All posts by Nguyễn Tịnh Lặng

Marie McCreadie ở Australia bị câm từ nhỏ

Marie McCreadie ở Australia bị câm từ nhỏ, 12 năm sau bỗng cất tiếng nói, sau khi ho ra một đồng xu từ cổ họng. 

Marie đã xuất bản một cuốn sách viết về những khổ đau mà cô phải trải qua trong suốt 12 năm không nói được, mang tên “Voiceless”. Câu chuyện thu hút sự chú ý của rất nhiều người, vì họ đón chờ điều kỳ diệu xuất hiện với cô gái này trong cái kết của cuốn sách.

Năm 1972, khi đó Marie 12 tuổi, phải nhập viện vì mất khả năng nói sau một cơn viêm phế quản nặng. Các Bác sĩ xét nghiệm nhiều lần nhưng không tìm ra lý do chính xác khiến Marie mất giọng. Họ cho rằng cô đã nhiễm một loại virus lạ. Marie phải chấp nhận việc mình không thể nói được nữa. 

Từ đó, cô bắt đầu cuộc sống mới của một người câm, giao tiếp với mọi người thông qua những mảnh giấy.

Marie thời niên thiếu xinh đẹp nhưng bị xa lánh vì không thể giao tiếp.

Marie thời niên thiếu xinh đẹp, nhưng bị xa lánh vì không thể giao tiếp.

Năm 14 tuổi, Marie học tại trường Công giáo St Anne, đây là giai đoạn tăm tối bởi bị bạn bè và giáo viên tẩy chay, gọi cô là phù thủy. Marie phải tách ra học riêng, vì mọi người sợ cô sẽ ảnh hưởng đến các bạn xung quanh. Sau đó Marie phải nghỉ học để chữa trị những tổn thương về tâm lý và tinh thần.

Khi chữa trị xong, Marie quyết định tìm một công việc mới. Tuy nhiên, cô bị từ chối vì không nói được. Nhiều người khuyên cô nên đi lấy chồng, vì không ai chịu nhận một người câm làm việc.

May mắn, Marie tham gia một khóa học đánh máy sau đó nhận được một việc làm dịch vụ công. Cuộc sống Marie dần trở về quỹ đạo, vô cùng tích cực cho đến khi ngày định mệnh xuất hiện.

Năm 1984, lúc đó Marie 25 tuổi, khi đang làm việc, cô bắt đầu xuất hiện những cơn ho không dứt và ho ra máu, người thân nhanh chóng đưa tới bệnh viện cấp cứu. Các Bác sĩ nhận ra có một dị vật xuất hiện ở cổ họng của Marie. Họ kiểm tra phát hiện một dị vật được bao quanh máu và chất nhầy. Khi Marie ho, dị vật văng ra khiến tất cả vô cùng sốc. Đó chính là một đồng xu đã dừng lưu hành vào năm 1959. 

Sau khi ho ra, Marie bỗng nói được trở lại. Tuy nhiên các Bác sĩ khuyến cáo cô không được nói một tuần để bao đảm sức khỏe.

Đồng xu từ trong cổ họng cô đã ngừng lưu hành tại Australia từ lâu.

Đồng xu từ trong cổ họng cô đã ngừng lưu hành tại Australia từ lâu.

Các Chuyên gia cho biết đồng xu bị mắc vào dây thanh quản của cô khiến nó không thể rung, và làm cô mất khả năng phát ra âm thanh như bình thường. Vị trí của đồng xu nằm ngang nên khó phát hiện thông qua chụp phim X-quang.

Khoảng thời gian tiếp theo, Marie đã vô cùng đau đớn về thể xác, cô bắt đầu khóc và rên rỉ những tiếng nhỏ. Các Bác sĩ nhận định người phụ nữ này gặp phải vấn đề về hơi thở. Chính vì vậy Marie phải học thở đúng cách để có thể đẩy giọng nói ra ngoài.

Câu chuyện của Marie xuất hiện trên khắp mặt báo vào năm 1984. Hiện nay, Marie vẫn không nhớ đã nuốt phải đồng xu thông qua vật gì và bằng cách nào. Thế nhưng, cuốn sách của Marie sẽ tiết lộ cho độc giả biết rõ những thăng trầm của cuộc đời cô trong 12 năm mất giọng. Đây cũng là thông điệp mà cô muốn truyền đến mọi người. Hãy ăn uống cẩn thận để tránh xảy ra những sự xảy ra ngoài ý muốn nguy hiểm đến tính mạng.

Đăng Như (Theo Odditycentral).

Hits: 2

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Chế độ ăn uống và chứng bệnh trầm cảm

Getty ImagesBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES

Đường ruột của một bệnh nhân có lẽ không phải là vị trí hiển nhiên để xem xét, tìm hiểu nguồn cơn gây bệnh trầm cảm. Thế nhưng đó là điều mà George Porter Phillips nghĩ tới vào đầu thế kỷ 20.

Khi đi ngang qua khu phòng bệnh nổi tiếng của Bệnh viện Hoàng gia Bethlem ở London, ông quan sát thấy các bệnh nhân với hội chứng u sầu thường bị táo bón nặng, bên cạnh các triệu chứng “tình trạng tắc nghẽn nói chung trong quá trình trao đổi chất” – như móng tay dễ gãy, tóc xỉn màu và nước da tái xám.

Giả định thông thường là có lẽ bệnh trầm cảm đã dẫn đến những vấn đề sinh lý nêu trên, nhưng Phillips tự hỏi rằng có khi nào bằng cách nhắm vào xử lý các vấn đề đường ruột, ta có thể làm dịu cơn trầm cảm không?

Để tìm hiểu điều này, ông cho bệnh nhân ăn chế độ ăn kiêng không có bất kỳ loại thịt nào, trừ cá. Ông cũng cho họ uống loại sữa lên men có tên là kefir, có chứa vi khuẩn sữa, một vi sinh vật “thân thiện” giúp quá trình tiêu hóa dễ dàng hơn.

Kinh ngạc thay, cách làm này hiệu quả.

Trong 18 bệnh nhân mà Phillips thử nghiệm, 11 bệnh nhân đã khỏi bệnh hoàn toàn, hai bệnh nhân còn lại có tiến triển đáng kể. Điều này cho thấy có một số bằng chứng ban đầu chứng tỏ vi khuẩn đường ruột có ảnh hưởng đáng kể đến sức khỏe tâm thần của chúng ta.

Loạt chương trình Vi khuẩn và Tôi (Microbes and Me) của BBC Future giờ đây tìm hiểu nhiều quan điểm về sức mạnh của hệ vi sinh đường ruột từ gây hại đến chữa bệnh – nhưng quan điểm cho rằng chúng có thể là lý do tác động tới sức khỏe tâm thần có lẽ là việc khó đón nhận nhất.

Làm thế nào những công nhân siêu nhỏ đó, sống nhờ những mảnh vụn trong quá trình tiêu hóa của con người, lại có thể ảnh hưởng đến não bộ được?

Nhưng hơn một thế kỷ sau thí nghiệm ban đầu của Phillips, ý tưởng chủ yếu xoay quanh trục ruột – não giờ đây đã cực kỳ vững chắc.

“Tôi không hề nghi ngờ gì về việc vi sinh vật ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần,” Jane Allyson Foster nói. Bà có phòng thí nghiệm tại Đại học McMaster ở Canada, vốn đi đầu trong lĩnh vực nghiên cứu này.

Và điều đó có nghĩa là ta có thể chữa lành não bộ thông qua bao tử. “Điều này mở ra tiềm năng phát triển các phép trị liệu mới và y dược chính xác.”

Foster nhấn mạnh rằng đường ruột không khỏe mạnh chỉ là một trong rất nhiều yếu tố có thể gây ra bệnh tâm thần, nghĩa là chỉ có một nhóm nhỏ bệnh nhân sẽ có phản ứng tốt với cách chữa trị “tâm sinh học”.

Nhưng với nhiều bệnh nhân đang bị mất cân bằng về vi khuẩn đường ruột, các phương pháp trị liệu mới có thể giúp đem lại cảm giác dễ chịu cần thiết.

Getty ImagesBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionTrong nghiên cứu đầu thế kỷ 20, sữa chua kefir có vẻ như đã có tác dụng đáng kể đến những bệnh nhân trầm cảm

Dù đã có nhiều nghiên cứu từ sớm, trong đó có cả của Phillips, nhưng ý tưởng cho rằng đường ruột có thể ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần không được đón nhận cho lắm trong hầu như suốt Thế kỷ 20, và những bằng chứng mạnh mẽ về mối liên hệ bí ẩn này chỉ xuất hiện trở lại trong hai thập niên vừa qua.

Một trong những thí nghiệm thời hiện đại nổi bật nhất được Trường đại học Kyushu ở Nhật thực hiện năm 2004.

Đầu tiên, nhóm nghiên cứu chứng minh rằng những chú chuột “vô trùng”- được nuôi trong điều kiện tiệt trùng để chúng không có vi sinh ở bên trong hoặc trên cơ thể – có mức độ dao động hormone như corticosterone và ACTH cao hơn; đây là hai loại hormone thể hiện mức độ căng thẳng.

Điều này cho thấy vi khuẩn trong đường ruột của những chú chuột khỏe mạnh bằng cách nào đó đã điều chỉnh hệ thống hormone của chúng.

Sau đó, các nhà nghiên cứu cấy vào nhóm chuột vô trùng này vi khuẩn lactobacillus, loại vi khuẩn “thân thiện” mà Phillips đã sử dụng với những bệnh nhân u sầu.

Mặc dù những chú chuột này vẫn thể hiện thái độ căng thẳng cao hơn so những chú chuột chưa bao giờ được nuôi trong điều kiện vô trùng, nhưng mức độ phản ứng căng thẳng của chúng đã thấp hơn những chú chuột không có bất cứ vi sinh vật nào trong ruột.

Thậm chí đã có những dấu hiệu cho thấy hành vi trầm cảm có thể chuyển từ loài này sang loài khác – ví dụ từ người qua chuột – thông qua các vi sinh đường ruột.

Trong một công trình, các nhà nghiên cứu ở Trùng Khánh, Trung Quốc lấy mẫu vi sinh vật từ ruột bệnh nhân bị bệnh trầm cảm và cấy vào những con chuột vô trùng. Hệ quả là sau đó những chú chuột này bỏ cuộc nhanh hơn khi “bắt buộc” phải bơi – đây là hành vi thường được coi là tương tự như trạng thái thờ ơ và tuyệt vọng có ở bệnh trầm cảm.

Và khi những chú chuột này được bỏ vào một chiếc hộp, chúng dành ít thời gian để khám phá khu vực trung tâm hơn, thay vào đó chúng tụ tập gần rìa hộp, nơi chúng cảm thấy an toàn hơn.

“Đáng chú ý là những động vật nhận được vi sinh ‘trầm cảm’ cũng hành xử như thể chúng bị trầm cảm,” Julio Licinio tại Trường Đại học Y Dược New York Upstate, đồng tác giả của nghiên cứu trên cho hay. “Nếu bạn thay đổi vi sinh, bạn thay đổi hành vi.”

Tất nhiên, ta chỉ có thể tìm ra nhiều kết luận trên những nghiên cứu với động vật, nhưng những kết luận này được bổ trợ bởi các nghiên cứu về dịch tễ học với số lượng người tham gia nghiên cứu cực lớn (với nghiên cứu gần đây nhất được công bố hôm 4/2/2019). Những đề tài này đã liên tục cho thấy sự khác biệt giữa vi sinh đường ruột với nhiều bệnh lý tâm thần, trong đó có trầm cảm và lo âu.

Getty ImagesBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionChỉ có hai trong 10 bệnh nhân sử dụng thuốc chống trầm cảm cho thấy có dấu hiệu bệnh tiến triển tốt

Dường như không có loài vi sinh riêng rẽ nào là nguyên nhân gây ra những triệu chứng này.

Thay vào đó, có vẻ như tỷ lệ tổng hợp của nhiều nhóm vi sinh khác nhau sẽ tạo ra ảnh hưởng, mà hệ vi sinh trong ruột của người bị lo âu và trầm cảm dường như có độ đa dạng vi sinh ít hơn so với những người không bị bệnh này.

Đáng kinh ngạc là một trong những nghiên cứu gần đây của Licinio tiết lộ rằng bệnh tâm thần phân liệt có liên quan đến tình trạng hệ vi sinh đường ruột bị cạn kiệt.

Khi các mẫu bệnh phẩm từ bệnh nhân được cấy vào chuột vô trùng, có vẻ như nó dẫn đến một số thay đổi tính chất trong hoạt động não, vốn là các dấu hiệu đặc trưng của chứng rối loạn này.

Nhiều giả thiết

Những hiệu ứng trên có thể xuất hiện qua rất nhiều con đường.

Một số loại vi sinh đường ruột nhất định có thể bảo vệ thành ruột – giúp duy trì màng nhầy trong ruột nhằm ngăn chặn không cho các chất bên trong tràn vào đường máu.

Không có hàng rào này, bạn có thể bị bệnh “ruột bị rò rỉ”, là bệnh theo đó gây hiện tượng giải phóng các cytokine gây viêm, vốn là những protein tăng cường lượng máu lưu thông quanh khu vực viêm nhiễm và điều chỉnh phản ứng miễn dịch của cơ thể.

Dù phản ứng này rất quan trọng khi ta cần chống lại nhiễm trùng, nhưng những cytokine này có thể gây ra tâm trạng cảm xúc xấu và sự đờ đẫn. Đó là lý do vì sao ta thường cảm thấy mệt mỏi khi bị bệnh.

Trong một thời gian ngắn, phản ứng này giúp ta duy trì năng lượng để tìm ra chỗ nhiễm trùng, nhưng nếu diễn ra kéo dài, nó sẽ gây trầm cảm.

Vi sinh đường ruột cũng ảnh hưởng cách ta tiêu hóa và trao đổi các chất cung cấp tín hiệu cho các hóa chất trao đổi thần kinh quan trọng như serotonin và dopamin.

Hệ sinh thái trong ruột ta thậm chí có liên hệ trực tiếp với não, thông qua dây thần kinh phế vị có cơ quan thụ cảm gần thành ruột, giúp nó có thể theo dõi quá trình tiêu hóa của cơ thể.

Các vi sinh vật trong ruột từ đó có thể giải phóng các hóa chất truyền tin để điều chỉnh tín hiệu của dây thần kinh phế vị – và kết quả là điều chỉnh hành động của não bộ.

(Để tìm hiểu thêm về dây thần kinh phế vị hãy đọc bài giải thích của Gaia Vincetại tạp chí Mosaic.)

“Trong ruột, có rất nhiều cơ hội để vi khuẩn liên hệ với các hệ thống trong cơ thể vật chủ – bao gồm cả hệ thần kinh,” Foster cho biết. “Đó là không gian rất phong phú, năng động và nhiều tương tác.”

Tuy nhiên, đây không phải hướng đi một chiều, vì vậy hoạt động của não bộ cũng có thể tác động đến tổng quan hệ sinh thái trong ruột.

Sự căng thẳng tự thân có thể gây ra tình trạng viêm ruột, mà sau đó có thể ảnh hưởng tới hệ vi sinh trong ruột. Kết quả có thể là một vòng phản ứng lặp lại.

Những con đường mới

Foster nói rằng việc nghiên cứu trong lĩnh vực này giờ đây đang được tăng tốc, do cả các nhà khoa học trong trường đại học lẫn các công ty thương mại thực hiện; các cuộc hội thảo học thuật, thảo luận về phát hiện mới giờ đây “tổ chức mỗi tuần.”

Trên hết, các nhà nghiên cứu hi vọng rằng phát hiện của họ sẽ tìm ra cách điều trị mục tiêu mới cho những căn bệnh như trầm cảm.

Những loại thuốc chống trầm cảm hiện thời hướng đến cân bằng các hóa chất như serotonin trong não, nhưng chúng không hiệu quả với tất cả bệnh nhân: chỉ có 2 trong 10 bệnh nhân dùng thuốc chống trầm cảm có dấu hiệu tiến triển tốt, trên tác dụng giả dược.

Và mặc dù chúng giúp rất nhiều bệnh nhân, các cuộc trị liệu bằng trò chuyện như trị liệu hành vi nhận thức cũng có độ may rủi tương tự. Kết quả là, rất nhiều bệnh nhân bị bỏ lại và khổ sở tìm kiếm cách điều trị hữu hiệu, và trục ruột-não sẽ có vẻ như đem lại nhiều hứa hẹn nhất.

