Phương, cùng vợ của họ, đều là những trí thức trẻ sinh ra và lớn lên ở Việt Nam sau đó sang Pháp học tập và lập nghiệp. Họ thuộc làn sóng nhập cư người Việt đến Pháp sau năm 1975. “Không giống các thế hệ di tản trong chiến tranh, mình không giữ trong lòng uẩn khúc gì với quê nhà nên không có lý do gì mà không khích lệ các con nói tiếng Việt”, Trung Kiên nói. Bên cạnh đó, việc đi lại giữa Pháp và Việt Nam dễ dàng hơn trước kia nên thế hệ thứ hai càng có điều kiện và nhu cầu tìm hiểu về văn hóa quê hương. 

Đại sứ quán Việt Nam tại Pháp dẫn kết quả một cuộc điều tra dân số của Pháp ước tính số người Việt Nam hiện gần 300.000 người, chủ yếu những người đã nhập quốc tịch Pháp hoặc thường trú dài hạn. Cộng đồng người Việt là một trong 80 cộng đồng người nước ngoài sinh sống tại Pháp nổi tiếng nhờ sự hội nhập thành công vào xã hội Pháp, mối quan hệ tốt đẹp với người dân địa phương và niềm đam mê tri thức. Nhiều người có trình độ học vấn cao và có một vị trí tốt, thu nhập cao trong xã hội Pháp. Trên thực tế, khoảng 40.000 người Việt Nam có bằng đại học hoặc sau đại học trong các chuyên ngành khác nhau. Đa phần người Việt định cư ở các thành phố lớn và sầm uất như thủ đô Paris với khoảng 70.000 người và thành phố cảng Marseille hơn 20.000 người.

Anh Trung Kiên cho các con tham gia tích cực nhóm Cánh Diều từ khi mới chỉ 3-4 tuổi. Các phụ huynh rất tâm đắc với các tên Cánh Diều vì nó hàm chứa ước mong những đứa trẻ gốc Việt sinh ra và lớn lên ở Pháp ngày một bay cao bay xa nhưng vẫn có một sợi dây nguồn cội níu giữ.

Mỗi tháng hai lần, vào Chủ nhật, một văn phòng chật hẹp ở quận trung tâm của Paris lại rộn ràng tiếng cười đùa của khoảng 30 đứa trẻ chen chúc trong các lớp học múa, học vẽ, học võ và ca hát kể chuyện.”Cánh Diều là một nơi để các gia đình Việt sống ở Pháp gặp gỡ nhau và giao thoa với nhau, mỗi gia đình đóng góp một góc nhìn riêng về văn hóa Việt Nam. Từ đó các con có sự chia sẻ và tăng vốn văn hóa, ngôn ngữ của các cháu”, Trung Kiên nói.

Ông bố 35 tuổi kể rằng trước kia, các con anh toàn nói tiếng Việt không dấu. Bố mẹ ở nhà hàng ngày không nhận ra điều đó mãi cho đến khi bạn bè hoặc họ hàng từ Việt Nam sang mới phát hiện ra. “Giờ chúng nói tốt hơn nhiều rồi, đã biết đọc truyện tranh cho bố mẹ nghe và có dấu đàng hoàng”.

Nhóm Cánh Diều học vẽ cây đào nhân dịp Tết Mậu Tuất 2018. Ảnh: Hoàng Phương.

Nhóm Cánh Diều học vẽ cây đào nhân dịp Tết Mậu Tuất 2018. Ảnh: Hoàng Phương.

Trong khi đó, anh Hoàng Phương, thầy dạy vẽ tại Cánh Diều hơn 4 năm, luôn cố gắng lồng ghép chủ đề về văn hóa Việt Nam vào các bài tập vẽ nhằm khơi gợi trí tò mò của các con về quê hương. “Bọn tôi ở bên này có một nỗi sợ là sợ con cái quên mất nguồn gốc của mình. Quốc tịch Pháp chỉ là trên giấy tờ thôi. Trong đầu lúc nào cũng nghĩ là mình là người Việt Nam chứ không phải người Pháp”, anh Hoàng Phương bày tỏ.

Cứ vào mỗi dịp Tết, cộng đồng người Việt sinh sống ở Paris lại tổ chức chương trình ca nhạc với quy mô lớn để kết nối những người con xa xứ. Tết Mậu Tuất năm nay, riêng đội hậu cần đã lên tới 700 người. 

Cánh Diều đóng góp màn múa múa công của các mẹ và các con. Và sau đó, các con hát bài “Long Phụng Sum Vầy”. Trong khi, bọn trẻ lên sân khấu biểu diễn sau hơn hai tháng tập luyện chăm chỉ, bố mẹ ở dưới hò hét, cổ vũ tưng bừng. “Chúng tôi xúc động nhất trong những dịp như thế khi xung quanh mình toàn là người Việt, tất cả mọi thứ đều liên quan đến Việt Nam. Nhìn các con trên sân khấu, cảm giác như kiểu trồng cây tới ngày hái quả ngọt vậy”, anh Hoàng Phương nói.

Hạnh Phạm

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 9

TỊNH KHẨUTỊNH KHẨU

Inline image

Trong chùa, có một anh câm. Không ai nhớ anh ta đến chùa từ bao giờ, vả lại cũng không mấy người để ý đến anh ta. 

Anh ta lo mấy sào vườn ở sau chùa, lúc thì trồng rau, lúc thì trồng đậu, làm việc rất là siêng năng. Lúc rảnh, anh ta vào bếp giã gạo và vào những ngày sóc vọng, chùa đông khách, anh ta giúp việc dưới bếp, và rửa bát ở bờ ao cạnh bếp.
 
Vì anh ta câm, nên chẳng ai nói với anh và nếu có việc cần nói thì phải ra hiệu. Hết việc, tối nào anh cũng quanh quẩn ở trên chánh điện, quét dọn, lau chùi, và mỗi năm vào kỳ Kết hạ, mỗi lúc có khóa giảng thì anh ta cầm chổi đứng gần cửa phòng hội, ra vẻ đang quét nhà, nhưng thật ra là nghe giảng kinh …
 
Một ngày kia, không thấy anh, vị tri sự bước vào căn phòng nhỏ xíu của anh ở góc vườn, lúc đó mới biết rằng anh câm bị đau, sốt nặng không dậy được. Vị tri sự trình Tổ và mọi người thấy Tổ vào thăm anh câm. Ngài ngồi với anh rất lâu và khi Ngài trở về phòng, nét mặt trang nghiêm của Ngài thoáng vẻ hân hoan.
 
Từ hôm ấy, chú tiểu ngày hai ba lần mang cháo vào cho anh câm và Tổ mỗi khi xuống thăm thì ngồi cả giờ, mọi người cho rằng anh câm có phúc, được Tổ thương và nếu có mệnh hệ nào thì được Ngài độ cho.
 
Vào đúng giờ Ngọ hôm đó, người ta thấy Tổ chậm rãi bước ra khỏi phòng anh câm và khi Tổ nhận thấy mọi người chắp tay vây quanh thì Tổ nói rất ngắn: “Ngài đã viên tịch rồi”.

Ai ai cũng tỏ vẻ ngạc nhiên: Tổ gọi anh câm cuốc vườn là Ngài! Tổ là một thiền sư đạo hạnh nổi tiếng không những trong vùng, mà ngay cả ở chốn kinh kỳ xa xôi nữa. Nhưng không ai dám hỏi Tổ cả.
 
Cho đến khi làm lễ hoả thiêu xong, bài vị của anh câm đã được đặt trên chùa, và khóa cầu siêu thường lệ chấm dứt, mọi người được nghe Tổ nói như sau:
 
“Thật ra, vị chấp tác làm vườn ở chùa ta là một vị tăng, không những là một vị tăng ở kiếp này, mà là từ kiếp trước. Kiếp trước, Ngài tu hành tinh tấn, nhưng Ngài vẫn tái sinh làm kiếp người, chưa lên được cõi trên vì nghiệp của Ngài còn nặng. Kiếp này, Ngài lại tu nữa, và do ta giúp đỡ, Ngài biết rằng Ngài chưa xóa được khẩu nghiệp. Vì thế Ngài phát nguyện tu tịnh khẩu nghiệp. Ngài tịnh khẩu, ai cũng tưởng là Ngài câm. Đến nay thân, khẩu, ý của Ngài đều đã thanh tịnh nên Ngài đã ngộ, vì thế ta mới nói rằng Ngài tịch diệt. Bàn thờ Ngài ở kia, có thể bỏ đi được, nhưng thôi hãy cứ để đấy, không phải là để cúng Ngài, mà chính là để nêu cái gương tu hành cho mọi người.”
 
Người nghe chuyện, ai ai cũng yên lặng cúi đầu, nghiền ngẫm về sự tu hành. Từ ngày đó, trong chùa, không ai bảo ai, người ta chỉ nói vừa đủ, những mong đến lúc nào đó tịnh được khẩu nghiệp, thoát khỏi sinh tử luân hồi như vị bồ-tát đóng vai anh câm làm việc sau chùa. 
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 17

18 Nơi Cổ Xưa Nhất Ở Sài Gòn

01. Ngôi trường xưa nhất

Trường Lê Quý Đôn được xây vào năm 1874, hoàn tất năm 1877 do người Pháp quản lý. Lúc đầu trường có tên Collège Indigène (Trung học bản xứ), rồi đổi thành Collège Chasseluop Laubat. Năm 1954, trường mang tên Jean Jacques Rousseau. Năm 1967, trường được trả cho người Việt quản lý mang tên Trung tâm giáo dục Lê Quý Đôn. Từ năm 1975 đến nay đổi tên là trường Trung học phổ thông Lê Quý Đôn. Hơn một thế kỷ qua trường vẫn giữ được kiến trúc ban đầu.
02.Nhà máy điện xưa nhất

Nhà máy điện Chợ Quán được xây vào năm 1896, máy phát điện chạy bằng hơi nước có 5 lò hơi với 150m2, cung cấp dòng điện 3 pha, công suất chưa tới 120MW [Megawatt]. Máy phát điện chính công suất 1000A/h [A=Ampere hay Amp./h=hour]. Hiện nay, nhà máy đã được trang bị hiện đại với 7 máy phát điện, hòa với lưới điện quốc gia cung ứng phần quan trọng cho lưới điện thành phố. Nhà máy tọa lạc tại số 8 Bến Hàm Tử, quận 5.
 

