All posts by Nguyễn Tịnh Lặng

Thời hoàng kim của thợ săn ảnh sắp hết?

Mỗi nhiếp ảnh gia chịu rất nhiều rủi ro dựa trên mức độ may mắn của anh ta vào ngày hôm đó
Trong khi một số bức ảnh độc quyền một người nổi danh có thể mang lại rất nhiều tiền, việc thu nhập ổn định trong ngành săn ảnh đầy tranh cãi này ngày càng rất khó khăn, theo Allison Schrager.
BM
  
Santiago Baez là thợ săn ảnh từ đầu những năm 1990. Máy ảnh trong tay, ông đã chứng kiến sự tan vỡ của các cặp ngoại tình, trẻ mới sinh, chết chóc, tình yêu mới và sự ly hôn của một số cư dân nổi tiếng nhất New York.
Đối với các tay săn ảnh như Baez, kiếm sống được đòi hỏi phải có kiến thức bách khoa về nơi ở của những người nổi tiếng ở New York, cũng như một mạng lưới tài xế, và nhân viên cửa hàng và nhà hàng để họ báo cho biết những người nổi tiếng đang ở chỗ nào. Thông thường, việc thông tin lại do chính những người nổi tiếng cung cấp qua mạng xã hội: nhằm thiết lập chuỗi sự việc, họ thông báo cho công chúng (chủ yếu là các nhà nhiếp ảnh) về việc đi lại của họ, hoặc các nhà báo của họ sẽ gọi cho một cơ quan để cử một nhiếp ảnh gia tới.
Hầu hết các bức ảnh không đáng giá bao nhiêu, nhưng ảnh một bé mới sinh, một người nổi tiếng hôn người tình, hoặc một đám cưới có thể làm thay đổi gia tài sau một đêm.
Nhưng thu nhập của Baez không ổn định. Thành công của anh là sự liên kết giữa kinh nghiệm và kiến thức về những người nổi tiếng với nhận thức đau xót rằng thu nhập của mình là rất thay đổi và không thể tiên đoán được.
‘Cơn sốt’ săn ảnh
BM
  

Những vận may rủi này được quyết định bởi một số ít người như Peter Grossman, biên tập viên ảnh của tờ Us Weekly từ 2003 đến 2017. Nhưng Grossman không làm việc trực tiếp với những người săn ảnh; thay vào đó, nhiếp ảnh gia như Baez sẽ bán những bức ảnh cho một công ty có mối quan hệ với các biên tập viên ảnh như Grossman. Một người săn ảnh nhận từ 20% đến 70% tiền bản quyền của bức ảnh, tùy thuộc vào nhiếp ảnh gia và vào thỏa thuận mà người đó đã thương lượng với công ty đó. Những người săn ảnh cao cấp, giỏi và tài năng hơn sẽ được nhiều tiền hơn, mà thường bao gồm độc quyền bán ảnh chụp cho một cơ quan duy nhất.   

BM
Giá của một bức ảnh phụ thuộc vào việc người nổi tiếng đang làm gì và ảnh có là độc đáo không.
Những bức ảnh độc đáo tạo nên sự vang dội trong thế giới tin tức lá cải có thể mang lại các khoản tiền lớn: Grossman nói với tôi rằng ông đã trả hàng trăm ngàn bảng cho một loạt ảnh chụp nữ diễn viên Kristen Stewart đang ôm say đắm Rupert Sanders, đạo diễn (đã có vợ) của phim Bạch Tuyết và Huntsman, một bộ phim cô đóng vai chính.
Grossman sống qua thời hoàng kim của nhiếp ảnh săn tin: ông là người đứng sau sự dâng trào của những bức ảnh của tạp chí “Just Like Us” (Như Chúng Ta Thôi) vào đầu những năm 2000 – những bức ảnh đời thường của những người nổi tiếng làm nhiệm vụ trần tục như uống cà phê hoặc bơm xăng đã gây ấn tượng với độc giả của tạp chí này. Chẳng bao lâu, nhiều báo khác cũng đăng những ảnh kiểu như “Just Like Us” ở báo họ, khởi đầu cho cái gọi là những năm sốt săn ảnh của ngành này, trùng với thời hoàng kim của những người nổi tiếng Paris Hilton, Britney Spears và Lindsay Lohan.
Mặc dù giá của một bức ảnh phụ thuộc vào việc người nổi tiếng đang làm gì và ảnh có là độc đáo không, vào thời gian sốt ảnh cao điểm, một ảnh độc đáo của “Just Like Us” thường khoảng 5.000- 15.000 đô la Mỹ.
BM
  
Thời đại hoàng kim sinh ra tâm lý hoàng kim, với nhiều nhiếp ảnh gia tập hợp ở ngành này, sẵn sàng vi phạm pháp luật và thậm chí làm cho các thợ săn ảnh có tiếng xấu là đi quá xa và quấy rối những người nổi tiếng và cả con cái nhỏ của họ. Grossman kêu gọi mọi người cùng phối hợp lùi lại một bước, trả ít tiền hơn cho ảnh, và không vi phạm pháp luật hoặc không tự đặt mình và các người khác vào thế nguy hiểm khi chụp ảnh, nhưng không thành công.
Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và sự trỗi dậy của truyền thông trực tuyến cuối cùng đã giết chết cơn sốt ảnh. Truyền thông kỹ thuật số làm tăng nhu cầu về các ảnh những người nổi tiếng nhưng giảm giá mà các các công ty truyền thông sẵn sàng trả tiền cho ảnh. Các cơ quan về ảnh bắt đầu hợp nhất hoặc bỏ kinh doanh, và những cơ quan ở lại đã thay đổi mô hình kinh doanh của họ.
Thay vì để các tạp chí trả tiền cho mỗi bức ảnh, họ đưa ra một dịch vụ đăng ký: các nhà xuất bản có thể sử dụng với số lượng ảnh tùy thích để đáp ứng nhu cầu lớn hơn về các ảnh rẻ hơn. Do đó, những người săn ảnh được trả một phần nhỏ phí đăng ký; phí là bao nhiêu là tùy thuộc vào số lượng hình ảnh của họ được sử dụng mỗi tháng. Có nghĩa là một bức ảnh độc đáo “Just Like Us” trước đây có thể giá 5.000 – 15.000 đô la Mỹ thì nay chỉ được trả 5 hoặc 10 đô la Mỹ.
Người săn ảnh ngày càng kiếm được ít tiền. Thời kỳ mà nhiều người trông mong có thu nhập hàng trăm ngàn đô la đã qua rồi. Bây giờ, có được một ảnh độc đáo hiếm hoi là cần thiết để kiếm được số tiền lớn.
Kinh doanh nhiều rủi ro
BM
Để phân tán rủi ro, những người săn ảnh thường hình thành các liên minh – nhưng những liên minh đó có thể bị tan vỡ vì một ảnh độc đáo lớn tiền.
Việc trông thấy một người nổi tiếng thường là tình cờ, đó chính xác là một phần lý do tại sao thu nhập của Baez Vĩ lại phập phù đến thế. Chẳng ngạc nhiên gì khi Baez sử dụng các chiến lược rủi ro trong nghề, tương tự như các cách người ta dùng trong thị trường tài chính.
Các nhà kinh tế tài chính phân chia rủi ro thành hai loại lớn: thứ nhất là rủi ro về tư chất riêng, hoặc rủi ro duy nhất cho một tài sản cụ thể. Giả sử Facebook thay đổi lãnh đạo; tương lai của công ty này sẽ không rõ ràng, và giá cổ phiếu có thể giảm dựa trên các yếu tố duy nhất đối với Facebook mà không ảnh hưởng đến các cổ phiếu khác. Rủi ro tư chất riêng là rủi ro chỉ áp dụng cho một cổ phiếu hoặc tài sản riêng lẻ.
Những người săn ảnh phải đối mặt với rất nhiều tư chất cá nhân. Người nổi tiếng nào đó làm gì hôm nay- thí dụ cô gặp các bạn thuộc danh sách A hay danh sách D – xác định số tiền người săn ảnh kiếm được trong tuần đó. Nếu một người nổi tiếng không còn thú vị hoặc được ưa chuộng nữa, thì giá trị của những ảnh này sẽ giảm. Những ảnh như vậy giống như một cổ phiếu: giá trị của nó thay đổi tùy thuộc vào nhà nhiếp ảnh cụ thể, ảnh chụp khéo, vào đúng thời điểm.
BM
  
Những người săn ảnh giải quyết rủi ro tư chất riêng này bằng cách trải rộng rủi ro: các nhiếp ảnh gia thường tạo thành các đội hoặc liên minh để chia sẻ các vị trí chụp, và đôi khi chia sẻ tiền bản quyền để tăng cơ hội hoặc chia sẻ tiền trả để đứng ở vị trí đó.
Vì mỗi nhiếp ảnh gia chịu rất nhiều rủi ro dựa trên mức độ may mắn của anh ta vào ngày hôm đó, một liên minh sẽ hòa đồng may rủi, giảm rủi ro mang tính tư chất cá nhân.
Loại rủi ro thứ hai là rủi ro hệ thống, hoặc rủi ro ảnh hưởng đến hệ thống lớn hơn thay vì một tài sản cá nhân riêng lẻ. Rủi ro hệ thống là khi mọi cổ phiếu tăng hoặc giảm cùng nhau vì toàn bộ thị trường tăng hoặc sụp đổ như đã xảy ra năm 2008. Các sự kiện rủi ro hệ thống thường xảy ra do sự suy sụp lớn về kinh tế như suy thoái kinh tế hoặc một kết quả bầu cử mà mọi người nghĩ sẽ ảnh hưởng đến kinh doanh. Rủi ro hệ thống khó xử lý hơn rủi ro tư chất cá nhân, và các mặt xấu có khả năng nguy hiểm hơn. Nếu toàn bộ bể thị trường chứng khoán suy thoái, bạn có nguy cơ mất việc làm cùng một lúc với và danh mục đầu tư chứng khoán.
Bạn có thể thấy rủi ro có tính hệ thống diễn ra với các người săn ảnh, như sự bùng nổ của những năm sốt tiền ảnh chụp và sự sụp đổ khi mọi người ngừng mua tạp chí lá cải trong thời kỳ suy thoái. Mặt tiêu cực của nguy cơ hệ thống của việc săn ảnh đã trở nên nghiêm trọng hơn trong 10 năm qua. Mọi người đều khó kiếm tiền hơn. Nhiều người săn ảnh đã rời bỏ công việc này: sau gần 30 năm chụp ảnh người nổi tiếng, Baez đã quay trở lại Cộng Hòa Dominican vào hè năm 2018, cùng vợ và con trai, để tìm công việc mới.
Những người săn ảnh – giống chúng ta không?
Công việc của một người săn ảnh là rủi ro hơn ai hết. Nhưng ở một mức độ nào đó, tất cả chúng ta đều phải đối mặt với một mức độ nhất định của rủi ro tư chất cá nhân và rủi ro hệ thống trong sự nghiệp của mình, vì vậy chúng ta có thể học hỏi được rất nhiều từ những nhiếp ảnh gia này.
Giả sử bạn muốn thay đổi công việc từ một vị trí an toàn có lương sang công việc bán hàng hưởng tiền hoa hồng. Cái lợi là bạn sẽ kiếm được nhiều tiền hơn so với công việc trả theo lương vì nếu là một nhân viên bán hàng, bạn sẽ phải đối mặt với cả hai loại rủi ro: đó là một công việc với vô số rủi ro cá nhân; ví dụ, bạn kiếm được bao nhiêu sẽ phụ thuộc vào kỹ năng bán hàng của bạn và cách đối xử của khách hàng (bạn có thể giải quyết rủi ro này bằng cách làm việc trong một nhóm và có nhiều khách hàng). Bạn cũng sẽ phải đối mặt với rủi ro hệ thống vì doanh số phụ thuộc vào trạng thái của nền kinh tế.
Rủi ro hệ thống đặc biệt nguy hiểm. Trong thời kỳ suy thoái kinh tế, thu nhập của bạn có thể bị giảm hoặc biến mất hoàn toàn, khó có thể tìm được một công việc khác, tài sản của bạn có thể bị ảnh hưởng và thu nhập của vợ/chồng bạn cũng có thể gặp rủi ro. Nếu công việc của bạn mà càng liên quan nhiều đến rủi ro hệ thống thì bạn càng dễ bị ảnh hưởng.
Tại sao chúng ta cảm thấy rất lo lắng về kinh tế
BM  
Có sự tương đồng lạ lùng giữa người giao dịch chứng khoán Wall Street và những người săn ảnh. Cả hai đều phải cố gắng xử lý rủi ro tài chính từng ngày
Sinh kế của những người săn ảnh trung bình bị đe dọa bởi những thay đổi lớn trong ngành xuất bản. Các nhiếp ảnh gia xử lý rủi ro cá nhân bằng cách hình thành các liên minh không ổn định, nhưng rủi ro hệ thống lớn hơn mà nó có thể xóa bỏ công việc của họ thì khó xử lý hơn. Họ có thể thành lập một liên minh và yêu cầu các điều khoản tốt hơn từ các cơ quan, nhưng trong lịch sử họ có gặp khó khăn để hợp tác với nhau. Và những người săn ảnh không phải là người duy nhất phải đối mặt với rủi ro là công việc của họ sẽ không còn kiếm sống được nữa..
Một lý do khiến người ta có vẻ lo lắng nhiều hơn về tương lai kinh tế của họ so với trước đây là vì họ cảm thấy rủi ro hệ thống nhiều hơn ở thị trường việc làm. Vài thập kỷ trước, hầu hết các rủi ro việc làm mang tính cá nhân: mâu thuẫn với ông chủ, việc làm không phù hợp, một công ty quản lý kém. Nếu bạn mất việc, có lẽ bạn có thể tìm được một việc khác giống thế. Công nhân thành lập công đoàn, liên kết với nhau, và yêu cầu trả lương và lợi ích nhiều hơn, họ tin rằng xã hội cần kỹ năng của họ. Thị trường việc làm thăng trầm, nhưng rủi ro dường như tương đối dễ giải quyết.
Trong nền kinh tế ngày nay, rủi ro hệ thống ngày càng gay gắt. Có khả năng là công nghệ – robot và trí tuệ nhân tạo – có thể đảm nhận công việc của bạn hoặc ít nhất là đòi hỏi những kỹ năng mới mà bạn không có. Nếu bạn mất việc trong thời kỳ suy thoái, bạn có thể không bao giờ tìm thấy một công việc tương tự.
Đó là một xu hướng lớn đe dọa mọi người, nhưng đối với người săn ảnh như Baez, mối đe dọa là tức khắc. Đó là một công việc rủi ro, và ngày càng rủi ro hơn với ít thu nhập hơn.
Allison Schrager

Hits: 1

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Một ngôi sao vừa lim tắt trên bầu trời âm nhạc Hollywood

Hàng triệu fans ái mộ trên thế giới vô cùng thương tiếc một ngôi sao tài sắc vẹn toàn, một huyền thoại âm nhạc vừa giã từ khán giả hâm mộ: Nữ ca sĩ Doris Day của những thập niên 1950′ và 1960′.

Nhất là các khán giả tại Sài Gòn, Miền Nam trước năm 1975 không thể quên Doris Day qua một danh sách dài top hits bất hủ vượt thời gian như “When I Fall In Love”, “Pillow Talk”, “Secret Love”, và “Que Sera, Sera” (What Will Be Will Be), v.v…  
Khi được mời cùng đóng với James Stewart trong phim L’homme Qui en Savait Trop (The Man Who Knew Too Much) với đạo diễn tài ba về phim kinh dị Alfred Hitchcock và được yêu cầu hát bài Que Sera Sera, cô đã từ chối vì cô thường hát các bản tình ca hơn là bái hát về thiếu nhi. Sau một thời gian suy nghĩ trước những thuyết phục, cô đã hát bài Que Sera, Sera trong bộ phim :”Người đàn ông Biết Quá Nhiều” đó, và không ngờ bài hát Que Sera Sera đã đưa cô lên cao hơn nữa trên đỉnh cao danh vọng, và cả thế giới biết đến cô qua ca khúc dễ thương này. 
Xin cùng nghe lại ba bài “When I Fall In love”,”Secret Love”, và “Que Sera Sera” như một tưởng nhớ đến người ca sĩ tài sắc vẹn toàn Doris Day – trong hai thập niên huy hoàng của VNCH.
Phạm Gia Đại

Hits: 4

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Chuyện Một Người Mang Tên Nguyễn Thị Di Tản

ditantruyen

Hình trên net

Tên tôi là Nguyễn Thị Di Tản. Cái họ Nguyễn của tôi đã chứng tỏ tôi là người Việt Nam chính hiệu con nai vàng. Song có điều tôi là đứa bé Việt Nam chào đời ở một miền đất lạ xa – đảo Guam – một nơi chốn thật lạ lẫm với quê hương tôi. Theo lời mẹ tôi kể tôi chào đời vào những tháng ngày buồn thảm nhất của miền Nam Việt Nam. Tôi đã nằm trong bụng mẹ, theo mẹ trên con đường di tản của dân tộc tôi.