Getty ImagesBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionCác nhà nghiên cứu tiêm vào chuột vô trùng một liều vi khuẩn có xu hướng “thân thiện” và phát hiện ra chúng ít có phản ứng nghiêm trọng với căng thẳng hơn

Một số nỗ lực, như nghiên cứu của Phillips vào năm 1910, là cho bệnh nhân uống thức uống lên men như sữa chua kefir, giúp đưa thêm vào ruột các vi khuẩn và protein được cho là có lợi cho tiêu hóa, hay các chất xơ có thể hòa tan là ‘prebiotic’ được cho là khuyến khích hệ sinh thái trong ruột người phát triển.

Đáng tiếc là nhiều nghiên cứu trong số này lại có quy mô nhỏ, chỉ có một ít người tham gia, và kết quả thường lẫn lộn: trong một số nghiên cứu, cách can thiệp này đã thành công trong việc làm giảm triệu chứng; trong một số thí nghiệm khác, chúng mang lại hiệu quả không hề khả quan hơn so với việc dùng cách điều trị giả dược.

Theo Foster thì có một cách để giải thích: lý do khiến các nghiên cứu thất bại có thể là do đã không tập trung vào các bệnh nhân có khả năng phản ứng tích cực nhất với cách điều trị này.

Rốt cuộc thì có rất nhiều nguyên nhân gây trầm cảm.

Với một số người, hệ vi sinh trong ruột không khỏe mạnh có thể là nguyên nhân ẩn gây ra tình trạng trầm cảm hay lo âu, nhưng với một số người khác, nguyên nhân có thể lại hoàn toàn khác. Với những người này, thức uống có probiotics (vi khuẩn có ích) có vẻ sẽ không tác dụng cho mấy đối với những triệu chứng bệnh.

Tình hình càng phức tạp hơn bởi hệ vi sinh trong cơ thể mỗi người mỗi khác; sự giống nhau giữa hai cá thể chỉ có thể đạt khoảng 10%. Vì vậy, bất cứ cách chữa trị nào nhắm tới hệ vi sinh trong ruột cùng cần phải chú ý đến những khác biệt này.

Vì lý do này, bà nghĩ ta cần tìm ra những cách tinh tế hơn trong việc sắp xếp cách điều trị cho bệnh nhân. “Đây là điểm mà trục ruột – não sẽ giúp ta, trong ngành y học chính xác.”

Foster cho biết hi vọng ta có thể “lập bản đồ ‘loại vi sinh’ hay nhóm các cá nhân có tính chất sinh học cùng gây ra triệu chứng cho họ”. Chẳng hạn, bạn có thể xét nghiệm xem bệnh nhân bị chứng viêm ruột nặng hay nhẹ trước khi quyết định phương pháp điều trị.

Licinio cũng tương đối lạc quan về việc kết quả nghiên cứu trong tương lai sẽ xác định ra các liệu pháp cho trục ruột – não.

Ông nói rằng do thuốc chống trầm cảm gây ra những tác dụng phụ đáng kể, nên nó đã hạn chế việc phát triển các cách điều trị mới dựa trên dược phẩm – thế nhưng cách sử dụng vi khuẩn đường ruột có thể tránh được những vấn đề trên.

“Bạn sẽ không can thiệp vào não bộ,” ông nói, “cho nên tôi nghĩ rằng bất cứ tác dụng phụ nào phát sinh cũng sẽ gây ít rắc rối hơn.”

Ăn như người Ý

Cách hiểu hiện tại xoay quanh mối quan hệ giữa ruột và não ít nhất đã thêm bằng chứng cho thấy chế độ ăn uống cân bằng, khỏe mạnh có thể là liệu pháp phòng tránh quan trọng để ngay từ đầu giúp giảm thiểu rủi ro bị các bệnh như trầm cảm.

Rất nhiều nghiên cứu đã xem xét “chế độ ăn Địa Trung Hải” – một cụm từ chung chỉ các chế độ ăn giàu rau củ, trái cây, các loại hạt, hải sản và chất béo không no và các loại dầu thực vật, và có lượng đường tinh luyện thấp, ít thịt đỏ và thịt qua chế biến. (Tất nhiên, đây là sự tổng quát rất thô sơ, vì các loại thực phẩm quanh vùng nam u cực kỳ đa dạng).

Theo một nghiên cứu từ Tây Ban Nha, những người ăn chế độ ăn Địa Trung Hải truyền thống được chẩn đoán là giảm phân nửa nguy cơ mắc chứng trầm cảm trong thời gian bốn năm.

Getty ImagesBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionChế độ ăn Địa Trung Hải với nhiều trái cây và rau củ, các loại dầu tốt cho sức khỏe và ít thực phẩm đã qua chế biến, được cho là có tác dụng cực kỳ tích cực

“Dữ liệu về tầm quan trọng của dinh dưỡng với sức khoẻ tâm thần và não bộ giờ đây đã được hiểu biết sâu rộng và cực kỳ nhất quán,” Felice Jacka, nhà tâm lý học dinh dưỡng tại Đại học Deakin ở Úc và là tác giả của tập sách “Nhân tố thay đổi não bộ: Chế độ ăn tốt cho sức khỏe tâm thần” (Brain Changer: The Good Mental Health Diet), nói.

Chế độ ăn Địa Trung Hải cho thấy có thể làm tăng độ đa dạng của các loại vi khuẩn trong ruột và giảm thiểu những thay đổi sinh lý khác như viêm ruột mãn tính, vốn là chứng có vẻ như đi kèm với bệnh trầm cảm.

Hơn một thế kỷ sau thí nghiệm của Phillips ở Bệnh viện Hoàng gia Bethlem, phương thuốc trị trầm cảm vẫn còn chưa rõ ràng – nhưng ít nhất với một số người, đường ruột khỏe mạnh hơn có thể là bước quan trọng đầu tiên để có tâm trí khỏe mạnh và hạnh phúc hơn.

Bài tiếng Anh đã đăng trên BBC Future

Hits: 8

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

LỤC TRẦN

 

Sắc

 

Nét cong tuyệt mỹ cỗi rồi

Lá vàng mới khóc tiễn đời lá xanh

Tượng vàng chùa đất tâm thanh

Hào quang vần vũ tỏa quanh gốc tùng.

 

Thanh

 

Trống chuông Bát Nhã liên hồi

Người phu dừng chổi cất lời râm ran

Mẹ già góc phố than van

Người qua đánh rớt lòng vàng kêu keng .

 

Hương

 

Chấp tay sen búp thoảng nồng

Thiền môn im ắng bềnh bồng khói cay

Ai về sực nức hoa bay

Gió quê vẫn cứ hây hây thổi trầm.

Vị

 

Gừng cay muối mặn yêu người

Tình thư nhạt nhẻo, miệng đời chua ngoa

Uyên huyền pháp nhũ ngọt qua

Hồi sinh quên cả rượu trà dở ngon.

Xúc

 

Trót xưa tay nhám nhúng chàm

Quỳ nhang khuya tối, chống cằm sớm trưa

Đội đầu sám hối nắng mưa

Quay về nương tựa cửa chùa ôm kinh.

 

Pháp 

 

Gọi kêu tâm thức ngủ vùi

Bất nhị giải thoát đất trời sáng choang

Lối này ruộng phước bỏ hoang

Lông rùa, sừng thỏ, trăng vàng hội duyên.

 

Tâm Không Vĩnh Hữu

 

Hits: 11

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

ĐỨC DALAI LAMA . HỌC LÀM NGƯỜI

Tín ngưỡng của tôi rất đơn giản. Không cần có các chùa chiền, không cần các triết lý cao siêu. Tim và óc của tôi là các chùa chiền; triết lý của tôi là lòng tốt. 
Học làm người là việc học suốt đời chẳng thể nào tốt nghiệp được!
 
1. Thứ nhất, “học nhận lỗi”.Con người thường không chịu nhận lỗi lầm về mình, tất cả mọi lỗi lầm đều đổ cho người khác, cho rằng bản thân mình mới đúng. Thật ra không biết nhận lỗi chính là một lỗi lầm lớn.
 
2. Thứ hai, “học nhu hòa”.Răng người ta rất cứng, lưỡi người ta rất mềm, đi hết cuộc đời răng người ta lại rụng hết, nhưng lưỡi thì vẫn còn nguyên. Cho nên cần phải học mềm mỏng, nhu hòa thì đời con người ta mới có thể tồn tại lâu dài được.
3. Thứ ba, ” học nhẫn nhục”.Thế gian này nếu nhẫn được một chút thì sóng yên bể lặng, lùi một bước biển rộng trời cao. Nhẫn, vạn sự được tiêu trừ. Nhẫn chính là biết xử sự, biết hóa giải, dùng trí tuệ và năng lực làm cho chuyện lớn hóa thành nhỏ, chuyện nhỏ hóa thành không.
 
4. Thứ tư, “học thấu hiểu”.Thiếu thấu hiểu nhau sẽ nảy sinh những thị phi, tranh chấp, hiểu lầm.Mọi người nên thấu hiểu thông cảm lẫn nhau, để giúp đỡ lẫn nhau. Không thông cảm lẫn nhau làm sao có thể hòa bình được?
 
5. Thứ năm, “học buông bỏ”.Cuộc đời như một chiếc vali, lúc cần thì xách lên, không cần dùng nữa thì đặt nó xuống, lúc cần đặt xuống thì lại không đặt xuống, giống như kéo một túi hành lý nặng nề không tự tại chút nào cả. Năm tháng cuộc đời có hạn, biết buông bỏ thì mới tự tại được!
 
6. Thứ sáu, “học cảm động”.Cảm động là tâm thương yêu, tâm Bồ tát, tâm Bồ đề; trong cuộc đời mấy mươi năm của tôi,có rất nhiều câu chuyện, nhiều lời nói làm tôi cảm động, cho nên tôi cũng rất nỗ lực tìm cách làm cho người khác cảm động.
 
7. Thứ bảy, “học sinh tồn”.Để sinh tồn, chúng ta phải duy trì bảo vệ thân thể khỏe mạnh; thân thể khỏe mạnh không những có lợi cho bản thân, mà còn làm cho gia đình, bạn bè yên tâm, cho nên đó cũng là hành vi hiếu đễ với người thân.
Ra đi ta có được gì ?Ra đời hai tay trắng
Lìa đời trắng hai tay.
Sao mãi nhặt cho đầy.Túi đời như mây bay.
Dalai Lama
Tất cả chân lý đều ở trong cuộc sống này, khi sống với tham sân si thì đó là luân hồi đau khổ, khi đoạn tận tham sân si thì đó là Niết-bàn tịch tịnh. Vậy bài học là thấy ra đâu là đau khổ, đâu là Niết-bàn và nguyên nhân của nó ngay trong chính mình và cuộc sống chứ không phải cố gắng cho những ảo tưởng ở tương lai… Lắng nghe, quan sát lại chính mình trong tương giao với cuộc sống, sẽ thấy ra (vipassati) mọi chân lý mà chư Phật đã chứng ngộ.
“ Sức mạnh của trẻ thơ là tiếng khóc. Sức mạnh của đàn bà là phẩn nộ. Sức mạnh của người ăn trộm là vũ khí. Sức mạnh của vua chúa là quyền uy. Sức mạnh của kẻ ngu là áp đảo. Sức mạnh của bậc hiền trí là cảm hóa. Sức mạnh của người đa văn là thẩm sát. Sức mạnh của sa môn là nhẫn nhịn.”Phần lớn chúng ta khổ vì muốn được thường, lạc, ngã mà không thấy vô thường, khổ, vô ngã trong vạn pháp. Trong vô thường mà muốn thường hằng, trong khổ đau mà muốn hạnh phúc, trong vô ngã mà muốn đó là ta, của ta và tự ngã của ta: Đây được gọi là những điên đảo tưởng.Mọi sự mọi vật do duyên sinh đều có biến đổi, có thành hoại, có sinh diêt. Do đó ai muốn chúng thường còn thì tự chuốc lấy khổ đau. Ví dụ như hoa Mai có nở có tàn nhưng ai muốn hoa Mai nở mãi không tàn thì sẽ khổ đau thất vọng .
Mọi sự mọi vật do ái dục + vô minh, tức tham-sân + si chi phối trong các hành động tạo tác mà đưa đến sầu khổ. Ví dụ như đời người có sinh, già, đau, chết nhưng ai tham sống sợ chết thì sẽ khổ đau phiền muộn
Mọi sự mọi vật vốn vận hành theo quy luật tự nhiên của chúng, còn ý niệm “ta, của ta, tự ngã của ta” được gán ghép vào đó chỉ là ảo tưởng. Và chính ảo tưởng này đem lại khổ sầu. Ví dụ như mắt thấy mà cho là “ta thấy”, tai nghe mà cho là “ta nghe”… rồi “đây là con ta”, “đây là tài sản của ta”… nên mới khổ.
Bởi chúng ta không thể thay đổi được thế giới chung quanh, nên chúng ta đành phải sửa đổi chính mình, đối diện với tất cả bằng lòng từ bi và tâm trí huệ”
“Ra đời hai tay trắng.Lìa đời trắng hai tay.
Sao mãi nhặt cho đầy.Túi đời như mây bay”.
Hãy thành thật đối diện với mâu thuẫn và khuyết điểm trong tâm mình, đừng lừa dối chính mình.
Thiên Đàng, Cực Lạc, chỉ là cách gọi tên thôi. Phật giáo, Thiên Chúa giáo chỉ là hệ thống tổ chức Tôn giáo và Giáo lý thôi. Trên thực tế Chân Lý vẫn là một đối với người đã giác ngộ. (Giống như người miền Trung gọi là củ sắn thì người miền Nam gọi là củ mì, còn người nào ăn củ đó rồi thì mới thấy chỉ là một củ thôi …)
Khi còn tranh cãi nhau về cách lập ngôn hay còn chấp giữ hệ thống lý thuyết riêng của mình thì vẫn còn chưa thấy Chân Lý… Chính ý niệm của con người chia cắt manh mún Sự Thật thành cái của tôi và của anh mà thôi.
Sự khác biệt giữa con người là do mức tiến hóa khác nhau qua các kiếp sống. Có khi nào ta thù ghét một kẻ kém ta? Nhận thức rằng “ Vạn vật đồng nhất ”, ta sẵn sàng tha thứ cho kẻ khác, vì họ không hiểu biết, không ý thức hành động của mình, vả lại họ và ta nào có khác nhau đâu. Khi ta hiểu rằng vạn vật như chính mình, từ loài người qua loài thú, thảo mộc, kim thạch, và ý thức rằng mọi vật đều có sự sống, đều có Thượng đế ngự ở trong, ta sẽ cởi bỏ thành kiến, mở rộng lòng thương đến muôn loài.
Có hai cách biết: Một là cái biết thực tính (paramattha), hai là cái biết chế định (paññatti) với khái niệm.
Khi biết thực tính thì không qua khái niệm và không phản ứng tạo tác (không làm: vô vi, hoặc làm mà không tạo tác: duy tác).
Khi biết chế định với khái niệm thì có hai cách: Một là làm thiện theo nhu cầu cần thiết, hai là làm bất thiện theo tà kiến và tham ái.
Vì vậy, thấy biết chân thật là chính, còn làm hay không là một động lực tất yếu từ sự thấy biết này.
Sống với đạo Phật:
– Nếu không nói được những gì Phật nói, hãy im lặng như chánh pháp; đừng nói những lời ác, xuyên tạc, bịa đặt, vu khống, làm tổn hại kẻ khác.
– Nếu không làm được những gì Phật làm, hãy im lặng và lắng nghe, quán sát, học hỏi những thiện tri thức; đừng vọng động làm những điều thương tổn đến tha nhân”.
Trí tuệ không để bản ngã xen vào chấp thủ của các tư kiến) sự vận hành của các Pháp được gọi là Minh. Chỉ có Minh mới chấm dứt được toàn bộ tiến trình của bản ngã trói buộc con người, làm cho con người bị động trong vòng luân hồi sinh tử.
“Ác khẩu, mãi mãi đừng để nó thốt ra từ miệng chúng ta, cho dù người ta có xấu bao nhiêu, có ác bao nhiêu.
– Anh càng nguyền rủa họ, tâm anh càng bị nhiễm ô.
– Anh hãy nghĩ, họ chính là thiện tri thức của anh”.
– Trong lành là tuyệt đỉnh của Giới.
– Tĩnh lặng là tuyệt đỉnh của Định.
– Sáng suốt là tuyệt đỉnh của Tuệ.
Thực ra, chỉ có buông xả mới đạt được tuyệt đỉnh của Giới Định Tuệ mà thôi…
“Người mà trong tâm chứa đầy cách nghĩ và cách nhìn của mình thì sẽ không bao giờ nghe được tiếng lòng người khác.Ví như trong tay anh nắm chặt một vật gì mà không buông xuống, thì anh chỉ có mỗi thứ ấy, nếu anh chịu buông xuống, thì anh mới có cơ hội chọn lựa những thứ khác.
Vì thế, nếu một người luôn khư khư với quan niệm của mình, không chịu buông xuống thì trí tuệ chỉ có thể đạt đến ở một mức độ nào đó mà thôi.”
Hãy tin vào tất cả nhưng cũng đừng tin vào điều gì cả, hay nói chính xác hơn là đừng bám víu vào bất cứ điều gì. Tin vào mọi sự, mọi người, mọi vật… vì tất cả điều gì đến với mình đều có nhân duyên với mình, đều là bài học giúp mình học ra cái đúng cái sai, cái xấu cái tốt, cái chân cái giả…
Do đó phải biết ơn và phải học cho thật nhiệt tình, tận tâm và chuyên chú… chứ không nên chểnh mảng.
Nhưng phải cẩn thận, đừng bám víu vào điều gì, vì bám víu là dính mắc, dính mắc là trói buộc, trói buộc là đau khổ, là không còn thong dong tự tại…
“Hạnh phúc không phải là thứ có sẵn, Nó đến từ chính hành động của bạn…
Tín ngưỡng của tôi rất đơn giản. Không cần có các chùa chiền, không cần các triết lý cao siêu. Tim và óc của tôi là các chùa chiền; triết lý của tôi là lòng tốt source from karma / Dalai Latma )
… Tất cả những điều đơn giản nói trên, chúng ta tuần tự phát tâm theo đuổi, học hỏi và chia sẻ, thì không cần phải nhọc công gây quỹ xây chùa chiền cho to bự nguy nga. Đức Phật chưa bao giờ kêu gọi bất cứ sư sãi nào cố gắng kiếm tiền xây chùa to, bự, nguy nga, mà tâm hồn thì trống lỏng, mắc phải thêm nhiều tham sân si hỷ nộ ái ố… Ấy không gọi là U Minh thì gọi là gì?! Hãy đơn giản hóa cuộc sống, và phát triển lòng từ bi !
| phan nguyên luân |… thực hiện

Hits: 8

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hoàng tử William trải lòng về cái chết của Công nương Diana

Hoàng tử Anh cho rằng không có nỗi đau nào lớn hơn việc mất người thân, đồng thời khuyến khích người dân bộc lộ cảm xúc nhiều hơn.