03. Bệnh viện xưa nhất

Bệnh viện Chợ Quán được xây vào năm 1826 do một số nhà hảo tâm đóng góp, sau đó hiến cho nhà nước. Năm 1954-1957 [Bệnh viện được] giao cho Quân đội và đổi tên thành Viện Bài lao Ngô Quyền. Năm 1974, đổi thành Trung tâm Y tế Hàn-Việt với 522 giường. Tháng 9/1975, mang tên Bệnh viện Chợ Quán. Đến ngày 5/9/1989 chuyển thành Trung tâm Bệnh Nhiệt đới. Hiện nay có 610 Cán bộ-Công nhân viên và 550 giường bệnh.

04. Nhà hát xưa nhất

Nhà hát thành phố do kiến trúc sư người Pháp khởi công và hoàn tất vào ngày 17/1/1900. Các phù điêu bên trong được một họa sĩ tên tuổi ở Pháp vẽ giống như mẫu của các nhà hát ở Pháp cuối thế kỷ XIX. Nhà hát là nơi trình diễn ca nhạc kịch cho Pháp kiều xem. Năm 1956-1975, Nhà hát được dùng làm trụ sở Hạ nghị viện cho các chính phủ Đệ I & II Việt Nam Cộng Hòa; tháng 5/1975 trở thành Nhà hát thành phố với 750 chỗ ngồi. Kỷ niệm 300 năm Sài Gòn, toàn bộ phần kiến trúc bên ngoài Nhà hát đã được tu sửa lại như lúc nguyên thủy.
05. Khách sạn xưa nhất

Khách sạn Continental tọa lạc tại 132-134 Đồng Khởi, được xây vào năm 1880 do Kiến trúc sư người Pháp thiết kế, tên khách sạn có ngay từ những ngày đầu. Sau ngày cướp được miền Nam, khách sạn Continental bị Bắc Việt đổi thành Hải Âu. Đến năm 1989, khách sạn được nâng cấp, chỉnh trang và lấy lại tên cũ Continental với diện tích 3430m2, cao 3 tầng, nơi đây đã từng đón tiếp các vị tổng thống, thống đốc, nhà văn, người mẫu nổi tiếng. Ngày nay, khách sạn Continental là một trong những khách sạn đạt tiêu chuẩn quốc tế.

06. Nhà thờ xưa nhất
Nhà thờ Chợ Quán tọa lạc tại số 20 Trần Bình Trọng, P.2 [phường], Q.5 [quận] được xây vào năm 1674 là nhà thờ cổ nhất tại Sài Gòn và cổ nhất ở miền Nam. Ngôi thánh đường nằm ở vị trí trung tâm, có kiến trúc kiểu phương Tây, lợp ngói đỏ, có thể chứa khoảng 1000 người. Ngoài việc sinh hoạt tôn giáo, Họ đạo Chợ Quán tích cực tham gia công tác xã hội giúp đỡ người nghèo. Trải qua hơn 3 thế kỷ Nhà thờ Chợ Quán đã được trùng tu nhiều lần. Hiện nay, nơi đây có phòng khám và phát thuốc từ thiện dưới quyền quản lý của Hội Chữ thập đỏ [Hội Hồng Thập Tự] Quận 5.
07. Ngôi đình xưa nhất

Một trong những ngôi đình cổ nhất của đất Gia Định xưa và xưa nhất Nam Bộ là đình Thông Tây Hội, được xây vào khoảng năm 1679, là chứng tích còn nguyên vẹn nhất của thời kỳ dân Ngũ Quảng kéo vào khai khẩn vùng Gò đất có nhiều cây Vắp (từ đó trở thành tên địa phương là Gò Vấp). Đình lúc đầu là của thôn Hạnh Thông–thôn khởi nguyên của Gò Vấp, sau đổi thành Thông Tây Hội (do sự sáp nhập của thôn Hạnh Thông Tây (thôn Mới) và thôn An Hội). Đình Thông Tây Hội có vị Thành Hoàng rất độc đáo. Hai vị thần thờ ở đình là hai hoàng tử con vua Lý Thái Tổ, do tranh ngôi với thái tử Vũ Đức nên bị đày đi khai hoang ở vùng cực Nam tổ quốc và trở thành “Thủy tổ khai hoang” trong lịch sử Việt Nam; hai vị thần đó là: Đông Chinh Vương và Dục Thánh Vương. Ngôi đình còn giữ được khá nguyên vẹn về quy mô và kiến trúc, kết cấu, với những chạm khắc đặc trưng Nam bộ. Đình Thông Tây Hội thuộc P.11, Gò Vấp.

08. Nhà văn hóa xưa nhất

Cung Văn hóa Lao Động. Năm 1866, với tên gọi Cèrcle Sportif Saigonnais được xây dựng làm sân thể thao cho các quan chức người Pháp với những hồ bơi, sân quần vợt, phòng đấu kiếm và phòng nhảy đầm. Thời Mỹ chiếm đóng, sân chơi được mở rộng hơn [và] phục vụ cho cả giới quý tộc. Tháng 11/1975, Ủy ban Quân quản Sài Gòn–Gia Định trao toàn bộ khu này cho Liên đoàn Lao động Thành phố để biến cải thành khu hoạt động văn hóa thể thao và vui chơi giải trí cho công nhân lao động, lấy tên là Câu lạc bộ Lao Động, sau đổi thành Nhà văn hóa Lao Động, và rồi là Cung Văn hóa Lao Động. Diện tích 2.8ha, với 132 năm hình thành và phát triển, Cung Văn hóa Lao Động là Nhà văn hóa cổ và lớn nhất của Sài Gòn.

09. Công viên lâu đời nhất

Thảo Cầm Viên do người Pháp xây vào năm 1864, nhà thực vật học nổi tiếng người Pháp Louis Pierre làm giám đốc đầu tiên. Mục đích xây dựng Thảo Cầm Viên để ươm cây giống trồng dọc các đại lộ Sài Gòn, đồng thời là nơi nuôi & trồng những động & thực vật [thuộc] miền nhiệt đới mà các Thảo Cầm Viên của Pháp [lúc bấy giờ] chưa có. Năm 1865, chính phủ Nhật đã hỗ trợ khoảng 900 giống cây quý như: Chizgnamat, Goyamtz, Acamatz, Coramatz, Kayanoki, Kayamaki, Enoki, Maiki, Asoumaro, Sengni, Momi, Cashi, Kiaki, Inoki… Động vật của Thảo Cầm Viên khá phong phú như: gà lôi, sếu, cu gáy, hồng hoàng, công, hưu, nai, cọp, khỉ, chồn hương, tắc kè, rùa, cọp xám, báo đen, gà lôi xanh, chim cú lợn… Đến năm 1989, Thảo Cầm Viên được trùng tu, mở rộng và nhận thêm nhiều giống thú mới, trồng thêm cây quý. Hiện nay, có 600 đầu thú thuộc 120 loài, 1823 cây gỗ thuộc 260 loài và nhiều loại cây kiểng quý trên diện tích 21.352m2. Năm 1990, Thảo Cầm Viên là thành viên chính thức của Hiệp hội các vườn thú Đông Nam Á. Thảo Cầm Viên đã tròn 134 tuổi, số lượng động & thực vật ngày càng tăng, nơi đây đã gắn bó với từng bước đi lên của thành phố và là một trong những công viên khoa học lớn nhất Đông Dương.
10. Ngôi nhà xưa nhất

Ngôi nhà có tuổi thọ lâu đời nhất còn hiện diện tại Sài Gòn nằm trong khuôn viên Tòa Tổng Giám Mục Sài Gòn, số 180 Nguyễn Đình Chiểu, P.6, Q.3. Năm 1790, Vua Gia Long cho cất ngôi nhà này ở gần Rạch Thị Nghè làm nơi ở cho Linh Mục Bá-Đa-Lộc và làm nơi dạy học cho Hoàng tử Cảnh. Ngôi nhà được xây bên bờ sông Thị Nghè trong địa phận Thảo Cầm Viên bây giờ. Năm 1799, Bá-Đa-Lộc chết, ngôi nhà được giao cho linh mục khác. Từ năm 1811 đến năm 1864 ngôi nhà bị đóng cửa vì chính sách cấm đạo của triều đình Huế. Sau khi vua Tự Đức ký hòa ước với Pháp, ngôi nhà được trao lại cho Tòa Giám Mục và được di chuyển về vị trí đường Alexandre de Rhodes hiện nay. 

Sau đó năm 1900 Tòa Giám Mục được xây cất tại 180 đường Richaud (nay là đường Nguyễn Đình Chiểu) thì ngôi nhà gỗ lại được dời về đây làm nhà thờ của Tòa Giám Mục. Ngôi nhà 3 gian 2 chái, lợp ngói âm dương, sườn, cột bằng gỗ, khung cửa và các khung thờ đều được chạm trổ công phu [với] hình hoa, lá, chim thú, hoa văn. Trong các di vật còn lại của ngôi nhà có một di vật có giá trị lịch sử lớn, đó là đôi liễn gỗ có tám chữ triện khảm xà cừ là tám chữ vua Gia Long ban tặng giám mục Bá-Đa-Lộc, một bên là “Tứ Kỳ Thịnh Hy”, một bên là “Thần Chi Cách Tư”.

Ngôi nhà được tu sửa vào năm 1980, cách tu sửa có tính chất vá víu, cốt giữ lại những gì có thể giữ được. Trải qua hai thế kỷ ngôi nhà không giữ được nguyên trạng nhưng đây là một di tích kiến trúc mang dấu ấn lịch sử, tôn giáo và văn hóa nghệ thuật. Đây là một tài sản có giá trị mà các bậc tiền nhân đã để lại cho chúng ta, không chỉ là truyền thống – bản sắc dân tộc mà còn là bộ mặt quá khứ mang tính văn hóa kiến trúc, một khía cạnh văn minh tại một vùng đất mới mọc lên từ đầm lầy, kênh rạch.