Tôi đã là một chứng nhân của lịch sử. Tiếng khóc chào đời của tôi ở một quần đảo nơi quê người đã giúp mẹ tôi nhiều can đảm vượt qua những thử thách, gian truân của cuộc đời.

Tôi là Nguyễn Thị Di Tản từ ngày ấy. Đã hơn một phần tư thế kỷ kể từ 30 tháng 4 năm ấy. Thế mà đã 44 năm qua…

Đã 44 năm qua. Tôi đã lớn. Đã trưởng thành nơi miền đất tạm dung của một tỉnh lỵ miền Tây Canada. Thành phố Winnipeg buồn hắt hiu như tâm sự “Người Di Tản Buồn” của mẹ. Mẹ rất yêu bản nhạc “Người Di Tản Buồn” của Nam Lộc. Ngày còn bé, bằng bài hát ấy mẹ đã ru tôi ngủ.. Riết rồi tôi quen với từng lời ca tiếng nhạc. Mẹ bảo đêm nào không nghe bài hát ấy tôi không ngủ. Đến lúc tôi bập bẹ biết nói mẹ dạy tôi hát. Tôi vừa quấn quít bên mẹ vừa đỏ đẻ hát:

Chiều nay có một người đôi mắt buồn
Nhìn xa xăm về quê hương rất xa
Chợt nghe tên Việt Nam ôi thiết tha
Và rưng rưng lệ vương mắt nhạt nhòa
Bạn ơi đó là người di tản buồn
Ngày ra đi lặng câm trong đớn đau
Rồi đêm khuya hằn lên đôi mắt sâu
Thời gian đâu còn những phút nhiệm mầu
Cho tôi xin lại một ngày, ở nơi nơi thành phố cũ
Cho tôi xin lại một đời, một đời sống với quê hương
Cho tôi đi lại đoạn đường, hàng cây vươn dài bóng mát
Cho tôi yêu lại từ đầu, bên người yêu dấu ngày xưa
Chiều nay có một người di tản buồn
Nhìn quê hương còn ai, hay mất ai?
Còn bao nhiêu thằng xông pha chiến khu?
Và bao nhiêu nằm trong những lao tù?
Ở đây có những chiều mưa rất nhiều!
Nhiều hơn khi hành quân trong tháng mưa
Buồn hơn khi rừng khuya vang tiếng bom
Ngày vui ơi giờ đâu nước không còn
Cho tôi xin lại một lần, ở nơi tôi dừng quân cũ
Cho tôi xin lại bìa rừng, nơi từng chiến đấu bên nhau
Cho tôi xin một lời chào, chào bao nhiêu người đã khuất
Cho tôi xin một mộ phần, bên ngàn chiến hữu của tôi!

Tôi hát như sáo. Mẹ hát sao tôi hát theo vậy. Mẹ bằng lòng lắm. Dần dà tôi có thể hát được cả bài. Bạn bè của mẹ đến nhà chơi, mẹ đem con sáo của mẹ ra khoe. Mẹ bắt tôi hát. Mỗi lần hát xong các bác, các cô, bạn của mẹ ai cũng đều rươm rướm nước mắt. Có lần tôi thỏ thẻ hỏi mẹ:
– Sao con hát hay mà mẹ với các bác lại khóc?

Mẹ ôm tôi vào lòng và nói:
– Bao giờ con lớn con sẽ hiểu tại sao.

Cái trí óc non nớt ngày ấy của tôi mơ hồ cảm nhận có một điều gì khác thường ở mẹ, một cái gì mất mát lớn lao trong đời mẹ. Những lúc rảnh rỗi, sau giờ cơm chiều mẹ dạy tôi nói, tôi đọc:

– Con là người gì? 
– Dạ thưa con là người Việt nam
– Con tên gì?
– Con tên là Di Tản
– Con có yêu nước Việt Nam không?
– Con yêu Việt Nam lắm!

Tôi đã thuộc nằm lòng những câu mẹ dạy. Tôi đã quen thuộc với cái tên Di Tản. Tôi thấy tên tôi nó ngồ ngộ, dễ thương làm sao. Đến lúc tôi lên năm, mẹ dắt tôi đến một ngôi trường Tiểu Học ở gần nhà để ghi tên đi học. Từ ngày còn bé tôi chỉ loanh quanh ở cái Apartment (chung cư) mẹ ở mà thôi. Chung cư nầy đa số là người Việt Nam. Lần đầu tiên đến trường, một khung cảnh mới, người mới. Các học sinh cùng lớp với tôi hoàn toàn là những khuôn mặt lạ xa.

Cô giáo cũng thế. Không giống mẹ. Không giống các bác, các cô đến chơi nhà mẹ. Lúc mẹ chào cô giáo ra về, tôi ở lại trường với tâm trạng thật lạc lõng, bơ vơ. Tôi muốn khóc. Tôi muốn theo mẹ ra về làm sao. Tôi ngồi cô đơn một góc lớp. Cô giáo rất trẻ, đến bên tôi nhỏ nhẹ hỏi:
– “What is your name?” (Tên con là gì?)

Tôi cúi mặt, bặm môi chừng như rướm máu, lí nhí đáp bằng cái giọng Việt Nam đặc sệt “Dạ .. Di Tản”. Cô giáo chừng như không hiểu, cô xem lại quyển sổ và hỏi lại tôi “Your name is Đaithen”. Tôi lắc đầu và lập lại “Di Tản”. Cả lớp rộ lên cười. Tôi bật khóc. Tôi khóc ngon lành như bị ai ức hiếp.

Sau buổi học, mẹ đến đón tôi về. Trên suốt quãng đường từ trường về nhà tôi lặng thinh, không nói một điều gì cả với mẹ. Mẹ âu yếm hỏi tôi “Con đi học có vui không”. Chừng như tôi chỉ chờ mẹ hỏi, tôi òa lên khóc và bảo:

– Sao mẹ không đặt cho con một cái tên nào dễ kêu như Helen, như Cindy hay Linda như tụi nó mà mẹ đặt tên con là Di Tản. Cô giáo đọc không được tên con, mấy đứa cùng lớp tụi nó chọc ghẹo con.

Mẹ tôi dịu dàng, từ tốn bảo:
– Con có biết cả nước Canada nầy có biết bao nhiêu là Helen, là Cindy không con? Còn tên Di Tản chỉ có mỗi một mình con. Con không thấy con đặc biệt sao con. Con phải hãnh diện vì cái tên rất là Việt Nam của con mới phải.

Tôi nũng nịu pha một chút hờn dỗi:
– Mà cô giáo đọc là Đaithen mẹ thấy có kỳ không?

Mẹ trìu mến đưa tay vuốt tóc tôi, hiền hòa khẽ bảo:
– Tại cô giáo không biết cách phát âm của người Việt Nam mình đó thôi. Con phải đọc lại cho cô biết rồi từ từ cô sẽ đọc đúng.

Giọng mẹ thiết tha hơn, chùng xuống, sũng đầy nước mắt.
– Mẹ đã mất tất cả rồi con ơi! Mẹ chỉ còn cái tên Việt Nam mẹ gửi cho con. Con có biết như thế không?

Đầu óc của một đứa bé lên năm làm sao tôi hiểu được hết những gì mẹ nói, song tôi biết mẹ buồn lắm. Có một cái gì làm cho mẹ khổ tâm lắm. Tôi cảm thấy ân hận. Tôi ôm mẹ, hôn mẹ, và bảo:
– Con xin lỗi mẹ. Con làm mẹ buồn lắm phải không mẹ?

Tôi thấy mắt mẹ long lanh ngấn lệ.
– Không phải đâu con, con của mẹ ngoan lắm.

Đó là câu chuyện ngày lên năm của tôi. Mãi cho đến những năm sau nầy tên tôi vẫn là một đề tài cho lũ bạn chọc ghẹo. Cái chọc ghẹo cho vui chứ không có một ác ý nào cả. Lúc tôi vào Highschool (Trung Học) tôi đã lớn lắm rồi. Tôi đã hiểu những u uất của đời mẹ. Tôi thương mẹ hơn bao giờ hết.

Thấm thoát mà tôi đã là cô gái 18. Soi gương tôi cũng biết mình đẹp lắm. Mẹ không cho tôi cắt tóc ngắn. Cả trường con gái mái tóc dài chấm lưng với khuôn mặt Á Đông của tôi vẫn là một đề tài nổi bật nhất.

Lại thêm cái tên Di Tản nữa. Lúc nầy tôi không còn buồn mỗi lần bị giáo sư đọc trật tên. Bạn bè tôi, những đứa quen nhau từ lớp Mẫu Giáo đến giờ được tôi huấn luyện cách phát âm nên đọc tên tôi đúng lắm. Tụi nó bỏ dấu còn lơ lớ nhưng tạm được. Nhưng mỗi lần bắt đầu một niên học mới, tên tôi lại là một tràng cười cho lũ bạn cùng lớp mỗi khi các giáo sư mới gọi tên tôi. Giáo sư nào cũng thế. Ngập ngừng một hồi lâu rồi mới đọc.

Tôi cũng không nín cười được cái giọng như ngọng nghịu của một giáo sư người Canada đọc một cái tên lạ quơ lạ hoắc chưa bao giờ thấy và gặp trong lịch sử dân tộc. Trên tay cầm bài test của tôi, ngập ngừng rồi vị thầy gọi “Đai then”.. Cả lớp ồ lên một loạt “Oh, my god”. Vị giáo sư lúng túng, đảo mắt nhìn quanh lớp. Cả lớp nhao nhao lên như bầy ong vỡ tổ. Chừng như tụi nó thích những dịp như thế để câu giờ, “nhứt quỉ, nhì ma, thứ ba học trò” mà. Con Linda ngồi cạnh, hích nhẹ cùi chỏ vào tôi và khẽ bảo:

– Ditan, ổng đọc sai tên mầy rồi kìa, mầy sửa cho ổng đi.

Tôi đỏ mặt. Tôi chưa kịp nói gì cả thì tụi con trai ngồi sau lưng tôi ào ào lên như chợ nhóm “Ditản, Ditản not Đai then”. Vị giáo sư lúc đó mới vỡ lẽ ra, mới biết là mình phát âm sai, ông gục gặc đầu nói lời xin lỗi và lập lại “Ditản Ditản”.

Lúc nầy tôi không còn nhút nhát như ngày xưa nữa. Bạn bè tôi Tây, Tàu, Canadian nữa đều “cứu bồ” tôi mỗi lần có tình trạng như trên vừa xảy ra. Dần dà mọi người gọi tên tôi rất ư là dễ thương. Đến bây giờ nhớ lại những lời mẹ nói với tôi ngày nào, tôi hãnh diện vô cùng về cái tên mẹ đã cho tôi. Tôi thương mẹ vô cùng.

Cái đất nước Việt Nam khổ đau muôn chiều đã gắn liền với mẹ tôi như hình với bóng trong cuộc đời lưu lạc xứ người hơn một phần tư thế kỷ.

Một điều mà tôi có thể khẳng định rằng “dù hoàn cảnh có thể tách rời mẹ ra khỏi quê hương, nhưng không có một hoàn cảnh nào tách rời quê hương ra khỏi tâm hồn mẹ được”.

Mẹ sống như chờ đợi, như mong mỏi một điều gì sẽ đến. Có lần tôi bắt gặp mẹ ngồi một mình trong đêm, tay mân mê, vuốt ve bức ảnh bán thân của bố tôi. Mẹ vẫn nuôi hy vọng Bố còn sống và sẽ có lần gia đình tôi lại đoàn tụ như xưa. Nhưng định mệnh đã an bài. Sau khi nhờ một người bạn làm ở Usaid đưa mẹ con tôi di tản, Bố hứa Bố sẽ gặp lại mẹ sau.

Trong lúc dầu sôi lửa bỏng Bố bảo sao, mẹ nghe vậy. Một mình mẹ bụng mang dạ chửa mẹ đã lên phi cơ, theo đoàn người di tản và mong có ngày gặp lại Bố.

Nhưng niềm hy vọng đó đã vơi dần theo năm tháng cho đến một ngày mẹ được tin Bố đã nằm xuống nơi trại cải tạo.

Mẹ như điên loạn.
Rồi mẹ tỉnh lại.
Mẹ biếng cười, biếng nói.
Cuộc sống của Mẹ đã thầm lặng bây giờ càng thầm lặng hơn xưa.

Ngoài giờ ở sở, về nhà cơm nước xong, trò chuyện với tôi đôi lát rồi Mẹ vào phòng. Cái khoảng đời quá khứ ngày xưa. Những kỷ niệm ngọc ngà ngày nào của Bố và Mẹ như chút dấu yêu còn sót lại. Thời gian không làm nhạt nhòa mà ở Mẹ không một hình ảnh nào mà Mẹ không nhớ.

Mỗi lần nhắc tới Bố, Mẹ như trẻ lại. Mắt Mẹ long lanh ngời sáng. Mẹ kể cho tôi nghe chuyện tình của cô sinh viên Văn Khoa với chàng thủy thủ Hải Quân.

Tôi thuộc nhiều bài hát Việt Nam lắm nên tôi ghẹo Mẹ “Mẹ và Bố giống em hậu phương còn anh nơi tiền tuyến quá”. Ngoài tình mẹ con ra, tôi như một người bạn nhỏ để Mẹ tâm sự, để Mẹ trang trải nỗi niềm nào là “con biết không Bố hào hoa và đẹp trai lắm”… v.v… và v..v…

Tôi nịnh Mẹ:
– Bố không đẹp trai làm sao cua được Mẹ.

Mẹ cười thật dễ thương. 

Một điều mà tôi biết chắc chắn rằng không ai có thể thay thế hình bóng Bố tôi trong tim Mẹ.

Tôi không ích kỷ, song điều đó làm tôi yên tâm hơn. Tôi muốn cùng Mẹ nâng niu, giữ gìn những kỷ niệm dấu yêu, ngọc ngà của Mẹ và Bố cho đến suốt cuộc đời.

Hôm nay nhân ngày giỗ lần thứ 44 của Bố. Con muốn thưa với Bố một điều. Con cám ơn Bố Mẹ đã tạo cho con nên hình, nên vóc. Dù chưa một lần gặp mặt Bố. Dù bây giờ Bố đã nằm xuống. Bố đã đi thật xa, không có lần trở lại với Mẹ, với con. Song với con Bố vẫn là một hiện hữu bên con từng giờ, từng phút.

Con nghĩ Bố đã che chở Mẹ con con hơn một phần tư thế kỷ nay. Xin Bố hãy giữ gìn, che chở Mẹ, con trong suốt quãng đời còn lại. Con mong làm sao ngày nào đất nước thật sự thanh bình Mẹ sẽ đưa con trở về thăm lại quê hương. Con sông xưa sẽ trở về bờ bến cũ. Ngày ấy ở một phía trời nào đó của quê hương con thấy bố mỉm cười và Bố nói với con: “Bố sung sướng lắm, con biết không? Con yêu dấu!”

Hoàng Thị Tố Lang

Hits: 10

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Vọng Tiếng Kinh Xưa

Ta ngỡ hồn ta những miếu đền 

Từ trong vạn cổ kiếp không tên

Vẳng nghe như tiếng ngàn xưa gọi

Tâm thức trở mình sau lãng quên.

 

Chung bước ta về nơi cõi Tâm

Giữa vùng Thạch động chốn nghiêm thâm

Dập đầu phủ phục bàn chân Phật

Mà nghe rơi rụng những mê lầm.

 

.. Dòng thời gian chảy ngang trần thế

Muôn sự chìm trong lẽ Sắc, Không

Tiền nhân nay biết tìm đâu nữa

Bài Kinh vách đá đã rêu phong.

 

Ta trở về thăm chốn tịch liêu

Ôi đời thanh thản biết bao nhiêu!

Bôn ba vạn kiếp nơi trần mộng

Sao bằng khoảnh khắc sống tiêu diêu…

 

Ta ngỡ hồn ta những mái chùa

Sau làn sương phủ kiếp hoang sơ,

Ta về gióng lại hồi chuông sớm

Một thoáng Thiền tâm.. chạm bến bờ.

 

         Thích Tánh Tuệ (Ajanta India )

Hits: 19

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Bách bệnh sinh ra bởi khí và được chấm dứt bởi âm nhạc

Âm nhạc là một loại giai điệu, một loại ngôn ngữ và còn được ví là một loại tâm tình. Hết thảy những sung sướng, bi ai, u buồn, hài hước hay phẫn nộ… của con người đều có thể dùng nó mà bày tỏ ra. Sức hấp dẫn mạnh mẽ của nó là có thể chạm được đến tâm linh con người.

Âm nhạc có thể kích thích thần kinh con người, khiến con người bị lay động. Nó cũng được ví như là một phương thuốc rót vào tâm linh con người. Sở dĩ âm nhạc có những tác dụng ấy là bởi vì nó dùng một loại hình thức độc đáo để phản ánh bản chất của vũ trụ, phản ánh trạng thái tâm linh của con người. Nó ảnh hưởng đến tinh thần và thể xác của con người một cách rộng khắp, thâm sâu và tương đối trọn vẹn.

Âm nhạc có sức mạnh giáo hóa và chính lại đạo đức con người

Chính bởi vì âm nhạc là có tác dụng dưỡng sinh độc đáo, cho nên, cổ nhân dùng nó để dưỡng tâm và trị bệnh. Chúng được gọi chung là “Liệu pháp âm nhạc”, cũng gọi là “Âm nhạc dưỡng sinh” hoặc “Âm nhạc chữa bệnh”.

“Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”

Câu “Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu” trong “Kinh Dịch” đã nói rõ về lịch sử lâu đời của âm nhạc dưỡng sinh. Trong y học cổ đại và lịch sử đều có ghi chép rất sớm về các chuyên gia dùng âm nhạc trị liệu như thế nào.

Thời Xuân Thu, các danh y nhà Tần khi được Tấn Bình Công – vị vua thứ 30 nước Tấn cầu đến để trị bệnh đã trình bày và phân tích một cách sâu sắc về mối quan hệ giữa âm nhạc và sức khỏe. Trong các phân tích của họ đều chỉ ra rằng, âm nhạc tốt là có thể trị được khỏi bệnh.

Các bậc thánh hiền cổ xưa như Khổng Tử, Trang Tử, Tuân Tử, Hàn Tử cũng đều có cách giải thích độc đáo của bản thân về tác dụng trị bệnh của nhạc. Theo Khổng Tử, nhạc cần phải lấy lễ tiết làm trọng.

Trang Tử khi trình bày và phân tích về nhạc, đã nói: “Vô thính chi dĩ nhĩ, nhi thính chi dĩ tâm; vô thính chi dĩ tâm, nhi thính chi dĩ khí”. Ý nói rằng, đừng nghe bằng tai mà nghe bằng tâm, đừng nghe bằng tâm mà nghe bằng khí. Tuân Tử cũng đề xướng việc dùng lễ và âm nhạc để trị nhân, trị quốc.

Âm nhạc có sức mạnh giáo hóa và chính lại đạo đức con người

Đến triều đại nhà Đường, Tống, âm nhạc phồn vinh, thịnh vượng chưa từng có. Tác dụng dưỡng sinh và trị bệnh của âm nhạc được người người biết đến. Thời này, việc ứng dụng âm nhạc vào trị bệnh được sử dụng rộng khắp và có hiệu quả to lớn.

Thi nhân vĩ đại Bạch Cư Dị (772 – 846), người am hiểu sâu về âm nhạc, từng làm rất nhiều thơ về âm nhạc dưỡng sinh. Trong “Hảo thính cầm”, ông viết:

Bổn tính hảo ti đồng
Tâm ky văn tức không
Nhất thanh lai nhĩ lí
Vạn sự li tâm trung
Thanh sướng kham tiêu tật
Điềm hòa hảo dưỡng mông
Vưu nghi thính ‘ tam nhạc ’
An úy bạch đầu ông.

Những câu thơ này đều nhấn mạnh công năng điều tiết lòng người của nhạc.

Đại văn hào Âu Dương Tu (1007 -1072) thời Bắc Tống cũng viết trong “Âu Dương văn trung công tập” rằng: Ông từng cảm thấy rất đau buồn vì việc chính sự, khiến cho thân thể gầy yếu. Sau một thời gian dài uống thuốc mà không có hiệu quả. Lúc ấy, bạn của Âu Dương Tu là Tôn Đạo Tư đã dùng âm nhạc trị được bệnh này cho Âu Dương Tu. Âu Dương Tu tràn đầy cảm xúc mà thốt lên rằng: “Dùng thuốc trị bệnh không bằng dùng âm nhạc trị bệnh”. Đây là một ví dụ điển hình về dùng âm nhạc chữa bệnh trong lịch sử.

Trương Tử Hòa (1151~1231), một trong những danh y nổi tiếng nhất thời nhà Kim rất giỏi về dùng âm nhạc để chữa bệnh. Ông đề xướng việc học tập nhạc khí. Ông cũng đề cao việc con người nên rèn luyện âm nhạc để làm tan biến đi nỗi thống khổ về bệnh tật của con người.

Đến thời nhà Minh Thanh, liệu pháp âm nhạc được tiến thêm một bước phát triển. Nhận thức và nghiên cứu cơ chế dùng nhạc để chữa bệnh được tiến thêm một bước. Nghiên cứu dùng âm nhạc trị bệnh của Trương Cảnh Nhạc (1563-1640) thời Minh được xem là thâm hậu hơn cả và liệu pháp dùng âm nhạc chữa bệnh của ông cũng đầy đủ và được sùng bái hơn.

Trong cuốn “Loại kinh phụ dực”, Trương Cảnh Nhạc có nguyên một chương tiến hành phân tích và trình bày liệu pháp âm nhạc, lấy tên là “Luật nguyên”. Trong phân tích ấy, ông nêu nhận định: “Âm nhạc có thể tương thông với Trời Đất mà hợp với Thần linh.” Thời nhà Minh, Cung Cư Trung đưa ra nhận định âm nhạc có thể bồi dưỡng tính cách con người.

Ngô Sư Cơ, danh gia thời nhà Thanh đặc biệt coi trọng tác dụng của liệu pháp âm nhạc trong trị bệnh. Trong cuốn “Lý luận biền văn”, ông viết: “Thất tình chi vi bệnh dã, khán hoa giải muộn, thính khúc tiêu sầu, hữu thắng vu phục dược giả hĩ”. Nghĩa là, thất tình (hỉ, nộ, ai, cụ, ái, ố, dục) của con người có thể được giải bởi âm nhạc, nó có tác dụng lớn hơn thuốc. Trong sách “Y thông kim giám” thời nhà Thanh miêu tả lại cơ chế chữa bệnh của ngũ âm trong âm nhạc.

Học thuyết âm dương và âm nhạc dưỡng sinh

Học thuyết âm dương là tư tưởng triết học thời trung cổ, nó là xuyên suốt hệ thống y học. Âm dương cân bằng là cơ sở để thể xác và tinh thần khỏe mạnh.

“Thái bình kinh” thời Đông Hán vận dụng học thuyết âm dương để giải thích ý nghĩa dưỡng sinh của nhạc. Nó cho rằng, quá trình phát triển của âm nhạc là thuận theo quy luật âm dương tương sinh, động tĩnh tương ứng của vạn vật trong vũ trụ.

Sức mạnh hàn gắn thân tâm diệu kỳ của âm nhạc cổ

Về lý âm dương đối với âm nhạc, cổ nhân giải thích rằng: Cao là dương, thấp là âm, âm điệu lớn là dương, âm điệu nhỏ là âm, mạnh là dương, yếu là âm, cứng là dương, mềm là âm, tiếng của kim loại là dương, tiếng của gỗ là âm…

Âm nhạc dưỡng sinh chính là sử dụng thuộc tính âm dương trong âm nhạc để uốn nắn lại những gì bị thiên lệch, bị mất cân bằng. Từ đó mà điều hòa âm dương, khiến cho âm dương cân bằng.

Ví như, đối với người bị lạnh (thiếu dương) thì cần phải sử dụng cách “ôn dương tán hàn” (tăng âm, giảm lạnh) để điều chỉnh. Đối với những người như vậy, người ta lựa chọn loại âm nhạc sinh động, vui tươi, hưng phấn, cảm xúc mạnh mẽ để cho người bệnh thưởng thức…

Ngũ hành và âm nhạc dưỡng sinh

Trong cuốn “Tố Vấn. Âm dương ứng tượng đại luận” nhận định rằng ngũ âm trong nhạc và Trời, Đất, Thân thể, tâm là có mối quan hệ khăng khít với nhau. Người ta đem ngũ âm (năm bậc âm giai cổ: cung, thương, giốc, chuỷ, vũ, ) phân thành ngũ hành là (mộc, hỏa, thổ, kim và thủy). Vì thế mà ngũ âm cùng với ngũ tạng cũng là tương thông với nhau. Học thuyết “Ngũ tạng đồng âm” chính là nói ngũ âm phù hợp tương ứng với ngũ tạng. Cụ thể là, cung thanh nhập (đi vào) tỳ, thương âm nhập phổi, giốc thanh nhập gan, chủy thanh nhập tim, vũ thanh nhập thận.

 

Sức mạnh hàn gắn thân tâm diệu kỳ của âm nhạc cổ
Thang âm ngũ cung tương ứng với ngũ tạng (Ảnh: Internet)

Cung thanh được xếp hạng thuộc loại cao, có liên hệ với thổ, và ảnh hưởng đến bộ phận tỳ. Những người thường xuyên nghe loại nhạc lấy cung thanh làm chủ thì sẽ trở nên tốt bụng và khoan dung.

Âm điệu của dây thương là nặng nề, giống kim khí, không bị bẻ cong. Loại âm nhạc này ảnh hưởng đến phổi. Nếu nghe thường xuyên thì người ta sẽ trở nên chính trực và thân thiện.

Âm nhạc lấy căn bản là dây giốc thì chào mừng mùa xuân tới và đánh thức mọi đời sống trỗi dậy sảng khoái. Loại nhạc này ảnh hưởng tới gan. Nghe nó thì người ta sẽ trở nên lương thiện và hòa giải.

Âm nhạc với dây chủy làm chủ là rất sôi nổi về tình cảm, giống như hỏa. Nó ảnh hưởng đến tim, khiến cho người nghe nó trở nên rộng lượng.

Âm điệu lấy dây vũ làm chủ là u sầu, giống như nước chảy êm đềm. Nó ảnh hưởng đến thận. Lắng nghe những âm điệu này làm cho người ta cảm thấy đầu óc nhẹ nhàng, “buồn nhưng không đau khổ”, “vừa ý nhưng không quá mức”.

Bởi vậy, cổ nhân căn cứ vào từng loại chứng bệnh, căn cứ vào học thuyết ngũ hành mà lựa chọn loại âm nhạc thích hợp để đạt được hiệu quả dưỡng sinh tốt nhất.

Thất tình và âm nhạc dưỡng sinh

Trong “Tố Vấn. Âm dương ứng tượng đại luận” viết: “Con người có ngũ tạng, tương ứng sinh ra ngũ khí là hỷ, giận, bi, ưu, sợ”.

Trong đó cũng viết: “Bách bệnh sinh vu khí, nộ tắc khí thượng, hỉ tắc khí hoãn, bi tắc khí tiêu, khủng tắc khí hạ, kinh tắc khí loạn, tư tắc khí kết”. Nghĩa là bách bệnh của con người đều sinh ra bởi khí, phẫn nộ thì khí mạnh, vui thì khí chậm, đau buồn thì khí tiêu tan, sợ thì khí hạ thấp, kinh hãi thì khí loạn. “Hỷ, nộ, ưu, tư, bi, khủng, kinh” được coi là thất tình của con người. Âm nhạc thích hợp có thể dung hợp và làm biến đổi trạng thái tinh thần của con người.

Danh y Trương Tử Hòa, thời nhà Kim từng có rất nhiều kiến giải, như: “Lấy bi trị nộ”, tức là khi người ta phẫn nộ, có thể nghe loại âm nhạc có hàm chứa cảm xúc, thương tiếc, xót xa để chế ngự. “Lấy hỷ trị bi”, tức là dùng nhạc vui vẻ, hài hước để xua tan tâm trạng bi thương. “Lấy khủng trị hỷ“, tức là dùng nhạc mang tính răn đe để khắc chế sự vui mừng quá mức của con người…

âm nhạc
(Hình minh họa)

Cổ ngữ có câu: “Bách bệnh sinh vu khí nhi chỉ vu âm”, ý là bách bệnh của con người sinh ra bởi sự mất cân bằng về khí và được chấm dứt nhờ âm nhạc. Câu nói ngắn gọn này đã nói hết tác dụng to lớn của âm nhạc trong việc trị bệnh con người. Các cổ nhân đều dùng phương pháp này để tiêu trừ bệnh tật của mình.

Ngày nay, liệu pháp âm nhạc không chỉ được dùng trong các lĩnh vực truyền thống, như để giảm bớt áp lực tinh thần, chống lại sự lo âu muộn phiền, trị mất ngủ… Mà âm nhạc còn được kết hợp với quang điện, châm cứu, xoa bóp để trị các chứng bệnh nặng khác.

Đối với sức khỏe con người hiện đại ngày nay mà nói, bệnh tật là có rất nhiều nguyên nhân khác nhau làm khởi phát. Có thể hiểu biết, lựa chọn loại nhạc “thanh tao, đức độ” để điều tiết cảm xúc là một lựa chọn thông minh trong việc bảo vệ sức khỏe của bản thân và gia đình.

An Hòa 

Hits: 23

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Cơn Bão Ngoài Trời, Cơn Bão Trong Lòng

Tác giả lần đầu dự Viết Về Nước Mỹ 2018. Bà cho biết: Tên thật là Ngô Phương Liên,  học Trưng Vương thời trung học, vượt biển qua Mỹ năm 79. Đi học lại gần  6 năm mới ra trường với bằng BS engineer năm 85. Hiện là cư dân ở Lafayette, Louisiana, còn vài năm nữa sẽ … ăn tiền gìa. Bút hiệu Pha Lê, theo chú giải vui của tác giả, không phải là trong veo như Pha Lê, mà là… Pha trò và Lê la! Sau đây là bài viết thứ tư của bà.

                                           ******************************

  Ông John nhìn sững trên màn ảnh TV, hớp nốt ngụm beer còn lại, ông bóp nát lon beer trong tay và bực dọc ném mạnh vào thùng rác nơi góc bếp. Cơn bão Harvey bất ngờ đổ ập đến làm hỏng hết dự tính ông đã sắp đặt suốt 3 tháng trời.

Để tiến hành dự tính này, ông John đã phải tìm kiếm những dữ kiện, chỉ dẫn trên internet, nhưng ông phải vào thư viện, vào những quán cà phê để sử dụng máy computer của họ vì ông không thể dùng máy của ông được. Ngay cả cuộn dây thừng, tấm bạt nylon, cuộn băng keo, ông cũng phải lái xe ra khỏi thành phố, đến nhưng tiệm hardware nhỏ của địa phương  để mua. Đặc biệt đôi găng tay, ông đã phải đi ba bốn tiệm  mới tìm đươc một đôi vừa  ý.

Nhưng John dự tính gì mà cần chuẩn bị quá kỹ lưỡng đến vậy? Ông phải tính toán, hoạch định từng chi tiết nhỏ để sẽ không có một sơ hở, một lỗi lầm nào trong lúc ông thực hiện công việc này, bởi chỉ một chút sơ sẩy, cái giá ông phải trả chính là mạng sống của ông! Đúng vậy, bởi vì ông ta đang âm mưu “giết vợ!” 
 Ông John, một người Mỹ gốc Ái Nhĩ Lan trên 60 tuổi, là một tài xế lái xe truck xuyên bang. Ông đã thất nghiệp hơn nửa năm nay. Hai vợ chồng ông lấy nhau hơn 30 năm,  bà John làm quản thủ thư viện của thành phố hơn 20 năm. Ccó lẽ vì công việc ở thư viện ngồi nhiều hơn phải đi nên bà John thuộc hạng người “ăn gì to lớn đẫy đà làm sao”, nhưng bà rất hiền lành, bình dị và nói cho cùng, vóc dáng của bà cũng vẫn tương xứng với  thân hình hộ pháp của ông, 6ft 9 và nặng  hơn 250lb!

John còn nhớ cách đây hơn 4 tháng, khi ông mới thất nghiệp, trong một lần trà dư tửu hậu, một ông bạn già vợ vừa mất, bạn bè ngỏ lời chia buồn, nhưng ông ta  chỉ cười cười vì ông vừa “ẵm” gần 250 ngàn đô tiền bảo hiểm nhân thọ cùa bà vợ quá cố. Câu chuyện đó đã ám ảnh ông John mãi.

Thật ra, dù không còn yêu vợ, ông John chẳng bao giờ dám có ý nghĩ đen tối như vậy, nhưng thất nghiệp, ngày ngày đi ra  đi vào,  cuộc sống ông John dần dần đi đến chỗ bế tắc. Nợ nhà, nợ xe, nợ thẻ tín dụng, đủ thứ nợ dồn dập mỗi tháng khiến ông muốn ngộp thở, đã thế, lâu lâu lại nghe tin ông bạn vợ vừa mất nay đi du lịch nước này, mai đi thưởng ngoạn  bãi biển kia khiến ông John càng nôn nóng, và ông quyết định phải thanh toán bà vợ hơn 30 năm đầu ấp tay gối này!

Ông bắt đầu suy tính kế hoạch, ông nhớ nhiều lần coi những phim cảnh sát điều tra tội ác, người đàn ông giết vợ mà tỉnh bơ đi mua sắm những vật dụng cần thiết cho âm mưu đen tối của mình tại một cửa tiệm gần nhà, xài thẻ tín dụng, lại còn cà kê dê ngỗng một hồi với người bán hàng. Khi bị bắt, hình ảnh ông ta trên camera của tiệm hiện ra rõ mồn một, hết đường chạy tội!

Có bà thuốc cho chồng chết và khai người chồng bị ngộ độc, khi bị điều tra, cảnh sát tìm ra trên computer của bà, bà đã  nghiên cứu tìm tòi trên internet các loại độc dược, cách sử dụng, công hiệu v.v…, hết cách chối tội!  Toàn những bộ óc kém thông minh, lạy ông tôi ở bụi này, ông John thầm nghĩ.

Cho nên ông đã phác họa một phương án vô cùng toàn hảo cho âm mưu của ông. Đôi găng tay ông sẽ xiết cổ bà vợ, gói bà vào tấm bạt nylon, cột thật chặt bằng hai cuộn dây thừng, mang xác bà tới một khu rừng vắng và với 10 gallons xăng, ông sẽ đốt và phi tang xác bà một cách dễ dàng.

Ông đã cẩn thận cất dấu  tất cả những “vật liệu” này trên căn gác  của nhà kho sau vườn. Một điều thuận lợi hơn nữa là nhà ông nằm cuối cùng của khu phố, bên trái là  một khoảng đất trống, còn người hàng xóm bên phải là hai vợ chồng già VN trên 80 tuổi,  ông bà Phan, họ sống rất khép kín. Cho nên ông John rất yên tâm không ai có thể nhận ra sự vắng mặt của vợ ông.

 Nhưng người tính không bằng trời tính! Nhiều lần ông đã định ra tay, nhưng cứ trật vuột hoài, có lúc thì bà John lái xe về thăm cha mẹ ở thành phố khác cả tuần, khi thì chị ông ghé qua thăm  rồi ở chơi vài ngày, và lần này còn thê thảm hơn, mưa gió bão bùng lụt lội như thế này, làm sao ông vô rừng “đốt” được cái xác!

Ông John ngồi thừ người suy nghĩ, trên TV dự  báo thời tiết cơn bão sẽ tiến vào đất liền nội trong ngày mai. Quá mệt mỏi, ông John ngả người trên sofa và chìm vào giấc ngủ một cách khó nhọc.

Tiếng sấm và làn chớp sáng lòa ngoài cửa sổ khiến ông John giật mình bừng tỉnh. Ông ngơ ngác vài giây, căn nhà tối đen vì cúp điện, chỉ có một ngọn nến leo lét trong nhà bếp. Với tay cầm chiếc cell phone lên, ông giật mình vì đã hơn 3 giờ sáng. Ngoài trời gió bắt đầu mạnh hơn,và mưa cũng đang rơi xối xả. Đặt chân xuống đất, ông  John hốt hoảng vì ông vừa dẵm lên phần thảm ướt nhẹp,  trong nhà ông, nước đã ngập ngang qua bực thềm của lò sưởi. Tiếng bà John cất lên sau lưng khiến ông John giật bắn mình:

– Nhà mình nước ngập như thế này, nhà ông bà Phan chắc còn tệ hơn, tôi nhìn sang thấy tối thui.

Ông John bực mình ngắt lời bà:

– Cúp điện, bà không thấy sao,nhà nào mà chẳng tối.

Giọng bà John bỗng trở nên khẩn khoản :

– Ngày mai ông thử chạy sang xem sao, tội hai vợ chồng già, con cái lại ở xa.

– Ừ, để mai rồi tính!

 Ông John hứa đại với bà cho xong chứ chính bản thân  ông cũng chưa biết ngày mai sẽ ra sao.

Hôm sau, tiếng bà John  cùng cái lay nhẹ trên vai khiến ông John bừng tỉnh, đã gần 9 giờ sáng mà bầu trời vẫn xám xịt và cơn mưa mỗi lúc càng nặng hạt hơn. Nhớ tới đôi vợ chồng già hàng xóm bên cạnh, ông John tất tả bước ra ngoài, mực nước bây giờ đã dâng ngang đầu gối ông. Biết không thể nào vào nhà bằng cửa trước được, ông John đành phải phá cửa sổ  vừa trèo vào,vừa lớn tiếng kêu gọi ông Phan, từ trong phòng ngủ một giọng nói yếu ớt vang lên  : 

– Chúng tôi ở trong phòng ngủ, cái phòng cuối cùng.

Cố lội nhanh về hướng đó, và khi ánh đèn pin rọi vào góc phòng, một hình ảnh khiến ông John sững người cảm động, trên chiếc giường, ông Phan đang ngồi ôm vợ. mặt bà Phan xám ngắt và đôi mắt bà vẫn nhắm nghiền, nhìn thấy ông John, ông Phan mừng rỡ nói :

– Lạy Chúa tôi, cám ơn ông đã đến, suốt đêm qua tôi cứ phải luôn trấn an vợ tôi, tôi chỉ lo bà ấy sợ quá rồi ngất xỉu thì thật tôi không biết phải làm sao. Có cái cell phone thì tôi lại đánh rơi xuống nước, giờ không gọi được nữa.

 Rồi ông Phan quay sang nhìn bà vợ với ánh mắt thương yêu, ông dịu dàng nói:

– Có tôi đây, bà không phải lo gì hết.

 Chợt chuông điện thoại của ông John réo vang, nhìn qua số phone, ông John mừng rỡ vì đó là  mục sư William. Ông mục sư cho biết hội trường nhà thờ xây trên một khu đất cao, chắc chắn sẽ không bị lụt, ông muốn tất cả giáo dân nếu chưa kịp di tản, hãy đến trú ngụ tạm tại nơi đây cho qua cơn bão táp. Ông John vắn tắt nói ý đó với ông Phan và dặn ông bà hãy sửa soạn một ít quần áo và vật dụng cá nhân, ông sẽ quay lại.

 Lội bì bõm qua mảnh sân để về nhà, từ xa ông đã nhìn thấy bóng bà John đang đứng lo lắng nhìn về cuối đường. Bước vào nhà, ông nhắc lại ý của mục sư Wiliam và thúc dục bà mau thu xếp ít đồ dùng cá nhân để kịp tới hội trường nhà thờ trước khi cơn bão trở nên  dữ dằn hơn. Nhìn bà lật đật, lúng túng thu dọn, lòng  ông John  chợt xốn xang, và ông cảm thấy  bà rất đáng thương, ông buột miệng lập lại câu nói của ông Phan ;

– Có tôi đây, bà không phải lo gì hết!

Hơi ngạc nhiên từ  câu nói nhẹ nhàng hiếm có của chồng, nhưng bà John chỉ khẽ mỉm cười. Ông John cũng chợt nhớ ra suốt 2 ngày nay, ông đã gần như quên cả ý định đưa bà sang bên kia thế giới!

*
Bây giờ thì mọi người đã tề tựu trong hội trường của nhà thờ. Có tất cả 38 người. Mục sư William chào mừng và cầu chúc mọi người được bình an qua cơn bão táp phong ba này. Rồi ông buồn bã lo lắng nói:

– Vì không chuẩn bị trước nên chúng ta chỉ có đủ xăng  chạy máy phát điện đến 2 giờ đêm, sau đó chúng ta chỉ còn đèn cầy mà thôi, và với tình trạng này, chẳng có một cây xăng nào mở cửa.

 Bỗng một giọng nói vang lên từ cuối hội trường:

– Tôi có xăng, tôi còn xăng dự trữ ở nhà.

Mọi người cùng quay lại và nhận ra đó là ông John. Mục sư William vui mừng nhưng ông vẫn dè dặt hỏi lại :

– Ông không cần giữ lại phần xăng đó để làm gì sao?

 – Thưa không, số xăng đó bây giờ tôi không cần đến nữa!

Ông John đưa Mục sư William về nhà kho của ông. Hai cậu trai tình nguyện viên của nhà thờ đang mò mẫm trên căn gác xép nơi ông John cất dấu thùng xăng, chợt một cậu lên tiếng: .

– Trời ơi có cả một cuộn dây thừng, tấm bạt nylon, 2 cuộn băng keo, tất cả đều còn mới nguyên trong bọc. Nhà thờ đang cần những thứ này, chúng tôi mang xuống hết được  không?

 Ông John choáng váng gần như á khẩu, mục Sư William vẫn kiên nhẫn đứng yên chờ đợi. Thở một hơi dài,ông John cố gắng nói,nhưng ông chợt cảm thấy tiếng nói của ông như từ một nơi xa xăm nào đó vọng lại:

– Thưa vâng, mang về nhà thờ đi. Tất cả mấy thứ này bây giờ không cần cho công việc của tôi nữa.

Nắm chặt đôi tay của ông John, mục sư William vừa ra dấu  biết ơn, vừa ngỏ ý:

– Nhưng công việc đó là công việc gì, ông có cần  chúng tôi giúp một tay không?

 Đến lúc này ông John không thể chịu đựng được nữa, ông cảm thấy nghẹt thở và tim ông đập những nhịp đập không bình thường, ông đành bước ra ngoài xe ngồi chờ mọi người.

Đêm hôm đó, nhờ số xăng của ông John, hội trường có đèn sáng suốt đêm. Tấm bạt nylon được dùng để che một góc sau hội trường cho các bà nấu nướng. Những cuộn dây thừng dùng để cột những nhánh cây to để khi gió thổi mạnh, chúng không  quật  ngược lại hội trường, có thể làm sập mái nhà.  Cuộn băng keo dùng để dán những cửa số bằng kính xung quanh hội trường.

 Bây giờ mọi người cảm thấy bình tĩnh và an tâm hơn sau khi mỗi người được một chén soup nóng. Không  gian trong hội trường thật êm ả, bình an dù bên ngoài cơn bão  cấp 3 đang tiến dần vào thành phố. Mục sư William ngỏ ý muốn cử hành một thánh lễ ngắn gọn vừa để tạ ơn Thiên Chúa, vừa cầu xin Người che chở cho mọi người trong những ngày mưa gió sắp tới.

Đứng trên bục  giảng, mục sư William thật cảm động khi nhìn xuống giáo dân đang thành tâm khấn nguyện. Các bà với khuôn mặt đầm đìa nước mắt, ngay cả những các ông đôi mắt cũng rưng rưng. Mục sư cũng nhắc nhở tên ông John nhiều lần vớùi lời tri ân trang trọng và thắm thiết.

Quỳ bên cạnh vợ, khuôn mặt ông John cũng ràn rụa nước mắt. Nhìn ông khóc, mọi người càng thương cảm và quý mến ông hơn. “Ông ta đúng là thiên thần hộ mệnh do Thiên Chúa sai xuống để giúp đỡ, che chở  cho chúng ta trong cơn hoạn nạn thương đau này, những giọt nước mắt kia thật quý giá,” một số người đã nghĩ như thế về ông.

Nhưng dĩ nhiên không một ai, kể cả mục sư William và ngay cả bà John đang quỳ bên cạnh, có thể hiểu rõ ý nghĩa thật sự của những giọt nước mắt đang lăn dài trên khuôn mặt ông John. Đó chính là những giọt lệ vừa ăn năn  thống hối, vừa vui mừng,  hạnh phúc vì ông đã không thực hiện âm mưu đen tối, không nhúng tay vào tội ác tày trời.

Đối với mọi người, cơn bão Harvey là sự tàn phá, mất mát, và đau thương, nhưng đối với riêng ông, cơn bão này đã giúp ông rời xa cái vực thẳm tội ác, biến đổi ông thành một con ngưới mới, biết yêu thương, tha thứ và quảng đại.

 Sau thánh lễ, dù trời đã khuya, và bên ngoài gió vẫn thổi phần phật lẫn  trong tiếng mưa xối xả, nhưng mọi người quây quần thành từng nhóm. Ông John cố tránh tiếp xúc với mọi người vì ông thật khổ sở với những câu cám ơn, những cái xiết tay, những ánh mắt ngưỡng mộ.

Bước về phía cuối phòng, ông John  ngồi xuống cạnh những ông bạn già. Một ông đang kể về những trận bão, giọng ông thật hài hước:

– Cơn bão Harvey này là tên đàn ông nên không đáng lo ngại lắm. Cơn bão tên đàn bà mới là cả một vấn đề, như bão Katrina năm nào, khi “nàng” lên cơn, sức tàn phá thật khủng khiếp, và khi ra đi, “nàng” cuốn theo hết cả sinh mạng lẫn nhà cửa, tài sản…

 Ông ngừng vài giây, chỉ vào ngực mình và nói tiếp :

– Như tôi đây, từng là nạn nhân của nàng Katrina, nay chỉ còn tay trắng mà thôi!

 Nói xong ông phá lên cười khoái trá. Ông John cũng muốn cười to vì tính cách khôi hài của câu chuyện, nhưng chỉ dám cười nho nhỏ vì ông không muốn ai biết ông đang ngồi đây.

Khẽ dựa lưng vào góc tường, ông John đưa mắt nhìn quanh. Nơi góc phòng, cạnh cửa sổ, ông bà Phan đang ngồi trên một tấm nệm mỏng trải tạm cho ông bà. Khuôn mặt bà Phan đã hồng hào và tươi tỉnh hơn trước. Với chiếc quạt giấy trên tay, bà khe khẽ quạt nhè nhẹ cho ông Phan.

Ngồi cạnh vơ, ông Phan chợt nhớ lại cảnh tượng hãi hùng đêm qua. Hơn 50 năm lấy nhau, trải qua bao tháng ngày cực khổ, nghèo đói nơi quê nhà. Trải ra bao  tủi nhục đắng cay nơi trại cải tạo, rồi thêm một cuộc vượt biên thập tử nhất sinh. Đã hết đâu, còn những năm tháng lao động cật lưc mưu sinh trên đất nước này để nuôi dạy đàn con 4 đứa. Bây giờ mọi việc đã xong xuôi, con cái ông bà đã trưởng thành, ông bà bắt đầu an hưởng tuổi già, chẳng lẽ ông bà lại chết vì trận bão “lãng xẹt” này hay sao! Ông Phan nói lại cho bà nghe ý nghĩ đó, bà chỉ nhìn ông móm mém cười đôn hậu. Nhìn nụ cười đó cùng với những sợi tóc bạc lơ thơ trên vầng trán già nua nhăn nheo của vợ, ông Phan xúc động  đọc cho bà vài câu trong bài thơ  “Tình  Già ” của Phan Khôi :

   Hai mươi bốn năm xưa, một đêm vừa gió lại vừa mưa
   Dưới ngọn đèn mờ, trong gian nhà nhỏ,
   Hai mái đầu xanh kề nhau than thở…

 Ông bỗng bật cười vì 3 chữ  “mái đầu xanh”, có lẽ phải đổi “mái đầu… grey” mới đúng!

 *
 Rồi cơn bão cũng đi qua. Mọi người lục đục sửa soạn trở về xem  lại nhà cửa. Ông bà Phan và vài gia đình được con cái hay người thân đón về tam trú tại nhà họ nơi các thành phố khác. Mục sư William đứng trước cửa hội trường bắt tay, chúc bình an cho từng người. Tới phiên ông John, với cái xiết tay thật chặt, mục sư William thành khẩn tri ân ông và nguyện xin ơn trên trả công bội hậu cho ông.

Suốt mấy ngày nay ông John đã  khổ sở  “bị ” nghe những câu nói như thế, không đủ can đảm đứng nghe thêm , ông vội vã cáo từ mục sư và cùng vợ hối hả bước ra xe.

 Ngồi trên xe truck lái về nhà, chung quanh ông cảnh tượng thật hoang tàng đổ nát. Bà John ngồi im lìm nhưng trên khuôn mặt bà hiện lên nhiều nét đau thương, rồi bỗng bà nói:

– Nhà cửa, xe cộ, tài sản mất hết thì vẫn còn có thể kiếm lại được, nhưng không biết trong những ngôi nhà kia, gia đình có còn đầy đủ mọi người hay không, cơn bão Harvey này thật tàn khốc !

 Ông John khẽ liếc nhìn vợ, ông cảm thông những điều bà vừa nói, nhưng bà làm sao biết được mấy ngày vừa qua, chính ông cũng bị một cơn bão, mạnh gấp trăm lần cơn bão ngoài trời kia, “quậy” phá khiến ông xơ xác tiều tụy. Đó chính là cơn bão trong lòng ông!

Đẩy cửa bước vào nhà, dù đã đoán trước cảnh tượng sẽ rất tiêu điều, ông bà John cũng dội ngược vì mùi ẩm mốc bay lên. Nhìn vợ ngẩn ngơ trước những đổ vỡ, mất mát, ông John dặn vợ đừng đụng vào đồ vật trong nhà, rồi ông đẩy cửa bước ra sau nhà.

Bên ngoài cây cối ngã rạp, hàng rào nghiêng đổ, bỗng chân ông vấp phải một vật gì, nhìn xuống, ông nhận ra đó là bình đựng xăng mà ông mua dư cho ” dự tính” của ông. Vẩn vơ suy nghĩ, chợt ông tìm ra được một điều khá lý thú, những thứ ông mua: xăng, cuộn dây thừng, tấm bạt nylon, cuộn băng keo với một mục đích kết liễu một mạng người, nhưng ngẫu nhiên nó lại được dùng để cứu giúp cho những người khác trong cơn  hoạn nạn, nguy khốn.

 Nhìn lên bầu trời xanh ngắt  lãng đãng những cụm mây trắng. ông John chợt ngộ ra một điều rằng trong cõi vũ trụ huyền vi vô thường kia, chắc chắn phải có một đấng tạo hóa tài năng vô song đã sắp xếp tất cả mọi chuyện xảy ra một cách tuần tự, lớp lang cho cõi trần gian ô trọc và đầy hệ lụy này! Dù xung quanh ông John cảnh tượng thật hoang tàng, đổ nát, nhưng lòng ông bỗng cảm thấy thật thanh thản, bình an.

 Bước vào nhà, ông John thấy vợ đang ngồi qua lưng về phía ông, chẳng lẽ bà đang nhặt lại những đồ vật không bị hư hỏng vì cơn bão hay sao, ông John tự hỏi, thay vì gắt gỏng như mọi khi, ông John chỉ nhẹ nhàng nói:

– Tôi đã dặn bà đừng đụng tay vào đồ vật trong nhà, những vi khuẩn mốc meo có thể sẽ làm bà bịnh đó.

 Bà  John quay lại mỉm cười nói:

– Tôi biết, nhưng tôi tìm được đôi găng tay còn mới nguyên trong bao, đôi bao tay thật dầy, lại có lớp cao su bên ngoài.

 Nói xong bà đưa hai tay lên, ông John nhìn thấy bà đang đeo đôi bao tay vàng mà vài tháng trước ông đã phải lặn lội đi khắp nhiều tiệm để tìm mua, ông choáng váng á khẩu. bà John lại nói tiếp:

– Mấy ngày ở hội trường nhà thờ, mấy bà cứ tấm tắc khen ông là người biết lo xa. Có bà còn đùa nói tôi thật có phước mới lấy được ông!

 Bây giờ thì ông John không chịu đựng được nữa, ông cảm thấy như có một bàn tay ai đang chẹn cổ khiến ông không thở nổi, nếu ông còn đứng đây nghe những lời thương yêu của vợ, chắc ông sẽ đứng tim mất thôi. Ông đành gật đầu và đẩy cửa bước vội ra sân.
Vì vợ chồng  ông là người Mỹ, chứ nếu là người Việt, biết đâu trong một giây phút cảm động  nào đó, bà sẽ  rưng rưng hát tặng ông câu hát từ bài ca một thời được ưa thích:
“…May mà có Ông, Đời còn dễ thương.”

Pha Lê

Hits: 16

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Tưởng Nhớ Người Khai Sinh Email

image.png
Đã vào thập niên thứ hai của thế kỷ 21, mỗi ngày có hàng tỷ Emails được gởi đi. Có những Emails chuyên về thương mại, công việc. Có những Emails vô thưởng vô phạt, không ảnh hưởng đến hòa bình thế giới, hay hạnh phúc cá nhân, nhưng người đọc mệt mỏi với loại thư điện tử này, nên thẳng tay đưa vào thùng rác (spam mails). Có cả những bức thư tình ngắn gọn thời “dot com” của những người đang yêu. Cả tỷ người trên thế giới thi nhau gõ keyboard, gởi, nhận thư điện tử mỗi ngày.
Có cả phim “You got mails” với tài diễn xuất tuyệt vời của Tom Hanks, và Meg Ryan đưa về một lợi nhuận khổng lồ cho Hollywood.
Không biết có ai trong cả tỷ người nghĩ đến người phát minh ra Emails? Chắc là ít ai nghĩ đến “cha đẻ” của Emails. Người kỹ sư điện tài ba, người sáng tạo ra Emails, và dấu @ vừa qua đời hôm thứ bảy, ngày 5 tháng 3 vì bệnh tim.
Thật ra, trước khi ông Ray Tomlinson khai sinh dấu hiệu @ vào năm 1970, người ta đã có thể gởi information qua lại cho nhau, nhưng chỉ gởi và nhận được nếu cùng sử dụng một máy computer. Không thể gởi data cho một người khác ở ngay phòng bên cạnh nếu người gởi và người nhận ở hai máy khác nhau,
Anh chàng kỹ sư trẻ, tự nhận mình là “a nerdy guy from MIT” (trường Đại học Massachusetts Institute of Technology lẫy lừng khắp thế giới đã đào tạo cho Mỹ nhiều nhà khoa học tài năng..) cặm cụi làm việc với niềm đam mê của một người “chỉ biết học thôi chả biết gì” (a nerd).
Ray tốt nghiệp cao học (master degree) về ngành Điện (Electrical Engineer) ở MIT năm 24 tuổi, sau khi đã có cử nhân (bachelor degree) ở Rensselaer Polytechnic Institute vào năm 1963. Thời sinh viên, ông đi thực tập ở IBM và đã làm cho các kỹ sư ở đó khâm phục trí thông minh, và khả năng làm việc của một anh chàng mới bước vào tuổi hai mươi, thiếu cả kinh nghiệm làm việc lẫn kinh nghiệm sống.
Ra trường, ông về làm việc cho Bolt Beranek and Newman((BBN), sau này được Công ty kỹ thuật Raytheon mua lại. Tomlinson làm ở đó như là một programmer giỏi, một nhà khoa học được tất cả mọi người kính trọng. Hơn nửa thế kỷ qua, vẫn ở cùng một công ty, với nhiều thay đổi, các nhà lãnh đạo, đến rồi đi, anh kỹ sư trẻ Ray Tonlinson, bước vào tuồi trung niên, roi bạc tóc, vẫn làm việc ở văn phòng quen thuộc của mình, vẫn yêu những con số, những project khoa học cho đến lúc ông qua đởi vì bệnh tim vào ngày thứ bảy 5 tháng 3 năm 2016.
 
Ray thời 1970, khi khai sinh mạng lưới email toàn cầu. 
 
Vào năm 1970, ở tuổi 29, anh kỹ sư trẻ Ray Tomlinson phải làm việc cùng lúc ở hai computer khác nhau, data không thể gởi từ máy này qua máy kia. Ngoài phận sự của mình, Ray dành thì giờ nghiên cứu cách gởi data từ các máy khác nhau. Anh dùng tên mình Ray ở máy 1 gởi cho Ray ở máy 2. Để đơn giản hóa, thay vì dùng chữ “at”, Ray dùng ký hiệu @, có sẵn trên bàn phím. Và việc gửi email từ máy này tới máy kia thành công. Chính từ đây, mạng lưới email giữa người này với người khác (Person to person netward email) ra đời và ký hiệu user@host trở thành mẫu ghi phổ thông cho cách ghi địa chỉ email toàn cầu hiện nay.
Khi tự gởi email cho mình (ở hai máy khác nhau) thành công, Tomlinson chia sẻ với một kỹ sư đồng nghiệp khác. Người này vui mừng, định báo tin cho cấp lãnh đạo. Vốn khiêm nhường như bao nhiêu người có tài khác, Ray ngăn lại “Đừng nói cho ai hết, thật ra đây cũng không phải là việc mà mình phải làm”. Nhưng phát minh đó quá tiện lợi, nên “tiếng lành đồn xa”, Ray Tomlinson được cấp bằng sáng chế, và là một trong những người quan trọng phát minh ra Emails.
Ông cũng nhận được nhiều giải thưởng khoa học có giá trị về các nghiên cứu khoa học từ năm 2000 đến năm 2012. Riêng trong giới programmer về Internet, ông được coi là một trong những nhà phát minh tài năng.
Sau đó, dù luôn khiêm nhường và thầm lặng, ông nổi tiếng trong giới khoa học, được MIT xếp thứ 4 trong danh sách 150 cựu sinh viên tốt nghiệp MIT là những nhà phát minh có đóng góp quan trọng nhất cho khoa học.
Ông được mời đi nói chuyện ở các hội nghị khoa học, là một tên tuổi được kính trọng trong giới high tech, được các sinh viên trẻ coi như một thần tượng.
Dù vậy, nhà khoa học vẫn sống lặng lẽ với tình yêu khoa học, và trang trại nuôi một loại cừu nhỏ ở ngoại ô New York. Ngoài công việc, ông có niềm vui “ta dại ta tìm nơi vắng vẻ” với thiên nhiên vả bầy cừu nhỏ của mình. Cả cuộc đời ông gắn liền với tiểu bang New York, nơi ông sinh ra, lớn lên, đi học, làm việc, và qua đời.
Xin viết lại bài này với lòng ngưỡng mộ, và biết ơn người phát minh ra “@”, giúp Emails phát triển hoàn thiện như hôm nay.
Và xin được nhắc nhở mọi người nhớ đến Ray Tomlison, người góp phần quan trọng trong việc đưa Emails đến cả tỷ người ở khắp nơi trên thế giới.
*Raymond Samuel Tomlinson sinh tại Amtersdam, NewYork, ngày 23 tháng Tư năm 1941. Khi đột ngột từ trần vị bị kích tim vào ngày March 5, 2016, chỉ còn đúng 4 tuần nữa là Ray sẽ mừng sinh nhật thứ 75.
Tháng Ba, tháng Tư là ngày giỗ, ngày sinh của ông. Khi mở Emails, xin hãy góp phần cầu nguyện cho Ray Tonlinson, mong ông an vui bình yên ở một nơi không còn cần Emails, không cần bất cứ một điều gì ngoài sự nhẹ nhàng, thanh thoát.
 
 
Nguyễn Trần Diệu Hương
 
 
===
Cha đẻ của thư điện tử và ký hiệu @ đã qua đời ở tuổi 74
Ray Tomlinson, một huyền thoại trong ngành điện toán, cha đẻ của thư điện tử (email) và ký hiệu “@” đã qua đời hôm thứ Bảy (5/3) sau một cơn đau tim đột ngột, ở tuổi 74.
Năm 1971, Tomlinson đã gửi đi bức thư điện tử đầu tiên khi ông đang làm việc cho hãng chuyên nghiên cứu phát triển các chương trình làm việc trong môi trường Internet, Bolt, Beranek and Newman (BBN) ở Boston. BBN ở thời điểm đó là nhà thầu dự án mạng dữ liệu Internet đầu tiên có tên gọi ARPANET của Bộ Quốc phòng Mỹ. Và với tư cách là một nhân viên của BBN, Tomlinson đã được giao nhiệm vụ tìm ra những vấn đề có thể xử lý trên mạng ARPANET.
Trước Tomlinson, đã có những nhà khoa học nghĩ tới việc truyền tin nhắn cho người khác qua mạng Internet hay chia sẻ các đoạn ghi chú qua một chiếc máy tính, nhưng tất cả chỉ trở nên khác biệt khi Tomlinson sáng tạo ra lệnh SNDMGS. Với lệnh SNDMGS, Tomlinson đã lần đầu tiên gửi được một tập tin thư điện tử qua mạng Internet tới một máy tính khác với địa chỉ thư tomlinson@bbntenexa. Đây cũng là chương trình gửi tin nhắn qua mạng đầu tiên.
Tomlinson được biết đến nhiều nhất khi ông lựa chọn biểu tượng @ để chỉ một tin nhắn sẽ được gửi đến một máy tính khác trên mạng. Ông cũng đi đầu trong phát triển các tiêu chuẩn cho các trường “from” (gửi từ), “subject” (chủ đề) và date (ngày tháng) được tìm thấy trong tất cả các tin nhắn email được gửi đi ngày hôm nay.
Tomlinson đã giành được bằng cử nhân khoa học về kỹ thuật điện từ ở Viện Bách khoa Rensselaer năm 1963 và là một bậc thầy về kỹ thuật điện ở Viện Công nghệ Massachusetts vào năm 1965.
Sự ra đi của Tomlinson là sự ra đi thứ ba của các huyền thoại trong ngành công nghiệp máy tính trong năm nay. Trước đó, chuyên gia trí tuệ nhân tạo Marvin Minsky đã qua đời vào tháng Một, và nhà phát minh ra máy tính cá nhân Wesley A. Clark qua đời vào tháng Hai. Cả hai đều hưởng thọ 88 tuổi.
 Raymond Samuel Tonlinson (1941-2016). 

Hits: 27

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Nguyên Sa, nhà thơ tình và nhiều phương diện văn nghệ

image.png
Nguyên Sa (sanh năm 1932) là người trước tôi một thế hệ. Khi thằng bé nhà quê theo học những năm cuối của Trung học, đương bị cuốn hút bởi từng bài trong tạp chí Sáng Tạo với văn phong mới của mấy cây bút di cư vào Nam và với những bài viết về văn học rất đặc biệt…. luôn ngóng chờ ngày cuối tháng để tới tòa soạn của tạp chí Sáng Tạo ở một khu xóm bình dân mà đa số là người Tàu tại góc đường Nguyễn Công Trứ và Ký Con gần chợ Cầu Ông Lãnh, Sàigòn.  Mua số mới nhất vừa đọc vừa đi bộ về nhà, quên cả trời đất, mê mẩn thưởng thức những bài nóng hổi, còn thơm mùi giấy mực, băng qua đoạn đường đầy người Tàu cho mướn sách hình trên lề đường… thì TRần Bích Lan đã có những bài viết về văn học trong những số đầu của tờ nguyệt San rất được bạn bè cùng lứa chúng tôi ưa thích. 
Bài về Hồ Xuân Hương, ông xác nhận rằng thì là không có nhân vật Hồ Xuân Hương, chẳng qua là người ta, bất kỳ ai thích làm bài thơ không thanh nhã thì sáng tác rồi cứ việc ký tên Hồ Xuân Hương. Thế là xong, khỏi trách nhiệm, khỏi ngại bị lời ong tiếng ve. Luận cứ nầy rất được đồng tình thời đó, lúc người làm công việc nghiên cứu văn học chưa tìm thấy được những tài liệu khả tín về tiểu sử của nữ thi sĩ quá độc đáo nầy.
Bài viết về Phan Huy Vịnh với bản dịch Tỳ Bà Hành, ông dùng cái tựa rất khéo, hình như là Phan Huy Vịnh và cái đũa thần âm thanh, chỉ cần nghe ông xác định như vậy là học sinh Trung học có thể theo đó mà tán thành một bài luận khá trong kỳ thi Tú Tài 1.
Một bài khác ông nói về Tạo Hóa, ông Trời, con Tạo, ông Tạo, Trẻ Tạo, ông Xanh, Khuôn thiêng, Khuôn xanh… trong thi ca Việt Nam cũng là ý tưởng mới, có cái nhìn tổng hợp thoát ra ngoài vòng sách vở…
Lúc đó thì hầu hết học sinh chúng tôi đều không biết người viết những bài hay ho và đặc biệt như vậy với cái tên Trần Bích Lan là thi sĩ Nguyên Sa, có thơ tình trên Sáng Tạo chạm vô tâm thức những người mới lớn. Một người bạn cùng lớp, tên Tỵ (?) nói với tôi anh ta là bà con sao đó, vai em, với Trần Bích Lan, Nguyên Sa. Tới lúc nầy tôi mới nhập tâm được hai cái tên của tác giả hai lãnh vực văn học và thi ca là một và tôi thưởng thức những bài thơ tình đặc biệt đối với tôi rất mới lạ bằng một cảm thức vị nễ, khang khác. 
Rồi có lúc, 1958, tôi đứng ngoài lớp dạy luyện thi Triết học của Giáo Sư Trần Bích Lan. Khi ấy trong trường Chu Văn An, Cha T. dạy Triết rất buồn ngủ khi ngài cầm và đọc từng đoạn trong những quyển sách giáo khoa Triết quá dài dòng của cha Cao Văn Luận mà tôi cho rằng mình học mấy quyển sách của Foulqué dễ hiểu hơn. Đứng ngoài lớp đâu chừng hai lần để quyết định mình có nên học thêm Triết học với Giáo Sư thi sĩ hay không. Ông giảng vui, đưa ra nhiều câu chuyện liên hệ với đời sống thực tế (ông kể chuyện khi ở Pháp mình học kinh nghiệm nấu cơm sao cho không khét, không ba từng, bằng cách đo ngón tay mực nước cần phải cho vô nồi (thí nghiệm trong khoa học). Ông kể chuyện sáu cây cầu trên sông Seine nhưng đi qua hết sáu cái cầu đó phải qua cầu 7 lần (Toán học vị trí, Topology). Ông đọc nhiều thơ tình của các thi sĩ nổi tiếng thời tiền chiến và có khi đọc cả thơ của Nguyên Sa.
Không biết tại sao tôi không ghi tên học lớp Luyện Thi Triết đó sau hai lần đứng ngoài dò đường. Có thể là do  thời khóa biểu không thích hợp, chạy đến lớp có thể trể giờ, có thể là tiền học phí tôi không xoay xở được do nhà nghèo, mồ côi, ở nhà người cô cũng nghèo, khó có thể cho thêm tiền học trong nhiều tháng.
Có điều là từ hai lần kinh nghiệm đứng ở ngoài lớp như Trần Minh khố chuối ngày xưa, sau nầy lúc về dạy Triết ở trường Petrus Ký tôi tự biết mình kể chuyện không duyên dáng và không tự tin bằng Nguyên Sa hay Nguyễn Xuân Hoàng, không viết sách Triết gọn ghẽ, rõ ràng bằng Vĩnh Đễ nên không dạy tư ở bất cứ trường lớp nào và khi có dịp từ giã Triết học thì đi thẳng luôn, không quay lại…
Bà Nga, nhân vật trong bài thơ Nga :
Hôm nay Nga buồn như con chó ốm,
Như con mèo ngái ngủ trên tay anh
Đôi mắt cá ươn như sắp sửa se mình
Để anh giận sao chả là nước biển…
kể với tôi (NVS) rằng đầu thập niên 50, bà đương du học ở Pháp theo ngành Toán học gặp Nguyên Sa đương theo đuổi môn Triết học. Hai người quen nhau và yêu nhau. Có những bài thơ tình bà được tặng lúc tình yên đầu đời, nhưng cả hai quyết định không đưa ra công chúng vì có tính cách riêng tư. Bà cũng kể rằng bài thơ Nga được in thay giấy báo hỷ – lúc đó cả hai đương là sinh viên nghèo,  mà cũng thấy rằng đây là một ý nghĩ ngộ nghĩnh nên thực hiện – cho buổi tiệc cưới đơn giản ở Áo quốc, mùa Noel 1954.
Tôi gọi Nguyên Sa là thi sĩ của nhiều mặt văn nghệ vì ông viết nhiều mặt: Sách giáo khoa Triết học, sách về một tác giả Triết cổ thụ của Pháp, sáng tác thể truyện ngắn, thể thi ca, làm báo về những ca sĩ, chủ trương một tạp chí thời danh… Ở thi ca ông nổi trội nhứt với những bài thơ tình, từ lục bát, sang tự do, sang thơ văn xuôi, thơ phá thể, nhiều bài thiên nhiều về lý trí nhưng đa phần trong thơ đều có nhạc điệu réo rắc và thiên nhiều về biểu lộ tình cảm nhớ thương hay như đối thoại với người yêu.
Chắc chắn rằng một bài thơ được phổ nhạc mà bản nhạc được các ca sĩ hàng đầu hát tới hát lui nhiều lần thì bài thơ như lãng đãng trong không gian chờ đợi người đọc nhìn vào nó thì âm thanh và ý nghĩa liền bay vào hồn, mê tơi phải cất tiếng hát theo…
Nguyên Sa đã ra đi hai mươi năm rồi, cũng tháng tư, ngày 24, tháng ông quyết định bỏ tất cả cơ ngơi mình gầy dựng, một nhà in, hai trường Trung học đồ sộ, dắt díu vợ con lên đường sang Pháp, xứ ông học hành và sống cả chục năm thời thanh xuân.
Bạn bè văn nghệ xác nhận rằng ông an nhiên làm lại cuộc đời khi di cư sang Mỹ, không bao gìờ tỏ ý tiếc rẻ về những gì đã bỏ lại sau lưng. Ông quan niệm đời có khi thành công khi thất bại, nhưng con người muốn sống thoải mái thì phải coi mình nhỏ nhoi, là hạt cát giữa mênh mông đại ngàn như cái nghĩa của chữ Nguyên Sa.
Thơ tình Nguyên Sa cũng như thơ tình của Nhất Tuấn, của Xuân Diệu, Huy Cận, đã ảnh hưởng lên thanh thiếu niên một thời, thể thơ như văn xuôi mượt mà giai điệu, thanh thoát réo rắt làm xao xuyến trái tim học trò mới lớn
“không có anh lấy ai cười trong mắt,
ai ngồi nghe em nói chuyện thu phong,
ai cầm tay mà dắt mùa Xuân,
nghe đường máu run từng cành lộc biếc..”
(Cần Thiết)
hoặc hút hồn theo kiểu tuổi mười ba mà ai cũng thuộc lòng
“trời hôm nay mưa nhiều hay rất nắng,
mưa tôi chả về bong bong vỡ đầy tay “
hay ầm vang như thác đổ
“tôi trân trọng mời em dự chuyến tàu tình ái…
vé có thể là những thư xanh,
tàu là gian nhà rất nhỏ,
nhưng mỗi ga chắc chắn sẽ là những chiếc hôn nồng cháy cuộc đời.”
Và nhiều đoạn thơ ru hồn con gái khác mà tôi thường thấy đứa em họ trân trọng nhiều đêm chép vào tập giấy pelure màu sắc…
Nguyên Sa in bốn tập thơ và một quyển Toàn Tập cuối đời, nhưng với tôi, Nguyên Sa thể hiện bản sắc mình chỉ ở Tập Một, trong đó có những bài thơ tình viết trong những ngày ở Pháp. Điều đó cũng là bình thường, Đông Tây kim cổ thi sĩ, văn nhân, nhạc sĩ, họa sĩ, điêu khắc gia… thường sáng nhiều, nổi tiếng nhưng tóm lại chỉ được dăm tác phẩm trở nên bất hũ, làm nên cái tên, cái ấn tín của nghệ nhân đó.
Hai mươi năm Nguyên Sa ra đi, ta nhìn lại công trình ông, khen chê chắc là, nếu có linh hồn, thi sĩ  bên cõi kia cũng mỉm cười… Đã là hạt cát thì có sá gì!
Nguyễn văn Sâm 

Hits: 39

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Nhớ Mẹ

Nhìn liễu rủ chứa chan giọt lệ

Mình bơ vơ nghe dế nỉ non

Bơ vơ vì Mẹ chẳng còn!

Từ dung trước án nét son tỏ mờ

Lật nhật ký, vần thơ bỏ dở

Áo còn đây, Mẹ nỡ ra đi!

Vườn hoa cỏ mọc xanh rì

Líp trầu của Mẹ tàn đi hai phần.

Cao xanh hỡi, đòn cân tạo hóa!

Gây chi trò bể cả nương dâu

Gây chi tang tóc đau sầu

Mẹ ta lạnh lẽo, ta sầu đơn côi

Còn đâu tiếng “con ơi” của Mẹ

Tiếng êm êm khe khẽ ngọt ngào

“Áo ấm con hãy mặc vào

Mùa đông gió lạnh thấm vào khổ thân”

Rồi tiếng mắng “thằng bần” của Mẹ

“Học thì lười, nghịch kẻ nào hơn ?”

Nhớ khi con giận, con hờn

Mẹ lau nước mắt cho con, Mẹ cười

Cười tha thứ những lời con hỗn

“Lớn rồi nghe, hư đốn thế sao ?”

Mẹ ơi! Con nhớ hôm nào

Con đau mà Mẹ tổn hao thân gầy!

Mẹ ơi! Con ốm rồi đây

Thèm nghe tiếng Mẹ la rầy bên tai

“Áo sứt nút không cài kẻo gió

Cháo nguội rồi, nằm đó sao con ?”

Lúc còn Mẹ, con còn tất cả

Mẹ đi rồi, tất cả cùng đi!

Mẹ ơi! Con chẳng còn gì

Bơ vơ đến cả khi đi, lúc về.

Ngốc Tử 

Hits: 33

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Ngôi sao hàng đầu Hollywood Audrey Hepburn – Sắc đẹp và thành công đều đến từ sự cao quý trong tâm hồn

Sở hữu gương mặt đẹp như hoa nở dưới ánh mặt trời rực rỡ, Audrey Hepburn được tôn kính như một trong những nữ diễn viên tài năng nhất mọi thời đại. Tuy nhiên, không chỉ là người phụ nữ xinh đẹp, quý cô Audrey Hepburn còn là người có trái tim nhân hậu và tâm hồn cao quý.

Cuộc đời gian truân nhưng rực rỡ của nữ diễn viên hàng đầu Hollywood

Audrey Hepburn sinh ra ở Brussels, Bỉ nhưng buộc phải chuyển đến Hà Lan để cùng mẹ trốn chạy khỏi người cha ủng hộ Đức Quốc xã. Trong giai đoạn đất nước bị quân Đức chiếm đóng, bà đã chứng kiến nhiều lần hành quyết công khai, trong đó có cả những người thân của bà.

Nữ diễn viên tài năng nhất mọi thời đại Audrey Hepburn. (Ảnh: twitter.com)Đức quốc xã cuối cùng đã tịch thu đồ trang sức trong gia đình và các tài sản khác, khiến bà trắng tay. Tuy nhiên, bà đã tự hứa với lòng mình rằng sẽ quyên tiền hỗ trợ cho đất nước. Bà biểu diễn trong các chương trình múa ba lê bí mật, nhảy múa trước những khán giả im lặng, những người không thể vỗ tay vì sợ bị phát hiện. 

Bà biểu diễn trong các chương trình múa ba lê bí mật. (Ảnh: elle.com)Sau khi quân đồng minh rút lui, người Đức đã bỏ đói nhiều người Hà Lan đến chết. Khi thức ăn cạn kiệt, gia đình Audrey đã sử dụng bột làm từ hoa tulip để làm bánh. Chính vì việc này mà bà bị mắc các triệu chứng hô hấp, vàng da, phù nề và thiếu máu. Thế chiến thứ hai kết thúc nhưng đã có tác động rất lớn đối với Audrey. Suy dinh dưỡng nghiêm trọng đã làm chậm sự tăng trưởng của bà, và khiến bà không thể múa ba lê được nữa. Khi ấy bà chuyển sang làm diễn viên. 

“Tôi được đề nghị diễn xuất khi tôi không thể nhảy…và làm đủ mọi thứ mặc dù tôi chưa được chuẩn bị. Tôi đã cố gắng hết mình để tồn tại!”.

Sau một vài vai diễn, bà cuối cùng đã trở nên nổi tiếng với bộ phim “Roman Holiday”. Đạo diễn Wyler đã ấn tượng với Hepburn ngay từ buổi thử vai và ông đã dành cho bà những lời khen tuyệt đẹp: “Cô ấy có tất cả những gì tôi tìm kiếm: Duyên dáng, ngây thơ và tài năng. Cô ấy còn rất khôi hài và hết sức tuyệt vời! Chúng tôi đã nói: Đây chính là cô ấy!”.Bộ phim đã mang về cho bà giải Oscar cho “Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất”, giải BAFTA cho “Nữ diễn viên chính Anh quốc xuất sắc nhất” và giải Quả cầu vàng cho “Nữ diễn viên phim chính kịch xuất sắc nhất” năm 1953.

Nữ diễn viên Audrey Hepburn xúc động khi nhận giải Oscar mà cô giành được cho vai diễn trong bộ phim Roman Holiday tại lễ trao giải Oscar ở thành phố New York. (Ảnh: twitter.com)Với tài năng và tâm huyết của mình, bà là một trong 12 nghệ sĩ từng đoạt giải Emmy, Grammy, Osar và Tony. Không chỉ vậy, phong cách thời trang của bà trong các bộ phim vẫn còn tiếp tục ảnh hưởng cho đến ngày nay và thậm chí trở thành biểu tượng của phái đẹp.

“Khi bạn lớn lên, bạn sẽ biết lý do bạn có hai tay”

Sau khi trở thành đại sứ của UNICEF, Audrey xa dần công việc diễn xuất và tập trung vào giúp đỡ các nạn nhân chiến tranh từ khắp nơi trên thế giới. Năm 1988, bà đến thăm một trại trẻ mồ côi đang nuôi dưỡng 500 trẻ em ở  Mek’ele và phân phát thức ăn cùng UNICEF. Trong chuyến đi, chứng kiến những em bé phải sống trong cảnh đói khát, bà đã nói: “Trái tim tôi đau khổ. Tôi cảm thấy tuyệt vọng.”

Nữ diễn viên Audrey Hepburn (1929-1993) tại Ethiopia trong nhiệm vụ thực địa đầu tiên với tư cách là đại sứ thiện chí của Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF), tháng 3 năm 1988. (Ảnh của UNICEF)Audrey Hepburn đã chu du đến khắp các miền đất, chứng kiến những đói nghèo, bệnh tật và đau thương mà con người phải chịu đựng. Bà đã đau khổ, xót xa và khát khao hành động để giúp đỡ, với hy vọng tình yêu và sự chân thành có thể xoa dịu những bất hạnh của những con người nơi bà đi qua. 

Vào tháng 10 năm 1990, Hepburn đến Việt Nam, nhằm kết hợp với chính quyền cho chương trình tiêm chủng và tuyên truyền sử dụng nước sạch của UNICEF. Bà phát biểu “Tôi muốn đưa lại nhiều bức hình về đất nước – con người Việt Nam để người dân trên khắp thế giới có thể hiểu hơn về nơi đây, hiểu rằng Việt Nam có nhiều điều để họ tìm hiểu, chứ không chỉ có một cuộc chiến tranh. Chiến tranh là một con quỷ và con quỷ đó đã đến lúc cần phải nằm xuống”.

Hoàng Liên Sơn, Việt Nam – 1990/10/01: Đại sứ thiện chí của UNICEF, Audrey Hepburn, đi cùng với trẻ em dân tộc Dao. Bà mặc bộ trang phục truyền thống của dân tộc Dao, do những người phụ nữ ở đây tặng. (Ảnh của Peter Charlesworth)Quả thực, di sản mà Hepburn để lại không chỉ là những giải thưởng danh giá, những thước phim điện ảnh nghệ thuật hay phong cách thời trang mãi mãi là hình mẫu theo thời gian. Điều bà để lại còn là một trái tim nhân hậu, ấm áp, một nhân cách cao quý và đôi bàn tay biết nâng niu, che chở. 

“Khi bạn lớn lên, bạn sẽ biết lý do bạn có hai tay. Một để giúp bản thân và tay kia để giúp đỡ người khác”.

Hepburn được vinh dự vào vai nữ thần, không chỉ bởi bà có thân hình đẹp, gương mặt xinh đẹp như hoa như ngọc, cũng không phải bởi vì nhiều người trên thế giới đều biết đến bà. Chính cuộc đời của bà đã minh chứng cho vẻ đẹp cao quý đó, ấy là sự tu dưỡng nội tâm.

Cuộc đời của bà minh chứng cho vẻ đẹp cao quý, đó là sự tu dưỡng nội tâm. (Ảnh: Sohu.com)“Nếu muốn bờ môi đẹp, nên nói những lời thiện lương; nếu muốn con mắt trở nên đẹp hơn, hãy nhìn vào điểm tốt của người khác; nếu muốn dáng người thon thả, nên mang đồ ăn chia sẻ cho người đói khát; nếu muốn có mái tóc đẹp, hãy để trẻ em sờ lên mái tóc của bạn hàng ngày; nếu muốn tâm hồn thư thái, hãy nhớ bạn không phải đang đi một mình trên đường. Sở dĩ được làm người, là phải tràn ngập sức sống, tự hối cải, tự soi xét bản thân, tự hoàn thiện mình, chứ không phải phàn nàn người khác. Khi có cơ hội, nên giúp đỡ người khác, cũng có thể dùng hai tay xin người khác giúp đỡ. Khi về già bạn sẽ thấy tay của mình có thể làm được nhiều việc khó, một tay dùng để giúp chính mình, tay còn lại chỉ dùng để trợ giúp người khác.”

Mặc dù chịu nhiều khó khăn nhưng Hepburn luôn có niềm tin vào cuộc sống. “Tôi tin rằng tôi trở nên mạnh mẽ hơn sau những lần thất bại. Tôi tin rằng những cô gái hạnh phúc là những cô gái xinh đẹp nhất! Tôi tin rằng ngày mai là một ngày khác và tôi tin rằng phép lạ sẽ xảy ra”.

Tôi tin rằng tôi trở nên mạnh mẽ hơn sau những lần thất bại. Tôi tin rằng những cô gái hạnh phúc là những cô gái xinh đẹp nhất! Tôi tin rằng ngày mai là một ngày khác và tôi tin rằng phép lạ sẽ xảy ra”. (Ảnh: prva.rs)Sức mạnh của một người phụ nữ không giống như sức mạnh của một người đàn ông. Nó không phải là sự áp đảo hay chiếm hữu. Đó là sức mạnh tinh tế bên trong của sự kiên trì và lòng lương thiện đối với người khác khi phải đối diện với những thử thách và gian khổ. Người phụ nữ, sau tất cả, chính là một món quà từ Đấng Sáng Thế cho nhân loại!

Thiên Thủy 

Hits: 36

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

TRONG NỖI CÔ ĐƠN HÓA THÂN – kim thanh

tặng tất cả những ai không còn mẹ
      Sáng ba mươi Tết năm nay, Trường bỗng dưng lù lù xuất hiện tại cửa nhà tôi. Một cách bất ngờ, không báo trước –do một đệ tam nhân cho địa chỉ, nhưng không biết số điện thoại của tôi. “Để thăm và chúc Tết bạn”, Trường cười nói. Lần đầu tiên, sau ba mươi mốt năm. Tôi quen Trường, một cách sơ giao, từ khi mới đặt chân đến Mỹ, năm 1985. Thỉnh thoảng gặp nhau tại nhà thờ, cũng chào hỏi, à ới vài câu cho đúng thủ tục của người “có văn hóa”, nhưng trong thâm tâm không bên nào muốn bước thêm bước nữa để trở thành bạn, đúng nghĩa. Bởi anh rất đạo đức, đạo mạo, cẩn trọng, mặc dù suýt soát bằng tuổi, ngược hẳn với tôi tính tình bộc trực, bất cần đời, thấy chướng tai gai mắt là đốp chát liền. Thấy tôi đâu, anh không quên mời gia nhập hội này hội nọ trong giáo xứ, lại còn nhắc năng xưng tội, rước lễ  –điều mà tôi luôn hứa, cho qua chuyện, nhưng không bao giờ làm. Riết rồi anh chán, và tôi cũng chán, tìm cách trốn anh.
      Trường sống một mình, không vợ con, kiểu tu tại gia. Nghe nói anh đã được phong vài chức thánh nhỏ, mà tôi cũng chẳng hỏi anh tại sao không thừa thắng xông lên đi làm thầy sáu hay linh mục, cho ấm thân. Công việc chính, âm thầm, mà anh tự đặt, là đi thăm viếng những đồng hương bị bệnh đang nằm điều trị ở nhà thương, hoặc tại gia, để an ủi, nâng đỡ tinh thần, đọc kinh cầu nguyện, có khi đem Mình Thánh Chúa đến cho họ v.v…

      Ngoài ra, Trường còn tình nguyện đi thăm các ông bà già trong những nhà dưỡng lão. Đó cũng là mục đích chính đã khiến Trường đến tôi bất ngờ sáng nay. “Tiện đường, rủ bạn cùng đi cho vui ấy mà”, anh nói. Tôi hỏi vặn: “Bộ hết người để rủ đi hay sao mà ông cứ nhắm tôi hoài vậy cà?” Anh cười, không trả lời. Mặc dù lu bu bởi trăm thứ việc không tên, tôi cũng thấy mềm lòng và mặc cảm tội lỗi với anh. Bèn OK.
      1. Nhà dưỡng lão tư mà Trường chở tôi đến cũng ở cùng khu với nhà tôi. Một căn nhà diện tích trung bình, sạch sẽ, thoáng mát, có một vườn nhỏ đầy hoa muôn sắc, xen lẫn với rau thơm đủ loại mà chủ nhân trồng thêm, cho những bữa ăn thuần túy Việt Nam. Bên trong cải biến thành một gian rộng, chia ra sáu phòng nhỏ vừa đủ cho sáu giường nằm. Có bếp và phòng vệ sinh chung. Bình thường, tổng số “cư dân” –toàn là trên bảy, tám bó– là sáu, hôm nay chỉ còn ba, vì các cụ lần lượt từ giã cõi trần, hoặc con cái muốn “đổi nhà dưỡng lão, với nhiều lý do riêng”, bà chủ nhà nói.
      Hôm ấy, Trường muốn thăm gặp, đặc biệt, một cụ ông 98 tuổi, Công giáo, không thân nhân. Vì vậy, chúng tôi vào thẳng phòng cụ trước, với sự hướng dẫn của bà chủ và một chị chăm sóc viên (caretaker), tên Sang, chuyên giúp các cụ ăn uống, làm vệ sinh, tắm gội, thay tã, dắt đi bộ ngoài vườn v.v…  Thấy có khách, cụ ông đang nằm cố gắng ngồi dậy, mặc dù Trường giơ tay ngăn cản. Trông cụ còn tráng kiện so với số tuổi, nói năng hoạt bát, nhưng đã lẫn, quên hết chuyện mới, ví dụ, vừa được Sang cho ăn đó, mà cụ lại không nhớ, kêu đói. Khiến chị phải cải chính, chỉ chỉ vào bụng của cụ. Trái lại, những chuyện cũ năm xửa năm xưa, cụ nhớ rất kỹ, và kể ra vanh vách, tuy không mạch lạc. Đặc biệt, nhớ cả bài thơ tình tám câu mà cụ nói cụ làm để tán tỉnh cô hàng xóm, thuở còn trẻ, “dễ thương ơi là dễ thương” (lời cụ), rồi cụ hứng chí đọc đi đọc lại bài thơ, lần nào cũng sai vài chữ, vài câu, rồi cười khanh khách, sảng khoái. Cười xong, cụ bỗng rơm rớm nước mắt, như trong lòng mang nặng tâm sự, và nằm vật ra giường. Trong lúc đó, bà chủ và chị Sang, vì bận việc, đã kín đáo bỏ đi, để mặc khách chuyện trò với cụ.
      Rời cụ ông 98 tuổi, chúng tôi thăm viếng xã giao, ngoài chương trình, hai “cư dân” còn lại, gồm một nam, một nữ. Cụ ông này, 85 tuổi, yếu lắm, bỏ ăn, một tuần trước đó, than khó thở, được xe cấp cứu chở đi bệnh viện nằm một ngày, và đưa về lại. Chủ nhà báo tin cho mấy đứa con cụ, nhưng ai cũng trả lời không thể ghé thăm, nại cớ bận đi làm. Nằm bất động trên giường, cụ chỉ lắng nghe, mà không nói, mà có nói cũng thều thào, không thành tiếng. Nửa tháng sau, tình cờ gặp lại Sang, tôi hỏi thăm về cụ, và nghe chị kể: “Mấy hôm sau khi hai anh gặp cụ thì cụ qua đời, lúc bấy giờ con cái mới tới, gọi nhà quàn cho xe đến chở xác cụ đi thiêu”.
      2. Rồi chúng tôi vào phòng cụ bà duy nhất. Cụ đã 86 tuổi, trông rất yếu. những còn tỉnh táo, minh mẫn, không lẫn chút nào. Gương mặt nhăn nheo phảng phất một nét đẹp thanh tú của ngày xưa còn sót lại. Sang nói, cụ được con cái thỉnh thoảng đến thăm.
      Lúc chúng tôi bước vào, cụ đang ngồi trên xe lăn, kế bên là Sang, tay cầm muỗng cơm, khom người dụ dỗ, thiếu điều năn nỉ, cụ mở miệng, để đút cho cụ ăn. Nhưng cụ lắc đầu, nhất quyết tuyệt thực. Chúng tôi nghe lời đối đáp giữa hai người:
      – Cụ ăn vài miếng giùm con đi. Đã hai ngày rồi, mà cụ không có gì trong ruột…
      Cụ òa khóc, nức nở:
      – Tôi nhớ con, nhớ cháu lắm, cô cho tôi về thăm nhà ba ngày Tết đi, rồi tôi trở lại, tôi hứa mà, giúp tôi đi, cô ơi. Con tôi không tới đón tôi về, thì tôi nhất định ngậm miệng…
      Mủi lòng, tôi tiến đến bên, cúi xuống, choàng vai cụ, vỗ nhẹ lưng, và lấy giấy Kleenex lau nước mắt cho cụ, trong khi Sang nói tiếp:
      – Cụ ăn đi, rồi chốc nữa, mấy anh mấy chị sẽ đến đón cụ về…
      Cụ ngừng khóc, vẻ mặt u buồn đổi sang một chút hớn hở, nhưng còn thút thít, hoặc nấc lên, tức tưởi, như trẻ thơ, và hỏi lại:
      – Thật nhé?
      – Dạ thật.
      Lúc đó, cụ mới hả miệng, chịu ăn hết chén cơm, có rau, thịt, và uống hết một ly nước cam vắt. Xong xuôi, như thường lệ, Sang bế cụ lên giường, để cụ nghỉ trưa.
      Ra khỏi phòng, chị khẽ kể cho hai chúng tôi rằng, theo lời yêu cầu của cụ, bà chủ đã gọi các con cháu, khá đông, đến rước cụ về thăm nhà trong dịp Tết, nhưng ai cũng trả lời là bận đi làm, không thể đưa cụ về được. Chị nói: “Khi nãy, em phải nói như thế để cho cụ chịu ăn, chứ thật tình em biết qua bà chủ là họ sẽ không đến. Hóa ra mình nói dối với cụ”. Tôi trả lời: “Chị đừng áy náy. Lúc còn chiến tranh, tại Phan Thiết, tôi cũng đã một lần nói dối với bà mẹ của một người lính ở đơn vị vừa chết trận. Gặp bà mẹ anh đang bị bệnh nặng nằm thoi thóp trên giường, hỏi thăm con, tôi không nỡ, và không thể, nói thật… Trong trường hợp này, chị đã phản ứng không khác chi tôi.”     
      Trường đứng im, lắc đầu, không nói gì. Còn tôi, tự dưng, thấy tái tê, đau đớn, như có trăm nghìn mũi kim vô hình đâm xuyên trái tim. Chợt nghe vọng về bên tai những câu hát quen thuộc, bất hủ, tưởng đã chôn vùi trong ký ức từ lâu:
      “Mẹ mẹ là dòng suối dịu hiền. Mẹ mẹ là bài hát thần tiên. Là bóng mát trên cao. Là mắt sáng trăng sao. Là ánh đuốc trong đêm khi lạc lối. Mẹ mẹ là lọn mía ngọt ngào. Mẹ mẹ là nải chuối buồng cau. Là tiếng dế đêm thâu”… (Phạm Thế Mỹ).
      Hay “Lòng Mẹ bao la như biển Thái Bình rạt rào / Tình Mẹ tha thiết như giòng suối hiền ngọt ngào / Lời Mẹ êm ái như đồng lúa chiều rì rào / Tiếng ru bên thềm trăng tà soi bóng Mẹ yêu”… (Y Vân).
      Hay “Maman, Maman jolie (Mẹ ơi, Mẹ xinh đẹp ơi) / Maman tu es la plus belle du monde (Mẹ, mẹ đẹp nhất trần đời) / Aucune autre à la ronde n’est plus jolie (Không ai chung quanh đẹp hơn)”… (Dalida).                       
      3. Và tôi bỗng thấy nhớ Mẹ dấu yêu của tôi quay quắt –đã ra đi, về với Tuổi, từ bao thu rồi. Thầm ước mong, và tưởng tượng, một ngày nào Mẹ thức dậy từ giấc ngủ ngàn năm, và cũng bảo tôi đưa về thăm nhà, vì nhớ con, nhớ cháu. Để Mẹ ôm chặt các con, các cháu vào lòng, không rời, trong vòng tay trìu mến. Để cho tôi khóc cạn nước mắt, trên vai gầy của Mẹ, trên trọn cuộc đời này. Khóc cho mẹ tôi, giờ đây vẫn nằm dưới mộ sâu, vô vàn cách trở. Khóc cho tất cả những người mẹ thân xác còn đó mà một nửa hồn đã chết, như hoa tàn rụng, trong nỗi tuyệt vọng vô bờ và chờ đợi mỏi mòn.
     Trong nỗi cô đơn tột cùng. Trong nỗi cô đơn hóa thân. Qua hình hài của một bà cụ 86 tuổi tội nghiệp, một bà mẹ đáng thương đã bỏ ăn, bỏ uống, vì không được con cái đón về nhà để vui Xuân cùng với gia đình. Một bà mẹ bất hạnh, khổ đau, không quen biết –mà tôi đã không hẹn đến để thăm gặp, để lau hộ những dòng lệ héo hắt tuôn rơi, vào sáng ngày ba mươi Tết, năm nay, tại một nhà dưỡng lão Portland.
Portland, 4 tháng 3, 2016

 

Kim Thanh 

Hits: 9

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Diễn hành Tết Kỷ Hợi trên phố Bolsa

‘Em tự hào là người Việt Nam’ – Biểu ngữ của các thanh thiếu niên gốc Việt tham gia diễn hành. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

WESTMINSTER, California (NV)- Cuộc Diễn Hành Tết Kỷ Hợi (Tết Parade), bắt đầu lúc 9 giờ 30 sáng nay, Thứ Bảy, 9 Tháng Hai, trên phố Bolsa, trục đường chính của khu Little Saigon, Nam California.

Trước đó, ngay từ sáng sớm đã có cơn mưa nhẹ và thành phố Westminster đóng một số đường dẫn vào đại lộ Bolsa để phục vụ cho cuộc diễn hành.

Cuộc diễn hành đã kết thúc sau 12 giờ trưa nay. Sau đây là một số hình ảnh về cuộc diễn hành này.

Xe hoa tượng Đức Thánh Trần Hưng Đạo. (Hình: Văn Lan/Người Việt) Xe hoa của Hội Đền Thờ Quốc Tổ. (Hình: Văn Lan/Người Việt)Xe hoa của Văn Phòng II, Viện Hóa Đạo, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. (Hình: Văn Lan/Người Việt)Đoàn diễn hành của Gia đình Phật Tử Liên Hoa. (Hình: Văn Lan/Người Việt)Xe hoa của các cựu nữ trung học Trưng Vương. (Hình: Văn Lan/Người Việt)Các cựu quân nhân VNCH tham dự diễn hành. (Hình: Văn Lan/Người Việt)Xe hoa của một cơ sở thương mại tham gia diễn hành. (Hình: Văn Lan/Người Việt)Các thành viên của Hội LGPT ở Orange County tham gia diễn hành. (Hình: Văn Lan/Người Việt)Dân biểu liên bang Lou Correa. (Hình: Văn Lan/Người Việt)Dân biểu tiểu bang California Tyler Diệp bắt tay một cử tri. (Hình: Văn Lan/Người Việt)Cựu Thượng Nghị Sĩ tiểu bang California Janet Nguyễn tham gia diễn hành. (Hình: Văn Lan/Người Việt)Xe hoa do ngựa kéo. (Hình: Văn Lan/Người Việt)Xe hoa của Hội Cao Niên. (Hình: Văn Lan/Người Việt)Người dân đứng chật lề đường Bolsa xem diễn hành. (Hình: Văn Lan/Người Việt)Các thanh thiếu niên tham gia cuộc diễn hành. (Hình: Văn Lan/Người Việt)Quốc kỳ VNCH trong lễ diễn hành. (Hình: Văn Lan/Người Việt)Luật sư Nguyễn Quốc Lân, Chủ tịch Học Khu Garden Grove bắt tay các cử tri đi xem diễn hành. (Hình: Văn Lan/Người Việt)Dân Biểu Liên Bang Hoa Kỳ Alan Lowenthal trong đoàn diễn hành. (Hình: Văn Lan/Người Việt)Một chiếc xe hoa năm Hợi khác. (Hình: Văn Lan/Người Việt)Xe hoa tượng tru7ngcho năm Hợi. (Hình: Văn Lan/Người Việt)Một chiếc xe hoa trong đoàn diễn hành. (Hình: Văn Lan/Người Việt)Dựng lại cảnh Vua Quang Trung cưỡi ngựa. (Hình: Văn Lan/Người Việt)Xe hoa rước tượng Vua Quang Trung. (Hình: Văn Lan/Người Việt)Màn trình diễn độc đáo của đội trống Thiên Ân. (Hình: Văn Lan/Người Việt)Màn trình diễn của vũ đoàn Việt Cầm. (Hình: Văn Lan/Người Việt)Thị trưởng Westminster Tạ Đức Trí (bìa phải) và các quan khách dự lễ. (Hình: Văn Lan/Người Việt)Ban Tổ Chức cuộc diễn hành. (Hình: Văn Lan/Người Việt)Cắt băng khai mạc. (Hình: Văn Lan/Người Việt)Múa lân, cây nêu, tràng pháo trong lễ khai mạc. (Hình: Văn Lan/Người Việt)Người dân đứng chật hai bên đường khu vực sân khấu chính của cuộc diễn hành. (Hình: Văn Lan/Người Việt)Cuộc diễn hành khai mạc khi cơn mưa đã tạnh, thời tiết nắng đẹp, nên hàng ngàn người dân đổ ra đường Bolsa xem diễn hành. (Hình: Văn Lan/Người Việt)Nghi thức chào cờ VNCH và phút mặc niệm trong buổi khai mạc. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

Niềm vui trong ngày diễn hành. (Hình: Văn Lan/Người Việt)Phố Bolsa sáng sớm nay, Ban Tổ Chức dựng cây nêu, tràng pháo trong cơn mưa nhẹ. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

Hits: 44

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Học hỏi người Nhật cách giữ ấm cơ thể vào mùa đông

Mùa đông ở các nước Đông Á, trong đó có Nhật Bản thật sự rất khắc nghiệt. Vậy cư dân ơ xứ sở hoa anh đào giữ ấm cơ thể như thế nào để qua khỏi mùa giá rét, cùng xem những bí quyết dưới đây  
         
image.png
Ở Nhật, mùa đông là khoảng thời gian mà có khá nhiều những sự kiện thú vị diễn ra, như hẹn hò đêm Giáng Sinh, hòa mình vào lễ hội ánh sáng của từng địa phương hay tham gia vào các môn vận động mùa đông như trượt tuyết,… Vì vậy, những cư dân ở đất nước mặt trời mọc này luôn “thủ” sẵn những bí quyết giữ ấm cơ thể để có thể tận hưởng khoảng thời gian khắc nghiệt nhất trong năm này một cách vui vẻ và khỏe mạnh. Vậy người Nhật Bản giữ ấm cơ thể như thế nào để qua khỏi mùa giá rét, cùng xem những bí quyết dưới đây. 
 Quy tắc quan trọng nhất: Giữ ấm đầu và cổ
 
Vào mùa đông thì việc mặc quần áo dày và ấm ắt hẳn là việc mà ai cũng có thể dễ dàng nghĩ đến. Tuy nhiên, nếu chỉ chăm chú vào việc giữ ấm các cơ quan như tay chân, ngực hoặc lưng mà quên đi hai vùng quan trọng nhất là đầu và cổ thì bạn đang mắc phải sai lầm nghiêm trọng. 
 
Đầu và cổ đều là những cơ quan tập trung rất nhiều mạch máu, đặc biệt cổ còn là con đường vận chuyển o­xy duy nhất cho toàn cơ thể. Đầu bị lạnh sẽ khiến toàn cơ thể lạnh theo, chưa kể đau nhức đầu lâu ngày có thể dẫn đến bệnh mãn tính. 
Nếu bạn chủ quan không giữ ấm cổ vào mùa lạnh sẽ dẫn đến các bệnh hô hấp như ho, viêm họng và các bệnh về đường hô hấp khác.
 
 Do đó, vào mùa đông hãy giữ ấm đầu và cổ thật kỹ bằng nón len, khăn quàng cổ,… Thường xuyên uống nước ấm cũng giúp cổ họng được bảo vệ an toàn hơn.
 
image.png
Bí quyết giữ ấm mùa đông quan trọng nhất của người Nhật là giữ ấm vùng đầu và cổ. (Ảnh: tieudungplus.vn 

Giữ ấm từ bên trong để tăng cường sức khỏe và sống thọ

Người Nhật rất quan trọng việc làm ấm cơ thể từ bên trong. Một trong những phương pháp tiêu biểu nhất là ngâm mình trong nước nóng. Phương pháp này không những làm ấm hữu hiệu mà còn giúp điều hòa sự lưu thông của các mạch máu, khiến da dẻ hồng hào, khỏe mạnh, tinh thần được thư giãn nên ngủ ngon hơn. Ngoài ngâm bồn, người Nhật cũng ưa chuộng phương pháp bấm huyệt, nhất là huyệt ở bàn tay hoặc ngâm chân trong nước nóng trước khi ngủ để kích thích sự tuần hoàn của các mạch máu, giúp nhiệt độ bên trong cơ thể được ổn định và sống thọ.

Tại Nhật Bản, có nhiều phòng xông hơi sauna được đặt trong các cơ sở suối nóng onsen hoặc trong các phòng tắm công cộng. Việc tắm xông hơi luôn thích hợp vào bất kỳ thời điểm nào trong năm, nhưng sẽ thú vị hơn khi bạn tắm onsen vào mùa đông. Đây còn là một bí quyết chăm sóc sức khỏe chứ không đơn giản chỉ là giữ ấm trong mùa đông.

Giữ ấm cơ thể với các sản phẩm tiện ích  

1. Bàn sưởi (Kotatsu) 

image.png
Cấu tạo của một chiếc bàn kotatsu gồm 4 phần: 1 cái khung bàn gỗ (thường có 2 loại vuông hoặc chữ nhật); 
1 thiết bị sưởi đặt ở giữa khung gỗ này, 1 tấm chăn dày và một mặt bàn dùng để đặt lên chăn và gắn cố định với 
phần khung gỗ phía dưới. (Ảnh: biggo.com.tw)  
 

Kiểu bàn kotatsu là bàn gỗ phủ chăn dày, phía dưới có hệ thống sưởi. Sản phẩm này có nguồn gốc từ thế kỷ 14, được lắp đặt cố định. Trước đây, bàn chủ yếu sử dụng năng lượng bằng than. Hiện nay, bàn sử dụng sưởi điện, có thể di chuyển được. Các nhà thiết kế Nhật cũng sáng tạo thêm nhiều tiện ích cho mẫu bàn truyền thống. Các gia đình có thể sử dụng bàn này thành chỗ ngủ, nơi làm việc, bàn ăn, thậm chí là nơi tiếp đãi bạn bè thân thiết.

2. Máy sưởi

Mặc dù nhiều căn hộ và ngôi nhà hiện đại của Nhật có lắp hệ thống sưởi, máy sưởi vẫn rất được ưa chuộng. Bạn có thể dễ dàng di chuyển nó từ chỗ này sang chỗ khác và nó có rất nhiều kiểu dáng, mẫu mã đẹp mắt.

3. Máy làm ẩm

Giống như máy sưởi, máy làm ẩm có nhiều màu sắc, kích cỡ và hình dáng. Một số máy làm ẩm còn có khả năng diệt virus. Không khí mùa đông ở Nhật khá hanh khô, vì thế máy làm ẩm là không thể thiếu.

4. Thảm hoặc chăn sưởi điện

Ở nơi tiếp khách, phòng ngủ, phòng trà, người Nhật thường trải chiếu, ngồi trực tiếp xuống sàn. Vào mùa đông, nhiều gia đình thường mua thêm các loại thảm điện, chăn điện để đôi bàn chân luôn được ấm.

5. Chăn nhỏ (Hizakake)

Hizakake là những chiếc chăn nhỏ, tiện cho việc mang theo người để giữ ấm ở nhà hoặc khi đi làm, đi học. Chúng là giải pháp hoàn hảo cho những văn phòng không kín hoặc có hệ thống sưởi kém.

6. Tấm che cửa sổ, phim cách nhiệt

image.png
Dùng tấm cách nhiệt giữ ấm cho căn phòng là cách người Nhật không sợ mùa đông giá lạnh. (Ảnh: amazon.co.jp)  

Để ngăn không khí lạnh vào phòng với những căn phòng nhỏ có cửa sổ như nhà tắm, người ta dùng những tấm che cửa sổ hoặc phim dán cách nhiệt. Rèm cửa dày cũng là cách thường được áp dụng.

7. Quần áo Heattech

Đây là một loại quần áo được nhãn hàng UNIQLO của Nhật thiết kế để giữ nhiệt, giúp bạn luôn cảm thấy ấm dù chỉ mặc một chiếc áo/quần/quần legging, v.v. rất mỏng.

8. Miếng dán giữ nhiệt

Những miếng dán này có thể được mua ở bất kỳ cửa hàng tiện lợi nào. Khi sử dụng, bạn đặt nó trong túi, găng tay hoặc giữa các lớp áo để giữ ấm trong khoảng 1 tiếng hoặc hơn tùy từng loại.

9. Quần tất dày

Quần tất là món đồ không bao giờ lỗi mốt ở Nhật ngay cả khi trời lạnh. Nhiều cửa hàng chuyên bán tất và quần tất dày dành cho mùa đông, thậm chí dày đến 200 denier (denier là đơn vị đo độ dày – 200 denier nghĩa là sợi dài 1,8 km, nặng 250 g).

Thực phẩm là vị “cứu tinh” vào mùa đông

Một số loại củ quả giúp tăng cường sức đề kháng như củ cải trắng, cà rốt, bí đỏ rất được ưa chuộng vào mùa đông. Một số món ăn sử dụng các loại nguyên liệu này như lẩu, Oden (một loại món hầm kiểu Nhật) đều trở thành nhân vật không thể thiếu trên bàn ăn của các gia đình Nhật Bản vào mùa đông. Món Nabe – lẩu của họ thường gồm nhiều nguyên liệu khác nhau như thịt, cá, rau, v.v. nấu trong những nồi gốm có đáy dày.

Khi trời trở lạnh, các máy bán hàng tự động của Nhật bắt đầu bán đồ uống nóng, trong đó có lon súp ngô. Tuy không quá ngon nhưng những thứ đồ này rất dễ kiếm và giúp bạn giữ ấm khi chờ xe buýt hoặc tàu điện.

Kiên Định t/h 

Hits: 54

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Bảo tàng viện LOUVRE phá kỷ lục du khách

global museums

Du khách quốc tế tại Viện bảo tàng Louvre, Paris. Ảnh chụp ngày 03/12/2018.
Reuters
Louvre, viện bảo tàng được viếng thăm nhất thế giới, đã vượt qua ngưỡng 10 triệu khách trong năm 2018, một kỷ lục đối với một viện bảo tàng quốc tế về mỹ thuật và cổ vật.

Hôm nay, 03/01/2018, chủ tịch – giám đốc viện bảo tàng Louvre, Paris, ông Jean-Luc Martinez cho hãng tin AFP biết là lần đầu tiên trong lịch sử của viện bảo tàng này và cũng là lần đầu tiên trong lịch sử của các viện bảo tàng, 10,2 triệu khách đã đến viếng thăm Louvre trong năm 2018.  

Trong năm 2017, Louvre vẫn dẫn đầu thế giới về số khách viếng thăm ( 8,1 triệu ), nhưng theo sát là Viện bảo tàng quốc gia Trung Quốc ( 8 triệu ) và Viện bảo tàng Nghệ thuật New York ( 7,3 triệu ).

Theo giải thích của ông Martinez, sau khi sụt giảm 30% trong những năm gần đây do hậu quả của các vụ khủng bố, số du khách quốc tế đến Paris đã tăng trở lại.
 Mặt khác, viện bảo tàng Louvre trong những năm gần đây đã được tu bổ thêm, cho nên khả năng đón tiếp khách cũng tăng theo. 

Một lý do khác khiến Louvre phá kỷ lục về số khách viếng thăm, đó là kể từ nay khách có thể đặt mua vé trên mạng, nên đỡ mất thời gian xếp hàng.
Theo thống kê, có đến gần 2 phần 3 khách viếng thăm là người ngoại quốc, nhưng dân Pháp ( 2,5 triệu người, chiếm 25% tổng số ) vẫn là quốc tịch chiếm số đông nhất. 

Điều đáng chú ý là trong số khách viếng thăm người Pháp, có đến 565 ngàn học sinh.

 Về khách nước ngoài, người Mỹ vẫn chiếm số đông nhất, với gần 1,5 triệu.
 Đứng thứ hai là khách Trung Quốc, với gần một triệu người, tăng cực kỳ nhanh. 

Theo lời giám đốc Martinez, cách đây 5 năm, hầu như không có khách nào từ Trung Quốc đến bảo tàng Louvre.
Trung Quốc hiện là quốc gia hàng đầu thế giới về du lịch ở nước ngoài, với 129 triệu người. 

Riêng du khách Trung Quốc đến châu Âu ngày càng thích tìm hiểu về văn hóa của châu lục này, cũng như viếng thăm các thắng cảnh thiên nhiên.

Cũng theo lời giám đốc Martinez, các cuộc biểu tình của những người Áo Vàng trong những tuần cuối năm 2018 đã không có ảnh hưởng gì đến số khách viếng thăm Louvre, vì viện bảo tàng này chỉ đóng cửa một ngày là thứ bảy 08/12.

Một tin vui cho những khách viếng thăm tương lai : kể từ 05/01, viện bảo tàng Louvre sẽ miễn phí vào mỗi tối thứ bảy đầu tháng! 

Và đặc biệt trong tối thứ bảy miễn phí ấy, tại một số phòng triển lãm sẽ có người hướng dẫn, giải thích cho chúng ta hiểu nhiều hơn về các tác phẩm được trưng bày. 
Mục đích là để thu hút những thành phần công chúng mới, ngoài khách du lịch.

Trước đây, viện bảo tàng Louvre mở cửa cho vào miễn phí mỗi chủ nhật đầu tháng, nhưng ban giám đốc đã bỏ phương thức này, vì thấy là nó chỉ có lợi cho khách nước ngoài, chứ không thu hút thêm khách Pháp.

Trong năm 2019 này, sẽ có hai sự kiện lớn tại bảo tàng Louvre : kỷ niệm 30 năm kim tự tháp bằng kính nổi tiếng và 500 năm ngày doanh họa Ý Leonardo da Vinci qua đời tại Pháp.

Thanh Phương

Hits: 12

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Con Nhớ Mẹ

Đêm thao thức con thương mẹ quá !
Má nhăn nheo tóc xoã trắng ngần
Bao măm con tảo xoay vần
Mẹ luôn cực khổ bao phần héo hon

Con đã lớn, Mẹ còn lo lắng
Việc vàn nhiều cay đắng mẹ thương
Mẹ lo mãi suốt dặm trường
Thương con thương mãi vạn thương cung đời…

Thương thương mãi, xa vời nhung nhớ
Mắt đã mờ, lòng vỡ tay rung
Thương con điệp điệp trùng trùng
Mây ngàn gió núi ngại ngùng chịu thua

Mẹ ơi mẹ, con chưa báo hiếu
Xa cách vời con hiểu con thương
Trời cao biển mặn vô thường
Đường xa vạn dặm miên trường mẹ ơi!
(Hồng Dương)

Hits: 25

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin