All posts by Vo Danh Thi

NGƯỜI MỸ NHÌN NGƯỜI VIỆT

https://baomai.blogspot.com/
Viện Nghiên Cứu Xã Hội Học Hoa Kỳ (American Institute for Social Research) sau khi nghiên cứu đã nói lên 10 đặc tính căn bản của người Việt, xin tạm dịch như sau:
1.-  Cần cù lao động nhưng dễ thỏa mãn.
2.-  Thông minh, sáng tạo khi phải đối phó với những khó khăn ngắn hạn, nhưng thiếu những khả năng suy tư dài hạn và linh hoạt.
3.-  Khéo léo nhưng ít quan tâm đến sự hoàn thiện cuối cùng các thành phẩm của mình.
4.-  Vừa thực tế vừa có lý tưởng, nhưng lại không phát huy được xu hướng nào thành những nguyên lý.
https://baomai.blogspot.com/
5.-  Yêu thích kiến thức và hiểu biết nhanh, nhưng ít khi học sự việc từ đầu đến cuối, nên kiến thức không có hệ thống hay căn bản. Ngoài ra, người Việt không học vì lợi ích của kiến thức (lúc nhỏ học vì gia đình, lớn lên học vì sĩ diện hay vì những việc làm tốt) [when small, they study because of their families; growing up, they study for the sake of prestige or good jobs]
Cởi mở và hiếu khách nhưng sự hiếu khách của họ không kéo dài.
Tiết kiệm, nhưng nhiều khi hoang phí vì những mục tiêu vô nghĩa (vì sĩ diện hay muốn phô trương) [to save face or to show off].
8.-  Có tinh thần đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau chủ yếu trong những tình huống khó khăn và nghèo đói, còn trong điều kiện tốt hơn, đặc tính này ít khi có.
https://baomai.blogspot.com/
9.-  Yêu hòa bình và có thể chịu đựng mọi thứ, nhưng thường không thẳng thắn vì những lý do lặt vặt, vì thế hy sinh những mục tiêu quan trọng vì lợi ích của những mục tiêu nhỏ.
10.-  Và sau cùng, thích tụ tập nhưng thiếu nối kết để tạo sức mạnh (một người có thể hoàn thành một nhiệm vụ xuất sắc; 2 người làm thì kém, 3 người làm thì hỏng việc) [one person can complete a task excellently; 2 people do it poorly, and 3 people make a mess of it].
Những phân tích trên đây cho chúng ta thấy người Mỹ đã hiểu rất rõ người Việt. Tại  sao người Việt lại có những đặc tính như thế này?
NGƯỜI XƯA CŨNG ĐÃ NHẬN RA
https://baomai.blogspot.com/
Học giả Trần Trọng Kim (1883 – 1953) khi viết bộ Việt Nam Sử Lược, ấn hành lần đầu tiên năm 1919, cũng đã phân tích khá rõ ràng những đặc tính của người Việt và những yếu tố tạo nên những đặc tính đó. Đa số người Việt lớn tuổi, khi còn nhỏ đều đã được học bộ sử này. Trong phạm vi một bài báo, chúng tôi chỉ xin trích lại dưới đây một số đoạn mà ông đã nói về đặc tính của người Việt.
Trong bài tựa, ông nói ngay:
 
“Thời đại Bắc thuộc dai dẳng đến hơn một nghìn năm, mà trong thời đại ấy dân tình thế tục ở nước mình thế nào, thì bấy giờ ta không rõ lắm, nhưng có một điều ta nên biết là từ đó trở đi, người mình nhiễm cái văn minh của Tàu một cách rất sâu xa, dẫu về sau có giải thoát được cái vòng phụ thuộc nước Tàu nữa, người mình vẫn phải chịu cái ảnh  hưởng của Tàu. Cái ảnh hưởng ấy lâu ngày đã trở thành ra cái quốc túy của mình, dẫu ngày nay có muốn trừ bỏ đi, cũng chưa dễ một mai mà tẩy gội cho sạch được. Những nhà chính trị toan sự đổi cũ thay mới cũng nên lưu tâm về việc ấy, thì sự biến cải mới có công hiệu vậy.”
https://baomai.blogspot.com/
Bảo tồn “văn hóa dân tộc…”
Ở Chương VI nói về “Kết Quả của Thời Bắc Thuộc”, ông có nhận định rõ hơn: “Khi những đạo Nho, đạo Khổng, đạo Phật phát đạt bên Tàu, thì đất Giao châu ta còn thuộc về nước Tàu, cho nên người mình cũng theo những đạo ấy. Về sau nước mình đã tự chủ rồi, những đạo ấy lại càng thịnh thêm, như là đạo Phật thì thịnh về đời nhà Đinh, nhà Tiền Lê và nhà Lý, mà đạo Nho thì thịnh từ đời nhà Trần trở đi.
“Phàm phong tục và chính trị là do sự học thuật và tông giáo mà ra. Mà người mình đã theo học thuật và Tông giáo của Tàu thì điều gì ta cũng noi theo Tàu hết cả. Nhưng xét ra thì điều gì mình cũng thua kém Tàu, mà tự người mình không thấy có tìm kiếm và bày đặt ra được cái gì cho xuất sắc, gọi là có cái tinh thần riêng của nòi giống mình, là tại làm sao? …
 “Địa thế nước mình như thế, tính chất và sự học vấn của người mình như thế, thì cái trình độ tiến hóa của mình tất là phải chậm chạp và việc gì cũng phải thua kém người ta vậy.”
“TRƯỚC LÀ ĐẸP MẶT SAU LÀ ẤM THÂN”
Nước Việt Nam bị Pháp đô hộ gần 100 năm, đã cởi bỏ dần nền học vấn của Trung Hoa, tiếp thu nền học vấn mới của phương Tây, nhưng vẫn còn giữ lại nhiều nét căn bản của nền văn hóa Trung Hoa. Có nhiều hủ tục trong quan, hôn, tang, tế mà cuộc Cách Mạng Văn Hoá của Trung cộng đã phá sạch, nhưng nhiều người Việt vẫn cố giữ lại như những thứ “quốc hồn quốc túy” của mình!
 
Bài tục giao sau đây vẫn còn là tiêu chuẩn và mục tiêu thăng tiến của gia đình và con người Việt Nam:
https://baomai.blogspot.com/
Bây giờ người con gái không còn chỉ “giữ việc trong nhà”, và người con trai không còn chỉ “đọc sách ngâm thơ” mà đã đi vào khắp mọi lãnh vực của cuộc sống, nhưng mục tiêu cuối cùng vẫn chỉ là “TRƯỚC LÀ ĐẸP MẶT, SAU LÀ ẤM THÂN”.
Trong nước, tiêu chuẩn của cuộc sống là có nhà sang cửa rộng, có xe hơi, có con đi du học ngoại quốc… Tiêu chuẩn ở hải ngoại cũng thế thôi: Đi dâu cũng nghe khoe nhà trên cả triệu bạc, xe loại sang trọng nhất, con đang học bác sĩ, dược sĩ, kỹ sư… Ít nghe ai khoe những công trình đang nghiên cứu hay thực hiện để đưa con người, cộng đồng hay đất nước đi lên. Tất cả chỉ tập trung vào hai tiêu chuẩn là “ĐẸP MẶT” và “ẤM THÂN”.
Với mục tiêu như thế, chúng ta không ngạc nhiên khi nhìn ra phố Bolsa, thủ đô của VNCH nối dài, đa số các cơ sở kinh doanh lớn đều không phải của người Việt. Tuy bên ngoài người Việt gốc Hoa đứng tên, nhưng đàng sau là các bang hội của Tàu. Thương xá Phúc Lộc Thọ vốn được coi là “Quốc Hội VNCH” ở Bolsa, nhưng phía trước là tượng các danh nhân Trung Hoa và tên thương xá được viết vừa bằng chữ Tàu vừa bằng chữ Việt. Houston cũng thế thôi.
Nếu mỗi gia đình và mỗi cá nhân chỉ lấy những mục tiêu như trên làm mục tiêu của cuộc sống và truyền từ đời nọ sang đời kia, còn lâu cộng đồng và đất nước với ngóc đầu lên được.
Lữ Giang
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Khi thành phố được xây dựng trên biển

https://baomai.blogspot.com/

 

Cứ mỗi tuần, có ba triệu người trên thế giới chuyển đến sống ở thành phố.
Con số đó tương đương với số dân hiện thời của San Diego hay Kiev chuyển đến khu vực thành thị cứ mỗi bảy ngày. Điều này có nghĩa là cứ mỗi tháng là có một Moscow hay một Rio de Janeiro mới.
Cho đến năm 2030, 60% dân số thế giới sẽ sống ở các thành phố. Điều này sẽ tạo ra áp lực khổng lồ đối với các đô thị hiện tại trên thế giới.
Trong khi đó, các thành phố này còn phải đối phó với biến đổi khí hậu – khoảng 90% các thành phố lớn nhất trên thế giới nằm ở sát biển do đó dễ bị tổn thương trước tình trạng nước biển dâng.
https://baomai.blogspot.com/
Để đối phó với vấn đề này, một số các kỹ sư, các nhà nghiên cứu và các kỹ thuật gia nói rằng chúng ta nên xem xét lại cách xây dựng các thành phố và có lẽ đã đến lúc làm điều gì đó hoàn toàn khác. Thay vì xây dựng các thành phố trên đất liền thì hãy làm các thành phố nổi trên đại dương.
Nhưng liệu ý tưởng này có thật sự khả thi? Những thành phố như thế này sẽ như thế nào trên thực tế và chúng sẽ hoạt động như thế nào?
Mặt nước là bạn
https://baomai.blogspot.com/
Nhà nổi tại Amsterdam
 
Nên nhớ rằng các thành phố từ lâu đã lấn ra biển khi mà người ta tìm kiếm thêm không gian để xây chỗ ở cho số dân ngày càng đông.
Chẳng hạn như 25% diện tích lãnh thổ Singapore được xây trên vùng đất lấn biển, trong khi 20% Tokyo là các hòn đảo nhân tạo được bồi đắp ra biển.
Chính quyền Dubai cũng đã cho xây toàn bộ các khu phức hợp sang trọng trên các hòn đảo nhân tạo, còn những dải đất rộng lớn ở Hà Lan là được bồi đắp trên Biển Bắc với một hệ thống đê điều chằng chịt vốn được dùng để bảo vệ các khu đô thị khỏi bị nước biển nhấn chìm trong hàng trăm năm.
https://baomai.blogspot.com/
Tuy nhiên, thay vì ngăn chặn đà xâm thực của biển cả vào đất liền, một số người tin rằng đã đến lúc ngừng chiến đấu với đại dương; thay vào đó là hãy hợp tác với nó.
Những người đi tiên phong trong công nghệ nước nói rằng giải pháp cho tình trạng thiếu nhà ở cũng như các tệ nạn xã hội ở nhiều thành phố chật chội đang ngày phình ra nhanh chóng có thể là mở rộng ra trên mặt nước.
https://baomai.blogspot.com/ 
“Chúng tôi phải bắt đầu sống chung với mặt nước như một người bạn chứ không phải lúc nào cũng như kẻ thù,” ông Koen Olthuis, người sáng lập công ty kiến trúc WaterStudio của Hà Lan, cho biết. Công ty này đang thiết kế và xây dựng những mặt bằng nổi có thể sử dụng như nền móng để nâng các tòa nhà.
Ban đầu họ chỉ tập trung xây dựng những căn biệt thự hay văn phòng riêng lẻ, nhưng ông Olthuis tin rằng có khả năng xây dựng được toàn bộ một thành phố bằng cách này.
“Hãy tưởng tượng một thành phố mà chúng ta có thể cắm nút để chơi trò nhà nổi và xây dựng nổi,” ông giải thích. “Bạn có thể điều chỉnh thành phố theo mùa… để cho các công trình có nhịp sống của chúng.”
Giải pháp cho khu ổ chuột
Đó là một viễn cảnh hấp dẫn và viễn cảnh đó chỉ có được khi chúng ta có thành phố nổi.
Tuy nhiên, Olthuis và các đồng sự của ông đang điều chỉnh công nghệ này để cung cấp thực phẩm, nơi trú ẩn vệ sinh và năng lượng cho các khu ổ chuột ở một số nơi vào loại nghèo nhất trên thế giới.
 
Phần nhiều các khu ổ chuột trên thế giới nằm bên bờ sông hay bờ hồ cho nên dễ bị ảnh hưởng của lụt lội. Tuy nhiên điều này cũng đem đến cơ hội.
https://baomai.blogspot.com/
Xây dựng lấn biển có thể gây hỗn loạn cho hệ sinh thái đại dương
Công ty WaterStudio đang phối hợp với UNESCO để xây dựng các trường học nổi nhỏ ở những khu ổ chuột kế mặt nước. Nó được tài trợ một phần bởi một dự án có mục tiêu là giúp cho 70.000 trẻ em ở Bangladesh có thể đến trường.
Olthuis và nhóm làm việc của ông đã lắp các container chở hàng lên trên các nền móng nổi được làm từ hàng ngàn chai nhựa thải ra. Năm cấu trúc đầu tiên loại này – gồm có một lớp học, một nhà vệ sinh, một cái bếp và một phòng phát điện được kết nối với các tấm năng lượng mặt trời nổi – sắp được hoàn thành cho Korail, một khu ổ chuột nhìn ra mặt nước ở Dhaka, Bangladesh.
Cái hay của phương pháp này, theo Olthuis, là nếu như có thay đổi trong quy định hay khu ổ chuột bị giải tỏa thì trường học nổi này có thể được đưa đến nơi khác sử dụng.
“Ta có thể bỏ chúng lên xe tải và đưa chúng đến một thành phố khác,” ông nói.
Độc lập trên biển?
 
Tuy nhiên, tầm nhìn về thành phố nổi của Olthuis là một cụm các thành phố trên mặt nước vẫn còn gắn với đất liền bằng một sợi dây neo buộc. Có một số người đang mơ cắt đứt luôn toàn bộ các dây buộc này.
https://baomai.blogspot.com/
Dubai đã có những công trình phức hợp được xây dựng trên đảo nhân tạo vươn ra biển
“Chúng tôi tin rằng chúng tôi có thể tạo ra thế giới tốt đẹp hơn trên đại dương,” ông Joe Quirk, một tác giả và là người tự xưng là người theo thuyết ‘phục hưng đại dương’, nói. Ông cũng là phát ngôn nhân của Viện Seasteading vốn hy vọng tạo ra những cộng đồng nổi có thể thử thách các hình thức quản trị sáng tạo mới.
Viện Seasteading, vốn được kinh tế gia Patri Friedman và nhà đầu tư ở Thung lũng Silicon Peter Thiel thành lập vào năm 2008, cho biết rằng bằng cách di chuyển các thành phố nổi ra các vùng biển quốc tế họ có thể thành lập các quốc gia ‘khởi nghiệp’ với hệ thống luật lệ riêng.
Bằng cách xây dựng các thành phố đại dương mở được cấu thành từ các khu nhà kéo dài 50 mét kết nối với nhau, nó cho phép người dân muốn gia nhập hay từ bỏ tùy ý.
https://baomai.blogspot.com/
“Sẽ rất khó cho một nhà độc tài nào đó có thể leo lên nắm quyền trên hệ thống cấp bậc tự nhiên này nếu như lãnh thổ của ông ta có thể tan rã dưới chân ông ta và người dân có thể bỏ đi nếu ông ta hành xử điên rồ,” Quirk nói với chúng tôi.
Ông tin rằng thay vào đó những xã hội trên mặt nước như thế sẽ được định hình bởi các quy luật thị trường vốn không bị chi phối bởi tham vọng chính trị cũng như các vấn đề mà các chính phủ truyền thống trên mặt đất phải đối mặt.
Chúng ta vẫn phải chờ xem liệu một thiên đường về chính trị như thế có đạt được hay không – và liệu xây dựng một xã hội không có ràng buộc bởi các quy định hiện tại có khả thi không trên thực tế do tính chất khó đoán của bản chất con người.
Trước đó có người đã từng thử nghiệm kịch bản này. Vào năm 1967, ông Roy Bates, vốn là một nhân viên đài phát thanh lậu, đã chiếm một nơi từng là ụ súng phòng không trên Biển Bắc và tuyên bố lập nên một quốc gia độc lập gọi là Công quốc Sealand.
Tuy vậy, nơi này không hề được công nhận chính thức là một quốc gia. Theo Liên Hiệp Quốc thì các hòn đảo, công trình và cơ quan lắp đặt nhân tạo không có được quy chế của hòn đảo do đó chúng không được hưởng những quyền được quy định đối với các hòn đảo.
Tuy nhiên cũng có những người nhận thấy có một rào cản căn bản trong việc xây dựng các quốc gia hay thành phố trên biển – đó là thời tiết.
Nền văn minh đại dương
https://baomai.blogspot.com/
Bất cứ cộng đồng nổi nào cũng phải chịu được điều kiện khắc nghiệt giữa biển khơi nơi sóng có thể cao đến 20 mét và bão có thể gầm thét trong nhiều ngày.
“Khi mà bạn ở giữa biển trước những ngọn sóng cao như thế thì bạn chỉ có thể làm được một điều: đó là trồi lên và sụp xuống cùng với chúng,” ông Philip Wilson, giáo sư cơ khí tàu thuộc Đại học Southampton, nói. Ông tỏ ý nghi ngờ khả năng con người có thể xây dựng được một công trình nổi trên biển mà không hề bị ảnh hưởng trước điều kiện khắc nghiệt của biển khơi.
 
“Ở ngoài đại dương có không gian rộng lớn hơn cho gió thổi và do đó sóng ở ngoài đó lớn hơn nhiều. Nếu ta xây dựng một thành phố nổi mà hết phân nửa cư dân ở đó bị say sóng thì nó không hề khả thi về mặt kinh tế chút nào. Người ta sẽ không muốn sống như thế,” ông nói.
https://baomai.blogspot.com/
Những công trình Bắc Kinh xây đảo nhân tạo tại Biển Đông đã và đang gây tranh chấp
Quirk chỉ ra rằng những con tàu du lịch xa xỉ khổng lồ nơi mà du khách có thể nhâm nhi ly martini vào buổi chiều mà không phải băn khoăn gì về tâm trạng hay nhịp sống của đại dương. Các giàn khoan dầu cũng được giữ cho ổn định ở những môi trường tương đối nguy hiểm. Nhưng ngay cả ở trên những công trình này vẫn không hề dễ chịu chút nút nếu xảy ra gió bão dữ dội.
Thay vào đó, dường như tương lai của các thành phố nổi sẽ nằm gần với đất liền. Dự án đầu tiên của Viện Seasteading là xây dựng một trung tâm kỹ thuật cao bao gồm các hòn đảo nổi trong vùng biển được bảo vệ thuộc quần đảo Tahiti, Polynesia thuộc Pháp vào năm 2020. Hơn 1.000 người đã bày tỏ mong muốn được sống ở đó, nhưng với giá 15 triệu đô la một khoang – và cứ 11 khoang có lẽ đủ chỗ làm nhà cho 200-300 người – cuộc sống ở đó không hề rẻ.
https://baomai.blogspot.com/
Giá trị thật sự của các thành phố nổi có lẽ là ở chỗ nó tạo thêm không gian để những trung tâm đô thị đã trở nên quá đông đúc của thế giới có thể mở rộng ra. Nhiều khả năng là một dạng thành phố lai sẽ xuất hiện với những lợi ích của thành phố trên đất liền và thành phố nổi kết hợp lại với nhau bằng cách mở rộng các thành phố ra vùng biển xung quanh. Khi công nghệ phát triển để giúp chúng ta chế ngự được những trở ngại của cuộc sống trên biển, những thành phố nổi này khi đó có thể mở rộng ra hơn nữa về phía đại dương.
Ellie Cosgrave
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

NGƯỜI TA ĐÃ NGỤY TẠO CHÂN DUNG QUANG TRUNG NHƯ THẾ NÀO?