11. Ngôi chùa xưa nhất

Ngôi chùa có cảnh trí đẹp nhưng nằm ở địa điểm không tiện đi lại nên được ít người biết đến, [đó] là chùa Huê Nghiêm, tọa lạc ở 20/8 Đặng Văn Bi, Thủ Đức. Chùa được thành lập năm 1721 do Tổ Thiệt Thùy (Tánh Tường) khai sáng. Tên chùa lấy từ tên bộ kinh Hoa Nghiêm. Đây là chùa cổ xưa nhất trong các chùa ở TP Sài Gòn nên còn gọi là Huê Nghiêm Cổ Tự. Những ngày đầu là một ngôi chùa nhỏ được xây cất trên vùng đất thấp cách địa thế chùa hiện nay khoảng 100m. Sau đó, Phật tử Nguyễn Thị Hiên pháp danh Liễu Đạo cúng đất để xây lại ngôi chùa rộng rãi khang trang như hiện nay. 

Qua nhiều lần trùng tu vào các năm 1960, 1969, 1990 mặt tiền chùa ngày nay mang dáng vẻ kiến trúc của chùa hiện đại nhưng các gian phía trong vẫn giữ nguyên kiến trúc cổ truyền, mái gian mặt tiền được cấu trúc gồm 3 lớp, nhỏ dần về phía trên. Các đường gờ mái chạy dài xuống cuối đầu đăng đều trang trí bằng hoa văn hình cánh sen đối xứng, giữa là hình bánh xe luân pháp, đặt trên hoa sen. Mái lợp ngói ống màu đỏ, đường viền mái ngói màu xanh. 

Vườn chùa có nhiều cây xanh bóng mát, có 9 ngôi tháp cổ với nhiều kiểu dáng khác nhau như những cánh sen vươn lên. Những hàng cột gỗ trong chùa được khắc nổi các câu đối bằng chữ Hán màu đen kết hợp với việc chạm khắc mô típ “long ẩn vân” dùng trang trí.

Chùa Huê Nghiêm là một di tích Phật giáo quan trọng, là nơi dừng chân, sống đạo và hành đạo của nhiều vị danh tăng uyên thâm Phật pháp, có đạo hạnh và có đạo đức. Chùa cũng là bằng chứng về trình độ kiến trúc và phong tục tập quán của người Việt trên vùng đất mới khai phá, mở ra nền văn minh trên vùng đất hoang sơ.
12. Đường sắt đầu tiên ở thành phố

Tuyến đường sắt đầu tiên ở nước ta là đoạn đường sắt Sài Gòn–Mỹ Tho dài 71km, được xây vào năm 1881. Ga chính trước chợ Bến Thành, văn phòng đường sắt là tòa nhà 2 tầng chiếm cả khu đất bao bọc bởi ba đường Hàm Nghi–Huỳnh Thúc Kháng–Nam Kỳ Khởi Nghĩa, nay là Xí nghiệp Liên hợp đường sắt khu vực 3. Xe lửa chạy bằng máy hơi nước phải dùng than củi đốt nồi súp-de nên xe chạy khá chậm. Vì không cạnh tranh nổi với xe đò trong việc chuyên chở hàng hóa và hành khách, đường xe lửa Sài Gòn–Mỹ Tho đã ngưng hoạt động từ lâu. Sau năm 1975, Ga xe lửa Sài Gòn được dời về Ga Hòa Hưng. Vào ngày 8/8/1998, người ta khởi công xây cất Trung Tâm Văn Hóa Thương Mại Sài Gòn trên nền Ga Sài Gòn cũ.

13. Người Việt đầu tiên viết sử Việt Nam bằng tiếng Pháp

Ông Trương Vĩnh Ký (1837-1898). Năm 1859, Pháo hạm Pháp bắn vào cửa biển Đà Nẵng và thành cũ Gia Định, triều đình nhà Nguyễn bắt buộc chấp nhận mở cửa đất nước cho tư bản thực dân Pháp xâm nhập. Trong giai đoạn lịch sử mới, người Việt Nam từng bước tiếp xúc với ngôn ngữ và văn minh mới. Trương Vĩnh Ký là một trong những người sớm tiếp xúc và hấp thụ ngôn ngữ văn hóa phương Tây đã trở thành học giả có nhiều sáng tác nhất bằng cả tiếng Pháp và tiếng Hán–Việt. Ông là người Việt Nam đầu tiên viết sử Việt Nam bằng tiếng Pháp. Cuốn “Giáo trình lịch sử An Nam” đã được xuất bản gồm hai tập dày 462 trang. Đây thực sự là một công trình bác học biên soạn công phu dưới ánh sáng của một phương pháp luận khoa học tiến bộ so với đương thời.

14. Tờ báo bằng chữ Quốc Ngữ đầu tiên
Tờ “Gia Định Báo” là tờ báo chữ Quốc ngữ đầu tiên ở nước ta ra đời tháng 4/1865. Tờ báo đăng những thông tin nghị định của nhà nước và những tin kinh tế xã hội, lời bàn về thời cuộc, luân lý, lịch sử. Báo ra hằng tháng. Sau 4 năm phát hành, chính quyền thuộc địa cho phép báo phát hành hàng tuần bằng quyết định số 51 ngày 18/3/1869.
15. Tờ báo đầu tiên của Phụ nữ Việt Nam

Ngày 1/2/1918 tờ báo chuyên về Phụ nữ đầu tiên ra đời là tờ “Nữ Giới Chung” nhằm nâng cao trí thức, khuyến khích công-nông-thương, đề cao người Phụ nữ trong xã hội, chú trọng đến việc dạy đức hạnh, nữ công, phê phán những ràng buộc đối với Phụ nữ, đánh đổ mê tín dị đoan, động viên Phụ nữ quan tâm đến việc “Nữ quyền”. Muốn có vị trí ngang hàng với nam giới ngoài việc tề gia nội trợ phải am hiểu “tình trong thế ngoài”.

Chủ bút tờ báo là nữ sĩ Sương Nguyệt Anh, con gái nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu, vốn có lòng yêu nước, yêu thương đồng bào như thân phụ nên khi làm báo Bà có ý muốn làm diễn đàn để tỉnh thức lòng yêu nước trong dân chúng. Tuy chỉ tồn tại được hơn 6 tháng nhưng “Nữ Giới Chung” cũng đã gióng lên một hồi chuông nữ quyền còn vang mãi đến ngày nay.

16. Cuốn từ điển tiếng Việt đầu tiên
“Đại Nam Quốc Âm Tự Vị” là cuốn từ điển tiếng Việt quốc ngữ La-tinh của Huỳnh Tịnh Của gồm hai tập: Tập I xuất bản năm 1895, tập II xuất bản 1896 tại Sài Gòn. Bộ từ điển chứa nhiều từ ngữ xưa, thành ngữ, tục ngữ, từ ngữ về thảo mộc, cầm thú của Việt Nam và của miền Nam. Bộ từ điển này trở thành Từ điển Bách khoa toàn thư đầu tiên về Nam Bộ.

17. Người kiến trúc sư Việt Nam đầu tiên

Ông Nguyễn Trường Tộ (1828-1871) người làng Bùi Chu, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Gia đình ông theo đạo Thiên Chúa, ông giỏi chữ Nho, thông hiểu Ngũ Kinh Tứ Thư, học chữ Quốc ngữ và chữ Pháp với các giáo sĩ. Ông được giám mục Gauthier đưa sang Paris năm 1858. Ông am hiểu chính trị, kinh tế, quân sự, ngoại giao, pháp luật. Năm 1861 ông trở về nước, tàu ghé Sài Gòn thì nơi đây đã đổi chủ, ông buộc phải làm phiên dịch cho người Pháp.

Trong lúc ở Sài Gòn, ông đã đứng ra xây cất tu viện dòng thánh Phao-lô (số 4 Tôn Đức Thắng). Đây là công trình xây cất theo kiến trúc Châu Âu do người Việt Nam thực hiện tại Sài Gòn. Công trình được khởi công từ tháng 9/1862 đến 18/7/1864 hoàn thành gồm nhà nguyện với ngọn tháp nổi bật trên cao xây theo kiểu Gô-thic, một tu viện, một nhà nuôi trẻ mồ côi và một tháp chuông. Công trình xây cất này là kết quả nghiên cứu kiến trúc châu Âu của Nguyễn Trường Tộ khi ông ở Hồng Kông. Qua nhiều lần sửa chữa trùng tu, ngày nay tu viện thánh Phao-Lô vẫn giữ được đường nét kiến trúc xưa, chứng tỏ tài năng kiến trúc của Nguyễn Trường Tộ không thua gì các kiến trúc sư người Pháp.

18. Người Việt Nam đầu tiên vẽ bản đồ địa lý và đồ họa Sài Gòn theo phương pháp phương Tây
Ông Trần Văn Học, sinh quán ở Bình Dương, giỏi Quốc ngữ, La-tinh và tiếng Tây Dương, được giới thiệu làm thông ngôn cho Nguyễn Ánh. Ông phụ trách việc dịch sách kỹ thuật phương Tây, đồng thời kiêm việc chế tạo hỏa xa, địa lôi và các loại binh khí. Năm 1790, Nguyễn Ánh xây thành Bát Quái. Trần Văn Học phụ trách “phác họa đường sá và phân khu phố phường”.
Ông rất có tài vẽ địa đồ, họa đồ và kỹ thuật bản đồ như: tỷ lệ, trắc địa, và vẽ gần như chính xác các thành trì và công trình. Ông được coi [như là] người đầu tiên vẽ bản đồ Sài Gòn-Gia Định theo phương pháp Tây phương.

Bản đồ Gia Định – Sài Gòn – Bến Nghé do Trần Văn Học vẽ 1815. Khu vực trong và ngoài thành Bát Quái (Phiên An – trung tâm tâm đô thị Sài Gòn) là những con đường ngang dọc vuông vức mà hiện chúng ta đang đi. Từ hai thành Phiên An, Gia Định, các trục lộ chính tỏa bốn hướng giờ vẫn còn: Hai Bà Trưng (giữa thành, qua Phú Nhuận, xuống Gò Vấp và quay lại thành), đường Nguyễn Trãi (đi Chợ Lớn), đường Nguyễn Thị Minh Khai (bên trái thành đi miền Tây, phải thành đi miền Đông, ra xa lộ Hà Nội, QL1), Cách Mạng Tháng 8 (đi Campuchia), Nguyễn Tất Thành (đi Q.7, Nhà Bè, Cần Giờ).
Kim Phượng sưu tầm
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 22

Tuổi xuân huy hoàng, tuổi già hiu quạnh.

