All posts by KhueVy Hoang

Sài Gòn Mùa Không Em

Tháng Tư về sao chẳng thấy em đâu
Trời mùa hạ giấu em kĩ quá
Anh đi tìm trên hàng cây nhánh lá
Lá chỉ lắc đầu khe khẽ gió đong đưa

Tháng Tư về anh đợi một cơn mưa
Xua cái nắng, đón em về trên lối
Mưa Sài Gòn cứ tan đi thật vội
Như sợ vô tình làm ướt dấu chân em

Tháng Tư về anh nhớ những que kem
Tiếng mõ leng keng công viên chiều chung bước
Những ngón tay đan dưới tàn cây xanh mượt
Em mang nụ cười gửi lại phố sau lưng

Tháng Tư về ta cứ chợt dửng dưng
Phố vẫn đông, vắng em thành xa lạ
Anh xa em, Sài Gòn thưa thớt quá
Mặc kệ bao người xuôi ngược về đâu

Tháng Tư, Sài Gòn nắng ngập đầu
Những chiếc khẩu trang chỉ chừa đôi mắt
Ta lạc mất em giữa dòng người bịt mặt
Lặng lẽ trở về xóm trọ cô đơn.

Tháng Tư một mình hát trong đêm
Ngồi thức đợi đèn nhà cao đi ngủ
Sài Gòn không đêm, Sài Gòn không ngủ
Thao thức cùng anh không ngủ để nhớ em !
(Hoài Vũ) 

Hits: 8

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

AnhThợ Sửa Xe Đạp Và Giấc Mơ Mỹ

Ngày xưa, khi đặt chân lên chiếc ghe câu nhỏ xíu cùng với mấy chục con người nêm cứng khoang thuyền để đào thoát khỏi Việt Nam, giấc mơ Mỹ của anh thợ sửa xe đạp tại một làng quê tên Lê Tường hiện ra trước mắt là một vùng trời biển mênh mông không thấy bến bờ. Hơn hai mươi lăm năm sau, chàng trai gốc chân quê ấy đã trở thành Adam Lê, ông chủ của City Cycle Werkes, một cơ sở chuyên mua bán sửa chữa xe Mô Tô có tầm cỡ tọa lạc tại trung tâm thành phố Cựu Kim Sơn, San Francisco, thành phố du lịch nổi tiếng của Hoa Kỳ.

Hành trang mang theo trong ngày đầu đặt chân lên đất Mỹ của Adam chỉ vỏn vẹn một nhúm kiến thức lớp Năm Việt Ngữ, chút ít kinh nghiệm về… ống bơm xe đạp cùng “mỏ-lếch-cờ-lê,” và một đồng hai mươi lăm cent ($1.25) Sở Di Trú Hoa Kỳ cho để anh gọi điện thoại khi cần. Thành công của chàng trai này không phải nhờ “phép lạ.”

Có lẽ không bút mực nào ghi cho hết những thăng trầm về cuộc đổi đời kỳ diệu của Adam. Sinh ra ở một ngôi làng nhỏ thuộc miền Trung, anh cưới vợ sớm như bao bạn bè khác. Gia đình chỉ sống nhờ vài sào ruộng được “hợp tác xã” chia cho nên anh phải làm thêm nghề sửa xe đạp. Cặp vợ chồng trẻ sinh được một bé trai trong cuộc sống vất vả của xã hội mới. Nhìn bạn bè đồng lứa lớp bị bắt đi “nghĩa vụ quân sự,” lớp vượt biên, một ngày kia anh bỗng cảm thấy mình cũng cần phải đi, để tìm tự do, tìm giấc mơ cho cả gia đình.

Hai mươi hai tuổi anh bỏ nước ra đi, bỏ lại Đương cô vợ trẻ, và đứa con vừa tròn mười tám tháng.

Những khi họp mặt bạn bè, Adam thường kể lại chuyện vượt biên ly kỳ ngày ấy. Thuyền ra khơi, anh vô cùng hoảng sợ. Biển cả hiểm nghèo như chực chờ nuốt chửng chiếc thuyền con có đám người đang rời bỏ quê hương. Chạy được gần hai ngày thì họ bị mất phương hướng. Lúc ghe vừa ra khơi, tài công phát hiện chiếc hải bàn bị mất. Người đàn ông được thuê chuyên chở người và vật dụng ra ghe chính đã ăn cắp chiếc hải bàn. Tối trời, anh ta cầm trúng cái gói nặng tay ngỡ là vàng bèn cuỗm luôn không giao lại. Đã thoát được rồi, tài công đành định hướng chạy tới luôn. Nhưng ra đến hải phận quốc tế thì trời đất mịt mù, không biết đường đi tiếp nên phải đánh liều quay lại để kiếm hải bàn.    

Tối ngày thứ tư thì ghe trở về chỗ cũ. Một người dũng cảm tình nguyện lội vào bờ, đến nhà tay ăn cắp để đòi lại hải bàn. Nhiều người vì hãi hùng đã đổi ý nhảy xuống theo anh ta. Adam cũng rất muốn trở về, một phần vì sợ, phần vì thương vợ nhớ con. Tuy vậy, anh cắn răng bám chặt vào thành tàu giữ cho mình khỏi phóng xuống nước. Người ấy đòi được hải bàn mang ra ghe, nhưng bọn họ bị công an hùng hổ kéo quân rượt bắt vì tay đạo chích đã đi báo cáo. Nhờ sự lanh trí của tài công, chiếc thuyền con chạy “tốc khói,” khéo léo luồn lách ngoạn mục, cuối cùng đã đánh lạc hướng đám ghe công an.

Trải qua nhiều ngày sóng dồi gió dập tả tơi, họ cũng an toàn đến được đảo Palawan, Philippines.

Năm 1983, sau hơn hai năm chờ đợi trên đất Phi, Adam đến Mỹ và định cư ở thành phố San Francisco. Không bỏ lỡ thời gian, anh lao ngay vào trường học Anh Văn. Hết tám tháng trợ cấp của chính phủ, Adam xin vào thử việc không lương cho Dealers, một hãng sửa chữa mô tô ở thành phố San Francisco. Sau một tháng, anh được nhận làm tạm thời, lương chỉ $4.25/giờ. Công việc của chàng trai tị nạn mới đến là làm tạp vụ, dọn dẹp và lau chùi từ nhà xưởng cho đến phòng làm việc, toa lét.

Nhưng giấc mộng của Adam không phải là những nơi đó. Vốn từng làm nghề sửa xe đạp, chàng công nhân tạp vụ mơ ước có ngày sẽ được học sửa mô tô để làm việc như những chuyên viên thực thụ trong xưởng. Mỗi ngày đến cơ sở mang theo hoài bảo, anh làm việc siêng năng không mệt mỏi, hy vọng kiếm chút thời gian thừa để học lóm tay nghề. Giờ nghỉ giải lao, những buổi ăn trưa, nhân viên tụm năm tụm ba tán chuyện cười đùa. Riêng Adam ăn xong là bắt tay ngay vào làm việc. Nhà xưởng luôn gọn gàng, ngăn nắp. Văn phòng lúc nào cũng bóng loáng. Nhà vệ sinh bao giờ cũng sạch sẽ thơm tho. Làm xong hết việc, anh đến phụ giúp lặt vặt cho các nhân viên, và thường để ý học thầm cách thức người ta sửa chữa xe mô tô.

Khi đó Adam mới đến Mỹ, nào biết tí gì về luật lao động. Anh cắm cúi làm việc chăm chỉ là bởi do bản tính siêng năng. Trong hãng ai cũng thích cái anh chàng “ham việc” này. Làm được mấy tháng, ngày kia một người nhân viên tò mò hỏi anh có được lãnh tiền “overtime” cho những giờ phụ trội ấy. Anh tình thật trả lời không. Người đó thấy anh bị thiệt thòi, bèn gọi mách Sở Lao Động. Đối với đất nước Hoa Kỳ, đây là “chuyện lớn” vì bóc lột công nhân. Sở cử người đến điều tra và phạt hãng trả Adam một số tiền khá lớn, bồi thường cho tất cả thời gian anh đã làm trong những giờ ăn trưa và giờ nghỉ giải lao.

– Nhận được tiền bồi thường mà tôi…run muốn chết! Sau này Adam kể lại. -Dù đó là một số tiền không nhỏ, vì họ phạt hãng phải trả tiền lời và tiền gì đó tùm lum thứ, nhưng tôi chẳng những không mừng mà còn sợ bị đuổi việc.

Adam đem tiền về và chuẩn bị tư thế đi xin việc khác. Nhưng hôm sau anh vào hãng thì ông giám đốc đích thân ra hỏi chuyện. Rồi ông ký quyết định thuê chính thức người công nhân tạp vụ đã từng làm cho công ty bị phạt! Sau đó, hãng gửi Adam đến trường để được đào tạo tay nghề.

Có cơ hội tốt, Adam cố gắng học rồi thi lấy bằng kỹ thuật sửa chữa xe Mô Tô. Đó là mảnh bằng đầu tiên của anh trên đất Mỹ. Tốt nghiệp xong, Adam bắt đầu làm việc cho hãng. Anh tận dụng tối đa những gì học được để phục vụ khách hàng. Sự tận tâm của anh chuyên viên người Việt Nam nhỏ con nhất, tay nghề non trẻ nhất, và tiếng Anh bập bẹ nhất công ty đã được khách hàng ưa chuộng. Rất nhiều người gọi tới làm hẹn yêu cầu đích danh Adam sửa xe cho họ. Người trong công ty, kể cả giám đốc, nhiều lần tròn mắt kinh ngạc và thán phục nhìn anh thợ “tí hon” nhất hãng bằng động tác khéo léo tuyệt vời đã di chuyển một cách nhẹ nhàng những chiếc mô tô hàng trăm, hàng nghìn phân khối, nặng gấp nhiều lần sức nặng của anh.

Từ đó, Adam được giám đốc ưu ái chọn, gửi đi tu nghiệp mỗi năm một lần. Cho đến khi nghỉ việc ra riêng, Adam đã hoàn thành được mười mấy cái chứng chỉ sửa chữa mô tô.

Với sự làm việc cật lực, cộng thêm tiếp tục học hành, anh thợ trẻ Adam dần trở thành một chuyên viên nhiều kinh nghiệm và có uy tín nhất hãng. Bất cứ loại xe nào, từ mô tô phân khối nhỏ, đến các loại xe phân khối lớn, “lớn xác lẫn lớn tiền” như Honda, Suzuki, Yamaha, BMW… model của Mỹ, Nhật, Đức, Ý gì cũng không làm khó được Adam. Uy tín của anh ngày càng tăng. Sự hài lòng của đa số khách hàng dẫn đến việc một tờ tạp chí Motocycle Magazines của địa phương đã viết về Adam với những lời ngợi khen đặc biệt.

Rất là thú vị, sự thành công vượt bậc nhanh chóng của Adam không hề làm cho đồng nghiệp đố kỵ. Trái lại, các bạn cùng hãng rất thích anh vì cái tính hiền hòa, thân thiện, luôn giúp đỡ người khác. Về sau khi Adam mở xưởng, nhiều đồng nghiệp cũ đã đến phụ giúp anh một cách rất nhiệt tình trong những ngày đầu.

Không những Adam được bạn đồng nghiệp yêu mến, mà bạn bè thân hữu cũng rất quý anh. Anh thường ra tay giúp đỡ khi người ta hữu sự, từ đất Mỹ đến quê nhà, chẳng quản ngại khó khăn hay công sức. Tôi còn nhớ có lần người bạn của Adam đang sửa nhà thiếu người phụ, anh tình nguyện xin nghỉ việc ở hãng đến giúp bạn mình. Kết quả, anh đã bị ngã từ trên thang cao xuống đất. May mà anh chỉ bị gãy chân. Vợ con anh đã một phen mất vía, vì té kiểu đó rủi trúng đầu thì nguy hiểm vô cùng.

Năm 1989, Đương vợ anh bồng con xuống tàu vượt biển đến Philippines. Hay tin, Adam vội vã bay qua trại tỵ nạn để bảo lãnh họ. Thời gian anh ở Phi một tuần lễ, chẳng những là tuần lễ hạnh phúc của vợ con anh, mà đó cũng là tuần lễ may mắn của bạn bè, bà con đồng hương, và những người cư ngụ cùng nhà với vợ anh, trong đó có ông xã của kẻ viết bài này. Đến bây giờ ông ấy vẫn còn nhớ cái cảnh những người quen đến ngồi đầy sân trước gian trại vợ Adam ở, để nghe anh kể chuyện về nước Mỹ và chiêu đãi trà nước bánh kẹo cho mọi người. Trước khi về Mỹ, anh đã tặng đến đồng bạc cuối cùng cho tất cả những người quen biết. Ai nấy đều mừng quýnh, vì số tiền này có thể giúp họ mua thức ăn thêm cũng được vài tuần.

Adam đoàn tụ vợ con sau mười ba năm xa cách. Bạn bè thường đùa, chấm anh “5 Star” về tính thủy chung. Mới hơn hai mươi tuổi, dễ nhìn lại có tài, Adam được ông giám đốc điều hành của hãng “chấm” và ngỏ ý muốn tác thành cho cô em của ông. Cô gái Nhật xinh đẹp này cũng rất thích Adam. Nhưng anh đã khéo léo từ chối, một lòng chờ đợi vợ.

Đương đoàn tụ với chồng được vài năm, thì từ mức lương lau chùi dọn rửa chỉ hơn bốn đồng bạc/giờ khi bắt đầu của anh đã vượt lên tới mức trên…”sáu số,” chiếm kỷ lục hãng. Ngoài những lúc đi làm hãng, Adam còn dạo mua xe cũ về sửa chữa rồi bán lại. Đến năm 1995, sau hơn mười năm ở Mỹ, trong khi nhiều bạn đồng nghiệp kỳ cựu người bản xứ của Adam vẫn còn ở nhà thuê, vợ chồng anh chàng tị nạn da vàng gốc quê đã mua được ngôi nhà hai tầng có vườn sau rất đẹp ở gần bờ biển San Francisco.

Mộng lớn của Adam là hình thành một cơ sở kinh doanh do mình tự làm chủ. Anh để ý học hỏi, thu thập kinh nghiệm về kinh doanh chờ cơ hội. Giấc mơ này là động lực cho Adam làm việc bất kể ngày đêm. Sau khi mua nhà, anh “tăng tốc,” tận dụng từng chút thời gian rảnh dùng vào việc mua bán xe mô tô. Anh mua tất cả các loại xe, cũ mới, phân khối lớn nhỏ, kể cả các loại xe cổ đắt tiền (Classic Motorcycles). Lúc nào nhà anh mô tô cũng chất đầy garage, chất đầy tầng trệt. Xe nào còn mới tốt thì anh mua về lau chùi đánh bóng lại rồi bán ngay. Xe cũ thì tân trang sơn sửa rồi mới bán. Đi làm về nếu không đi mua xe, anh lao vào miệt mài sửa chữa. Việc làm phụ này đã cộng thêm thu nhập đáng kể vào thu nhập chính của gia đình. Và cuối cùng anh cũng đã thực hiện được mơ ước.

Người ta thường nói, “Sau lưng người đàn ông thành công luôn luôn có một phụ nữ…tốt” quả không sai chút nào. Nếu nói về sự thành công của Adam Lê mà không nhắc đến người “nội tướng” trẻ trung xinh đẹp và hiền thục của anh một chút thì sẽ là một thiếu sót. Đương Nguyễn cũng là một cô gái xuất thân từ chốn thôn quê, được dạy dỗ với đầy đủ công dung ngôn hạnh. Sang Mỹ đòan tụ cùng Adam, cô chẳng những vừa lo việc sinh con, chăm sóc nuôi dạy chúng, mà cô còn đi làm, là một chuyên viên thẩm mỹ. Đương là cánh tay đắc lực của Adam. Dù luôn bận rộn, vợ Adam vẫn lo con cái chu đáo. Cậu con trai trưởng là một kỹ sư vi tính đã đi làm, cô con gái út đang theo học dược ở UC Davis, còn cậu con trai giữa thì đã học xong, ở nhà phụ giúp bố từ khi anh mua xưởng.

Adam mua lại xưởng sửa chữa mô tô này vào năm 2010. Chỉ trong vòng một năm, sự thành công của Adam có thể thấy rõ. Trên trang web “Yelp,” người ta cập nhật rất nhiều lời khen của khách hàng viết về ông chủ Adam Lê và City Cycle Werkes. Hầu hết họ đều cho điểm “5 Star” và kèm theo những lời giới thiệu rất nhiệt tình cộng với nhiều hình ảnh họ chụp khi đến lấy xe từ xưởng của Adam. Uy tín của anh và City Cycle Werkes được mấy vị Professor dạy ngành Motorcycle Technician ở đại học cộng đồng City College of San Francisco biết đến. Họ thường giới thiệu các sinh viên chuyên ngành của trường đến gặp Adam Lê để phỏng vấn, tìm hiểu về kinh nghiệm nghề nghiệp, cũng như việc điều hành sơ sở kinh doanh ngành “Motorcycle Business” để họ về làm “Project” tốt nghiệp.

Điều ngạc nhiên là, trong bốn năm qua, cơ sở làm ăn rất quy mô và phát đạt của Adam lại không hề tốn tiền cho những quảng cáo bạc nghìn bạc triệu trên TV, cũng chẳng phải trả đồng nào cho nhật báo, tạp chí, hay radio. Tuy nhiên, anh cũng có một cách quảng cáo rất riêng, rất độc đáo. Đó là dùng chiêu thức “chinh phục cái bao tử” để hấp dẫn, làm cho khách hàng nhớ đến mình.

 

Sau một năm mở cửa, City Cycle Werkes phát triển rất tốt, vợ chồng Adam bàn tính việc mở một buổi tiệc Tất Niên đãi khách hàng, để tỏ lòng cám ơn sự ủng hộ của họ. Đương, cô vợ đảm đang của anh đã đưa ý kiến đãi khách hàng bằng các món ăn thuần tuý quê nhà của mình, thay vì những món ăn của người Mỹ. Ấy vậy mà khách hàng, hầu hết là người Mỹ, đều thích các loại thức ăn Việt Nam có nước mắm do Đương và bạn bè cô tự tay nấu lấy. Lần đãi đầu tiên là để “thử lửa,” không ngờ được khách hàng chiếu cố rất tận tình. Cho nên từ đó về sau, mỗi năm vợ chồng Adam đều đãi tiệc tất niên bằng thức ăn truyền thống của người Việt Nam.

Năm nay, buổi tiệc Tất Niên được tổ chức vào Chúa Nhật tuần lễ đầu tiên của tháng Mười Hai, 2014. Vợ chồng tôi cũng được Adam mời đến San Francisco dự buổi tiệc này.

Đến San Francisco kiếm chỗ đậu xe thật khổ. Khắp nơi đều “thiên la địa võng,” những cột đồng hồ trả tiền, lúc nào xe cũng nối đuôi nhau sát sàn sạt. Phải vòng vòng đến gần hết nửa bình xăng mới tìm ra chỗ. Đến khi tìm được chỗ thì vô đậu lại vất vả “thần sầu.” Đường xe cộ qua lại nườm nượp, chỗ đậu thì bé tẻo bé teo, tôi rất tệ về đậu pa-ra-leo (parallel), nên phải “thò ra thụt vào” cả buổi mới lắp được xe vào chỗ trống.

Xưởng City Cycle Werkes của Adam nằm giữa trung tâm thành phố San Francisco, nơi được xem một tất đất “bao nhiêu là tất vàng.” Chiều dài của xưởng chiếm nguyên cả một block đường, mặt trước là đường chính Ellis Street, còn mặt sau nằm trên đường Willow Street. Chúng tôi đến cũng sớm nhưng đã thấy rất đông người lăng xăng, nhộn nhịp. Nhiều người Mỹ đang lần lượt dắt các loại xe mô tô lớn nhỏ từ phần trước xưởng đem ra dựng tràn khắp hai bên đường, mặt cửa trước lẫn phía cửa sau.

Adam vui vẻ ra chào chúng tôi. Anh cho biết hôm nay Chúa Nhật, các cơ sở kinh doanh xung quanh đều đóng cửa, cột đồng hồ được miễn phí, nên anh tạm dời một số mô tô ra ngoài, lấy chỗ xếp bàn ghế cho bữa tiệc. Thấy tôi nhìn những người Mỹ đang dắt xe ra, Adam nói đó là mấy người thợ phụ của anh và những khách hàng thân tín, năm nào họ cũng tình nguyện đến sớm phụ giúp.

Tôi hoa mắt nhìn đám mô tô đủ kiểu đủ màu, và thử đếm nhưng không tài nào đếm xuể.

Nhìn lướt qua và nhẩm tính, chỉ riêng số mô tô được đưa ra ngoài đường, tôi thấy mỗi bên cũng có đến vài chục. Đám mô tô như một rừng hoa, chúng đứng khoe càng nghênh ngang trên đường như những con ngựa trời. Có chiếc nhỏ bằng chiếc Honda 90 nhà tôi từng chạy bên Việt Nam ngày trước, nhưng có những chiếc to đùng gần bằng chiếc xe hơi thể thao. Một người Mỹ cao lớn từ bên trong đang hì hục dắt ra một chiếc hiệu Honda to ơi là to. Cái bửng có đèn và kiến chắn gió trước tay lái khuỳnh ra như đầu một chiếc xe hơi. Trông ông ta dắt đi có vẻ khá vất vả.

– Chiếc xe này to kinh quá, ông Mỹ đó dắt trông gần “ná thở,” không biết bằng cách nào mà anh di chuyển được nó để sửa chữa? Tôi hỏi Adam.

– Ồ! Là nhờ kinh nghiệm nghề nghiệp thôi chị ạ. Adam cười nói. -Xe to cỡ nào cũng dắt được cả, nếu mình biết cái “thế” để lái nó đi theo ý mình.

Xe cộ qua lại hai bên đường nhiều người giảm tốc độ, tò mò nhìn đám xe mô tô dày đặc trước cửa City Cycle Werkes. Thậm chí có người còn nhấn còi inh ỏi, chắc là bạn hàng của Adam. Tôi thích thú mỉm cười. Đây cũng là một cách quảng cáo độc đáo nữa của Adam. Sự việc dựng xe đầy trước cửa này đã đặc biệt gây chú ý cho người qua lại. Chắc thế nào sau buổi tiệc cũng sẽ có thêm khách hàng đến mua xe hoặc đem mô tô đến sửa.