Triều đại nào cũng có ưu có nhược, thậm chí có công lẫn tội, cho nên mới có thịnh có suy. Tuyệt đối hóa một triều đại, lấy triều đại này phủ nhận triều đại kia chỉ có thể là sử gia lá mặt lá trái. Các sử gia hiện đại Việt từng ngợi ca hết lời triều đại Tây Sơn và phủ nhận sạch trơn triều Nguyễn Gia Long. Đến lúc thấy gió ngược chiều gọi là đổi mới thì ngợi ca triều Nguyễn Gia Long hết lời và tìm cách bới móc để phủ nhận sạch trơn triều đại Tây Sơn.
Đó là cách viết sử đầy ô nhục của giới sử gia hiện đại Việt Nam!
Sử chân chính không phải chỉ để tô vẽ công lao mà chỉ ra thành bại của lịch sử. Viết sử càng chân thực càng mang lại nhiều bài học quý giá cho đời sau về lẽ thành bại của cha ông. 
Tôi không thần tượng hóa Quang Trung, mặc dù ông mãi mãi là niềm tự hào của mảnh đất Bình Định chúng tôi. Tôi chỉ muốn các sử gia phải tôn trọng sự thực. Nếu không có đầy đủ cứ liệu về sự thực thì nên có cái nhìn đa chiều.
Các trang sử cổ của Việt Nam viết về triều đại Tây Sơn gần như bị khúc xạ dưới cái nhìn một chiều của sử gia triều Nguyễn, nhưng vẫn để lại một sự tôn trọng nhất định về diện mạo của hoàng đế Quang Trung, kể cả ý thức tự trọng dân tộc khi viết về chuyện Quang Trung giả đi chúc thọ Càn Long hay cầu phong An Nam quốc vương. Hiện nay, để thêm một cái nhìn, cũng rất cần đối chiếu với sử nhà Thanh, nhưng không thể nói sử nhà Thanh viết về Quang Trung là chân thực. Sử ta nói đó là Quang Trung giả, còn sử nhà Thanh gọi đó là Quang Trung thật là chuyện thường tình. Chẳng lẽ họ tự khoe rằng họ bị vua An Nam lừa?
Các cứ liệu mà nhóm Nguyễn Duy Chính, Trần Quang Đức đưa ra toàn là lấy từ Thanh sử và khẳng định đó là cứ liệu chân thực thì chí ít phải xem lại tư cách các nhà khoa học này.
Đến bức chân dung được người bạn vàng bốn tốt nào đó cung cấp bằng một bản photocopy mà cũng tin như thật thì tư cách khoa học ấy đáng bị chỉ trích mạnh mẽ.
Biện luận theo cách cho rằng bức chân dung hom hem kia là do ngày xưa người Việt ốm đói nên già trước tuổi thì là biện luận trẻ trâu. Nên nhớ anh em nhà Tây Sơn là phú hộ danh tiếng vùng Tây Sơn trước khi khởi nghĩa chứ không phải dân nghèo ốm đói. Khi đánh quân Thanh là đã ở bậc đế vương chứ không phải là hạng ăn mày.
Tôi có đưa hình Khang Hy, Càn Long cũng được vẽ vào khoảng tuổi 30, nhưng ông nào ông nấy phương phi (Xem stt trước). Hay là các sử gia hàm ý muốn nói rằng người Việt trong thời điểm lịch sử ấy ốm đói và già hơn người Trung Quốc nên phải ôm chân người Trung Quốc để cầu vinh?
Đem đối chiếu với chân dung Phan Huy Ích để chứng minh người Việt già trước tuổi ư? Bằng chứng nào nói bức tranh ấy là Phan Huy Ích vào độ tuổi 30? Có là từ sách Hoàng Xuân Hãn cũng không hẳn là sự thật tuyệt đối. Nói Phan Huy Ích được họa thần nhà Thanh tặng bức truyền thần này và mang về. Vậy sao bức họa Quang Trung lại không được phép mang về mà lưu lại ở Bắc Kinh? Hay là thời đó nhà Thanh có máy photocopy nên đã lưu lại bản sao, còn bản gốc thì Quang Trung mang về và bị nhà Nguyễn thiêu hủy?
Bây giờ thì nói thẳng vào bức chân dung gán cho Quang Trung kia.
Đó hiển nhiên là bản photocopy.
Tôi không đặt vấn đề bức chân dung đẹp hay xấu, nhân tướng thế nào, vì một ông vua chưa hẳn phải mang gương mặt đẹp. Kể cả việc không tin vào mô tả bằng lời của sử gia, vì sử gia xưa thường viết theo bút pháp ước lệ, ông vua nào cũng đi như rồng, bước như cọp, tiếng nói như chuông, mắt sáng như sao hay như đèn… Tôi chỉ nói về kỹ thuật hội họa.
Nếu có bức họa gốc thì đó là bức họa của một người không biết vẽ. Một bố cục lệch lạc, cẩu thả. Chân dung phải là trung tâm thì bị đặt nằm hẳn ở một nửa dưới, chiếm hơn nửa phần trên là chữ, lại đóng một lúc ba cái triện to đùng. Toàn bộ phần chữ dài như một công văn, khi đặt vị thế như vậy nó giống cái trát… truy nã tội phạm hơn là một bức thư họa nghệ thuật!
Bây giờ thì soi vào bức photocopy kia xem thật giả thế nào?
Mắt bình thường cũng nhận ra được phần trên của bức tranh còn một đoạn nữa. Dễ nhận ra là cái đại triện bị cắt ngang một nửa. Không ai đóng triện một nửa bao giờ! Tại sao phải cắt đoạn trên như vậy, tranh dài quá khổ chăng?
Tại cuối văn bản, cái triện thứ hai cũng bị cắt đôi hai nửa đậm nhạt nối lại với nhau. Vết cắt dán khá lộ liễu trước khi photo. Vậy là một văn bản không thuộc bức tranh được dán vào trên bức chân dung nên bức tranh mới có bố cục lạ như vậy!
Ngay tại cái trán của chân dung tiếp giáp với cái mũ cũng xuất hiện một vết cắt ngang qua toàn bộ bức tranh. Phần này cũng cắt dán, nhưng khéo léo hơn nên mờ hơn. Có thể đó là một phần khác của một bức thư họa nào đó hoặc là giấy trống được dán vào để vẽ thêm.
Bây giờ thì xem nét vẽ.
Chân dung vẽ bằng bút lông thì thường các nét mắt, mũi, miệng rất mảnh. Ở đây có dấu hiệu được đồ lại cho đậm hơn. Đặc biệt cái miệng và râu được tô chứ không phải vẽ nét như thường thấy trong tranh Tàu. Và cái cách tô ấy thật vụng về với ngòi bút nghiệp dư, tô thế nào mà cái đôi vai lem hết sang cái ngai nên nó mới xuôi và to quá khổ như vậy.
Có thể hình dung thao tác cắt ghép bức tranh như sau:
1) Người ta scan hoặc photo chân dung một ông vua nào đó thành một phiên bản. Vua Khang Hy chẳng hạn.
2) Cắt một tờ giấy khác dán lên phần trán rồi vẽ thêm mũ gọi là “xung thiên”, viết mấy dòng có gắn với tên An Nam quốc vương, photo triện dán vào.
3) Cắt dán tiếp phần thư họa lên trên và photo 2 triện nữa dán vào.
Cuối cùng là đưa vào máy photocopy. Anh bạn Tàu bốn tốt đã lấy bản photocopy ấy cung cấp cho Trần Quang Đức để làm “của tin” và “bảo vật”. Để có bài báo, Nguyễn Duy Chính truy mạng và lôi ra hình ảnh vẽ Quang Trung quỳ lạy cầu phong hay chúc thọ Càn Long để chứng minh lần nữa đó là Quang Trung thật, kể cả hàm ý cái mặt hèn của Quang Trung trong bản photo là… giống thật.
Ý đồ của bài báo muốn chứng minh truyền thống Việt là truyền thống uốn gối khom lưng chịu khuất phục Thiên triều chăng?
Sử của bất cứ quốc gia nào, thời đại nào cũng vì tự trọng và khí phách dân tộc, không có loại sử giáo dục con người sự ươn hèn.
Nghe nói các ông này sẽ trả lời dư luận trên báo chí. Tôi không cần một trả lời bằng lời nào, vì mọi lời biện luận đều không có giá trị. Tôi chỉ đề nghị một điều đơn giản: hãy cung cấp cho mọi người hình chụp bản gốc của cái bản photocopy kia!
Không cung cấp được bản gốc thì là hoặc các ông bị lừa, hoặc các ông đã tiếp tay cho sự dối trá!
Tôi hoàn toàn ủng hộ mối quan hệ bang giao Việt – Trung, nhưng phải là mối quan hệ bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau chứ không phải bắt người Việt phải uốn gối khom lưng trước bất cứ dân tộc nào!image1.jpegimage2.jpegimage3.jpeg
Blog Chu Mong Long
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Những câu chuyện xúc động về tình yêu thương ngày Tết

Đằng sau mỗi món quà trao tặng nhau dịp đầu năm mới là một câu chuyện cảm động về tình yêu thương và sự sẻ chia ấm áp.

Là nét đẹp văn hóa của người Việt, tặng quà Tết vừa nhằm gắn kết yêu thương vừa như một lời chúc tốt đẹp đến người thân, bạn bè trong những ngày đầu năm mới. Với nhiều tính năng thông minh phù hợp với nhu cầu đa dạng của mỗi người, các quà tặng công nghệ đang ngày càng được ưa chuộng và đã thực sự là người bạn đồng hành thiết thực trong cuộc sống hàng ngày. Đó cũng là lý do giúp cuộc thi Quà Tết yêu thương – cuộc thi viết về những món quà tặng công nghệ do Samsung đồng hành đã thu hút sự tham gia của rất nhiều người.

Một món quà phù hợp không chỉ mang đến “lộc xuân” may mắn, ý nghĩa mà còn có giá trị sử dụng bền lâu khi đáp ứng đúng nguyện vọng của người được nhận.

Trái hẳn với suy nghĩ chung rằng các sản phẩm công nghệ thường chỉ dành cho đấng mày râu hoặc giới trẻ, độc giả Hoàng Giang đã gây xúc động với những chia sẻ về chiếc điện thoại dành tặng mẹ dịp Tết này: “Có Galaxy Trend Plus, con có thể khoe với mẹ tháng lương vừa nhận, bài khóa luận hay, khoe áo mới, khoe nhà cửa đã dọn dẹp tinh tươm. Thỉnh thoảng con bị dị ứng thời tiết, mẹ có thể nhìn con qua video call là biết ngay và nhắc mua thuốc uống. Thật ra con có thể tự lo được hết nhưng vẫn muốn được mẹ nhắc nhở, được mẹ quan tâm vậy đó… Nhờ vậy mà con luôn cảm thấy ấm áp và gần gũi gia đình mình mỗi ngày. Còn mẹ cũng đỡ nhớ con, lúc nào cũng vui vẻ và an tâm về đứa con gái duy nhất”.

Chiếc smartphone là bạn đồng hành đắc lực dành cho cha mẹ trong cuộc sống hàng ngày .

Cũng dành cho mẹ, bạn Ngọc Lan với bài dự thi Bạn thân của mẹ tôi lại thu hút người đọc với câu chuyện về lòng hiếu thảo: “Cuối cùng, niềm mơ ước nhỏ nhoi cũng thực hiện được. Tôi gom hết tiền tiết kiệm được trích từ số tiền ba mẹ cho chi tiêu hằng ngày. Vậy là cũng được gần hai triệu đồng. Sáng ngủ dậy, tôi ghé ngay vào cửa hàng điện thoại để sắm một chiếc cầm tay như ai. Chọn mãi thì cũng có cái vừa túi tiền mà trông cũng đẹp không kém của người bạn: Samsung Galaxy V. Đây chính là món quà đầu tiên của một đứa con gái đi học xa lần đầu về thăm nhà. Có lẽ ba mẹ sẽ rất vui”.

Món quà trao đi chân thành không chỉ mang đến lời chúc may mắn và những giá trị sử dụng thiết thực mà còn giúp kết nối tình cảm của những người thân yêu. Nếu đang ấp ủ dự định mang đến cho người thân sự bất ngờ với món quà công nghệ trong dịp Tết này, bạn hãy chia sẻ câu chuyện của mình tại cuộc thi Quà Tết yêu thương để có cơ hội trúng giải hấp dẫn là máy tính bảng Galaxy Tab S 8.4 sành điệu. Chương trình diễn ra từ ngày 14/1 đến ngày 22/2 và được chia thành 4 đợt bình chọn. Độc giả vào đây để biết thêm thông tin chi tiết.

Hà Mỹ Giang

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

​Hạnh phúc xót xa


Tôi vô cùng ngạc nhiên, khi nhận được một thiệp mời đám cưới gởi qua đường bưu điện, danh tánh nhà trai, nhà gái và cả cô dâu chú rể đều xa lạ. Gần nửa giờ ngồi “điểm danh” tất cả bà con, bè bạn xa gần, vợ chồng tôi và mấy đứa con cũng chẳng tìm ra “tông tích” họ là ai. Nghe bạn bè kể lại, một số không ít người Việt mình thích có nhiều thực khách tham dự tiệc cưới của con cháu. Khách càng đông càng chứng tỏ được thế giá của gia đình. Vì vậy có người chỉ gặp ai ở đâu đó một lần thoáng qua, cũng có thể trở thành “quan viên hai họ”. Hơn nữa, ở cái vương quốc nhỏ bé và hiền lành này, muốn tìm ai cứ việc mở cuốn điện thoại niên giám hoặc vào guleside gõ cái tên là có ngay số phone và địa chỉ. Cũng có thể là do một ông bà khách nào đó được mời nhưng hồi báo không thể tham dự được nên vợ chồng tôi được chọn để “điền vào chỗ trống cho có đầy đủ ý nghĩa”?

Địa điểm tổ chức tiệc cưới là một nhà hàng Tàu sang trọng nằm ngoại ô thành phố Oslo, không xa nơi tôi ở. Ngày đám cưới còn hơn một tháng, nhưng lại đúng vào ngày mà vợ chồng tôi phải sang London thăm vợ chồng cô con gái và mừng thôi nôi thằng cu cháu ngoại. Vé máy bay đã “búc” rồi. Vợ chồng cô con gái cũng đã lấy hè để đón chúng tôi. Nên dù có biết cha mẹ hay cô dâu chú rể có tên trong thiệp mời chăng nữa, chúng tôi cũng không thể tham dự được, huống hồ lại là một người nào đó không quen. Thấy tôi phân vân, bà xã cầm tấm thiệp màu hồng vất vào kệ sách, lắc đầu bảo “forget it!”

Sáng thứ Bảy, một tuần sau đó, khi đang sửa soạn hành lý, nghe điện thoại reo, tôi bốc máy lên nghe, nhưng không thể nhận ra người bên kia đầu dây. Một người đàn bà, tự giới thiệu tên Bích, rất lễ phép khi hỏi đúng cả tên lẫn họ của tôi.

– Vâng, đúng là tôi, nhưng chị có thể nói rõ hơn về chị không ạ, vì xin lỗi tôi không nhớ ra.

– Em là Bích Kiều đây, Lê Thị Bích Kiều, mà khi mới sang Na-uy, anh làm thông dịch giúp em đó. Tên em trong thiệp mời đám cưới là Yvonne Bich, chắc anh chị đã nhận được. Em đổi tên này sau khi có quốc tịch Na-uy.

Tôi giật mình nhớ ra ngay. Mặc dù trong thời gian làm thông dịch, giúp khá nhiều bà con người Việt mới đến định cư, có biết bao nhiêu cái tên làm sao nhớ hết. Hơn nữa cũng đã hơn 25 năm rồi còn gì. Nhưng đặc biệt, Lê Thị Bích Kiều thì tôi không thể nào quên.

Sau khi thăm hỏi, Bích Kiều xin được đến thăm vợ chồng tôi vào lúc bốn giờ chiều. Cô bảo, gặp nhau sẽ có biết bao nhiêu điều muốn nói.

Thời gian còn ở trại tỵ nạn Bataan bên Phi Luật Tân, tôi may mắn được chọn làm phụ giảng cho các lớp học tiếng Na-uy. Được thầy cô dạy kèm riêng, và nhờ phụ giúp mỗi ngày trong các lớp học cũng như làm thông dịch bất đắc dĩ cho những thuyền nhân mới đến đảo, nên tôi có một số vốn liếng tiếng Na-uy, một thứ ngôn ngữ hoàn toàn xa lạ với hầu hết người Việt nam lúc ấy. Và cũng nhờ cái vốn bì bõm này, khi sang định cư ở Na-uy, tôi được chọn làm thông dịch tạm thời cho Phòng Xã Hội và Sở Cảnh Sát thị xã, nơi gia đình tôi tạm cư. Thời gian này Na-uy nhận một số lượng khá đông thuyền nhân được tàu Na-uy vớt trên biển và một số trường hợp nhân đạo khác.

Nói là thông dịch chứ thực ra chỉ giúp bà con làm hồ sơ, khai lý lịch ở Sở Cảnh sát, xin trợ cấp ở Phòng Xã Hội, hoặc gặp bác sĩ, nha sĩ, hay vào bệnh viện khám và chữa bệnh. Cũng qua công việc này, tôi mới thấy rõ Na-uy là một quốc gia giàu lòng nhân đạo, mở rất rộng vòng tay, đối xử quá tốt với những người tỵ nạn mà họ cứu vớt, cưu mang. Công việc nhàn nhã mà lương bổng cũng khá, lại còn được cơ hội trau dồi ngôn ngữ mới, nên sau này, khi đã được chính thức nhận vào học và đi làm trong ngành ngân hàng bưu điện, tôi vẫn xin giữ cái “job” phụ này, nhưng chỉ làm thêm ngoài giờ hành chánh.

Tuy nhiên, bên cạnh những điều vui ấy, tôi cũng bị “tai nạn nghề nghiệp” không ít. Đặc biệt khi phải thông dịch cho những bà con mà tàu của họ bị bọn hải tặc tấn công. Nghe họ kể những cảnh nghiệt ngã, thương tâm trên biển, tôi vừa không nén được xúc động vừa ngại ngùng khi phải thông dịch lại bằng tiếng Na-uy. Hơn nữa lúc ấy tôi cũng chưa có đủ ngôn từ để diễn đạt những điều “tế nhị”. Ngày ấy có một Viện Tâm Thần dành riêng cho người tỵ nạn, nằm trong Viện Đại Học Oslo, do bác sĩ Hauff, cũng là một giáo sư tâm lý học, điều hành. Ông là vị bác sĩ có lòng nhân hậu và rất tận tâm với nghề nghiệp. Những người tỵ nạn gặp điều không may, bị hải tặc đánh đập hãm hiếp, hay bị mất người thân trên đường vượt biển, đều được ông tận tình thăm nom, chăm sóc cũng như can thiệp Cơ quan Di Trú cho ưu tiên bảo lãnh gia đình và Sở Xã Hội cấp thêm nhiều phương tiện sinh hoạt, giải trí. Tôi sợ nhất là những lúc phải làm thông dịch để ông tâm tình, khuyên giải, an ủi nạn nhân, mà thời gian có khi kéo dài cả một vài ngày. Bởi vốn liếng tiếng Na-uy còn quá nghèo nàn, làm sao tôi có thể truyền đạt được những gì ông muốn nói. Có lần nghe ông dặn dò:

– Đây không phải một cuộc nói chuyện bình thường mà là một ca điều trị. Có điều, những bệnh nhân này chúng ta không chữa bằng thuốc mà chữa bằng ngôn ngữ.

Mà ngôn ngữ của tôi thuộc loại ăn đong, thì làm sao giúp ông chữa loại bệnh đặc biệt trầm kha này. Nhiều lần tôi xin từ chối, nhận mình không đủ khả năng, nhưng Phòng Xã Hội không tìm được người thông dịch khác, và bác sĩ Hauff cứ gật đầu bảo là ông tin tưởng ở tôi. Cuối cùng tôi phải yêu cầu ông nói thật chậm và dùng những từ ngữ tương đối đơn giản để tôi hiểu rõ, và nhất là không hiểu lầm những gì ông nói.

Một hôm tôi được Văn Phòng Xã Hội cho biết, phải đi theo bà Kari Mette ra phi trường Fornebu đón một người tỵ nạn đặc biệt, được Na-uy nhận nhân đạo từ một trại tỵ nạn Thái Lan. Người này được đưa thẳng từ Thái Lan đến Na-uy, mà không qua trại tỵ nạn chuyển tiếp Bataan, như những người khác. Bà Kari Mette làm việc cho một nhà thờ công giáo, nhưng vì có nhiều khả năng và uy tín, nên được yêu cầu kiêm nhiệm đại diện cho Sở Tỵ Nạn trong khu vực thị xã.

Chúng tôi được vào tận cửa gate máy bay. Người mà chúng tôi đón hôm nay là một cô con gái trẻ, ngồi trên xe lăn, trên người choàng một tấm chăn mỏng, được một cô tiếp viên hàng không đẩy ra giao cho chúng tôi cùng túi hành lý nhỏ và một phong bì đựng hồ sơ có in huy hiệu (logo) Cao Ủy Tỵ Nạn LHQ. Trông cô ta tiều tụy, xanh xao. Tôi giới thiệu và dịch vài lời chào mừng của bà Kari Mette. Khi đưa tay nhận bó hoa hồng từ bà, cô gật đầu, lí nhí hai tiếng cám ơn. Theo sau bà Kari Mette, tôi đẩy cô gái theo một lối đi riêng, không phải qua kiểm soát. Một chiếc xe tản thương và cô ý tá chờ sẵn bên ngoài. Khi phụ dìu cô gái lên nằm trên một băng ca trong xe, tôi mới biết là cô ta đang mang bầu. Theo yêu cầu của cô ý tá, tôi ngồi luôn trên xe tản thương, tháp tùng về bệnh viện. Bà Kari Mette lái xe chạy theo sau.

Ở phòng nhận bệnh, khi nghe bà Kari Mette nói chuyện với vị bác sĩ, tôi mới biết cô gái này có tên Lê thị Bích Kiều, 21 tuổi, bị hải tặc giam giữ ở một hoang đảo ngoài khơi Thái Lan gần một năm, trước khi được một lực lượng tuần cảnh phối họp với hải quân Thái cứu thoát. Cô ta đang mang thai hơn năm tháng, sức khỏe rất yếu. Việc ưu tiên phải làm là giúp cô sớm hồi phục sức khỏe và bảo vệ thai nhi.

Khi trả lời một số câu hỏi của bác sĩ, cô luôn nhìn tôi bằng đôi mắt thật buồn và ái ngại, Một vài câu hỏi cô ngại ngần không muốn trả lời. Tôi từ tốn bảo cô cứ yên tâm, nếu điều nào chưa muốn nói ra, cô không cần thiết phải trả lời, tôi sẽ liệu cách để nói lại với bác sĩ. Nhưng sau đó, tôi mới hiểu ra, người cô ngại chính là tôi chứ không phải ông bác sĩ. Mặc dù trước khi bắt đầu làm việc, tôi đã nói với cô là những người làm thông dịch như tôi đều phải ký giấy cam kết taushetsplikt (bổn phận bảo mật). Cô được y tá đưa vào phòng tắm rửa và thay áo quần bệnh viện. Khi trở ra, cô tươi tỉnh hơn, bây giờ nhìn kỹ tôi thấy cô có khuôn mặt khá xinh, đôi mắt thật buồn. Theo y tá đưa cô lên một phòng riêng ở tầng ba, tôi bảo y tá bật cao đầu chiếc giường và đỡ cô ngồi dậy theo yêu cầu của cô, dịch cho cô nghe những điều dặn dò của bác sĩ, hỏi cô thích ăn uống những gì để tôi nói lại với cô y tá, rồi chào cô ra về, sau khi chúc cô ăn ngon và tối nay có một giấc ngủ thật bình yên. Cô nhìn tôi, nói cám ơn rồi vội vàng cúi xuống. Thoáng qua đôi mắt, tôi biết cô băn khoăn lo lắng, khi phải ở lại một mình. Tôi ghi số điện thoại trên mảnh giấy nhỏ đưa cô y tá. Bảo là trường hợp bệnh nhân hay y tá cần điều gì, cứ gọi cho tôi.

Kể từ hôm ấy, ngoài bổn phận thông dịch tôi còn là người thân quen duy nhất của cô. Hôm nào cô ngỏ ý thèm các thức ăn Việt nam, tôi bảo bà xã tôi làm rồi mang đến cho cô, cùng mấy tờ báo Văn Nghệ Tiền Phong, và tập truyện của ông Duyên Anh mà cô thích đọc.

Sau một tuần lễ, sức khỏe của cô khá hơn, nhưng y tá cho biết tâm trí chưa ổn định, cô thường giật mình thức giấc rồi la hét, khóc lóc lúc nửa đêm. Cứ vài ngày, bác sĩ Hauff từ Viện Tâm Thần đến thăm, cho cô quà, an ủi và khuyên cô hãy đọc sách, xem TV, cần nghĩ tới đứa bé sắp chào đời, dù gì nó cũng là giọt máu của mình. Có điều gì cần, hoặc cảm thấy nặng nề trong lòng, cô cứ nói ra mỗi lần ông đến thăm.

Cô không phải đến Sở Cảnh Sát để làm hồ sơ di trú như những người tị nạn khác, mà do yêu cầu của Sở Tỵ Nạn, vị trưởng phòng Cảnh sát ngoại kiều đã đích thân đến bệnh viện để gặp cô sáng hôm sau. Qua làm việc, tôi được biết cô gái sinh ra và lớn lên ở Đà Lạt. Trước 75, mẹ cô là cô giáo và cha là một sĩ quan cấp tá, bị mất tích tại Đà Nẵng khi Vùng 1 di tản. Vượt biên từ Rạch Giá cùng vị hôn phu. Anh là con trai lớn của một người bạn cùng khóa Võ Bị với cha cô. Chiếc thuyền nhỏ chở theo 47 người, ra khơi ba ngày thì gặp hai chiếc ghe đánh cá của Thái Lan chặn lại. Cả bọn gần 20 tên mang dao búa và cả súng nữa, xông lên thuyền uy hiếp. Anh tài công bị giết đầu tiên bằng búa đánh vào đầu, một vài thanh niên khỏe mạnh có ý chống cự, liền bị chém chết. Chúng chia nhau lục soát trên tàu và trên từng người để cướp vàng bạc, đồng hồ. Trước khi rời khỏi thuyền, chúng phá hỏng máy, và bắt theo khoảng mười cô gái. Khi hai tên trong bọn kéo Kiều đi, người vị hôn phu của Kiều xông đến định giật lại Kiều, bị chúng bắn bị thương rồi đạp xuống biển, trước tiếng la khóc thất thanh của Kiều cùng những cô gái khác

Vừa mới lên tàu, bọn hải tặc luân phiên hãm hiếp những cô gái bị chúng bắt theo. Tiếng van xin la khóc quyện vào âm thanh của những ngọn sóng dường như cũng đang thét gào phẫn nộ. Chỉ duy nhất có Kiều được thoát, không bị hiếp, nhưng bị cột cả hai tay vào phía sau phòng lái, và phải chứng kiến hành động dã man, bỉ ổi của bọn dã thú, cùng những khuôn mặt sợ hải đau đớn uất hận tột cùng của những cô gái nạn nhân.

– Tại sao cô lại được tha, không bị chúng hiếp? Anh cảnh sát ngạc nhiên hỏi.

– Làm sao được tha. Có lẽ thấy tôi có chút nhan sắc, nên tên thuyền trưởng dành riêng tôi cho hắn. Khi ấy hắn đang lái tàu! Cô gái sụt sùi.

Tối hôm ấy, cô đã bị cướp đi đời con gái. Qua một ngày kinh hãi, biết mình không thể chống cự, cô đã nằm im phó thác cho số phận. Trong khi thân xác bị dày vò, cô nghĩ đến cảnh người yêu vừa bị giết tức tưởi trưa nay, cắn chặt lưỡi giữa hai hàm răng ứa máu.

Tay thuyền trưởng hải tặc không đánh đập hành hạ cô như những cô gái khác. Hắn săn sóc, mang cho cô một tô cháo cá nóng, nhỏ nhẹ dỗ dành cô ăn, nhưng cô không thể nào nuốt nổi, dù bụng đang đói. Nằm thiếp đi cả một ngày trong phòng lái, khi nghe tiếng ồn ào gọi nhau của bọn hải tặc, giật mình thức dậy, cô thấy tàu cặp vào một hòn đảo.

Sau khi ra lệnh cho đám thuộc hạ quăng neo, tay thuyền trưởng cõng cô trên lưng, lội vào bờ. Cô ngạc nhiên rùng mình khi không thấy các cô gái khác. Số phận họ ra sao? Cô bịt kín hai tai, nhưng tiếng van xin kêu khóc hãi hùng của ngày hôm qua như muốn vỡ tung đầu óc. Cô tưởng tượng họ bị hiếp cho đến chết, rồi quăng xác xuống biển. Thật thảm thương tội nghiệp. Nhưng dù sao họ cũng không phải sống cả một đời thừa thải trong nỗi dày vò, mặc cảm và vô vọng như cô. Biển xanh sẽ ôm ấp vỗ về cả thân xác lẫn linh hồn họ. Là cánh hoa tả tơi duy nhất còn sót lại sau một ngày đêm dông bão, cô ví mình chẳng khác nào rác rưởi tắp vào một nơi hoang vắng. Cô tự hỏi, đó có phải là điều may mắn?

Anh cảnh sát ngồi bất động nghe cô kể, thỉnh thoảng ngước mặt lên trần nhà để giấu những giọt nước mắt. Tôi thầm tội nghiệp cho cô gái và cho cả anh ta, một người sinh ra và lớn lên trên một vương quốc an bình, giàu có, hà cớ gì phải khóc cho nỗi đau thương, bất hạnh của dân tộc tôi. Chúng tôi dừng lại khi thấy cô gái sụt sùi. Tôi đứng dậy đi lấy mấy tờ giấy soft cho cô lau nước mắt và mời cô một ly nước saft.

– Rồi đời sống của cô trên đảo ra sao trước khi cô được cứu thoát? Anh cảnh sát hỏi.

– Tôi được đưa vào một cái hang đá khá lớn, có sẵn một số thức ăn, nước uống và cả áo quần cùng nhiều vật dụng mà có lẽ bọn họ cướp được từ những lần trước.

Đó là một đảo hoang. Một trong những “hậu trạm”. Cứ bốn, năm hôm, có khi cả tuần lễ, bọn hải tặc trở về đây nghỉ ngơi đôi ngày, chia chác “chiến lợi phẩm”, rồi lại ra đi. Tiếp tục những chuyến làm ăn khác, hoặc vào bờ lấy thêm nhiên liệu, lương thực. Tay thuyền trưởng cao lớn, tóc phủ tới lưng, cả ngày chỉ mặc một cái quần short ố vàng, phơi tấm thân trần đen đúa với đầy những hình xâm. Không biết vì nghĩ là cô không hiểu tiếng Thái hay là bản tính ít nói, cả ngày hắn lầm lì, chỉ thỉnh thoảng mỉm cười. Hắn luộc tôm cá tươi ép cô ăn và bắt cô uống rượu. Miệng hắn lúc nào cũng nồng nặc mùi rượu. Đôi mắt đỏ ngầu. Rượu giúp hắn trở thành con hổ đói cuồng bạo trên tấm thân liễu yếu của cô. Hắn lột hết áo quần cô, làm nhiều cách hầu tạo kích thích, nhưng cả thân xác và tâm hồn cô đã trở thành gỗ đá, lạnh lùng, không còn cảm giác. Chỉ biết nhắm mắt chịu đựng đau đớn, để cho hắn ta mặc tình hành hạ.

Bọn họ ra đi từ lúc trời chưa sáng. Khi cô thức dậy chung quanh vắng lặng, ngoài tiếng sóng biển rì rào. Cảm giác da thịt rã rời. Phải ngồi khá lâu mới đứng dậy được. Cô chui ra khỏi hang, trèo xuống hốc núi tìm đường ra biển. Hôm nay trời nắng, biển êm. Nhìn biển mênh mông, trong gió nghe như có tiếng gọi tên mình, cô giật mình nghĩ tới người yêu và những cô gái đồng hành bất hạnh. Cô xăn quần lội xuống, vốc một vốc nước rửa mặt. Nước biển làm rát khóe mắt, nhưng giúp cô tỉnh táo. Bỗng cô nghĩ đến cái chết. Chỉ cần lội ra xa để cho sóng cuốn đi là cô sẽ gặp lại người tình ở đâu đó dưới đáy đại dương và sóng biển có thể rửa bớt phần nào nhơ nhớp trên tấm thân, mà bao nhiêu lần, mẹ đã ôm cô dặn dò phải cố giữ gìn, trước lúc từ biệt ra đi. Chợt nhớ tới mẹ, nhớ các em, cô đứng bất động nghe lòng dạ bồi hồi.

Gió từ biển khơi thổi tới như muốn an ủi vỗ về, giúp cô tìm lại một chút yên ả. Cô bước lên đi dọc theo bờ biển. Tiếp tục nghĩ đến mẹ và hai đứa em nhỏ dại. Giờ này không biết họ ra sao. Có biết mình đang lưu lạc trên một hoang đảo xa lạ giữa trời biển mênh mông với tấm thân hoen ố ê chề, hay là vẫn đang hy vọng đứa con gái, người chị của mình đã đến được một xứ thiên đường nào, để có thể cứu sống cả gia đình đang ở bước đường cùng. Bao nhiêu vốn liếng chắt chiu dành dụm được, kể cả chiếc nhẫn cưới và sợi dây chuyền vàng mà bà ngoại đã đeo lên cổ mẹ ngày vu quy, cũng chỉ đủ gom góp mua một cây vàng, và phải năn nỉ lắm mới được đóng trước một nửa cho chủ tàu, nửa còn lại khi nào đến nơi sẽ trả. Sau ngày cha cô vĩnh viễn không về, cùng nhiều đồng đội gởi xác thân ở một nơi vô danh nào đó, rồi cả miền Nam đang trù phú, hạnh phúc một thời, bỗng dưng trở nên đói nghèo, chia ly tan tác, cũng như những gia đình sĩ quan công chức khác, mẹ con cô đã trải qua bao tháng năm cùng cực. Cô đã phải bỏ học, phụ mẹ buôn tảo bán tần, mà cả nhà vẫn bữa đói bữa no. Nghĩ đến tương lai mịt mờ của mấy đứa con, mẹ bàn với cô, chỉ còn cách duy nhất, là cô phải ra đi. Bao lần tìm được mối, nhưng lo cho thân gái dặm trường, có biết bao điều bất trắc, cuối cùng bà rất vui mừng khi có người yêu của cô, cũng là con của một người bạn cùng khóa với chồng, cùng đi với con gái. Trước ngày đi, hai gia đình gặp nhau, tổ chức một lễ đính hôn rất vội vàng, đơn giản.

Cô bước đi những bước vô hồn trên những bọt sóng xô bờ, hình dung tới tuổi ấu thơ và cả một thời cùng gia đình sống trong hạnh phúc. Nhớ mấy năm cha cô được đổi về làm huấn luyện viên trường Võ Bị Đà Lạt, nơi ông đã gặp mẹ cô, khi còn là một sinh viên sĩ quan trai trẻ, từng đứng trên đỉnh Lâm Viên với hào khí ngút trời. Nơi ông cùng bè bạn đồng môn, đã quỳ xuống vũ đình trường trong ngày mãn khóa, giữa không khí uy linh, đưa tay thề quyết bảo vệ núi sông. Cô cũng nhớ tới đám bạn bè một thời nhỏ dại. Không biết những cánh chim non hồn nhiên ngày ấy, giờ tản mác trôi dạt về đâu sau cơn bão lửa. Cũng như cô, tất cả đã mất rồi, cả một bầu trời xanh bao la với bao nhiêu ước vọng thuở nào. Không bao giờ còn tìm lại được!

Đầu óc mơ hồ, tưởng mình đang đi tìm dấu vết tuổi thơ bên bờ hồ Xuân Hương thơ mộng. Khi nghiêng mình để tìm ngôi nhà Thủy Tạ, nơi lần đầu hò hẹn người yêu, cô bỗng giật mình nhận ra tảng đá trên hoang đảo, nơi cô bị giam lỏng từ mấy hôm nay. Giấc mơ xưa ngắn ngủi vỡ tan như bọt biển. Ngồi bệt xuống cát, thẫn thờ gọi mẹ, gọi em, và gọi tên người tình. Cô gọi đến khan cả cổ, để chỉ nghe tiếng mình dội lại từ đại dương mênh mông xa thẳm, không tìm thấy chân trời. Cô đã bật khóc.

Tôi định đưa tay bảo cô ngừng kể, để tôi kịp dịch lại cho anh cảnh sát, đang hồi hộp ngồi chờ, nhưng chợt thấy cô cũng đang khóc. Anh cảnh sát đứng lên nháy mắt, làm dấu cho tôi cùng bước ra ngoài để cho cô được tự nhiên. Khi trở vào, anh cảnh sát nhờ tôi hỏi, nếu cô muốn bảo lãnh cho mẹ và các em còn ở Việt Nam, anh sẽ trình lên Sở Ngoại Kiều, lập hồ sơ cho cô được ưu tiên. Có thể trong vòng từ sáu đến tám tháng, cô sẽ được đoàn tụ với gia đình. Suy nghĩ một chập, cô lắc đầu:

– Em chưa chuẩn bị được tâm lý, không muốn mẹ và các em sẽ đau buồn vì những gì em đã trải qua, và nhất là cái thai trong bụng, em vẫn còn đang giấu mẹ. Chờ sinh đẻ xong, em mới bình tĩnh mà quyết định được. Mặc dù em rất nhớ mẹ và các em.

Ngần ngừ một lúc cô ngõ ý muốn được Phòng Xã Hội cho mượn một số tiền để gởi về giúp gia đình, sau này đi làm cô sẽ trả. Anh cảnh sát gật đầu, hứa sẽ nói việc này với Phòng Xã Hội. Anh bắt tay cô, chúc sớm bình phục, gặp nhiều may mắn, và hẹn sẽ trở lại thăm cô để xin hỏi thêm cô ít điều bổ túc hồ sơ.

Hai hôm sau, qua điện thoại từ Phòng Xã Hội, tôi đến nhận số tiền 10.000 kroner (khoảng 1.200 USD), để giao lại cho cô và yêu cầu cô ký tên vào biên nhận.Tôi cũng mang đến biếu cô mấy trái xoài chua, lần trước cô bảo là cô rất thèm. Gặp lại tôi, cô tỏ ra mừng rỡ. Lần đầu tiên tôi thấy cô nhoẻn miệng cười. Cô bảo cô rất buồn và thấy cô đơn, vì không có tôi cô chẳng biết trò chuyện cùng ai. Cô ngạc nhiên và thoáng một chút xúc động khi tôi đưa cho cô số tiền của Phòng Xã Hội, và bảo đó là tiền cô được cấp, chứ không phải mượn. Tôi giải thích thêm về những trợ cấp khác dành cho người tỵ nạn lúc ban đầu và hằng tháng sau này, cũng như trợ cấp việc sinh đẻ và nuôi con. Tôi bảo cô yên tâm, đừng lo lắng gì về chuyện tiền bạc. Cô càng vui và tỏ ra thân thiện hơn khi nghe tôi bảo trước đây tôi cũng là lính, sau gần 8 năm tù trở về, vợ con cũng khốn cùng như gia đình cô. Tôi kể chuyện gia đình tôi vượt biên nhưng may mắn được tàu Na-uy vớt, mới đến Na-uy tám tháng, nhưng mọi việc tạm thời ổn định. Cô nhớ tới cha cô, đôi mắt sáng lên và say sưa kể cho tôi nghe những ngày cô theo cha ra đơn vị, hoặc cùng mẹ vào trường Võ Bị tham dự các buổi lễ ra trường. Khi tôi đứng dậy cáo từ, cô viết tên và địa chỉ của mẹ cô, nhờ tôi gởi hết số tiền còn nguyên trong bì thơ về cho mẹ. Trong mắt cô sáng lên niềm vui.

Một lần cô ngỏ ý muốn học tiếng Na-uy để giết thì giờ. Tôi bảo là ở Na-uy vừa mới có cuốn tự điển Nauy-Việt, tôi sẽ liên lạc Phòng Xã Hội để xin cho cô. Hai hôm sau, tôi mang cuốn tự điển đến, chỉ cho cô cách sử dụng, nói và viết vài câu đơn giản. Cô khá thông minh nên hiểu rất nhanh. Cô còn nhờ tôi viết cho cô vài câu tiếng Na-uy. Trong đó có một câu cô bảo là lời một bản nhạc nào đó mà cô rất thích: “Ngày mai, tôi muốn bỏ đi thật xa”.

Khi được biết là sẽ sinh con trai, cô vui lắm, nhưng ngay sau đó tôi thấy cô ngồi thẫn thờ, suy nghĩ mông lung. Gần tới ngày cô sinh, tôi xin phép cô cho bà xã tôi đến thăm, để hướng dẫn chỉ vẽ cho cô ít nhiều kinh nghiệm sinh đẻ mà vợ tôi đã trải qua. Hơn nữa, khi sinh đẻ, có một người đàn bà thân quen bên cạnh cũng an tâm. Biết cô ái ngại, nên tôi nói trước là vợ tôi hoàn toàn không biết gì về hoàn cảnh của cô, và tất nhiên tôi không hề tiết lộ điều gì. Tôi sẽ nói với vợ tôi là chồng cô còn ở trại tị nạn Thái Lan, sẽ được định cư sau. Ngần ngừ một lúc, cuối cùng cô gật đầu.

Cuối tuần, vợ chồng tôi đến thăm. Vợ tôi mang đến cho cô một it thức ăn Việt nam và mấy bộ áo quần con nít. Đàn bà dễ thông cảm với nhau, nhất là vợ tôi sinh mấy đứa con cũng không có mặt chồng, vì tôi bận tham dự hành quân, không về kịp. Tôi ra ngoài, để cho hai người đàn bà dễ nói chuyện sinh đẻ.

Cô sinh vào ban đêm, lúc trời đã vào đông. Tuyết rơi kín cả khung trời. Vợ chồng tôi đến phòng sinh lúc cô đau bụng. Vợ tôi ở bên cạnh cô, còn tôi ngồi ngoài phòng đợi. May mắn là cô sinh rất nhanh. Khoảng hơn 30 phút, tôi đã nghe tiếng con nít khóc. Khi mọi việc đã xong, nghe tiếng vợ gọi, tôi bước vào chúc mừng cô. Thằng bé đang nằm trên ngực mẹ. Tôi thấy cô khóc. Không biết đó là những giọt nước mắt xót xa hay hạnh phúc.

Sau một tuần ở bệnh viện, mẹ con cô chuyển đến một khách sạn, được phòng xã hội mướn cho cô tạm trú một thời gian, vì chưa tìm được căn nhà thích hợp cho cô. Khách sạn khá sang trọng, nằm không xa bệnh viện, để tiện cho các y tá đến thăm và chăm sóc mẹ con cô.

Mấy ngày sau, tôi đến khách sạn cô ở. Không phải để thăm cô mà để làm thông dịch cho bác sĩ Hauff và nhân viên phòng xã hội. Họ mang đến cho con cô nhiều quà tặng. Ai cũng ngạc nhiên và thích thú khi thấy cô biết nói vài câu ngắn bằng tiếng Na-uy. Bác sĩ Hauff hỏi là cô có cần ông giúp điều gì nữa không, cô bập bẹ trả lời: “tôi sẽ nói với ông sau”. Tuy không đúng hẳn, nhưng mọi người đều hiểu được.

Ngày đầy tháng, vợ tôi nhớ và nhắc tôi đến thăm mẹ con cô. Chúng tôi ghé siêu thị chọn mua một món quà mừng thằng bé. Bấm chuông phòng, cửa không mở. Gõ nhẹ cũng không thấy lên tiếng. Tôi đến văn phòng khách sạn hỏi. Họ cho biết là cô vừa mới chuyển đi. Tôi gọi hỏi Phòng Xã Hội, họ cho biết là cô đã chuyển đi một thành phố rất xa, và theo yêu cầu của cô, họ không tiết lộ địa chỉ mới cho bất cứ một ai. Sau một thoáng ngạc nhiên, tôi chợt nhớ đến lời một bài ca nào đó mà cô đã nhờ tôi viết ra bằng tiếng Na-uy và chỉ cho cô đọc đi đọc lại nhiều lần: “ngày mai, tôi muốn bỏ đi thật xa”. Trên đường về, bà xã tôi thắc mắc tại sao cô lại chuyển đi sớm và không cho chúng tôi hay. Tôi lắc đầu, mặc dù tôi đã vừa mới hiểu ra.

Từ hôm ấy, tôi không bao giờ gặp lại cô. Vài lần nhớ tới cô, tôi định hỏi thăm qua một số người quen ở các thành phố khác, hoặc gọi cho Sở Tỵ Nạn. Nhưng rồi tôi quyết định không tìm, vì có lẽ cô không muốn gặp lại tôi, một người biết quá nhiều về cô.

oOo

Bích Kiều đến đúng giờ hẹn. Khi thấy chiếc taxi đỗ ngay trước cổng nhà, vợ chồng tôi chạy ra đón. Tôi cũng nóng lòng muốn xem lại dung nhan của người con gái xinh đẹp nhưng găp phải điều bất hạnh của hai mươi lăm năm trước. Bây giờ chắc tuổi cũng đã 45,46. Vợ chồng tôi ngạc nhiên khi thấy Bích Kiều vẫn còn trẻ đẹp. Cặp kiếng cận làm tăng nét tao nhã quí phái. Cô ôm chầm chúng tôi, rồi lấy kiếng xuống để chùi nước mắt.

– Không ngờ Kiều bây giờ còn đẹp hơn hồi xưa nhiều lắm. Sao đi có một mình ên còn ảnh thì giấu kỹ ở đâu rồi không cho trình diện?

Câu nói đùa của bã xã tôi làm cô bớt xúc động, nở nụ cười sau một thoáng thẹn thùng:

– Em vẫn còn độc thân mà! Hôm nay xuống đây nhờ anh chị làm mai đây.

Chúng tôi đi quanh khu vườn sau nhà. Bà xã muốn khoe mấy cụm hồng vàng vừa mới nở hoa, trước khi dắt tay cô bước vào phòng khách. Tôi mang nước ra mời và ngồi nghe hai người đàn bà nói chuyện trang điểm phấn son xong mới lên tiếng:

– Vậy là Kiều đang ở Trondheim. Tôi thấy địa chỉ trong tấm thiệp cưới. Ngày ấy, tự dưng Kiều biến mất, làm bọn tôi cứ nghĩ là nàng trích tiên đã ngao ngán cảnh trần gian mà bay lại về trời rồi chứ.

Cô cười bẽn lẽn:

– Hôm nay đến cũng để xin lỗi anh chị đây. Ngày ấy lòng em còn đau xót lắm, nên muốn đi đến một nơi thật xa, không muốn gặp bất cứ người Việt nào và nhất là những ai đã biết về mình. Mặc dù em rất thương quí và mang ơn anh chị.

Tôi cười:

– Tôi biết, nên chỉ thương chứ có nỡ lòng nào mà trách. Chắc Kiều còn nhớ cái câu tiếng Na-uy “Ngày mai tôi muốn bỏ đi thật xa” mà Kiều nhờ tôi viết ra và chỉ cho Kiều đọc đi, đọc lại bao nhiêu lần. Khi ấy Kiều bảo rất thích câu ấy trong một bài hát mà Kiều hay hát? Nhờ đó mà tôi hiểu được, nên không có ý tìm Kiều.

Đúng là cô đã đi thật xa, một hòn đảo nhỏ nằm ngoài khơi thành phố Ålesund. Ở đó không có một người Việt nào sinh sống. Chính quyền và dân chúng rất tốt. Mẹ con cô được chăm sóc chu đáo. Một năm sau cô bảo lãnh mẹ và hai cậu em sang đoàn tụ. Gia đình sống trong hạnh phúc. Đứa bé lớn lên trong vòng tay yêu thương của mọi người. Cháu được đặt tên Trần huy Bách, và trong giấy khai sanh có cha là Trần Huy Trác. Tên người vị hôn phu của Kiều. Anh đã bị chính cha ruột của thằng bé giết chết thảm thương rồi vất xác xuống biển. Kiều giấu kín mẹ và các em điều đau thương này, nên đến lúc qua đời, mẹ cô vẫn tin đứa cháu ngoại duy nhất của mình là con của Trác. Bà mất đột ngột sau cơn bệnh tim, khi sang Na-uy được mười sáu năm.

Được chính phủ trợ cấp, cho học bổng, và nhờ mẹ giúp trông con cùng mọi việc trong nhà, nên Kiều và hai em được đi học. Cả ba chị em đều xong đại học. Hai cậu em đang là kỹ sư, còn cô làm y tá trong bệnh viện. Khi hai cậu em được nhận vào trường NTH , một đại học kỹ thuật bách khoa nổi tiếng tại thành phố Trondheim, miền trung Na-uy, cả nhà đã di chuyển về đây sau sáu năm ở Ålesund. Cháu Huy Bách, con của Kiều cũng vừa tốt nghiệp ở trường này mùa hè năm ngoái.

