All posts by Nam Phong Le Nguyen

NẤM NGỌC HƯƠNG THIỀN

Miền Tây bắc Hoa Kỳ núi rừng hùng vĩ, nơi đây mưa nhiều do gần Thái Bình Dương. Cũng chính vì yếu tố thiên nhiên này, rừng núi ở đây có vô số loài nấm mọc, trong đó có loài cực kỳ quý hiếm. Là thành viên của Hiệp hội Nấm rừng, người viết thường có những chuyến đi khảo sát
Trong một lần dừng chân tại thị trấn nhỏ dưới rặng núi Cascade, khi tiếp xúc người dân địa phương để tìm hiểu đặc chủng nấm trong vùng, người viết được kể cho nghe về câu chuyện một thiền sư sống đơn độc giữa núi rừng. Người viết xin ghi lại câu chuyện đầy xúc cảm này như một món quà xuân dành tặng quý độc giả . 
 
huyen lam1
 
Mô phỏng căn nhà cabin mà ông Ken sinh sống
Thị trấn Ran nhỏ bé, khoảng vài trăm cư dân, nằm giữa rừng già đại ngàn, không xa lắm là dãy núi Cascade hùng vĩ mùa đông phủ tuyết. Mười năm trước, dân nơi đây bàn tán về người đàn ông tuổi ngoài 70 nhưng dáng dấp khỏe mạnh, nhân cách nhẹ nhàng vi diệu như một ông tiên. Cứ mỗi độ hoa lê rừng nở trắng xóa trên triền núi, người dân lại thấy ông lái chiếc xe pickup cũ từ đường mòn trên núi cao vào trung tâm thị trấn rồi dừng tại nhà dưỡng lão dành cho người nghèo.
Mỗi tuần ông đến đây hai lần, từ sáng sớm cho đến chiều. Ông nấu cho người già ăn, đánh dương cầm cho người già nghe, chỉ cho họ cách đi, cách ngồi, cách thở. Mà lạ thay, ông làm việc gì cũng chậm rãi nhưng đầy năng lượng tươi vui. Mỗi lần có ông, nhà dưỡng lão bừng lên sức sống, được thay luồng khí mới. Các cụ già ánh mắt rạng ngời, nụ cười rạng rỡ như những đóa hoa vừa được tưới tẩm tình thương.
Khi lá rừng chuyển sang màu vàng cũng là lúc người dân thị trấn không còn thấy ông nữa. Các cụ già cố gắng làm theo lời ông chỉ dẫn để cuộc sống an lạc, tâm linh hơn. Nhưng không có ông, nhà dưỡng lão như mất đi lò sưởi ấm mùa đông, trở nên trầm buồn lạnh lẽo. Các cụ già từng ngày nhìn ra khung cửa sổ giữa màu tuyết trắng mênh mông lại mỏi mắt trông chờ những cánh hoa lê rừng nở trắng.
***
Ông Ken từng thọ giáo, học thiền, học Phật nhiều năm từ Đức Dalai Lama, Thiền sư Suzuki. Ông vốn là nhà khoa học nghiên cứu về tác động môi trường từ chất thải hóa học do con người tạo ra. Một hôm đọc tập san chuyên ngành Khoa học Môi trường, trong đó có bài nói về triết lý Phật giáo nhấn mạnh đến mối tương quan, tương tức của vạn vật đã làm ông ngạc nhiên về tính khoa học của một tôn giáo mà trước đây ông cho là quá cổ xưa lạc hậu.
Ông không ngờ từ ngàn xưa tôn giáo ấy đã biết quý trọng cây cỏ mọi loài sinh linh và chỉ ra mối liên hệ mật thiết cần bảo vệ. Từ đó ông tìm hiểu về Phật giáo nhiều hơn. Ông đã trải qua từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác khi nghiên cứu kho tàng kinh điển bao la của đạo Phật. Ông quyết định trở thành người con Phật sau chuyến du hành sang Dharamshala – Ấn Độ dự khóa tu do ngài Dalai Lama giảng dạy.
Trước khi về hưu, ông tìm mua khu đất rừng rộng mấy mươi ha trên triền núi dãy Cascade miền Tây bắc Hoa Kỳ. Ông cho dựng căn nhà nhỏ làm bằng cây rừng thô ghép lại (cabin). Đây là ước mơ bao năm của ông có được nơi yên tĩnh, hoang dã để tu tập và viết những bài nghiên cứu cho các tạp chí Phật giáo bằng Anh ngữ. Dù đã về hưu nhưng ông rất tinh tấn, năm giờ sáng ông thức dậy pha trà, đốt nén hương ngồi thiền. Sau buổi ăn sáng, ông thiền hành, thả bộ theo con suối bên hông nhà xuống cánh rừng sồi phía dưới.
Trong một buổi thiền hành cuối thu, ngồi nghỉ chân bên bờ suối ngắm nhìn cánh rừng ngợp lá vàng bay trước mặt, ông thấy mấy chú sóc từ trên cây leo xuống, vừa đi chậm rãi vừa đánh hơi thảm lá vàng dưới đất. Chợt chúng dừng chân, moi lên dưới thảm lá mục những viên củ rừng to bằng trứng chim cút, có viên to bằng quả chanh rồi đem về tổ trên cây cao cất giấu.
Tò mò, ông tới nơi chúng đào, dùng nhánh cây rừng khơi xung quanh, vài viên củ rừng trăng trắng hiện ra. Ông đưa lên mũi, thoang thoảng mùi hương nhẹ phảng phất. Như không tin vào thính giác mình, ông đem xuống bờ suối dùng hòn đá có góc cạnh bén cắt đôi, hương thơm theo vết cắt lan tỏa đậm đà, một thứ hương không nồng, không nặng, rất nhẹ nhàng tinh tế dễ chịu. Ông Ken thầm thốt lên: – Nấm truffle.
Ông không ngờ cánh rừng do mình làm chủ có loại nấm vô cùng quý hiếm này, mỗi ký được bán lên tới cả 5-10 ngàn USD. Đây là loài thực phẩm mắc nhất thế giới. Ông quay lại chỗ sóc đào, lượm thêm một viên nấm rồi tiếp tục thiền hành trở về nhà. Sau khi rửa sạch, ông thành kính bỏ viên nấm vào dĩa dâng lên bàn thờ Phật như dâng lên viên ngọc quý báu ban tặng từ đất trời.
Suốt ngày đó, ông vẫn làm những công việc bình thường, mỗi khi ý niệm truffle phấn khích nổi lên, ông theo dõi hơi thở, điều tâm thanh tịnh trở lại. Hôm sau, thay vì thắp nhang lễ Phật trước khi ngồi thiền như thường lệ, ông cắt một phần viên nấm thành những lát mỏng thay thế mùi nhang. Trong thiền phòng giữa không gian yên tĩnh núi rừng trùng điệp, mùi hương nấm nhẹ nhàng lan tỏa. Khi hơi thở đã rất nhẹ rất sâu, tâm đã lắng đọng trong sáng, ông Ken bắt đầu suy nghĩ phải làm gì với kho báu giữa rừng già?
Ông đã bỏ tất cả để tìm đến chốn này, tiền hưu trí hàng tháng ông dùng chỉ một phần rất nhỏ, hầu hết gởi tặng các tu viện, cơ sở thiện nguyện. Không khéo cánh rừng này sẽ đốt tan công phu tu tập của ông, trở thành nơi tranh chấp gây tạo ác nghiệp.
***
Mùa thu khi lá phong, lá sồi chuyển sang màu vàng cam rực rỡ cũng là lúc ông Ken bắt đầu thu hoạch truffle. Đối với người chuyên môn tìm loại nấm quý này, họ luôn sử dụng chó hoặc heo để phát hiện những viên nấm được giấu kín dưới lớp thảm mục rừng. Riêng ông Ken cách tìm nấm cũng không khác chi hành thiền.
Mỗi ngày ông thiền hành đến cánh rừng, chọn một chỗ khác hôm qua, ngồi xuống hít thở khí trời, nghe tiếng chim hót líu lo, nhìn những chú sóc nhỏ chạy tung tăng tìm nấm. Ông chờ chúng lấy xong, tới chỗ chúng đào lấy những viên nấm còn sót lại xung quanh. Loài sóc đã quen hình dáng ông bao năm qua nên không hề có chút sợ hãi. Từ ngày thấy ông “mót” nấm mà không tranh giành với chúng, loài sóc hiểu được. Chúng thương ông, đào nhiều nơi nhưng lấy đi rất ít, như làm dấu giúp ông thu hoạch tốt hơn.
Mùa nấm truffle kéo dài 2 tháng, bắt đầu từ cuối tháng 9 đến cuối tháng 11. Mỗi tuần ông Ken thu hoạch được vài ký, ông bán hết cho nhà thu mua, chỉ giữ lại một ít thay nhang cúng Phật mỗi sáng ngồi thiền. Ông gởi trọn số tiền bán nấm thông qua trương mục vô danh cho viện dưỡng lão dưới chân núi nơi ông thường làm việc thiện nguyện.
***
huyen lam3
 
Mô phỏng hình ảnh ông Ken đánh dương cầm cho người già tại viện dưỡng lão

Mùa xuân năm ấy, khi hoa lê rừng nở trắng trên triền núi, các cụ già trong viện dưỡng lão lại háo hức chờ đón ông Ken. Một tuần qua, hai tuần qua, hoa lê đã rụng tàn, màu xanh lá rừng đã trỗi dậy nhưng ông Ken vẫn không xuất hiện. Người dân thị trấn Ran xôn xao bàn tán không biết chuyện gì đã xảy ra trên núi cao. Họ vận động chính quyền địa phương cùng cư dân dành một ngày cuối tuần lên núi tìm hiểu sự tình.

Sáng sớm, đoàn xe vài chục chiếc chậm rãi theo con đường mòn gồ ghề đầy sỏi đá tiến vào dãy núi Cascade. Trên con đường độc đạo hoang vu, giữa lưng chừng núi, căn nhà gỗ đơn sơ đậm nét dưới ánh mặt trời. Viên cảnh sát thị trấn (Sheriff) dẫn đầu cho xe dừng lại, đi bộ đến căn nhà có nhiều cỏ dại mọc cao như báo hiệu đã lâu không ai chăm sóc. Viên cảnh sát gõ nhẹ cửa nhiều lần nhưng không tiếng trả lời. Bỗng người dân đi theo hốt hoảng la lên bên cánh cửa sổ hông nhà:

– Coi kìa! Có phải ông Ken?
Phía sau khung kiếng bụi mờ, một thân thể bất động da nhăn khô đang ngồi trước tượng Phật cổ xưa. Viên cảnh sát phá vội ổ khóa cánh cửa ra vào: Mùi hương thơm từ trong nhà thoát ra làm mấy chục cư dân thị trấn Ran ngạc nhiên trầm trồ. Bước vào trong, bên cạnh thân thể khô cứng đang nhập định còn có nhiều khay đựng đầy nấm truffle thái mỏng đã khô nhưng vẫn tỏa mùi hương ngào ngạt.
Người ta tìm thấy tờ di chúc để lại trên bàn Phật, ông hiến tặng toàn bộ đất đai tài sản cho viện dưỡng lão, đồng thời tiết lộ điều bí mật được giữ kín lâu nay về cánh rừng có nấm truffle. Ông cẩn thận ghi chép điều kiện bắt buộc để nhận tài sản là phải có một ủy ban giám sát khai thác nấm truffle theo cách ông làm: Tôn trọng và bảo vệ loài sóc trước khi thu hoạch cho loài người vì chúng là chủ nhân đầu tiên kho báu này.

Mọi người không ngờ chính ông là nhà hảo tâm vô danh đóng góp tài chánh duy trì viện dưỡng lão nhiều năm qua! Ngày làm lễ hỏa thiêu rải tro bên bờ suối theo lời ông dặn trong di chúc, thị trấn Ran hầu như tham dự không thiếu một người. Từ cậu bé nhà nghèo bỏ báo buổi sớm mai cho đến cụ già trong viện dưỡng lão đều được giúp đỡ phương tiện lên núi. Lần đầu tiên cư dân thị trấn Ran gắn bó chăm sóc lẫn nhau như đại gia đình. 

Đoàn xe hơn trăm chiếc chậm chạp trên con đường gồ ghề tiễn ông đi. Cư dân khóc sướt mướt, thương mến cảm phục một nhân cách vi diệu sống trọn đời không những cho tha nhân mà ngay cả muôn loài.
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Nuước Mỹ vào Mùa Thu

Nước Mỹ vào thu đẹp lộng lẫy trong sắc đỏ, vàng của lá cây chuyển mùa.
Mùa thu nước Mỹ đẹp nhất khi lá cây chuyển màu hoàn toàn, thường vào khoảng giữa tháng 10. Ảnh: Forest Wander
Những cây dương lá vàng, sơn thù du lá đỏ, cây phong màu cam và mại châu được nhuộm vàng tạo thành bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp ở công viên Oak Mountain ( Miền Birmingham, Bang Alabama). Ảnh: Alabama Media Group
Thu vàng ở Miền Sedona, Bang Arizona. Ảnh: John Morgan
Cảnh đẹp nên thơ ở núi Ozark, Bang Arkansas. Ảnh: Arkansas Department of Parks & Tourism
Thảm cây dương lá vàng ở Bang California. Ảnh: Mike Baird
Mùa thu ở Baldwin, Bang  Colorado. Ảnh: Pam Morris
Thiên nga trắng giữa hồ thu ở công viên Young’s Pond, Branford, Bang Connecticut. Ảnh: slack12
Thu yên bình ở tiểu bang Delaware.
Những đám mây mang mưa đến ở dãy núi Sawtooth, Bang Idaho. Ảnh: Charles Knowles
Con đường lá đỏ thơ mộng ở Bang Indiana. Ảnh: ayay
Trẻ em chơi đùa trên thảm lá vàng ở Bang Kansas. Ảnh:Matthew & Karen Huber
Trại nổi trên sông Ouachita ở Bang Louisiana được bao phủ trong sắc đỏ của lá thu. Ảnh: FinchLake
Cảnh đẹp như tranh vẽ ở công viên Hinckley Park, South Portland, Bang Maine. Ảnh: Brent Danley
Một góc mùa thu dưới chân cầu đường sắt qua sông St. Croix River, Bang Minnesota.
Sắc đỏ rực đến chói mắt của rừng cây ở Grantwood. Ảnh: Thomas Hawk
Tàu hỏa lượn trong sắc vàng ở vườn quốc gia Glacier, Bang Montana. Ảnh: Loco Steve
Thu rực rỡ sắc màu ở Bang New Hampshire. Ảnh: bluepoint
Mùa thu trên một con đường quê vắt qua những ngọn đồi ở Miền Basking Ridge, Bang  New Jersey. Ảnh: joiseyshowaa
Suối chảy róc rách dưới những tán cây vàng, đỏ ở Kaaterskill Creek, Bang New York. Ảnh: E Palen
Đàn bò rừng bizon thảnh thơi bên bờ sông Little Missouri, Bang  North Dakota. Ảnh: Good Sam
Đường xe chạy lướt qua những hàng cây rực rỡ ở công viên Geneva, Bang Ohio. Ảnh: Mark K.
Công viên Beavers Bend ở Bang Oklahoma phác họa một bức tranh thu đẹp ngỡ ngàng. Ảnh: Carolyn Fletcher
Hai chú hươu đuôi trắng ngắm cảnh thu lộng lẫy dọc Skyline Drive, Bang Virginia. Ảnh: dherman1145
Những ngôi nhà, chuồng trại bằng gỗ mộc mạc lẫn trong sắc thu ở Bang  West Virginia. Ảnh: ForestWander
“Cây cầu dẫn đến mùa thu” ở Bang Wisconsin. Ảnh: Indy Kethdy
Cảnh thu vùng núi Grand Tetons, Bang Wyoming. Ảnh: Rich Flynn
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Chiêm ngưỡng những công trình kiến trúc đặc sắc của nước Mỹ

Nước Mỹ là nơi hội tụ của rất nhiều nền văn hóa trên thế giới. Cũng chính nhờ vậy mà quốc gia này có cho mình một sự đa dạng “hiếm có” trong trường phái kiến trúc.
Tại đây, bên cạnh những ngôi nhà thuần chất phương Tây, chúng ta còn có thể tìm thấy cả các đền thờ đạo Hindu, cung điện hoàng gia hay nhà kính kiểu Nhật Bản ở mức độ hoàn thiện cực kỳ cao.
 