Sau khi ngắm đã đời các kiểu mô tô mới nhìn thấy lần đầu, tôi đi vào bên trong. Mấy người Mỹ đã giúp dọn dẹp trống trải một phần nhà xưởng và đang sắp xếp bàn ghế. Adam chỉ tôi vô phòng trong, nơi vợ anh đang cùng mấy phụ nữ người Việt chuẩn bị thức ăn. Tôi có nghe Đương nói tối hôm trước, là cô đã đặt hai con heo thật lớn cho buổi tiệc từ một trại chăn nuôi trên Modesto, một con heo tươi và một con heo quay. Tôi đã cười thầm vì nghe như cô đang chuẩn bị cho một đám cưới vương giả bên Việt Nam. Cô còn nói cả tháng nay đi làm về cô còn phải lo ướp đến vài trăm pound thịt gà lẫn thịt bò, thịt sườn, để nướng.

Nhưng tôi vẫn không tin được mắt mình khi nhìn số thức ăn bày biện trên bàn. Bằng cách nào Đương đã chuẩn bị được số thức ăn “hùng vỹ” như núi, dày đặc như rừng này nhỉ. Hỏi ra mới biết, vợ chồng Adam có một số bạn bè thân thiết, đã gửi “phu nhân” của họ đến giúp Đương nấu nướng từ ngày trước cho đến hôm nay. Toàn bộ đều là “home made” hết, không mua một món nào. Thức ăn rất đa dạng và nhiều gấp mấy lần một cái đám cưới Việt Nam ngày xưa. Ngoài các món gà, bò, heo, oyster nướng, còn có thịt phay thịt lụi, xôi cúc xôi giò, bánh bèo bánh hỏi, chả giò chạo tôm, chả ốc chả lụa, tính sơ sơ cũng cở trên vài chục món, chưa kể các loại bánh ngọt và trái cây. Nhiều lọ thủy tinh đựng đủ loại nước mắm ớt tỏi chanh đường pha sẵn, trong văng vắt những mảnh vụn đỏ tươi của ớt, trắng ngà của tỏi, và xanh dịu của những tép chanh. Nhìn các món ăn truyền thống quê nhà, tôi chưa nếm mà đã chảy nước miếng.

Bữa tiệc không phải chỉ có những món ăn thịnh soạn. Mỗi góc phòng được chất vô số thùng bia các loại, nước trái cây, sô đa, bên cạnh một thùng đá thật lớn chứa đầy bia lạnh. Phía trái bên ngoài office của Adam là chiếc bàn dài thấp. Trên bàn và cả bên dưới có rất nhiều loại rượu, từ rượu nho đến Whiskey, Vodka, cả mấy chai Rémy Martin, và Rémy Martin XO cũng chen vai sát cánh cùng lũ rượu kia như mời chào thực khách. Chợt nhớ lại có lần Đương kể, hồi Adam còn ở nhà, một người bạn có anh đi Mỹ gửi hình về đã cho Adam xem hình ông anh đang cầm lon bia uống. Về nhà bữa trưa vợ dọn vài cọng rau lang luộc với cơm độn bo bo, anh nói, “Ước gì anh được đến Mỹ để uống một lon bia như anh của thằng bạn thì có chết cũng cam lòng.” Anh làm sao ngờ được, có ngày anh chẳng những đến được Mỹ mà còn đãi người Mỹ cả rượu Rémy Martin XO trên trăm đô la/chai!

Khách khứa lần lượt kéo đến đông đảo. Khi được mời nhập tiệc, họ tự động đi lấy thức ăn, chọn đồ uống rồi ra bàn ngồi và chăm chỉ thưởng thức. Điều làm tôi ngạc nhiên là người nào cũng có vẻ rất quen thuộc với các món ăn Việt. Lấy thức ăn xong họ không quên múc nước mắm cho những món cần phải chấm như bánh hỏi, hay gỏi cuốn, chả ốc. Nghe kể năm nay Adam mời trên năm trăm thực khách, vì số lượng khách hàng thân thuộc gia tăng. Nhưng rút kinh nghiệm từ năm ngoái, anh chia ra mời làm nhiều giờ khác nhau. Lớp khách này ăn xong chào từ biệt là lớp khác thế vào. Nhờ vậy mà từ mười giờ sáng đến sáu giờ chiều, đội ngũ bếp núc có đủ thì giờ chiên kịp chả giò và tai vạc nhân tôm nóng giòn cho tất cả mọi người chứ không bị lật đật như năm ngoái.

Tôi lấy một cây chả ốc và ít xôi giò vào đĩa, bưng lại ngồi gần nhà tôi. Bên phải là ông Mỹ to con, người khi nãy đã vất vả dắt chiếc Honda bự chảng. Ông ấy đang nhai ngồm ngoàm tôm chiên trong đĩa, chai Heineken để trước mặt. Thấy tôi nhìn ông gật đầu chào, rồi hỏi về những thành phần trong các món ăn. Ông khen món nào cũng tuyệt.

– Khi nãy tôi thấy ông dắt chiếc mô tô to thế ra ngoài. Ông thật là giỏi! Tôi bắt chuyện.

– Ồ! Tôi mà giỏi gì! Ông lắc đầu cười: -Adam mới là “thằng guy” tôi khâm phục nhất.

 

Khi biết tôi là bạn đồng hương với Adam, ông vui vẻ tự giới thiệu tên là Jackson, rồi bắt đầu huyên thuyên “quảng cáo” cho Adam. Thì ra Jackson là khách hàng kỳ cựu từ cái hãng cũ Adam làm trước đây. Ông nói rất nhiều người theo Adam qua đây, vì bây giờ cái dealer cũ đã đóng cửa.

– “Adam is awesome!” Adam thật là cừ khôi! Ông Jackson nói. -Anh ấy chẳng những có tay nghề giỏi mà còn rất chân thật. Từ việc mua bán đến sửa chữa, Adam không bao giờ chặt chém hay lừa gạt khách hàng. Anh luôn tự tay sửa chữa những bộ phận quan trọng cho xe của khách hàng, chỉ để thợ làm phụ những việc nhỏ mà thôi. Cho nên tôi đã đi với anh ta hàng chục năm rồi đó!

Adam luôn bận rộn tiếp khách. Khi nào rảnh chút là ngồi xuống trò chuyện với bạn bè. Ly rượu trên tay, mặt mũi anh trông hồng hào phương phi và rất hạnh phúc. Có lẽ vì rượu cộng thêm niềm vui chất ngất. Anh cho biết, tổ chức bữa tiệc này mệt và tốn công tốn của rất nhiều lần so với việc đặt nhà hàng Mỹ làm sẵn đem đến.

– Nhưng đây mới là điểm đặc biệt làm cho họ nhớ đến mình, anh chị ạ! Rồi anh cười với vẻ hãnh diện: – Chúng tôi đã tập cho toàn bộ khách Mỹ ở đây biết ăn nước mắm!

Vợ chồng tôi cùng nâng ly chúc mừng cho thành công của Adam. Thừa dịp, tôi hỏi anh thêm nhiều chi tiết về cuộc đời, công việc, những khó khăn mà anh gặp phải trên bước đường tị nạn, và chuyện thành lập cơ sở. Chạy đi rồi chạy lại, anh vui vẻ chia xẻ hết mọi điều như tôi đã viết ở trên. Khi được hỏi kỷ niệm nào đáng nhớ nhất trên con đường đưa anh đến với sự nghiệp ngày hôm nay, Adam cho biết, kỷ niệm căng thẳng nhất là khi quyết định “quit job” để mua lại cái xưởng sửa chữa mô tô đang bị vỡ nợ.

– Đó là một sự lựa chọn có tính cách sinh tử! Anh nhớ lại. -Vào thời điểm năm 2010, nền kinh tế nước Mỹ cũng chưa có gì sáng sủa, tôi lại đang có một việc làm ổn định với mức lương rất là lý tưởng. Bạn đồng nghiệp cho là tôi bị điên. “Quit job” đi mở cơ sở kinh doanh là làm lại tất cả từ đầu, tự đi lên bằng con số không to tướng. Anh rùng mình: -Nếu chẳng may thất bại, thì có nước phải gánh chịu “từ chết tới bị thương.”

Adam còn kể, vợ chồng anh đã mất nhiều đêm thức trắng và suy nghĩ đến nhức cả đầu. Cái xưởng này người chủ cũ mở cũng đã một thời gian, nhưng đến khi ấy business đã bị chết, ế thê thảm. Vợ Adam cũng lo lắng. Chủ cũ là người Mỹ trắng mà còn thất bại, huống chi mình là dân đầu đen, rủi bị khách hàng kỳ thị thì làm sao.

Một kỷ niệm nữa được Adam xem là vất vả trên bước đường sự nghiệp là việc đi học nghề. Anh vốn dĩ sinh ra là một người dân quê. Ngoài việc sửa xe đạp cho bà con trong làng, anh cũng từng cấy cày làm ruộng. Cho nên việc đi làm cực nhọc như lau chùi dọn dẹp chỉ là chuyện nhỏ đối với anh. Đến chừng anh học sửa chữa mô tô mới là điều khổ sở. Adam cho biết, với số tiếng Anh “đong chưa đầy cái lá mít” anh phải vất vả tra tự điển từng chữ một để hiểu và làm bài.

– Không bao giờ tôi quên khóa học đầu tiên hảng gửi tôi đi để học lấy cái chứng chỉ (Certificate) sửa chữa mô tô. Adam nói. – Thật khó trăm bề! Trong khi học tôi bị “lùng bùng,” thầy nói thầy nghe, bạn nói bạn nghe, tôi chả hiểu họ nói cái giống gì. Về phòng trọ, tôi ôm cái tự điển, thức trắng đêm để tra từng chữ một và học đến khi nào gục xuống mới thôi. Tôi gạo bài mệt đến gần …”đứt bóng!” Anh cười và nói đùa.

Trước khi hoàn thành việc mua cơ sở này, Adam phải trải qua một tình huống thật ngặt nghèo, nghiêm trọng. Vừa đặt tiền cọc mua xưởng xong, anh bỗng nhiên ngã bệnh. Từ chứng xây xẩm ù tai như bị điếc, bác sĩ làm xét nghiệm và phát hiện có một mảnh gì đó nhỏ xíu nằm trong đầu, phía sau tai phải của anh. Theo lời bác sĩ, nếu không giải phẩu kịp thời để lấy ra cái mảnh ấy, có nguy cơ nó sẽ di chuyển và rơi vào não bộ. Họ còn nói, giải phẩu ngay lúc ấy dù có phần nguy hiểm đến tính mạng, nhưng sác xuất cứu sống Adam có nhiều hơn là để đến khi nó thực sự đụng vào não, vì sẽ hết đường cứu gỡ.

Vợ con anh hoảng hốt, gia đình anh bên Việt Nam sợ hãi, bạn bè anh lo âu. Ai nấy đều khuyên Adam nên dừng lại việc mua xưởng, chờ sau khi làm phẩu thuật xong hãy tính. Nhưng người đàn ông trẻ này rất can đảm và kiên cường. Anh đã không một chút lo âu sợ sệt, cương quyết tiến hành việc mua bán trước ngày nhập viện.

– Cơ hội tốt đã đến. Adam nói. – Tìm được địa điểm thích hợp chẳng phải dễ, nên không thể nào chờ đợi được.

Thế là Adam nhất quyết tiến hành hoàn tất mọi việc trước khi nhập viện. Chỉ trong thời gian một tháng đợi làm thủ tục và các loại xét nghiệm cần thiết cho cuộc đại phẩu thuật, Adam đã cố gắng tận dụng tối đa thời gian của mình. Mỗi ngày anh hết đi mua xe đem về sửa lại, đến trông coi thợ thuyền tân trang nhà xưởng, rồi đặt hàng hóa, phụ tùng chuẩn bị cho ngày khai trương. Đến khi anh nhập viện, thì việc sửa chữa, thủ tục mua bán, và giấy phép kinh doanh đều đã hoàn tất. Cộng thêm việc trên năm chục chiếc mô tô đã được anh mua về làm mới lại hoàn toàn.

Tôi ngồi nghe mà lòng ngưỡng mộ vô cùng. Thường thì khi người ta biết mình sắp trải qua một cuộc giải phẩu nghiêm trọng, bác sĩ tiên đoán “lành ít dữ nhiều” không ai tránh khỏi lo sợ. Có lẽ nhiều người, trong đó có tôi, sẽ đình hoãn dự tính cho tương lai trước khi biết kết quả. Ngược lại, Adam đã rất tự tin nghĩ mình sẽ qua khỏi. Có lẽ nhờ ý chí kiên cường ấy mà Adam vượt qua được hiểm nghèo, để giờ đây anh trở thành một trong những nhà triệu phú của thành phố nổi tiếng San Francisco.

Vợ Adam đi ngang qua nghe chuyện, cô dừng lại chia xẻ:

– Anh ấy “quỳnh liều” lắm anh chị ơi! Sau khi mổ xong, mới vừa xuất viện anh đã vội vã đến xưởng để điều hành công việc, chuẩn bị cho ngày khai trương. Em tìm mọi cách để anh ấy ở nhà tịnh dưỡng một thời gian, nhưng không được. Nhìn thấy anh đầu quấn kín nhiều lớp băng trắng lù lù, chạy tới chạy lui chỉ thị mọi người, ai nấy cũng đều lắc đầu.

Adam còn kể lại một chuyện khác, làm tôi ngồi nghe mà mắt cứ tròn lên. Sau khi xưởng khai trương được vài tháng, ông CEO, chủ của cái hãng cũ Motorcycle Dealers mà Adam từng làm -dealer này cách xưởng Adam không xa mấy- có ghé lại xem. Đến nơi quan sát cách làm ăn của Adam, ông tỏ vẻ ngạc nhiên và khâm phục. Ông thật lòng khen ngợi, rồi nói thật với Adam về tình hình hãng cũ. Rằng giám đốc điều hành đương nhiệm làm việc không hiệu quả nên hãng đang trên đà xuống dốc. Ông đề nghị Adam hãy bán cái xưởng mới, góp phần hùn vào công ty ông, thì ông sẽ mời Adam về làm giám đốc điều hành với mức lương gấp đôi lương của anh trước kia, để cùng chung tay cứu lấy hãng. Một đề nghị thật bất ngờ và hấp dẫn, đã làm vợ chồng Adam mất ngủ thêm một thời gian nữa. Người kế toán trưởng của hãng cũng thay mặt Tổng Giám Đốc tới lui nhiều lần quan sát việc Adam điều hành xưởng, và cố thuyết phục Adam hợp tác.

Nhưng cuối cùng, Adam đành phải từ chối lời mời tuyệt vời ấy vì thấy cơ sở mới của anh ngày càng phát triển theo tỷ lệ thuận. Anh nói với chúng tôi:

– Tôi nghĩ thà làm cho mình tự do hơn, lãnh công việc điều hành nhiều trách nhiệm lắm!

Lát sau thì ông cựu giám đốc tài chính cái dearler cũ cũng đến. Adam nói năm nào anh cũng mời và ông ấy đều đến, thật lòng chúc mừng cho anh. Ông giờ đã về hưu.

Tôi chợt xúc động khi nhìn ông Mỹ da trắng và Adam da vàng, hai mái đầu bạc và đen ôm nhau thân thiết, rồi Adam ân cần đưa ông chủ cũ đi lấy từng món thức ăn. Ông ấy đã không nhìn lầm người khi chọn nhận chàng công nhân “culi” không biết tiếng Anh để cho đi học nghề. Quả thật với tấm lòng công bình bác ái và không kỳ thị, ông cựu giám đốc đã tạo ra một kỳ tích cho đất nước. Từ việc nước Mỹ phải trả lương cho chàng thanh niên tị nạn da vàng, bây giờ hàng năm chàng thanh niên ấy đã đóng góp một mức thuế thật là không nhỏ để góp phần xây dựng cái quê hương thứ hai này của anh.

– Phải nói là anh thật giỏi! Tôi nói xong, hỏi một câu cuối cùng trước khi từ giã ra về: -Anh có kinh nghiệm gì để chia xẻ với bà con mình, những người mới đến Mỹ sau này?

Nhà triệu phú “cựu thợ sửa xe đạp” cười hiền lành:

– Tài giỏi chi đâu chị! Mỹ là đất có rất nhiều cơ hội. Chỉ cần cố gắng làm việc thì sẽ găt hái kết quả tốt. Rồi anh nói thêm: -Người Mỹ có câu, “Hard work, pays off” mà! Người đến Mỹ không biết một chữ tiếng Anh, bắt đầu bằng công việc “cu li” như tôi còn làm được thì ai mà chẳng làm được!

Tối đó về nhà, vợ chồng tôi bàn tán mãi về chuyện của Adam Lê. Tôi chợt nhớ lại câu nói của anh. Quả đúng là nhờ vào sự “hard work,” làm việc chăm chỉ, mà “Giấc Mơ Mỹ” của anh chàng thợ sửa xe đạp ngày xưa đã đơm bông kết trái một cách rất mỹ mãn.

Phương Hoa

Hits: 23

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

QUA NGÕ PHÙ VÂN

Người về qua ngõ tàn phai
Mang hồn du tử trần ai chập chùng.. 
Đất trời sương phủ mông lung
Nghiêng vai trút sạch tận cùng đảo điên .

Một đời qua, ngập ưu phiền
Tháng năm đầu đội bao miền âu lo..
Từ đâu, ai đã buộc cho
Khư khư rồi lại .. bo bo nghiệp trần ?

Người về qua ngõ phù vân
Cõi tình phai dấu nhịp chân vô thường.
Không ưng vui, có đâu buồn
Phong trần bỏ dưới cội nguồn Chân Như .

Ngày về mặc áo Không hư
Gọi người trong mộng giả từ kiếp mơ.
Và từ đó hết làm thơ
Mây trong cõi ý mịt mờ, loãng tan..

Như Nhiên TTT

Hits: 19

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

HÔM NAY LỘC HƯNG, MAI HÀ NỘI

Đã qua chưa
Thêm một ngày vụn vỡ
Gạch ngói điêu tàn
lăng miếu ngổn ngang
Chúa Phật linh thiêng
Nhân từ mấy cũng bẽ bàng
Nằm lăn lóc, dưới bàn tay cưỡng chế

Vườn rau xanh
Dân oan vừa tưới lệ
Khóc mầm non
lá cải hóa đơn thưa
Thưa Thần Hoàng, Thổ Địa tỉnh dậy chưa
Mà nằm đó trơ trơ, ngoảnh lời ca thán
Chúng nó dẵm bừa lên lầm than ai oán
Chín chục triệu đồng bào
Chấp tay sau đít đứng xem
Rồi ngày mai, ngày mai nữa, … rồi đêm 
Sẽ phủ xuống dân tộc nầy tăm tối
Hôm nay Lộc Hưng, mai nầy Hà Nội
Thế nào mà Tàu chẳng cưỡng chế để dời đô

Thanh Pham  

Hits: 76

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

MỘT BÁC SĨ GỐC VIỆT TÀI BA & BÁC SĨ TỊ NẠN CS LỪNG DANH THẾ GIỚI

Rất vui được đọc bài viết về người Bác Sĩ tài ba Phạm Sĩ (tên thật là Phạm Mai Sĩ), mà Sĩ lại là người bạn rất thân của mình. Câu chuyện về Sĩ mình cũng đã có kể cho nhiều bạn bè nghe rồi. Nay đọc bài báo thấy cần xin kể lại.