– Vợ chồng tôi mừng cho Kiều, cho sự thành công của mẹ con Kiều cùng hai cậu em, và cũng xin chia buồn về việc bà cụ đã ra đi. Tiếc là chúng tôi không có dịp được gặp bà.

Đang vui, bỗng Kiều xúc động:

– Tất cả đều nhờ mẹ em. Cả một đời thiệt thòi, chịu đựng vất vả với con cháu. Em vẫn ân hận là em đã phải nói dối với bà về chuyện của cháu Bách.

– Tôi nghĩ Kiều làm như thế là đúng. Ít nhất là không làm đau lòng thêm những người ruột thịt vốn đã chịu quá nhiều nhục nhằn, khốn khổ. Tôi tin là bác ra đi thanh thản, không có trách gì Kiều về sự việc ấy đâu. Tôi nói để an ủi .

Bà xã tôi nãy giờ không hiểu hết những gì chúng tôi trao đổi, hỏi Kiều:

– Sao cô lại không giữ tên Kiều mà lấy tên Bích. Tôi thấy tên Bích Kiều đẹp lắm. Ngày xưa gần nhà tôi ở Nha Trang cũng có tiệm uốn tóc Bích Kiều. Mấy cô con gái đều đẹp. Tôi quen cả hai chị em.

– Dạ, em thấy cuộc đời nàng Kiều của ông Nguyễn Du sao mà ba chìm bảy nổi quá, mà dường như cũng đã vận vào em, em sợ nên đổi tên Bích, cũng là chữ lót của em.

Tôi cười phụ họa:

– Nàng Kiều nào cũng đã chết rồi. Bây giờ, đang ngồi trước mặt tôi là Bích. Một cô Bích hoàn toàn khác. Chúng tôi rất mừng được như vậy. Xin lỗi, đáng lẽ ra không nên gọi cô là Kiều nữa. từ bây giờ chúng tôi gọi tên Bích nghe.

– Có sao đâu anh. Hai đứa em của em cũng gọi em là chị Kiều mà. Ngoài gia đình, chỉ có anh chị là biết cái tên này của em. Chuyện xưa cũng đã qua rồi. Em muốn anh chị cứ gọi em là Kiều như ngày trước. Hơn nữa, em biết, ngày ấy anh chị cũng thương yêu cô Kiều đó lắm , phải không?

Cả ba chúng tôi đều cười.

Kiều nhìn đồng hồ trên tường, khi nghe tiếng chuông báo giờ. Không biết vì không muốn nhắc lại chuyện cũ, hay là sợ không còn nhiều thời gian, cô bắt đầu một câu chuyện khác. Cô mở xách tay lấy ra mấy tấm ảnh đưa cho chúng tôi xem. Ảnh của Bách, con trai cô vừa chụp với cô vợ tương lai trong ngày lễ đính hôn hơn ba tháng trước. Một cô gái Việt nam. Cả hai cô cậu đều đẹp, mũi cao, đôi mắt to, vầng trán thoáng lên nét thông minh.

– Hai cháu rất xứng đôi vừa lứa! Vợ chồng tôi khen.

Cô cho biết cô dâu tương lai là một dược sĩ vừa mới tốt nghiệp, con gái út của vợ chồng một vị giáo sư trước 75, được con bảo lãnh sang Na-uy, và bây giờ lớn tuổi đã về hưu. Ông bà đang sống ở Oslo. Gia đình nề nếp, đạo đức, có năm người con, tất cả đều thành đạt. Cô nhờ vợ chồng tôi, tuổi tác ngang với cha mẹ cô dâu, đứng ra thay mặt nhà trai trong ngày đám cưới. Nhưng điều quan trọng hơn, theo cô, là để cho cháu Bách, và chính cô nữa, được tự tin, ấm áp hơn về phía gia đình mình. Bởi vợ tôi là người chứng kiến khi Bách ra đời, còn tôi là người đồng hương duy nhất biết rõ về Bách, về những tình huống để có Bách hiện diện trên thế gian này.

– Sự có mặt của anh chị trong ngày đám cưới cháu Bách, là một kỷ niệm thiêng liêng quý giá đối với mẹ con em. Bởi vì khi nhìn thấy anh chị, em sẽ có cảm giác như là đang có anh Trác bên cạnh. Xin lỗi anh chị, em cũng đã nói dối với cháu Bách, anh là người duy nhất ở Na-uy này biết chuyện Trác, và tội nghiệp, cháu Bách vẫn tin anh Trác là ba của nó. Em thường bắt gặp cháu đứng thật lâu trước tấm ảnh của anh Trác trên bàn thờ.

– Vậy nhỡ cháu Bách hỏi tôi về Trác, tôi biết nói gì với cháu?

Nghĩ ngợi một lúc, Kiều lên tiếng:

– Em chỉ nói với cháu Bách, là ngày xưa anh ở trong quân đội, nên biết ba của anh Trác là ông nội cháu, thế thôi. Chứ lúc ấy anh Trác còn nhỏ lắm. Em thiết tha mong anh chị giúp em. Vì trong lúc này, em cảm thấy thật lo sợ và cô đơn. Những hình ảnh hãi hùng ấy cứ tưởng đã quên được từ lâu rồi, vậy mà bây giờ nó lại hiện lên liên tục, ngay cả trong giấc ngủ của em. Thú thực, ban đầu em không có ý định gặp anh chị, nhưng càng gần ngày đám cưới cháu, em càng thấy lòng bất an. Cuối cùng bất ngờ em đã nghĩ đến anh chị, người đã biết tường tận hoàn cảnh của mẹ con em, bỗng dưng em thấy nhẹ nhàng, như vừa giải tỏa được những gì cứ phải chôn giấu, đè nặng mãi trong lòng.

Nhớ tới hai người em trai của cô, vợ tôi hỏi:

– Còn hai cậu em của cô bây giờ ra sao. Đã có gia đình riêng hay vẫn ở chung với cô?

– Cậu lớn sống chung với cô bạn gái người Na-uy hơn hai năm thì chia tay, còn cậu út vẫn chưa lập gia đình. Tuy nhiên, hai cậu đều ở riêng.

Cuối cùng, vợ chồng tôi quyết định hủy bỏ chuyến đi London. Phải gọi sang xin lỗi và giải thích cho vợ chồng cô con gái, bảo đây là một việc ba má cần làm để giúp cho những người bất hạnh có thể tìm lại ít nhiều hạnh phúc.

Lễ thành hôn được tổ chức buổi sáng thứ Bảy. Chúng tôi đến khách sạn Royal Christiania khi trời vừa mới trải qua một cơn mưa hạ. Ánh nắng bắt đầu chói chang rọi qua những tàn cây tạo thành những vệt lung linh trên các bãi cỏ xanh điểm những chấm vàng rực rỡ của hoa løvetann đang mùa nở rộ. Họ nhà trai dùng khách sạn này, nơi mẹ con Kiều và hai cậu em đang ở mấy hôm nay, làm “điểm xuất phát”. Từ Trondheim xuống, nên họ chỉ có bốn người. Thêm một cậu người Na-uy ở Oslo, bạn học của Bách làm phụ rể. Vợ chồng tôi đến với hai cô con gái và ba đứa cháu, để bưng các mâm lễ vật, theo yêu cầu của Kiều. Lần đầu tiên chúng tôi gặp Bách. Cậu bé ra đời vào một đêm đông tuyết giá, trong nỗi cô đơn và xót xa của mẹ, chỉ có vợ chồng tôi, hai người đồng hương xa lạ, có mặt và nghe tiếng khóc đầu đời, bây giờ là một thanh niên tuấn tú, có học, chân thật hiền lành. Điều làm chúng tôi ngạc nhiên là Bách nói tiếng Việt rất giỏi. Bất giác, tôi nhớ tới những điều Kiều kể với vị cảnh sát ngoại kiều trước kia trong bệnh viện. Đầu óc như mơ hồ có tiếng sóng biển thét gào phẫn nộ, và hình dung tới gã hải tặc Thái Lan có mái tóc phủ xuống lưng, trên người đầy những hình xâm với đôi mắt lúc nào cũng đỏ ngầu trong men rượu. Bỗng tôi giật mình, có cảm giác như vừa làm điều phạm tội. Cố gắng hướng tâm trí tới những điều thánh thiện, tốt đẹp khác để xua đuổi hết những hình ảnh đen tối ấy vào giờ phút mọi người đang cần có niềm vui và hạnh phúc.

Lễ thành hôn đã diễn ra tốt đẹp. Ông bà sui của Kiều đều là nhà giáo, hiểu biết và tôn trọng nề nếp cũ. Mọi nghi thức hôn lễ theo tập tục do ông bà hướng dẫn khá tỉ mỉ. Con cháu đều thành đạt, lễ phép. Tôi mừng cho Kiều, và nhất là cho cháu Bách đã may mắn là con rể của gia đình này. Có lẽ thấu hiểu hoàn cảnh của Kiều với lòng mến mộ, sau khi lạy ông bà trên bàn thờ gia tộc, ông giáo hướng dẫn cô dâu chú rể đến dâng rượu và xin lạy mẹ của Bách hai lạy. Ông giải thích, một lạy cảm tạ công ơn sinh thành dưỡng dục của mẹ, mất chồng từ khi còn rất trẻ, nhưng không bước thêm một bước nào nữa mà dành hết cuộc đời cho đứa con duy nhất của mình. Một lạy xin mẹ nhận thay cha, để hai con tưởng nhớ đến người cha bất hạnh, sớm lìa đời khi chưa thấy mặt con.

Khi vợ chồng cháu Bách mời rượu, nói những lời cám ơn thật cảm động, Kiều âu yếm nhìn hai con, định nói điều gì, nhưng rồi nghẹn ngào. Sau một lúc mới nở được nụ cười trong ràn rụa nước mắt. Tôi thấy lòng bâng khuâng. Thầm mong đó không phải là những giọt nước mắt xót xa mà là niềm vui của hạnh phúc.

Không khí bỗng lắng xuống. Mọi người đều xúc động. Kiều ngước lên, đúng vào lúc tôi quay mặt đi để giấu những giọt nước mắt của chính mình.

Phạm Tín An Ninh

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Nha Trang – thời tôi mới lớn

Nha Trang lúc nào cũng đẹp, nhưng với tôi Nha Trang đẹp nhất ở vào cái thời tôi mới lớn. Dường như lúc ấy biển xanh hơn, bầu trời trong và bao la hơn, đã cho tôi nhiều mộng mơ hơn. Lúc ấy tôi chưa biết yêu để hiểu được cái nghĩa thất tình nó ra sao, cái cảm giác “chết trong lòng một ít” nó đau đớn đến dường nào; cũng chưa bước chân lên bến đời để thấy cuộc đời này không phải chỉ toàn màu xanh của biển và bầu trời trên đầu lại có quá nhiều những đám mây đen.

Ngày ấy, cũng đã có chiến tranh (quê hương tôi thì lúc nào lại không có chiến tranh), nhưng dường như còn ở đâu đó, xa lắm. Tôi chỉ biết người lính qua mấy anh SVSQ  Hải Quân, Không Quân oai phong tuấn tú trong những bộ quân phục đẹp, mới toanh, thẳng nếp, dạo phố với tình nhân vào những ngày cuối tuần. Đâu có biết người lính gian khổ, hiểm nguy và chết chóc ra sao. Khi ấy, Trịnh Công Sơn cũng chỉ mới viết được đôi ba bài tình ca, chưa có bản nhạc phản chiến nào, Những bản nhạc viết về lính lúc ấy cũng dễ thương, hiền lành và lãng mạn lắm, chưa hề ngheKỹ Vật Cho Em. Ngày Mai Đi Nhận Xác Chồng, Anh Không Chết Đâu Anh, Người Ở Lại Charlie…, nên cũng chưa biết tiếng khóc não nùng của những người góa phụ.

Những chuyện xảy ra trong thành phố thời ấy hấp dẫn tôi và đám bạn bè hơn. Chuyện bà (vợ ông) bác sĩ, một mệnh phụ gốc Hà thành nhan sắc mà mỗi lần trông thấy bà ngoài phố, chúng tôi đứng lại tròn mắt trầm trồ như đang được chiêm ngưỡng một pho tượng đẹp trong viện bảo tàng. Chuyện của một bà dược sĩ, có tình nhân là một ông đại úy phi công rất bô trai. Mặc dù bà có chiếc xe hơi thể thao “trọc mui” duy nhất ở thành phố biển này, nhưng bọn tôi thường thấy ông phi công đèo bà sau chiếc Vespa chạy lòng vòng  trên đường Duy Tân, Độc Lập. Cuộc tình lãng mạn ấy rồi cũng đi vào ngõ rẽ. Bà dược sĩ trở thành phu nhân của một ông tướng nổi danh, còn chàng phi công hào hoa thì rước về dinh một cô ca sĩ chuyên hát những bản nhạc buồn… vào hồn không tên… nào đó. Và “đình đám” nhất là chuyện tình của thầy tôi và một cô học trò. Ông thầy mà bọn tôi thường gọi là “thầy của những ông thầy khác” và rất mê nghe ông đọc những bài thơ tình lãng mạn của mấy ông Alphonse de Lamartine, Charles Beaudelaire, Jacques Préver trong giờ Văn học sử Pháp. Còn cô học trò cũng rất tài ba, từng có bài luận văn dài gần 20 trang giấy được giáo sư nổi danh Thạch Trung Giã cho điểm tối đa và đọc cho cả mấy lớp cùng nghe. Không biết có phải nhờ vòng tay ông thầy của tôi mà sau này cô trở thành nhà văn nổi tiếng với tác phẩm cũng bắt đầu bằng hai chữ Vòng Tay… Một ông thầy khác mê đến si tình cô học trò “hoa khôi” Võ Tánh, đóng vai Trưng Trắc trong  buổi lễ Hai Bà Trưng. Những nữ sinh được chọn đóng vai Trưng Trắc, Trưng Nhị thời ấy đều là những mỹ nhân “vang bóng một thời”.

Thời ấy dường như chiến tranh còn ở đâu đó, chưa tới Nha Trang, nhưng Nha Trang lại là nơi có ba quân trường nổi tiếng.

Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân đã đào tạo hầu hết những sĩ quan Hải quân ưu tú. Trong số ấy có rất nhiều đồng môn của bọn tôi ở Trường Võ Tánh, một số đàn anh trở thành những hạm trưởng: Trần Đức Cử, Phạm Đình San, Võ Quang Thủ, Phan Hữu Niệm, Võ Văn Bảy

Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân đào tạo hầu hết những phi công tài hoa của đất nước, trong số này cũng có rất nhiều cựu học sinh Võ Tánh. Sau này có người lên đến cấp tướng.

Trường Đồng Đế, đào tạo hầu hết các hạ sĩ quan cho Quân Lực và những khóa sĩ quan hiện dịch, mà một người sĩ quan tốt nghiệp Khóa 2 đã trở thành một vị anh hùng trong lòng bao người dân Việt tha phương: Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn. (Xa hơn một chút là Huấn Khu Dục Mỹ, với các quân trường nổi danh không kém, được thành lập từ năm 1960. Trường Pháo Binh chuyên đào tạo cá sĩ quan có khả năng toán học, làm “đề lô” và sau này trở thành các cấp chỉ huy của binh chủng “nòng dài”, tạo sấm sét lam khiếp vía quân thù. Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân, được những người lính gọi là “Lò Luyện Thép”. Có người còn gọi đùa là “Trung Tâm Tàn Phá Sắc Đẹp.” Một nơi huấn luyện cho người lính chịu đựng gian khổ nhất, có khả năng vượt qua mọi chướng ngại, để có thể chiến đấu trong những điều kiện khó khăn nguy hiểm nhất để đánh thắng quân thù. Ngoài việc đào tạo các chiến sĩ Mũ Nâu hào hùng, còn có các Khóa Rừng Núi Sình Lấy, Viễn Thám cho tất cả các quân binh chủng thiện chiến khác.)

Về văn chương, ngoài một số nhà văn kỳ cựu như Quách Tấn, Cung Giũ Nguyên, Thạch Trung Giã, Võ Hồng, lúc ấy có nhiều nhà văn nhà thơ nổi tiếng sớm từ đám học trò: Nguyễn Xuân Hoàng, Sao Trên Rừng (Nguyễn Đức Sơn), Thanh Nhung (Tôn Nữ Nha Trang), Duy Năng (Nguyễn Hữu Trí)…Nếu tính cả những người từ các tỉnh lân cận đến học ở Nha Trang thì còn có Nguyễn Mộng Giác, Nguyễn Thị Hoàng, Cao Hoành Nhân, Từ Thế Mộng, Trần Hoài Thư, Sương Biên Thùy (Lê Mai Lĩnh sau này)…

Thời đó, Nha Trang có cô ca sĩ Thúy Vân, tuổi khoảng 14, 15, có ông bố phục vụ trong Lực lượng Bảo An Đoàn, có tay trống Minh Châu số 1 của Ban Văn Nghệ Ty Thông Tin , sau này cũng gia nhập Bảo An, làm sĩ quan Tâm Lý Chiến. Bọn tôi thường được tham dự những đêm văn nghệ do Ty Thông Tin tổ chức, nghe ca sĩ Bích Sơn hát bài  Cô Gái Xuân và đóng kịch “Ông Ninh Ông Nang” với anh hề Ngọc Trai. Được xem phim Chúng Tôi Muốn Sống , mê ông Lê Quỳnh đẹp trai và bà Mai Trâm với má lúm đồng tiền và hai lọn tóc thắt “con rít” thả xuống bờ vai.

Thời ấy cũng có rất nhiều cái tên “mỹ nhân” truyền tai nhau trong đám học trò:  Cẩm Vân, Bạch Yến. Như Bá, Bích Tùng, Mỵ Cơ, Xuân Thùy, Hồng Nữ, Xuân Hoa, Bích Khuê, Như Ý, Hồng Huê, Lệ Son, Mỵ Hảo… Và ngay trong lớp tôi cũng có những giai nhân đã làm khuấy động trái tim của biết bao ông thầy và cả học trò, mà đến hôm nay vẫn còn được bàn cãi rất sôi nổi mỗi lần bọn tôi có dịp gặp nhau kể lại chuyện xưa: Thúy Liệu, Minh Châu, Kim Anh, Kim Thoa, Túy Ngọc, Như Bá… Đám bọn tôi cũng biết danh ông Lê Bá Chẩn, không phải vì ông là phó tỉnh mà vì ông bà có mấy cô con gái đẹp, từng đóng vai Trưng Trắc, Trưng Nhị. Và có lẽ không ai mà không biết hiệu Đông Quang nằm bên tiệm chụp ảnh Mai Ngôn trên đường phố Phan Bội Châu, bởi mỗi lần đi qua nhìn thấy chị Thuần Hậu, sắc nước hương trời, ngồi bên một cái giá dựng đủ các thứ gươm đao thời Tam Quốc (?)

Thời đó Nha Trang có khá nhiều nhà sách, nhưng bọn tôi thường lui tới Nguyễn Lê và Vĩnh An Thành, nơi nào cũng có cô con gái đẹp. Riêng Nguyễn Lê thỉnh thoảng có mấy cô bán sách cũng làm điêu đứng đám học trò mới lớn.

Nha Trang lúc ấy có khá nhiều rạp ciné. Rạp Moderne của ông Bác Ái không hiểu vì sao đóng cửa sớm. Rạp Tân Tiến thường chiếu phim Ấn Độ. Rạp Minh Châu thì thường có những đoàn hát cải lương – Dạ Lý Hương, Kim Chung, Thanh Minh Thanh Nga. Rạp Thạnh Xương thì chuyên hát bội. Chỉ có rạp Tân Tân và Tân Quang thường chiếu những phim hay: Cuốn Theo Chiều Gió, Gió Đồng Nội, Vũ Điệu Trong Bóng Mờ, Mặt Trời Vẫn Mọc, Lưới Tình Khó Thoát, Ben- Hur, The Vikings…Thời nổi danh của các cô đào Vivien Leigh, Marylin Monroe, Brigitte Bardot, Sophia Loren, Audrey Hepburn, Elizabeth Taylor, Gina Lolobrigida…

Thỉnh thoảng có các đoàn mô tô bay trình diễn trong Sân Vận Động. Tôi không còn nhớ là trong số người đẹp biểu diễn ấy có cô Bạch Yến, sau này trở thành ca sĩ, nổi tiếng với nhạc phẩm Đêm Đông, theo chồng là ông nhạc sĩ Trần Quang Hải sang Pháp, để cho ông nhạc sĩ Lam Phương sáng tác bài Phút Cuối.

Chỉ còn gần em một giây phút thôi.

Một giây nữa thôi là xa nhau rồi.

Người theo cánh chim về vui với đời

Để lại thương nhớ cho kiếp đơn côi

Những giờ nghỉ học, bọn tôi đạp xe thơ thần trên con đường Duy Tân, con đường đẹp nhất của Nha Trang, ngồi dưới mấy lùm dương, ngắm biển xanh mà nói chuyện trên trời. Có một đồng bạc đủ để mua một trái cóc khía ngâm đường của mấy người đẩy xe bán dạo. Có khi trèo rào vào Viện Pasteur để hái trộm mấy trái tra. Nha Trang diễm phúc có ông bác sĩ Yersin từ Pháp đến lập các viện nghiên cứu y học, lập Viện Pasteur.Ông đã nằm lại với Nha Trang. Mộ ông ở Suối Dầu và tên ông được đặt cho một trong những con đường “thế giá” nhất Nha Trang.

Hồi ấy bọn con trai chúng tôi cũng thường nghe nói đến các “băng”: Băng thằng Liên Xóm Mới, Băng Thằng Điền, Băng thằng Quách Thanh, Băng Lò Heo…, nhưng không biết các “băng” này chọc trời khuấy nước ra sao, và những vị yên hùng này có giống Điền Khắc Kim, Dũng Đa Kao được nhà văn Duyên Anh đem vào truyện hay không? Nha trang cũng có những lò luyện võ của võ sư Trọng Đãi hay Huỳnh Tiền gì đó, và dưới bờ biển có Judo Club của anh Hàn Phong Cao, con ông chủ khách sạn Phụng Hoàng nằm trước ga xe lửa. Sau này anh là thiếu tá Kỵ Binh Thiết Giáp và làm quận trưởng ở Phan Thiết.

Bọn tôi thường ghé lại các tiệm chè bên cạnh Rạp Ciné Tân Tiến, một đồng một ly mà thấy mình sang lắm. Thỉnh thoảng được cha mẹ thưởng cho ít tiền mới dám đến “kéo ghế” ở phở Hợp Lợi, nem Mỹ Hạnh trên đường Trần Quý Cáp, mì Lợi Ký, sữa đậu nành và Pate Chaud trên đường Độc Lập.

Ngày ấy đám con trai bọn tôi rất mê đá banh. Nha Trang có đội Công Chánh với ông bầu Năm. Có vài lần thi đấu ngang ngửa với các đội Thương Cảng, AJS  Sài gòn, gồm nhiều tuyển thủ quốc gia, có thủ môn Phạm Văn Rạng vang tiếng một thời. Trường Võ Tánh bọn tôi cũng có những cầu thủ nổi danh; các anh Lư Văn Thành, Nguyễn Văn Sự, Ngô Lam…tham gia trong đội bóng.

Những ngày cuối tháng chạp, bọn tôi rủ nhau dạo qua chợ Tết. Các gian hàng được bày ra ngay giữa lòng đường Phan Bội Châu, từ trước nhà sách Nguyễn Lê cho đến ngã tư cuối chợ Đầm. Bọn tôi thường đứng tán gẫu với cô bạn cùng lớp trông hàng cho mẹ. Ở tuổi ấy, chúng tôi không còn nô nức chờ đón Tết như thời tuổi thơ, lúc còn sống ở quê.

Nha Trang có chùa Hội Phật Học, nằm trên Mã Vòng đường lên Thành. Cách đó không xa, bên sườn đồi có chùa Hải Đức. Sau này trên đỉnh núi có xây tượng Phật khá lớn. Trước ngày khánh thành, mấy ông VC nằm vùng treo sau lưng tượng Phật lá cờ đỏ sao vàng thật to.Khi cảnh sát đến lấy xuống, bị nổ lựu đạn gài sẵn, hình như có người chết hay bị thương. Tôi nghiệp, chỉ có bọn người man rợ mới lợi dụng cả tượng Phật để giết người. Trước đó, tại rạp Tân Tiến, có lần VC ném lựu đạn làm chết và bị thương khá nhiều người, Đó là hai lần bọn tôi biết được, người CS đã đem chiến tranh và chết chóc đến trong lòng thành phố đẹp đẽ hiền hòa, khuấy động cuộc sống hồn nhiên yên ả của bọn tôi.

Nha Trang có nhà thờ đá, có người gọi là nhà thờ núi, vì nằm trên đỉnh đồi hướng ra Ngã Sáu, giữa  góc đường Gia Long – Phước Hải. Những đêm Giáng Sinh, dù không phải người Công Giáo, bọn tôi cũng rủ nhau đến đây xem người ta đi lễ, mừng Chúa ra đời. Sau đó kéo nhau về nhà một thằng nào đó ăn réveillon.Về sau, trong đám bọn tôi có thằng mê một cô bé có đạo dòng, xinh như mộng, bọn tôi thường nghe nó hát “lạy Chúa, con là người ngoại đạo, nhưng con tin có Chúa ngự trên cao…” Cuối cùng nó cũng cưới được cô bé và hai vợ chồng sống rất hạnh phúc cho đến bây giờ.

Đi về hướng Đồng Đế, qua khỏi cầu Xóm Bóng, Tháp Bà  Ponagar đứng trên đồi cao nhìn xuống dòng sông Cái chảy lững lờ. Di tích của đế chế Chiêm Thành còn lại. Giờ là nơi để nhiều người đến xin xăm, cầu nguyện một ân sủng từ bà Thiên Y Thánh Mẫu Ana hiển linh nào đó. Cũng là nơi hẹn hò, thề non hẹn biển của những cặp tình nhân vào những ngày vắng khách nhàn du.

Về hướng biển có Hòn Chồng, với dấu bàn tay in trên tảng đá đã được thêu dệt thành  nhiều huyền thoại, chứng kiến lời hẹn thề của bao cặp tình nhân, và chắc chắn cũng từng thấm đẫm nhiều nước mắt của những cuộc tình không trọn.

Nhưng trong tất cả các cái tên để nhớ, bọn tôi nhớ nhất là tên của những ngôi trường; Lê Quí Đôn, Kim Yến, Tương Lai, Văn Hóa, Đăng Khoa, Bồ Đề, Bá Ninh, Võ Tánh, Nữ Trung Học, … Ở mỗi ngôi trường, tôi đều có bạn bè  những năm đệ nhất cấp. Sau này hầu hết đều chuyển sang Võ Tánh. Ngôi trường công lập lớn nhất và nổi tiếng ở vùng duyên hải miền Trung. Nơi ước mơ của đám học trò, đặc biệt từ những vùng quê như bọn tôi thuở ấy.

Sau bậc trung học, đám bọn tôi tản mác khắp nơi. Một số vào Sài Gòn, ra Huế hay lên Đà Lạt tiếp tục học đại học, đa số nhập ngũ, vào các quân trường, rồi ra đi khắp bốn Vùng Chiến thuật. Chiến tranh ngày càng khốc liệt cuốn chúng tôi theo như cơn lốc xoáy. Kẻ chết, người bị thương. Những người may mắn còn sống thì miệt mài ở các chiến trường khói lửa. Năm tháng chỉ còn có súng đạn và mục tiêu trước mặt. Nha Trang, thành phố đẹp đẽ với những hang động tuổi thơ một thời cũng đành bỏ lại phía sau lưng. Có còn, chỉ trong vài phút giây hồi tưởng. Rồi ước mơ trở về sống với Nha Trang sau chiến chinh, khi giã từ vũ khí, lại đến trong đớn đau tức tưởi. Cuối tháng 3/75, Cộng sản chiếm Nha Trang, phủ lên thành phố này cả một trời tóc tang buồn thảm. Nha Trang không còn đẹp, thơ mộng. Và không còn là của chúng tôi. Bọn tôi phải ra đi, đành lòng bỏ lại NhaTrang. Thành phố đẹp đẽ suốt một thời tôi mới lớn, mãi mãi chỉ còn trong ký ức.

Những người đặc biệt tôi đã nhắc tên. Một số đã mất, người còn lại thì hầu hết đang sống tha phương, nhưng có lẽ bây giờ tóc ai cũng bạc. Tôi may mắn được gặp lại vài người. Ai cũng tiếc nuối một thời đẹp đẽ, dễ thương của chính mình, của bạn bè và của cả Nha Trang, xót xa cho một quê hương bỏ lại, giờ vẫn còn khốn khổ dưới bàn tay của những người Cộng sản đang học đòi làm những tên trùm tư bản, trên máu và nước mắt của dân tôi, của những người Nha trang hiền hòa dễ thương ngày trước.

Phạm Tín An Ninh

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Trong một tháng, Hoa Kỳ có thêm 4 dân cử gốc Việt.

Từ trái, ông Dean Trần, cô Bee Nguyễn, bà Kathy Trần, và bà Cyndi Nguyễn. (Hình: Facebook, cá nhân cung cấp, và trang web tranh cử)

WASHINGTON, DC (NV) – Chỉ trong vòng một tháng, nước Mỹ có thêm bốn dân cử gốc Việt, vừa thắng các cuộc bầu cử cấp tiểu bang và thành phố.

Điểm đặc biệt là trong các cuộc bầu cử này, ứng cử viên gốc Việt thắng các đối thủ không phải là người Việt Nam. Và tất cả họ đều là người Việt Nam đầu tiên giữ chức vụ trong chính quyền tại các tiểu bang nơi họ cư ngụ.

 

MASSACHUSETTS 

Tại Massachusetts, lần đầu tiên, Thượng Viện tiểu bang này có một thượng nghị sĩ gốc Việt. Đó là ông Dean Trần (Cộng Hòa), vừa thắng bà Sue Chalifoux Zephir (Dân Chủ) với kết quả sít sao 607 phiếu trong tổng số 15,627 phiếu bầu trong cuộc bầu cử chọn người đại diện Địa Hạt Worcester-Middlesex ngày 5 Tháng Mười Hai, theo nhật báo Sentinel & Enterprise.

Ông Dean Trần. (Hình: Facebook Dean Trần)Địa hạt này trước đây do bà Jennifer Flanagan (Dân Chủ) nắm giữ, và nay để trống vì bà được thống đốc bổ nhiệm là thành viên Ủy Ban Kiểm Soát Cần Sa vừa mới thành lập.

Massachusetts là tiểu bang đa số cử tri theo đảng Dân Chủ, và đặc biệt hơn nữa, ứng cử viên Zephir có sự ủng hộ chính thức của hai thượng nghị sĩ liên bang cũng thuộc đảng Dân Chủ, bà Elizabeth Warren và ông Ed Markey.

Ông Dean Trần, 42 tuổi, kỹ sư điện toán, là nghị viên thành phố Fitchburg từ năm 2006. Thành phố tọa lạc tại phía Tây Bắc Boston, và chỉ có hơn 40,000 dân.

Hiện nay, ông cũng là ủy viên Học Khu Đại Học Mount Wachusett Community College.

Ông kể với trang web telegram.com rằng ông và gia đình di cư đến Hoa Kỳ năm 1980, sau khi vượt biển sang Thái Lan.

“Chúng tôi rời Việt Nam bằng thuyền khi tôi mới 2 tuổi. Sau khi ở trong trại tị nạn được hai năm, chúng tôi được một nhà thờ bảo trợ vào Mỹ năm 1980,” ông nói.

Ông Dean là người con kế út trong gia đình có năm anh em, đến Hoa Kỳ cùng cha mẹ. Cha của ông từng phục vụ trong quân đội VNCH trước năm 1975.

Ông hiện cư ngụ tại Fitchburg cùng vợ, bà Kerry Trần, và bốn người con.

GEORGIA 

Lần đầu tiên tiểu bang Georgia có một dân biểu gốc Việt, sau cuộc bầu cử vòng nhì ngày 5 Tháng Mười Hai.

Đó là cô Bee Nguyễn (Dân Chủ), sáng lập viên một tổ chức bất vụ lợi, thắng đối thủ cùng đảng là ông Sachin Varghese, trong cuộc đua tranh chức dân biểu Địa Hạt 89 của Hạ Viện Georgia.

Cô Bee Nguyễn. (Hình: BeeForGeorgia.com)Vị trí này trước đây do bà Stacey Abrams nắm giữ, nhưng nay để trống, vì bà ra ứng cử thống đốc tiểu bang.

Địa Hạt 89 bao gồm các thành phố Cedar Grove, Druid Hills, East Atlanta, Edgewood, Gresham Park, và Kirkwood.

Theo nhật báo The Atlanta Journal-Constitution, trong cuộc bầu cử đặc biệt hồi Tháng Mười Một, cô Bee được 40% số phiếu, cho dù gây quỹ ít hơn ông Varghese. Tuy nhiên, vì cả hai đều không đạt trên 50% số phiếu, nên phải tranh cử thêm lần nữa. Kết quả, cô giành được 52% số phiếu.

Trên trang web tranh cử, cô Bee Nguyễn cho biết, “cha tôi là một người từng làm việc trong một bệnh viện tâm thần. Ông lãnh lương tối thiểu $3.35/giờ năm 1981. Ban đêm, ông học bài dưới hầm nhà, và dùng các thùng các tông làm bàn học. Ông tin rằng giáo dục là cách tốt nhất để thoát đói nghèo.”

“Mẹ tôi là một người tháo vát, nuôi nấng năm đứa con gái. Bà dẫn chúng tôi đi nhà thờ mỗi Chủ Nhật, và luôn nhắc nhở chúng tôi phục vụ cộng đồng,” cô Bee viết về mẹ của mình như vậy.

Cô cho biết, chính gia đình khuyến khích cô thành lập một tổ chức phi lợi nhuận giúp các học sinh nữ nghèo.

“Tôi bỏ cả việc làm ổn định, ngay cả trong ngành bảo hiểm sức khỏe, bởi vì tôi tin rằng giúp đỡ trẻ em là một đầu tư cho các gia đình ở Georgia,” cô viết tiếp.

Cô viết một cách tin tưởng: “Trong một thập niên qua, tôi luôn vận động cho phụ nữ, các cộng đồng thiểu số, và các gia đình tị nạn. Tôi tin rằng ý kiến của mọi người quan trọng như nhau, và tôi sẽ đấu tranh cho người nghèo ở Georgia.”

Cô Bee, nói thông thạo tiếng Anh và tiếng Việt, từng là chánh văn phòng cho Dân Biểu Tiểu Bang Sam Park.

Cô tốt nghiệp cao học hành chánh công quyền, chuyên về tài chánh và quản trị, đại học Georgia State University năm 2012.

Cô cũng tốt nghiệp cao học văn chương Anh khi mới 23 tuổi.

Hiện nay, cô đang theo học đại học Emory University.

VIRGINIA 

Trong cuộc bầu cử dân biểu tiểu bang Virginia, Địa Hạt 42, ngày 7 Tháng Mười Một, bà Kathy Trần (Dân Chủ) thắng bà Lolita Mancheno-Smoak (Cộng Hòa) với tỉ lệ phiếu 61%-39%, trở thành dân biểu gốc Việt đầu tiên của tiểu bang.

Bà Kathy Trần. (Hình: Facebook Kathy Trần)Chiếc ghế này trước đây do ông David Albo (Cộng Hòa) nắm giữ trong 24 năm, nhưng nay nghỉ hưu.

Theo trang web vận động tranh cử cùa mình, bà Kathy cho biết bà cùng gia đình vượt biên lúc bà mới có 7 tháng tuổi. Sau 13 tháng, cả gia đình định cư tại Hoa Kỳ.

Trong thời gian làm việc tại Bộ Lao Động trong 12 năm, bà giữ nhiều chức vụ, bao gồm quyền giám đốc Văn Phòng Đầu Tư và giám đốc Văn Phòng Chính Sách, Lập Pháp, và Điều Lệ.

Bà từng là sinh viên chương trình Presidential Management Fellow, và từng là phụ tá giám đốc chương trình dạy nghề và phát triển lao động của National Immigration Forum.

Bà Kathy có bằng cử nhân đại học Duke University, và bằng cao học xã hội đại học University of Michigan.

Hiện nay, bà là chủ tịch hội phụ huynh học sinh tại địa phương, và sống ở West Springfield cùng chồng, Matt, và bốn người con, từ 1 đến 8 tuổi.

Địa Hạt 42 bao gồm các thành phố Burke, Crosspointe, Fort Belvoir, Laurel Hill, Lorton, Mason Neck, Mount Vernon, Newington Forest, South Run, và West Springfield, và có khoảng 80,000 cư dân.

NEW ORLEANS, LOUSIANA 

Trong cuộc bầu cử nghị viên Khu Vực E của thành phố New Orleans, ngày 19 Tháng Mười Một, bà Cyndi Nguyễn thắng nghị viên đương nhiệm, ông James Gray, trở thành người gốc Châu Á đầu tiên ngồi trong Hội Đồng Thành Phố lớn nhất tiểu bang Louisiana.

Bà Cyndi Nguyễn. (Hình: Cyndi Nguyễn cung cấp)Theo nhật báo The Times-Picayune, đây là lần thứ nhì bà Cyndi, giám đốc Chương Trình Huấn Luyện Kinh Tế Cộng Đồng Việt Nam, ra ứng cử.

Khu Vực E, nằm ở phía Đông thành phố, là nơi có nhiều người Mỹ gốc Việt cư ngụ nhất.

Trong cuộc vận động của mình, bà Cyndi chú trọng vào việc ngăn chặn tội phạm và phát triển kinh tế.

Trong khi đó, Nghị Viên James Gray, trong vai trò chủ tich Ủy Ban Phát Triển Kinh Tế của thành phố, nhắm vào chính sách tiếp tục thu hút các công ty bán lẻ, dịch vụ, và gia cư.

Trong cuộc bầu cử sơ bộ vào ngày 14 Tháng Mười, ông Gray về nhất với 38% số phiếu, bà Cyndi về hạng nhì với 26% số phiếu.

Tuy nhiên, trong cuộc bầu cử vòng hai, bà Cyndi được 59% trong khi ông Gray được 41% số phiếu.

Theo trang web tranh cử, bà Cyndi Nguyễn, người Phước Tỉnh, cùng gia đình đến Mỹ năm 1975, khi bà mới 5 tuổi.

Sau một thời gian làm việc ở nơi khác, bà trở lại New Orleans năm 1997, để gần cha mẹ và ông bà. Bà làm điều phối viên xã hội cho khu chung cư Versailles Arms Apartment, có 400 gia đình cư ngụ.

Sau đó, bà sáng lập một tổ chức bất vụ lợi, nhằm hướng dẫn và giúp cộng đồng Việt Nam hội nhập vào xã hội Mỹ.

Mơ ước và sứ mệnh của bà là tạo ra một không gian, nơi các cộng đồng có nền văn hóa khác nhau có thể sống chung và tạo ra một cộng đồng cùng nhau vững mạnh.

Bà có chồng và có sáu người con.

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hồi chuông báo tử cho một nền Văn Học miền Nam!

      Nguyễn Văn Lục

Lê Phụng đã nằm xuống. Sự ra đi của ông làm tôi trăn trở tới số phận một con người làm văn học. Một con người hầu như để cả nửa cuộc đời từ sau 1975 đọc và nghiên cứu, rồi cầm bút để nhận được sự thờ ơ, ghẻ lạnh của mọi người.

Nghĩ xa hơn thay vì chỉ nghĩ tới cá nhân Lê Phụng. Tôi đang phải đối mặt với một cái chết — không phải của chế độ miền Nam — mà nghĩ tới một sự chấm dứt một dòng văn học đã có một thời làm cho người miền Nam nói chung thấy hãnh diện.

Sự hãnh diện ấy thật chính đáng mà không có gì phải lấy làm hổ thẹn. Sự hãnh diện ấy tôi đã nhiều lần bày tỏ công khai trên các diễn đàn báo chí hải ngoại trong nhiều năm nay. Nhưng nay đến lúc phải nhìn ra sự thực

Trước đây, có lúc tôi còn vương vấn và còn gọi gián tiếp là một dòng văn học bị “nghẽn mạch”. Nhưng nghẽn là tạm thời rồi vẫn có cơ hội thông suốt.

Nhưng nay phải gọi cho đúng tên của nó. Một dòng văn học đã chấm dứt.

Thật vậy. Nay mất một người là mất một người. Chiếc ghế trống để lại không ai thay thế. Mai Thảo mất thì không có Mai Thảo thứ hai. Đơn giản như vậy bởi vì không có kế thừa. Chỉ vài năm nữa một vài người còn sống sót trong bóng tối lẻ loi như một Nguyễn Văn Trung, Doãn Quốc Sỹ cũng sẽ không còn nữa.

Hoàn cảnh nào đã đấy người cầm bút đến chỗ như thế? Tất cả là do thay đổi hoàn cảnh xã hội; họ như bị bứng gốc đi trồng ở một nơi khác. Nhãn Hưng Yên, Bưởi Biên Hòa trồng ở California hẳn có điều gì khác, huống chi một con người?

Phải chăng, nếu còn VNCH thì chỗ đứng của Lê Phụng cho một người cầm bút có tầm vóc như ông sẽ như thế nào? Thật ra, suy cho cùng, số phận người cầm bút như Lê Phụng cũng là số phận dành cho đa số người cầm bút trước 1975 và cả sau 1975.

Câu trả lời của tôi là cách đây đã lâu — khoảng hơn 20 năm — tôi có viết một bài nhan đề như một lời cảnh báo về tương lai Văn Học Việt Nam Hải Ngoại. Nhan đề bài viết của tôi là “Hiện trạng lão hóa trong văn học Việt Nam Hải ngoại”.

Tôi gọi đó là hiện tượng “Lão hóa kép” chẳng những về phía tác giả như về đề tài, về sức viết, về khả năng sáng tạo, v.v.. Và “lão hóa” cả về phía người đọc như tính trì trệ, tính thờ ơ “tính không đọc sách”, hay thiếu một vốn văn hóa đọc.

Nói như thế chẳng có ý trách ai hoặc nhắm vào người nào. Trách ai cũng là một cách gián tiếp trách chính mình.

Một xã hội người di tản vốn là thiểu số, lại thiếu một gốc gác văn hóa “truyền thống”, thường chỉ có một thứ văn hóa vay mượn từ nước Tàu mà tưởng là của mình. Hãy chỉ cho tôi có cái gì thuộc di sản thuần túy Việt Nam? 20 năm văn học miền Nam là một thành tựu đáng nể, nhưng chưa đủ cắm sào ở bất cứ bến Văn Học nào thì quy luật của đa số sẽ “ nuốt trửng” cái thiểu số đó và ngày một ngày hai sẽ nó sẽ bị tan loãng trong cái đa số theo luật “melting pot”.

Cuộc di cư năm 1954 là một bài học khác hẳn về môi trường xã hội, văn học cũng như chính trị. Thay vì nó bị “hóa lỏng, hòa tan” thì nó trở thành một dòng chảy văn học từ một dòng sông nhỏ biến thành dòng sông lớn. Dòng chảy này đẹp biết là bao vì nó bao gồm được tính nhân bản, khai phá, sáng tạo và đa dạng, tính kế thừa. Mà mỗi chữ tôi dùng là một nét đẹp và nói mãi không hết. Mà nhắc đến nó là nước mắt lưng tròng. Mà nó nhỏ hay nó lớn thì chưa chắc đã quan trọng bằng cái nó là của người dân miền Nam đã nuôi dưỡng và tạo ra nó.

Nó mất đi và nay nó không còn nữa chỉ vì có cuộc đổi đời. Một cuộc đổi đời thô bạo nhất mà chỉ người trong cuộc mới thấm đẫm cái đau của nó.

Vẫn biết rằng sự hội nhập và công việc giữ gìn bản sắc luôn là một thử thách, một cái không dễ gì, mà vẫn cố trì kéo, cố níu nó lại, giữ gìn bản sắc để cái “tôi là” trước áp lực của cái “tôi sẽ là”. Một quy luật xã hội cho mọi cộng đồng, mọi sắc dân, một va chạm cọ sát với đầy những huyền thoại và thực tế.

Sụ biến chất do cọ sát hàng ngày làm ta thay đổi đến chính ta cũng không nhận ra những thay đổi ấy. Nhưng nếu có dịp về lại Việt Nam hôm nay, ta sẽ ngỡ ngàng về sự “biến chất” từ cái văn hóa vật thể thấy được bề ngoài như cách ăn mặc, cử chỉ , điệu bộ, ngôn ngữ đến cả cái văn hóa phi vật thể là tinh thần, tâm linh, cách suy nghĩ, nền tảng đạo đức đến cả tôn giáo nữa.

Đối với mọi người, ta chỉ còn có cái tên gọi, hai chữ Việt Nam và mầu da vàng đối với người ngoại quốc. Còn thực sự ta không thể chính thức là người Việt Nam hoặc người bản xứ dù đã hơn nửa đời người sống ở xứ người. Ta là “nửa người nửa ngợm” chăng? Và này dân số trẻ sinh ra và lớn lên ở xứ người, chiếm phân nửa, ít nói tiếng Việt, làm sao bắt chúng chia sẻ cái phần gia tài văn hóa, cái căn cước Việt như tiếng nói, bài ca, tình tự đất nước, hay nỗi vinh nhục của một lá cờ hay những hội chứng sau một cuộc chiến? Bình Giả hay Pleime, Đức Cơ là nghĩa quái gì cơ chứ?

Sự mâu thuẫn có tính nội tại, phi thực nằm ngay trong chính chúng ta, sống phi thực, sống giữa một huyền thoại quá khứ đã sói mòn và áp đặt một cách “xuẩn ngốc” lên người khác, lên giới trẻ.

Đến lúc nào cho phép chúng ta nói lên được câu: Giã từ quá khứ?

Mặc dầu lý lẽ thì như vậy, người Việt di tản vẫn cố gắng tìm cho mình một căn cước Việt tính như một lẽ sống còn, như một chỗ trú ẩn. Căn cước Việt tính ấy không cần tìm đâu xa xôi như trong truyền thống, lịch sử, văn hóa, tôn giáo, v.v..

Nó rất gần, còn như sôi sục. Đó là cuộc chiến tranh và sự thua cuộc còn như vết thương nhức nhối. Nó trở thành một cái “trung tâm văn hóa và kỷ niệm” phi vật thể như một trục xoay mà người ta chỉ nhận thấy và nhận ra nhau trong các buổi hội họp, trong các buổi văn nghệ hay trong lúc trà dư tửu hậu.

Hơn lúc nào hết, cái ta hiện hữu được phô trương rõ rệt và muốn được mọi người nhìn nhận. Phô trương là một trong những nét cá tính của người Việt di tản.

Không lạ gì, nếu vứt bỏ cái quá khứ đó đi thì còn lại gì?

Nhiều người sẽ buồn chán đến phát điên. Theo nghĩa xã hội học, người ta gọi cái đó là Hội chứng sau 1975, hội chứng thua cuộc. Hội chứng di tản hay còn bi kịch hơn, “Hội chứng lưu vong”.

Tất cả mọi người có mặt trong đám đông đó chỉ muốn vực dậy, làm sống lại quá khứ đó mà nay nhiều khi nó chỉ còn là sự tô hồng quá khứ, như một huyền thoại. Nó mắc sinh một sự quá đà là căn bệnh nói phét.

Ở một mặt khác, người ta nhận ra rằng, càng có một truyền thống văn hóa hoặc tôn giáo truyền thống ăn sâu vào tâm thức người dân thì sự hội nhập vào một xã hội càng trở nên khó khăn. Hành lý càng nặng nề thì sự hội nhập càng khó khăn theo tỉ lệ thuận.

Trong nhiều sắc dân như Do Thái, người da đen, dân Hồi giáo, dân Palestine với một truyền thống lâu đời và một nền văn minh cố cựu bám rễ cho thấy sự đụng chạm giữa các nền văn minh càng trở thành một bi kịch của xã hội trong việc hội nhập. Như ta thấy hiện nay giữa Do Thái và Palestine.

Trong một cuốn sách nhan đề: “Juifs & Noirs, Du Mythe à la réalité”, nxb In Presse, dưới sự điều hợp của Shmuel Trigano, do nhiều tác giả cộng tác cho thấy sự mất còn của căn cước người tỵ nạn là những nhan đề gây những mối căng thẳng, đi đến kết quả là sự kỳ thị chủng tộc, sự căng thẳng đối đầu, sự cưỡng chế và khuất phục hầu như không tránh khỏi.

Nghĩ như thế, để nhìn lại căn cước người tỵ nạn Việt Nam Hải ngoại là một cuộc hội nhập tương đối êm dịu và có thể chưa hề bùng nổ một cuộc va chạm “nảy lửa và sắt máu” nào với dân bản địa.

Cho nên, không lạ gì, người Việt sinh sống tại Pháp thì dễ dàng ăn mừng lễ Noel và thói quen uống rượu vang. Trong khi người Việt tại Mỹ thì nay lại ăn mừng trọng thể ngày lễ Tạ ơn. Đây không còn là giai đọan thích ứng, hội nhập mà là đồng hóa rồi.

Ngay các đồng hương ở Ba Lan, mặc dầu chính phủ hiện nay có khuynh hướng siết chặt cánh cửa cho tỵ nạn, vậy mà người Việt ở đây xem ra vẫn ung dung, thoải mái. (Vẫn xả thịt chó ngay trong “ấp” với tiết canh, rựa mận và dồi chó.)

Bởi vì họ biết thích ứng tương đối dễ dàng, bởi vì.. bởi vì thiếu vốn “văn hóa…truyền thống” mặc dầu giữa người Việt với nhau thì “ăn thua đủ”. Ăn thịt chó, chửi tục, “ăn thua đủ” là “nếp sống” văn hóa chứ không phải truyền thống văn hóa.

Như thế thì chúng ta nên mừng hay nên lo?

Nghĩ thế, có lẽ chỉ có một nhà văn Việt Nam ở Hải ngoại là Mai Thảo xem ra có bản sắc, có “căn cước Việt tính” rõ nét và ông không dễ dàng chịu hội nhập vào xã hội mới là Hoa Kỳ. Xin trích dẫn bài viết của Nguyễn Mộng Giác về Mai Thảo:

“Anh là hiện thân trọn vẹn hai tiếng “lưu vong”, hơn thế nữa, trong khi những bạn văn khác tìm cách thích nghi với hoàn cảnh mới, Mai Thảo khăng khăng sống y như cũ, từ chối tất cả những thay đổi cần thiết để hội nhập. Anh không học Anh Văn, không lái xe, chữ viết nắn nót trang trọng trên trang giấy kẻ hàng, thậm chí hàng tháng cứ dùng viết Big viết từng địa chỉ và họ tên của 700 độc giả dài hạn của tạp chí Văn lên phong bì chứ không dùng phương tiện điện toán hiện đại. Tinh thần anh đề kháng với những gì đang đổi thay trước mắt.”

(Thư quán bản thảo, số đặc biệt tạp chí Sáng Tạo, số 60 tháng 7-2014, trang 37 Nguyễn Mộng Giác, “Nỗi cô đơn lớn lao của Mai Thảo”. Nguồn chính:tạp chí Văn Học, số 143, tháng 3 năm 1998.)

Nhìn lại các cộng đồng người di dân khác trên khắp thế giới hiện nay, sự có mặt của các sắc dân đa tạp chủng tộc trở thành mối lo cho các chính quyền đã tiếp nhận họ như tại Pháp, tại Mỹ và nhiều Quốc gia khác. Và họ tạo thành những ghettos.

Theo Vincent Viet, trong cuốn “Histoire des Francais venus d’ailleurs de 1850 à nos jours” ông đã viết:

“Chẳng hạn ở trung tâm thành phố Marseille, có những khu như: Auvergnats trên đường Roquette, ở khu 11, dân Bretons thì tụ tập chung quanh nhà ga Montparnasse, dân Alsaciens thì quần tụ chung quanh vùng Villette, ở phía Đông Bắc thành phố, ở khu 19.

Đặc biệt những nhân công di dân làm phu thợ, phu đập đá, phu lợp mái nhà, sống theo lề thói của họ từ nếp sống bản địa. Họ cùng đi làm một nơi, cùng về một khu nhà chung cư, ăn chung cùng một món súp do người chủ nhà trọ nấu, nói chung một thứ tiếng hay nói chung một thổ ngữ.”

(Vincent Viet, Histoire des Francais venus d’ailleurs de 1850 à nos jours, nxb Perrin, 2004 trang 22)

Bài viết này chú trọng nhiều đến vấn đề văn học với các nhà văn của cộng đồng người Việt mà không quan tâm nhiều đến các vấn đề kinh tế, xã hội, chính trị của cộng đồng người Việt.

Thoạt đầu, sau 1975, nhất là sau đợt Boat people, 1979, số lượng các nhà văn, các tác giả cầm bút trước 1975 vượt biển tìm tự do khá đông, rộ lên một đợt di dân đã từng có kinh nghiệm sống dưới chế độ cộng sản. Họ hừng hực khí thế đấu tranh và thề sẽ có ngày trở về giải phóng quê hương. Trong một bài phỏng vấn ông bà Võ Kỳ Điền, do báo Sóng ở Montréal thực hiện, qua đó nó cũng phản ảnh cái tâm tình của người tỵ nạn Việt Nam lúc bấy giờ (năm 1992), tôi đọc được phát biểu của chị Diên như sau:

“Tội nghiệp, vì trong khi ai ai cũng đang nghĩ đến công tác “dọn đường về nước”, mọi người chúng ta cũng đang hướng lòng về quê hương Việt Nam khốn khó, về đồng bào ruột thịt của mình.”

(Trích Phỏng vấn của Võ Bá Điền, báo Sống phỏng vấn nhà văn Võ Kỳ Điền, nạn nhân của chiến dịch thư nặc danh. Tháng 9-92, Tài liệu riêng của Võ Kỳ Điền)

Cho đến bây giờ, nhiều người trong cộng đồng vẫn có tham vọng chống Tàu và cộng sản cùng lúc. Nhưng thực tế, tôi vẫn thấy họ tổ chức các bữa tiệc tại các Restaurants Tàu, vẫn du lịch sang Trung Quốc và vẫn ra vào tiệm 1$ (Un Dolllar).

Ở thập niên 90, họ đã đem lại niềm phấn khởi, một không khí đấu tranh và một tin tưởng về một tương lai Văn Học hải ngoại? Thế giá người cầm bút lúc ấy vì thế còn cao lắm.

Tôi còn nhớ, trong số báo Hợp Lưu đặc biệt có chủ đề để tưởng niệm học giả Hán-Nôm Tạ Trọng Hiệp. Bài vở đã tạm đầy đủ với nhiều cây bút có thế giá, chờ lên khuôn. Chỉ còn thiếu có bài của Nguyễn Văn Trung ở Montréal. Tòa soạn quyết định tạm chưa in, chờ bài viết của Nguyễn Văn Trung. Bài viết của Nguyễn Văn Trung viết tay, phải gửi bằng bưu điện sang Mỹ, thời gian chờ đợi trong 10 ngày. Báo đành ra trễ.

Xin ghi lại nguyên văn lời tòa soạn, số 34 tháng 4&5, 1997 như sau ở Lời tòa soạn:

“Lẽ ra số báo này không đến tay bạn đọc trễ nải như đã. Chỉ vì tòa soạn đã cố gắng – ngót mười ngày – chờ đợi bài viết dưới đây của giáo sư Nguyễn Văn Trung.

Những vị nào đã từng đọc bản thảo của giáo sư Nguyễn Văn Trung , đều hiểu là rất khó đọc (hình như khó nhất trong các tác giả viết tay), các chuyên viên đánh máy đều “chạy”, nên tòa soạn đã phải vừa đọc (đoán) vừa thực hiện công việc này.”

(Hợp Lưu, số 34, năm 1997. Bài Nguyễn Văn Trung: Tạ Trọng Hiệp, Ông Đồ gàn thời nay, trang 26)

Đó là 1997; nào có xa xôi gì!

Như thế cho thấy, tác giả viết bài còn có giá lắm chứ! Hơn 10 năm sau, Nguyễn Văn Trung ngưng cầm bút, nay sống lủi thủi ở nột góc nhà, không một bạn bè, it ai thăm hỏi. Và hoàn toàn bị rơi vào quên lãng! Phải chăng sự bỏ rơi này chỉ là luật cung cầu? Và nếu cần trách cái gì và trách ai bây giờ.

Trong số những người cầm bút hết lòng với văn học miền Nam Hải Ngoại từ 1979 kể ra thì nhiều lắm. Như một Nguyễn Mộng Giác, Cao Xuân Huy, Hoàng Khởi Phong, Bùi Vĩnh Phúc, Phạm Quốc Bảo, Võ Đình, Vũ Huy Quang, Nguyễn Bá Trạc, Trịnh Y Thư, Khánh Trường, Mai Kim Ngọc, Nguyễn Đức Lập, Trần Vũ đều xả thân với văn học với đầy thiện chí.

Nhưng tôi vẫn thấy có hai người để hết tấm lòng cho văn học miền Nam như Viên Linh và Trần Hoài Thư.

Nếu như báo Văn Học ít lắm có mặt được 16 năm mà vẫn cứ “ Xìu xìu ểnh ểnh” chết lên, chết xuống, thay mấy đời chủ bút mà dần đần số người đọc ít hơn số người viết.

Và nếu có cuốn sách nào được in ra thì đó không phải là nhu cầu của người đọc mà là nhu cầu của người viết.

Báo chợ hay những tập quảng cáo? Nguồn: DCVONline tổng hợp.

Sau này, nhiều tác giả muốn có danh đã tự bỏ tiền in sách, mời bạn bè thân hữu đến ăn uống. Khi ra về, mỗi người còn nhận một cuốn sách biếu. Đúng là vừa được ăn, vừa được gói mang về. Vấn đề là người được tặng sách có đọc hay không lại là một chuyện khác.

Đó quả thực không phải là một sinh hoạt văn học lành mạnh và thiếu một điều quan trọng là niềm tự trọng.

Trở lại báo Văn Học. Mỗi khi hết tiền để trả tiền in, tiền tem thì Trịnh Y Thư chủ nhiệm lại móc tiền túi ra trả các chi phí. Có thế nào được coi là bình thường khi từ chủ nhiệm, chủ bút đến người viết bài trong 16 năm ấy, chưa một ai nhận được tiền nhuận bút dù chỉ một lần.

Sau này viết cho một “tờ báo chợ”, chắc chắn có tiền, nhiều thì không có, nhưng rủng rỉnh thì có.

Hiện nay thì có thêm nạn “Ti vi chợ” Từ 10 năm nay, nhiều đài Tivi chợ xuất hiện mà mục đích chính là quảng cáo thương mại về các sản phẩm làm đẹp cho phụ nữ. Tệ thêm một bậc là quảng cáo đủ loại các thuốc men trị bá bệnh. Thuốc thật hay giả là chuyện của luật pháp của chính quyền Mỹ.

Nhưng tôi cảm thấy hổ thẹn thay cho một bọn người nay có danh phận đã đồng lõa một cách vô lương tâm để lừa bịp những người dân, phần đông là có lợi tức thấp.

Sự trơ trẽn của họ làm tôi không vui. Nghĩ lại thời nào họ cũng chống Cộng vung vít lắm. Sự “xuống cấp” văn học Việt Nam hải ngoại với báo chợ, tivi chợ thì theo tôi thà chúng không có.

Tivi chợ và quảng cáo. Nguồn: DCVOnline tổng hợp

Nhưng tôi vẫn thấy có hai người để hết tấm lòng cho văn học miền Nam như Viên Linh và Trần Hoài Thư.

Viên Linh là tờ Khởi Hành, một mình một chợ, chủ nhiệm kiêm chủ bút, kiêm tất cả cặm cụi suốt năm tháng với Khởi Hành.

Cuối tháng 3-2014, Viên Linh phải trải qua một cuộc giải phẫu tim thập tử nhất sinh để thay thế các “aortic valve, mitral valve và coronary valve” 31 tiếng đồng hồ sau mới tỉnh dậy, ông viết,

“Chủ trương lúc lên đường từ 1996 tới nay vẫn được tiếp tục: Khởi Hành có mặt để bảo tồn, duy trì và phát triển di sản văn học miền Nam, Văn Học Việt Nam.”

(Viên Linh, Chủ nhiệm, chủ bút Khởi Hành, số 209-210, May-July, 2014, lời mở đầu)

Có lẽ tờ Khởi Hành với Viên Linh là tờ báo có mặt lâu nhất cho đến nay nếu tính từ năm 1996.

Người thứ hai là Trần Hoài Thư. THT tự mua máy in, rồi một mình sưu tầm các tác giả là các nhà thơ trẻ có thơ trước 1975 cũng như các nhà văn trẻ mà một số ở trong quân đội, các nhóm như Sáng Tạo, v.v.. Ông đặt tên cho các tuyển tập ấy nằm trong Thư Quán Bản Thảo với nhiều chủ đề. Cặm cụi làm việc một mình, ngoài việc phải chăm sóc cho người vợ nằm liệt một chỗ, rảnh là chúi đầu vào in ấn, cắt xén và gửi bạn bè.

Trong số những tác giả lạc quan nhất về tương lai Văn học hải ngoại lúc ấy có Nguyễn Mộng Giác và Mai Kim Ngọc. Nhưng trong một số báo Văn Học, xem ra niềm tin vào sự trường tồn của văn học hải ngoại của ông Nguyễn Mộng Giác có phần lung lay. Ông đã viết một bài nhan đề“Triển vọng của văn học hải ngoại” trong đó, ở phần kết luận ông viết:

“Sinh hoạt văn nghệ di dân không còn biệt lập, dần dần yếu đi, khiêm nhường, đóng vai trò “đại lý” y như những người Thụy Sỹ gốc Pháp, gốc Ý, gốc Đức, hoặc những người Mỹ gốc Hoa ở New York, San Francisco.”

(Nguyễn Mộng Giác Văn Học, số 103, tháng 11 năm 1994, trang 39)

Người viết đông đảo với số lượng tạp chí văn học sầm uất như thuở nào với Văn, Văn Học, Thế kỷ 21 rồi Khởi Hành, Hợp Lưu, Làng Văn. Tại chỗ tôi ở, Montréal, có tờ Đi Tới và có tới ba tiệm sách.

Nhưng có một hiện tượng ngược chiều là số người đọc mỗi ngày một ít đi. Cắt nghĩa hiện tượng này thì có thể trong quá trình Hội Nhập vào bản địa từ giai đoạn: Thích ứng-Hội Nhập và Đồng hóa, có hiện tượng melting-pot. Trong đó cái đa số, số đông áp đảo cái thiểu số theo cái tinh thần rất thông tục là “Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài”.

Các tiệm sách thay nhau đóng cửa. Tôi cũng đã thấy có người từ khi di tản năm 1975 sang đây, chưa hề đọc một cuốn sách nào. Nhà trang trí nào đàn Piano, tủ kính đựng bát đĩa. Nhưng thiếu tủ sách, ngay đến một kệ sách cũng không có.

Trên bàn thờ, có bầy hương án, bài vị, dòng họ con quan cháu quan, các vị tổ tiên áo mũ, cân đai, thẻ bài trước ngực. Nhưng con cháu xem ra “mù chữ” theo nghĩa không đọc sách tiếng Việt.

Nhận xét như trên có vẻ sống sượng. Nhưng đó lại là sự thật.

Chỉ cần đưa ra một nhận xét rất đơn giản là: văn học hải ngoại mà chất liệu sáng tạo là quá khứ. Quá khứ kéo dài được bao lâu? Trí nhớ người cầm bút thì như mặt lõm của một ngọn đồi — nhớ nhớ quên quên. Chuyện hiện tại thì như mặt phẳng của một ngọn đồi, vừa nói xong đã quên.

Mà mất cái quá khứ thì như thể mất cái căn cước người tỵ nạn, mất chỗ trú ẩn, mất cái làm nên họ là họ.

Người giữ được quá khứ, theo tôi, không ai khác là nhà văn Xuân Vũ. Một cán bộ hồi chánh trước 1975.

Nhưng tệ hại nhất và vô cùng tệ hại là họ chuyển hóa những hoài niệm quá khứ thành lý tưởng, thành một chủ trương, một đường lối, một chỉ hướng soi đường để họ hành xử và phê phán bất cứ ai không theo họ hay nghĩ khác họ.

Tệ hại này là lớn nhất, bi kịch nhất, đã kéo dài trong nhiều năm cho đến tận bây giờ. Cộng đồng người Việt khắp nơi dần trở thành những ghetto để bêu xấu, chửi bới nhau. Họ “mềm” và dễ sai bảo đối với người dân bản địa. Nhưng họ trở thành “cứng” hung dữ đến sẵn sàng “ ăn thua đủ” chỉ vì một nhận xét, một ý kiến trái chiều. Họ là nhất, ai không theo họ là bị chụp mũ, đủ thứ mũ. Họ độc tài hơn cả những kẻ độc tài mà họ từng phải bỏ chạy.

Đã có thời thư rơi, thư nặc danh hay ngay cả thư rơi có tên người viết nhiều như bươm bướm bêu xấu đời tư, chửi bới nhau thậm tệ và không cần bằng chứng. Người chửi và người bị chửi cùng ở trong cộng đồng người tị nạn chống cộng sản.

Tìm hỏi người đã “ký tên” trong một lá thư rơi tôi được biết chỉ có một tên — người đã viết lá thư rơi — là thật, còn lại những người “ký tên” khác cũng chỉ là nạn nhân. Tôi có lá thư này do do một nạn nhân giao lại. Nội dung những lá thư nặc danh, thư rơi giả tên người viết là rác bẩn trong cộng đồng người Việt, không đáng được nhắc đến. Chúng đã tạo ra một bầu khí vẩn đục, gây sự nghi kỵ giữa những người cùng trong cộng đồng người Việt tị nạn cộng sản.

Khắp nơi, cộng đồng người Việt dần trở thành những ghetto để bêu xấu, chửi bới nhau mà những người làm báo, viết văn có trách nhiệm không nhỏ.

Nghĩ tới việc người Việt chửi bới người Việt, tố cáo chụp mũ nhau thân cộng. Tôi nghĩ đến cuốn truyện của nhà văn Nguyễn Khắc Trường nhan đề “Mảnh đất lắm người nhiều ma”. Cuốn truyện cho thấy cùng trong làng xã, nhưng hai họ có mối thủ riêng, truyền hết từ đời cha dến đời con như thể không bao giờ dứt.

Phải chăng đó cũng là hoàn cảnh người Việt hải ngoại hiện nay? Tệ hại này sẽ còn kéo dài mãi cho dù nền Văn Học của hải ngoại đã khép lại.

Cái yếu tố làm cho nền văn học hải ngoại chết non, ngoài những yếu tố vừa nêu trên, còn có vấn đề nền văn học đó không có kế thừa.

Trên tờ Hợp Lưu, số 72, tháng 8-9, 2003 có dành hẳn một số báo cho các nhà văn được gọi là “Thế hệ sau chiến tranh” với các bài viết Đỗ Lê Anh Đào, Thơ Thơ, Quang Thanh, Nguyễn Hương, Bùi Hoằng Vị, Lê Quỳnh Mai, Bảo Phi, Nguyễn Việt Hà, Trần Tiến Dũng, Phan Huyền Thư, Đinh Linh, Phạm Thị Ngọc, Thận Nhiên, Nguyễn Hữu Hồng Minh, Nguyễn Quốc Chánh, Đình Trường Chinh, Nguyễn Thanh Hùng Tylur, Thu Hiền ngô, Trần Tiễn cao Đăng, Đông Triều, Nguyễn Danh Bằng, Nguyễn Nam Trân, v.v..

Lúc đó các nhà văn trẻ trên dưới 40 tuổi trên không bị triệu chứng hậu chiến tranh, lại có trình độ, đủ mọi điều kiện vật chất.

Nghĩa là họ hội đủ các yếu tố khách quan để thành danh trớ thành những nhà văn như lớp kế thừa. Vậy mà họ dần dần buông bứt. Nhiều người chỉ vỏn vện có vài truyện ngắn rồi im bặt. Và tôi tự hỏi, bây giờ họ ở đâu?

Sau đó, tôi có viết trên Tờ Hợp Lưu, lúc bấy giờ người chủ bút là anh Trần Vũ, yêu cầu viết để khuyến khích các cây viết trẻ như: Đỗ Hoàng Diệu, Miêng, Mai Ninh, Trần Vũ, Nguyễn Thị Thanh Bình, Lê Thị Thấm Vân, Nguyễn Bình Phương và rất nhiều nhà văn trẻ khác.

Những nhà văn trẻ trên dưới 40 tuổi này liệu họ làm được gì? Kỳ vọng gì vào họ?

Theo tôi, họ thường viết cho họ thay vì nghĩ đến chuyện kế thừa hay nghĩ tới chuyện thay thế ai?

Một nhận xét rất khác thường là họ cầm bút khá muộn và tính đến nay thì họ đã trên 60 tuổi! Tính đến năm 1995 thì Đặng Thơ Thơ sinh năm 1962, Hoàng Mai Đạt, 1960, Lê Thị Thấm Vân 1961, Lê Minh Hà 1962, Lê Thị Huệ 1953, Nguyễn Thị Ngọc Lan 1957, Nguyễn Ý Thuần 1953, Phan Thị Trọng Tuyến 1951, Trần Vũ 1962.

Nhận xét chung của tôi về họ là họ không còn viết như trước nữa.

Và cho đến hôm nay, không mấy người trong số họ tạo được một thế giá văn học.

Nhưng khi Trần Vũ ra đi khỏi Hợp Lưu thì như có một sự tan rã khó cắt nghĩa. Các nhà văn trẻ tứ tán mỗi người một nơi trên Web điện tử như Da màu, Gio-o.com. Theo tôi, cho đến nay, ít người nào có được tiếng tăm theo kiểu một Võ Phiến, Mai Thảo, Nguyên Sa. Ngay cả trường hợp Trần Vũ mà tôi trân trọng, quý mến.

Có thể nói, cái thời của một miền Nam Việt Nam trước 1975 với bao hào quang và vinh dự đã không bao giờ trở lại nữa. Vâng không bao giờ.

Những người còn ở lại sống vất vưởng và bị bỏ quên một cách rất vô tình trước sự bạc bẽo của tình người.

Họ không hẹn mà ra đi không kèn không trống.

Chỉ trong tháng 10-2017, nhà thơ kiêm nghệ sĩ thổi sáo Tô Kiều Ngân ra đi. Còn mấy ai nhớ đến Chương trình Tao Đàn của thi sĩ Đinh Hùng.

Rồi học giả Lê Hữu Mục, một nhà Hán Nôm, đồng thời là tác giả cuốn: Tác giả Ngục Trung Nhật Ký không phải của Hồ Chí Minh cũng lặng lẽ ra đi

Rồi đến lượt Lê Phụng. Và mới đây nhất đến lượt ông Trần Thiện Đạo, ở Pháp ra đi ngày 25-11. Trước 1975, ông là nhà dịch thuật các tác phẩm của các triết gia Hiện sinh như các dịch giả khác như Vũ Đình Lưu, Trần Phong Giao, Trần Thiện Đạo, Nguyễn Minh Hoàng, Bùi Ngọc Dung, Võ Lang, Lê Thanh Hoàng Dân, Mai Vi Phúc, Phùng Thăng, Dương Kiềnvv..

Nhìn lại ngày hôm nay, số lượng các nhà văn nhà thơ trước 1975 còn lại bao nhiêu? Nguyễn Văn Trung, Trần Ngọc Ninh, Nguyễn Đình Toàn hầu như đã vắng mặt. Những người khác như nhà thơ Viên Linh, nhà văn Trần Hoài Thư kể như suốt những năm ở Hải ngoại miệt mài với chữ nghĩa… với sưu tầm với nhiều tâm huyết. Những người còn lại như thi sĩ Cung Trầm Tưởng, Du Tử Lê thỉnh thoảng xuất hiện. Những nhạc sĩ như Phạm Mạnh Cương, Lê Dinh là những nhạc sĩ nằm trong danh sách chót còn sót lại.

Trong khi đó không có người kế thừa chỗ của những kẻ đã ra đi. Ghế trống mỗi ngày một nhiều không ai ngồi thay thế. Ai có thể thay thế được những người ấy?

Requiem in Pacis cho nền Văn Học Miền Nam đã một thời sáng chói và nay đã tắt.. Nguồn: DCVOnline

Requiem in Pacis cho nền Văn Học Miền Nam đã một thời sáng chói và nay đã tắt.

© 2017 DCVOnline

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

10 món ăn đặc sản vùng Cần Thơ

 

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hãy để “Em sang sông”

 “Ai là tác giả của nhạc phẩm Tôi đưa em sang sông” là vấn đề được bàn thảo khá rộng rãi trong vài năm qua. Người viết có đọc trên Internet những tranh luận nhưng thú thiệt chưa bao giờ dám hỏi thẳng anh Nhật Ngân vì, một phần, hỏi là nghi ngờ mà nghi ngờ là xúc phạm và phần khác là vì anh đã nói rõ ra rồi. Nhạc sĩ Nhật Ngân khẳng định anh đã viết nhạc phẩm đầu tay đầy kỷ niệm vào năm 1960 khi chỉ vào 18 tuổi ở Đà Nẵng và giải thích lý do có thêm tên nhạc sĩ Y Vũ.
 
Tôi đưa em sang sông theo lời kể của Nhạc sĩ Nhật Ngân
 
Nhạc sĩ Trường Kỳ, một cây bút chuyên viết đời sống và tác phẩm của các văn nghệ sĩ, trong một bài viết vào năm 2000, đã thuật lại nguồn gốc của nhạc phẩm Tôi đưa em sang sông theo lời kể của nhạc sĩ Nhật Ngân, và dưới đây là vài đoạn chính:“Theo lời tâm sự của Nhật Ngân, đáng lẽ ông đã trở thành một nhạc công vĩ cầm như người em họ là Nhật Hiền, nhưng vì gia đình ông quá nghèo, không mua nổi cây đàn cho ông. Do đó, ông đành quyết định thôi học. Vì lòng đam mê âm nhạc và nhất là nhờ ở khả năng thiên phú của mình, Nhật Ngân đã hoàn thành nhạc phẩm đầu tay khi ông mới vừa 18 tuổi vào năm 1960. Ðó là một ca khúc tình cảm mang tên Tôi đưa em sang sông.
 
Mặc dù chưa có phương tiện phổ biến rộng rãi trong thời gian đầu, nhưng Tôi đưa em sang sông đã trở thành một ca khúc được giới học sinh, sinh viên Ðà Nẵng rất ưa thích, chép tay truyền cho nhau hát.
 
Sau đó Nhật Ngân gửi ca khúc này vào Sài Gòn nhờ nhạc sĩ Y Vân phổ biến dùm, với sự sửa đổi một vài chữ trong bản nhạc cho hợp với đường lối của Bộ Thông tin lúc đó không cho phép phổ biến những nhạc phẩm ủy mị, ướt át. Câu “Rồi thời gian lặng lẽ trôi, đời tôi là cánh mây trôi bốn phương trời. Và đời em là cánh hoa thì bao người ước mơ, đưa đón trông chờ” được nhạc sĩ Y Vân đổi thành “Rồi thời gian lặng lẽ trôi, đời tôi là chiến binh đi khắp phương trời. Mà đời em là ước mơ đẹp muôn ngàn ý thơ, như ngóng trông chờ” cho phù hợp với hoàn cảnh chiến tranh của đất nước.
 
Câu kết của bản chính là “Nàng đã thay một lối về, thay cả bàn tay đón đưa” cũng đã được Y Vân đổi thành “Nàng đã thay một lối về, quên cả người trong gió mưa.” Sự thay đổi lời ca này đã khiến cho tác giả cảm thấy “hẫng” đi một chút, như lời ông nói, vì không đúng với tâm trạng của mình khi đến lúc đó, chưa hề trải qua đời sống trong quân ngũ.
 
Hơn nữa, vì tác giả còn là một người chưa có tên tuổi nên cần nhờ tới một nhạc sĩ nổi tiếng đứng chung tên để Tôi đưa em sang sông đến với quần chúng dễ dàng hơn. Khi được phát hành, Tôi đưa em sang sông được ký tên bởi hai người là Trần Nhật Ngân và Y Vũ”.
 
Nhạc sĩ Nhật Ngân qua đời ngày 21 tháng 1, 2012 tại California, Hoa Kỳ.
 
Tôi đưa em sang sông theo lời kể của Nhạc sĩ Y Vũ:
 
Trong một bài viết được phổ biến rộng rãi trên Internet, nhạc sĩ Y Vũ nhắc lại chuyện tình để lại một đứa con tinh thần có tên Tôi đưa em sang sông“Tôi sinh ra ở Hà Nội nhưng lớn lên tại đất Sài Gòn náo nhiệt. Những ngày tháng thơ ngây tại trường trung học có lẽ không bao giờ phai mờ trong trí 

nhớ của tôi, bởi ở đó tôi đã để trái tim mình rung động trước cô bạn chung lớp tên Thanh. Tình yêu học trò trong sáng lắm, chỉ cảm nhận qua ánh mắt, nụ cười chứ đâu có dám ngồi gần, dám nắm tay. Những khi tan trường sóng bước bên nhau cũng không biết nói câu gì, chỉ biết… đá cái lon sữa bò khua vang đường phố.

 
Thanh là con một gia đình khá giả, có cây xăng ở ngã bảy Lý Thái Tổ. Còn tôi hồi đó chỉ có chiếc “xế nổ” hiệu Roumie ngày ngày đi học. Mỗi chiều khi thay ba ra trông cây xăng, Thanh lại nhắc tôi ra đổ xăng… chùa. Những ngày tháng đó với tôi thật hạnh phúc, lãng mạn. Nhưng ngày vui ngắn chẳng tày gang, Thanh biến mất khỏi cuộc đời tôi vì một đám cưới ép gả với chàng bác sĩ. Hụt hẫng, chơi vơi, tôi uống chén đắng đầu đời và nếm trải mùi vị của “thất tình”. Tỉnh cơn say vào 2 giờ sáng, tôi ôm guitare và thế là Tôi đưa em sang sông ra đời. Bài hát với giai điệu buồn da diết được coi là tài sản chung cho nhiều chàng trai lâm vào cảnh như tôi thời đó.
 
Mối tình đầu làm tôi trắng tay, nhưng nỗi bất hạnh ấy đem lại cho tôi xúc cảm để có được hai bài hát tâm đắc. Sau Tôi đưa em sang sông gắn liền với tiếng hát Lệ Thu, ca khúc Ngày Cưới Em lại thành công vang dội: “Hôm nay ngày cưới em, nào men nồng nào hoa thơm, nào môi hồng nào da phấn, khăn áo muôn sắc đua chen…”
 
Tương tự, nhạc sĩ Y Vũ cũng “ngậm ngùi tâm sự” chuyện tình của ông cho nhạc sĩ Trịnh Hưng nghe: “Đó là nhạc ghi lại mối tình đầu của em. Dạo đó, em còn là học sinh trung học tư thục Hàn Thuyên ở phố Cao Thắng, gần nhà và lớp nhạc của anh, yêu một nữ sinh cùng lớp tên Thanh. Đó là mối tình học trò, trong trắng. Tình yêu chúng em chỉ cảm nhận qua ánh mắt trao đổi, chứ chưa một lần nắm tay nhau. Nhà nàng giàu sang, có cây xăng ở ngã bảy Lý Thái Tổ, còn em thì nghèo, chỉ có chiếc xe gắn máy hiệu Bromic do anh Y Vân mua cho. Nàng dặn em, mỗi ngày cứ vào buổi chiều, canh đúng giờ nàng ra thay thế cho cha mẹ nàng về nhà nghỉ ngơi, thì tới để nàng đổ đầy bình xăng cho, không phải trả tiền. Và cứ thế, rồi bẵng đi một tuần không thấy Thanh đi học và ra cây xăng. Em nhớ Thanh quá, mới lấy hết can đảm tới nhà nàng, hỏi thăm cô em gái nàng, thì được biết mấy hôm nay nhà bận rộn vì phải tiếp nhận lễ hỏi cưới chị Thanh, do cha mẹ gả cho một ông bác sĩ lớn tuổi.”
 
Nhạc sĩ Y Vũ trưng bằng chứng “bản thảo”
 
Giữa tháng 11, 2017, trong một chương trình truyền hình Hát trên chuyện tình trong nước, nhạc sĩ Y Vũ phát biểu về nhạc phẩm Tôi đưa em sang sông:
 
“Tôi xin khẳng định một điều bài này của tôi viết có một mình tôi thôi. Anh Y Vân có dạy hai người học trò là Nhật Ngân và Anh Thy. Khi tôi thất tình tôi viết bài Tôi đưa em sang sông được mấy ngày sau, trình anh Y Vân duyệt, bài này được tốt rồi. Anh đề nghị ngay, bây giờ mày có thể để thêm tên Nhật Ngân vào bài này không để cho hai đứa cùng nổi tiếng với nhau, có chút tiếng, bài này hay, sẽ nổi đó. Kính thưa quý vị, tôi rất vô tư. Tôi không nghĩ cái chuyện mấy chục năm sau lại như thế. Tôi bảo anh muốn để thì em để vào. Bài đó ký tác quyền cho nhà xuất bản Diên Hồng và có thêm tên Nhật Ngân, và tôi có hứa trên báo chí là sẽ có một ngày tôi lục được cái bài gốc, gọi là bản thảo, tôi viết tay.”
 
Sau đó nhạc sĩ Y Vũ đưa bản viết tay cho người dẫn chương trình và cô đọc “Bản thảo ký ngày 5 tháng 6 năm 1962.”
 
Các báo trong nước phần lớn đồng ý với lời “khẳng định” của nhạc sĩ Y Vũ và báo Thanh Niên kết luận: “Lần đầu tiên, nhạc sĩ Y Vũ khẳng định ca khúc Tôi đưa em sang sông do chính ông tay ông viết mà không có bất kì một nhạc sĩ nào tham gia vào. Hơn nữa, nhạc sĩ còn đem theo bản gốc viết tay hơn 40 năm trước để làm bằng chứng chân thật nhất cho những lời kể của ông.”
 
Khoan, xin đừng quá vội.
 
– Bản gốc:
 
“Bản thảo” chép tay mà nhạc sĩ Y Vũ dùng làm bằng chứng không thể chứng minh đó bản gốc của nhạc phẩm Tôi đưa em sang sông. Ngoài nhạc sĩ Y Vũ, không có người nào hay cơ quan có thẩm quyền độc lập nào xác định đó là bản thảo. Cách đây hơn nửa thế kỷ, mọi sáng tác văn nghệ đều phải chép tay, dù do chính tác giả sáng tác hay chép lại nhạc của người khác.
 
Nhạc sĩ Nhật Ngân cũng có thể có một bản thảo chép tay như bản của nhạc sĩ Y Vũ nhưng còn đang thất lạc. Cuộc đời nhạc sĩ Nhật Ngân giống như âm nhạc của anh gắn liền với những chặng đường gian nan của đất nước. Rời Đà Nẵng, đi lính, gia nhập ban Tâm Lý Chiến của Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung, chịu đựng cực khổ sau 1975, vượt biên sang Thái Lan 1982. Mạng sống lo chưa xong nói gì là bản thảo.
 
– Thời điểm nhạc phẩm ra đời:
 
Khi còn sống, trong các buổi trả lời phỏng vấn trên báo chí, qua truyền hình, truyền thanh, nhạc sĩ Nhật Ngân đều khẳng định một cách chính xác nhạc phẩm đó anh viết lúc 18 tuổi từ năm 1960. Khẳng định này đã được phổ biến cùng khắp.
 
Nhạc sĩ Y Vũ, qua các lời kể, dù thừa nhận đã có biết, có nghe những tranh luận nhưng không phản đối về thời điểm 1960 do nhạc sĩ Nhật Ngân đưa ra.
 
Tạm cho là lúc đó nhạc sĩ Y Vũ chưa tìm ra “bản thảo” để chứng minh nhưng ít nhất ông phải nhớ năm nhạc phẩm ra đời và phản bác thời điểm 1960 của nhạc sĩ Nhật Ngân chứ. Chẳng lẽ ông nhớ những chi tiết nhỏ như “Thanh là con một gia đình khá giả, có cây xăng ở ngã bảy Lý Thái Tổ. Còn tôi hồi đó chỉ có chiếc “xế nổ” hiệu Roumie ngày ngày đi học” mà lại không nhớ mình sáng tác bản nhạc năm nào?
 
Không phản biện về thời điểm có nghĩa ông đồng ý bản nhạc ra đời vào năm 1960 chứ không phải 1962 và như vậy bản của nhạc sĩ Nhật Ngân dù còn đang bị thất lạc mới thật sự là bản gốc.
 
– Thời điểm tìm ra “bản thảo”
 
Trên báo Thanh Niên ngày 17 tháng 11, 2017, Nhạc sĩ Y Vũ tiết lộ thời gian tìm ra “bản thảo”: “Bản gốc của ca khúc này do bà cụ cất giữ. Bà rất quý sáng tác của hai anh em tôi và giữ mỗi người một bản gốc mà bà yêu thích nhất. Bà kẹp bản gốc ca khúc Lòng mẹ của Y Vân và bản gốc Tôi đưa em sang sông trong ngăn tủ của mình cùng với giấy khai sinh của tôi và một vài giấy tờ quan trọng khác. Mãi đến khi bà mất, tôi mới kiếm được những tư liệu này.”
 
Người viết xin lỗi phải nhắc đến bà cụ nhưng vì nhạc sĩ Y Vũ nhắc trước.
 
Mẹ của hai nhạc sĩ Y Vân và Y Vũ không phải qua đời năm ngoái, năm kia hay thậm chí không phải mười năm trước mà qua đời cách đây 24 năm. Báo chí trong nước viết về ngày cụ qua đời: “ngày 28/11/1992, nhạc sĩ Y Vân giã từ cõi người khi vừa bước vào tuổi 60 và mười tháng sau, mẹ của ông, (cũng là mẹ của nhạc sĩ Y Vũ) qua đời.”
 
Theo lời kể của chính nhạc sĩ Y Vũ, bà cụ cũng chẳng chôn giấu “bản thảo” ở một góc nhà nào kín đáo hay gởi cho ai mà để ngay trong phòng của cụ cùng với các giấy tờ quan trọng khác. Do đó, “bản thảo” trong xấp giấy tờ quan trọng phải được tìm ra ngay sau khi bà cụ qua đời.
 
Nhưng cứ tạm cho rằng ông không tìm ra “bản thảo” ngay mà 10 năm sau mới tìm ra thì tại sao 14 năm rồi ông không công bố “bản thảo” dù ông có rất nhiều cơ hội và tại sao ông không công bố khi nhạc sĩ Nhật Ngân còn sống để hai mặt một lời cho dứt khoát? Điều gì khiến ông dè dặt?
 
– Vai trò của nhạc sĩ Y Vân:
 
Người có thẩm quyền nhất và có tính xác định cao nhất ai là tác giả của nhạc phẩm Tôi đưa em sang sông chính là nhạc sĩ Y Vân vì cả nhạc sĩ Y Vũ và Nhật Ngân đều đồng ý là nhạc sĩ Y Vân đã ghép chung hai nhạc sĩ vào nhạc phẩm.
 
Nhạc phẩm này không phải bây giờ mới nổi tiếng mà nổi tiếng ngay sau khi được Lệ Thu hát cho tới nay. Nhạc sĩ Y Vân qua đời năm 1992. Tuy lâu nhưng không phải quá lâu. Nhạc sĩ Nhật Ngân không có ở trong nước nhưng nhạc sĩ Y Vũ ở bên cạnh anh mình cho đến ngày cuối nhưng tại sao ông không yêu cầu nhạc sĩ Y Vân xác định giùm ông những bí mật, những khuất tất chung quanh nhạc phẩm này nếu ông là “tác giả duy nhất”?
 
Người viết không dám phê bình nhạc sĩ Y Vân nhưng khách quan mà nhận xét lý luận cho rằng nhạc sĩ Y Vân thêm tên em mình vào một nhạc phẩm mà ông biết sẽ nổi tiếng có lẽ dễ thuyết phục hơn là thêm một tên còn đang học nhạc 18 tuổi vô danh ở ngoài Đà Nẵng vào nhạc phẩm của em mình.
 
– Lời nhạc
 
Nhạc sĩ Nhật Ngân có hơn 200 nhạc phẩm, không tính nhạc ngoại quốc lời Việt, và nhiều trong số đó đã gắn liền với tâm sự với những người xa quê hương như Xuân này con không về, Một mai giã từ vũ khí nhưng khi được yêu cầu anh thường hát Tôi đưa em sang sông.
 
Người viết nghe chính nhạc sĩ Nhật Ngân hát Tôi đưa em sang sông lần đầu 14 năm trước tại Dallas, rồi sau đó những lần khác trong các đại hội Quảng Đà, họp mặt Liên Trường ở Nam California. Anh hát với tất cả xúc động chân thành toát ra từ ánh mắt, từ lời ca, từ niềm hoài vọng về một thành phố cảng thân yêu nơi có bến đò ngang và dòng sông đẹp.
 
Ai đã từng sống ở Đà Nẵng hay sống cả hai thành phố Đà Nẵng và Sài Gòn, và lắng lòng ngồi nghe anh Nhật Ngân hát, chắc hẳn sẽ đồng ý chính anh là tác giả của Tôi đưa em sang sông bởi vì “sông” trongTôi đưa em sang sông là dòng sông thật chứ không phải “đưa người ta không đưa qua sông” theo cách ví trừu tượng của Thâm Tâm.
 
Chuyện tình của nhạc sĩ Y Vũ không có tình tiết nào được phản ảnh trong lời nhạc Tôi đưa em sang sông. Theo lời kể của ông phần lớn chỉ diễn ra bên cây xăng ở Ngã Bảy Lý Thái Tổ và thậm chí cầm tay cũng chưa có thì làm gì có “bàn tay nâng niu ân cần” như trong Tôi đưa em sang sông.
 
Chuyện tình của nhạc sĩ Nhật Ngân không đánh dấu bằng những “cây dài bóng mát”, “vòm lá me xanh”, “thương xá sắp đóng cửa” hay “muôn tà áo tung bay” ở Sài Gòn mà bằng “đường vắng”, “bến đất”, “bến gió”, “lối mòn” thường gặp trong các thành phố xa thủ đô. Nói chung, không một động từ, một danh từ, một tĩnh từ nào trong Tôi đưa em sang sông làm người nghe liên tưởng đến Sài Gòn.
 
– Tôi đưa em sang sông so sánh với Ngày cưới em
 
Nhạc sĩ Y Vũ, trong dịp khẳng định tác quyền Tôi đưa em sang sông có nhắc đến ca khúc Ngày Cưới Em.
 
Lẽ ra không cần phải bàn đến nhạc phẩm không liên hệ nhưng vì nhạc sĩ Y Vũ “tâm đắc” và nhấn mạnh nhạc phẩm này cũng đã “thành công vang dội” nên người viết mời độc giả vào Youtube nghe hai nhạc phẩm rồi đọc kỹ lời của hai nhạc phẩm để thấy sự khác nhau trong cách diễn tả và ngôn ngữ được dùng.
 
Những câu hát trong Tôi đưa em sang sông là những câu thơ, có trách móc, có chút đắng cay nhưng rất nhẹ nhàng và bóng gió:
 
Tôi đưa em sang sông, chiều xưa mưa rơi âm thầm
Để thấm ướt chiếc áo xanh, và đẫm ướt mái tóc em
Nếu xưa trời không mưa, đường vắng đâu cần tôi đưa
Chẳng lẽ chung một lối về mà nỡ quay mặt bước đi
 
Tôi đưa em sang sông, bàn tay nâng niu ân cần
Sợ bến đất lấm gót chân, sợ bến gió buốt trái tim
Nếu tôi đừng đưa em, thì chắc đôi mình không quen
Đừng bước chung một lối mòn, có đâu chiều nay tôi buồn…
 
Trong lúc đó, lời của Ngày cưới em:
 
Hôm nay ngày cưới em
Nào men nồng nào hoa thơm
Nào môi hồng nào giá phấn
Khăn áo muôn sắc đua chen
Mắt biếc ngời ánh đêm
Làn tóc nụ cười ngát hương
Từng bước dập dìu bước êm
Chỉ mình lòng tôi hoang vắng
 
Hôm nay ngày cưới em
Mừng vui họ hàng đôi bên
Vì đâu nàng mời tôi đến
Tuy có đây cũng như không
Chiếc áo tình chóng phai
Một sớm một chiều đã thay
Thì nhớ đừng vì có tôi
Mà nàng giấu vui không cười…
 
Lời của Ngày cưới em không bóng gió như thơ mà là những đoạn văn xuôi tả rất cụ thể, rõ ràng với “men”, “môi”, “phấn”, “mắt”, “khăn áo”, “họ hàng đôi bên”.
 
Ngôn ngữ bao la nhưng mỗi nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ chỉ có một cuốn tự điển để sử dụng cho riêng mình và dù có viết trăm bài thì những chữ tác giả dùng cũng giới hạn trong tự điển đó thôi.
 
– Tiền bản quyền
 
Nhạc sĩ Y Vũ than trên báo Thanh Niên: “Nghe nói tiền bản quyền ca khúc bên Mỹ cao lắm, mà hàng chục năm qua tôi không được một đồng.” Đây là điểm thuộc về pháp lý và sẽ do các luật sư chuyên về bản quyền giải thích nhưng trong quan điểm phổ quát, tiền bản quyền thuộc về ai tùy thuộc vào ai giữ bản quyền. Người viết cũng đã từng nộp bản quyền và biết cơ quan bản quyền không dựa vào bản chép tay dù cũ bao lâu của ai đó để xác định bản quyền.
 
Việt Nam và Mỹ đều là thành viên của Berne Convention cho nên nếu nhạc sĩ Nhật Ngân nộp bản quyền nhạc của ông sau khi định cư ở Mỹ năm 1982 và gia đình nhạc sĩ Nhật Ngân giữ quyền thừa kế bản quyền của Tôi đưa em sang sông thì họ có thể kiện những ai dùng nhạc phẩm vào mục đích thương mại ngay cả đã sử dụng tại Việt Nam trước đây, đang sử dụng hiện nay và cả sẽ sử dụng sau này.
 
Nhạc sĩ Y Vũ có nhiều điều kiện, nhiều thời gian, nhiều cơ hội và nhiều người để giúp chứng minh ông là tác giả của nhạc phẩm Tôi đưa em sang sông nhưng đã không làm. Hôm nay, nhạc sĩ Nhật Ngân không còn sống để biện hộ cho anh nên dù nói gì nhạc sĩ Y Vũ cũng chỉ vẽ nên nhiều nhất là một nửa cái bánh mà thôi.
 
Trong lúc một số người dễ tin có thể cho những bằng chứng nhạc sĩ Y Vũ đưa ra là thật nhưng những người khác thận trọng, suy nghĩ chín chắn hơn sẽ nghĩ khác. Ngay cả những khán giả vỗ tay khi nhạc sĩ Y Vũ trưng ra bản chép tay mà ông viết là “bản thảo” trên đường về cũng có thể tự trách mình đã vội vàng vì không có gì chứng minh đó là bản đầu tiên của nhạc phẩm Tôi đưa em sang sông.
 
Bản chép tay mà nhạc sĩ Y Vũ đưa ra không phải lấy từ hồ sơ lưu trữ của Bộ Thông Tin Việt Nam Cộng Hòa, không phải do gia đình cố nhạc sĩ Y Vân công bố, không phải do một người thứ ba nào khám phá mà chỉ từ nhạc sĩ Y Vũ.
 
Mười hai năm trước khi qua đời, nhạc sĩ Nhật Ngân kể lại với nhạc sĩ Trường Kỳ: “Tôi không bao giờ than vãn cuộc đời. Tôi vẫn mang trái tim của tôi, mang sự yêu mến cuộc đời của mình để bước vào cuộc đời.”
 
Lúc 10 giờ sáng ngày Thứ Bảy, 21 tháng 1, 2012, tác giả Xuân này con không về đã bước ra khỏi cuộc đời cũng bằng trái tim đầy yêu thương như thế.
 
Vì nhạc sĩ Y Vũ khẳng định ông là tác giả duy nhất của Tôi đưa em sang sông nên người viết muốn phân tích để chứng minh những gì dễ cho là thật và tưởng là thật nhiều khi lại không hẳn là thật.
 
Sự kiện Tôi đưa em sang sông là một biến cố đáng tiếc trong âm nhạc Việt Nam nhưng suy cho cùng cũng chẳng làm nhạc sĩ nào thiệt hại hoàn toàn. Cả hai nhạc sĩ cùng với nhạc sĩ Y Vân qua nhân duyên văn hóa đã góp phần tạo nên nhạc phẩm tuyệt vời này.
 
Nhạc sĩ Nhật Ngân đã qua đời và nhạc sĩ Y Vũ sắp bước vào tuổi tám mươi, nên mỉm cười đón nhận nhân duyên. Tôi đưa em sang sông sẽ mãi mãi là một phần của văn hóa Việt Nam và các thế hệ Việt Nam mai sau cũng sẽ mỉm cười kính mến và trân trọng khi nhắc đến tên hai vị.
 
Hãy để “em sang sông”, thưa nhạc sĩ Y Vũ.
 
1/12/2017
 
Trần Trung Đạo
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

ĐI BỘ THỂ DỤC MỖI NGÀY VÀ XOA BÓP HAI BÀN CHÂN

 Bàn chân có mối liên quan mật thiết tới lục phủ ngũ tạng, ảnh hưởng tới sức khỏe của con người. 
 Các nhà nghiên cứu về Cơ Thể Học có một kết luận chính xác giống như tục ngữ vẫn thường nói rằng “Người già, đôi chân già trước !”. 
 
Nhiều người cao niên vì tình trạng “đôi chân già trước” nên đi không vững; chân không đỡ nỗi sức nặng của cơ thể nên thường mất thăng bằng, té ngã, gãy xương và đa phần đưa đến tử vong!
 
Để kéo dài tuổi thọ vào lúc xế chiều, mời quý đọc giả theo dõi bài dưới đây là Nhà Truyền Thông Độc Lập ĐẶNG HÙNG SƠN gởi đến cho VietPress USA:
Lợi ích của đi bộ
 
Trong  bài sau đây bạn sẽ thấy giữ cho chân khỏe là sẽ chậm già. 
Nhưng ngoài đi bộ ra nếu bạn đi bơi được là tốt nhất vì xuống nước các chi của bạn nhẹ nhàng hơn, phổi sẽ được bơm oxy nhiều hơn. Người đi bơi vừa lên khỏi mặt nước thì tim đập trở lại bình thường ngay, điều nầy không có sau một cuộc chạy bộ. Nếu ai sau khi đi bộ nhanh hay jogging mà chậm hồi phục nhịp tim thì tức là tim yếu. 
Tại sao ta không tập DỊCH CÂN KINH của người xưa, rất thích hợp cho những người già yếu và có bệnh kinh niên.
Tục ngữ có câu : “Người già đôi chân già trước” 
Giữ đôi chân tốt chính là mấu chốt phòng bệnh để kéo dài tuổi thọ.
Các chuyên gia nghiên cứu phương pháp tự chữa bệnh cho rằng :   
Trên đôi bàn chân có rất nhiều đầu mối thần kinh liên quan đến các tạng phủ. Cho nên dùng tay để chà xát, xoa bóp rất có lợi cho sức khoẻ. Thí dụ : 
 – Mu ngón chân út có liên quan đến bàng quang, xát ngón chân út có thể chữa được chứng bí đái, đái són, đái buốt 
– Mu ngón chân thứ hai có liên quan đến dạ dày, xát ngón thứ 2 có thể chữa được chứng chướng bụng, đầy hơi, ợ chua. 
– Ngón chân cái có liên quan đến gan, tì.
– Lòng bàn chân có liên quan đến thận. 
– Xát gan bàn chân có thể chữa được lưng đau, mỏi, ù tai, nghễnh ngãng. 

– 
Ngón thứ tư có liên quan đến gan. Xát ngón chân này có thể chữa được táo bón, lưng vai đau mỏi.
Thường xuyên xát gan bàn chân không những làm tăng lưu lượng máu, tăng tính đàn hồi thành mạch máu, mà còn kích thích não bộ trị được chứng nhức đầu, hoa mắt, mất ngủ, mộng mị 
Người già thường xuyên xát chân còn phòng được chứng tê bì, chân tay giá lạnh. 
Phương pháp xát chân cụ thể :
Trước tiên ngâm chân vào nước nóng 15 phút, lau sạch.. 
Ngồi trên giường hoặc ghế, chân nọ gác lên đầu gối chân kia, một tay xoa gan bàn chân, một tay xoa mu bàn chân, xát đi, xát lại khoảng 200 lần là vừa. 
Ðổi chân, cũng làm như trên. Xát cho đến khi nóng, người cảm thấy khoan khoái, dễ chịu là được.
Mỗi ngày làm 2 lần vào buổi sáng và tối.
Lợi ích của đi bộ 

Ði bộ mỗi ngày 30 phút sẽ đem lại cho bạn những tác dụng không ngờ đối với sức khoẻ thể chất và tinh thần. 
1. Tốt cho tim  
Một nghiên cứu gần đây đưa ra kết luận, nếu đi bộ nhanh 30 phút mỗi ngày sẽ làm giảm nguy cơ phát triển hội chứng chuyển hoá (metabolic syndrome)- một nhóm các triệu chứng ban đầu dẫn đến nguy cơ mắc các bệnh về tim mạch, tiểu đường, và đột qụy. Theo thống kê tại Mỹ, có khoảng 24 triệu phụ nữ nước này mắc hội chứng chuyển hoá. Không có thời gian để đi bộ nửa giờ mỗi ngày ?  
Một nghiên cứu ở Anh cho thấy rằng, hoạt động thường xuyên (Kết hợp đi bộ và đi xe đạp) đồng nghĩa với việc giảm 11 % nguy cơ mắc các bệnh về tim mạch, đặc biệt là đối với phụ nữ. 
2. Loại bỏ nguy cơ mắc ung thư vú 
Ði bộ chỉ cần vài giờ mỗi tuần có ý nghĩa đặc biệt trong việc giảm nguy cơ mắc ung thư vú, (theo công bố trên tờ tạp chí của hội y học Mỹ).
 Ðồng thời đi bộ làm giảm béo, tăng khả năng sản sinh estrogen. Kết quả của nghiên cứu trên 74.000 phụ nữ ở tuổi mãn kinh (50-79 tuổi) với những người có thể trạng bình thường, nguy cơ mắc ung thư vú giảm đi 30 %, còn những người thừa cân thì chỉ giảm từ 10-20 %. Nghiên cứu trên phụ nữ trẻ hơn cũng đưa đến kết quả tương tự. 
3.Giúp ngủ ngon hơn 
Ði bộ nhanh vào buổi chiều giúp bạn có được một giấc ngủ ngon hơn (Theo lời khuyên của tổ chức Giấc ngủ Quốc tế). Hơn nữa, nhiều ý kiến còn cho rằng, đi bộ làm tăng lượng hormone serotonin giúp cho bạn được thư giãn …
 Tuy nhiên bạn đừng nên đi bộ 2 giờ trước khi ngủ vì nó quá muộn để cơ thể nghỉ ngơi trở lại.
4. Làm giảm sự đau nhức cơ thể 
Hãy đi bộ và bạn sẽ giảm sự đau nhức cơ thể (Ðó là lời khuyên của các nhà khoa học, đặc biệt là môn đi bộ nhanh (Chiwalking- một ý tưởng kết hợp Thái cực quyền, Yoga và Pilates- một môn thể dục mềm dẻo). Nó giống như việc đi bộ thường xuyên nhưng bởi vì bạn thư giãn có ý thức, nó làm cơ thể bạn trở nên cân bằng bao gồm việc vận động cánh tay, làm cho chân không bị stress như khi đi bộ. Kết quả làm giảm đi sự đau nhức. Môn Chiwalking hiện ngày một phổ biến ở Mỹ.
5. Làm cho bạn hạnh phúc hơn
Ði bộ có thể làm cho bạn giảm bớt sự buồn chán, lo âu và stress, đó là một hiệu quả mà ít ai ngờ tới. Chỉ cần 30 phút đi bộ sẽ khiến cho tâm trạng của bạn trở nên khá hơn. 
Theo nhà nghiên cứu thuộc trường đại học Texas – Mỹ khuyên rằng, bỏ ra 90 phút đi bộ 5 lần mỗi tuần là bạn sẽ có được tâm trạng tốt nhất (nghiên cứu của đại học Temple). Một giải thích được đưa ra : Ði bộ giúp cơ thể sản sinh ra endorphin, một hoá chất làm cải thiện tâm trạng tạo cho bạn cảm giác lạc quan, yêu đời hơn. 
6. Giúp làm giảm bớt trọng lượng của cơ thể 
Ði bộ 30 phút mỗi ngày có thể tránh sự tăng cân ở hầu hết những người ít hoạt động tự nhiên. Mặt khác, nếu phụ nữ đi bộ một giờ mỗi ngày và năm lần trong một tuần sẽ tiêu hao 1.500 calo mỗi ngày và giảm khoảng 11 kg cân nặng bị thừa mỗi năm. Việc đi bộ có thể kiểm soát trọng lượng cơ thể của bạn. 
7. Duy trì trí nhớ cho người cao tuổi 
Một vài nghiên cứu trên nhóm người cao tuổi chỉ ra rằng đi bộ thậm chí chỉ cần 45 phút mỗi tuần sẽ giúp tránh được bệnh Alzheimer. Ði dạo hoặc tản bộ thông thường cũng đồng nghĩa với việc trí não được luyện tập và trở nên minh mẫn hơn ở tầng lớp người cao tuổi. 

8. 
Bảo vệ xương của bạn 

Chỉ cần 30 phút đi bộ 3 lần mỗi tuần là cách tuyệt vời để bảo vệ và rèn luyện cho xương của bạn. 
Giống như một bài tập, khi đi bộ sẽ đòi hỏi người phải sử dụng 95% hệ cơ, thực tế quá trình này giúp thúc đẩy và khiến cho xương của bạn trở nên  khoẻ mạnh và rắn chắc hơn.
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Bí mật trên quần đảo thiên đường Nhật Bản (OKINAWA)

Ít người biết, ở giữa vùng hải đảo xinh đẹp của đất nước mặt trời mọc ẩn giấu một quá khứ đau thương.



alt

Ít người biết, ở giữa vùng hải đảo xinh đẹp của đất nước mặt trời mọc ẩn giấu một quá khứ đau thương, làm chạnh lòng mọi du khách tới đây thăm quan.

alt

Quần đảo Okinawa, Nhật Bản nối tiếng là thiên đường nhiệt đới với biển xanh, cát trắng, nắng vàng, cảnh sắc non xanh nước biếc thu hút hàng ngàn đợt du khách tới đây nghỉ hè hằng năm.

alt

Nhưng không nhiều người biết đảo Okinawa còn là chiến địa của hầu hết các trận đánh trên mặt đất của chiến dịch Băng Sơn trong Thế chiến II. Trong trận chiến kéo dài 82 ngày ấy, khoảng 95.000 thành viên quân đội Nhật Bản và 12.510 lquân đội Mỹ đã thiệt mạng.

alt

Đài tưởng niệm Hòa bình ở Công viên Hòa bình Quận Okinawa có tên của 149.193 người gốc Okinawa, khoảng một phần tư dân số đảo, đã bị giết hoặc tự sát trong Trận Okinawa và Chiến tranh Thái Bình Dương.

alt

Vì vậy, ngoài quang cảnh tuyệt đẹp và khí hậu chan hòa thích hợp để nghỉ dưỡng, Okinawa còn nổi tiếng với những hang động với quá khứ u ám còn sót lại sau trận đánh Okinawa trong Thế chiến II.

alt

Thời kỳ cuối chiến tranh thế giới thứ hai, chính quyền Nhật bắt đầu rải truyền đơn tuyên truyền từ máy bay lên quần đảo Okinawa trước khi hạm đội Hải quân Hoa Kỳ tràn lên đảo vào năm 1945. Do những lời tuyên truyền nặng nề và sự hoang mang mà chiến tranh đem lại, hầu hết người dân Okinawa đều không chọn phe nào, họ chỉ đơn thuần trốn vào các hang động và hầm mộ, chờ đến khi chiến trận kết thúc và hòa bình được lặp lại.

alt

Trên đảo có tất cả năm hang động, mỗi hang động đều rộng lớn và có vẻ đẹp riêng, trong đó nổi tiếng nhất là Chibichiri. Trước khi những vụ nổ bom làm sập con đường nối xuyên giữa cửa động Hạnh Phúc và cửa Động Đau thương, người ta có thể chiêm ngưỡng một đường hầm rộng dài gần 2,5 km giữa hai cửa động của hang Chibichiri.

alt

Cả hai hang động này đều từng là nơi trú ẩn của khoảng 1.300 và 3.000 người dân suốt gần ba tháng. Những người đàn ông sẽ đi ra ngoài thu thập thức ăn, trong khi phụ nữ, trẻ em và người già ở lại trong hang tối, sống mòn mỏi chờ đợi chiến tranh kết thúc.

alt

Vào cuối cuộc chiến, binh lính Nhật nhận được chỉ thị phải tự sát để giữ mình trong sạch, giữ trung thành với Tổ quốc chứ không được phép đầu hàng quân đội Hoa Kỳ. Nhiều người dân cũng tự sát vì cùng lý do đó. Những người lính và dân thường quyết định tự kết liễu mạng sống của họ trong các hang động khác nhau trên khắp quần đảo Okinawa.

alt

Tại động Hạnh phúc, hai người tài xế taxi từng làm việc ở Hawaii đã cố gắng thuyết phục 1.500 người dân Okinawa đừng tự tử khi lực lượng quân đội Hoa Kỳ tiếp cận hang. Bởi vì những người lái xe nói cả tiếng Anh và tiếng Okinawa bản địa, nhóm người trốn trong động Hạnh phúc quyết định tin tưởng một lần và đầu hàng lính Mỹ. Họ nhanh chóng được đưa đến trại tị nạn ở Nago và phần lớn đều đã sống sót sau thời kỳ chiến tranh.

alt

Tuy nhiên, động Đau Thương lại không được may mắn như vậy. Hơn 2..700 người, có cả phụ nữ và trẻ em, đã tự sát ngay trong ngày mà những người ở động Hạnh Phúc đầu hàng.

alt

Ngày nay, bạn có thể tìm thấy các tác phẩm điêu khắc rùng rợn cảnh người dân quằn quại cố hướng lên cửa động, cảnh người mẹ ôm đứa con đang chết dần trên tay mình và hình ảnh sọ người chất chồng lên nhau quanh Đình tang lễ như đài tưởng niệm của một sự kiện lịch sử mà bi kịch.

alt

Người ta đồn rằng ngay ở cửa động, bạn cũng có thể nhìn thấy xương của những đứa trẻ, phần lớn bị sát hại bởi chính cha mẹ mình để ‘cứu vớt chúng’ khỏi tay quân đội Mỹ.. Ngày nay, thỉnh thoảng tiếng gào khóc thê lương vẫn được nghe thấy văng vẳng khắp núi rừng.

alt

Người dân địa phương thường đến các hang động để cầu nguyện cho linh hồn những thành viên trong gia đình họ đã thiệt mạng ở đó.

alt

Đến Okinawa du lịch, bạn có thể khám phá vẻ đẹp ngoạn mục của các hang động. Hãy nhớ mang theo đèn pin và pin dự phòng,mang thêm quần áo chuẩn bị để lấm bùn bẩn nếu bạn có dự định khám phá nhiều hơn là chỉ hang động đầu tiên. Hãy cố gắng đừng để bị mắc kẹt mà đèn lại hết pin, không có ánh sáng nhé.

alt

Nhưng cũng đừng quá lo lắng nếu chuyện đó xảy ra. Tìm kiếm và lắng nghe tiếng nước chảy, và men theo con suối nhỏ chạy qua tất cả các hang động, bạn sẽ tìm được đường ra ngay thôi. Hãy cẩn thận canh chừng dơi, rắn, hay thậm chí là những quả bom mìn sót lại sau chiến tranh. Nhưng thực sự không quá nguy hiểm đâu.

alt

Vậy, nếu bạn đang muốn tìm một nơi cho kỳ nghỉ hè để vừa có thể nghỉ ngơi, thư giãn, vừa học hỏi nền văn hóa và lịch sử sâu sắc, lại có thể thử thách chính mình trong một cuộc phiêu lưu hấp dẫn, hãy lên kế hoạch cho một chuyến du lịch đến Okinawa nhé.
__._,_.___
 
 
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Thơ tình mùa đông

Một chút gió đêm nay cho đủ rét
Những đường thơm thôi lá cũng đừng vàng
Ở trên sao sáng để em sang
Đôi cánh lớn đáp qua lòng cửa mở

Hương của cỏ và độ nồng hơi thở
Sẽ lên cao làm lửa ở trong hồn
Như que diêm phải cháy những đầu hôm
Cho sợi khói thản nhiên vào đôi mắt

Đừng vội biết vì sao mà ngơ ngác
Khi tôi về vầng trán cũng mưa bay
Đừng vội đau, dù khẽ, ở bàn tay
Khi trí nhớ vẫn còn nguyên tha thiết

Mùa dông tới làm sao em biết
Những hàng cây trở gió đến lạnh lùng
Chắc buổi chiều mái tóc cũng mưa giông
Đường đi học thênh thang loài mây rớt

Và buồn tự ngàn xưa đâu đã hết
Khi vô tình gọi lại tuổi tên người
Tuổi mười lăm, tên đẹp tựa chiều phai
Hồn vắng lặng mà nghe như đã khắp

Một chút núi của bầu trời xa tắp
Soi bóng về thềm cửa cũ màu xanh
Em có nghe rất khẽ ở bên mình
Sương mới rụng về hồn lơ lửng cánh

Một chút gió cho đêm nay vừa lạnh
Tôi bắt đầu sửa soạn đón mùa đông
Em có nghe lửa ấm ở trong lòng
Hương lạ chết, và cây kia rũ xuống

 ST
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Đệ Nhất Phu Nhân Zimbabwe

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

KHUÔN MẶT VĂN NGHỆ MỚI