Nhà hát Alabama
Nhà hát Alabama là một trong những công trình kiến trúc đẹp nhất bang Alabama nói riêng và cả thế giới nói chung. Trên thực tế, công trình này được xây dựng bởi hãng phim nổi tiếng Paramount và với mục đích sử dụng ban đầu là một rạp chiếu mang tính biểu tượng của hãng. Ngày nay, công trình này đã trở thành một trong những trung tâm văn hóa nghệ thuật của cả bang và hoạt động như một nhà hát, nơi diễn ra các vở kịch hoặc buổi lễ lớn.
Nhà thờ Chữ Thập
Nhà thờ Chữ Thập tại bang Arizona là một công trình tôn giáo hết sức độc đáo của nước Mỹ. Nhà thờ tọa lạc tại vị trí độc địa, trên vách đá đỏ cách mặt đất đến 60 mét. Mặc dù đã có từ năm 1956 nhưng công trình vẫn giữ được vẻ uy nghi và trường tồn của nó.
 
Học viện không quân Hoa Kỳ
Học viện không quân Hoa Kỳ sở hữu cho mình một tòa nhà với lối kiến trúc hiện đại, phá cách bậc nhất. Có thể thấy công trình đầy góc cạnh hợp thành từ 17 đỉnh chóp nhọn này, được lấy cảm hứng từ hình tượng của những chiếc máy bay đang đâm thẳng lên bầu trời.
 
Khu phức hợp Grace Farm
Trong ảnh là một tổ hợp văn hóa giải trí mang tên Grace Farm rất nổi tiếng của bang Connecticut. Khối kiến trúc này nổi bật bởi đường hành lang dài uốn lượn, tạo thành một con đường dẫn qua các khu vực chính như thư viện, phòng trà, phòng tập gym, sân bóng rổ. Điều đặc biệt là các khu vực văn hóa, giải trí này cũng được kết hợp một cách khéo léo để như hòa quyện vào “đường cong” mềm mại chủ đạo của cả công trình.
Đền thờ BAPS Shri Swaminarayan Mandir Atlantaa
Tọa lạc tại bang Georgia, đền thờ BAPS Shri Swaminarayan Mandir Atlantaa là đền thờ đạo Hindu lớn nhất ở ngoài lãnh thổ Ấn Độ- quê hương của tôn giáo này. Được biết, để xây dựng nên công trình tôn giáo hết sức đồ sộ này, người ta đã phải sử dụng đến 34.000 khối đá, được khai thác và vận chuyển trực tiếp từ Ấn Độ.
 
Cung điện Iolani
Cung điện Iolani tại quần đảo Hawaii là công trình hoàng gia duy nhất tại Mỹ. Tòa cung điện này được xây dựng bởi David Kalākaua, vị vua cuối cùng của Hawaii, trước khi nó trở thành lãnh thổ của Mỹ. Được biết, trong chuyến hành trình đi khắp thế giới vào năm 1881, vị cựu hoàng của Hawaii này đã bị ấn tượng bởi các cung điện của châu Âu, và đó cũng là nguồn cảm hứng thôi thúc ông xây dựng cung điện Iolani tại quê nhà của mình không lâu sau đó.
 
Trường đua Churchill Downs
Churchill Downs là trường đua ngựa thuộc vào hàng đẹp và nổi tiếng nhất của nước Mỹ. Nhìn lướt qua, chúng ta có thể thấy rằng, công trình này được thiết kế với lối kết trúc mang hơi hướng từ các nhà thờ đặc trưng của Mỹ, điển hình là hai tòa tháp ở khu vực trung tâm. Mặc dù được khánh thành từ năm 1875 nhưng trường đua này lại có sức chứa khủng lên đến 120.000 chỗ ngồi và vào những ngày diễn ra các cuộc đua, Churchill Downs luôn gần như không còn một chỗ trống.
Nhà kính Marjorie McNeely
lsa
Bên trong công viên Saint Paul’s Como thuộc bang Minnesota là một nhà kính tuyệt đẹp theo phong cách kiến trúc thiền tịnh của Nhật Bản, được mở của từ những năm đầu của thế kỷ 20 và vẫn còn hoạt động cho đến nay. Được biết, nhà kính này có chức năng như một khu trưng bày và bảo tồn các loài thực cũng như một số loại côn trùng mà nổi bật nhất là vườn bướm.
Minh Nhật
Theo 
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

TA QUANG KHOI: HỒ XUÂN HƯƠNG và NHỮNG NGHI VẤN

 
Tranh màu nước của danh họa Bùi Xuân Phái khắc họa ý thơ của Hồ Xuân Hương.
 
Người đầu tiên dùng phân tâm học của Freud trong văn chương Việt Nam có lẽ là ông Nguyễn Văn Hanh. Năm 1936, ông Nguyễn viết trong cuốn HỒ XUÂN HƯƠNG : TÁC PHẨM, THÂN THẾ VÀ VĂN TÀI (xuất bản ở Saigon) rằng nữ sĩ họ Hồ là một người xấu xí, đen đủi, bị khủng hoảng về tình dục. Ông còn gọi thơ bà là thơ “hiếu dâm”.
Đến cuối thập niên 1940 (hay đầu 50 ?) Trương Tửu Nguyễn Bách Khoa, trong cuốn KINH THI VIỆT NAM cũng cho rằng nữ sĩ họ Hồ có những dồn nén tình dục.
Nhưng vào thời gian đó, chưa ai nghĩ rằng thơ Hồ Xuân Hương không phải do chính nữ sĩ họ Hồ sáng tác. Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm còn viết một cuốn sách ca tụng bà là một nhà thơ cách mạng (Bốn Phương xuất bản năm 1950 ở Hà Nội). Đến cuối năm 1952, một nhóm người nêu giả thuyết không thực sự có một nữ sĩ tên là Hồ Xuân Hương. Thơ họ Hồ là thơ của nhiều nhà nho ẩn danh muốn giải tỏa những dồn nén tình dục của mình. Nhóm chủ trương “không có Hồ Xuân Hương” nêu lý do : trong thơ họ Hồ thường nhắc tới Chiêu Hổ, tức Phạm Đình Hổ, tác giả “Vũ Trung Tùy Bút”. Thế mà trong tác phẩm này, họ Phạm không hề nhắc tới người đã từng xướng họa thơ với mình. Rồi họ kết luận : không có nữ sĩ Hồ Xuân Hương. Chúng tôi e rằng nếu chỉ dựa vào lý do đó – theo thiển kiến, nó thiếu tính chất khoa học, nên chưa đủ sức mạnh thuyết phục – mà quyết định một vấn đề rất quan trọng trong văn học sử thì e quá hồ đồ. Nhưng chủ trương đó cũng làm một số người phân vân, hoang mang.
Vào cuối thập niên 1950, Học giả Hoàng Xuân Hãn, trong một bài nghiên cứu, quả quyết rằng thực sự có một nữ sĩ tên là Hồ Xuân Hương trong văn học cổ Việt Nam. Tuy nhiên, học giả họ Hoàng xác nhận rằng thơ Hồ Xuân Hương có những bài không phải do chính nữ sĩ sáng tác.
Chúng tôi nghĩ rằng Hoàng tiên sinh có lý. Có thể có một số người không hiểu tại sao các nho sĩ, văn hay chữ tốt, làm thơ lại không dám nêu tên mình mà phải núp dưới bóng người khác. Thật ra, điều này cũng không khó giải thích.
Trước hết chúng ta phải tìm hiểu nền giáo dục Khổng-Mạnh. Đó là một nền giáo dục khắt khe, nhằm đào tạo một con người toàn vẹn, cả về đức độ lẫn tài năng. Nó đã đưa những người theo nó lên nấc thang cao nhất của một xã hội nặng về nông nghiệp : Sĩ, Nông, Công, Thương. Dường như sau “Cách mạng tháng Tám” (1945) người ta mới thêm một đảng cấp nữa, đó là “Binh”. Kẻ sĩ, nhà nho, là một lớp người được cả xã hội quý trọng, kính nể. Họ tiến lên thì làm quan giúp vua, giúp nước, giúp dân; lui về thì dạy học, vun trồng thế hệ mai sau. Đó là “Tiến vi quan, thoái (hay đạt) vi sư.” Vì được tất cả mọi người trong xã hội kính nể, họ phải làm gương tốt cho thiên hạ noi theo. Muốn thế, nhà Nho phải luôn luôn giữ cho lòng được ngay thẳng, trong sáng
Để giữ cho lòng được ngay thẳng, trong sáng, họ chỉ nghĩ tới những điều cao đẹp, nói những điều hay để người khác nghe theo. Do đó, trong Hán tự, chữ CÁT  (tốt lành) được ghép hai chữ SĨ và KHẨU () nghĩa là những gì xuất phát từ miệng của kẻ sĩ đều tốt lành. Nho giáo khắt khe như vậy nên quả thật rất ít người theo đúng được, trừ những bậc thánh hiền. Con người ta dù ở địa vị đáng tôn kính nào vẫn là những con người với tất cả mọi nhu cầu, cả về vật chất lẫn tinh thần. Con người sẽ mất thăng bằng nếu chỉ thiên về một phía. Các nhà nho, dù ngày đêm “tụng” sách Thánh Hiền cũng không thể thoát ra khỏi thông lệ đó. Nho sĩ cũng là con người với tất cả “thất tình”. Họ cũng có những thèm khát vật chất như mọi chúng sinh khác. Nhưng họ phải giấu kín những gì lễ giáo cho là thấp hèn. Ngay cả vợ chồng cũng không được bộc lộ những thèm muốn về xác thịt, phải “tương kính như tân” (kính trọng nhau như khách). Đã “kính trọng nhau như khách”, vợ chồng không thể nói với nhau những lời xuồng xã, thô tục như những kẻ phàm phu. Trước mắt quần chúng, nhà nho càng phải nghiêm chỉnh hơn, lúc nào cũng phải nhớ rằng mình đang ở một địa vị cao quý nhất xã hội, “nhĩ mục quan chiêm”. Nhưng họ nghiêm chỉnh không có nghĩa là họ không có những thèm muốn về xác thịt. Thật ra, họ cũng muốn thỏa mãn những nhu cầu đó như mọi người bình thường khác.
Đối với những người đã hiển đạt  (thi đỗ, làm quan, giầu có) thì dù có phải coi vợ như khách, họ vẫn có cách giải quyết ổn thỏa. Họ có thể “nạp thiếp”,nghĩa là lấy vợ nhỏ, nàng hầu (trai năm thê, bảy thiếp…). Đối với vợ lẽ con thêm, họ không cần phải giũ lễ “tương kính như tân”.
Còn những nho sĩ chưa hiển đạt, chưa có đủ phương tiện để “nạp thiếp”, họ phải giấu kín những thèm muốn trong lòng để rồi chúng dần dần biến thành những dồn nén nhức nhối, khó chịu. Con đường giải tỏa tạm thời của họ là làm thơ, lén lút đưa cho nhau thưởng thức. Họ có thể là những người “văn chương chữ nghĩa bề bề”, thơ họ không phải là loại thơ “con cóc”. Rồi nhân đã có người nổi tiếng về lối thơ “dồn nén”, họ “đổ thừa” những bài thơ mới sáng tác của họ cho người đó. Thế là họ vẫn giữ được tiếng nhà nho ngay thẳng, lòng sáng như gương. Trong một bài hát nói tả một anh giả điếc, Nguyễn Khuyến đã có hai câu thơ chữ Hán mà mọi người cho rằng Cụ muốn ám chỉ thái độ nghiêm chỉnh giả tạo của một số nhà nho :
                                  “Tọa trung đàm tiếu nhân như mộc,
                                  “Dạ lý phan viên nhĩ tự hầu.”
(Tạm dịch : Ngồi nói chuyện vui với mọi người thì như gỗ, đến đêm anh cũng leo trèo như khỉ.)
 
Đến đây, chúng ta thử tìm hiểu cách phổ biến thơ  (nhất là thơ nôm, vì bị coi là “nôm na mách qué”, lại không phải là thứ văn tự được dùng trong thi cử) của cổ nhân Việt Nam. Các thi sĩ của ta ngày xưa không in thơ thành tập như các nhà thơ của thế kỷ 20. Có hứng thì làm thơ, nếu thấy hay, họ đưa cho bạn bè, người chung quanh cùng thưởng thức. Các nhà sưu tầm, nghiên cứu sau này đã mất rất nhiều thời giờ và công phu để gom góp lại. Tất nhiên chuyện “râu ông nọ cắm cằm bà kia” không thể tránh được. Do đó, trong văn học cổ Việt Nam, có nhiều trường hợp có những bài thơ có đến hai hoặc ba tác giả. Một thí dụ có liên quan đến hai nữ sĩ nổi tiếng trong văn học sử Việt Nam, vì cả hai cùng lấy chồng quan. Chuyện kể rằng : Một hôm, ông chồng quan đi vắng, bà vợ đăng đường xử án thay chồng. Một người đàn bà tên Nguyễn thị Đào, đệ đơn xin lấy chồng (có sách nói xin bỏ chồng để lấy chồng khác), bà quan liền phê vào đơn như sau :
                                            “Phó cho con Nguyễn thị Đào,
                                       “Nước trong leo lẻo cắm sào đợi ai ?
                                            “Chữ rằng : Xuân bất tái lai,
                                       “Cho về kiếm chút kẻo mai nữa già.”
Có sách cho rằng mấy câu thơ trên của Hồ Xuân Hương (khi bà làm lẽ ông phủ Vĩnh Tường), có sách ghi tên tác giả là Bà Huyện Thanh Quan. Người ta thắc mắc người vợ lẽ trong xã hội cổ xưa có dám tự tiện đăng đường xử án thay chồng không, khi chính mình còn chịu cảnh “kẻ đắp chăn bông, kẻ lạnh lùng” ?  Nhưng nếu xét về “văn phong”, ta thấy hợp với “khẩu khí” của Hồ Xuân Hương hơn.
Nhà thơ trào phúng Trần Tế Xương của Non Côi, sông Vị đã làm rất nhiều thơ chế diễu thói hư tật xấu (có khi chỉ xấu với riêng ông) cuả người trong tỉnh Nam Định. Hầu như mọi người đều đã đọc và lưu trữ thơ ông, nhưng con cháu ông lại không có lấy một bản.
           Về trường hợp thơ Hồ Xuân Hương, ta phải công nhận khó mà phân biệt bài nào do chính nữ sĩ sáng tác, bài nào không phải. Có người đã đề nghị một cách “nhận diện” như sau.
Khi người đàn ông bị dồn nén về tình dục, người đó sẽ nghĩ nhiều đến người đàn bà và thân thể của phái yếu. Người ta kể rằng một nhà cách mạng Việt Nam chống Pháp, khi bị tù quá lâu, đã mơ tưởng đến “nắm thuốc lào”.Vì thế, những thơ nói về thân thể người đàn bà, như “Vinh cái quạt” (Vành ra ba góc da con thiếu, Khép lại đôi bên thịt vẫn thừa) chưa chắc đã do Hồ Xuân Hương sáng tác.  Ngược lại, khi người đàn bà bị dồn nén, người ấy phải nghĩ đến những cái hấp dẫn của người đàn ông, như bài “Vịnh ông quan:” :
                       ”Đầu đội nón da loe chóp đỏ,
                       “Lưng đeo bị đạn rủ thao đen”
Nhưng chúng tôi nghĩ rằng điều quan trọng nhất là chúng ta có một nữ sĩ tài ba đã sáng tác những bài thơ tuyệt diệu cho đến nay chưa ai sánh kịp. Vậy chúng ta có nên tìm hiểu xem bài nào do chính nữ sĩ họ Hồ sáng tác, bài nào của những ai khác không ?.Hay tất cả đều là thơ Hồ Xuân Hương ..
           Các Cụ ta ngày xưa đã có câu :”Cá vào ao ai, người ấy hưởng”. Đó là một điều rất hợp lý, không ai có thể chối cãi được.
                                                                                               TQK
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Françoise Sagan, tiểu yêu nữ khả ái

 
(Sagan ở Paris 1955,
 
một năm sau khi
 
“Bonjour tristesse”
 
ra đời) 

LTS: Nhân kỷ niệm 13 năm ngày mất của Françoise Sagan (24/9/2004-24/9/2017), Diễn Đàn Thế Kỷ đăng lại đầy đủ bài tiểu luận này của Trần Hữu Thục, như là một tưởng niệm đối với một khuôn mặt văn chương độc đáo của Pháp và cũng của thế giới 

Vào lúc 19 giờ 35 phút ngày 24 tháng 9 tại bệnh viện Honfleur, miền Nam nước Pháp, Françoise Sagan – một hiện tượng văn chương độc đáo của Pháp – đã trút hơi thở cuối cùng, thọ 69 tuổi, vì bị máu nghẹt ở phổi. Denis (đứa con trai duy nhất có với người chồng thứ hai Robert James Westhoff) và  Marie-Therese Le Breton (quản gia, người đã từng nuôi nấng Sagan) ở bên bà vào những giây phút cuối cùng.  “Sagan nói với tôi ‘Tôi không muốn chết’ và rồi bà ấy chết trong tay tôi, đôi mắt mở lớn…”, bà quản gia kể lại.
 
Không mấy ai ngạc nhiên về cái chết của Sagan vì  sức khỏe của bà đã suy yếu nhiều trong những năm vừa qua. Nhưng đối với công chúng Pháp, cái chết đó vẫn tạo nên một cú “sốc”. Từ lâu, bà không chỉ là “vật tổ” của một thời đại, một thế hệ mà là một nhà văn Pháp đương thời nổi tiếng nhất thế giới.. Hơn 30 triệu ấn bản các tác phẩm của bà đã được bán ra. Nhiều luận án về bà và tác phẩm đã được viết tại nhiều đại học trên thế giới, nhất là tại Hoa Kỳ. Hầu hết trong số hơn 40 tác phẩm của bà (hay hoặc dở) đều được dịch ra tiếng Anh và nếu không nằm ở danh sách bestseller thì cũng được tiêu thụ nhanh chóng. Học sinh Nga học tiếng Pháp bằng các tác phẩm của bà. Một số câu lạc bộ ở Nhật lấy tên Sagan, vân vân.
Cứ lướt qua phản ứng của nhiều giới chức Pháp cũng như báo chí là ta có thể hình dung ảnh hưởng của bà đối với công chúng Pháp như thế nào. Tổng thống Pháp Jacques Chirac bày tỏ nỗi thương tiếc và xúc động ngay sau khi nghe tin bà chết qua một bản tuyên bố trong đó, ông cho rằng “Bà chết đi, nước Pháp đã mất đi một trong những tác giả độc đáo nhất và nhạy cảm nhất, một khuôn mặt sáng giá trong sinh hoạt văn chương của chúng ta. Với sự sắc sảo, trí tuệ và tinh tế, Françoise Sagan đã thăm dò những nguyên động lực và những đam mê của tâm hồn con người” (…) Bà đã góp phần vào sự tiến bộ của vị trí người phụ nữ trong xã hội chúng ta”.
 
Thủ tướng Pháp Jean-Pierre Raffarin “Françoise Sagan, đó là một nụ cười, sầu muộn, khó hiểu, xa cách nhưng mà vui”
 
Bộ trưởng văn hóa  Renaud Donnedieu de Vabres: “Chúng ta đã mất đi một nhân vật ngoại hạng, một nghệ sĩ đầy tài năng”
 
Nghệ sĩ Pháp Laurent Terzieff: “Bà mất đi, mang theo màu sắc và sự hài hước của cả một kỷ nguyên”.
 
Nhiếp ảnh gia Jean-Marie Perier: “Bà là một Rolling Stone[1] trước khi thuật ngữ này được sáng tạo”
 
Báo chí Âu Châu thương tiếc bà qua nhiều hàng tít lớn lấy từ tựa đề những tác phẩm nổi tiếng nhất của Sagan, chẳng hạn tờ La Vanguardia ở Tây Ban Nha: “Bonsoir Françoise”; tờ Corriere della Sera ở Ý: “Françoise Sagan, adieu tristesse”.
 
Báo chí Pháp thì khỏi nói. Paris Match: “Sagan, une inoubliable légèreté”. Le  Figaro: “Sagan: charmant petit monstre sacré”. “L’Express”, “Le Figaro” cũng như “Le Monde” cho đi cả một loạt bài vinh danh con người và sự nghiệp của Sagan. Dưới tựa đề “Tristesse”, tờ Liberation nói Sagan, mà những hình ảnh thời tuổi trẻ tràn đầy các trang đầu báo Pháp, không bao giờ làm cái gì nửa chừng. “Ðời bà y như một cơn gió xoáy…Rộng lượng, đầy cảm hứng, nhanh nhảu, nổi loạn, không thể phân loại, không thể bắt chước. Chúng ta yêu mến Sagan, ngay cả nếu chúng ta chưa hề đọc sách của bà hay không còn đọc sách của bà nữa. Sagan là một cái gì còn hơn cả chính Sagan, còn hơn là một hiện tượng viết văn: một nhà văn, một phụ nữ, một kỷ nguyên. Bà vội vã đi hết tốc lực xuyên suốt cuộc đời và tác phẩm của mình, chẳng thèm quan tâm đến mình”.
 
Tờ báo bán chạy nhất Pháp “Ouest-France”, lưu ý rằng mặc dầu rất nổi tiếng bà chẳng đoạt được một giải thưởng văn chương quan trọng nào của Pháp, nhưng “Mỗi một tác phẩm xuất bản của bà đều lôi kéo sự chú ý của báo chí và dư luận, ngay cả đôi khi tác phẩm đó được xem như nông cạn, hời hợt. Bà hầu như đã thành công gây cảm hứng tạo ra tính từ “saganesque”. Saganesque là gì? Là “nhớ nhà và buồn cười, hết sức tầm phào và rất rõ ràng.[2]
 
Tờ “Le Parisien” với tựa đề “Adieu Sagan, Bonjour Tristesse”: “Cuộc đời của bà thực sự là một trường thiên tiểu thuyết, được đánh dấu bởi những vinh quang và giàu có, rồi bởi những khó khăn và suy sụp. Một huyền thoại đã ra đi. Bà là (Brigitte) Bardot[3] của văn chương.” 
 
*** 
 
    Françoise Sagan! Bonjour Tristesse! Buồn ơi, chào mi!
 
Cái tên, cái tựa đề không chỉ là tên và tựa đề mà – với tôi – là biểu trưng cho cả một thời kỳ.
 
Ðầu thập niên 1960, thế hệ chúng tôi – đặc biệt những người sống ở các thành phố lớn như Huế, Sài Gòn, Ðà Nẵng, Ðà Lạt… – vừa bước ra khỏi thế giới tuổi thơ trong một khoảng thời gian hiếm hoi đất nước sống trong thanh bình. Người đệ nhị, kẻ đệ nhất[4], người thì vừa bước chân lên ngưỡng cửa đại học, chúng tôi được chứng kiến và sống trọn với nhiều chuyển biến đã để lại ảnh hưởng sâu đậm đến nền văn học nghệ thuật miền Nam và rồi là Hải Ngoại nhiều thập niên sau này. Về văn, từ nhữngHồm bướm mơ tiên, Ðoạn tuyệt, Nửa chừng xuân…chúng tôi bước vào Bếp Lửa, Cũng đành, Chuyến tàu trên sông Hồng, Mái tóc bạch kim… Trong các lớp ban C cấp 3, thầy cô đã từng bước cho học sinh thuyết trình những tác phẩm mới thay vì chỉ những tác phẩm của “Tự Lực Văn Ðoàn”. Tôi biết có giáo sư đã cho một học sinh đệ tam (lớp 9) thuyết trình “Cũng đành” của Dương Nghiễm Mậu. Về báo, từPhổ Thông, Thời Nay, Văn Hóa Ngày Nay, chúng tôi bước vào Sáng Tạo, Hiện Ðại, Thế Kỷ Hai Mươi. Về tác giả, từ Nhất Linh, Khái Hưng, Xuân Diệu, Huy Cận, Lưu Trọng Lư…, chúng tôi hào hứng đến với Thanh Tâm Tuyền, Nguyên Sa, Tô Thùy Yên, Dương Nghiễm Mậu, Mai Thảo. Về hội họa, chúng tôi tiếp cận với hội họa phương Tây qua một lớp họa sĩ trẻ tài năng và nhiệt tình qua “Hội hoạ sĩ trẻ” với những Ðinh Cường, Trịnh Cung, Nguyễn Trung, Tôn Thất Văn, Hồ Thành Ðức…Rồi nào là Phạm Công Thiện, Bùi Giáng, Trịnh Công Sơn và rất nhiều khuôn mặt mới toanh khác, thuộc đủ mọi ngành nghệ thuật. 

 
 

Về văn học nước ngoài, tuy người Pháp đã ra đi, nhưng ảnh hưởng của văn hóa Pháp vẫn còn mạnh mẽ. Chúng tôi vẫn thích nói về Paris, về viện bảo tàng Louvre, về sông Seine, về khu Saint Germain des prés, về công viên Luxembourg – những nơi nào đó ở Paris mà chúng tôi chẳng hề đặt chân tới. Trước khi văn hóa Mỹ cùng với chiến tranh chế ngự không khí văn hóa và xã hội Việt Nam, chúng tôi đọc sách báo Pháp, nghe nhạc Pháp, xem phim Pháp, chuộng phong thái parisien. Chúng tôi vẫn thường lui tới các phòng thông tin văn hóa Pháp để đọc sách, mượn sách và theo học các lớp Pháp ngữ. Từ Alphonse Daudet, Victor Hugo, Lamartine, chúng tôi “đụng” Sartre, Camus, Jacques Prévert…Mốt hồi đó, là sau yên chiếc xe đạp hay trên tay, lúc nào cũng có một cuốn “Livre de poche” gọn, nhỏ (mà chữ nghĩa và tên tuổi rất “nặng ký”), nếu không La Condition humaine, Huis-clos, Le Mur…thì cũng La Nausée, Les Mains sales, Le Malentendu. Ấy, đọc Sartre, Camus, Malraux, xem phim Brigitte Bardot, và say sưa thưởng thức các giọng ca hàng đầu Pháp Sylvie Vartan, Johnny Hallyday, Francoise Hardy với những bài hát Pháp vừa mới sáng tác là “mốt” thời thượng của chúng tôi.

 
Ðó cũng là thời xuất hiện các quán cà phê văn nghệ, nơi chúng tôi đàn đúm ngày đêm để đấu láo, tán dốc. Dáng dấp anh nào anh nấy đã có cái gì lất khất, lừng khừng, bụi bụi. Khuôn mặt lúc nào cũng ra vẻ bất cần đời. Có tay, đầu đội mũ bê rê lệch, miệng ngậm tẩu, khoác áo pardessus, trông có vẻ Tây, thầm hãnh diện với mấy ngón tay cháy vàng khói thuốc. Những “cuộc” cà phê thâu đêm suốt sáng. Những “trận” rượu ngất ngưởng. Chữ nghĩa nghe mới toanh: hư vô, hiện sinh, mệt nhoài, nổi loạn, thái độ, dấn thân, phi lý…
 
(Sagan ở Paris 1955,
 
một năm sau khi
 
“Bonjour tristesse”
 
ra đời) Hình: Internet
 
Françoise Sagan – và Bonjour tristesse – xuất hiện trong không khí đó. Thời đó, sau khi người Pháp ra đi, trừ những gia đình giàu có cho con theo học các trường Tây, còn hầu hết chúng tôi đều học chương trình Việt. Pháp văn (cũng như Anh Văn) trở thành ngoại ngữ, trung bình chỉ có 4 giờ/tuần. Bởi thế, những tác phẩm “nặng ký” của Sartre, hay Camus, hay Malraux không phải là dễ đọc đối với chúng tôi. May nhờ sách dịch và các tạp chí văn chương giới thiệu, nên ít nhiều cũng nắm được nội dung để có thể lần mò đọc và hiểu. Khác với những tác phẩm kể trên, Bonjour Tristesse ngắn, ấn bản “Livre de poche” chỉ khoảng 170 -180 trang, chữ khổ trung bình. Văn viết gọn ghẽ, dễ hiểu. Tư tưởng tuy mới, nhưng không có gì cao siêu, khó hiểu, chỉ cần trình độ Pháp văn trung bình là có thể đọc hết nguyên con trong một thời gian tương đối ngắn. Với BonjourTristesse, một cánh cửa vốn đóng im ỉm bỗng nhiên mở toang trước mặt chúng tôi. Thế giới đột nhiên mênh mông hẳn ra. Cuộc sống bỗng nhiên trở thành lạ mặt. Thành phố, người thân, người yêu, bạn bè, trường học, gia đình… bỗng xuất hiện trong một dáng dấp hoàn toàn mới.
 
Nhà phê bình Ðặng Tiến – trước chúng tôi chừng nửa thế hệ – ghi nhận: năm 1954, “miền Nam Việt Nam trở thành một thực thể chính trị độc lập, thật sự mở cửa đón nhận ảnh hưởng văn hóa Phương Tây. Sách báo phương Tây du nhập ồ ạt : sách tiếng Anh (của Usis), tiếng Ðức (của viện Goethe) và nhất là sách tiếng Pháp nhập khẩu với giá rẻ nhờ có tài trợ (sách AC, Action Culturelle) cước phí rẻ, giá ân huệ, tràn ngập các hiệu sách Xuân Thu, Lê Phan và các nhà sách trên đường Lê Lợi. Tại Sài gòn, 1954 người đọc tiếp nhận Bonjour Tristesse cùng một lúc với Paris, mà giá rẻ hơn (tương đối với ngoại tệ). Và cùng một lúc với sách báo, quần chúng Việt Nam tiếp xúc với âm nhạc, điện ảnh Tây Phương. Bản thân tôi đã xem vở kịch Chateau en Suede (Lâu đài Thụy Ðiển), 1960, của Sagan tại Sài Gòn, một lần với Paris, do Pháp Văn Ðồng Minh Hội (Alliance Francaise) tổ chức[5].
 
Nguyễn Văn Lục, trong một bài viết công phu trên tạp chí Hợp Lưu[6], liệt kê rất đầy đủ sách dịch trong vòng 20 năm ở miền Nam, 1955-1975, cho biết người đầu tiên giới thiệu Sagan là giáo sư Nguyễn Nam Châu, sau đó là Cô Liêu (Vũ Ðình Lưu) với bài “Sứ mệnh văn chương của Françoise Sagan” (Bách Khoa/1958) và Hoàng Thái Linh (Nguyễn Văn Trung) với bài “Trường hợp Sagan hay vấn đề luân lý trong tiểu thuyết”. Về dịch thuật, Nguyễn Văn Lục ghi nhận có 4 tác phẩm của Sagan được dịch ra tiếng Việt, đó là: Bonjour Tristesse (một do Nguyễn Vỹ và một do Lê Huy Oanh), Un Certain sourire (do Nguyễn Minh Hoàng), Dans un mois, dans un an (do Bửu Ý) và Les Merveilles nuages (do Ðinh Bá Kha). Bonjour Tristesse được Nguyễn Vỹ dịch là “Buồn ơi, chào mi”, còn Lê Huy Oanh dịch là “Buồn ơi, xin chào”, nhưng không hiểu sao cụm từ “Buồn ơi chào mi” lại được nhắc nhở nhiều hơn, có lẽ vì nghe nó thuận tai chăng?
 
Trước khi đi xa hơn với cuộc đời và sự nghiệp của Sagan, ta hãy nói về Bonjour Tristesse. Xin tóm tắt câu chuyện:
 
Cô gái tên là Cécile, 17 tuổi cùng cha, Raymond, trong độ 40 tuổi, góa vợ và bà Elsa, tình nhân của cha, đi nghỉ hè ở bờ biển Côte d’azur. Sau, cha cô mời thêm một người bạn cũ của mẹ cô là Anne cùng đến đó. Trên bãi biển, cô quen một sinh viên, cũng đi nghỉ hè, tên là Cyril, và cùng nhau đi chơi, đi bơi, đi khiêu vũ. Hai người hôn nhau, làm tình với nhau. Anne là một người đàn bà cỡ tuổi 40, chăm sóc cô như một người mẹ và khá nghiêm khắc. Bà ta tỏ ra không ưa Cyril và muốn Cécile bỏ anh ta và học để thi lại cái bằng tú tài mà cô hỏng năm rồi. Ðiều này khiến Cécile vô cùng bực bội và đâm ra ghét Anne. Ðã thế, sau một thời gian ngắn, cha cô yêu Anne, bỏ rơi Elsa và dự tính kết hôn cùng bà ta, khiến cô lại càng tức giận hơn. Thế là cô cùng anh chàng tình nhân vừa quen sắp đăt một kế hoạch để ly gián hai người. Ðược sự đồng ý của Elsa (bà này cũng đang buồn vì bị tình phụ), hai người dàn một cảnh yêu đương và để cho cha cô trông thấy. Ông giận dữ, tức tối vì thấy tình nhân của mình lại bị một tay trai trẻ bằng tuổi con mình chiếm đoạt, nên hối hận, quay về với Elsa. Anne bắt gặp hai người âu yếm, buồn tình bỏ đi, và bị tai nạn, chết. Mọi người hối hận, nhưng mọi sự đã rồi. Cha cô và cô trở về lại Paris, sống lại đời sống bình thường cũ. Nhưng cô gái trẻ bây giờ không còn vô tư như trước mà phát sinh ra một  trạng thái tình cảm mới: nỗi buồn.
 
Tình tiết câu chuyện nghe đã lạ. Văn vẻ càng lạ hơn. Xin ghi lại vài đoạn trích từ Bonjoưr Tristesse[7]. Tác phẩm mở đầu như sau:
 
“Trong thứ tình cảm vô danh, mà nỗi phiền muộn, sự dịu dàng ám ảnh tôi, tôi phân vân đặt tên, cái tên đẹp đẽ trĩu nặng nỗi buồn. Ðó là một tình cảm toàn vẹn đến nỗi, ích kỷ đến nỗi tôi gần như cảm thấy hổ thẹn vì nỗi buồn luôn luôn xuất hiện trong tôi với vẻ tôn quý (…) Hôm nay, có một đôi điều trở lại trong tôi y như thể một sợi tơ, uể oải và dịu dàng, ngăn cách tôi với những người khác. Mùa hè năm đó, tôi 17 tuổi và tôi hoàn toàn hạnh phúc. Những “người khác” (ở đây) chính là cha tôi và Elsa, tình nhân của người.” [8]    
 
Nụ hôn đầu đời:
 
“Chàng ôm chặt lấy tôi, nâng tôi lên, đầu dựa vào vai chàng. Lúc đó, tôi yêu chàng. Trong thứ ánh sáng của buổi sáng, chàng cũng rực rỡ, cũng dễ thương, cũng dịu dàng như tôi, chàng bảo bọc tôi. Khi môi chàng tìm môi tôi, tôi bắt đầu run rẩy vì khoái cảm y như chàng và chúng tôi hôn nhau mà không một chút hối hận, không một chút hổ thẹn mà chỉ là một kiếm tìm rướn sâu, ngắt quãng bởi những tiếng thì thầm.” [9] 
 
Chữ nghĩa không có gì cầu kỳ, câu kéo gọn gàng và rất “văn phạm”, dễ tiếp cận. Hơi văn thì nhẹ nhàng, nhưng nghe có gì mệt mỏi, chán chường, bất cần đời một cách đầy kiêu hãnh. 
 
Ðoạn gay cấn nhất trong tác phẩm: cô gái Cécile 16 tuổi tự ý tìm đến người con trai 26 tuổi vừa quen. Cảnh làm tình được diễn tả ngắn gọn, cô đọng như sau:
 
“Chàng nắm lấy cánh tay tôi, vừa giữ tôi lại vừa cười. Tôi quay về phía chàng và nhìn chàng; mặt chàng tái đi như tôi và buông tay tôi ra. Nhưng rồi chàng lại vội vàng ôm lấy tôi và kéo tôi lại. Tôi mơ hồ cảm nhận: cái đó sắp tới rồi, cái đó sắp tới rồi. Sau đó là liên khúc tình yêu: nỗi sợ hãi tiếp sức cho cơn ham muốn, sự dịu dàng và cuồng nhiệt và rồi nỗi đau buốt nối tiếp với cơn hả hê khoái cảm. Ngày ấy, tôi sung sướng – còn Cyril hết sức dịu dàng – khám phá cơn khoái cảm đó.” [10]
 
Hút thuốc lá, một phong thái rất Sagan. Ðây là đoạn tả Cécile trở về nhà sau giây phút “ghê gớm” đó:
 
“Tôi lấy điếu thuốc trên bàn, quẹt một que diêm trên hộp quẹt. Diêm tắt. Tôi cẩn thận đốt một que khác, không có gió thế mà bàn tay tôi run rẩy. Diêm tắt ngay khi chạm điếu thuốc. Tôi lầm bầm bực bội và lấy thêm một que nữa. Lúc này không hiểu tại sao, que diêm này lại mang sự quan trọng sống còn đối với tôi đến như vậy.” [11]
 
Nhưng rồi cuối cùng, cô gái từ giã người tình đầu, dửng dưng, tỉnh bơ y như một chuyện thường ngày, không có gì quan trọng cả:
 
“Cyril bước về phía tôi và đặt tay trên vai tôi. Tôi nhìn chàng: tôi không hề yêu chàng. Tôi thấy chàng tốt và hấp dẫn; tôi mê cái khoái cảm mà chàng đã cho tôi; nhưng tôi không hề cần chàng.  Tôi sắp ra đi, rời ngôi nhà này, rời người con trai này và rời mùa hè này.” [12]
 
Ðơn giản và thẳng thắn và sòng phẳng đến thế thì thôi! 
 
*** 
 
Cùng với Sáng Tạo, cùng với những Camus, Sartre, Françoise Sagan đã đem một luồng gió mới vào sinh hoạt văn học nghệ thuật miền Nam Việt Nam kể từ thập niên 1960. Ðặc biệt, Sagan – trực tiếp hay gián tiếp – đã đưa đến sự có mặt của năm nhà văn nữ thuộc loại độc đáo nhất thời đó là Nhã Ca, Trùng Dương, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Nguyễn Thị Hoàng (tức Hoàng Ðông Phương) và Túy Hồng với một văn phong mới mẻ, nội dung táo bạo, chưa hề có trước đó. “Vòng tay học trò” chẳng hạn, mô tả mối tình giữa một cô giáo và đứa học trò, gây nên dư luận xôn xao một thời. Rồi là Lệ Hằng và đặc biệt  Trần Thị Ngh, một hiện tượng văn chương độc đáo đầu thập niên 1970 [13]. Theo Nguyễn Văn Lục, thì các nhà văn nữ vào thập niên  60 như Nguyễn Thị Hoàng, Túy Hồng, Lệ Hằng, Nguyễn Thị Thụy Vũ  “phảng phất không khí Sagan”. Ông đánh giá: “Cái cảm giác khi đọc các nhà văn này (trừ Nguyễn Thị Hoàng) là họ còn đi xa hơn các nhà văn nam giới và đi xa hơn cả Sagan trong những mô tả tính dục. Chẳng hạn Sagan tả những liên hệ tính dục một cách phơn phớt, không đào sâu, không đậm đặc, “không mặn”, không sống sượng như Túy Hồng hay Nguyễn Thị Thụy Vũ” (…) Lối văn của Sagan cụt, hụt hẫng, hững hờ, không màu mè, diêm dúa. Mục đích của Sagan không phải là mô tả những scènes tình dục cho bằng muốn nhắn gửi: cuộc đời chẳng có gì quan trọng, ngay như chuyện làm tình…Luân lý cũng vậy vậy, đạo đức vậy vậy. Cuộc đời trong một ngày, một tháng, một năm, có gì là lạ. Thản nhiên, vô cảm[14].  
 
         
 
Sagan, tên thật là Françoise Quoirez, tục danh là Kiki, sinh vào ngày 21 tháng 6 năm 1935 ở Cajarc, một ngôi làng ở miền tây nam Pháp. Bà là người con thứ ba của Paul Quoirez, một thương gia giàu có. Khi bà lên 15, gia đình dời về sống ở Paris. Bà mê đọc sách từ hồi còn nhỏ; 12 tuổi, viết truyện và làm thơ; 13 tuổi, đọc Nourritures terrestres của André Gide; 14 tuổi, đọc L’Homme révolté của Albert Camus; 16 tuổi, đọc Marcel Proust, Rimbaud. Về học hành, bà theo học trường dòng (couvent des Oiseaux) trước khi vào học Sorbonne. Hai năm ở Sorbonne, bà chẳng học hành gì nhiều, phần lớn thời gian bà dành cho đi chơi và uống cà phê và đọc truyện. Biết uống rượu vào năm 15 tuổi. Trong kỳ thi cuối năm, bà hỏng tú tài khiến gia đình rất phiền muộn. Ðể xoa dịu nỗi buồn bực, bà cảm thấy phải “làm một cái gì”, bèn ngồi xuống và bắt đầu viết.. Viết xong trong vòng 32 ngày (có báo nói là 7 tuần), bà gửi ngay cho nhiều nhà xuất bản, trong đó có René Julliard. Julliard nhận ngay để xuất bản với một điều kiện duy nhất: phải có phép của cha mẹ, vì “cô bé” Francoise chưa tới 21 tuổi. Bà vội vã về hỏi ý kiến cha. Ông đồng ý ngay nhưng không cho bà dùng tên gia đình (họ) mà phải dùng bút hiệu. Dễ thôi! Bà lấy tác phẩm yêu thích nhất của mình À la recherche du temps perdu của Marcel Proust, giở ra một trang, thấy đoạn tả quận công Sagan đi ngang trên chiếc xe ngựa, thế là chọn ngay tên Sagan. Và bắt đầu từ đó, Françoise Quoirez trở thành Françoise Sagan.
 
Mùa hè năm 1954 là một mùa hè buồn thảm đối với toàn thể nước Pháp. Quân đội Pháp sa lầy và cuối cùng thất bại nhục nhã tại Ðiện Biên Phủ. Cuộc chiến tranh Ðông Dương kết thúc. Tuổi trẻ Pháp chán nản, tuyệt vọng và mất phương hướng. Cũng năm đó, về mặt xã hội, người ta ghi nhận hai biến cố quan trọng, diễn ra ở hai cực hoàn toàn đối nghịch theo kiểu người ta thường nói: “thiên thần” – “ác quỷ”. Về phía “thiên thần”, sự xuất hiện của linh mục Pierre mà những hoạt động của ông đã tượng trưng cho tinh thần bác ái ở mức độ cao nhất[15]. Và về phía “ác quỷ”, thì là sự xuất hiện của Sagan, một thiếu nữ nổi loạn, xé rào, vô luân. Tất nhiên, đó chỉ là một cách nói. Nhưng nhìn ở một phía khác, theo Etienne de Montety[16], thì nước Pháp mất Ðông Dương nhưng lại được bù trừ lại bằng sự xuất hiện của Sagan, một nhà văn ngoại hạng. Bonjour Tristesse – được ví von như một trái bom nổ chậm đặt tại ngưỡng cửa của Cộng hòa văn chương Pháp – ra đời hai năm trước phim Et Dieu créa la femme của đạo diễn Roger Vadim với một khuôn mặt tài tử hoàn toàn mới của nước Pháp và của thế giới: cô đào sexy Brigitte Bardot. Ðược xem như hình tượng của giới trí thức thập niên 1950, trong không khí của một nước Pháp phục hồi sau chiến tranh – cùng với Bardot – Sagan đã thổi một luồng không khí mới mẻ, tươi tắn, đưa trào lưu nghệ thuật Pháp và toàn thế giới vào một bước chuyển biến đầy bất ngờ thích thú, tạo nên những chấn động tâm lý, văn chương và xã hội kéo dài nhiều thập niên về sau.
 
Triết lý của câu chuyện là: chẳng có gì là quan trọng. Một cô bé 17 tuổi ngủ với trai mà không hề yêu, lại không mang thai cũng chẳng hề hối hận và không bị trừng phạt. Nói một cách khác, người ta có thể tự do, không phải trả giá cho hành động của mình, dù đó là một hành động vô luân. Françoise Mauriac, một trong những nhà văn được kính trọng nhất thời bấy giờ, trong một bài báo viết trên trang đầu của tờ “Le Figaro” ngay sau khi tác phẩm được phát hành, – không nhắc đến tên tác phẩm mà cũng không nêu tên tác giả – gọi tác giả là một “tiểu yêu khả ái” (charmant petit monstre), cụm từ  về sau trở thành một biệt hiệu dành riêng cho Sagan mà tôi đã mượn tạm để đặt tựa đề cho bài viết này.
 
Năm sau, một bản dịch tiếng Anh được phát hành và lập tức nằm đầu trên danh sách bestseller của tờ New York Times. Từ 3000 ấn bản (có báo nói là 5000) lần phát hành đầu tiên, vào đầu năm 1958, sách bán đạt con số kỷ lục là 810 ngàn ấn bản ở Pháp và hơn một triệu ấn bản ở Hoa Kỳ và được dịch ra 20 thứ tiếng. Lập tức, tác phẩm tạo nên một sự thành công lạ thường. Nó chiếm được giải “Prix des Critiques”, mang lại cho Sagan 500 ngàn bảng Anh và đồng thời bị Giáo hoàng lên án mạnh mẽ, khiến cho một linh mục Công giáo đã phải từ chối làm phép hôn phối trong lễ cưới lần đầu tiên của bà. Sau này, Sagan gọi đó là một “thành công đầy tai tiếng” (succès de scandale) khi lần đầu tiên tác phẩm được phát hành ở Pháp. Bà nói bà cũng không hiểu tại sao mà người ta lại có vẻ ồn ào, sôi động như thế về tác phẩm của bà, lúc đó. Ba thập niên sau, nhớ lại, bà hiểu ra rằng sự giận dữ xuất phát từ mối quan hệ giữa nhân vật nữ, Cécile, và anh bồ của cô ta. Người ta không thể chấp nhận được chuyện một cô gái 17 hoặc 18 tuổi lại làm tình với một đứa con trai trạc tuổi mình mà chẳng hề bị trừng phạt gì cả. Ðã thế, cô gái biết về chuyện tình ái lăng nhăng của cha mình, lại còn thảo luận chuyện đó với cha, đề cập đến những đề tài lúc đó vẫn còn là điều cấm kỵ giữa cha mẹ và con cái. “Ðối với đại đa số độc giả (nguyên văn: ba phần tư), tai tiếng của tác phẩm là do chỗ một nhân vật thiếu nữ trẻ lại ngủ với trai mà không có thai, lại chẳng cần cưới nhau. Riêng đối với tôi, tai tiếng của câu chuyện là một nhân vật lại có thể – do vô thức, do ích kỷ – đưa đến cái chết của một người khác”, Sagan nói.
 
Thành công bước đầu tạo động lực cho Sagan hăng hái cầm bút tiếp. Trung bình cứ hai năm bà cho ra đời một tác phẩm. Những tựa sách của Sagan chất đầy trong thư viện, trên các kệ sách gia đình và nằm trong trí nhớ mọi người. Từ năm 1954 đến 1965, có thêm ba sáng tác mới đuợc nằm trên danh sách bestsellerUn certain sourire, Aimez-vous Brahms và La Chamade. Cả ba cuốn đều được đóng thành phim và đều là những phim thành công rực rỡ. Thành công ở truyện, bà nhảy sang viết kịch và kịch bản phim và tỏ ra có tài viết những đoạn đối thoại thông minh, dí dỏm. Tuy nhiên, trừ hai vở kịch đầu tiên, Chateau en Suède (1960)  và Les Violons parfois (1962) gây được tiếng vang trong công chúng thưởng ngoạn, nhiều vở kịch khác ra đời những năm sau đó như La Robe mauve de Valentine(1963), Bonheur, Impair et passe (1964), Le Cheval évanoui (1966) không mấy thành công. Có lẽ do vậy, với  La Garde du coeur, tiểu thuyết xuất bản năm 1968, hầu như bà trở lại viết truyện dài, chỉ thỉnh thoảng mới viết một vở kịch.
 
Nói chung, dù là kịch hay tiểu thuyết, đề tài của bà thường na ná nhau, đại loại mô tả cuộc sống của giai cấp trưởng giả nhàn rỗi, chán nản, hoài nghi, cô đơn với những nhân vật đàn ông và đàn bà luôn luôn đánh vật với số phận của mình và những thanh thiếu niên buồn bã, hờn dỗi, phung phá, nổi loạn, thách thức đạo lý xã hội đương thời. Truyện thường xoay quanh những chuyện tình trái khoáy, qua đó, nói lên sự xung đột giữa hai thế hệ. Chẳng hạn như trong La Garde du coeur (kịch, 1968) – lấy khung cảnh ở Hollywood – kể lại câu chuyện của một thiếu phụ trung niên, đảm nhiệm chăm sóc cho một thiếu niên đẹp trai rồi đâm ra có cảm tình với cậu ta, tạo nên thứ tình cảm phân vân giữa một bên là người tình đồng trang lứa và cậu con trai hoang đàng chỉ bằng tuổi con mình; hay trong Un Orage immobile (truyện, 1983) – lấy khung cảnh của một ngôi làng nhỏ – kể lại tình yêu say đắm của một phụ nữ góa chồng xinh đẹp say mê một anh chàng công chứng viên trẻ tuổi. Các nhân vật của bà thường là những người tuyệt vọng trong quan hệ cá nhân, tìm cách lấp khoảng trống thời gian bằng cách đi tìm những thú vui nhục cảm, đưa đến các hành vi vô luân. Nói chung, nội dung truyện cho thấy tính cách vô mục đích trong cuộc sống hàng ngày. Chúng đưa ra hình ảnh của một nước Pháp hiện đại, trong đó, trách nhiệm cá nhân  chẳng có nghĩa lý gì so với lối sống theo mốt thời thượng, một nguyên tắc mà bà xác định theo đuổi cho đến cùng.. Chúng làm rúng động tầng lớp bảo thủ và thường khiến các nhà phê bình văn chương nhăn mặt, nhưng lại được rất nhiều người – đặc  biệt là tầng lớp thanh thiếu niên – thích thú,  ngưỡng mộ, góp phần tạo nên ảnh hưởng đáng kể đến nhiều nhà văn nữ đàn em sau này. 
 
Theo Josyane Savigneau[17], khác với nhiều nhà văn có tính “hiếu đại” (mégalomanie), thường mơ ước sáng tác được một tác phẩm lớn – với niềm tin rằng đó là một cái gì độc đáo có thể tồn tại mãi mãi, để lại cho hậu thế – có vẻ như trong thâm tâm, Sagan không thích thế hoặc không hy vọng mình sẽ làm được như thế. Trong một cuộc phỏng vấn dành cho tờ “Le Monde” vào năm 1984, bà nói rõ: “Tôi mơ làm nhà văn khi tôi bắt đầu đọc sách. Chắc chắn điều đó không có gì khác thường. Sau khi hỏng tú tài, tôi chán nản. Lúc đó tôi học năm đầu ở trường Sorbonne. Tôi bắt đầu viết Bonjour Tristesse trong quán rượu. Viết xong, tôi gởi đến những nhà xuất bản. Julliard nhận. Rồi là bài báo của Mauriac, rồi là “Giải Phê Bình” (le Prix des critiques) và tất cả bắt đầu một thành công vĩ đại, có cái gì không cân xứng. Riêng tôi, tôi biết tôi thích những câu chuyện tầm thường của tôi. Tôi chẳng hổ thẹn gì, vì văn chương không đến nỗi dở, mà tôi thì làm việc đàng hoàng. Tôi lại biết đọc sách. Tôi đã đọc Proust, đã đọc Stendhal… Những con người như thế quả làm mình không dám chường mặt ra”, bà nói.
 
Trả lời cho một cuộc phỏng vấn khác vào  năm 2003 với Alain Louyot[18] về viết lách, bà nói: “Tôi có cảm tưởng là mình vô cùng may mắn trong cuộc đời. Tôi có cái may mắn thích viết và có thể viết được. Tôi lại có điều kiện thuận tiện để viết vì tôi vốn rất lười biếng. Tôi nhớ đã có lần tôi viết một câu chuyện tình trong chiếc Limousin trong khi đang đi du lịch ở xứ Népal (…) Khi tôi có đề tài ở trong đầu, tôi có thể viết liền một mạch 12 tiếng đồng hồ. Và khi viết xong, tôi cảm thấy buồn, cảm thấy như mình trở nên mồ côi. Tôi chỉ có thể viết khi tôi hoàn toàn hạnh phúc”. Ðược hỏi về chuyện thành công trong cuộc đời, bà cho biết “Tôi không cho rằng tôi đã thành công ở trong cuộc đời. Nhưng tôi đã thành công ở chỗ tôi làm cái mà tôi thích: vừa sống vừa viết”. Cũng theo bà, “Viết là cách duy nhất xác định tôi chính là tôi. Tôi luôn luôn có cảm tưởng là sẽ đi đến một cái gì bế tắc. Vừa được vừa thua. Vừa tuyệt vọng vừa phấn khích”[19].
 
Phát biểu về trào lưu “Tân tiểu thuyết” do các nhà văn Marguerite Duras, Alain Robbe-Grillet, Michel Butor, Claude Simon, Phillipe Sollers, and Nathalie Sarraute chủ trương vào đầu thập niên 1960, bà nói: “Tôi không tin ở kỹ thuật, không tin ở chuyện người ta có thể làm mới tiểu thuyết. Chính ở nơi con người mà người ta đào xới (để sáng tác). Y như chuyện người tiều phu. Thân cây (ông ta muốn đốn) đủ lớn để ông ta khỏi phải mất thì giờ để kiểm tra xem  cái rìu ra sao”, bà phát biểu. [20] 
 
Bàn về giá trị văn chương các tác phẩm của Sagan, hầu như mọi người đều đồng ý rằng, trong số hơn 40 tác phẩm của mình, Bonjour Tristesse là tác phẩm thành công nhất và có giá trị nhất. Không kể văn hào Mauriac, thì người đầu tiên ca ngợi Sagan là ông già hàn lâm viện Emile Henriot, người phụ trách mục sổ tay văn học hàng ngày cho tờ Le Monde. Theo Laurent Greilsamer[21] cuốn sách mỏng chưa tới 200 trang khổ nhỏ mà như muốn làm bỏng tay ông. Ông thả xuống rồi cầm lên, đọc đi rồi đọc lại. Ông gọi đó là “một kiệt tác nhỏ bé vô liêm sỉ và tàn bạo”[22]. Tính cách vô luân của nó khiến ông say sưa, đưa đến một so sánh đáng đồng tiền bát gạo : “Ðó là tác phẩm của một cô bé mới có 18 tuổi, có lẽ là còn rất ngây thơ trong trắng, nhưng đầy tưởng tượng sáng tạo và trong chừng mức cho phép, ta có thể so sánh toàn bộ cái tác phẩm đầu tay lạ thường này với một Choderlos de Laclos[23] hung bạo trong “Liaisons dangereuses”, với cái ngây thơ cay độc trong “Hauts de Hurlevent” (Ðỉnh gió hú) của Emily Bronte và với ngọn lửa băng giá trong “Diable au corps” của Radiguet”. Và ông kết luận “Tất cả trở nên nhạt nhẽo sau một tác phẩm như thế”.[24]
 
Nhà văn nổi tiếng Hoa Kỳ John Updike, viết trong tờ The New Yorker 20 năm sau khi Bonjour Tristessexuất hiện, ca ngợi tác phẩm là “sôi động như biển cả” (sparkling sea), “hẻo lánh như rừng hoang” (secluding woods), “nhanh nhảu theo bản năng tự nhiên” (animal quickness), cốt truyện thì rất hiệu quả (academically efficient), các nhân vật nam, nữ được xây dựng một cách hoàn hảo. Theo ông thì tác phẩm được viết bởi niềm tin hồn nhiên của tác giả trẻ vào tính chất khêu gợi (của các sự kiện).
 
Khen như thế chắc cũng hết mức rồi!
 
Mà chê thì cũng lắm. Thành công của Bonjour Tristesse, theo một số nhà phê bình, nếu gạt ra ngoài những ảnh hưởng tâm lý và xã hội do thời điểm xuất hiện của tác phẩm, thì cũng chỉ là thành công của một tiểu phẩm – petite musique – vì nó đã mỏng lại không chứa đựng ý tưởng gì lớn lao (pas grand-chose). Khái niệm “tiểu phẩm” về sau được sử dụng bởi những người chỉ trích để mỉa maiBonjour Tristesse. Mặt khác, họ cho rằng Sagan viết quá nhiều, do đó, các tác phẩm về sau càng ngày càng nhạt nhẽo, mất tính nghiêm túc. Họ nhiều lần lên tiếng phê phán lối viết dễ dãi cũng như thứ tư tưởng chuộng khoái lạc quá đáng đến chỗ gần như ngông cuồng của bà. Ðiều đó khiến cho các nhà xuất bản lên tiếng khuyến cáo, hy vọng Sagan viết lách đàng hoàng hơn và cố gắng hơn. Nhưng bà làm ngơ. Cuối cùng, các nhà xuất bản đành quyết định ngưng những số tiền ứng trước mà họ vẫn dành cho bà để viết tác phẩm mới. Cũng dễ hiểu tại sao, tất cả những những tác phẩm sau này, kể cả kịch, đều không hưởng được những thành công như Bonjour Tristesse.
 
Theo Roger Shattuck – sử gia và giáo sư Pháp văn tại đại học Boston University – tiếng tăm của Sagan “đã suy giảm đáng kể sau chừng 5, 6 cuốn đầu tiên” vì bà viết quá nhiều và lập đi lập lại mãi những gì mình đã viết và cũng vì cách thưởng thức văn chương thay đổi theo thời gian. Một nhà phê bình văn chương khác, Serge Gavronsky, giáo sư văn chương Pháp tại đại học Bernard, trong một cuộc phỏng vấn vào năm 1995, cho rằng những truyện dài đầu tay của Sagan diễn tả sự nổi loạn và tính ích kỷ của nhiều trong số những bạn đồng lứa của bà trong các gia đình trưởng giả Pháp, hoàn toàn phù hợp với khoảng thời gian đó – khoảng giữa thập niên 1950 – và “gắn chặt” với quá khứ văn chương Pháp. Nói khác đi, chúng chỉ là những tác phẩm tồn tại một thời[25].
 
Nhưng có lẽ lời kết án Sagan nặng nề nhất nằm trong tác phẩm biên soạn văn chương căn bản dùng cho học sinh Pháp, “Les Auteurs de la Litérature francaise”, theo đó, thế giới trong truyện của Sagan là “một thế giới tục lụy, giàu có, nhàn rỗi và xa hoa; một số nhân vật sống mà không quan tâm đến vật chất, đó là những kẻ say sưa, yêu nhau bừa bãi mà không bị lên án. Do chuộng những gì dở dang, chuộng lối phân tích gay gắt, cay độc và có tính ái kỷ (narcissism), Sagan mãi mãi được xem như là đã làm hư hỏng cả một thế hệ”[26].
 
Tuy viết nhiều và rất nổi tiếng, chỉ trừ giải “Prix de Critiques” được tặng cho Bonjour Tristesse năm 1954 và giải “Prix de Monaco” cho toàn thể tác phẩm của bà năm 1984, Sagan không đoạt được giải văn chương nào đáng kể nào của Pháp và thế giới. Sagan coi thường chuyện đó. Ðã có lần, khi được đề cử trở thành một thành viên của Hàn Lâm Viện Pháp, bà từ chối thẳng thừng. Bà cho biết, bà đã đọc đủ những cuốn sách hay để nhận ra sự khác biệt giữa giá trị văn chương của Bonjour Tristesse(mà bà quả quyết là chưa bao giờ đọc lại) và những bàn tán ầm ĩ quanh tác phẩm. Giám đốc nhà xuất bản Robert Laffont nhận xét: “Bà không được thừa nhận như một nhà văn vĩ đại, nhưng điều đó chẳng quan trọng gì. Bà viết những gì bà thích và chẳng quan tâm gì đến những điều khác, về các giải thưởng. Bà viết cho chính bà”. 
 
Văn thì thế, còn người thì sao?
 
Người ta thường gọi bà là écrivain bohémien (nhà văn phóng đãng, sống ngoài vòng cương tỏa). Bản thân bà là một nhân vật, hơn thế nữa, một siêu nhân vật. Khác với quan niệm cho rằng nhà văn là loại người chỉ biết im lặng, chịu đựng và viết, viết mà không sống, Sagan viết và sống, sống đến tận cùng của cuộc sống. Bà viết những gì bà sống và sống những gì bà viết. Bà tạo ra chúng bằng chữ nghĩa của riêng bà, không trường phái, không quan tâm đến những chê, khen này nọ. Khen thì OK, mà chê cũng OK.  Nói theo kiểu Sagan, “Tôi là một thứ tai nạn kéo dài”[27]. Và công chúng theo dõi cái “tai nạn kéo dài” đó rất kỹ, không chán, không mệt. Từ lúc còn là một cô gái 19 tuổi (có lẽ) cho đến khi bà lìa đời. Quanh đời sống của bà là những scandaleScandale tiếp nối scandale. Nhiều đến nỗi, với Sagan,scandale đâm ra mất hết ý nghĩa nguyên thủy để chỉ còn là những tin thời sự sốt dẻo, lúc nào cũng lôi cuốn thứ công chúng tò mò. Áo quần, tai nạn, tình nhân, du lịch, quan hệ, bài bạc, rượu chè, thôi thì đủ thứ, bất cứ gì dính đến Sagan cũng có thể trở thành những sự kiện nóng sốt, góp phần nuôi dưỡng các cột báo Pháp hàng ngày.
 
  Với một khuôn mặt gầy, nhỏ, đôi mắt tinh quái nhô ra từ một mớ tóc cắt ngắn, trong hai thập niên 1950 và 1960, hình ảnh của bà dường như trở thành một thứ dáng dấp cấp tiến của Paris. Bà cùng bạn bè lập  ra nhóm tiền phong “La Bande Sagan”, trong đó có cả ca sĩ Juliette Greco. Bà thường xuyên xuất hiện ở các quán cà phê, hộp đêm, các quán ăn với những nhân vật nổi tiếng trong văn giới như Jean Paul Sartre, Hemingway, Henry Miller và trong chính giới như chính trị gia trẻ tuổi tả phái Francoise Mitterand, hút thuốc lá hiệu Gauloises, tay bưng cốc cà phê. Một trong những mốt của Sagan là đi vào hộp đêm với một người bảo vệ và đi ra với một người bảo vệ khác, luôn luôn đậu xe thể thao ngay ngoài cửa nơi đến bất chấp luật lệ giao thông. Ðể minh họa cho rõ hơn hình ảnh độc đáo của Sagan, hình bìa của một trong những tác phẩm in hình bà cỡ tuổi 19, 20 khoác trên người chiếc áo da dài đứng cạnh cửa của chiếc xe hơi hiệu Jaguar, với đôi mắt viền đậm.
 
Xuất phát từ quan niệm riêng mà cũng do sự thúc đẩy bởi tiền bạc và tiếng tăm, bà lăn xả vào một cuộc sống ồn ào, sôi động ngay lúc chưa tới tuổi 20: uống rượu thâu đêm suốt sáng, say mê bài bạc, khoái lái xe thể thao với tốc độ cao. Một cuộc thăm dò dư luận được tiến hành vài năm sau khiBonjour Tristesse ra đời cho thấy hầu hết mọi người đều cho rằng Sagan là một ngôi sao điện ảnh hơn là một nhà văn. Bà đề cập đến cái thú lái xe hết tốc lực trong Avec mon meilleur souvenir, un recueil de portraits (1984): “Bất cứ ai mà không cảm thấy hưng phấn với tốc độ thì chẳng có hưng phấn để sống. Dù ta có điên cuồng và tuyệt vọng trong tình yêu đến đâu, lúc lái xe với tốc độ 120 dặm một giờ, ta sẽ thấy bớt đi nhiều. Máu sẽ không còn đông cứng quanh trái tim ta; máu ta đập tối đa trong cơ thể, cho đến tận từng ngón tay, ngón chân và tròng mắt, lúc đó chúng là những kẻ canh giữ  quyết định và không mệt mỏi của cuộc đời ta”. Năm 1957, có lần bà đã bị tai nạn xe hơi, làm nứt xương sọ và nhiều vết thương khác khi chiếc xe hiệu Aston-Martin lật ngược ở tại Milly, một thị trấn miến bắc nước Pháp, khiến bà bị hôn mê suốt cả ba ngày mới tỉnh.
 
Táo tợn hơn, Sagan yêu đương bừa bãi, buông thả mình trong sinh hoạt tình dục gần như vô độ với nhiều bạn tình khác nhau. Một trong những bạn tình của Sagan cho biết là bà “muốn thử qua mọi kinh nghiệm ái ân, với hai người, có khi với ba hay bốn người và cả với phụ nữ”. “Tôi thật may mắn quá sức bởi vì khi tôi lớn lên thì đồng thời thuốc ngừa thai đã xuất hiện. Khi tôi 18 tuổi, tôi nghĩ mình có thể chết đi được vì sợ có thai, nhưng rồi có thuốc ngừa thai và thế là tôi mặc sức yêu đương thả giàn mà chẳng có hậu quả gì, có đến 30 năm. Lúc đó thì bệnh AIDS mới xuất hiện. Ba mươi năm này trùng hợp với tuổi trưởng thành của tôi, cái tuổi dành để vui chơi thỏa thích”, bà phát biểu trong một cuộc phỏng vấn được thực hiện trước phiên toà xử bà về tội hút xách năm 1993.
 
Sagan còn sử dụng ma túy. Bà hai lần bị bắt vì hút xách và tàng trữ thuốc phiện, vào các năm 1990 và 1995, phải đóng tiền phạt và bị tù treo khiến có lần, lãnh tụ hữu khuynh Jean Marie Le Pen lên tiếng đòi hỏi bà phải bị treo cổ vì tội sử dụng ma túy.
 
Năm 2002, bà lại dính líu đến pháp luật một lần nữa vì đã không khai thuế về số tiền hơn 800 ngàneuro kiếm được do một áp phe về dầu hỏa, có liên quan đến cựu tổng thống Pháp Mitterand, bạn của bà.
 
Về chuyện gia đình, bà có hai đời chồng. Năm 1958, bà lấy Guy Schoeller, lớn hơn bà 20 tuổi, ly dị năm 1960. Năm 1962, tái giá với Robert James Westhoff, một điêu khắc gia Mỹ. Hai người  có một đứa con trai, Denis. Năm sau, 1963, lại ly dị. Sau đó, bà quyết định sống độc thân cho đến chết. Bà nghĩ gì về tình yêu?  “Tôi cho rằng tình yêu giống như một căn bệnh, một sự ngộ độc. Thỉnh thoảng, tôi bị ngộ độc chừng 3 hay 4 năm, và rồi không bao giờ nữa. Tôi nghĩ rằng người ta có thể sống với nhau hạnh phúc hơn là tôi thường tin, nhưng tôi vẫn không cho rằng nó có thể là mãi mãi”. Còn hôn nhân thì sao? Là “món măng tây ăn cùng với xà lách trộn, cũng ngon đấy nhưng chả có gì quan trọng”.
 
Thập niên 1960, Sagan tuyên bố mình chọn lập trường tả khuynh, vì “mốt” hơn là vì xu hướng chính trị thay đổi.
 
Thập niên 1970, tóc bà đột nhiên chuyển từ màu nâu sang vàng hoe, bà càng muốn sống vội hơn nữa. Ðam mê đánh bạc mạnh thêm đến nỗi Bộ trưởng Nội Vụ phải tuyên bố cấm bà không được vào các sòng bài. Sau nhiều lần suýt chết và năm 1978, bà bị chẩn đoán lầm là bị bệnh ung thư, bà ngưng uống rượu một thời gian.
 
Trong thập niên 1990, có khoảng thời gian bà đâm ra sống đàng hoàng. Bà ủng hộ tổng thống xã hội Mitterand, bàn đến các vấn đề chính trị nghiêm túc, vận động cải cách chế độ lao tù, chống kỳ thị và chống chiến tranh. Năm 1994, tác phẩm Un Chagrin de passage viết về một người đàn ông tiếp cận với nỗi cô đơn sau khi biết mình chỉ còn sống có 6 tháng trên đời, khiến người ta hy vọng bà sẽ trở lại với chuyện viết lách nghiêm túc.  Nhưng thói nào tật đó. Dường như bà không thoát khỏi số phận của mình. Năm 2001, bà bị ra tòa vì tội trốn thuế và bị án một năm tù treo. Bản án khiến cho những người hâm mộ bà tức giận. Họ phát biểu “Bà nợ tiền của Quốc Gia, nhưng nước Pháp còn nợ bà nhiều hơn nữa”.[28]
 
Cái nhìn của Sagan về chính bà và đời sống của mình rất thành thật. Trong Et Toute ma sympathie(1993) ghi lại nhiều suy gẫm của bà, bà nhận xét mình là một “thứ đàn bà kỳ quặc, trẻ con và rối rắm”. Dẫu vậy, bà không bao giờ thốt ra một lời tỏ ý tiếc  về cách sống “vô độ”, không kiềm chế của mình nhưng thú nhận rằng bà chưa bao giờ thực sự trưởng thành.  “Kết quả là tôi thực sự không hiểu những giá trị của người lớn và tôi sẽ không bao giờ (muốn) hiểu”. Khác với những người phụ nữ lớn tuổi, thường chọn hình thức thỏa hiệp và an phận, Sagan luôn luôn giữa cái nhìn của một đứa trẻ con, kinh ngạc, sắc sảo, bỡ ngỡ, sẵn sàng lao vào phung phá cuộc đời, khinh miệt những lợi lộc bản thân, chứa đựng một năng lực bền bỉ trong một thể chất mảnh dẻ khiến ta nghĩ rằng bà sẵn sàng chống báng lại mọi điều. Có lần bà nói với viên chức tư pháp điều tra “Tôi tin rằng tôi có quyền tự hủy miễn là tôi không làm hại ai”.
 
Ðược yêu cầu kể ra những nhân vật mà bà ngưỡng mộ nhất, bà trả lời: Nhiều, trong đó có Jean-Paul Sartre (1905-1980). Ðó là người mà bà giao du mật thiết cho đến lúc ông chết. Những ngày cuối đời, bà thường tìm đến thăm Sartre, lúc này đã mù, và dẫn ông đi chơi, đi ăn sáng, ăn tối. Trong Avec mon meilleur souvenir, un recueil de portraits (1984), bà dành cho triết gia này những giòng chân tình nhất: “Nói ngắn gọn, ông là người đã yêu mến, đã viết, đã chia xẻ, đã cho tất cả những gì gọi là quan trọng mà ông muốn cho, đồng thời, ông từ khước tất cả những gì  hào nhoáng mà người ta dành cho ông (…) Sartre sinh ngày 21/6/1905, tôi sinh ngày 21/6/1935, nhưng tôi không nghĩ rằng – vả lại, tôi chẳng muốn nghĩ đến điều đó – tôi không nghĩ rằng tôi sẽ còn trải qua đến 30 năm nữa mà không có ông trên hành tinh này”.
 
Những năm cuối đời, Sagan dường như không còn là Sagan nữa. Xương sọ vỡ. Bà chịu nhiều lần giải phẫu, ngồi xe lăn, chống nạng. Nợ nần chồng chất, bà phải bán căn nhà ở Normandie, và sống qua ngày ở nhà những người bạn. Cuối cùng, bệnh nặng quá, bạn bè đưa vào nhà thương. Và chết!
 
Sagan được an táng tại ngôi làng Seuzac, gần Cajarc nơi bà chào đời, vào ngày 28/9/2004. 
 
Ðấy, Françoise Sagan! Văn chương và đời sống. Dù ghét dù thương, hẳn mọi người đều nhận rằng bà đã viết và đã sống một cuộc đời ngay thẳng, minh bạch, không ngụy trang, giấu giếm.
 
Dẫu vậy, cho đến cuối đời, người ta vẫn ngờ rằng có một cái gì khác nằm đàng sau con người nổi loạn, ngang tàng, trụy lạc đó. Cái gì? Bí ẩn nào? Tại sao? Nhà phê bình văn chương Pháp Bernard Poitrot-Delpech, khi nhắc đến “bí ẩn Sagan”, cho ta một câu trả lời giản dị, quá giản dị:  “Bí ẩn Sagan? Ðơn giản biết bao, đó chỉ là nghệ thuật trở thành CHÍNH MÌNH, trên trang giấy trắng, trong cuộc đời”.[29]
 
Có đúng như thế không? Tùy!
 
Thôi thì hãy đọc lại đoạn văn sau đây:
 
“Seulement quand je suis dans mon lit,  à l’aube, avec le seul bruit des voitures dans Paris, ma mémoire parfois me trahit: l’été revient et tous ses souvenirs. Anne, Anne! Je répète ce nom très bas et très longtemps dans le noir. Quelque chose monte alors en moi que j’accueille par son nom, les yeux fermés: Bonjour Tristesse..”[30]       
 
Ðó là đoạn cuối trong Bonjour tristesse, một trong những đoạn văn đã để lại dấu ấn khó phai trong nền văn chương thế giới. Lần đó, đôi mắt cô bé Sagan chỉ khép nhẹ để chào nỗi buồn. Lần này, đôi mắt  Sagan khép chặt vĩnh viễn. Nỗi buồn Sagan theo Sagan mà ra đi. Nhưng để lại một nỗi buồn khác: nỗi buồn của chính chúng ta. Notre tristesse.
 
Xin chào vĩnh biệt, tiểu yêu nữ khả ái Françoise Sagan!
 
Một lần nữa: BONJOUR TRISTESSE!   
 
 
 
Trần Hữu Thục
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Ngôi sao Hollywood giàu lòng nhân ái nhất

Những ngôi sao ở Hollywood thường đi siêu xe, ở biệt thự, xài hàng hiệu… tiền tiêu không hết. Tuy nhiên, có một người trong số đó thì hoàn toàn “dị biệt”.
Keanu Reeves, 17 tuổi đã đi theo con đường nghệ thuật, được mọi người biết đến nhiều nhất qua bộ phim “Ma trận” nổi tiếng được công chiếu trên toàn thế giới vào năm 1999. Bộ phim thu về số tiền khổng lồ 1,6 tỷ đô la; gặt hái cho nhà sản xuất 4 tượng vàng Oscar danh giá; đưa tên tuổi của Keanu Reeves lên hạng sao đình đám nhất Hollywood thời bấy giờ.

altKeanu Reeves trong bộ phim Ma trận nổi tiếng.

Thế nhưng trong giới ngôi sao ở Hollywood thì Keanu Reeves hoàn toàn là một người “lạ thường”.
Không có vệ sĩ, không mua nhà đắt tiền, đa phần sống ở khách sạn, sống một cuộc đời nay đây mai đó. Không mua siêu xe, chỉ lái chiếc xe môtô yêu thích. Không mặc đồ hàng hiệu, thường mang đôi giày bốt rách.
Với danh tiếng của anh thì nhất định nhận được rất nhiều lời mời quảng cáo, nhưng anh chỉ nhận lời những hãng mà anh thích nhất. Anh đã tặng 70% thù lao từ phim Ma trận cho bệnh viện, mua xe Harley cho 12 diễn viên đóng thế.

altKeanu Reeves giản dị giữa đời thường, hay cho tiền người nghèo.

Thuộc hàng điển trai trong giới Hollywood nhưng không trau chuốt, không hề lo lắng về hình tượng, sống cuộc sống giản dị.

Năm nay Keanu Reeves đã 53 tuổi nhưng bề ngoài trông còn rất trẻ. Mang trong mình dòng máu lai đa quốc gia Mỹ – Á – Âu, anh có một ngoại hình rất được yêu thích và gương mặt điển trai.

alt

Tuy nhiên, Keanu thường không trau chuốt và không hề lo lắng về hình tượng.alt
Có khi ra ngoài nhưng Keanu không hề trau chuốt, để râu xồm xoàm.alt
Có khi đầu tóc rối bù, ăn mặc lếch thếch, đôi giày anh mang cũng đã rất cũ.

alt

alt

Khi mọi người nhìn thấy anh ấy trên đường, có thể anh đang ngồi trên ghế, ăn sandwich hay bánh ngọt, biểu cảm rất là thản nhiên.alt
Khi đi đường, anh sẽ cho người ăn xin tiền.alt
Anh thường trò chuyện, chia sẻ đồ ăn với những người vô gia cư trên đường.

Vào ngày sinh nhật thứ 46, Keanu đã tự mua cho mình một cái bánh kem nhỏ, đốt nến, ngồi bên đường và tự chúc mừng sinh nhật mình. Một người vô gia cư trên đường chào anh, anh đã chia sẻ bánh sinh nhật của anh với người này.

alt

Keanu sống một cuộc sống đơn giản, tiết kiệm nhất, thường xuyên đi lại bằng tàu điệm ngầm.

Ngôi sao Hollywood giàu lòng nhân ái nhất, trầm lặng phân phát tiền cho những ai cần

Keanu “rách rưới” như vậy không phải vì anh nghèo không có tiền, mà vì anh đã tiêu tiền bằng cách phân phát cho những người khác.
Một Keanu Reeves có giá thị trường không dưới 300 triệu USD nói rằng: “Tiền bạc là thứ mà tôi không quan tâm đến nhất, bây giờ tiền của tôi đã đủ sống mấy thế kỷ rồi, chi bằng tặng tiền cho những ai cần đến nó hơn”.
Sau khi bộ phim “Ma trận 2” có doanh thu phòng vé rất cao, Keanu đã nhận được 100 triệu USD tiền hoa hồng. Thế nhưng anh đã tặng 75 triệu USD cho các nhân viên kỹ thuật và thiết kế làm việc sau hậu đài.
Anh nói: “Họ mới là những người cực khổ, vĩ đại nhất!”
Keanu còn rộng rãi hơn nữa khi mua xe Harley cho 12 diễn viên đóng thế trong phim Ma trận. Không chỉ thế, anh còn ủng hộ hết mình cho những diễn viên mà anh đánh giá cao, tình nguyện từ bỏ cơ hội, tự giảm cát xê để mời được họ cùng tham gia các dự án phim. Khi quay bộ phim “The Replacements” (Chàng cầu thủ dự bị), để mời được diễn viên Gene Hackman tham gia, anh đã tự giảm cát xê của mình xuống.

altKeanu đã tự giảm thù lao của mình xuống trong bộ phim The Replacements để mời được Gene Hackman tham gia.

Trong phim “The Devil’s Advocate”, anh đã chủ động giảm 1,8 triệu USD tiền thù lao với hy vọng rằng đoàn phim có thể mời được diễn viên Al Pacino.
Khi quay Ma trận, Keanu và võ sư Trần Hổ từng muốn sau này cùng quay một bộ phim. Nhiều năm sau, Keanu đã tham gia đóng phim “Man of Tai Chi” (Thái Cực Truyền Nhân) cùng Trần Hổ. Anh từ chối hai bộ phim lớn và còn tự mình chỉnh sửa kịch bản, bước vào con đường làm đạo diễn. Anh nói: “ Tôi quay Man of Tai Chi chỉ là vì Trần Hổ mà thôi”.

“Tôi độc lập như thế này là bởi vì tôi hiểu rõ cuộc đời”

Keanu sinh ra ở cộng hòa Liban (một quốc gia nhỏ ở Trung Đông), cha anh là người Hawaii gốc Hoa, mẹ là người Anh. Năm 3 tuổi, cha mẹ anh di lỵ. Cũng vì thế mà Keanu đã từng phải sống ở Liban, Hawaii, Macao và cuối cùng là Canada.
Tuổi thơ của Keanu trôi qua đầy thăng trầm.
Khi anh còn nhỏ, cha anh đi tù. Từ đó về sau cha con anh không còn gặp lại nhau nữa.
Năm 1999, Syme – bạn gái của anh mang thai, đứa trẻ qua đời vào tháng thứ 8 trước khi sinh. Điều bất hạnh hơn là sau đó Syme qua đời trong một vụ tai nạn. Lúc đó Keanu đang quay Ma trận 2, khi nhận được tin xấu, anh vội vã rời khỏi đoàn phim.
Trong tang lễ, Keanu và người thân cùng nâng quan tài, người ta gọi anh là “Tình yêu của cuộc đời cô” trên cáo phó của Syme.
alt
Em gái Kim Reeves của Keanu được chuẩn đoán mắc bệnh ung thư máu. Vì em gái, anh đã sửa nhà thành phòng bệnh, quyên góp hầu hết số cát xê của mình cho bệnh viện ung thư. Anh đã dành rất nhiều thời gian để chăm sóc cho em gái.
Keanu đã trải qua tất cả những thăng trầm trong cuộc sống khiến anh hiểu về cuộc đời: không mặc hàng hiệu, không cần một cuộc sống xa hoa; tiền bạc, vật chất, những thứ này đều không quan trọng, muốn làm gì thì làm cái đó.
Đến bây giờ khi đã 53 tuổi, Jeanu Reeves vẫn chạy chiếc Harley cũ của mình, sống một cuộc sống tự do tự tại.
alt
Anh từng nói: “Tôi không muốn chạy trốn khỏi cuộc đời vì tôi biết cái đẹp của nó. Tôi vẫn muốn kết hôn, có con và tôi sẽ làm điều đó.
Đám cháy rừng cũng có cái lợi của nó. Đôi khi kẻ thù là người thầy tốt nhất và chúng ta có thể học từ sai lầm của bản thân. Sự hủy diệt đôi khi mang ý nghĩa tái sinh”.
Những lời nói, hành động của Keanu đã làm ấm cả thế giới. Mọi người đều hy vọng rằng sau này sẽ có người sưởi ấm trái tim anh.
Theo Secret China
(Ảnh: Sưu tầm)

Xuân Nhi
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Những nhà thơ chỉ có một bài thơ

image
Bài hịch của Lý Thường Kiệt trước cơ sở ngoại giao Trung Cộng ở San Francisco 

Trong lịch sử văn học Việt nam và thế giới, chúng ta biết có những nhà thơ chỉ có một bài thơ. Thế mà, tác phẩm của họ, bài thơ duy nhất ấy, sống mãi với thời gian, sống mãi với người đọc.
 
Tác phẩm của họ, bài thơ duy nhất ấy, vẫn mãi làm xúc động người đọc, vẫn mãi tiếp thêm năng lượng sống cho các thế hệ.

1. Bài thơ thần – bài thơ “Nam quốc sơn hà” – của Lý Thường Kiệt:
 
image


Lý Thường Kiệt (1019 – 1105) là nhà quân sự, nhà chính trị nổi tiếng, một thái giám đời nhà Lý, có công to lớn trong việc đánh bại hoàn toàn quân xâm lược Tàu-Tống vào năm 1075-1077. Ông được cho là người đã viết ra tác phẩm “Nam quốc sơn hà” (Sông núi nước Nam).
 
Tài năng quân sự và chiến công trước quân xâm lược Tàu-Tống trong Chiến trận Như Nguyệt vào năm 1077 đã làm nên tên tuổi của ông. Ngày nay, người Việt thường liệt ông vào danh sách 14 vị anh hùng dân tộc tiêu biểu nhất trong lịch sử Việt Nam.
image 
image 

Dịch nghĩa:
 
image 

Dịch thơ:

image 

Hiện nay, có nhiều bản dịch thơ khác nhau. Nhưng, bản dịch thơ của học giả Trần Trọng Kim là bản dịch được nhiều người chấp nhận.
 
Bài thơ chỉ gồm (7 chữ) x (4 dòng), chỉ vỏn vẹn có 28 chữ, đã khẳng định quyền độc lập tự chủ của Dân tộc, vạch trần sự phi nghĩa, phi pháp của bọn xâm lược Tàu-Tống và sự thất bại triệt để, không thể tránh khỏi của chúng. Bởi thế, bài thơ đã được đánh giá là “bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của Dân tộc ta”.

2. Bài thơ “Cảm hoài” của Đặng Dung:
 

Đặng Dung (1373 – 1414), là nhà thơ và là danh tướng nhà Hậu Trần trong lịch sử Việt Nam. Ông là con trai của Đặng Tất, người theo phò vua Giản Định đế của nhà Hậu Trần, sau bị Giản Định đế giết chết cùng với tướng Nguyễn Cảnh Chân. Giận vì cha mình chết oan, Đặng Dung cùng Nguyễn Cảnh Dị (con của Nguyễn Cảnh Chân) bỏ đi, lập Trần Quý Khoáng tức vua Trùng Quang và tiếp tục khởi nghĩa.


image 
image 
Dịch nghĩa:

image 
Dịch thơ :

image 
image 


Bài thơ “Cảm hoài” (Nỗi lòng) chính là tiếng nói gan ruột của một bậc anh hùng thất cơ, lỡ vận. Người anh hùng đó có một hoài bão, một khát vọng to lớn là muốn giúp vua, nâng trục đất, muốn rửa sạch binh giáp, muốn đem lại thái bình cho đất nước, cho muôn dân. Nhưng, khi tuổi đã cao, sức đã kiệt, người anh hùng đó vẫn chưa thực hiện được khát vọng, hoài bão của mình. Bởi thế, tuy nói về sự thất bại, bài thơ vẫn khơi dậy ở người đọc những điều lớn lao, cao cả. Và, có lẽ vì thế, bài thơ vẫn sống mãi với các thế hệ người Việt Nam chúng ta.

3. Bài thơ «Un secret» (Một bí mật) của Félix Arvers:

Félix Arvers (1806-1850) là một nhà thơ Pháp. Ông viết tập thơ «Mes heures perdues» (Thời gian rảnh rỗi của tôi) năm 25 tuổi. Bài thơ Un secret(Một bí mật) là bài thơ trong tập thơ đó, và là bài thơ nổi tiếng duy nhất của ông. Vì vậy, trong nền văn học Pháp, Félix Arvers được xem là “Nhà thơ của một bài thơ duy nhất”. Bài Un secret được viết dưới dạng một bài Sonnet (tức là một bài thơ gồm 14 câu, tuân theo cấu trúc và luật gieo vần khắt khe), do đó, nó cũng thường được gọi là Sonnet d’Arvers (Bài Sonnet của Arvers).
 
Félix Arvers yêu cô Marie, nhưng đó là tình yêu đơn phương, nên ông viết bài Sonnet «Un secret» để bày tỏ tình yêu câm lặng của mình.
 
image 
Dịch nghĩa:

image 
Dịch thơ :

image 

Bài thơ nói về tình yêu, một tình yêu đơn phương, một tình yêu tuyệt vọng. Và, vì thế, người đọc chúng ta cảm nhận được một tình yêu chân thực, mạnh mẽ, nồng nàn, thiết tha của nhà thơ – người con trai, với cô gái xinh đẹp, mềm mại và dịu dàng (« douce et tendre ») nhưng lại quá đỗi thờ ơ, lãnh đạm!
 
Bản dịch thơ của Khái Hưng đã góp phần biểu đạt tâm trạng ray rức, xót xa, buồn khổ, đau đớn của nhà thơ – người con trai trong mối tình đơn phương, vô vọng và tuyệt vọng ấy.

 

Phan Thành Khương

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Anh Còn Yêu Lắm

Anh còn yêu lắm, em ơi
Lửa tình vẫn cháy rực trời trong anh
Buồn thay duyên phận mong manh
Dõi theo em vậy, anh đành buông thôi

Đời người nước chảy bèo trôi
Muốn không thể được, giữ rồi cũng tan
Mong đời không phải thở than
Bến em chọn đỗ ngập tràn yêu thương

Để cho em khỏi vấn vương
Luôn luôn vui vẻ trên đường em đi
Chút tình xưa chẳng đáng chi
Em quên cho nhẹ mỗi khi nhớ về

Kệ anh ôm mối tình quê
Giữ làm kỷ niệm ngóng về nơi em
Cầu mong em sống êm đềm
Ngọt ngào hạnh phúc ấm êm suốt đời.
Hữu Hùng 2017

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Bước Chung Đường

Gót chân dảo bước trên đường
Uyên ương chung ý chung đường hay không?
Chuyện tình cách trở mấy sông
Đôi ta hẹn ước, ngóng trông đợi chờ.

Non cao ta cùng phớt lờ
Tình đang nắng hạn, đợi chờ chút mưa.
Rồi đây mây đến cùng mưa
Lưa thưa tí tách, đong đưa tình nồng.

Liệu rằng tay nối tơ hồng
Đôi bên trao ý, nụ hồng trao nhau
Hẹn lòng đặng đến năm sau
Thông gia gặp gỡ, trầu cau thay lời.

Chung xây tổ ấm đời đời
Hai năm công chúa ngây thơ chào đời
Ngập tràn hạnh phúc muôn nơi
Gia trang ấm áp, cuộc đời thắm tươi.

Theo Thanh Võ Nhật
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

TƯỞNG NIỆM THI SĨ ĐINH HÙNG

Một vì sao thi ca bất tử nhân ngày giỗ thứ 50 (24/8/1967)
(phát hành ngày 18/8/2017)

Nội dung tuần báo Thế Giới Nghệ Sĩ số 132 kỳ này gồm có những bài vở chủ đề:

– Tưởng niệm thi sĩ Đinh Hùng – 50 năm “một mặt trời đẫm máu xuống sau lưng” (Thế Giới Nghệ Sĩ) 
– Tưởng niệm Thi sĩ Đinh Hùng (Nguyễn Việt) 
 Thi sĩ Đinh Hùng và những kỷ niệm, những chia sẻ của một số văn nghệ sĩ 

– Trời cuối thu rồi, em ở đâu? (Tô Kiều Ngân) 
– Thi sĩ Đinh Hùng, người làm thơ tình kiệt xuất (Huyền Viêm) 
– 
Đinh Hùng (Nguyễn Đình Toàn) 

– Một cảnh tượng kỳ ảo (Mai Thảo) 
– Thi sĩ Đinh Hùng và những bài thơ hay phổ nhạc 
– Tùy bút Đinh Hùng: Cảm Thu

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

KHI TIẾNG ANH ĐƯỢC“CHÊM” VÀO TIẾNG VIỆT

MỘT ĐIỀU KHÓ TRÁNH

 

Sau hơn bốn thập kỷ tỵ nạn tại Mỹ, nhiều người Việt chúng ta sử dụng tiếng Anh thành thạo trong đời sống hàng ngày cũng như trong công ăn việc làm. Cũng vì vậy mà khi nói tiếng Việt với nhau tại quê hương mới này, chúng ta có khuynh hướng “chêm” khá nhiều tiếng Anh vào ngôn ngữ mẹ đẻ của mình. Trong các câu chuyện xã giao, trong báo chí, và ngay cả trong văn chương nữa, sự giao thoa giữa hai ngôn ngữ Việt và Anh là một hiện tượng tự nhiên và khó tránh.

 

Các tiệm ăn mới khai trương thường không tính tiền nước uống cho thực khách và diễn đạt ý tưởng ấy bằng nhóm chữ Free nước ngọt. Kỳ diệu thay, nhóm chữ này dùng cú pháp Anh rất chỉnh: tĩnh từ free mô tả danh từ nước ngọt được trịnh trọng đặt trước danh từ ấy! Vài tiệm phở có sáng kiến bán phở làm sẵn cho người mua mang về nhà, và quảng cáo thứ phở đó là Phở to go. Khỏi phải nói, nhóm chữ này cũng đúng cú pháp Anh luôn!

 

Người viết được đọc trên báo chí một bài thơ vui của tác giả Nguyễn Phú Long, trong đó tiếng Anh thoải mái sánh vai cùng tiếng Việt. Mời quý bạn thưởng lãm bài thất ngôn tứ tuyệt “mang hai dòng ngôn ngữ” được sáng tác để mừng tân xuân buồn tẻ nơi hải ngoại:

 

Xe thư bưu điện đến rồi đi,

Ngoài coupons ra chả có gì.

Bạn tới chúc xuân khui nước ngọt,

Buy one ngoài chợ get one free.

 

HIỆN TƯỢNG ĐẠI ĐỒNG

 

Hiện tượng giao thoa ngôn ngữ của chúng ta thực ra là một khuynh hướng đại đồng. Mọi sắc tộc di dân khác tại xứ này đều “chêm” tiếng Anh vào tiếng mẹ đẻ của họ, chẳng khác gì chúng ta cả. Khả năng sáng tạo của bộ óc loài người trong cách sử dụng hai ngôn ngữ thoải mái bên nhau để truyền thông hữu hiệu thực là thần kỳ.

 

Các ngữ học gia tại Mỹ ngày nay mệnh danh hiện tượng giao thoa ngôn ngữ ngoạn mục này là code-switching và phản bác những lời phê bình lỗi thời  lên án người sử dụng nó là cẩu thả, lai căng, hoặc hỗn loạn trí tuệ. Trái lại, họ cho rằng những người có khả năng cho hai ngôn ngữ hòa hợp với nhau một cách hữu hiệu là những người thực sự đã làm chủ được cả hai ngôn ngữ ấy, và khi cần thiết (như khi giao dịch với một cá nhân đơn ngữ) họ dư khả năng sử dụng chúng một cách “tinh tuyền” không pha trộn chút nào.

 

Người ta từng ví von một cá nhân “đơn ngữ” (monolingual) như một ca sĩ chỉ có thể đơn ca, một cá nhân “song ngữ” (bilingual)” như một ca sĩ có thể một mình song ca, và một cá nhân “đa ngữ” (multilingual) như nhạc trưởng một ban hợp ca!

 

LÝ DO CỦA CODE-SWITCHING

 

  • Tiếng Việt không có ngữ vựng hoặc thành ngữ thỏa đáng để diễn tả một ý niệm mà chúng ta đã quá quen trong tiếng Anh. Thí dụ, khi còn ở quê nhà trước 1975, lúc bị bệnh không đi làm được, chúng ta đâu có gọi điện thoại vào sở để “cáo ốm” được? Thành ra, khi diễn tả ý niệm đó trong cuộc sống hiện tại, chúng ta liền cho thành ngữ rất tiện dụng của người Mỹ là call in sick giao duyên ngay với tiếng Việt mến yêu, để nẩy sinh ra câu “Bữa nọ mình bịnh quá, đi làm hết nổi, thành ra phải call in sick rồi nhờ người ta đưa đi bác sĩ đấy!”

 

Những từ ngữ chuyên môn như softwareblueprint, email, workshop, những công thức ngắn gọn để chào hỏi, chúc tụng, cảm tạ, hoặc chia tay trong tiếng Anh như hello, good morning, sorry, congratulations, thank you, bye cũng rất được chúng ta chiếu cố và sẵn sàng chêm vào tiếng nói chúng ta một cách tự nhiên.

 

  • Code-switching là một cách ngăn chặn không cho người khác “nghe lóm” chuyện riêng tư của mình. Chẳng hạn, hai người Việt đang tâm sự với nhau bằng tiếng Anh trong thang máy mà chợt thấy một người Mỹ đứng bên cạnh có vẻ tò mò lắng nghe. Họ bèn chuyển câu chuyện buồn ấy sang tiếng Việt để được “yên tâm” hơn: “My wife has asked for a divorce since I lost my job last year, you know … Đã mất việc rồi lại sắp mất cả vợ nữa, tôi chẳng còn thiết sống, anh ạ.”

 

  • Yếu tố Anh chêm trong tiếng Việt là một cách gián tiếp nói lên một mối liên kết giữa những người “đồng hội đồng thuyền” với nhau. Người viết biết chắc nhiều Việt kiều áo gấm về làng khi gặp nhau tại quê cũ thế nào cũng “pha” ê hề tiếng Anh vào tiếng Việt của họ, như thể để nhắc nhở mọi người mọi giới rằng họ là những “người Mỹ gốc Việt” chính cống sáng giá lắm đấy, chứ không phải là đồ bỏ đâu: “Hey guys, are you from Little Saigon, too? Sẽ stay tại Huế bao lâu?”

 

Các người Mỹ gốc Việt tranh cử vào các chức vụ công quyền mà không chêm tiếng Việt vào tiếng Anh khi tiếp xúc với cử tri đồng hương thì khó mà lấy được phiếu bầu của họ: “When I get elected as mayor of this city, kính thưa bà con cô bác, I will do my best to serve the needs of elderly folks in our dear cộng đồng…”

 

  • Yếu tố Anh trong tiếng Việt cũng cho thấy người nói sắp chuyển sang một thái độ mới, như để cảnh giác người nghe. Này nhé, khi thấy sắp đến giờ đi học mà đứa nhỏ còn nằm dài trên giường, người mẹ song ngữ Việt-Anh có thể phát ngôn: “Này cu Tý, gần bảy giờ sáng rồi đấy nhá. Ngủ nhiều rồi mà. Now get up!” Nghe bà mẹ hiền đang nói tiếng Việt rồi bà bất chợt chuyển sang tiếng Anh ở câu cuối cùng thì cu Tý, dù có lì lợm đến mấy, chắc cũng phải nhảy ra khỏi giường tức khắc!

 

CHÊM TIẾNG ANH VÀO CHỖ NÀO TRONG CÂU?

 

 

 

  • Các danh từ, động từ, tĩnh từ Anh có thể được chêm vào chỗ phù hợp trong câu: “Chị ơi, em đang depressedquá vì em và boyfriend vừa split rồi!”

 

  • Các số từ, giới từ, liên từ Anh hầu như không thể được chêm vào câu Việt. Người viết chưa nghe ai nói: “Tôi nghĩ fifteen ngày nữa việc này mới xong.” || “Làm ơn dẫn con chó ấy across con đường dùm tôi!” || “AlthoughLan nghèo, cô ta rất hạnh phúc.”

 

  • Các từ ngữ thông dụng tiếng Anh thường được chêm vào đầu hay cuối câu: “As a matter of fact, nó vừa đến thăm tôi hôm qua mà.” || “Tay ấy thì xạo hết chỗ nói rồi, you know.”

 

  • Trong một câu kép (compound sentence) hoặc một phức hợp (complex sentence), tiếng Anh có thể chiếm nguyên một mệnh đề trong đó: “You can drink coffee, nhưng tôi sẽ uống nước trà.” || “Nếu mà anh mệt, please stay home tomorrow!”

 

Người viết mạn phép “chêm” tiếng Anh vào trong phần kết luận dưới đây. Rất mong quý bạn đọc không nghĩ là người viết ôm đồm nhiều ngoại ngữ quá cho nên đã bị “tẩu hỏa nhập ma” rồi:

 

Code-switching giữa hai ngôn ngữ Việt và Anh là một natural phenomenon, cho nên chúng ta chẳng phải worry gì cả về issue này, OK? Vả lại, cái habit chêm tiếng Anh vào tiếng Việt này nó khó quit lắm! Quý bạn cứ try your best nói tiếng Việt “tinh tuyền” về politics hoặc jobs trong một bữa cơm gia đình mà coi. It will be a pain, tin tôi đi!”

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Những câu nói đầy trí tuệ của thổ dân da đỏ, mấy trăm năm trôi qua vẫn càng thấm thía

Người thổ dân da đỏ thực sự kết nối và hòa hợp với Đất Mẹ, thường được xem như những người bảo vệ Trái Đất. Họ truyền dạy “bước khoan thai trên mặt đất, sống cân bằng và hài hòa”.

Người da đỏ là cộng đồng người dân bản địa sống tại Hoa Kỳ từ hàng nghìn thậm chí hàng triệu năm trước. Họ là những người dân du mục được cho là đến từ châu Á khoảng hơn 12.000 năm trước đây, thông qua “cầu nối” là vùng đất Alaska hiện nay. Hiện nay, trên lãnh thổ Mỹ, dân tộc da đỏ chỉ còn khoảng 1%. Họ sống ở những vùng có điều kiện tự nhiên rất khó khăn như vùng núi cao, khô hạn ở phía Tây.

Văn hóa của người da đỏ có lịch sử đến hàng trăm năm và được phát triển cùng với thiên nhiên. Mọi yếu tố trong cuộc sống của họ đều được dựa trên sự phát triển của Trái đất.

Các bộ tộc người da đỏ tôn thờ linh hồn của các loài động vật như những vị thần. Những người da đỏ tin rằng, linh hồn các loài động vật sẽ sống mãi cùng linh hồn bộ lạc. Trong nền văn hoá của người Mỹ bản địa, người ta tin rằng mỗi người đều mang linh hồn của một loài động vật nhất định. Khi họ chết đi, linh hồn của họ sẽ sống trong con vật đó.

(Ảnh dẫn theo tinhhoa.net)

Sống bằng săn bắt và hái lượm đơn thuần, những người dân da đỏ rất tôn trọng tự nhiên. Họ coi thiên nhiên là một món quà của thượng đế và luôn quan niệm rằng, cần phải tôn kính và quý trọng thiên nhiên.

Cuộc sống của họ thường xoay quanh gia đình. Họ sống một cuộc sống hài hòa, yên bình cẩn thận, hạn chế tối đa việc đổ chất thải ra môi trường.

Ngày nay, một số bộ tộc người da đỏ vẫn còn sinh sống ở một số vùng nhất định của Mỹ. Dù số lượng không nhiều nhưng những người dân da đỏ vẫn mang trên mình niềm tự hào về nguồn gốc và sức sống của bộ tộc mình.

Người thổ dân da đỏ thực sự kết nối và hòa hợp với Đất Mẹ, thường được xem như những người bảo vệ Trái Đất. Họ truyền dạy “bước khoan thai trên mặt đất, sống cân bằng và hài hòa”.

Họ lưu giữ nền văn minh của mình bằng cách chạm khắc trên đá hay truyền miệng. Tuy hầu hết châm ngôn của họ đã thất lạc, một số vẫn được gìn giữ đến ngày nay.

Dưới đây là những thông điệp ý nghĩa, sâu sắc của người da đỏ giúp chúng ta hiểu thêm nhân sinh quan và thêm trân quý hơn thế giới tự nhiên này:

“Hãy đối xử tử tế hơn với Trái Đất. Cha mẹ chúng ta không mang Trái Đất đến cho chúng ta, mà chúng ta đang vay nợ Trái Đất từ chính con cháu của mình. Chúng ta không thừa kế Trái Đất từ tổ tiên, mà chúng ta vay mượn nó từ thế hệ kế tiếp chúng ta” – Ngạn ngữ của người da đỏ.

“Chỉ mang theo kỉ niệm, chỉ để lại dấu chân” – Trưởng tộc Seattle (1862)

“Một ngón tay không thể nào nâng nổi hòn đá cuội” – Bộ lạc Hopi

“Cái chết không tồn tại, chỉ có sự luân chuyển giữa các thế giới” – Bộ lạc Duwamish

“Thiếu trung thực là một vấn đề nghiêm trọng hơn cả nghèo khó” – Bộ lạc Anishinabe

“Bạn không thể đánh thức một người mà bản thân họ chỉ vờ như đang ngủ” – Bộ lạc Navajo

“Khi con người rời xa khỏi thiên nhiên, trái tim họ sẽ trở nên khô cằn” – Bộ lạc Lakota

“Bạn vốn đã sở hữu tất cả mọi thứ cần thiết để trở nên vĩ đại”– Bộ tộc da đỏ

“Đừng vội vàng đánh giá hàng xóm của bạn chừng nào bạn chưa đi bằng đôi giày của họ suốt 2 con trăng” – Bộ lạc Cheyenne

“Không còn hữu hiệu nữa khi chỉ biết khóc vì hòa bình, chúng ta phải hành động, sống hòa bình và sống trong hòa bình” – Ngạn ngữ của người da đỏ

“Tôi tin rằng nếu chúng ta mở rộng trái tim mình hơn thì sẽ đỡ đi rất nhiều phiền muộn và máu đổ” – Trưởng tộc Joseph

“Một người sẽ ngã xuống dòng sông nếu một chân đặt trên ca nô, một chân trên chiếc thuyền” – Bộ tộc Tuscarora

“Vào giây phút ra đi, đừng để trái tim mình ngập tràn nỗi sợ hãi, khóc than và cầu nguyện giá như được ban tặng một cuộc đời nữa để sống khác đi. Mà hãy hát bài ca chào cái chết, và ra đi giống như một người hùng quay trở về cố hương” – Tộc trưởng Aupumut, bộ lạc Mohican (1725)

(Ảnh dẫn theo wallpaper.net)

“Một lần khi đang ở Victoria, tôi nhìn thấy một ngôi nhà rất lớn. Họ nói với tôi rằng đó là ngân hàng nơi người da trắng cất giữ tiền của họ; khi lấy lại tiền sẽ kèm theo lãi suất. Những người Ấn Độ chúng tôi không có ngân hàng như vậy. Nếu chúng tôi có tiền hay chăn màn, chúng tôi mang chúng cho những bộ tộc khác, và dần dần họ sẽ trả lại kèm theo lãi. Và lãi suất mà chúng tôi nhận được là cảm giác hạnh phúc trong tâm. Cách cho đi chính là ngân hàng của chúng tôi” – Tộc trưởng Maquinna, bộ lạc Nootka (1786-1817).

“Bạn thấy người da đỏ làm mọi việc trong một vòng tròn, vì họ cho rằng sức mạnh của thế giới luôn luân chuyển. Mọi thứ đều cố gắng trở nên tròn trịa: bầu trời, trái đất và tất cả các vì sao. Cơn gió mạnh mẽ nhất là khi cuộn lốc. Chim cũng làm tổ hình tròn bởi chúng cũng giống như chúng ta… Các mùa trong năm thay đổi theo một chu kì vĩ đại. Và cuộc đời mỗi người là một vòng tuần hoàn của những thời thơ ấu. Nơi nào có sự vận chuyển của năng lượng, nơi ấy có sự hiện diện của một vòng tròn” – Black Elk Oglala, bộ tộc Lakota (1863 – 1950)

“Nơi nào mà những cánh rừng không bị chặt phá, nơi nào mà động vật được yên ổn an toàn, nơi nào mà trái đất không bị cải tạo phục vụ loài người thì người da trắng cho đó là ‘hoang dã nguyên vẹn’. Nhưng với chúng tôi, không có sự hoang dã nào, thiên nhiên không nguy hại mà hiếu khách, không kinh khủng mà thân thiện. Niềm tin của chúng tôi tìm cầu sự đồng điệu giữa con người và môi trường; nhưng họ nỗ lực thống trị thiên nhiên. Với chúng tôi, thế giới tràn ngập vẻ đẹp; với họ, trái đất chỉ là một nơi để sinh tồn cho đến khi họ sang thế giới bên kia. Nhưng chúng tôi đã đúng. Chúng tôi hiểu rằng, trái tim của con người nếu rời xa thiên nhiên sẽ trở nên khô cằn” – Trưởng tộc Luther Standing Bear (1868-1939).

(Ảnh dẫn theo AwesomWallpaper)

“Kết thân với muôn loài trên trái đất là một nguyên tắc thực tiễn và chủ động. Trong thế giới của động vật và chim chóc tồn tại một cảm giác thân quen khiến chúng ta thấy an toàn… Muông thú có quyền được bảo vệ, được sống, được sinh sản, tự do, và được con người biết ơn. Chúng ta sẽ trải nghiệm nhiều niềm vui và sự huyền diệu khi nhìn nhận cuộc đời theo cách này; nó khiến chúng ta tôn kính mọi sinh mệnh, khiến chúng ta coi sự tồn tại của mọi loài là bình đẳng” – Trưởng tộc Luther Standing Bear (1868-1939).

“Trước khi những người anh em da trắng đến đây và khiến chúng tôi trở thành những công dân được khai sáng, chúng tôi không có bất kỳ nhà tù nào, vì thế, chúng tôi không phạm tội. Chúng tôi không cần khóa cửa, và không xảy ra trộm cắp. Khi một ai đó nghèo tới mức không thể mua một con ngựa, cái lều hay một tấm chăn, anh ta có thể nhận tất cả những thứ này như một món quà. Chúng tôi đã quá ‘không văn minh’ khi coi nhẹ tài sản cá nhân. Chúng tôi không cần tiền tệ do vậy giá trị của một người không được đo đếm bằng số lượng tài sản anh ta có. Chúng tôi không có luật pháp chi phối, không luật sư, không nhà chính trị nên chúng tôi không lừa gạt và gian lận. Chúng tôi ở trong một tình cảnh thật ‘tồi tệ’ trước khi người da trắng đến. Và tôi không biết giải thích thế nào khi chúng tôi đã có thể sống mà không cần những điều họ cho là thiết yếu với một xã hội văn minh” – John Fire Lame Deer (1903-1976)

“Hỡi Linh hồn Vĩ đại, hãy giúp tôi luôn thanh thản khi nói lên sự thật, để có thể lắng nghe người khác với tâm hồn rộng mở, và để nhớ được rằng hòa bình chỉ có thể tìm thấy trong sự tĩnh lặng“, lời cầu nguyện của người Cherokee.

Có nhiều người cho rằng thổ dân hay người dân tộc là tập hợp những người lạc hậu. Tuy nhiên, những câu nói đầy trí tuệ của tộc người bị cho là lạc hậu này lại đang dần ngày càng trở nên thiết thực hơn trong việc cứu vãn hậu quả của lối sống hiện đại ngày nay.

Theo The Spirit Science

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Làng Colmar, France

Chiến tranh thế giới lần thứ 2, xung quanh ngôi làng Colmar đều bị bom phá hủy, nhưng riêng Colmar thì không bị gì cả, lý do được đưa ra là vì ngôi làng này quá đẹp đến nỗi không ai muốn phá hủy nó cả.

Colmar được mệnh danh là một trong những ngôi làng đẹp nhất nước Pháp, nằm cách Strasbourg – thủ phủ vùng Alsace khoảng 64 km về phía Tây Nam và tọa lạc ngay bên dòng sông Lauch thơ mộng. Ảnh: Rodney Draper
 
Nơi đây còn được du khách ưu ái đặt tên “tiểu Venice” trong lòng nước Pháp. Ảnh: Etoma
Nơi đây còn được du khách ưu ái đặt tên “tiểu Venice” trong lòng nước Pháp. (Ảnh: Etoma)
Nổi tiếng là vùng đất yên bình và thơ mộng, thị trấn Colmar đã trở thành một trong những điểm du lịch hấp dẫn nhất nước Pháp, với những khu phố cổ mang nhiều nét kiến trúc độc đáo được gìn giữ gần như nguyên vẹn. Ảnh: John Kuster
 
Tuy diện tích nhỏ bé, chỉ hơn 66 km2, Colmar vẫn là ngôi làng lớn thứ ba thuộc miền đông bắc. Nhà ở đây được xây dựng chủ yếu từ gỗ và luôn được bảo quản rất tốt với những ô cửa sổ vuông vức, đều tăm tắp và ban công trồng hoa lãng mạn. Ảnh: Joan Ribera
 
Ngoài vẻ đẹp nên thơ trong kiến trúc và đời sống tinh thần, Colmar còn được biết đến là vùng trồng nho nổi tiếng ở Pháp. Ngôi làng luôn có những tia nắng nhẹ và thời tiết khô ráo, nhờ vậy quá trình chế biến rượu vang cũng thuận lợi hơn hẳn. Ảnh: pinterest.com
Colmar còn được biết đến là vùng trồng nho nổi tiếng ở Pháp.
Mỗi năm, người dân Colmar còn tổ chức lễ hội liên quan đến rượu vang này để cùng nhau chia sẻ, nếm thử các loại rượu mới. Ảnh: butterfield.com
Mỗi năm, người dân Colmar còn tổ chức lễ hội liên quan đến rượu vang này để cùng nhau chia sẻ, nếm thử các loại rượu mới. (Ảnh: butterfield.com)

 
Butterfield & Robinson—the world’s premier active travel company—designs incredible, immersive and experiential journeys to the world’s most amazing places.
Điểm ấn tượng nhất là xen lẫn giữa các kiến trúc hiện đại với những mảng tường đầy sắc màu, một số công trình bằng gỗ theo lối cổ vẫn vẹn nguyên sau hàng trăm năm. Ảnh: Eric
 
Những ngôi nhà ở đây soi mình bên dòng nước trong xanh, lối đi yên tĩnh bên những lan can phủ đầy hoa, tạo cho du khách một ấn tượng mạnh mẽ. Ảnh: Three Weeks Off
 
Xe đạp là phương tiện giao thông được yêu thích ở đây. Ảnh: Kristy Schmidt
Xe đạp là phương tiện giao thông được yêu thích ở đây. Ảnh: Kristy Schmidt
Colmar là nơi bạn có thể đến bất cứ thời điểm nào trong năm và rồi bạn sẽ có cảm giác không biết mình đang sống ở đời thực hay những trang cổ tích thần tiên. Ảnh: Philippe Haumesser
Colmar là nơi bạn có thể đến bất cứ thời điểm nào trong năm và rồi bạn sẽ có cảm giác không biết mình đang sống ở đời thực hay những trang cổ tích thần tiên. (Ảnh: Philippe Haumesser)
 
 
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Bộ tranh Đông Dương cuối thế kỷ 19 đẹp như cõi mơ do họa sỹ Pháp vẽ

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Chuyện lạ: Hải sản khô ruồi không dám đậu

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

KHUÔN MẶT VĂN NGHỆ MỚI