Cuộc đời của một chính trị gia khiến người ta nhận ra chân lý vĩnh hằng Margaret Thatcher là nữ thủ tướng đầu tiên của Anh quốc, cũng là một trong những chính trị gia quyền lực nhất trong lịch sử, được truyền thông gọi là “Người đàn bà thép” (Iron Lady) của nước Anh.

Nhưng đằng sau hào quang chính trị, “người phụ nữ thép” ấy lại phải chịu đựng nỗi buồn vô tận của sự cô độc và bi ai.

 Có sự nghiệp và tình yêu, nhưng thất bại khi làm mẹ

Thatcher từng nói rằng, trong thế hệ của bà, sẽ không có một người phụ nữ nào trở thành thủ tướng.

 Nhưng chính bà lại làm được điều ấy. Bà không chỉ trở thành nữ thủ tướng đầu tiên ở Anh, chứng minh rằng phụ nữ có thể đặt chân lên bục vinh quang vốn thuộc về nam giới, mà còn làm được điều mà nam giới không thể làm.

 

Thời trẻ, Thatcher học hành rất chăm chỉ, nhờ vào nghị lực và sự kiên trì bền bỉ, bà đã thi đậu vào trường đại học Oxford. Thatcher đã trở thành nữ ứng cử viên của Đảng Bảo Thủ ở tuổi 25.

 

Vào thời điểm này, bà gặp Denis, một thương nhân giàu có đang điều hành tập đoàn của gia đình.

 

Denis yêu Thatcher ngay từ cái nhìn đầu tiên, lúc ấy là một cô gái trẻ xinh đẹp và có đầu óc chính trị.

 

Không lâu sau hai người tiến đến hôn nhân, sau hai năm kết hôn họ sinh được đôi long phụng – một trai, một gái.

 

Nhưng bà mẹ trẻ như Thatcher không có nhiều thời gian dành cho con cái. Khi cặp song sinh mới được hơn hai tuần tuổi, bà lập tức quay trở lại với sự nghiệp chính trị của mình. Lúc ấy, Denis luôn ở phía sau âm thầm ủng hộ vợ,

 

Thatcher đạt được hạnh phúc viên mãn trong hôn nhân nhưng trong quan hệ với con cái bà lại là một người mẹ thất bại.

 

Bà bận rộn với các hoạt động chính trị, bỏ bê việc giáo dục con cái, cuối cùng trở thành trường hợp “mẫu từ tử bại”, ý nói mẹ tài giỏi nhưng con thì thất bại.

Những năm cuối đời, Thatcher từng nói rằng: “Nếu thời gian có thể quay ngược lại, tôi tuyệt đối sẽ không bước chân vào đấu trường chính trị, vì gia đình tôi đã phải trả giá quá đắt cho điều ấy”.

 

M.THATCHER

Cựu thủ tướng Anh Margaret Thatcher

 

Bởi vì trong suốt sự nghiệp, Thatcher luôn bận rộn với các hoạt động chính trị, đến mức không còn thời gian và tâm trí dành cho con cái.

 

Quan hệ giữa bà với cô con gái Carol vô cùng lạnh nhạt; mặc dù cậu con trai Mark gần gũi hơn nhưng

 

lại không cho bà được nở mày nở mặt.

Cậu bé ham chơi, lười học, chẳng những thành tích học tập kém mà còn ỷ lại vào quyền thế của mẹ mà tỏ ra cao ngạo, thường “xưng vương xưng bá” trong những năm học đường.

 

Sau khi trưởng thành, Mark tham gia cuộc đua xe Paris-Dakar Rally năm 1982, sau đó bị lạc nhiều ngày trong sa mạc Sahara. Đây là lần đầu tiên kể từ khi tiếp nhận vị trí thủ tướng, Thatcher rơi nước mắt trước mặt công chúng. Bà đã phải chỉnh cầu chính phủ các nước giúp đỡ để giải cứu con trai.

 

Sau khi được cứu, con trai của Thatcher lại tiêu phí một lượng rượu lớn trong khách sạn nhưng không chịu chi trả. Cậu cho rằng việc chính phủ giải quyết giúp mình là điều đương nhiên nên không ngừng tranh chấp với ban ngoại giao và các nhân viên khách sạn, cuối cùng cảnh sát phải đích thân can thiệp.

 

Những năm sau đó, Mark lại mượn địa vị của mẹ và tiền tài của vợ mà không ngừng chơi bời, tham gia các hoạt động mạo hiểm, tiêu tiền tốn của.

 

Khi tham gia vào cuộc đảo chính ở Guinea, cậu bị bắt ở Nam Phi và bị kết án 4 năm tù treo cùng với khoản tiền phạt khoảng 313.000 bảng Anh.

 

Bà Thatcher cũng buộc phải cầm tiền đi Nam Phi để chuộc con trai về.

 

Những năm cuối cùng khiến người đời cảm thán mãi không thôi .

 

Thủ tướng Thatcher từng nói rằng, nhà là nơi mà bạn không cần phải làm bất cứ điều gì.

 

Trong ngày kỷ niệm 50 năm kết hôn, Thatcher bất ngờ đột quỵ và mất đi một phần ký ức.

 

 

Hai năm sau chồng bà qua đời, đó là cú sốc mạnh đối với Thatcher khiến trí nhớ của bà ngày càng kém hơn, bà thường nghĩ rằng ông vẫn còn sống trên đời.

 

Nỗi đau mất chồng không hề thuyên giảm theo thời gian, có một lần tỉnh dậy giữa đêm khuya, bà đã khoác lên mình một bộ quần áo trang trọng, rồi đi đến viếng mộ phần của ông.

 

Trong lễ sinh nhật lần thứ 77, Thatcher nhận được bốn tấm thiệp chúc mừng, bà bày chúng lên bàn và đăm chiêu ngắm nhìn.

 

Lúc ấy, con trai bà sống ở Tây Ban Nha, con gái thì ở Thụy Sĩ, những đứa cháu đang ở Mỹ, tất cả những người thân yêu đều hiếm khi trở về thăm bà.

 

 

Carol, con gái của Thatcher tâm sự: “Một người mẹ không thể mong đợi những đứa con đã trưởng thành của mình bỗng chốc trở nên vồn vã, nồng ấm – điều mà chúng không quen”.

 

 

Đánh đổi cho những năm tháng huy hoàng trên vũ trường chính trị là một tuổi già cô đơn, hiu quạnh.

 

Bà không thể hy vọng được vui hưởng tuổi già bên con cháu, thậm chí một mơ ước con cái sẽ trở về thăm nhà cũng là mơ ước quá xa vời.

 

Đời người giống như một vòng quay tuần hoàn, khoảng thời gian không có người thân bên cạnh ai ai cũng từng trải qua, với Thatcher là những năm cuối đời trống trải, còn với các con của bà là một tuổi thơ thiếu vắng hình bóng mẹ.

 

M.THATCHER

 

“Người phụ nữ thép” Margaret Thatcher

 

 

Vào lễ đại thọ ba năm sau, có lẽ vì quá tưởng nhớ đến những ngày tháng nhộn nhịp trước kia, nên bà đã tổ chức đại tiệc với 650 khách tham dự, ngay cả Nữ hoàng Elizabeth II, Hoàng tử Charles và Thủ tướng Tony Blair đều đến chúc thọ bà.

 

Thatcher đã lấy lại phong thái năm xưa, vẫn là nụ cười tự tin như ngày nào, nhưng đáng tiếc tất cả chỉ giống như một ánh đèn loé lên trong phút chốc.

Còn lại bên bà, vẫn là màn đêm tịch mịch và những căn phòng hoang vắng không một bóng người thân.

 

Ở tuổi xế chiều, nhà mới là nơi cuối cùng chúng ta trở về.

 

Trong những năm tháng dài dằng dặc cùng với nỗi cô độc lúc cuối đời, Thatcher lại bị đột quỵ. Mọi thứ đối với bà đều trở thành thử thách, ngay đến xem báo cũng rất khó khăn, vừa đọc câu sau đã quên câu trước. Ở tuổi xế chiều, Thatcher phải chịu nỗi khổ về tinh thần, cơ thể cũng bị bệnh tật tàn phá, lại còn phải chịu đựng sự lạnh nhạt và xa cách của con cái.

 

Trong phòng, bà đặt rất nhiều bức ảnh của chồng, con, và các cháu. Nhưng bên cạnh bà lại không có bất cứ người thân nào, làm bạn với bà chỉ có bác sĩ và y tá. Cho đến phút lâm chung, con trai, con gái cũng không có mặt kịp thời để lo lắng hậu sự cho bà.

 

Những năm cuối đời của Thatcher thật khiến người đời phải cảm thán, nhưng làm sao trách được mệnh Trời?

 

Ai ai cũng phải sống cho xã hội, cho thân nhân, và cho chính mình.

 

Những năm tháng son trẻ khiến con người ta chìm đắm trong sự nghiệp, trong danh vọng và hào quang của quyền lực.

 

Nhưng khi ánh hào quang ấy qua đi, ta chỉ còn lại ta, chỉ còn lại cái thân xác đã hao mòn vì năm tháng.

 

Vậy thì, đâu mới là cuộc sống đích thực của chúng ta? Là tuổi trẻ ước mơ hoài bão, là những năm tháng phồn hoa, là vinh quang tột đỉnh, hay là một tinh thần thản đãng và bình yên?

 

MT--

Đám tang của bà Margaret Thatcher

 

 

Với cố thủ tướng Anh Margaret Thatcher, có lẽ bà là người thấu hiểu hơn ai hết rằng: Sự nghiệp có thể cho chúng ta danh tiếng, địa vị và cảm giác thành tựu.

 

Nhưng đến lúc chúng ta cởi bỏ chiếc áo choàng danh vọng ấy, thì trong đêm khuya một mình thanh tĩnh cũng là lúc chúng ta hiểu rằng ai cũng sẽ dần dần già đi.

 

Danh tiếng cuối cùng rồi cũng sẽ phai nhạt, cảm giác thành tựu rồi cũng dần tan biến.

Tiền dẫu còn giữ lại được, thì khi già cả yếu ớt, cả núi vàng biển bạc cũng không thể mang lại hạnh phúc. Cuối cùng, chỉ có gia đình mới là nơi trở về, nơi cho ta nương tựa.

 

Lúc bị thương, nhà là một chiếc ô che mưa chắn gió, lúc vui vẻ nhà là nơi hạnh phúc ấm áp đong đầy.

 

Sự nghiệp không thể nào thay thế cho tình người, công danh cũng không thể thay thế cho một gia đình hạnh phúc.

 

Đáng tiếc đến giai đoạn cuối cùng của cuộc đời, rất nhiều tỷ phú và những chính trị gia quyền lực mới nhận ra điều này.

 

Mong rằng những ai đọc bài viết này sẽ hiểu được, tiền tài, danh tiếng chỉ là những thứ nhất thời, đều không thể đem lại cho chúng ta hạnh phúc lâu dài, chỉ có gia đình mới là nơi chúng ta dựa dẫm cả đời, là nơi đáng tin cậy và là nơi cuối cùng chúng ta đi về.

 

Nguyện cho những ai đọc bài viết này đều cùng gia đình sống hòa thuận, hạnh phúc một đời.

 

Theo Soundofhope

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 0

Những ngôi đền Phật giáo đẹp đến ngỡ ngàng ở Nga

image
Phật giáo không phải là tôn giáo phổ biến nhất ở Nga khi chỉ có khoảng một triệu tín đồ nhưng tại đây lại có nhiều đền thờ Phật giáo đẹp đến ngỡ ngàng.
Thiền viện Ivolginsky ở Buryatia (miền Đông Siberia) được xây dựng từ năm 1945

 

Đây là trung tâm Phật giáo của Nga. Ban đầu ngôi đền này chỉ là căn nhà gỗ nhỏ nhưng giờ nó đã là một tổ hợp hơn 10 tòa nhà tuyệt đẹp

 

Đền thờ Phật Thích Ca Mâu Ni (Shakyamuni) được xây ở trung tâm Elista, thủ phủ nước Cộng hòa Kalmykia

 

Được khai trương từ năm 2005, đây là biểu tượng của văn hóa và tôn giáo của Kalmykia và có thể được nhìn thấy từ bất cứ nơi đâu trong thành phố Elista

 

Điều ấn tượng nhất của ngôi đền có 7 tầng này là bức tượng Đức Phật mạ vàng được cho là cao nhất ở châu Âu

 

Thiền viện Gunzechoinei ở St.. Petersburg được thành lập từ năm 1909 là một trong những công trình Phật giáo đắt đỏ nhất châu Âu khi được xây từ đá granite và được trang trí rất cầu kỳ với cửa kính màu được vẽ bởi họa sỹ nổi tiếng Nikolai Roerich.

 

Mỗi ngày có từ 300-500 khách viếng thăm thiền viện này

 

Được xây từ năm 1825, Thiền viện Atsagatsky (trước kia là Thiền viện Kurbinsky), nằm ở làng Naryn-Atsagat, nước Cộng hòa Buryatia

 

Những năm 1930 trở về trước, đây là trung tâm Phật giáo của Buryatia. Năm 1936, nơi này bị đóng cửa nhưng lại mở cửa trở lại sau khi Liên bang Xô viết tan rã

 

Thiền viện Sakusn-Syume ở nước Cộng hòa Kalmykia nằm khá xa Elista mà một tổ hợp khá rộng, một trung tâm giáo dục tâm linh được khai trương từ năm 1996

 

Sakusn-Syume được xây giống như các ngôi đền thờ Phật giáo ở Tây Tạng

 

Một trong những ngôi đền Phật giáo lớn nhất ở Nga là tổ hợp Ustuu-Khuree được xây dựng từ năm 1905 nhưng cũng bị chính quyền Xô viết đóng cửa vào những năm 1930 như nhiều ngôi đền khác

 

Năm 1999, chính quyền Nga khôi phục lại ngôi đền và tổ chức một Liên hoan nhạc sống và tín ngưỡng quốc tế tại đây để thu hút sự quan tâm của các tín đồ Phật giáo cũng như du khách. Liên hoan này được tổ chức thường niên từ đó đến nay
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 15

Người Iceland sinh tồn bằng xác động vật thối rữa

https://baomai.blogspot.com/ 
Tuyết rơi cao xung quanh chái nhà ngoài nhỏ của nhà hàng mà tôi đang ngồi, chỉ cách đại dương rét buốt vài ba mét, nhưng bên trong này thì ấm áp, được trang trí với những chiếc lưới cá và mai cua và thi thoảng là hình ảnh vài chú lùn.
Trên chiếc đĩa trước mặt tôi là món xúc xích gan được chế biến bằng nước sữa chua, thịt cừu xông khói từ lửa nhóm bằng phân và một chút cá thối rữa có mùi khai nồng.
Món xúc xích gan chua vừa phải và món thịt cừu thì cho ta thấy rõ rằng bọn cừu tiêu hóa không tốt cho lắm – tức là ta cũng có thể gọi đó là món thịt cừu thui cỏ.
Mùi vị kinh khủng
Khi tôi giơ chiếc nĩa lên với miếng cá đầu tiên, có một giọng nói từ phía bên kia căn phòng la với sang phía tôi.
“Skata! Ha!”
https://baomai.blogspot.com/ 
Skate, hay món cá thối, là món ăn truyền thống ở Iceland
Đó là một anh chàng Băng Đảo trong độ tuổi từ khoảng 25-29, lùn, để râu cằm và trông phục phịch một chút – một người hướng dẫn du lịch đưa vào vài du khách Trung cộng.
Tên anh là Gísli, người là hướng dẫn của tôi vào đêm trước đó ở thị trấn nhỏ miền bắc Akureyri này. Chúng tôi đã có một buổi tối đáng nhớ đuổi theo Bắc Cực quang trong chiếc xe thể thao SUV của anh, nghe tiếng đàn glockenspiels, tiếng chập cheng, tiếng đàn guitar và giọng gió vốn bao trùm trong âm nhạc nổi tiếng là êm dịu và thanh thoát của Băng Đảo.
“Ngon chứ? Anh thích chứ?” Gísli cất giọng ồm ồm. Tôi nói với anh ấy là tôi vẫn chưa ăn thử.
“Anh sẽ thích nó! Nó thật kinh khủng!”
https://baomai.blogspot.com/ 
Sau đó tôi ăn thử. Món cá đuối nóng hổi do chỉ vừa được lấy khỏi lò, nhưng cái độ phỏng mà tôi cảm giác trên đầu lưỡi là hiệu ứng hóa học – kết quả của phản ứng hóa học mạnh mẽ đang diễn ra trên miếng cá đang phân hủy. Tôi đã cau mày nhăn mặt.
“Ha!” Gísli quay lại ở phía bên kia căn phòng với nhóm khách của mình nhưng vẫn để mắt tới tôi. “Kinh khủng phải không? Ha, tôi rất thích món này. Họ đưa tôi một miếng, tôi sẽ ăn hết và xin thêm. Món ăn ngon của người Viking! Nồng! Ha!”
Khó mà đoán biết được dưới chiếc áo ấm dày cộp và chiếc áo khoác to dầy của anh ấy trông thế nào, nhưng có lẽ với tiếng ‘ha’ sau cùng anh ấy đã ưỡn ngực lên.
Quan hệ đặc biệt với thức ăn
Tôi ăn hết miếng cá còn lại và quay trở lại tiệc buffet để lấy một ít thịt thủ cừu. Đó là ngày thứ hai trong chuyến đi kéo dài một tuần của tôi, và chỉ mới là bữa ăn thứ ba.
https://baomai.blogspot.com/ 
Nhưng ngay tại bữa trưa vào ngày hôm trước ở một nơi gọi là Kaffi Kú (Quán ăn Bò), nơi tôi đã ăn một tô bò hầm to trong một phòng ăn mà xung quanh là kính nhô ra bên trên chuồng gia súc nơi những con bò trước khi được đưa đi chế biến món ăn đang đi qua đi lại.
Tôi đã có ấn tượng rằng người dân Băng Đảo có một mối quan hệ khác với thức ăn của họ so với hầu hết các dân tộc khác.
Đưa con người đến sát với nguồn gốc thức ăn của họ là điều hợp lý đáng ngưỡng mộ, nhưng món cá thối đó thì không hề chút nào. Khi tôi ăn ở các nơi dọc đường đến thủ đô Reykjavik và khắp các chỗ trong thành phố, được ăn những món ăn thối hơn, chua hơn và được xông khói bằng phân nhiều hơn, tôi đã có cảm giác rằng nền văn hóa ẩm thực Băng Đảo không chỉ lạ lùng mà còn đặc trưng nữa.
https://baomai.blogspot.com/ 
Mặc dù việc ăn những bộ phận rẻ tiền hơn và thường là ít có vẻ ngon lành hơn của động vật và cây cỏ không có gì là lạ – mỗi nền ẩm thực quốc gia khác mà tôi đã từng thử qua đều tự hào họ đã chế biến được ngon như thế nào món bao tử bê (người Bulgaria gọi là shkembe), món óc cừu (người Ma-rốc gọi là mokh mchermel) hay món đuôi bò (món đuôi bò hầm của người Jamaica).
Nhưng dường như những người Băng Đảo như Gísli lại thích thú với việc món ăn truyền thống của họ tệ đến mức nào.
Không phải người Viking
Mọi người thường nghĩ rằng người Viking đối với người Băng Đảo cũng gần giống như người La Mã đối với người Ý. Và người Viking thì khét tiếng là chì – họ cười thẳng vào mặt gian khổ, họ có thể chịu đựng đến cùng cực và đánh thẳng vào ngay giữa lòng kẻ thù.
https://baomai.blogspot.com/ 
Nhưng đây mới là vấn đề: người Băng Đảo không phải là người Viking. Chưa bao giờ.
Theo một chú dẫn tương đối khiêm tốn ở gần điểm bắt đầu của cuộc triển lãm thường trực 871±2 tại Bảo tàng Thành phố Reykjavik, người Băng Đảo chủ yếu là hậu duệ của những nông dân Na Uy muốn thoát khỏi ách của người Viking và canh tác trên cánh đồng của họ và chăn nuôi gia súc một cách yên bình.
“Đó là một trong những điều mới mẻ tuyệt vời,” ông Jesse Byock, tác giả của cuốn ‘Băng Đảo trong Kỷ nguyên Viking’ và là giáo sư lịch sử Băng Đảo thời ban sơ và văn học saga Na Uy cổ tại Đại học California ở Los Angeles (UCLA) và đồng thời ở Đại học Băng Đảo, cho biết.
“Người Băng Đảo chưa bao giờ thật sự gắn kết họ với thế giới của người Viking, họ luôn là người Băng Đảo. Tuy nhiên những người trẻ thì rất háo hức về người Viking, và tất cả bọn họ đều cố gắng để chứng tỏ rằng họ có thể ăn những thứ này.”
https://baomai.blogspot.com/ 
Người Băng Đảo luôn ăn món ăn này – những thanh thịt cá mập thối rữa nổi tiếng có tên gọi là hákarl có bán ở các cửa tiệm thông thường bên đường ở Reykjavik – nhưng khi ngành du lịch vượt qua ngành nông nghiệp và đánh cá, chiếm 31% tổng doanh thu xuất khẩu vào năm 2015 thì thế hệ trẻ đã chấp nhận cái vỏ bọc Viking mà du khách thích thú – có thể họ đã xem mình gắn bó hơn với di sản này.
Lịch sử đói kém
Tuy nhiên theo ông Byock thì lịch sử thật sự đằng sau món ăn này, và mối quan hệ của người Băng Đảo hiện đại với nó, thì thú vị hơn nhiều so với những chòm râu xồm xoàm và những chiếc mũ có chóp nhọn của người Viking.
https://baomai.blogspot.com/ 
Khi những người dân Scandinavia đầu tiên ra đến Băng Đảo vào năm 871 (có thể là sớm hơn hay muộn hơn đôi ba năm – đó là lý do cuộc triển lãm đó có tên gọi 871±2), họ đã tìm thấy một hòn đảo có cây cối rậm rạp vốn dường như thích hợp để canh tác.
Nhưng khi những người định cư bắt đầu xuất hiện trong vòng 100 năm kế tiếp, nói cho đúng ra họ thật sự đến vào khoảng thời gian năm 1.000, họ đã dần dần nhận ra được tất cả những cánh rừng mà họ đã chặt xuống để lấy gỗ xây nhà và lấy củi sưởi ấm thì không mọc trở lại, và đàn cừu của họ thì gặm cỏ ở khắp nơi.
Khi không còn cây cối nữa, lớp đất mặt bắt đầu bị xói mòn, khiến cho việc trồng trọt hoặc chăn nuôi gia súc trở nên rất khó khăn và thường là không thể làm được.
Họ ở cách lục địa châu Âu tới mức không thể nhập khẩu thực phẩm và do đó nền văn hóa và xã hội Băng Đảo đã phát triển trong một trạng thái gần như lúc nào cũng thiếu đói, lúc nào cũng bên bờ vực bị chết đói, và họ phải ứng biến với tất cả những thứ gì mà họ có thể chộp lấy và săn tìm, và sử dụng phân khi không có gỗ để sưởi ấm và nấu nướng.
“Giả sử xảy ra một cơn bão,” ông Byock nói. “Một con cá voi bị chết và chìm xuống dưới đáy rồi sau nổi lên, trôi dạt vào bờ biển, anh sẽ có hàng tấn thịt. Anh sẽ làm gì đây? À, trước hết, anh phải chém giết lẫn nhau để xem ai có thể có được nó, sau đó anh kéo nó lên, anh có những thùng nước sữa và bỏ những tảng lớn thịt cá voi vào trong đó.”
https://baomai.blogspot.com/ 
Tổ tiên của người Băng Đảo là những người kiên cường, nhưng họ không phải là người Viking. Họ là những người nông dân đang chết dần mòn vì đói và phải làm mọi thứ để sinh tồn.
Bí quyết sinh tồn
Mặc dù giờ đây người Băng Đảo không còn ăn xác cá voi trôi dạt vào bờ nữa, nhưng cách tìm xác chết để làm thức ăn này chính là nguồn gốc của món hákarl, phiên bản nhẹ nhàng hơn của món cá đuối thối mà tôi ăn ở Akureyri.
Mặc dù thịt của những cá mập Greenland khổng lồ thường là độc đối với con người – nồng độ urea cao dẫn đến những khó chịu ở da, mắt và hệ hô hấp – nhưng một khi được để cho thối rữa một chút, theo cách làm truyền thống là trong một cái hốc ở bãi biển (ngày nay đặt trong những cái thùng nhựa), thì nó sẽ trở thành một nguồn protein quý giá.
https://baomai.blogspot.com/ 
Cá đuối và các loại các mập lớn khác cũng có độc như vậy, nhưng cũng có thể ăn được khi được để cho thối rữa hoặc lên men. Và do nó đã bị thối rữa, nó cũng được bảo quản rất tốt.
Cho nên qua hàng trăm năm, những thực phẩm có mùi vị kinh tởm này lại chính là làm nên sự khác biệt giữa sự sống và cái chết. Khả năng của người Băng Đảo chịu được mùi vị thật sự khủng khiếp là chìa khóa quan trọng giúp cho họ tồn tại và sự phát triển của Băng Đảo cũng như tầm quan trọng của khả năng người Viking thứ thiệt đối phó với những gian khổ trong việc đi xa và đánh trận đối với bán đảo Scandinavia.
Với hai triệu du khách đến thăm mỗi năm, ẩm thực quốc gia của Băng Đảo đã thay đổi trong vòng ba thập niên qua và nghiêng nhiều về phía pizza, mì ống và burger. Nhưng đây vẫn là một quốc gia nhỏ, với chỉ 330.000 dân, và truyền thống của họ không chỉ là những điều thu hút du khách; đó là điều giúp neo giữ những người Scandinavia đã phải rời bỏ quê hương này với quá khứ và kết nối họ với nhau.
https://baomai.blogspot.com/ 
Mỗi mùa Giáng sinh, và mỗi tháng Þorri – tháng cổ của người Băng Đảo tương ứng với cuối tháng Giêng và đầu tháng Hai – là thời gian được dành cho các món ăn truyền thống mà, bên cạnh các loại cá thối rữa còn có món tinh hoàn cừu (súrsaðir hrútspungar), thủ cừu luộc với phần lông được thui (svið), thịt cừu xông khói (hangikjöt), chi trước của hải cẩu (seishreifar) và mỡ cá voi được ủ trong sữa chua (súr hvalur).
Bạn có thể tìm thấy những suối nước nóng như Đầm Xanh nổi tiếng và những đồng băng bao phủ nội địa của hòn đảo ở một số nơi, nhưng tôi không biết có quốc gia nào khác mà lịch sử, sự phát triển và sự sống còn của nó lại gắn chặt một cách có ý thức và được tôn vinh trong nền ẩm thực đến như vậy.
Và thật lòng mà nói, món thịt thủ cừu thì rất ngon.
Bert Archer
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 33

Mùa Hè Với Biển

Xanh xanh chen chút mấy tầng mây
Sóng sánh săm soi sợi tóc gầy
Dập dồn bọt toé vương bờ cát
Lăn tăn mơn mớn xoã vân tay

Gió thoảng cợt đùa se mi mắt
Mưa rào thủ thỉ dịu cỏ cây
Cánh diều mỏng mảnh khoe hương sắc
Biển hát xôn xao đẹp mê say

Xóm Đồng 

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 19

Dòng Đời

Chiếc đò nhỏ trên dòng sông rộng
Chở từng ngày ước vọng nhân sinh
Trời xanh mây trắng hữu tình
Lòng người quên nhớ trong tình chi giao

Cửa buồng tim biết bao nhịp đập
Xin một lần hòa khắp trần gian
Cho thân còn chút vương mang
Chân tâm bi trí lời vàng pháp duyên

Cội Bồ đề thiên niên bất diệt
Áo lam hiền luyến tiếc đời tu
Thanh âm chuông mõ an du
Bên bờ tri giác sương mù đã tan…

Bạch Vân Nhi

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 24

Chiếc vòng của Mẹ

Tại một ngôi trường tiểu học trong một thị trấn nhỏ ở Hoa Kỳ hôm nay là ngày đầu tiên khai giảng cho năm học mới. Cô Thompson là giáo viên phụ trách dạy lớp Năm. Cô giáo đứng trước các học sinh trong lớp học của mình và tương tự như các giáo viên khác, cô cũng nhìn khắp lượt vào các em học sinh và nói là cô sẽ thương yêu tất cả các học trò của cô như nhau, không có sự phân biệt nào cả. Cô đã nói với các đứa trẻ này điều đó, một điều mà cô tự biết là không thật lòng và cô biết là mình sẽ không thực hiện được.

     Lý do không thể thực hiện đươc bởi vì cô đã nhìn thấy ngồi lù lù ngay dãy bàn học ở hàng đầu trong lớp là cậu Teddy Stoddard. Năm ngoái cô đã từng lưu ý tới cậu học trò nhỏ này và nhận thấy cậu ta thường chơi với đám bạn cùng lớp không được đàng hoàng. Teddy có vẻ không được ai ưa thích cả. Đã thế ăn mặc áo quần thì luộm thuộm lại thêm thân người không được sạch sẽ có lẽ vì lười biếng trong chuyện tắm rửa. Trong hồ sơ học bạ của Teddy vào năm ngoái cô Thompson còn ghi chú bằng bút đỏ, viết một chữ thập X rõ đậm nét vào đó. Rồi cô còn ghi thêm một chữ thật lớn nữa là F, hạng kém ngay phần phía trên đầu tờ giấy.

 

     Ở trường tiểu học của cô Thompson ở thị trấn này thì theo thông lệ vào mỗi đầu năm học các giáo viên đều phải xem lại quá trình học tập của từng học sinh trong những năm trước đó. Cô giáo Thompson đã nhét hồ sơ của Teddy xuống cuối cùng mới mở ra xem. Tuy thế khi đọc hồ sơ xong thì cô lại tỏ ra rất là ngạc nhiên.

     Trong hồ sơ, cô giáo dạy lớp Một đã đưa ra nhận xét rằng “Teddy là một học sinh thông minh và cười luôn miệng. Học giỏi và tính tình dễ thương… thường đem lại nguồn vui cho mọi người xung quanh”.

     Cô giáo dạy lớp Hai thời ghi rằng: “Teddy là một học sinh xuất sắc. Được cảm tình của các bạn bè học cùng lớp. Em đang lo âu vì bà mẹ bị đau ốm nặng sắp chết và cuộc sống gia đình của em thật sự quả là một sự phấn đấu”.

     Cô giáo phụ trách lớp Ba thì lại viết rằng: “Cái chết của mẹ Teddy đã gây ra khó khăn cho em. Tuy em đã cố gắng học hành, nhưng Bố em thì lại tỏ ra không quan tâm. Nếu em không được trợ giúp thì đời sống gia đình sẽ sớm ảnh hưởng đến em”.

     Cô giáo lớp Tư ghi: “Teddy tỏ ra lơ đãng, thiếu quan tâm, không hăng hái trong việc học tập. Cũng không có nhiều bạn bè. Thỉnh thoảng em còn ngủ gục trong lớp”.

     Cô giáo viên Thompson của lớp Năm đọc hồ sơ đến đây thì cô bỗng như nhận thức được ra vấn đề và cô cảm thấy tự hổ thẹn cho chính bản thân mình.

     Trong mùa Giáng Sinh giáo viên Thompson được đám học trò trong lớp đưa tặng quà. Những món quà này đều được bọc lại bằng giấy đủ màu sắc và có gắn thêm nơ thật đẹp. Cô rất áy náy khi nhận món quà của Teddy vì món quà của em thì lại gói vụng về bằng loại giấy màu nâu thường được dùng để gói thực phẩm. Khi mở gói quà của Teddy ra cùng lúc với các món quà khác thời cô cảm thấy đau trong lòng. Cô giơ lên cho các học sinh thấy món quà là một chiếc vòng đeo tay đã cũ có gắn kim cương giả, đã rơi mất vài hột và một lọ nước hoa nhỏ chỉ còn lại khoảng một phần tư.

     Có tiếng cười có vẻ chế giễu của vài học sinh trong lớp nhưng những tiếng cười đó đã bị dập tắt luôn khi cô giáo lớn tiếng khen chiếc vòng đeo tay là đẹp và sau đó đeo ngay cái vòng đó vào tay đồng thời lại còn lấy một chút nước hoa trong lọ và bôi lên cổ tay nữa.

     Bữa đó sau giờ tan học, cậu bé Teddy đã ở nán lại một lúc. Cậu lên cạnh bàn cô giáo và khẽ thưa rằng: “Thưa cô, hôm nay con thấy cô cũng thơm y như Mẹ con thời trước vậy đó!”

     Lúc các học sinh ra khỏi lớp và đã đi về hết, cô giáo viên Thompson ngồi lại một mình, khóc gần cả tiếng đồng hồ. Từ dạo ấy, cô giáo không còn đơn thuần chỉ dạy các môn Toán, dạy Văn và dạy viết lách cho đám học sinh, mà cô còn bắt đầu lưu tâm tới việc “giáo dục” lũ trẻ nữa. Cô khởi sự giảng giải cho các em về cuộc sống. Cô dạy dỗ bọn trẻ. Cô đã không giảng những bài như thường lệ trước kia nữa. Cô bỏ qua những bài tập viết và cả môn số học.

     Từ dạo đó, cậu Teddy như đuợc hồi sinh. Em càng ngày càng học giỏi hơn thêm. Và chẳng mấy chốc em đã trở thành một trong những học sinh xuất sắc của lớp vào cuối năm học đó. Cũng chính ngay từ hôm đó, ngoài việc dạy học cô giáo Thompson còn đặc biệt lưu tâm chăm sóc cho Teddy. Mỗi khi được cô giáo chỉ dẫn thêm hình như em lại càng lên tinh thần. Cô giáo càng khuyến khích, em càng tiến bộ nhanh lên thêm nữa.

     Kết quả là vào cuối năm học, Teddy đã trở thành một trong những học sinh xuất sắc nhất lớp. Và quả đúng như trái ngược với lời nói không chân thật của cô lúc đầu năm học là cô sẽ yêu thương mọi em học sinh như nhau, Teddy giờ đây đã trở thành một trong những học trò được cô giáo cưng nhất.

     Một năm trôi qua. Cô giáo nhận được một mẩu giấy của Teddy nhét dưới khe cửa. Trong giấy em thưa với cô rằng: “Cô là cô giáo tuyệt vời nhất trong suốt cuộc đời của em”.

     Sáu năm trời trôi qua sau đó. Cô giáo lại nhận được một bức thư ngắn của Teddy gửi tới. Trong thư em cho biết là em đã học xong bậc trung học và đuợc xếp hạng đứng thứ ba trong lớp. Em viết rằng: “Cô vẫn là cô giáo tuyệt vời nhất trong suốt cuộc đời của em.”

     Bốn năm trời nữa lại trôi qua. Cô giáo lại nhận được thêm một lá thư khác của Teddy. Thư nói rằng dù hoàn cảnh nhiều khi gặp trở ngai, đôi lúc tưởng chừng như bế tắc, em vẫn quyết tâm theo học tới cùng, quyết chí mong sao sớm tốt nghiệp được bậc đại học với thứ hạng xuất sắc nhất. Em viết rằng: “Cô vẫn còn là cô giáo tuyệt vời nhất và là người thầy mà em yêu quý nhất trong suốt cả cuộc đời”.

     Rồi thêm bốn năm sau nữa lại trôi qua. Cô giáo vẫn nhận được thư gửi tới. Trong lá thư lần này Teddy báo tin cho cô biết là cậu đã đậu xong văn bằng Cử Nhân. Cậu đang học thêm lên bậc cao nữa. Thư vẫn ghi rằng: “Thưa cô, cô vẫn là người thầy tuyệt vời và trân quý nhất của cuộc đời em!”. Nhưng giờ đây tên của cậu đã dài hơn một chút rồi vì cuối bức thư ký tên là: “Theodore F. Stoddard, bác sỹ”.

     Câu chuyện tới đây vẫn chưa tới hồi kết thúc. Vẫn lại còn một bức thư nữa được gửi đến cho bà giáo Thompson. Trong thư bác sỹ Teddy thưa là anh đã gặp gỡ một cô bạn gái, đôi bên tâm đầu ý hợp và anh chuẩn bị làm đám cưới với cô ta. Anh cho biết Mẹ anh thì qua đời đã lâu, còn ông Bố lại mới vừa chết cách đây mấy năm nên anh thiết tha mong bà giáo Thompson sẽ nhận lời đến tham dự lễ cưới của anh và sẽ ngồi ở vị trí danh dự vốn thường hay được dành riêng cho Mẹ chú rể.

 

     Tất nhiên là bà giáo Thompson chấp thuận đề nghị này. Ngày cưới hôm đó bà giáo đeo chiếc vòng kim cương giả, cái vòng đã bị rớt mất vài hột mà ngày xưa cậu học trò nhỏ đã biếu làm quà tặng. Hơn nữa bà giáo còn cố tình bôi thêm một chút nước hoa trong cái lọ nhỏ, cũng vẫn là quà tặng thuở xa xưa. Cái loại nước hoa này tỏa mùi thơm thoang thoảng mà Teddy nói là Mẹ cậu đã bôi vào lễ Giáng Sinh cuối cùng của hai mẹ con trước khi Mẹ từ giã cõi đời.

 

     Anh bác sỹ trẻ và bà giáo Thompson ôm nhau mừng rỡ. Bác sỹ Stoddard khẽ nói thầm vào tai bà Thompson: “Cám ơn cô Thompson đã có lòng tin tưởng vào nơi em. Cám ơn cô rất nhiều vì cô đã làm cho em cảm thấy mình quan trọng. Chính nhờ cô mà em có niềm tự tin rằng bản thân mình sẽ có thể đổi khác. Chính niềm tin đó đã tạo ra sự khác biệt lớn lao giúp em thay đổi cả cuộc đờinhư ngày nay.”  

     Bà Thompson vừa đầm đìa giọt lệ vừa nói nhỏ với chú rể:“Teddy, em lầm rồi. Chính em mới là người đã dạy cho tôi biết rằng tôi đã có thể đổi khác đi. Tôi đã không biết cách dạy học cho tới khi được gặp em đó. Chính nhờ gặp em, tôi mới biết thế nào là “giáo dục”.

 

(Tâm Minh Ngô Tằng Giao phóng tác)

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 42

Tăng nguy cơ điếc đột ngột do thường xuyên đeo tai nghe

Các chuyên gia cảnh báo, việc đeo tai nghe liên tục trong thời gian dài với âm lượng lớn kích thích thẳng vào ốc tai, tai trong có thể dẫn đến viêm, điếc đột ngột.

 

Các biểu hiện viêm tai như thoái hóa sức nghe, nghe giảm dần so với âm thanh bên ngoài, ù tai, nhức đầu, chóng mặt, tức ngực…

Dưới đây là những sai lầm khi đeo tai nghe ảnh hưởng đến thính giác:
Đeo tai nghe liên tục trong thời gian dài
Ốc tai thu nhận các kích thích sóng âm, có nhiều tế bào thính giác, trong đó nhiều tế bào chịu trách nhiệm nghe các tần số khác nhau. Âm thanh, tiếng ồn quá mạnh, kéo dài sẽ gây ra trạng thái kích thích liên tục, làm mệt thính giác.
Tăng nguy cơ điếc đột ngột do thường xuyên đeo tai nghe
Nghe nhạc quá to khi dùng tai nghe không gây ảnh hưởng ngay, tuy nhiên lâu dài chúng sẽ làm suy giảm thính lực, thậm chí điếc đột ngột, đau viêm mống tai ngoài.
Các bác sĩ khuyến cáo, cường độ âm thanh không nên vượt quá 80 dB, đặc biệt khi nghe nhạc.
Ngủ quên khi nghe nhạc
Nghe nhạc bằng tai nghe khi ngủ, não vẫn phải tiếp tục làm việc ngay cả khi cơ thể đang trong trạng thái nghỉ ngơi. Nếu kéo dài thói quen này gây tổn thương cơ quan thính giác, hệ thần kinh trung ương.
Không vệ sinh tai nghe
Đầu tai nghe không được vệ sinh thường xuyên, đặc biệt với loại có gắn bông mút là nơi lưu trú của vi khuẩn, vi nấm phát triển khiến tai dễ bị viêm nhiễm nấm.
Ngoài ra, khi dùng tai nghe kích thước không phù hợp dễ gây ra đau nhức tai, đau đầu…

Lời khuyên 

– Chọn mua tai nghe vừa vặn của mình. Nếu tai nghe có miếng bọc bên ngoài, bạn nên thay định kỳ mỗi tháng/lần.
– Thường xuyên vệ sinh tai nghe, tránh để ở những nơi mất vệ sinh.
– Sau 15 phút đeo tai nghe, bạn nên bỏ ra để tai được nghỉ ngơi. Không nên đeo tai nghe quá 2 giờ/ngày và đặc biệt không nên đeo khi ngủ.
– Người mắc bệnh về tai ngoài, tai giữa không nên đeo tai nghe lâu dài vì làm cho viêm tai dễ tái phát.
– Nếu đau tai, chảy nước trong tai phải đi khám ngay.
– Tránh để âm lượng quá lớn, giữ sao để cường độ âm thanh không vượt qua 60%.
Phương Nam-theo dkn.tv 22/6/2018
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 35

Hoa Cải Vàng Bến Sông

Hoa cải vàng bến sông
Cho dài thêm nỗi nhớ
Huế đi vào mênh mông
Như buồn vui mấy thuở

Ra giêng trời se lạnh
Đan vòng sớm tinh mơ
Mắt ai vừa sóng sánh
Chao nghiêng cả đợi chờ

Hoa cải vàng bến sông
Xôn xao cùng nắng mới
Huế một ngày xanh trong
Cho lòng thêm vời vợi

Ai đi rồi ai ở
Đâu bến bồi bến lở
Con nước cứ trôi xuôi
Mặc bên ni bên nớ

Hoa cải vàng bến sông
Mùa sau còn gặp lại
Cố gửi hết nhớ mong
Mà sao lòng đậm mãi
(Nguyên Thoại)

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 14

Chuyện ít biết về những “bóng hồng” xinh đẹp đứng sau các tỷ phú công nghệ

Có lẽ ít ai biết rằng, bà Melinda – vợ của tỷ phú Bill Gates tốt nghiệp trường đại học tư Duke (bang Bắc Carolina) và cùng một lúc nhận được hai bằng cử nhân kinh tế và tin học. Sau đó, bà còn lấy thêm bằng thạc sĩ quản trị kinh doanh tại một trường đại học danh giá. Năm 1987, Melinda đến làm việc tại Microsoft với vai trò đứng đầu phòng kinh doanh.

Cuộc gặp gỡ đầu tiên của Melinda và Gates diễn ra vào năm 1987, trong một cuộc họp báo của Microsoft ở New York. Khi đó, Bill Gates đã có tài sản trị giá hàng triệu USD và Microsoft đang phát triển như diều gặp gió. Trong cuộc gặp gỡ với Melinda, Bill Gates nhận thấy ở người phụ nữ xinh đẹp này có nhiều điều đặc biệt. Chẳng hạn như bà đi giày đế phẳng, mà theo ý kiến các nhà tâm lý, người phụ nữ nào có trí tuệ càng cao thì đi giày đế càng thấp.

Không những thế, nhiều nhân viên trong công ty còn tiết lộ rằng ô cửa sổ phòng làm việc của Bill Gates tại trụ sở của Microsoft trông thẳng sang ô cửa sổ phòng làm việc của Melinda, do đó, Bill Gates có thể suốt ngày ngắm nhìn người nữ cộng sự khả ái.

Năm 1994, chuyện tình “đẹp như cổ tích” này cập bến bằng một lễ cưới hoành tráng tại Hawaii. Trước khi kết hôn, hai bên ký một bản “hợp đồng hôn nhân” với những điều kiện khá độc đáo. Chẳng hạn, Bill Gates cam kết trả 10 triệu USD cho mỗi lần Melinda sinh con. Hiện nay, hai người đã có 3 con, hai gái một trai. Cô con gái lớn Jennifer sinh năm 1996, tiếp đó là cậu con trai Rory sinh năm 1999 và gần đây nhất là bé gái Phiby sinh năm 2002.

 Một trong những bức hình hiếm hoi được chụp tại đám cưới tỷ phú Bill Gates năm 1994.

Một trong những bức hình hiếm hoi được chụp tại đám cưới tỷ phú Bill Gates năm 1994.

Theo tiết lộ của những người thân và bạn bè hai bên, gia đình Bill Gates sống rất hòa thuận và hai vợ chồng bao giờ cũng ý hợp tâm đầu với nhau. Họ thường chăm lo đầu tư cho giáo dục, lập tổ chức từ thiện đứng tên 2 vợ chồng “Bill and Melinda Gates” giúp đỡ những người bất hạnh ở các khu vực nghèo khổ, đặc biệt là ở Châu Phi.

Bill Gates chủ yếu là đề xuất các ý tưởng, còn việc sử dụng quỹ và gây quỹ như thế nào để biến những ý tưởng đó thành hiện thực thì đó là công việc của Melinda. Melinda ít khi xuất hiện trong các cuộc họp mặt giới thượng lưu. Bà cũng rất ít khi đồng ý trả lời phỏng vấn. Có thể nói, Melinda luôn là hậu phương vững chắc, là người phụ nữ không thể thiếu được trong cuộc đời vị tỷ phú tài ba.

“Ông trùm Facebook” Mark Zuckerberg và chuyện tình Harvard

 Zuckerberg và Priscilla Chan tại Đại học Havard

Zuckerberg và Priscilla Chan tại Đại học Havard

Vào năm thứ nhất tại Đại học Harvard, chàng sinh viên Zuckerberg thường xuyên lui tới các buổi dạ tiệc cuối tuần và tình cờ làm quen Priscilla Chan- một cô gái người Mỹ gốc Hoa trong lúc cả hai đang xếp hàng… chờ vào toilet.

“Anh ấy trông có vẻ ham đọc sách và khá dí dỏm. Tôi đã quan sát thấy tay anh vừa nâng cốc bia vừa pha trò cười với mọi người” – Chan hồn nhiên kể lại ấn tượng đầu tiên về bạn trai.

Priscilla Chan khiến cho Mark phải rung động ở sự thân thiện, thông minh và phong cách làm việc hết mình. Cả hai đều tìm thấy những nét tương đồng trong phong cách giản dị, kín đáo và không thích phô trương cuộc sống riêng tư.

Mặc dù công việc của cả hai rất bận rộn, nhưng Zuckerberg đã kịp “soạn thảo” một hợp đồng ký kết dành thời gian cho nhau. Trong đó có một nguyên tắc: “Một buổi hẹn mỗi tuần, tối thiểu 100 phút ở riêng bên nhau, không ở căn hộ của Mark Zuckerberg, càng không ở Facebook”. Thậm chí, Zuckerberg đã có lần tiết lộ: “Bạn bè hay bàn tán rằng ý tưởng mà tôi tạo ra Facebook chủ yếu để hẹn hò với các cô gái. Thực tế là, từ trước đến giờ tôi luôn hẹn hò với duy nhất một cô gái mà thôi”.

Anh thường xuyên ghé thăm căn hộ riêng của Chan vào những ngày cuối tuần để cùng cô dạo chơi công viên, chơi game và thưởng thức những món ăn Châu Á cô dành riêng cho anh. Không những thế, hiện tại Priscilla đang giữ một vai trò quan trọng trong việc phát triển Facebook. Cô luôn đồng hành cùng với Mark Zuckerberg trong các buổi tiệc, buổi họp báo cũng như trong các vụ kiện tụng.

Tuy nhiên, khi những bức hình về Priscilla Chan được đăng tải, nhiều cư dân mạng đã có những phản ứng khá gay gắt. Họ cho rằng ngoại hình của hai người không hợp nhau và Chan hoàn toàn không xứng đáng với Mark.

Bất chấp dư luận, cả hai vẫn rất gắn bó và dành những gì ngọt ngào nhất cho nhau. Mối tình nên thơ kéo dài 9 năm của nhà tỷ phú trẻ tuổi nhất thế giới kiêm người sáng lập Facebook Mark Zuckerberg với Priscilla Chan đã có một cái kết đẹp như mơ bằng một đám cưới giản dị được tổ chức vào ngày 19/05/2012 tại nhà riêng ở Palo Alto, California cùng với sự chung vui của những người bạn thân thiết nhất.

“Huyền thoại Apple” Steve Jobs và mối tình giản dị

Laurene Powell Jobs, 50 tuổi – vợ của “huyền thoại Apple” Steve Jobs, không phải là người của công chúng. Bà sống nội tâm hơn chồng mình và rất hiếm khi trả lời các cuộc phỏng vấn. Steve Jobs gặp Laurene vào năm 1990 sau một buổi thuyết giảng trong lớp học thạc sĩ kinh tế MBA tại trường đại học Stanford. Câu chuyện tình yêu của họ giống như một bộ phim lãng mạn và hết sức ngọt ngào. Steve Jobs và Laurene kết hôn vào năm 1991 và có với nhau 3 người con sau hơn 20 năm chung sống hạnh phúc.

Laurene từng là chuyên gia đầu tư ngân hàng tại 2 công ty tài chính hàng đầu nước Mỹ – Merrill Lynch và Goldman Sachs nhưng bà dành sự quan tâm đặc biệt đến nền giáo dục. Từ lâu bà đã là người hỗ trợ cho các chương trình từ thiện vì sự phát triển của giáo dục.

Laurene Jobs đã giúp các học sinh khó khăn, những người phụ nữ thiệt thòi bằng những khoản tiền tài trợ và bà cũng đóng góp vào quỹ từ thiện của vợ cựu Tổng thống Mỹ Hillary Rodham Clinton. “Tôi không biết vì sao tôi tìm đến từ thiện nhưng thực sự tôi đã đam mê nó từ lâu” – Laurene Jobs trả lời trong một buổi phỏng vấn năm 2008 về các chương trình từ thiện của bà.

Laurene đã chăm sóc Steve Jobs từ những lúc huy hoàng nhất cho đến khi ông qua đời. Bà đã giấu kín về sức khỏe của Jobs ngay cả khi ông phải chống chọi với căn bệnh ung thư suốt 7 năm qua. Có thể khẳng định rằng, đằng sau ánh hào quang thành công của Steve Jobs nói riêng và tập đoàn Apple nói chung có sự đóng góp không nhỏ của người phụ nữ tóc vàng xinh đẹp này.

ST

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 43