All posts by Nam Phong Le Nguyen

Nhạc sĩ Hoàng Trọng: Con Người và Âm Nhạc

https://baomai.blogspot.com/
Người ta thường cho rằng không cần phải hiểu lời ca cũng có thể cảm nhận ra được tâm tình của tác giả gởi gắm trong bài hát. Từ lý luận trên, có người cho rằng “Con Người” và “Âm Nhạc” là hai vấn đề không thể tách rời ra được và đó là lý luận của đa số những người yêu âm nhạc.
 
Còn chuyện những người yêu âm nhạc, thích ca, thích hát, thích đàn hay thích sáng tác, nếu chẳng may lấy phải người vợ hoặc người chồng có khuynh hướng chống lại Âm Nhạc thì lúc đó Con Người và Âm Nhạc không hề được dính vào nhau, và đây cũng là một chuyện đau khổ vô cùng tận. Do đó nếu muốn đem Con Người và Âm Nhạc gán gả cho nhau, có lẽ phải dùng đến chữ của nhà Phật, đó là Duyên.
 
Sở dĩ phải dài dòng văn tự như thế vì trong ngày 31 tháng 3 vừa qua, chúng tôi có được hầu chuyện cùng một Cộng Tác Viên của báo Nguồn Việt, đó là Thầy Phó Tế Nguyễn Mạnh San.  Ngày 31 tháng vừa qua cũng là ngày Thầy Phó San kỷ niệm thời gian 35 năm được thụ phong chức Phó Tế tại Hoa Kỳ.
 
https://baomai.blogspot.com/
Thầy Phó Tế Nguyễn Mạnh San
 
Được biết Thầy Phó San cũng là một trong những người Việt Nam tị nạn đầu tiên được thụ phong vào chức sắc này.  Có thể nói tại địa phương Thầy Phó đang cư ngụ, trong vai trò của một người lãnh đạo tinh thần, Thầy đã kinh qua một khoảng thời gian dài để phục vụ cho cộng đồng người Việt Nam trên nhiều lãnh vực, mà nhất là lãnh vực tâm linh.
 
Trong những năm vừa qua, báo Nguồn Việt rất hân hạnh đón tiếp Thầy Phó Tế Nguyễn Mạnh San với vai trò một Cộng Tác Viên của tờ báo. Chúng tôi đã được Thầy dành cho rất nhiều cảm tình, thầy có hứa rằng khi không còn vướng bận đến miếng cơm manh áo, nhất định Thầy sẽ trở thành một Cộng Tác Viên thường trực cho tờ báo của chúng ta.
 
Từ trước đến nay Thầy cũng có cộng tác cho rất nhiều báo chí ở hải ngoại, mà hầu hết là những báo ở những tiểu bang phía Tây Bắc của Hoa Kỳ, bên California hay tận xứ Canada lạnh lẽo.  Một điều làm chúng tôi ngỡ ngàng là tất cả những bài viết của thầy đều liên quan đến vấn đề Pháp Lý.  Nếu Thầy Phó Tế có viết về lãnh vực Tâm Linh thì chúng tôi không có gì để thắc mắc vì Thầy vốn là một Tuyên Úy Trại Tù (Catholic Chaplain in Prison Ministry), nhưng nhớ lại lần đầu tiên khi đọc qua bản thảo đầu tiên do Thầy gởi đến, chúng tôi phải tìm đến để trao đổi với Thầy vì sự quan trọng của những vấn đề Thầy Phó nêu lên trong bài viết.
 
https://baomai.blogspot.com/
 
Được biết Thầy Nguyễn Mạnh San ngoài việc làm Phó Tế ở các buổi Lễ trong nhà Chúa, Thầy hiện nay đã về hưu từ cơ quan Tư Pháp trong chức vụ Phụ Tá Trưởng Phòng Tố Tụng, Đặc Trách Luật Sư Đoàn và Nhập Tịch của Tòa Án Liên Bang Hoa Kỳ (Attorney Admission & Naturalization Deputy of United States District Court.)
 
Trong ngày Thầy kỷ niệm 35 năm được thụ phong chức vị Phó Tế, chúng tôi mới được biết thêm những điều về Thầy mà chúng tôi cho là Con Người của Thầy và Âm Nhạc có nhiều kỷ niệm rất đẹp.  Nói chuyện với Thầy, nghe Thầy đọc Phúc Âm trong nhà thờ, khó ai có thể đoán ra con người của Thầy Sáu lại có những tao ngộ, mấu kết với âm nhạc đến mức ngạc nhiên như thế.  Nghe Thầy kể về quảng đời thơ ấu, Thầy chính là cháu ruột của cố nhạc sĩ Hoàng Trọng, một ngôi sao Bắc Đẩu trên vòm trời âm nhạc Việt Nam của thế kỷ trước.  Hãy nghe Thầy tâm sự một đoạn đời với chúng tôi, người ta mới thấy cái duyên của Thầy và âm nhạc – dù nay chỉ còn là kỷ niệm, nhưng nó tha thiết đến dường nào:
 
– Ngày xưa còn bé tôi rất mê ca hát.  Trừ đàn violin ra, nhạc cụ nào tôi cũng có thể xử dụng được.  Tôi từng chơi trong ban nhạc ở cái tuổi 14, 15.  Tôi cũng từng sáng tác nhạc, và hồi đó những bài hát của tôi cũng thường được hát trên chương trình Tiếng Tơ Đồng của nhạc sĩ Hoàng Trọng.  Có thể nói vốn liếng về âm nhạc mà tôi có được, tất cả đều nhờ đến công ơn dạy dỗ của cậu ruột tôi (tức là nhạc sĩ Hoàng Trọng)
 
https://baomai.blogspot.com/
 
Danh ca Thái Thanh trong buổi phát hình chương trình Tiếng Tơ Đồng của nhạc sĩ Hoàng Trọng trên THVN năm 1968.
 
Chúng tôi thắc mắc trong thân tình:
 
 
– Thế tại sao Thầy không theo đuổi âm nhạc mà lại đổi nghề qua làm Phó Tế?
 
Thầy Phó Tế không trả lời ngay, mắt Thầy xa xăm như muốn trở về lại với cái quá khứ đầy những tiếng nhạc, lời ca, giọng của Thầy đầy xúcđộng kể cho chúng tôi nghe rằng:
 
– Cho đến ngày hôm nay, khi được ngồi nói chuyện với anh, tôi vẫn canh cánh bên lòng công ơn dạy dỗ của cậu tôi.  Tại sao tôi bỏ nghề âm nhạc?  Cậu Hoàng Trọng của tôi cũng chính là người đã khuyên tôi không nên theo cái nghề “xướng ca vô loài” không tương lai này.  
 
Bên Việt Nam thời đó, có ai ăn nên làm ra từ cái nghề đàn ca hát xướng bao giờ?  Tôi còn nhớ cậu tôi nói rằng: “Đời cậu thì coi như bỏ đi rồi, cậu không muốn con theo vết chân của cậu.”  Rồi tôi nghe lời cậu bỏ đàn, bỏ sân khấu để trở về với sách vở.  Cậu tôi luôn động viên, khuyến khích và cuối cùng tôi cũng đậu vô được trường Luật Khoa dù ở cái tuổi hơi lớn hơn những sinh viên khác.
 
https://baomai.blogspot.com/
 
 
Ngồi im một lúc khá lâu, Thầy Phó Tế kể tiếp:
 
– Có thể nói cậu Trọng là người đã giúp tách rời con người của tôi ra khỏi âm nhạc.  Tôi không ân hận những quyết định của tôi ngày xưa, nhưng những lúc nhớ về cậu, đọc ở đâu đó bài viết về cậu trên mạng, trên báo, tôi lại buồn và thương cậu.  Đôi lúc tôi cũng tự hỏi, nếu ngày xưa Chúa không dùng lời khuyên của cậu để đưa tôi rẽ qua một ngã quanh khác của cuộc đời, tôi vẫn không biết duyên số giữa tôi và âm nhạc sẽ đi về đâu?  Điều duy nhất khiến tôi luôn buồn trong lòng là chưa hề có đến một ngày để đền đáp công ơn nuôi dưỡng và dạy dỗ của cậu. Hôm nay là ngày kỷ niệm ngày tôi thụ chức Phó Tế được 35 năm, nếu cậu tôi còn sống, ắt hẳn cậu rất vui, nhất định cậu sẽ mỉm cười và chia sẽ với tôi ân huệ này.
 
Chúng tôi hỏi thêm:
 
 
– Bây giờ, ngày hôm nay nếu Thầy Sáu đứng ở vị trí của cậu Hoàng Trọng, Thầy Phó Tế sẽ khuyên con cháu của mình như thế nào, nếu trong nhà có đứa mê “đàn ca hát xướng”?
 
 
Thầy Phó Tế cười buồn:
 
– Đâu cần khuyên cháu chắt gì.  Ngay sau khi cậu tôi sang Mỹ, tôi cũng khuyên ngược lại cậu tôi nên từ bỏ âm nhạc để tìm kiếm cho mình một cái nghề thực dụng hơn.  Nhưng “con  người” của cậu tôi với “âm nhạc” là một, theo tôi thì ngoại trừ Thiên Chúa ra, tôi không tin là ai có thể tách rời hai điều ấy lìa khỏi nhau được.  Cậu tôi nghe tôi nói, cậu chỉ mỉm cười chứ không trả lời, rồi cậu quyết định đi tìm đất sống cho âm nhạc của cậu.
 
Khi được sang Hoa Kỳ định cư, cậu chỉ lưu lại với tôi có một thời gian rất ngắn. Cậu đã bỏ đi như con cá đi tìm nước để bơi, “Con Người” của cậu phải dính liền với “Âm Nhạc”, mà nơi đây không phải là nơi để cậu tôi dụng võ.  Cậu sang California được vài năm thì qua đời vì bệnh tim. Cậu mất đi để lại trong lòng tôi nỗi khoắc khoải vì chưa làm được một việc gì cho cậu để gọi là trả công cho cậu đã đùm bọc dạy dỗ tôi nên người.
 
https://baomai.blogspot.com/
 
Ngưng một lát rồi Thầy Phó Tế nói tiếp:
 
– Tôi không ân hận đã tách rời bản thân mình ra khỏi âm nhạc, đó là tại tôi không có duyên với sân khấu.  Nhưng tôi xin thú nhận với anh là tôi đã có cái nhìn lệch lạc về những người theo đuổi nghề cầm ca dù vào thời bấy giờ, cậu tôi và tôi là một trong những số người ấy.  Ông bà ta có câu “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”. Đặc biệt là ở những xã hội tiên tiến như Hoa Kỳ, nếu đàn giỏi, ca hay cũng kiếm tiền không thua cho bất kỳ ai đâu.  Đâu phải nghệ sĩ nào cũng có lối sống buông thả vô kỷ luật đâu?
 
 
Nhân được biết thêm về “lý lịch” của một Cộng Tác Viên, một người cháu ruột của một nhạc sĩ nổi tiếng, đồng thời chúng tôi đã được sự đồng ý của nhà báo Vương Trùng Dương, xin được dựa theo bài báo của ông viết về cố nhạc sĩ Hoàng Trọng để có một sưu tầm nhỏ về người nhạc sĩ tài ba này.
 
 
Hoàng Đế không ngai của nhạc Tango
 
 


https://baomai.blogspot.com/


 
 


 
 
Phần lớn những người nghe nhạc Việt Nam, ai cũng biết những lời ca trên là bản “Dừng Bước Giang Hồ”.  Đây là một bài hát được cho là tiểu biểu cho thể loại nhạc pasodoble của Việt Nam.  Với ca từ của Quang Khải, người sáng tác ra khúc nhạc này là nhạc sỹ Hoàng Trọng.  Khi thế giới âm nhạc nhắc về cố nhạc sỹ Hoàng Trọng, không ai dám phủ nhận ông là một ngôi sáng trên vòm trời âm nhạc Việt Nam.  Đi sâu hơn một chút vào âm nhạc của Hoàng Trọng, người ta cho rằng ông là một vị Hoàng Đế không ngai của thể loại nhạc tango.
 
 
Theo Wikipedia, Hoàng Trọng tên thật là Hoàng Trung Trọng, sinh năm 1922 tại Hải Dương.  Năm 1927 gia đình ông chuyển về sống tại Nam Định.
 
Hoàng Trọng bắt đầu học nhạc từ năm 1933 qua người anh trai là Hoàng Trung Quý.  Từ năm 1937, Hoàng Trọng học nhạc tại trường Thầy Dòng Saint Thomas Nam Định.  Đến năm 1941, ông tiếp tục nghiên cứu âm nhạc qua sách vở và học hàm thụ từ một trường ở Paris.  Cũng thời gian ở Nam Định, khoảng 1940 Hoàng Trọng có mở một lớp dạy nhạc.
 
Ngoài chuyện có khiếu về âm nhạc, từ thuở thiếu niên, Hoàng Trọng còn có khả năng tập họp, tổ chức ban ca nhạc.  Đến năm 15 tuổi, ông cùng các anh em trong gia đình như Hoàng Trung An và Hoàng Trung Vinh, các bạn như Đan Thọ, Đặng Thế Phong, Bùi Công Kỳ…  thành một ban nhạc.  Thuở ban đầu, ban nhạc không có tên, chỉ để giải trí và cũng để trình diễn giúp vui cho những chương trình từ thiện.  Nhưng đến năm 1945, khi Hoàng Trọng mở phòng trà Thiên Thai ở Nam Định, ban nhạc trình diễn mỗi tối ở đó và vì vậy lấy tên là ban nhạc Thiên Thai.  Phòng trà và ban nhạc của Hoàng Trọng hoạt động đến khi chiến tranh Việt Pháp bùng nổ năm 1946.
 
Cuối thập niên 1930, tân nhạc Việt Nam bắt đầu hình thành.  Bản nhạc đầu tay của Hoàng Trọng, bài “Đêm Trăng” được viết vào năm 1938 khi ông mới 16 tuổi.  Một số bản nhạc tiếp theo của ông được Phạm Duy trình bày trên sân khấu của gánh hát Đức Huy, trong đó có “Tiếng Đàn Tôi”, được coi là một trong những bản tango đầu tiên của Việt Nam. Một bản nhạc tiền chiến nổi tiếng khác của Hoàng Trọng thời gian đó là bản “Một Thuở Yêu Đàn”.
 
 
 
Khi chiến tranh bùng nổ, ông tản cư ra khỏi Nam Định, qua phủ Nho Quan, Phát Diệm và cuối cùng định cư tại Hà Nội năm 1947.  Thời gian đó ông đã viết bản “Phút Chia Ly”, một nhạc phẩm tango giá trị, do Nguyễn Túc đặt lời.  Cũng trong khoảng thời gian ở Hà Nội, Hoàng Trọng có những người bạn là nghệ sỹ của đài phát thanh như Mộc Lan, Minh Diệu, Mạnh Phát, Châu Kỳ v.v…, nhờ đó các nhạc phẩm của ông được phổ biến rộng rải ở Hà thành.  Hoàng Trọng cũng viết cuốn “Tự Học Hạ Uy Cầm”, tích lũy từ những kinh nghiệm dạy đàn trước đó, và được nhà xuất bản Thế Giới phát hành.
 
 
https://baomai.blogspot.com/
Hoàng Trọng và Phạm Duy tại Hoa Kỳ 1990.
 
Năm 1950, nhạc sĩ Hoàng Trọng gia nhập quân đội.  Ông là Trưởng Ban Quân Nhạc Bảo Chính Đoàn trình diễn mỗi tuần tại một vườn hoa cạnh Bưu Điện Hà Nội và trong chương trình “Tiếng Nói Bảo Chính Đoàn” của đài phát thanh Hà Nội.  Khoảng thời gian này, ông viết được nhiều bài hát, trong đó có “Gió Mùa Xuân Tới”. Năm 1953 tên tuổi Hoàng Trọng thực sự nổi tiếng với bản “Nhạc Sầu Tương Tư”, ca khúc này được trình diễn thường xuyên trên đài phát thanh khi ấy.  Năm đó ông còn viết một bản tango khác là “Dừng Bước Giang Hồ” như đã đề cập ở trên.
 
 
 


Năm 1954, Hoàng Trọng di cư vào miền Nam.  Tại Sài Gòn, ông thành lập những ban nhạc trình diễn trên đài phát thanh Sài Gòn, đài Quân Đội, đài Tiếng Nói Tự Do và đài Truyền Hình Việt Nam.  Những ban nhạc của ông hoạt động đến tận 1975, từng mang nhiều tên khác nhau như Hoàng Trọng, Tây Hồ, Đất Nước Mến Yêu …  đặc biệt từ năm 1967 với tên Tiếng Tơ Đồng.  Ban hợp xướng Tiếng Tơ Đồng, với các ca sĩ, nhạc sĩ danh tiếng của Sài Gòn thời đó, đã trình bày nhiều ca khúc tiền chiến giá trị.  Di cư vào Nam, nỗi buồn xa đất Bắc đã đem lại những cảm hứng nên Hoàng Trọng viết các nhạc phẩm như “Khóc Biệt Kinh Kỳ”; “Trăng Sầu Viễn Xứ”; “Chiều Xưa Tưởng Nhớ” và “Chiều Mưa Nhớ Bắc”.
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 5

ÔI, CHỒNG ƠI LÀ CHỒNG!…

ĐOÀN DỰ 

THƯA QUÝ BẠN, các cụ ta có câu: “Thân em như tấm lụa đào, phất phơ giữa chợ biết vào tay ai” và câu“Thân gái mười hai bến nước, trong nhờ đục chịu”. Tại sao lại “12 bến nước” chứ không phải 13 hay 14 bến? Theo một số các nhà nghiên cứu, con số 12 ứng với 12 “chi” trong cách tính âm lịch thời cổ: tý sửu dần mão (mẹo) thìn tỵ ngọ mùi thân dậu tuất hợi ; mỗi “chi” tượng trưng bằng một con vật gọi là mộtcon giáp: chuột, trâu, cọp, mèo, rồng, rắn, ngựa, dê, khỉ, gà, chó, lợn. Như vậy, một cô gái lấy chồng thì chẳng trúng anh nọ cũng trúng anh kia chứ tuổi của anh ta không thể nào khác hơn một trong 12 con giáp đó được. Còn theo học giả Paulus Hùinh Tịnh Của (1834-1907) trong cuốn Đại Nam quấc âm tự vị (xuất bản tại Saigon năm 1895) thì nhà thông thái này giải thích: “Thân con gái như chiếc đò, hoặc gặp bến trong, hoặc mắc bến đục, hoặc đưa người tốt, hoặc đưa người xấu, may thì nhờ, rủi thì chịu. Nói mười hai bến là nói cho vần vậy thôi”.

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 12

Sao tôi để mẹ nằm lại nơi đảo vắng?

https://baomai.blogspot.com/
Ông Nguyễn Gia Mạnh bên mộ người mẹ ở đảo Kuku
Tôi biết là mình sẽ khó quên được cảnh ông Nguyễn Gia Mạnh ngồi trơ trọi giữa những ngôi mộ, tảng đá không lưu danh người trên ngọn đồi nơi đảo vắng của xứ người.
“Bán đảo Kuku” theo cách gọi của người Việt là nơi từng có trại tị nạn Kuku, nằm trong quần đảo Anambas của Indonesia, phía đông bắc Singapore, nên đường đến đó thì đi từ đảo quốc Sư tử có vẻ thuận tiện hơn là từ Jakarta.
https://baomai.blogspot.com/
Được biết từ năm 1979 đến giữa thập niên 1980, có lần lượt khoảng 40.000 thuyền nhân Việt Nam đã đặt chân lên Kuku, trước khi được chuyển sang các trại chuyển tiếp chờ đi tị nạn ở nước thứ ba.
https://baomai.blogspot.com/
Và nếu tính cả Indonesia thì con số này lên đến 180.000 thuyền nhân Việt Nam.
https://baomai.blogspot.com/
Đảo Kuku vào thượng tuần tháng Tư năm 2018
Ông Gaylord Barr, một giáo viên người Mỹ từng đến giúp người tị nạn Việt Nam tại trại Galang vào đầu thập niên 1980 và có dịp ghé trại Kuku năm 1981, mô tả Kuku “vừa xinh đẹp vừa tàn bạo.”
https://baomai.blogspot.com/
“Chỉ một tháng trước chuyến thăm Kuku của chúng tôi, một tàu chở người tị nạn Việt Nam đã bị đắm khi gần tới đảo, khiến tất cả những người trên tàu bị chết đuối,” ông Barr viết trên website cá nhân. 
https://baomai.blogspot.com/
Ông Gaylord Barr
“Đêm hôm đó, một đại diện của tổ chức World Vision (Tầm nhìn Thế giới) nhờ một thông dịch viên tiếng Việt, trò chuyện cùng những người tị nạn trên đảo. Ông nói với những người này rằng họ sẽ không bao giờ nhìn thấy Việt Nam nữa và mô tả với họ về những khó khăn, sự cô đơn và vô vọng của họ khi đến sống ở những nước khác. Ông giải thích rằng hy vọng duy nhất của họ là chấp nhận Chúa Jesus làm vị cứu rỗi. Những người nghe im lặng, một số người đã khóc và một số người bước ra ngoài.”
Tôi lướt qua những tấm ảnh chụp người Việt trên website của Barr và thấy gương mặt đàn ông, đàn bà trầm tư, ánh mắt không che giấu vẻ lo âu, bên cạnh những đứa trẻ vô tư lự đang cười đùa bên các dãy lán trại tạm bợ.
https://baomai.blogspot.com/
Bây giờ thì người ta không thể tìm ra dấu vết của những dãy lán trại, chùa hay nhà thờ nhỏ của thuyền nhân từ thời các thập kỷ trước.
Tất cả mọi thứ liên quan đến thuyền nhân đã bị chính quyền địa phương tháo gỡ sau thời điểm các trại tị nạn trong khu vực đóng cửa và bắt đầu chính sách thanh lọc.
Và Kuku như tôi thấy trong những ngày tháng Tư năm 2018 là một đảo vắng bóng người, nước xanh, cát vàng yên ả như bất kỳ hòn đảo nhiệt đới nào.
https://baomai.blogspot.com/ 
Trại tị nạn trên đảo Kuku hồi năm 1981
Nếu có gì nhắc nhớ về nơi từng có cả vạn người Việt Nam trú ngụ ở đảo này thì đó là tấm bia tưởng niệm thuyền nhân hình chiếc tàu trên bãi.
Và những khu mộ thuyền nhân nằm rải rác trên đồi mà để đến viếng, người ta phải băng qua con suối hoặc trảng cỏ và những con dốc cheo leo.
https://baomai.blogspot.com/
Tuy gọi là khu mộ nhưng tại đó chỉ có một số ngôi mộ về sau này được thân nhân tìm đường quay trở lại xây cất.
https://baomai.blogspot.com/
Còn phần nhiều trong số đó chỉ là những tảng đá vô tri vô giác, có tảng được khắc ký hiệu nào đấy, có tảng hoàn toàn không lưu danh tính người đã khuất.
Năm 37 tuổi của con và của mẹ
https://baomai.blogspot.com/
Tôi gia nhập đoàn mười người đi chuyến này, hầu hết trong số họ đến từ Mỹ và Úc. Người dẫn đoàn là Carina Hoàng, nhân vật trong 20 năm qua đã tổ chức những chuyến đưa người tìm mộ thân nhân ở đảo Kuku.
https://baomai.blogspot.com/
Câu chuyện của Nguyễn Gia Mạnh, một người trong đoàn, cũng có thể là câu chuyện của nhiều thân phận người dân nước Việt, sau biến cố 1975 bỗng chốc gặp cảnh sinh ly tử biệt.
Người đàn ông 46 tuổi này có nụ cười sảng khoái nhưng kiệm lời, hiện đang có cơ sở kinh doanh riêng ở Adelaide, miền Nam nước Úc.
Đây là lần thứ hai, Mạnh quay lại đây viếng mộ mẹ, người qua đời do bị bệnh khi con tàu đưa bà cùng nhiều người khác vượt biên sắp sửa cập vào đảo Kuku hồi năm 1989 sau những ngày lênh đênh trên biển.
Mẹ ông năm đó 37 tuổi.
Ông Mạnh tìm được mộ của mẹ mình cũng năm ông 37 tuổi.
https://baomai.blogspot.com/ 
Đảo Kuku bây giờ là nơi vắng dấu chân người
Giữa buổi trưa nắng như đổ lửa, tôi theo chân ông băng qua một trảng cỏ, vượt qua một sườn dốc, cây cối rậm rạp để lên viếng mộ mẹ ông, trong khu mộ nằm cạnh một bãi đáp trực thăng, nơi từng đón phái viên Cao ủy Tị nạn Liên Hiệp Quốc đến phỏng vấn những người tị nạn trên đảo.
“Một ngày của năm 1987, lúc đó tôi mới 15 tuổi, mẹ bảo tôi: “Con đi với bố đi!”, ông Mạnh bắt đầu chuyện của mình.
“Tôi đâu có ngờ đó là lần cuối tôi thấy mặt mẹ.”
“Bố con tôi ra đi trên một chuyến tàu vượt biên chở theo 114 người.”
“Ngoài khơi, tàu bị vô nước nhưng may mắn là được thuyền Tây Đức vớt và đưa cả đoàn vào thẳng trại chuyển tiếp ở Hong Kong.”
“Năm 1988, bố con tôi qua tới Úc. Thời điểm đó, thư từ liên lạc khó khăn, gửi một lá thư vài tháng thì người ở nhà mới nhận được.”
“Lúc giấy tờ bảo lãnh mẹ do bố tôi làm gửi về đến Việt Nam thì bà ở nhà nóng ruột nên đã đi tự đi vượt biên một mình.”
“Mẹ tôi mất khi tàu đã gần tấp vô đảo. Khi người ta thương tình, đem thi thể mẹ tôi nằm trên tàu vào chôn cất trên đảo Kuku, một người dượng của tôi cũng đang ở đó nên báo tin cho bố tôi.”
“Trong nhiều năm liền, tôi vẫn thấy mẹ tôi trong giấc mơ. Mẹ nói: “Bố con cứ đi trước đi, rồi nhà mình sẽ được gặp lại nhau ở đâu đó.”
“Nếu biết đi lần ấy là chia ly thì tôi đã không đi rồi.”
Trong cái nắng cháy da của ngày hè, ông Mạnh ngồi cặm cụi phết sơn trắng lại ngôi mộ của mẹ mình trước khi thắp hương.
Và rồi ông ngồi lặng lẽ, trơ trọi giữa những ngôi mộ, tảng đá không lưu danh người trên ngọn đồi.
https://baomai.blogspot.com/
Chỉ có tiếng gió xào xạc và vài tiếng chim lẻ loi.
Tôi nhìn quanh và thấy ngọn đồi, hòn đảo này sao giữa ban ngày mà u tịch quá.
Không có lấy một bông hoa, dù chỉ là hoa dại, cho cảnh vật bớt tiêu điều.
https://baomai.blogspot.com/
Im lặng một hồi lâu, ông tiếp tục câu chuyện đang bỏ dở.
“Trong những năm khi trưởng thành ở Úc, tôi vẫn đau đáu muốn một ngày đến tìm mộ mẹ nhưng thật sự là tôi không biết cách nào tìm đến đảo này.”
“Cách đây khoảng tám năm, người dì sống bên Nhật báo cho tôi biết là bà thấy hình chụp một cột đá ghi tên mẹ tôi trên website của Carina Hoàng.”
“Lần đó, do giờ chót bận việc đột xuất nên tôi không đi được đến Kuku, mà chỉ nhờ người xây mộ cho mẹ.”
“Bốn năm trước, tôi viếng mộ mẹ lần đầu và nay là lần hai.”
“Mỗi lần đi là một lần đường xa vạn dặm, mất hai ngày rưỡi chỉ để đi-về.”
https://baomai.blogspot.com/ 
Dấu tích của những người đã vĩnh viễn nằm lại đảo Kuku có khi chỉ là các hòn đá chơ vơ không ghi danh tính
“Mỗi lần đặt chân đến đây, cảm xúc trong tôi thật lẫn lộn.”
“Tôi cảm thấy bớt áy náy, dằn vặt khi cuối cùng thì mẹ tôi đã có ngôi mộ được xây cất tươm tất.”
“Nhưng rồi tôi nặng lòng, tự hỏi sao mình có thể để mẹ nằm lại nơi đảo vắng, mỗi lần giỗ chạp, con cháu muốn đến thắp nén hương cũng khó?”
“Mấy dì, cậu muốn mang cốt của mẹ tôi về gửi ở chùa.”
“Nhưng cũng có người trong gia đình nói thôi, mẹ tôi dù sao cũng đã mất, mọi chuyện âu cũng tại số phận, nên để bà nằm yên lại nơi này.”
Tiếng gió vẫn xào xạc nhưng cái nắng nóng giữa trưa hè vẫn chưa hết oi bức.
Tôi bất giác hỏi: “Sao ngày đó cả gia đình ông có ba người mà không đi chung một chuyến tàu?”
Ông Mạnh đáp: “Tôi cũng có hỏi bố tôi câu hỏi ấy. Ông nói, một người phải ở lại Việt Nam, nếu có bất trắc, hai bố con đi không lọt thì còn người bên ngoài để lo liệu, thăm nuôi.”
https://baomai.blogspot.com/ 
Ông Nguyễn Gia Mạnh bên bia tưởng niệm thuyền nhân trên đảo Kuku
Tôi hỏi tiếp: “Tại sao cả nhà ông quyết định ra đi?”
“Bố tôi làm đại úy cảnh sát thời Sài Gòn,” ông Mạnh đáp.
“Sau biến cố 1975, ông phải đi cải tạo 10 năm.”
“Bố chưa bao giờ kể cho tôi nghe ông trải qua thời khắc khó khăn đó thế nào.”
“Và tôi cũng không hỏi do không muốn gợi lại chuyện đau lòng.”
Tôi lại hỏi: “Có bao giờ ông nghĩ nếu mình đang còn ở Việt Nam thì thế nào, có tốt hơn bây giờ không?”
“Ngoại trừ chuyện của mẹ mình, tôi không có gì phải tiếc nuối về chuyện ra đi và cuộc sống trong hiện tại cả.”
“Tôi tin vào sự sắp đặt của số phận cũng như tin mẹ luôn phù hộ và luôn dõi theo mỗi bước của tôi trên đường đời…” ông Mạnh nói.
https://baomai.blogspot.com/
Khi ánh nắng cuối ngày sắp tắt, trước lúc rời đảo về lại đất liền, ông Mạnh đi một vòng thắp những nén nhang cho những người không may nằm lại ở đây.
Giữa một số mộ phần có danh tính người Việt và người gốc Hoa, vẫn còn đó những phận người mãi mãi nằm lại nơi đảo xa mà không ai có thể biết danh tính và câu chuyện đời run rủi đưa họ đến kết cục này…
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 11

Đàn ông đừng vội mừng khi phụ nữ im lặng

Khi ấy bạn nghĩ rằng, bạn đã có thể thoải mái hơn, cô ấy đã thôi cằn nhằn và phàn nàn, không còn hỏi mỗi lần bạn đi hay về, bạn cho rằng đó là tự do và là hạnh phúc, bạn sai rồi. Đấy là lúc bạn dần mất đi cô ấy. Định luật đàn bà tưởng như rất giản đơn này mà nhiều khi đàn ông lại không hiểu.

Đàn ông hay chê đàn bà lắm điều. Họ thường khó chịu trước những lời phàn nàn: “Sao anh về muộn thế?”, “Anh lại hút thuốc phải không?”, “Thật không chịu nổi, sao nhà cửa lúc nào cũng như bãi rác thế này”… có hàng tỉ lời than phiền, trách mắng của người phụ nữ. Nhưng đàn ông thật không hiểu sau câu hỏi về muộn là sự quan tâm, lo lắng trong trái tim vốn rất nhạy cảm của phụ nữ. Họ “bắt” bạn phải dừng hút thuốc lá là bởi họ quan tâm cho sức khỏe của bạn… Và một khi họ vẫn còn cằn nhằn, còn lên tiếng là họ vẫn còn chịu đựng được và nghĩ rằng mọi chuyện có thể tốt lên. Nhưng đến 1 ngày họ không nói gì nữa và bạn muốn gì thì làm thì chớ vội mừng. Đó là khi cơn sóng ngầm đã chuẩn bị vỡ òa đấy…

Thường thì phụ nữ càng để tâm bao nhiêu thì càng hay cằn nhằn bấy nhiêu, vì họ để tâm quá nhiều nên trong lòng sinh ra sự bực bội. Nên đôi khi đàn ông không hiểu tâm lý và khó chịu mỗi khi phụ nữ cằn nhằn, mà thực ra họ cằn nhằn vì họ quá để tâm. Con người sức chịu đựng có hạn, đàn ông để phụ nữ buồn quá nhiều họ cũng chán, phụ nữ cằn nhằn với đàn ông quá nhiều họ cũng nản. 

Khi đàn ông khiến phụ nữ buồn, khi bạn làm sai, khi bạn càu nhàu và tức giận nhưng phụ nữ vẫn giữ thái độ im lặng, đáp lại bạn bằng nụ cười nhẹ nhàng và ánh mắt yên tĩnh như hồ nước.

 

Đàn ông cho rằng người phụ nữ của mình trở nên dịu dàng, biết nghe lời hơn và đã thêm hiểu chuyện? Nhưng bạn sai rồi, phụ nữ nếu như đột ngột im lặng giống như sóng biển ào ạt bỗng dưng lặng thinh đều là cảnh báo cho một cơn bão, một cơn đại hồng thủy.

Khi ấy bạn nghĩ rằng, bạn đã có thể thoải mái hơn, cô ấy đã thôi cằn nhằn và phàn nàn, không còn hỏi mỗi lần bạn đi hay về, bạn cho rằng đó là tự do và là hạnh phúc, bạn sai rồi. Đấy là lúc bạn dần mất đi cô ấy.

Khi phụ nữ im lặng, đồng nghĩa với việc cô ấy biết sự cố gắng của mình là vô nghĩa. Tình cảm của mình không được hồi đáp. Giống như việc cô ấy cứ cố gắng chạy theo mặt trời. Nóng và rát nhưng mãi không với kịp.

Đàn ông, tuyệt đối đừng để cho người phụ nữ của mình im lặng. Đừng để thấy bộ mặt tĩnh lặng của cô ấy. Phụ nữ nếu bỗng dưng trở nên nhu thuận, đáp lại mọi chuyện bằng một nụ cười. Ngay cả câu khó nghe nhất từ miệng đàn ông nói ra cô ấy cũng chỉ khẽ cười đáp lại.

“Em nói rất nhiều lần, anh đừng để em mệt mỏi, đừng để đến lúc em không buồn nói nữa. Lúc đấy anh thật sự là ngu ngốc đấy. Không phải em thay đổi, là vì nói rất nhiều nhưng anh không nghe. Giờ thì em chẳng buồn nói nữa”. Đồng nghĩa với việc đàn ông đang dần tuột mất người phụ nữ của mình.

Trong tình cảm, đàn ông chịu thấu hiểu một chút, phụ nữ học cách tinh tế hơn, sự cố gắng trong tình yêu như sợi dây thun, cần sự đàn hồi từ hai phía, một bên quá căng một bên quá nhả, đều dễ đứt. 

Theo afamily

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 15

TUYẾT MUỘN CUỐi ĐÔNG

Mồng Bốn tháng Ba đã cuối Đông

Tuyết còn rơi muộn ngập rừng Phong

Bên ngoài  gió thoảng hiu hiu lạnh

Nhà nhà mở sưởi, sưởi ấm phòng

 

Có kẻ tha hương còn thấy lạnh

Tan nhà mất nước, sống lưu vong.

Mong mỏi Đông tàn trên đất khách

Xuân về quê Mẹ mới ấm lòng.

  Arlington, VA. cuối Đông 3-4- 1

 Trần Gò Công/Lão Mã Sơn.

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 32

Cách luyện tập trị đau thần kinh toạ và đau lưng, đau hông


Nếu đã từng trải qua việc bị đau lưng, bạn sẽ biết nó sẽ khiến cuộc sống thường ngày của bạn trở nên khó khăn như thế nào. Khi mắc chứng đau lưng mãn tính, bạn sẽ mất khả năng thực hiện các hoạt động ưa thích. Tuy nhiên, cho dù cơn đau của bạn là mãn tính hay cấp tính, bạn đều cần phải điều trị ngay!
Đau lưng là một thuật ngữ chung mà mọi người thường sử dụng cho bất kỳ loại triệu chứng khó chịu nào ở vùng lưng hoặc tủy sống. Nếu đau lưng do căng cơ, bạn có chữa trị một cách nhanh chóng bằng việc xoa bóp đơn giản.
Có một loại đau lưng đặc biệt và cục bộ được gọi là đau thần kinh tọa. Đau thần kinh tọa là thuật ngữ y khoa chỉ những cơn đau xuất phát từ hoặc dọc theo dây thần kinh vùng thắt lưng. Các dây thần kinh vùng thắt lưng kéo dài từ phần lưng dưới xuống tới chân. Thông thường những người bị đau thần kinh tọa chỉ bị đau ở một bên. Một số nguyên nhân phổ biến gây ra việc đau thần kinh là gai cột sống, thoát vị đĩa đệm, hay việc các dây thần kinh bị chèn. Một số phụ nữ mang thai phải trải qua những cơn đau thần kinh tọa vì vị trí của bào thai có thể chèn lên dây thần kinh.
Một số loại đau lưng khác thường liên quan đến cơ thay vì do việc các dây thần kinh bị chèn. Khi các cơ ở phần dưới lưng bị xiết chặt, căng cứng, hoặc bị kéo có thể dẫn đến những cơn đau.
Đôi lúc đau lưng trở nên rất dữ dội khiến bạn khó tìm được một vị trí thoải mái cho mình. May mắn thay, có một số biện pháp khắc phục và bài tập tại nhà mà bạn có thể thử thực hiện để giảm chứng đau lưng và đau thần kinh toạ.
Phương pháp chữa đau lưng bằng bóng tennis đã được chứng minh là liệu pháp làm giảm đau lưng dưới thông qua sự chuyển động cơ tháp của chậu hông – vùng chậu phía sau gần dây thần kinh cột sống. Bạn có thể thực hiện phương pháp điều trị này ngay tại nhà.
Cách sử dụng bóng Tennis để giảm đau thần kinh cột sống và đau lưng
Đầu tiên bạn có thể ngồi hay nằm trên sàn nhà, sau đó đặt quả bóng vào hoặc gần cơ nơi bạn thấy đau. Bạn có thể sử dụng một hoặc hai quả bóng để thực hiện. Với khu vực rộng và ít đau hơn, bạn nên sử dụng hai quả bóng vì sức ép sẽ được phân phối đều ra. Tuy nhiên, sẽ dễ dàng hơn khi bắt đầu thực hiện với một quả bóng cho đến khi bạn quen dần.
Từ từ di chuyển cơ thể để lực từ quả bóng tác động vòng quanh các cơ. Lưu ý nén quả bóng lên những điểm khiến bạn cảm thấy đau trong khoảng 15-20 giây. Thực hiện phương pháp này một vài lần trong ngày cho đến khi những cơn đau chấm dứt hẳn.
Một phương pháp khác ít được biết đến đối với chứng đau thắt lưng là sử dụng thức ăn nhiều gia vị. Capsaicin là một chất được tìm thấy trong các loại ớt, ví dụ như ớt đỏ, ớt xanh, và ớt habaneros. Chúng có tác dụng giảm viêm, do đó có thể làm giảm áp lực tại các dây thần kinh ở vùng thắt lưng.
Chúng ta cần lưu ý đau thắt lưng là một triệu chứng, không phải là một nguyên nhân hoặc bệnh lý nào đó. Vì vậy bạn cần tìm hiểu cơn đau lưng được gây ra do gai đốt sống hay do đĩa đệm thoát vị, do nó cần thêm một số phương pháp điều trị khác. Nếu nguyên nhân gây nên cơn đau lưng là do đau cơ hoặc dây thần kinh toạ bị chèn ép thì việc sử dụng bóng tennis như trên chắc chắn là một liệu pháp hữu hiệu giúp bạn chữa khỏi hoàn.
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 77

Mơ Hoang

Không ai sống mãi trăm năm

Thế mà tính chuyện xa xăm ngàn đời

Không ai biết được tuổi trời

Mà ôm mộng tưởng đổi dời thế gian, 

Không ai đẹp mãi dung nhan

Mà mong hoa thắm chẳng tàn chiều hôm.

Nào ai vui mãi không buồn

Dùng dằng, dan díu.. cuối đường chia xa.. 

Thở vào.. có lúc thở ra

Giữa hai hơi thở.. đời ta lắm điều?

Không ai dám bỏ tình yêu

Dù tình ẩn chứa bao nhiêu lụy sầu

Có ai tóc chẳng bạc màu

Mà hoài dệt mộng bên cầu tử sinh.

Ít ai hạnh phúc một mình

Nên đành đánh đổi.. mong tìm chút vui.

Không ai ưng bước trở lui

Nên đường thiên lý ngậm ngùi ruổi dong.

Mấy ai về lại với lòng

Thú đau thương.. nhận chìm trong vô thường. 

Không ai sống mãi miên trường

Thì xin nhớ lẽ Chân thường tại Tâm .

Như Nhiên –Thích Tánh Tuệ
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 18

NẤM NGỌC HƯƠNG THIỀN

Miền Tây bắc Hoa Kỳ núi rừng hùng vĩ, nơi đây mưa nhiều do gần Thái Bình Dương. Cũng chính vì yếu tố thiên nhiên này, rừng núi ở đây có vô số loài nấm mọc, trong đó có loài cực kỳ quý hiếm. Là thành viên của Hiệp hội Nấm rừng, người viết thường có những chuyến đi khảo sát
Trong một lần dừng chân tại thị trấn nhỏ dưới rặng núi Cascade, khi tiếp xúc người dân địa phương để tìm hiểu đặc chủng nấm trong vùng, người viết được kể cho nghe về câu chuyện một thiền sư sống đơn độc giữa núi rừng. Người viết xin ghi lại câu chuyện đầy xúc cảm này như một món quà xuân dành tặng quý độc giả . 
 
huyen lam1
 
Mô phỏng căn nhà cabin mà ông Ken sinh sống
Thị trấn Ran nhỏ bé, khoảng vài trăm cư dân, nằm giữa rừng già đại ngàn, không xa lắm là dãy núi Cascade hùng vĩ mùa đông phủ tuyết. Mười năm trước, dân nơi đây bàn tán về người đàn ông tuổi ngoài 70 nhưng dáng dấp khỏe mạnh, nhân cách nhẹ nhàng vi diệu như một ông tiên. Cứ mỗi độ hoa lê rừng nở trắng xóa trên triền núi, người dân lại thấy ông lái chiếc xe pickup cũ từ đường mòn trên núi cao vào trung tâm thị trấn rồi dừng tại nhà dưỡng lão dành cho người nghèo.
Mỗi tuần ông đến đây hai lần, từ sáng sớm cho đến chiều. Ông nấu cho người già ăn, đánh dương cầm cho người già nghe, chỉ cho họ cách đi, cách ngồi, cách thở. Mà lạ thay, ông làm việc gì cũng chậm rãi nhưng đầy năng lượng tươi vui. Mỗi lần có ông, nhà dưỡng lão bừng lên sức sống, được thay luồng khí mới. Các cụ già ánh mắt rạng ngời, nụ cười rạng rỡ như những đóa hoa vừa được tưới tẩm tình thương.
Khi lá rừng chuyển sang màu vàng cũng là lúc người dân thị trấn không còn thấy ông nữa. Các cụ già cố gắng làm theo lời ông chỉ dẫn để cuộc sống an lạc, tâm linh hơn. Nhưng không có ông, nhà dưỡng lão như mất đi lò sưởi ấm mùa đông, trở nên trầm buồn lạnh lẽo. Các cụ già từng ngày nhìn ra khung cửa sổ giữa màu tuyết trắng mênh mông lại mỏi mắt trông chờ những cánh hoa lê rừng nở trắng.
***
Ông Ken từng thọ giáo, học thiền, học Phật nhiều năm từ Đức Dalai Lama, Thiền sư Suzuki. Ông vốn là nhà khoa học nghiên cứu về tác động môi trường từ chất thải hóa học do con người tạo ra. Một hôm đọc tập san chuyên ngành Khoa học Môi trường, trong đó có bài nói về triết lý Phật giáo nhấn mạnh đến mối tương quan, tương tức của vạn vật đã làm ông ngạc nhiên về tính khoa học của một tôn giáo mà trước đây ông cho là quá cổ xưa lạc hậu.
Ông không ngờ từ ngàn xưa tôn giáo ấy đã biết quý trọng cây cỏ mọi loài sinh linh và chỉ ra mối liên hệ mật thiết cần bảo vệ. Từ đó ông tìm hiểu về Phật giáo nhiều hơn. Ông đã trải qua từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác khi nghiên cứu kho tàng kinh điển bao la của đạo Phật. Ông quyết định trở thành người con Phật sau chuyến du hành sang Dharamshala – Ấn Độ dự khóa tu do ngài Dalai Lama giảng dạy.
Trước khi về hưu, ông tìm mua khu đất rừng rộng mấy mươi ha trên triền núi dãy Cascade miền Tây bắc Hoa Kỳ. Ông cho dựng căn nhà nhỏ làm bằng cây rừng thô ghép lại (cabin). Đây là ước mơ bao năm của ông có được nơi yên tĩnh, hoang dã để tu tập và viết những bài nghiên cứu cho các tạp chí Phật giáo bằng Anh ngữ. Dù đã về hưu nhưng ông rất tinh tấn, năm giờ sáng ông thức dậy pha trà, đốt nén hương ngồi thiền. Sau buổi ăn sáng, ông thiền hành, thả bộ theo con suối bên hông nhà xuống cánh rừng sồi phía dưới.
Trong một buổi thiền hành cuối thu, ngồi nghỉ chân bên bờ suối ngắm nhìn cánh rừng ngợp lá vàng bay trước mặt, ông thấy mấy chú sóc từ trên cây leo xuống, vừa đi chậm rãi vừa đánh hơi thảm lá vàng dưới đất. Chợt chúng dừng chân, moi lên dưới thảm lá mục những viên củ rừng to bằng trứng chim cút, có viên to bằng quả chanh rồi đem về tổ trên cây cao cất giấu.
Tò mò, ông tới nơi chúng đào, dùng nhánh cây rừng khơi xung quanh, vài viên củ rừng trăng trắng hiện ra. Ông đưa lên mũi, thoang thoảng mùi hương nhẹ phảng phất. Như không tin vào thính giác mình, ông đem xuống bờ suối dùng hòn đá có góc cạnh bén cắt đôi, hương thơm theo vết cắt lan tỏa đậm đà, một thứ hương không nồng, không nặng, rất nhẹ nhàng tinh tế dễ chịu. Ông Ken thầm thốt lên: – Nấm truffle.
Ông không ngờ cánh rừng do mình làm chủ có loại nấm vô cùng quý hiếm này, mỗi ký được bán lên tới cả 5-10 ngàn USD. Đây là loài thực phẩm mắc nhất thế giới. Ông quay lại chỗ sóc đào, lượm thêm một viên nấm rồi tiếp tục thiền hành trở về nhà. Sau khi rửa sạch, ông thành kính bỏ viên nấm vào dĩa dâng lên bàn thờ Phật như dâng lên viên ngọc quý báu ban tặng từ đất trời.
Suốt ngày đó, ông vẫn làm những công việc bình thường, mỗi khi ý niệm truffle phấn khích nổi lên, ông theo dõi hơi thở, điều tâm thanh tịnh trở lại. Hôm sau, thay vì thắp nhang lễ Phật trước khi ngồi thiền như thường lệ, ông cắt một phần viên nấm thành những lát mỏng thay thế mùi nhang. Trong thiền phòng giữa không gian yên tĩnh núi rừng trùng điệp, mùi hương nấm nhẹ nhàng lan tỏa. Khi hơi thở đã rất nhẹ rất sâu, tâm đã lắng đọng trong sáng, ông Ken bắt đầu suy nghĩ phải làm gì với kho báu giữa rừng già?
Ông đã bỏ tất cả để tìm đến chốn này, tiền hưu trí hàng tháng ông dùng chỉ một phần rất nhỏ, hầu hết gởi tặng các tu viện, cơ sở thiện nguyện. Không khéo cánh rừng này sẽ đốt tan công phu tu tập của ông, trở thành nơi tranh chấp gây tạo ác nghiệp.
***
Mùa thu khi lá phong, lá sồi chuyển sang màu vàng cam rực rỡ cũng là lúc ông Ken bắt đầu thu hoạch truffle. Đối với người chuyên môn tìm loại nấm quý này, họ luôn sử dụng chó hoặc heo để phát hiện những viên nấm được giấu kín dưới lớp thảm mục rừng. Riêng ông Ken cách tìm nấm cũng không khác chi hành thiền.
Mỗi ngày ông thiền hành đến cánh rừng, chọn một chỗ khác hôm qua, ngồi xuống hít thở khí trời, nghe tiếng chim hót líu lo, nhìn những chú sóc nhỏ chạy tung tăng tìm nấm. Ông chờ chúng lấy xong, tới chỗ chúng đào lấy những viên nấm còn sót lại xung quanh. Loài sóc đã quen hình dáng ông bao năm qua nên không hề có chút sợ hãi. Từ ngày thấy ông “mót” nấm mà không tranh giành với chúng, loài sóc hiểu được. Chúng thương ông, đào nhiều nơi nhưng lấy đi rất ít, như làm dấu giúp ông thu hoạch tốt hơn.
Mùa nấm truffle kéo dài 2 tháng, bắt đầu từ cuối tháng 9 đến cuối tháng 11. Mỗi tuần ông Ken thu hoạch được vài ký, ông bán hết cho nhà thu mua, chỉ giữ lại một ít thay nhang cúng Phật mỗi sáng ngồi thiền. Ông gởi trọn số tiền bán nấm thông qua trương mục vô danh cho viện dưỡng lão dưới chân núi nơi ông thường làm việc thiện nguyện.
***
huyen lam3
 
Mô phỏng hình ảnh ông Ken đánh dương cầm cho người già tại viện dưỡng lão

Mùa xuân năm ấy, khi hoa lê rừng nở trắng trên triền núi, các cụ già trong viện dưỡng lão lại háo hức chờ đón ông Ken. Một tuần qua, hai tuần qua, hoa lê đã rụng tàn, màu xanh lá rừng đã trỗi dậy nhưng ông Ken vẫn không xuất hiện. Người dân thị trấn Ran xôn xao bàn tán không biết chuyện gì đã xảy ra trên núi cao. Họ vận động chính quyền địa phương cùng cư dân dành một ngày cuối tuần lên núi tìm hiểu sự tình.

Sáng sớm, đoàn xe vài chục chiếc chậm rãi theo con đường mòn gồ ghề đầy sỏi đá tiến vào dãy núi Cascade. Trên con đường độc đạo hoang vu, giữa lưng chừng núi, căn nhà gỗ đơn sơ đậm nét dưới ánh mặt trời. Viên cảnh sát thị trấn (Sheriff) dẫn đầu cho xe dừng lại, đi bộ đến căn nhà có nhiều cỏ dại mọc cao như báo hiệu đã lâu không ai chăm sóc. Viên cảnh sát gõ nhẹ cửa nhiều lần nhưng không tiếng trả lời. Bỗng người dân đi theo hốt hoảng la lên bên cánh cửa sổ hông nhà:

– Coi kìa! Có phải ông Ken?
Phía sau khung kiếng bụi mờ, một thân thể bất động da nhăn khô đang ngồi trước tượng Phật cổ xưa. Viên cảnh sát phá vội ổ khóa cánh cửa ra vào: Mùi hương thơm từ trong nhà thoát ra làm mấy chục cư dân thị trấn Ran ngạc nhiên trầm trồ. Bước vào trong, bên cạnh thân thể khô cứng đang nhập định còn có nhiều khay đựng đầy nấm truffle thái mỏng đã khô nhưng vẫn tỏa mùi hương ngào ngạt.
Người ta tìm thấy tờ di chúc để lại trên bàn Phật, ông hiến tặng toàn bộ đất đai tài sản cho viện dưỡng lão, đồng thời tiết lộ điều bí mật được giữ kín lâu nay về cánh rừng có nấm truffle. Ông cẩn thận ghi chép điều kiện bắt buộc để nhận tài sản là phải có một ủy ban giám sát khai thác nấm truffle theo cách ông làm: Tôn trọng và bảo vệ loài sóc trước khi thu hoạch cho loài người vì chúng là chủ nhân đầu tiên kho báu này.

Mọi người không ngờ chính ông là nhà hảo tâm vô danh đóng góp tài chánh duy trì viện dưỡng lão nhiều năm qua! Ngày làm lễ hỏa thiêu rải tro bên bờ suối theo lời ông dặn trong di chúc, thị trấn Ran hầu như tham dự không thiếu một người. Từ cậu bé nhà nghèo bỏ báo buổi sớm mai cho đến cụ già trong viện dưỡng lão đều được giúp đỡ phương tiện lên núi. Lần đầu tiên cư dân thị trấn Ran gắn bó chăm sóc lẫn nhau như đại gia đình. 

Đoàn xe hơn trăm chiếc chậm chạp trên con đường gồ ghề tiễn ông đi. Cư dân khóc sướt mướt, thương mến cảm phục một nhân cách vi diệu sống trọn đời không những cho tha nhân mà ngay cả muôn loài.
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 31

Nuước Mỹ vào Mùa Thu

Nước Mỹ vào thu đẹp lộng lẫy trong sắc đỏ, vàng của lá cây chuyển mùa.
Mùa thu nước Mỹ đẹp nhất khi lá cây chuyển màu hoàn toàn, thường vào khoảng giữa tháng 10. Ảnh: Forest Wander
Những cây dương lá vàng, sơn thù du lá đỏ, cây phong màu cam và mại châu được nhuộm vàng tạo thành bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp ở công viên Oak Mountain ( Miền Birmingham, Bang Alabama). Ảnh: Alabama Media Group
Thu vàng ở Miền Sedona, Bang Arizona. Ảnh: John Morgan
Cảnh đẹp nên thơ ở núi Ozark, Bang Arkansas. Ảnh: Arkansas Department of Parks & Tourism
Thảm cây dương lá vàng ở Bang California. Ảnh: Mike Baird
Mùa thu ở Baldwin, Bang  Colorado. Ảnh: Pam Morris
Thiên nga trắng giữa hồ thu ở công viên Young’s Pond, Branford, Bang Connecticut. Ảnh: slack12
Thu yên bình ở tiểu bang Delaware.
Những đám mây mang mưa đến ở dãy núi Sawtooth, Bang Idaho. Ảnh: Charles Knowles
Con đường lá đỏ thơ mộng ở Bang Indiana. Ảnh: ayay
Trẻ em chơi đùa trên thảm lá vàng ở Bang Kansas. Ảnh:Matthew & Karen Huber
Trại nổi trên sông Ouachita ở Bang Louisiana được bao phủ trong sắc đỏ của lá thu. Ảnh: FinchLake
Cảnh đẹp như tranh vẽ ở công viên Hinckley Park, South Portland, Bang Maine. Ảnh: Brent Danley
Một góc mùa thu dưới chân cầu đường sắt qua sông St. Croix River, Bang Minnesota.
Sắc đỏ rực đến chói mắt của rừng cây ở Grantwood. Ảnh: Thomas Hawk
Tàu hỏa lượn trong sắc vàng ở vườn quốc gia Glacier, Bang Montana. Ảnh: Loco Steve
Thu rực rỡ sắc màu ở Bang New Hampshire. Ảnh: bluepoint
Mùa thu trên một con đường quê vắt qua những ngọn đồi ở Miền Basking Ridge, Bang  New Jersey. Ảnh: joiseyshowaa
Suối chảy róc rách dưới những tán cây vàng, đỏ ở Kaaterskill Creek, Bang New York. Ảnh: E Palen
Đàn bò rừng bizon thảnh thơi bên bờ sông Little Missouri, Bang  North Dakota. Ảnh: Good Sam
Đường xe chạy lướt qua những hàng cây rực rỡ ở công viên Geneva, Bang Ohio. Ảnh: Mark K.
Công viên Beavers Bend ở Bang Oklahoma phác họa một bức tranh thu đẹp ngỡ ngàng. Ảnh: Carolyn Fletcher
Hai chú hươu đuôi trắng ngắm cảnh thu lộng lẫy dọc Skyline Drive, Bang Virginia. Ảnh: dherman1145
Những ngôi nhà, chuồng trại bằng gỗ mộc mạc lẫn trong sắc thu ở Bang  West Virginia. Ảnh: ForestWander
“Cây cầu dẫn đến mùa thu” ở Bang Wisconsin. Ảnh: Indy Kethdy
Cảnh thu vùng núi Grand Tetons, Bang Wyoming. Ảnh: Rich Flynn
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 34

Chiêm ngưỡng những công trình kiến trúc đặc sắc của nước Mỹ

Nước Mỹ là nơi hội tụ của rất nhiều nền văn hóa trên thế giới. Cũng chính nhờ vậy mà quốc gia này có cho mình một sự đa dạng “hiếm có” trong trường phái kiến trúc.
Tại đây, bên cạnh những ngôi nhà thuần chất phương Tây, chúng ta còn có thể tìm thấy cả các đền thờ đạo Hindu, cung điện hoàng gia hay nhà kính kiểu Nhật Bản ở mức độ hoàn thiện cực kỳ cao.
 
Nhà hát Alabama
Nhà hát Alabama là một trong những công trình kiến trúc đẹp nhất bang Alabama nói riêng và cả thế giới nói chung. Trên thực tế, công trình này được xây dựng bởi hãng phim nổi tiếng Paramount và với mục đích sử dụng ban đầu là một rạp chiếu mang tính biểu tượng của hãng. Ngày nay, công trình này đã trở thành một trong những trung tâm văn hóa nghệ thuật của cả bang và hoạt động như một nhà hát, nơi diễn ra các vở kịch hoặc buổi lễ lớn.
Nhà thờ Chữ Thập
Nhà thờ Chữ Thập tại bang Arizona là một công trình tôn giáo hết sức độc đáo của nước Mỹ. Nhà thờ tọa lạc tại vị trí độc địa, trên vách đá đỏ cách mặt đất đến 60 mét. Mặc dù đã có từ năm 1956 nhưng công trình vẫn giữ được vẻ uy nghi và trường tồn của nó.
 
Học viện không quân Hoa Kỳ
Học viện không quân Hoa Kỳ sở hữu cho mình một tòa nhà với lối kiến trúc hiện đại, phá cách bậc nhất. Có thể thấy công trình đầy góc cạnh hợp thành từ 17 đỉnh chóp nhọn này, được lấy cảm hứng từ hình tượng của những chiếc máy bay đang đâm thẳng lên bầu trời.
 
Khu phức hợp Grace Farm
Trong ảnh là một tổ hợp văn hóa giải trí mang tên Grace Farm rất nổi tiếng của bang Connecticut. Khối kiến trúc này nổi bật bởi đường hành lang dài uốn lượn, tạo thành một con đường dẫn qua các khu vực chính như thư viện, phòng trà, phòng tập gym, sân bóng rổ. Điều đặc biệt là các khu vực văn hóa, giải trí này cũng được kết hợp một cách khéo léo để như hòa quyện vào “đường cong” mềm mại chủ đạo của cả công trình.
Đền thờ BAPS Shri Swaminarayan Mandir Atlantaa
Tọa lạc tại bang Georgia, đền thờ BAPS Shri Swaminarayan Mandir Atlantaa là đền thờ đạo Hindu lớn nhất ở ngoài lãnh thổ Ấn Độ- quê hương của tôn giáo này. Được biết, để xây dựng nên công trình tôn giáo hết sức đồ sộ này, người ta đã phải sử dụng đến 34.000 khối đá, được khai thác và vận chuyển trực tiếp từ Ấn Độ.
 
Cung điện Iolani
Cung điện Iolani tại quần đảo Hawaii là công trình hoàng gia duy nhất tại Mỹ. Tòa cung điện này được xây dựng bởi David Kalākaua, vị vua cuối cùng của Hawaii, trước khi nó trở thành lãnh thổ của Mỹ. Được biết, trong chuyến hành trình đi khắp thế giới vào năm 1881, vị cựu hoàng của Hawaii này đã bị ấn tượng bởi các cung điện của châu Âu, và đó cũng là nguồn cảm hứng thôi thúc ông xây dựng cung điện Iolani tại quê nhà của mình không lâu sau đó.
 
Trường đua Churchill Downs
Churchill Downs là trường đua ngựa thuộc vào hàng đẹp và nổi tiếng nhất của nước Mỹ. Nhìn lướt qua, chúng ta có thể thấy rằng, công trình này được thiết kế với lối kết trúc mang hơi hướng từ các nhà thờ đặc trưng của Mỹ, điển hình là hai tòa tháp ở khu vực trung tâm. Mặc dù được khánh thành từ năm 1875 nhưng trường đua này lại có sức chứa khủng lên đến 120.000 chỗ ngồi và vào những ngày diễn ra các cuộc đua, Churchill Downs luôn gần như không còn một chỗ trống.
Nhà kính Marjorie McNeely
lsa
Bên trong công viên Saint Paul’s Como thuộc bang Minnesota là một nhà kính tuyệt đẹp theo phong cách kiến trúc thiền tịnh của Nhật Bản, được mở của từ những năm đầu của thế kỷ 20 và vẫn còn hoạt động cho đến nay. Được biết, nhà kính này có chức năng như một khu trưng bày và bảo tồn các loài thực cũng như một số loại côn trùng mà nổi bật nhất là vườn bướm.
Minh Nhật
Theo 
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 31

TA QUANG KHOI: HỒ XUÂN HƯƠNG và NHỮNG NGHI VẤN

 
Tranh màu nước của danh họa Bùi Xuân Phái khắc họa ý thơ của Hồ Xuân Hương.
 
Người đầu tiên dùng phân tâm học của Freud trong văn chương Việt Nam có lẽ là ông Nguyễn Văn Hanh. Năm 1936, ông Nguyễn viết trong cuốn HỒ XUÂN HƯƠNG : TÁC PHẨM, THÂN THẾ VÀ VĂN TÀI (xuất bản ở Saigon) rằng nữ sĩ họ Hồ là một người xấu xí, đen đủi, bị khủng hoảng về tình dục. Ông còn gọi thơ bà là thơ “hiếu dâm”.
Đến cuối thập niên 1940 (hay đầu 50 ?) Trương Tửu Nguyễn Bách Khoa, trong cuốn KINH THI VIỆT NAM cũng cho rằng nữ sĩ họ Hồ có những dồn nén tình dục.
Nhưng vào thời gian đó, chưa ai nghĩ rằng thơ Hồ Xuân Hương không phải do chính nữ sĩ họ Hồ sáng tác. Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm còn viết một cuốn sách ca tụng bà là một nhà thơ cách mạng (Bốn Phương xuất bản năm 1950 ở Hà Nội). Đến cuối năm 1952, một nhóm người nêu giả thuyết không thực sự có một nữ sĩ tên là Hồ Xuân Hương. Thơ họ Hồ là thơ của nhiều nhà nho ẩn danh muốn giải tỏa những dồn nén tình dục của mình. Nhóm chủ trương “không có Hồ Xuân Hương” nêu lý do : trong thơ họ Hồ thường nhắc tới Chiêu Hổ, tức Phạm Đình Hổ, tác giả “Vũ Trung Tùy Bút”. Thế mà trong tác phẩm này, họ Phạm không hề nhắc tới người đã từng xướng họa thơ với mình. Rồi họ kết luận : không có nữ sĩ Hồ Xuân Hương. Chúng tôi e rằng nếu chỉ dựa vào lý do đó – theo thiển kiến, nó thiếu tính chất khoa học, nên chưa đủ sức mạnh thuyết phục – mà quyết định một vấn đề rất quan trọng trong văn học sử thì e quá hồ đồ. Nhưng chủ trương đó cũng làm một số người phân vân, hoang mang.
Vào cuối thập niên 1950, Học giả Hoàng Xuân Hãn, trong một bài nghiên cứu, quả quyết rằng thực sự có một nữ sĩ tên là Hồ Xuân Hương trong văn học cổ Việt Nam. Tuy nhiên, học giả họ Hoàng xác nhận rằng thơ Hồ Xuân Hương có những bài không phải do chính nữ sĩ sáng tác.
Chúng tôi nghĩ rằng Hoàng tiên sinh có lý. Có thể có một số người không hiểu tại sao các nho sĩ, văn hay chữ tốt, làm thơ lại không dám nêu tên mình mà phải núp dưới bóng người khác. Thật ra, điều này cũng không khó giải thích.
Trước hết chúng ta phải tìm hiểu nền giáo dục Khổng-Mạnh. Đó là một nền giáo dục khắt khe, nhằm đào tạo một con người toàn vẹn, cả về đức độ lẫn tài năng. Nó đã đưa những người theo nó lên nấc thang cao nhất của một xã hội nặng về nông nghiệp : Sĩ, Nông, Công, Thương. Dường như sau “Cách mạng tháng Tám” (1945) người ta mới thêm một đảng cấp nữa, đó là “Binh”. Kẻ sĩ, nhà nho, là một lớp người được cả xã hội quý trọng, kính nể. Họ tiến lên thì làm quan giúp vua, giúp nước, giúp dân; lui về thì dạy học, vun trồng thế hệ mai sau. Đó là “Tiến vi quan, thoái (hay đạt) vi sư.” Vì được tất cả mọi người trong xã hội kính nể, họ phải làm gương tốt cho thiên hạ noi theo. Muốn thế, nhà Nho phải luôn luôn giữ cho lòng được ngay thẳng, trong sáng
Để giữ cho lòng được ngay thẳng, trong sáng, họ chỉ nghĩ tới những điều cao đẹp, nói những điều hay để người khác nghe theo. Do đó, trong Hán tự, chữ CÁT  (tốt lành) được ghép hai chữ SĨ và KHẨU () nghĩa là những gì xuất phát từ miệng của kẻ sĩ đều tốt lành. Nho giáo khắt khe như vậy nên quả thật rất ít người theo đúng được, trừ những bậc thánh hiền. Con người ta dù ở địa vị đáng tôn kính nào vẫn là những con người với tất cả mọi nhu cầu, cả về vật chất lẫn tinh thần. Con người sẽ mất thăng bằng nếu chỉ thiên về một phía. Các nhà nho, dù ngày đêm “tụng” sách Thánh Hiền cũng không thể thoát ra khỏi thông lệ đó. Nho sĩ cũng là con người với tất cả “thất tình”. Họ cũng có những thèm khát vật chất như mọi chúng sinh khác. Nhưng họ phải giấu kín những gì lễ giáo cho là thấp hèn. Ngay cả vợ chồng cũng không được bộc lộ những thèm muốn về xác thịt, phải “tương kính như tân” (kính trọng nhau như khách). Đã “kính trọng nhau như khách”, vợ chồng không thể nói với nhau những lời xuồng xã, thô tục như những kẻ phàm phu. Trước mắt quần chúng, nhà nho càng phải nghiêm chỉnh hơn, lúc nào cũng phải nhớ rằng mình đang ở một địa vị cao quý nhất xã hội, “nhĩ mục quan chiêm”. Nhưng họ nghiêm chỉnh không có nghĩa là họ không có những thèm muốn về xác thịt. Thật ra, họ cũng muốn thỏa mãn những nhu cầu đó như mọi người bình thường khác.
Đối với những người đã hiển đạt  (thi đỗ, làm quan, giầu có) thì dù có phải coi vợ như khách, họ vẫn có cách giải quyết ổn thỏa. Họ có thể “nạp thiếp”,nghĩa là lấy vợ nhỏ, nàng hầu (trai năm thê, bảy thiếp…). Đối với vợ lẽ con thêm, họ không cần phải giũ lễ “tương kính như tân”.
Còn những nho sĩ chưa hiển đạt, chưa có đủ phương tiện để “nạp thiếp”, họ phải giấu kín những thèm muốn trong lòng để rồi chúng dần dần biến thành những dồn nén nhức nhối, khó chịu. Con đường giải tỏa tạm thời của họ là làm thơ, lén lút đưa cho nhau thưởng thức. Họ có thể là những người “văn chương chữ nghĩa bề bề”, thơ họ không phải là loại thơ “con cóc”. Rồi nhân đã có người nổi tiếng về lối thơ “dồn nén”, họ “đổ thừa” những bài thơ mới sáng tác của họ cho người đó. Thế là họ vẫn giữ được tiếng nhà nho ngay thẳng, lòng sáng như gương. Trong một bài hát nói tả một anh giả điếc, Nguyễn Khuyến đã có hai câu thơ chữ Hán mà mọi người cho rằng Cụ muốn ám chỉ thái độ nghiêm chỉnh giả tạo của một số nhà nho :
                                  “Tọa trung đàm tiếu nhân như mộc,
                                  “Dạ lý phan viên nhĩ tự hầu.”
(Tạm dịch : Ngồi nói chuyện vui với mọi người thì như gỗ, đến đêm anh cũng leo trèo như khỉ.)
 
Đến đây, chúng ta thử tìm hiểu cách phổ biến thơ  (nhất là thơ nôm, vì bị coi là “nôm na mách qué”, lại không phải là thứ văn tự được dùng trong thi cử) của cổ nhân Việt Nam. Các thi sĩ của ta ngày xưa không in thơ thành tập như các nhà thơ của thế kỷ 20. Có hứng thì làm thơ, nếu thấy hay, họ đưa cho bạn bè, người chung quanh cùng thưởng thức. Các nhà sưu tầm, nghiên cứu sau này đã mất rất nhiều thời giờ và công phu để gom góp lại. Tất nhiên chuyện “râu ông nọ cắm cằm bà kia” không thể tránh được. Do đó, trong văn học cổ Việt Nam, có nhiều trường hợp có những bài thơ có đến hai hoặc ba tác giả. Một thí dụ có liên quan đến hai nữ sĩ nổi tiếng trong văn học sử Việt Nam, vì cả hai cùng lấy chồng quan. Chuyện kể rằng : Một hôm, ông chồng quan đi vắng, bà vợ đăng đường xử án thay chồng. Một người đàn bà tên Nguyễn thị Đào, đệ đơn xin lấy chồng (có sách nói xin bỏ chồng để lấy chồng khác), bà quan liền phê vào đơn như sau :
                                            “Phó cho con Nguyễn thị Đào,
                                       “Nước trong leo lẻo cắm sào đợi ai ?
                                            “Chữ rằng : Xuân bất tái lai,
                                       “Cho về kiếm chút kẻo mai nữa già.”
Có sách cho rằng mấy câu thơ trên của Hồ Xuân Hương (khi bà làm lẽ ông phủ Vĩnh Tường), có sách ghi tên tác giả là Bà Huyện Thanh Quan. Người ta thắc mắc người vợ lẽ trong xã hội cổ xưa có dám tự tiện đăng đường xử án thay chồng không, khi chính mình còn chịu cảnh “kẻ đắp chăn bông, kẻ lạnh lùng” ?  Nhưng nếu xét về “văn phong”, ta thấy hợp với “khẩu khí” của Hồ Xuân Hương hơn.
Nhà thơ trào phúng Trần Tế Xương của Non Côi, sông Vị đã làm rất nhiều thơ chế diễu thói hư tật xấu (có khi chỉ xấu với riêng ông) cuả người trong tỉnh Nam Định. Hầu như mọi người đều đã đọc và lưu trữ thơ ông, nhưng con cháu ông lại không có lấy một bản.
           Về trường hợp thơ Hồ Xuân Hương, ta phải công nhận khó mà phân biệt bài nào do chính nữ sĩ sáng tác, bài nào không phải. Có người đã đề nghị một cách “nhận diện” như sau.
Khi người đàn ông bị dồn nén về tình dục, người đó sẽ nghĩ nhiều đến người đàn bà và thân thể của phái yếu. Người ta kể rằng một nhà cách mạng Việt Nam chống Pháp, khi bị tù quá lâu, đã mơ tưởng đến “nắm thuốc lào”.Vì thế, những thơ nói về thân thể người đàn bà, như “Vinh cái quạt” (Vành ra ba góc da con thiếu, Khép lại đôi bên thịt vẫn thừa) chưa chắc đã do Hồ Xuân Hương sáng tác.  Ngược lại, khi người đàn bà bị dồn nén, người ấy phải nghĩ đến những cái hấp dẫn của người đàn ông, như bài “Vịnh ông quan:” :
                       ”Đầu đội nón da loe chóp đỏ,
                       “Lưng đeo bị đạn rủ thao đen”
Nhưng chúng tôi nghĩ rằng điều quan trọng nhất là chúng ta có một nữ sĩ tài ba đã sáng tác những bài thơ tuyệt diệu cho đến nay chưa ai sánh kịp. Vậy chúng ta có nên tìm hiểu xem bài nào do chính nữ sĩ họ Hồ sáng tác, bài nào của những ai khác không ?.Hay tất cả đều là thơ Hồ Xuân Hương ..
           Các Cụ ta ngày xưa đã có câu :”Cá vào ao ai, người ấy hưởng”. Đó là một điều rất hợp lý, không ai có thể chối cãi được.
                                                                                               TQK
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 48

Françoise Sagan, tiểu yêu nữ khả ái

 
(Sagan ở Paris 1955,
 
một năm sau khi
 
“Bonjour tristesse”
 
ra đời) 

LTS: Nhân kỷ niệm 13 năm ngày mất của Françoise Sagan (24/9/2004-24/9/2017), Diễn Đàn Thế Kỷ đăng lại đầy đủ bài tiểu luận này của Trần Hữu Thục, như là một tưởng niệm đối với một khuôn mặt văn chương độc đáo của Pháp và cũng của thế giới 

Vào lúc 19 giờ 35 phút ngày 24 tháng 9 tại bệnh viện Honfleur, miền Nam nước Pháp, Françoise Sagan – một hiện tượng văn chương độc đáo của Pháp – đã trút hơi thở cuối cùng, thọ 69 tuổi, vì bị máu nghẹt ở phổi. Denis (đứa con trai duy nhất có với người chồng thứ hai Robert James Westhoff) và  Marie-Therese Le Breton (quản gia, người đã từng nuôi nấng Sagan) ở bên bà vào những giây phút cuối cùng.  “Sagan nói với tôi ‘Tôi không muốn chết’ và rồi bà ấy chết trong tay tôi, đôi mắt mở lớn…”, bà quản gia kể lại.
 
Không mấy ai ngạc nhiên về cái chết của Sagan vì  sức khỏe của bà đã suy yếu nhiều trong những năm vừa qua. Nhưng đối với công chúng Pháp, cái chết đó vẫn tạo nên một cú “sốc”. Từ lâu, bà không chỉ là “vật tổ” của một thời đại, một thế hệ mà là một nhà văn Pháp đương thời nổi tiếng nhất thế giới.. Hơn 30 triệu ấn bản các tác phẩm của bà đã được bán ra. Nhiều luận án về bà và tác phẩm đã được viết tại nhiều đại học trên thế giới, nhất là tại Hoa Kỳ. Hầu hết trong số hơn 40 tác phẩm của bà (hay hoặc dở) đều được dịch ra tiếng Anh và nếu không nằm ở danh sách bestseller thì cũng được tiêu thụ nhanh chóng. Học sinh Nga học tiếng Pháp bằng các tác phẩm của bà. Một số câu lạc bộ ở Nhật lấy tên Sagan, vân vân.
Cứ lướt qua phản ứng của nhiều giới chức Pháp cũng như báo chí là ta có thể hình dung ảnh hưởng của bà đối với công chúng Pháp như thế nào. Tổng thống Pháp Jacques Chirac bày tỏ nỗi thương tiếc và xúc động ngay sau khi nghe tin bà chết qua một bản tuyên bố trong đó, ông cho rằng “Bà chết đi, nước Pháp đã mất đi một trong những tác giả độc đáo nhất và nhạy cảm nhất, một khuôn mặt sáng giá trong sinh hoạt văn chương của chúng ta. Với sự sắc sảo, trí tuệ và tinh tế, Françoise Sagan đã thăm dò những nguyên động lực và những đam mê của tâm hồn con người” (…) Bà đã góp phần vào sự tiến bộ của vị trí người phụ nữ trong xã hội chúng ta”.
 
Thủ tướng Pháp Jean-Pierre Raffarin “Françoise Sagan, đó là một nụ cười, sầu muộn, khó hiểu, xa cách nhưng mà vui”
 
Bộ trưởng văn hóa  Renaud Donnedieu de Vabres: “Chúng ta đã mất đi một nhân vật ngoại hạng, một nghệ sĩ đầy tài năng”
 
Nghệ sĩ Pháp Laurent Terzieff: “Bà mất đi, mang theo màu sắc và sự hài hước của cả một kỷ nguyên”.
 
Nhiếp ảnh gia Jean-Marie Perier: “Bà là một Rolling Stone[1] trước khi thuật ngữ này được sáng tạo”
 
Báo chí Âu Châu thương tiếc bà qua nhiều hàng tít lớn lấy từ tựa đề những tác phẩm nổi tiếng nhất của Sagan, chẳng hạn tờ La Vanguardia ở Tây Ban Nha: “Bonsoir Françoise”; tờ Corriere della Sera ở Ý: “Françoise Sagan, adieu tristesse”.
 
Báo chí Pháp thì khỏi nói. Paris Match: “Sagan, une inoubliable légèreté”. Le  Figaro: “Sagan: charmant petit monstre sacré”. “L’Express”, “Le Figaro” cũng như “Le Monde” cho đi cả một loạt bài vinh danh con người và sự nghiệp của Sagan. Dưới tựa đề “Tristesse”, tờ Liberation nói Sagan, mà những hình ảnh thời tuổi trẻ tràn đầy các trang đầu báo Pháp, không bao giờ làm cái gì nửa chừng. “Ðời bà y như một cơn gió xoáy…Rộng lượng, đầy cảm hứng, nhanh nhảu, nổi loạn, không thể phân loại, không thể bắt chước. Chúng ta yêu mến Sagan, ngay cả nếu chúng ta chưa hề đọc sách của bà hay không còn đọc sách của bà nữa. Sagan là một cái gì còn hơn cả chính Sagan, còn hơn là một hiện tượng viết văn: một nhà văn, một phụ nữ, một kỷ nguyên. Bà vội vã đi hết tốc lực xuyên suốt cuộc đời và tác phẩm của mình, chẳng thèm quan tâm đến mình”.
 
Tờ báo bán chạy nhất Pháp “Ouest-France”, lưu ý rằng mặc dầu rất nổi tiếng bà chẳng đoạt được một giải thưởng văn chương quan trọng nào của Pháp, nhưng “Mỗi một tác phẩm xuất bản của bà đều lôi kéo sự chú ý của báo chí và dư luận, ngay cả đôi khi tác phẩm đó được xem như nông cạn, hời hợt. Bà hầu như đã thành công gây cảm hứng tạo ra tính từ “saganesque”. Saganesque là gì? Là “nhớ nhà và buồn cười, hết sức tầm phào và rất rõ ràng.[2]
 
Tờ “Le Parisien” với tựa đề “Adieu Sagan, Bonjour Tristesse”: “Cuộc đời của bà thực sự là một trường thiên tiểu thuyết, được đánh dấu bởi những vinh quang và giàu có, rồi bởi những khó khăn và suy sụp. Một huyền thoại đã ra đi. Bà là (Brigitte) Bardot[3] của văn chương.” 
 
*** 
 
    Françoise Sagan! Bonjour Tristesse! Buồn ơi, chào mi!
 
Cái tên, cái tựa đề không chỉ là tên và tựa đề mà – với tôi – là biểu trưng cho cả một thời kỳ.
 
Ðầu thập niên 1960, thế hệ chúng tôi – đặc biệt những người sống ở các thành phố lớn như Huế, Sài Gòn, Ðà Nẵng, Ðà Lạt… – vừa bước ra khỏi thế giới tuổi thơ trong một khoảng thời gian hiếm hoi đất nước sống trong thanh bình. Người đệ nhị, kẻ đệ nhất[4], người thì vừa bước chân lên ngưỡng cửa đại học, chúng tôi được chứng kiến và sống trọn với nhiều chuyển biến đã để lại ảnh hưởng sâu đậm đến nền văn học nghệ thuật miền Nam và rồi là Hải Ngoại nhiều thập niên sau này. Về văn, từ nhữngHồm bướm mơ tiên, Ðoạn tuyệt, Nửa chừng xuân…chúng tôi bước vào Bếp Lửa, Cũng đành, Chuyến tàu trên sông Hồng, Mái tóc bạch kim… Trong các lớp ban C cấp 3, thầy cô đã từng bước cho học sinh thuyết trình những tác phẩm mới thay vì chỉ những tác phẩm của “Tự Lực Văn Ðoàn”. Tôi biết có giáo sư đã cho một học sinh đệ tam (lớp 9) thuyết trình “Cũng đành” của Dương Nghiễm Mậu. Về báo, từPhổ Thông, Thời Nay, Văn Hóa Ngày Nay, chúng tôi bước vào Sáng Tạo, Hiện Ðại, Thế Kỷ Hai Mươi. Về tác giả, từ Nhất Linh, Khái Hưng, Xuân Diệu, Huy Cận, Lưu Trọng Lư…, chúng tôi hào hứng đến với Thanh Tâm Tuyền, Nguyên Sa, Tô Thùy Yên, Dương Nghiễm Mậu, Mai Thảo. Về hội họa, chúng tôi tiếp cận với hội họa phương Tây qua một lớp họa sĩ trẻ tài năng và nhiệt tình qua “Hội hoạ sĩ trẻ” với những Ðinh Cường, Trịnh Cung, Nguyễn Trung, Tôn Thất Văn, Hồ Thành Ðức…Rồi nào là Phạm Công Thiện, Bùi Giáng, Trịnh Công Sơn và rất nhiều khuôn mặt mới toanh khác, thuộc đủ mọi ngành nghệ thuật. 

 
 

Về văn học nước ngoài, tuy người Pháp đã ra đi, nhưng ảnh hưởng của văn hóa Pháp vẫn còn mạnh mẽ. Chúng tôi vẫn thích nói về Paris, về viện bảo tàng Louvre, về sông Seine, về khu Saint Germain des prés, về công viên Luxembourg – những nơi nào đó ở Paris mà chúng tôi chẳng hề đặt chân tới. Trước khi văn hóa Mỹ cùng với chiến tranh chế ngự không khí văn hóa và xã hội Việt Nam, chúng tôi đọc sách báo Pháp, nghe nhạc Pháp, xem phim Pháp, chuộng phong thái parisien. Chúng tôi vẫn thường lui tới các phòng thông tin văn hóa Pháp để đọc sách, mượn sách và theo học các lớp Pháp ngữ. Từ Alphonse Daudet, Victor Hugo, Lamartine, chúng tôi “đụng” Sartre, Camus, Jacques Prévert…Mốt hồi đó, là sau yên chiếc xe đạp hay trên tay, lúc nào cũng có một cuốn “Livre de poche” gọn, nhỏ (mà chữ nghĩa và tên tuổi rất “nặng ký”), nếu không La Condition humaine, Huis-clos, Le Mur…thì cũng La Nausée, Les Mains sales, Le Malentendu. Ấy, đọc Sartre, Camus, Malraux, xem phim Brigitte Bardot, và say sưa thưởng thức các giọng ca hàng đầu Pháp Sylvie Vartan, Johnny Hallyday, Francoise Hardy với những bài hát Pháp vừa mới sáng tác là “mốt” thời thượng của chúng tôi.

 
Ðó cũng là thời xuất hiện các quán cà phê văn nghệ, nơi chúng tôi đàn đúm ngày đêm để đấu láo, tán dốc. Dáng dấp anh nào anh nấy đã có cái gì lất khất, lừng khừng, bụi bụi. Khuôn mặt lúc nào cũng ra vẻ bất cần đời. Có tay, đầu đội mũ bê rê lệch, miệng ngậm tẩu, khoác áo pardessus, trông có vẻ Tây, thầm hãnh diện với mấy ngón tay cháy vàng khói thuốc. Những “cuộc” cà phê thâu đêm suốt sáng. Những “trận” rượu ngất ngưởng. Chữ nghĩa nghe mới toanh: hư vô, hiện sinh, mệt nhoài, nổi loạn, thái độ, dấn thân, phi lý…
 
(Sagan ở Paris 1955,
 
một năm sau khi
 
“Bonjour tristesse”
 
ra đời) Hình: Internet
 
Françoise Sagan – và Bonjour tristesse – xuất hiện trong không khí đó. Thời đó, sau khi người Pháp ra đi, trừ những gia đình giàu có cho con theo học các trường Tây, còn hầu hết chúng tôi đều học chương trình Việt. Pháp văn (cũng như Anh Văn) trở thành ngoại ngữ, trung bình chỉ có 4 giờ/tuần. Bởi thế, những tác phẩm “nặng ký” của Sartre, hay Camus, hay Malraux không phải là dễ đọc đối với chúng tôi. May nhờ sách dịch và các tạp chí văn chương giới thiệu, nên ít nhiều cũng nắm được nội dung để có thể lần mò đọc và hiểu. Khác với những tác phẩm kể trên, Bonjour Tristesse ngắn, ấn bản “Livre de poche” chỉ khoảng 170 -180 trang, chữ khổ trung bình. Văn viết gọn ghẽ, dễ hiểu. Tư tưởng tuy mới, nhưng không có gì cao siêu, khó hiểu, chỉ cần trình độ Pháp văn trung bình là có thể đọc hết nguyên con trong một thời gian tương đối ngắn. Với BonjourTristesse, một cánh cửa vốn đóng im ỉm bỗng nhiên mở toang trước mặt chúng tôi. Thế giới đột nhiên mênh mông hẳn ra. Cuộc sống bỗng nhiên trở thành lạ mặt. Thành phố, người thân, người yêu, bạn bè, trường học, gia đình… bỗng xuất hiện trong một dáng dấp hoàn toàn mới.
 
Nhà phê bình Ðặng Tiến – trước chúng tôi chừng nửa thế hệ – ghi nhận: năm 1954, “miền Nam Việt Nam trở thành một thực thể chính trị độc lập, thật sự mở cửa đón nhận ảnh hưởng văn hóa Phương Tây. Sách báo phương Tây du nhập ồ ạt : sách tiếng Anh (của Usis), tiếng Ðức (của viện Goethe) và nhất là sách tiếng Pháp nhập khẩu với giá rẻ nhờ có tài trợ (sách AC, Action Culturelle) cước phí rẻ, giá ân huệ, tràn ngập các hiệu sách Xuân Thu, Lê Phan và các nhà sách trên đường Lê Lợi. Tại Sài gòn, 1954 người đọc tiếp nhận Bonjour Tristesse cùng một lúc với Paris, mà giá rẻ hơn (tương đối với ngoại tệ). Và cùng một lúc với sách báo, quần chúng Việt Nam tiếp xúc với âm nhạc, điện ảnh Tây Phương. Bản thân tôi đã xem vở kịch Chateau en Suede (Lâu đài Thụy Ðiển), 1960, của Sagan tại Sài Gòn, một lần với Paris, do Pháp Văn Ðồng Minh Hội (Alliance Francaise) tổ chức[5].
 
Nguyễn Văn Lục, trong một bài viết công phu trên tạp chí Hợp Lưu[6], liệt kê rất đầy đủ sách dịch trong vòng 20 năm ở miền Nam, 1955-1975, cho biết người đầu tiên giới thiệu Sagan là giáo sư Nguyễn Nam Châu, sau đó là Cô Liêu (Vũ Ðình Lưu) với bài “Sứ mệnh văn chương của Françoise Sagan” (Bách Khoa/1958) và Hoàng Thái Linh (Nguyễn Văn Trung) với bài “Trường hợp Sagan hay vấn đề luân lý trong tiểu thuyết”. Về dịch thuật, Nguyễn Văn Lục ghi nhận có 4 tác phẩm của Sagan được dịch ra tiếng Việt, đó là: Bonjour Tristesse (một do Nguyễn Vỹ và một do Lê Huy Oanh), Un Certain sourire (do Nguyễn Minh Hoàng), Dans un mois, dans un an (do Bửu Ý) và Les Merveilles nuages (do Ðinh Bá Kha). Bonjour Tristesse được Nguyễn Vỹ dịch là “Buồn ơi, chào mi”, còn Lê Huy Oanh dịch là “Buồn ơi, xin chào”, nhưng không hiểu sao cụm từ “Buồn ơi chào mi” lại được nhắc nhở nhiều hơn, có lẽ vì nghe nó thuận tai chăng?
 
Trước khi đi xa hơn với cuộc đời và sự nghiệp của Sagan, ta hãy nói về Bonjour Tristesse. Xin tóm tắt câu chuyện:
 
Cô gái tên là Cécile, 17 tuổi cùng cha, Raymond, trong độ 40 tuổi, góa vợ và bà Elsa, tình nhân của cha, đi nghỉ hè ở bờ biển Côte d’azur. Sau, cha cô mời thêm một người bạn cũ của mẹ cô là Anne cùng đến đó. Trên bãi biển, cô quen một sinh viên, cũng đi nghỉ hè, tên là Cyril, và cùng nhau đi chơi, đi bơi, đi khiêu vũ. Hai người hôn nhau, làm tình với nhau. Anne là một người đàn bà cỡ tuổi 40, chăm sóc cô như một người mẹ và khá nghiêm khắc. Bà ta tỏ ra không ưa Cyril và muốn Cécile bỏ anh ta và học để thi lại cái bằng tú tài mà cô hỏng năm rồi. Ðiều này khiến Cécile vô cùng bực bội và đâm ra ghét Anne. Ðã thế, sau một thời gian ngắn, cha cô yêu Anne, bỏ rơi Elsa và dự tính kết hôn cùng bà ta, khiến cô lại càng tức giận hơn. Thế là cô cùng anh chàng tình nhân vừa quen sắp đăt một kế hoạch để ly gián hai người. Ðược sự đồng ý của Elsa (bà này cũng đang buồn vì bị tình phụ), hai người dàn một cảnh yêu đương và để cho cha cô trông thấy. Ông giận dữ, tức tối vì thấy tình nhân của mình lại bị một tay trai trẻ bằng tuổi con mình chiếm đoạt, nên hối hận, quay về với Elsa. Anne bắt gặp hai người âu yếm, buồn tình bỏ đi, và bị tai nạn, chết. Mọi người hối hận, nhưng mọi sự đã rồi. Cha cô và cô trở về lại Paris, sống lại đời sống bình thường cũ. Nhưng cô gái trẻ bây giờ không còn vô tư như trước mà phát sinh ra một  trạng thái tình cảm mới: nỗi buồn.
 
Tình tiết câu chuyện nghe đã lạ. Văn vẻ càng lạ hơn. Xin ghi lại vài đoạn trích từ Bonjoưr Tristesse[7]. Tác phẩm mở đầu như sau:
 
“Trong thứ tình cảm vô danh, mà nỗi phiền muộn, sự dịu dàng ám ảnh tôi, tôi phân vân đặt tên, cái tên đẹp đẽ trĩu nặng nỗi buồn. Ðó là một tình cảm toàn vẹn đến nỗi, ích kỷ đến nỗi tôi gần như cảm thấy hổ thẹn vì nỗi buồn luôn luôn xuất hiện trong tôi với vẻ tôn quý (…) Hôm nay, có một đôi điều trở lại trong tôi y như thể một sợi tơ, uể oải và dịu dàng, ngăn cách tôi với những người khác. Mùa hè năm đó, tôi 17 tuổi và tôi hoàn toàn hạnh phúc. Những “người khác” (ở đây) chính là cha tôi và Elsa, tình nhân của người.” [8]    
 
Nụ hôn đầu đời:
 
“Chàng ôm chặt lấy tôi, nâng tôi lên, đầu dựa vào vai chàng. Lúc đó, tôi yêu chàng. Trong thứ ánh sáng của buổi sáng, chàng cũng rực rỡ, cũng dễ thương, cũng dịu dàng như tôi, chàng bảo bọc tôi. Khi môi chàng tìm môi tôi, tôi bắt đầu run rẩy vì khoái cảm y như chàng và chúng tôi hôn nhau mà không một chút hối hận, không một chút hổ thẹn mà chỉ là một kiếm tìm rướn sâu, ngắt quãng bởi những tiếng thì thầm.” [9] 
 
Chữ nghĩa không có gì cầu kỳ, câu kéo gọn gàng và rất “văn phạm”, dễ tiếp cận. Hơi văn thì nhẹ nhàng, nhưng nghe có gì mệt mỏi, chán chường, bất cần đời một cách đầy kiêu hãnh. 
 
Ðoạn gay cấn nhất trong tác phẩm: cô gái Cécile 16 tuổi tự ý tìm đến người con trai 26 tuổi vừa quen. Cảnh làm tình được diễn tả ngắn gọn, cô đọng như sau:
 
“Chàng nắm lấy cánh tay tôi, vừa giữ tôi lại vừa cười. Tôi quay về phía chàng và nhìn chàng; mặt chàng tái đi như tôi và buông tay tôi ra. Nhưng rồi chàng lại vội vàng ôm lấy tôi và kéo tôi lại. Tôi mơ hồ cảm nhận: cái đó sắp tới rồi, cái đó sắp tới rồi. Sau đó là liên khúc tình yêu: nỗi sợ hãi tiếp sức cho cơn ham muốn, sự dịu dàng và cuồng nhiệt và rồi nỗi đau buốt nối tiếp với cơn hả hê khoái cảm. Ngày ấy, tôi sung sướng – còn Cyril hết sức dịu dàng – khám phá cơn khoái cảm đó.” [10]
 
Hút thuốc lá, một phong thái rất Sagan. Ðây là đoạn tả Cécile trở về nhà sau giây phút “ghê gớm” đó:
 
“Tôi lấy điếu thuốc trên bàn, quẹt một que diêm trên hộp quẹt. Diêm tắt. Tôi cẩn thận đốt một que khác, không có gió thế mà bàn tay tôi run rẩy. Diêm tắt ngay khi chạm điếu thuốc. Tôi lầm bầm bực bội và lấy thêm một que nữa. Lúc này không hiểu tại sao, que diêm này lại mang sự quan trọng sống còn đối với tôi đến như vậy.” [11]
 
Nhưng rồi cuối cùng, cô gái từ giã người tình đầu, dửng dưng, tỉnh bơ y như một chuyện thường ngày, không có gì quan trọng cả:
 
“Cyril bước về phía tôi và đặt tay trên vai tôi. Tôi nhìn chàng: tôi không hề yêu chàng. Tôi thấy chàng tốt và hấp dẫn; tôi mê cái khoái cảm mà chàng đã cho tôi; nhưng tôi không hề cần chàng.  Tôi sắp ra đi, rời ngôi nhà này, rời người con trai này và rời mùa hè này.” [12]
 
Ðơn giản và thẳng thắn và sòng phẳng đến thế thì thôi! 
 
*** 
 
Cùng với Sáng Tạo, cùng với những Camus, Sartre, Françoise Sagan đã đem một luồng gió mới vào sinh hoạt văn học nghệ thuật miền Nam Việt Nam kể từ thập niên 1960. Ðặc biệt, Sagan – trực tiếp hay gián tiếp – đã đưa đến sự có mặt của năm nhà văn nữ thuộc loại độc đáo nhất thời đó là Nhã Ca, Trùng Dương, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Nguyễn Thị Hoàng (tức Hoàng Ðông Phương) và Túy Hồng với một văn phong mới mẻ, nội dung táo bạo, chưa hề có trước đó. “Vòng tay học trò” chẳng hạn, mô tả mối tình giữa một cô giáo và đứa học trò, gây nên dư luận xôn xao một thời. Rồi là Lệ Hằng và đặc biệt  Trần Thị Ngh, một hiện tượng văn chương độc đáo đầu thập niên 1970 [13]. Theo Nguyễn Văn Lục, thì các nhà văn nữ vào thập niên  60 như Nguyễn Thị Hoàng, Túy Hồng, Lệ Hằng, Nguyễn Thị Thụy Vũ  “phảng phất không khí Sagan”. Ông đánh giá: “Cái cảm giác khi đọc các nhà văn này (trừ Nguyễn Thị Hoàng) là họ còn đi xa hơn các nhà văn nam giới và đi xa hơn cả Sagan trong những mô tả tính dục. Chẳng hạn Sagan tả những liên hệ tính dục một cách phơn phớt, không đào sâu, không đậm đặc, “không mặn”, không sống sượng như Túy Hồng hay Nguyễn Thị Thụy Vũ” (…) Lối văn của Sagan cụt, hụt hẫng, hững hờ, không màu mè, diêm dúa. Mục đích của Sagan không phải là mô tả những scènes tình dục cho bằng muốn nhắn gửi: cuộc đời chẳng có gì quan trọng, ngay như chuyện làm tình…Luân lý cũng vậy vậy, đạo đức vậy vậy. Cuộc đời trong một ngày, một tháng, một năm, có gì là lạ. Thản nhiên, vô cảm[14].  
 
         
 
Sagan, tên thật là Françoise Quoirez, tục danh là Kiki, sinh vào ngày 21 tháng 6 năm 1935 ở Cajarc, một ngôi làng ở miền tây nam Pháp. Bà là người con thứ ba của Paul Quoirez, một thương gia giàu có. Khi bà lên 15, gia đình dời về sống ở Paris. Bà mê đọc sách từ hồi còn nhỏ; 12 tuổi, viết truyện và làm thơ; 13 tuổi, đọc Nourritures terrestres của André Gide; 14 tuổi, đọc L’Homme révolté của Albert Camus; 16 tuổi, đọc Marcel Proust, Rimbaud. Về học hành, bà theo học trường dòng (couvent des Oiseaux) trước khi vào học Sorbonne. Hai năm ở Sorbonne, bà chẳng học hành gì nhiều, phần lớn thời gian bà dành cho đi chơi và uống cà phê và đọc truyện. Biết uống rượu vào năm 15 tuổi. Trong kỳ thi cuối năm, bà hỏng tú tài khiến gia đình rất phiền muộn. Ðể xoa dịu nỗi buồn bực, bà cảm thấy phải “làm một cái gì”, bèn ngồi xuống và bắt đầu viết.. Viết xong trong vòng 32 ngày (có báo nói là 7 tuần), bà gửi ngay cho nhiều nhà xuất bản, trong đó có René Julliard. Julliard nhận ngay để xuất bản với một điều kiện duy nhất: phải có phép của cha mẹ, vì “cô bé” Francoise chưa tới 21 tuổi. Bà vội vã về hỏi ý kiến cha. Ông đồng ý ngay nhưng không cho bà dùng tên gia đình (họ) mà phải dùng bút hiệu. Dễ thôi! Bà lấy tác phẩm yêu thích nhất của mình À la recherche du temps perdu của Marcel Proust, giở ra một trang, thấy đoạn tả quận công Sagan đi ngang trên chiếc xe ngựa, thế là chọn ngay tên Sagan. Và bắt đầu từ đó, Françoise Quoirez trở thành Françoise Sagan.
 
Mùa hè năm 1954 là một mùa hè buồn thảm đối với toàn thể nước Pháp. Quân đội Pháp sa lầy và cuối cùng thất bại nhục nhã tại Ðiện Biên Phủ. Cuộc chiến tranh Ðông Dương kết thúc. Tuổi trẻ Pháp chán nản, tuyệt vọng và mất phương hướng. Cũng năm đó, về mặt xã hội, người ta ghi nhận hai biến cố quan trọng, diễn ra ở hai cực hoàn toàn đối nghịch theo kiểu người ta thường nói: “thiên thần” – “ác quỷ”. Về phía “thiên thần”, sự xuất hiện của linh mục Pierre mà những hoạt động của ông đã tượng trưng cho tinh thần bác ái ở mức độ cao nhất[15]. Và về phía “ác quỷ”, thì là sự xuất hiện của Sagan, một thiếu nữ nổi loạn, xé rào, vô luân. Tất nhiên, đó chỉ là một cách nói. Nhưng nhìn ở một phía khác, theo Etienne de Montety[16], thì nước Pháp mất Ðông Dương nhưng lại được bù trừ lại bằng sự xuất hiện của Sagan, một nhà văn ngoại hạng. Bonjour Tristesse – được ví von như một trái bom nổ chậm đặt tại ngưỡng cửa của Cộng hòa văn chương Pháp – ra đời hai năm trước phim Et Dieu créa la femme của đạo diễn Roger Vadim với một khuôn mặt tài tử hoàn toàn mới của nước Pháp và của thế giới: cô đào sexy Brigitte Bardot. Ðược xem như hình tượng của giới trí thức thập niên 1950, trong không khí của một nước Pháp phục hồi sau chiến tranh – cùng với Bardot – Sagan đã thổi một luồng không khí mới mẻ, tươi tắn, đưa trào lưu nghệ thuật Pháp và toàn thế giới vào một bước chuyển biến đầy bất ngờ thích thú, tạo nên những chấn động tâm lý, văn chương và xã hội kéo dài nhiều thập niên về sau.
 
Triết lý của câu chuyện là: chẳng có gì là quan trọng. Một cô bé 17 tuổi ngủ với trai mà không hề yêu, lại không mang thai cũng chẳng hề hối hận và không bị trừng phạt. Nói một cách khác, người ta có thể tự do, không phải trả giá cho hành động của mình, dù đó là một hành động vô luân. Françoise Mauriac, một trong những nhà văn được kính trọng nhất thời bấy giờ, trong một bài báo viết trên trang đầu của tờ “Le Figaro” ngay sau khi tác phẩm được phát hành, – không nhắc đến tên tác phẩm mà cũng không nêu tên tác giả – gọi tác giả là một “tiểu yêu khả ái” (charmant petit monstre), cụm từ  về sau trở thành một biệt hiệu dành riêng cho Sagan mà tôi đã mượn tạm để đặt tựa đề cho bài viết này.
 
Năm sau, một bản dịch tiếng Anh được phát hành và lập tức nằm đầu trên danh sách bestseller của tờ New York Times. Từ 3000 ấn bản (có báo nói là 5000) lần phát hành đầu tiên, vào đầu năm 1958, sách bán đạt con số kỷ lục là 810 ngàn ấn bản ở Pháp và hơn một triệu ấn bản ở Hoa Kỳ và được dịch ra 20 thứ tiếng. Lập tức, tác phẩm tạo nên một sự thành công lạ thường. Nó chiếm được giải “Prix des Critiques”, mang lại cho Sagan 500 ngàn bảng Anh và đồng thời bị Giáo hoàng lên án mạnh mẽ, khiến cho một linh mục Công giáo đã phải từ chối làm phép hôn phối trong lễ cưới lần đầu tiên của bà. Sau này, Sagan gọi đó là một “thành công đầy tai tiếng” (succès de scandale) khi lần đầu tiên tác phẩm được phát hành ở Pháp. Bà nói bà cũng không hiểu tại sao mà người ta lại có vẻ ồn ào, sôi động như thế về tác phẩm của bà, lúc đó. Ba thập niên sau, nhớ lại, bà hiểu ra rằng sự giận dữ xuất phát từ mối quan hệ giữa nhân vật nữ, Cécile, và anh bồ của cô ta. Người ta không thể chấp nhận được chuyện một cô gái 17 hoặc 18 tuổi lại làm tình với một đứa con trai trạc tuổi mình mà chẳng hề bị trừng phạt gì cả. Ðã thế, cô gái biết về chuyện tình ái lăng nhăng của cha mình, lại còn thảo luận chuyện đó với cha, đề cập đến những đề tài lúc đó vẫn còn là điều cấm kỵ giữa cha mẹ và con cái. “Ðối với đại đa số độc giả (nguyên văn: ba phần tư), tai tiếng của tác phẩm là do chỗ một nhân vật thiếu nữ trẻ lại ngủ với trai mà không có thai, lại chẳng cần cưới nhau. Riêng đối với tôi, tai tiếng của câu chuyện là một nhân vật lại có thể – do vô thức, do ích kỷ – đưa đến cái chết của một người khác”, Sagan nói.
 
Thành công bước đầu tạo động lực cho Sagan hăng hái cầm bút tiếp. Trung bình cứ hai năm bà cho ra đời một tác phẩm. Những tựa sách của Sagan chất đầy trong thư viện, trên các kệ sách gia đình và nằm trong trí nhớ mọi người. Từ năm 1954 đến 1965, có thêm ba sáng tác mới đuợc nằm trên danh sách bestsellerUn certain sourire, Aimez-vous Brahms và La Chamade. Cả ba cuốn đều được đóng thành phim và đều là những phim thành công rực rỡ. Thành công ở truyện, bà nhảy sang viết kịch và kịch bản phim và tỏ ra có tài viết những đoạn đối thoại thông minh, dí dỏm. Tuy nhiên, trừ hai vở kịch đầu tiên, Chateau en Suède (1960)  và Les Violons parfois (1962) gây được tiếng vang trong công chúng thưởng ngoạn, nhiều vở kịch khác ra đời những năm sau đó như La Robe mauve de Valentine(1963), Bonheur, Impair et passe (1964), Le Cheval évanoui (1966) không mấy thành công. Có lẽ do vậy, với  La Garde du coeur, tiểu thuyết xuất bản năm 1968, hầu như bà trở lại viết truyện dài, chỉ thỉnh thoảng mới viết một vở kịch.
 
Nói chung, dù là kịch hay tiểu thuyết, đề tài của bà thường na ná nhau, đại loại mô tả cuộc sống của giai cấp trưởng giả nhàn rỗi, chán nản, hoài nghi, cô đơn với những nhân vật đàn ông và đàn bà luôn luôn đánh vật với số phận của mình và những thanh thiếu niên buồn bã, hờn dỗi, phung phá, nổi loạn, thách thức đạo lý xã hội đương thời. Truyện thường xoay quanh những chuyện tình trái khoáy, qua đó, nói lên sự xung đột giữa hai thế hệ. Chẳng hạn như trong La Garde du coeur (kịch, 1968) – lấy khung cảnh ở Hollywood – kể lại câu chuyện của một thiếu phụ trung niên, đảm nhiệm chăm sóc cho một thiếu niên đẹp trai rồi đâm ra có cảm tình với cậu ta, tạo nên thứ tình cảm phân vân giữa một bên là người tình đồng trang lứa và cậu con trai hoang đàng chỉ bằng tuổi con mình; hay trong Un Orage immobile (truyện, 1983) – lấy khung cảnh của một ngôi làng nhỏ – kể lại tình yêu say đắm của một phụ nữ góa chồng xinh đẹp say mê một anh chàng công chứng viên trẻ tuổi. Các nhân vật của bà thường là những người tuyệt vọng trong quan hệ cá nhân, tìm cách lấp khoảng trống thời gian bằng cách đi tìm những thú vui nhục cảm, đưa đến các hành vi vô luân. Nói chung, nội dung truyện cho thấy tính cách vô mục đích trong cuộc sống hàng ngày. Chúng đưa ra hình ảnh của một nước Pháp hiện đại, trong đó, trách nhiệm cá nhân  chẳng có nghĩa lý gì so với lối sống theo mốt thời thượng, một nguyên tắc mà bà xác định theo đuổi cho đến cùng.. Chúng làm rúng động tầng lớp bảo thủ và thường khiến các nhà phê bình văn chương nhăn mặt, nhưng lại được rất nhiều người – đặc  biệt là tầng lớp thanh thiếu niên – thích thú,  ngưỡng mộ, góp phần tạo nên ảnh hưởng đáng kể đến nhiều nhà văn nữ đàn em sau này. 
 
Theo Josyane Savigneau[17], khác với nhiều nhà văn có tính “hiếu đại” (mégalomanie), thường mơ ước sáng tác được một tác phẩm lớn – với niềm tin rằng đó là một cái gì độc đáo có thể tồn tại mãi mãi, để lại cho hậu thế – có vẻ như trong thâm tâm, Sagan không thích thế hoặc không hy vọng mình sẽ làm được như thế. Trong một cuộc phỏng vấn dành cho tờ “Le Monde” vào năm 1984, bà nói rõ: “Tôi mơ làm nhà văn khi tôi bắt đầu đọc sách. Chắc chắn điều đó không có gì khác thường. Sau khi hỏng tú tài, tôi chán nản. Lúc đó tôi học năm đầu ở trường Sorbonne. Tôi bắt đầu viết Bonjour Tristesse trong quán rượu. Viết xong, tôi gởi đến những nhà xuất bản. Julliard nhận. Rồi là bài báo của Mauriac, rồi là “Giải Phê Bình” (le Prix des critiques) và tất cả bắt đầu một thành công vĩ đại, có cái gì không cân xứng. Riêng tôi, tôi biết tôi thích những câu chuyện tầm thường của tôi. Tôi chẳng hổ thẹn gì, vì văn chương không đến nỗi dở, mà tôi thì làm việc đàng hoàng. Tôi lại biết đọc sách. Tôi đã đọc Proust, đã đọc Stendhal… Những con người như thế quả làm mình không dám chường mặt ra”, bà nói.
 
Trả lời cho một cuộc phỏng vấn khác vào  năm 2003 với Alain Louyot[18] về viết lách, bà nói: “Tôi có cảm tưởng là mình vô cùng may mắn trong cuộc đời. Tôi có cái may mắn thích viết và có thể viết được. Tôi lại có điều kiện thuận tiện để viết vì tôi vốn rất lười biếng. Tôi nhớ đã có lần tôi viết một câu chuyện tình trong chiếc Limousin trong khi đang đi du lịch ở xứ Népal (…) Khi tôi có đề tài ở trong đầu, tôi có thể viết liền một mạch 12 tiếng đồng hồ. Và khi viết xong, tôi cảm thấy buồn, cảm thấy như mình trở nên mồ côi. Tôi chỉ có thể viết khi tôi hoàn toàn hạnh phúc”. Ðược hỏi về chuyện thành công trong cuộc đời, bà cho biết “Tôi không cho rằng tôi đã thành công ở trong cuộc đời. Nhưng tôi đã thành công ở chỗ tôi làm cái mà tôi thích: vừa sống vừa viết”. Cũng theo bà, “Viết là cách duy nhất xác định tôi chính là tôi. Tôi luôn luôn có cảm tưởng là sẽ đi đến một cái gì bế tắc. Vừa được vừa thua. Vừa tuyệt vọng vừa phấn khích”[19].
 
Phát biểu về trào lưu “Tân tiểu thuyết” do các nhà văn Marguerite Duras, Alain Robbe-Grillet, Michel Butor, Claude Simon, Phillipe Sollers, and Nathalie Sarraute chủ trương vào đầu thập niên 1960, bà nói: “Tôi không tin ở kỹ thuật, không tin ở chuyện người ta có thể làm mới tiểu thuyết. Chính ở nơi con người mà người ta đào xới (để sáng tác). Y như chuyện người tiều phu. Thân cây (ông ta muốn đốn) đủ lớn để ông ta khỏi phải mất thì giờ để kiểm tra xem  cái rìu ra sao”, bà phát biểu. [20] 
 
Bàn về giá trị văn chương các tác phẩm của Sagan, hầu như mọi người đều đồng ý rằng, trong số hơn 40 tác phẩm của mình, Bonjour Tristesse là tác phẩm thành công nhất và có giá trị nhất. Không kể văn hào Mauriac, thì người đầu tiên ca ngợi Sagan là ông già hàn lâm viện Emile Henriot, người phụ trách mục sổ tay văn học hàng ngày cho tờ Le Monde. Theo Laurent Greilsamer[21] cuốn sách mỏng chưa tới 200 trang khổ nhỏ mà như muốn làm bỏng tay ông. Ông thả xuống rồi cầm lên, đọc đi rồi đọc lại. Ông gọi đó là “một kiệt tác nhỏ bé vô liêm sỉ và tàn bạo”[22]. Tính cách vô luân của nó khiến ông say sưa, đưa đến một so sánh đáng đồng tiền bát gạo : “Ðó là tác phẩm của một cô bé mới có 18 tuổi, có lẽ là còn rất ngây thơ trong trắng, nhưng đầy tưởng tượng sáng tạo và trong chừng mức cho phép, ta có thể so sánh toàn bộ cái tác phẩm đầu tay lạ thường này với một Choderlos de Laclos[23] hung bạo trong “Liaisons dangereuses”, với cái ngây thơ cay độc trong “Hauts de Hurlevent” (Ðỉnh gió hú) của Emily Bronte và với ngọn lửa băng giá trong “Diable au corps” của Radiguet”. Và ông kết luận “Tất cả trở nên nhạt nhẽo sau một tác phẩm như thế”.[24]
 
Nhà văn nổi tiếng Hoa Kỳ John Updike, viết trong tờ The New Yorker 20 năm sau khi Bonjour Tristessexuất hiện, ca ngợi tác phẩm là “sôi động như biển cả” (sparkling sea), “hẻo lánh như rừng hoang” (secluding woods), “nhanh nhảu theo bản năng tự nhiên” (animal quickness), cốt truyện thì rất hiệu quả (academically efficient), các nhân vật nam, nữ được xây dựng một cách hoàn hảo. Theo ông thì tác phẩm được viết bởi niềm tin hồn nhiên của tác giả trẻ vào tính chất khêu gợi (của các sự kiện).
 
Khen như thế chắc cũng hết mức rồi!
 
Mà chê thì cũng lắm. Thành công của Bonjour Tristesse, theo một số nhà phê bình, nếu gạt ra ngoài những ảnh hưởng tâm lý và xã hội do thời điểm xuất hiện của tác phẩm, thì cũng chỉ là thành công của một tiểu phẩm – petite musique – vì nó đã mỏng lại không chứa đựng ý tưởng gì lớn lao (pas grand-chose). Khái niệm “tiểu phẩm” về sau được sử dụng bởi những người chỉ trích để mỉa maiBonjour Tristesse. Mặt khác, họ cho rằng Sagan viết quá nhiều, do đó, các tác phẩm về sau càng ngày càng nhạt nhẽo, mất tính nghiêm túc. Họ nhiều lần lên tiếng phê phán lối viết dễ dãi cũng như thứ tư tưởng chuộng khoái lạc quá đáng đến chỗ gần như ngông cuồng của bà. Ðiều đó khiến cho các nhà xuất bản lên tiếng khuyến cáo, hy vọng Sagan viết lách đàng hoàng hơn và cố gắng hơn. Nhưng bà làm ngơ. Cuối cùng, các nhà xuất bản đành quyết định ngưng những số tiền ứng trước mà họ vẫn dành cho bà để viết tác phẩm mới. Cũng dễ hiểu tại sao, tất cả những những tác phẩm sau này, kể cả kịch, đều không hưởng được những thành công như Bonjour Tristesse.
 
Theo Roger Shattuck – sử gia và giáo sư Pháp văn tại đại học Boston University – tiếng tăm của Sagan “đã suy giảm đáng kể sau chừng 5, 6 cuốn đầu tiên” vì bà viết quá nhiều và lập đi lập lại mãi những gì mình đã viết và cũng vì cách thưởng thức văn chương thay đổi theo thời gian. Một nhà phê bình văn chương khác, Serge Gavronsky, giáo sư văn chương Pháp tại đại học Bernard, trong một cuộc phỏng vấn vào năm 1995, cho rằng những truyện dài đầu tay của Sagan diễn tả sự nổi loạn và tính ích kỷ của nhiều trong số những bạn đồng lứa của bà trong các gia đình trưởng giả Pháp, hoàn toàn phù hợp với khoảng thời gian đó – khoảng giữa thập niên 1950 – và “gắn chặt” với quá khứ văn chương Pháp. Nói khác đi, chúng chỉ là những tác phẩm tồn tại một thời[25].
 
Nhưng có lẽ lời kết án Sagan nặng nề nhất nằm trong tác phẩm biên soạn văn chương căn bản dùng cho học sinh Pháp, “Les Auteurs de la Litérature francaise”, theo đó, thế giới trong truyện của Sagan là “một thế giới tục lụy, giàu có, nhàn rỗi và xa hoa; một số nhân vật sống mà không quan tâm đến vật chất, đó là những kẻ say sưa, yêu nhau bừa bãi mà không bị lên án. Do chuộng những gì dở dang, chuộng lối phân tích gay gắt, cay độc và có tính ái kỷ (narcissism), Sagan mãi mãi được xem như là đã làm hư hỏng cả một thế hệ”[26].
 
Tuy viết nhiều và rất nổi tiếng, chỉ trừ giải “Prix de Critiques” được tặng cho Bonjour Tristesse năm 1954 và giải “Prix de Monaco” cho toàn thể tác phẩm của bà năm 1984, Sagan không đoạt được giải văn chương nào đáng kể nào của Pháp và thế giới. Sagan coi thường chuyện đó. Ðã có lần, khi được đề cử trở thành một thành viên của Hàn Lâm Viện Pháp, bà từ chối thẳng thừng. Bà cho biết, bà đã đọc đủ những cuốn sách hay để nhận ra sự khác biệt giữa giá trị văn chương của Bonjour Tristesse(mà bà quả quyết là chưa bao giờ đọc lại) và những bàn tán ầm ĩ quanh tác phẩm. Giám đốc nhà xuất bản Robert Laffont nhận xét: “Bà không được thừa nhận như một nhà văn vĩ đại, nhưng điều đó chẳng quan trọng gì. Bà viết những gì bà thích và chẳng quan tâm gì đến những điều khác, về các giải thưởng. Bà viết cho chính bà”. 
 
Văn thì thế, còn người thì sao?
 
Người ta thường gọi bà là écrivain bohémien (nhà văn phóng đãng, sống ngoài vòng cương tỏa). Bản thân bà là một nhân vật, hơn thế nữa, một siêu nhân vật. Khác với quan niệm cho rằng nhà văn là loại người chỉ biết im lặng, chịu đựng và viết, viết mà không sống, Sagan viết và sống, sống đến tận cùng của cuộc sống. Bà viết những gì bà sống và sống những gì bà viết. Bà tạo ra chúng bằng chữ nghĩa của riêng bà, không trường phái, không quan tâm đến những chê, khen này nọ. Khen thì OK, mà chê cũng OK.  Nói theo kiểu Sagan, “Tôi là một thứ tai nạn kéo dài”[27]. Và công chúng theo dõi cái “tai nạn kéo dài” đó rất kỹ, không chán, không mệt. Từ lúc còn là một cô gái 19 tuổi (có lẽ) cho đến khi bà lìa đời. Quanh đời sống của bà là những scandaleScandale tiếp nối scandale. Nhiều đến nỗi, với Sagan,scandale đâm ra mất hết ý nghĩa nguyên thủy để chỉ còn là những tin thời sự sốt dẻo, lúc nào cũng lôi cuốn thứ công chúng tò mò. Áo quần, tai nạn, tình nhân, du lịch, quan hệ, bài bạc, rượu chè, thôi thì đủ thứ, bất cứ gì dính đến Sagan cũng có thể trở thành những sự kiện nóng sốt, góp phần nuôi dưỡng các cột báo Pháp hàng ngày.
 
  Với một khuôn mặt gầy, nhỏ, đôi mắt tinh quái nhô ra từ một mớ tóc cắt ngắn, trong hai thập niên 1950 và 1960, hình ảnh của bà dường như trở thành một thứ dáng dấp cấp tiến của Paris. Bà cùng bạn bè lập  ra nhóm tiền phong “La Bande Sagan”, trong đó có cả ca sĩ Juliette Greco. Bà thường xuyên xuất hiện ở các quán cà phê, hộp đêm, các quán ăn với những nhân vật nổi tiếng trong văn giới như Jean Paul Sartre, Hemingway, Henry Miller và trong chính giới như chính trị gia trẻ tuổi tả phái Francoise Mitterand, hút thuốc lá hiệu Gauloises, tay bưng cốc cà phê. Một trong những mốt của Sagan là đi vào hộp đêm với một người bảo vệ và đi ra với một người bảo vệ khác, luôn luôn đậu xe thể thao ngay ngoài cửa nơi đến bất chấp luật lệ giao thông. Ðể minh họa cho rõ hơn hình ảnh độc đáo của Sagan, hình bìa của một trong những tác phẩm in hình bà cỡ tuổi 19, 20 khoác trên người chiếc áo da dài đứng cạnh cửa của chiếc xe hơi hiệu Jaguar, với đôi mắt viền đậm.
 
Xuất phát từ quan niệm riêng mà cũng do sự thúc đẩy bởi tiền bạc và tiếng tăm, bà lăn xả vào một cuộc sống ồn ào, sôi động ngay lúc chưa tới tuổi 20: uống rượu thâu đêm suốt sáng, say mê bài bạc, khoái lái xe thể thao với tốc độ cao. Một cuộc thăm dò dư luận được tiến hành vài năm sau khiBonjour Tristesse ra đời cho thấy hầu hết mọi người đều cho rằng Sagan là một ngôi sao điện ảnh hơn là một nhà văn. Bà đề cập đến cái thú lái xe hết tốc lực trong Avec mon meilleur souvenir, un recueil de portraits (1984): “Bất cứ ai mà không cảm thấy hưng phấn với tốc độ thì chẳng có hưng phấn để sống. Dù ta có điên cuồng và tuyệt vọng trong tình yêu đến đâu, lúc lái xe với tốc độ 120 dặm một giờ, ta sẽ thấy bớt đi nhiều. Máu sẽ không còn đông cứng quanh trái tim ta; máu ta đập tối đa trong cơ thể, cho đến tận từng ngón tay, ngón chân và tròng mắt, lúc đó chúng là những kẻ canh giữ  quyết định và không mệt mỏi của cuộc đời ta”. Năm 1957, có lần bà đã bị tai nạn xe hơi, làm nứt xương sọ và nhiều vết thương khác khi chiếc xe hiệu Aston-Martin lật ngược ở tại Milly, một thị trấn miến bắc nước Pháp, khiến bà bị hôn mê suốt cả ba ngày mới tỉnh.
 
Táo tợn hơn, Sagan yêu đương bừa bãi, buông thả mình trong sinh hoạt tình dục gần như vô độ với nhiều bạn tình khác nhau. Một trong những bạn tình của Sagan cho biết là bà “muốn thử qua mọi kinh nghiệm ái ân, với hai người, có khi với ba hay bốn người và cả với phụ nữ”. “Tôi thật may mắn quá sức bởi vì khi tôi lớn lên thì đồng thời thuốc ngừa thai đã xuất hiện. Khi tôi 18 tuổi, tôi nghĩ mình có thể chết đi được vì sợ có thai, nhưng rồi có thuốc ngừa thai và thế là tôi mặc sức yêu đương thả giàn mà chẳng có hậu quả gì, có đến 30 năm. Lúc đó thì bệnh AIDS mới xuất hiện. Ba mươi năm này trùng hợp với tuổi trưởng thành của tôi, cái tuổi dành để vui chơi thỏa thích”, bà phát biểu trong một cuộc phỏng vấn được thực hiện trước phiên toà xử bà về tội hút xách năm 1993.
 
Sagan còn sử dụng ma túy. Bà hai lần bị bắt vì hút xách và tàng trữ thuốc phiện, vào các năm 1990 và 1995, phải đóng tiền phạt và bị tù treo khiến có lần, lãnh tụ hữu khuynh Jean Marie Le Pen lên tiếng đòi hỏi bà phải bị treo cổ vì tội sử dụng ma túy.
 
Năm 2002, bà lại dính líu đến pháp luật một lần nữa vì đã không khai thuế về số tiền hơn 800 ngàneuro kiếm được do một áp phe về dầu hỏa, có liên quan đến cựu tổng thống Pháp Mitterand, bạn của bà.
 
Về chuyện gia đình, bà có hai đời chồng. Năm 1958, bà lấy Guy Schoeller, lớn hơn bà 20 tuổi, ly dị năm 1960. Năm 1962, tái giá với Robert James Westhoff, một điêu khắc gia Mỹ. Hai người  có một đứa con trai, Denis. Năm sau, 1963, lại ly dị. Sau đó, bà quyết định sống độc thân cho đến chết. Bà nghĩ gì về tình yêu?  “Tôi cho rằng tình yêu giống như một căn bệnh, một sự ngộ độc. Thỉnh thoảng, tôi bị ngộ độc chừng 3 hay 4 năm, và rồi không bao giờ nữa. Tôi nghĩ rằng người ta có thể sống với nhau hạnh phúc hơn là tôi thường tin, nhưng tôi vẫn không cho rằng nó có thể là mãi mãi”. Còn hôn nhân thì sao? Là “món măng tây ăn cùng với xà lách trộn, cũng ngon đấy nhưng chả có gì quan trọng”.
 
Thập niên 1960, Sagan tuyên bố mình chọn lập trường tả khuynh, vì “mốt” hơn là vì xu hướng chính trị thay đổi.
 
Thập niên 1970, tóc bà đột nhiên chuyển từ màu nâu sang vàng hoe, bà càng muốn sống vội hơn nữa. Ðam mê đánh bạc mạnh thêm đến nỗi Bộ trưởng Nội Vụ phải tuyên bố cấm bà không được vào các sòng bài. Sau nhiều lần suýt chết và năm 1978, bà bị chẩn đoán lầm là bị bệnh ung thư, bà ngưng uống rượu một thời gian.
 
Trong thập niên 1990, có khoảng thời gian bà đâm ra sống đàng hoàng. Bà ủng hộ tổng thống xã hội Mitterand, bàn đến các vấn đề chính trị nghiêm túc, vận động cải cách chế độ lao tù, chống kỳ thị và chống chiến tranh. Năm 1994, tác phẩm Un Chagrin de passage viết về một người đàn ông tiếp cận với nỗi cô đơn sau khi biết mình chỉ còn sống có 6 tháng trên đời, khiến người ta hy vọng bà sẽ trở lại với chuyện viết lách nghiêm túc.  Nhưng thói nào tật đó. Dường như bà không thoát khỏi số phận của mình. Năm 2001, bà bị ra tòa vì tội trốn thuế và bị án một năm tù treo. Bản án khiến cho những người hâm mộ bà tức giận. Họ phát biểu “Bà nợ tiền của Quốc Gia, nhưng nước Pháp còn nợ bà nhiều hơn nữa”.[28]
 
Cái nhìn của Sagan về chính bà và đời sống của mình rất thành thật. Trong Et Toute ma sympathie(1993) ghi lại nhiều suy gẫm của bà, bà nhận xét mình là một “thứ đàn bà kỳ quặc, trẻ con và rối rắm”. Dẫu vậy, bà không bao giờ thốt ra một lời tỏ ý tiếc  về cách sống “vô độ”, không kiềm chế của mình nhưng thú nhận rằng bà chưa bao giờ thực sự trưởng thành.  “Kết quả là tôi thực sự không hiểu những giá trị của người lớn và tôi sẽ không bao giờ (muốn) hiểu”. Khác với những người phụ nữ lớn tuổi, thường chọn hình thức thỏa hiệp và an phận, Sagan luôn luôn giữa cái nhìn của một đứa trẻ con, kinh ngạc, sắc sảo, bỡ ngỡ, sẵn sàng lao vào phung phá cuộc đời, khinh miệt những lợi lộc bản thân, chứa đựng một năng lực bền bỉ trong một thể chất mảnh dẻ khiến ta nghĩ rằng bà sẵn sàng chống báng lại mọi điều. Có lần bà nói với viên chức tư pháp điều tra “Tôi tin rằng tôi có quyền tự hủy miễn là tôi không làm hại ai”.
 
Ðược yêu cầu kể ra những nhân vật mà bà ngưỡng mộ nhất, bà trả lời: Nhiều, trong đó có Jean-Paul Sartre (1905-1980). Ðó là người mà bà giao du mật thiết cho đến lúc ông chết. Những ngày cuối đời, bà thường tìm đến thăm Sartre, lúc này đã mù, và dẫn ông đi chơi, đi ăn sáng, ăn tối. Trong Avec mon meilleur souvenir, un recueil de portraits (1984), bà dành cho triết gia này những giòng chân tình nhất: “Nói ngắn gọn, ông là người đã yêu mến, đã viết, đã chia xẻ, đã cho tất cả những gì gọi là quan trọng mà ông muốn cho, đồng thời, ông từ khước tất cả những gì  hào nhoáng mà người ta dành cho ông (…) Sartre sinh ngày 21/6/1905, tôi sinh ngày 21/6/1935, nhưng tôi không nghĩ rằng – vả lại, tôi chẳng muốn nghĩ đến điều đó – tôi không nghĩ rằng tôi sẽ còn trải qua đến 30 năm nữa mà không có ông trên hành tinh này”.
 
Những năm cuối đời, Sagan dường như không còn là Sagan nữa. Xương sọ vỡ. Bà chịu nhiều lần giải phẫu, ngồi xe lăn, chống nạng. Nợ nần chồng chất, bà phải bán căn nhà ở Normandie, và sống qua ngày ở nhà những người bạn. Cuối cùng, bệnh nặng quá, bạn bè đưa vào nhà thương. Và chết!
 
Sagan được an táng tại ngôi làng Seuzac, gần Cajarc nơi bà chào đời, vào ngày 28/9/2004. 
 
Ðấy, Françoise Sagan! Văn chương và đời sống. Dù ghét dù thương, hẳn mọi người đều nhận rằng bà đã viết và đã sống một cuộc đời ngay thẳng, minh bạch, không ngụy trang, giấu giếm.
 
Dẫu vậy, cho đến cuối đời, người ta vẫn ngờ rằng có một cái gì khác nằm đàng sau con người nổi loạn, ngang tàng, trụy lạc đó. Cái gì? Bí ẩn nào? Tại sao? Nhà phê bình văn chương Pháp Bernard Poitrot-Delpech, khi nhắc đến “bí ẩn Sagan”, cho ta một câu trả lời giản dị, quá giản dị:  “Bí ẩn Sagan? Ðơn giản biết bao, đó chỉ là nghệ thuật trở thành CHÍNH MÌNH, trên trang giấy trắng, trong cuộc đời”.[29]
 
Có đúng như thế không? Tùy!
 
Thôi thì hãy đọc lại đoạn văn sau đây:
 
“Seulement quand je suis dans mon lit,  à l’aube, avec le seul bruit des voitures dans Paris, ma mémoire parfois me trahit: l’été revient et tous ses souvenirs. Anne, Anne! Je répète ce nom très bas et très longtemps dans le noir. Quelque chose monte alors en moi que j’accueille par son nom, les yeux fermés: Bonjour Tristesse..”[30]       
 
Ðó là đoạn cuối trong Bonjour tristesse, một trong những đoạn văn đã để lại dấu ấn khó phai trong nền văn chương thế giới. Lần đó, đôi mắt cô bé Sagan chỉ khép nhẹ để chào nỗi buồn. Lần này, đôi mắt  Sagan khép chặt vĩnh viễn. Nỗi buồn Sagan theo Sagan mà ra đi. Nhưng để lại một nỗi buồn khác: nỗi buồn của chính chúng ta. Notre tristesse.
 
Xin chào vĩnh biệt, tiểu yêu nữ khả ái Françoise Sagan!
 
Một lần nữa: BONJOUR TRISTESSE!   
 
 
 
Trần Hữu Thục
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 70

Ngôi sao Hollywood giàu lòng nhân ái nhất

Những ngôi sao ở Hollywood thường đi siêu xe, ở biệt thự, xài hàng hiệu… tiền tiêu không hết. Tuy nhiên, có một người trong số đó thì hoàn toàn “dị biệt”.
Keanu Reeves, 17 tuổi đã đi theo con đường nghệ thuật, được mọi người biết đến nhiều nhất qua bộ phim “Ma trận” nổi tiếng được công chiếu trên toàn thế giới vào năm 1999. Bộ phim thu về số tiền khổng lồ 1,6 tỷ đô la; gặt hái cho nhà sản xuất 4 tượng vàng Oscar danh giá; đưa tên tuổi của Keanu Reeves lên hạng sao đình đám nhất Hollywood thời bấy giờ.

altKeanu Reeves trong bộ phim Ma trận nổi tiếng.

Thế nhưng trong giới ngôi sao ở Hollywood thì Keanu Reeves hoàn toàn là một người “lạ thường”.
Không có vệ sĩ, không mua nhà đắt tiền, đa phần sống ở khách sạn, sống một cuộc đời nay đây mai đó. Không mua siêu xe, chỉ lái chiếc xe môtô yêu thích. Không mặc đồ hàng hiệu, thường mang đôi giày bốt rách.
Với danh tiếng của anh thì nhất định nhận được rất nhiều lời mời quảng cáo, nhưng anh chỉ nhận lời những hãng mà anh thích nhất. Anh đã tặng 70% thù lao từ phim Ma trận cho bệnh viện, mua xe Harley cho 12 diễn viên đóng thế.

altKeanu Reeves giản dị giữa đời thường, hay cho tiền người nghèo.

Thuộc hàng điển trai trong giới Hollywood nhưng không trau chuốt, không hề lo lắng về hình tượng, sống cuộc sống giản dị.

Năm nay Keanu Reeves đã 53 tuổi nhưng bề ngoài trông còn rất trẻ. Mang trong mình dòng máu lai đa quốc gia Mỹ – Á – Âu, anh có một ngoại hình rất được yêu thích và gương mặt điển trai.

alt

Tuy nhiên, Keanu thường không trau chuốt và không hề lo lắng về hình tượng.alt
Có khi ra ngoài nhưng Keanu không hề trau chuốt, để râu xồm xoàm.alt
Có khi đầu tóc rối bù, ăn mặc lếch thếch, đôi giày anh mang cũng đã rất cũ.

alt

alt

Khi mọi người nhìn thấy anh ấy trên đường, có thể anh đang ngồi trên ghế, ăn sandwich hay bánh ngọt, biểu cảm rất là thản nhiên.alt
Khi đi đường, anh sẽ cho người ăn xin tiền.alt
Anh thường trò chuyện, chia sẻ đồ ăn với những người vô gia cư trên đường.

Vào ngày sinh nhật thứ 46, Keanu đã tự mua cho mình một cái bánh kem nhỏ, đốt nến, ngồi bên đường và tự chúc mừng sinh nhật mình. Một người vô gia cư trên đường chào anh, anh đã chia sẻ bánh sinh nhật của anh với người này.

alt

Keanu sống một cuộc sống đơn giản, tiết kiệm nhất, thường xuyên đi lại bằng tàu điệm ngầm.

Ngôi sao Hollywood giàu lòng nhân ái nhất, trầm lặng phân phát tiền cho những ai cần

Keanu “rách rưới” như vậy không phải vì anh nghèo không có tiền, mà vì anh đã tiêu tiền bằng cách phân phát cho những người khác.
Một Keanu Reeves có giá thị trường không dưới 300 triệu USD nói rằng: “Tiền bạc là thứ mà tôi không quan tâm đến nhất, bây giờ tiền của tôi đã đủ sống mấy thế kỷ rồi, chi bằng tặng tiền cho những ai cần đến nó hơn”.
Sau khi bộ phim “Ma trận 2” có doanh thu phòng vé rất cao, Keanu đã nhận được 100 triệu USD tiền hoa hồng. Thế nhưng anh đã tặng 75 triệu USD cho các nhân viên kỹ thuật và thiết kế làm việc sau hậu đài.
Anh nói: “Họ mới là những người cực khổ, vĩ đại nhất!”
Keanu còn rộng rãi hơn nữa khi mua xe Harley cho 12 diễn viên đóng thế trong phim Ma trận. Không chỉ thế, anh còn ủng hộ hết mình cho những diễn viên mà anh đánh giá cao, tình nguyện từ bỏ cơ hội, tự giảm cát xê để mời được họ cùng tham gia các dự án phim. Khi quay bộ phim “The Replacements” (Chàng cầu thủ dự bị), để mời được diễn viên Gene Hackman tham gia, anh đã tự giảm cát xê của mình xuống.

altKeanu đã tự giảm thù lao của mình xuống trong bộ phim The Replacements để mời được Gene Hackman tham gia.

Trong phim “The Devil’s Advocate”, anh đã chủ động giảm 1,8 triệu USD tiền thù lao với hy vọng rằng đoàn phim có thể mời được diễn viên Al Pacino.
Khi quay Ma trận, Keanu và võ sư Trần Hổ từng muốn sau này cùng quay một bộ phim. Nhiều năm sau, Keanu đã tham gia đóng phim “Man of Tai Chi” (Thái Cực Truyền Nhân) cùng Trần Hổ. Anh từ chối hai bộ phim lớn và còn tự mình chỉnh sửa kịch bản, bước vào con đường làm đạo diễn. Anh nói: “ Tôi quay Man of Tai Chi chỉ là vì Trần Hổ mà thôi”.

“Tôi độc lập như thế này là bởi vì tôi hiểu rõ cuộc đời”

Keanu sinh ra ở cộng hòa Liban (một quốc gia nhỏ ở Trung Đông), cha anh là người Hawaii gốc Hoa, mẹ là người Anh. Năm 3 tuổi, cha mẹ anh di lỵ. Cũng vì thế mà Keanu đã từng phải sống ở Liban, Hawaii, Macao và cuối cùng là Canada.
Tuổi thơ của Keanu trôi qua đầy thăng trầm.
Khi anh còn nhỏ, cha anh đi tù. Từ đó về sau cha con anh không còn gặp lại nhau nữa.
Năm 1999, Syme – bạn gái của anh mang thai, đứa trẻ qua đời vào tháng thứ 8 trước khi sinh. Điều bất hạnh hơn là sau đó Syme qua đời trong một vụ tai nạn. Lúc đó Keanu đang quay Ma trận 2, khi nhận được tin xấu, anh vội vã rời khỏi đoàn phim.
Trong tang lễ, Keanu và người thân cùng nâng quan tài, người ta gọi anh là “Tình yêu của cuộc đời cô” trên cáo phó của Syme.
alt
Em gái Kim Reeves của Keanu được chuẩn đoán mắc bệnh ung thư máu. Vì em gái, anh đã sửa nhà thành phòng bệnh, quyên góp hầu hết số cát xê của mình cho bệnh viện ung thư. Anh đã dành rất nhiều thời gian để chăm sóc cho em gái.
Keanu đã trải qua tất cả những thăng trầm trong cuộc sống khiến anh hiểu về cuộc đời: không mặc hàng hiệu, không cần một cuộc sống xa hoa; tiền bạc, vật chất, những thứ này đều không quan trọng, muốn làm gì thì làm cái đó.
Đến bây giờ khi đã 53 tuổi, Jeanu Reeves vẫn chạy chiếc Harley cũ của mình, sống một cuộc sống tự do tự tại.
alt
Anh từng nói: “Tôi không muốn chạy trốn khỏi cuộc đời vì tôi biết cái đẹp của nó. Tôi vẫn muốn kết hôn, có con và tôi sẽ làm điều đó.
Đám cháy rừng cũng có cái lợi của nó. Đôi khi kẻ thù là người thầy tốt nhất và chúng ta có thể học từ sai lầm của bản thân. Sự hủy diệt đôi khi mang ý nghĩa tái sinh”.
Những lời nói, hành động của Keanu đã làm ấm cả thế giới. Mọi người đều hy vọng rằng sau này sẽ có người sưởi ấm trái tim anh.
Theo Secret China
(Ảnh: Sưu tầm)

Xuân Nhi
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 22

Những nhà thơ chỉ có một bài thơ

image
Bài hịch của Lý Thường Kiệt trước cơ sở ngoại giao Trung Cộng ở San Francisco 

Trong lịch sử văn học Việt nam và thế giới, chúng ta biết có những nhà thơ chỉ có một bài thơ. Thế mà, tác phẩm của họ, bài thơ duy nhất ấy, sống mãi với thời gian, sống mãi với người đọc.
 
Tác phẩm của họ, bài thơ duy nhất ấy, vẫn mãi làm xúc động người đọc, vẫn mãi tiếp thêm năng lượng sống cho các thế hệ.

1. Bài thơ thần – bài thơ “Nam quốc sơn hà” – của Lý Thường Kiệt:
 
image


Lý Thường Kiệt (1019 – 1105) là nhà quân sự, nhà chính trị nổi tiếng, một thái giám đời nhà Lý, có công to lớn trong việc đánh bại hoàn toàn quân xâm lược Tàu-Tống vào năm 1075-1077. Ông được cho là người đã viết ra tác phẩm “Nam quốc sơn hà” (Sông núi nước Nam).
 
Tài năng quân sự và chiến công trước quân xâm lược Tàu-Tống trong Chiến trận Như Nguyệt vào năm 1077 đã làm nên tên tuổi của ông. Ngày nay, người Việt thường liệt ông vào danh sách 14 vị anh hùng dân tộc tiêu biểu nhất trong lịch sử Việt Nam.
image 
image 

Dịch nghĩa:
 
image 

Dịch thơ:

image 

Hiện nay, có nhiều bản dịch thơ khác nhau. Nhưng, bản dịch thơ của học giả Trần Trọng Kim là bản dịch được nhiều người chấp nhận.
 
Bài thơ chỉ gồm (7 chữ) x (4 dòng), chỉ vỏn vẹn có 28 chữ, đã khẳng định quyền độc lập tự chủ của Dân tộc, vạch trần sự phi nghĩa, phi pháp của bọn xâm lược Tàu-Tống và sự thất bại triệt để, không thể tránh khỏi của chúng. Bởi thế, bài thơ đã được đánh giá là “bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của Dân tộc ta”.

2. Bài thơ “Cảm hoài” của Đặng Dung:
 

Đặng Dung (1373 – 1414), là nhà thơ và là danh tướng nhà Hậu Trần trong lịch sử Việt Nam. Ông là con trai của Đặng Tất, người theo phò vua Giản Định đế của nhà Hậu Trần, sau bị Giản Định đế giết chết cùng với tướng Nguyễn Cảnh Chân. Giận vì cha mình chết oan, Đặng Dung cùng Nguyễn Cảnh Dị (con của Nguyễn Cảnh Chân) bỏ đi, lập Trần Quý Khoáng tức vua Trùng Quang và tiếp tục khởi nghĩa.


image 
image 
Dịch nghĩa:

image 
Dịch thơ :

image 
image 


Bài thơ “Cảm hoài” (Nỗi lòng) chính là tiếng nói gan ruột của một bậc anh hùng thất cơ, lỡ vận. Người anh hùng đó có một hoài bão, một khát vọng to lớn là muốn giúp vua, nâng trục đất, muốn rửa sạch binh giáp, muốn đem lại thái bình cho đất nước, cho muôn dân. Nhưng, khi tuổi đã cao, sức đã kiệt, người anh hùng đó vẫn chưa thực hiện được khát vọng, hoài bão của mình. Bởi thế, tuy nói về sự thất bại, bài thơ vẫn khơi dậy ở người đọc những điều lớn lao, cao cả. Và, có lẽ vì thế, bài thơ vẫn sống mãi với các thế hệ người Việt Nam chúng ta.

3. Bài thơ «Un secret» (Một bí mật) của Félix Arvers:

Félix Arvers (1806-1850) là một nhà thơ Pháp. Ông viết tập thơ «Mes heures perdues» (Thời gian rảnh rỗi của tôi) năm 25 tuổi. Bài thơ Un secret(Một bí mật) là bài thơ trong tập thơ đó, và là bài thơ nổi tiếng duy nhất của ông. Vì vậy, trong nền văn học Pháp, Félix Arvers được xem là “Nhà thơ của một bài thơ duy nhất”. Bài Un secret được viết dưới dạng một bài Sonnet (tức là một bài thơ gồm 14 câu, tuân theo cấu trúc và luật gieo vần khắt khe), do đó, nó cũng thường được gọi là Sonnet d’Arvers (Bài Sonnet của Arvers).
 
Félix Arvers yêu cô Marie, nhưng đó là tình yêu đơn phương, nên ông viết bài Sonnet «Un secret» để bày tỏ tình yêu câm lặng của mình.
 
image 
Dịch nghĩa:

image 
Dịch thơ :

image 

Bài thơ nói về tình yêu, một tình yêu đơn phương, một tình yêu tuyệt vọng. Và, vì thế, người đọc chúng ta cảm nhận được một tình yêu chân thực, mạnh mẽ, nồng nàn, thiết tha của nhà thơ – người con trai, với cô gái xinh đẹp, mềm mại và dịu dàng (« douce et tendre ») nhưng lại quá đỗi thờ ơ, lãnh đạm!
 
Bản dịch thơ của Khái Hưng đã góp phần biểu đạt tâm trạng ray rức, xót xa, buồn khổ, đau đớn của nhà thơ – người con trai trong mối tình đơn phương, vô vọng và tuyệt vọng ấy.

 

Phan Thành Khương

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 48

Anh Còn Yêu Lắm

Anh còn yêu lắm, em ơi
Lửa tình vẫn cháy rực trời trong anh
Buồn thay duyên phận mong manh
Dõi theo em vậy, anh đành buông thôi

Đời người nước chảy bèo trôi
Muốn không thể được, giữ rồi cũng tan
Mong đời không phải thở than
Bến em chọn đỗ ngập tràn yêu thương

Để cho em khỏi vấn vương
Luôn luôn vui vẻ trên đường em đi
Chút tình xưa chẳng đáng chi
Em quên cho nhẹ mỗi khi nhớ về

Kệ anh ôm mối tình quê
Giữ làm kỷ niệm ngóng về nơi em
Cầu mong em sống êm đềm
Ngọt ngào hạnh phúc ấm êm suốt đời.
Hữu Hùng 2017

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 28