All posts by khuonmatvannghe

Sài gòn 40 Năm

  Song Lam

1sg222Cuối cùng thì tôi cũng về cái ổ của mình. Nằm thẳng cẳng, hai tay đan trên ngực, mắt nhắm nghiền, tôi giống hệt như những người được Chúa gọi về. Chỉ có khác đôi điều là còn thở phì phò và trái tim còn đập lổn nhổn khi trồi khi sụt. Ba tuần lễ ở Sàigon để thăm lại người mẹ ra đi năm ngoái, tôi như con thú hoang đi lạc. Mọi thứ đều lạ lẫm, trễ tràng. Sàigon thật sự không còn của riêng tôi.

Đứng thật lâu ở cửa Tây chợ Bến Thành, ngay tiệm vàng Nguyễn Thế Bài trước 75, tôi không hiểu mình muốn tìm gì, gặp ai trong lúc này. Con đường Lê Thánh Tôn ngày xưa đi học bằng xe đạp đôi lần dừng lại vì xe bị tuột sên, có ít nhất vài anh con trai tới sửa dùm. Bây giờ, đứng đây cả buổi, nhìn ngó tứ tung, chẳng có ma nào ngó tới tôi. Buồn tình, tôi đi lang thang. Đi bộ lòng vòng ngang kem Bạch Đằng, tôi ngán ngẫm chẳng thèm vào. À, nhà sách Khai Trí cũ đây rồi. Vô chút. Hình bóng cũ nào còn đây, sách vở ích gì cho buổi ấy? Tôi mua vài quyển sách dạy nhạc, Tự học Tây Ban Cầm với ước mong dợt lại bài Thu Ca ngày nào, bài dư âm kỷ niệm ngày hai đứa mới quen nhau, bài Thuyền và Biển mà mấy đứa em già chế lại hát như thế này: “Nếu phải sống xa em, anh chỉ còn bão tố. Nếu phải sống bên em, anh chỉ còn… cái khố.”

Bùng binh Sàigon ngày nào có tượng đài Trần Nguyên Hãn oai phong, tượng nữ sinh Quách thị Trang bằng đá trắng… nay đã mất tăm, mất tiêu. Xe cộ thật nhiều, ồ ạt, ào ào khiến tôi chóng mặt.

Sàigòn bây giờ đầy dẫy, ngập tràn nhà cao tầng không khác gì các đô thị văn minh Âu Mỹ. Sàigon có Bicotex Trung tâm tài chính, mà dân Saigon gọi là bà đầm bưng mâm xôi, Saigon có Center Tower 72 lầu, Saigon có đường hầm bắc qua sông Thủ Thiêm. Bến đò Thủ Thiêm bên bến sông Bạch Đằng năm xưa chạy xập xình, ành ạch sóng nước cả ngày cả đêm nay đã không còn. Con đò Thủ Thiêm đã lùi vào dĩ vãng! Trong trí nhớ người dân Sàigon vẫn còn câu hát: “Bắp non đem nướng lửa lò. Đố ai ve được con đò Thủ Thiêm”. “Con đò” Thủ Thiêm tức là cô lái đò trẻ tuổi xinh đẹp chèo đò đưa khách sang sông. Tôi thích quá chừng chữ “ve” này, mà chữ “cua” hay chữ “dê” không tài nào sánh kịp!

Sàigon có cầu vượt, có xa lộ Đông Tây, có siêu thị lớn nhỏ sang trọng không thua gì ở Mỹ. Sàigon có tất cả, nhưng Saigon không có nụ cười.

Sàigon không có nụ cười? Các bạn có cho rằng tôi nói quá sự thật không? Một lần nữa, tôi xin xác định: Saigon không có nụ cười. Trong công việc hàng ngày của tôi, tôi cười với khách hàng hàng trăm lần, nói hai chữ “cám ơn” hàng ngàn lần. Saigon không có được chuyện này.

Hàng ngàn chiếc xe gắn máy đổ xô ra đường mỗi giờ, mỗi ngày, mọi người chen lấn nhau, tranh giành nhau từng centimet đường, mặt mày hằm hè như sắp sửa gây gổ, chửi mắng nhau và mặt lạnh như… tiền Việt Nam. Vào cơ quan chính quyền, quý vị sẽ thấy được sắc mặt này: họ nhìn mình ghẻ lạnh, soi mói coi mình thuộc tầng lớp nào trong xã hội, họ nhìn qua cách ăn mặc để đoán xem mình có tiền nhiều hay ít… ôi cái nhìn xa lạ, dửng dưng, không có một chút tình cảm con người nào hết. Sao kỳ vậy cà? Tôi tự hỏi mình. Biết hỏi ai bi giờ?

Saigon có những bộ trang phục đắt tiền, những chiếc xe hơi bạc triệu, những biệt thự sang trọng với phòng master bedroom dát vàng ròng bốn số chín, nhưng Saigon không có được tình yêu thương. Saigon vắng bóng lòng nhân ái và chết tiệt sự bao dung.

Những ngày cận kề Christmas, Saigon treo đèn kết hoa cùng khắp những con đường lớn. Những công trình xây dựng còn dang dở khắp nơi gây ra sự kẹt xe dữ dội vào những giờ cao điểm. Dân Saigon ăn nhậu tối ngày, từ sáng sớm cho tới giữa khuya. Quán nhậu san sát, từ bò dê cao cấp cho đến rắn mối thằn lằn. Hình như mọi người đang lâm vào cảnh mê hồn trận cứ ăn nhậu thả cửa chừng nào chết hẳn hay. Tôi có những đêm Saigon mất ngủ triền miên vì tiếng xe gắn máy ầm ầm trong từng hang cùng ngõ hẹp. Bốn năm giờ sáng lại nghe rội rã tiếng rao hàng: “Bánh mì nóng đây, bánh mì nóng đây”. Saigon lúc nào cũng hực hở lửa nóng, rít rịt tay chân, chỉ nhờ mong ngọn gió mát bất chợt.

Tuổi trẻ Saigon bây giờ cao hơn, đẹp hơn, sang trọng hơn. Con gái ra đường không ai biết đẹp hay xấu, cao hay thấp, da trắng mịn màng hay đen thui rổ chằng chịt, vì họ trùm kín mít, chỉ chừa hai con mắt vẽ chỉ đen thui, lạnh lùng. Ai cũng chen lấn, vội vã, chụp giựt. Và hoàn toàn không có một nụ cười nào hết. Ở Saigon ba tuần, tôi không biết mình cười được bao nhiêu lần, chỉ thấy lòng trĩu nặng sầu thương.

Đã nhiều lần tôi thấy được những người già như tôi đã về hưu ngồi trong nhà thu lu bất động. Nếu không bận rộn được làm ô-sin không công cho con cháu thì họ cứ ngồi trước bực cửa nhìn ra ngoài đường. Họ ngồi đó, buồn, bất động và héo tàn.

Central Tower lộng lẫy sửa soạn chào mừng năm mới 2015, sẵn sàng giơ cao dao sắc chém ngọt khách hàng. Ly kem bạc hà chỉ có hai viên kem tròn vo lớn hơn cái trứng cút chút xíu, trả 11 dollars cho tui. Trời ơi giá cả hơn cả bên Mỹ. Nhưng lo gì. Đại gia thừa tiền lắm bạc, “bi nhiêu bi!”

Saigon cũng có những buffet đắt tiền dành cho nhà giàu mới mở mắt sau này như ở Hoàng Yến, Newworld, nhất là ở nhà hàng năm sao Newworld này, ăn trưa 26 dollars và ăn tối 42 dollars trong khi người lao động buôn gánh bán bưng chỉ mong kiếm được 2 dollars/ngày (42.000 đồng Việt Nam). Saigon ơi, nhức nhối lòng tôi.

Mở mắt chào đời ở Saigon, sống và thở với Saigon qua bao nhiêu thăng trầm của đất nước, của thời cuộc, tôi vẫn ôm Saigon vào trong lồng ngực tưởng như lúc nào cũng son trẻ của mình. Xa Saigon 40 năm, Saigon đã ngủ vùi 40 năm, Saigon đã mất đi vẻ thơ mộng, lãng mạn, đã mất đi hoàn toàn văn hóa phương Nam, để trở thành thứ lai căng chú kiết, Tây chẳng ra Tây, Tàu chẳng ra Tàu. Saigon bây giờ vẫn đang còn một triệu ba trăm ngàn người nghèo khổ đói khát lầm than. Có những cái chết vội vàng non yểu, trăm thứ bệnh lạ do thực phẩm độc hại mang đến, Saigon có trăm ngàn chuyện giả từ lông mi giả đến tôm khô, bánh tráng, gạo lúa ăn uống hàng ngày.