Hoàng tử Anh William phát biểu trong buổi phát động một chiến dịch về sức khỏe tâm lý tại London hôm 15/5. Ảnh: AP.

Hoàng tử Anh William phát biểu trong buổi phát động chiến dịch về sức khỏe tâm lý tại London hôm 15/5. Ảnh: AP.

“Tôi nghĩ rằng việc mất người thân, đặc biệt khi còn trẻ, khiến bạn cảm thấy đau đớn hơn bất kỳ nỗi đau nào khác. Tôi có thể đồng cảm sâu sắc với điều này. Sẽ rất khó để vượt qua điều gì đó đau đớn hơn thế trong cuộc đời”, Hoàng tử William hôm qua chia sẻ trong bộ phim tài liệu về sức khỏe tinh thần của BBC.

Công nương Diana, mẹ của Hoàng tử William, qua đời năm 1997 trong một vụ tai nạn ôtô ở Paris, Pháp khi đang chạy trốn phóng viên. Vào thời điểm đó, William 15 tuổi và em trai Harry mới 12 tuổi.

Công tước xứ Cambridge cho biết người Anh, đặc biệt là nam giới, nên cảm thấy thoải mái khi nói về vấn đề tâm lý của mình. 

“Chúng ta lo lắng về cảm xúc của mình. Sức chịu đựng của người Anh là điều tuyệt vời và chúng ta đôi khi cần đến nó trong những thời điểm thực sự khó khăn. Tuy nhiên, chúng ta cũng phải thư giãn một chút và nói về cảm xúc của mình, bởi chúng ta không phải robot”, Hoàng tử cho hay.

Cả Hoàng tử William và Harry trong những năm gần đây đều đề cập nhiều tới vấn đề sức khỏe tâm lý. Hồi tháng 9/2018, Hoàng tử William lập một trang web nhằm cải thiện sức khỏe tâm lý tại nơi làm việc, đồng thời chỉ trích các câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp ở Anh vì không coi trọng vấn đề tâm lý của các cầu thủ.

Ánh Ngọc (Theo BBC

Hits: 7

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Tô Thùy Yên, tác giả bài thơ ‘Chiều Trên Phá Tam Giang,’ qua đời

Nhà thơ Tô Thùy Yên. (Hình: Triết Trần/Người Việt)

HOUSTON, Texas (NV) – Nhà thơ Tô Thùy Yên, tác giả bài thơ “Chiều Trên Phá Tam Giang,” mà một phần của nó được cố nhạc sĩ Trần Thiện Thanh phổ nhạc, vừa qua đời lúc 9 giờ 15 phút tối Thứ Ba, 21 Tháng Năm, tại Houston, Texas, hưởng thọ 81 tuổi, bà Huỳnh Diệu Bích, hiền thê của ông, nói với nhật báo Người Việt qua điện thoại.

“Nhà tôi bị một cơn đột quỵ và được đưa vào một trung tâm trị liệu từ Thanksgiving năm ngoái. Tối hôm qua ông ra đi nhẹ nhàng, như trong giấc ngủ,” bà Diệu Bích kể.

Bà cho biết thêm, hiện chưa có ngày giờ chính thức, nhưng có lẽ tuần tới sẽ an táng nhà thơ.

Bà cho biết nhà thơ Tô Thùy Yên tên thật là Đinh Thành Tiên, sinh ngày 20 Tháng Mười, 1938 tại Gò Vấp, Gia Định. Sau khi họ ở Gia Định, ông học trung học Petrus Ký ở Sài Gòn.

“Chồng tôi sau đó vào học Đại Học Văn Khoa Sài Gòn, học văn chương Pháp, sau khi chúng tôi vừa cưới nhau,” bà cho biết thêm. “Năm 1964 anh nhập ngũ, đến năm 1975 là cấp bậc thiếu tá chiến tranh chính trị. Sau đó, hai bị tù cộng sản hai lần, một lần 10 năm và một lần 3 năm.”

Theo bài viết “Tuyển Tập Tô Thùy Yên” của tác giả Trần Doãn Nho đăng trên nhật báo Người Việt hôm 10 Tháng Hai, nhà thơ Tô Thùy Yên bắt đầu viết từ cuối thập niên 1950, và là một trong những nhà thơ lớn của văn học miền Nam Việt Nam.

Bài thơ (được xem) như đầu tay của ông, “Cánh đồng, con ngựa, chuyến tàu,” được sáng tác lúc ông còn là một thiếu niên.

“Thơ Tô Thùy Yên có rất nhiều khái niệm hoặc hình tượng triết lý – lời thơ đôi khi bí hiểm, khó hiểu – thì đồng thời lại không thiếu những hình ảnh hiện thực, có thể nói còn hiện thực hơn cả những nhà thơ hiện thực nhất,” theo tác giả Trần Doãn Nho nhận xét.

Theo nhà thơ Du Tử Lê viết trên blog của ông, thơ Tô Thùy Yên bắt đầu xuất hiện trên báo chí từ năm ông 16 tuổi. Gia nhập nhóm Sáng Tạo thành hình năm 1956, cộng tác đều đặn với nhiều tạp chí văn học ở miền Nam, chủ trương nhà xuất bản văn học Kẻ Sĩ.

Đã xuất bản: Thơ Tuyển (một ấn bản tại Đức năm 1994, một ấn bản tại Mỹ năm 1995), Thắp Tạ (năm 2004).

Năm 2018, ông cho ra mắt “Tô Thùy Yên – Tuyển Tập Thơ,” gồm 96 bài thơ, gộp lại những bài từ hai tập trước, cộng thêm một số bài mới được tìm thấy và đưa vào sau này.

Vẫn theo tác giả Trần Doãn Nho, từ khi qua định cư tại Hoa Kỳ, nhà thơ Tô Thùy Yên tiếp tục làm thơ và đi nhiều nơi tham gia các buổi sinh hoạt văn học cũng như giới thiệu tập thơ đầu tiên của ông. Tuy nhiên, trong những năm sau này, sức khỏe nhà thơ không được tốt, nên ông hiếm khi đi đâu và ít thấy xuất hiện trước công chúng. Vào năm 2017, nhân dịp 30 Tháng Tư lần thứ 42, đáp lời mời của trường đại học Yale University, muốn có tiếng nói của một nhà thơ miền Nam Việt Nam, dù đi đứng khá khó khăn, ông đã cố gắng đến tham dự và đọc thơ cùng với một số nhà thơ khác như Đinh Linh, Phan Nhiên Hạo, và Chân Phương vào ngày 26 Tháng Tư, 2017.

Trong dịp này, ông cũng tham dự một buổi sinh hoạt đọc thơ Tô Thùy Yên khác tại trung tâm Việt-Aids do nhóm văn nghệ sĩ Boston tổ chức vào chiều tối ngày 28 Tháng Tư, 2017.

Ngoài bài “Chiều Trên Phá Tam Giang,” nhà thơ Tô Thùy Yên có sáng tác bài “Ta Về,” sau này được nhạc sĩ Đình Đại phổ thành nhạc. 

Bà Huỳnh Diệu Bích cho biết, sau khi ra tù, nhà thơ Tô Thùy Yên và gia định sang Mỹ định cư năm 1993, ban đầu đến Minnesota, do nhạc sĩ Cung Tiến bảo lãnh. Đến năm 2000 thì gia đình chuyển về Houston, Texas. (Đỗ Dzũng)

Hits: 9

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Thời hoàng kim của thợ săn ảnh sắp hết?

Mỗi nhiếp ảnh gia chịu rất nhiều rủi ro dựa trên mức độ may mắn của anh ta vào ngày hôm đó
Trong khi một số bức ảnh độc quyền một người nổi danh có thể mang lại rất nhiều tiền, việc thu nhập ổn định trong ngành săn ảnh đầy tranh cãi này ngày càng rất khó khăn, theo Allison Schrager.
BM
  
Santiago Baez là thợ săn ảnh từ đầu những năm 1990. Máy ảnh trong tay, ông đã chứng kiến sự tan vỡ của các cặp ngoại tình, trẻ mới sinh, chết chóc, tình yêu mới và sự ly hôn của một số cư dân nổi tiếng nhất New York.
Đối với các tay săn ảnh như Baez, kiếm sống được đòi hỏi phải có kiến thức bách khoa về nơi ở của những người nổi tiếng ở New York, cũng như một mạng lưới tài xế, và nhân viên cửa hàng và nhà hàng để họ báo cho biết những người nổi tiếng đang ở chỗ nào. Thông thường, việc thông tin lại do chính những người nổi tiếng cung cấp qua mạng xã hội: nhằm thiết lập chuỗi sự việc, họ thông báo cho công chúng (chủ yếu là các nhà nhiếp ảnh) về việc đi lại của họ, hoặc các nhà báo của họ sẽ gọi cho một cơ quan để cử một nhiếp ảnh gia tới.
Hầu hết các bức ảnh không đáng giá bao nhiêu, nhưng ảnh một bé mới sinh, một người nổi tiếng hôn người tình, hoặc một đám cưới có thể làm thay đổi gia tài sau một đêm.
Nhưng thu nhập của Baez không ổn định. Thành công của anh là sự liên kết giữa kinh nghiệm và kiến thức về những người nổi tiếng với nhận thức đau xót rằng thu nhập của mình là rất thay đổi và không thể tiên đoán được.
‘Cơn sốt’ săn ảnh
BM
  

Những vận may rủi này được quyết định bởi một số ít người như Peter Grossman, biên tập viên ảnh của tờ Us Weekly từ 2003 đến 2017. Nhưng Grossman không làm việc trực tiếp với những người săn ảnh; thay vào đó, nhiếp ảnh gia như Baez sẽ bán những bức ảnh cho một công ty có mối quan hệ với các biên tập viên ảnh như Grossman. Một người săn ảnh nhận từ 20% đến 70% tiền bản quyền của bức ảnh, tùy thuộc vào nhiếp ảnh gia và vào thỏa thuận mà người đó đã thương lượng với công ty đó. Những người săn ảnh cao cấp, giỏi và tài năng hơn sẽ được nhiều tiền hơn, mà thường bao gồm độc quyền bán ảnh chụp cho một cơ quan duy nhất.   

BM
Giá của một bức ảnh phụ thuộc vào việc người nổi tiếng đang làm gì và ảnh có là độc đáo không.
Những bức ảnh độc đáo tạo nên sự vang dội trong thế giới tin tức lá cải có thể mang lại các khoản tiền lớn: Grossman nói với tôi rằng ông đã trả hàng trăm ngàn bảng cho một loạt ảnh chụp nữ diễn viên Kristen Stewart đang ôm say đắm Rupert Sanders, đạo diễn (đã có vợ) của phim Bạch Tuyết và Huntsman, một bộ phim cô đóng vai chính.
Grossman sống qua thời hoàng kim của nhiếp ảnh săn tin: ông là người đứng sau sự dâng trào của những bức ảnh của tạp chí “Just Like Us” (Như Chúng Ta Thôi) vào đầu những năm 2000 – những bức ảnh đời thường của những người nổi tiếng làm nhiệm vụ trần tục như uống cà phê hoặc bơm xăng đã gây ấn tượng với độc giả của tạp chí này. Chẳng bao lâu, nhiều báo khác cũng đăng những ảnh kiểu như “Just Like Us” ở báo họ, khởi đầu cho cái gọi là những năm sốt săn ảnh của ngành này, trùng với thời hoàng kim của những người nổi tiếng Paris Hilton, Britney Spears và Lindsay Lohan.
Mặc dù giá của một bức ảnh phụ thuộc vào việc người nổi tiếng đang làm gì và ảnh có là độc đáo không, vào thời gian sốt ảnh cao điểm, một ảnh độc đáo của “Just Like Us” thường khoảng 5.000- 15.000 đô la Mỹ.
BM
  
Thời đại hoàng kim sinh ra tâm lý hoàng kim, với nhiều nhiếp ảnh gia tập hợp ở ngành này, sẵn sàng vi phạm pháp luật và thậm chí làm cho các thợ săn ảnh có tiếng xấu là đi quá xa và quấy rối những người nổi tiếng và cả con cái nhỏ của họ. Grossman kêu gọi mọi người cùng phối hợp lùi lại một bước, trả ít tiền hơn cho ảnh, và không vi phạm pháp luật hoặc không tự đặt mình và các người khác vào thế nguy hiểm khi chụp ảnh, nhưng không thành công.
Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và sự trỗi dậy của truyền thông trực tuyến cuối cùng đã giết chết cơn sốt ảnh. Truyền thông kỹ thuật số làm tăng nhu cầu về các ảnh những người nổi tiếng nhưng giảm giá mà các các công ty truyền thông sẵn sàng trả tiền cho ảnh. Các cơ quan về ảnh bắt đầu hợp nhất hoặc bỏ kinh doanh, và những cơ quan ở lại đã thay đổi mô hình kinh doanh của họ.
Thay vì để các tạp chí trả tiền cho mỗi bức ảnh, họ đưa ra một dịch vụ đăng ký: các nhà xuất bản có thể sử dụng với số lượng ảnh tùy thích để đáp ứng nhu cầu lớn hơn về các ảnh rẻ hơn. Do đó, những người săn ảnh được trả một phần nhỏ phí đăng ký; phí là bao nhiêu là tùy thuộc vào số lượng hình ảnh của họ được sử dụng mỗi tháng. Có nghĩa là một bức ảnh độc đáo “Just Like Us” trước đây có thể giá 5.000 – 15.000 đô la Mỹ thì nay chỉ được trả 5 hoặc 10 đô la Mỹ.
Người săn ảnh ngày càng kiếm được ít tiền. Thời kỳ mà nhiều người trông mong có thu nhập hàng trăm ngàn đô la đã qua rồi. Bây giờ, có được một ảnh độc đáo hiếm hoi là cần thiết để kiếm được số tiền lớn.
Kinh doanh nhiều rủi ro
BM
Để phân tán rủi ro, những người săn ảnh thường hình thành các liên minh – nhưng những liên minh đó có thể bị tan vỡ vì một ảnh độc đáo lớn tiền.
Việc trông thấy một người nổi tiếng thường là tình cờ, đó chính xác là một phần lý do tại sao thu nhập của Baez Vĩ lại phập phù đến thế. Chẳng ngạc nhiên gì khi Baez sử dụng các chiến lược rủi ro trong nghề, tương tự như các cách người ta dùng trong thị trường tài chính.
Các nhà kinh tế tài chính phân chia rủi ro thành hai loại lớn: thứ nhất là rủi ro về tư chất riêng, hoặc rủi ro duy nhất cho một tài sản cụ thể. Giả sử Facebook thay đổi lãnh đạo; tương lai của công ty này sẽ không rõ ràng, và giá cổ phiếu có thể giảm dựa trên các yếu tố duy nhất đối với Facebook mà không ảnh hưởng đến các cổ phiếu khác. Rủi ro tư chất riêng là rủi ro chỉ áp dụng cho một cổ phiếu hoặc tài sản riêng lẻ.
Những người săn ảnh phải đối mặt với rất nhiều tư chất cá nhân. Người nổi tiếng nào đó làm gì hôm nay- thí dụ cô gặp các bạn thuộc danh sách A hay danh sách D – xác định số tiền người săn ảnh kiếm được trong tuần đó. Nếu một người nổi tiếng không còn thú vị hoặc được ưa chuộng nữa, thì giá trị của những ảnh này sẽ giảm. Những ảnh như vậy giống như một cổ phiếu: giá trị của nó thay đổi tùy thuộc vào nhà nhiếp ảnh cụ thể, ảnh chụp khéo, vào đúng thời điểm.
BM
  
Những người săn ảnh giải quyết rủi ro tư chất riêng này bằng cách trải rộng rủi ro: các nhiếp ảnh gia thường tạo thành các đội hoặc liên minh để chia sẻ các vị trí chụp, và đôi khi chia sẻ tiền bản quyền để tăng cơ hội hoặc chia sẻ tiền trả để đứng ở vị trí đó.
Vì mỗi nhiếp ảnh gia chịu rất nhiều rủi ro dựa trên mức độ may mắn của anh ta vào ngày hôm đó, một liên minh sẽ hòa đồng may rủi, giảm rủi ro mang tính tư chất cá nhân.
Loại rủi ro thứ hai là rủi ro hệ thống, hoặc rủi ro ảnh hưởng đến hệ thống lớn hơn thay vì một tài sản cá nhân riêng lẻ. Rủi ro hệ thống là khi mọi cổ phiếu tăng hoặc giảm cùng nhau vì toàn bộ thị trường tăng hoặc sụp đổ như đã xảy ra năm 2008. Các sự kiện rủi ro hệ thống thường xảy ra do sự suy sụp lớn về kinh tế như suy thoái kinh tế hoặc một kết quả bầu cử mà mọi người nghĩ sẽ ảnh hưởng đến kinh doanh. Rủi ro hệ thống khó xử lý hơn rủi ro tư chất cá nhân, và các mặt xấu có khả năng nguy hiểm hơn. Nếu toàn bộ bể thị trường chứng khoán suy thoái, bạn có nguy cơ mất việc làm cùng một lúc với và danh mục đầu tư chứng khoán.
Bạn có thể thấy rủi ro có tính hệ thống diễn ra với các người săn ảnh, như sự bùng nổ của những năm sốt tiền ảnh chụp và sự sụp đổ khi mọi người ngừng mua tạp chí lá cải trong thời kỳ suy thoái. Mặt tiêu cực của nguy cơ hệ thống của việc săn ảnh đã trở nên nghiêm trọng hơn trong 10 năm qua. Mọi người đều khó kiếm tiền hơn. Nhiều người săn ảnh đã rời bỏ công việc này: sau gần 30 năm chụp ảnh người nổi tiếng, Baez đã quay trở lại Cộng Hòa Dominican vào hè năm 2018, cùng vợ và con trai, để tìm công việc mới.
Những người săn ảnh – giống chúng ta không?
Công việc của một người săn ảnh là rủi ro hơn ai hết. Nhưng ở một mức độ nào đó, tất cả chúng ta đều phải đối mặt với một mức độ nhất định của rủi ro tư chất cá nhân và rủi ro hệ thống trong sự nghiệp của mình, vì vậy chúng ta có thể học hỏi được rất nhiều từ những nhiếp ảnh gia này.
Giả sử bạn muốn thay đổi công việc từ một vị trí an toàn có lương sang công việc bán hàng hưởng tiền hoa hồng. Cái lợi là bạn sẽ kiếm được nhiều tiền hơn so với công việc trả theo lương vì nếu là một nhân viên bán hàng, bạn sẽ phải đối mặt với cả hai loại rủi ro: đó là một công việc với vô số rủi ro cá nhân; ví dụ, bạn kiếm được bao nhiêu sẽ phụ thuộc vào kỹ năng bán hàng của bạn và cách đối xử của khách hàng (bạn có thể giải quyết rủi ro này bằng cách làm việc trong một nhóm và có nhiều khách hàng). Bạn cũng sẽ phải đối mặt với rủi ro hệ thống vì doanh số phụ thuộc vào trạng thái của nền kinh tế.
Rủi ro hệ thống đặc biệt nguy hiểm. Trong thời kỳ suy thoái kinh tế, thu nhập của bạn có thể bị giảm hoặc biến mất hoàn toàn, khó có thể tìm được một công việc khác, tài sản của bạn có thể bị ảnh hưởng và thu nhập của vợ/chồng bạn cũng có thể gặp rủi ro. Nếu công việc của bạn mà càng liên quan nhiều đến rủi ro hệ thống thì bạn càng dễ bị ảnh hưởng.
Tại sao chúng ta cảm thấy rất lo lắng về kinh tế
BM  
Có sự tương đồng lạ lùng giữa người giao dịch chứng khoán Wall Street và những người săn ảnh. Cả hai đều phải cố gắng xử lý rủi ro tài chính từng ngày
Sinh kế của những người săn ảnh trung bình bị đe dọa bởi những thay đổi lớn trong ngành xuất bản. Các nhiếp ảnh gia xử lý rủi ro cá nhân bằng cách hình thành các liên minh không ổn định, nhưng rủi ro hệ thống lớn hơn mà nó có thể xóa bỏ công việc của họ thì khó xử lý hơn. Họ có thể thành lập một liên minh và yêu cầu các điều khoản tốt hơn từ các cơ quan, nhưng trong lịch sử họ có gặp khó khăn để hợp tác với nhau. Và những người săn ảnh không phải là người duy nhất phải đối mặt với rủi ro là công việc của họ sẽ không còn kiếm sống được nữa..
Một lý do khiến người ta có vẻ lo lắng nhiều hơn về tương lai kinh tế của họ so với trước đây là vì họ cảm thấy rủi ro hệ thống nhiều hơn ở thị trường việc làm. Vài thập kỷ trước, hầu hết các rủi ro việc làm mang tính cá nhân: mâu thuẫn với ông chủ, việc làm không phù hợp, một công ty quản lý kém. Nếu bạn mất việc, có lẽ bạn có thể tìm được một việc khác giống thế. Công nhân thành lập công đoàn, liên kết với nhau, và yêu cầu trả lương và lợi ích nhiều hơn, họ tin rằng xã hội cần kỹ năng của họ. Thị trường việc làm thăng trầm, nhưng rủi ro dường như tương đối dễ giải quyết.
Trong nền kinh tế ngày nay, rủi ro hệ thống ngày càng gay gắt. Có khả năng là công nghệ – robot và trí tuệ nhân tạo – có thể đảm nhận công việc của bạn hoặc ít nhất là đòi hỏi những kỹ năng mới mà bạn không có. Nếu bạn mất việc trong thời kỳ suy thoái, bạn có thể không bao giờ tìm thấy một công việc tương tự.
Đó là một xu hướng lớn đe dọa mọi người, nhưng đối với người săn ảnh như Baez, mối đe dọa là tức khắc. Đó là một công việc rủi ro, và ngày càng rủi ro hơn với ít thu nhập hơn.
Allison Schrager

Hits: 10

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Một ngôi sao vừa lim tắt trên bầu trời âm nhạc Hollywood

Hàng triệu fans ái mộ trên thế giới vô cùng thương tiếc một ngôi sao tài sắc vẹn toàn, một huyền thoại âm nhạc vừa giã từ khán giả hâm mộ: Nữ ca sĩ Doris Day của những thập niên 1950′ và 1960′.

Nhất là các khán giả tại Sài Gòn, Miền Nam trước năm 1975 không thể quên Doris Day qua một danh sách dài top hits bất hủ vượt thời gian như “When I Fall In Love”, “Pillow Talk”, “Secret Love”, và “Que Sera, Sera” (What Will Be Will Be), v.v…  
Khi được mời cùng đóng với James Stewart trong phim L’homme Qui en Savait Trop (The Man Who Knew Too Much) với đạo diễn tài ba về phim kinh dị Alfred Hitchcock và được yêu cầu hát bài Que Sera Sera, cô đã từ chối vì cô thường hát các bản tình ca hơn là bái hát về thiếu nhi. Sau một thời gian suy nghĩ trước những thuyết phục, cô đã hát bài Que Sera, Sera trong bộ phim :”Người đàn ông Biết Quá Nhiều” đó, và không ngờ bài hát Que Sera Sera đã đưa cô lên cao hơn nữa trên đỉnh cao danh vọng, và cả thế giới biết đến cô qua ca khúc dễ thương này. 
Xin cùng nghe lại ba bài “When I Fall In love”,”Secret Love”, và “Que Sera Sera” như một tưởng nhớ đến người ca sĩ tài sắc vẹn toàn Doris Day – trong hai thập niên huy hoàng của VNCH.
Phạm Gia Đại

Hits: 10

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Chuyện Một Người Mang Tên Nguyễn Thị Di Tản

ditantruyen

Hình trên net

Tên tôi là Nguyễn Thị Di Tản. Cái họ Nguyễn của tôi đã chứng tỏ tôi là người Việt Nam chính hiệu con nai vàng. Song có điều tôi là đứa bé Việt Nam chào đời ở một miền đất lạ xa – đảo Guam – một nơi chốn thật lạ lẫm với quê hương tôi. Theo lời mẹ tôi kể tôi chào đời vào những tháng ngày buồn thảm nhất của miền Nam Việt Nam. Tôi đã nằm trong bụng mẹ, theo mẹ trên con đường di tản của dân tộc tôi.

Tôi đã là một chứng nhân của lịch sử. Tiếng khóc chào đời của tôi ở một quần đảo nơi quê người đã giúp mẹ tôi nhiều can đảm vượt qua những thử thách, gian truân của cuộc đời.

Tôi là Nguyễn Thị Di Tản từ ngày ấy. Đã hơn một phần tư thế kỷ kể từ 30 tháng 4 năm ấy. Thế mà đã 44 năm qua…

Đã 44 năm qua. Tôi đã lớn. Đã trưởng thành nơi miền đất tạm dung của một tỉnh lỵ miền Tây Canada. Thành phố Winnipeg buồn hắt hiu như tâm sự “Người Di Tản Buồn” của mẹ. Mẹ rất yêu bản nhạc “Người Di Tản Buồn” của Nam Lộc. Ngày còn bé, bằng bài hát ấy mẹ đã ru tôi ngủ.. Riết rồi tôi quen với từng lời ca tiếng nhạc. Mẹ bảo đêm nào không nghe bài hát ấy tôi không ngủ. Đến lúc tôi bập bẹ biết nói mẹ dạy tôi hát. Tôi vừa quấn quít bên mẹ vừa đỏ đẻ hát:

Chiều nay có một người đôi mắt buồn
Nhìn xa xăm về quê hương rất xa
Chợt nghe tên Việt Nam ôi thiết tha
Và rưng rưng lệ vương mắt nhạt nhòa
Bạn ơi đó là người di tản buồn
Ngày ra đi lặng câm trong đớn đau
Rồi đêm khuya hằn lên đôi mắt sâu
Thời gian đâu còn những phút nhiệm mầu
Cho tôi xin lại một ngày, ở nơi nơi thành phố cũ
Cho tôi xin lại một đời, một đời sống với quê hương
Cho tôi đi lại đoạn đường, hàng cây vươn dài bóng mát
Cho tôi yêu lại từ đầu, bên người yêu dấu ngày xưa
Chiều nay có một người di tản buồn
Nhìn quê hương còn ai, hay mất ai?
Còn bao nhiêu thằng xông pha chiến khu?
Và bao nhiêu nằm trong những lao tù?
Ở đây có những chiều mưa rất nhiều!
Nhiều hơn khi hành quân trong tháng mưa
Buồn hơn khi rừng khuya vang tiếng bom
Ngày vui ơi giờ đâu nước không còn
Cho tôi xin lại một lần, ở nơi tôi dừng quân cũ
Cho tôi xin lại bìa rừng, nơi từng chiến đấu bên nhau
Cho tôi xin một lời chào, chào bao nhiêu người đã khuất
Cho tôi xin một mộ phần, bên ngàn chiến hữu của tôi!

Tôi hát như sáo. Mẹ hát sao tôi hát theo vậy. Mẹ bằng lòng lắm. Dần dà tôi có thể hát được cả bài. Bạn bè của mẹ đến nhà chơi, mẹ đem con sáo của mẹ ra khoe. Mẹ bắt tôi hát. Mỗi lần hát xong các bác, các cô, bạn của mẹ ai cũng đều rươm rướm nước mắt. Có lần tôi thỏ thẻ hỏi mẹ:
– Sao con hát hay mà mẹ với các bác lại khóc?

Mẹ ôm tôi vào lòng và nói:
– Bao giờ con lớn con sẽ hiểu tại sao.

Cái trí óc non nớt ngày ấy của tôi mơ hồ cảm nhận có một điều gì khác thường ở mẹ, một cái gì mất mát lớn lao trong đời mẹ. Những lúc rảnh rỗi, sau giờ cơm chiều mẹ dạy tôi nói, tôi đọc:

– Con là người gì? 
– Dạ thưa con là người Việt nam
– Con tên gì?
– Con tên là Di Tản
– Con có yêu nước Việt Nam không?
– Con yêu Việt Nam lắm!

Tôi đã thuộc nằm lòng những câu mẹ dạy. Tôi đã quen thuộc với cái tên Di Tản. Tôi thấy tên tôi nó ngồ ngộ, dễ thương làm sao. Đến lúc tôi lên năm, mẹ dắt tôi đến một ngôi trường Tiểu Học ở gần nhà để ghi tên đi học. Từ ngày còn bé tôi chỉ loanh quanh ở cái Apartment (chung cư) mẹ ở mà thôi. Chung cư nầy đa số là người Việt Nam. Lần đầu tiên đến trường, một khung cảnh mới, người mới. Các học sinh cùng lớp với tôi hoàn toàn là những khuôn mặt lạ xa.

Cô giáo cũng thế. Không giống mẹ. Không giống các bác, các cô đến chơi nhà mẹ. Lúc mẹ chào cô giáo ra về, tôi ở lại trường với tâm trạng thật lạc lõng, bơ vơ. Tôi muốn khóc. Tôi muốn theo mẹ ra về làm sao. Tôi ngồi cô đơn một góc lớp. Cô giáo rất trẻ, đến bên tôi nhỏ nhẹ hỏi:
– “What is your name?” (Tên con là gì?)

Tôi cúi mặt, bặm môi chừng như rướm máu, lí nhí đáp bằng cái giọng Việt Nam đặc sệt “Dạ .. Di Tản”. Cô giáo chừng như không hiểu, cô xem lại quyển sổ và hỏi lại tôi “Your name is Đaithen”. Tôi lắc đầu và lập lại “Di Tản”. Cả lớp rộ lên cười. Tôi bật khóc. Tôi khóc ngon lành như bị ai ức hiếp.

Sau buổi học, mẹ đến đón tôi về. Trên suốt quãng đường từ trường về nhà tôi lặng thinh, không nói một điều gì cả với mẹ. Mẹ âu yếm hỏi tôi “Con đi học có vui không”. Chừng như tôi chỉ chờ mẹ hỏi, tôi òa lên khóc và bảo:

– Sao mẹ không đặt cho con một cái tên nào dễ kêu như Helen, như Cindy hay Linda như tụi nó mà mẹ đặt tên con là Di Tản. Cô giáo đọc không được tên con, mấy đứa cùng lớp tụi nó chọc ghẹo con.

Mẹ tôi dịu dàng, từ tốn bảo:
– Con có biết cả nước Canada nầy có biết bao nhiêu là Helen, là Cindy không con? Còn tên Di Tản chỉ có mỗi một mình con. Con không thấy con đặc biệt sao con. Con phải hãnh diện vì cái tên rất là Việt Nam của con mới phải.

Tôi nũng nịu pha một chút hờn dỗi:
– Mà cô giáo đọc là Đaithen mẹ thấy có kỳ không?

Mẹ trìu mến đưa tay vuốt tóc tôi, hiền hòa khẽ bảo:
– Tại cô giáo không biết cách phát âm của người Việt Nam mình đó thôi. Con phải đọc lại cho cô biết rồi từ từ cô sẽ đọc đúng.

Giọng mẹ thiết tha hơn, chùng xuống, sũng đầy nước mắt.
– Mẹ đã mất tất cả rồi con ơi! Mẹ chỉ còn cái tên Việt Nam mẹ gửi cho con. Con có biết như thế không?

Đầu óc của một đứa bé lên năm làm sao tôi hiểu được hết những gì mẹ nói, song tôi biết mẹ buồn lắm. Có một cái gì làm cho mẹ khổ tâm lắm. Tôi cảm thấy ân hận. Tôi ôm mẹ, hôn mẹ, và bảo:
– Con xin lỗi mẹ. Con làm mẹ buồn lắm phải không mẹ?

Tôi thấy mắt mẹ long lanh ngấn lệ.
– Không phải đâu con, con của mẹ ngoan lắm.

Đó là câu chuyện ngày lên năm của tôi. Mãi cho đến những năm sau nầy tên tôi vẫn là một đề tài cho lũ bạn chọc ghẹo. Cái chọc ghẹo cho vui chứ không có một ác ý nào cả. Lúc tôi vào Highschool (Trung Học) tôi đã lớn lắm rồi. Tôi đã hiểu những u uất của đời mẹ. Tôi thương mẹ hơn bao giờ hết.

Thấm thoát mà tôi đã là cô gái 18. Soi gương tôi cũng biết mình đẹp lắm. Mẹ không cho tôi cắt tóc ngắn. Cả trường con gái mái tóc dài chấm lưng với khuôn mặt Á Đông của tôi vẫn là một đề tài nổi bật nhất.

Lại thêm cái tên Di Tản nữa. Lúc nầy tôi không còn buồn mỗi lần bị giáo sư đọc trật tên. Bạn bè tôi, những đứa quen nhau từ lớp Mẫu Giáo đến giờ được tôi huấn luyện cách phát âm nên đọc tên tôi đúng lắm. Tụi nó bỏ dấu còn lơ lớ nhưng tạm được. Nhưng mỗi lần bắt đầu một niên học mới, tên tôi lại là một tràng cười cho lũ bạn cùng lớp mỗi khi các giáo sư mới gọi tên tôi. Giáo sư nào cũng thế. Ngập ngừng một hồi lâu rồi mới đọc.

Tôi cũng không nín cười được cái giọng như ngọng nghịu của một giáo sư người Canada đọc một cái tên lạ quơ lạ hoắc chưa bao giờ thấy và gặp trong lịch sử dân tộc. Trên tay cầm bài test của tôi, ngập ngừng rồi vị thầy gọi “Đai then”.. Cả lớp ồ lên một loạt “Oh, my god”. Vị giáo sư lúng túng, đảo mắt nhìn quanh lớp. Cả lớp nhao nhao lên như bầy ong vỡ tổ. Chừng như tụi nó thích những dịp như thế để câu giờ, “nhứt quỉ, nhì ma, thứ ba học trò” mà. Con Linda ngồi cạnh, hích nhẹ cùi chỏ vào tôi và khẽ bảo:

– Ditan, ổng đọc sai tên mầy rồi kìa, mầy sửa cho ổng đi.

Tôi đỏ mặt. Tôi chưa kịp nói gì cả thì tụi con trai ngồi sau lưng tôi ào ào lên như chợ nhóm “Ditản, Ditản not Đai then”. Vị giáo sư lúc đó mới vỡ lẽ ra, mới biết là mình phát âm sai, ông gục gặc đầu nói lời xin lỗi và lập lại “Ditản Ditản”.

Lúc nầy tôi không còn nhút nhát như ngày xưa nữa. Bạn bè tôi Tây, Tàu, Canadian nữa đều “cứu bồ” tôi mỗi lần có tình trạng như trên vừa xảy ra. Dần dà mọi người gọi tên tôi rất ư là dễ thương. Đến bây giờ nhớ lại những lời mẹ nói với tôi ngày nào, tôi hãnh diện vô cùng về cái tên mẹ đã cho tôi. Tôi thương mẹ vô cùng.

Cái đất nước Việt Nam khổ đau muôn chiều đã gắn liền với mẹ tôi như hình với bóng trong cuộc đời lưu lạc xứ người hơn một phần tư thế kỷ.

Một điều mà tôi có thể khẳng định rằng “dù hoàn cảnh có thể tách rời mẹ ra khỏi quê hương, nhưng không có một hoàn cảnh nào tách rời quê hương ra khỏi tâm hồn mẹ được”.

Mẹ sống như chờ đợi, như mong mỏi một điều gì sẽ đến. Có lần tôi bắt gặp mẹ ngồi một mình trong đêm, tay mân mê, vuốt ve bức ảnh bán thân của bố tôi. Mẹ vẫn nuôi hy vọng Bố còn sống và sẽ có lần gia đình tôi lại đoàn tụ như xưa. Nhưng định mệnh đã an bài. Sau khi nhờ một người bạn làm ở Usaid đưa mẹ con tôi di tản, Bố hứa Bố sẽ gặp lại mẹ sau.

Trong lúc dầu sôi lửa bỏng Bố bảo sao, mẹ nghe vậy. Một mình mẹ bụng mang dạ chửa mẹ đã lên phi cơ, theo đoàn người di tản và mong có ngày gặp lại Bố.

Nhưng niềm hy vọng đó đã vơi dần theo năm tháng cho đến một ngày mẹ được tin Bố đã nằm xuống nơi trại cải tạo.

Mẹ như điên loạn.
Rồi mẹ tỉnh lại.
Mẹ biếng cười, biếng nói.
Cuộc sống của Mẹ đã thầm lặng bây giờ càng thầm lặng hơn xưa.

Ngoài giờ ở sở, về nhà cơm nước xong, trò chuyện với tôi đôi lát rồi Mẹ vào phòng. Cái khoảng đời quá khứ ngày xưa. Những kỷ niệm ngọc ngà ngày nào của Bố và Mẹ như chút dấu yêu còn sót lại. Thời gian không làm nhạt nhòa mà ở Mẹ không một hình ảnh nào mà Mẹ không nhớ.

Mỗi lần nhắc tới Bố, Mẹ như trẻ lại. Mắt Mẹ long lanh ngời sáng. Mẹ kể cho tôi nghe chuyện tình của cô sinh viên Văn Khoa với chàng thủy thủ Hải Quân.

Tôi thuộc nhiều bài hát Việt Nam lắm nên tôi ghẹo Mẹ “Mẹ và Bố giống em hậu phương còn anh nơi tiền tuyến quá”. Ngoài tình mẹ con ra, tôi như một người bạn nhỏ để Mẹ tâm sự, để Mẹ trang trải nỗi niềm nào là “con biết không Bố hào hoa và đẹp trai lắm”… v.v… và v..v…

Tôi nịnh Mẹ:
– Bố không đẹp trai làm sao cua được Mẹ.

Mẹ cười thật dễ thương. 

Một điều mà tôi biết chắc chắn rằng không ai có thể thay thế hình bóng Bố tôi trong tim Mẹ.

Tôi không ích kỷ, song điều đó làm tôi yên tâm hơn. Tôi muốn cùng Mẹ nâng niu, giữ gìn những kỷ niệm dấu yêu, ngọc ngà của Mẹ và Bố cho đến suốt cuộc đời.

Hôm nay nhân ngày giỗ lần thứ 44 của Bố. Con muốn thưa với Bố một điều. Con cám ơn Bố Mẹ đã tạo cho con nên hình, nên vóc. Dù chưa một lần gặp mặt Bố. Dù bây giờ Bố đã nằm xuống. Bố đã đi thật xa, không có lần trở lại với Mẹ, với con. Song với con Bố vẫn là một hiện hữu bên con từng giờ, từng phút.

Con nghĩ Bố đã che chở Mẹ con con hơn một phần tư thế kỷ nay. Xin Bố hãy giữ gìn, che chở Mẹ, con trong suốt quãng đời còn lại. Con mong làm sao ngày nào đất nước thật sự thanh bình Mẹ sẽ đưa con trở về thăm lại quê hương. Con sông xưa sẽ trở về bờ bến cũ. Ngày ấy ở một phía trời nào đó của quê hương con thấy bố mỉm cười và Bố nói với con: “Bố sung sướng lắm, con biết không? Con yêu dấu!”

Hoàng Thị Tố Lang

Hits: 15

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Vọng Tiếng Kinh Xưa

Ta ngỡ hồn ta những miếu đền 

Từ trong vạn cổ kiếp không tên

Vẳng nghe như tiếng ngàn xưa gọi

Tâm thức trở mình sau lãng quên.

 

Chung bước ta về nơi cõi Tâm

Giữa vùng Thạch động chốn nghiêm thâm

Dập đầu phủ phục bàn chân Phật

Mà nghe rơi rụng những mê lầm.

 

.. Dòng thời gian chảy ngang trần thế

Muôn sự chìm trong lẽ Sắc, Không

Tiền nhân nay biết tìm đâu nữa

Bài Kinh vách đá đã rêu phong.

 

Ta trở về thăm chốn tịch liêu

Ôi đời thanh thản biết bao nhiêu!

Bôn ba vạn kiếp nơi trần mộng

Sao bằng khoảnh khắc sống tiêu diêu…

 

Ta ngỡ hồn ta những mái chùa

Sau làn sương phủ kiếp hoang sơ,

Ta về gióng lại hồi chuông sớm

Một thoáng Thiền tâm.. chạm bến bờ.

 

         Thích Tánh Tuệ (Ajanta India )

Hits: 28

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Bách bệnh sinh ra bởi khí và được chấm dứt bởi âm nhạc

Âm nhạc là một loại giai điệu, một loại ngôn ngữ và còn được ví là một loại tâm tình. Hết thảy những sung sướng, bi ai, u buồn, hài hước hay phẫn nộ… của con người đều có thể dùng nó mà bày tỏ ra. Sức hấp dẫn mạnh mẽ của nó là có thể chạm được đến tâm linh con người.

Âm nhạc có thể kích thích thần kinh con người, khiến con người bị lay động. Nó cũng được ví như là một phương thuốc rót vào tâm linh con người. Sở dĩ âm nhạc có những tác dụng ấy là bởi vì nó dùng một loại hình thức độc đáo để phản ánh bản chất của vũ trụ, phản ánh trạng thái tâm linh của con người. Nó ảnh hưởng đến tinh thần và thể xác của con người một cách rộng khắp, thâm sâu và tương đối trọn vẹn.

Âm nhạc có sức mạnh giáo hóa và chính lại đạo đức con người

Chính bởi vì âm nhạc là có tác dụng dưỡng sinh độc đáo, cho nên, cổ nhân dùng nó để dưỡng tâm và trị bệnh. Chúng được gọi chung là “Liệu pháp âm nhạc”, cũng gọi là “Âm nhạc dưỡng sinh” hoặc “Âm nhạc chữa bệnh”.

“Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”

Câu “Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu” trong “Kinh Dịch” đã nói rõ về lịch sử lâu đời của âm nhạc dưỡng sinh. Trong y học cổ đại và lịch sử đều có ghi chép rất sớm về các chuyên gia dùng âm nhạc trị liệu như thế nào.

Thời Xuân Thu, các danh y nhà Tần khi được Tấn Bình Công – vị vua thứ 30 nước Tấn cầu đến để trị bệnh đã trình bày và phân tích một cách sâu sắc về mối quan hệ giữa âm nhạc và sức khỏe. Trong các phân tích của họ đều chỉ ra rằng, âm nhạc tốt là có thể trị được khỏi bệnh.

Các bậc thánh hiền cổ xưa như Khổng Tử, Trang Tử, Tuân Tử, Hàn Tử cũng đều có cách giải thích độc đáo của bản thân về tác dụng trị bệnh của nhạc. Theo Khổng Tử, nhạc cần phải lấy lễ tiết làm trọng.

Trang Tử khi trình bày và phân tích về nhạc, đã nói: “Vô thính chi dĩ nhĩ, nhi thính chi dĩ tâm; vô thính chi dĩ tâm, nhi thính chi dĩ khí”. Ý nói rằng, đừng nghe bằng tai mà nghe bằng tâm, đừng nghe bằng tâm mà nghe bằng khí. Tuân Tử cũng đề xướng việc dùng lễ và âm nhạc để trị nhân, trị quốc.

Âm nhạc có sức mạnh giáo hóa và chính lại đạo đức con người

Đến triều đại nhà Đường, Tống, âm nhạc phồn vinh, thịnh vượng chưa từng có. Tác dụng dưỡng sinh và trị bệnh của âm nhạc được người người biết đến. Thời này, việc ứng dụng âm nhạc vào trị bệnh được sử dụng rộng khắp và có hiệu quả to lớn.

Thi nhân vĩ đại Bạch Cư Dị (772 – 846), người am hiểu sâu về âm nhạc, từng làm rất nhiều thơ về âm nhạc dưỡng sinh. Trong “Hảo thính cầm”, ông viết:

Bổn tính hảo ti đồng
Tâm ky văn tức không
Nhất thanh lai nhĩ lí
Vạn sự li tâm trung
Thanh sướng kham tiêu tật
Điềm hòa hảo dưỡng mông
Vưu nghi thính ‘ tam nhạc ’
An úy bạch đầu ông.

Những câu thơ này đều nhấn mạnh công năng điều tiết lòng người của nhạc.

Đại văn hào Âu Dương Tu (1007 -1072) thời Bắc Tống cũng viết trong “Âu Dương văn trung công tập” rằng: Ông từng cảm thấy rất đau buồn vì việc chính sự, khiến cho thân thể gầy yếu. Sau một thời gian dài uống thuốc mà không có hiệu quả. Lúc ấy, bạn của Âu Dương Tu là Tôn Đạo Tư đã dùng âm nhạc trị được bệnh này cho Âu Dương Tu. Âu Dương Tu tràn đầy cảm xúc mà thốt lên rằng: “Dùng thuốc trị bệnh không bằng dùng âm nhạc trị bệnh”. Đây là một ví dụ điển hình về dùng âm nhạc chữa bệnh trong lịch sử.

Trương Tử Hòa (1151~1231), một trong những danh y nổi tiếng nhất thời nhà Kim rất giỏi về dùng âm nhạc để chữa bệnh. Ông đề xướng việc học tập nhạc khí. Ông cũng đề cao việc con người nên rèn luyện âm nhạc để làm tan biến đi nỗi thống khổ về bệnh tật của con người.

Đến thời nhà Minh Thanh, liệu pháp âm nhạc được tiến thêm một bước phát triển. Nhận thức và nghiên cứu cơ chế dùng nhạc để chữa bệnh được tiến thêm một bước. Nghiên cứu dùng âm nhạc trị bệnh của Trương Cảnh Nhạc (1563-1640) thời Minh được xem là thâm hậu hơn cả và liệu pháp dùng âm nhạc chữa bệnh của ông cũng đầy đủ và được sùng bái hơn.

Trong cuốn “Loại kinh phụ dực”, Trương Cảnh Nhạc có nguyên một chương tiến hành phân tích và trình bày liệu pháp âm nhạc, lấy tên là “Luật nguyên”. Trong phân tích ấy, ông nêu nhận định: “Âm nhạc có thể tương thông với Trời Đất mà hợp với Thần linh.” Thời nhà Minh, Cung Cư Trung đưa ra nhận định âm nhạc có thể bồi dưỡng tính cách con người.

Ngô Sư Cơ, danh gia thời nhà Thanh đặc biệt coi trọng tác dụng của liệu pháp âm nhạc trong trị bệnh. Trong cuốn “Lý luận biền văn”, ông viết: “Thất tình chi vi bệnh dã, khán hoa giải muộn, thính khúc tiêu sầu, hữu thắng vu phục dược giả hĩ”. Nghĩa là, thất tình (hỉ, nộ, ai, cụ, ái, ố, dục) của con người có thể được giải bởi âm nhạc, nó có tác dụng lớn hơn thuốc. Trong sách “Y thông kim giám” thời nhà Thanh miêu tả lại cơ chế chữa bệnh của ngũ âm trong âm nhạc.

Học thuyết âm dương và âm nhạc dưỡng sinh

Học thuyết âm dương là tư tưởng triết học thời trung cổ, nó là xuyên suốt hệ thống y học. Âm dương cân bằng là cơ sở để thể xác và tinh thần khỏe mạnh.

“Thái bình kinh” thời Đông Hán vận dụng học thuyết âm dương để giải thích ý nghĩa dưỡng sinh của nhạc. Nó cho rằng, quá trình phát triển của âm nhạc là thuận theo quy luật âm dương tương sinh, động tĩnh tương ứng của vạn vật trong vũ trụ.

Sức mạnh hàn gắn thân tâm diệu kỳ của âm nhạc cổ

Về lý âm dương đối với âm nhạc, cổ nhân giải thích rằng: Cao là dương, thấp là âm, âm điệu lớn là dương, âm điệu nhỏ là âm, mạnh là dương, yếu là âm, cứng là dương, mềm là âm, tiếng của kim loại là dương, tiếng của gỗ là âm…

Âm nhạc dưỡng sinh chính là sử dụng thuộc tính âm dương trong âm nhạc để uốn nắn lại những gì bị thiên lệch, bị mất cân bằng. Từ đó mà điều hòa âm dương, khiến cho âm dương cân bằng.

Ví như, đối với người bị lạnh (thiếu dương) thì cần phải sử dụng cách “ôn dương tán hàn” (tăng âm, giảm lạnh) để điều chỉnh. Đối với những người như vậy, người ta lựa chọn loại âm nhạc sinh động, vui tươi, hưng phấn, cảm xúc mạnh mẽ để cho người bệnh thưởng thức…

Ngũ hành và âm nhạc dưỡng sinh

Trong cuốn “Tố Vấn. Âm dương ứng tượng đại luận” nhận định rằng ngũ âm trong nhạc và Trời, Đất, Thân thể, tâm là có mối quan hệ khăng khít với nhau. Người ta đem ngũ âm (năm bậc âm giai cổ: cung, thương, giốc, chuỷ, vũ, ) phân thành ngũ hành là (mộc, hỏa, thổ, kim và thủy). Vì thế mà ngũ âm cùng với ngũ tạng cũng là tương thông với nhau. Học thuyết “Ngũ tạng đồng âm” chính là nói ngũ âm phù hợp tương ứng với ngũ tạng. Cụ thể là, cung thanh nhập (đi vào) tỳ, thương âm nhập phổi, giốc thanh nhập gan, chủy thanh nhập tim, vũ thanh nhập thận.

 

Sức mạnh hàn gắn thân tâm diệu kỳ của âm nhạc cổ
Thang âm ngũ cung tương ứng với ngũ tạng (Ảnh: Internet)

Cung thanh được xếp hạng thuộc loại cao, có liên hệ với thổ, và ảnh hưởng đến bộ phận tỳ. Những người thường xuyên nghe loại nhạc lấy cung thanh làm chủ thì sẽ trở nên tốt bụng và khoan dung.

Âm điệu của dây thương là nặng nề, giống kim khí, không bị bẻ cong. Loại âm nhạc này ảnh hưởng đến phổi. Nếu nghe thường xuyên thì người ta sẽ trở nên chính trực và thân thiện.

Âm nhạc lấy căn bản là dây giốc thì chào mừng mùa xuân tới và đánh thức mọi đời sống trỗi dậy sảng khoái. Loại nhạc này ảnh hưởng tới gan. Nghe nó thì người ta sẽ trở nên lương thiện và hòa giải.

Âm nhạc với dây chủy làm chủ là rất sôi nổi về tình cảm, giống như hỏa. Nó ảnh hưởng đến tim, khiến cho người nghe nó trở nên rộng lượng.

Âm điệu lấy dây vũ làm chủ là u sầu, giống như nước chảy êm đềm. Nó ảnh hưởng đến thận. Lắng nghe những âm điệu này làm cho người ta cảm thấy đầu óc nhẹ nhàng, “buồn nhưng không đau khổ”, “vừa ý nhưng không quá mức”.

Bởi vậy, cổ nhân căn cứ vào từng loại chứng bệnh, căn cứ vào học thuyết ngũ hành mà lựa chọn loại âm nhạc thích hợp để đạt được hiệu quả dưỡng sinh tốt nhất.

Thất tình và âm nhạc dưỡng sinh

Trong “Tố Vấn. Âm dương ứng tượng đại luận” viết: “Con người có ngũ tạng, tương ứng sinh ra ngũ khí là hỷ, giận, bi, ưu, sợ”.

Trong đó cũng viết: “Bách bệnh sinh vu khí, nộ tắc khí thượng, hỉ tắc khí hoãn, bi tắc khí tiêu, khủng tắc khí hạ, kinh tắc khí loạn, tư tắc khí kết”. Nghĩa là bách bệnh của con người đều sinh ra bởi khí, phẫn nộ thì khí mạnh, vui thì khí chậm, đau buồn thì khí tiêu tan, sợ thì khí hạ thấp, kinh hãi thì khí loạn. “Hỷ, nộ, ưu, tư, bi, khủng, kinh” được coi là thất tình của con người. Âm nhạc thích hợp có thể dung hợp và làm biến đổi trạng thái tinh thần của con người.

Danh y Trương Tử Hòa, thời nhà Kim từng có rất nhiều kiến giải, như: “Lấy bi trị nộ”, tức là khi người ta phẫn nộ, có thể nghe loại âm nhạc có hàm chứa cảm xúc, thương tiếc, xót xa để chế ngự. “Lấy hỷ trị bi”, tức là dùng nhạc vui vẻ, hài hước để xua tan tâm trạng bi thương. “Lấy khủng trị hỷ“, tức là dùng nhạc mang tính răn đe để khắc chế sự vui mừng quá mức của con người…

âm nhạc
(Hình minh họa)

Cổ ngữ có câu: “Bách bệnh sinh vu khí nhi chỉ vu âm”, ý là bách bệnh của con người sinh ra bởi sự mất cân bằng về khí và được chấm dứt nhờ âm nhạc. Câu nói ngắn gọn này đã nói hết tác dụng to lớn của âm nhạc trong việc trị bệnh con người. Các cổ nhân đều dùng phương pháp này để tiêu trừ bệnh tật của mình.

Ngày nay, liệu pháp âm nhạc không chỉ được dùng trong các lĩnh vực truyền thống, như để giảm bớt áp lực tinh thần, chống lại sự lo âu muộn phiền, trị mất ngủ… Mà âm nhạc còn được kết hợp với quang điện, châm cứu, xoa bóp để trị các chứng bệnh nặng khác.

Đối với sức khỏe con người hiện đại ngày nay mà nói, bệnh tật là có rất nhiều nguyên nhân khác nhau làm khởi phát. Có thể hiểu biết, lựa chọn loại nhạc “thanh tao, đức độ” để điều tiết cảm xúc là một lựa chọn thông minh trong việc bảo vệ sức khỏe của bản thân và gia đình.

An Hòa 

Hits: 30

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Cơn Bão Ngoài Trời, Cơn Bão Trong Lòng

Tác giả lần đầu dự Viết Về Nước Mỹ 2018. Bà cho biết: Tên thật là Ngô Phương Liên,  học Trưng Vương thời trung học, vượt biển qua Mỹ năm 79. Đi học lại gần  6 năm mới ra trường với bằng BS engineer năm 85. Hiện là cư dân ở Lafayette, Louisiana, còn vài năm nữa sẽ … ăn tiền gìa. Bút hiệu Pha Lê, theo chú giải vui của tác giả, không phải là trong veo như Pha Lê, mà là… Pha trò và Lê la! Sau đây là bài viết thứ tư của bà.

                                           ******************************

  Ông John nhìn sững trên màn ảnh TV, hớp nốt ngụm beer còn lại, ông bóp nát lon beer trong tay và bực dọc ném mạnh vào thùng rác nơi góc bếp. Cơn bão Harvey bất ngờ đổ ập đến làm hỏng hết dự tính ông đã sắp đặt suốt 3 tháng trời.

Để tiến hành dự tính này, ông John đã phải tìm kiếm những dữ kiện, chỉ dẫn trên internet, nhưng ông phải vào thư viện, vào những quán cà phê để sử dụng máy computer của họ vì ông không thể dùng máy của ông được. Ngay cả cuộn dây thừng, tấm bạt nylon, cuộn băng keo, ông cũng phải lái xe ra khỏi thành phố, đến nhưng tiệm hardware nhỏ của địa phương  để mua. Đặc biệt đôi găng tay, ông đã phải đi ba bốn tiệm  mới tìm đươc một đôi vừa  ý.

Nhưng John dự tính gì mà cần chuẩn bị quá kỹ lưỡng đến vậy? Ông phải tính toán, hoạch định từng chi tiết nhỏ để sẽ không có một sơ hở, một lỗi lầm nào trong lúc ông thực hiện công việc này, bởi chỉ một chút sơ sẩy, cái giá ông phải trả chính là mạng sống của ông! Đúng vậy, bởi vì ông ta đang âm mưu “giết vợ!” 
 Ông John, một người Mỹ gốc Ái Nhĩ Lan trên 60 tuổi, là một tài xế lái xe truck xuyên bang. Ông đã thất nghiệp hơn nửa năm nay. Hai vợ chồng ông lấy nhau hơn 30 năm,  bà John làm quản thủ thư viện của thành phố hơn 20 năm. Ccó lẽ vì công việc ở thư viện ngồi nhiều hơn phải đi nên bà John thuộc hạng người “ăn gì to lớn đẫy đà làm sao”, nhưng bà rất hiền lành, bình dị và nói cho cùng, vóc dáng của bà cũng vẫn tương xứng với  thân hình hộ pháp của ông, 6ft 9 và nặng  hơn 250lb!

John còn nhớ cách đây hơn 4 tháng, khi ông mới thất nghiệp, trong một lần trà dư tửu hậu, một ông bạn già vợ vừa mất, bạn bè ngỏ lời chia buồn, nhưng ông ta  chỉ cười cười vì ông vừa “ẵm” gần 250 ngàn đô tiền bảo hiểm nhân thọ cùa bà vợ quá cố. Câu chuyện đó đã ám ảnh ông John mãi.

Thật ra, dù không còn yêu vợ, ông John chẳng bao giờ dám có ý nghĩ đen tối như vậy, nhưng thất nghiệp, ngày ngày đi ra  đi vào,  cuộc sống ông John dần dần đi đến chỗ bế tắc. Nợ nhà, nợ xe, nợ thẻ tín dụng, đủ thứ nợ dồn dập mỗi tháng khiến ông muốn ngộp thở, đã thế, lâu lâu lại nghe tin ông bạn vợ vừa mất nay đi du lịch nước này, mai đi thưởng ngoạn  bãi biển kia khiến ông John càng nôn nóng, và ông quyết định phải thanh toán bà vợ hơn 30 năm đầu ấp tay gối này!

Ông bắt đầu suy tính kế hoạch, ông nhớ nhiều lần coi những phim cảnh sát điều tra tội ác, người đàn ông giết vợ mà tỉnh bơ đi mua sắm những vật dụng cần thiết cho âm mưu đen tối của mình tại một cửa tiệm gần nhà, xài thẻ tín dụng, lại còn cà kê dê ngỗng một hồi với người bán hàng. Khi bị bắt, hình ảnh ông ta trên camera của tiệm hiện ra rõ mồn một, hết đường chạy tội!

Có bà thuốc cho chồng chết và khai người chồng bị ngộ độc, khi bị điều tra, cảnh sát tìm ra trên computer của bà, bà đã  nghiên cứu tìm tòi trên internet các loại độc dược, cách sử dụng, công hiệu v.v…, hết cách chối tội!  Toàn những bộ óc kém thông minh, lạy ông tôi ở bụi này, ông John thầm nghĩ.

Cho nên ông đã phác họa một phương án vô cùng toàn hảo cho âm mưu của ông. Đôi găng tay ông sẽ xiết cổ bà vợ, gói bà vào tấm bạt nylon, cột thật chặt bằng hai cuộn dây thừng, mang xác bà tới một khu rừng vắng và với 10 gallons xăng, ông sẽ đốt và phi tang xác bà một cách dễ dàng.

Ông đã cẩn thận cất dấu  tất cả những “vật liệu” này trên căn gác  của nhà kho sau vườn. Một điều thuận lợi hơn nữa là nhà ông nằm cuối cùng của khu phố, bên trái là  một khoảng đất trống, còn người hàng xóm bên phải là hai vợ chồng già VN trên 80 tuổi,  ông bà Phan, họ sống rất khép kín. Cho nên ông John rất yên tâm không ai có thể nhận ra sự vắng mặt của vợ ông.

 Nhưng người tính không bằng trời tính! Nhiều lần ông đã định ra tay, nhưng cứ trật vuột hoài, có lúc thì bà John lái xe về thăm cha mẹ ở thành phố khác cả tuần, khi thì chị ông ghé qua thăm  rồi ở chơi vài ngày, và lần này còn thê thảm hơn, mưa gió bão bùng lụt lội như thế này, làm sao ông vô rừng “đốt” được cái xác!

Ông John ngồi thừ người suy nghĩ, trên TV dự  báo thời tiết cơn bão sẽ tiến vào đất liền nội trong ngày mai. Quá mệt mỏi, ông John ngả người trên sofa và chìm vào giấc ngủ một cách khó nhọc.

Tiếng sấm và làn chớp sáng lòa ngoài cửa sổ khiến ông John giật mình bừng tỉnh. Ông ngơ ngác vài giây, căn nhà tối đen vì cúp điện, chỉ có một ngọn nến leo lét trong nhà bếp. Với tay cầm chiếc cell phone lên, ông giật mình vì đã hơn 3 giờ sáng. Ngoài trời gió bắt đầu mạnh hơn,và mưa cũng đang rơi xối xả. Đặt chân xuống đất, ông  John hốt hoảng vì ông vừa dẵm lên phần thảm ướt nhẹp,  trong nhà ông, nước đã ngập ngang qua bực thềm của lò sưởi. Tiếng bà John cất lên sau lưng khiến ông John giật bắn mình:

– Nhà mình nước ngập như thế này, nhà ông bà Phan chắc còn tệ hơn, tôi nhìn sang thấy tối thui.

Ông John bực mình ngắt lời bà:

– Cúp điện, bà không thấy sao,nhà nào mà chẳng tối.

Giọng bà John bỗng trở nên khẩn khoản :

– Ngày mai ông thử chạy sang xem sao, tội hai vợ chồng già, con cái lại ở xa.

– Ừ, để mai rồi tính!

 Ông John hứa đại với bà cho xong chứ chính bản thân  ông cũng chưa biết ngày mai sẽ ra sao.

Hôm sau, tiếng bà John  cùng cái lay nhẹ trên vai khiến ông John bừng tỉnh, đã gần 9 giờ sáng mà bầu trời vẫn xám xịt và cơn mưa mỗi lúc càng nặng hạt hơn. Nhớ tới đôi vợ chồng già hàng xóm bên cạnh, ông John tất tả bước ra ngoài, mực nước bây giờ đã dâng ngang đầu gối ông. Biết không thể nào vào nhà bằng cửa trước được, ông John đành phải phá cửa sổ  vừa trèo vào,vừa lớn tiếng kêu gọi ông Phan, từ trong phòng ngủ một giọng nói yếu ớt vang lên  : 

– Chúng tôi ở trong phòng ngủ, cái phòng cuối cùng.

Cố lội nhanh về hướng đó, và khi ánh đèn pin rọi vào góc phòng, một hình ảnh khiến ông John sững người cảm động, trên chiếc giường, ông Phan đang ngồi ôm vợ. mặt bà Phan xám ngắt và đôi mắt bà vẫn nhắm nghiền, nhìn thấy ông John, ông Phan mừng rỡ nói :

– Lạy Chúa tôi, cám ơn ông đã đến, suốt đêm qua tôi cứ phải luôn trấn an vợ tôi, tôi chỉ lo bà ấy sợ quá rồi ngất xỉu thì thật tôi không biết phải làm sao. Có cái cell phone thì tôi lại đánh rơi xuống nước, giờ không gọi được nữa.

 Rồi ông Phan quay sang nhìn bà vợ với ánh mắt thương yêu, ông dịu dàng nói:

– Có tôi đây, bà không phải lo gì hết.

 Chợt chuông điện thoại của ông John réo vang, nhìn qua số phone, ông John mừng rỡ vì đó là  mục sư William. Ông mục sư cho biết hội trường nhà thờ xây trên một khu đất cao, chắc chắn sẽ không bị lụt, ông muốn tất cả giáo dân nếu chưa kịp di tản, hãy đến trú ngụ tạm tại nơi đây cho qua cơn bão táp. Ông John vắn tắt nói ý đó với ông Phan và dặn ông bà hãy sửa soạn một ít quần áo và vật dụng cá nhân, ông sẽ quay lại.

 Lội bì bõm qua mảnh sân để về nhà, từ xa ông đã nhìn thấy bóng bà John đang đứng lo lắng nhìn về cuối đường. Bước vào nhà, ông nhắc lại ý của mục sư Wiliam và thúc dục bà mau thu xếp ít đồ dùng cá nhân để kịp tới hội trường nhà thờ trước khi cơn bão trở nên  dữ dằn hơn. Nhìn bà lật đật, lúng túng thu dọn, lòng  ông John  chợt xốn xang, và ông cảm thấy  bà rất đáng thương, ông buột miệng lập lại câu nói của ông Phan ;

– Có tôi đây, bà không phải lo gì hết!

Hơi ngạc nhiên từ  câu nói nhẹ nhàng hiếm có của chồng, nhưng bà John chỉ khẽ mỉm cười. Ông John cũng chợt nhớ ra suốt 2 ngày nay, ông đã gần như quên cả ý định đưa bà sang bên kia thế giới!

*
Bây giờ thì mọi người đã tề tựu trong hội trường của nhà thờ. Có tất cả 38 người. Mục sư William chào mừng và cầu chúc mọi người được bình an qua cơn bão táp phong ba này. Rồi ông buồn bã lo lắng nói:

– Vì không chuẩn bị trước nên chúng ta chỉ có đủ xăng  chạy máy phát điện đến 2 giờ đêm, sau đó chúng ta chỉ còn đèn cầy mà thôi, và với tình trạng này, chẳng có một cây xăng nào mở cửa.

 Bỗng một giọng nói vang lên từ cuối hội trường:

– Tôi có xăng, tôi còn xăng dự trữ ở nhà.

Mọi người cùng quay lại và nhận ra đó là ông John. Mục sư William vui mừng nhưng ông vẫn dè dặt hỏi lại :

– Ông không cần giữ lại phần xăng đó để làm gì sao?

 – Thưa không, số xăng đó bây giờ tôi không cần đến nữa!

Ông John đưa Mục sư William về nhà kho của ông. Hai cậu trai tình nguyện viên của nhà thờ đang mò mẫm trên căn gác xép nơi ông John cất dấu thùng xăng, chợt một cậu lên tiếng: .

– Trời ơi có cả một cuộn dây thừng, tấm bạt nylon, 2 cuộn băng keo, tất cả đều còn mới nguyên trong bọc. Nhà thờ đang cần những thứ này, chúng tôi mang xuống hết được  không?

 Ông John choáng váng gần như á khẩu, mục Sư William vẫn kiên nhẫn đứng yên chờ đợi. Thở một hơi dài,ông John cố gắng nói,nhưng ông chợt cảm thấy tiếng nói của ông như từ một nơi xa xăm nào đó vọng lại:

– Thưa vâng, mang về nhà thờ đi. Tất cả mấy thứ này bây giờ không cần cho công việc của tôi nữa.

Nắm chặt đôi tay của ông John, mục sư William vừa ra dấu  biết ơn, vừa ngỏ ý:

– Nhưng công việc đó là công việc gì, ông có cần  chúng tôi giúp một tay không?

 Đến lúc này ông John không thể chịu đựng được nữa, ông cảm thấy nghẹt thở và tim ông đập những nhịp đập không bình thường, ông đành bước ra ngoài xe ngồi chờ mọi người.

Đêm hôm đó, nhờ số xăng của ông John, hội trường có đèn sáng suốt đêm. Tấm bạt nylon được dùng để che một góc sau hội trường cho các bà nấu nướng. Những cuộn dây thừng dùng để cột những nhánh cây to để khi gió thổi mạnh, chúng không  quật  ngược lại hội trường, có thể làm sập mái nhà.  Cuộn băng keo dùng để dán những cửa số bằng kính xung quanh hội trường.

 Bây giờ mọi người cảm thấy bình tĩnh và an tâm hơn sau khi mỗi người được một chén soup nóng. Không  gian trong hội trường thật êm ả, bình an dù bên ngoài cơn bão  cấp 3 đang tiến dần vào thành phố. Mục sư William ngỏ ý muốn cử hành một thánh lễ ngắn gọn vừa để tạ ơn Thiên Chúa, vừa cầu xin Người che chở cho mọi người trong những ngày mưa gió sắp tới.

Đứng trên bục  giảng, mục sư William thật cảm động khi nhìn xuống giáo dân đang thành tâm khấn nguyện. Các bà với khuôn mặt đầm đìa nước mắt, ngay cả những các ông đôi mắt cũng rưng rưng. Mục sư cũng nhắc nhở tên ông John nhiều lần vớùi lời tri ân trang trọng và thắm thiết.

Quỳ bên cạnh vợ, khuôn mặt ông John cũng ràn rụa nước mắt. Nhìn ông khóc, mọi người càng thương cảm và quý mến ông hơn. “Ông ta đúng là thiên thần hộ mệnh do Thiên Chúa sai xuống để giúp đỡ, che chở  cho chúng ta trong cơn hoạn nạn thương đau này, những giọt nước mắt kia thật quý giá,” một số người đã nghĩ như thế về ông.

Nhưng dĩ nhiên không một ai, kể cả mục sư William và ngay cả bà John đang quỳ bên cạnh, có thể hiểu rõ ý nghĩa thật sự của những giọt nước mắt đang lăn dài trên khuôn mặt ông John. Đó chính là những giọt lệ vừa ăn năn  thống hối, vừa vui mừng,  hạnh phúc vì ông đã không thực hiện âm mưu đen tối, không nhúng tay vào tội ác tày trời.

Đối với mọi người, cơn bão Harvey là sự tàn phá, mất mát, và đau thương, nhưng đối với riêng ông, cơn bão này đã giúp ông rời xa cái vực thẳm tội ác, biến đổi ông thành một con ngưới mới, biết yêu thương, tha thứ và quảng đại.

 Sau thánh lễ, dù trời đã khuya, và bên ngoài gió vẫn thổi phần phật lẫn  trong tiếng mưa xối xả, nhưng mọi người quây quần thành từng nhóm. Ông John cố tránh tiếp xúc với mọi người vì ông thật khổ sở với những câu cám ơn, những cái xiết tay, những ánh mắt ngưỡng mộ.

Bước về phía cuối phòng, ông John  ngồi xuống cạnh những ông bạn già. Một ông đang kể về những trận bão, giọng ông thật hài hước:

– Cơn bão Harvey này là tên đàn ông nên không đáng lo ngại lắm. Cơn bão tên đàn bà mới là cả một vấn đề, như bão Katrina năm nào, khi “nàng” lên cơn, sức tàn phá thật khủng khiếp, và khi ra đi, “nàng” cuốn theo hết cả sinh mạng lẫn nhà cửa, tài sản…

 Ông ngừng vài giây, chỉ vào ngực mình và nói tiếp :

– Như tôi đây, từng là nạn nhân của nàng Katrina, nay chỉ còn tay trắng mà thôi!

 Nói xong ông phá lên cười khoái trá. Ông John cũng muốn cười to vì tính cách khôi hài của câu chuyện, nhưng chỉ dám cười nho nhỏ vì ông không muốn ai biết ông đang ngồi đây.

Khẽ dựa lưng vào góc tường, ông John đưa mắt nhìn quanh. Nơi góc phòng, cạnh cửa sổ, ông bà Phan đang ngồi trên một tấm nệm mỏng trải tạm cho ông bà. Khuôn mặt bà Phan đã hồng hào và tươi tỉnh hơn trước. Với chiếc quạt giấy trên tay, bà khe khẽ quạt nhè nhẹ cho ông Phan.

Ngồi cạnh vơ, ông Phan chợt nhớ lại cảnh tượng hãi hùng đêm qua. Hơn 50 năm lấy nhau, trải qua bao tháng ngày cực khổ, nghèo đói nơi quê nhà. Trải ra bao  tủi nhục đắng cay nơi trại cải tạo, rồi thêm một cuộc vượt biên thập tử nhất sinh. Đã hết đâu, còn những năm tháng lao động cật lưc mưu sinh trên đất nước này để nuôi dạy đàn con 4 đứa. Bây giờ mọi việc đã xong xuôi, con cái ông bà đã trưởng thành, ông bà bắt đầu an hưởng tuổi già, chẳng lẽ ông bà lại chết vì trận bão “lãng xẹt” này hay sao! Ông Phan nói lại cho bà nghe ý nghĩ đó, bà chỉ nhìn ông móm mém cười đôn hậu. Nhìn nụ cười đó cùng với những sợi tóc bạc lơ thơ trên vầng trán già nua nhăn nheo của vợ, ông Phan xúc động  đọc cho bà vài câu trong bài thơ  “Tình  Già ” của Phan Khôi :

   Hai mươi bốn năm xưa, một đêm vừa gió lại vừa mưa
   Dưới ngọn đèn mờ, trong gian nhà nhỏ,
   Hai mái đầu xanh kề nhau than thở…

 Ông bỗng bật cười vì 3 chữ  “mái đầu xanh”, có lẽ phải đổi “mái đầu… grey” mới đúng!

 *
 Rồi cơn bão cũng đi qua. Mọi người lục đục sửa soạn trở về xem  lại nhà cửa. Ông bà Phan và vài gia đình được con cái hay người thân đón về tam trú tại nhà họ nơi các thành phố khác. Mục sư William đứng trước cửa hội trường bắt tay, chúc bình an cho từng người. Tới phiên ông John, với cái xiết tay thật chặt, mục sư William thành khẩn tri ân ông và nguyện xin ơn trên trả công bội hậu cho ông.

Suốt mấy ngày nay ông John đã  khổ sở  “bị ” nghe những câu nói như thế, không đủ can đảm đứng nghe thêm , ông vội vã cáo từ mục sư và cùng vợ hối hả bước ra xe.

 Ngồi trên xe truck lái về nhà, chung quanh ông cảnh tượng thật hoang tàng đổ nát. Bà John ngồi im lìm nhưng trên khuôn mặt bà hiện lên nhiều nét đau thương, rồi bỗng bà nói:

– Nhà cửa, xe cộ, tài sản mất hết thì vẫn còn có thể kiếm lại được, nhưng không biết trong những ngôi nhà kia, gia đình có còn đầy đủ mọi người hay không, cơn bão Harvey này thật tàn khốc !

 Ông John khẽ liếc nhìn vợ, ông cảm thông những điều bà vừa nói, nhưng bà làm sao biết được mấy ngày vừa qua, chính ông cũng bị một cơn bão, mạnh gấp trăm lần cơn bão ngoài trời kia, “quậy” phá khiến ông xơ xác tiều tụy. Đó chính là cơn bão trong lòng ông!

Đẩy cửa bước vào nhà, dù đã đoán trước cảnh tượng sẽ rất tiêu điều, ông bà John cũng dội ngược vì mùi ẩm mốc bay lên. Nhìn vợ ngẩn ngơ trước những đổ vỡ, mất mát, ông John dặn vợ đừng đụng vào đồ vật trong nhà, rồi ông đẩy cửa bước ra sau nhà.

Bên ngoài cây cối ngã rạp, hàng rào nghiêng đổ, bỗng chân ông vấp phải một vật gì, nhìn xuống, ông nhận ra đó là bình đựng xăng mà ông mua dư cho ” dự tính” của ông. Vẩn vơ suy nghĩ, chợt ông tìm ra được một điều khá lý thú, những thứ ông mua: xăng, cuộn dây thừng, tấm bạt nylon, cuộn băng keo với một mục đích kết liễu một mạng người, nhưng ngẫu nhiên nó lại được dùng để cứu giúp cho những người khác trong cơn  hoạn nạn, nguy khốn.

 Nhìn lên bầu trời xanh ngắt  lãng đãng những cụm mây trắng. ông John chợt ngộ ra một điều rằng trong cõi vũ trụ huyền vi vô thường kia, chắc chắn phải có một đấng tạo hóa tài năng vô song đã sắp xếp tất cả mọi chuyện xảy ra một cách tuần tự, lớp lang cho cõi trần gian ô trọc và đầy hệ lụy này! Dù xung quanh ông John cảnh tượng thật hoang tàng, đổ nát, nhưng lòng ông bỗng cảm thấy thật thanh thản, bình an.

 Bước vào nhà, ông John thấy vợ đang ngồi qua lưng về phía ông, chẳng lẽ bà đang nhặt lại những đồ vật không bị hư hỏng vì cơn bão hay sao, ông John tự hỏi, thay vì gắt gỏng như mọi khi, ông John chỉ nhẹ nhàng nói:

– Tôi đã dặn bà đừng đụng tay vào đồ vật trong nhà, những vi khuẩn mốc meo có thể sẽ làm bà bịnh đó.

 Bà  John quay lại mỉm cười nói:

– Tôi biết, nhưng tôi tìm được đôi găng tay còn mới nguyên trong bao, đôi bao tay thật dầy, lại có lớp cao su bên ngoài.

 Nói xong bà đưa hai tay lên, ông John nhìn thấy bà đang đeo đôi bao tay vàng mà vài tháng trước ông đã phải lặn lội đi khắp nhiều tiệm để tìm mua, ông choáng váng á khẩu. bà John lại nói tiếp:

– Mấy ngày ở hội trường nhà thờ, mấy bà cứ tấm tắc khen ông là người biết lo xa. Có bà còn đùa nói tôi thật có phước mới lấy được ông!

 Bây giờ thì ông John không chịu đựng được nữa, ông cảm thấy như có một bàn tay ai đang chẹn cổ khiến ông không thở nổi, nếu ông còn đứng đây nghe những lời thương yêu của vợ, chắc ông sẽ đứng tim mất thôi. Ông đành gật đầu và đẩy cửa bước vội ra sân.
Vì vợ chồng  ông là người Mỹ, chứ nếu là người Việt, biết đâu trong một giây phút cảm động  nào đó, bà sẽ  rưng rưng hát tặng ông câu hát từ bài ca một thời được ưa thích:
“…May mà có Ông, Đời còn dễ thương.”

Pha Lê

Hits: 22

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Tưởng Nhớ Người Khai Sinh Email

image.png
Đã vào thập niên thứ hai của thế kỷ 21, mỗi ngày có hàng tỷ Emails được gởi đi. Có những Emails chuyên về thương mại, công việc. Có những Emails vô thưởng vô phạt, không ảnh hưởng đến hòa bình thế giới, hay hạnh phúc cá nhân, nhưng người đọc mệt mỏi với loại thư điện tử này, nên thẳng tay đưa vào thùng rác (spam mails). Có cả những bức thư tình ngắn gọn thời “dot com” của những người đang yêu. Cả tỷ người trên thế giới thi nhau gõ keyboard, gởi, nhận thư điện tử mỗi ngày.
Có cả phim “You got mails” với tài diễn xuất tuyệt vời của Tom Hanks, và Meg Ryan đưa về một lợi nhuận khổng lồ cho Hollywood.
Không biết có ai trong cả tỷ người nghĩ đến người phát minh ra Emails? Chắc là ít ai nghĩ đến “cha đẻ” của Emails. Người kỹ sư điện tài ba, người sáng tạo ra Emails, và dấu @ vừa qua đời hôm thứ bảy, ngày 5 tháng 3 vì bệnh tim.
Thật ra, trước khi ông Ray Tomlinson khai sinh dấu hiệu @ vào năm 1970, người ta đã có thể gởi information qua lại cho nhau, nhưng chỉ gởi và nhận được nếu cùng sử dụng một máy computer. Không thể gởi data cho một người khác ở ngay phòng bên cạnh nếu người gởi và người nhận ở hai máy khác nhau,
Anh chàng kỹ sư trẻ, tự nhận mình là “a nerdy guy from MIT” (trường Đại học Massachusetts Institute of Technology lẫy lừng khắp thế giới đã đào tạo cho Mỹ nhiều nhà khoa học tài năng..) cặm cụi làm việc với niềm đam mê của một người “chỉ biết học thôi chả biết gì” (a nerd).
Ray tốt nghiệp cao học (master degree) về ngành Điện (Electrical Engineer) ở MIT năm 24 tuổi, sau khi đã có cử nhân (bachelor degree) ở Rensselaer Polytechnic Institute vào năm 1963. Thời sinh viên, ông đi thực tập ở IBM và đã làm cho các kỹ sư ở đó khâm phục trí thông minh, và khả năng làm việc của một anh chàng mới bước vào tuổi hai mươi, thiếu cả kinh nghiệm làm việc lẫn kinh nghiệm sống.
Ra trường, ông về làm việc cho Bolt Beranek and Newman((BBN), sau này được Công ty kỹ thuật Raytheon mua lại. Tomlinson làm ở đó như là một programmer giỏi, một nhà khoa học được tất cả mọi người kính trọng. Hơn nửa thế kỷ qua, vẫn ở cùng một công ty, với nhiều thay đổi, các nhà lãnh đạo, đến rồi đi, anh kỹ sư trẻ Ray Tonlinson, bước vào tuồi trung niên, roi bạc tóc, vẫn làm việc ở văn phòng quen thuộc của mình, vẫn yêu những con số, những project khoa học cho đến lúc ông qua đởi vì bệnh tim vào ngày thứ bảy 5 tháng 3 năm 2016.
 
Ray thời 1970, khi khai sinh mạng lưới email toàn cầu. 
 
Vào năm 1970, ở tuổi 29, anh kỹ sư trẻ Ray Tomlinson phải làm việc cùng lúc ở hai computer khác nhau, data không thể gởi từ máy này qua máy kia. Ngoài phận sự của mình, Ray dành thì giờ nghiên cứu cách gởi data từ các máy khác nhau. Anh dùng tên mình Ray ở máy 1 gởi cho Ray ở máy 2. Để đơn giản hóa, thay vì dùng chữ “at”, Ray dùng ký hiệu @, có sẵn trên bàn phím. Và việc gửi email từ máy này tới máy kia thành công. Chính từ đây, mạng lưới email giữa người này với người khác (Person to person netward email) ra đời và ký hiệu user@host trở thành mẫu ghi phổ thông cho cách ghi địa chỉ email toàn cầu hiện nay.
Khi tự gởi email cho mình (ở hai máy khác nhau) thành công, Tomlinson chia sẻ với một kỹ sư đồng nghiệp khác. Người này vui mừng, định báo tin cho cấp lãnh đạo. Vốn khiêm nhường như bao nhiêu người có tài khác, Ray ngăn lại “Đừng nói cho ai hết, thật ra đây cũng không phải là việc mà mình phải làm”. Nhưng phát minh đó quá tiện lợi, nên “tiếng lành đồn xa”, Ray Tomlinson được cấp bằng sáng chế, và là một trong những người quan trọng phát minh ra Emails.
Ông cũng nhận được nhiều giải thưởng khoa học có giá trị về các nghiên cứu khoa học từ năm 2000 đến năm 2012. Riêng trong giới programmer về Internet, ông được coi là một trong những nhà phát minh tài năng.
Sau đó, dù luôn khiêm nhường và thầm lặng, ông nổi tiếng trong giới khoa học, được MIT xếp thứ 4 trong danh sách 150 cựu sinh viên tốt nghiệp MIT là những nhà phát minh có đóng góp quan trọng nhất cho khoa học.
Ông được mời đi nói chuyện ở các hội nghị khoa học, là một tên tuổi được kính trọng trong giới high tech, được các sinh viên trẻ coi như một thần tượng.
Dù vậy, nhà khoa học vẫn sống lặng lẽ với tình yêu khoa học, và trang trại nuôi một loại cừu nhỏ ở ngoại ô New York. Ngoài công việc, ông có niềm vui “ta dại ta tìm nơi vắng vẻ” với thiên nhiên vả bầy cừu nhỏ của mình. Cả cuộc đời ông gắn liền với tiểu bang New York, nơi ông sinh ra, lớn lên, đi học, làm việc, và qua đời.
Xin viết lại bài này với lòng ngưỡng mộ, và biết ơn người phát minh ra “@”, giúp Emails phát triển hoàn thiện như hôm nay.
Và xin được nhắc nhở mọi người nhớ đến Ray Tomlison, người góp phần quan trọng trong việc đưa Emails đến cả tỷ người ở khắp nơi trên thế giới.
*Raymond Samuel Tomlinson sinh tại Amtersdam, NewYork, ngày 23 tháng Tư năm 1941. Khi đột ngột từ trần vị bị kích tim vào ngày March 5, 2016, chỉ còn đúng 4 tuần nữa là Ray sẽ mừng sinh nhật thứ 75.
Tháng Ba, tháng Tư là ngày giỗ, ngày sinh của ông. Khi mở Emails, xin hãy góp phần cầu nguyện cho Ray Tonlinson, mong ông an vui bình yên ở một nơi không còn cần Emails, không cần bất cứ một điều gì ngoài sự nhẹ nhàng, thanh thoát.
 
 
Nguyễn Trần Diệu Hương
 
 
===
Cha đẻ của thư điện tử và ký hiệu @ đã qua đời ở tuổi 74
Ray Tomlinson, một huyền thoại trong ngành điện toán, cha đẻ của thư điện tử (email) và ký hiệu “@” đã qua đời hôm thứ Bảy (5/3) sau một cơn đau tim đột ngột, ở tuổi 74.
Năm 1971, Tomlinson đã gửi đi bức thư điện tử đầu tiên khi ông đang làm việc cho hãng chuyên nghiên cứu phát triển các chương trình làm việc trong môi trường Internet, Bolt, Beranek and Newman (BBN) ở Boston. BBN ở thời điểm đó là nhà thầu dự án mạng dữ liệu Internet đầu tiên có tên gọi ARPANET của Bộ Quốc phòng Mỹ. Và với tư cách là một nhân viên của BBN, Tomlinson đã được giao nhiệm vụ tìm ra những vấn đề có thể xử lý trên mạng ARPANET.
Trước Tomlinson, đã có những nhà khoa học nghĩ tới việc truyền tin nhắn cho người khác qua mạng Internet hay chia sẻ các đoạn ghi chú qua một chiếc máy tính, nhưng tất cả chỉ trở nên khác biệt khi Tomlinson sáng tạo ra lệnh SNDMGS. Với lệnh SNDMGS, Tomlinson đã lần đầu tiên gửi được một tập tin thư điện tử qua mạng Internet tới một máy tính khác với địa chỉ thư tomlinson@bbntenexa. Đây cũng là chương trình gửi tin nhắn qua mạng đầu tiên.
Tomlinson được biết đến nhiều nhất khi ông lựa chọn biểu tượng @ để chỉ một tin nhắn sẽ được gửi đến một máy tính khác trên mạng. Ông cũng đi đầu trong phát triển các tiêu chuẩn cho các trường “from” (gửi từ), “subject” (chủ đề) và date (ngày tháng) được tìm thấy trong tất cả các tin nhắn email được gửi đi ngày hôm nay.
Tomlinson đã giành được bằng cử nhân khoa học về kỹ thuật điện từ ở Viện Bách khoa Rensselaer năm 1963 và là một bậc thầy về kỹ thuật điện ở Viện Công nghệ Massachusetts vào năm 1965.
Sự ra đi của Tomlinson là sự ra đi thứ ba của các huyền thoại trong ngành công nghiệp máy tính trong năm nay. Trước đó, chuyên gia trí tuệ nhân tạo Marvin Minsky đã qua đời vào tháng Một, và nhà phát minh ra máy tính cá nhân Wesley A. Clark qua đời vào tháng Hai. Cả hai đều hưởng thọ 88 tuổi.
 Raymond Samuel Tonlinson (1941-2016). 

Hits: 34

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Nguyên Sa, nhà thơ tình và nhiều phương diện văn nghệ

image.png
Nguyên Sa (sanh năm 1932) là người trước tôi một thế hệ. Khi thằng bé nhà quê theo học những năm cuối của Trung học, đương bị cuốn hút bởi từng bài trong tạp chí Sáng Tạo với văn phong mới của mấy cây bút di cư vào Nam và với những bài viết về văn học rất đặc biệt…. luôn ngóng chờ ngày cuối tháng để tới tòa soạn của tạp chí Sáng Tạo ở một khu xóm bình dân mà đa số là người Tàu tại góc đường Nguyễn Công Trứ và Ký Con gần chợ Cầu Ông Lãnh, Sàigòn.  Mua số mới nhất vừa đọc vừa đi bộ về nhà, quên cả trời đất, mê mẩn thưởng thức những bài nóng hổi, còn thơm mùi giấy mực, băng qua đoạn đường đầy người Tàu cho mướn sách hình trên lề đường… thì TRần Bích Lan đã có những bài viết về văn học trong những số đầu của tờ nguyệt San rất được bạn bè cùng lứa chúng tôi ưa thích. 
Bài về Hồ Xuân Hương, ông xác nhận rằng thì là không có nhân vật Hồ Xuân Hương, chẳng qua là người ta, bất kỳ ai thích làm bài thơ không thanh nhã thì sáng tác rồi cứ việc ký tên Hồ Xuân Hương. Thế là xong, khỏi trách nhiệm, khỏi ngại bị lời ong tiếng ve. Luận cứ nầy rất được đồng tình thời đó, lúc người làm công việc nghiên cứu văn học chưa tìm thấy được những tài liệu khả tín về tiểu sử của nữ thi sĩ quá độc đáo nầy.
Bài viết về Phan Huy Vịnh với bản dịch Tỳ Bà Hành, ông dùng cái tựa rất khéo, hình như là Phan Huy Vịnh và cái đũa thần âm thanh, chỉ cần nghe ông xác định như vậy là học sinh Trung học có thể theo đó mà tán thành một bài luận khá trong kỳ thi Tú Tài 1.
Một bài khác ông nói về Tạo Hóa, ông Trời, con Tạo, ông Tạo, Trẻ Tạo, ông Xanh, Khuôn thiêng, Khuôn xanh… trong thi ca Việt Nam cũng là ý tưởng mới, có cái nhìn tổng hợp thoát ra ngoài vòng sách vở…
Lúc đó thì hầu hết học sinh chúng tôi đều không biết người viết những bài hay ho và đặc biệt như vậy với cái tên Trần Bích Lan là thi sĩ Nguyên Sa, có thơ tình trên Sáng Tạo chạm vô tâm thức những người mới lớn. Một người bạn cùng lớp, tên Tỵ (?) nói với tôi anh ta là bà con sao đó, vai em, với Trần Bích Lan, Nguyên Sa. Tới lúc nầy tôi mới nhập tâm được hai cái tên của tác giả hai lãnh vực văn học và thi ca là một và tôi thưởng thức những bài thơ tình đặc biệt đối với tôi rất mới lạ bằng một cảm thức vị nễ, khang khác. 
Rồi có lúc, 1958, tôi đứng ngoài lớp dạy luyện thi Triết học của Giáo Sư Trần Bích Lan. Khi ấy trong trường Chu Văn An, Cha T. dạy Triết rất buồn ngủ khi ngài cầm và đọc từng đoạn trong những quyển sách giáo khoa Triết quá dài dòng của cha Cao Văn Luận mà tôi cho rằng mình học mấy quyển sách của Foulqué dễ hiểu hơn. Đứng ngoài lớp đâu chừng hai lần để quyết định mình có nên học thêm Triết học với Giáo Sư thi sĩ hay không. Ông giảng vui, đưa ra nhiều câu chuyện liên hệ với đời sống thực tế (ông kể chuyện khi ở Pháp mình học kinh nghiệm nấu cơm sao cho không khét, không ba từng, bằng cách đo ngón tay mực nước cần phải cho vô nồi (thí nghiệm trong khoa học). Ông kể chuyện sáu cây cầu trên sông Seine nhưng đi qua hết sáu cái cầu đó phải qua cầu 7 lần (Toán học vị trí, Topology). Ông đọc nhiều thơ tình của các thi sĩ nổi tiếng thời tiền chiến và có khi đọc cả thơ của Nguyên Sa.
Không biết tại sao tôi không ghi tên học lớp Luyện Thi Triết đó sau hai lần đứng ngoài dò đường. Có thể là do  thời khóa biểu không thích hợp, chạy đến lớp có thể trể giờ, có thể là tiền học phí tôi không xoay xở được do nhà nghèo, mồ côi, ở nhà người cô cũng nghèo, khó có thể cho thêm tiền học trong nhiều tháng.
Có điều là từ hai lần kinh nghiệm đứng ở ngoài lớp như Trần Minh khố chuối ngày xưa, sau nầy lúc về dạy Triết ở trường Petrus Ký tôi tự biết mình kể chuyện không duyên dáng và không tự tin bằng Nguyên Sa hay Nguyễn Xuân Hoàng, không viết sách Triết gọn ghẽ, rõ ràng bằng Vĩnh Đễ nên không dạy tư ở bất cứ trường lớp nào và khi có dịp từ giã Triết học thì đi thẳng luôn, không quay lại…
Bà Nga, nhân vật trong bài thơ Nga :
Hôm nay Nga buồn như con chó ốm,
Như con mèo ngái ngủ trên tay anh
Đôi mắt cá ươn như sắp sửa se mình
Để anh giận sao chả là nước biển…
kể với tôi (NVS) rằng đầu thập niên 50, bà đương du học ở Pháp theo ngành Toán học gặp Nguyên Sa đương theo đuổi môn Triết học. Hai người quen nhau và yêu nhau. Có những bài thơ tình bà được tặng lúc tình yên đầu đời, nhưng cả hai quyết định không đưa ra công chúng vì có tính cách riêng tư. Bà cũng kể rằng bài thơ Nga được in thay giấy báo hỷ – lúc đó cả hai đương là sinh viên nghèo,  mà cũng thấy rằng đây là một ý nghĩ ngộ nghĩnh nên thực hiện – cho buổi tiệc cưới đơn giản ở Áo quốc, mùa Noel 1954.
Tôi gọi Nguyên Sa là thi sĩ của nhiều mặt văn nghệ vì ông viết nhiều mặt: Sách giáo khoa Triết học, sách về một tác giả Triết cổ thụ của Pháp, sáng tác thể truyện ngắn, thể thi ca, làm báo về những ca sĩ, chủ trương một tạp chí thời danh… Ở thi ca ông nổi trội nhứt với những bài thơ tình, từ lục bát, sang tự do, sang thơ văn xuôi, thơ phá thể, nhiều bài thiên nhiều về lý trí nhưng đa phần trong thơ đều có nhạc điệu réo rắc và thiên nhiều về biểu lộ tình cảm nhớ thương hay như đối thoại với người yêu.
Chắc chắn rằng một bài thơ được phổ nhạc mà bản nhạc được các ca sĩ hàng đầu hát tới hát lui nhiều lần thì bài thơ như lãng đãng trong không gian chờ đợi người đọc nhìn vào nó thì âm thanh và ý nghĩa liền bay vào hồn, mê tơi phải cất tiếng hát theo…
Nguyên Sa đã ra đi hai mươi năm rồi, cũng tháng tư, ngày 24, tháng ông quyết định bỏ tất cả cơ ngơi mình gầy dựng, một nhà in, hai trường Trung học đồ sộ, dắt díu vợ con lên đường sang Pháp, xứ ông học hành và sống cả chục năm thời thanh xuân.
Bạn bè văn nghệ xác nhận rằng ông an nhiên làm lại cuộc đời khi di cư sang Mỹ, không bao gìờ tỏ ý tiếc rẻ về những gì đã bỏ lại sau lưng. Ông quan niệm đời có khi thành công khi thất bại, nhưng con người muốn sống thoải mái thì phải coi mình nhỏ nhoi, là hạt cát giữa mênh mông đại ngàn như cái nghĩa của chữ Nguyên Sa.
Thơ tình Nguyên Sa cũng như thơ tình của Nhất Tuấn, của Xuân Diệu, Huy Cận, đã ảnh hưởng lên thanh thiếu niên một thời, thể thơ như văn xuôi mượt mà giai điệu, thanh thoát réo rắt làm xao xuyến trái tim học trò mới lớn
“không có anh lấy ai cười trong mắt,
ai ngồi nghe em nói chuyện thu phong,
ai cầm tay mà dắt mùa Xuân,
nghe đường máu run từng cành lộc biếc..”
(Cần Thiết)
hoặc hút hồn theo kiểu tuổi mười ba mà ai cũng thuộc lòng
“trời hôm nay mưa nhiều hay rất nắng,
mưa tôi chả về bong bong vỡ đầy tay “
hay ầm vang như thác đổ
“tôi trân trọng mời em dự chuyến tàu tình ái…
vé có thể là những thư xanh,
tàu là gian nhà rất nhỏ,
nhưng mỗi ga chắc chắn sẽ là những chiếc hôn nồng cháy cuộc đời.”
Và nhiều đoạn thơ ru hồn con gái khác mà tôi thường thấy đứa em họ trân trọng nhiều đêm chép vào tập giấy pelure màu sắc…
Nguyên Sa in bốn tập thơ và một quyển Toàn Tập cuối đời, nhưng với tôi, Nguyên Sa thể hiện bản sắc mình chỉ ở Tập Một, trong đó có những bài thơ tình viết trong những ngày ở Pháp. Điều đó cũng là bình thường, Đông Tây kim cổ thi sĩ, văn nhân, nhạc sĩ, họa sĩ, điêu khắc gia… thường sáng nhiều, nổi tiếng nhưng tóm lại chỉ được dăm tác phẩm trở nên bất hũ, làm nên cái tên, cái ấn tín của nghệ nhân đó.
Hai mươi năm Nguyên Sa ra đi, ta nhìn lại công trình ông, khen chê chắc là, nếu có linh hồn, thi sĩ  bên cõi kia cũng mỉm cười… Đã là hạt cát thì có sá gì!
Nguyễn văn Sâm 

Hits: 44

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin