All posts by KhueVy Hoang

Ngày Ấy

Chiều đã tím trên lưng đồi hoa trắng

Rừng thông xanh vừa rũ ngọn sương mù

Đường đất đỏ bước chân người xa vắng

Em về rồi, em có hiểu gì chưa ?

Anh ngồi đây ngắm từng con én lượn

Nghĩ bâng quơ về mùa xuân sơ sinh.

Có áo em màu xanh trời ước mộng

Nụ hoa hồng anh trồng lên tóc em.

Em cứ về ngủ yên thời tuổi nhỏ

Mắt nâu hiền đừng thao thức đêm nay.

Anh sẽ viết những bài ca thật nhỏ

Thả mây bay trên đầu tuổi thơ ngây.

Phạm Chinh Đông

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 43

Hương Cũ

Lâu lắm rồi không về lại Biên Hòa

Nghe hương bưởi ngạt ngào trong nắng sớm

Có dễ hơn ba mươi năm biền biệt

Kẻ ở người đi rồi chẳng khác không quen.

Còn đó không những chiều mưa lất phất ?

Ai bên sông trông ngóng một con đò.

Cụm lục bình nghìn năm lưu lạc

Và mình tôi, lữ thứ một đời qua.

Vẫn nhớ hương khói thơm mịt mù Chùa Ông tháng tám

Đèn hoa lung linh nước lớn đêm rằm

Em quỳ một mình có mong chờ ai đến

Để chia cho nhau một chút nỗi niềm riêng ?

Đường về đêm nao Cù Lao vắng thêm một màu áo đỏ

Người bỏ đi xa

Người đem đốt tình thơ

Giòng nước mắt viết thành thiên tình sử

Thả xuống trần gian bia đá không ngờ.

Không hẹn hò mà cũng chẳng ước mơ

Một lần về chỉ làm đau những vết hằn đã cũ

Hãy yên nghỉ đi những ngày xưa trăn trở

Cụm lục bình kia hoa tím rụng bao giờ !

   Phạm Chinh Đông

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 58

Quê Nhà

Quê Hiệp ở Cù Lao, Biên Hòa. Quê vợ hắn ở Long Vĩnh, Vĩnh Bình, bây giờ gọi là Trà Vinh. Thật tình Hiệp không biết nhiều về quê hương Biên Hòa của mình vì tuổi nhỏ của hắn được lang thang theo bước chân công vụ của người cha, đến khi vừa đủ lớn trở về thì lại quay quắt với việc học hành ở Sài Gòn, và cuối cùng, lúc vừa biết thế nào là quê nhà thì cũng vừa tình nguyện đi làm lính. Ra trường được 2 năm, nước mất, Hiệp vào tù, như mọi người. Sáu năm sau, được thả, gia đình cha mẹ đã bị đưa đi kinh tế mới Xuyên Mộc, Đồng Nai, Hiệp đành về ở quê vợ.

Hắn là con trai trưởng trong nhà, gọi theo miền nam là thứ hai. Như vậy rõ ràng hắn phải là Hai Hiệp nhưng không hiểu tại sao già trẻ lớn bé nơi quê vợ đều gọi hắn là Năm! Dượng Năm, Chú Năm, Anh Năm… A, vợ hắn có cái tên cúng cơm rất dễ chịu là Huỳnh Thị Bé Năm, chắc họ tưởng cô nàng thứ năm nên gọi theo thứ của vợ? Mà cũng không được, hết cái làng nhỏ xíu này, đầu trên xóm dưới ai cũng có dây mơ rễ má với nhau, không bà con gần thì cũng họ hàng xa (dĩ nhiên cũng có một mớ bà con đầu ông trời), chẳng lẽ người ta không biết vợ hắn là đứa con cu ky của ông bà Năm Cầm? A, hay là chơi theo kiểu cá kèo một lứa đây? Ông bà già vợ thứ Năm, con vợ tên là Năm vậy thì dện cho thằng rể một cái thứ Năm cho êm? Để rồi tự nhiên hắn trở thành Năm Hiệp một cách vui vẻ, thỏa thuận. Bằng chứng là không bao giờ nghe ai đó kêu Dượng Năm, Anh Năm…mà hắn lại tưởng họ đang gọi một tay nào đó không phải là mình.

Quê vợ Năm Hiệp nghèo lắm và tăm tối lắm. Kinh rạch chằng chịt khắp nơi, rừng cây mắm, cây giá, chà là, dừa nước chập chùng. Nhà cửa sơ sài rải rác bám theo con lộ đất duy nhất chạy dài xuống mé biển âm u. Đó là gân đất nổi, gọi là giồng, dài và mỏng như một ngón tay ốm. Xa con lộ hơn 2 công đất là đất thấp, nước mặn xâm xấp với đủ các loại cây hoang. Muỗi mòng xụp tối đã bắt đầu xôn xao dậy ổ. Đầu làng cuối xóm hun khói đuổi muỗi mịt mù. Có nhà hun bằng con cúi rơm. Có nhà hun bằng phân bò, mùi khói hăng hăng nhưng sao thân thiết lạ.

Túng nghề kiếm sống, ngoài nghề làm mướn bá nạp, vợ chồng Năm Hiệp mở tiệm bán quán. Nói nghe ghê gớm, thật ra cũng vẫn cái chòi lá đang ở, rọc cửa sổ dài thêm ra, kê thêm sát cửa sổ đó một miếng ván cũ đặt trên bốn nống cây chà là chôn dưới đất. Và chỉ vớ vẩn không hơn mươi món hàng. Nếu cần kể ra chi tiết thì đây là những món hàng ấy: mía chặt khúc, đường cát, bột ngọt, dầu lửa, hành, tỏi, nước tương, bánh, kẹo, thuốc hút, rượu đế. Hết! Đường, bột ngọt, bánh thì bỏ vào bọc mủ, hàn miệng, treo lỏng nhỏng phía trong cửa sổ mà biết bao lần những con mắt trẻ nhỏ đứng ngoài thèm khát nhìn vào. Để cho ai đó chợt nhớ thầm về một thời thơ ấu no đủ, cưng chìu của mình, và đôi lần ngăn không được nỗi xót xa, Năm Hiệp đã lén vợ cho mỗi đứa một cái bánh.

Những hôm đó, hắn tự an ủi rằng đi buôn bữa lỗ, bữa lời thì cứ coi như là bữa lỗ, có sao đâu! Mà thật ra lời lóm gì với không hơn mươi món hàng như thế. Cứ chịu khó ngồi tính nhẩm, tối đa một món lời 1 đồng thì sẽ lời được bao nhiêu?! Khách hàng quanh đi quẩn lại cũng chừng đó khuôn mặt xóm chòm. Năm khi mười thì mới có một tay đi ngang ghé mua vài điếu thuốc lẻ. Thấy con Ba Liêm thấp thoáng đầu ruộng, ở đây mẹ con đã sẳn sàng dầu lửa, chai đong. Thấy con Bảy Nó rề rề đi tới thì chắc mẻm là mua mỡ nước và vài viên kẹo công lao. Có lần mẹ nó chạy tới mắng vốn – bán gì mà mắc quá vậy, 200 đồng mỡ chỉ có chút xíu đây sao? Hỏi tới hỏi lui, hóa ra con nhỏ vừa cầm về vừa uống. Còn chút xíu đó là may rồi! Còn khách rượu thì cũng lòng vòng mấy ông anh em bà con, xa gần có đủ. Quán vốn nhỏ nhoi mà mấy cha thì quen tay ghi sổ, trả chậm mua nhanh. Thỉnh thoảng xỉn quá nên quên, nói quán ăn gian ghi thêm ghi bớt, rồi cãi lộn mà trừ! Chán quá, Năm Hiệp nói, thôi dẹp mẹ nó đi cho khỏe. Bé Năm thì kiên nhẫn có thừa. Có lẽ sáu năm nuôi chồng ở tù Cộng Sản đã dạy cho cô nữ sinh thơ ngây ngày nào trở thành một người đàn bà quán xuyến và cam chịu mọi điều. Nàng nói:

-Ráng bán bậy bạ để khỏi mua bột ngọt, dầu lửa vậy mà! Anh chịu khó đi làm mướn như mọi ngày còn quán để cho mẹ con em, từ từ rồi tính.

Tôi nghĩ như vậy cũng ổn rồi. Bán mà như không bán thì cũng được cái vui nhà vui cửa. Nhất là cho bé út Tường Vi, đứa con cầu con khẩn, mới biết bò, thỉnh thoảng vớ được nguyên cái bánh in nhai nhả lung tung!

Ở ấp kế bên có nhà chú Chín Dứt. Người con thứ hai học ở Cần Thơ, không biết nghiên cứu ở đâu trở về khai trương nghề làm bia chai. Bia không tên, không nhản, chỉ là một chất nước màu vàng đựng trong vỏ bia thiệt mua từ những chành ve chai ở trên thị xã. Uống vào không đâu ra đâu nhưng nhậu một hồi cũng có tay quay mòng, quậy dữ. Mọi người gọi là bia khùng. Bia được chế biến ẩu tả hay bia làm bợm nhậu khùng điên, nghĩa nào cũng được. Nhờ những mống ham vui, thích lạ nên bia khùng cũng phổ biến một thời. Quán nghèo Năm Hiệp từ đó có thêm món mới. Và cũng từ đó, khách rượu ghi chịu nhiều hơn, cãi lộn trừ nợ nhiều hơn. Rồi sập tiệm! Rất êm đềm, không thương tiếc gì cái ngử đó.

Dòng họ, bà con ở kế kế nhau. Sát một bên hướng mặt trời mọc là nhà Mợ Chín. Cậu Chín đã hy sinh lúc làm Xã Trưởng thời Việt Nam Cộng Hòa. Ngày đó Hiệp là tên Thiếu Úy mới ra trường, cậu Chín chưa là cậu vợ. Bởi không biết uống, Hiệp ngây thơ dứt khoát từ chối ly rượu mời nên ông Xã Trưởng hiểu lầm anh chàng này phách lối, giận không thèm nhìn mặt một thời gian. Đến khi hai bên vừa thông cảm nhau thì ông mất. Và không ngờ, sau này ông trở thành cậu vợ dù đã không còn. Mợ Chín ở với đám con. Lần lần, đám con lấy vợ, theo chồng tứ tán khắp nơi. Cuối cùng, Mợ ở với thằng con út, Út Làng. Mợ khóc lên khóc xuống vì ông quý tử này. Làm biếng như tinh, ăn nhậu quá siêng. Ngày Út Làng mới lớn, Mợ cho lên Tây Ninh học nghề thợ mộc với người anh rể. Được gần một tháng, Út trồi đầu về, ốm nhom. Mợ xót xa thương thằng con học hành cưa, bào, đục, đẻo cực khổ nơi xứ lạ quê người. Hỏi làm được gì rồi? Út nói tỉnh bơ, mắc nhậu xuyên suốt nên làm gì được! Đến bây giờ, Út cũng không khá hơn. Chỉ có cái bụng thì càng ngày càng lớn và da dẻ thì càng ngày càng xanh mét ra. Chắc Út đang tiếc không học cách đóng quan tài cho đẹp để hy vọng bỏ công ăn học chuyến này.

Cách nhà Mợ Chín một đỗi là nhà Ngọc Anh. Anh chàng này thời Việt Nam Cộng Hòa đi lính quân dịch. Bây giờ đánh bạc tối ngày. Gặp những hôm sòng bài bị động ổ, anh chàng ở không, qua nhà Năm Hiệp uống trà, nói chuyện trời trăng. Hỏi, sao không ráng cho sắp nhỏ đi học? Anh chàng đáp:

-Tui cũng học vậy! Lớp 12 trường Bồ Đề, Trà Vinh, chớ bỏ sao! Nhưng học rồi, được cái gì? Hồi xưa, sĩ quan hay lính lác gì cũng đưa lưng trâu cho mấy thằng tướng, tá làm giàu, mình bỏ xác đầy đồng, què chân cụt tay, có ai thương không? Đến khi thua trận, đến thằng tổng thống còn ôm tiền dông trước thì nói chi đến đám tướng lãnh ăn theo. Tui nhờ đem cái bằng vất đi, trốn lính rồi bị bắt quân dịch nên không bị ở tù. Bây giờ, có học cũng không qua nổi cái cửa lý lịch, bè đảng. Nghĩ đời thấy chán, học để làm gì. Bài vở, thầy cô, bận bịu suốt mười mấy năm trời, sao không nhởn nhơ như cỏ cây, đách thèm học gì hết, có ai chết vì ngu đâu?

Thì ra vì thế Ngọc Anh chán đời mới đi đánh bạc! Vợ con đùm túm nheo nhóc nuôi nhau. Hai đứa con trai, tên nghe mắc cở, thằng Cu và thằng C., nhưng hiếu thảo vô cùng, suốt ngày lặn lội đầu mương cuối bãi chài tép, câu cua về cho mẹ bán. Tư Ngọt, người mẹ, ốm cao lỏng khỏng như con cò. Có lần Tư Ngọt và Bé Năm trong mùa lúa đổ, mỗi người đều nuôi một bầy vịt con khoảng hơn hai chục. Một đêm, bầy vịt của Bé Năm không tự ên về nhà như mọi khi. Quanh khu này chỉ có hai người này nuôi nên Bé Năm chạy qua nhà Tư Ngọt tìm vịt. Mẹ con Tư Ngọt khăng khăng không biết, không có, không thấy. Vịt con giống hệt như nhau, Bé Năm đành bó bụng chạy về. Suy nghĩ một hồi, cô nàng chạy lên vấn kế cậu Ba Dùng, một tay nuôi vịt mà nên nhà nên cửa. Ba Dùng cười sằng sặc:

-Có gì đâu, ngày mai mầy ráng giữ không cho nó lùa về chuồng. Về chuồng nó cho ăn, vịt no không thèm về nhà kiếm bữa ăn thêm đâu.

Sáng hôm sau, Bé Năm và thằng con lớn thay phiên nhau canh chừng bầy vịt đang lăng xăng dưới ruộng. Cứ thấy bóng thằng Cu, thằng C. đứng trên bờ ruộng thì mẹ con vội vã chạy ra, sẳn sàng. Ai dè hai ông nhỏ chỉ đứng dòm coi bầy vịt ở đâu rồi đi trở vô. Qua xế chiều, bầy vịt tự nhiên đi hết lên lộ cái, láo nháo một chặp rồi tẽ làm hai, bầy nào về nhà nấy. Bầy về nhà Bé Năm lại dẫn thêm một em vịt đèo lù khù lờ khờ của nhà Tư Ngọt. Tức khắc, thằng Cu chạy qua, nói:

-Má con biểu qua coi có lộn vịt bên cô Năm không.

Bé Năm bắt con vịt đèo trả cho nó. Không bao lâu, thằng Cu lại xách vịt chạy qua:

-Má con nói không phải con này, vịt của con mập hơn.

Bé Năm bực mình, kêu Tư Ngọt qua, nói rằng:

-Hôm qua cả một bầy mợ mầy không biết con nào của mình nên không thấy bầy vịt của tui nhập bầy trong đó, vậy hôm nay tại sao lại biết rành con ốm, con mập? Hay là muốn tui đem chuyện này nói cho xóm làng mỗi người nghe một chút?

Mẹ con Tư Ngọt cứng họng, xách vịt trở về. Năm Hiệp an ủi vài câu cho Ngọt bớt ngượng. Tội nghiệp, chỉ vì dân quê ít học đó thôi. Ít lâu sau, Ngọt trổ bịnh lao. Nhưng quyết chí nằm chịu vì…sợ nhà thương, sợ uống thuốc! Cuối cùng, chịu không nỗi, chết tươi. Ngọc Anh về sau rửng mỡ, cưới một chị lỡ thời trong xóm, làm đám cưới đàng hoàng, rình rang. Có kêu thợ chụp hình. Ngồi ôm nhau dưới bụi cây ven đường cho thợ chụp lấy hình kỷ niệm. Lo cười cho tươi, lo ôm cho gọn đến hồi nhảy dựng, moi móc lung tung mới hay là đã ngồi ngay trên ổ kiến lửa! Có điều ly kỳ, từ đó Ngọc Anh bỏ đánh bài, chí thú làm ăn. Và nâng niu bà vợ mới.

Năm Hiệp vẫn tưởng là tên cô thân độc nhất nơi xứ vợ, không ngờ cũng có dượng Năm Úc làm bạn cùng xuồng. Quê dượng ở đâu đó bên Bến Tre. Những hôm trời lạnh, mưa phùn, dượng ngồi trong chòi uống trà, hút thuốc, đôi mắt mờ đục u buồn. Dượng nói nhớ quê, mấy chục năm rồi không trở lại. Không hiểu vì sao ngày đó dượng lưu lạc đến nơi này để rồi phải bó chân như vậy. Chỉ biết vợ con của dượng không lo lắng, săn sóc dượng đầy đủ, đàng hoàng. Nghe nói hồi còn trẻ, dì Năm hỗn hào, chửi rủa chồng suốt ngày. Tức mình, dượng lập kế chèo xuồng đưa vợ đến một khúc mương vắng rồi đập cho một trận quá tay. Đã vậy còn hăm vụt vợ xuống sông cho chết. Bà vợ kẹt cứng trên xuồng, không có đường chạy phải lạy xin tha. Có phải từ đó đã bắt đầu một mối hận thù? Hay là duyên số an bài như thế? Dượng ở luôn trong chòi giữ xà ngôm giữa đồng, ăn uống tự nấu lấy, mỗi ngày dầm mưa dãi nắng bồi thố ruộng tôm không cho lở, mội. Đến con nước có tôm, có cua, dượng đem về cho vợ con bán lấy tiền. Cực khổ và thiếu thốn nên dượng ốm nhom như con khỉ già. Dì Năm Úc tối ngày đem bánh trái, cơm nước cho mấy ông thầy chùa. Mấy người con ra riêng từ lâu, năm khi mười thì về thăm giây lát rồi đi, không để tâm chuyện cực khổ của cha.

Còn ở trong nhà là cô con út, tuổi vừa trăng tròn. Dì Năm lo xa, đôn đáo tìm rể vì sợ cô út ế chồng. Thấy anh chàng con nhà chú Chín Dứt bỏ bia khùng cho các quán mỗi ngày chạy xe đạp chở bia qua lại, vừa đẹp trai, vừa lo làm ăn, vừa mới ly dị xong, dì Năm bỏ công vài bữa cuốc bộ bốn, năm cây số đến nhà chú Chín cho này, cho kia, nói kia, nói nọ. Dĩ nhiên là tiền mất tật mang, không ăn thua gì. Lúc đó lại có một tay thợ hồ ở quận khác, Cầu Ngang, xuống làm mướn, thấy rồi thương, xin cưới cô út. Dì Năm chê hắn nghèo, không chịu. Cuối cùng, theo lời mai mối, gả về làm dâu nhà tên cán bộ huyện nào đó đã về hưu. Tưởng ấm êm phận gái, ai ngờ gặp chỗ cũng ngang ngửa với tay thợ hồ. Thì ra chỉ có cái mã. Nên cô út xác xơ như giẻ rách, vài tháng chạy về khóc lóc, thở than với mẹ. Dì Năm buồn lòng, đi chùa thường hơn. Rồi một ngày, thằng nhỏ đi chài chạy vào mếu máo cho hay dượng Năm nằm chết lạnh ngoài chòi. Năm Hiệp đứt từng khúc ruột dù thật sự chỉ là người dưng. Nơi này không đãi ngộ dượng thì cũng đành thôi, biết sao hơn?

Và hình như nơi này cũng ít khi đãi ngộ những kẻ phương xa thì phải. Anh chàng Ngưu ở Bến Giá mua dàn gánh cải lương đem về hát kiếm lời. Mỗi đêm diễn tuồng, bán vé được nhiều hay ít thì Ngưu cũng phải trả cho gánh hát một số tiền thỏa thuận nào đó, lời ăn lỗ chịu. Nhìn đoàn văn nghệ bình dân này đã thấy thảm. Vải bạt quây kín phân nửa nhà lồng chợ làm chỗ ăn ngủ, tập tuồng. Phía ngoài, sát vách là nồi niêu, soong chảo, thùng lớn, thùng nhỏ, đủ mọi thứ trên đời. Ban ngày, kép, đào, công nhân, người đu đưa trên võng, người ngồi dưới ghế cho con bú, người cười giỡn lao xao, người cãi lộn, chửi thề um sùm. Những gánh không ai mua dàn, bữa nào hát khá thì còn êm ả, bữa nào hát ế thì cãi nhau rân trời, có khi đánh nhau đùng đùng rồi rã gánh, mạnh ai nấy đi. Có khi gặp mùa lúa, kép chánh, kép phụ cũng xúm nhau đi nhổ mạ mướn kiếm chút tiền về xe. Chắc sẽ bỏ nghề?

Gánh này Ngưu mua nên có vẻ yên chí. Đêm đầu khách coi cũng đỡ. Chỉ có vải bạt quây quanh nên cũng có một mớ con nít lòn vào. Khách coi già trẻ ngồi hết dưới đất, vừa coi vừa gãi rồn rột vì muỗi đầy trời. Con nhỏ cháu Bé Năm, mẹ mới đi Trà Vinh mua cho đôi dép Nhật, hí hửng mang dép mới đi coi. Hề chọc cười nhắm mắt, nhắm mũi, đến khi vãn hát, mở mắt ra về thì đôi dép ai lấy mất tiêu. Đành thất thểu đi chân không mà về. Cười mất dép là vậy đó!

Bắt đầu từ đêm sau, khách thưa dần. Qua đêm nữa, gần nửa đêm Ngưu chạy đến nhà Năm Hiệp hỏi mượn chiếc xe đạp. Năm Hiệp sẳn sàng nhưng cũng thắc mắc:

-Đi đâu giác này, bộ có gì gấp?

Ngưu cười nhăn nhó :

-Sao mà không gấp, phải dọt lẹ nếu không chúng tới cào đầu. Lỗ quá sá, không đủ tiền chung!

Và Ngưu đạp như bay. Bến Giá còn xa hơn 12 cây số và cách một con sông rộng. Ngày hôm sau, Năm Hiệp đi lấy xe, tình cờ thấy ghe gánh hát dọn đi đang ghé nghỉ ở khúc sông đó.

Bây giờ, vợ chồng con cái Năm Hiệp cù bơ, cù bất ở đây. Nhìn quanh nhìn quất không một người bà con, dòng họ. Quê nhà đã xa nửa vòng trái đất. Những vui, những buồn chỉ còn là lãng đãng nhớ thương. Nhớ từng nơi, thương từng người, dù xấu, dù tốt. Như vết thương trầm, như người tình phụ, quê nhà nhói hoài những cơn đau vật vã trong lòng người. Và ước mơ sẽ có một ngày về lại quê xưa, khóc cười trên những bước chân qua. Thế thôi ■

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 32

Khung Trời Cũ

Đôi mắt ướt tuổi vàng khung trời hội cũ
Áo màu xanh không xanh mãi trên đồi hoang
Phút vội vã bỗng thấy mình du thủ
Thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn
Từ núi lạnh đến biển im muôn thuở
Đỉnh đá này và hạt muối đó chưa tan
Cười với nắng một ngày sao chóng thế
Nay mùa đông mai mùa hạ buồn chăng
Đếm tóc bạc tuổi đời chưa đủ
Bụi đường dài gót mỏi đi quanh
Giờ ngó lại bốn vách tường ủ rũ
Suối rừng xa ngược nước xuôi ngàn

Tuệ Sĩ

 

 

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 27

Thu Tôi

Có nghĩa gì đâu những buổi chiều như thế.

Mà linh hồn tôi lãng đãng giữa mây trời

Hình như nước mắt ai kia bên góc đời quạnh quẽ.

Rơi xuống âm thầm làm ướt dấu chân tôi.

Đâu phải vì thu làm vàng màu hoa cúc.

Mà áo ai phai từ một thuở xa người.

Giòng sông hôm nao có rộn ràng thao thức.

Nhìn qua bên kia thơm ngát những thu tôi.

Tôi biết từ đâu và tôi biết vì đâu.

Mùa trăng thiên thu còn loang vết nhớ.

Bài thơ vu vơ và lời thương yêu thật nhỏ.

Mà đau trong tôi từng phiến lá tình sầu.

Thì em cứ gọi mùa thu về kể lể.

Cho nhánh sương mù còn yên ngủ trên tay.

Và em cứ đi, đi vô cùng lặng lẽ.

Đến bên đời tôi gọi một tiếng thở dài.

Bởi bên kia sông là tình tôi ở lại.

Tiếng hát đâu đây giăng mắc những thăng trầm.

Có phải là em đứng bên bờ nhân ngãi.

Xõa tóc hong buồn trên những lối gian truân.

Tôi sẽ thấy mùa thu tôi bỗng lạ.

Nắng và mưa thành những điệp khúc vô chừng.

Và tôi cũng thấy đất trời thênh thang từng giòng sông thu rấtcũ.

Lững trôi đi,  trôi đi mà sao vẫn quanh đây?

Phạm Chinh Đông

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 19

Mộng Hiền

Gặp nhau trong giấc mộng hiền
Hôm qua thấp thoáng chút duyên tan rồi
Thâm tình giả hợp mà thôi
Đến đi mắt chớp ngậm ngùi trong nhau
Đêm trăng sáng
Trắng hoa cau
Tóc xanh ngày ấy vẫn màu tóc xanh
Trăng vào
Bóng thả trang kinh
Ngoài hiên chiếc lá
Một mình
Khẽ rơi.
Công Phu Khuya
Dậy sớm
Đun ấm trà khuya
Vuông sân lãng đãng
Ổ kìa khói bay
Nhìn qua con mắt đang cay
Ban mai muốn chớm
nụ ngày ngây thơMặt người
Còn phủ sương mờ
Ngoài kia tiếng dế
Gọi giờ công phu

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 130

5 tác phẩm Việt Nam đoạt giải cuộc thi ảnh quốc tế

Tác phẩm “Vượt qua đồi cát” của nhiếp ảnh gia Việt Nam Lê Minh Quốc giành chiến thắng tại hạng mục khu vực Đông Á và Thái Bình Dương của cuộc thi ảnh CGAP 2015.
Nhóm tư vấn hỗ trợ hộ nghèo (CGAP) tổ chức một cuộc thi ảnh hàng năm nhằm vinh danh các nhiếp ảnh gia giúp thúc đẩy quá trình hòa nhập tài chính cho người nghèo trên thế giới. Lê Minh Quốc, một nhiếp ảnh gia đến từ Việt Nam với tác phẩm “Vượt qua đồi cát”, đã chiến thắng tại hạng mục khu vực Đông Á và Thái Bình Dương. Nicole Crowde, nhiếp ảnh gia của The Washington Post và là thành viên ban tổ chức cuộc thi, nhận xét: “Bức ảnh khiến bạn tò mò và muốn biết nhiếp ảnh gia đã chụp nó bằng cách nào”. Ảnh: Lê Minh Quốc
Nhiếp ảnh gia Lộc Mai, Việt Nam, đoạt giải khuyến khích với tác phẩm “Hành trình tiếp theo”. Những phụ nữ trong ảnh sống trong một làng chài ở Nha Trang. Họ đang sửa lưới đánh cá để chồng của họ sử dụng trong chuyến ra khơi tiếp theo. Ảnh: Lộc Mai
Tác phẩm “Thu hoạch trứng vịt” của nhiếp ảnh gia Trần Văn Túy ở Việt Nam đoạt giải khuyến khích. Ban tổ chức cuộc thi bình luận: “Bức ảnh khiến bạn thực sự thấy rằng chương trình tài chính có thể giúp cuộc sống của bạn trở nên tốt hơn”. Ảnh: Trần Văn Túy
Tác phẩm “Buổi sáng” của tác giả Đỗ Hiếu Liêm, Việt Nam, đoạt giải khuyến khích. CGAP cho biết, khoảng 10% dân số thế giới sống dựa vào nghề đánh bắt, sản xuất thủy sản và hải sản. Ở Việt Nam, công việc này mang lại một nguồn thu nhập đáng kể. Ảnh: Đỗ Hiếu Lâm
Ngô Quang Phúc, một nhiếp ảnh gia Việt Nam, giành giải khuyến khích với bức ảnh những người làm nghề đẩy xiệp tại thị trấn ven biển Bạc Liêu. Dù lao động rất vất vả, thu nhập của họ rất thấp. Ảnh: Ngô Quang Phúc
Tác phẩm “Trồng lúa” của tác giả Sujan Sarkar, Ấn Độ, đoạt giải thưởng cao nhất của cuộc thi. Nó mô tả cảnh một gia đình làm việc trên ruộng lúa ở Tây Bengal, Ấn Độ. Corinne Dufka, một thành viên của ban tổ chức cuộc thi, nhận định, bức ảnh miêu tả thành công một hoạt động nông nghiệp. Ảnh: Sujan Sarkar
Tác phẩm “Làm việc trên núi” của tác giả Tatiana Sharapova, Nga, khắc họa một bà lão người làm việc tại một cánh đồng trên núi ở Ấn Độ. Bà trồng rau để bán ở chợ. Ảnh: Tatiana Sharapova
TIN TÀI TRỢ
 
Giải nhì của cuộc thi thuộc về nhiếp ảnh gia Li Ming Cao của Trung Quốc với bức ảnh ngư dân quăng lưới đánh cá vào sáng sớm. Sau đó, ông lão bán cá ở chợ để kiếm tiền. Ảnh: Li Ming Cao
M.Yousuf Tushar, nhiếp ảnh gia người Bangladesh, giành giải khuyến khích khi chụp một người đàn ông làm hạt trầu để bán tại khu vực Teknaf, Bangladesh. Ảnh: M.Yousuf Tushar
Người đoạt giải cao nhất trong hạng mục khu vực Đông Âu và Trung Á thuộc về tác giả Bulent Suberk, Thổ Nhĩ Kỳ, với tác phẩm “Cà chua”. Ảnh mô tả một gia đình nông dân ở làng Bursa Aksu, Thổ Nhĩ Kỳ đang làm bột cà chua. Ảnh: Bulent Suberk
Hailey Tucker, một công dân Mỹ, giành giải nhất trong hạng mục khu vực châu Phi cận sa mạc Sahara với bức ảnh người nông dân thu hoạch ngô tại Tanzania. Ảnh: Hailey Tucker
Người phụ nữ trong ảnh đang phơi khô nguyên liệu làm mũ Panama ở Ecuador. Ảnh: Luis Sanchez Davilla
Bức ảnh một chàng trai trẻ làm việc cùng cha trong một cửa hàng của Subhasis Sen, một người Ấn Độ, đoạt giải khuyến khích. Ảnh: Subhasis Sen
Ảnh “Chăn gia súc vào buổi sáng” của Li Ming Cao tại Trung Quốc đoạt giải khuyến khích. Ảnh: Li Ming Cao 
Trong tác phẩm đoạt giải ba của nhiếp ảnh gia Pranab Basak, Ấn Độ, một thiếu nữ đang giúp cha sản xuất đồ gốm. Ảnh: Pranab Basak
Kim Ngân
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 74

Đóa Hoa Sen Vàng

Sen vàng bừng nở hồ trong

Lá xanh màu biếc, gương lồng sắc hoa

Cánh vàng rực rỡ ngọc ngà

Hương sen bát ngát thoảng xa khắp trời

Hồ sen nắng chiếu sáng ngời

Đài sen như thể bệ ngồi Như Lai

Lòng thành dâng ngập trong ngoài

Nhất tâm cầu nguyện cho hai chúng mình

Ngày đêm tinh tấn tu hành

Mai sau cõi Phật sẽ thành cư dân

Ngắm hoa thấy suốt hồng trần

Thấy đời dương thế, thấy phần tương lai

Trông vời hải giác sơn nhai

Kiên trì gạn kỹ rửa hoài tâm trung

Bao giờ tâm thức trắng trong

Liên đài vinh ngự nhung hồng kiêm liên

Hoàng Duy

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 75

Đồ Bàn Phế Đô

Phế Đô còn lại những gì nay

Tháp cổ hoang tàn rải đó đây

Gạch đỏ đền vàng rơi rụng khắp

Rêu xanh miếu bạc xác xơ bày

Cát Tiên sạt lở thành không cánh

Hưng thạnh nằm riêng hóa lạc bầy

Máu rỉ liên miên viên đá khóc

Hồn Chiêm phiêu bạt biết chăng này!

Hoàng Duy

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 100

Tranh Lụa

Tranh Việt ở đầu thế kỷ 20 có rất nhiều bức được thế giới biết đến và sẵn sàng trả giá cao, trong đó, có bức đã được mua với giá lên tới hơn gần  400.000  Euros

Mỹ thuật Việt Nam đầu thế kỷ 20 chứa đựng vẻ đẹp nghệ thuật ấn tượng và vẻ đẹp văn hóa đậm đà. Sự kết hợp ý vị đã khiến tranh của các họa sĩ Việt ở đầu thế kỷ 20 luôn thu hút người mua trên khắp thế giới mỗi khi xuất hiện trở lại tại các cuộc đấu giá:

 
Bức “Bức màn tím” của
Bức “Bức màn tím” của họa sĩ Lê Phổ được thực hiện trong khoảng thời gian từ 1942-1945. Tháng 4/2012, tại Hồng Kông, bức “Bức màn tím” đã được bán đấu giá với mức giá 2,9 triệu đô la Hồng Kông (hơn 8 tỉ đồng). Tại thời điểm này, đây được coi là mức giá cao nhất từng được trả cho một tác phẩm mỹ thuật của một họa sĩ Việt Nam.

Bức “Nhìn từ đỉnh đồi” của họa sĩ Lê Phổ được thực hiện năm 1937. Bức họa đã đạt mức giá bán 840.000 đô la Mỹ (18,2 tỉ đồng) hồi tháng 11/2014 khi được rao bán đấu giá tại Hồng Kông. Hiện đây là bức tranh đắt giá nhất của một họa sĩ Việt Nam từng xuất hiện tại một cuộc đấu giá.
 
Họa sĩ Lê Phổ (1907-2001) là họa sĩ bậc thầy của Việt Nam theo trường phái hậu ấn tượng. Sự nghiệp hội họa của ông đã để lại cho hậu thế nhiều tác phẩm đắt giá. Lê Phổ còn được mệnh danh là “cây đại thụ” trong làng mỹ thuật Việt Nam. Từ năm 1937, ông sang Pháp và định cư ở Paris.
Hình ảnh người phụ nữ Việt xuất hiện trong nhiều tác phẩm của Lê Phổ. Ở giai đoạn đầu (1934-1945), người phụ nữ trong tranh ông thường mỏng manh, e ấp, toát lên sự trang nhã, nhẹ nhàng, duyên dáng. Giai đoạn tiếp theo (từ những năm 1950), tranh sơn dầu Lê Phổ vẫn đặt phụ nữ là tâm điểm, nhưng có thêm những nét tự do, phóng khoáng.
Phần lớn cuộc đời mình, dù định cư tại Pháp, nhưng họa sĩ Lê Phổ vẫn luôn nhắc nhớ về quê hương, đất nước với những tình cảm sâu đậm. Trong tranh ông, những nét đặc trưng về Việt Nam luôn được thể hiện đậm đà, qua hình ảnh người phụ nữ, trẻ thơ và thiên nhiên.
 
Bức “Hái cây thuốc” củahọa sĩ Lê Phổ, vẽ năm 1932.
Bức “Hái cây thuốc” của họa sĩ Lê Phổ, vẽ năm 1932.


 
Bức “Hái cây thuốc” củahọa sĩ Lê Phổ, vẽ năm 1932.
Bức “Hai chị em gái” được thực hiện năm 1940. Tác phẩm từng được bán đấu giá ở Hồng Kông và đạt mức giá 250.000 đô la Hồng Kông (hơn 700 triệu đồng).


 
Bức “Hái cây thuốc” củahọa sĩ Lê Phổ, vẽ năm 1932.
Bức “Gia đình nhỏ” được thực hiện năm 1940. Tác phẩm từng đạt mức giá 740.000 đô la Hồng Kông (2 tỉ đồng).


 
Bức “Hái cây thuốc” củahọa sĩ Lê Phổ, vẽ năm 1932.
Bức “Chân dung thiếu phụ và hoa sen” của Lê Phổ, thực hiện năm 1939, từng đạt mức giá 1.240.000 đô la Hồng Kông (gần 3,5 tỉ đồng).


 
Bức “Mẹ và con” từng đạtmức giá 1.160.000 đô la Hồng Kông (hơn 3,2 tỉ đồng).
Bức “Mẹ và con” từng đạt mức giá 1.160.000 đô la Hồng Kông (hơn 3,2 tỉ đồng).


 
Bức “Chân dung một cậubé Việt Nam” từng đạt mức giá 225.000 đô la Hồng Kông (631 triệu đồng).
Bức “Chân dung một cậu bé Việt Nam” từng đạt mức giá 225.000 đô la Hồng Kông (631 triệu đồng).


 
Bức “Đi tắm” được thựchiện năm 1937-1938, có giá 562.500 đô la Hồng Kông (gần 1,6 tỉ đồng).
Bức “Đi tắm” được thực hiện năm 1937-1938, có giá 562.500 đô la Hồng Kông (gần 1,6 tỉ đồng).


 
Loạt tranh về hoa của họasĩ Lê Phổ.
Loạt tranh về hoa của họa sĩ Lê Phổ.


 
Bức “Hoa loa kèn” của họasĩ Lê Phổ có giá 187.500 đô la Hồng Kông (526 triệu đồng).
Bức “Hoa loa kèn” của họa sĩ Lê Phổ có giá 187.500 đô la Hồng Kông (526 triệu đồng).


 
Bức “Hai thiếu nữ” của
Bức “Hai thiếu nữ” của họa sĩ Mai Trung Thứ vẽ năm 1942.


 
Bức “Giai điệu” của họasĩ Mai Trung Thứ.
Bức “Giai điệu” của họa sĩ Mai Trung Thứ.


 
Bức “Giai điệu” của họasĩ Mai Trung Thứ.
Bức “Người phụ nữ nhìn qua ban công” của họa sĩ Mai Trung Thứ, vẽ năm 1940, từng được bán đấu giá tại Hồng Kông với mức giá 600.000 đô la Hồng Kông (gần 1,7 tỉ đồng).


 
Bức “Giai điệu” của họasĩ Mai Trung Thứ.
Bức “Năm cô gái trẻ” của họa sĩ Mai Trung Thứ từng được bán đấu giá với mức giá 625.000 đô la Hồng Kông (hơn 1,7 tỉ đồng).
 
Mai Trung Thứ (1906-1980) là một hoạ sĩ nổi tiếng khác của nền mỹ thuật hiện đại Việt Nam những năm đầu thế kỷ 20. Ông là một trong những họa sĩ tốt nghiệp khóa đầu tiên của Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (1925-1930).
Phần lớn cuộc đời ông sống và hoạt động nghệ thuật tại Pháp. Tên tuổi ông trong lĩnh vực hội họa gắn liền với những tác phẩm tranh lụa về phụ nữ, trẻ em, và cuộc sống thường nhật với những góc nhìn mang đậm màu sắc văn hóa Á Đông.
Mai Trung Thứ được coi là họa sĩ góp phần quan trọng tạo nên sự phong phú về màu sắc trong tranh lụa Việt Nam
 
Bức “Cô hàng xén” của
Bức “Cô hàng xén” của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh.


 
Bức “Hầu đồng” vẽ năm1931 của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh.
Bức “Hầu đồng” vẽ năm 1931 của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh.


 
Bức “Hầu đồng” vẽ năm1931 của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh.
Bức “Người bán gạo” của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh vẽ năm 1932. Tháng 5/2013, tác phẩm mỹ thuật này đã được bán với mức giá 390.000 đô la Mỹ (gần 8,5 tỉ đồng) tại Hồng Kông. Khi đó, tác phẩm đã lập kỷ lục về mức giá trả cho một tác phẩm mỹ thuật của họa sĩ Việt Nam.
 
 
 
Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) là một danh họa trong nghệ thuật tranh lụa Việt Nam. Trong cuộc Đấu xảo thuộc địa năm 1931 tổ chức tại Paris, Pháp, những tác phẩm mỹ thuật của Nguyễn Phan Chánh đã gây được tiếng vang lớn. Ông được xem như một trong những họa sĩ tiêu biểu cho nền hội họa Đông Dương.
Với những thành tựu trong sự nghiệp sáng tác, Nguyễn Phan Chánh từng được mời tham gia giảng dạy mỹ thuật tại một số trường học, trong đó có trường Bưởi và trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội. Ông đã góp phần đào tạo nhiều thế hệ họa sĩ Việt Nam sau này. Ông là họa sĩ đang nắm giữ kỷ lục về số tác phẩm trưng bày tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam.
 
Bức “Thiếu nữ uống trà”của họa sĩ Vũ Cao Đàm (1908-2000).
Bức “Thiếu nữ uống trà” của họa sĩ Vũ Cao Đàm (1908-2000).


 
Bức “Thiếu nữ uống trà”của họa sĩ Vũ Cao Đàm (1908-2000).
Các loại triều phục của triều đình nhà Nguyễn do họa sĩ Nguyễn Văn Nhân thực hiện. Bộ tranh gồm 54 bức màu nước đã đạt mức giá bán 680.000 đô la Hồng Kông (gần 2 tỉ đồng).


 
Bức “Thiếu nữ uống trà”của họa sĩ Vũ Cao Đàm (1908-2000).
Bộ tranh gồm 51 bức màu nước vẽ năm 1889 khắc họa quang cảnh miền Bắc Việt Nam được thực hiện bởi họa sĩ Lam Thu Hau (tên viết không dấu trên trang web chính thức của nhà đấu giá Sotheby). Bộ tranh được bán với giá 524.000 đô la Hồng Kông (gần 1,5 tỉ đồng).


 
Bức “Thiếu nữ uống trà”của họa sĩ Vũ Cao Đàm (1908-2000).
Bức “Đứa em nhỏ” của họa sĩ Trần Bình Lộc (1914-1941) vẽ năm 1936, có giá 427.500 đô la Hồng Kông (1,2 tỉ đồng).


 
Bức “Đường lên Chùa Thầy”của họa sĩ Trần Duy (1922-2014).
Bức “Đường lên Chùa Thầy” của họa sĩ Trần Duy (1922-2014).


 
Bức “Đường lên Chùa Thầy”của họa sĩ Trần Duy (1922-2014).
Bức “Hai người phụ nữ trẻ” của họa sĩ Tran Van Tho (1917-?, tên viết không dấu trên trang web chính thức của nhà đấu giá Sotheby) được bán với giá 52.500 đô la Hồng Kông (147 triệu đồng).
 
Bích Ngọc
Tổng hợp
 




 
 

 

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 1234

Lão Ăn Mày

Qua thiền môn: thấy trời xanh
Kim Cang kinh tụng chân thành từng trang
Khói hương quyện, cảnh mơ màng
Hư không là chiếc y vàng quấn thân

Thiền môn xưa sạch phong trần
Kim Cang kinh khép trầm luân thoát rồi
Ta từ sanh tử về chơi
Ngồi trên chót đỉnh mỉm cười với trăng

Thân ta là giải đất bằng
Tâm ta là nước sông Hằng mênh mông
Tình ta là đóa hoa hồng
Ý ta là cả cánh đồng tâm linh

Còn đâu nữa Kim Cang kinh
Thiền Môn biến mất mà mình vô ngôn
Bình minh về ngập hoàng hôn
Kêu lên một tiếng tỉnh hồn ngàn xưa

  Huyền Không

 

 

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 23

Khuya

Khuya

Nghiêng đôi vai

bờ nghiệp trần vẫn nặng

Cội thâm ân

sừng sững núi ngang đầu

Hoa lau cuộn

từng nỗi niềm lắng xuống

Mặt mờ sương

chuông vọng đến từ đâu

công phu khuya

từng giọt

nối vào nhau

không có chữ

sông một giòng bất tuyệt

thuyền bến vắng

nở vầng trăng cổ tích

soi giữa lòng

cùng tận giấc chiêm bao.

Mùa trăng

Đi về đâu

Hơi thở nối vào nhau

Hương khuya khoắt trái đầu mùa mới chín

Bên song cửa

cả mùa trăng an tịnh

Rọi hư không

mười cõi

xuống đêm rằm

Đi về đâu

giòng niệm cuốn vào nhau

mưa đã kín

phía chân trời xa tắp

Một vầng trăng ta thắp

Đêm mù sương

Trời trở gió rưng rưng

Nhìn ra bốn hướng mây xiêu bạt

Giường lạnh

Mây qua tới chỗ nằm.

    BGSG

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 62

Thiên Thai

Ngày xưa Lưu Nguyễn viếng tiên chơi

Cảnh sắc Thiên Thai khác đất người

Trà rượu thơm ngon tiên lão uống

Bướm hoa tươi đẹp mỹ nhân cười

Thư sinh lạc lối xem vui quá

Tiên chúa hân hoan chọn mất rồi

Sống cõi Đào Nguyên lâu cũng chán

Trần gian lưu luyến phải về thôi

 Trần Đạo Đông

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 155