Bên cạnh những building cao vòi vọi, những nhà hàng sang trọng, những resort năm sao, quý bạn đọc sẽ còn thấy được những trường học xuống cấp thê thảm, những bệnh viện ghẻ lở hoang phế hàng trăm năm không sửa sang. Quý bạn đọc hãy ghé mắt vào bệnh viện T.C ở Saigon để thấy bệnh nhân nằm la liệt từ hành lang cho đến trước cửa nhà vệ sinh, nằm luôn cả dưới gầm giường. Y tế quả là quá tải và giáo dục đi đoong. Chúng tôi đến thăm đứa cháu họ tại phòng vô trùng của Trung tâm huyết học mà sững sờ: thằng nhỏ chuẩn bị trình luận án tốt nghiệp cao học kinh tế, lại được phát hiện bị ung thư máu. Tôi phát khóc khi nhìn bốn thanh niên trẻ không quá 25, mặt mũi sáng láng khôi ngô với những cái đầu trọc lóc vì vừa trải qua mấy đợt Chemo. Những khuôn mặt trắng bệt đang cần vô máu, mà xác suất sống còn chỉ có từ 20-25% đã làm tôi đau lòng, không biết phải nói gì để an ủi các cháu. Không ai trả lời được câu hỏi tại sao trong khi tiền đóng cho bệnh viện cao ngất ngưỡng được tính bằng hàng chục ngàn dollars, cha mẹ các cháu phải cầm cố nhà cửa, ruộng vườn…

Làm sao ngoảnh mặt quay lưng với cảnh đời trái ngược ở Saigon: bên cạnh cuộc sống xa hoa dư thừa phủ phê của kẻ có quyền lực, vẫn còn hằng hà sa số cuộc đời của những con người Việt Nam bần cùng đói khát kiếm ăn từng bữa toát mồ hôi, còn những mồ hoang mả lạnh, còn bao nhiêu cái chết tức tưởi, âm thầm… những người muôn năm cũ hồn ở đâu bây giờ? (Vũ Đình Liên-Ông Đồ). Người lính cũ VNCH, người thương phế binh của chế độ cũ vẫn còn sống vất vưởng, lê la đầu đường xó chợ mà sự giúp hàng năm của đồng bào hải ngoại vẫn không thấm thía vào đâu! Chương trình “Cám ơn Anh” hàng năm ở California với số thu lên đến bảy tám trăm ngàn dollars vẫn còn quá ít so với nỗi đau quá lớn, những thương tật trùng điệp của hàng chục ngàn chiến binh sau 75. Chúng ta đời đời chịu ơn họ, cái ơn sâu không bao giờ trả nổi…

Saigon thân yêu của tôi ơi. Em đã ngoài 40 từ 1975, tù dạo người Saigon ken chân vội vã chen lấn xuống tàu bạt mạng thừa sống thiếu chết vượt trùng dương tìm đường trốn chạy, biết bao người đã chìm sâu đáy nước, biết bao nhiêu người lưu lạc phương trời?

Biết nói gì với em hôm nay, Saigon 40? Hôm nay thăm lại Saigon, em chỉ còn trong tôi hình bóng cũ: Con đường Bà Huyện Thanh Quan những chiều tan học mát rượi lối đi, vòng xe quay thanh thản nói cười với bạn, tà áo dài trắng quấn quít mối tình đầu.

“Saigon ơi, tôi đã mất người trong cuộc đời. Saigon ơi, thôi đã hết thời gian tuyệt vời…” (Saigon ơi vĩnh biệt-Nam Lộc)

Tôi vẫn còn hoài hình ảnh Saigon tráng lệ, tươi đẹp trong trái tim già nua khô héo của mình. Và Saigon ơi, tôi còn mãi Saigon xưa trong trí nhớ.

II.

Tôi trở lại Valley Forge vào những ngày cuối của năm 2014, tôi nghe lòng giá buốt với cái lạnh 6 độ F về đêm và những tai ương nổ ra từ khắp thế giới trong khi năm 2015 từng bước đến gần. Hai cảnh sát viên New York bị kẻ gian sát hại ngày 20/12 là vết thương lớn cho nhân dân Mỹ, đặc biệt là cộng đồng New York. Sự sát hại đó có lẽ bắt nguồn từ sự phân biệt chủng tộc âm ỉ, dai dẳng sau khi người thanh niên Michael Brown ngả xuống từ viên đạn của người cảnh sát da trắng trong tháng 8/2014. Và chỉ một tuần sau 28/12, Air Asia của Malaysia mang biển số 8501 lại bị rớt ở đáy biển Java mang theo 162 hành khách và phi hành đoàn, trong khi vừa cất cánh từ Jakarta (Indonesia) đi Singapore được 45 phút…

Dù vậy, ở Times Square New York, trái cầu mà cả thế giới dõi mắt mong chờ count down như một thông lệ chào mừng năm mới, với hy vọng sẽ tốt đẹp hơn năm cũ, đã qui tụ hàng trăm ngàn người trẻ tuổi bất chấp cái lạnh giá mùa Đông. Ở quanh vùng chúng tôi cư ngụ, Valley Forge Casino đã chuẩn bị hàng trăm chai Champagne sẳn sàng mở nnắp để đón khách. Liệu 2015 có khá hơn chăng?Ai mà biết được?

Tôi đã não lòng với đồng hương của tôi ở Saigon Việt Nam, tức Saigon lớn. Còn Saigon nhỏ? Khi nghĩ đến Little Saigon là tôi có chút vui. Sao kỳ vậy cà? Saigon nhỏ hình thành khắp nơi trên thế giới, nơi có người Việt Nam sinh sống và thành lập cộng đồng. Phải chăng người Việt Nam tị nạn khắp nơi trên thế giới muốn tìm lại những gì đã mất? Vì Saigon lớn không còn của mình nữa, mà là của họ, của người chủ mới!

Những lần đến Little Saigon ở Cali, tôi tìm lại được hình ảnh quá khứ, rất Việt Nam. Hình ảnh chiếc áo bà ba, vành nón lá, tà áo dài thanh tú ngày xưa đã không còn thấy ở Saigon lớn, lại vẫn ung dung hãnh diện khoe khoang ở Saigon nhỏ, đặc biệt tôi tìm thấy được con người Saigon xưa với đặc trưng văn hóa Saigon và tôi có được từ họ, những nụ cười thân ái.

Làm sao nói hết được những gian khổ, nhục nhằn của người Việt Nam lưu lạc nơi xứ người từ 40 năm qua? Họ đã từ bỏ hết những gì có được trong tay để làm lại từ đầu bằng bất cứ công việc gì, vị trí nào để mưu sinh nuôi sống gia đình, gầy dựng cuộc sống mới. Biết bao mồ hôi nước mắt đã tuôn đổ cho 40 năm lưu vong? Hai ba giờ sáng phải trở dậy đáp xe buýt đến chỗ làm với đồng lương rẻ mạt, phải sinh hoạt trong những điều kiện eo hẹp, phải tiết kiệm từng đồng bạc kiếm được, và cũng không thiếu những ê chề, tủi nhục trong quãng đường dài nơi xứ người. Nhưng người Việt Nam với bản tính chịu khó, cần cù, chịu đựng gian khổ để gầy dựng tương lai cho thế hệ thứ hai.

Sau 40 năm ròng, lớp người thế hệ thứ nhất đã già rồi, một số người đã ngàn đời yên nghỉ, để lớp trẻ đầy đủ năng lực, trưởng thành vươn lên nơi quê hương thư hai này. Họ có mặt ở các ngành nghề với vai trò lãnh đạo và thật sự bước vào chính trường của Mỹ như Janet, Trí, Andrew… ở Little Saigon Nam Cali, như Nguyễn Xuân Hùng ở Texas hay Tâm Nguyễn ở San Jose… Công việc của họ hãy còn ở phía trước, trong đó có dự định đề nghị Thượng Viện Mỹ can thiệp cho người lính cũ VNCH, những thương phế binh sống vất vưởng ở quê nhà được định cư sang Mỹ, sang Uc để bù đắp phần nào thiệt thòi của họ. Chúng ta hãy cầu nguyện cho mộng ước này thành sự thật!

Người Saigon sống dễ dãi, chan hòa tình cảm với mọi người, với bà con hàng xóm láng giềng, với đồng hương đồng khói. Người viết cứ tự hỏi mình hoài: Ở Cali có nhiều hội đoàn, như Hội Nhớ Huế, Quảng Nam-Đà Nẵng, Bạc Liêu, Gò Công… mà sao không có Hội Saigon? Có thể Saigon là điểm hẹn, điểm đến của các miền đất nước chăng? Ở vùng New Jersey, có Saigon Plaza, có chợ Bến Thành… và cái Logo chợ Bến Thành dùng làm bảng hiệu cho khắp nơi có Saigon nhỏ, tức Little Saigon. Đây là niềm hãnh diện chung cho người Việt Nam, cho Saigon, cho người Saigon, cho nên 40 năm qua, tâm tình ấy vẫn đầy thương, đầy nhớ.

Bây giờ ở Little Saigon Nam Cali chắc đang có những lo toan hạnh phúc? Nào là chuẩn bị Hội Tết hàng năm, cuộc diễn hành ở phố Bolsa, cuộc thi nấu bánh chưng ở Phước Lộc Thọ, thi hoa hậu áo dài truyền thống… để đón mừng năm mới Ất Mùi 2015. Tết Việt Nam vẫn còn mãi trong lòng người Việt Nam, người Saigon!

Những chuẩn bị rậm rịch, rộn ràng của mọi người từ đầu tháng Chạp. Các bà mẹ sẽ lui cui nấu nướng sớm chiều cho ngày 30 Tết cúng rước ông bà, tổ tiên, chào đón Giao thừa. Ngoài chợ lao xao mua sắm đồ ăn thức uống, bánh trái rượu bia và nhất là hoa Tết. Trời ơi làm sao nói hết cái cảm giác vui sướng khi đi dạo chợ hoa tìm mua những cành mai đẹp nhất? Người bán người mua lao xao nói cười, chợ ngày không đủ ngày giờ, còn có chợ đêm nữa chứ! Về đêm Cali mát rượi, đi chợ đêm vừa đi vừa ăn bắp nướng thoa mỡ hành thì hạnh phúc biết bao?

Ngày Tết đến rồi, những chiếc áo dài được phơi phóng, ủi là cho thật phẳng phiu để đem ra chưng diện với mọi người. Áo gấm chữ thọ dành cho các ông, áo gấm đủ màu, đủ các loại hoa Mai lan cúc trúc dành cho các bà và các cô gái trẻ. Ai cũng mặc áo dài, từ trẻ nít cho đến cụ già, thậm chí các dân cử Mỹ lẫn Việt trên truyền hình chúc Tết đồng hương cũng diện áo dài. Áo dài được mùa. Người viết cảm thấy thật vui, thật gần gũi với họ. Ai cũng trang trọng chúc Tết nhau, nói cười thật vui như… Tết.

Người Việt Nam ở Little Saigon nói cười với nhau trong chợ, trên xe đò, ngoài bãi biển, trên xe buýt, trong buổi coi văn nghệ… dù họ chửa quen nhau, quen nhau đôi lần, gặp nhau đôi bận, họ cũng sẳn sàng chia xẻ tâm tình, mọi hoàn cảnh được phơi bày để hỏi ý kiến, thật hoàn toàn khác với những khuôn mặt “chằm vằm” của người Saigon ở Việt Nam.

Xin lỗi bạn đọc thật nhiều vì tôi cứ nhắc hoài những hình bóng ngày xưa. Quả thật quãng đường 40 năm của người Việt Nam với những kỷ niệm đã cũ, rất cũ, đã là của hôm qua. Và 40 năm lưu vong tị nạn nơi xứ người, cũng tưởng chừng như mới hôm qua. Thời gian như bóng câu qua cửa sổ. Rồi tất cả sẽ qua, sẽ qua, sẽ là của quá khứ rộn ràng trong lòng mỗi người dân Việt.

Dù thế giới hiện giờ chưa được bình an dù chưa hoàn toàn hạnh phúc, nhưng có lẽ nào ta lại hờ hững với mùa xuân đang từng bước đến gần? Ở miền Đông lạnh giá mù sương này, tôi chỉ ao ước có một nhày nào đó được hưởng sự nồng ấm tình người, tình đất ở Cali, để thấy mình trẻ lại trong ngày Tết truyền thống, với văn hóa Saigon qua tiếng pháo mừng Xuân.

Với đồng hương, bằng hữu, gia đình ở Little Saigon Nam Cali, tôi xin gởi đến quý vị những tình cảm tốt đẹp, lời chúc mừng trân trọng nhất trong ngày đầu năm Ất Mùi 2015 này. Và, với Saigon lớn của tôi ngày xưa, tôi xin chào em, Saigon 40, và chỉ xin em, tha thiết xin em, chỉ một nụ cười.

Song Lam

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 49

Nền Tân Nhạc tại Việt Nam Hiện Nay

 Nhạc Sĩ Lê Dinh Biên Soạn

Việt Nam hiện nay không có nền tân nhạc mà chỉ có “nhạc nói và nhạc chạy đua” nghỉa là ” nhạc Việt Nam bây giờ toàn là những lời nói khi thì chậm, khi thì thật nhanh như chạy đua” chẳng có cung điệu trầm bổng du dương gì cả, và nhạc sĩ chỉ việc theo lời nói lên xuống hay mau chậm này mà viết nốt nhạc vào đấy là thành một bản nhạc, cho nên chẳng có một bản nhạc nào ra hồn cả, do dó không có ai thèm nhớ dù chỉ một câu. 
Từ 38 năm nay Việt Nam không có một tình khúc nào làm cho người Việt hải ngoại cãm thông, nòi huỵch toẹt ra là ngữi được cả. Sau khi Nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 phê bình “Gào sĩ” Đàm Vĩnh Hưng không biết diễn tả bài hát mà chỉ biết gào hét để câu khách, nay thì Nhạc sĩ Lê Dình lên tiếng về hiện tình tân nhạc Việt Nam mời các bạn xem dưới đây. Đừng có nói rằng vì người Việt hải ngoại ghét cộng sản mà cho rằng cái gì cũng xấu, mà thực tế là chế độ nào sinh ra con người đó, nhạc Việt dưới chế độ bất nhân bán nước thì làm gì có tình cãm như Việt Nam Cộng Hòa trước đây.

Nhạc sĩ Lê Dinh viết về 2 dòng nhạc VN dưới thời VNCH và nhạc XHCN

le+dinh.jpg
Nhạc Sĩ Lê Dinh

 

Về âm nhạc, từ 38 năm nay, thành thật và công bình mà nói, chúng ta có thấy sự tiến triển nào trong bộ môn này không, hay là một sự tụt lùi tệ hại từ năm 1975 đến nay, hay nói một cách khác, CSVN đã giết chết âm nhạc Việt Nam.

Nhìn lại ngày khởi đầu của nền âm nhạc Việt Nam, từ những ca khúc đầu tiên mà những bậc tiên liệt của nền âm nhạc để lại – được gọi là nhạc cải cách – như Một kiếp hoa (Nguyễn văn Tuyên & Nguyễn văn Cổn), Khúc yêu đương (Thẩm Oánh) Bình minh (Nguyễn Xuân Khoát), Bản đàn xuân (Lê Thương), Tâm hồn anh tìm em (Dương Thiệu Tước), Bóng ai qua thềm (Văn Chung), Cùng nhau đi Hồng Binh (Đinh Nhu), Thu trên đảo Kinh Châu (Lê Thương)…, chúng ta thấy, dù đã ra đời hơn 80 năm nay, còn phôi thai, nhưng âm nhạc VN thuở đó nghe rất có hồn nhạc, lời lẽ tuy không trau chuốt văn chương, nhưng không khó nghe và lai căng như bây giờ. Chẳng hạn như bài “Thu trên đảo Kinh Châu” của Lê Thương, một bài âm hưởng nhạc Nhật thời đó, tuy được sọan sau, nhưng cũng được coi như là một trong những ca khúc đầu tiên của gia tài âm nhạc Việt Nam.

Nhắc lại để chúng ta thấy rằng tuy là những ca khúc đầu tiên, khởi thủy của nền âm nhạc Việt Nam, nhưng dù đã 83 năm qua, vẫn còn nghe được, hơn nhạc bây giờ ở trong một nước có tên là Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Chứng minh điều đó là gần một thế kỷ qua mà người ta còn nhớ ca khúc “Thu trên đảo Kinh Châu” của Lê Thương.

Tiếp theo thời kỳ âm nhạc phôi thai, hay âm nhạc cải cách, đó là giai đọan nhạc được gọi là nhạc tiền chiến mà tôi nghĩ rằng vài trăm năm sau đi nữa, vẫn còn được nhắc nhở tới. Những tác giả như Văn Cao, Đặng Thế Phong, Hoàng Giác, Dzoãn Mẫn, Hoàng Quý, Nguyễn văn Thương, Phan Huỳnh Điểu, Nguyễn văn Tý, Dương Thiệu Tước, Thẩm Oánh, Lê Thương… đã để lại cho chúng ta một gia sản âm nhạc đồ sộ, chỉ trong vòng có 20 năm ngắn ngủi. Nhắc lại những bài như:

“Tiếng ai hát chiều nay vang lừng trên sóng
Nhớ Lưu Nguyễn ngày xưa lạc lối đào nguyên…”
Hoặc:
Suối mơ, bên rừng thu vắng
Giòng sông trôi lững lờ ngoài nắng…”
Hay:
Ngoài hiên giọt mưa thu thánh thoát rơi

Trời lắng u buồn, mây hắt hiu ngừng trôi…”

Hoặc như:

“Biệt ly, nhớ nhung từ đây

Chiếc lá rơi theo heo may…”

Chúng ta nghe âm điệu sao mà du dương, uyển chuyển, tha thiết, thấm vào lòng người. Còn lời ca sao mà lãng mạn, yêu đương, tình tứ ngọt ngào đến như thế.

Rồi bước qua giai đọan nhạc kháng chiến (nhạc cách mạng), một lọai nhạc hừng hực lửa của thời toàn dân đứng lên đánh đuổi thực dân. Những tác giả tiêu biểu cho lại nhạc hùng tráng như đánh thẳng vào lòng người này có Phạm Duy, Văn Cao,  Lưu Hữu Phước, Hoàng Quý, Lê Yên, Phạm Duy Nhượng, Phạm Đình Chương, Văn Giảng… Nhưng phải công nhận rằng Phạm Duy là người có tác phẩm âm nhạc cổ súy tinh thần tranh đấu bài thực nhiều nhất, hay nhất. Làm sao mà chúng ta quên được, dù 1000 năm sau, những âm điệu và lời ca như:

Ngày bao hùng binh tiến lên

Bờ cõi  vang lừng câu quyết chiến…”

Hoặc man mác căm hờn, như:

“Chiều qua, tôi đi qua vùng chiếm đóng

Không bóng trâu cày bên đồng

Vắng tiếng heo gà trên sân

Chiều qua, gánh nước cho Vệ Quốc Quân

Nghe tiếng o nghèo kể rằng:

Quân thù về đây đốt làng…”

20110704-Nh%E1%BA%A1c+s%C4%A9+V%C4%83n+P
Nhạc Sĩ Văn Phụng

Rồi 1954 ập đến, chia hai nền âm nhạc, một nửa phát triển mạnh mẻ ở xứ tự do, phóng khoáng và một nửa chôn vùi trong chốn ngục tù, sau bức màn tre. Một số đông nhạc sĩ sáng tác ở miền Bắc ngày trước đã tìm tự do nơi miền Nam – đất lành chim đậu – cùng chung với những nhạc sĩ sáng tác đã sống trước đây dưới chính thể Đệ nhất Cộng Hòa, kết hợp thành một lực lượng sáng tác mạnh nhất, vững chải nhất, nhân bản nhất và lãng mạn nhất. Thôi thì trăm hoa đua nở.

Ngay từ ngày đầu di cư, chúng ta có những Văn Phụng, Nguyễn Hiền, Y Vân, Nhật Bằng, Hoàng Trọng, Đoàn Chuẩn, Huyền Linh, Phạm Đình Chương, Ngọc Bích, Đan Thọ, Xuân Tiên, Xuân Lôi, Trọng Khương, Tuấn Khanh, Hoài Linh, Phó Quốc Thăng, Phó Quốc Lân, Canh Thân, Vũ Thành, Vũ Huyến, Hoài An, Thanh Bình, Lê Hoàng Long, Nhật Bằng…, cùng với những nhạc sĩ miền Nam nổi bật lúc đó, như Phạm Duy (đã có mặt ở Saigon từ 1951),  Lam Phương, Trúc Phương, Châu Kỳ, Nhật Ngân, Trần Trịnh, Anh Việt Thu, Châu Kỳ, Mạnh Phát, Hoàng Thi Thơ, Nguyễn văn Đông, Hoàng Nguyên, Anh Việt, Phạm Mạnh Cương, Lê Mộng Bảo, Huỳnh Anh, Trần Thiện Thanh, Duy Khánh, Khánh Băng, Minh Kỳ, Anh Bằng, Lê Dinh…
và một số nhạc sĩ trẻ của thời đó như Từ Công Phụng, Ngô Thụy Miên, Trầm Tử Thiêng, Trường Sa, Trường Hải, Đỗ Lễ, Nguyễn Ánh 9, Thanh Sơn, Bảo Tố, Song Ngọc, Dzũng Chinh, Hàn Châu, Mặc Thế Nhân, Hoàng Trang, Đinh Trầm Ca, Giao Tiên, Thăng Long, Đài Phương Trang… hợp thành một đội ngũ sáng tác dưới chính thể tự do của hai nền Cộng Hòa ờ miền Nam từ năm 1954 cho đến năm 1975. ( Hình trên: Nhạc sĩ Văn Phụng )

Dù dưới hình thức nào, với bất cứ đề tài nào, nhạc sĩ của miền Nam tự do cũng viết nên những tác phẩm giá trị, nhất là những tình khúc và những bài ca ngợi người chiến sĩ VNCH, còn tồn tại, vang dội cho đến ngày nay.

nguyen+hien.jpg

Nhạc sĩ Nguyễn Hiền  

Trong khi đó, miền Bắc với chính sách bịt miệng và láo khoét, cho nên nhạc sĩ miền Bắc viết toàn những bài ca tụng bác Hồ (của họ) gàn dỡ, vô duyên, không thể nào lọt vào tai thính giả được. Chỉ một mình nhạc sĩ Thuận Yến thôi mà cũng có đến 26 bài ca ngợi bác Hồ. Ngoài ra còn có những Đỗ Nhuận, Phạm Tuyên, Vân An, Trần Hoàn, Lưu Cầu,Trọng Loan, Phong Nhã, Huy Thục, Lê Lôi, Chu Minh v.v…viêt những bài nhạc tuyên truyền, đề cao CS một cách lố bịch. Cả Văn Cao, Lưu Hữu Phước, Phan Huỳnh Điểu, Đỗ Nhuận… cũng bị lôi cuốn trong việc sáng tác lọai nhạc bưng bô này, như Văn Cao với “Ca ngợi Hồ Chủ tịch’, Lưu Hữu Phước với “Tình bác sáng đời ta”, Phan Huỳnh Điểu với “Nhớ ơn bác”, Đỗ Nhuận với “Bé yêu bác Hồ”… vì không viết để ca tụng, tung hô bác thì không có gạo mà ăn. Nội cái áo của bác và đôi dép của bác thôi mà cũng có đến 5 bài hát nói về áo và dép  này. Chỉ còn thiếu cái áo lót của bác thì chưa có nhạc mà thôi.

(Dưới thời đệ Nhất Cộng Hòa – và luôn cả thời Đệ Nhị Cộng Hòa – miền Nam VN chỉ võn vẹn có một bài hát duy nhất ca tụng cá nhân vị nguyên thủ quốc gia mà thôi. Đó là bài Suy tôn Ngô Tổng Thống của Ngọc Bích và Thanh Nam. Đây không phải là chủ trương của chính phủ đề ra để bắt buộc văn nghệ sĩ sáng tác ca tụng lãnh tụ, mà đó là ý nghĩ riêng của hai tác giả, vì muốn mang ơn người đã khó khăn lắm mới đem đến sự an cư lạc nghiệp cho gần một triệu đồng bào di cư miền Bắc, trong đó có hai tác giả. Đây chỉ là một hành động để nói lên lòng biết ơn thôi)

Từ 1975 là một sự tuột dốc thê thảm, nhìn thấy và nghe thấy, không cần phải đắn đo suy nghĩ khi nói về nền âm nhạc ở nước CHXHCN Việt Nam bây giờ. Không phải nhìn từ bên ngoài rồi chúng ta nói thánh nói tướng, muốn nói gì thì nói, hay nói để… chống Cộng, nhưng phải nói rằng sự thật là như vậy. Thử hỏi có ai nghe được hết một câu lời ca trong một bài nhạc nào đó không? Có ai hiểu ca sĩ hát gì, nói gì trong bài hát đó không? Còn nhạc thì nghe qua rồi – dù cho nghe 5 lần 7 lượt đi nữa – hỏi có ai nhớ âm điệu ra sao không, do-ré-mi-fa-sol-la-si thế nào không? Chúng tôi không nói quá lời đâu. Mở YouTube ra, bấm đại một bài nào đó ở VN ngày nay, quý vị sẽ thấy ngay lời nói của chúng tôi không mảy may quá đáng. Bấm đại bài của Cẩm Ly hát đi, thí dụ bài “Chồng xa”, chúng ta sẽ nghe lời lẻ, văn chương quá buồn cười, trong một bài hát, nghe sao giống như lời đối thọai trong một vở tuồng cải lương hạng bét:

“Dậy đi mua đồ nấu canh chua

Về cho ba mầy bữa cơm trưa…”

Về âm điệu, chúng tôi đố người Việt tự do ở hải ngoại nhớ một câu nhạc nào đó, trong một bài hát A, B, C nào đó ở VN bây giờ. Tại sao không nhớ được? Xin thưa vì đó không phải là âm điệu mà là những nốt nhạc khác nhau, bỏ chung vào một cái túi và rút ra 5, 6, 7 hoặc 8 nốt, rồi ráp lại cho thành một câu nhạc thôi. Trong khi đó, thử tình cờ lấy một bài nào đó của miền Nam, trước 1975, như:

”Xuyên lá cành trăng lên lều vải

Lòng đất ấm thương tình đôi mươi…”

Hay như:

“Đường vào tình yêu có trăm lần vui, có vạn lần buồn…”

Hoặc:

“Thượng đế hỡi có thấu cho VN này,

Nhiều sóng gió trôi dạt lâu dài…”

Chúng ta nghe sao mà tha thiết quá, du dương quá và dễ nhớ, dễ thuộc, dễ thương quá, dù cho cả đời mình hay một trăm năm sau cũng khó quên được.

Và xin quý vị thử bấm vào tựa một bài hát nào đó của CHXHCNVN ngày nay xem. Thí dụ như bài: “Xin anh đừng” (đừng cái gì mới được chứ?) Và vô số bài nữa, như Giấc mơ không phải của anh – Anh sẽ không níu kéo – Anh ba Khía – Ông xã bà xã – Khi cô đơn em nhớ ai – Anh sai rồi – Quen một ngày cho vui – Em có thể làm bạn gái anh không – Đừng buông tay anh…, nếu kể thêm, chắc chắn quý độc giả sẽ bị nhức đầu. Tựa đề của một tác phẩm âm nhạc là như vậy đó sao? Chúng tôi nghĩ tác giả là những trẻ con, chưa biết nói tiếng Việt hoặc là người đã trưởng thành nhưng chưa biết viết tiếng Việt. Tựa đề của một bài hát cũng phải nghe cho được chứ? “Xin anh đừng” rồi thôi, hết.

Về lời ca, mời quý vị nghe ca khúc “Giá như chưa từng quen”. Mới nghe qua tên ca khúc, chúng ta liên tưởng ngay đến một bài hát khác của miền Nam trước 1975, bài “Nếu ta đừng quen nhau”. Cùng một ý, một nội dung, nhưng người nhạc sĩ miền Nam viết tựa là: “Nếu ta đừng quen nhau”. Bây giờ, chúng ta hãy xem qua lời ca:

Bài “Giá như chưa từng quen”:

“Giá như chưa từng quen, chưa quan tâm nhiều về nhau

Người yêu ơi, anh không thể nhớ mỗi lần cách xa…”

Còn bài “Nếu ta đừng quen nhau” có lời ca:

“Nếu ta đừng quen nhau, thì đời chưa vướng u sầu

Ngày xanh chưa nhuốm thương đau, màu hoa chưa úa phai màu…”

Chúng tôi để quý vị kết luận. Chúng tôi chỉ thấy “tội nghiệp” cho tác giả bài “Giá như chưa từng quen” mà thôi.

Nếu quý vị muốn nghe thêm nữa, thì đây:

“Vì ngày hôm qua anh đã thấy em ôm hôn một người…

Như muốn cào xé nát tan trái tim anh…”

Đây là lời ca của bài “Đừng làm anh đau” và xin nói thêm , chỉ có việc “anh đau” này thôi mà có tới ba bài nhạc khác nhau, của 3 tác giả khác nhau: “Đừng làm anh đau”, “Em khóc làm anh đau” và “Mưa làm anh đau”. Đó, âm nhạc XHCNVN là như thế đó.

Về phần ca sĩ trình bày, mà người bên đó gọi là “thể hiện”, phải nói một cách công bằng, vì là nơi đông dân số, gần 90 triệu người, thì làm sao không có ca sĩ hát hay. Nhưng tiếc thay, có một số đông chỉ biết la, biết hét, hét toáng lên, khiến người nghe không biết họ hát cái gì. Và còn nữa, họ hay uốn éo ở chữ cuối câu (fioritures), có người còn ẹo ở giữa câu, nghe rất khó chịu. Việc điểm fioritures này – tức là láy – người viết nhạc chỉ dùng khi nào thật cần thiết thôi.  Nếu tác giả không có để thêm nốt fioritures thì ca sĩ đừng có tự động láy, tự động uốn éo, tự động ỏng ẹo cho nó lả lướt, như vậy là lả lướt không đúng chỗ, nghe không thể nào chịu được. Người mình có tài hay bắt chước và bắt chước giỏi. Cái uốn éo này xuất xứ từ nhạc Âu Mỹ, nhưng mà với lời ca tiếng ngọai quốc, và cũng tùy thuộc chữ nào, ý nghĩa ra sao, thì nghe được, chứ cứ uốn éo tự do, uốn éo lung tung, bất kể quân thần thì không hợp với lời Việt chút nào.

Một phần việc ca sĩ VN trong nước bây giờ hát khó nghe, lý do cũng tại cách viết lời ca của đa số những nhạc sĩ  “lớp ba trường làng”, “trẻ tuổi tài cao” của thời XHCN này: chỗ nốt cao thỉ để chữ dấu huyền hay dấu hỏi, còn chỗ nốt thấp thì để chữ dấu sắc, hay dấu ngã. Viết lời ca như thế thì chỉ có giết ca sĩ mà thôi, bởi ca sĩ không thể nào truyền đạt cho thính giả hiểu được mình hát cái gì. Hát mà người nghe không hiểu gì thì hát làm chi?

38 năm, một thời gian đủ để những “đỉnh cao trí tuệ” giết chết tất cả, từ chữ nghĩa văn chương cho đến âm nhạc. Riêng về âm nhạc, họ đã vùi dập bao nhiêu công lao của những người đi trước, trải qua bao thế hệ, từ thời kỳ âm nhạc cải cách, đến nhạc mới hay tân nhạc, rồi nhạc vàng (chữ của họ gọi để ám chỉ nhạc miền Nam từ 1954 đến 1975 mà họ đã cố tiêu diệt nhưng không được) và nay là nhạc của thời XHCN, của thời:“Dậy đi mua đồ nấu canh chua Về cho ba mầy bữa cơm trưa”.

LÊ DINH

 

 

 

 

 

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 77

Thơ Vũ Tam Thừa

choinon

Chồi Non

Vườn hoang lại nở hoa Hồng
Gởi em vài nhánh kẻo lòng trông mong
Mấy hôm nắng ấm trời trong
Tuyết tan nước chảy càng mong sum vầy
Anh đi giửa những hàng cây
Chồi non hé nụ càng đầy nhớ em

hoaanhdao

Đồ Tân

Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ tân
Nikon đeo trước ngực
Trực chỉ Washington

Xưa đồ già phóng bút
Nay đồ tân chụp hình
Hoa xuân thêm náo nức
Áo đẹp, miệng cười xinh

hoaanhdao2

Hoa đào khoe sắc thắm
Người mẩu tạo dáng yêu
Ông nhanh tay bấm máy
Người, hoa ai yêu kiều?

“Ôi chao ảnh đẹp qúa
Tài anh tuyệt vời sao
Tấm nào nhìn cũng đẹp!”
Ong bướm đều xôn xao

Rồi mỗi năm đào nở
Dạo hồ Washington
Ghi bao nhiêu bức ảnh
Nổi danh khắp xa gần
—————————-

Thoáng ba mươi năm sau
Đồ tân tóc trắng phau
Cầm smart phone chút xíu
Em gặp cúi đầu chào…..Cụ ạ !

Vũ Tam Thừa

 

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 1510

Nỗi Lòng Công Chúa Huyền Trân

Nỗi Lòng Huyền Trân  Công Chúa là một thi tập có giá trị văn chương cũng như lịch sử. Mặc dù Trang Uyên Đỗ Xuân Quang là một nhà thơ ẩn dật, it người biết đến nhưng thi tập NLHTCC là một tuyệt tác không kém gì truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du. Khác với truyện Kiều,  nhân vật chính trong thi tập NLHTCC là một nhân vật có thật trong lịch sử. Một nàng Công Chúa tài sắc vẹn toàn, con của vua Trần Nhân Tông, một vị vua anh minh, hào kiệt; xuất chúng về tài lẫn đức và củng là một ông tổ của phái thiền Trúc Lâm. Trang Uyên không sáng tác NLHTCC để gởi gấm tâm sự của mình như thi hào Nguyễn Du. Ông viết thi tập này với một mục đích giản dị hơn “Cảm ơn tiền nhân đã để lại chúng ta một giang sơn tuyệt đẹp.” Sư cảm xúc của ông trong một buổi chiều đi trên con đường mang tên Huyền Trân Công Chúa đã là động cơ khiến ông sáng tác thi tập NLHTCC này.

Câu chuyện cảm động về việc nàng công chúa tuân theo lời của vua cha hy sinh mối tình thơ mộng của mình để lấy Chế Mân (1306), một vị vua Chiêm Thành và mang về cho nước ta hai châu Ô Lý (từ đèo Hải Vân, Thừa Thiên đến phía bắc Quảng Trị ). Ngày nay nếu bạn có đến thăm Đà Nẳng, nghỉ mát vui chơi ở những resort tại vùng này, bạn hảy nhớ rằng những gì bạn đang hưởng chính là sự hy sinh lớn lao của Huyền Trân Công Chúa. Đáng buồn thay, giang sơn gấm vóc đó ngày nay đã và đang bị những kẻ cầm quyền tham lam bán rẽ cho ngoại bang hầu đổi chút tư lợi. Thật mỉa mai, một tập thể đảng “vì nước, vì dân” với hàng triệu đảng viên trong suốt 40 năm qua, sau khi chiếm miền Nam, chẳng làm được gì ngoài việc “lấy đất ta mang ra chợ bán.”

Trước âm mưu lấn chiếm Việt Nam của Trung Quốc, thiết tưởng cũng nên vinh danh và nhắc lại công lao của Huyền TrânCông Chúa và biết ơn cố thi sĩ  Trang Uyên Đỗ Xuân Quang đã bỏ công lao ghi lại sự kiện lịch sử trọng đại này bằng những vần thơ lục bát dân gian để con cháu đời sau còn hay biết.
 Kể từ 15 tháng Ba năm 2015, Khuôn Mặt Văn Nghệ sẽ đăng hàng tuần những dòng thơ của Trang Uyên trong thi tập NLHTCC. Rất mong được đón nhân phê bình đóng góp ý kiến của bạn đọc khắp nơi trên thế giới. Xin mời quý vị thưởng thức.

BBT khuonmatvannghe

KỲ MỘT

Thân em như hạt mưa rào
Hạt rơi xuống giếng hạt vào vườn hoa
Thân em như hạt mưa sa
Hạt về quê mẹ hạt ra xứ người
Đời người con gái nực cười
Mười hai bến nước trong tươi bến nào
 
Đọc trang quốc sử ngọt ngào
Tích xưa kể lại ghi vào tâm tư
Trải qua bao thế kỷ dư
Tình duyên vương giả đượm mùi trái ngang
Giang sơn một giải thênh thang
Ba lần đuổi giặc vẻ vang giống nòi (1)
 
Nhà Trần Đại Việt thãnh thơi
Rồng tiên con cháu rạng ngời núi sông
Nhường ngôi kế vị Anh-Tôn (2)
Vua cha tuổi hạc hoàng hôn dãi dầu
Ngao du gió bãi trăng lầu
Ngâm thơ ngắm cảnh vịnh câu thanh nhàn
 
Thượng hoàng một chuyến tham quan
Chúa Hời tiếp đãi ân cần nể nang
Mến người, mến cảnh Chiêm bang
Vua cha lưu ngoạn chín tuần trăng qua 
Khi về đáp lễ tối đa
Hứa hôn con trẻ cho nhà Chiêm vương
 
Được lời tạc dạ bao dường
Năm sau mang lễ cầu đường xe duyên
Triều thần Đại Việt ngạc nhiên
Huyền Trân Công Chúa ưu phiền xiết bao
Chọn lời trình đấng tối cao
Rồng Tiên sao nỡ đưa vào phàm nhân
Hoàng thân quốc thích phân vân
Đồng lòng đệ sớ điều trần thiệt hơn
 
Chế Mân rõ được nguồn cơn
Quyết tình tính chuyện vuông tròn trăm năm
Lễ tương bảo vật kim ngân
Hai châu Ô, Lý kính dâng nhạc hoàng (3)
Lựa ngày tháng tốt rước nàng
Xe hoa chuyển bánh ngỡ ngàng vu quy
 
Đau lòng kẻ phải ra đi
Chuốc điều tủi nhục sầu bi nghẹn ngào
Giọt hồng lã chã má đào
Giã từ gia quyến tâm bào ruột gan
Dặm trường cách trở quan san

Thoáng trông vời vợi xóm làng quê hương

 (Xem tiếp kỳ sau)

Ghi Chú

(1) Nước ta dưới thời nhà Trần, quân Mông Cổ ba lần sang xâm chiếm, nhưng cả ba lần đều bị dân ta đánh tan.

(2) Năm 1298 vua cha Trần Nhân Tôn nhường ngôi cho con là Thái-Tử Trần Thuyên tức vua Trần Anh Tôn, và vua cha lúc bấy giờ được tôn vinh Thái Thượng Hoàng.

(3) Vua Chiêm Thành Chế Mân xin dâng hai châu Ô, Lý để cầu hôn kết duyên cùng Công Chúa Huyền Trân, nhà Trần tiếp nhận đổi thành địa danh là Thuận Châu và Hoá Châu tức tỉnh Thừa Thiên Đế Đô Huế ngày nay.

Tiểu sử Tác Giả

Đỗ Xuân Quang sinh năm 1930 tại làng An Ngãi, huyện An Nhiên, tỉnh Bình Định. Tốt nghiệp Quốc Gia Hành Chánh 1968. Picture1Sau đó làm công chức tại Ty Tài Chánh Quy Nhơn. Đã cư ngụ và qua đời năm 2014 tại Philadelphia, tiểu bang Pennsylvania, Hoa Kỳ

   Thi phẩm đã sáng tác:

Nỗi Lòng Huyền Trân Công Chúa 1996

Năm 1998 Tham gia T.T. Tiếng Thơ Hải Ngoại 2
  • Gặp Vận Khó 1
  • Gặp Vận Khó 2
  • Thi Sĩ với Chị Hằng
  • Thi Sĩ và Nàng Thơ
Năm 2000 Tham gia T.T. Tiếng Thơ Hải Ngoại 3
  • Một Kiếp Nghèo
  • Làng Tôi
  • Tiễn Bạn
Năm 2002 Tham gia T.T. Tiếng Thơ Hải Ngoại 4
  • Tình Thi Hữu
  • Thêm Một Lần Hận Tam Quan

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 46

Bộ tứ của hội họa Việt Nam

Người ta thường nói về những bộ tứ của hội họa Việt Nam “nhất Trí, nhì Vân, tam Lân, tứ Cẩn ” và bộ tứ thứ 2 “nhất Sáng, nhì Liên, tam Nghiêm, tứ Phái ” vì sao có sự sắp hạng và đặt tên như thế ? pho-co-ha-noi-01

Ngay từ những năm 1960 đã xuất hiện trong công chúng thuật ngữ đó để nói về 2 bộ tứ của hội họa Việt Nam “nhất Trí, nhì Vân, tam Lân, tứ Cẩn ” và bộ tứ thứ 2 “nhất Sáng, nhì Liên, tam Nghiêm, tứ Phái “.Có thể thấy, BXP cùng với 3 người bạn đồng khóa của ông (Sáng-Liên-Nghiêm)đều đã có những thành tựu và tác phẩm quan trọng (từ khi còn trẻ tầm U40) để đủ được xếp vào tứ trụ trong nền mỹ thuật Việt Nam.Thực tế, đó là do quần chúng tự phong “tước hàm,tước vị” cho các ông từ những năm 60.Tôi nhớ khi xưa,BXP cũng không tỏ ra thú vị hay tán thưởng lắm về sự xếp hạng và đặt tên như thế.Có lần ông còn nói vui :”Người ta nói thế cho có vần điệu chứ thực ra là mượn ý của câu dân gian liệt kê thứ bậc ,chất lượng món cờ tây :“nhất bạch, nhì vàng, tam khoan, tứ đốm”. 

Tất cả những họa sĩ trong 2 bộ tứ ấy đều là sinh viên Trường Mỹ thuật Đông Dương – một trường cao đẳng được thành lập năm 1925 và nằm trong hệ thống Đại học Đông Dương được chính quyền Pháp bắt đầu xây dựng từ đầu thế kỷ 20.
Đối với bộ tứ thứ nhất,một bộ tứ quan trọng không chỉ về thành tựu sáng tạo mà còn về tính tiên phong của nền hội họa non trẻ của đất nước:”nhất Trí, nhì Vân, tam Lân, tứ Cẩn “, Riêng chỗ đứng của Nguyễn Tường Lân xem ra khá mong manh. Thật ra, họa sĩ Nguyễn Tường Lân là một họa sĩ kỳ tài của Việt Nam thời 1930 đến 1946, tuy nhiên ông dã không để lại được nhiều những dấu ấn và những tác phẩm đủ quan trọng để đứng vào nhóm tứ trụ này.
Có hai họa sĩ sáng giá ,đáng tiếc lại không được đứng vào bộ tứ nào đó là trường hợp: Lê Phổ và Nguyễn Phan Chánh. Lê Phổ có sự nghiệp hội họa được thế giới biết đến như một biểu tượng của sự kết hợp Đông và Tây, các tác phẩm hội họa của Lê Phổ được chào đón trên thị trường nghệ thuật thế giới từ Paris đến NewYork, điều mà chưa có một họa sĩ Việt Nam nào đạt tới và thang giá tranh của Lê Phổ đến thời điểm này vẫn cao giá nhất trên thị trường mỹ thuật thế giới dành cho họa sĩ người Việt Nam.. Nếu Lê Phổ có vấn đề không gắn bó với Tổ quốc(ông rời bỏ Việt Nam từ năm 1937 và sống cho đến hết đời tại Pháp ) thì Nguyễn Phan Chánh hoàn toàn đáng được vinh danh,ông là một người đã tạo ra một diện mạo tranh lụa Việt Nam không lẫn vào bất kỳ một phong cách nào đối với các nước có nền tranh lụa lớn nhất thế giới như Trung Quốc và Nhật Bản. Trong những buổi trà dư,tửu hậu, bàn luận về các bậc họa sĩ tiền bối,anh em họa sĩ thường ví von họa sĩ Nguyễn Phan Chánh giống như là “Nguyễn Bính” trong hội họa,ý muốn nói nghệ thuật của ông chân chất ,hiền lành và hơi quê quê.Có người còn ví xem tranh của ông nó “nhẹ” như uống bia mặc dù biết rằng bia mà uống nhiều thì vẫn có thể làm người ta say ,nhưng vẫn là bia,nó không phải là chất rượu mạnh như Nguyễn Sáng ,như Bùi Xuân Phái…
Bộ tứ “Phái – Sáng – Liên – Nghiêm” đều tồn tại với thời gian sau nửa thế kỷ thử thách. Họ, mỗi con người đều có một lịch sử dữ dội, một định mệnh của thiên tài. bộ tứ này chỉ còn lại một mình Nghiêm – Nguyễn Tư Nghiêm, lừng danh với Điệu múa cổ; Thuý Kiều,Kim Trọng; Những con giáp…tranhnguoi
Ngoài tài năng, cá tính tư duy sáng tạo, lòng đam mê sáng tạo của các ông còn có một yếu tố cực kỳ quan trọng đó là bối cảnh đất nước. Nếu họ không có một lịch sử như thế thì ngọn lửa nào đủ cường độ để tạo ra những vàng ròng của đất nước?Họ là những nghệ sĩ biết bạo gan bơi ngược dòng chủ lưu, tìm ra cho bằng được con đường riêng của mình trong sáng tạo nghệ thuật, làm nên những tác phẩm mà ban đầu rất có thể sẽ bị đón tiếp một cách lừng khừng,ghẻ lạnh nhưng sau này đã trở thành những giá trị được cả xã hội thừa nhận. Hãy nhìn vào từng cuộc đời của Phái – Sáng – Liên – Nghiêm, chúng ta sẽ hiểu vì sao có sự sắp hạng và đặt tên như thế. Mỗi người trong số họ có riêng một phong cách nghệ thuật và một số phận dữ dội thật sự hiếm có trong lịch sử hội họa Việt Nam.
Thế kỷ 20, hội họa Việt Nam sản sinh được hai bộ tứ huyền thoại,mang tầm vóc Quốc tế .Nhưng từ năm 1975 đến nay đã hơn 30 năm, chúng ta không hề có thêm được một họa sĩ “Người Lớn” nào chứ đừng nói có thêm được “bộ tứ huyền thoại”.Phải chăng cuộc sống hiện đại và những tiện nghi tiêu dùng đầy đủ ,cùng các phương tiện giải trí phong phú đã triệt tiêu những câu thúc,dồn nén ,những khát vọng sáng tạo của người nghệ sĩ ?

Nguồn:www.hoihoasivietnam.com

 

 

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 126

Nỗi Lòng Huyền Trân Công Chúa

Tác Giả: Trang Uyên Đỗ Xuân Quang
          Chuyện trăm năm duyên nợ thật là quan trọng và phức tạp. Vì vậy mà ngưòi đời từ xa xưa đến ngày nay không ngớt tán tụng, phiền trách và sử sách cũng như khẩu truyền luôn luôn đề cập đến. Nó quan trọng vì phải quyết định một nhu cầu kéo dài hằng thế kỷ. Nó phức tạp rắc rối vì sự chung sống của đôi lứa bị chi phối va chạm, rồi từ đó nảy sinh ra nhiều hệ lụy.

            Chẳng những câu chuyện tình duyên ở thế gian, người đời còn đưa ra những truyền thuyết hoang đường về những đẹp đẽ, kỳ lạ ở lớp người nơi thần tiên thượng giới.thapcham

Thật vậy, trong chúng ta mấy ai mà không biết câu chuyện tình giữa Lộng-Ngọc và Tiêu Sử, giữa Chức Nữ với Ngưu Lang. Đôi tài tử giai nhân có tài thổi tiêu, tương đắc vì nghệ thuật đã cùng nhau kết duyên tại lầu Phượng Hoàng, rồi chàng cỡi rồng, nàng cỡi phụng chợt bay vút lên trời theo mối tình chơi vơi. Cũng như cô dệt vải với cậu chăn trâu vì say đắm nhau đến độ bê tha nhiệm vụ để phải chịu trừng phạt chia cách mỗi năm chỉ được gặp một lần vào đêm thất tịch mồng 7 tháng 7 tại cầu Ô Thước nơi giải Ngân Hà.

   Tình duyên tiên giới mà còn trắc trở như vậy, huống chi người phàm trần tục làm sao tránh khỏi lận đận lao đao, mà theo phong tục lễ giáo rang buộc, bao nhiêu sự thiệt thòi đa phần đổ dồn vào người đàn bà con gái.

   Khi được đẹp duyên tao ngộ trăm năm yên lành hạnh phúc thì cùng nhau hưởng thụ, trái lại nếu có điều rủi ro nghịch cảnh, thì ôi thôi than trách kêu vang nào là Nguyệt lão vụng đường tơ, nào là tạo hoá bất công ghét bỏ.

             Lần xem trang sử nước nhà từ buổi sơ khai đến ngày nay, ghi nhận 3 cuộc tình duyên của lớp người vương giả mà 3 nàng Công Chúa của 3 triều đại đã gặp phải:

             Mỵ Châu, con gái vua Thục An Dương sánh duyên cùng Trọng Thủy con trai vua Triệu Đà. Mối tình thật là cân xứng, đẹp đẽ, nào ngờ đâu có sự tham lam mưu đồ bất nghĩa của cha con họ Triệu khiến duyên nợ đằm thắm của đôi lứa trở thành mối tình đẩm đầy huyết lệ đi đến một kết thúc thật là bi đát để rồi Mỵ Châu phải nhận tội tử hình dưới đường gươm của nghiêm phụ theo quốc pháp gia phong.

            Cảm động cái chết đau thương của nàng và chê trách sự dối trá của chàng, cố thi sĩ Tản Đà có mấy vần thơ:
 
Vuốt rùa chàng đổi móng
Lông ngỗng thiếp đưa đường
Thề nguyền phu phụ
Lòng nhi nữ, việc quân vương
Duyên nọ tình kia dở dở dang
 

Đến đời nhà Trần, nhà Hậu Lê, Công Chúa Huyền Trân con vua Trần Nhân Tông lại bị ép gả cho vua Chiêm là Chế Mân và Ngọc Hân Công Chúa con vua Lê Hiển Tôn được hân hạnh trao than gởi phận về vua Quang Trung Nguyễn Huệ. Trai tài gái sắc sánh bước chung đôi, nhưng mỗi người có một định phần riêng biệt. Vua Quang Trung yểu mệnh, lúc bấy giờ là Ngọc Hân Công Chúa phải chịu trói buộc vào vòng dây oan nghiệt để sớm trở thành một goá phụ đương buổi xuân thì. Trớ trêu thay! Ngọc Hân tự than thân trách phận, ngậm ngùi trước cảnh đơn lẻ rủi ro, khóc chồng trong tuyệt vọng:

“Nghe trước đó có đấng vương Thang Võ
Công nghiệp nhiều tuổi thọ thêm cao
Mà nay áo vãi cờ đào
Giúp dân dựng nước biết bao công trình
Công dường ấy mà chân dường ấy
Cõi thọ sao hẹp bấy Hoá Công?
Rộng cho chuộc được tuổi rồng
Đổi thân ắt hẳn bõ lòng tôi ngươi”
(Trích bài “Ai Tư Vãn” của Ngọc Hân Công Chúa)
 

 Oái oăm thay! Trường hợp Công Chúa Huyền Trân chẳng những bị ép gả cho một người Hời khác giống xa xăm, lại phải chịu cực hình đưa lên giàn hoả. Nếu nói rằng duyên nợ của Ngọc Hân là gian nan trắc trở thi đời con gái của Huyền Trân lại trái ngang cay đắng đến độ xuýt phải tuyệt mạng trong ngọn lửa tàn bạo phi nhân. Cái giá phải trả cho sự thiệt thòi thua lỗ thật là quá đắt, trái lại cái công đóng góp cho Tổ quốc giống nòi thật là quá to. Vì vậy mà danh vị của một Bà Công Chúa trải qua thời gian trên 500 năm vẫn còn lắng đọng trong lòng người dân Việt. Ngày nay  dân chúng tại Tân-Đô Sài Gòn Gia Định khi đi ngang qua công lộ mang tên Huyền Trân Công Chuá, dưới hàng me rắc lá, bóng mát rợp đường, nghe giọng ve sầu não ruột tựa như tiếng khóc than ai oán của người xấu số ôm hận tủi muôn đời hay chính đó là khúc nhạc du dương được trổi lên triền miên bất tận ca ngợi công đức của bậc thượng lưư vương giả đã quên mình để chu toàn chữ hiếu và đổi lấy đất đai mở mang bờ cõi nước nhà đem lại lợi ích vĩnh cửu cho dân tộc.

             Thời gian trôi qua, lịch sử diễn tiến, hai châu Ô, Lý, món sính lễ của cuộc hôn nhân giữa hai nước Việt Chiêm, đã thành địa danh Thuận Hoá tỉnh Thưà Thiên Cố Đô Huế rún ruột của thân hình gấm góc Việt Nam. Là người dân Việt, mỗi đi ngang qua Huế có sông Hương núi Ngự ngàn năm văn vật, ghé lại Sài Gòn đặt chân trên đường dài hàng me mát mẻ mang tên Huyền Trân Công Chúa, tự nhiên lòng thấy ngậm ngùi tưởng nhớ đến bậc Ân Nhân Tiên Tổ, ghi mấy vần thơ lưu niệm suy tôn: 

Đường dài mang chữ Huyền Trân
Tên nàng Công Chúa đổi thân ngọc ngà
Mở mang bờ cõi sơn hà
Sử xanh công đức vang ca muôn đời 
 

Trang Uyên Đỗ Xuân Quang 

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 63

Mười Bài Thơ Xuân

 
Phóng Dịch Mười Bài Thơ Xuân Của Vua Trần Nhân Tông
 
 hoa-mai-1
1 XUÂN HIỂU 
 

Thụy khởi khải song phi,
Bất tri xuân dĩ quy.
Nhất song bạch hồ điệp
Phách phách sấn hoa phi.

Sáng Sớm Mùa Xuân
Sáng ngày mở  cửa ra trông
Nắng Xuân tràn ngập mênh mông chiếu vào
Có đôi bướm trắng lượn chao
Bên hoa đuà giởn, vui sao Xuân vê
̀

2 XUÂN NHẬT YẾT CHIÊU LĂNG

Tì hổ thiên môn túc,
Y quan thất phẩm thông.
Bạch đầu quân sĩ tại,
Vãng vãng thuyết Nguyên Phong.

Nờm nợp binh Nam diễn quân hành
Bừng bừng khí thế chống xâm lăng
Lính già tóc trắng còn oai dũng
Giử nước quân dân chuyện ắt thành

 3 ĐỘNG THIÊN HỒ THƯỢNG

Động Thiên hồ thượng cảnh,
Hoa thảo giảm xuân dung.
Thượng đế liên sầm tịch,
Thái thanh thì nhất chung.

Cảnh Hồ Thiên Động

Ôi cảnh hồ Thiên Động
Hoa cỏ vương nét buồn
Trời dường như cảm động
Thỉnh thoảng vang tiếng chuông

4 XUÂN CẢNH

Dương liễu hoa thâm điểu ngữ trì,
Họa đường thiềm ảnh mộ vân phi.
Khách lai bất vấn nhân gian sự,
Cộng ỷ lan can khán thúy vi.

Cảnh Xuân

Chim hót xôn xao, hoa nở đầy
Nắng tràn mây trắng gió bay bay
Bạn đến vui chơi ngồi ngắm cảnh
Chuyện đời thôi kệ nhắc chi đây

5 XUÂN VÃN

Niên thiếu hà tằng liễu sắc không,
Nhất xuân tâm sự bách hoa trung.
Như kim khám phá đông hoàng diện,
Thiền bản bồ đoàn khán trụy hồng.

Chiều Xuân

Lúc bé nào hay lẽ Sắc Không
Trăm hoa chọn gởi chuyện trong lòng
Nay Hè Thu rõ vô thường cả
Ngồi chiếu thiền nghe Xuân ở trong

 
6 QUỸ TRƯƠNG HIỂN KHANH XUÂN BÍNH
Giá chi vũ bãi, thí xuân sam,
Huống trị kim triêu tam nguyệt tam.
Hồng ngọc đôi bàn xuân thái bính,
Tòng lai phong tục cựu An Nam.
Ngày Xuân Tặng Bánh
Múa điệu dân gian thử áo Xuân
Ngày Xuân tuyết trắng phủ chập chùng
Món ngon ngày Tết, kho tàng Việt
Trải mấy ngàn năm dầy bánh chưng
7 SƠN PHÒNG MẠN HỨNG KỲ NHỊ
Thị phi niệm trục triêu hoa lạc,
Danh lợi tâm tùy dạ vũ hàn.
Hoa tận vũ tình sơn tịch tịch,
Nhất thanh đề điểu hựu xuân tàn.
Tạp niệm theo hoa rụng
Danh lợi lạnh mưa đêm
Hoa tàn mưa đêm lạnh
Tâm ta rất bình yên
 

8  ĐĂNG BẢO ĐÀI SƠN

Địa tịch đài du cổ,
Thời lai xuân vị thâm.
Vân sơn tương viễn cận.
Hoa kính bán tình âm.
Vạn sự thủy lưu thủy,
Bách niên tâm dữ [ngữ] tâm.
Ỷ lan hoành ngọc địch,
Minh nguyệt mãn hung khâm.

LÊN NÚI BẢO ĐÀI

Đài cổ giửa vùng đất vắng xa
Xuân mới về đây mây núi qua
Đường hoa nửa nắng, râm lấp lánh
Nước chảy trôi rồi,  mọi chuyện xa

Lan can nâng sáo thổi tình ca
Bóng trăng trước ngực đẹp như ngà
Kiếp nào còn có trăng, hoa, nước
Kiếp đó còn người mộng dưới hoa

9 TẢO MAI KỲ NHẤT

Ngũ xuất viên ba kim niễn tu,
San hô trầm ảnh hải lân phù.
Cá tam đông bạch chi tiền diện,
Tá nhất biện hương xuân thượng đầu.
Cam lộ lưu phương si điệp tỉnh,
Dạ quang như thủy khát cầm sầu.
Hằng Nga nhược thức hoa giai xứ
Quế lãnh thiềm hàn chỉ ma hưu!

Ngắm Hoa Mai (Lần 1)

Năm cánh hoa  thơm, nhụy điểm vàng, 
Cành hoa tuyết trắng tháng đông sang,
Hằng Nga nếu biết mai xinh thế 
Cung quế nào thèm, Cuội dỡ dang

10 TẢO MAI KỲ NHỊ

Ngũ nhật kinh hàn lãn xuất môn,
Đông phong tiên dĩ đáo cô côn [căn].
Ảnh hoành thủy diện băng sơ bạn,
Hoa áp chi đầu noãn vị phân.
Thúy vũ ca trầm sơn điếm nguyệt,
Họa long xuy thấp Ngọc Quan vân.
Nhất chi mê nhập cố nhân mộng,
Giác hậu bất kham trì tặng quân.

Ngắm Hoa Mai (Lần 2)

Một tuần lạnh buốt chẳng bước ra
Gió Xuân chợt ghé gốc mai già
Nằm mơ người mộng hương vương vấn
Tỉnh giấc làm sao hái tặng hoa?

V3

 

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 43