Xin mời đọc tiếp link dưới đây:

http://www.carolyndo.com/gop-nhat-tram-hoa/mot-bac-si-goc-viet-tai-ba-bac-si-ti-nan-cs-lung-danh-the-gioi/

Hits: 51

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Nhộng

Xin em chia nửa ngày vui
Bù đêm đông lạnh buồn vùi chiếu chăn
Xin em quên nửa trở trăn
Khi choàng tỉnh hỏi ai nằm bên hông
Ơn em con nhộng say nồng
Lá dâu đã khuyết tơ hồng đã cho
Nương chiều sương xuống hoang sơ
Mầm non xanh đợi hẹn mùa xuân sau

Thanh Phạm 

Hits: 70

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Về hưu dưỡng lão

baomai.blogspot.com  
Dưỡng lão, đến cuối cùng cần dựa vào điều gì: Hãy đọc và tìm câu trả lời cho riêng mình
Cơ bản, dưỡng lão vẫn là dựa vào bản thân mình! Những người khác cho bạn chỉ là một chiếc lá, tự mình làm cây lớn mới có thể có được bóng râm!
Dưỡng lão nếu luôn dựa vào người khác thì sẽ không có cảm giác an toàn. Vì cho dù là con cái, người thân hoặc bạn bè, sẽ không thể lúc nào đều ở bên cạnh bạn. Khi bạn gặp khó khăn, họ không thể bất cứ lúc nào, ở bất cứ nơi nào cũng có thể xuất hiện để giải quyết giúp bạn.
baomai.blogspot.com
  
Trong thực tế, mỗi người đều là một cá nhân độc lập, mọi người đều có cuộc sống của riêng mình, bạn không thể yêu cầu người khác phải cho bạn dựa vào, những người khác cũng không thể bất cứ lúc nào cũng có thể giúp bạn.
Chỉ có thông qua những nỗ lực của bản thân để giải quyết vấn đề, mới thực sự có thể sống cuộc sống mà bạn mong muốn!
Một nhóm người lớn tuổi nói ra sự thật: Dưỡng lão vẫn là nên dựa vào chính bản thân mình!
Chúng ta đã già đi, chỉ là hiện giờ sức khỏe của chúng ta vẫn còn, đầu óc vẫn tỉnh táo.
Giai đoạn đầu: 60-70 tuổi
baomai.blogspot.com
  
Sau khi nghỉ hưu, sáu mươi đến bảy mươi tuổi, cơ thể tương đối tốt, điều kiện cũng tốt. Muốn ăn thứ gì thì ăn, thích mặc gì thì mặc, thích đi chơi thì đi.
Đừng khắc nghiệt với chính mình, những ngày này không còn bao lâu nữa, phải nắm bắt. Tiền tiết kiệm một chút, nhà giữ lại, để con đường hậu của mình có sự sắp xếp.
Con cái có điều kiện kinh tế tốt là do sự nổ lực của chúng, sự hiếu thảo của con cái là lòng biết ơn của chúng. Chúng ta đừng từ chối sự trợ giúp của chúng, đừng từ chối sự hiếu thuận của chúng. Nhưng vẫn phải dựa vào chính mình, sắp xếp tốt cuộc sống của chính bản thân mình.
Giai đoạn thứ hai: sau 70 tuổi không mắc bệnh
baomai.blogspot.com
  
Bảy mươi năm tuổi không gặp rắc rối gì với bệnh tật, trong cuộc sống có thể tự chăm sóc bản thân, đây không phải là vấn đề lớn, nhưng phải biết rằng mình thực sự đã lớn tuổi, và từ từ thể lực và tinh thần sẽ không còn tốt nữa, phản ứng cũng sẽ trở nên chậm hơn, phải ăn chậm chống sặc, phải đi chậm chống ngã. Không còn có thể cố gắng sức, cần phải chăm sóc bản thân mình!
Đừng đi lo thứ này thứ kia nữa, quản thúc con cái, còn một số người còn quản cả thế hệ thứ ba. Quản cả một đời rồi, hãy ích kỷ một chút, tự quản bản thân mình. Mỗi ngày giúp dọn dẹp lau chùi, giữ trạng thái khỏe mạnh của mình lâu dài hơn một chút, để thời gian sống của mình lâu hơn một chút, cuộc sống không cần yêu cầu người khác rất thoải mái. Như thế, tất cả mọi thứ đều trở nên dễ dàng.
Giai đoạn thứ ba: Sau 70 tuổi bị bệnh
baomai.blogspot.com
  
Cơ thể không tốt, đòi hỏi có người chăm sóc! Điều này nhất định phải được chuẩn bị, đại đa số người đều không thể thoát khỏi ải này. Tâm trạng phải điều chỉnh tốt, phải thích nghi. Sinh lão bệnh tử là lẽ thường của cuộc sống cần thản nhiên tiếp nhận. Đây là đoạn cuối của cuộc đời không có gì để sợ hãi, sớm chuẩn bị sẽ không có điều gì phải hối tiếc.
Hoặc vào viện dưỡng lão, hoặc thuê người chăm sóc tại nhà, làm bất cứ điều gì đều tùy theo khả năng, theo tình huống mà làm, sẽ luôn luôn có cách giải quyết, nguyên tắc là đừng mài mòn đến con cái, đừng để tâm lý, gánh nặng gia đình, kinh tế đặt lên con cái quá nhiều.
Tự bản thân mình cố gắng một chút, thế hệ của chúng ta những khó khăn cay đắng đều đã trải qua, tin rằng cuộc hành trình cuối cùng của cuộc đời chúng ta cũng sẽ qua một cách bình thản.
Giai đoạn thứ tư: Giai đoạn cuối của cuộc đời
baomai.blogspot.com
  
Tinh thần cần tỉnh táo, bệnh trên cơ thể không thể chữa khỏi được, chất lượng cuộc sống kém đi, lúc này phải dám đối mặt với cái chết, quyết tâm đừng để gia đình giải cứu, đừng để bạn bè và người thân làm những điều lãng phí không cần thiết.
Bạn muốn cuộc sống tuổi già không lo lắng, cần chuẩn bị sẵn sàng 4 bảo bối này!
Tục ngữ nói rất hay, “có tài chính sẽ không nghèo, có kế hoạch sẽ không loạn, có chuẩn bị sẽ không bận rộn”, thân là những người già như chúng ta, đã làm tốt công tác chuẩn bị chưa? Chỉ cần mọi việc chuẩn bị trước, tương lai cuộc sống sau này sẽ không phải lo lắng nữa.
1. Sức khỏe về già
baomai.blogspot.com
  
Điều đầu tiên cần chuẩn bị là sức khỏe về già, bình thường phải chú ý đến ba thứ dưỡng: ăn dinh dưỡng, chú ý đến bảo dưỡng, cần có tu dưỡng.
2.  Nơi trú ngụ về già
baomai.blogspot.com
  
Thứ hai là nhà ở về già: sống với con cháu, sống một cuộc sống nhẫn nhịn nuốt đắng, chi bằng tận hưởng cuộc sống đơn thân vui vẻ, bất kể thành thị hay ngoại ô, ở nơi mình sống thích hợp nhất. Gần đó có một nhà hàng bạn yêu thích!
3. Tài sản về già
baomai.blogspot.com
  
Thứ ba là tài sản lúc về già, vì con cái không thể nuôi dưỡng người tuổi già, bậc cha mẹ cũng chỉ có thể tự lập tự cường, tài sản cần giữ kỹ, trước khi chưa vào quan tài quan nhất định không chia tài sản.
4. Bạn già
baomai.blogspot.com
  
Thứ tư là bạn già, có một người bạn tốt, bạn bè tốt và người đồng hành đều rất quan trọng, thường ngày kết giao bạn bè, quen biết nhiều loại bạn bè, là một bí mật để tận hưởng cuộc sống quý tộc đơn thân.
Tóm lại, cho dù bạn là ông cụ hay bà cụ trường thọ, cuối cùng cũng chỉ là một mình, câu nói này không bi ai chút nào, cũng không khủng khiếp, tất cả đều phụ thuộc vào cách bạn sắp xếp cuộc sống, tất cả đều phụ thuộc vào bạn có tâm lý trưởng thành hay không.
Thích thì hãy làm cho đáng, đừng quên, cuộc đời này chỉ có một lần, gặp những điều tốt đẹp hay hạnh phúc, đừng chỉ luôn muốn để lại cho thế hệ tiếp theo.
baomai.blogspot.com
  
Những bạn hữu già hãy nhớ kỹ! Chúng ta được mệnh danh là thế hệ sau cùng hiếu thảo với cha mẹ, là thế hệ đầu tiên bị con cái bỏ rơi, tuyệt đối đừng vì “người ở trên trời, tiền trong ngân hàng”, cái gì “một mình rất cô đơn”, “già rồi không ai chăm sóc” những tin tức tiêu cực này làm cuộc sống của bạn mất đi ý nghĩa, những cách nói này đã lỗi thời rồi.
Chúng ta phải dựa vào chính mình dưỡng lão, lớn tiếng mà nói: tuổi già của tôi, tôi tự làm chủ.

Hits: 125

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

NGƯỜI HÁT RONG TRONG HẦM XE ĐIỆN NGẦM

Con tàu TGV nối liền thành-phố Dijon-Paris ngùng tại điểm đến ga Lyon. Phú xuống xe, kéo va-li đi dọc theo hành lang ga, xuống hầm xe điện ngầm để đón xe về khách-sạn. Chiều thứ, sáu,đang là giờ cao-điểm cuối tuần nên hành khách đi lại rất đông. Phú chen đi trong dòng người vội vã, vừa ra khỏi cầu thang cuốn, anh thoáng nghe có tiếng đàn guita hòa lẫn giọng ca nam nhẹ vang lên trong góc hầm,giọng ca tiếng Việt buồn não, lời bài ca đã lâu lắm anh mới có dip nghe  lại:

Trời đêm dần tàn, em đến sân ga để tiễn người trai lính về ngàn.
Cầm chắc đôi tay, ghi vào đời tâm-tư ngày nay.
Gió khuya ôi lạnh sao, vấn nhẹ đôi tà áo.
Tàu xa dần rồi, thôi tiếc thương chi khi biết người ra đi vì đời
Trở gót bâng-khuâng em hỏi lòng đêm nay buồn không.
Chuyến xe đêm lạnh không để người yêu vừa lòng ?
Ngày tháng đợi chờ, em đến sân ga nơi tiễn người trai lính ngày nào
Tàu cũ năm xưa, mang người tình biên khu về chưa.
Trắng đêm em chờ nghe tiếng tàu đêm tìm về….

Lời ca đến đây chấm dứt, giọng ca lại tiếp tục vang lên lời ca nhạc Pháp. Ngạc nhiên và tò mò Phú tiến lần đến nơi phát ra tiếng hát. Một nhóm khách hiếu kỳ đang đứng vây quanh một người đàn ông Á-châu nhỏ con, tuổi không quá ba mươi, đôi mắt to sáng, để râu mép… nhìn chung người đàn ông không có gì cá biệt về hình dáng so với những đàn ông Châu-Á khác.. Anh đang vừa đàn vừa hát: những người khách vây quanh thích thú vỗ tay khi anh ngừng hát và lần lượt vài người bỏ tiền vào cái hộp giấy anh để dưới đất.

Phú nhìn người hát rong, anh đứng im lặng, tuy người hát rong đã đổi sang hai bài ca bằng tiếng Pháp khá lâu nhưng dường như anh vẫn còn đang nghe lời ca tiếng Việt của bài ‘Tàu đêm năm cũ’ đang thấm vào tim, vào máu, vào hơi thở của anh. Anh rẽ đám đông, tiến vào phía trong bỏ tiền vào hộp…người hát rong nhìn anh nói “Merci” như nói “Merci” với những du khách cho tiền khác. Anh nhìn thẳng vào người hát rong gật đầu, mỉm cười chào. Người hát rong mỉm cười gật đầu đáp trả. Nhìn nét vui vẻ của người hát rong, Phú hỏi ngay bằng tiếng Việt: – Anh là người Việt-nam ?
Người hát rong gật đầu, ngừng một chốc rồi lắc đầu, trả lời bằng tiếng Pháp:
– Tôi là người Việt-nam nhưng tôi không nói được tiếng Việt.

Nói xong,người hát rong cầm hộp tiền, ôm đàn chào mọi người rồi dời đi nơi khác….Phú đi theo sau  anh ta một đoạn hầm ngắn, anh định hỏi người hát rong:”Anh không nói được tiếng Việt, nhưng ai dạy anh hát tiếng Việt quá hay ?” Vửa lúc đó người hát rong ngồi xuống nơi góc ngay một ngă rẽ của đường hầm, bắt đầu đàn rồi cất cao giọng :
Trời đêm dần tàn,em đến sân ga tiễn người trai lính về ngàn…..

Mọi người dừng lại nghe hát. Phú cũng đứng lại nghe hát….lời ca làm anh như say, quyến luyến lạ thường, đưa anh trở về với kỹ niệm của một thời vang bóng của tuổi học đường, của hình ảnh bạn bè nơi thành phố thân yêu anh được sinh ra và lớn lên…rồi những ngày sống cuộc đời chiến-đấu gian nguy, chết chóc trong quân đội….cho đến những ngày bị đày đọa trong ngục tù Cộng-sản sau cuộc chiến bại trong việc giữ nước.

Tàu cũ năm xưa mang người tình biên khu về chưa ?
Trắng đêm em chờ nghe tiếng tàu đêm tìm về…

Tiếng vỗ tay của người nghe đánh thức Phú trở về thực tại. Anh góp vỗ tay cùng những nguời khác. Anh tự hỏi không biết những người nước ngoài nầy có hiểu được lời ca Việt nầy không mà họ vỗ tay rất nhiệt tình. Vì lịch-sự chăng ? Anh nghĩ chắc không phải vì lịch-sự, cứ nhìn nét mặt của họ diễn biến theo lời ca, tuy họ không hiểu lời nhưng âm điệu diễn đạt lời ca hòa cùng tiếng đàn điêu luyện của người nghệ sĩ hát rong đã đi vào nơi thâm sâu, nơi trái tim đầy xúc cảm của họ. Cái ý định theo người hát rong để hỏi một điều gì đó đến đây vẫn chưa định hình được. Phú không muốn quấy rầy người này trong giây phút thuận tiện cho cuộc mưu sinh của họ. Phú vẫy tay chào người hát rong rồi trôi theo giòng người trong hầm xe điện.

**********
Nhận phòng khách-sạn xong, Phú điện thoại ngay cho Thuyên để báo anh đã lên đến Paris. Anh quen biết Thuyên từ những ngày đầu tiên đến Pháp gần hai mươi lăm năm. Thuyên đến từ trại tỵ-nạn Hông-kong, anh đến từ trại tỵ-nạn Galang thuộc Indonésie.

Thuyên đến Pháp cùng vợ trước Phú vài ngày. Anh đến một mình. Anh, vợ chồng Thuyên và một số thuyền nhân tỵ-nạn khác đến từ Mã-Lai, Phi-luật-Tân,Thái-Lan được chính phủ Pháp nhận cho định cư. Trạm dừng chân đầu tiên khi họ đến Pháp đều được tiếp đón tại trung tâm Terre d’asiles ở Créteil, ngoại ô Paris, nơi lập thủ tục giấy tờ cá-nhân cũng như khám sức khỏe trước khi được phân phối định cư trên toàn nước Pháp. Anh được dưa định-cư ở thành phố Dijon,miền trung nước Pháp, Thuyên và vợ được gia-đình người anh ruột đón nhận về chung sống tại Paris.

Sau khi sắp xếp giờ giấc buổi hẹn là gặp ngày thứ hai đầu tuần tới tại công-ty buôn bán nhà đất do Thuyên quản lý để anh được Thuyên giới thiệu mua nhà, Anh theo lời Thuyên mời dùng cơm tối hôm đó tại nhà. Năm nay hai con của Phú đã hoàn tất đại-học và muốn sống tại Paris để tìm việc làm dễ dàng hơn nèn vợ chồng anh đã quyết định tìm mua nhà ở Paris cho hai con có cơ hội tiến thân. Việc tìm nhà theo tiêu chuẩn của gia-đình anh đã được anh nhờ Thuyên giúp. Chuyến đi Paris này do Thuyên mời anh lên xem nhà theo tiêu chuẩn đã yêu cầu.

Buổi cơm tối gia-đình diễn ra vui vẻ và ấm cúng, ngoài gồm vợ chồng Thuyên, còn có hai nguời con trai và con gái đầu lòng có mặt. Gần cuối bữa cơm Phú kể chuyện nghe người hát rong Việt-nam hát trong hành lang xe điện ngầm vào buổi chiều. Đứa con trai út của Thuyên có vẽ ngạc nhiên hỏi:
–  Bác chưa hề gặp ông nầy lần nào sao? Ở Paris nầy ai xử dụng métro thường xuyên ít nhất cũng có gặp ông ấy và nghe ông ấy hát một lần. Cháu biết ông ấy lâu rồi, từ khi cháu bắt đầu lên trung-học và xử dụng métro để đi học”. Ngừng một lát, cậu nói tiếp:
–  Ít nhất là trên năm năm rồi từ khi cháu gặp ông ấy.”

Con gái lớn của Thuyên xen vào: –  Ông ấy là giáo-sư toán năm đầu tiên bậc trung học của cháu…thầy Kévin…Thẳy là người Việt-nam nhưng không nói được tiếng Việt mà lại hát được tiếng Việt. Thầy cũng hát tiêng Pháp rất hay. Thầy hay đi hát trong hầm xe điện ngầm những ngày cuối tuần và ngày lễ, hoặc cả những ngày nghỉ hè mà thầy không có chương trình đi chơi.
– Bác có biết thầy Kévin đi hát để làm gì không?”

Phú lắc đầu. Con gái Thuyên dửng một một chút rồi nói tiếp :
– để có tiền giúp trẻ em mồ côi bên Việt-nam ! Thầy đã có vợ nhưng chưa có con,
Vợ thầy Kévin là giáo sư âm nhạc, dạy nhạc ở nhạc viện địa-phương. hai vợ chồng thầy sống chung với cha mẹ người Pháp, dường như cha mẹ của thầy đều làm việc cho một công-ty máy bay nào đó…bạn thân của cháu là em gái của vợ thầy, chúng cháu thân nhau từ nhỏ. 

 

Con nhỏ cũng sống chung một nhà với thầy Kévin, nên thỉnh-thoảng cháu ghé nhà thăm bạn, đôi khi cháu gặp thầy Kévin. Bạn cháu nói thầy Kévin đi hát rong để lấy tiền giúp trẻ mồ côi bên Việt-nam nên cháu mới biết. Có dịp đi Metro, cháu ghé nghe thầy hát và góp tiền. Cháu nghe hoài thành ra gần như thuộc lòng bài hát tiêng Việt mà thầy ấy hát”

Nói đến đây con gái Thuyên đọc lên lời ca:” Tàu cũ năm xưa, mang người tình biên khu về chưa”, cô ngừng vài giây rồi nói như xúc-động: – Lời ca buồn quá phải không bác? Phú im lặng, trả lời bằng đầu cách gật đầu. Vợ Thuyên bỗng góp lời:
– Lần đầu tiên, tình cờ tôi nghe cháu nghêu ngao mấy câu hát bài nầy, tôi ngạc-nhiên hỏi cháu ai dạy mà con biết hát, thì cháu kể đã nghe một người Việt-nam hát trong hầm xe điện, người nầy là thầy giáo cũ của cháu. Cháu lại nhờ tôi giải thích hai chữ “biên-khu” là gì ?” Một phút yên lặng rơi xuống bàn ăn…Phú góp lời:
– Ngày xưa nghe ca-sĩ Thanh-Thúy hát bài nầy buồn thúi ruột !”

Chuyện thầy giáo Kévin gốc Việt, không nói được ngôn ngữ Việt của mình mà hát một bản nhạc bằng tiếng Việt trong hầm xe điện ngầm để có tiền giúp trẻ mồ côi tại quê nhà ám ảnh Phú suốt buổi ăn tối hôm đó. Cái ý-tưởng muốn gặp người đó để tỏ lòng mến phục một cách tự-nhiên giữa hai nguời còn xa lạ làm anh suy nghĩ, nhưng anh còn ngần ngại chưa nghĩ ra phương cách thích hơp.


Và dường như đọc được ý-nghĩ của anh, con gái Thuyên đem tách trà đến mời và ngồi xuống gần anh:” – Bao lâu  nay cháu muốn hỏi thầy Kévin, thầy hát nhạc lời Pháp, lời Mỹ và đôi khi lời Ý, nhiều tên bản nhạc khác nhau, nhưng tại sao duy nhất chỉ có một bản nhạc lời Việt; cháu thấy ngại khi muốn mở lời, cháu sợ có sự bí mật riêng tư nào đó sẽ làm tổn thương thầy. Ngày mai chúa-nhật, cháu mời bác, ba mẹ cháu và hai em cháu cùng bạn trai của cháu đi uống cà-phê ở Montmartre, chúng ta sẽ đi métro. Trên đường đi, chúng ta sẽ ngừng lại nghe thầy Kévin hát, cháu sẽ giới thiệu bác và ba mẹ cháu với thầy Kévin, mọi người đồng-ý không ?
Phú chưa kịp trả lời thì Thuyên đã lên tiếng :
– Đồng ý ! Ba mẹ đồng ý đề nghị của con gái, ba mẹ sẽ có dịp biết anh chàng hát rong nầy. Bác Phú nên nhận đề nghị của cháu cho cháu vui” Phú vui vẻ nhận lời. Anh vỗ nhẹ vai cô con gái Thuyên:
– Cháu mời nhưng bác trả tiền được không?”.
– Không được đâu, bác có biết bên Tây nầy tội hối lộ bị phạt nặng lắm không ?”.
Tất cả mọi người đều cười.

******
Ba tháng sau Phú đưa gia-đình từ thành phố Dijon về căn nhà mới mua ở ngoại-ô Paris, nhờ Thuyên môi giới và hướng dẫn thủ tục nên anh mới có được căn nhà theo ý muốn. Anh lại may mắn đuợc tiếp-tục làm việc cho công-ty phụ của đại công-ty chính ở,Dijon chuyên về xuất nhập trái cây khô của Thổ-nhĩ-Kỳ. Hôm khai trương nhà mới, ngoài gia-đình Thuyên, Phú còn mời vợ chồng Kévin và bà mẹ nuôi của Kevin.

Anh nhớ hôm đi uống cà-phê do con gái lớn của Thuyên mời, trên đường về, tất cả mọi người dừng chân trong góc xe điện ngầm để nghe Kévin hát. Đang hát, có lẽ nhận ra con gái và con trai của Thuyên nên Kévin mỉm cười gật đầu chào và tiếp tục hát một bài ca lời Pháp. Lời ca vừa dứt, mọi người vỗ tay, Phú và vài người tiến đến bỏ tiền vào hộp quyên gỏp. Khi Kévin nhìn đồng hồ tay, như biết thói quen của người hát rong, con gái Thuyên tiến bên cạnh nói:
– Thầy khoan đi qua địa điểm khác hoặc nghỉ hát, hôm nay thầy phá lệ được không,?
Nói xong, con gái Thuyên quay nguời lại đưa tay chỉ về những thành viên trong gia-đình cô: – Ba mẹ tôi lần đầu tiên muốn nghe anh hát bài ca tiếng-Việt, và người Bác tôi cũng muốn nghe lần thứ hai anh hát bài ca đó, xin anh vui lòng, nếu không có gì trở ngại ?”

Phú nghe Kévin trả lời:
– Thường tôi chỉ hát bài ca lời Việt chỉ một lần khi bắt đầu buổi hát tại một địa điểm khi mới đến. Hôm nay đã chấm dứt buổi hát trong ngày, nhưng để làm vui lòng cô học trò cũ, tôi sẽ hát”. Dứt lời, Kévin đập nhẹ vài tiếng vào thùng đàn, dạo nhạc và lên tiếng hát: Trời đêm dần tàn, em đến sân ga để tiễn người trai lính về ngàn…
Giọng hát khàn, đục âm điệu buồn lắng đọng trong tim. Chuyện tình của một đôi trai gái trong cuộc chiến tranh giữ nước của một giai-đoạn lịch sử. Lời ca buồn, giọng ca buồn, đôi mắt và khuôn mặt buồn của người hát rong như tan ra hòa lẫn vào hơi thở và mạch máu của Phú.


Khi giọng hát và tiếng đàn ngừng, một sự yên lặng phủ trùm không gian của góc đường hầm làm Phú trở về thực tại. Anh đã đến đứng kế bên cạnh người hát rong tự bao giờ như một người mộng-du và anh đã cùng hát…cùng diễn đạt tâm-tư của nhân vật trong câu chuyện tình như anh đã sống trong giai đoạn đó…Mọi người bắt tay nhau. Lời cám ơn nhẹ nhàng đượm buồn. Từ đó, những ngày cuối tuần khi Phú trở lên Paris gặp Thuyên, anh có dịp ghẻ thăm Kévin ở hầm xe điện. Tình cảm giữa hai người trở nên quyến luyến hơn.
Qua bữa ăn mừng nhà mới., Phú biết được một chút về gia cảnh Kévin. Khi vợ Thuyên hỏi bà mẹ Pháp của Kévin có mấy con ngoài đứa con Á-châu nầy, Bà đưa mắt hướng về phía Kévin đang đứng hút thuốc ngoài hành lang, hạ thấp giọng
“- Vợ chồng tôi cưới nhau hơn mười năm mà không có con. Nhân một chuyến du-lịch Thái-Lan, chúng tôi vào thăm một cô-nhi viện của một làng chài nhỏ, thấy thằng nhỏ kháu-khỉnh, ông chồng tôi nhìn thấy thuơng nên xin nhận làm con nuôi.


” Người ta cho biết một tàu hàng nhỏ chuyên chở ven bờ Thái Lan đã tim thấy thằng nhỏ cùng với hơn mười trẻ khác gồm trai và gái nằm đói lã trên một chiếc tàu có quốc-tịch Việt-nam trôi giạt trên biển, nên đã kéo tàu đó về làng nầy. Trên tàu không có người lớn, người ta nói có thể đoán tàu bị cướp biển tấn công nên người lớn có thể đã bị giết hay bị bắt đi. Khi lớn lên, đôi lúc cháu hỏi vợ chồng tôi về nguồn gốc cha mẹ cháu, vợ chồng tôi không biết gì hơn ngoài chuyện như tôi vừa mới kể.”
******
Mối giao tình giữa gia-đình Phú và Kévin theo thời gian trở nên thân thiết. Hai con của anh và vợ chồng Kévin rất quyến luyến nhau. Mùa nghỉ hè đầu tiên từ khi quen biết, Kévin đã dành trọn hai tuần nghỉ cùng gia-đình anh đi nghỉ hè chung với nhau. Dịp nầy Phú đề nghị giúp Kévin tập hát thêm một vài bài nhạc tiếng Việt để Kévin có thể hát với những nhạc phẩm khác trong hầm xe điện nhưng bị từ chối, không giải thích lý do.

Một buổi chiều, trời đang hanh nắng chợt một cơn mưa giông ập đến. Những giọt mưa lớn rơi lộp bộp trên mái nhà trại hè, mọi người chán nản vì không đi ra ngoài tắm biển được. Mong rằng sẽ xua bớt đi sự chán nản của mọi người, Phú dùng hai tay đập vào đùi của anh theo nhịp tiếng mưa hát:


Chiều một mình qua phố, âm thầm nhớ đến tên em
Có khi nắng kia chưa lên mà một loài hoa chợt tím
Chiều một mình qua phố, âm thầm nhớ nhớ tên em
Gót chân đôi khi đă mềm, gọi buồn cho mình nhớ tên
Phú ngừng đập nhịp, ngừng hát, Kévin nhìn anh như dò hỏi, như yêu cầu Phú hát tiếp. Phú lắc đầu:
–  Mấy chục năm rồi bác không có dịp hát chung vui với bạn bè nên bác không còn nhớ những câu chót”.Khi Phú bắt đầu hát anh đã nhìn thấy khuôn mặt Kévin như bị khích động, đôi mày nhíu lại, đôi môi như mấp máy, nhịp thở như ngừng lại. Đến khi anh ngừng hát, tiếng thở dài của Kévin buông ra thật mạnh, mặt trở nên buồn, như tiếc nuối chuyện gì.  Kévin nói với anh như năn nỉ:

–  Bác hát lần nữa cho cháu nghe, cháu nhớ cháu có nghe bài hát nầy rồi, cháu rất thích
– Vậy thì bác hát lại cho cháu nghe nhé; bác sẽ tìm và ghi lại bài hát nầy qua máy vi-tính cho đầy đủ, hai bác cháu mình tập cho thuộc, biết đâu mai mốt, bác cháu mình sẽ cùng hát trong hầm xe điện.
Chiều một mình qua phố……
Gót chân đôi khi đã mềm, gọi buồn cho mình nhớ tên…

Phú vừa dứt lời ca…tai anh nghe có tiếng gõ nhịp vào thành bàn, một giọng hát nhỏ nhẹ ngập ngừng thoát ra từ chàng trai ngồi cạnh anh:

Chiều qua bao nhiêu lần môi cười cho mình còn nhớ nhau,
Chiều qua bao nhiêu lần tay rời nghe buồn ghé môi sầu
Ngày nào đời còn có nhau, xin cho dài lâu.
Ngày nào đời thôi có nhau xin người biết đau.
 

Giọng ca như nghẹn lại, ngừng hẳn cùng tiếng đập nhịp vào bàn. Mọi người trong nhà ồ lên cùng lúc, cùng tiến đến bên cạnh Kévin, đưa mắt nhìn nhau ngơ ngác. Kévin đang gục đầu xuống bàn, hai vai run rẫy. Kévin đang khóc.Tất cả mọi người yên lặng, nghe được hơi thở của nhau. Vợ Kévin ôm đầu chồng trong vòng tay, đưa mắt nhìn mọi người như hỏi chuyện gì đang xẩy ra ?

******
Cơn mưa đã tạnh, mọi người đều đi ra ngoài bãi biển để tận hưởng những tia nắng còn sót lại trong ngày. Phú đi cùng Kévin sau hàng dương cách biệt bãi tắm không xa tới một khu yên tĩnh. Phú nhớ lại chuyện vừa xẩy ra trong nhà trọ, anh ái-ngại nhìn Kévin rồi nói:
– Bác xin lỗi cháu chuyện vừa rồi, bài hát đã làm xúc-động cháu. Thời tuổi bác như cháu bây giờ, bài hát nầy rất phổ thông với mọi người…!

Kévin dừng bước, mời Phú cùng ngồi vào chiếc ghế dài nhìn ra biển, lấy thuốc lá ra châm lửa. Sau khi thổi một hơi khói thuốc dài, Kévin chậm rãi nói:
– Bản nhạc bác hát hôm nay làm cháu buồn và nhớ đến mẹ cháu nhiều. Cháu nhớ không rõ lắm, có một buổi sáng, mẹ cháu đánh thức cháu thật sớm, còn đang thèm ngủ cháu khóc đòi ngủ tiếp. Mẹ cháu dỗ: “con của mẹ ngoan, dậy để mẹ thay áo quần sạch sẽ, ăn chút cháo, mẹ đưa con đến nhà trẻ để mẹ đi làm nuôi con. Ở nhà trẻ con ngủ tiếp nghe.” 

 
Nghe mẹ nói, nhìn thấy hai mắt mẹ đầy nước mắt, cháu nghe theo lời mẹ. Đến nhà trẻ, mẹ để cháu chờ ngoài sân, mẹ vào nói chuyện với cô giữ nhà trẻ. Không biết mẹ nói gì với cô ấy, cháu chỉ thấy cô ấy lắc đầu nhiều lần, rồi mẹ quay ra sân, mặt thật buồn, mẹ lặng lẽ nắm tay cháu dắt trở về nhà. Vừa vào nhà, mẹ cháu ngồi xuống nền nhà rồi ôm cháu vào lòng than :
– Nguoi ta nói con là con của ngụy quân, nhà trẻ không thể nhận.
Mẹ cháu thở dài nói tiếp:
– Mẹ sẽ nói chuyện với bà Mười hàng xóm, bắt đầu ngày mai mẹ gởi con qua đó…mẹ phải đi phụ hồ cho người ta để có tiền đong gạo, mẹ hết tiền rồi;…nhà không còn gì để bán.”
 

Rồi cả ngày hôm đó mẹ dắt cháu đi ra đường. Mẹ dẫn cháu  đi mãi, hết đường nầy qua đường khác, đến khi cháu mỏi chân, cháu khóc không chịu đi nữa, mẹ cõng cháu sau lưng, tiếp tục đi. Chiều tối, đèn hai bên đường được thắp sáng ,cháu đói bụng đòi ăn,mẹ dừng chân mua bánh mì xịt nước tương cho cháu. Về đến nhà,hai mẹ con cháu  nằm dài trên giường, mẹ ôm cháu, nghe mẹ hát:

Chiều một mình qua phố,nâm thầm nhớ đến tên anh
Có khi nắng kia chưa lên mà một loài hoa chợt tím
Chiều một mình qua phố,nâm thầm nhớ nhớ tên anh
Gót chân đôi khi dã mềm, gọi buồn cho mình nhớ tên

Từ đó chiều nào cũng vậy, mẹ cháu đi làm về đều có bánh mì xịt nước tương cho cháu? Ăn xong  mẹ cháu tắm rửa thay áo quần cho cháu, dẫn cháu ra đường đi lang thang cho đến tối mới dẫn cháu về nhà. Có hôm bà Mười hàng xóm đứng bên nhà bà hỏi mẹ cháu khi hai mẹ con cháu vừa về đến nhà:;” Mẹ con cô hai mấy lúc sau nầy hay đi dạo buổi chiều, về tối quá !” Cháu nghe  mẹ cháu trả lời như có gì nghẹn trong cổ:
– Dạ, đi dạo cho quên đói dì ơi, chờ cuối tháng mới lãnh tiền công mua gạo. Cháu nghe tiếng bà Mười:
– Trời đất, sao cô không nói ! Thời buổi nầy ai cũng thiếu hụt cái ăn cái mặc hết. Có ai đủ đâu. Hôm rồi, có đứa cháu dưới vườn lên, nó lén lút đem lên cho được mấy kí bo bo và mấy kí bột bắp, mai cô hai qua lấy một ít về ăn; lúc nào mua được thì trả lại tui, cô hai đừng ngại, chỗ bà con chòm xóm với nhau thương nhau không hết.”

Mẹ nói: ” – Cám ơn dì Mười, rồi đi vào nhà, nằm lên giường. Cháu nghe tiếng mẹ thở dài. Cháu nằm xuống bên cạnh, mẹ ôm cháu hồi lâu, cháu nghe mẹ hát vào tai cháu âm thanh thật nhẹ như ru cháu ngủ:
Chiều qua bao nhiêu lần môi cười cho mình còn nhớ nhau.

Chiều qua bao nhiêu lần tay rời nghe buồn ghé môi sầu
Ngày nào đời còn có nhau xin cho dài lâu
Ngày nào đời thôi có nhau xin người biết đau..
 

Hôm đó cháu hỏi mẹ tại sao cháu không ba, Mẹ không trả lời. Cháu đã nhiều lần hỏi trước đó nhưng chưa bao giờ nghe  mẹ trả lời. Mẹ chỉ im lặng thở dài. Tưởng như bao lần trước mẹ không trả lời. Cháu ngồi dậy, tính ra khỏi giường thì mẹ kéo cháu nằm xuống. Mẹ bấm lóng tay rồi xoa đầu cháu:
“- Này, con của mẹ được bốn tuổi tám tháng..con người ta tuổi nầy thân xác đã lớn trội, còn con sao còi cụt như thế nầy..giá như có ba con thì mẹ con mình đâu đến nổi khổ.”
Mẹ cầm bàn tay cháu áp lên má của mẹ nói tiếp:
“- Ba con là lính Việt-nam Cộng-hòa, làm sĩ quan Thủy quân lục-chiến. Cưới mẹ xong, chỉ sống bên mẹ chưa hết phép mười lăm ngày phép thì phải đi đánh giặc ngoài Quảng-tri, cho đến nay không biết ba con chết hay sống. Thời đó chiến tranh dữ dội lắm. Mẹ sinh con năm 1974, vài tháng sau thì Việt-cộng họ chiếm hết đất nước.

..mà thôi, con còn nhỏ không nên nghe, không nên biết nhiều chuyện chiến tranh, chuyện người lớn”.
Mẹ ngồi dậy lấy khăn ướt lau mặt cho cháu:
“-  Tới giờ đi ngũ rồi” Mẹ lại nằm bên cạnh cháu, mẹ hát:
Trời đêm dần tàn, em đến sân ga để đòn người trai lính trở về….
Lời của mẹ thật êm, thật nhẹ, thật buồn ru cháu ngủ hằng đêm. Mẹ chỉ hát duy nhất một bài hát, bài này đã đi vào trong tâm khãm cháu. Còn bài hát kia, có lời:
Ngày nào đời thôi có nhau xin người biết đau….

” Bài ca nầy mẹ ít hát kể; từ khi mẹ đi làm về trễ, không còn thời gian để đưa cháu đi dạo bên ngoài, nên cháu quên. Nay có bác hát nên cháu mới nhớ lại…Mẹ cháu bán nhà, hai mẹ con cháu qua sống chung với dì Mười. Dì Mười sống một mình. Mẹ cháu kể:
” – Chồng và hai con trai của dì đều chết trận, dì không còn ai thân thuộc gần gũi, chỉ có bà con xa ở dưới quê. Rồi một hôm, mẹ cháu chào dì Mười, nói đưa cháu về thăm bà ngoại. Mẹ cháu cùng cháu đi xe đò đến chiều tối, đến một nơi nào đó cháu không biết. Hai mẹ con cháu ngồi chờ trong một quán bên đường, có một người đến đưa hai mẹ con cháu xuống một chiếc ghe lớn, trên đó có rất nhiều người. Ghe chạy, mọi người ngồi sát vào nhau, không ai nói chuyện. 

 

Thỉnh thoảng mọi người được cho ăn cơm vắt và uống nước lạnh…rồi trong đêm tối, bỗng cháu nghe mọi người la  khóc, hoảng hốt, xô đẩy trong ghe, có tiếng la “cướp….. cướp”, mọi người đạp lên cháu và cháu không biết gì nữa…cho đến lúc cháu được đưa vào ở trong trại mồ côi. Cháu mất mẹ từ ngày ấy.”

–  Cháu có thể kể cho bác biết lý do nào cháu đi hát trong hầm xe điện để có tiền giúp trẻ em mồ côi ở Việt-nam?
– Năm đầu tiên cháu vào đại học, cháu làm thiện nguyện cho hội chữ thập đỏ của Pháp, nhân đó theo đoàn công tác đi Viêt-nam. Một buổi sáng ăn điểm tâm tại một nhà hàng Việt-nam, cháu vừa ăn xong, thì một vài em nhỏ, các em sống ngoài đuờng, xông nhào vào dành những thức ăn còn thừa, hình ảnh đó khiến nhóm bạn của cháu lập ra tổ chức “trẻ bụi đời”.

 

Tiền chúng cháu góp lại bằng mọi hình thức khác nhau theo khả năng..làm các công việc phụ cuối tuần cho các cá nhân cần như: giữ trẻ, dạy kèm, phụ bán hàng….riêng cháu,cháu đã chọn công việc hát rong như bác đã biết. Cháu đã chọn bài hát lời Việt vì cháu chỉ nhớ và thuộc bài nầy, vì đây là bài mẹ cháu hay ru cháu ngủ. Cháu hát để nhớ mẹ cháu..cháu nghĩ mẹ cháu còn sống ở một nơi nào đó. Biết đâu một ngày nào đó mẹ cháu đến Paris…và nghe tiếng hát của cháu trong khi tình cờ đi xe điện ngầm…

Kévin ngừng kể. Biển ngoài xa mờ dần trong trong sương. Lòng Phú tràn ngập nỗi buồn cảm thuơng hoàn cảnh của nguời thanh niên trẻ. Phú nghe lòng anh xao xuyến..chợt hoài niệm về những ngày tháng cũ .Từ nhỏ, anh được người cậu nuôi sau khi cha mẹ anh chết trên chuyến xe đò chạy trúng mìn. Khi anh đậu xong tú tài toàn phần thì cậu anh chết vì bạo bịnh. Anh không có bà con thân thích nên ghi danh văo trường Võ-bị quốc-gia Đà-lạt. Ra trường, anh vào binh chủng Thủy-quân lục- chiến. Trong một cuộc hành quân tiếp cứu một đơn vị bạn, đơn vị anh bị phục-kích, anh bị thương phải lẫn trốn trong nhà dân, chờ được tải thương. Anh gặp Thư, chủ nhân của căn nhà.

Cuộc giao tranh hai bên vẫn khốc liệt. Hai ngày sau trực-thăng cứu thương mới hạ cánh đón anh. Để bảo toàn tính mạng cho Thư, anh đề nghị toán cứu thương cho Thư rời khỏi vùng đang giao tranh, vì sợ sau nầy khi lính quốc-gia rút đi, dân cộng sản nằm vùng sẽ hại Thư vì đã che chở cho ngụy quân. Khi vết thương của Phú ổn-định, anh tìm đến trại tạm cư thăm Thư. 

 

Được biết gia-đình gồm cha mẹ và hai người em của Thư đã chết bị đạn pháo kích cách đó vài tháng, anh đưa Thư về thành phố, lấy căn nhà của người cậu bỏ trống trước đây cho Thư tạm trú. Rồi tình cảm nẩy sinh giữa hai người  trong những ngày về phép gặp nhau. Không có những hẹn hò thơ mộng không có những lãng mạng của yêu đương bồng bột.Cả hai cùng cô đơn..cô-đơn không gia-đình. Cô đơn giữa chiến tranh, cả hai muốn san lấp nỗi cô đơn của thân phận mình. Anh và Thư bàn tính chuyện tiến đến hôn nhân… ngày nghỉ phép cưới vợ rồi cũng đến…nhưng chỉ đuợc một nửa. Chiến trường đã gọi anh về trình diện gấp gáp, lấy đi những ngày phép nghỉ phép cưới còn lại…

Thành phố Buôn-mê-Thuộc bị cộng quân chiếm, anh bị bắt làm tù-binh…Miền Nam thay chủ. Năm 1981, sau hơn năm năm bị giam, Phú được trả về từ trại tù Tiên-Phước tỉnh Quảng-nam. Nhà cũ của anh ở khu Bàn cờ Sài-gòn bị giải tỏa. Toàn khu không còn ai quen biết để tìm hỏi  tin-túc vợ. Những ngày lang-thang tìm vợ, tìm nơi cư trú, một người lính cũ cùng đại đội tình cờ anh gặp đang làm nghề vá và sửa xe hai bánh bên lề đường, cho anh tạm trú tại nhà. Hàng ngày anh cùng người đồng đội cũ sửa xe tạm kiếm sống. 

 
Dịp may nữa lại đến với Phú, một bạn học  cũ ngày xưa từ Nha-trang vào Sài-gòn học năm cuối trung học để thi tú tài hai, nhà nghèo đã được cậu anh cho ở miễn phí, tình cờ người bạn dừng lại nhờ vá lốp xe bị xì hơi. Hai bên nhận ra nhau, vui mừng bỡ ngỡ. Người bạn rủ anh về Nha-trang làm cho hợp tác xã đánh cá gia-đình.đã ..tạo dịp cho anh và gia-đình người bạn vượt biển không lâu sau đó.

Khi ghe dần dần xa bờ biển  Việt Nam, Phú bùi ngùi nghĩ đến đến người vợ trẻ vừa mới cưới nhau đã xa nhau. Phú đã  cố công sức tìm kiếm Thư nhưng Thư vẫn biệt tăm.Thư đã chết hay Thư vẫn còn sống một nơi trên quê hương Việt-nam hay một đất nước xa lạ nào đó. Anh thầm xin lỗi Thư trong niềm đau khi lập gia-đình với nguời mới nơi quê người. Phú thẫn thờ kéo tay Kévin đi về hướng khu nhà nghỉ. Kévin còn đang nhớ về mẹ. Anh cũng đang nhớ về người vợ ngày xưa. Mỗi trái tim mang một niềm đau riêng!
***********
Hai năm sau. Sau một thời gian dài điều trị chứng suy tim, nhân mùa nghỉ hè, Phú được các con tổ chức đi nghỉ bên Thái-lan. Dịp nầy Kévin muốn cùng đi chung. Trước khi chết, bà mẹ nuôi nhiều lần đề nghi Kévin khi có điều kiện nên đến Thái-lan thăm trại mồ côi ngày xưa. Bà có để lại một số tiền nhỏ để giúp trại mồ côi nầy,
Khách-sạn nằm ẩn mình sau một làng chài nhỏ có nhà cửa khang trang dược xây lên trong một vịnh nhỏ nằm tận cùng phía Tây-nam vịnh Thái-lan. Một buổi chiều, như thường lệ, sau bửa cơm, Kévin cùng vợ ra ngồi ngoài bãi cát trước khách-sạn, Kévin vừa đánh đàn, vừa hát:
Trời đêm dần tàn em đến sân ga để tiển người trai lính về ngàn.
Cầm chắc đôi tay, ghi vào đời tâm tư ngày nay…..

Kévin say sưa hát, âm thanh tan theo trong ánh sáng cuối ngày đang chìm dần ngoài biển xa. Kévin ru hồn trong cơn buồn ngủ chợt đến…anh như thấy mình đang cùng mẹ lang thang trên những con đường thuở ấu thời…anh mơ thấy mẹ ôm trong lòng để ru anh ngủ khi tay còn cầm miếng bánh mì khô cứng loang lỗ nước tương đen chưa ăn hết…anh nghe có giọng hát từ đâu đó vang lên như hơi thở, chuyền tải hơi ấm ôm phủ lấy cơ thể anh trong con gió biển se lạnh …
Anh choàng tỉnh, tiếng hát đàn bà từ đâu đó vẫn văng vẳng vang lên:
Tàu cũ năm xưa mang người tình biên khu về chưa ?
Trắng đêm em chờ nghe tiếng tàu đêm tìm về
Rồi tiếng hát bỗng chuyển lời:
Chiều một mình qua phố, âm thầm nhớ nhớ tên anh
Gót chân đôi khi đã mềm, gọi buồn cho mình nhớ tên……
Giọng hát thật là quen thuộc. Lời ca thật là quen thuộc. Cả hai đều xoáy vào tâm thức anh.

Theo bản năng của con thú lạc mẹ, lạc bầy, anh chạy về hướng phát ra âm thanh quen thuộc đó. Kévin đi nhanh theo hướng về xóm ghe và tiếng hát càng rõ thêm. Vợ anh chạy theo sau, đầy vẻ ngạc nhiên. Phú đang ở trong hàng hiên khách sạn, anh cũng đã nghe tiêng hát Việt-nam, giong nữ vọng lên từ xóm ghe, anh càng ngạc nhiên vì giữa một khu ghe thuyền trên xứ Thái lại có một giọng ca Viêt. Tình cảm thiêng-liêng dân tộc cùng lòng tò mò khích động, anh cũng đi nhanh về hướng có tiếng hát phát ra.

Ánh sáng của buổi chiều tàn đủ rọi lên trên mũi của một chiếc ghe lớn, một người đàn bà ngồi ôm một đứa nhỏ vừa ru vừa hát, xung quanh có vài đứa nhỏ khác ngồi đứng rải rác trên mui ghe. Người đàn bà chợt ngừng hát vì thấy có người đứng trên bờ nhìn chăm chú vào ghe bà. Bà đi vào phía trong ghe rồi trở ra cùng với một người đàn ông trẻ, đứa bé không còn bồng trên tay. Đèn trên ghe được thắp sáng. Người đàn ông trẻ vẻ do dự một chút rồi hướng về phìa Phú và vợ chồng Kévin nói gì đó bằng tiếng Thái.. Cả ba lắc đầu không hiểu. Người đàn ông trẻ hỏi rất chậm bàng tiếng Anh: – Mấy người muốn tìm gì trên ghe chúng tôi ? Phú trả lời: – Chúng tôi nghe trên ghe của ông có người hát tiếng Việt rất hay. Chúng tôi là du-khách Viêt-nam, đang ở khách sạn gần đây, tò mò muốn biết sao người Thái-lan mà hát tiếng Việt hay quá chừng, chúng tôi muốn khen thôi”. Người đàn ông trẻ và người đàn bà nói gì với nhau, rồi người đàn ông nói vọng xuống:”
–  Mẹ tôi là người Viêt-nam”.
Người đàn bà tiếp lời bằng tiếng Việt :
– Vậy xin mời ba người lên ghe uống nước”.
Người đàn ông trẻ đẩy tấm ván từ ghe lên bờ làm cầu. Người đàn bà mặc y phục Thái cúi chào Phú và vợ chồng Kévin. Phú chào người đàn bà rồi tự giới thiệu:

– Tôi là Phú đến từ nước Pháp. Đây là Kévin đồng hương, lớn lên tại Pháp nên quên tiếng Việt,còn đây là vợ của Kévin..Vừa nghe dứt lời giới thiệu, người đàn bà lùi lại một bước, chăm chăm nhìn Phú…cái tên “Phú”  đánh thúc vùng tăm tối trong đầu bà bừng sáng…Phú của bà đây sao? Người trung-úy Thủy-quân lục chiến oai phong của bà ngày xưa, nay thân thể héo gầy như vậy sao? Nụ cười rạng rỡ thu hút người nhìn, nay nhạt nhẽo không hồn như vậy sao? Phú của bà…
– Trời ! anh Phú..anh còn sống ..trời ơi, anh còn sống, anh không nhận ra em sao.?
–  Em là Thư, vợ của anh. Giọng của Thư thổn thức, nghẹn ngào:
– Trời cao cay nghiệt quá.. em là Thư, vợ của anh.


Phú đứng sững-sờ, người đàn bà trước mặt anh toàn thân đang run rẫy, tóc bạc trắng là Thư, vợ của anh? Cái giọng nói miền Trung quê mùa chất phát khơi nhớ lại quá khứ, đúng là Thư,vợ của anh. Cả Phú và người đàn bà cùng tiến đến cùng nắm tay nhau, hai đầu tựa vào vai nhau trong một vòng tay yêu thuơng như có chút vụng về, ngượng ngập. 
 
Tiếng thổn thức vọng ra trong khoang ghe nhỏ hẹp. Rồi sự yên tĩnh trở lại. Kévin nhích lại gần Phú, Thư nhìn Kévin qua vai Phú, một mãng tóc lộ màu trắng bằng lóng tay út thoáng hiện trên đỉnh đầu Kévin. Đây là dấu tích duy nhất của đứa con trai của Thư hơn ba mươi năm trước.Thư đẩy nhẹ Phú qua một bên, cố nén xúc động tràn ngập trong tim, bước nhanh về hướng Kévin gọi lớn:
– Cu Bi.. Cu Bi phải không?”
Hai tiếng “Cu Bi” từ bao năm đã biến đi không còn trong đầu Kévin bất chợt nay được gọi lên, được nhắc tới như làn hơi ấm thổi đến phủ cơ thể. “Cu Bi” tiếng của mẹ gọi ngày xưa. Kévin rúng động, nhìn sững nguời đàn bà không tin nỗi tai mình, miệng mở ra như đủ cho tiếng “Dạ” thầm lặng xác nhận.Thư lao mình tới ôm Kévin như sợ Kévin tan biến vào hư không. Kévin sững sờ dang hai tay ôm lấy mẹ: –  Mẹ”.. – Con của tôi”…Những tiếng nấc xé lòng thốt ra. Thư nói với Phú nghẹn ngào:  – Anh Phú, đây là con của chúng ta.

Phú ôm Kévin trong niềm vui chen lẫn đớn đau. Anh đã có một đứa con…qua bao năm sống gần nhau, nay mới biết là con của mình. Cảm xúc dâng tràn…Phú cảm thấy trái tim đau nhói…toàn thân anh khuỵu xuống sàn ghe.
********
Ba hôm sau, sức khỏe Phú ổn định, bác sĩ Thái cho xuất viện.Thư có đến thăm anh vài lần ở bịnh viện. Buổi chiều sau ngày xuất viện, Kévin đưa anh ra bến ghe tìm Thư, chiếc ghe không còn neo tại bến. Hai người đang tính hỏi thăm những người có ghe đang đậu ở bến để hỏi thăm chiếc ghe của Thư thì một người trong tiệm tạp hóa bước ra trao cho Phú một lá thư, nói vài câu bằng tiếng Thái rôi quay lưng đi. Phư cùng Kévin ngồi xuống bờ thềm trước quán, anh thẩn thờ mở thư ra đọc:

“Anh Phú của em và con trai Cu BI của mẹ,
Buổi sáng hôm thăm anh trước khi anh được cho xuất viện, em có gặp bác-sĩ điều trị, Ông cho biết bịnh tim của anh tái phát vì bị xúc động mạnh, anh cần tỉnh-dưỡng mới trở lại bình-thường.
Em rất mừng khi được biết tin nầy, em quyết định và có thư nầy cho anh và con trai:

Anh Phú,
” Sau ngày anh cưới em một tuần anh ra mặt trận, rồi từ đó em không còn tin túc của anh. Em không biết anh chết hay sống. Rồi đất nước thay đổi chủ mới, em càng vô vọng tin tức về anh. Em đã có với anh một đứa con, tên của nó là Cu Bi. Với bao nổi khổ đau của cuộc sống bị đổi chủ, em  đã không làm nỗi cho con của chúng ta một tờ khai sanh…đồng thời em cũng mong chờ thời gian sẽ gặp lại anh và chúng ta sẽ tìm đặt cho con một cái tên mà cả hai ta cùng muốn .  

 
Cu Bi chỉ là cái tên gọi tạm thời để khỏi lẫn lộn với những trẻ khác trong một xã hội thu hẹp. Không  tìm được anh,và để tránh cho con của chúng ta bị lăng mạ là con của ngụy quân, bị sự phân biệt đối xử, tìm cuộc sống ngày mai cho con của chúng ta nên em đã đưa con vượt biển. Định mệnh đã đưa đẩy con tàu vào tay cướp biển Thái-Lan. Con tàu bị cướp tràn ngập…em bị cướp bắt.

” Em bị xa con.Toán cướp đưa em đến một đảo nhỏ không người ở.Vài ngày sau,toán cướp rời đảo, bọn chúng mang theo những người đàn bà khác, em bị để lại đảo.Tên cướp đã hãm hại đời em đã để lại lương thục cho em. Có lẽ nó muốn giừ em ở đây, rồi có ngày quay lại. Ngày sau một cơn bão, một tàu buôn bán nhỏ ven bỡ của Thái-lan tạt vào đảo trú ẩn. Người chủ con tàu đã cứu em. Ông là cựu binh-sĩ Thái đã từng tham chiến ở Việtnam. Ông nói tiếng Anh lõm bõm cũng như em, ở mức độ chỉ có thể hiểu nhau đơn giản. òng kể ,khi quân đội rời khỏi Việt-nam để về nước,ông xin giải ngũ, lập gia-đình. 
 
Theo truyền thống gia-đình, ông là thành viên trên con tàu buôn bán ven bờ vùng vịnh Thái-lan. Vợ ông qua đời vì tai nạn lưu thông chỉ sau nửa năm chung sống với ông. Ông hứa ông sẽ đưa em về Bangkok giao cho Phủ cao-ủy Tỵ-nạn. Sau gần hai tháng ngược xuội ven biển, khi con thuyền trên đường về Bangkok thì ông ngỏ lời thương em và đề nghị em chấp thuận làm vợ ông.

” Cuộc sống của em đã quá tận cùng của sự nghiệt ngã. Anh ở đâu và con ở đâu? Chiếc phao nầy em không nắm lấy thì tương lai có chiếc phao nào khác sẽ đến không? Cuộc đời em có còn gì nữa đâu, đã mất hết rồi! Thôi em nhận lời để buông theo số phận.Em xin nhận lỗi cùng anh. Em đã có với người chồng Thái,  một con trai và có bốn đứa cháu như anh đã gặp tại ghe. Người chồng Thái của em đã ra đi vì bịnh đã hơn một năm.

” Được biết anh đã có vợ, có con, có sự nghiệp.. nay lại tìm được đứa con của hai chúng ta,  thật không có gì hạnh-phúc cho bằng cho anh và cho em trong hiện tai. Em cảm ơn trời đất đã thưởng đền cho những khổ đau của chúng ta đã gánh chịu bao lâu nay. Cuộc sống thương hồ của em không thể đậu bến mãi. Mong anh hãy an vui trong hạnh-phúc đang có và mãi mãi.

Cu Bi của mẹ,
” Từ cái đêm mẹ bị cướp bắt đi, mẹ bị mất con. Đời trôi giạt đau thương của mẹ, biết tìm con ở đâu? Đau đớn trong lòng mẹ kể sao cho xiết? Hai tiếng “Cu Bi”” và hình ảnh ngây thơ của con là dòng suối mát trong lòng mẹ mỗi lúc nhớ con trong cùng khổ. Nói làm sao cho hết yêu thương của mẹ khi nghĩ về con ! Mẹ xin lỗi con vì đã không bao-vệ được con lúc con lâm hoạn nạn. Con hãy tha thứ cho mẹ những tháng năm mẹ không hoàn thành trách nhiêm ở cùng bên con khi con khôn lớn, trưởng thành.

” Trời đã thương nỗi đau của mẹ nên ban cho mẹ đặc ân gặp lại con ngày nay. Con khôn lớn, hạnh phúc bên vợ và nay con lại được thêm hạnh-phúc gặp lai ba con…nhớ đền ngày nào con hay hỏi mẹ “ba con đâu?” thì bây giờ ba con đang ở bên cạnh con rồi đó.! Con hãy săn sóc cho ba con thay mẹ. Mẹ cám ơn con nhiều lắm. Con bảo trọng sức khỏe. “Trưa hôm nay thuyền buôn của mẹ sẽ rời bến theo lộ trình đã định. Nếu bão táp phong ba của biển không làm đắm con thuyền buôn của mẹ thì những tháng năm sau nầy, biết đâu mẹ con ta cũng có ngày hội ngộ?”
**********
Trước ngày rời Thái-lan, Phú và con trai đến gặp người chủ quán tạp hoa trên bến tàu gởi lá thơ nhờ chuyển lại cho Thư nếu một ngày nào đó thuyền buôn của Thư ghé bến. Phú viết thay lời con trai : “Đây là nhà con ở tại Pháp. Hy vọng một ngày không xa mẹ sẽ đến với con. Con trông chờ mẹ. Con Cu Bi của mẹ”.
Thời gian sau nầy, khách xử dụng xe điện ngầm trong thành phố Paris được nghe người hát rong hát bài ca lời Việt, âm điệu vẫn như cũ nhưng lời có thay đổi:
Trời đêm dần tàn, con đến sân ga để đón mẹ yêu quý trở về.
Tàu cũ năm nao chưa mang về trả cho tôi mẹ xưa
Tháng năm con chờ đây, mong tàu đem người về
………………
Tháng năm con chờ đây, mong tàu đem mẹ về.

Nguyễn-đại-Thuật
02/12/2018

Hits: 86

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Mưa

Giọt nào đọng lại trên cây
Giọt nào rơi xuống bàn tay hao gầy
Mưa tuôn mùa cũ qua đây
Nhờ em hứng trọn vốc đầy nhớ thương
Mưa trôi bụi bám con đường
Mưa xuyên nốt nhạc tìm vương tóc người
Thấm buồn áo lụa chơi vơi
Xin em vài giọt để đời lắng nghe
Tiếng rơi, rơi ở ngoài kia
Tưởng trong lòng đã đầm đìa cơn mưa

Thanh Phạm

Hits: 70

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

CHÚNG TA ĐANG TÌM KIẾM CÁI GÌ? Krishnamrti | Phạm Công Thiện dịch

 

Hầu hết chúng ta đang đi tìm gì? Mỗi người trong chúng ta muốn được gì? Nhất là giữa thời thế tao loạn này, mọi người đều muốn tìm một thứ an bình nào đó, một thứ hạnh phúc nào đó, nơi trú ẩn nào đó, vì thế chúng ta cần phải tìm cho ra chúng ta muốn tìm kiếm gì trên cuộc đờinày, điều ấy dĩ nhiên là vô cùng quan trọng, phải thế không? Chúng ta cần phải biết đang đi tìm cái gì, chúng ta đang cố gắng khám phá ra điều gì.

Có lẽ hầu hết tất cả chúng ta đều đang đi tìm kiếm thứ hạnh phúc nào đó, một thứ thanh bình nào đó; trong một thế giới hỗn loạnxáo trộn, đầy chiến tranh phân ly, phân tán, tất cả chúng ta đều cần có một nơi trú ẩn để mà có thể tìm được một chút thanh bình nào đó. Tôi nghĩ rằng đó là điều tất cả chúng ta, hầu hết tất cả chúng ta đều muốn đạt tới. Vì thế chúng ta chạy tìm đuổi theo một người lãnh tụ này đến một người lãnh tụ khác, từ một tổ chức tôn giáo này đến một tổ chức tôn giáokhác, từ một bậc thầy này đến một bậc thầy khác.

Vậy thì có phải chúng ta đang tìm một thứ hạnh phúc hay là phải chăng chúng ta đang đi tìm một sự thỏa mãn nào đó để mong được hạnh phúc? Hạnh phúc và sự thỏa mãn hoàn toàn khác nhau. Các bạn có thể tìm hạnh phúc không? Có lẽ các bạn chỉ thấy thỏa mãnnhưng nhất định các bạn không bao giờ tìm ra hạnh phúcHạnh phúc chỉ là phụ thôi; nó xuất phát từ một cái gì khác.

Vì thế, trước khi chúng ta để cả tâm trí vào một sự việc cần nhiều trang trọng, chú ý, tư tưởng, chăm sóc, phải chăng chúng ta cũng nên tìm hiểu chúng ta đang muốn tìm kiếmgì; có phải chúng ta đang tìm kiếm hạnh phúc hay chỉ là sự thỏa mãn. Tôi cho rằng hầu hết tất cả chúng ta đều tìm kiếm sự thỏa mãnChúng ta muốn được thỏa mãnchúng tamuốn tìm được một cảm giác sung mãn tràn trề theo sau cuối con đường tìm kiếm của chúng ta.

Thực ra nếu chúng ta đi tìm thanh bình chúng ta có thể tìm thấy nó một cách quá dễ dàng, người ta có thể tự dâng hiến một cách mù quáng cho một lý tưởng nào đó và trú mình ẩn náu trong đó. Hiển nhiên nếu làm như vậy thì không giải quyết được vấn đề nào hết. Chỉ cô lập hóa mình trong một ý tưởng ràng buộc thì không thể nào giải thoát khỏi sự đụng độ va chạmPhải chăng chúng ta cần tìm cho được mỗi người trong chúng ta đang muốn tìm kiếm gì ở bên trong tâm hồn cũng như ở thế giới bên ngoài.

Nếu chúng ta minh bạch khúc triết trong vấn đề này thì chúng ta không cần phải đi đâu cả, không cần phải đi tìm bất cứ một vị thầy nào, không cần phải đi vào bất cứ một nhà thờ nào và không cần phải tham dự bất cứ một tổ chức nào. Do đó, nỗi khó khăn nhất của ta hiện nay là làm thế nào minh bạch khúc triết trong tâm trí đối với ý định của mình, phải thế không? Chúng ta có thể nào minh bạch được không?

Phải chăng sự minh bạch ấy chỉ xuất hiện qua sự tìm kiếm, và sự tìm hiểu những gì người khác nói, từ một bậc đại sư cao siêu nhất cho đến một người giảng đạo thông thường nhất ở một giáo đường nào đó quanh đầu phố? Các bạn có cần đi đến một người nào đó để mà khám phá ra sự thực không? Phải chăng đó là điều chúng ta đang làm?

Chúng ta đọc quá nhiều sách, chúng ta tham dự quá nhiều cuộc hội thảo để tranh luậnbàn tánchúng ta gia nhập nhiều tổ chức khác nhau để mà tìm một phương thuốc trị liệucho nỗi xung đột tâm tư, cho sự khốn cùng trong đời sống của chúng ta. Hoặc nếu chúng ta không làm thế thì chúng ta nghĩ rằng chúng ta đã tìm thấy sự thực, chúng ta nói rằng một tổ chức đặc biệt nào đó, một bậc tôn sư đặc biệt nào đó, một quyển sách đặc biệtnào đó đã thỏa mãn chúng tachúng ta đã tìm thấy tất cả sự thực mà chúng ta muốn đạt trong những thứ ấy; và chúng ta duy trì ứ đọng đóng nhốt tự mình trói buộc mình trong những điều mình tưởng như là thấy được sự thật.

Trải qua những sự hỗn loạn, có phải chăng chúng ta đi tìm một cái gì thường còn, một cái gì cố định tồn tạitrường tồn, một cái gì mà chúng ta gọi là thực tại, như Thượng đếchân lý, hay muốn gọi gì thì gọi vì danh từ không quan trọng: hiển nhiênchữ nghĩakhông phải là sự vật. Chúng ta đừng để bị lôi cuốn trói buộc trong những lời, những tiếng, chúng ta hãy để điều đó cho những giảng sư nhà nghề. Có phải các bạn tìm kiếm một cái gì trường tồn trong tâm hồn một cái gì mà chúng ta có thể bám vào, đeo vào, một cái mang đến cho chúng ta sự bảo đảm, một miền hy vọng nào đó, một sự hăng say tin tưởng nào đó, một sự cố định trường tồn nào đó.

Bởi vì chúng ta cảm thấy bất an vô định trong tâm hồnChúng ta không tự hiểu chúng taChúng ta biết rất nhiều về những sự kiện, về nội dung của sách vở; nhưng chúng takhông tự biết mìnhchúng ta chẳng có một kinh nghiệm trực tiếp nào cả. Điều mà chúng ta gọi là trường tồn là cái gì? Điều ấy là điều gì mà chúng ta đang tìm kiếm, điều mà chúng ta mong rằng sẽ mang đến cho chúng ta sự cố định trường cửu? Có phải chúng tađang đi tìm hạnh phúc trường cửu, sự thỏa mãn trường tồnsự cố định trường cửu?

Chúng ta muốn một điều gì đó được trường tồn mãi mãi để vẫn làm thỏa mãn được chúng ta. Nếu chúng ta cởi bỏ những tiếng, những lời để nhìn thẳng vào điều ấy, đó chính là lòng thỏa mãn lâu dài là điều chúng ta muốn thể hiệnChúng ta muốn cơn khoái lạc được trường tồn, sự thỏa mãn được lâu dài và chúng ta gọi đó là chân lýThượng đếhay là một danh hiệu nào khác.

Đúng thế, chúng ta muốn có được khoái lạc. Có lẽ điều ấy đã được trình bày một cách thô bạo như vậy, nhưng đó là lòng khát khao thực sự, chúng ta muốn có kiến thức nào mang đến cho chúng ta sự khoái cảm, kinh nghiệm nào mang đến cho chúng ta sự khoái lạc, sự thỏa mãn mà không phôi pha tàn phai với thời gian.

Chúng ta đã trải qua tất cả những sự thỏa mãn đa dạng và những sự thỏa mãn ấy, tất cả những sự thỏa mãn ấy đã tàn phai tiêu ma thế thì bây giờ chúng ta mong tìm được sự thỏa mãn trường tồn vĩnh cửu trong thực tại nào đó, chẳng hạn như trong Thượng đếDĩ nhiên đó là chính những gì mà tất cả chúng ta thường tìm kiếm: những kẻ khôn ngoan và những người khờ khệch, lý thuyết gia và con người thực tế, tất cả đều đang tìm kiếm đeo đuổi một cái gì đó. Có sự thỏa mãn nào vĩnh cửu hay không? Có sự thể nào mà vẫn trường tồn mãi mãi?

Thế mà nếu các bạn tìm kiếm một sự thỏa mãn trường tồn và gọi đó là Thượng đế hay Chân lý hay bất cứ một danh từ nào khác, (danh từ không quan trọng) chắc các bạn phải hiểu đó là điều các bạn muốn tìm, các bạn có nên hiểu thế không? Khi các bạn nói rằng ‘tôi đang đi tìm một sự hạnh phúc vĩnh cửu’ – Thượng đế hoặc Chân lý hay là bất cứ một danh từ nào khác, các bạn có nên tìm hiểu cái gì đang tìm kiếm, nghĩa là tìm hiểu chính kẻ tìm kiếm, người tìm kiếm?

Bởi vì có thể trên đời không có cái mà người ta gọi là sự an ninh vĩnh cửu sự hạnh phúctrường tồnChân lý có thể là một cái gì khác hẳn, hoàn toàn khác hẳn; và tôi nghĩ rằng chân lý thì hoàn toàn khác hẳn những gì các bạn có thể thấy, có thể ý niệm hội ý, có thể đặt hình tượng phương trình. Vì thế trước khi chúng ta tìm kiếm thực thể trường cửuthực ra có cần thiếtvô cùng cần thiết, là phải tìm hiểu chính người tìm kiếm? Người tìm kiếm có khác sự việc mà hắn tìm kiếm?

Khi các bạn nói ‘tôi đang tìm kiếm hạnh phúc’ thì người tìm kiếm có khác đối tượng của sự tìm kiếm ấy không? Tư tưởng gia có khác tư tưởng không? Phải chăng cả hai đều là một hiện tượng liên kết duy nhất, chứ không phải là những tiến trình cách biệt? Do đó, phải chăng tìm hiểu người tìm kiếm là một điều chính yếu trước khi chúng ta tìm hiểuđiều mà hắn đang kiếm tìm.

Vì thế đã đến lúc chúng ta phải tự hỏi một cách nghiêm trọng và sâu sắc rằng sự thanh bìnhhạnh phúcthực tạiThượng đế hoặc một danh từ nào khác, có thể được mang đếncho chúng ta qua trung gian của một người nào khác hay không? Có thể nào sự tìm kiếmliên tục này, sự khát khao hoài vọng này đưa đến cho chúng ta hưởng thụ cảm giác về thực tại tuyệt vờitrạng thái sáng tạo của tâm hồn, mà những cảm trạng ấy thì chỉ có thể hiện đến khi chúng ta thực sự tự hiểu mình? Phải chăng sự tự hiểu biết chính bản thânmình chỉ thể hiện qua sự tìm kiếm, bằng cách đi theo gót một người nào khác, bằng cách gia nhập vào một đoàn thể nào đó, bằng cách đọc sách, vân vân?

Tựu chung, phải chăng đó là vấn đề chính yếu: khi mà tôi chưa hiểu được mình, tôi không thể có được căn bản để suy tư, và tất cả sự tìm kiếm của tôi chỉ là vô vọng hão huyền. Tôi có thể chạy trốn trong những ảo giác, tôi có thể chạy trốn sự khó khăn dày xéo, cơn quằn quại nội tâm; tôi có thể phụng thờ kẻ khác, tôi có thể tự cứu tôi qua trung gian một người khác. Nhưng khi mà tôi vẫn chưa hiểu được tôi, khi mà tôi không ý thứcđược tiến trình trọn vẹn của chính nội tâm tôi thì không thể nào tôi có được nền tảng để suy tư, để thương yêu lưu luyến, để hành động xử thế.

Nhưng đây là điều ít người muốn đạt tới: tự hiểu mình. Nhất định đó là nền tảng duy nhấtmà chúng ta phải xây dựng. Nhưng trước khi xây dựng sáng tạo, trước khi chuyển hóa, trước khi chúng ta kết án hay phá hủychúng ta phải biết rằng chúng ta là gì. Đi tìm kiếmchân lý, thay đổi những đạo sưthực hành Yoga, điều hòa hơi thởchấp trì những nghi lễtôn giáo, theo chân những bậc đại sư và tất cả những thứ đại loại như vậy đều hoàn toànvô ích, phải thế không?

Những sự việc ấy không có ý nghĩa gì cả, ngay đối với cả những bậc thánh nhân khi họ nói với chúng ta rằng ‘hãy tự hiểu mình’ thì việc ấy cũng vô nghĩa, bởi vì chúng ta là gì thì thế giới là như thế ấy. Nếu chúng ta bần tiện, nhỏ nhoi, ghen tuông, phù phiếm tham lam, nếu đó là những điều chúng ta tạo ra chung quanh ta thì đó cũng là điều tạo ra xã hội mà chúng ta đang sống.

Theo tôi thì trước khi chúng ta lên đường để tìm hiểu Thực tại, để tìm thấy Thượng đế, trước khi chúng ta hành động, trước khi chúng ta có thể giao tiếp xử thế với nhau (nghĩa là sự giao tế trong xã hội) thì trước hết chúng ta phải cần hiểu chúng ta. Tôi cho rằng một người đứng đắn là một người hoàn toàn bận tâm về việc ấy trước hết, chứ không phải tìm cách đi tới một mục đích nhất định, bởi vì nếu các bạn và tôi không tự hiểu mình thì làm thế nào hành động của chúng ta có thể mang đến sự đổi thay cho xã hội, cho sự giao tế của xã hội hay cho bất cứ sự việc nào mà chúng ta thể hiện?

Khi tôi nói tự tìm hiểu mình thì không có nghĩa là chống đối, ly cách trong tương quan giữa mình với người khác. Điều ấy hiển nhiên không có nghĩa là đặt trọng tâm vào cá thể, vào bản thân để đối nghịch lại quần chúng đám đông, để đối nghịch lại với kẻ khác.

Vậy nếu mà không tự biết mình, nếu mà không hiểu đường lối tư tưởng của mình, không hiểu lý do tại sao mình nghĩ sự việc như vậy, không hiểu bối cảnh qui định của mình, không hiểu lý do tại sao mình đã có những tín ngưỡng đặc biệt nào đó về nghệ thuật và tôn giáo, về tổ quốc quê hương về kẻ láng giềng và về chính bản thân mình thì làm thế nào chúng ta có thể biết suy tư thật sự về bất cứ sự vật nào?

Nếu không biết bối cảnh của mình, không biết bản chất thực sự của tư tưởng mình, và duyên do của tư tưởng ấy thì nhất định sự tìm kiếm của các bạn chỉ là hoàn toàn phù phiếm vô ích, hành động của các bạn phải chăng không có ý nghĩa gì nữa? Dù là các bạn là người Mỹ hay người Ấn độ hay dù các bạn thuộc tôn giáo nào nữa thì việc ấy cũng vô nghĩa. Trước khi chúng ta có thể tìm hiểu cứu cánh mục đích của đời sống là gì, ý nghĩacủa nó là gì như chiến tranh, những sự xung đột quốc gia, những sự va chạm, và tất cả những sự hỗn loạn ấy chúng ta phải bắt đầu tìm hiểu chúng ta, bắt đầu nơi bản thânmình phải thế không?

Việc ấy có vẻ như đơn giản nhưng nó thật vô cùng khó khăn. Muốn theo dõi mình, muốn thấy sự vận hành của tư tưởng mình, mình phải tỉnh thức một cách phi thường để mà khi mình bắt đầu ý thức mãnh liệt về những mê cung chằng chịt của chính tư tưởng mình và những đáp ứng và những cảm giác, mình bắt đầu đạt tới một ý thức bén nhạy hơn chẳng những ý thức về mình mà còn ý thức về kẻ khác mà mình đang giao tiếp. Tìm hiểu chính bản thân mình là tìm hiểu mình trong hành động, đó chính là tương giao.

Nỗi khó khăn của chúng ta là chúng ta quá nóng nảy, thiếu kiên nhẫnchúng ta muốn đi tới một cách hấp tấp, chúng ta muốn đạt tới cứu cánh, vì thế chúng ta không để chúng tacó thời gian hay có dịp để học tập, để nghiên cứu. Thay vì thế chúng ta lao mình vào những sinh hoạt khác nhau như việc mưu sinh, việc nuôi nấng con cái, hay là đảm nhiệm những trọng trách của nhiều tổ chức; chúng ta lao thân vào những đường lối khác nhau bận bịu lo lắng và không còn thì giờ để suy tưởng bản thân, để quan sát, để khảo sát. Vì thế, thực ra trách nhiệm về phản ứng chúng ta là tùy vào chúng ta, chứ không phải vào người khác.

Khắp thế giới sự tìm kiếm đạo sư và hệ thống đạo lý của họ, việc đọc những quyển sách mới xuất bản về vấn đề này hoặc vấn đề khác vân vân, đối với tôi là hoàn toàn rỗng, hoàn toàn phù phiếm, vì các bạn có thể lang thang khắp địa cầu để tìm kiếm, nhưng rồi các bạn cũng phải trở về lại với chính mình. Vì hầu hết chúng ta đều hoàn toàn vô ý thứcvề chính bản thân mình, do đó thực là vô cùng khó khăn khi chúng ta bắt đầu tìm thấy, nhìn thấy rõ rệt biến trình của tư tưởng chúng tacảm giác và hành động của chúng ta.

Khi các bạn càng tự hiểu mình thì sự minh bạch khúc triết càng dễ xuất hiện. Sự tự tìm hiểu mình không có cứu cánh, các bạn không phải đi tới một sự tựu thành nào cả, các bạn không phải đi tới một sự kết luận nào cả. Chân lý là một dòng sông bất tận. Khi mình nhìn theo dòng sông, khi mình đi sâu vào sự thực thì mình cảm thấy thanh bình trong tâm hồn. Chỉ khi nào tâm trí được trầm lặng nhờ sự tự giác, chứ không phải nhờ vào một kỷ luật bản ngã ràng buộc, chỉ có lúc ấy, chỉ trong sự trầm tĩnh ấy, trong sự im lặng ấy thì Thực tại mới có thể thực hiện được.

Chỉ có lúc ấy mới có thể có sự ngây ngất xuất thần, chỉ có lúc ấy mới có thể có được hành động sáng tạo trác truyệt. Đối với tôi, nếu không có sự hiểu biết ấy, không có kinh nghiệm ấy mà lại đọc sách, đi dự những buổi nói chuyện, đi làm tuyên truyền thì thật là ấu trĩ: đó chỉ là một hành động vô nghĩatrái lại nếu mình có thể hiểu mình thì mình mới có thể khơi dậy niềm hạnh phúc sáng tạo trác tuyệt, khơi dậy sự thể hiện vượt ngoài tâm trí, chỉ lúc ấy có lẽ mới thể hiện được sự chuyển hóa hoàn toàn trong mối giao tiếp giữa chúng ta và thế giới chúng ta đang sống.

 

J. KRISHNAMURTI

Phạm Công Thiện dịch

Hits: 87

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

: Những bức ảnh cho thấy smartphone đang thống trị mọi ngõ ngách trong cuộc sống

Những bức ảnh cho thấy smartphone đang thống trị mọi ngõ ngách trong cuộc sốngMột người đàn ông 70 tuổi sử dụng tới 15 chiếc smartphone để chơi trò chơi Pokemon Go tại thành phố Đài Bắc, Đài Loan ngày 12/11/2018. Chính vì kiểu chơi game độc đáo này mà ông có biệt danh là “Ông già Pokemon”. (Ảnh: Tyrone Siu / Reuters)

Kể từ khi iPhone ra đời năm 2007, điện thoại thông minh (smartphone) mới chính thức bước vào kỉ nguyên huy hoàng.

Theo báo cáo của một số công ty nghiên cứu thị trường, trong đó có Forrester Research, tổng số người dùng smartphone trên toàn thế giới sẽ đạt 3 tỷ trong năm nay, tương đương 40% dân số thế giới. Đối với nhiều người, smartphone đã trở thành công cụ không thể thiếu để liên lạc, giải trí, kinh doanh, mua sắm, tham gia mạng xã hội, cập nhật tin tức, học tập và còn nhiều thứ khác nữa.

Với sự tăng trưởng chóng mặt trong vòng 10 năm trở lại đây, chúng ta khó mà bắt gặp một cảnh tượng mà không có ít nhất một người sử dụng smartphone.Những bức ảnh dưới đây được chụp bởi nhiều nhiếp ảnh gia trên khắp thế giới. Chúng cho thấy smartphone đã len lỏi vào mọi ngõ ngách của cuộc sống như thế nào.

day la bang chung cho thay smartphone co mat o khap moi ngo ngach trong cuoc songKhán giả sử dụng smartphone để chụp ảnh tại show diễn thời trang L’Oreal trên đại lộ Champs Elysees trong tuần lễ thời trang Paris, Pháp vào ngày 01/10/2017. (Ảnh: Charles Platiau / Reuters)day la bang chung cho thay smartphone co mat o khap moi ngo ngach trong cuoc songMột người phụ nữ Palestine rút điện thoại chụp ảnh một thành viên của lực lượng an ninh Israel khi người đàn ông này chụp hình của cô trên một con phố ở Jerusalem vào ngày 16/12/2017. (Ảnh: Ahmad Gharabli / AFP / Getty)day la bang chung cho thay smartphone co mat o khap moi ngo ngach trong cuoc songHai cô gái trẻ nằm trong một bể bóng nhựa để chụp ảnh selfie tại bảo tàng Supercandy! Pop-Up vào 05/10/2018 ở Cologne, Đức (Ảnh: Michael Gottschalk / Getty)day la bang chung cho thay smartphone co mat o khap moi ngo ngach trong cuoc songInna Salminen, 27 tuổi, một kỹ sư lâm nghiệp đang sử dụng smartphone khi cô kiểm tra một khu rừng ở Nurmijarvi, Phần Lan, ngày 5 tháng 11 năm 2018. Inna sử dụng ứng dụng trên smartphone của cô để kiểm soát rừng, lên kế hoạch bảo tồn và đảm bảo các khu rừng không bị khai thác trái phép. (Ảnh: Alessandro Rampazzo / AFP / Getty)day la bang chung cho thay smartphone co mat o khap moi ngo ngach trong cuoc songMột streamer 21 tuổi người Trung Quốc đang sử dụng smartphone để tác nghiệp tại studio của cô ở Bắc Kinh, ngày 07/11/2018. (Ảnh: Nicolas Asfouri / AFP / Getty)day la bang chung cho thay smartphone co mat o khap moi ngo ngach trong cuoc songTrăng tròn mọc lên phía sau người đàn ông đang chụp ảnh selfie cùng xe đạp. Bức ảnh này được chụp tại Van, Thổ Nhĩ Kỳ vào ngày 27/07/2018. (Ảnh: Ozkan Bilgin / Anadolu Agency / Getty)day la bang chung cho thay smartphone co mat o khap moi ngo ngach trong cuoc songĐây là Reda Zerrouki, người Al-giê-ri 36 tuổi. Anh là một trong số hàng ngàn người di cư băng qua Balkan với hy vọng đến châu Âu. Anh chia sẻ, điện thoại thông minh không chỉ là một cách để nhắn tin cho gia đình và bạn bè mà còn là một công cụ quan trọng để vạch ra lộ trình của mình qua vùng Balkan và tránh cảnh sát tuần tra biên giới khi các nhóm người di cư đi qua Bosnia và tìm cách vượt qua bất hợp pháp vào Croatia. (Ảnh: Elvis Barukcic / AFP / Getty)day la bang chung cho thay smartphone co mat o khap moi ngo ngach trong cuoc songNhững người hâm mộ dùng smartphone để ghi lại hình ảnh biểu diễn trực tiếp của nhóm nhạc nam Modern Brothers tại tỉnh Liêu Ninh,Trung Quốc ngày 30/06/2018. Modern Brothers có hơn 20 triệu người theo dõi trên ứng dụng TikTok, một nền tảng mạng xã hội video ngắn có lồng nhạc rất phổ biến tại Trung Quốc. (Ảnh: VCG via Getty)day la bang chung cho thay smartphone co mat o khap moi ngo ngach trong cuoc songNhà lai tạo gia súc Pier Domenico Dotta sử dụng điện thoại thông minh của mình để kiểm tra điều kiện sức khỏe của từng con bò trong trang trại của ông ở Villafalletto, Italy, ngày 25/10/2018. Mỗi con bò được đeo một chiếc đai đặc biệt ở cổ với một con chip được sử dụng để kết nối từng con vật với phần mềm ứng dụng. (Ảnh: Marco Bertorello / AFP / Getty)day la bang chung cho thay smartphone co mat o khap moi ngo ngach trong cuoc songNhững người ủng hộ Selahattin Demirtaş, ứng cử viên tổng thống bị bỏ tù của đảng Dân chủ Nhân dân (HDP), cầm cờ HDP và điện thoại di động của họ trong không khí trong một chiến dịch bầu cử ở Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ, vào ngày 17/06/2018. (Ảnh: Yasin Akgul / AFP / Getty)day la bang chung cho thay smartphone co mat o khap moi ngo ngach trong cuoc songMột phụ nữ đang sử dụng smartphone trong một quán bar tại thủ phủ thành phố Thimphu, Bhutan ngày 11/12/2017. (Ảnh: Cathal McNaughton / Reuters)day la bang chung cho thay smartphone co mat o khap moi ngo ngach trong cuoc songImelda Mumbi năm nay 13 tuổi. Em đang học trực tuyến thông qua một ứng dụng trên smartphone trong khu vực sinh hoạt chung của khu chung cư bên cạnh nhà ở ngoại ô Riruta Nairobi, Kenya, ngày 08/11/2018. Mumbi đã học bốn năm trên nền tảng này. Đây là phần mềm được phát triển bởi Eneza Education nhằm cung cấp các cơ hội giáo dục, đặc biệt là cho các khu vực nông thôn ở châu Phi, thông qua SMS hoặc Internet. Học phí mỗi tuần là 10 shillings Kenya (khoảng 2.300 đồng). Hiện nền tảng này có khoảng năm triệu học viên đăng ký ở Kenya, Ghana và Bờ Biển Ngà. (Ảnh: Tony Karumba / AFP / Getty)day la bang chung cho thay smartphone co mat o khap moi ngo ngach trong cuoc songMọi người chụp ảnh hoàng hôn trên cầu Pershing Square tại thành phố New York ngày 13/07/2018. (Ảnh: Gary Hershorn / Getty)day la bang chung cho thay smartphone co mat o khap moi ngo ngach trong cuoc songCác cô gái đang tạo dáng chụp ảnh selfie với những chiếc smartphone tại quảng trường Duomo, thị trấn Milan, Italy ngày 25/02/2016 (Ảnh: Stefano Rellandini / Reuters)day la bang chung cho thay smartphone co mat o khap moi ngo ngach trong cuoc songMuhammad Noshad người Pakistan là một nhân viên của Công ty cung cấp điện Islamabad (IESCO). Anh đang dùng smartphone và gậy selfie để chụp ảnh số công tơ đồng hồ, chuẩn bị làm báo cáo tiêu thụ điện gửi cho khách hàng. (Ảnh: Aamir Qureshi / AFP / Getty)day la bang chung cho thay smartphone co mat o khap moi ngo ngach trong cuoc songThượng nghị sĩ Hoa Kỳ Jeff Flake nói chuyện với các phóng viên sau khi họp với thượng nghị sĩ Mitch McConnell về việc đề cử Brett Kavanaugh trên Capitol Hill vào ngày 28/09/2018 tại Washington, DC. (Ảnh: Brendan Smialowski / AFP / Getty)day la bang chung cho thay smartphone co mat o khap moi ngo ngach trong cuoc songNhiếp ảnh gia và nhà báo người Bun-ga-ri Vera Gotseva chụp ảnh sinh viên của mình trong một khóa học nhiếp ảnh tại làng Sarnitsa ngày 03/11/2018. (Ảnh: Dimitar Dilkoff / AFP / Getty)day la bang chung cho thay smartphone co mat o khap moi ngo ngach trong cuoc songNgười tị nạn Nigeria, Aicha Younoussa, đang chụp ảnh trước lều của cô. Do mối đe dọa của Boko Haram, Aicha và gia đình rời Nigeria cách đây bốn năm tìm nơi trú ẩn trong trại tị nạn Baga Sola ở miền nam Chad. (Ảnh: Michele Cattani / AFP / Getty)day la bang chung cho thay smartphone co mat o khap moi ngo ngach trong cuoc songKhách mời chụp ảnh trong buổi trình diễn của hãng thời trang Addition Elle tại Tuần lễ thời trang New York diễn ra tại thành phố New York, Mỹ vào ngày 11/09/2017. (Ảnh: Angela Weiss / AFP / Getty)day la bang chung cho thay smartphone co mat o khap moi ngo ngach trong cuoc songMột du khách Trung Quốc như đang múa võ với cây gậy chụp ảnh selfie trước sân nhà hát lớn ở Frankfurt, Đức ngày 02/03/2017. (Ảnh Michael Probst / AP)day la bang chung cho thay smartphone co mat o khap moi ngo ngach trong cuoc songNhững người di cư Honduras tranh thủ sạc điện thoại di động tại một nơi trú ẩn tạm thời ở Juchitan de Zaragoza, bang Oaxaca, Mexico trong cuộc hành trình đến Mỹ ngày 30/10/2018. (Ảnh: Guillermo Arias / AFP / Getty)day la bang chung cho thay smartphone co mat o khap moi ngo ngach trong cuoc songSangeeta Agnes Hosea (ở giữa), ca sĩ chính của ban nhạc Ấn Độ, Midnight Poppies, chụp ảnh với điện thoại thông minh của cô trong một buổi tập ở Bangalore vào ngày 10/11/2018. Hosea sử dụng smartphone để ghi lại các bài hát của mình và cũng để quảng cáo cho ban nhạc trên các phương tiện truyền thông xã hội. (Ảnh: Manjunath Kiran / AFP / Getty)day la bang chung cho thay smartphone co mat o khap moi ngo ngach trong cuoc songCụ già 75 tuổi Ngô Thị Phô đang sử dụng điện thoại khi bán hàng rong ven đường ở tỉnh Hà Giang ngày 28/10/2018. (Ảnh: Nhac Nguyen / AFP / Getty)day la bang chung cho thay smartphone co mat o khap moi ngo ngach trong cuoc songMột cậu bé đang dùng thử những chiếc iPhone trong dịp lễ khai trương cửa hàng Apple Store chính thức đầu tiên tại Thái Lan. Cửa hàng này nằm trong khu ICONSIAM, một khu phức hợp dân cư và trung tâm thương mại cao cấp trên bờ sông Chao Praya. (Ảnh: Lillian Suwanrumpha / AFP / Getty)day la bang chung cho thay smartphone co mat o khap moi ngo ngach trong cuoc songNhững người tham dự chụp ảnh và quay video Tổng thống Donald Trump khi ông tham dự Hội nghị thượng đỉnh các lãnh đạo trẻ da đen năm 2018 tại Phòng phía Đông của Nhà Trắng ở Washington, ngày 26/10/2018. (Ảnh: Cathal McNaughton / Reuters)day la bang chung cho thay smartphone co mat o khap moi ngo ngach trong cuoc songMột người đàn ông hóa trang thành bức tượng Nữ thần tự do đang sử dụng điện thoại trong một trận bão tuyết ở New York ngày 07/01/2017. (Ảnh: Eduardo Munoz Alvarez / AFP / Getty)day la bang chung cho thay smartphone co mat o khap moi ngo ngach trong cuoc songKhán giả chụp ảnh Tiger Woods khi anh đang thi đấu trong giải tranh cup Northern Trust FedEx ngày 23/08/2018. (Ảnh: Tim Clayton / Corbis via Getty)Đạt Vũ (Tổng hợp)

Hits: 130

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Nỗi Buồn Tíếng Việt – Chu Đậu

Ngôn ngữ thay đổi theo thời gian, theo sinh hoạt xã hội. Mỗi ngày, từ những đổi mới của đời sống, từ những ảnh hưởng của văn minh ngoại quốc mà ngôn ngữ dần dần chuyển biến. Những chữ mới được tạo ra, những chữ gắn liền với hoàn cảnh sinh hoạt xưa cũ đã quá thời, dần dần biến mất. Cứ đọc lại những áng văn thơ cách đây chừng năm mươi năm trở lại, ta thấy nhiều cách nói, nhiều chữ khá xa lạ, vì không còn được dùng hàng ngày. Những thay đổi này thường làm cho ngôn ngữ trở nên sinh động hơn, giàu có hơn, tuy nhiên, trong tiếng Việt khoảng mấy chục năm gần đây đã có những thay đổi rất kém cỏi. Ban đầu những thay đổi này chi giới hạn trong phạm vi Bắc vĩ tuyến 17, nhưng từ sau ngày cộng sản toàn chiếm Việt Nam, 30 tháng tư năm 1975, nó đã xâm nhập vào ngôn ngữ miền Nam. Rồi, đau đớn thay, lại tiếp tục xâm nhập vào tiếng Việt của người Việt ở hải ngoại. Người ta thuận theo các thay đổi xấu ấy một cách lặng lẽ, không suy nghĩ, rồi từ đó nó trở thành một phần của tiếng Việt hôm nay. Nếu những thay đổi ấy hay và tốt thì là điều đáng mừng ; Nhưng than ôi, hầu hết những thay đổi ấy là những thay đổi xấu, đã không làm giầu cho ngôn ngữ dân tộc mà còn làm tiếng nước ta trở nên tối tăm. 
Thế nhưng dựa vào đâu mà nói đó là những thay đổi xấu ? 
Nếu sự thay đổi đưa lại một chữ Hán Việt để thay thế một chữ Hán Việt đã quen dùng, thì đây là một thay đổi xấu, nếu dùng một chữ Hán Việt để thay một chữ Việt thì lại càng xấu hơn. Bởi vì nó sẽ làm cho câu nói tối đi. Người Việt vẫn dễ nhận hiểu tiếng Việt hơn là tiếng Hán Việt. Nhất là những tiếng Hán Việt này được mang vào tiếng Việt chỉ vì người Tầu ở Trung Hoa bây giờ đang dùng chữ ấy. Nếu sự thay đổi để đưa vào tiếng Việt một chữ dùng sai nghĩa, thì đây là một sự thay đổi xấu vô cùng. Hãy duyệt qua vài thay đổi xấu đã làm buồn tiếng Việt hôm nay : 
1. Chất lượng : 
Ðây là chữ đang được dùng để chỉ tính chất của một sản phẩm, một dịch vụ. Người ta dùng chữ này để dịch chữ quality của tiếng Anh. Nhưng than ôi ! Lượng không phải là phẩm tính, không phải là quality. Lượng là số nhiều ít, là quantity. Theo Hán Việt Tự Ðiển của Thiều Chửu, thì lượng là : đồ đong, các cái như cái đấu, cái hộc dùng để đong đều gọi là lượng cả. Vậy tại sao người ta lại cứ nhắm mắt nhắm mũi dùng một chữ sai và dở như thế. Không có gì bực mình hơn khi mở một tờ báo Việt ngữ ở hải ngoại rồi phải đọc thấy chữ dùng sai này trong các bài viết, trong các quảng cáo thương mãi. Muốn nói về tính tốt xấu của món đồ, phải dùng chữ phẩm. Bởi vì phẩm tính mới là quality. Mình đã có sẵn chữ phẩm chất rồi tại sao lại bỏ quên mà dùng chữ ‘chất lượng’. Tại sao lại phải bắt chước mấy anh cán ngố, cho thêm buồn tiếng nước ta. 
2. Liên hệ : 
Cũng từ miền Bắc, chữ này lan khắp nước và nay cũng tràn ra hải ngoại. Liên hệ là có chung với nhau một nguồn gốc, một đặc tính. Người cộng sản Việt Nam dùng chữ liên hệ để tỏ ý nói chuyện, đàm thoại. Tại sao không dùng chữ Việt là ‘nói chuyện’ cho đúng và giản dị. Chữ liên hệ dịch sang tiếng Anh là ‘to relate to …’, chứ không phải là ‘to communicate to …’ 
3. Ðăng ký : 
Ðây là một chữ mà người Cộng Sản miền Bắc dùng vì tinh thần nô lệ người Tầu của họ. Ðến khi toàn chiếm lãnh thổ, họ đã làm cho chữ này trở nên phổ thông ở khắp nước, Trước đây, ta đã có chữ ghi tên (và ghi danh) để chỉ cùng một nghĩa. Người Tầu dùng chữ đăng ký để dịch chữ ‘register’ từ tiếng Anh. Ta hãy dùng chữ ghi tên hay ghi danh cho câu nói trở nên sáng sủa, rõ nghĩa. Dùng làm chi cái chữ Hán Việt kia để cho có ý nô lệ người Tầu ? ! 
4. Xuất khẩu, Cửa khẩu : 
Người Tầu dùng chữ khẩu, người Việt dùng chữ cảng. Cho nên ta nói xuất cảng, nhập cảng, chứ không phải như cộng sản nhắm mắt theo Tầu gọ là xuất khẩu, nhập khẩu. Bởi vì ta vẫn thường nói phi trường Tân Sơn Nhất, phi cảng Tân Sơn Nhất, hải cảng Hải Phòng, giang cảng Sài Gòn, thương cảng Sài Gòn. Chứ không ai nói phi khẩu Tân Sơn Nhất, hải khẩu Hải Phòng, thương khẩu Sài Gòn trong tiếng Việt. Khi viết tin liên quan đến Việt Nam, ta đọc bản tin của họ để lấy dữ kiện, rồi khi viết lại bản tin đăng báo hay đọc trên đài phát thanh tại sao không chuyển chữ (xấu) của họ sang chữ (tốt) của mình, mà lại cứ copy y boong ? 
5. Khả năng : 
Chữ này tương đương với chữ ability trong tiếng Anh, và chỉ được dùng cho người, tức là với chủ từ có thể tự gây ra hành động động theo chủ ý. Tuy nhiên hiện nay ở Việt Nam người ta dùng chữ khả năng trong bất kỳ trường hợp nào, tạo nên những câu nói rất kỳ cục. Ví dụ thay vì nói là ‘trời hôm nay có thể mưa’, thì người ta lại nói : ‘trời hôm nay có khả năng mưa’, nghe vừa nặng nề, vừa sai. 
6. Tranh thủ :
Thay vì dùng một chữ vừa rõ ràng vừa giản dị là chữ ‘cố gắng’, từ cái tệ sính dúng chữ Hán Việt của người cộng sản, người ta lại dùng một chữ vừa nặng nề vừa tối nghĩa là chữ ‘tranh thủ’. Thay vì nói : ‘anh hãy cố làm cho xong việc này trước khi về’, thì người ta lại nói : ‘anh hãy tranh thủ làm cho xong việc này trước khi về’. 
7. Khẩn trương : 
Trước năm 1975 chúng ta đã cười những người lính cộng sản, khi họ dùng chữ này thay thế chữ ‘nhanh chóng’. Nhưng than ôi, ngày nay vẫn còn những người ở Việt Nam (và cả một số người sang Mỹ sau này) vẫn vô tình làm thoái hóa tiếng Việt bằng cách bỏ chữ ‘nhanh chóng’ để dùng chữ ‘khẩn trương’. Ðáng lẽ phải nói là : ‘Làm nhanh lên’ thì người ta nói là : ‘làm khẩn trương lên’. 
8. Sự cố, sự cố kỹ thuật : 
Tại sao không dùng chữ vừa giản dị vừa phổ thông trước đây như ‘trở ngại’ hay ‘trở ngại kỹ thuật’ hay giản dị hơn là chữ ‘hỏng’ ? (Nói ‘xe tôi bị hỏng’ rõ ràng mà giản dị hơn là nói ‘xe tôi có sự cố’) 
9. Tham quan : 
Đi thăm, đi xem thì nói là đi thăm, đi xem cho rồi tại sao lại phải dùng cái chữ này của người Tầu ? ! Sao không nói là ‘Tôi đi Nha Trang chơi’, ‘tôi đi thăm lăng Minh Mạng’, mà lại phải nói là ‘tôi đi tham quan Nha Trang’, ‘tôi đi tham quan lăng Minh Mạng’. 
10. Nghệ nhân :
Ta vốn gọi những người này là ‘nghệ sĩ’. Mặc dù đây cũng là tiếng Hán Việt, nhưng người Tầu không có chữ nghệ sĩ, họ dùng chữ nghệ nhân. Có những người tưởng rằng chữ nghệ nhân cao hơn chữ nghệ sĩ, họ đâu biết rằng nghĩa cũng như vậy, mà sở dĩ người cộng sản Việt Nam dùng chữ nghệ nhân là vì tinh thần nô lệ Trung Hoa. 
11. Chuyển ngữ : 
Ðây là một chữ mới, xuất hiện trên báo chí Việt Nam ở hải ngoại trong vài năm gần đây. Trước đây chúng ta đã có một chữ giản dị hơn nhiều để tỏ ý này. Ðó là chữ dịch, hay dịch thuật. Dịch tức là chuyển từ một ngôn ngữ này sang một ngôn ngữ khác. Ðoàn Thị Ðiểm dịch Chinh Phụ Ngâm Khúc của Ðặng Trần Côn Phan Huy Vịnh dịch Tỳ Bà Hành của Bạch Cư Dị, Nguyễn Hiến Lê dịch Chiến Tranh Và Hòa Bình của Leon Tolstoi … Người viết ở hải ngoại bây giờ hình như có một mặc cảm sai lầm là nếu dùng chữ dịch thì mình kém giá trị đi, nên họ đặt ra chữ ‘chuyển ngữ’ để thấy mình oai hơn. Chữ dịch không làm cho ai kém giá trị đi cả, chữ ‘chuyển ngữ’ cũng chẳng làm giá trị của ai tăng thêm chút nào. Tài của dịch giả hiện ra ở chỗ dịch hay, dịch đúng mà thôi. Chứ đặt ra chữ mới nghe cho kêu không làm tài năng tăng lên chút nào, hơn nữa nó còn cho thấy sự thiếu tự tin, sự cầu kỳ không cần thiết của người dịch. 
12. Tư liệu : 
Trước đây ta vốn dùng chữ tài liệu, rồi để làm cho khác miền nam, người miền bắc dùng chữ ‘tư liệu’ trong ý : ‘tài liệu riêng của người viết’. Bây giờ những người viết ở hải ngoại cũng ưa dùng chữ này mà bỏ chữ ‘tài liệu’ mặc dù nhiều khi tà liệu sử dụng lại là tài liệu đọc trong thư viện chứ chẳng phải là tài liệu riêng của ông ta. 
13. Những danh từ kỹ thuật mới : 
Thời đại của điện tử, của computer tạo ra nhiều danh từ kỹ thuật mới, hay mang ý nghĩa mới. Những danh từ này theo sự phổ biến rộng rãi của kỹ thuật đã trở nên thông dụng trong ngôn ngữ hàng ngày. Hầu hết những chữ này có gốc từ tiếng Anh, bởi vì Hoa Kỳ là nước đi trước các nước khác về kỹ thuật. Các ngôn ngữ có những chữ cùng gốc (tiếng Ðức, tiếng Pháp …) thì việc chuyển dịch trở nên tử nhiên và rõ ràng, những ngôn ngữ không cùng gốc, thì người ta địa phương hóa những chữ ấy mà dùng. Riêng Việt Nam thì làm chuyện kỳ cục là dịch những chữ ấy ra tiếng Việt (hay mượn những chữ dịch của người Tầu), tạo nên một mớ chữ ngây ngô, người Việt đọc cũng không thể hiểu nghĩa những chứ ấy là gì, mà nếu học cho hiểu nghĩa thì khi gặp những chữ ấy trong tiếng Anh thì vẫn không hiểu. Ta hãy nhớ rằng, ngay cả những người Mỹ không chuyên môn về điện toán, họ cũng không hiểu đích xác nghĩa của những danh từ này, nhưng họ vẫn cứ chỉ biết là chữ ấy dùng để chỉ các vật, các kỹ thuật ấy, và họ dùng một cách tự nhiên thôi. Vậy tại sao ta không Việt hóa các chữ ấy mà phải mất công dịch ra cho kỳ cục, cho tối nghĩa. Ông cha ta đã từng Việt hóa biết bao nhiêu chữ tương tự, khi tiếp xúc với kỹ thuật phương tây cơ mà. Ví dụ như ta Việt hóa chữ ‘pomp’ thành ‘bơm’ (bơm xe, bơm nước), chữ ‘soup’ thành ‘xúp’, chữ ‘phare’ thành ‘đèn pha’, chữ ‘cyclo’ thành ‘xe xích lô’, chữ ‘manggis’ (tiếng Mã Lai) thành ‘quả măng cụt’, chữ ‘durian’ thành ‘quả sầu riêng’, chữ ‘bougie’ thành ‘bu-gi, chữ ‘manchon’ thành ‘đèn măng xông’, chữ ‘boulon’ thành ‘bù-lon’, chữ ‘gare’ thành ‘nhà ga’, chữ ‘savon’ thành ‘xà bông’ … Bây giờ đọc báo, thấy những chữ dịch mới, thì dù đó là tiếng Việt, người đọc cũng vẫn không hiểu như thường. Hãy duyệt qua một vài danh từ kỹ thuật bị ép dịch qua tiếng Việt Nam, như : 
a. Scanner dịch thành ‘máy quét’. Trời ơi ! ’máy quét’ đây, thế còn máy lau, máy rửa đâu ? ! Mới nghe cứ tưởng là máy quét nhà ! 
b. Data Communication dịch là ‘truyền dữ liệu’. 
c. Digital camera dịch là ‘máy ảnh kỹ thuật số’. 
d. Data base dịch là ‘cơ sở dữ liệu’. Những người Việt đã không biết data base là gì thì càng không biết ‘cơ sơ dữ liệu’ là gì luôn. 
e. Software dịch là ‘phần mềm’, hardware dịch là ‘phần cứng’ mới nghe cứ tưởng nói về đàn ông, đàn bà. Chữ ‘hard’ trong tiếng Mỹ không luôn luôn có nghĩa là ‘khó’, hay ‘cứng’, mà còn là ‘vững chắc’ ví dụ như trong chữ ‘hard evident’ (bằng chứng xác đáng) … Chữ soft trong chự ‘soft benefit’ (quyền lợi phụ thuộc) chẳng lẽ họ lại dịch là ‘quyền lợi mềm’ sao ? 
f. Network dịch là ‘mạng mạch’. 
g. Cache memory dịch là ‘truy cập nhanh’. 
h. Computer monitor dịch là ‘màn hình’ hay ‘điều phối’. 
i. VCR dịch là ‘đầu máy’ (Như vậy thì đuôi máy đâu ? Như vậy những thứ máy khác không có đầu à ?). Sao không gọi là VCR như mình thường gọi TV (hay Ti-Vi). Nếu thế thì DVD, DVR thì họ dịch là cái gì ? 
j. Radio dịch là ‘cái đài’. Trước đây mình đã Việt hóa chữ này thành ra-đi-ô hay ra-dô, hơặc dịch là ‘máy thu thanh’. Nay gọi là ‘cái đài’ vừa sai, vừa kỳ cục. Ðài phải là một cái tháp cao, trên một nền cao (ví dụ đài phát thanh), chứ không phải là cái vật nhỏ ta có thể mang đi khắp nơi được. 
k. Channel gọi là ‘kênh’. Trước đây để dịch chữ TV channel, ta đã dùng chữ đài, như đài số 5, đài truyền hình Việt Nam … gọi là kênh nghe như đang nói về một con sông đào nào đó ở vùng Hậu Giang ! 
Ngoài ra, đối với chúng ta, Sài Gòn luôn luôn là Sài Gòn, hơn nữa người dân trong nước vẫn gọi đó là Sài Gòn. Các xe đò vẫn ghi bên hông là ‘Sài Gòn – Nha Trang’, ‘Sài Gòn – Cần Thơ’ … trên cuống vé máy bay Hàng Không Việt Nam người ta vẫn dùng 3 chữ SGN để chỉ thành phố Sài Gòn. Vậy khi làm tin đăng báo, tại sao người Việt ở hải ngoại cứ dùng tên của một tên chó chết để gọi thành phố thân yêu của chúng mình ? ! Ði về Việt Nam tìm đỏ mắt không thấy ai không gọi Sài Gòn là Sài Gòn, vậy mà chỉ cần đọc các bản tin, các truyện ngắn viết ở Hoa Kỳ ta thấy tên Sài Gòn không được dùng nữa. Tại sao ? 
Ðây chỉ là một vài ví dụ để nói chơi thôi, chứ cứ theo cái đà này thì chẳng mấy chốc mà người Việt nói tiếng Tầu luôn mất ! Tất nhiên, vì đảng cộng sản độc quyền tất cả mọi sinh hoạt ở Việt Nam, nên ta khó có ảnh hưởng vào tiếng Việt đang dùng trong nước, nhưng tại sao các nhà truyền thông hải ngoại lại cứ nhắm mắt dùng theo những chữ kỳ cục như thế ? ! Cái khôi hài nhất là nhiều vị trong giới này vẫn thường nhận mình là giáo sư (thường chỉ là giáo sư trung học đệ nhất cấp (chưa đỗ cử nhân) hay đệ nhị cấp ở Việt Nam ngày trước, chứ chẳng có bằng Ph.D. nào cả), hay là các người giữ chức này chức nọ trong các hội đoàn tự cho là có trách nhiệm về văn hóa Việt Nam ở ngoài nước ! 
Trước đây Phạm Quỳnh từng nói : ‘Truyện Kiều còn thì tiếng ta còn, tiếng ta còn thì nước ta còn’, bây giờ Truyện Kiều vẫn còn mà cả tiếng ta lẫn nước ta lại đang đi dần xuống hố sâu Bắc Thuộc. Than ôi !
Chu Đậu
11/2007

Hits: 27

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

ĐẠO DIỄN CAROLINE GUIELA NGUYỄN

NHỮNG GIỌT NƯỚC MẮT LÀ CHIẾC CẦU NỐI GIỮA QUÁ KHỨ & HIỆN TẠI”

Mùa hè năm 2017, tại Liên hoan sân khấu Avignon, vở kịch SAIGON của một nữ đạo diễn Pháp gốc Việt đã thành công rực rỡ và tiếp tục tạo tiếng vang khi trình diễn tại Paris và nhiều thành phố khác trên thế giới. Việt Nam và Pháp, Sài Gòn và Paris, năm 1956 và 1996… thời gian và nơi chốn, những khoảng cách địa lý, những lỗ hổng lịch sử, những câu chuyện về sự ra đi và trở về… đã được tái hiện song hành trên sân khấu và để lại những giọt nước mắt,  sự thổn thức cho khán giả. Caroline Guiela Nguyen, sinh năm 1981, đạo diễn của vở kịch có mái tóc đen nhánh, xinh đẹp như một nữ tài tử. Mẹ cô là người Việt và cha là kiều dân Pháp từ Algeria. Cô đã đến TPHCM nhiều lần để trải nghiệm và thu thập những chất liệu cho vở kịch đột phá của mình. Nhân vở kịch SAIGON được trình diễn tại nhà hát Bến Thành (TPHCM) vào ngày 21 và 22/9, Caroline Guiela Nguyen đã trả lời phỏng vấn của Tuổi trẻ cuối tuần từ nước Pháp.

Caroline Guiela Nguyen

Bố mẹ chị đều là người nhập cư ở Pháp. Bố chị là người Algerie, còn mẹ đến từ Việt Nam. Vậy thì tại sao chị lại chọn Sài Gòn, Việt Nam – quê hương của mẹ làm đề tài, bối cảnh cho vở kịch của mình mà không phải là Algerie – quê của bố?

Câu hỏi của anh rất thú vị. Tôi chỉ có thể trả lời đơn giản như thế này: Tôi chưa bao giờ đến Algérie nhưng tôi đã đến Việt Nam hơn 10 lần rồi. Bố tôi cũng chưa bao giờ quay trở về Algérie và điều này có ý nghĩa vì ông không bao giờ làm được điều đó nữa. Lần duy nhất mà ông đã quay lại Bắc Phi là lúc chúng tôi đi Maroc. Khi chúng tôi đến sân bay, bố tôi đã giàn giụa nước mắt. Bố tôi đã qua đời mà chưa một lần được quay trở về nơi ông đã sinh ra và là nơi mà một số người thân trong gia đình được chôn cất ở đó.

Mẹ tôi thì có thể quay trở về nơi bà đã sinh ra và bây giờ, bà đang sống giữa 2 nơi là Pháp và Việt Nam. Vì vậy mà mối liên hệ với Việt Nam đến với tôi dễ dàng và trực tiếp hơn. Tôi đã đến Việt Nam và tôi đã cảm nhận điều đấy. Nhưng Algérie cũng vẫn là một đề tài mà tôi muốn khai thác. Đề tài này chắc chắn là còn ít được nhắc đến hơn là đề tài mà tôi đã có thể tưởng tượng được từ mẹ tôi. Điều đó thật ngạc nhiên.

Hầu hết các tiểu thuyết, phim ảnh, nghệ thuật nói chung về Việt Nam của những Việt kiều, hay nói đúng hơn là của những nghệ sĩ lớn lên ở nước ngoài có dòng máu Việt thường có yếu tố tự truyện, tự thuật, hồi ức qua câu chuyện của bố mẹ, gia đình hay cá nhân họ. Nhưng với vở SAIGON, chị không chọn con đường tự truyện hay thuyết giảng cho vở kịch của mình mà với tư cách một người quan sát, trải nghiệm và có nhiều yếu tố khách quan. Tại sao chị chọn cách này?

Như tôi vẫn thường nói, SAIGON là vở kịch rất gần với thực tế, theo nghĩa là tôi đã thu thập và quan sát các câu chuyện. Nhưng vở kịch tự thân nó là một sản phẩm hư cấu. Chính vì vậy mà những từ như “tự truyện” hay “kịch tài liệu” không phù hợp để nói về vở kịch này. Tôi không làm theo kiểu nghe như thế nào thì kể lại y như vậy. Vở kịch là sản phẩm của sự tưởng tượng. Tôi không rõ ở Việt Nam thì như thế nào, chứ ở Pháp, đây là một đề tài rất được quan tâm. Chính vì vậy, SAIGON là một vở kịch được sáng tác từ nước Pháp chứ không phải từ Việt Nam. Tôi không tự cho phép mình nói thay cho người Việt Nam vì tôi không phải là người Việt. Tôi là con của một Việt kiều và là người Pháp. Vậy nên tôi chỉ nói từ nơi tôi quan sát, đó chính là nước Pháp.

Quay trở lại vấn đề về sự tưởng tượng vì điều đó rất quan trọng. Ở Pháp, chúng tôi không hoặc ít tưởng tượng về mối liên hệ giữa Pháp và Việt Nam. Chúng ta có bộ phim “Đông Dương”, được cho là hay hay dở thì tùy vào sở thích của từng người. Nhưng chúng ta chỉ có vậy thôi. Tôi nghĩ để kết nối người với người, điều quan trọng nhất đó chính là khả năng tưởng tượng. Hơn nữa, chúng ta thường nghe nói “tôi không thể hình dung được là làm thế nào khi phải ra đi mà không bao giờ có thể quay trở lại”. Như tôi chẳng hạn, tôi không thể hình dung được những gì mẹ tôi đã trải qua. Không phải thực tế đã dẫn dắt tôi đến những câu chuyện trong vở kịch này, mà đó chính là sự tưởng tượng. Tôi đã làm điều này cùng các thành viên trong đoàn kịch. Chúng tôi đã cùng làm việc với các diễn viên, đặt họ vào một tình huống giống với thực tế của thời đó. Sau đó, chúng tôi đã ứng tác, tưởng tượng, ví dụ như làm cách nào để một anh lính người Pháp đem lòng yêu mến một cô gái Việt. Chúng tôi đã vận dụng trí tưởng tượng. Chính vì vậy mà tôi không nghĩ vở kịch SAIGON là một tự truyện, cũng không phải là kịch tài liệu hay là một vở kịch hồi ức kể lại câu chuyện của gia đình tôi.

Trả lời phỏng vấn một kênh truyền thông của Pháp, chị từng nói: “Những lỗ hổng không chỉ có những vết thương mà là khởi nguồn của trí tưởng tượng.” Vậy thì những lỗ hổng về Việt Nam, như chị tự nhận “Tôi không có khả năng nói về Việt Nam, tôi không phải là người Việt Nam”, đã mang lại những “vết thương” và “khởi nguồn của trí tưởng tượng” như thế nào về Việt Nam?

Khi còn bé, có những điều mà người ta gọi là “bí mật gia đình”. Gia đình nào cũng thế. Bố mẹ không kể tất cả vì sợ làm tổn thương con cái hay những người khác. Nhà phân tâm học người Pháp Serge Tisseron cho rằng khi một người không biết một bí mật gì đó, người đó thường có khuynh hướng tưởng tượng, đi rất xa, và thậm chí còn tưởng tượng ra những điều còn tồi tệ hơn những điều bí mật. Khi nói về “những lỗ hổng” là tôi muốn nói về điều đó. Những lỗ hổng khơi gợi sự tưởng tượng, sự hư cấu trong tôi.

Chuyến trở về Sài Gòn để trải nghiệm, tìm kiếm chất liệu và cảm hứng cho vở kịch đã mang lại cho chị những chất liệu quý giá gì? Có điều gì ở Sài Gòn – TPHCM ngày hôm nay vượt xa trí tưởng tượng của chị? Có điều gì gần với hình dung hay những lời kể của mẹ chị? Và điều gì khiến chị thấy gần gũi, đồng cảm hay xúc động nhất khi sống ở Sài Gòn?

Điều làm tôi cảm thấy xúc động ở Sài Gòn và điều làm cho những chuyến đi sang Việt Nam của tôi trở nên cần thiết, đó chính là sự khác biệt. Ví dụ, đó là sự khác biệt giữa những gì mẹ tôi đã kể và những gì tôi đã khám phá khi đến Việt Nam. Đó chính là  điều làm tôi cảm thấy xúc động nhất. Tôi yêu TPHCM. Đây làm một trong những thành phố trên thế giới làm tôi cảm thấy xúc động nhất. Việt Nam là một đất nước rất xinh đẹp. Tuy nhiên, trong thực tế, chính những Việt kiều mới làm tôi xúc động nhất. Đó là sự cách biệt, khoảng cách, sự tương đồng, giữa một Việt Nam do họ kể lại và một Việt Nam như ngày nay. Ví dự như tôi đã rất xúc động khi thấy các diễn viên Việt kiều trở về, nhìn lại những không gian, những con đường ngày xưa nay đã thay đổi bằng những ánh mắt như khi họ còn bé. Họ phải tiếp xúc với một thứ tiếng Việt không còn như trước. Những điều này là vô cùng quan trọng trong vở kịch của chúng tôi. Chúng tôi hiểu ra rằng tiếng Việt mà các Việt kiều nói không phải là thứ tiếng Việt đang được sử dụng ngày nay. Vậy là họ đúng là Việt kiều: họ là người Việt nhưng mãi mãi sẽ là những người nước ngoài trên chính quê hương của họ. Họ cứ thế mà “lơ lửng” giữa hai nơi chốn. Tôi nghĩ đến câu nói đùa của một người anh họ. Anh ấy bảo: “Chúng ta là người Việt khi ở Pháp nhưng lại là người Pháp khi ở Việt Nam”. Tôi đã không đến Việt Nam như là một khách du lịch. Chuyến đi tìm hiểu để sáng tác vở kịch Sài Gòn đã giúp tôi chấm dứt sự “lơ lửng” giữa Pháp và Việt Nam.

Một trích đoạn trong vở kịch SAIGON

Vở kịch Sài Gòn gây tiếng vang ở Pháp và khiến nhiều khán giả, đặc biệt là những Việt kiều xúc động và thổn thức vì gợi lại những ký ức tha hương của họ. Nhà văn Thuận sống ở Paris cũng chia sẻ cảm xúc của chị trên trang cá nhân rằng: “Vở kịch hay đến mức người vốn cứng rắn trước nghệ thuật như tôi mà mắt cũng nhòe đi không ít lần. Xúc động vì những thứ rất gần với kitsch, sém một chút là sến sẩm, nhưng dưới bàn tay tài hoa của đạo diễn hợp thành một tác phẩm đầy sáng tạo và thuyết phục, vượt ra khỏi khuôn khổ địa lý. Sài Gòn, Việt Nam bỗng trở nên đương đại và cũng gần gũi bội phần.”

Chị có thể chia sẻ thêm khi nhìn thấy những giọt nước mắt sau vở kịch này, mà bản thân chị cũng từng gọi nó cũng là một “hành trình nước mắt”?

Trước hết, tôi cảm thấy xúc động và hạnh phúc vì những lời nhận xét của nhà văn Thuận. Tôi xin cảm ơn cô ấy. Tôi luôn đặc biệt quan tâm đến việc vở kịch được các khán giả Việt kiều đón nhận như thế nào và tôi cũng để tâm đến việc có các khán giả Việt kiều trong khán phòng. Ở Pháp, không có nhiều Việt kiều hay những người gốc Algérie trong các khán phòng cũng như trên sân khấu.

Tôi thường được hỏi về hành trình nước mắt và khó để trả lời, bởi vì phải nói và giải thích về một cảm xúc. Điều tôi cảm nhận được khi đến Việt Nam đó là những giọt nước mắt. Dĩ nhiên là những giọt nước mắt này vẫn có liên quan tới các Việt kiều. Khi nói với tôi về Sài Gòn, mắt họ khi nào cũng đẫm lệ. Lần nào cũng thế cả. Tôi nghĩ TPHCM là nơi đã có nhiều người ra đi và là nơi nhiều người có người thân sống ở nước ngoài. Tôi thường kể là bà ngoại tôi có 9 người con, mẹ tôi là con cả nhưng bà luôn gọi mẹ tôi là “Hai”, nghĩa là đứa con thứ hai. Trong một thời gian dài, tôi đã hỏi tại sao. Nhưng không ai trả lời tôi cả. Phải đến khi tôi gặp ông Ngọc là một đạo diễn sân khấu nổi tiếng ở Việt Nam thì tôi mới tìm được câu trả lời. Ông ấy bảo rằng ở Việt Nam mọi người gọi như thế vì họ quan niệm luôn có một đứa con bị lãng quên ở đâu đó. Lời giải thích này dường như giúp tôi hiểu được cái cảm giác tôi đã có trước đây mà không biết tại sao. TPHCM là nơi của sự thiếu vắng và nước mắt. Đó chính là điều tôi muốn nói khi tôi dùng từ “hành trình nước mắt”. Và tôi muốn thể hiện hành trình này trong vở kịch SAIGON.

Trong cuốn tiểu thuyết có tính tự truyện “Người cha im lặng”(1) của nhà văn, nhà báo Pháp gốc Việt Doan Bui, chị ấy cũng viết rằng: “Những giọt nước mắt mà tôi chưa bao giờ nhìn thấy chảy trên má của cha mẹ tôi tạo nên hôm nay là một chiếc cầu nối giữa hiện tại và quá khứ, giữa con người mà họ đã từng là hiện nay và con người mà họ đã từng là trước đây, giữa nước Pháp và nước Việt, hai quê hương của họ.” Chị có nghĩ rằng những giọt nước mắt cũng là chiếc cầu nối giữa hiện tại và quá khứ, giữa nước Pháp và nước Việt trong lòng người tha hương ở vở kịch SAIGON không?

Tôi đã kể câu chuyện theo cách của tôi, nhưng rốt cuộc là tôi cảm nhận đúng những điều cô ấy đã nói. Những giọt nước mắt là chiếc cầu nối giữa quá khứ và hiện tại, giữa nơi này và nơi kia. Khi chúng tôi sáng tác vở Sài Gòn, tôi tự nhủ làm thế nào để vở kịch phải thể hiện đúng hình ảnh một Việt kiều: vừa ở quá khứ vừa ở hiện tại, vừa ở Pháp vừa ở Việt Nam. Đó phải là gạch nối giữa hai thời kỳ, giữa hai vùng địa lý. Và vở diễn phải là điểm quy nạp tất cả những điều này. Đó là tình cảnh của Việt kiều ngày nay: họ vừa là người Việt vừa không phải là người Việt, họ vừa đắm mình trong quá khứ vừa trong hiện tại, họ hiện hữu vừa ở nơi họ đang sinh sống vừa ở nơi chôn rau cắt rốn của họ. Tôi cảm nhận những điều đó rất rõ nét ở Việt kiều và và đó là điều làm tôi cảm thấy xúc động nhất.

Khung cảnh trong vở SAIGON là một nhà hàng Việt. Ta đang ở Sài Gòn hay Paris, năm 1956 hay 1996? Ta cũng không biết nữa. Có lẽ là ở cả 2 giai đoạn và cả 2 thành phố. Chính vì thế mà vở diễn đã bắt đầu bằng cảnh mẹ của Antoine, một Việt kiều, bỗng nhiên bị mất trí nhớ. Một chứng bệnh không nghiêm trọng, nhưng làm ta mất đi những cột mốc không gian và thời gian. Bà ấy không còn biết mình là ai, đang ở thời điểm nào. Và đối với tôi, có vẻ như bình thường khi một phụ nữ Việt kiều bị chứng mất trí nhớ này. Bà nói với con trai mình bằng tiếng Việt, điều bà chưa từng làm trước đây. Bà hỏi mình đang ở đâu… Một lỗ hổng không gian-thời gian đã mở đầu vở kịch. Khung cảnh của vở diễn cũng thế. Đó là một lỗ hổng không gian-thời gian.

Ẩm thực và âm nhạc hình như là hai “nguyên liệu” chính để chị “chế biến” vở kịch SAIGON? Tại sao chị chọn hai “nguyên liệu” này? Vậy còn ngôn ngữ và sự đánh mất ngôn ngữ thì sao ?

Ẩm thực và âm nhạc đóng vai trò quan trọng trong vở diễn vì các câu chuyện diễn ra trong một nhà hàng có sân khấu để hát karaoke, thứ giải trí ưa thích của người Việt. Ngay cả khi chúng ta kể cho nhau nghe những điều làm xáo trộn cuộc sống thì chúng ta cũng kể khi đang thưởng thức một bát phở hay uống một ly trà. Tương tự, khi có vài điều cần tâm sự, chúng ta bước lên sân khấu và cất lên một bản tình ca.

Ẩm thực cũng chịu sự tác động của cuộc sống tha hương. Món phở ở Việt Nam và món phở ở Pháp không giống nhau.

Vấn đề ngôn ngữ trong vở SAIGON là vô cùng quan trọng. Chắc đây là phần quan trong nhất trong vở diễn. Anh sẽ thấy điều này ở phần cuối của vở diễn, khi một Việt kiều về nước và nói thứ tiếng Việt không còn được sử dụng trong nước. Hay đó là Linh, một phụ nữ Việt kiều không dạy tiếng Việt cho con trai của mình. Điều này có nghĩa là gì? Trong gia đình tôi, chúng tôi có tổng cộng 18 người anh, chị, em họ. Thế mà không một ai nói tiếng Việt. Thường thì nhiều người Việt lập gia đình với những người không phải gốc Việt. Nhưng họ không dạy tiếng Việt cho con cái cũng là do mong muốn hội nhập. Họ sợ con cái mình hội nhập không tốt nếu chúng nói tiếng Việt ở nhà. Bản thân họ đã từng gặp khó khăn khi học tiếng Pháp. Vậy nên họ muốn việc này phải nhẹ nhàng hơn đối với con cái của họ.

Vấn đề ngôn ngữ cũng được bắt gặp trong giọng kể chuyện của vở kịch. Khi đến TPHCM, tôi có các phiên dịch đi cùng để giúp tôi hiểu những điều người khác nói. Thông qua các phiên dịch mà tôi đã bắt đầu cảm nhận cái đẹp trong tiếng Việt. Ví dụ có lần bạn phiên dịch đã dịch câu “tôi vẫn còn buồn” thành “cô ấy vẫn chưa hết nguôi ngoai nỗi đau của mình”. Trong tiếng Pháp, người ta không bao giờ nói vậy. Tôi thấy câu tiếng Việt này rất đẹp. Thế là tôi muốn lồng vào vở kịch một giọng kể chuyện của một cô gái đã học tiếng Pháp nhưng với một cái đầu và sự tưởng tượng của người Việt. Trong giọng kể chuyện này, có sự pha trộn ngôn ngữ mà tôi vừa đề cập. Vậy nên anh thấy đó, ngôn ngữ chiếm một vị trí rất quan trọng trong vở diễn.

Toàn cảnh sân khấu của vở kịch SAIGON

Chị có tham khảo một số tác phẩm nghệ thuật của những đạo diễn Việt kiều khác khi làm về Việt Nam? Bộ ba phim của đạo diễn Pháp gốc Việt Trần Anh Hùng về Việt Nam; bộ phim Three Seasons của đạo diễn Mỹ gốc Việt Tony Bùi (cũng chọn thời điểm trở về sau khi Mỹ dỡ bỏ lệnh cấm vận); tiểu thuyết của Linda Le, Thuận, Nguyen Thanh Viet… Nếu có, điều gì gây cảm hứng cho chị và điều gì khiến gì phải tạo ra một tác phẩm khác biệt?

Tôi có đọc một số trong các tác phẩm này sau khi sáng tác kịch bản Sài Gòn, nhưng trước đó thì không. Trong cách tôi sáng tác, tôi không muốn bị ảnh hưởng. Tôi cần phóng theo sự tưởng tượng của tôi để hình thành nên ngôn ngữ của riêng tôi.

Tôi đã đọc các tác phẩm của Doan Bui. Cô ấy đã viết nhiều về mối quan hệ của cô với gia đình. Tôi cũng đã đọc tác phẩm Ru của Kim Thuy, một Việt kiều sống ở Québec. Tôi đã bắt gặp nhiều điều tương đồng. Chính vì thế mà tôi đã nói vấn đề của tôi là vấn đề của “lịch sử và địa lý”. Một vài câu chuyện trong gia đình tôi gắn liền với cuộc sống tha hương và với vấn đề là Việt kiều. Đó không phải là một câu chuyện gia đình bị tách ra khỏi bối cảnh lịch sử và xã hội.

Một vài nhận định trên báo Pháp cho rằng vở kịch SAIGON của chị rất gần với điện ảnh và thậm chí có báo (Le Monde) so sánh vở kịch với bộ phim In the Mood for Love của đạo diễn Hongkong Vương Gia Vệ, đặc biệt là khả năng diễn ứng tác (không theo kịch bản) trên sân khấu hay cách sử dụng màu sắc, âm nhạc để phát triển cảm xúc… Chị nghĩ gì về nhận định này? Liệu sau sân khấu, chị có ý định làm phim và chuyển thể vở kịch Sài Gòn thành một tác phẩm điện ảnh?

Vâng, điện ảnh rất quan trọng đối với tôi. Tôi thường bắt gặp chính mình trong điện ảnh nhiều hơn là trong kịch nghệ. Trong đoàn kịch, chúng tôi thường chia sẻ cho nhau những bộ phim hay. Chúng tôi rất thích Vương Gia Vệ, nhưng chúng tôi thường nói nhiều đến Alejandro González Iñárritu (2). Ông ấy thường làm các bộ phim “choraux” (gồm nhiều tuyến truyện song hành) với nhiều nhân vật. Điều này đã gợi nhiều cảm hứng cho tôi và giúp tôi nhiều trong công việc dàn dựng vở kịch. Tôi có nghĩ đến việc làm một bộ phim từ vở Sài Gòn nhưng vẫn còn quá sớm để nói về việc này.

Sau khi trình diễn ở nhiều thành phố trên thế giới, vở kịch SAIGON sẽ được công diễn ngay tại Sài Gòn – TPHCM vào ngày 21, 22/9 này. Điều này có một ý nghĩa như thế nào với chị? Chị chờ đợi điều gì ở khán giả Sài Gòn, Việt Nam của ngày hôm nay và có điều gì chị muốn nhắn gửi đến họ?

Chúng tôi đang lưu diễn khắp thế giới. Nhưng những ngày biểu diễn ở Việt Nam chắc chắn là những ngày quan trọng nhất, có ý nghĩa nhất đối với chúng tôi. Trước hết, tôi rất vui vì các diễn viên và phiên dịch người Việt sau khi đã xa nhà từ 2 năm nay, nay đã có thể giới thiệu vở diễn cho người thân của mình. Tôi cũng rất vui vì các diễn viên Việt kiều có thể biểu diễn ngay tại Việt Nam. Và cuối cùng tôi vui vì những diễn viên Pháp có thể mang câu chuyện này đến Việt Nam.

Tôi không có thông điệp gì để nhắn gửi. Tôi chỉ kể chuyện và mong những câu chuyện đó có thể chạm được trái tim của khán giả. Chúng tôi cảm thấy vừa háo hức vừa chừng mực khi đến biểu diễn tại TPHCM. Câu chuyện mà chúng tôi kể là câu chuyện của nước Pháp, chứ không phải của Việt Nam, một câu chuyện ít được nhắc đến ở Pháp. Vì vậy, tôi cảm thấy cần phải nhắc để người Pháp không lãng quên nó, một câu chuyện vừa phức tạp vừa mãnh liệt. Câu chuyện này không chỉ thuộc về Việt kiều mà thuộc về tất cả những người Pháp. Và vở kịch cũng hoàn toàn có liên quan đến Việt Nam và đan xen với Việt Nam. Vì vậy, chúng tôi cảm thấy rất xúc động khi đến biểu diễn tại TPHCM.

Lê Hồng Lâm – Tuổi Trẻ cuối tuần

_____

Chú thích:

(1) Người cha im lặng là cuốn tự truyện của nhà văn, nhà báo Pháp gốc Việt Doan Bui do nhà văn Thuận chuyển ngữ và được Phương Nam Book & NXB Hội Nhà Văn phát hành năm 2018 tại Việt Nam.

(2) Đạo diễn người Mexico, ông đoạt 4 giải Oscar cho 2 bộ phim Hollywood thành công gần đây là Birdman (2015) và The Revenant (2017). Ông bắt đầu được thế giới biết đến với bộ phim Amores Perros (2000), sử dụng phong cách kể chuyện gồm nhiều tuyến truyện, tuyến nhân vật song hành mà Caroline Guiela Nguyễn đề cập.

Hits: 58

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Mùa lá đỏ trên con đèo 48 khúc cua ở Nhật

Con đèo Irohazaka chạy qua những vạt rừng mùa thu thay lá ngập tràn sắc đỏ, vàng tạo nên cảnh tượng ngoạn mục.

Irohazaka là một cặp đường đèo quanh co nối thành phố Nikko với vùng cao Oku-Nikko, thuộc tỉnh Tochigi, Nhật Bản. Ảnh:IkidaneNippon.
Mùa lá đỏ trên con đèo 48 khúc cua ở Nhật
Tên gọi của địa danh này được tạo thành từ hai yếu tố. Trong đó, “i-ro-ha” là ba ký tự đầu tiên trong bảng chữ cái 48 ký tự của tiếng Nhật trước đây; “zaka” có nghĩa là “độ dốc”. Ảnh: IkidaneNippon.
Mùa lá đỏ trên con đèo 48 khúc cua ở Nhật
Con đèo được đặt tên như vậy bởi nó có 48 khúc cua, cũng là số lượng chữ trong bảng chữ cái Nhật Bản. Mỗi khúc cua được đặt tên với một ký tự tương ứng. Ảnh: IkidaneNippon.
Mùa lá đỏ trên con đèo 48 khúc cua ở Nhật

Những đoạn đường đầu tiên được xây dựng vào năm 1954 và 1965. Đến nay, dù con đường đã được hiện đại hóa và nới rộng nhưng số lượng khúc cua vẫn giữ nguyên. Đây là tuyến đường duy nhất nối thành phố Nikko với vùng Oku-nikko. Ảnh: Japankuru.
Mùa lá đỏ trên con đèo 48 khúc cua ở Nhật
Đèo Irohazaka vào mùa thu nhìn từ vệ tinh. Ảnh: Google Maps.
Mùa lá đỏ trên con đèo 48 khúc cua ở Nhật
Hiện nay, con đường Irohazaka thứ nhất là lối đi xuống với 28 khúc cua có điểm dừng chân ngắm khung cảnh hai thác nước. Ảnh: Itchy Feet.
Mùa lá đỏ trên con đèo 48 khúc cua ở Nhật
Đường Irohazaka thứ hai có 20 khúc cua, chỉ dành cho các phương tiện đi lên cao nguyên Akechidaira. Ảnh:IkidaneNippon.
Mùa lá đỏ trên con đèo 48 khúc cua ở Nhật
Tuyến cáp treo đưa du khách từ bãi đỗ xe ở cao nguyên đến đài quan sát Akechidaira trong 3 phút với giá 750 yên (khoảng 150.000 đồng). Ảnh: IkidaneNippon.
Mùa lá đỏ trên con đèo 48 khúc cua ở Nhật
Từ đây, du khách có thể thấy núi Nantai, hồ Chuzenji và thác Kegon. Đây là nơi tốt nhất để nhìn ngắm vẻ đẹp lộng lẫy của thiên nhiên. Thời gian phổ biến nhất để đến Irohazaka là mùa thu, từ giữa tháng 10 đến đầu tháng 11 khi lá cây bắt đầu thay đổi màu sắc. Ảnh: AmusingPlanet.
Mùa lá đỏ trên con đèo 48 khúc cua ở Nhật
Một đoạn đèo Irohazaka nhìn từ trên cao. Ảnh: Pinterest.
Mùa lá đỏ trên con đèo 48 khúc cua ở Nhật
Thông thường, mất khoảng 20 đến 30 phút lái xe để đi hết con đèo Irohazaka. Nhưng vào dịp cuối tuần, lượng du khách đổ về đây tham quan rất đông khiến thời gian có thể lên tới 4 giờ. Ảnh: Ảnh: IkidaneNippon.
Mùa lá đỏ trên con đèo 48 khúc cua ở Nhật
Toàn cảnh vùng núi của tỉnh Tochigi. Ảnh: AmusingPlanet.
Kiều Dương (TheoVnexpress)
Theo Ikidane Nippon

Hits: 61

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin