All posts by Vo Danh Thi

Ký Ức Về Những Bài Học Thuộc Lòng Thời Tiểu Học

Dân miền Nam, những ai bây giờ chừng 55 tuổi trở lên, chắc đều nhớ rõ cách tổ chức độc đáo ở các lớp bậc tiểu học cách đây hơn bốn thập niên. Hồi đó, cách gọi tên các lớp học ngược lại với bây giờ, theo thứ tự từ lớn đến nhỏ. Lớp Năm là lớp Một ngày nay, rồi đến lớp Tư, lớp Ba, lớp Nhì, trên cùng là lớp Nhứt. Lớp Năm, tức là lớp thấp nhất, thường do các thầy cô giỏi nhất hoặc cao niên, dồi dào kinh nghiệm nhất phụ trách.

Sở dĩ như vậy là vì bậc học này được xem là vô cùng quan trọng, dạy học trò từ chỗ chưa biết gì đến chỗ biết đọc, biết viết, biết những kiến thức cơ bản đầu tiên, nghĩa là biến từ chỗ không có gì đến chỗ bắt đầu có. Cô giáo dạy tiếng ViệtHọc trò, không phân biệt giàu nghèo, khi đến lớp chỉ được dùng một thứ bút duy nhất, là bút ngòi lá tre. Gọi là lá tre bởi vì bút có cái ngòi có thể tháo rời ra được, giống hình lá tre nho nhỏ, khi viết thì chấm vào bình mực. Bình mực, thường là mực tím, có một cái khoen nơi nắp để móc vào ngón tay cho tiện. Thân bình bên trong gắn liền với một ống nhựa hình phểu dưới nhỏ trên to để mực khỏi sánh ra theo nhịp bước của học trò. Khi vào lớp thì học trò đặt bình mực vào một cái lổ tròn vừa vặn khoét sãn trên bàn học cho khỏi ngã đổ. Bút bi thời đó đã có, gọi là bút nguyên tử, là thứ đầy ma lực hấp dẩn đối với học trò ngày ấy, nhưng bị triệt để cấm dùng.

Các thầy cô quan niệm rằng rèn chữ là rèn người, nên nếu cho phép học trò lớp nhỏ sử dụng bút bi sớm, thì sợ khi lớn lên, chúng sẽ dễ sinh ra lười biếng và cẩu thả trong tính cách chăng. Mỗi lớp học chỉ có một thầy hoặc một cô duy nhất phụ trách tất cả các môn.

Thầy gọi trò bằng con, và trò cũng xưng con chứ không xưng em với thầy. Về việc dạy dỗ, không thầy nào dạy giống thầy nào, nhưng mục tiêu kiến thức sau khi học xong các cấp lớp phải bảo đảm như nhau. Thí dụ như học xong lớp Năm thì phải đọc thông viết thạo, nắm vững hai phép toán cộng, trừ, lớp Tư thì bắt đầu tập làm văn, thuộc bảng cửu chương để làm các bài toán nhân, chia… Sách giáo khoa cũng không nhất thiết phải thống nhất, nên không có lớp học giống lớp nào về nội dung cụ thể từng bài giảng. 

Cứ mỗi năm lại có các ban tu thư, có thể là do tư nhân tổ chức, soạn ra những sách giáo khoa mới giấy trắng tinh, rồi đem phân phối khắp các nhà sách lớn nhỏ từ thành thị cho chí nông thôn. Các thầy cô được trọn quyền lựa chọn các sách giáo khoa ấy để làm tài liệu giảng dạy, miễn sao hợp với nội dung chung của Bộ Giáo dục là được.

Tuyệt nhiên không thấy có chuyện dạy thêm, học thêm ở bậc học này nên khi mùa hè đến, học trò cứ vui chơi thoải mái suốt cả mấy tháng dài. Các môn học ngày trước đại khái cũng giống như bây giờ, chỉ có các bài học thuộc lòng trong sách Việt Văn, theo tôi, là ấn tượng hơn nhiều.

Đó là những bài thơ, những bài văn vần dễ nhớ nhưng rất sâu sắc về tình cảm gia đình, tình yêu thương loài vật, tình cảm bạn bè, tình nhân loại, đặc biệt là lòng tự tôn dân tộc Việt.

Tôi còn nhớ rõ trong sách Tân Việt Văn lớp Năm có bài học thuộc lòng thật hay về bóng đá mà hồi đó gọi bằng một từ rất hoa mỹ, là túc cầu:

TRẬN CẦU QUỐC TẾ

Chiều chưa ngã, nắng còn gay gắt lắm
Hai đội cầu hăng hái tiến ra sân
Tiếng hoan hô thêm dũng mãnh bội phần
Để cổ võ cho trận cầu quốc tế.
Đoàn tuyển thủ nước nhà hơi nhỏ bé
Nếu so cùng cầu tướng ở phương xa
Còi xuất quân vừa lanh lảnh ban ra
Thì trận đấu đã vô cùng sôi nổi.
Tiền đạo ta như sóng cồn tiến tới
Khi tạt ngang, khi nhồi bóng, làm bàn
Khiến đối phương thành rối loạn, hoang mang
Hậu vệ yếu phải lui về thế thủ
Thiếu bình tỉnh, một vài người chơi dữ
Nên trọng tài cảnh cáo đuổi ra sân
Quả bóng da lăn lộn biết bao lần
Hết hai hiệp và…đội nhà đã thắng
Ta tuy bé nhưng đồng lòng cố gắng
Biết nêu cao gương đoàn kết đấu tranh
Khi giao banh, khi phá lưới, hãm thành
Nên đoạt giải dù địch to gấp bội…

Bài học thuộc lòng này, về sau tôi được biết, lấy cảm hứng từ chiếc cúp vô địch đầu tiên và duy nhất cho đến bây giờ của Việt Nam tại Đông Á Vận Hội trên sân Merdeka của Malaysia vào cuối thập niên 50, với những tên tuổi vang bóng một thời như Tam Lang, Ngôn, Cù Sinh, Vinh “đầu sói”, Cù Hè, Rạng “tay nhựa”… Tuy không biết chơi bóng đá, nhưng thằng bé là tôi lúc đó rất thích bài học thuộc lòng này nên tự nhiên…thuộc lòng luôn.

Càng đọc càng ngẫm nghĩ, đây đâu phải là bài thơ chỉ nói về bóng đá mà thôi. Nó là bài học đoàn kết của một dân tộc tuy nhỏ bé nhưng gan lỳ, bất khuất khiến cho cả thế giới phải ngước nhìn bằng đôi mắt khâm phục. Bạn thấy lạ lùng chưa, chỉ một bài thơ ngắn nói về một thứ trò chơi thôi, mà lại chứa đựng biết bao nhiêu điều vĩ đại mà những lời đao to búa lớn ồn ào chắc chi đã làm được.

Nói về môn Lịch sử, hồi đó gọi là Quốc sử, đã có sẵn một bài học thuộc lòng khác:

GIỜ QUỐC SỬ

Những buổi sáng vừng hồng le lói chiếu
Trên non sông, làng mạc, ruộng đồng quê,
Chúng tôi ngồi yên lặng, lắng tai nghe
Tiếng thầy giảng khắp trong giờ Quốc sử.
Thầy tôi bảo:
“Các con nên nhớ rõ,
Nước chúng ta là một nước vinh quang.
Bao anh hùng thưở trước của giang san,
Đã đổ máu vì lợi quyền dân tộc.
Các con nên đêm ngày chăm chỉ học,
Để sau này mong nối chí tiền nhân.
Ta tin rằng, sau một cuộc xoay vần,
Dân tộc Việt vẫn là dân hùng liệt.
Ta tin tưởng không bao giờ tiêu diệt,
Giống anh hùng trên sông núi Việt Nam.
Bên những trang lịch sử bốn ngàn năm,
Đầy chiến thắng, vinh quang và hạnh phúc”

Hình ảnh ông thầy dạy Sử trong bài học thuộc lòng hiện lên, nghiêm nghị nhưng lại thân thương quá chừng, và bài Sử của thầy, tuy không nói về một trận đánh, một chiến công hay một sự kiện quá khứ hào hùng nào, nhưng lại có sức lay động mãnh liệt với đám học trò chúng tôi ngày ấy, đến nỗi mấy chục năm sau chúng tôi vẫn nhớ như in.

Lại có bài song thất lục bát về ông thầy dạy Địa lý, không nhớ tác giả là ai, nhưng chắc chắn tựa đề là “Tập vẽ bản đồ”, phía lề trái còn in cả hình vẽ minh họa của Quần đảo Trường Sa và Hoàng sa:

Hôm qua tập vẽ bản đồ,
Thầy em lên bảng kẻ ô rõ ràng.
Ranh giới vẽ phấn vàng dễ kiếm,
Từ Nam Quan cho đến Cà Mau.
Từng nơi, thầy thuộc làu làu,
Đây sen Đồng Tháp,
đây cầu Hiền Lương. Biển Đông Hải,
trùng dương xanh thẳm,
Núi cheo leo thầy chấm màu nâu.
Tay đưa mềm mại đến đâu,
Sông xanh uốn khúc, rừng sâu chập chùng…
Rồi với giọng trầm hùng, thầy giảng:
“Giống Rồng Tiên chói rạng núi rừng,
Trải bao thăng giáng, phế hưng,
Đem giòng máu thắm, bón từng gốc cây.
Làn không khí giờ đây ta thở,
Đường ta đi, nhà ở nơi này,
Tổ tiên từng chịu đắng cay,
Mới lưu truyền lại đêm ngày cho ta.
Là con cháu muôn nhà gìn giữ,
Đùm bọc nhau, sinh tử cùng nhau.
Tóc thầy hai thứ từ lâu,
Mà tài chưa đủ làm giàu núi sông !
Nay chỉ biết ra công dạy dỗ,
Đàn trẻ thơ mong ở ngày mai.
Bao nhiêu hy vọng lâu dài,
Dồn vào tất cả trí tài các con …”

Giờ đây, mấy chục năm đã trôi qua, tóc trên đầu tôi cũng bắt đầu hai thứ như ông thầy già dạy Địa trong bài học thuộc lòng ngày ấy, nhưng có một điều mà tôi nghĩ mãi vẫn chưa ra. Ông thầy đang dạy Địa, hay ông thầy đang âm thầm truyền thụ lòng yêu nước, lòng tự tôn dân tộc cho đàn trẻ thơ qua mấy nét vẽ bản đồ?

Lời của thầy thật là nhẹ nhàng, khiêm tốn nhưng cũng thật là tha thiết, chạm vào được chỗ thiêng liêng nhất trong tâm hồn những đứa trẻ ngây thơ vào những ngày đầu tiên cắp sách đến trường, nơi chúng được dạy rằng ngoài ngôi nhà nhỏ bé của mình với ông bà, cha mẹ, anh em ruột thịt, chúng còn có một ngôi nhà nữa, rộng lớn hơn nhiều, nguy nga tráng lệ, thiêng liêng vĩ đại hơn nhiều, một ngôi nhà mà chúng phải thương yêu và có bổn phận phải vun đắp: Tổ quốc Việt Nam.

Lê Tuấn Đạt

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Tiền và gia đình, điều gì quan trọng hơn?

https://baomai.blogspot.com/
Tiền và gia đình, điều gì quan trọng hơn? Đây là câu trả lời của người Mỹ, châu Âu và Trung Cộng
Lời chia sẻ chân thành của những người bạn:
Ngày nọ, một nhóm bạn thân người Úc đã trò chuyện cùng một anh bạn người Trung Cộng. Chủ đề mà họ nói đến là mức coi trọng gia đình của người Trung Cộng  và người Úc khác nhau như thế nào.
Thật bất ngờ, mấy anh bạn người Úc này đã thẳng thắn nói: “Cậu đừng giận, thật ra, chúng tớ cảm thấy người Trung Cộng  các cậu vốn không yêu thương gia đình, vốn không xem trọng gia đình giống như các cậu đã nói. Nói thẳng là các cậu yêu tiền nhiều hơn!”.
https://baomai.blogspot.com/
Những người bạn thân người Úc này lại chân thành nói tiếp:
“Không kể là ở Úc hay ở Trung Cộng , người Trung Cộng  các cậu xác thực là rất chăm chỉ, các cậu ở nước ngoài cũng đều tiết kiệm được nhiều tiền hơn so với người bản địa. Nhưng tớ không cho rằng người Trung Cộng  các cậu có tố chất làm ăn hơn, mà là các cậu tiết kiệm hơn chúng tớ.
Có thể tiết kiệm là nhờ hạ thấp tiêu chuẩn cuộc sống đi. Các cậu bình thường rất ít khi đi quán bar, thậm chí cuối tuần hoặc ngày nghỉ cũng đều không dám nghỉ ngơi. Quần áo đều là mua từ bên Trung Cộng đem sang đây, bởi vì mua ở bên đó rẻ hơn, tớ thậm chí còn nhìn thấy có du học sinh Trung Cộng còn mang theo rất nhiều chén đĩa sang đây”.
“Các cậu sẽ làm việc không quản ngày đêm, phó mặc con cái cho ông bà chăm sóc. Ngoài việc quan tâm thành tích học tập của con cái ra, thì bận rộn đến nỗi rất ít khi chơi cùng chúng. Ngày lễ Giáng Sinh, thậm chí còn không nghỉ ngơi. Vậy nên, những đứa trẻ người Hoa  các cậu mặc dù thành tích học tập rất ưu tú, nhưng chúng luôn cảm thấy lạc lõng. Chúng cảm thấy so với các bạn, điều mà bố mẹ quan tâm hơn là khoản tiền thu nhập của gia đình, là điểm số học tập của chúng, chứ không phải là bản thân chúng có vui vẻ hạnh phúc hay không”.
https://baomai.blogspot.com/
“Đúng là tôi biết cậu muốn nói gì. Người Trung Cộng  các cậu nói như vầy, là vì con cái nên ráng kiếm thêm chút tiền cho chúng sau này.. Nhưng mỗi một đời đều nói bản thân kiếm tiền là vì đời sau, thế thì rốt cuộc đời nào sẽ thật sự dùng khoản tiền này đây?”.
“Cuộc đời là ngắn ngủi như thế, các cậu mượn cớ là vì tương lai của gia đình, mà đã hy sinh gia đình của hiện tại. Tôi thật không hiểu tổn thất này nên phải bù đắp như thế nào nữa! Sao các cậu còn có thể dùng quan niệm này mà lấy làm tự hào đây?”.
“Các cậu vì công việc, có thể chấp nhận vợ chồng phải sống ly thân trong khoảng thời gian rất dài. Nhưng trong con mắt chúng tớ, vợ chồng không ở bên nhau từ 3 tháng trở lên, trên cơ bản thì đã nên cân nhắc đến chuyện ly hôn rồi.
Vậy nên chúng tớ nếu được cử sang nước ngoài làm việc, thì nhất định phải là cả gia đình cùng đi, vợ của tôi, con cái của tôi đều phải cùng chuyển sang đây. Nếu như họ không đồng ý sang, tớ sẽ không thể tiếp nhận công việc này, bởi so với công việc thì dĩ nhiên gia đình quan trọng hơn rồi.
https://baomai.blogspot.com/
Tớ thậm chí còn nghe nói ở Trung Cộng  có vợ chồng mấy chục năm đều chia nhau sống ở hai nơi, đến lúc nghỉ hưu mới có thể sống chung với nhau. Đây là sự thật quá đau lòng. Lẽ nào các cậu không thể vì gia đình mà từ bỏ công việc sao? Có thể tìm một công việc khác cũng được mà!”.
“Trong công ty Trung Cộng của tôi có một nhân viên rất xuất sắc, nhưng vợ con lại sống ở thành phố khác, mỗi một tháng thậm chí hai tháng mới có thể gặp nhau một lần. Tại sao một trong hai người lại không thể từ bỏ công việc chứ? Tôi biết có rất nhiều người làm việc ở thành phố, họ thậm chí chỉ một năm mới về thăm nhà một lần, đều nói là kiếm tiền vì gia đình, nhưng tiền như vậy, có nhiều hơn nữa, lại có ý nghĩa gì đâu?”.
Biết bao nhiêu phụ huynh, từ sớm đã hy sinh tuổi thơ của con cái, cuối tuần bôn ba trên đường đến các lớp phụ đạo, học thêm các loại. Đợi đến khi hết tiểu học, thì bản thân xem như đã được giải thoát rồi! Nhưng tiểu học xong rồi, phát hiện trung học cũng có lớp học thêm, hơn nữa còn nhiều hơn, tụi trẻ con chính là không có thời gian để vui chơi nữa!
Đợi khi con cái lên đại học thì coi như đã xong nhiệm vụ rồi … Nhưng con cái học xong đại học rồi, đến lúc tìm kiếm công việc vẫn phải bận tâm như vậy!
Đợi đến khi con cái có công việc ổn định rồi, thì tưởng như không còn gánh nặng gì nữa … Tuy nhiên, công việc tìm được rồi, lại bắt đầu bận tâm chuyện hôn sự, nhà cửa cho con cái! Sau khi con cái kết hôn rồi, thì tôi không cần phải bận tâm gì nữa! Nhưng kết hôn, có nhà có cửa rồi, thì chúng lại sinh cháu để bế rồi!
https://baomai.blogspot.com/
Bao nhiêu nỗi lo toan, dù có muốn quản cũng không quản được hết, cứ lặp đi lặp lại như vậy không dứt. Tầm mắt của chúng ta vẫn luôn nhìn về phía trước; vì tương lai, hôm nay tích lũy sức khỏe, tích lũy văn bằng, tích lũy tiền bạc. Kết quả bản thân lại than trời trách đất, tầm mắt của chúng ta không có lúc nào sống ở hiện tại.. Nhiều người đến cuối đời đã nhận ra rằng, cả một đời không có lấy một ngày sống vì bản thân mình.
Kỳ thực, rất nhiều người chính là đang sống như vậy!
Vậy nên, có nhận xét rằng: Người biết hưởng thụ nhất là người Mỹ; người có tín ngưỡng nhất là người châu Âu; từ khi sinh ra cho đến lúc chết đi, đều chứa đầy cạnh tranh và áp lực là người Trung Cộng 
Một đời của đại đa số người Mỹ
https://baomai.blogspot.com/
0 – 10 tuổi: Tham gia các loại hoạt động tập thể như khảo sát, khám phá các vùng đất;
10 – 20 tuổi: Theo đuổi ước mơ;
20 – 30 tuổi: Tìm kiếm cho mình một công việc ổn định;
30 – 40 tuổi: Cuối cùng tìm ra được mục tiêu theo đuổi của đời mình, hưởng thụ cuộc sống, có nhà cửa, có xe hơi, có con cái;
40 – 50 tuổi: Thỉnh thoảng trải qua kỳ nghỉ dài sau áp lực công việc;
50 – 60 tuổi: Tận hưởng cuộc sống, du lịch;
60 – 70 tuổi: Bắt dầu viết hồi ký, du lịch;
70 – 80 tuổi: An hưởng tuổi già;
Sau khi mất: Thông thường được đưa vào nghĩa trang công cộng.
Một đời của đại đa số người châu Âu
https://baomai.blogspot.com/
0 – 10 tuổi: Tham gia đội nhạc trong trường, học tập âm nhạc cổ điển;
10 – 20 tuổi: Tổ chức nhóm nhạc của mình, tiến hành thưởng thức các loại âm nhạc;
20 – 30 tuổi: Chịu nhận ảnh hưởng của văn hóa nghệ thuật Gothic;
(Nghệ thuật Gothic là một phong trào nghệ thuật phát triển theo nghệ thuật Rôman ở Pháp vào thế kỷ 12, sau đó đã nhanh chóng lan rộng ra khắp Tây Âu, gần như toàn bộ phía bắc dãy núi Alpe)
30 – 40 tuổi: Đội nhạc bắt đầu chính thức đi vào tuyến đường “màu kim loại đen”;
40 – 50 tuổi: Nhớ lại sự hồn nhiên của tuổi thơ, bắt đầu trở về cuộc sống “tràn đầy màu sắc”;
50 – 60 tuổi: An định lại, tìm kiếm tình cảm ấm áp, sống cuộc sống bình yên;
60 – 70 tuổi: Đến giáo đường tổng kết một đời của mình;
70 – 80 tuổi: An hưởng tuổi già cùng con cái;
Sau khi chết: Yên tâm nằm ở trên một miếng đất thuộc về mình.
Một đời của đại đa số người Trung Cộng hay Việt Nam cũng vậy
https://baomai.blogspot.com/
0 – 10 tuổi: Bị ép phải học tập các loại kỹ năng, không ngừng kiểm tra cấp bậc, đa số đều là bởi sĩ diện và mong đợi của bố mẹ;
10 – 20 tuổi: Gặm nhấm cả một núi sách, ứng phó các loại kỳ thi dồn dập kéo đến như sóng biển.
20 – 30 tuổi: Nộp sơ yếu lý lịch khắp nơi, lo lắng bản thân không tìm được công việc;
30 – 40 tuổi: Trở thành nô lệ của nhà cửa, xe cộ;
40 – 50 tuổi: Bận tâm lo lắng cho tương lai của con cái, nhịn ăn nhịn mặc, cố gắng dự trữ tiền bạc;
50 – 60 tuổi: Cuối cùng đã có được cuộc sống của mình, lại phát hiện đã sắp phải nghỉ hưu, lại bắt đầu lo lắng sau khi nghỉ hưu phải làm gì;
60 – 70 tuổi: Bỏ ra phần lớn sức lực để dưỡng sinh, lại phát hiện còn phải trông nom cháu;
70 – 80 tuổi: Cuối cùng an định lại để hưởng ngày tháng cuối đời;
Trước lúc chết: Phát hiện thì ra một một miếng đất ở khu nghĩa trang lại có giá ‘cắt cổ’
https://baomai.blogspot.com/
Người ta vẫn thường nói rằng, đời người trôi qua nhanh như bóng câu qua cửa sổ. Vậy trong những năm tháng của đời mình, bạn đã có lúc nào để tâm mình lắng lại và cảm thấy bình yên hạnh phúc bên gia đình mình; hay phải luôn bôn ba bận rộn chấp nhận làm nô lệ cho vô vàn những thứ khác!
Giữa tiền và gia đình, điều gì thực sự quan trọng hơn, trên những ngã rẽ ấy bạn đã chọn lựa đúng đắn chưa?
Cuối cùng, hành trình của một đời người là trôi qua như vậy, bạn muốn sống như một người Mỹ, Âu châu, hay là một người Trung Cộng như đã kể ở trên? Đều là do bạn quyết định vậy!
ST ONLINE
https://baomai.blogspot.com/
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Những điều có thể Bạn chưa biết?


http://c1.f24.img.vnecdn.net/2015/06/24/anti-age-1435140218.jpg
 
Tất nhiên thôi!
Tui …thông minh nhưng chữ tui vẫn …đẹp và chân phương thì…trái qqui luật ấy à? Ngụy biện cho mấy anh …chữ bác sĩ chứ giề ?
Ai cân? Lấy cái gì làm chuẩn nếu không có chính “trọng lực”( sức hút ) của chính …trái đất?
Bỏ vào nồi…áp suất thì chỉ cần…1 tiếng thui bạn à!
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Câu chuyện Bích Câu Kỳ Ngộ

THƯA QUÝ BẠN, hồi tôi còn nhỏ, mặc dầu là thời Pháp thuộc nhưng có nhiều sách hay dùng cho trẻ em, thường là truyện cổ tích viết bằng thơ lục bát hay song thất lục bát – hai câu 7 chữ rồi đến câu lục (6 chữ) và câu bát (8 chữ), có vần có điệu, ý nghĩa rất cao: “Thầy Mẫn Tử rất đường hiếu nghĩa. Xót nhà huyên quạnh quẽ đã lâu. Thờ cha sớm viếng khuya hầu. Chẳng may gặp phải mẹ sau nồng nàn. Trời đang tiết đông hàn lạnh lẽo. Hai em em thời kép áo mền bông. Chẳng thương chút phận long đong. Hoa lau nỡ để lạnh lùng một thân…”. Rồi truyện Tấm Cám, truyện Trê Cóc, truyện Thạch Sanh-Lý Thông, truyện Hoàng Trừu, truyện Phạm Công-Cúc Hoa…, truyện nào cũng nhiều ý nghĩa, dạy các trẻ em đạo đức và nghĩa sống ở đời. Riêng truyện Bích Câu Kỳ Ngộ (tức cuộc gặp gỡ kỳ lạ tại nơi có cái ngòi nước biếc; bích là màu biếc, câu là cái ngòi, con rạch, con kênh), cũng bằng thơ lục bát, lời thơ trong sáng, trau chuốt nhưng lại khác hẳn so với các truyện nói trên. Đây là truyện tình cảm dành cho… người lớn chứ không phải dành cho trẻ em. Anh chàng thư sinh họ Trần, tên Tú Uyên nghèo nàn, chưa đậu đạt gì, gặp được nàng tiên tên Giáng Kiều, hai bên yêu thương nhau, kết thành vợ chồng, sinh được đứa con trai thông minh đĩnh ngộ đặt tên là Chân Nhi. Lấy được vợ tiên, chàng chẳng phải lo gì cả, vậy là hạnh phúc lắm rồi. Nhưng dần dần chàng hóa rượu chè be bét, nhiều khi uống rượu say khướt đánh cả vợ. Nàng khuyên nhủ nhiều lượt không được, buồn bực bỏ về trời, chàng hối hận suýt tự tử…

Trước đây nhiều người kể cả GS Dương Quảng Hàm và GS Linh mục Thanh Lãng đều cho rằng truyện Bích Câu Kỳ Ngộ là của một tác giả khuyết danh. Nhưng theo các nhà nghiên cứu như Trần Văn Giáp, Nguyễn Phương Chi, Hoàng Hữu Yên, Phạm Ngọc Lan thì người sáng tác tập truyện thơ này tên là Vũ Quốc Trân, người làng Đan Loan, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương, sống tại phường Đại Lợi (một đoạn thuộc phố Hàng Đào, Hà Nội ngày nay) vào khoảng giữa thế kỷ thứ 19 dưới triều vua Tự Đức (1829-1883), cùng thời với Nguyễn Văn Siêu và Cao Bá Quát. Ông là người rất hay chữ nhưng đi thi mấy khoa đều chỉ đậu tú tài. Có lẽ vì vậy ông buồn tình, thất chí, đâm rượu chè, sau đó sáng tác truyện Bích Câu Kỳ Ngộ để nói lên sự ăn năn hối lỗi của mình đối với người vợ mà ông biết ơn, coi bà như “nàng tiên” Giáng Kiều đã cứu giúp anh chàng Tú Uyên ra khỏi sự mê muội của rượu chè.

Sau đây xin mời quý bạn coi tóm tắt truyện Bích Câu Kỳ Ngộ cổ điển thời xa xưa, sau đó chúng ta thưởng thức truyện “Tân” Bích Câu Kỳ Ngộ cũa Vũ Quang, một tác giả mới, do Đoàn Dự đóng góp, biên tập thêm cho được mới hơn. Đây, xin mời quý bạn thưởng thức…

Bích Câu Kỳ Ngộ

Vào thời Hồng Đức nhà Lê, có một người học trò nghèo mồ côi cha mẹ, trọ học ở phường Bích Câu phía Nam thành Thăng Long, rất hay chữ, tên là TrầnTú Uyên.

Vào một ngày mùa xuân, chùa Ngọc Hồ mở hội Vô Già, thiện nam tín nữ ở kinh đô và bốn phương tụ họp lại rất đông. Tú Uyên cũng không bỏ lỡ cơ hội để tìm người trong mộng. Chàng vui chân đi quanh quẩn đến chiều và ngồi bên gốc đa gần chùa. Bỗng một chiếc lá đa bay đến trước mặt, chàng nhặt lên xem thì thấy mặt sau có đề một bài thơ. Tú Uyên ngạc nhiên tưởng có người nào trên lầu ném xuống. Chàng lánh vào một chỗ để xem đó là ai. Nhưng nhìn mọi nơi mãi cũng chẳng thấy gì cả. Đang lúc ngơ ngác, chàng bỗng thấy một đám người từ trong chùa đi ra, trong đó có một thiếu nữ xinh đẹp như tiên. Thấy nàng liếc mắt nhìn mình, chàng tiến lại bắt chuyện. Hai người vừa đi vừa vui vẻ chuyện trò, lòng Tú Uyên như mở hội. Nhưng khi đến Quảng Văn thì “người tiên” bỗng biến mất. Tú Uyên ngơ ngẩn mãi rồi mới trở về nhà..

Từ đấy, chàng ngày đêm mơ tưởng đến bóng dáng người thiếu nữ, không thiết gì đến việc ăn uống, học hành.

Nghe người ta bảo là đền Bạch Mã rất thiêng, chàng liền đến xin quẻ thẻ rồi ngủ đêm lại đền để cầu mộng. Đêm hôm ấy, vị thần giữ đền hiện ra trong giấc mơ của chàng và nói rằng:

– Này chàng trẻ tuổi kia, sáng mai hãy đến cầu Đông, ta sẽ cho biết một tin rất tốt.

Tú Uyên vô cùng mừng rỡ, như vậy là chàng sẽ có cơ may gặp lại người trong mộng…

Hôm sau, chàng y hẹn đến cầu Đông, nhưng đợi mãi không thấy ai cả. Cuối cùng chàng mới gặp một ông già bán tranh, ông ta mời chàng mua một bức tranh tố nữ. Chàng mở ra xem thì không ngờ người tố nữ trong tranh trông chẳng khác gì người mà chàng đã gặp hôm trước.

Quá mừng rỡ nên Tú Uyên mua ngay bức tranh mà không cần hỏi thăm xuất xứ từ đâu nữa. Dù không gặp được người thật, nhưng người trong tranh cũng đủ làm cho chàng hoan hỉ trong lòng.

Tú Uyên muốn lúc nào cũng được nhìn ngắm chân dung người đẹp, nên chàng treo bức tranh bên cạnh chỗ ngồi để khi học hay khi thưởng thức chén trà ngon đều nhìn ngắm nàng. Thậm chí khi ăn cơm chàng cũng đem ra hai cái bát, hai đôi đũa rồi mời người thiếu nữ trong tranh cùng ăn giống như đối với người thật.

Mỗi lần say đắm ngắm tố nữ trong tranh, Tú Uyên ngạc nhiên khi thấy tố nữ cũng say đắm nhìn chàng, còn lúc chàng thả lời ong bướm thì thấy hai má nàng đỏ bừng như có ý thẹn.

Một hôm, khi Tú Uyên đi học về thì thấy giữa bàn đã dọn sẵn một mâm cơm có thức ăn ngon, khác với cơm rau thường ngày. Tuy chưa hiểu là của ai cho nhưng đói bụng, chàng cũng ngồi vào ăn ngon lành. Chàng không ngờ thiếu nữ trong tranh cũng nhìn chàng một cách trìu mến, mãn nguyện.

Tiếp tục những hôm sau, chàng luôn được chăm sóc như vậy, cơm canh được dọn sẵn trên bàn. Tú Uyên vừa mừng vừa lo, không hiểu tạo sao mình được ưu đãi như thế.

Một hôm khác chàng giả vờ đi học, được nửa đường thì quay trở về, núp ngoài cửa nhìn vào. Chợt thấy tố nữ từ trong tranh bước ra, dọn dẹp nhà cửa rồi xuống bếp làm cơm. Vậy là chàng đã biết rõ nguyên nhân, liền đột ngột bước vào cầm lấy tay nàng:

– Sao nàng nỡ để tôi trông đợi mỏi mòn đến thế? Bây giờ đã gặp nhau đây, tôi nhất quyết không để cho nàng trở lại trong bức tranh nữa đâu.

Thiếu nữ e thẹn, cúi mặt mỉm cười không dám nhìn chàng. Tú Uyên bèn tháo bức tranh trên tường, xé nát để nàng không còn nơi trú ẩn. Thiếu nữ khẽ trách:

– Sao chàng ác thế, thiếp đã đến đây rồi thì làm sao không vâng lời chàng.

Nàng cho biết mình là tiên nữ tên là Giáng Kiều, vốn có duyên nợ với chàng nên xuống trần kết làm đôi lứa. Tú Uyên không còn gì vui sướng hơn nên bèn thề sẽ yêu thương nàng trọn đời.

Thế rồi hai người thành thân với nhau với sự chứng kiến của các bạn bè của cả hai bên.

Nhưng từ ngày có vợ đẹp, Tú Uyên chẳng màng gì đến việc học hành. Đặc biệt là chàng thích uống rượu và ăn ngon. Giáng Kiều khuyên can thế nào cũng không được.

Ba năm trôi qua, Tú Uyên không hề lai vãng đến trường. Dần dà, chàng hóa nghiện rượu và đã uống là uống say khướt, không còn biết trời đất gì nữa. Thậm chí nhiều khi chàng còn đánh mắng vợ. Giáng Kiều buồn lắm song cũng ráng chịu.

Một hôm Tú Uyên từ tửu quán khật khưởng trở về nhà. Giáng Kiều đỡ chồng vào giường rồi nhân lúc chàng ngủ, nàng bèn bay về thượng giới.

Khi Tú Uyên tỉnh rượu, không thấy vợ đâu, chàng lấy làm hối hận lắm. Suốt một tháng trời chàng bỏ ăn bỏ ngủ, kêu khóc thảm thiết. Bạn bè hết lời khuyên giải nhưng chàng cũng không giảm được nỗi buồn. Một lần, giận thân, chàng toan từ giã cõi đời. Nhưng chàng vừa treo cổ lên xà nhà thì bỗng có trận gió thoảng đưa mùi hương đến, dây đứt và chàng ngã bịch xuống đất. Đó chính là Giáng Kiều đã đến cứu chàng. Tú Uyên vừa mừng vừa thẹn, thề xin chừa rượu và chăm lo học hành. Hai vợ chồng lại sum họp đầm ấm như xưa.

Chẳng bao lâu, Giáng Kiều sinh được một con trai, đặt tên là Chân Nhi. Chân Nhi lớn lên thông minh đĩnh ngộ, học đâu nhớ đấy.

Một đêm nọ bỗng có hai con hạc từ trên trời bay xuống, đến đón hai người trước sân. Hai vợ chồng dặn dò con ở lại học hành rồi cưỡi hạc bay lên trời. Về sau con của hai người đỗ đạt, làm quan vinh hiển…

Truyện “tân” Bích Câu Kỳ Ngộ

Trần Sinh, người miền Trung, con nhà nghèo, lý lịch không tốt không xấu, nhờ thông minh lại chuyên cần học tập nên thi đậu vô Đại học Bách khoa Sài Gòn hệ chính quy, được học bổng toàn phần tức không phải đóng học phí.

Lần đầu bước chân vào một trường đại học lớn, do bỡ ngỡ trước những thủ tục hành chánh nên Sinh không xin được vô Ký túc xá, đành bấm bụng nhịn bớt chi tiêu, mướn một căn phòng nhỏ ở gần cầu Trương Minh Giảng. Dòng kênh đen thui thường bốc mùi thum thủm, được dân bản địa gọi nôm na là kinh nước đen.

Trần Sinh với tâm hồn mơ mộng của tuổi sinh viên, gọi cái kinh nước đen đó là… “Bích Câu” (Bích là màu biếc, Câu là dòng kênh hay cái ngòi nước).

Tuy thuê phòng trọ nhưng Sinh lại ăn cơm ở bếp tập thể tại Ký túc xá, bởi vì bữa cơm sinh viên tuy đạm bạc nhưng dù sao cũng phù hợp với túi tiền kẻ sĩ trong thời đại gạo đem xuất khẩu được tính theo đô la. Căn phòng trọ 2m x 1m80 chỉ vừa đủ để kê một cái giường nhỏ, một chiếc ghế liên lạc với miếng gỗ nhỏ hình chữ nhật dùng làm chiếc bàn cá nhân. Trên vách gỗ đóng đinh treo mấy bộ quần áo cũ chứ cũng chẳng có tủ hay va ly gì cả. Phòng chật quá và cuộc sống sinh viên ở trọ thì làm gì có tủ hay va ly. Mái tôn thấp lè tè, lại bị “cóc gặm”, mùa nắng nóng toát mồ hôi, mùa mưa thì dột, ban đêm cũng có khi lạnh nhưng dù sao cũng là nơi trọ rẻ tiền cho Sinh đi về, dùi mài bài vở.

Một buổi chiều cuối năm, mưa gió não nề, Sinh đang gò lưng đạp con ngựa sắt leo lên dốc cầu vì bị mưa tạt thì chợt nghe có tiếng rên lẫn trong tiếng gió. Liếc mắt nhìn, Sinh thấy bên vệ cầu có một ông cụ già đang khoác áo mưa ngồi co ro. Sinh bèn dừng xe đạp, bước xuống, một tay dắt xe, một tay dắt ông cụ sát vô lề đường. Ông cụ run rẩy kể lại chuyện mình, nước mắt hòa lẫn nước mưa ướt đẫm gương mặt nhăn nheo: “Tui ở ngòai Trung, trước đây cũng có con có cháu, nhà cửa tuy không lớn nhưng cũng sống được. Trận bão năm đó làm tan nát gia đình. Con trai tui làm nghề đánh cá bị mất tích với các bạn trên biển. Con dâu mần ma chay, mộ gió cho chồng xong, ít lâu sau gởi ba đưa con cho ông bà nội rồi vô Sài Gòn kiếm sống. Mấy tháng đầu nó còn gởi tiền về nuôi con, sau đó biệt tăm không thấy gì nữa. Vợ chồng tui lo quá, bả ở lại coi nhà, trông nom các cháu, còn tui lặn lội vô đây định kiếm con dâu coi nó mần ăn ra sao, hay đã bị người ta lừa dối, làm hại mất rồi. Nghe nói nó ở khu kinh nước đen gần cầu Trương Minh Giảng, tui lang thang đi tìm hoài nhưng không thấy. Ban ngày đến các xóm hỏi thăm người ta, ban đêm thì ngủ nhờ trên các sạp trong chợ.. Bị kẻ gian lấy trộm hết tiền, tui không còn đồng nào, hàng ngày phải lây lất đi ăn xin để kiếm miếng ăn của khách qua đương…”.

Nghe ông cụ tâm sự, nhất là cụ lại là người cùng quê hương miền Trung, Sinh rất cảm động. Trong túi chỉ còn đủ tiền mua hai phiếu ăn cơm trưa và chiều trong ngày, cộng với ít tiền để dành, hễ xe đạp hư thì có tiền sửa. Không lẽ lại nhịn mua phiếu ăn để biếu cụ cả? Đang sức trai, lại là sinh viên, ban đêm phải thức để lo học hành, bài vở, đói bụng thì chịu sao nổi? Sinh đành nói thật với cụ rồi chỉ giữ lại đủ tiền mua hai phiếu ăn, còn lại bao nhiêu biếu hết cho cụ. Ông lão từ chối không nhận. Sinh giải thích rằng mình có tiền đi dạy kèm trẻ, mỗi tháng cũng được chút ít, một vài ngày nữa nhà chủ sẽ trả, cụ đừng lo. Bấy giờ ông cụ mới nhận. Sinh chào cụ rồi đi.

Sinh mới ngồi lên chiếc xe đạp thì bỗng cụ gọi lại: “Cậu, cậu…”, chàng rất ngạc nhiên. Lúc đó đã ngớt mưa, cụ bước tới móc trong bị ra mấy cuốn lịch cuộn tròn đựng trong chiếc bao ny lông – loại lịch khổ lớn mỗi cuốn một tờ duy nhất dùng cho cả năm – in hình cô gái bận bộ đồ tắm rất đẹp đứng trước biển nhưng thời gian đã qua từ lâu, tấm lịch trở thành “quá đát”, dùng hay không dùng thì cũng thế thôi. Cụ mở bao ny lông lấy tặng cho Sinh một tấm và nói rằng bữa cụ đi ăn xin trong một tiệm sách, hình như đại lý in lịch, ông chủ tiệm cho cụ 20 ngàn đồng rồi chợt nhớ, bảo cụ: “Có ít tờ lịch đẹp lắm nhưng bán không hết, vứt đi thì tiếc mà giữ lại cũng chẳng dùng làm gì. Ông cụ cầm giùm, hễ thấy ai thích lịch đẹp thì tặng người ta một tấm về nhà cho người ta treo…”. Ông cụ thấy lịch đẹp thật nên nhận, cả xấp có lẽ cỡ chừng mười cuốn, cụ đã cho bớt, còn lại vài cuốn bây giờ định tặng Sinh một cuốn để “đền ơn đáp nghĩa” Sinh đối xử tốt với cụ. Sinh bật cười, phòng trọ của mình nhỏ xíu trong khi tấm lịch khổ lớn, hình cô gái mặc bộ đồ tắm đứng trước biển quá đẹp, trông thật tự nhiên, tươi trẻ có lẽ còn hơn cả… hoa hậu, đem về phòng treo thật không xứng. Sinh chưa kịp chối từ thì ông cụ đã cuộn tấm lịch lại, trao vào tay chàng: “Tui nghèo quá, chẳng có gì đền đáp lại lòng tốt của cậu. Mong cậu nhận cho đặng tui đỡ tủi…”. Ông cụ tha thiết năn nỉ khiến Sinh phải nhận. Chàng cầm tờ lịch đã cuộn trên tay, chào cụ rồi ngồi lên xe, tiếp tục tới trường.

 

***

Tờ lịch treo lên vách ván được khoảng một tuần lễ thì Sinh phát hiện ra căn phòng trọ rẻ tiền có gì rất lạ: sạch sẽ hơn, được xếp đặt gọn gàng, ngăn nắp. Hình như quần áo Sinh thay ra vứt bừa bộn đã được giặt và treo lên đàng hoàng. Trên nền phòng có dấu vết của cái chổi quét qua. Đôi khi Sinh về sớm lại thấy trong phòng thoang thoảng mùi thơm nhè nhẹ. Tuy thế, tuổi trẻ vốn vô tư, Sinh chỉ thoáng nghĩ rồi lại tập trung cho việc học, nhất là cái dạ dày còn mấy hôm nữa mới hết tháng mà tiền mua phiếu ăn thì sạch rồi, phải làm sao cho qua kỳ “giáp hạt” này? Thật ra trong giới sinh viên có những cách giải quyết rất “trí tuệ”: 3 người chỉ ăn có 2 phần cơm tức mua có 2 phiếu mỗi bữa. Nhưng chẳng lẽ cứ “ăn theo” bạn suốt mấy ngày liền, khiến bạn cũng “đọi”? Hơn nữa, mỗi phần ăn dành cho mỗi phiếu ở Ký túc xá cũng chẳng no đủ gì, chẳng lẽ bắt các bạn phải chia sẻ?

Một buổi trưa nắng gắt, mùi kinh nước đen bốc lên khó chịu. Sinh nhăn mặt, đạp xe lên dốc cầu, một tay xoa cái bụng lép kẹp: “Thôi kệ, lát nữa về phòng uống ly nước lọc cho đỡ đói, nằm ngắm “người đẹp” trong tấm lịch rồi ngủ quên đi cũng được. Buổi chiều thì sẽ tính sau, có lẽ chạy đến nói với bà chủ chỗ dạy kèm trẻ ứng trước ít lương”.

Tuy nhiên, vừa dựng chiếc xe đạp ngoài hiên, mở cửa phòng bước vào, Sinh bỗng ngạc nhiên: Trên giường, đống chăn màn đã được xếp lại gọn ghẽ, ngăn nắp, còn trên chiếc bàn cá nhân thì có một ổ bánh mì thịt bọc giấy ràng dây thun, đựng trong chiếc bao ny-lông và một bịch nước mía, đá chưa tan hết, trông rất hấp dẫn.

“Của ai thế nhỉ? Chắc của người khác nhưng mình mắc đi học, làm sao họ có chìa khóa mở cửa vào được trong phòng?”. Sinh đoán không ra, sau đó lại nghĩ: “Hay của đứa bạn nào tinh nghịch, nó thấy mình treo tấm lịch hình cô gái đẹp nên nó chọc ghẹo, mua ổ bánh mì thịt và bịch nước mía với ý là của “người đẹp” hiện ra tặng cho hàn sĩ. Hễ mình ngốc nghếch kể lại chuyện đó tụi nó sẽ cười cho vỡ bụng”. Nhưng Sinh nghĩ: “Vô lý, bạn mình cũng mắc đi học, chẳng đứa nào rảnh để làm chuyện đó. Hơn nữa tụi nó cũng là con trai, đứa nào cũng làm biếng, ngủ dậy còn chả thèm gấp mùng mền huống chi lại xếp ngăn nắp cho mình thế kia!”. Cuối cùng, đang đói bụng. Sinh chậc lưỡi: “Thôi kệ, muốn của ai thì của, mình cứ ăn cái đã, mọi chuyện tính sau!”. Chàng ăn một cách ngon lành và hút hết bịch nước mía, cái bụng khỏi “làm reo” nữa!

Kể từ hôm ấy, mỗi ngày Sinh đi về phòng trọ trên chiếc bàn cá nhân luôn có sẵn thức ăn: khi gói xôi mặn, lúc ổ bánh mì thịt, khi chiếc bánh bao, đôi khi lại có một hai trái chuối, bịch nước mía hay vài cục kẹo.

Trần Sinh liếc nhìn “kiều nữ” mặc bộ đồ tắm đứng trước biển trên tờ lịch, mỉm cười nhớ lại chuyện anh chàng Tú Uyên gặp nàng Giáng Kiều trong truyện Bích Câu Kỳ Ngộ. Không lẽ thời đại này còn có giai nhân hiện ra săn sóc hàn sĩ? Nhưng nếu không phải “giai nhân” thì ai, ai hàng ngày vẫn để đồ ăn lên chiếc bàn cá nhân giúp đỡ chàng?

Một hôm Trần Sinh nhất định phải tìm cho ra “nàng tiên” đã xuất hiện trong căn phòng trọ của chàng những lúc chàng đi vắng. Sinh không tin cô gái “đứng trước biển” với bộ đồ khoe thân hình đẹp lồ lộ lại có tâm hồn mơ mộng mang tính chất tiểu thuyết trữ tình như vậy. Chàng hy vọng “nàng” là một cô gái con nhà nghèo, ăn mặc đơn giản với mái tóc dài, gương mặt dịu dàng thùy mị và… đẹp. Đàn ông ai chả mơ ước mình có người yêu đẹp va dịu dàng thùy mị? Ủa, đẹp nhưng nghèo thì làm sao có tiền mua bánh mì, bánh bao, nước mía cho “chàng”? Bởi vậy trong truyện cổ tích, những người đẹp như Giáng Kiều thường là “nàng tiên”, họ có phép lạ nên không bị nghèo.

Một sáng đẹp trời, nắng vàng trải nhẹ trên dòng kinh nước đen, Sinh ra khỏi nhà trọ một lúc giả bộ đi học như mọi ngày rồi đạp xe quay trở về. Cửa phòng trọ khép hờ, bên trong có tiếng chổi quét nhà và tiếng hát nho nhỏ vọng ra: “Ngày xưa xa xôi em rất yêu màu tím. Ngày xưa vô tư em sống trong trìu mến…”. Thôi đúng rồi, đúng là “nàng tiên” rồi. Trần Sinh đẩy cửa bước vào. “Nàng tiên” đang quét nhà, đứng ngỡ ngàng với mái tóc cắt ngắn, với đôi mắt to và đen lay láy. Tự nhiên nàng đỏ mặt thẹn thùng vì “bị” người khác bắt gặp mình hát mặc dầu nàng hát khá hay, giọng nàng trong như tiếng suối.

– Cô hát hay lắm cô Giáng Kiều ạ.

– Ủa, em đâu phải Giáng Kiều? Em tên Ngọc Lan anh biết rồi mà!

– Kệ, tôi cứ gọi cô tên Giáng Kiều còn tôi tên Tú Uyên. Chúng ta gặp nhau trên cầu Bích Câu. Cô có biết truyện Bích Câu Kỳ Ngộ không?

“Nàng tiên“Giáng Kiều bật cười:

– Hông, em chỉ biết cầu Trương Minh Giang khu kinh nước đen. Ở đấy có anh chàng Tú Uyên sinh viên Đại học Bách Khoa nghèo quá trời quá đất, em phải mua bánh mì cho ảnh ăn kẻo ảnh đói bụng, đêm không học được.

Trần Sinh cũng cười:

– Cám ơn em. Vậy mà anh không nghĩ ra vì không thể tưởng tượng đấy là đồ “tiếp tế” của cô út xinh đẹp con bà chủ nhà.

– Em mà xinh đẹp cái gì, xấu òm!

– Xấu được như em thì thiên hạ không còn ai đẹp nữa. Sau này anh ra trường…

– Em cũng sắp ra trường, làm giáo viên tiểu học và sẽ để dành tiền, chúng mình… kết đôi với nhau, được không anh?

– Được chứ, anh rất mong được như vậy.

Đúng thế, còn một năm nữa thì Ngọc Lan ra trường và trở thành giáo viên tiểu học. Nàng là con gái bà chủ nhà cho thuê phòng trọ nên biết rõ Trần Sinh là chàng sinh viên nghèo (sinh viên thì ai chả nghèo!) nhưng học Đại học Bách Khoa, sẽ ra kỹ sư, siêng năng, cần mẫn, tính nết lại vui vẻ và giàu tình cảm. Nàng thầm yêu chàng từ lâu nên ngầm giúp đỡ để chàng yên tâm học hành.

Con gái thời buổi này khôn thế đấy, trồng cây từ lúc hạt chưa nẩy mầm. Với ân tình đó, “Tú Uyên” sẽ biết ơn “Giáng Kiều” và sẽ… không bao giờ uống rượu để có lúc phải ăn hối lỗi như trong truyện Bích Câu Kỷ Ngộ. Hy vọng như vậy.

Đoàn Dự

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Tự Tình Tháng 10

Tháng mười đến nhẹ nhàng gõ cửa
Kéo về đây những đợt mưa chiều
Thu phố vắng cô đơn mấy độ?
Để ân tình hóa vết phong rêu

Khói thuốc trắng lạnh lùng im vắng
Phố bây chừ không bóng mây bay
Bởi trời đất khoác khăn choàng xám
Đông tạ tàn mới rụng chiều nay

Tháng mười đến, không lời mừng gọi
Bản nhạc nào khuấy động hoang vu?
Những loài chim bay đi tìm nắng
Ta đứng đây nuốt cả sa mù

Đông nơi này rét gầy vai áo
Phố ước ao lọn gió nhu mì
Người thương hỡi nhớ nhung mấy độ?
Để bây chừ lạc khúc tình si

Mai thức dậy, trời xanh nắng đổ
Chắc tim ta vẫn nặng u hoài
Ai đem cả mùa đông xuống phố?
Chia cho đời chút lạnh tàn phai!

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

68 năm âm nhạc Lam Phương

Khoảng 700 người đã tham dự Chương Trình Lam Phương, Tình Người và Tình Quê tại Schlesinger Concert Hall, Alexandria, Virginia vào chiều Chủ Nhật, 15-10-2017. Điều này cho thấy Nhạc Sĩ Lam Phương vẫn được nhiều người yêu âm nhạc ngưỡng mộ cho dù ông năm nay đã 80. Chương trình kéo dài 4 giờ bao gồm 40 bài do chính Nhạc Sĩ Lam Phương chọn lọc và trao cho 8 ca sĩ trình bầy: Anh Dũng, Diễm Liên, Hà Thanh Xuân, Hồ Hoàng Yến, Mạnh Quỳnh, Ngọc Hạ, Thanh Tuyền, và Thế Sơn. Ban nhạc Hoàng Thi Thi từ bên California qua. Âm thanh: Kỹ Sư Việt Anh. MC là Ô. Hoàng Vi Kha. Giới thiệu chương trình: Ô. Đào Trường Phúc và Nguyễn Thu Thủy. Ông bầu của chương trình là BS Nguyễn Tấn Phước, cháu của Nhạc Sĩ Lam Phương. Lâu lắm vùng thủ đô Hoa Kỳ mới có một chương trình ca nhạc Việt Nam khá vĩ đại và đặc biệt như thế này.
 
 
Một số bài nổi tiếng của Lam Phương đã được trình diễn gồm có Khúc Ca Ngày Mùa, Đoàn Người Lữ Thứ, Chiều Thu Ấy, Đèn Khua, Thu Sầu, Tình Bơ Vơ, Trăm Nhớ Ngàn Thương, Phút Cuối, Em Là Tất Cả, Mưa Lệ, Thiên Đàng Ái Ân, Em Đi Rồi, Một Mình, Tình Đẹp Như Mơ, Bài Tango Cho Em, Xót Xa, Cho Em Quên Tuổi Ngọc, Hạnh Phúc Mang Theo.
 
Nhạc hay, hát hay, âm thanh hay. Nói chung là buổi trình diễn 68 Năm Âm Nhạc Lam Phương thành công mỹ mãn. Đây là một món quà vô giá mà gia đình của Nhạc Sĩ Lam Phương, nhóm Nhà Việt Nam / Tinh Hoa Nước Việt và khán thính giả miền Đông Hoa Kỳ đã dành cho ông.
 
Dưới đây là bài giới thiệu Nhạc Sĩ Lam Phương của LS Phạm Đức Tiến. Hình ảnh là của Nguyễn Quốc Khải. Chúng tôi rất tiếc là không được phép xử dụng đèn chớp khi chụp hình trên sân khấu. Do đó, một số hình ảnh trong thính đường không được rõ.
 
 
 
oo0oo
 
Chiều nay chúng ta chào đón một nghệ sĩ đã có một quá trình đóng góp to lớn vào nền âm nhạc Việt Nam. Đóng góp của ông không những nhiều về lượng, mà phong phú cả về phẩm; không những chỉ là tình ca mà cả về tình quê hương, cũng như về nỗi niềm chiến tranh lẫn nỗi niềm lưu vong.
 
Nhạc sĩ Lam Phương hôm nay đã tới vùng Hoa Thịnh Đốn với chúng ta khi mùa lá vàng rực rỡ đang khởi đầu cho một mùa đẹp nhất của vùng này: mùa thu. Mùa thu đúng là mùa của âm nhạc, của thi ca.
 
Thực ra tôi phải dùng chữ nhạc sĩ Lam Phương trở về lại Virgia mới đúng. Vì 42 năm trước đây, khi di tản khỏi quê hương, nhạc sĩ Lam Phương đã chọn Virginia làm nơi định cư đầu tiên. Và mười hai năm trước chúng ta cũng đã có một chương trình nhạc Lam Phương ngay trong hội trường này.
 
Chính tại Virginia, Lam Phương, từ một nhạc sĩ tài hoa, thành công và giầu có của Saigon, đã thành một người lao động tay chân để kiếm sống. Trong những năm tháng đầu tiên nơi quê người với những khó khăn tưởng như tuyệt vọng, nguồn cảm hứng của nhạc sĩ trở nên khô cạn. Trong thời gian đó ông không nghĩ một ngày nào đó ông có thể soạn nhạc lại.
 
Vây mà chỉ vài năm sau nguồn hứng khởi đã trở lại. Dòng nhạc mới của ông lại xuất hiện với tâm sự cũa một người di tản buồn. Buồn trong tình cảm, buồn trong cô đơn, buồn trong cay đắng lưu vong. Và nhạc của ông đã được đón tiếp nồng nhiệt. Nồng nhiệt như với những bài nhạc ông sáng tác mấy chục năm trước khi còn trong nước.
 
Từ khi sống ở hải ngoại, ông sáng tác nhiều bài với những âm hưởng mới, mang dấu vết nhạc cổ điển Tây Phương, nhưng tất cả đều chứa đựng tâm sự của một người lưu vong, chứa chất sầu đau của những người bị bật rễ ra khỏi quê hương.
 
Nhạc của ông được đón tiếp nồng nhiệt cũng vì nó đã cất lên chính tâm trạng của những người lưu vong như chúng ta.
 
 
 
Sinh năm 1937 tại Rạch Giá, nhạc sĩ Lam Phương đã lên Saigon học, và ông sáng tác ca khúc đầu tay “Chiều Thu Ấy” khi mới 15 tuổi. Ông đã tự in, và tự thuê xe chở đi bán khắp Saigon. Ba năm sau thì mọi người đều nhắc tới tên Lam Phương với hai sáng tác “Kiếp Nghèo”, và “Khúc Ca Ngày Mùa”. Từ đó tên tuổi ông gắn liền với nền âm nhạc miền Nam.
 
Những tác giả lớn luôn mang theo sứ mạng của một người sáng tác; đó là mỗi tác phẩm phải phản ảnh kỷ nguyên của mình, và phải chia sẻ tâm trạng của những người sống cùng thời mình, những người chịu chung biến cố lịch sử với mình.
 
Lam Phương đã là một trong những tác giả đó. Ông trải lòng mình theo chiều dài lịch sử. Nhạc của ông đã chuyên chở những tâm tình, vui buồn của thời đại ông sống. Ông không chỉ là chứng nhân, ông là một phần của lịch sử, thực sự dấn thân vào những thăng trầm của thời đại mình.
 
Khi đất nước chia đôi năm 1954 ông đã ghi lại tâm sự người di cư với “Chuyến Đò Vĩ Tuyến”, “Sầu Ly Hương”.
 
Rồi khi miền Nam đang hưởng thanh bình, chúng ta có niềm vui rộn ràng trong “ Nắng Đep Miền Nam”, “Khúc Ca Ngày Mùa”, “Trăng Thanh Bình”, cùng bao tâm sự được ông đưa vào ca khúc làm say mê bao thế hệ như “Ngày Tạm Biệt”, Kiếp Nghèo”, “Duyên Kiếp”
 
 
 
Khi chiến tranh mở rộng, những thanh niên của thời ông đều lên đường nhập ngũ, Lam Phương cũng theo dòng lịch sử, gia nhập quân đội, chia sẻ tâm tình với những người cầm súng qua bao nhiêu ca khúc về chiến tranh như “Biết Đến Bao Giờ”, “Chiều Hành Quân”, “Tình Anh Lính Chiến”
 
Rồi biến cố 75 đưa bao người phiêu bạt khắp thế giới. Mang cùng tâm sự của người lưu vong Lam Phương đã lại ghi lại những cay đắng, buồn vui qua những ca khúc mới như : “Người Di Tản Buồn”, “Lầm”, “Say”, “Bài Tango Cho Em”, “Cho Em Quên Tuổi Ngọc”,
 
Có thể nói người ta đọc được lịch sử Miền Nam qua từng thời kỳ, từ 1954 tới 1975, với nhạc Lam Phương.
 
Nhạc của ông đã chuyên chở những tâm tư khác nhau của con người, để người nghe thấy như chuyện chính mình. Đó là nỗi nhớ xa vời, đó là những cuộc tình đã quên, những chia tay chất ngất, những hồi tưởng ngậm ngùi.
 
Nhạc của ông cũng đã chứa đựng những hình ảnh gần gũi với tâm hồn con người để người nghe thấy như hình ảnh của chính mình. Đó là hình ảnh của đêm trăng, của biển vắng, của cao nguyên, của lúa vàng, của chiều mưa.
 
Nhưng có lẽ cõi nhạc lớn nhất của Lam Phương vẫn là cõi nhạc tình. Lồng trong tâm tình thời đại là tâm tình của chính ông. Mỗi khi có một mối tình đi qua đời ông, chúng ta lại được nghe vài bản nhạc mang dấu vết cuộc đam mê, hay niềm hạnh phúc, hoặc nỗi đắng cay, chua xót của cuộc tình đó.
 
 
Qua mối tình đầu với Bạch Yến, Lam Phương đã cho ra đời “Chờ Người”, “Thu sầu”, “Tình Chết Theo Mùa Đông”. Rồi sau mối tình với ca sĩ Minh Hiếu ông có ““Thao Thức Vì Em”, “Biển Tình”. Khi cuộc tình với nghệ sĩ Hạnh Dung tan vỡ ông có “Giọt Lệ Sầu”, “Thành Phố Buồn” Với người vợ Túy Hồng khi đang nồng ấm ông có “Ngày Hanh Phúc”, và khi chia tay trong đắng cay có ca khúc “Lầm”. Vài năm sau, khi tìm lại được niềm vui mới với ca sĩ Cẩm Hường bên Paris chúng ta được nghe “Bài Tango Cho Em”, “Mùa Thu Yêu Đương”.
 
Tất cả đều là những tình khúc đầy đam mê và lãng mạn, chen lẫn với xót xa và cay đắng. Lam Phương đã tâm sự với chúng ta bằng những dòng nhạc của ông, một cách chân thật và đôn hậu.
 
Chính những tình khúc đã đưa Lam Phương vào hàng đầu của nền âm nhạc trữ tìnhViệt Nam. Giai điệu trong nhạc của ông không cầu kỳ, lời nhạc của ông không bóng bẩy. Nó như phát ra từ trái tim chân thật. Đó là điều làm cho nhạc Lam Phương gần gũi với mọi người. Và đó là điều làm ông thành một trong những nhạc sỉ đươc nhiều người nghe nhất.
 
Có thể nói không sai là nhạc sĩ Lam Phương là đại biểu lớn của âm nhạc Miền Nam từ sau khi đất nước chia đôi năm 54 tới năm 75. Nhạc của ông là nhạc của đại chúng. Bình dị, chân phương, nhưng cũng rất tha thiết giống như đặc tính của người miền Nam.
 
Chiều nay chúng ta sẽ có dịp nghe lại dòng nhạc của Lam Phương, từ những ngày khởi đầu, qua những biến cố quê hương, cho tới những năm tháng lưu vong.
 
Chúng ta sẽ nghe lại tâm sự của một nhạc sĩ đã sống một đời với âm nhạc, đã thở cùng nhịp thở của miền Nam để chúng ta tìm thấy lại chính tâm sự chúng ta trong đó.
 
Nhân dịp kỷ niệm sinh nhật 80 của ông, xin cám ơn những đóng góp lớn lao của nhạc sĩ Lam Phương vào kho tàng âm nhạc Việt.. Xin cám ơn nhạc sĩ đã chia sẻ tâm sự với chúng ta, đã cho nguời thưởng ngoạn những cảm xúc chân thật, và cho người nghe thấy được tâm sự của chính mình qua những dòng nhạc của ông.
 
Với một di sản âm nhạc đồ sộ, Lam Phương thật xứng đáng có một chỗ ngồi riêng biệt trên chiếu hoa của nền âm nhạc Viêt Nam cận đại.
 
 
LS Phạm Đức Tiến, 15-10-2017
 
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Sự sống chỉ là sản phẩm của toán học?

Có một lập luận được đưa ra về Vũ trụ, theo đó Vũ trụ có vẻ như vận hành trên những đường toán học, giống như từ một chương trình máy tính.
Một số nhà vật lý học nói rằng cuối cùng thì thực tế có lẽ chẳng phải là gì hết ngoài toán học.
Max Tegmark từ Viện Công nghệ Massachusetts lập luận rằng đây chỉ là thứ mà chúng ta nhận được nếu như các định luật vật lý được dựa trên một thuật toán được điện toán hóa.
https://baomai.blogspot.com/
Tuy nhiên, lập luận đó có vẻ như loanh quanh.
Nếu như các trí tuệ siêu việt đang vận hành các môi trường giả lập của chính thế giới “thực sự” của họ, thì họ có thể phải dựa trên những nguyên tắc vật lý của chính vũ trụ mà họ đang tồn tại, giống như chúng ta phải tuân theo các nguyên tắc vật lý trong vũ trụ của chúng ta vậy.
Trong trường hợp đó, lý do khiến vũ trụ của chúng ta là dạng thế giới hình thành từ toán học sẽ không phải là vì nó được vận hành trên một máy tính, mà bởi thế giới “thực sự” cũng tồn tại như vậy.
Ngược lại, các môi trường giả lập không phải là được dựa trên các nguyên tắc toán học. Chẳng hạn như chúng có thể được dựng lên để hoạt động một cách ngẫu nhiên.
Điều đó dẫn đến những kết quả mạch lạc hay không là điều chưa rõ ràng, nhưng vấn đề ở đây là chúng ta không thể dùng bản chất toán học của Vũ trụ để suy diễn ra bất kỳ điều gì về “thực tế”.
https://baomai.blogspot.com/
Tuy nhiên, dựa trên nghiên cứu riêng của mình về vật lý cơ bản, James Gates từ Đại học Maryland cho rằng có một lý do cụ thể để nghi ngờ rằng các định luật vật lý được định ra bởi một máy tính giả lập.
Gates nghiên cứu vật chất ở mức các hạt hạ nguyên tử như quark, các cấu thành proton và neutron trong hạt nhân nguyên tử.
Ông nói các định luật kiểm soát cách phản ứng của các hạt này hóa ra có các đặc tính giống với các mã code chỉnh sửa lỗi trong máy tính. Vậy có lẽ những định luật này thực sự là các mã code máy tính chăng?
Có thể là vậy.
Mà cũng có thể là cách diễn giải theo đó cho rằng các định luật vật lý này chính là các mã code chỉnh sửa sai sót chỉ là một ví dụ mới nhất về cách thức chúng ta thường áp dụng để diễn giải tính tự nhiên của nền tảng các công nghệ tân tiến của chúng ta.
https://baomai.blogspot.com/
Xét về gốc rễ, rất có thể Vũ trụ chỉ là sản phẩm toán học
Đã từng có lúc các hệ thống cơ học theo lý thuyết của Newton dường như khiến cho Vũ trụ có thể được diễn giải là một cỗ máy cơ khí, và trong thuở bình minh của thời đại máy tính, di truyền học được coi là một dạng mã code kỹ thuật số với chức năng lưu trữ và thể hiện. Chúng ta có thể chỉ đơn thuần là đã lo lắng quá mức về các định luật vật lý mà thôi.
Có vẻ như sẽ vô cùng khó khăn, nếu không nói là không thể, trong việc tìm ra những bằng chứng thuyết phục cho thấy chúng ta đang sống trong một môi trường giả lập.
Lý do là bởi nếu môi trường giả lập mà chúng ta đang tồn tại ở trong là hoàn hảo, không phạm phải lỗi sai sót nào, thì ta khó lòng thực hiện được một thử nghiệm cho kết quả ngược lại.
https://baomai.blogspot.com/
Nhà vật lý thiên văn từng đoạt giải Nobel George Smoot cho rằng chúng ta có thể sẽ không bao giờ biết được điều đó, đơn giản là bởi tâm trí của chúng ta không sẵn sàng để thực hiện nhiệm vụ đó.
Sau hết, bạn thiết kế ra các mẫu trong một môi trường giả lập nhằm khiến nó hoạt động theo các quy tắc bạn đề ra chứ không phải để lật đổ bạn.
Điều này có thể là giới hạn mà chúng ta không thể nghĩ cách để vượt ra khỏi giới hạn đó được.
https://baomai.blogspot.com/
Tuy nhiên, có một lý do sâu sắc hơn về việc có lẽ vì sao mà chúng ta không nên lo lắng quá mức về ý nghĩ cho rằng chúng ta chỉ là những đối tượng bị điều khiển bởi một hệ thống máy tính khổng lồ. Bởi đó là điều mà một số nhà vật lý học tin rằng đó chính là cách mà thế giới ‘thật’ tồn tại.
Bản thân thuyết lượng tử đang ngày càng được diễn giải bằng các thuật ngữ tin học và máy tính. Một số nhà vật lý cảm giác rằng ở mức độ căn bản nhất thì thế giới tự nhiên không phải là thuần túy toán học mà là thuần túy thông tin: các bit, giống như các số 1 và số 0 của máy tính.
Theo quan điểm này, tất cả những gì xảy ra, từ các hoạt động tương tác của các hạt căn bản trở đi, đều là một dạng điện toán hóa.
https://baomai.blogspot.com/
“Vũ trụ có thể được coi như một máy tính lượng tử khổng lồ,” Seth Lloyd từ Viện Công nghệ Massachusetts nói. “Nếu nhìn vào ‘phần ruột’ của Vũ trụ – tức cấu trúc vật chất ở quy mô nhỏ nhất – thì phần này không có gì ngoài những bit [lượng tử] trong các hoạt động kỹ thuật số cục bộ.”
 
Đây chính là điểm trọng yếu. Nếu thực tế chỉ là thông tin, thì chúng ta không còn là ‘thực’ bất kể chúng ta có sống trong môi trường giả lập hay không. Bởi dù có thế nào đi chăng nữa thì rốt cuộc chúng ta cũng chỉ là những chuỗi thông tin.
Tiếp nữa, có gì khác nhau không giữa việc các thông tin được lập trình bởi thế giới tự nhiên hay bởi các đấng tạo hóa có trí tuệ siêu việt? Cũng thế thôi, chẳng có gì quan trọng nếu có sự khác biệt – ngoại trừ việc nếu không phải là chúng ta được thế giới tự nhiên sinh ra thì các đấng tạo hóa về mặt lý thuyết có thể can thiệp được vào môi trường giả định mà chúng ta đang tồn tại, thậm chí có thể ‘tắt’ nó đi. Chúng ta sẽ có cảm giác thế nào về chuyện đó? 
Hãy sống tốt
image
Tegmark, nhà vũ trụ học vô cùng quan tâm tới khả năng này, cho rằng chúng ta tốt hơn cả là hãy bước ra và làm những điều thú vị với cuộc sống của mình, để đề phòng khả năng các đấng tạo hóa nhìn vào và thấy chán về những điều buồn tẻ mà chúng ta làm.
Sau hết, rõ ràng là có những lý do để người ta muốn có cuộc sống thú vị hơn thay vì bị xóa sổ. Nhưng nó lại vô tình phản bội một số vấn đề của nguyên lý tổng thể.
 
Ý tưởng cho rằng các đấng tạo hóa siêu nhiên nói rằng “À kìa, thứ này hoạt động dở quá – thôi thì cho nó nghỉ luôn rồi làm cái mới” là câu đùa khôi hài trong thuyết hình người. Giống như bình luận của Kurzweil về một dự án học đường, chuyện hài này tưởng tượng ra các ‘đấng tạo hóa’ của chúng ta là những bạn trẻ tuổi teen bồng bột với các bộ Xbox trong tay.
https://baomai.blogspot.com/
Vũ trụ của chúng ta có thể giống như một cỗ máy tính lượng tử
 
Việc thảo luận về ba khả năng mà Bostrom nêu ra liên quan tới thứ tương tự như thuyết duy ngã. Đó là một nỗ lực nhằm nói một cách sâu sắc về Vũ trụ bằng cách ngoại suy từ những gì mà nhân loại trong thế kỷ 21 đã biết.
Lập luận được đưa ra là: “Chúng ta làm ra các trò chơi điện toán. Hẳn là các sức mạnh siêu nhiên cũng làm được, chỉ có điều họ làm ở mức tuyệt hảo.”
Trong nỗ lực tưởng tượng ra xem các trí tuệ siêu việt có thể làm gì, hay thậm chí các trí tuệ đó gồm những gì, chúng ta không có mấy lựa chọn ngoài việc phải bắt đầu từ chính chúng ta.
Rõ ràng là không có chuyện tình cờ khi nhiều người ủng hộ ý tưởng về ”vũ trụ giả lập” thừa nhận rằng họ khi còn trẻ là các fan cuồng nhiệt của khoa học viễn tưởng. Điều này tạo cảm hứng khiến họ bay bổng trí tưởng tượng để nhìn vũ trụ từ khung cửa sổ của tàu không gian trong phim viễn tưởng.
Elon Musk hầu như chắc chắn không tự nhủ với bản thân rằng những người mà ông nhìn thấy xung quanh, gồm cả bạn bè và gia đình ông, chỉ là do máy tính tạo nên bằng những dòng dữ liệu được nhập vào hệ thống.
https://baomai.blogspot.com/
Ông không làm vậy một phần bởi chuyện lưu giữ ý tưởng đó trong đầy một thời gian dài là điều không thể.
Quan trọng hơn nữa, chúng ta đều hiểu một cách sâu sắc rằng ý niệm về thực tế chỉ thực sự có giá trị khi đó là thực tế mà mà ta trải qua chứ không phải là thứ thế giới nào đó ‘đứng đằng sau’.
Tuy vậy, không có gì mới mẻ trong việc hỏi cái gì ‘đứng đằng sau’ vẻ bề ngoài và những cảm xúc mà chúng ta trải nghiệm. Các nhà triết học đã làm vậy trong hàng thế kỷ rồi.
Plato tự hỏi sẽ ra sao nếu thực tế mà chúng ta nhận được lại giống như bóng đen đổ lên những bức vách trong hang. Immanuel Kant khẳng định rằng trong lúc có thể có một số ‘thứ ở bên trong chính nó’ nằm dưới vẻ ngoài mà chúng ta nhìn thấy, nhưng chúng ta không bao giờ biết được thứ đó. René Descartes chấp nhận rằng ‘Tôi nghĩ, cho nên tôi tồn tại’, rằng khả năng suy nghĩ chính là tiêu chuẩn duy nhất để xác định việc chúng ta tồn tại.
https://baomai.blogspot.com/
Nhưng cho tới khi ta có thể chứng minh được rằng nêu ra được những khác biệt giữa những điều chúng ta trải nghiệm và những điều ‘thực tế’ dẫn đến sự khác biệt có thể thể hiện ra trong điều mà chúng ta có thể quan sát hoặc làm được, thì nó không làm thay đổi quan niệm của chúng ta về thực tế theo cách thức có ý nghĩa.
 
Philip Ball
https://baomai.blogspot.com/
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Chữ Nghĩa Văn Chương

Khi thấy con cháu cứ thích đàn đúm với đám bạn bè, mà các bậc ông bà cha mẹ không ưa, nhưng chẳng biết làm sao. Chúng ta thường nghe các cụ than thở: ngưu tầm ngưu, mã tầm mã.

Thật sự ra câu tục ngữ đó chỉ ngụ ý những người cùng sở thích đi tìm lẫn nhau. Tuy nhiên đã từ lâu, con người vốn có ý khinh miệt loài vật, ngu như bò, làm như trâu, chạy như ngựa. Vì thế hễ cái gì xấu xa thì mang thú vật ra ví.

Bà mẹ về không thấy cô con gái lớn ở nhà, hỏi ra thì biết cô  đang say sưa hát Karaoke với đám bạn đầu ngõ, chẳng lo cơm nước gì cả. Nhà cửa lạnh tanh, con trai thì đang sát phạt bài cào bên nhà hàng xóm. Chồng thì chưa tới nửa đêm là chưa về nhà, ông còn đang ngất ngưởng nhậu với các bạn ở các quán vỉa hè.. Bà vợ chỉ biết chép miệng than: ngưu tầm ngưu, mã tầm mã. Cha nào con nấy.

Trong văn chương người ta gọi những người cùng sở thích là những người cùng hội cùng thuyền. Hội nhà văn, hội nhà báo, hội tao đàn… những người trong những hội này chắc chắn không phải là những người vai u thịt bắp, ăn no vác nặng. Những người phải dùng tim óc để cho ra những bài thơ, bản nhạc hay những áng văn tuyệt tác, những người mình hạc xương mai, trói gà không chặt.

Cha mẹ nào cũng muốn con mình sau này có cuộc sống đỡ vất vả. Mà muốn đỡ vất vả thì phải có công ăn việc làm cụ thể, thực tế như Bác Sĩ, Kỹ Sư, chứ đàn ca hát xướng thì không khá được.

Thành văn sĩ, nhạc sĩ, thi sĩ, họa sĩ, dĩ nhiên sẽ được rất nhiều người ngưỡng mộ, với điều kiện phải thật giỏi, xuất sắc mới kiếm được tiền. Còn làm thợ, y tá, kỹ sư, bác sĩ cỡ nào cũng vẫn có người thuê mướn.

Bởi vậy thi sĩ Vũ hoàng Chương được xưng tụng là Thi Bá, vẫn sống bằng nghề dạy học. Nguyên Sanhà thơ, cũng là ông thầy dạy triết, và là Hiệu Trưởng trường Văn Học ở Sàigon. Nhạc sĩ Lê Vân Tú bảo rằng mê nhạc từ bé, nhưng cha mẹ không cho. Ông cũng phải học cho thành Giảng Sư toán lý của Đại Học Khoa Học. Qua Úc thành Khoa Trưởng một trường đại học. Ông bảo rằng bây giờ (đã qua tuổi cổ lai hy)  ông mới tha hồ viết nhạc.

Cơm áo gạo tiền là cái thực tế mà mấy ông làm thơ, viết văn cứ lơ mơ như ở trên mây, bởi vậy mới chật vật về cuộc sống hàng ngày. Trong khi văn chương hạ giới rẻ như bèo. Thi sĩ Tú Xương chẳng có làm bất cứ việc gì ngoài chuyện làm thơ. Vợ thì quanh năm buôn bán ở mom sông, nuôi đủ năm con với một chồng. Cái gì cũng phó mặc cho “mẹ đĩ”. Ông cũng biết một đàn rách rưới con như bố. Thế mà nhất định không làm gì hết, chỉ có làm thơ, thảnh thơi thơ túi rượu bầu. Tài thật, hèn chi khi nghe ông hỏi, bà cũng trả lời “rằng hay thì thật là haykhông hay sao lại đậu ngay tú tài”. Thời xưa không có “mục” li dị, chứ như bây giờ, ông chẳng có  tối rượu Sâm Banh, sáng sữa bò nữa đâu. Cứ xem như nhạc sĩ Trúc Phương làm biết bao nhiêu bản nhạc tình ca tụng tình yêu, xúc động hàng vạn  trái tim. Nhưng cũng chẳng có trái tim nào mủi lòng cho ông ở nhờ, đành lê lết ngủ ở bến xe đò. Nhạc sĩ tài hoa mà sao cuộc đời cơ cực.

Những người thực tế đã khuyên các cô ĐỪNG YÊU NGƯỜI LÀM THƠ, thà lấy anh bán phở, nói năngdùi đục chấm mắm cáy, vậy mà no bụng.

Nhà văn Nguyễn Vỹ đã từng than thở “nhà văn An Nam khổ như chó”, bởi vì tiền kiếm được không nuôi nổi bản thân. Còn Tản Đà thì bảo “văn chương hạ giới rẻ như bèo”. Thưa cụ, câu này không còn hợp thời nữa rồi, trong nước bây giờ họ nói bèo cũng chẳng còn. Sông rạch ô nhiễm, mọi thứ đã chết hết cả, chẳng có lục bình hay bèo bọt nữa đâu. Đừng ví cuộc đời em như lục bình trôi giạt nơi nào. Tất cả bèo và lục bình trôi tuốt qua bến Hàn    (Quốc) Đài (Loan) cả rồi.

Các anh trai làng bây giờ đều mang tâm trạng như Nguyễn Bính, cùng một nỗi niềm:

Hôm qua em đi tỉnh về,

Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều.

Cứ đếm xem có bao nhiêu ca sĩ trong nước lấy chồng Mỹ. Vì tiếng gọi của con tim? hay đó là cách duy nhất để vào Mỹ bằng tờ hôn thú. Diện con cái thì các cụ chết hết cả rồi, diện anh em lấy đâu ra. Kiếm một chàng mắt xanh tóc vàng là nhanh nhất. Cái cột đèn còn muốn đi nữa là.

Chủ nghĩa thực dụng bây giờ đã lan tràn khắp chốn, người ta không còn thích có con trai nữa. Có con gái gả cho Đài Loan, Hàn Quốc kiếm tiền xây nhà, mua xe le lói với bà con chòm xóm.. Biết bao nhiêu anh chàng đã đau khổ vì bị  sinh ra làm thân con trai: trai tài gái sắc. Vậy là đua nhau chuyển giới để thành những cô gái mỹ miều, họ cho rằng cứ là con gái là kiếm tiền bằng nghề không vốn.Lòng tự trọng và liêm sỉ là cái gì đó thật mơ hồ.Đừng hãnh diện và cũng đừng mặc cảm về những cái không do mình làm ra: có cha mẹ giàu, có vẻ đẹp mỹ miều… Ngày xưa khi còn bé, tôi đã ngẩn ngơ khi thấy cô Nha Sĩ “đẹp ơi là đẹp”, tôi về kể lại cho các bạn. Cô đẹp đến độ tôi cứ líu ríu nghe lời cô, há miệng cho cô nhổ răng, mà chả kêu khóc gì cả. Để rồi được nghe cô khen với lời dịu ngọt và cái vuốt má êm dịu làm tôi đê mê. Còn anh chàng  Nick Vujicic bên Úc sinh ra chẳng có tay chân, anh chẳng đổ thừa cho ai cả, đã tự cứu mình, chứng minh mình vẫn còn ích lợi, ít nhất cho bản thân ngay từ khi còn rất bé. Anh vẫn cám ơn Chúa, dù sao anh cũng có được bộ óc thông minh hơn người. Anh đã chứng tỏ mìnhtàn mà không phế cũng  học xong đại học, cũng bơi chơi đàn như người bình thường. Chu du diễn thuyết để giúp cho giới trẻ và những người khiếm khuyết hãy tự tin, vươn lên tự giúp mình và giúp đời.

Có một tác phẩm mà tôi đã quên tên. Nói về một người nô lệ có bộ mặt gớm ghiếc nhưng rất thông minh. Một bữa kia có ông Hầu Tước, mua được anh nô lệ này, mang về làm người hầu cho vợ. Khi vừa thấy anh, bà vợ che mắt rú lên kinh hãi như vừa thấy ma quỷ hiện hình. Nhưng sau đó bà chợt nhận ra sự lố bịch của mình. Nhưng anh nô lệ vẫn ôn tồn: thưa bà, ai khi trông thấy tôi, họ cũng cùng phản ứng như bà thôi, tôi đã quen rồi. Sợ rằng ông chồng sẽ trả lại món hàng. Anh nô lệ năn nỉ xin bà cho tôi được hầu hạ bà. Tôi tin rằng bà sẽ không chọn lầm đâu.

Anh nô lệ không dám nhận mình là người, xã hội lúc đó không công nhận anh là người. Anh chỉ là món đồ cho những người được gọi là người đổi chác.

Sau một thời gian ngắn, bộ mặt gớm ghiếc của anh đã hầu như mờ nhạt, bà Bá Tước chỉ thấy hình ảnh một con người thông minh duyên dáng. Bà chỉ muốn nói chuyện với anh nô lệ cả ngày. Còn ông chồng thì xấu xí, ngớ ngẩn, nói năng thì “ngữ bất đồng tâm, bán cú đa”.

Một bữa kia ông chồng hoảng hốt chạy về nhà, bên ngoài dân chúng la ó bắt ông phải giữ lời hứa. Ông không biết làm sao, vì trước kia ông đã nói rằng: nếu ông không giúp dân ngăn chận được ngoại xâm, thì ông sẽ uống hết nước biển.. Nay quân thù đang vượt qua biên giới. Dân chúng bắt ông phải giữ lời hứa, trước khi toàn dân cùng đồng lòng đoàn kết chống lại quân thù. Bà vợ thở dài, bây giờ người ngoài mới biết ông là đồ vô dụng. Còn bà thì đã nhìn thấy từ lâu, một thứ tốt mã rẻ cùi.

Bà chợt nhớ ra anh nô lệ. Khi hiểu ra câu chuyện, anh nô lệ nói rằng anh sẽ cứu ông thoát chết, với điều kiện ông phải trả tự do cho anh. Dĩ nhiên Bá Tước phải đồng ý. Anh nói rằng ông cứ bình tĩnh nói với đám đông đang la ó: ông đồng ý uống hết nước biển, nhưng với điều kiện phải chận các con sông lại.

Như giao ước từ nay anh nô lệ đã được tự do, bà Bá Tước tan nát cả cõi lòng, bà đã yêu anh tự bao giờ.

Bên VN các bà các cô đua nhau qua Nam Hàn sửa sắc đẹp. Họ khoác lên người đủ thứ hàng hiệu, họ khoe đủ thứ tiện nghi vật chất từ xe đến nhà. Họ giống như những con búp bê, đầu óc rỗng tuểch. Toàn đồ giả! Mọi thứ đều nghi ngờ.

Khi làm ra đồ giả, có nhà sản xuất nào ghi chú: đây là đồ copy.  Nhưng lúc ra sân khấu lại  được giới thiệu ca sĩ chuyển giới. Chỉ có xem youtube thôi, mà tôi đã thấy nhột. Tội nghiệp cho cái cô imitate đó quá. Nếu khán giả xem tắc lưỡi hít hà khen đẹp, thì cũng an ủi cho người đã chấp nhận giảm bớt tuổi thọ, và chịu bao đau đớn của dao kéo để có ngày hôm nay, đằng này cứ oang oang “đồ giả, không phải đồ thiệt” đâu. Vô nhân đạo, bất lịch sự!

Tìm hiểu cuộc đời của các nhà văn nhà thơ tiền chiến. Những người chết trong nghèo khó vì không cónghề tay trái, phương tiện sinh nhai của họ chỉ bằng văn chương chữ nghĩa. Thơ văn chỉ viết được khi có cảm hứng, bởi vậy thi sĩ Tản Đà rất  ngông. Thơ của ông dĩ nhiên là tuyệt tác, vì vậy mấy ông chủ báo sẵn sàng đưa nhuận bút trước khi đưa bài. Người ta mua báo chỉ để đọc thơ của Tản Đà.

Tiền thì tiêu hết, báo đã lên khuôn, chỉ chờ bài của ông là cho ra lò. Năm lần bẩy lượt cũng chẳng thấy bài, cuối cùng ông nói thẳng làm thơ không phải chẻ củi, nên không phải lúc nào làm cũng được. Ông có cái lý của ông, đứa con tinh thần của ông không thể là những đứa con èo uột. Giá trị ở phẩm chứ không phải ở lượng. Nhạc sĩ Đặng thế Phong chỉ có 5 bản nhạc để lại cho đời, nhưng tất cả đều là tuyệt tác.

Bây giờ người ta phải sống bằng hai con người khác nhau. Ngày thường thì là người trần mắt thịt, để lo cho cuộc sống cơm áo gạo tiền. Vì thế đừng ngạc nhiên nếu thấy ông thi sĩ này làm chủ tiệm phở, bà văn sĩ kia làm chủ tờ báo. Các cụ đã bảo phi thương bất phú, không buôn bán làm sao giàu. Nhưng buôn bán thì  phải mánh lới mưu mẹo vi phú bất nhân. Khi làm thương mại, họ hiện rõ bản chất, chửi nhau vì quyền lợi, cãi nhau như mổ bò, khẩu chiến, bút chiến, đưa nhau ra tòa cho thân bại danh liệt.

Nhà văn nhà thơ tiền chiến như Nguyễn Bính, Vũ trọng Phụng chết trong nghèo đói vì chỉ sống bằng ngòi bút. Bây giờ nếu chỉ sống bằng thơ văn thì đời tàn trong ngõ hẹp. Thời đại Internet có mấy ai mua sách, mấy ai có nhuận bút. Nhạc có hay mà không có đất dụng võ thì cũng không ai biết. Nói thế không có nghĩa không có người đột nhiên nổi tiếng như trường hợp tác giả loạt sách giả tưởng Harry Potter.

Nhưng độc giả Âu Mỹ khác với dân mình, họ trân quý nhân tài, mọi thứ tốt đẹp họ vinh danh cho tác giả khi họ còn sống. Chứ không đợi tới khi nhắm mắt mới làm lễ tuyên dương tưởng niệm. Cỗ bàn dẫu có long trọng thì cũng người sống hưởng.

Văn thơ nhạc họa bây giờ coi như nghề tay trái. Tổng Thống khi về hưu mới viết sách. Hàng ngày phải sống bằng nghề tay phải: Bác Sĩ, Kỹ Sư, Luật Sư…

Làm chủ tiệm nước mắm, tuy mùi hương tưởng nhớ có khó chịu, nhưng tiền thu vào thì dễ chịu. Dẫu khi chất nước mắm lên xe cho khách, vẫn nhớ đến câu “Câu thơ thi xã, con thuyền Nghệ An (chở nước mắm)”.

Ban ngày làm Bác Sĩ mổ tim (thiệt), rồi ban đêm thành thi sĩ mở cửa trái tim. Con tim (Bác Sĩ) sẽ vui trở lại. Muốn mơ mộng      (không ai cấm), nhưng vợ con và ngay bản thân mình cũng phải có thực mới vực được đạo.

Như vậy thơ văn là mộng, mưu sinh là thực. Mộng và thực bồng bềnh xen kẽ trong đời sống con người. Lúc mộng lúc thực, có thế đời mới thăng hoa đáng sống.

Ngày xưa tôi vẫn nhớ hoài những bài Études de texts của Thầy Rock Cường dạy Pháp Văn, nói về ý nghĩa của sách, cờ, bếp lửa, tấm màn che. Sách là người bạn tốt, sách giúp ta hiểu mọi điều, đưa ta đến chân trời góc bể, vì vậy người không biết chữ, không đọc được sách được ví như người mù. Cờ là biểu tượng cho quê hương mình, ý nghĩa của cờ vô cùng thiêng liêng: tung bay dẫn đầu đoàn quân khi chiến thắng trở về quê nhà, cờ như mẹ hiền ôm ấp hình hài những đứa con khi gục ngã nơi chiến trường, chiến đấu để bảo vệ màu cờ tổ quốc. Bếp lửa còn có nghĩa là gia đình, hình ảnh mọi người quây quần quanh bếp lửa, là hình ảnh gia đình, nơi đó cho ta cảm giác ấm áp yêu thương. Mỗi người đều có một tấm màn che vô hình bao quanh, sự cảm thông hay thái độ của ta với người đối diện, tùy thuộc vào bức màn. Có người chỉ được phép thấy một chút ít phía trên, còn người tri kỷ, tâm giao là những người mà bức màn đã hạ xuống hoàn toàn.

Tất cả mọi cách đối nhân xử thế, chúng ta đều được học qua sách vở, qua văn chương báo chí, qua phim ảnh, qua tiếng nhạc lời ca.

Những văn nghệ sĩ đã để lại cho đời những câu thơ tuyệt tác, những chữ khi nói lên nao nao tấc dạ:

Nước non ngàn dặm ra đi.

Vâng chúng ta đã xa lìa nước non chúng ta ngàn dặm. Chẳng phải chỉ cách nửa quả địa cầu, hai mươi giờ bay. Mà là:

Nhìn về đường cố lý, cố lý xa xôi.

Mỗi năm cứ đến ngày 30 tháng Tư, tôi thấy lòng chùng xuống. Chạnh lòng nhớ về những người đã khuất: các tướng lãnh, các văn nghệ sĩ tài hoa. Những Vũ hoàng Chương, Nguyễn mạnh Côn, Thục Vũ, Minh Kỳ.

Tôi chẳng sung sướng gì khi thấy trẻ con sống lê la đầu đường xó chợ, những cụ già sống ngắc ngoải thoi thóp vì miếng cơm manh áo.

Ở hải ngoại này, chúng ta được gọi là những người “đẻ bọc điều”… những  đồng  bào cùng cội nguồn…nhưng niềm vui không bao giờ trọn vẹn. Khi đồng bào, những người cùng cộ

Bố tôi tuy không viết sách, nhưng đọc rất nhiều sách. Di cư vào Nam ông chẳng mang gì ngoài mấy rương sách báo. Vì vậy khi lớn lên tôi cũng cầm được những tờ Nam Phong tạp chí cũ ơi là cũ. Bạn bè của bố tôi toàn văn nghệ sĩ, mà đã là văn nghệ sĩ thì trò chuyện cũng khác người thường. Tôi là đứa để sai vặt mỗi khi bố có khách. Mà cái tật, tuy còn nhỏ nhưng tôi rất hóng chuyện, thích nghe các cụ khề khà bàn chuyện thơ văn. Trong khi mẹ tôi không thèm để ý mấy ông nói chuyện gì, bổn phận của bà là lo dọn thức nhắm cho tôi mang ra.

Bố tôi làm ở kho bạc Gia Định, nhà văn Bình nguyên Lộc cũng vậy.

Hai ông khi gặp nhau đã khoe rằng trong tay tao lúc nào cũng có  bạc triệu. Nhưng mà, nhà văn Bình nguyên Lộc nói:

– Đời buồn như người ngồi đếm giấy bạc… KHÔNG PHẢI CỦA MÌNH.

Nghe vậy, tôi xoè tay ra bác ơi! vậy tiền này…

Tôi nheo nheo mắt nhìn những tờ giấy bạc, bác nhờ tôi ra đầu ngõ mua thuốc lá. Bác BNL vội vàng để riêng ra một tờ cái này là của cháu, cái này để mua thuốc cho bố và bác. Nói rồi bác củng nhẹ đầu tôi, khen con bé lém lỉnh.

Không lém lỉnh sao được. Tôi đã từng mang học bạ khoe với các bạn lời phê của thầy Bàng bá Lân:biết cách học. Ý nói tôi chỉ học cái gì cần học, bởi vì trong xóm tôi có một cô thi Tú Tài I ba năm không đậu: ba năm tức là 6 lần.Khi tôi đã học năm thứ hai đại học, cô bưng một chồng sách đủ cả 8 môn thi. Cô hỏi tôi mỗi chương học phần nào? Tôi bảo rằng tôi không thể, vì điều này thuộc sự cảm nhận của mỗi con người. Cũng như khi ta tiếp xúc với bất kỳ người nào, linh tính hay trực giác sẽ cho ta biết người đó đối với ta ra sao. Ai cũng có cá tính, nếu người đó có nhiều điểm khó hòa hợp, thì ta hạn chế qua lại. Đừng có tham vọng  nghĩ ai cũng như ai. Hãy chỉ nhìn những điều tốt của họ, ta sẽ không sầu não than van. Xã hội là một bức tranh nhiều màu, phải có trắng lẫn đen. Không hợp nhau thì lặng lẽ rút lui, không giận hờn trách móc, coi như duyên của mình và họ tới đây là hết. Nếu nghĩ vậy thì làm sao chúng ta nghe được ca khúc nửa hồn thương đau. Làm sao có câu thơ người đi một nửa hồn tôi chết, một nửa hồn kia bỗng dại khờ.

Văn nghệ sĩ có trái tim dễ xúc cảm như vậy, bảo sao bà mẹ nào muốn con mình là thi sĩ nghĩa là mơ với gió, yêu theo trăng và vơ vẩn cùng mây.

Xin can, đừng yêu người làm thơ. Yêu anh bán phở tiền tiêu dài dài!

Tôi rất phục các nhà văn nhà thơ, trong đầu họ đầy ắp chữ, mà không phải chữ thường, mà là những chữ rất riêng biệt. Những chữ trong thơ rất cô đọng, chứ đâu có nói tràng giang đại hải. Dẫu có bằng cử nhân, tiến sĩ cũng chẳng nghĩ ra được một câu thơ. Trong khi nhiều nhà thơ, nhà văn nổi tiếng đâu có học xong trung học. Một số nhạc sĩ cũng vậy, đọc tiểu sử toàn là con nhà nghèo, không được đi học tới nơi tới chốn, vậy mà khi viết nhạc họ tìm ra những chữ thật tuyệt vời, diễn tả thật đúng nỗi lòng, khiến người nghe bồi xúc động.

Văn nghệ sĩ họ nhìn sự vật khác người thường. Không giống người trần mắt thịt, một cộng một là hai, nhưng em với ta tuy hai mà một. Bởi vậy chữ nghĩa của họ đôi khi phải chính tác giả giải thích người nghe mới hiểu.

Cũng là nơi ở khiêm nhường, trên căn gác lửng, thưở còn được tự do làm thơ họa với bạn bè, thi sĩ Vũ hoàng Chương gọi là Gác mây, vì ở trên cao, tha hồ đi mây về gió. Sau 75, ông đổi thành Gác bút. Nhưng gác này là động từ: ông đã bị cấm viết.

Còn Nguyễn Tuân khi đi họp, mọi người chuyền cho ông tờ giấy, hàng cuối có chữ Bút Ký. Ông bảo bỏ bớt chữ Bút, vì khi ký tên, ai cũng phải dùng bút, có ai dùng chổi mà ký bao giờ. Nhà văn có khác, nói và nhìn sự vật khác người thường. Chẳng hạn khi họ nói:

–  Sách vở ích gì cho buổi ấy,

–  Mười người đi học chín người thôi.

Theo bạn, có mấy người đi học? Chín người hay một người?

Trong các tác phẩm văn chương ngày xưa (coi như trước 75), nhà văn nhà thơ hay dùng điển tích như Bá Nha Tử Kỳ, nàng Trác văn Quân …vì họ đọc rất nhiều sách kim cổ.

Ngày nay văn chương chữ nghĩa trong nước cũng có thêm rất nhiều tiếng mới. Những tiếng này người ở hải ngoại không thể nào hiểu được, nếu không có người diễn giảng. Ví dụ buôn dưa lê, haylàm bà Tám là ngồi lê đôi mách. Bà Tám là người nhiều chuyện. Đôi khi người ta bỏ luôn chữ bà: lại đi tám nữa rồi.

Muốn cười (ra nước mắt), cứ xem hình ảnh nhan nhản ngoài đường phố. Từ các bích chương quảng cáo nơi công cộng, hay thông cáo ở các cơ quan chính phủ, tới cách ăn mặc quái đản của các cô gái thời thượng (cổ). Nhất là tư duy sáng tạo khắc phục khó khăn trong giao thông. Cả một xã hội bát nháo, ai muốn làm gì thì làm. Trật tự là chữ lạ, tiên học lễ là gì? Không ai hiểu. Đói cho sạch là câu mơ hồ.

Ngày xưa các nhà giáo lão thành, cả đời tận tụy dạy học, viết sách để lại cho con cháu, lúc nào cũng nhắc nhở tới luân thường đạo lý.

–  Trai thời trung hiếu làm đầu.

–  Gái thời tiết hạnh làm câu trau mình.

Hồi xưa nghe nói những người theo chủ nghĩa hiện sinh, đã coi là ghê gớm. Bây giờ lối sống trong nước, không biết phải gọi là chủ nghĩa gì cho đúng.

Sống chết mặc bay, tiền thầy bỏ túi.

Trọng thầy mới được làm thầy

Những phường bội bạc sau này ra chi.

Ngày xưa thầy phải coi trọng hơn cha: Quân Sư Phụ. Vậy mà bây giờ toàn nghe trò đánh chết thầy.Thầy dụ dỗ trò. Nhà văn Nguyễn thị Hoàng chỉ viết truyện Vòng tay học trò, đâu có tả cảnh nào về sex đâu, chỉ có mỗi tội đưa ra một ý tưởng quá mới mẻ: cô giáo yêu học trò. Đã bảo tình yêu không phân biệt tuổi tác, con tim có những lý lẽ của nó.Có điều truyện đã vượt qua giới hạn của lễ giáo phong kiến nên bị kết tội, chỉ trích um sùm. Cậu học sinh trong truyện cũng đâu phải vị thành niên, nhưng cấm là cấm. Trong khi ở Mỹ có cô giáo dụ dỗ cậu học sinh chỉ 14 tuổi,khi cô có bầu mới bị phát giác. Đẻ xong, giao con gái cho bố mẹ “bạn trai”, rồi vô tù. Hết hạn, vừa lúc cậu học sinh đủ tuổi kết hôn.Cả hai chính thức làm đám cướicon gái lúc trước nay thành cô phù dâu nhí.

–  Yêu nhau mấy núi cũng trèo.

–  Mấy sông cũng lội mấy đèo cũng qua.

Mấy năm tù chỉ là cái lẻ tẻ. Đó là chuyện bên Tây, chứ bên ta chưa ai dám ngang nhiên tỉnh  coi thường dư luận như vậy.

Chẳng biết trong nước bây giờ trẻ con được học những gì, mà khi hỏi về lương tâm và liêm sỉ chẳng em nào biết. Truyện Kiều, Chinh phụ Ngâm, Nguyễn Khuyến, Nguyễn công Trứ… Không biết có được đưa vào chương trình giáo khoa hay không?

Thơ văn nhạc họa… là những món ăn tinh thần của con người. Khác với thú vật, sự sống chỉ có nhu cầu ăn uống. Đối với con người, đôi khi món ăn tinh thần còn quan trọng hơn cả đồ ăn thức uống. Phật ngồi im thiền định 49 ngày dưới gốc cây bồ đề, Ngài có ăn uống gì đâu, vậy mà đâu có chết. Trong khi những người ăn uống ngồm ngoàm, vô độ, thì bị gọi là những đứa phàm phu tục tử, võ dõng vô mưu, vai u thịt bắp.

Các cụ còn nói kẻ sĩ ba ngày không đọc sách, mặt mày khó coi!

Như vậy rõ ràng, đối với con người, món ăn tinh thần quan trọng hơn món ăn vật chất. Hãy nghĩ xem, trong 24 giờ/ ngày, bạn dành bao nhiêu thời gian cho việc ăn uống để nuôi cái xác phàm. Thời gian còn lại bạn làm gì? Học hành, nghiên cứu, nghe nhạc, xem phim… và mơ mộng.

Hãy tưởng tượng một buổi sáng thức dậy, không có truyền thanh, truyền hình, sách báo. Cả một không gian im lìm, bạn sẽ hoảng hốt hơn là khi thấy điện cúp, nước không chảy.

Với con người món ăn tinh thần cần thiết hơn món ăn vật chất. Bằng cớ là mỗi lần bạn bè của bố tôi gặp nhau. Thời buổi kinh tế kiệm ước, đồ ăn thức uống có chút xíu, mà sao mọi người nói cười rộn rã. Mặt mày ai cũng hớn hở, bình văn bình thơ nghe đã làm sao. Tôi là con bé để sai vặt, nhưng tôi vô cùng thích thú vì được nghe các bạn thơ văn của bố nói chuyện. Quả thật, ngay từ bé, tôi đã nhìn ra những nét đặc biệt của cả ba miền: Trung, Nam, Bắc của nước. Phong thổ của mỗi miền ảnh hưởng vào nếp sống, tâm tính và cách suy nghĩ của con người nói chung, và văn nghệ sĩ nói riêng của miền đó.

Miền Nam ruộng lúa mênh mông, sông rạch chằng chịt nên đời sống dễ chịu. Các món ăn cũng vì thế được chế biến đơn giản, nhanh gọn: cá lóc nướng trui. Con cá to đùng bọc đất sét, chất củi nướng. Chỉ nhấp nháy là bửa con cá ra, bỏ đầu, xương, da (vì đã dính vào đất sét), ăn phần thịt trắng nõn. Ănnhư vậy, mẹ tôi bảo ăn phí của Giời! Bắc Kỳ hả? Không có đâu, với một con cá như vậy. Nó sẽ được luộc lên, gỡ thịt để riêng. Xương và đầu giã nhuyễn, lọc lấy nước ngọt, đem nấu canh hay nấu cháo (gọi là nấu ám). Mẹ tôi rất nghiêm khắc trong chuyện dạy con. Không có kiểu hầu con như hiện nay đâu, con trai con gái gì cũng phải làm việc nhà. Khi mẹ đi chợ về là tất cả đứa lớn (trên 10 tuổi) là phải đứng dậy ra đón mẹ: đứa thì xách giỏ vào bếp, đứa cao thì treo nón (lá) vào chỗ cũ.Sau đó soạn giỏ, dao thớt, đặc biệt mẹ chỉ ngồi xuống là một đứa phải đẩy ngay cái ghế con cho mẹ ngồi xuống. Sau đó thì nhặt rau hoặc xé cua.Anh tôi chuyên làm việc này, vì tôi là con gái sợ bị cua kẹp. Anh tôi giã nhuyễn, để đó cho mẹ tôi lọc.Còn tôi nhặt rau xong, rửa sạch rồi thu dọn rác. Sau khi mọi thứ đã sẵn sàng để nấu, lúc đó chúng tôi mới được phép lên nhà, rồi muốn làm gì thì làm, với điều kiện không được làm ồn. Khi dọn cơm chỉ thấy có tô canh rau đay nấu với cua đồng, và đĩa tép riu nhỏ xíu. Vậy mà ồn ào xúm lại cả nhà, làm cho tôi nhớ tới truyện Hồn bướm mơ tiên của Khái Hưng. Khi đi thăm chùa, khách nghe dưới nhà bếp lách cách tiếng dao tiếng thớt, tiếng người lao xao, tưởng như đang chuẩn bị một bữa ăn thịnh soạn, chứ có đâu khi dọn lên, chỉ thấy bát cà, đĩa rau. Nhà tôi cũng vậy thôi, mọi người lăng xăng vào bếp nào có cơm gà cá gỏi gì đâu.Chỉ vì mẹ tôi là thế đấy, mẹ về là phải đứng dậy, không phải chào mẹ đã về, mà để biết bổn phận làm con.Có đâu như bây giờ, chẳng quan tâm đến ai, ai đi ai về cũng mặc, đang mải chơi game nên mắt cứ dán vào màn hình, chẳng cần biết chuyện gì khác.Đói thì vào bếp lục thức ăn, đồ uống. Coi như chuẩn bị bữa ăn không phải là chuyện của tụi nó..

Vì được tập tành từ nhỏ, nên năm tôi 13 tuổi, em gái tôi thua tôi một giáp. Mẹ tôi đi làm từ sáng sớm, về nhà khi chập choạng tối. Ngày xưa các lớp học chỉ có một buổi nên anh em chúng tôi thay phiên nhau trông em. Riêng tôi là con gái nên đảm thêm việc chợ búa cơm nước. Có một chuyện tức cười làm tôi nhớ mãi. Cô bạn hàng xóm là dân Nam Kờ chính gốc, ông bà nội ngoại ở Cần Thơ rất giàu có. Dĩ nhiên cô được ăn uống toàn món ngon, hàng ngày cô qua chơi với tôi. Hôm đó tôi nhờ cô bóc vỏ một lạng (100g) tép bạc để nấu canh rau cải. Cô vừa bóc vừa hỏi sao có chút xíu dzậy? Tôi ậm ừ, đủ nấu canh rồi. Khi bóc xong, cô cầm cái rổ nhỏ đựng vỏ và đầu tôm định trút vào thùng rác. May sao tôi thấy, la lên: đâu có bỏ. Cô bạn ngạc nhiên hết “thịch” rồi! Tôi trả lời chưa xong mà.

Trước con mắt ngạc nhiên của cô bạn, tôi lôi chày cối ra giã nát mớ vỏ và đầu tôm, sau đó dùng rây lọc nước. Nấu xong tôi giải thích cho cô bạn NK, phún và thịt  khác nhau chỗ nào, người Bắc đã tận dụng vỏ tôm, đầu cá, ngay cả những con cáy chẳng có bao nhiêu thịt.. Nhưng khi giã nát lọc lấy nước, chất ngọt cũng có từ  thịt cá, cua,tôm còn sót lại tụ thành phún.

Hứng chí tôi còn kể cho cô chuyện vui: bạn Nam Kỳ mời bạn ăn cơm. Món tôm rang của NK không có cắt râu, nên mỗi lần gắp là được cả chùm. Còn khi Bắc Kỳ mời lại, tôm rang được cắt râu gọn ghẽ, nên mỗi lần gắp chỉ được một con thôi.

Tôi còn khoe, chỉ có một con gà, má tao làm được mấy món: thân luộc, lòng xào dứa, cổ cánh bằm nhuyễn viên lại, nấu giả chim, còn lông thì để bán cho người ta mang về làm chổi lông gà.

Tôi còn “tự hào”, xứ tao nghèo, nhưng không đến nỗi như miền Trung sỏi đá,có chuyện  một anh học trò nghèo đi thi. Anh đẽo một con cá bằng gỗ, khi vào quán ăn, anh chỉ mua cơm và xin một chút nước mắm.. Anh chấm con cá vào nước mắm, ung dung như đang ăn cơm với cá. Sau đó con cá gỗ lại được cất đi, để dùng cho bữa sau. Chuyện thật hay tưởng tượng, nhưng chắc chắn anh học trò này không phải là dân Nam Kờ với toàn những món nguyên con: cá nướng trui, gà đút lò. Tự ái dân tộcnổi lên khi còn ở trong trại định cư, đám con nít Nam Kờ chọc anh em tôi là Bắc Kỳ ăn cá rô cây!

Phong thổ tạo ra ẩm thực, bạn bố tôi về xứ Quảng ăn tết. Khi trở lại saigon, ông cho bánh tổ, bánh rế, bánh men, kẹo gừng, kẹo mạch nha… nguyên liệu chỉ là đường phổi, khoai, nếp, đậu, cá tôm đâu chẳng thấy ở xứ khô cằn sỏi đá. Cuộc sống khó khăn đã khiến người ta cố gắng vươn lên. Miền Trung đã sản sinh ra biết bao nhân tài, điển hình là các ông vua triều Nguyễn, ngay cả Tổng Thống Ngô đình Diệm cũng là người dân xứ Huế.

Văn thi nhạc sĩ gồm đủ người ở cả ba miền: Trung Nam Bắc.

Văn sĩ miền Nam như Hồ biểu Chánh, Sơn Nam, Hồ Trường An, Bình nguyên Lộc…

Thi sĩ miền Bắc như Lưu Trọng Lư, Nguyễn Bính…

Nhạc sĩ miền Trung như Hoàng Thi Thơ, Châu Kỳ…

Những dí dỏm, thâm trầm, đơn  mộc mạc đặc trưng của mỗi miền đều thể hiện trong các tác phẩm của họ. Văn là người. Khi cho ra những món ăn tinh thần, ít nhiều gì chúng ta cũng thấy bàng bạc hình ảnh con người tác giả. Từ quan niệm sống cho tới cá tính của mỗi người.

Mặc dù vợ của mấy ông nhà văn nhà thơ ít khi được nhắc đến. Họ như những bóng mờ, chỉ biết Tú Xương có năm con, nhà thì ở gần sông, bà vợ buôn bán lặt vặt (bởi vậy mới nghèo): quanh năm buôn bán ở mom sông, nuôi đủ năm con với một chồng. Tuy vậy Tú Xương cũng biết cám ơn người bạn đời, chứ Tản Đà đọc thơ của ông, không nghe nói đến vợ con, toàn nghe than thở văn chương hạ giới rẻ như bèo. Còn làm thơ thì toàn ca tụng những ai ở đâu đâu, trong khi các bà vợ một nắng hai sươnghầu như không ai nhớ đến.

Sau 75, bắt gặp hình ảnh của những nhà văn nhà thơ miền Bắc sống chui rúc ở những căn nhà ổ chuột. Cuộc sống cơ cực, tôi cảm thấy chạnh lòng.Văn nghệ sĩ miền Nam đâu có khốn khổ như thế. Tài hoa của đất nước bị đối xử thế sao? Lê Xuyên chú Tư Cầu bán vé số, Trúc Phương ngủ ở bến xe cũng chỉ khi nước mất nhà tan. Trước kia vốn truyền thống trọng nghĩa khinh tài, họ cũng đã có thời gian huy hoàng, xứng đáng với những cống hiến của họ.

Chẳng tham ruộng cả ao điền,

Tham vì cái bút cái nghiên anh đồ.

Anh đồ kẻ sĩ là hình ảnh tượng trưng cho những văn nghệ sĩ. Những người dùng tim óc để cho ra những món ăn tinh thần cho mọi người. Họ được ví như kiếp con tằm: nhả hết tơ rồi chết. Dốc hết mọi tinh hoa làm đẹp cho đời chỉ vì: cái nghiệp của họ. Đã mang cái nghiệp vào thân, cũng đừng trách móc trời gần trời xa.

Mẹ tôi thường nói ăn no hóa lú. Khi no nê người ta chẳng muốn làm gì, những người giàu có sung sướng hình như tài năng ít phát triển. Trong khi cuộc đời của những danh nhân,  nhân toàn là những người có cuộc sống khó nghèo, không phải lúc tuổi thơ thì cũng lúc trưởng thành. Vũ trọng Phụng chết khi chưa tới tuổi ba mươi. Đặng thế Phong cũng thế, chết bởi những bệnh không đáng chết. Sự thiếu thốn làm thành mơ ước. Nguyễn Bính mồ côi mẹ từ nhỏ, nhưng ai cấm ông mơ ước:tết đến mẹ tôi vất vả nhiều. Chị đi em ở lại nhà, vườn rau em giữ mẹ già em thương.

Khuôn mặt không đẹp trai, nhà nghèo, học ít, nhưng ông mơ mộng có bao người con gái yêu ông, hay ông yêu. Nguyễn Bính đã làm bao nhiêu con tim thổn thức, ông làm thơ cho tha nhân hay cho chính mình.

Sau khi bức màn sắt được vén lên do biến cố mất nước 1975, mọi người mới thấy được bằng xương bằng thịt những con người tài hoa: Văn Cao, Nguyễn Tuân… cuộc sống của họ ở miền Bẳc sao mà thê thảm thế. Nhà không phải là nhà, quần áo đồ đạc của họ trông thật nhếch nhác. Nhà văn Dương thuHương đã ngồi sụp ở chợ Bến Thành khóc nức nở khi biết mình bị lừa. Đoàn Chuẩn với bản nhạc Gửi người em gái miền Nam âm điệu du dương. Nhạc quá hay, ý thật tuyệt, nhưng lời thì làm cho các người trẻ tuổi viết Comment bên dưới: sao mà tuyên truyền láo khoét vậy. Thương cho em vào miền Nam phải sống trong nghèo đói, cúi đầu mà đi!

Những thương tiếc cho văn nghệ sĩ miền Bẳc chưa kịp nguôi, thì tới lượt văn nghệ sĩ miền Nam, những người bị gọi là bọn biệt kích cầm bút chịu cảnh tù đầy: Vũ Hoàng Chương, Dương Hùng Cường, Nguyễn Mạnh Côn, Minh Kỳ, Thục Vũ… Thi hào thi bá còn đâu. Những con người chỉ sống bằng ngòi bút, nhả ngọc phun châu. Những mình hạc xương mai, trói gà không chặt nay chịu cảnh đọa đầy.

Lũ chúng ta đầu thai lầm thế kỷ.

Xuân đời chưa hưởng kịp, mây mùa Thu đã sang.,

                                                                     VHC

Ngày xưa khi còn đi học, không phải chỉ có mấy ông già mới bình thơ, bọn nữ sinh chúng tôi cũng chuyền tay nhau những tập thơ tình. Để rồi tấm tắc:  thi nhạc sĩ sao mà tài thế. Trong bồ chữ nghĩa,mình thò tay vào thì toàn lôi ra sỏi đá. Còn tới lượt mấy ổng, chẳng cần mở mắt, cứ bỏ tay vào bồ chữ, là lôi ra toàn ngọc trai, cẩm thạch, hột xoàn.

–  Có phải em yêu tôi thành thật

–  Hay là tinh nghịch nói cho vui.

Con bạn tôi oang oang, lời thơ dịu dàng ngọt ngào quá chừng.. Chữ dùng thì khỏi chê. Thắc mắc mà không dám hỏi, rụt rè dò ý   phải cho mình đỡ quê, nếu bị bé cái lầm.Vẫn hy vọng người ta đâu có ác, nên chỉ trách nhẹ nhàng  tinh nghịch. Chỉ là đùa thôi mà.

Khen xong, con nhỏ nói, cỡ tao chắc chỉ dám hỏi:

–  Cô có thương tui thiệt lòng không?

–  Hay cô làm bộ giỡn chọc tui.

Bọn con gái chúng tôi đã hét lên thơ con cóc, nghe cù lần. Lại còn hăm dọa này kia, thiệt là cú mà đứng bên cạnh công.

Nhiều khi tụi tôi còn dám tấm tắc khen phò mã tốt áo, mang thơ Vũ hoàng Chương, Đinh Hùng ra bàn.

Những bài thơ chuyện chúng mình của Nhất Tuấn hay thơ  Nguyễn Bính lúc nào cũng có trong cặp.

Ngày xưa văn nghệ sĩ chỉ sống bằng ngòi bút. Viết báo thì có nhuận bút, viết sách thì có nhà xuất bản trả tiền cho bản quyền. Đời sống của văn nghệ sĩ trong miền Nam đâu có thê thảm như những văn nghệ sĩ miền Bắc. Nhà văn Xuân Vũ vốn người miền Nam tập kết ra Bắc. Khi biết sự thật sau bức màn sắt, ông đã tìm cách trở về hồi chánh, cũng như ca sĩ Đoàn Chính. Họ là những nhân chứng nói ra những sự thật đau lòng về thân phận của những văn nghệ sĩ miền Bắc sau năm 54.

Nguyễn Bính chết trong nghèo nàn khủng khiếp. Không cho nằm bệnh viện, không cáo phó. Một đám tang buồn tẻ lạnh lẽo thê lương cho con người tài hoa, ông đã qua sông đắm đò. Như NB đã nói cuộc đời của ông là hình ảnh của người con gái Lỡ bước sang ngang. Xót xa cho kiếp con tằm. Những sợi tơ óng ánh từ những vần thơ của ông, ở lại với chúng ta mãi mãi.

Khi thấy con cháu cứ thích đàn đúm với đám bạn bè, mà các bậc ông bà cha mẹ không ưa, nhưng chẳng biết làm sao. Chúng ta thường nghe các cụ than thở: ngưu tầm ngưu, mã tầm mã.

Thật sự ra câu tục ngữ đó chỉ ngụ ý những người cùng sở thích đi tìm lẫn nhau. Tuy nhiên đã từ lâu, con người vốn có ý khinh miệt loài vật, ngu như bò, làm như trâu, chạy như ngựa. Vì thế hễ cái gì xấu xa thì mang thú vật ra ví.

Bà mẹ về không thấy cô con gái lớn ở nhà, hỏi ra thì biết cô  đang say sưa hát Karaoke với đám bạn đầu ngõ, chẳng lo cơm nước gì cả. Nhà cửa lạnh tanh, con trai thì đang sát phạt bài cào bên nhà hàng xóm. Chồng thì chưa tới nửa đêm là chưa về nhà, ông còn đang ngất ngưởng nhậu với các bạn ở các quán vỉa hè.. Bà vợ chỉ biết chép miệng than: ngưu tầm ngưu, mã tầm mã. Cha nào con nấy.

Trong văn chương người ta gọi những người cùng sở thích là những người cùng hội cùng thuyền. Hội nhà văn, hội nhà báo, hội tao đàn… những người trong những hội này chắc chắn không phải là những người vai u thịt bắp, ăn no vác nặng. Những người phải dùng tim óc để cho ra những bài thơ, bản nhạc hay những áng văn tuyệt tác, những người mình hạc xương mai, trói gà không chặt.

Cha mẹ nào cũng muốn con mình sau này có cuộc sống đỡ vất vả. Mà muốn đỡ vất vả thì phải có công ăn việc làm cụ thể, thực tế như Bác Sĩ, Kỹ Sư, chứ đàn ca hát xướng thì không khá được.

Thành văn sĩ, nhạc sĩ, thi sĩ, họa sĩ, dĩ nhiên sẽ được rất nhiều người ngưỡng mộ, với điều kiện phải thật giỏi, xuất sắc mới kiếm được tiền. Còn làm thợ, y tá, kỹ sư, bác sĩ cỡ nào cũng vẫn có người thuê mướn.

Bởi vậy thi sĩ Vũ hoàng Chương được xưng tụng là Thi Bá, vẫn sống bằng nghề dạy học. Nguyên Sanhà thơ, cũng là ông thầy dạy triết, và là Hiệu Trưởng trường Văn Học ở Sàigon. Nhạc sĩ Lê Vân Tú bảo rằng mê nhạc từ bé, nhưng cha mẹ không cho. Ông cũng phải học cho thành Giảng Sư toán lý của Đại Học Khoa Học. Qua Úc thành Khoa Trưởng một trường đại học. Ông bảo rằng bây giờ (đã qua tuổi cổ lai hy)  ông mới tha hồ viết nhạc.

Cơm áo gạo tiền là cái thực tế mà mấy ông làm thơ, viết văn cứ lơ mơ như ở trên mây, bởi vậy mới chật vật về cuộc sống hàng ngày. Trong khi văn chương hạ giới rẻ như bèo. Thi sĩ Tú Xương chẳng có làm bất cứ việc gì ngoài chuyện làm thơ. Vợ thì quanh năm buôn bán ở mom sông, nuôi đủ năm con với một chồng. Cái gì cũng phó mặc cho “mẹ đĩ”. Ông cũng biết một đàn rách rưới con như bố. Thế mà nhất định không làm gì hết, chỉ có làm thơ, thảnh thơi thơ túi rượu bầu. Tài thật, hèn chi khi nghe ông hỏi, bà cũng trả lời “rằng hay thì thật là haykhông hay sao lại đậu ngay tú tài”. Thời xưa không có “mục” li dị, chứ như bây giờ, ông chẳng có  tối rượu Sâm Banh, sáng sữa bò nữa đâu. Cứ xem như nhạc sĩ Trúc Phương làm biết bao nhiêu bản nhạc tình ca tụng tình yêu, xúc động hàng vạn  trái tim. Nhưng cũng chẳng có trái tim nào mủi lòng cho ông ở nhờ, đành lê lết ngủ ở bến xe đò. Nhạc sĩ tài hoa mà sao cuộc đời cơ cực.

Những người thực tế đã khuyên các cô ĐỪNG YÊU NGƯỜI LÀM THƠ, thà lấy anh bán phở, nói năngdùi đục chấm mắm cáy, vậy mà no bụng.

Nhà văn Nguyễn Vỹ đã từng than thở “nhà văn An Nam khổ như chó”, bởi vì tiền kiếm được không nuôi nổi bản thân. Còn Tản Đà thì bảo “văn chương hạ giới rẻ như bèo”. Thưa cụ, câu này không còn hợp thời nữa rồi, trong nước bây giờ họ nói bèo cũng chẳng còn. Sông rạch ô nhiễm, mọi thứ đã chết hết cả, chẳng có lục bình hay bèo bọt nữa đâu. Đừng ví cuộc đời em như lục bình trôi giạt nơi nào. Tất cả bèo và lục bình trôi tuốt qua bến Hàn    (Quốc) Đài (Loan) cả rồi.

Các anh trai làng bây giờ đều mang tâm trạng như Nguyễn Bính, cùng một nỗi niềm:

Hôm qua em đi tỉnh về,

Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều.

Cứ đếm xem có bao nhiêu ca sĩ trong nước lấy chồng Mỹ. Vì tiếng gọi của con tim? hay đó là cách duy nhất để vào Mỹ bằng tờ hôn thú. Diện con cái thì các cụ chết hết cả rồi, diện anh em lấy đâu ra. Kiếm một chàng mắt xanh tóc vàng là nhanh nhất. Cái cột đèn còn muốn đi nữa là.

Chủ nghĩa thực dụng bây giờ đã lan tràn khắp chốn, người ta không còn thích có con trai nữa. Có con gái gả cho Đài Loan, Hàn Quốc kiếm tiền xây nhà, mua xe le lói với bà con chòm xóm.. Biết bao nhiêu anh chàng đã đau khổ vì bị  sinh ra làm thân con trai: trai tài gái sắc. Vậy là đua nhau chuyển giới để thành những cô gái mỹ miều, họ cho rằng cứ là con gái là kiếm tiền bằng nghề không vốn.Lòng tự trọng và liêm sỉ là cái gì đó thật mơ hồ.Đừng hãnh diện và cũng đừng mặc cảm về những cái không do mình làm ra: có cha mẹ giàu, có vẻ đẹp mỹ miều… Ngày xưa khi còn bé, tôi đã ngẩn ngơ khi thấy cô Nha Sĩ “đẹp ơi là đẹp”, tôi về kể lại cho các bạn. Cô đẹp đến độ tôi cứ líu ríu nghe lời cô, há miệng cho cô nhổ răng, mà chả kêu khóc gì cả. Để rồi được nghe cô khen với lời dịu ngọt và cái vuốt má êm dịu làm tôi đê mê. Còn anh chàng  Nick Vujicic bên Úc sinh ra chẳng có tay chân, anh chẳng đổ thừa cho ai cả, đã tự cứu mình, chứng minh mình vẫn còn ích lợi, ít nhất cho bản thân ngay từ khi còn rất bé. Anh vẫn cám ơn Chúa, dù sao anh cũng có được bộ óc thông minh hơn người. Anh đã chứng tỏ mìnhtàn mà không phế cũng  học xong đại học, cũng bơi chơi đàn như người bình thường. Chu du diễn thuyết để giúp cho giới trẻ và những người khiếm khuyết hãy tự tin, vươn lên tự giúp mình và giúp đời.

Có một tác phẩm mà tôi đã quên tên. Nói về một người nô lệ có bộ mặt gớm ghiếc nhưng rất thông minh. Một bữa kia có ông Hầu Tước, mua được anh nô lệ này, mang về làm người hầu cho vợ. Khi vừa thấy anh, bà vợ che mắt rú lên kinh hãi như vừa thấy ma quỷ hiện hình. Nhưng sau đó bà chợt nhận ra sự lố bịch của mình. Nhưng anh nô lệ vẫn ôn tồn: thưa bà, ai khi trông thấy tôi, họ cũng cùng phản ứng như bà thôi, tôi đã quen rồi. Sợ rằng ông chồng sẽ trả lại món hàng. Anh nô lệ năn nỉ xin bà cho tôi được hầu hạ bà. Tôi tin rằng bà sẽ không chọn lầm đâu.

Anh nô lệ không dám nhận mình là người, xã hội lúc đó không công nhận anh là người. Anh chỉ là món đồ cho những người được gọi là người đổi chác.

Sau một thời gian ngắn, bộ mặt gớm ghiếc của anh đã hầu như mờ nhạt, bà Bá Tước chỉ thấy hình ảnh một con người thông minh duyên dáng. Bà chỉ muốn nói chuyện với anh nô lệ cả ngày. Còn ông chồng thì xấu xí, ngớ ngẩn, nói năng thì “ngữ bất đồng tâm, bán cú đa”.

Một bữa kia ông chồng hoảng hốt chạy về nhà, bên ngoài dân chúng la ó bắt ông phải giữ lời hứa. Ông không biết làm sao, vì trước kia ông đã nói rằng: nếu ông không giúp dân ngăn chận được ngoại xâm, thì ông sẽ uống hết nước biển.. Nay quân thù đang vượt qua biên giới. Dân chúng bắt ông phải giữ lời hứa, trước khi toàn dân cùng đồng lòng đoàn kết chống lại quân thù. Bà vợ thở dài, bây giờ người ngoài mới biết ông là đồ vô dụng. Còn bà thì đã nhìn thấy từ lâu, một thứ tốt mã rẻ cùi.

Bà chợt nhớ ra anh nô lệ. Khi hiểu ra câu chuyện, anh nô lệ nói rằng anh sẽ cứu ông thoát chết, với điều kiện ông phải trả tự do cho anh. Dĩ nhiên Bá Tước phải đồng ý. Anh nói rằng ông cứ bình tĩnh nói với đám đông đang la ó: ông đồng ý uống hết nước biển, nhưng với điều kiện phải chận các con sông lại.

Như giao ước từ nay anh nô lệ đã được tự do, bà Bá Tước tan nát cả cõi lòng, bà đã yêu anh tự bao giờ.

Bên VN các bà các cô đua nhau qua Nam Hàn sửa sắc đẹp. Họ khoác lên người đủ thứ hàng hiệu, họ khoe đủ thứ tiện nghi vật chất từ xe đến nhà. Họ giống như những con búp bê, đầu óc rỗng tuểch. Toàn đồ giả! Mọi thứ đều nghi ngờ.

Khi làm ra đồ giả, có nhà sản xuất nào ghi chú: đây là đồ copy.  Nhưng lúc ra sân khấu lại  được giới thiệu ca sĩ chuyển giới. Chỉ có xem youtube thôi, mà tôi đã thấy nhột. Tội nghiệp cho cái cô imitate đó quá. Nếu khán giả xem tắc lưỡi hít hà khen đẹp, thì cũng an ủi cho người đã chấp nhận giảm bớt tuổi thọ, và chịu bao đau đớn của dao kéo để có ngày hôm nay, đằng này cứ oang oang “đồ giả, không phải đồ thiệt” đâu. Vô nhân đạo, bất lịch sự!

Tìm hiểu cuộc đời của các nhà văn nhà thơ tiền chiến. Những người chết trong nghèo khó vì không cónghề tay trái, phương tiện sinh nhai của họ chỉ bằng văn chương chữ nghĩa. Thơ văn chỉ viết được khi có cảm hứng, bởi vậy thi sĩ Tản Đà rất  ngông. Thơ của ông dĩ nhiên là tuyệt tác, vì vậy mấy ông chủ báo sẵn sàng đưa nhuận bút trước khi đưa bài. Người ta mua báo chỉ để đọc thơ của Tản Đà.

Tiền thì tiêu hết, báo đã lên khuôn, chỉ chờ bài của ông là cho ra lò. Năm lần bẩy lượt cũng chẳng thấy bài, cuối cùng ông nói thẳng làm thơ không phải chẻ củi, nên không phải lúc nào làm cũng được. Ông có cái lý của ông, đứa con tinh thần của ông không thể là những đứa con èo uột. Giá trị ở phẩm chứ không phải ở lượng. Nhạc sĩ Đặng thế Phong chỉ có 5 bản nhạc để lại cho đời, nhưng tất cả đều là tuyệt tác.

Bây giờ người ta phải sống bằng hai con người khác nhau. Ngày thường thì là người trần mắt thịt, để lo cho cuộc sống cơm áo gạo tiền. Vì thế đừng ngạc nhiên nếu thấy ông thi sĩ này làm chủ tiệm phở, bà văn sĩ kia làm chủ tờ báo. Các cụ đã bảo phi thương bất phú, không buôn bán làm sao giàu. Nhưng buôn bán thì  phải mánh lới mưu mẹo vi phú bất nhân. Khi làm thương mại, họ hiện rõ bản chất, chửi nhau vì quyền lợi, cãi nhau như mổ bò, khẩu chiến, bút chiến, đưa nhau ra tòa cho thân bại danh liệt.

Nhà văn nhà thơ tiền chiến như Nguyễn Bính, Vũ trọng Phụng chết trong nghèo đói vì chỉ sống bằng ngòi bút. Bây giờ nếu chỉ sống bằng thơ văn thì đời tàn trong ngõ hẹp. Thời đại Internet có mấy ai mua sách, mấy ai có nhuận bút. Nhạc có hay mà không có đất dụng võ thì cũng không ai biết. Nói thế không có nghĩa không có người đột nhiên nổi tiếng như trường hợp tác giả loạt sách giả tưởng Harry Potter.

Nhưng độc giả Âu Mỹ khác với dân mình, họ trân quý nhân tài, mọi thứ tốt đẹp họ vinh danh cho tác giả khi họ còn sống. Chứ không đợi tới khi nhắm mắt mới làm lễ tuyên dương tưởng niệm. Cỗ bàn dẫu có long trọng thì cũng người sống hưởng.

Văn thơ nhạc họa bây giờ coi như nghề tay trái. Tổng Thống khi về hưu mới viết sách. Hàng ngày phải sống bằng nghề tay phải: Bác Sĩ, Kỹ Sư, Luật Sư…

Làm chủ tiệm nước mắm, tuy mùi hương tưởng nhớ có khó chịu, nhưng tiền thu vào thì dễ chịu. Dẫu khi chất nước mắm lên xe cho khách, vẫn nhớ đến câu “Câu thơ thi xã, con thuyền Nghệ An (chở nước mắm)”.

Ban ngày làm Bác Sĩ mổ tim (thiệt), rồi ban đêm thành thi sĩ mở cửa trái tim. Con tim (Bác Sĩ) sẽ vui trở lại. Muốn mơ mộng      (không ai cấm), nhưng vợ con và ngay bản thân mình cũng phải có thực mới vực được đạo.

Như vậy thơ văn là mộng, mưu sinh là thực. Mộng và thực bồng bềnh xen kẽ trong đời sống con người. Lúc mộng lúc thực, có thế đời mới thăng hoa đáng sống.

Ngày xưa tôi vẫn nhớ hoài những bài Études de texts của Thầy Rock Cường dạy Pháp Văn, nói về ý nghĩa của sách, cờ, bếp lửa, tấm màn che. Sách là người bạn tốt, sách giúp ta hiểu mọi điều, đưa ta đến chân trời góc bể, vì vậy người không biết chữ, không đọc được sách được ví như người mù. Cờ là biểu tượng cho quê hương mình, ý nghĩa của cờ vô cùng thiêng liêng: tung bay dẫn đầu đoàn quân khi chiến thắng trở về quê nhà, cờ như mẹ hiền ôm ấp hình hài những đứa con khi gục ngã nơi chiến trường, chiến đấu để bảo vệ màu cờ tổ quốc. Bếp lửa còn có nghĩa là gia đình, hình ảnh mọi người quây quần quanh bếp lửa, là hình ảnh gia đình, nơi đó cho ta cảm giác ấm áp yêu thương. Mỗi người đều có một tấm màn che vô hình bao quanh, sự cảm thông hay thái độ của ta với người đối diện, tùy thuộc vào bức màn. Có người chỉ được phép thấy một chút ít phía trên, còn người tri kỷ, tâm giao là những người mà bức màn đã hạ xuống hoàn toàn.

Tất cả mọi cách đối nhân xử thế, chúng ta đều được học qua sách vở, qua văn chương báo chí, qua phim ảnh, qua tiếng nhạc lời ca.

Những văn nghệ sĩ đã để lại cho đời những câu thơ tuyệt tác, những chữ khi nói lên nao nao tấc dạ:

Nước non ngàn dặm ra đi.

Vâng chúng ta đã xa lìa nước non chúng ta ngàn dặm. Chẳng phải chỉ cách nửa quả địa cầu, hai mươi giờ bay. Mà là:

Nhìn về đường cố lý, cố lý xa xôi.

Mỗi năm cứ đến ngày 30 tháng Tư, tôi thấy lòng chùng xuống. Chạnh lòng nhớ về những người đã khuất: các tướng lãnh, các văn nghệ sĩ tài hoa. Những Vũ hoàng Chương, Nguyễn mạnh Côn, Thục Vũ, Minh Kỳ.

Tôi chẳng sung sướng gì khi thấy trẻ con sống lê la đầu đường xó chợ, những cụ già sống ngắc ngoải thoi thóp vì miếng cơm manh áo.

Ở hải ngoại này, chúng ta được gọi là những người “đẻ bọc điều”… những  đồng  bào cùng cội nguồn…nhưng niềm vui không bao giờ trọn vẹn. Khi đồng bào, những người cùng cộ

Bố tôi tuy không viết sách, nhưng đọc rất nhiều sách. Di cư vào Nam ông chẳng mang gì ngoài mấy rương sách báo. Vì vậy khi lớn lên tôi cũng cầm được những tờ Nam Phong tạp chí cũ ơi là cũ. Bạn bè của bố tôi toàn văn nghệ sĩ, mà đã là văn nghệ sĩ thì trò chuyện cũng khác người thường. Tôi là đứa để sai vặt mỗi khi bố có khách. Mà cái tật, tuy còn nhỏ nhưng tôi rất hóng chuyện, thích nghe các cụ khề khà bàn chuyện thơ văn. Trong khi mẹ tôi không thèm để ý mấy ông nói chuyện gì, bổn phận của bà là lo dọn thức nhắm cho tôi mang ra.

Bố tôi làm ở kho bạc Gia Định, nhà văn Bình nguyên Lộc cũng vậy.

Hai ông khi gặp nhau đã khoe rằng trong tay tao lúc nào cũng có  bạc triệu. Nhưng mà, nhà văn Bình nguyên Lộc nói:

– Đời buồn như người ngồi đếm giấy bạc… KHÔNG PHẢI CỦA MÌNH.

Nghe vậy, tôi xoè tay ra bác ơi! vậy tiền này…

Tôi nheo nheo mắt nhìn những tờ giấy bạc, bác nhờ tôi ra đầu ngõ mua thuốc lá. Bác BNL vội vàng để riêng ra một tờ cái này là của cháu, cái này để mua thuốc cho bố và bác. Nói rồi bác củng nhẹ đầu tôi, khen con bé lém lỉnh.

Không lém lỉnh sao được. Tôi đã từng mang học bạ khoe với các bạn lời phê của thầy Bàng bá Lân:biết cách học. Ý nói tôi chỉ học cái gì cần học, bởi vì trong xóm tôi có một cô thi Tú Tài I ba năm không đậu: ba năm tức là 6 lần.Khi tôi đã học năm thứ hai đại học, cô bưng một chồng sách đủ cả 8 môn thi. Cô hỏi tôi mỗi chương học phần nào? Tôi bảo rằng tôi không thể, vì điều này thuộc sự cảm nhận của mỗi con người. Cũng như khi ta tiếp xúc với bất kỳ người nào, linh tính hay trực giác sẽ cho ta biết người đó đối với ta ra sao. Ai cũng có cá tính, nếu người đó có nhiều điểm khó hòa hợp, thì ta hạn chế qua lại. Đừng có tham vọng  nghĩ ai cũng như ai. Hãy chỉ nhìn những điều tốt của họ, ta sẽ không sầu não than van. Xã hội là một bức tranh nhiều màu, phải có trắng lẫn đen. Không hợp nhau thì lặng lẽ rút lui, không giận hờn trách móc, coi như duyên của mình và họ tới đây là hết. Nếu nghĩ vậy thì làm sao chúng ta nghe được ca khúc nửa hồn thương đau. Làm sao có câu thơ người đi một nửa hồn tôi chết, một nửa hồn kia bỗng dại khờ.

Văn nghệ sĩ có trái tim dễ xúc cảm như vậy, bảo sao bà mẹ nào muốn con mình là thi sĩ nghĩa là mơ với gió, yêu theo trăng và vơ vẩn cùng mây.

Xin can, đừng yêu người làm thơ. Yêu anh bán phở tiền tiêu dài dài!

Tôi rất phục các nhà văn nhà thơ, trong đầu họ đầy ắp chữ, mà không phải chữ thường, mà là những chữ rất riêng biệt. Những chữ trong thơ rất cô đọng, chứ đâu có nói tràng giang đại hải. Dẫu có bằng cử nhân, tiến sĩ cũng chẳng nghĩ ra được một câu thơ. Trong khi nhiều nhà thơ, nhà văn nổi tiếng đâu có học xong trung học. Một số nhạc sĩ cũng vậy, đọc tiểu sử toàn là con nhà nghèo, không được đi học tới nơi tới chốn, vậy mà khi viết nhạc họ tìm ra những chữ thật tuyệt vời, diễn tả thật đúng nỗi lòng, khiến người nghe bồi xúc động.

Văn nghệ sĩ họ nhìn sự vật khác người thường. Không giống người trần mắt thịt, một cộng một là hai, nhưng em với ta tuy hai mà một. Bởi vậy chữ nghĩa của họ đôi khi phải chính tác giả giải thích người nghe mới hiểu.

Cũng là nơi ở khiêm nhường, trên căn gác lửng, thưở còn được tự do làm thơ họa với bạn bè, thi sĩ Vũ hoàng Chương gọi là Gác mây, vì ở trên cao, tha hồ đi mây về gió. Sau 75, ông đổi thành Gác bút. Nhưng gác này là động từ: ông đã bị cấm viết.

Còn Nguyễn Tuân khi đi họp, mọi người chuyền cho ông tờ giấy, hàng cuối có chữ Bút Ký. Ông bảo bỏ bớt chữ Bút, vì khi ký tên, ai cũng phải dùng bút, có ai dùng chổi mà ký bao giờ. Nhà văn có khác, nói và nhìn sự vật khác người thường. Chẳng hạn khi họ nói:

–  Sách vở ích gì cho buổi ấy,

–  Mười người đi học chín người thôi.

Theo bạn, có mấy người đi học? Chín người hay một người?

Trong các tác phẩm văn chương ngày xưa (coi như trước 75), nhà văn nhà thơ hay dùng điển tích như Bá Nha Tử Kỳ, nàng Trác văn Quân …vì họ đọc rất nhiều sách kim cổ.

Ngày nay văn chương chữ nghĩa trong nước cũng có thêm rất nhiều tiếng mới. Những tiếng này người ở hải ngoại không thể nào hiểu được, nếu không có người diễn giảng. Ví dụ buôn dưa lê, haylàm bà Tám là ngồi lê đôi mách. Bà Tám là người nhiều chuyện. Đôi khi người ta bỏ luôn chữ bà: lại đi tám nữa rồi.

Muốn cười (ra nước mắt), cứ xem hình ảnh nhan nhản ngoài đường phố. Từ các bích chương quảng cáo nơi công cộng, hay thông cáo ở các cơ quan chính phủ, tới cách ăn mặc quái đản của các cô gái thời thượng (cổ). Nhất là tư duy sáng tạo khắc phục khó khăn trong giao thông. Cả một xã hội bát nháo, ai muốn làm gì thì làm. Trật tự là chữ lạ, tiên học lễ là gì? Không ai hiểu. Đói cho sạch là câu mơ hồ.

Ngày xưa các nhà giáo lão thành, cả đời tận tụy dạy học, viết sách để lại cho con cháu, lúc nào cũng nhắc nhở tới luân thường đạo lý.

–  Trai thời trung hiếu làm đầu.

–  Gái thời tiết hạnh làm câu trau mình.

Hồi xưa nghe nói những người theo chủ nghĩa hiện sinh, đã coi là ghê gớm. Bây giờ lối sống trong nước, không biết phải gọi là chủ nghĩa gì cho đúng.

Sống chết mặc bay, tiền thầy bỏ túi.

Trọng thầy mới được làm thầy

Những phường bội bạc sau này ra chi.

Ngày xưa thầy phải coi trọng hơn cha: Quân Sư Phụ. Vậy mà bây giờ toàn nghe trò đánh chết thầy.Thầy dụ dỗ trò. Nhà văn Nguyễn thị Hoàng chỉ viết truyện Vòng tay học trò, đâu có tả cảnh nào về sex đâu, chỉ có mỗi tội đưa ra một ý tưởng quá mới mẻ: cô giáo yêu học trò. Đã bảo tình yêu không phân biệt tuổi tác, con tim có những lý lẽ của nó.Có điều truyện đã vượt qua giới hạn của lễ giáo phong kiến nên bị kết tội, chỉ trích um sùm. Cậu học sinh trong truyện cũng đâu phải vị thành niên, nhưng cấm là cấm. Trong khi ở Mỹ có cô giáo dụ dỗ cậu học sinh chỉ 14 tuổi,khi cô có bầu mới bị phát giác. Đẻ xong, giao con gái cho bố mẹ “bạn trai”, rồi vô tù. Hết hạn, vừa lúc cậu học sinh đủ tuổi kết hôn.Cả hai chính thức làm đám cướicon gái lúc trước nay thành cô phù dâu nhí.

–  Yêu nhau mấy núi cũng trèo.

–  Mấy sông cũng lội mấy đèo cũng qua.

Mấy năm tù chỉ là cái lẻ tẻ. Đó là chuyện bên Tây, chứ bên ta chưa ai dám ngang nhiên tỉnh  coi thường dư luận như vậy.

Chẳng biết trong nước bây giờ trẻ con được học những gì, mà khi hỏi về lương tâm và liêm sỉ chẳng em nào biết. Truyện Kiều, Chinh phụ Ngâm, Nguyễn Khuyến, Nguyễn công Trứ… Không biết có được đưa vào chương trình giáo khoa hay không?

Thơ văn nhạc họa… là những món ăn tinh thần của con người. Khác với thú vật, sự sống chỉ có nhu cầu ăn uống. Đối với con người, đôi khi món ăn tinh thần còn quan trọng hơn cả đồ ăn thức uống. Phật ngồi im thiền định 49 ngày dưới gốc cây bồ đề, Ngài có ăn uống gì đâu, vậy mà đâu có chết. Trong khi những người ăn uống ngồm ngoàm, vô độ, thì bị gọi là những đứa phàm phu tục tử, võ dõng vô mưu, vai u thịt bắp.

Các cụ còn nói kẻ sĩ ba ngày không đọc sách, mặt mày khó coi!

Như vậy rõ ràng, đối với con người, món ăn tinh thần quan trọng hơn món ăn vật chất. Hãy nghĩ xem, trong 24 giờ/ ngày, bạn dành bao nhiêu thời gian cho việc ăn uống để nuôi cái xác phàm. Thời gian còn lại bạn làm gì? Học hành, nghiên cứu, nghe nhạc, xem phim… và mơ mộng.

Hãy tưởng tượng một buổi sáng thức dậy, không có truyền thanh, truyền hình, sách báo. Cả một không gian im lìm, bạn sẽ hoảng hốt hơn là khi thấy điện cúp, nước không chảy.

Với con người món ăn tinh thần cần thiết hơn món ăn vật chất. Bằng cớ là mỗi lần bạn bè của bố tôi gặp nhau. Thời buổi kinh tế kiệm ước, đồ ăn thức uống có chút xíu, mà sao mọi người nói cười rộn rã. Mặt mày ai cũng hớn hở, bình văn bình thơ nghe đã làm sao. Tôi là con bé để sai vặt, nhưng tôi vô cùng thích thú vì được nghe các bạn thơ văn của bố nói chuyện. Quả thật, ngay từ bé, tôi đã nhìn ra những nét đặc biệt của cả ba miền: Trung, Nam, Bắc của nước. Phong thổ của mỗi miền ảnh hưởng vào nếp sống, tâm tính và cách suy nghĩ của con người nói chung, và văn nghệ sĩ nói riêng của miền đó.

Miền Nam ruộng lúa mênh mông, sông rạch chằng chịt nên đời sống dễ chịu. Các món ăn cũng vì thế được chế biến đơn giản, nhanh gọn: cá lóc nướng trui. Con cá to đùng bọc đất sét, chất củi nướng. Chỉ nhấp nháy là bửa con cá ra, bỏ đầu, xương, da (vì đã dính vào đất sét), ăn phần thịt trắng nõn. Ănnhư vậy, mẹ tôi bảo ăn phí của Giời! Bắc Kỳ hả? Không có đâu, với một con cá như vậy. Nó sẽ được luộc lên, gỡ thịt để riêng. Xương và đầu giã nhuyễn, lọc lấy nước ngọt, đem nấu canh hay nấu cháo (gọi là nấu ám). Mẹ tôi rất nghiêm khắc trong chuyện dạy con. Không có kiểu hầu con như hiện nay đâu, con trai con gái gì cũng phải làm việc nhà. Khi mẹ đi chợ về là tất cả đứa lớn (trên 10 tuổi) là phải đứng dậy ra đón mẹ: đứa thì xách giỏ vào bếp, đứa cao thì treo nón (lá) vào chỗ cũ.Sau đó soạn giỏ, dao thớt, đặc biệt mẹ chỉ ngồi xuống là một đứa phải đẩy ngay cái ghế con cho mẹ ngồi xuống. Sau đó thì nhặt rau hoặc xé cua.Anh tôi chuyên làm việc này, vì tôi là con gái sợ bị cua kẹp. Anh tôi giã nhuyễn, để đó cho mẹ tôi lọc.Còn tôi nhặt rau xong, rửa sạch rồi thu dọn rác. Sau khi mọi thứ đã sẵn sàng để nấu, lúc đó chúng tôi mới được phép lên nhà, rồi muốn làm gì thì làm, với điều kiện không được làm ồn. Khi dọn cơm chỉ thấy có tô canh rau đay nấu với cua đồng, và đĩa tép riu nhỏ xíu. Vậy mà ồn ào xúm lại cả nhà, làm cho tôi nhớ tới truyện Hồn bướm mơ tiên của Khái Hưng. Khi đi thăm chùa, khách nghe dưới nhà bếp lách cách tiếng dao tiếng thớt, tiếng người lao xao, tưởng như đang chuẩn bị một bữa ăn thịnh soạn, chứ có đâu khi dọn lên, chỉ thấy bát cà, đĩa rau. Nhà tôi cũng vậy thôi, mọi người lăng xăng vào bếp nào có cơm gà cá gỏi gì đâu.Chỉ vì mẹ tôi là thế đấy, mẹ về là phải đứng dậy, không phải chào mẹ đã về, mà để biết bổn phận làm con.Có đâu như bây giờ, chẳng quan tâm đến ai, ai đi ai về cũng mặc, đang mải chơi game nên mắt cứ dán vào màn hình, chẳng cần biết chuyện gì khác.Đói thì vào bếp lục thức ăn, đồ uống. Coi như chuẩn bị bữa ăn không phải là chuyện của tụi nó..

Vì được tập tành từ nhỏ, nên năm tôi 13 tuổi, em gái tôi thua tôi một giáp. Mẹ tôi đi làm từ sáng sớm, về nhà khi chập choạng tối. Ngày xưa các lớp học chỉ có một buổi nên anh em chúng tôi thay phiên nhau trông em. Riêng tôi là con gái nên đảm thêm việc chợ búa cơm nước. Có một chuyện tức cười làm tôi nhớ mãi. Cô bạn hàng xóm là dân Nam Kờ chính gốc, ông bà nội ngoại ở Cần Thơ rất giàu có. Dĩ nhiên cô được ăn uống toàn món ngon, hàng ngày cô qua chơi với tôi. Hôm đó tôi nhờ cô bóc vỏ một lạng (100g) tép bạc để nấu canh rau cải. Cô vừa bóc vừa hỏi sao có chút xíu dzậy? Tôi ậm ừ, đủ nấu canh rồi. Khi bóc xong, cô cầm cái rổ nhỏ đựng vỏ và đầu tôm định trút vào thùng rác. May sao tôi thấy, la lên: đâu có bỏ. Cô bạn ngạc nhiên hết “thịch” rồi! Tôi trả lời chưa xong mà.

Trước con mắt ngạc nhiên của cô bạn, tôi lôi chày cối ra giã nát mớ vỏ và đầu tôm, sau đó dùng rây lọc nước. Nấu xong tôi giải thích cho cô bạn NK, phún và thịt  khác nhau chỗ nào, người Bắc đã tận dụng vỏ tôm, đầu cá, ngay cả những con cáy chẳng có bao nhiêu thịt.. Nhưng khi giã nát lọc lấy nước, chất ngọt cũng có từ  thịt cá, cua,tôm còn sót lại tụ thành phún.

Hứng chí tôi còn kể cho cô chuyện vui: bạn Nam Kỳ mời bạn ăn cơm. Món tôm rang của NK không có cắt râu, nên mỗi lần gắp là được cả chùm. Còn khi Bắc Kỳ mời lại, tôm rang được cắt râu gọn ghẽ, nên mỗi lần gắp chỉ được một con thôi.

Tôi còn khoe, chỉ có một con gà, má tao làm được mấy món: thân luộc, lòng xào dứa, cổ cánh bằm nhuyễn viên lại, nấu giả chim, còn lông thì để bán cho người ta mang về làm chổi lông gà.

Tôi còn “tự hào”, xứ tao nghèo, nhưng không đến nỗi như miền Trung sỏi đá,có chuyện  một anh học trò nghèo đi thi. Anh đẽo một con cá bằng gỗ, khi vào quán ăn, anh chỉ mua cơm và xin một chút nước mắm.. Anh chấm con cá vào nước mắm, ung dung như đang ăn cơm với cá. Sau đó con cá gỗ lại được cất đi, để dùng cho bữa sau. Chuyện thật hay tưởng tượng, nhưng chắc chắn anh học trò này không phải là dân Nam Kờ với toàn những món nguyên con: cá nướng trui, gà đút lò. Tự ái dân tộcnổi lên khi còn ở trong trại định cư, đám con nít Nam Kờ chọc anh em tôi là Bắc Kỳ ăn cá rô cây!

Phong thổ tạo ra ẩm thực, bạn bố tôi về xứ Quảng ăn tết. Khi trở lại saigon, ông cho bánh tổ, bánh rế, bánh men, kẹo gừng, kẹo mạch nha… nguyên liệu chỉ là đường phổi, khoai, nếp, đậu, cá tôm đâu chẳng thấy ở xứ khô cằn sỏi đá. Cuộc sống khó khăn đã khiến người ta cố gắng vươn lên. Miền Trung đã sản sinh ra biết bao nhân tài, điển hình là các ông vua triều Nguyễn, ngay cả Tổng Thống Ngô đình Diệm cũng là người dân xứ Huế.

Văn thi nhạc sĩ gồm đủ người ở cả ba miền: Trung Nam Bắc.

Văn sĩ miền Nam như Hồ biểu Chánh, Sơn Nam, Hồ Trường An, Bình nguyên Lộc…

Thi sĩ miền Bắc như Lưu Trọng Lư, Nguyễn Bính…

Nhạc sĩ miền Trung như Hoàng Thi Thơ, Châu Kỳ…

Những dí dỏm, thâm trầm, đơn  mộc mạc đặc trưng của mỗi miền đều thể hiện trong các tác phẩm của họ. Văn là người. Khi cho ra những món ăn tinh thần, ít nhiều gì chúng ta cũng thấy bàng bạc hình ảnh con người tác giả. Từ quan niệm sống cho tới cá tính của mỗi người.

Mặc dù vợ của mấy ông nhà văn nhà thơ ít khi được nhắc đến. Họ như những bóng mờ, chỉ biết Tú Xương có năm con, nhà thì ở gần sông, bà vợ buôn bán lặt vặt (bởi vậy mới nghèo): quanh năm buôn bán ở mom sông, nuôi đủ năm con với một chồng. Tuy vậy Tú Xương cũng biết cám ơn người bạn đời, chứ Tản Đà đọc thơ của ông, không nghe nói đến vợ con, toàn nghe than thở văn chương hạ giới rẻ như bèo. Còn làm thơ thì toàn ca tụng những ai ở đâu đâu, trong khi các bà vợ một nắng hai sươnghầu như không ai nhớ đến.

Sau 75, bắt gặp hình ảnh của những nhà văn nhà thơ miền Bắc sống chui rúc ở những căn nhà ổ chuột. Cuộc sống cơ cực, tôi cảm thấy chạnh lòng.Văn nghệ sĩ miền Nam đâu có khốn khổ như thế. Tài hoa của đất nước bị đối xử thế sao? Lê Xuyên chú Tư Cầu bán vé số, Trúc Phương ngủ ở bến xe cũng chỉ khi nước mất nhà tan. Trước kia vốn truyền thống trọng nghĩa khinh tài, họ cũng đã có thời gian huy hoàng, xứng đáng với những cống hiến của họ.

Chẳng tham ruộng cả ao điền,

Tham vì cái bút cái nghiên anh đồ.

Anh đồ kẻ sĩ là hình ảnh tượng trưng cho những văn nghệ sĩ. Những người dùng tim óc để cho ra những món ăn tinh thần cho mọi người. Họ được ví như kiếp con tằm: nhả hết tơ rồi chết. Dốc hết mọi tinh hoa làm đẹp cho đời chỉ vì: cái nghiệp của họ. Đã mang cái nghiệp vào thân, cũng đừng trách móc trời gần trời xa.

Mẹ tôi thường nói ăn no hóa lú. Khi no nê người ta chẳng muốn làm gì, những người giàu có sung sướng hình như tài năng ít phát triển. Trong khi cuộc đời của những danh nhân,  nhân toàn là những người có cuộc sống khó nghèo, không phải lúc tuổi thơ thì cũng lúc trưởng thành. Vũ trọng Phụng chết khi chưa tới tuổi ba mươi. Đặng thế Phong cũng thế, chết bởi những bệnh không đáng chết. Sự thiếu thốn làm thành mơ ước. Nguyễn Bính mồ côi mẹ từ nhỏ, nhưng ai cấm ông mơ ước:tết đến mẹ tôi vất vả nhiều. Chị đi em ở lại nhà, vườn rau em giữ mẹ già em thương.

Khuôn mặt không đẹp trai, nhà nghèo, học ít, nhưng ông mơ mộng có bao người con gái yêu ông, hay ông yêu. Nguyễn Bính đã làm bao nhiêu con tim thổn thức, ông làm thơ cho tha nhân hay cho chính mình.

Sau khi bức màn sắt được vén lên do biến cố mất nước 1975, mọi người mới thấy được bằng xương bằng thịt những con người tài hoa: Văn Cao, Nguyễn Tuân… cuộc sống của họ ở miền Bẳc sao mà thê thảm thế. Nhà không phải là nhà, quần áo đồ đạc của họ trông thật nhếch nhác. Nhà văn Dương thuHương đã ngồi sụp ở chợ Bến Thành khóc nức nở khi biết mình bị lừa. Đoàn Chuẩn với bản nhạc Gửi người em gái miền Nam âm điệu du dương. Nhạc quá hay, ý thật tuyệt, nhưng lời thì làm cho các người trẻ tuổi viết Comment bên dưới: sao mà tuyên truyền láo khoét vậy. Thương cho em vào miền Nam phải sống trong nghèo đói, cúi đầu mà đi!

Những thương tiếc cho văn nghệ sĩ miền Bẳc chưa kịp nguôi, thì tới lượt văn nghệ sĩ miền Nam, những người bị gọi là bọn biệt kích cầm bút chịu cảnh tù đầy: Vũ Hoàng Chương, Dương Hùng Cường, Nguyễn Mạnh Côn, Minh Kỳ, Thục Vũ… Thi hào thi bá còn đâu. Những con người chỉ sống bằng ngòi bút, nhả ngọc phun châu. Những mình hạc xương mai, trói gà không chặt nay chịu cảnh đọa đầy.

Lũ chúng ta đầu thai lầm thế kỷ.

Xuân đời chưa hưởng kịp, mây mùa Thu đã sang.,

                                                                     VHC

Ngày xưa khi còn đi học, không phải chỉ có mấy ông già mới bình thơ, bọn nữ sinh chúng tôi cũng chuyền tay nhau những tập thơ tình. Để rồi tấm tắc:  thi nhạc sĩ sao mà tài thế. Trong bồ chữ nghĩa,mình thò tay vào thì toàn lôi ra sỏi đá. Còn tới lượt mấy ổng, chẳng cần mở mắt, cứ bỏ tay vào bồ chữ, là lôi ra toàn ngọc trai, cẩm thạch, hột xoàn.

–  Có phải em yêu tôi thành thật

–  Hay là tinh nghịch nói cho vui.

Con bạn tôi oang oang, lời thơ dịu dàng ngọt ngào quá chừng.. Chữ dùng thì khỏi chê. Thắc mắc mà không dám hỏi, rụt rè dò ý   phải cho mình đỡ quê, nếu bị bé cái lầm.Vẫn hy vọng người ta đâu có ác, nên chỉ trách nhẹ nhàng  tinh nghịch. Chỉ là đùa thôi mà.

Khen xong, con nhỏ nói, cỡ tao chắc chỉ dám hỏi:

–  Cô có thương tui thiệt lòng không?

–  Hay cô làm bộ giỡn chọc tui.

Bọn con gái chúng tôi đã hét lên thơ con cóc, nghe cù lần. Lại còn hăm dọa này kia, thiệt là cú mà đứng bên cạnh công.

Nhiều khi tụi tôi còn dám tấm tắc khen phò mã tốt áo, mang thơ Vũ hoàng Chương, Đinh Hùng ra bàn.

Những bài thơ chuyện chúng mình của Nhất Tuấn hay thơ  Nguyễn Bính lúc nào cũng có trong cặp.

Ngày xưa văn nghệ sĩ chỉ sống bằng ngòi bút. Viết báo thì có nhuận bút, viết sách thì có nhà xuất bản trả tiền cho bản quyền. Đời sống của văn nghệ sĩ trong miền Nam đâu có thê thảm như những văn nghệ sĩ miền Bắc. Nhà văn Xuân Vũ vốn người miền Nam tập kết ra Bắc. Khi biết sự thật sau bức màn sắt, ông đã tìm cách trở về hồi chánh, cũng như ca sĩ Đoàn Chính. Họ là những nhân chứng nói ra những sự thật đau lòng về thân phận của những văn nghệ sĩ miền Bắc sau năm 54.

Nguyễn Bính chết trong nghèo nàn khủng khiếp. Không cho nằm bệnh viện, không cáo phó. Một đám tang buồn tẻ lạnh lẽo thê lương cho con người tài hoa, ông đã qua sông đắm đò. Như NB đã nói cuộc đời của ông là hình ảnh của người con gái Lỡ bước sang ngang. Xót xa cho kiếp con tằm. Những sợi tơ óng ánh từ những vần thơ của ông, ở lại với chúng ta mãi mãi.

Lại Thị Mơ

Lại Thị Mơ

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Khóc Bạn

 

Bảy năm rồi em ra đi vĩnh viễn 
Mang theo em nhiều hoài bảo chưa thành 
Một mình em cô độc giửa đất lành 
Em có nhớ những bạn bè xưa củ 

Ngày đưa em, anh bên bờ xứ lạ 
Không biết làm gì chỉ biết nhớ thương 
Nhìn trời mưa lòng càng thấy buồn hơn 
Em có lạnh nơi chốn xâu mộ huyệt ? 

Có những lúc anh giận trời oan nghiệt 
Sao cho em nhiều đau khổ cuộc đời 
Em xanh xao , em dễ vở , chơi vơi 
Em chông chênh như liểu mềm trước gió 

Dáng em gầy buồn như là lá cỏ 
Bé tiểu thư công chúa của lớp mình 
Nhưng hồng nhan thường bạc phận vô tình 
Em ra đi không một lời từ giả . 

Ngày đưa em bạn bè chắc đủ cả 
Chỉ có anh lưu lạc tận nơi này 
Lòng thương em đến tâm trí hao gầy 
Hồn khắc khoải với trăm ngàn dĩ vãng …

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Lỡ bị côn trùng chui vào lỗ tai, cần xử trí thế nào?

Côn trùng chui vào tai thường xảy ra khi bạn đang ngủ, cả ngủ trên giường hay nằm úp tai xuống mặt đất. Triệu chứng thường gặp là đột ngột đau dữ dội một bên tai (trước đó không có bệnh gì liên quan đến tai). Có thể có những cơn đau dữ dội xen kẽ với khoảng thời gian âm ỉ. Nguyên nhân là côn trùng chích đốt hoặc chân có gai ngạnh đâm vào tai. Nhiều người cảm giác như có con gì bò trong tai, ngứa ngáy. Trẻ nhỏ đang ngủ khóc thét lên.

Cấu tạo bên trong của tai (Ảnh qua: Yduoc.net)

Một số người tai bị chảy nước hoặc máu do côn trùng gây trầy xước, rách da ống tai, rách màng nhĩ, nhất là côn trùng sống to có càng hay ngạnh sắc bén như dế, gián, cào cào. Những trường hợp nhẹ hoặc dị vật nhỏ như kiến, ruồi muỗi, thiêu thân, ve chó… triệu chứng có thể không ào ạt bằng những dị vật to hay có gai ngạnh hoặc nọc độc như ong…

Khi côn trùng bò trong ống tai, chúng ta chỉ có cảm giác nhột, khó chịu, ngứa ngáy. Lúc côn trùng gây sang chấn ống tai hay màng nhĩ sẽ gây rất đau. Mức độ đau khác nhau tùy người, có người có thể chết ngất, có người chỉ cảm giác khó chịu mà thôi và tùy thuộc mức độ tổn thương.

Trong trường hợp này, bạn cần thật bình tĩnh để xử lý đúng cách tránh gây những hậu quả nghiêm trọng tới thính lực. Hãy thử dùng một số mẹo sau để côn trùng “ngoan ngoãn” chui ra khỏi tai.

1. Sử dụng dầu Oliu

Dầu oliu vừa thơm vừa công hiệu xua côn trùng tốt (Ảnh: Biliste)

Khi phát hiện côn trùng bay vào tai, nên khéo léo nhỏ 1 giọt dầu oliu vào bên trong. Điều này sẽ khiến con côn trùng bị ngộp thở và tìm cách ra ngoài.

Lưu ý: Tuyệt đối không sử dụng biện pháp này khi bạn thấy đau tai mà không phải do côn trùng gây nên, trong trường hợp tai bị chảy máu, có vết thương hở.

2. Dùng rượu

Thấm rượu vào 1 miếng bông nhỏ. Để miếng bông bên ngoài tai và nhẹ nhàng nhỏ 1 vài giọt rượu vào trong. Điều này sẽ khiến khu vực quanh tai được vệ sinh và côn trùng bò ra ngoài.

3. Dùng ánh sáng

Côn trùng có tính hướng ánh sáng, nên có thể sẵn sàng bay vào lửa không thương tiếc – “Như con thiêu thân” (Ảnh: Pinterest)

Biện pháp chiếu đèn sáng vào tai có thể áp dụng vì đa số côn trùng gặp ánh sáng sẽ hướng sáng, tự động bò ra ngoài. Bạn có thể lấy đèn chiếu vào tai hoặc thắp ngọn nến trước lỗ tai.

Dưới đây là một số sai lầm thường gặp khiến tình trạng có thể trở nên tệ hơn, bạn không nên mắc phải:

1. Tuyệt đối không sử dụng bông tăm

Tuyệt đối không sử dụng bông tăm, que hay bất cứ vật dụng nào khác để ngoáy tai. Như vậy chỉ khiến côn trùng bị đẩy sâu vào bên trong và tình hình trở nên tồi tệ hơn. Ngay cả trong trường hợp bạn may mắn kéo được côn trùng ra ngoài cũng tăng nguy cơ bị viêm tai hoặc thính lực suy giảm.

2. Tuyệt đối không dùng tay bít lỗ tai

Tuyệt đối không chặn đường ra của côn trùng (Ảnh: healthline)

Nếu làm như vậy sẽ khiến tai bị đau hơn, thậm chí làm cho côn trùng sợ hãi và đốt vào phía bên trong.

Khi nào cần gặp bác sỹ?

Nếu không thể lấy côn trùng ra khỏi tai bằng các phương pháp tại gia, bạn nên đến gặp bác sỹ để được hỗ trợ càng sớm càng tốt. Đừng chủ quan vì những sơ suất nhỏ cũng có thể khiến bạn làm hỏng thính lực.

Khám tai (Ảnh minh hoạ: ViCare)

Côn trùng chết thì đơn giản hơn là lấy ra bằng những dụng cụ chuyên khoa như kẹp, móc… Nếu côn trùng còn sống, bác sỹ sẽ làm côn trùng chết nhanh bằng các loại thuốc như thuốc tê, nước oxy già nhỏ vào tai, các thuốc nhỏ tai như otipax, polydexa, dầu glycerin, dung dịch povidine…

Một số trẻ hốt hoảng, kích động, bác sỹ sẽ gây mê hoặc tiền mê nhẹ để giúp bé ngủ trong quá trình làm thủ thuật gắp côn trùng ra. Không gây sang chấn thêm nguy hiểm do cố lấy trong tình trạng bé giãy giụa.

Hoàng Kỳ (T/h)

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

8 hiện tượng bí ẩn, kỳ lạ chỉ xảy ra khi bạn ngủ

8 hiện tượng bí ẩn, kỳ lạ chỉ xảy ra khi bạn ngủ: Có 2 điều khoa học chưa giải thích được
Mộng du là một trong những hiện tượng kỳ lạ gặp phải lúc ngủ.

Con người có thể gặp phải các hiện tượng kỳ lạ khi ngủ như mộng du, bóng đè… và nhiều điều trong số đó vẫn còn là một ẩn số đối với khoa học.

 

Hầu như ai cũng từng gặp phải những cảm giác kỳ lạ và khó chịu trong lúc ngủ. Hóa ra, mộng du và bóng đè là hai hiện tượng có bản chất hoàn toàn trái ngược nhau.

1. Cảm giác hụt chân/rơi từ trên cao xuống

8 hiện tượng bí ẩn, kỳ lạ chỉ xảy ra khi bạn ngủ: Có 2 điều khoa học chưa giải thích được - Ảnh 1.

Mô tả hiện tượng: Đôi khi chúng ta cảm giác như mình bị rơi từ trên cao xuống với cảm giác rất chân thực và sợ hãi đến khi tỉnh giấc. Hoặc cảnh tượng mơ mình đang bay nhưng bị vấp ngã và rơi xuống rất khó chịu.

Tại sao xảy ra hiện tượng này: Quá trình ngủ cũng giống như chúng ta đang “chết dần”, bởi vì lúc này, nhịp tim và hơi thở chậm, xuống ở mức rất thấp.

Điều này đã khiến bộ não cảm thấy hoảng sợ và truyền dẫn tín hiệu để kiểm tra xem người đó còn sống hay không, và đánh thức cơ thể, các cơ bắp thức giấc.

2. Bóng đè

8 hiện tượng bí ẩn, kỳ lạ chỉ xảy ra khi bạn ngủ: Có 2 điều khoa học chưa giải thích được - Ảnh 2.

Bóng đè khiến cơ thể sợ hãi, mệt mỏi.

Mô tả hiện tượng: Bạn bất chợt tỉnh dậy vào ban đêm nhưng lại không thể cử động cơ thể. Thêm vào đó, người bị bóng đè còn cảm thấy khó thở và nhìn thấy các ảo giác đáng sợ giống như có ai đó trong phòng.

Giải thích: Các nhà khoa học giải thích, hiện tượng bóng đè xảy ra khi bộ não của con người tỉnh, dù lúc đó cả cơ thể vẫn đang trong trạng thái ngủ. Do đó, khi não bộ gửi các tín hiệu cử động xuống chân tay thì những bộ phận này vẫn chưa tỉnh. Điều này dẫn đến hiện tượng cảm thấy nặng nề, tê liệt toàn thân.

Theo ước tính, có khoảng 7% dân số thế giới cho biết đã gặp phải tình trạng bóng đè. Người ta cũng cho rằng hiện tượng này liên quan đến tư thế nằm ngửa khi ngủ.

3. Mộng trong mộng

Đây là một hiện tượng nằm mơ thấy mình đang mơ.

Mô tả: Bạn đang nằm mơ thì bất chợt tỉnh giấc nhưng kỳ lạ là bạn đang tỉnh mộng ở trong một giấc mơ khác. Hiện tượng này khá phổ biến và có khá nhiều người gặp phải hiện tượng tỉnh giấc trong mộng.

Giải thích: Giới khoa học hiện vẫn chưa tìm ra được lời giải thích chính xác nhất cho hiện tượng lạ này.

4. Mộng du

Mô tả: Trạng thái lúc này của cơ thể trái ngược lại với bóng đè, tức là phần ý thức đang ngủ nhưng cơ thì không bị liệt.

Những người mắc chứng mộng du thường đột nhiên rời khỏi giường ngủ, di chuyển và làm các công việc thường nhật như dọn dẹp, đi bộ hay thậm chí là bước ra khỏi nhà trong tình trạng mắt vẫn nhắm nghiền lại.

Điều này thường rất nguy hiểm. Sau khi tỉnh dậy vào buổi sáng, họ sẽ không nhớ bất cứ việc gì đã làm trong quá trình mộng du vào ban đêm.

Giải thích: Hiện tượng xảy ra khi não bộ vẫn ngủ, còn các cơ bắp thì đã thức dậy. Có khoảng 4,6% – 10,3% dân số thế giới mắc chứng mộng du, trong đó, tỷ lệ cao nhất là ở trẻ em. Hiện nguyên nhân và phương pháp điều trị mộng du vẫn chưa thực sự rõ ràng.

5. Chứng ngưng thở lúc ngủ

8 hiện tượng bí ẩn, kỳ lạ chỉ xảy ra khi bạn ngủ: Có 2 điều khoa học chưa giải thích được - Ảnh 4.

Ngưng thở trong lúc ngủ có thể rất nguy hiểm.

Hiện tượng: Đây là trạng tháu ngừng thở đột ngột trong giấc mơ khiến bạn thức dậy. Nếu thường xuyên gặp phải hiện tượng này, có thể khiến chất lượng giấc ngủ giảm xuống, cảm giác não thiếu oxi trong khi ngủ. Ngoài ra, ngưng thở lúc ngủ cũng có thể gây áp lực lên động mạch và các vấn đề về tim.

Giải thích: Những người già, người béo phì hoặc người thường hút thuốc lá thì có nguy cơ mắc phải hiện tượng này cao.

Trong khi ngủ, các cơ ở hầu thư giãn, nhưng đôi khi có thể dẫn đến tắc nghẽn đường thở tạm thời. Có một số cách để có thể giảm chứng ngưng thở lúc ngủ là chơi didgeridoo, một loại nhạc cụ của Australia.

6. Giấc mơ bị trùng lặp

Mô tả: Những giấc ngơ tuy khác nhau nhưng lại tồn tại những điểm tương đồng và được lặp đi lặp lại.

8 hiện tượng bí ẩn, kỳ lạ chỉ xảy ra khi bạn ngủ: Có 2 điều khoa học chưa giải thích được - Ảnh 5.

Những giấc mơ lặp đi lặp lại phản ánh chi tiết, vấn đề bị bỏ quên ở thực tại.

Giải thích: Các nhà tâm lý học tin rằng, bộ não sử dụng những giấc như giống như một công cụ để nhắc nhở chúng ta về những điều đã bị bỏ quên trong cuộc sống. Vì vậy, những giấc mơ sẽ được lặp đi lặp lại cho đến khi người chủ giải quyết xong sự việc ở hiện thực.

 

7. Nói mê, nói mớ

8 hiện tượng bí ẩn, kỳ lạ chỉ xảy ra khi bạn ngủ: Có 2 điều khoa học chưa giải thích được - Ảnh 6.

Nói mê có thể vô tình để lộ bí mật.

Mô tả hiện tượng: Người bị suy nhược cơ thể thường không biết gì về hiện tượng này và không nhớ gì sau khi tỉnh dậy. Nói trong lúc ngủ không gây nguy hiểm về mặt tâm lý, mặc dù người gặp vấn đề như vậy có thể lo lắng về việc để lộ bí mật.

Giải thích: Đàn ông và trẻ em là hai đối tượng dễ mắc nói trong lúc ngủ nhiều nhất với lý do căng thẳng trong cuộc sống. Tinh thần của những người này đang cố chống lại những gì mà họ không đồng ý trong thực tế.

8. Đột ngột giác ngộ trong lúc ngủ

8 hiện tượng bí ẩn, kỳ lạ chỉ xảy ra khi bạn ngủ: Có 2 điều khoa học chưa giải thích được - Ảnh 7.

Đôi khi, người ta có thể ngộ ra một giải pháp, hay nút thắt để gỡ rối vấn đề.

Hiện tượng: Đôi khi, chúng ta không thể tìm ra một giải pháp cho vấn đề trong một thời gian dài và luôn nghĩ về nó. Sau đó, trong giấc mơ, não bộ cho chúng ta đầu mối về phần quan trọng của vấn đề đó.

Dmitri Mendeleev, một nhà hóa học và nhà phát minh nổi tiếng người Nga, đã bị ám ảnh về việc tạo ra một bảng các nguyên tố định kỳ. “Cha đẻ của bảng tuần hoàn hóa học” đã nhìn thấy nó trong một giấc mơ. Điều tương tự cũng đã xảy ra với nhà hóa học August Kekulé khi ông mơ ước một công thức cho benzen.

Tại sao xảy ra hiện tượng này: Đôi khi tiềm thức của chúng ta biết câu trả lời, mặc dù chưa thật sự nhận thức được. Trong thời gian ngủ, tiềm thức hoạt động tích cực hơn và có thể cung cấp cái nhìn sâu sắc hơn.

Ảnh/ Nguồn: Brightside

 

theo Trí Thức Trẻ

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Chung Tình

Trong câu chuyện 35 năm nhìn lại, chúng tôi ghi được biết bao nhiêu sự kiện và nhân vật. Tài liệu thì nhiều, với một chút chủ quan và tình cảm riêng tư, chỉ có thể viết lại một số hết sức hạn chế. Tuy nhiên cũng đủ thể hiện được những câu chuyện tiêu biểu qua nhiều lãnh vực. Những sinh hoạt cộng đồng, gương hy sinh, những giây phút bên nhau trong tình quê hương, trong tình bằng hữu và tình nghĩa đấu tranh.
Nhưng xem đi xem lại, chúng tôi còn thiếu một đề tài rất quan trọng của cả một đoạn trường.  Một đề tài vượt thời gian, vượt không gian, vượt biên giới của thù nghịch, ra ngoài khuôn khổ của chính trị.  Đó là chuyện tình.
Vì vậy xin kể một chuyện tình rất bình dị, bắt đầu từ sân trường trung học Vũng Tàu qua đến đại học của một thành phố Sài Gòn đổi tên.  Chuyện vượt biên bất thành, rồi 10 năm đợi chờ ODP.  Câu chuyện một thanh niên xây dựng lại sự nghiệp bằng công việc bán vé số đầu đường ở Việt Nam cho đến lúc đi bỏ báo tại San Jose. Sau cùng, trở thành một chuyên gia có chút công danh và sự nghiệp trên quê hương mới.  Nhưng điều quan trọng nhất là trước sau anh chỉ có một mối tình.  Một gia đình biết bao nhiêu nghịch cảnh.  Một gia đình bất toàn vẫn còn mang nặng khó khăn có thể cho đến lúc mãn chiều xế bóng.  Một mối tình học trò đầy thử thách nhưng luôn luôn lạc quan và sau cùng phải được gọi là hết sức chung thủy. Phải chăng trong suốt cuộc chiến Việt Nam hơn 20 năm cộng với 30 năm hậu chiến tù đày, di tản, tỵ nạn, chúng ta thường quên trong văn tự Việt Nam vẫn còn hai chữ Chung tình.
Sau 35 nhìn lại, xin gởi đến quý vị câu chuyện tình:
Em còn nhớ hay em đã quên. Luôn luôn anh vẫn là kẻ chung tình.
blank Đôi mắt huyền diệu
Chuyện rất giản dị và gần gũi với cuộc sống của chúng ta.  Mở trang quảng cáo của một văn phòng nha sĩ trên Việt Tribune chúng ta thường thấy hình màu của một phụ nữ với hàm răng xinh đẹp.  Nhưng ai cũng cho rằng đôi mắt của cô mới thật huyền diệu.  Chính người chồng bác sĩ nha khoa đã đem hết tài nghề của một thời chụp hình dạo trên bãi biển Vũng Tàu để tô điểm bức hình quảng cáo cho văn phòng của mình.  Đôi mắt đẹp đẽ và huyền diệu của người vợ bây giờ thực sự chỉ nhìn thấy những hình ảnh rất mờ nhạt của cuộc đời.  Mãi mãi cô chỉ còn ghi nhận được chân dung lần cuối của người chồng vào đầu thập niên 90.
Suốt bao năm qua, từ lúc gia đình đến San Jose, cô chỉ còn nghe mỗi ngày tiếng nói của anh với hình ảnh của người yêu lờ mờ sương khói.  Cô không phải là người khiếm thị từ lúc sơ sinh.  Phải sau 2 năm đại học, sống với tình yêu rồi mắt cô mờ dần và trong tim không còn hình ảnh của ai khác nữa.  Chỉ còn hình ảnh một người.  Khi mới bước chân vào đại học, Mai đã cảm thấy đôi mắt mang mầm bệnh, nhưng vẫn còn hy vọng ở nền y khoa tiến bộ.  Vẫn cố gắng theo học đồng thời tìm hết cách chữa bệnh.  Cô sống trong hy vọng và sống với tình yêu.
Mối tình học trò, mối tình sinh viên
Sinh trưởng ở Vũng Tàu và cùng học một trường trung học, thời kỳ 60-70 lúc đó là trường công duy nhất. Công Huyền Tôn Nữ Quỳnh Mai là nữ sinh xuất sắc nhất trường.  Trong khi đó cậu Nguyễn Hoàng Tuấn, trong tuổi thiếu niên suốt ngày ham vui với biển xanh và sân cỏ nhưng vẫn nổi tiếng học giỏi trong phía nam sinh.blank
Khi lên lớp 10 cho đến lớp 12 thì nam nữ học chung.  Tuấn bắt đầu để ý đến Quỳnh Mai. Cô Mai có chiếc xe đạp để đi học.  Bài ca tình yêu học trò thường hát ngày nay đã rất hợp với câu chuyện tình ngày xưa.  Hoa Phượng nở đầy trời Vũng Tàu. “Chiếc giỏ xe chở đầy hoa Phượng, em chở mùa hè của tôi đi đâu”.  Một tấm hình cô học trò bé nhỏ dừng xe trò chuyện với bạn trai ốm yếu tong teo, ngày nay đã trở thành di sản quý báu của tình yêu.
Khi cả hai trưởng thành, qua thời trung học 75 là lúc miền Nam đổi đời.
Năm 1979 là khúc quanh của cuộc đời đôi bạn.  Con đường vào đại học Sài Gòn hết sức chông gai, cả miền Nam ai cũng biết câu chuyện học tài, thi lý lịch.  Quỳnh Mai thi vào đại học tổng hợp.  Tuấn thi vào y khoa.  Đối với Tuấn đây là kỳ thi sống chết, vì anh đã có giấy gọi đi nghĩa vụ.  Con đường khổ nạn qua Campuchia đã mở rộng.  Cả 2 gia đình đều không có liên hệ cách mạng nhưng cũng chỉ là thường dân nên lý lịch vẫn được coi là nhẹ.  Vấn đề là bài thi phải hết sức xuất sắc.  May mắn, cả hai đều được tuyển.
Trước ngày đôi trẻ lên đường vào đại học, anh Tuấn chính thức tỏ tình với Quỳnh Mai. Dưới mây trời Vũng Tàu 1979, lời hẹn ước đưa ra.  Đôi ta thề yêu nhau trọn đời. “Yêu ai, yêu cả một đời.”
Tiếp theo 2 năm đại học, so với tuổi trẻ khác cuộc sống của Quỳnh Mai và Tuấn vẫn còn có thể vượt qua những khó khăn về vật chất và tinh thần trong chế độ mới.  Tuy có vất vả nhưng vẫn chưa phải là nỗi đau thương chính của câu chuyện tình.
Khi đôi mắt của Quỳnh Mai cứ mờ dần và cô không còn khả năng học tiếp.  Mai không nhìn thấy chữ trên bảng và đi xe đạp thường bị tai nạn.  Cặp mắt trong sáng linh động, nhưng thực sự cô không còn nhìn thấy gì nữa, nhất là vào buổi tối.  Cuộc sống bắt đầu đi vào con đường chỉ thấy đêm dài một đời.
Cả nhà tìm hết cách chữa bệnh nhưng tại Việt Nam vào thời đó kết quả vô phương.  Sau cùng chỉ còn một con đường duy nhất.  Tuấn dẫn Quỳnh Mai bỏ học để vượt biên.  Mục đích thực sự của chuyến đi không phải là tìm tự do mà là đi tìm ánh sáng cho người yêu. Hy vọng vào nền y khoa tại Hoa Kỳ.
Chuyến vượt biên thất bại.  Tất cả đều bị bắt.  Quỳnh Mai vì khiếm thị nên được thả. Tuấn bị tù 6 tháng.  Cả hai chấm dứt cuộc đời sinh viên.  Đặc biệt đối với Tuấn, giấc mơ tốt nghiệp y khoa tan tành.  Hai người trở lại Vũng Tàu chật vật với cuộc sống ngày càng khó khăn. Quỳnh Mai cố gắng kèm trẻ học Anh văn với cặp mắt khi tỏ khi mờ.  Tuấn bắt đầu đi bán vé số qua ngày.
Mọi người vẫn còn nhớ năm 79 cả Vũng Tàu chỉ có hai người đậu vào y khoa Sài Gòn. Radio đọc tên cậu Tuấn khắp xóm, gia đình hết sức tự hào.  Vì vậy khi có tin Tuấn bị tù, gia đình và bạn bè ai cũng cho rằng bỏ trường y khoa đầy hứa hẹn để đưa người yêu khiếm thị vượt biên là một quyết định nhầm lẫn.
Nhưng làm sao cắt nghĩa được tình yêu.
 
Ông Trời ngó lại
Nhưng Tuấn không phải bán vé số suốt đời. Với số tiền dành dụm, anh mua chịu được 1 máy ảnh và trở thành anh chàng chụp hình dạo ở bãi biển cho các du khách bắt đầu trở lại Việt Nam.
Nghề lại dạy nghề, Tuấn tìm cách làm phòng tối rửa hình và cuộc sống vươn lên từ đó. Khi bắt đầu có đồng ra đồng vào, Tuấn vẫn còn nhớ đến lời hẹn ước với cô Quỳnh Mai và cả hai bắt đầu xây dựng gia đình.  Lễ hỏi và lễ cưới của anh chàng chụp hình với bộ hình kỷ niệm còn đầy đủ.  Rồi đứa con trai đầu tiên ra đời.  Cô vợ trẻ sống bên chồng, nương tựa vào anh đủ cả nghĩa đen và nghĩa bóng.
Vì quá thất vọng với chuyện vượt biên nên cả 2 phía gia đình đều trông cậy vào hồ sơ đoàn tụ do các anh chị bảo lãnh.  Sau 10 năm chờ đợi, 1990 anh thợ chụp hình Vũng Tàu đem vợ con qua Mỹ và định cư tại San Jose.  Bà con ODP ai mà chẳng biết, diện này là diện mồ côi, chính phủ dứt khoát bắt phải 5 năm tự túc.  Gia đình chỉ có thẻ Medicare, bông sữa và một phần Food stamp.
Anh chàng Tuấn lúc đó đã 30 tuổi, Anh ngữ vẫn ở trình độ ESL, giấc mơ học bác sĩ vẫn còn khi ẩn khi hiện.  Nhưng đối diện thực tế nên vẫn phải tìm đường lao động nuôi gia đình.  Một mặt vẫn tìm cách cho vợ đi chữa bệnh, mặt khác phải tìm cách sinh tồn.blank
Những ngày đầu tại Cali, Tuấn làm đủ mọi nghề, từ Taco Bell cho đến Assembly.  Có những buổi sáng sớm lại còn chạy thêm 1 “Rao” báo Mercury News.  Quỳnh Mai vẫn còn nhớ rằng nửa khuya Tuấn đi bỏ báo rồi về ngủ lại một lát, tiếp theo là một ngày dài vừa đi học, vừa đi làm.  Cô rất buồn là không giúp gì được cho chồng.
Đứa con gái thứ nhì ra đời, nhưng cháu lại có bệnh chậm phát triển, không được như đứa con trai đầu lòng, hết sức thông minh và chăm chỉ.  Với hoàn cảnh khó khăn đủ mọi bề, anh Tuấn cố chịu đựng để tìm đường vươn lên.  Sau những năm đầu vất vả, gia đình được chính phủ cho trợ cấp.  Các cán sự Việt Nam thông cảm, Nguyễn Hoàng Tuấn quyết tâm theo đuổi con đường đại học.  Nhưng biết giới hạn của cá nhân và gia đình, Tuấn theo học nha khoa dù sao cũng đỡ vất vả hơn ngành y.
Vào đại học là anh phải bỏ lại “Rao” báo, từ giã Taco Bell và rất hân hoan khi được tin bị lay off từ hãng điện.  Khó khăn mấy rồi cũng xong. Trong thời gian sinh viên, Tuấn vẫn còn sức sinh hoạt với cộng đồng.  Anh là chủ tịch hội sinh viên Việt Nam tại Mission nhiệm kỳ 92-94 và đồng chủ tịch sinh viên liên trường 1994.  Trong nhiệm vụ này anh đã phối hợp sinh viên tham gia Đi bộ cho thuyền nhân và gây quỹ cho trẻ em khuyết tật.  Tuấn rất quen thuộc với sinh hoạt của Liên hội người Việt tại San Jose.blank
Năm 2001 sinh viên Nguyễn Hoàng Tuấn tốt nghiệp nha khoa bác sĩ tại UCLA và bắt đầu đi tìm việc làm.  Xem lại cuộc đời của chàng trai Vũng Tàu, vất vả nhất là kỳ bán vé số ở Việt Nam cùng với những ngày mưa đi bỏ báo ở Hoa Kỳ.  Trong đời anh trải qua bao nhiêu dâu bể, nhưng người yêu mãi mãi vẫn tình xưa nghĩa cũ.
 
  Kẻ lông mày cho Triệu Minh
Thuở xưa, đọc chuyện Kim Dung nói đến tình yêu, bao nhiêu độc giả xúc động vì anh chàng Trương vô Kỵ nói rằng, phen nầy ta từ giã chốn giang hồ, về kẻ lông mày cho người yêu bé bỏng Triệu Minh.
Xem ra, đó chỉ là chuyện lãng mạn tô điểm cho tiểu thuyết thêm hương vị.  Nhưng ở đây, nha sĩ Tuấn từ lúc đưa vợ qua Mỹ, anh vẫn là người chọn áo cho vợ, và thực sự lo trang điểm cho đến ngày nay.  Không cần văn sĩ Kim Dung nhắc nhở, cậu Tuấn vẫn hằng ngày đóng vai Vô Kỵ để kẻ lông mày cho cô Triệu Minh gốc Huế, Công Huyền Tôn Nữ Quỳnh Mai. Sau khi y khoa Mỹ cũng bó tay không giúp được Quỳnh Mai, gia đình có cô con gái trưởng thành, xinh đẹp nhưng sao suốt ngày bi bô những trẻ thơ, người mẹ buồn cho phần số hẩm hiu nên thương khóc ngày đêm đã làm cho bệnh của đôi mắt càng thêm khép kín.
Đôi khi bà con ta gặp anh chị trong những lần hội họp, nhìn người vợ vẫn tưởng chị thấy được mọi chuyện tinh tường.  Nhưng sự thực thế giới đối với chị bây giờ luôn luôn mờ mờ nhân ảnh.  Người ngoài không biết, ngạc nhiên khi thấy anh chị luôn luôn cặp kè sát bên nhau.  Đâu biết rằng anh mãi mãi là đôi mắt của em.  Luôn phải bên nhau từng bước một.  Khi Quỳnh Mai mất thị giác, trí nhớ bắt đầu phát triển nên anh giúp cô tiếp tục sống cuộc đời hữu dụng.  Bằng một thái độ rất lạc quan, chấp nhận mọi nghịch cảnh, cùng với sự yểm trợ của đại gia đình, và tình sâu nghĩa nặng, Tuấn đã giúp Mai vượt qua mọi thử thách.  Cô lên Radio đóng vai quảng bá cho văn phòng nha sĩ.  Tiếng nói dịu dàng và thông quán các công việc của nha khoa đã lôi cuốn nhiều thính giả.  Tuy nhiên đôi khi cũng có người không biết thấy cô có vẻ lạnh lùng. Quỳnh Mai nói rằng, con có thấy gì đâu mà cười với người ta.
Câu chuyện tình thầm lặng ở San Jose nhưng đã bắt đầu từ sân trường trung học Vũng Tầu, khi đôi bạn cùng chung ban toán.  Anh làm lớp trưởng, em làm lớp phó.  Mắt em vẫn trong như hồ thu, ghi mãi hình ảnh anh Tuấn gầy gò ốm yếu.  Trong khi tâm sự chuyện gia đình, Tuấn luôn luôn nói rằng niềm hạnh phúc là lấy được Quỳnh Mai.  Vợ cháu đã giúp chồng vươn tới ý nghĩa Chân Thiện Mỹ của con Người.  Khổ hạnh bất toàn của một người là niềm đau chung của cả gia đình.  Gia đình phải trở thành một đơn vị để cùng đứng bên nhau trong mọi hoàn cảnh.
Tuy vậy, chính tinh thần lạc quan, pha với tính vui đùa nha sĩ Tuấn đã phàn nàn rằng: “ Bác thấy không, ngày nay con đã khác thuở xưa.  Không còn tang thương như lúc mới ở tù ra, đi bán vé số. Nhưng tiếc thay cô vợ không bao giờ thấy con đẹp trai.”
Bác xin nói với anh chị rằng.  Chị không cần nhìn thấy rõ cuộc đời.  Xin hãy giữ lại mãi mãi hình ảnh của tuổi 18 ở sân trường trung học.  Có cậu học trò tên Nguyễn Hoàng Tuấn, ngập ngừng tỏ mối tình đầu.  Trải qua bao nhiêu thăng trầm của cuộc sống, mối tình vẫn còn giữ mãi đến hôm nay.  Không có điều gì trên thế gian này có thể so sánh được.  Đẹp trai hay đẹp lão rồi cũng qua đi.  Danh vọng tiền tài cũng không phải là vĩnh cửu.  Tình nghĩa chung thủy sẽ ở lại muôn đời.Suốt 35 năm qua, cộng đồng của chúng ta đã có biết bao nhiêu danh từ đao to búa lớn đem ra sử dụng.  Nhưng có hai chữ chẳng ai đụng tới.  Bây giờ bác đem ra tặng hai cháu. Hai chữ  Chung Tình   
Giao Chỉ, Vũ Văn Lộc

 

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

NHỚ DÒNG SÔNG QUÊ

Trăng vàng mờ ảo trời xa.
Thương con thuyền nhỏ trở da diết đầy.
Mình thuyền vò võ đợi đây.
Chờ người không biết tháng ngày về đâu.

Sông Hồng trăn trở đỏ ngầu.
Để cho bờ bãi nông sâu nhớ hoài.
Thương về bãi mía nương khoai.
Tháng ba tháng bảy lai rai mưa rào.

Nước về cuồn cuộn dâng cao.
Cuốn phăng công sức lẫn bao mặn mòi.
Xa quê mấy độ xuân rồi.
Dòng sông bến nước bồi hồi nhớ nhung.

Tôi về dải đất miền trung.
Mưa cho thối đất , nắng nung cháy người.
Gió Phơn vờn áng mây trôi.
Tình người, tình đất đầy vơi dạt dào..

 Chu Vân

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Tai biến mạch máu não và sự phục hồi .

Một Tài Liệu rất hữu ích để tham khảo! 
  
Gửi cho quý vị cùng xem bài dịch tiếng Việt cuốn sách của JILL TAYLOR nói về TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO VÀ SỰ PHỤC HỒi.
Tôi đặc biệt chú ý đến phần bà nói về hoạt động của ÓC TRÁI &    TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO VÀ SỰ PHỤC HỒI, rất chi tiết. Thưa quý vị, 
Tôi rất cám ơn tất cả những vị đã dịch và chuyển đến tay tôi bài viết của bà bác sĩ thần kinh não bộ Jill Taylor, người bị tai biến mạch máu não (stroke hay AVC) năm 1996 và nay đã bình phục. 
Tôi cũng đã là một nạn nhân của stroke cách đây 7 năm, nhưng ở trong số 83% (stroke ischemic, mạch máu não bị tắc), không như bà Jill Taylor trong số 17% (stroke hemorragic, mạch máo não bị vỡ). 
Bài viết của bà BS Taylor đã hết sức đầy đủ cả về phương diện khoa học, lý trí đến phương diện tâm tâm lý, tâm linh. Tôi không thấy, và không dám, viết gì thêm về chuyện này. Tuy nhiên, có một số diểm, tôi không thấy nhắc đến trong chuyện này. Bởi vậy, tôi muốn trình bầy lại dưới đây để quý vị tùy nghi thẩm định: 
1. Năm 1996 người ta chưa biết đến một phương thuốc mới trị stroke. Sau 2000, người ta đã tìm ra một phương thuốc để trị stroke, gọi là tPA, hay là tissue Plasmimogen Activator. Thuốc này chỉ hiệu nghiệm nếu bệnh nhân bị stroke được chữa trị trong vòng 3 hay 3 tiếng rưỡi đồng hồ mà thôi. Gần như khỏi hẳn. Sau đó, trễ hơn, vô phương cứu chữa. 
Hồi tôi bị stroke, được con cháu mang vào một nhà thương có tiếng vùng tôi ở. Nhưng tại đó, sau khi tìm ra chắc chắn là tôi bị stroke (mất khá nhiều thì giờ), họ phải chuyên chở đến một nhà thương khác. Đến nơi thì đã quá trễ. Tôi đã bị stroke với tất cả những hậu quả của stroke, gần giống như những gì tả trong bài viết của BS Taylor. 
Kết luận: Những ai thấy mình có thể bị stroke, xin hãy vào ngay bệnh viện thật sớm để được chữa trị ngay trong vòng ba bốn tiếng đồng hồ bằng tPA. 
2. Stroke là một bệnh có tính cách di truyền. Trong gia đình nếu thấy có người bị stroke rồi thì anh em, hoặc con cái (như gia đình tôi) rất có thể cũng sẽ bị stroke. 
Kết luận: Trong trường hợp này, phải hết sức cẩn thận, trong việc ăn uống thuốc men, mục đích để giảm thiểu cholesterol, áp huyết cao, tiểu đường nay tiền-tiểu đường.., kể cả trong việc giữ gìn sức khỏe (tập thể dục, đi bộ mỗi ngày…) 
3. Tôi tin rằng vận động thân thể cũng như luyện tập trí óc là một phần không thể thiếu trong việc phòng ngừa bị stroke cũng như sớm hồi phục sau khi bị stroke. Tôi có một ông anh rể, bác sĩ về thần kinh não bộ như bà Jill Taylor, năm nay đã 80 tuổi, vẫn chạy marathon, mỗi lần đến chơi, tôi thấy cầm một cuốn sách Hán Văn Tự Học, đôi khi lại đem một phương trình Vi phân và Tích phân (calcul differentiel et integral) ra hỏi chúng tôi. Anh tôi nói rằng, tuy đã có tuổi, mình vẫn phải học, học đi học lại cho trí óc dược minh mẫn khỏi bị cùn lụt đi, vẫn phải tập thể dục mỗi ngày. Thấy tôi hàng ngày lên mạng, viết “blog”, anh tôi cho rằng đó là một việt rất nên làm mặc dầu bị bà xã (em gái ông ta) quở trách. 
Đó là một vài lời thô thiển để góp ý với tất cả mọi người, với lòng tri ân đến tất cả những vị đã dịch và chuyển đến tay tôi bài viết của bà bác sĩ thần kinh não bộ Jill Taylor.
P.
 
Xin chuyển tiếp để tham khảo kinh nghiệm được ghi lại của môt người bị TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO VÀ SỰ PHỤC HỒI, rất chi tiết. 
Minhha 
<image003.png>
 Gởi bạn cùng tham khảo.
 
TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO VÀ SỰ PHỤC HỒI
 
Tác Giả : TS Jill Bolte Taylor
Dịch Giả : TS Minh Tâm
 
Đôi Giòng Tâm Sự 
Mỗi bộ óc con người đều có một câu chuyện và sau đây là câu chuyện của bộ óc tôi…Hơn mười năm trước đây, tôi là giáo sư Đại học Y Khoa Harvard, chuyên nghiên cứu và giảng dạy cho sinh viên về bộ óc của con người. Nhưng vào ngày 10 tháng 12 năm 1996, tôi đã học được bài học về não bộ từ chính bộ óc của mình.
    Sáng hôm ấy, bản thân tôi đã trãi qua một dạng “đứt mạch máu não” rất ít khi có,từ bán cầu Trái của não bộ. Sự xuất huyết trầm trọng này là do một mạch máu não bất thưòng từ lúc sơ sinh đã không được khám nghiệm và cắt bỏ, nay thình lình vỡ ra. Trong bốn tiếng đồng hồ ngắn ngủi, với đôi mắt kinh nghiệm của một nhà nghiên cứu tế bào não bộ học, tôi đã chứng kiến bộ óc tôi từ từ băng hoại đến độ hoàn toàn tê liệt trong khả năng phân định các sự kiện diễn biến chung quanh. Đến cuối sáng hôm đó, tôi đã không còn có thể đi đứng, ăn nói, đọc viết hoặc nhớ lại những gì đã xảy ra từ trước trong đời. Nằm vo tròn như một thai nhi trong bụng mẹ, tôi cảm giác mình sắp chết, không còn chút hỉ vọng nào có thể sống sót để kể lại câu chuyện này cho bất kỳ ai.
Những điều cần biết về Tai biến mạch máu não là một tài liệu khoa học được ghi lại theo thứ tự thòi gian. Và cũng theo đó, từ vực thẳm vô hình của một đầu óc hoàn toàn rỗng lặng, tôi đã khám phá ra sự an tĩnh của nội tâm mà những nhà khoa học não bộ như tôi không mấy khi có dịp trãi nghiệm. Như tôi được biết, đây là tài liệu lần đầu tiên được ghi lại từ một nhà Tế bào thần kinh học, qua kinh nghiệm
bản thân mình, sau khi đã phục hồi vì một cơn xuất huyết não trầm trọng. Tôi rất vui mừng vì tập tài liệu này cuối cùng đã được in ra và phổ biến khắp thế giới để mọi người có thể biết mà chạy chữa đúng lúc và đúng cách. 
Hơn tất cả mọi thứ trên đời, tôi rất biết ơn Thượng đế đã cho tôi cơ hội sống còn và ca ngợi sư hiện hữu hôm nav. Ban đầu, tôi được khuyến khích để vượt qua bạo bệnh và phục hồi là nhờ vào những người có lòng gửi cho các lá thư tràn đầy tình yêu thương vô bờ bến. Rồi qua nhiều năm, tôi vẫn kiên trì trong nỗ lực phục hồi, do vì biết bao câu hỏ gửi đến chưa được trả lời. Như một phụ nữ trẻ đã gửi
thư hỏ tôi rằng: Tại sao bà mẹ của cô khi bị tai biến mạch máu não mà không thể tự mình gọi điện thoại cấp cứu, nên đã Phải chết? (Người Mỹ không có thói quen khỉ con cái đã trưỏng thành mà còn ỏ chung nhà với cha mẹ.), hay một người đàn ông lớn tuổi khác, vẫn còn mãi đau buồn về cái chết của bà vợ, đã hỏi:Vì sao tai biến mạch máu não đã làm bà phai nằm mê man bất động cho đến khi qua đời?
Rồi thư của những người chăm sóc bệnh nhân tai biến não hỏ tôi về đưòng hướng và hi vọng trong sự điều trị. Cho nên tôi đã quyết tâm hoàn tất tập tài liệu này cho 700 ngàn người bị tai biến não hằng năm trong xã hội ta. Chỉ cần một người đọc chương “Buổi sáng ngày bị tai biến” để nhận diện được triệu chứng nguy cấp, rồi gọi ngay cấp cứu – gọi liền chứ không nên trễ, để cứu một mạng người – thì
những công sức tôi đã bỏ ra để viết quyển sách này kể như đã được đền bù xứng đáng.
 
Quyển sách này đươc chia ra làm bốn Phần
I. Phần một nói về cuộc đời tôi trước khi Xuất huyết não xảy ra. Bạn sẽ biết tại sao tôi lớn lên và quyết định thành một nhà khoa học về não bộ với tràn đầy nghị lực và lý tưỏng.
Tôi rất tích cực hoạt động trong lãnh vực này. Tôi là một giáo sư khoa Não bộ học của Đại học Harvard và là thành viên trẻ tuổi nhất trong Ủy ban nghiên cứu về các bệnh thần kinh. Tôi đi khắp nước diễn thuyết về căn bệnh và cách trị liệu và kêu gọi những người bệnh khỉ qua đời thì thân nhân họ nên hiến bộ óc cho viện đại học để nghiên cứu.
II. Nếu bạn hiếu kỳ muốn biết thế nào là bị Tai biến mạch máu não thì Phần hai, “Buổi sáng ngày bị Tai biến”, là chương bạn nẽn đọc. Trong phần này, tôi sẽ dẫn bạn qua một hành trình lạ thường để bạn thấy được những suy sụp từ từ về khả năng hiểu biết – cái biết hiện tại về sự vật chung quanh và cái biết về những điều đã học hỏi trong quá khứ – của người bị Tai biến, dưới cái nhìn của một nhà khoa
học.  Khi não của tôi bị xuất huyết càng lúc càng nhiều thì tôi biết rằng đấy là sự mất mát và suy sụp của trí tuệ về phương diện Sinh học. Còn về phương diện Tế bào thần kỉnh học, Phải thú nhận rằng tôi đã học được rất nhiều về não bộ và sự vận hành của nó trong buổi sáng xuất huyết này, nhiều như tôi đã học hỏi trong bao năm khoa bảng. Đến cuối buổi sáng hôm ấy, ý thức của não bộ còn lại – não bộ Phải – đã đưa tôi sang một vùng nhận thức mới: tôi đã trỏ thành một với vũ trụ. Từ đó tôi mới hiểu
được rằng tại sao với bộ óc vật chất này, người ta có thể đạt đến sự hiểu biết về những điều “thần bí” và “siêu hình”.
III. Nếu như bạn muốn giúp một người đã bị Tai biến não hay do một tai nạn mà bị chấn thương ỏ não bộ, thì những chương về sự phục hồi là rất cần thiết và hữu ích – trong đó có hơn 50 lời gợi ý về những điều nên và không nên làm cho ngưòi bệnh. Tôi hi vọng bạn sẽ chia sẻ kiến thức này cho mọi người chung quanh khỉ họ cần đến.
IV. Phần cuối, quyển sách cho thấy cơn Xuất huyết này đã dạy tôi những điều mới lạ về bộ óc, bạn sẽ thấy rằng quyển sách này không hoàn toàn viết về Tai biến mạch máu não. Nói cho chính xác hơn, Tai biến não chỉ là một chấn thương khiến cho những hiểu biết mới về não bộ xuất hiện. 
Quyển sách này cho thấy những nét đẹp và khả năng phục hồi của não bộ con  người, do khả năng nội tại của nó không ngừng thay đổi và luôn thích ứng để tồn tại. Sau rốt cuốn sách cho thấy hành trình của nhận thức thuộc bán cầu Phải của não bộ khỉ nó dẫn tôi vào cảnh giới An lành của vùng Tâm thức sâu thẳm. Tôi đã phục hồi Ý thức luận lý của bán cầu não Trái để trình bày và giúp cho người đọc
đạt đến Cảnh gioi An lành của vùng Tâm thức thâm sâu mà không cần Phải trải qua một cơn xuất huyết não như tôi. Hy vọng độc giả sẽ hài lòng trong cuộc du hành trí thức này.
 
CHƯƠNG 1
ĐỜI SỐNG CỦA TÁC GIẢ TRUÓC KHI TAI BIẾN NÃO
Tôi là nhà nghiên cứu tế bào não bộ, đã được huấn luyện, thực tập và đã xuất bản nhiều công trình nghiên cứu. Tôi sinh trưỏng ỏ thành phố Terre Haute thuộc tiểu bang Indiana. Một người anh của tôi, chỉ lớn hơn tôi 18 tháng tuổi, mắc bệnh Tâm thần Phân liệt. Anh được chính thức chẩn đoán là mắc bệnh này ỏ tuổi 31, nhưng thực ra anh đã có triệu chúng của bệnh từ nhiều năm trước. Từ thời thơ ấu, anh đã tỏ ra khác hơn tôi về cách nhìn thực tại và cách đối xử với mọi người. Do vậy, tôi rất có hứng thú tìm hiểu về bộ óc con người từ lúc còn bé. Tôi đã thường tự hỏi, vì  sao mà hai anh em cùng quan sát một sự việc vừa mới xảy ra, tại có thể đi dến hai lời giải thích khác nhau. Sự khác biệt về nhận thức, về cách tiếp thu và phân tích dữ kiện giữa hai anh em tôi, đã thúc đẩy tôi trỏ thành một nhà khoa học về não bộ.
Tôi bắt đầu 4 năm đại học từ cuối thập niên 1970 ỏ đại học Indiana, thành phố Bloomington. Do sự giao tiếp với người anh của tôi mà tôi rất muốn biết thế nào là một con người “bình thường” trên bình diện trí óc. Lúc bấy giò, Khoa tế bào não bộ học hãy còn phôi thai và chưa được giảng dạy ỏ đại học như một phân khoa riêng biệt. Nhưng nhờ môn Cơ thể học và Sinh học mà tôi được biết ít nhiều về bộ óc con người.
 Công việc đầu tiên tôi nhận được sau 4 năm tốt nghiệp không ngờ là một ân phước lớn trong đời học hỏi. Tôi được tuyển làm Cán sự ỏ phòng thí nghiệm của Viện đại học, mà thời gian được phân chia làm hai phần: một là nghiên cứu về giải phẩu Nhân thể học và hai là giải phẩu Tế bào thần kỉnh. Trong suốt hai năm, tôi say mê trong lãnh vực y học này dưới sự hướng dẫn của giáo sư Tiến sĩ Robert C. Murphy, và tôi thích mổ xẻ cơ thể con ngưòi để tìm hiểu và học hỏi.  Bỏ qua việc lấy bằng Thạc sĩ, sáu năm kế tiếp tôi đã ghi danh học chương trình  Tiến sĩ trong phân khoa Sinh học. Năm đầu tôi học phần lớn các lớp của Y khoa, và công trình nghiên cứu của tôi lại chuyên về Giải phẩu Tế bào Thàn kinh não dưới sự hướng dẫn của giáo sư Tiến sĩ William J. Anderson. Tôi tốt nghiệp Tiến sĩ năm 1991, và cảm thấy đủ tự tin để giảng dạy các môn Giải phẩu Nhân thể, Giải phẩu Tế bào não và Sinh học cho sinh viên ỏ Đại học Y Khoa.
Trỏ lại thời điểm 1988, khi tôi đang làm công việc cán sự ỏ phòng thí nghiệm nghiên cứu về não bộ, thì anh tôi chính thức được giới y học xác định mắc Phải chứng bệnh Tâm thần Phân liệt. Về phương diện Sinh học thì anh em tôi là hai hiện hữu gần giống nhau nhất trên thế gian này. Nên tôi muốn tìm hiểu tại sao tôi đã có thể đem ước mơ gắn liền với thực tế và biến chúng thành hiện thực, còn bộ óc của anh tôi thay vì làm việc đó thì lại chỉ phát sinh ra hoang tưỏng? Vì vậy, tôi rất hăm hỏ theo đuổi việc nghiên cứu bệnh Tâm thần Phân liệt này. Tiếp theo lễ tốt nghiệp Tiến sĩ ỏ Đại học Indiana, tôi được mời làm việc trong chương trình nghiên cứu hậu đại học của trường Đại học Y Khoa Harvard, phân khoa Thần kinh. Tôi đã nghiên cứu trong 2 năm, dưới sự hướng dẫn của giáo sư Tiến sĩ Roger Tootell, trên bộ phận vỏ não liên quan đến thị giác. Tôi rất hứng thú trong công cuộc nghiên cứu này vì đa số những người mắc bệnh tâm thần phân liệt thường cho thấy họ có cái nhìn rất bất thường khi quan sát những vật chuyễn động.
Sau đó, tôi đã xin chuyễn qua nghiên cứu ỏ phân khoa Tâm thần. Mục đích của tôi là được nghiên cứu dưới sự chỉ dẫn của giáo sư Tiến sĩ Francine M. Benes trong bệnh viện McLean. Tiến sĩ Benes là chuyên gia nổi tiếng về việc giải phẩu não bộ những người bệnh tâm thần phân liệt sau khi chết, để tìm hiểu và giải thích tại sao họ đã bệnh như vậy. Tôi tin tưỏng công trình nghiên cứu này sẽ giúp tôi chữa trị được những người đã mắc chứng bệnh rối loạn não bộ như ông anh của tôi.
Một tuần trước khi sang nhận công việc nghiên cứu mới ỏ bệnh viện McLean,tôi được mời dự buổi điều trần hằng năm – năm ấy là 1993 – của “Hội bạn người bệnh Tâm thần toàn quốc” ỏ Miami, Florida. Lúc đó, Hội có khoảng 40 ngàn hội viên có người nhà mắc bệnh tâm thần. Hiện nay, 2009, con số đó đã tăng lên đến khoảng 220 ngàn. Chuyến đi này làm thay đổi hẳn đời tôi. Ở cuộc điều trần, tôi đã hiểu được nỗi đau của 40 ngàn gia đinh có thân nhân bị bệnh, cũng như gia đình tôi, mà chưa tìm ra được nguyên nhân và cách cứu chữa. Hội họp ỏ đây là để báo động cho chính quyền và những người có trách nhiệm trong giới y học Phải quan tâm giải quyết, vì đó là sự đòi hỏi của người dân về Công Bằng Xã Hội.
Khi trỏ về lại bệnh viện McLean để bắt tay vào việc nghiên cứu bệnh, tôi rất hăm hỏ và đầy nhiệt tình. Không những tôi muốn cứu anh tôi, mà tôi còn muốn cứu cả mấy mươi ngàn người qua cuộc điều trần ỏ Miami. Với nhiệt tình tuổi trẻ, với sự thông cảm nỗi đau của gia đình có người bệnh và với kiến thức của một nhà khoa học về bệnh tâm thần, năm sau – 1994 – tôi được đề cử vào ủy ban điều hành của Hội. Thật là một vinh dự và cũng là trách nhiệm rất lớn lao với một người trẻ tuổi như tôi – mới có 35 tuổi, trong khi tuổi trung bình trong ủy ban là 67. Hằng năm tôi đều tham dự các cuộc họp tổ chức khắp toàn quốc để tường trình những tiến bộ trong việc nghiên cứu của chúng tôi.
Bấy giờ tôi lại được cho biết rằng phòng thí nghiệm ỏ bệnh viện McLean thật sự cần thêm não bộ của người bệnh đã chết để nghiên cứu. Một năm phòng thí nghiệm chỉ nhận được có vài ba bộ não của người chết gửi tặng thì không đủ vào đâu. Khi tôi đi tham dự các phiên họp, tôi đã kêu gọi sự đóng góp, thì số não bộ hiến tặng đã tăng lên được 35. Nhưng hằng năm Ngân hàng não Phải có trên 100
bộ não thì mới đủ cho công cuộc nghiên cứu. Qua sự nghiên cứu, chúng tôi đã tìm thấy có ba hệ thống hóa chất khác nhau làm công việc tiếp nối sự “truyền tin” trong mỗi bộ óc. Nhờ những hóa chất này, như dopamine là một, mà các tế bào thần kinh có thể chuyển tin tức cho nhau. Nếu chúng tôi nhận biết được các hóa chất này, sự vận hành vi tế giữa các mạch tế bào não, biết được liều lượng hóa chất cần thiết của não bộ từng người bệnh, chúng tôi có thể điều trị những chứng bệnh này bằng những loại thuốc với liều lượng hiệu quả hơn.
Công trình nghiên cứu của tôi đã được đăng trên báo y học “BỉoTechniques Journal” đầu Xuân 1995; và đến năm 1996, tôi được giải thưỏng của Đại học Y Khoa Harvard, phân khoa Tâm thần về kết quả nghiên cứu này. Tôi thật lạc quan và yêu đời. Nhưng rồi một sự kiện không thể ngờ xảy ra. Tôi đang ỏ giữa độ tuổi ba mươi. Con đường sự nghiệp đang đi lên. Thì bỗng nhiên trong chớp mắt, màu hồng tươi thắm của cuộc đời và những viễn cảnh đẹp đẽ của tương lai đã tan thành mây khói. Tôi thức dậy buổi sáng ngày 10 tháng 12 năm 1996 để khám phá ra rằng não bộ của chính tôi cũng đã mang bệnh. Tôi đang bị Xuất huyết não! Trong vòng 4 tiếng đồng hồ ngắn ngủi, tôi theo dõi và thấy tâm trí tôi từ từ hũy hoại trong khả năng phân tích sự vật xung quanh qua các giác quan của tôi. Một hình thức xuất huyết não hiếm hoi xảy ra đã làm cho cơ thể tôi hoàn toàn tê liệt, từ khả năng đi đứng, nói năng, đọc viết, hoặc hồi tưỏng lại mọi việc trong đời.
Tới đây, tôi nghĩ rằng độc giả muốn biết ngay những gì đã xảy ra cho tôi trong buổi sáng xuất huyết não ấy. Nhưng hãy khoan. Để quý vị có thể hiểu được những gì đã xảy ra trong não bộ khi nó bị xuất huyết, tôi xin trình bày trong chương 2 và 3 sau dây vài điều cơ bản về khoa não bộ học.
 
CHƯƠNG 2
MỘT MÔN KHOA HỌC ĐƠN GIẢN
Thông thường, để cho hai người chúng ta có thể trao đổi với nhau về một vấn đề gì, trước hết chúng ta Phai có một số ý niệm chung về thực trạng của vấn đề đó. Hơn nữa, hệ thống thần kinh của chúng ta cũng Phai tương đương trong khả năng nhận xét và hiểu biết các dữ kiện từ ngoại cảnh, phân tích và kết nạp dữ liệu đó vào bộ óc, rồi cũng Phải tương đồng trong cách biến hiểu biết đó ra thành ý nghĩ,
lời nói, hay việc làm. Những cảnh “ông nói gà, bà hiểu vịt” không Phải là không thường xảy ra.
Việc ra đời của Sự Sống là một biến cố đáng kể nhất. Từ sự xuất hiện một đơn bào sinh vật, một giai đoạn mới về cấu trúc sinh thể ỏ lĩnh vực tế bào đã xuất hiện. Những nguyên tử và phân tử trong tế bào kết tập nhau thành DNA và RNA có thứ lớp và không thể nhầm lẫn. Các tế bào này quần tụ với nhau và phát triển qua thời gian để sản sinh ra bạn và tôi và tất cả mọi loài. Ở mức độ cấu trúc DNA, chúng ta
được cấu tạo tương tợ như loài chim, loài bò sát, loài lưỡng thê, loài động vật có vú, và ngay cả loài thực vật. Nhưng đứng về mặt sinh học, cơ thể chúng ta mặc dù đã được cấu tạo rất phức tạp, vẫn chưa Phải là hoàn hảo và cố định, mà là còn đang trên đà phát triển.
Chẳng hạn như não bộ đã và đang thay đổi không ngừng. Não bộ của tổ tiên ta từ bốn ngàn năm trước không giống như não bộ của con người ngày nay. Chỉ riêng sự phát triển về ngôn ngữ đã làm thay đổi từ hình thể đến cấu trúc hệ thống tế bào não bộ. Hầu hết những nhóm tế bào khác nhau của cơ thể đều sinh ra và chết đi trong vài tuần hoặc vài tháng, rồi được thay thế bằng những tế bào mới, các tế bào não lại không như thế, kể từ khi chúng được sinh ra. Có nghĩa là các tế bào não của bạn ngày nay cũng “già đi” theo số tuổi của bạn. Sự sống không bao giò chết của tế bào não cắt nghĩa phần nào cái cảm gỉác của ban: dù đã 50 hav 70 tuổi, bạn vẫn ngỡ mình đang là 15 hay 20!
Số lượng tế bào thần kinh trong bộ óc con người không thay đổi, nhưng sự “tiếp xúc” giữa các tế bào thì thay đổi, tùy theo sự học hỏi và kinh nghiệm sống của mỗi cá nhân. Hệ thống tế bào thần kinh của con người thật năng động và tuyệt vời, với con số tế bào ước khoảng một ngàn tỉ. Để có ý niệm một ngàn tỉ tế bào óc là bao nhiêu, thì hãy nhớ rằng dân số toàn thế giới hiện nay là 6 tỉ. Nhân con số 6 tỉ dân này lên 166 lần, thì bạn có được con số một ngàn tỉ tế bào đang chen chúc trong cái sọ bé nhỏ của mỗi con người chúng ta, với trọng lượng trung bình của não bộ không hơn 1,5 kg. Dĩ nhiên con người chúng ta không Phải chỉ có não bộ. Còn có thân thể nữa. Trung bình, cơ thể một người trưỏng thành gồm chứa khoảng 50 ngàn tỉ tế bào. Có nghĩa là số tế bào trong một cơ thể gấp 8.333 làn tổng dân số trên toàn thế giới. Thật là kỳ diệu: những tế bào xương, tế bào thịt, tế bào tạng phủ…, làm sao chúng
có thể điều phối và hoạt động nhịp nhàng với nhau để tạo thành một cơ thể hoàn toàn khỏe mạnh và không bao giò bệnh tật? Cho nên nếu bạn có mang bệnh, đừng lấy làm lạ! Sự tiến hóa về phương diện sinh học thường bắt đầu từ thô sơ lên đến phức tạp. Để bảo đảm sự tiến tạo các sinh vật được hữu hiệu, Tạo hóa luôn theo một khuôn mẫu nhất định. Như con ong hút mật, con chim làm tổ, quả tim bơm máu, tuyến mồ hôi điều hòa thân nhiệt…; mỗi mỗi được tạo tác theo những “mã số“ riêng không hề bị xáo trộn. Do đó, qua hàng triệu triệu năm, mọi loài chỉ tiến hóa và phát triển trên “căn bản” của mình để tiến đến mức độ phức tạp hơn. Chẳng hạn như con người và loài dã nhân. Con người có đến 99,4% DNA cấu tạo tương tự như dã nhân. Nhưng như vậy không có nghĩa dã nhân là thủy tổ của
loài người; chúng chỉ có trí thông minh xấp xỉ như con ngưòi mà thôi. Điều đó chứng minh sự kỳ diệu của bàn tay tạo hóa: chỉ thay đổi một chút xíu các mã số DNA mà đã tạo ra các loài sinh vật khác nhau. Còn giữa loài người với nhau, bạn và tôi có cùng loại DNA, nhưng chỉ khác nhau có 0,01% (1/100 của 1%) trên cách cấu trúc. Vỉ vậy, mắt mũi, màu da, cao thấp, mập ốm, dáng vẻ… không giống nhau.
Và con người khác với những loài có vú khác là ỏ bộ não: con người có lớp vỏ não dợn sóng và uốn khúc một cách phức tạp. Mặc dù não bộ loài có vú đều có vỏ não bao bọc bên ngoài, nhưng vỏ não con người lại dày hơn gấp đôi và vì vậy các chức năng sinh hoạt cũng gấp đôi. Hơn nữa, vỏ não con người còn chia não bộ ra làm 2 bán càu riêng biệt mà chức năng sinh hoạt mỗi bán cầu lại bổ túc cho nhau.
Nhờ bổ túc cho nhau mà mỗi người chúng ta có một nhận thức nhất định và độc nhất – không ai giống ai – về thế giới bên ngoài. Lớp vỏ não trên cùng mới được “thêm vào” cho não bộ con người gần đây thôi (vài ngàn năm) đã làm cho con ngưòi khác hẳn các loài có vú khác, Nhờ những mạch thần kinh ỏ đây mà con người có được tri thức về những vật chất “cụ thể“ (nhà cửa, vật dụng) và những ý niệm “trừu tượng” (ngôn ngữ, nghệ thuật…). Còn những lớp sâu hơn của vỏ não thì chức năng sinh hoạt giữa người và vật đều giống nhau.
Bán cầu não bộ cũng cần mạch máu mang dưỡng khí lên nuôi sống. Các mạch máu này được phân nhiệm vụ riêng biệt, như mạch máu thuộc phần cử động tứ chi, phần tạo tác ngôn ngữ, phần hiểu biết ngôn ngữ, phần thuộc thị giác, phần phân biệt vật thể. Mạch máu nào bị hư hỏng thì phần liên hệ đó của thân thể không còn hoạt động được. Và cũng như các bộ phận khác của cơ thể là thường  hay bị bệnh, các mạch má ỏ bán cầu não bộ cũng hay bị ‘tai biến”. Những tai biến  này chia làm 2 loại thường làm chết người hoặc biến con bệnh thành phế nhân.
Tai biến thông thường nhất, lên đến 83% trường hợp, là “nghẽn” mạch máu. 
Tai biến hiếm hoi, chỉ có khoảng 17%, nhưng nặng nề nhất, là “vỡ“ mạch máu.
Nghẽn mạch máu là khỉ mỡ cholesterol đóng theo thành mạch máu làm trỏ ngại máu không thể lưu thông trên vỏ não. Không dưỡng chất, tế bào thần kinh ỏ vùng này Phải tê liệt. Thường thì tế bào thần kinh tê liệt sẽ không được thay thế. Các sinh hoạt của thân thể liên hệ tới vùng thần kinh này sẽ bị đình chỉ vĩnh viễn, trừ phi có những tế bào thần kinh khác học hỏ vai trò của những thần kỉnh đã tê liệt
qua một thời gian, gọi là phục hồi chức năng. Bỏi vì mỗi người có sự nối kết các đường dây thần kinh não bộ một cách khác nhau, nên khả năng phục hồi cũng khác nhau.
Vỡ mạch máu là khi mạch máu não có chỗ cấu tạo bất thường – thành mạch máu quá mỏng – bị vỡ ra, lớp vỏ não bị ngập lụt trong máu và tế bào não ỏ vùng đó không còn hoạt động được; vì máu là độc tố của tế bào thần kỉnh, không thể được tiếp xúc trực tiếp. Đôi khi vỡ mạch máu là do áp suất huyết quá cao, các vi huyết quản nốỉ liền động mạch và tĩnh mạch chịu đựng không nổi áp lực. Đây là những tai biến chết người.
Những Dấu Hiệu của Tai Bién Mạch Máu Não:
· Tự nhiên nói không ra tiếng.
· Tay chân bị tê hay bắp thịt bị cứng.
· Tự nhiên quên hết mọi sự một cách bất thường.
· Tự nhiên đi đứng mất thăng bằng.
· Bị nhức đầu dữ dội khác với bình thường.
· Bỗng nhiên mắt mờ, không còn thấy gì hết.
Tai biến Mạch máu Não là vấn đề Sống Chết. Hãy đưa đi cấp cứu lập tức.
 
CHƯƠNG 3
SỰ KHÁC BIỆT GIỮA HAI BÁN CẦU NÃO
Từ hơn 200 năm nay, các nhà khoa học đã nghiên cứu về sự khác biệt giữa hai bán cầu não bộ con người. Người đầu tiên là DuPuis. Vào năm 1780, DuPuis đã tuyên bố là con người có bộ óc đôi, vì có hai bán cầu. Gần một thế kỷ sau, Arthur L. Wigan đã chứng kiến cuộc giảo nghiệm một người đã chết mà não bộ chỉ có một bán cầu. Người này lúc sống cũng đi, đúng, nói năng, và có ý thức như một người
bình thường. Vì vậy Wigan rất hào hứng đưa ra thuyết “Con người có nhị trùng tâm”. Thuyết này gây nhiều hứng khỏi cho các nhà khoa học Hoa Kỳ. Cho tới thập niên 1970, tiến sĩ Roger W. Sperry nhờ giải phẫu cắt rời hai bán cầu não để chữa bệnh “kinh phong”, đã khám phá ra vài điều mới mẻ. Trong bài diễn văn lãnh giải Nobel Y học năm 1981, tiến sĩ Sperry nhận định: “Khi hai bán cầu não bộ bị cắt
rời, đương sự sẽ hành xử khác nhau như hai con người khác nhau, tùy theo bán cầu não Trái hay Phải được sử dụng”.
Những nghiên cứu và quan sát tiếp theo các bệnh nhân bị tách não làm đôi (để trị bịnh kỉnh phong) cho các nhà khoa học kết luận rằng: Khi 2 bán cầu não còn dính với nhau thì hoạt động “bổ túc” cho nhau; còn khi bị mổ tách rời thì sẽ hoạt động như 2 bộ não “độc lập”, riêng biệt. (Tiến sĩ Jekyll).
Nhờ hai bán cầu não Trái và Phải hoạt động bổ túc cho nhau nên chúng ta mới có những nhận xét, hiểu biết về nhân sinh và vũ trụ một cách rất độc đáo mà các loài sinh vật khác không thể có được. Sự bổ túc này rất hài hòa đến nỗi chúng ta không thể phân biệt khi nào chúng ta sử dụng bán cầu não Trái và khi nào là bán cầu não Phải. Tuy nhiên, ỏ một mức độ nào đó, chúng ta có thể biết.
Nhưng trước hết, điều quan trọng là Phải biết phân biệt người thuận tay Phải hay tay Trái với người thiên về bán cầu não Phải hay Trái. Bán cầu não Phải điều khiển nửa phần thân thể bên tav Trái, và bán cầu não Trái điều khiển nửa phần thân thể bên tay Phải. Còn người thuận sử dụng bán cầu não Phải hay Trái thì lại khác.  Muốn biết một người thiên về sử dụng bán cầu Phải hay Trái thì hãy quan sát cách họ “nói năng” (sử dụng ngôn ngữ) và cách họ “nghe” và “hiểu“ lời nói (tiếp nhận và giải mã ngôn ngữ) của người khác. Nói chung, gần như 85% dân số thuận tay Phải và thiên về sử dụng bán cầu não Trái. Và khoảng 60% người thuận tay Trái cũng thiên về sử dụng bán cầu não Trái. Như vậy số người thuận sử dụng bán cầu não Phải không nhiều.
Khi các dữ kiện (ánh sáng, âm thanh, mùi, vị, cảm giác, ý tưỏng) hằng ngày không ngớt tràn ngập não bộ con người qua các giác quan, thì bán cầu não Phải tiếp nhận các dữ kiện này bằng hình ảnh như hình chụp của máy ảnh, được rửa ra và được dán chồng lên nhau. Thí dụ: Mắt “thấy“ cô gái này đẹp thì trong não bộ Phải có nguyên hình cô gái với toàn cảnh, thí dụ cô gái ấy ỏ một tiệc cưới, ỏ quán kem, ỏ nhà một người bạn… Tai “nghe” tiếng giảng đạo của một linh mục thì có hình ảnh của vị linh mục đó tại nhà thờ…“Nỗi buồn” hay sự “thất vọng” cũng được não Phải lưu giữ bằng hình ảnh trong một bối cảnh nào đó. Những hình ảnh này được lưu giữ cho dù sự kiện đã xảy ra cách nhiều năm, khi hồi tưỏng lại ta cũng như đang “thấy” trước mắt, nhất là khi hình ảnh đó ngày xưa đã gây quá nhiều ấn tượng.
Với não bộ Phải, sự ghi nhận không có thời gian. Chỉ là “hình ảnh” được ghi lại “bây giò“ và “nơi đây” với đầy đủ cảm giác rất sống động. Não bộ Phải không bị gò ép Phải “suy tưỏng” theo một nguyên tắc hay khuôn khổ lề luật nào, và đó là não bộ của các nghệ sĩ, tu sĩ, nhà đạo đức, các nhà khoa học lo cho tương lai nhân loại, chuyên nghĩ đến những việc mà người “bình thường” không hề nghĩ đến.
Não bộ Phải, phần trước trán, cũng làm cho chúng ta nghĩ đến tình nhân loại, nghĩa đồng bào, cùng sống trong một dãi đất, trên một tỉnh cầu, biết thương yêu nhau, giúp đỡ, nhường nhịn, sống chung hay chết chung với nhau.
Não bộ Trái thì ngược lại trong việc ghi nhận các dữ kiện. Tiếp nhận những sự kiện từ não bộ Phải như là hình ảnh của một tổng thể, não bộ Trái đem ra phân tích, phê phán và sắp xếp theo hình dáng, màu sắc, âm thanh, mùi vị, thời gian (quá khứ, hiện tại, vị lai), tình cảm (thương ghét, vui buồn), khối lượng (nặng nhẹ, lớn nhỏ)… Nói chung là não bộ Phải nhìn mọi sự dưới dạng toàn cảnh và tổng thể; còn não bộ Trái thì dùng ngôn ngữ để mô tả từng chi tiết, theo thứ tự thời gian, theo phân biệt tình cảm. Thí dụ: Não bộ Phải khi gặp một người thì ghi nhận ngay hình ảnh người ấy gặp trong một khung cảnh nào đó. Não Trái sẽ ghi chi tiết: nam nữ, chủng tộc, cách ăn mặc, nói năng, học vấn, cá tính… (Ỏ điểm này, ta gọi là óc nhận xét). Hay nhìn một đóa hoa. Não bộ Phải chỉ ghi nhận: đóa hoa và bất cứ hoa gì thì cũng thấy đẹp. Còn não Trái sẽ ghi hoa gì, màu gì, mùi gì, cánh hoa, đài hoa, cuống hoa, xấu, đẹp như thế nào.
Nhờ thu nhận hình ảnh ngưòi, vật, cảnh nên não bộ Phải nhìn đâu cũng đẹp, dễ thương, độc đáo, biết tôn trọng vật hay người đã nhìn thấy, và thấy cá nhân mình chỉ là một phần trong toàn phần, không có sự kỳ thị, phân biệt hơn kém, thương ghét. Trái lại, với chức năng phân biệt, phê phán theo giá trị, xếp loại theo hạng mục, não bộ Trái tạo ra nhiều dễ dàng trong đời sống, nhưng cũng từ đó làm cho đời
sống thêm phức tạp hơn lên. Thí dụ: mục đích của thức ăn là để no bụng. Nhưng có ngưòi đói thấy thức ăn, thì ăn. Có người đói lại không ăn, vì thức ăn bị chê là không ngon, hay bày biện không hợp… lễ. (Còn con vật hễ đói, thấy đồ ăn thì…ăn, không cần ngon dỏ hay lễ nghĩa gì cả).
Thêm nữa, não bộ Trái có khả năng ngôn ngữ nên biết diễn tả mọi sự mọi vật thật chi tiết, rõ nét, dễ hiểu, làm cho sự hiểu biết của loài người được tích lũy và lưu truyền càng ngày thêm phong phú, khiến cho con người càng ngày một thông minh, tiến bộ qua quá trình tiếp thu kiến thức hàng ngàn năm. Với những kiến thức được phân loại theo hạng mục, con người cũng tiên đoán được những gì sắp xảy ra, tránh được phần nào tai họa (thòi tiết, giông bão, động đất, sóng thần…). Nhưng cũng chính với những khả năng đặc biệt của não bộ Trái, con người, và chỉ có loài người mà thôi, đã tạo ra biết bao khốn khổ cho chính mình và người chung quanh. Nhờ khả năng ngôn ngữ, con người biết tự đặt câu hỏi “TÔI LÀ…AI?” Bản Ngã từ đó sinh ra. Cái Tôi, cái Ngã càng được trau chuốt, quan trọng hóa, thì khốn khổ tự thân của con người cũng dồn dập.Khi bán cầu não Trái bị thương tật, người bệnh sẽ mất khả năng nói và hiểu lờinói của kẻ khác. Nhưng nhờ bán cầu não Phải, họ sẽ cảm nhận được là người đối diện đang nói thật hay nói dối qua sự nhận xét cách nói, giọng nói, vẻ mặt, và điệu bộ. Bán cầu não Phải vì vậy có khả năng bổ túc cho bán cầu não Trái về moi lĩnh vực sinh hoạt trong đời sống hằng ngày, khi não Trái bị tai biến hay thương tật.
Loại tai biến mà tôi trải nghiệm là sự Xuất huyết trầm trọng bên bán cầu não Trái. Sau khi đã được mổ sọ để lấy khối máu khô ra, tôi đã Phải mất 8 năm mới hoàn toàn hồi phục thể lực và trí lực. Các chương tiếp theo sẽ kể tiếp cho bạn biết những gì đã xảy ra.
Tôi cũng nhiệt tình khuyến khích các bạn hãy tìm đọc thêm những tài liệu về khả năng của bộ óc, về sự sinh hoạt của hai bán cầu trong một con người bình thường, để bạn có thể giúp những người bị Tai biến mạch máu não phục hồi một cách hữu hiệu, và giúp cho chính bạn sống cuộc đời mình tốt đẹp hơn.
 
CHƯƠNG 4
BUỔI SÁNG NGÀY BỊ TAI BIẾN
Lúc ấy là 7 giờ sáng ngày 10 tháng 12 năm 1996. Tôi thức dậy theo tiếng báo thức của đồng hồ reo bên giường. Với tay bấm tắt tiếng reo, hình như tôi vẫn còn chập chờn trong trạng thái nửa thức nửa ngủ. Nhưng tinh thần tôi đã sảng khóaí, sẵn sàng cho một ngày bình thường. Tôi biết tôi Phải thức dậy đi làm việc. Đang trỏ mình lăn ra khỏi giường, bỗng tôi cảm thấy đau nhói bên phía trong đầu sau mắt Trái, một cơn đau chưa từng có. Chẳng mấy khi bệnh hoạn, tôi lấy làm lạ về một cơn đau khỉ mới vừa thức giấc. Tôi đưa tay Trái lên kéo đóng tấm mành che bớt ánh sáng mặt tròi chói chang đã làm mắt tôỉ khó chịu, và đưa tay Phải lên che con mắt đau lại. Tôi cảm thấy bối rối tự hỏi tại sao mới sáng mà lại
đau thế này? Con mắt Trái cứ tiếp tục đau giật tê buốt từng cơn, tê buốt như cắn Phải cục nước đá. Tôi rời giường, khập khểnh leo lên chiếc máy tập thể dục như một người lính bị thương, hy vọng sự vận động cơ thể, máu huyết lưu thông sẽ làm giảm cơn đau. Sau vài động tác, tôi thấy cơ thể như rã rời, tay chân như không còn là của tôi nữa, mặc dù tôi vẫn tỉnh táo. Hay đúng hơn, cơ thể như không còn theo mệnh lệnh của bộ óc tôi.
Tôi như một người khác đang quan sát cử động của chính mình. Tôi đưa hai tay nắm lấy tay nắm của máy tập thể dục, mà vụng về như hai tay của người tiền sử. Đầu vẫn tiếp tục đau điếng từng cơn. Tôi có cảm giác lạ kỳ: Ý thức tôi đã tản mạn đâu mất và thân thể tôi như đang lơ lửng giữa thực tại và một cõi mông lung nào.  Nhận thấy sự vận động của thể dục không giúp ích gì cho cơn đau, tôi rời máy
và hướng vào nhà tắm. Tôi để ý thấy tôi bước đi không còn tự nhiên, mà cà thọt như một tên hề. Và không thể bước đi một cách thăng bằng, tôi Phải cố gắng hết sức mới không Phải té. Để bước chân vào bồn tắm, tôi Phải vịn vào vách, và cố gắng lắm thì hai chân mới đứng vững được cho khỏi ngã. Tôi lấy làm ngạc nhiên là sao hôm nay tôi không thể điều khiển được cái khối 50 ngàn tỉ tế bào theo ý muốn
và tự hỏi không biết bộ óc kỳ diệu của tôi sao hôm nay lại bất thường?
Tôi biết rằng sỏ đĩ con người có thể đi đứng một cách thăng bằng và nghe được, thỏ được là nhờ phần não bộ nối dài với tủy sống. Như vậy là tôi có thể bị rối rắm với các tế bào não bộ ỏ phần này, và có thể nguy hiểm chết người. Trong khi tôi cố tìm ra lòi giải đáp bằng kiến thức của một nhà khoa học não bộ, tôi bỗng nhiên nhận ra mình đang ỏ vào một tình trạng thật là kỳ lạ: Thông thường não bộ Trái hay “nói” cho tôi biết những gì đang xảy ra, nhưng bây giờ thì im lặng, hoặc nói vài điều không mạch lạc, không liên hệ, không nghĩa lý gì với nhau. Hơn nữa, thính giác của tôi thường rất nhạy bén, nhưng bây giờ tôi không còn nghe được cả tiếng ồn ào thường lệ của xe cộ bên ngoài. Hoang mang, tôi lục lọi ký ức xem tình trạng này có bao giờ xảy ra chưa. Hiện tượng giống như bị nhức đầu dữ dội. Tôi càng cố tập trung ý tưỏng, thì trí óc và sự suy nghĩ của tôi càng như tan biến vào nơi đâu. Bộ phận não Amygdala có bổn phận thông báo về những tai họa, những điều đáng sợ, Phải có phản ứng thế nào
cho thích hợp, đã không thấy hoạt động vào lúc này. Và thay vào sự lo lắng về “chuyện gì đã xảy ra trong bộ óc tôi”, tôi bỗng nhiên cảm thấy “bình an” thật lạ. Cả đời mấy mươi năm, lúc nào tôi cũng nghe não bộ Trái của tôi “báo cáo” từng chi tiết về đủ thứ chuyện: Nào là chuyện nghiên cứu, chuyện dạy học, kế hoạch này, chương trình kia Phải hoàn tất kịp thời. Thì nay, những việc làm bận rộn đó đã biến đâu mất. Tôi chỉ còn một cảm giác thanh tịnh, hạnh phúc và cực kỳ an lạc. Và vì Trung tâm Ngôn ngữ ỏ bán cầu não Trái đã bị tê liệt, tôi không còn liên lạc được với mọi ký ức trong đời.  Tôỉ không còn biết “tôi là ai”. Tôi như hòa làm một với vũ trụ, và cảm giác đó làm tôi thích thú vô cùng. Tới đây thì gần như tôi không còn ý niệm về không gian ba chiều vật chất ỏ quanh tôi. Tôi đứng trong bồn tắm, lung tựa vào vách, nhung không còn khả năng phân biệt thân thể và tay chân tôi có giới hạn tới đâu. Tôi có cảm giác toàn thân tôi là một khối chất lỏng hòa tan với mọi vật thể chung quanh. Khối lỏng của cơ thể tôi trỏ nên nặng nề, và năng lượng trong người dường như tan biến mất. Tôi nghĩ: “Ủa, mình thật là lạ. Mình là một sinh vật kỳ lạ vô cùng. Mình là môt túi nước lớn bao bọc bên ngoài bằng một lớp màng nhầy. Mình là đời sống! Với hình thức này mình là một “ý thức sống trong bọc nước” và đó là mình! Mình là hàng ngàn tỉ tế bào có chung một tri thức. Mình ỏ đây, bây giò và hăm hỏ sống đời! Coi kìa, thật là một khái niệm kỳ diệu và không thể hiểu thấu được! Mình là một tế bào đời sống, ủa, mà không Phải, mình là một phân bào đòi sống, có cả sách hướng dẫn cách phát triển rõ rệt, và là phân bào có trí hỉểu biết!” Với sự thay đổi tình trạng của hiện hữu, tâm trí tôi không còn vướng bận với hàng ngàn chi tiết mà bộ óc hướng dẫn tôi trong đời sống hàng ngày, cả những suy nghĩ mà bán càu óc Trái “nói” với tôi mỗi ngày cũng hoàn toàn im lặng. Và với yên lặng này, tôi không còn ký ức về quá khứ, cũng không suy nghĩ đến tương lai.
Tôi lại nghĩ rằng bán cầu não tráỉ đang bị thương hóa ra rất dễ chịu. Tôi hăm hỏ quay ra chú tâm tới hàng ngàn tỉ tế bào thông minh đang hoạt động hài hòa để giữ cho cơ thể tôi được sống. Và trong khi máu càng lúc càng chảy nhiều hơn trong đàu tôi, ý thức về ngoại cảnh của tôi nhạt nhòa dàn. Tôi chỉ còn cảm giác hạnh phúc và sung sướng rằng các tế bào li ti trong cơ thể vẫn còn hoạt động liên tục
không ngừng nghỉ để cho tấm thân vật chất của tôi được tồn tại. Đây là lần đầu tiên trong đời, tôi thật sự cảm thấy mình là “một” với sự sống. Và tôi vui mà thấy đời sống là một tập hợp những tê’ bào thông minh quanh một phân bào thiên tài tuyệt vòi. Tôi cảm giác mình như là khối hơi trong vũ trụ, dù cơn đau từng chập trong đầu vẫn còn rõ nét nhưng không Phải là không chịu nổi. Cơn đau lan xuống tới ngực và chạy ngược lên tận cổ, kéo tôi về với thực tại. Tôi nhận ra ngay mình đang lâm tình trạng cực kỳ nguy hiểm. Nhất định Phải biết cái gì đã xảy ra, tôi cố lục soát phần hiểu biết còn lại trong ý thức để tự chẩn bệnh mình: “Cái gì đang xảy ra trong cơ thể? Bộ óc đã như thế nào rồi?”. Mặc dù ý thức tôi bị đứt quãng và mơ hồ, tôi cũng cố gắng giữ thăng bằng cơ thể. Bước ra khỏ bồn tắm, tôi như người say rượu. Thân nghiêng ngửa, chân nặng nề, bước chậm chạp. Câu hỏi trong đầu: ‘Tôi đang muốn làm gì bây giờ? Thay đồ. Thay đồ để đi làm”. Tôi vất vả lựa quần áo. Lúc đó đã 8:15 sáng, và tôi sẩn sàng
lái xe ra đi. Tôi nghĩ: “Được rồi, tôi đi làm đây. Tôi đi làm đây. Mà tôi có biết làm sao đến sở làm không? Tôi có thể lái được xe không?”. Trong khỉ tôi đang nghĩ đến con đường Phải lái xe từ nhà đến bệnh viện
McLean nơi tôi làm việc, tôi tự nhiên mất thăng bằng vì cánh tay Phải bị xụi thình lình một bên. Lúc đó, tôi mới hiểu ra: “Trời ơi! Tôi bị xuất huyết não! Tôi bị xuất huyết não!” Phút tiếp theo đó, một ý tưỏng thoáng chớp lên trong đầu: “Ô! Cái xuất huyết não này mới dễ thương làm sao!”. Tôi như bị rơi từ vùng ảo giác hạnh phúc, an lạc trỏ về thực trạng nguy hiểm của não bộ. Dù vậy, tôi vẫn luôn nghĩ: “ồ kìa, có bao nhiêu nhà khoa học được dịp may mắn quan sát sự vận hành và suy thoái của chính bộ óc mình từ trong ra ngoài?” Tôi đã để cả đòi tìm hiểu: Làm sao mà bộ óc con người tạo ra được sự hiểu biết cho chúng ta về những thực tại chung quanh? Và bây giờ, tôi được dịp trải nghiệm sự vận hành của Não bộ từ chính bộ óc của mình qua cơn Xuát huyết não.
Khi cánh tay Phải trỏ thành bại xụi, tôi có cảm tưỏng như sức sống của nó nổ tung ra. Nó nằm im xuôỉ xuống một bên vai mà tưỏng như đã bị chặt đút đâu mất. Về não bộ học, tôi biết rằng phần vỏ não về động tác tay chân đã bị ảnh hưỏng, và tôi may mắn là cánh tay chỉ chết trong vài phút rồi hơi cử động lại được, với sự đau tê dữ dội. Tôi như người bị thương. Cánh tay Phải như mất hết sức lực, tựa như khúc cây. Tôi tự hỏi không biết có bao giờ cánh tay sẽ trỏ lại bình thường. Ngó qua thấy cái giường ngủ ấm áp, nhất là vào buổi sáng mùa Đông lạnh lẽo ỏ vùng này, tôi muốn nằm. “ổi, tôi mệt quá rồi. Tôi đau quá rồi. Tôi muốn nghỉ ngơi. Tôi muốn nằm và ngủ một chút”. Nhưng tự trong thâm tâm tôi, một giọng nói như ra lệnh: “Không được nằm! Nếu ngươi nằm, ngươi sẽ chết!”. Kinh ngạc vì tiếng đe dọa, tôi thử phán định tình hình bấy giò. Nghịch lý thay, mặc dù tôi thực tế đang ỏ trong tình trạng khẩn cấp thúc giục tôi Phải gọi ngay cấp cứu đưa vào bệnh viện, một phần khác trong tôi vẫn cảm thấy thú vị vì đang sống trong cảm giác An vui và Thanh tịnh. Tôi bước ra khỏi ngạch cửa phòng ngủ, ngang qua tấm gương. Nhìn vào đôi mắt tôi phản chiếu trong đó, tôi ngừng lại một chút để tìm vài chỉ dẫn hiển lộ trong
ánh mắt của mình. Trong cái sáng suốt còn sót lại của một não bộ đã bị thương, tôi chợt hiểu ra là, qua thiết kế sinh học tuyệt vời của tạo hóa, cơ thể con người là một món quà quí giá và rất mong manh. Đối với tôi, cái thân thể này vận hành như một cánh cửa lớn qua đó năng lượng của cái ‘lôi” được chiếu rọi vào một khoảng trống gọi là không gian ba chiều.
Khối lượng tế bào của thân thể này cung cấp cho tôi cái gọi là “nhà” tạm thời nhưng rất hoành tráng. Và với bộ óc kỳ diệu, có khả năng kết nạp thực sự hàng tỉ của hàng ngàn tỉ dữ kiện mỗi phút, đã tạo cho tôi cảm tưỏng rằng có một không gian ba chiều không những là có thực mà còn là an toàn để sống trong đó. Trong cái ảo giác đó, tôi đã bị thôi miên vì khối lượng sinh học đã tạo ra hình dáng tôi,và kinh ngạc với sự vận hành vừa đơn giản vừa phức tạp của nó. Tôi đã nhận ra tôi chỉ là sự kết hợp của một hệ thống phức tạp và sống động, một tổng thể những tế bào có khả năng tập kết dữ kiện của thế giới bên ngoài qua những bộ phận nối kết nhau gọi là giác quan. Và khi hệ thống này vận hành thích hợp, nó sản sinh ra một ý thức có khả năng phân biệt ý nghĩa mọi thực trạng chung quanh. Tôi ngạc nhiên
tự hỏ tôi đã sống trong cái thân thể này đã nhiều năm, vói hình thức một nhà nữ bác học như vầy, mà sao đã không thực sự nhận ra rằng mình chỉ là ngưòi khách lạ từ nơi khác đến đây thăm viếng?
Ngay cả trong tình trạng như thế này, cái ngã ỏ bán cầu não Trái của tôi vẫn ương ngạnh giữ niềm tin rằng, mặc dù tôi đang bị bệnh ỏ não bộ nghiêm trong, tôi vẫn không sao! Cho nên, trong lúc lạc quan, tôi cũng tin sẽ hoàn toàn bình phục. RỒI hơi bực bội vì bệnh làm hỏng thòi khóa biểu làm việc sáng nay, tôi pha trò một mình: “Được rồi, tôi bị xuất huyết não! Phải rồi, tôl đang bị xuất huyết não!
Nhưng tôi là ngưòỉ bận rộn với công việc. Bỏi vì tôi không thể làm cho sự xuất huyết ngưng lại, tôi sẽ nghỉ một tuân. Tôi sẽ tìm hiểu xem làm sao mà bộ óc tôi có thể tạo ra ảo giác tôi là người rất bận rộn. Sau đó, tôi sẽ làm việc trỏ lại đúng như thời khóa biểu đã định. Bây giờ tôi Phải làm gì? Gọi cấp cứu. Phải gọi cấp cứu ngay tức khắc”.
 
CHƯƠNG 4
KHÓ KHĂN KHI TỰ MINH GỌI CẤP CỨU
Tôi không biết chính xác là tôi bị vỡ mạch máu loại nào, nhưng chỉ biết là mạch máu đang vỡ từ bán cầu não Trái và máu đang đổ ra từng khối lượng lớn. Khỉ máu tràn ngập qua vùng suy nghĩ những vấn đề phức tạp ỏ vỏ não Trái, tôi bắt đầu mất khả năng nhận thức về các sự kiện này. Tôi chỉ còn có thể nhớ được một điều là lúc bấy gio Phải làm sao đến bệnh viện càng sớm càng tốt. Nhưng gọi cấp cứu để được đưa đến bệnh viện là cả một vấn đề. Bỏỉ vì tôi không còn khả năng tập trung  ý thức vào công việc nào được nữa. Cái ý nghi “Phải gọi bệnh viện cấp cứu” cứ  nhảy ra nhảy vô, lúc biến lúc hiện trong đầu tôi, khiến tôi không biết đó có Phải  là “mệnh lệnh” nên làm hay không. Hai bán cầu não làm việc chung nhau bấy lâu nay như một dàn nhạc hợp tấu rất hài hòa, khiến tôi có thể sinh hoạt bình thường 
trong thế giới này. Nhưng bây giờ, do vì sự khác biệt phần hành giữa hai bán càu, tôi cảm thấy khả năng ngôn ngữ và tính toán của bán càu Trái không còn nữa. Tôi không còn biết số nào là số điện thoại để gọi và gọi thì sẽ nói gì. Thay vào đó, tôi lại có cảm giác “an lành” len lỏi khắp người tôi, phát sinh từ bán cầu Phải.
Không còn cái biết “theo đường thẳng” (đã qua, bây giờ, sắp tới) và sự chỉ dẫn của bán cầu não Trái, tôi như Phải vật lộn để tìm hiểu thế giới bên ngoài. Tôi không còn phân biệt điều gì là quá khứ, hiện tại hay vị lai, mà chỉ thấy tất cả là những sự kiện riêng lẻ, biệt lập trong hiện tại, chẳng dính dáng gì đến nhau. Tôi cố gắng trong tuyệt vọng để lập lại sự hiểu biết thường ngày, để nối kết những sự kiện rời rạc thành một chuỗi tiến trình có ý nghĩa. Trong đầu lúc này tôi chỉ còn lặp đi lặp lại ý nghĩ: ‘Tôi đang cố gắng làm gì đây? Gọi cấp cứu! Tôi đang thảo một phương án gọi cấp cứu! Tôi đang làm gì đây? Tôi Phải soạn cho được một kế hoạch gọi cấp cứu. Được rồi. Tôi Phải gọi cấp cứu”. Trước buôi sáng bị xuất
huyết não này, bộ óc tôi biết phân loại, sắp xếp các dữ kiện đưa vào từ bên ngoài như sau: Tưỏng tượng như tôi đang ngồi giữa bộ óc với những tủ đựng “hồ sơ” xếp thành hàng dài. Khi tôi muốn tìm một ý nghĩ, ý tưỏng, hay một điều gì trong quá khứ, tôi sẽ nhìn qua các tủ “hò sơ” xem nó nằm ngăn nào. Khi đã tìm đúng tủ rồi, thì tôi biết tất cả “dữ kiện“ đều nằm trong đó và mỏ ra sử dụng. Nếu nhìn lần đầu mà không thấy ngăn tủ muốn tìm, tôi sẽ lặp lại lần nữa cho đến khỉ có mới thôi.
Nhưng buổi sáng này thì khác. Các ngăn đựng “hồ sơ” như bị đóng chặt và bị đẩy xa ra khỏ sự kiểm soát của tầm tay tôi. Tôi biết tất cả kiến thức của tôi nằm trong đó, nhưng không phân biệt được chúng đang ỏ ngăn nào. Tôi không biết làm sao nối kết lại với khả năng ngôn ngữ, kiến thức về đời sống, về những năm dài học hỏi. Tự nhiên tôi hơi buồn vì không biết mình có thể trỏ lại bình thường đượckhông.
Không còn khả năng ngôn ngữ và sự phân định thời gian, tôi như bị tách ròi khỏ cuộc sống và mọi sinh hoạt bình thường. Không còn ký ức, không còn khả năng phân tích và phê phán của não thùy Trái, tôi như người mà đầu óc bị che phủ bỏi một màn đen lớn, không biết mình là ai và có mặt trong đời này để làm gì!
Trong khi đó, nhịp máu đập ỏ đầu vẫn tiếp tục như búa bổ.
Và bây giờ, khi không còn liên hệ được với mọi vật quanh mình nữa, tôi có cảm tưỏng thân xác tôi đã tan chảy ra như chất loảng và hòa vào vũ trụ mênh mông.
Khi sự xuất huyết càng lúc càng trầm trọng thì sinh hoạt của não thùy Trái cũng ngừng bặt. Tôi không còn nhận thức gì được về các chi tiết và sự phân loại dữ kiện bên ngoài. Bán cầu não Phải giò không còn bị bán cầu não Trái chi phối nữa, nên đã tự do hoạt động. Như được giải thoát khỏi những lo âu, toan tính, phân tích, phê phán hằng ngày, bán cầu não Phải đã đưa nhận thức tôi đến một vùng trời kỳ
diệu của làn sóng ngắn “theta”, và tôi cảm thấy an lạc vô cùng. Tôi không Phải là Phật tử và cũng không biết gì về Phật pháp, nhưng tôi có cảm tưỏng là tôi đã đạt tới cảnh giới mà người Phật giáo gọi là Niết Bàn, nơi mà tâm ý không còn bận rộn và mơ ước một điều gì nữa. Nơi đây, cảm giác của tôi là không còn toan tính, tranh đua, hơn thiệt; mà chỉ thấy thật thanh tịnh, bình an, đủ đầy phước báu và hòa làm một với vạn vật. Và hiển nhiên, một phần của con người tôi đang thích thú với cảm giác này. Nhưng còn phần khác trong tâm thức vẫn thúc giục tôi Phải kêu gọi cấp cứu vì cảm giác đau nhức ỏ đầu vẫn còn dữ dội. Nhờ sự thôi thúc không ngừng này mà cuối cùng tôi đã được giải cứu.
Tại sao tôi không nhấc điện thoại lên và gọi số cấp cứu 9-1-1 ? Vì phần não Trái liên hệ tới những con số đã bị máu tràn ngập. Các tế bào ỏ đây đã bị ngập máu nên ý niệm về con số đã không còn hiện hữu. Tại sao tôi không khập khểnh bước ra đường, ngoắc một người lạ và nhờ họ gọi cấp cứu ? Ý tưỏng này không thể có được vì não thùy Trái đã bị tê liệt. Trong tình trạng bất lực này, tôi chỉ còn một ý tưỏng mơ hồ là Phải làm sao để gọi cấp cứu! Những gì tôi có thể làm bấy giò là ngồi đó và đợi, ngồi kiên nhẫn với cái điện thoại bên cạnh và kiên nhẵn trong im lặng. Tôi ngồi đó một mình cô đơn trong ngôi nhà rộng với những ý tưỏng lạ lùng xâm chiếm tôi. Chúng thoắt hiện thoắt biến như trêu chọc. Tôi ngồi đó đợi chờ một giây phút tâm trí trỏ lại rõ ràng hơn, để tôi có thể nối kết hai ý nghĩ thành ý tưỏng cụ thể để có thể thực hiện kế hoạch cấp cứu. Tôi vẫn tiếp tục im lặng và tự hỏi “Tôi đang làm gì? Gọi cấp cứu. Gọi cấp cứu. Tôi đang cố gắng gọi cấp cứu đây!
Trong hi vọng đợi chờ phút “tâm trí rõ ràng” sẽ đến, tôi để cái điện thoại trên bàn viết trước mặt và chăm chăm nqó vào các con số. Ránn nhớ lại xem Phải gọi những số nào. Tôi cảm thấy não Trái tôi trống không và trên đầu rất đau khỉ tôi chăm chú muốn tìm cách nhớ lại. Mạch máu bên đầu gỉụt liên hồi… “Chúa ơi! Con đau đầu quá!”.
Thình lình, một số điện thoại loáng hiện lên. Đó là số của Mẹ tôi. Tôi mừng run vì đã có thể nhớ được số của bà. Thật là tuyệt diệu vì trí tôi đã có thể nhớ được số điện thoại, mà còn biết là của ai nữa. Nhưng cũng thật là vô dụng trong tình trạng khẩn cấp này. Nhà mẹ tôi cách đây mấy tiểu bang và xa hơn ngàn dặm; gọi bà vào lúc này và nói rằng tôi bị xuất huyết não, thì chắc bà Phải ngã ra bất tỉnh. ‘Tôi Phải tìm ra một kế hoạch nào khác!”. Rồi tôi nhớ đến văn phòng tôi ỏ trường Harvard. Phải rồi, tôi đã làm việc ỏ
phòng Nghiên cúu Não bộ của Đại học Harvard từ nhiều năm. Những khỉ đi khắp các tiểu bang diễn thuyết và kêu gọi mọi người hãy đóng góp bộ óc người chết cho Ngân hàng Não ỏ đây để dùng vào việc nghiên cứu, thì tôi bảo họ cứ gọi số miễn phí 1-800-… của trường. Nhưng buổi sáng này tôi không thể nhớ được gì rõ ràng cả! Tôi chỉ mơ hồ biết tôi là ai và đang muốn làm gì. Một màn sương phủ kín trí óc
tôi. Tôi cố gắng nhớ số điện thoại văn phòng. “Tôi Phải gọi bạn ỏ văn phòng.
Nhưng… số mấy?”.
Nơi làm việc, muốn liên lạc với nhau không bao giờ Phải gọi nguyên số. Chỉ càn bấm 4 con số chót. Thành ra trong bộ nhớ của óc tôi không bao giờ có nguyên số điện thoại của bất kỳ đồng nghiệp nào. Bỗng tôi nhận ra các danh thiếp để trên bàn. Ò, đây là danh thiếp của trường Harvard, vì nó có dấu hiệu đặc biệt. Cầm lên, tôi biết là danh thiếp của người bạn mà văn phòng sát bên tôi. Nhưng tôi không đọc được số điện thoại. Các con số bây giò, dưới mắt tôi, chỉ là những vệt đen vô nghĩa. Tên của người bạn, giáo sư tiến sĩ Stephen Vincent, cũng vậy. Tôi không còn khả năng nhận diện chữ nghĩa nữa.
Cuối cùng, sau gần một tiếng đồng hồ cố gắng trong mệt mỏi và đau nhức, với những chớp lóe sáng ngắn ngủi trong đàu, tôi đã bấm được mấy số trên điện thoại mà có hình dạng giống như số trên danh thiếp. Cầm ống nghe lên tai, tiếng nói quen thuộc của Vincent – đồng nghiệp ngồi sát văn phòng tôi – sao nghe như tiếng của một con dã nhân, tôi không hiểu gì cả. Và tôi cũng lên tiếng, nhưng không ra
tiếng. Tôi cố dùng hết hơi sức từ trong buồng phổi hét lớn: “Tôi là Jillẽ Tôi cần giúp đỡ”, Về sau, Vincent kể lại là anh ta cũng chẳng nghe tôi nói được gì, chỉ nghe tiếng “gầm gừ‘ của dã thú; nhưng Vincent nhận ra giọng của tôi và thấy tôi trể hơn nửa giờ rồi, biết là tôi có chuyện nên đã vội mang xe đến đón. Thì ra tôi đã không còn khả năng ngôn ngữ đọc, viết, nói… gì nữa, sau khi các tế bào não Trái
bị tràn ngập trong vũng máu. Nhờ vào não bộ Phải, tuy tôi không hiểu Vincent nói gì, nhưng nghe ra “cách nói” nhẹ nhàng và quan tâm của anh, tôi yên trí anh hiểu tôi nói gì và sẽ đến giúp. Cho nên lúc ấy tôi thấy an tâm. Tôi đã làm hết sức mình một công tác thật “khó khăn” và tôi đả thành công.
 
CHƯƠNG 5
KHI BÁN CẦU NÃO TRÁI NGỪNG HOẠT ĐỘNG
Trong lúc ngồi chờ bạn đồng nghiệp đến chỏ đỉ bệnh viện, tôi chợt nhớ là Phải gọi bác sĩ gia đình. Tôi ít khi đi bác sĩ vì tình trạng sức khỏe-quá tốt và cũng vì tôi rất bận rộn. Bây giờ Phải báo cho bác sĩ của tôi biết là tôi Phải vào “cấp cứu”. Tôi mới đi bác sĩ cách đây 6 tháng, nên danh thiếp vẫn còn trong xấp trên bàn viết và vì cái dấu hiệu Harvard rất dễ nhớ.  Dễ nhớ, nhưng không Phải dễ tìm. Tôi quên là tôi không còn khả năng phân biệt chữ nghĩa hoặc con số. Tôi nhìn mãi các danh thiếp nhưng không thể chọn ra tấm nào là của bác sĩ tôi. Tất cả chữ nghĩa và con số trên danh thiếp chỉ còn là những chấm đen dưới mắt tôi bấy giờ. Chán nản lẫn hãi hùng, tôi nhận ra là khả năng tiếp xúc với ngoại vật của tôi đã tồi tệ hơn tôi tưỏng. Mắt tôi không còn phân biệt được hình dáng và màu sắc của mọi vật thể xung quanh. Ngay cả thân thể tôi, tôi cũng không phân biệt nó là thể đặc hay thể lỏng, nên không còn dám di động từ chỗ này sang chỗ khác. Và trí nhớ dài hạn hay ngắn hạn cũng không còn. Thật là một công việc đáng sợ khi Phải chỉ ngồi yên đó với một đầu óc im vắng, trống không như lặng chết, trong tay cầm một xấp danh thiếp và cố gắng nhớ xem mình Phải làm gì! “Tôi là ai? Tôi đang làm gì đây?” là câu hỏ không có
câu trả lời, bỏi đầu óc không còn hiểu được thực trạng của ngoại cảnh. Và tôi cũng mất đi cảm giác Phải gấp rút tới bệnh viện. Nhưng cũng kỳ lạ thay, phần tiền đình của não bộ Trái vẫn còn giữ được ý tưỏng là tôi Phải đến bệnh viện. Cơn đau nhói trẻn đầu thỉnh thoảng đưa lại những giây phút “sáng suốt” khiến tôi nối kết được với thực tại, biết Phải làm gì và làm thế nào. Cuối cùng, tôi đã lựa ra được tấm danh thiếp của bác sĩ riêng nhờ vào dấu hiệu trường Harvard ỉn trên góc Trái. Ở thời điểm này, cái ý nghĩ “nói chuyện qua điện thoại” cho tôi cảm giác thật là kỳ lạ. Sao mà khó hiểu quá vậy? Làm sao mà chỉ bấm vào mấv con số. mà môt người ngồi ỏ đâv lai có thể nói chuyện với một người ỏ xa trong một không gian  khác biệt? Và người này nói mà người kia nghe và hiểu?
Vi tôi sợ sẽ mất sự chú ý về công việc đang làm, tôi đẩy xấp danh thiếp qua một bên. Não bộ tôi đang đi dần vào sự phân hóa trầm trọng, sự hiện hữu của các con số trước mắt tôi dàn trỏ nên kỳ lạ như chưa tùng thấy bao giờ. Tôi ngồi đó, im lặng, thần trí như tỉnh như mê. Tôi nhìn nhũng con số lạ lùng trên danh thiếp và trên điện thoại, rồi cố gắng bấm đều đặn từng con số ngoằn ngoèo trên danh thiếp
giống với con số ngoằn ngoèo trên điện thoại. Tôi Phải lấy ngón tay trỏ của bàn tay Trái che lại những số vừa bấm xong, để ngón tay trỏ của bàn tay xụi bên Phải không lẫn lộn. Tôi Phải làm như vậy vì không còn nhớ được cái gì mới vừa làm. Cảm giác mệt mỏi vì đã làm một việc quá sức khó, tôi còn lo âu là tôi sẽ quên mát mình đang muốn làm gì. Tôi Phải lặp đi lặp lại trong đầu: “Đây là Jill Taylor. Tôi đang bị xuất huyết não. Đây là Jill Taylor. Tôi đang bị xuất huyết não”. Nhưng khi điện thoại đàu kia reo và tôi cố gắng lên tiếng, tôi chết điếng cả ngưòỉ khi khám phá ra tôi không còn nói được. Tôi vẫn nghe được câu tôi muốn nói vang lên trong đàu, nhưng thực tế âm thanh không phát ra ỏ miệng vì thanh quản đã không còn làm việc. Ngay cả tiếng ồ ồ như dã nhân mà tôi đã gọi bạn đồng nghiệp mới đây, cũng không còn. “Chúa ơi! Con không thể nói. Con không thể nói nữa”. Sợ đầu dây kia nghĩ rằng đây là có người gọi “phá đám” và họ sẽ gác  máy, tôi vội cố hết sức bình sinh từ buồng phổi, hét lên: “Đừng gác máy; xin đừng  gác máy”. Thì tôi chỉ nghe được: “Uhhhh, ahhh, thhhhhhh, thhhhììzzzzăa…”. 
Nhưng rồi điện thoại cũng được chuyển cho bác sĩ. Cũng may, bác sĩ của tôi mới  vào tới văn phòng. Nghe một hồi, bà cũng đoán được tình trạng của tôi, nên đã bảo  tôi đi đến bệnh viện Mount Auburn. Nhưng tôi nghe mà không hiểu được gì. Bà Phải ôn tồn kiên nhẫn lặp lại thật chậm mấy lần, tôi mới hiểu. Thì ra, khi nghe tiếng nói của ngưòi khác, tôi không còn khả năng phân biệt được âm thanh và nghĩa lý của âm thanh. Tôi có cảm giác càng lúc tôi càng không thể liên lạc được với thế giới bên ngoài. Lần đầu tiên, tôi nhận ra mình không Phải là không thể bệnh, là “bất tử’. Không Phải như cái máy vi tính bị “yếu” hay “chậm” thì tắt nó đi, rồi “mỏ”trỏ lại thì nó sẽ mạnh và nhanh hơn. Tôi nhận ra con người sống không Phải chỉ nhờ các tế bào cơ thể khỏe mạnh, mà còn Phải có bộ óc với các tế bào thần kinh
liên lạc với nhau một cách thích hợp và hữu hiệu.
Bây giờ thì tôi cảm thấy cái chết đã gần kề. Mặc dầu não bộ bên Phải cho tôi cảm giác an lành vô hạn, tôi thực sự chưa muốn chết. Tôi vẫn cố gắng trong tuyệt vọng nắm giữ những gì còn cung cấp được cho tôi từ não thùy Trái. Tôi biết hiện trạng đã làm tôi không còn là người bình thường. Ý thức của tôi đã trỏ nên mơ hồ, không còn khả năng phân biệt, phân tích và phán đoán những dữ kiện xảy ra
chung quanh. Không còn sự vận hành của não thùy Trái để nhận biết ra tôi là một cá nhân với hệ thống sinh học đặc biệt gồm những cơ phận riêng lẻ kết hợp, não thùy Phải đã tự do đưa tôi vào một vùng tâm thức “bình an và vui tươi” chưa bao giò được biết.
Trong khi ngồi im lặng nghĩ đến cái chết trong an lạc, tôi tự hỏ mình có thể trỏ nên bất lực đến mức độ nào khi bộ óc Trái bị hư hại đến không thể cứu vãn được. Tôi thử ước đoán có bao nhiêu mạch thần kỉnh đã bị hư hỏng, ảnh hưỏng đến phần trí tuệ cấp “cao” và liệu có hi vọng gì thiết lập chúng lại. Tôi không muốn bao năm đã bỏ công ra ăn học đến trình độ này, rồi bỗng dưng Phải chết ỏ cái tuổi đời
rất trẻ, hoặc bị liệt bại trí năng thành người vô dụng. Nghĩ đến đây, tôi gục đầu vào tay và bật khóc. Rồi tôi cầu nguyện thầm thì trong tâm, “Lạy Chúa, đừng bắt con chết; đừng để con chết!…”. Trong sự ỉm vắng vô cùng đó, tôi nghe văng vẳng lời khuyên, “Hãy bình tĩnh; yên lặng, và chờ đợi…”. Tôi thấy an ổn trong tâm hơn.
Ngồi trong phòng khách chò bạn đến cứu mà tôi tưỏng như vô tận. Nhưng rồi anh bạn cũng đến. Tôi không nói được gì, chỉ dùng tay Trái đưa ra tấm danh thiếp bác sĩ gia đinh. Anh gọi ngay bác sĩ để hiểu rõ lời chỉ dẳn, rồi chỏ tôi gấp tới bệnh viện Mount Auburn.
Sau một hồi chậm chạp để điền giấy tò theo thủ tục, tôi được đưa di chụp hình bộ óc. Bấy giờ tôi vẫn còn tỉnh đôi chút để nghe được kết quả đúng như tôi đã tự chẩn đoán lúc ỏ nhà, là tôi đã bị một loại tai biến đứt mạch máu rất ít khi xảy ra, ỏ não thùy Trái, khiến não thùy này hiện đang bị tràn ngập trong vũng máu. Tôi được cho uống sơ khởi một thứ thuốc cầm máu và chống sưng, rồi được bỏ lên xe cấp cứu đưa sang bệnh viện lớn chuyên khoa gần bên. Tôi còn nhớ được người y tá theo xe lo cho tôi rất tận tình với tấm lòng của người lương y. Anh ta sửa lại chiếc mền đắp cho tôi ấm và che bớt ánh sáng cho tôi không bị nhức mắt. Anh lại vỗ nhẹ vai tôi và an ủi, “Cô không sao, không sao đâu!”. Những cử chỉ này thật quý giá đối với bệnh nhân trong tình trạng nguy cấp.
Sau đó, hình như tôi đã mê man. Tôi đã thoát khỏ mọi lo âu, phiền muộn.
Chuyên chết sống bây giò là chuyện của bệnh viện và các bác sĩ chuyên khoa ỏ đó. Tôi đã làm hết mọi sự tôi có thể làm. Tôi chỉ biết rằng suốt buổi sáng này tôi đã chứng kiến từng giai đoạn suy thoái của cơ thể và các mạch thần kinh ỏ não bộ Trái của tôi.
Trong suốt 37 năm nay, lúc nào tôi cũng vui vẻ và hãnh diện vì các DNA của tôi đã tinh vi sắp xếp cho tôi có một cơ thể khỏe mạnh, lỉnh hoạt và đầy sức sống. Nhưng giờ thì hình như các mạch năng lực của khối tế bào cơ thể đang sắp dừng hoạt động. Sáng hôm nay, trước trưa ngày 10 tháng 12 năm 1996, các dòng điện trong cơ thể tôi như tắt dàn. Khi cảm thấy năng lượng thoát ra từng khối lớn khỏi cơ thể, thì ý thức của tôi cũng dần dần không còn điều động hay liên hệ gì được với các giác quan và tứ chi. Tôi biết tôi không còn là người đạo diễn của cái thân thể này nữa. Chung quanh tôi bây giò trỏ nên thật im lặng. Trong cái vắng bặt của hình ảnh, âm thanh, mùi vị và cảm giác, tôi không còn chút gì lo sợ và đau đớn nữa. Và cũng như phần lớn mọi người sắp chết, tôi ước ao được tỉnh táo trỏ lại để được chứng kiến mình về đâu trong sự chuyển tiếp trọng đại này.
 
CHƯƠNG 6
CHỈ CÒN NÃO TRÁI HOẠT ĐỘNG
Đến bệnh viện chuyên khoa, tôi được đưa vào trung tâm cấp cứu mà nơi đó ồn ào như một tổ ong khổng lo. Thân thể tôi đã trỏ nên nặng nề và bất động. Nó đã mất hết tất cả nội lực, giống như cái bong bóng xì hơi và xẹp hẳn. Nhân viên bệnh viện bu quanh tôi. Ánh đèn chói chang và âm thanh ồn ào đã làm cho thân tôi đau đớn như bị một đám côn đồ hành hạ. Tôi như đã gần chết mà họ cứ hỏi những câu tôi không hơi sức đâu để trả lời. Mà ví tôi có muốn trả lời, họ cũng không thể nghe và hiểu được.
‘Điền những câu trả lời vào bản này; cầm và bóp Trái banh này; ký tên vào đây…”. Họ bảo với tôi như vậy khi tôi đang nửa tỉnh nửa mê. Và tôi đã nghĩ, “Thật là vô lý. Các người không thấy tôi đang gần chết rồi đây hay sao? Hãy chậm chậm với tôi và hãy kiên nhẫn một chút. Các người làm đau tôi quá”. Họ càng cố mạnh tay để làm cho tôi tỉnh lại thì tôi càng ráng trốn sâu vào nội tâm để tránh sự thô bạo của họ. Tôi cảm giác như bị họ nắn bóp, đâm, chém, và đau đớn như một con đĩa bị rắc vôi. Tôi muốn la lên, “Hãy để tôi yên!” nhưng tiếng la không thoát được ra khỏi cửa miệng. Rồi tôi bất tỉnh, như một con vật bị thương đã tuyệt vọng thoát ra khỏi những bàn tay đang cấu xé nó.
Khi tôi tỉnh dậy một lúc sau bữa trưa hôm đó, tôi rất ngạc nhiên thấy mình vẫn còn sống. (Tôi cảm thấy vô cùng biết ơn các bác sĩ và y tá đã hết sức cứu tôi sống lại, mặc dù không ai biết làm sao tôi có thể hồi phục và hồi phục tới mức độ nào.) Tôi đang mặc áo của nhà thương và nằm ỏ phòng riêng. Vì không còn chút hơi sức nào, tôi nằm như một đống sắt vụn nặng nề không thể nhúc nhích. Tôi không
cảm nhận được thân thể tôi dài ngắn tới đâu. Vì không còn ý niệm về không gian ba chiều, tôi tưỏng như tôi bao trùm cả vũ trụ. Nhịp máu trên đầu vẫn còn làm tôi  đau như búa bổ. Mỗi hơi thỏ hít vào như cực hình ỏ be sườn. Còn ánh đèn chói vào mắt thì như lửa đốt trong bộ óc. Không thể kêu với ai, vì không nói được, để tắt bớt ánh sáng, tôi trỏ mình một cách khó khăn úp mặt vào tấm trải giường. Tôi không nghe được gì ngoài nhíp tim đều đặn. Những nhịp tim này mạnh và lớn đến nỗi làm bộ xương rung động theo và nhức nhối các thớ thịt. Tôi muốn oà khóc như một đứa bé sơ sinh thình lình Phải tiếp xúc với một môi trường hỗn tạp. Không còn khả năng nhận biết mình là ai, quá khứ đã làm gì và hiện tại ra sao, tôi như đứa trẻ trong cơ thể một người lớn. Chỉ vì não thùy Trái của tôi không còn hoạt động!
Rồi có hai chuyên viên bước vào phòng. Họ xì xào những gì thì tôi không thể hiểu. Nhưng nhìn cách họ nói với các điệu bộ thì tôi biết tình hình của tôi thật nghiêm trọng. Vói những tấm ảnh chụp não bộ của tôi có cái lổ hổng trắng khổng lồ ỏ giữa não, không cần Phải là một tiến sĩ chuyên môn về giải phẩu não bộ cũng biết rằng lổ hổng kia không nên có ỏ vị trí đó. Bộ óc Trái của tôi như vậy là đã bị máu tràn ngập và nguyên cả não bộ sưng lên vì đã bị thương. Trong ỉm lặng, tôi cầu nguyện: “Tôi không nên ỏ lại đây lâu hơn nữa! Tôi buông bỏ tất cả! Sức sống của tôi không còn và sự sống của tôi cũng đã ra đi. Thật là không Phải khi tôi còn quyến luyến ỏ lại đây. Lạy Chúa toàn năng, con bây giò đã là Một cùng với vũ trụ. Con đã hòa đồng với dòng sông Vĩnh cữu tới mức độ không thể trỏ lại đòi sống này được nữa. Vậy mà con hãy còn bị ràng buộc ỏ đây. Bộ óc mong manh của cái thùng chứa sinh học này đã hư hỏng và không còn thích hợp cho một cá thể thông minh nữa! Con không còn thích hợp ỏ lạỉ đây!”.
Không còn bị ràng buộc tình cảm vói bất cứ người nào và vật gì xung quanh, tiềm thức của tôi đã tự do trôi theo dòng sông An lạc. “Thả tôi ra. Để tôi đi. Tôi buông bỏ tất cả!”. Tôi muốn chạy trốn khỏ cái thân xác đau đón và rối loạn vận hành này. Trong một thóang, tôi cảm thấy hết sức tuyệt vọng rằng mình đã còn sống sót. Toàn thân tôi bây giờ lạnh ngắt, nặng nề và đau đớn vô cùng. Những mệnh lệnh
từ bộ óc đến thân thể đã không còn hữu hiệu đến nỗi tôi không còn nhận ra hình thể vật chất của tôi. Tôi có cảm giác tôi là một sinh vật bằng điện mà có một bộ phận bị chạm mạch nên bốc khói và tan chảy. Tôi trỏ thành vật phế thải, bị bỏ qua một bên. Nhưng tôi vẵn còn ý thức. Ý thức này khác với cái ý thức tôi biết trước kla. Bỏi vì cái ý thức trước kia giúp tôi biết được thế giới bên ngoài. Những chi tiết này được sắp xếp và cất giữ trong các mạch điện của não bộ. Bây giờ các mạch điện đó ngừng hoạt động, tôi trỏ nên bất động và vụng v’ê với cái ý thức mới. Làm sao tôi có thể là tiến sĩ Jill Taylor khi tôi không biết cô ta là ai, đã làm gì, kiến thức ra sao và ưa thích những gì trong cuộc sống này?
Tôi còn nhớ ngày đầu tiên bị xuất huyết não với nỗi hãi hùng cay đắng nhưng ngọt ngào. Khi não thùy Trái không còn hoạt động bình thường được nữa, tôi mất đi ý thức về giới hạn của thân thể vật chất. Tôi cảm thấy mình như vị thân trong cổ tích, bị nhốt ngàn năm trong lọ nhỏ, vừa thoát ra khỏi lọ và lớn trùm trong không gian. Năng lượng tỉnh thàn thoát ra khỏi thân xác, ò ạt như con cá voi khổng lồ đang lướt nhanh trên mặt đại dương với sức sống mãnh liệt. Khi cơ thể vật chất không còn giới hạn, tôi cảm thấy một niềm an vui trùm khắp mà tôi chưa từng thấy trong đòi. Và với tâm thức đang cuồn cuộn trong dòng chảy an lành và thanh tịnh đó, tôi thấy rõ ràng là không làm sao tôi có thể bắt ép cái khối năng lượng lớn lao này quay trỏ lại vào tấm thân nhỏ bé của tôi. Được vào cảnh giới Cực Lạc là một sự trốn chạy tuyệt vời của tôi khi não Trái bị tàn phá. Tôi như đang hiện hữu ỏ một vùng trời thật xa lạ – xa lạ hẳn vói những thông tin mà tôi được biết lâu nay. Một điều rất rõ ràng là trong thế giới này, cái
“Tôi” không còn nữa! Cái “Tôi” mà tôi được dạy dỗ Phải giữ gìn và trau chuốt từ bé đến lớn, đã không còn sống sót sau tai họa xuất huyết. Tôi cũng biết là tiến sĩ Jill Taylor đã chết vào buổi sáng xuất huyết não này rồi. Vậy ai còn sống sót?
Không còn cái Trung tâm ngôn ngữ ỏ bán cầu Trái bảo “Tôi là tiến sĩ Taylor, là nhà nghiên cứu tế bào não bộ; tôi ỏ địa chỉ này và có thể liên lạc bằng số điện thoại này…”, tôi thấy mình không có bổn phận đóng vai cô ta nữa. Điều này cũng thật kỳ lạ về mặt cảm giác; nhưng bỏi vì không còn mạch thần kinh nào nói cho tôi biết cô ấy tính tình thế nào, ưa gì, ghét gì, cái Ngã của cô ra sao, có hay chỉ trích, phê bình người khác không? Tôi thật không có chút ý niệm gì về cô ấy cả!  Lại thêm, trên thực tế, với những thiệt hại lớn lao về mặt sinh học – một nửa bộ óc đã không còn hoạt động- tôi càng không nên bắt chước giữ vai trò cô ta. Cô tiến sĩ Jill Taylor thực sự không còn hiện hữu. Tôi đã không biết gì về cuộc đòi cô,những liên hệ bạn bè, việc làm, thành công, thất bại của cô thì làm sao tôi đóng vai cô được?
Mặc dù tôi buồn rầu về cái chết của não thùy Trái và về cô gái đó, hiện tại tôi cảm thấy được giải thoát và rất nhẹ lòng. Được biết cô tiến sĩ Taylor đã lớn lên trong nhiều phiền muộn, sân hận và cả một đời mang theo những mối hỉ nộ mà chắc cô phải tốn kém rất nhiều năng lượng để nuôi dưỡng chúng! Cô đã nhiệt tình trong công việc, với lý tưỏng và rất năng động. Nhưng dù cô có dễ thương hay đáng kính, trong cái hình hài hiện tại của tôi, tôi không thể tiếp tục cuộc sống như cô.
Tôi đã không còn nhớ đến người anh bệnh hoạn, đến cha mẹ tôi đã ly dị từ lâu và những công việc làm đã mang lại cho tôi rất nhiều ưu tư và áp lực. Tóm lại là tôi không còn chút trí nhó nào về quá khứ. Tôi cảm thấy vừa giải thoát, vừa an lạc.
Trong suốt cuộc đời 37 năm qua, hình như lúc nào tôi cũng nhiệt tình lo làm đủ mọi thứ việc, mà thứ nào cũng phải hoàn tất theo hạn kỳ. Trong ngày đặc biệt hôm nay, lần đầu tiên tôi học được ý nghĩa của bài học về sự sống: Chỉ là đơn giản… sống!
Khi não thùy Trái không còn làm việc và trung tâm ngôn ngữ đã đóng, đồng hồ sinh học trong tôi cũng ngừng. Thời gian không còn được phân chia ra từng giờ phút ngắn ngủi nữa. Thòi gian với tôi bây giờ là thời gian “mỏ“, không có kỳ hạn; nên tôi không còn phải gấp gáp cho việc gì cả. Tương tự như dạo chơi trên bãi biển hay chỉ thơ thẩn ngoài vườn hoa, tôi bây giờ đổi từ ý thức phải làm đúng giờ theo thời biểu đã định của não thùy Trái, thành ý thức chỉ “là” sống, “là” hiện hữu của não thùy Phải. Tôi siêu việt chính mình từ cảm thấy nhỏ nhoi và biệt lập sang vĩ đại và hòa đồng với vũ trụ. Tôi không còn suy nghĩ bằng ngôn ngữ, lo lắng về quá khứ hay tương lai; mà chỉ còn khả năng hiểu biết bằng hình ảnh trong hiện tại, ỏ đây và bây giờ. Và cái hiện tại, ỏ đây và bây giò… luôn luôn đẹp vô cùng!
Khi tôi không còn thấy mình là một vật thể cứng rắn, có hình dáng cô’ định, một đơn vị sinh học riêng biệt với các hữu thể chung quanh, thì tất cả ý niệm về cái “Tôi” cũng hoàn toàn biến mất. Về phương diện sinh học, ỏ trình độ hiểu biết sơ đẳng nhất, con người chỉ là một hiện hữu có dạng chất lỏng. Thật vậy, tôi là một chất lỏng! Mọi thứ chung quanh chúng ta, giữa chúng ta, trong chúng ta, về chúng ta, hay chính bản thân ta đi nữa…đều chỉ là những nguyên tử và phân tử của những chát lỏng đang rung động trong không gian. Vậy thì cái “Tôi”, cái “Ngã” của chúng ta nằm ỏ chỗ nào? Mặc dù trung tâm ngôn ngữ ỏ não thùy Trái thích định nghĩa “ngã” là TỒI, một cá nhân riêng biệt, một khối đặc và cụ thể, nhưng người có học nào cũng biết chúng ta đều được hình thành như nhau bằng hàng ngàn tỉ li tỉ tế bào với nước trong đó và tất cả chúng ta đang “là” trong sự rung động không ngừng với tần số cực kỳ nhanh.
Não bộ Trái của tôi đã được huấn luyện từ bao nhiêu năm để sản sinh ra một nhận thức rằng tôi là một cá thể cứng rắn, độc nhất và khác biệt với mọi người. Bây giờ, bỏ đi sự kiểm soát của các mạch thần kinh ỏ não bộ Trái, não bộ Phải được tự do sinh hoạt theo cách nhìn của chân lý vĩnh cữu. Tôi nhận ra mình không phải là một sinh vật nhỏ bé, riêng biệt và cô độc. Tôi không phải hiện hữu độc lập mà là “liên lập” với mọi người. Tâm hồn tôi mỏ lớn ra cùng vũ trụ và bay lượn vui tươi trong khắp biển tròi tự do. Đối với nhiều người, cái ý tưỏng cá nhân chúng ta chỉ là hợp chất lỏng, bỏ vào bình chứa hình gì sẽ ra dạng đó và tâm hồn chúng ta rộng lớn như vũ trụ… làm cho cảm thấy không được “yên ổn”. Chỉ vì ý thức từ não bộ Trái và giáo dục sai lầm đã tạo ra. Nhưng rõ ràng khoa học đã chứng minh rằng mỗi con người chúng ta là do tỉ tỉ nguyên tử vật chát hợp lại và nhẹ nhàng rung động. Chúng ta được kết hợp
bằng hàng tỉ túi nhỏ đầy chất lỏng trong một thế giới chất lỏng và ỏ đó tất cả đều hiện hữu trong sự rung động. Các hiện hữu có khác nhau chỉ do mật độ tập hợp  phân bào khác nhau. Nhưng nói chung thì tất cả đều là tập hợp của âm điện tử, dương điện tử, trung hòa tử… hài hòa trong một vũ điệu tuyệt vời. Giữa bạn và tôi, và cả khoảng cách không gian nữa, dù là một phần nhỏ đến đâu, cũng chỉ là
nguyên tử vật chất và năng lượng mà thôi. Tan ra là năng lượng, hợp lại là nguyên tử vật chất.
Thật sự mắt tôi không còn “thấy” các sự vật rời rạc nữa, mà là thấy năng lượng của các vật thể quyện lẫn vào nhau, tương tự như những tranh vẽ của trường phái Ấn Tượng. Tâm thức tôi lúc này thật tỉnh táo và tôl nhìn thấy mọi hiện hữu đều có năng lượng quyện lấy nhau, di động cùng nhau như cùng chảy trong một dòng sông. Tôi không còn nhận ra vật thể có ba chiều trong không gian và cũng không phân biệt màu sắc nữa. Ngay cả khi nhìn con người, tôi chỉ thấy họ là những khối năng lượng di động không màu sắc, dù họ có mặc y phục nhiều màu.
Những ngày trước kia, trước buổi sáng này, khỉ tôi còn hiểu con người là một vật thể rần, tôi có khả năng cảm thấy đau buồn vì mất mát, hoặc về thể chát – chết hay bị thương, hoặc về tình cảm – thiệt thòi hay mất mát. Bây giờ chỉ còn não thùy Phải hoạt động, tôi không còn thấy đau buồn hay mất mát gì cả. Mà thấy tất cả chỉ là sự chuyển đổi từ vật chất ra năng lượng, chứ nào có mất mát đi đâu. Cho nên hiện tại dù bị thương nặng ỏ đầu, một cảm giác không thể quên được đã xâm chiếm hồn tôi là sự bình an cùng cực. Vì vậy, tôi rất yên tâm.
Nhưng rồi tôi lại nghĩ ra như vậy tôi là người “bất thường”. Làm sao tôi giải thích cho mọi người hiểu được rằng những điều tôi nói trên là sự thật? Làm sao mọi người chấp nhận được nhận thức “Ta là một thành phần của toàn thể và mỗi chúng ta đều có năng lực vô biên của vũ trụ?”. Nói theo mọi người, tôi là một người bị thương nặng ỏ bộ óc. Nhưng những điều tôi vừa trình bày được chứng nghiệm một cách khoa học từ sự quan sát trực tiếp của một nhà khoa học về não bộ. Những điều chúng ta biết và tưỏng” là thật về thế giới bên ngoài thật ra chỉ là sản phẩm của mấy mạch thần kinh ỏ não bộ Trái mà thôi. Thành ra trong những năm qua, cái “biết” của tôi chỉ là cái biết “không có thật” do não bộ Trái tưỏng
tượng ra như thật!
Hiện giờ, tôi thật sự nghĩ rằng não thùy Trái của tôi không thể nào lành lặn lại được. Bỏi vì các tế bào thần kinh ỏ đó đã hoàn toàn tê liệt rồi. Nhưng dù tôi không còn có thể đi đứng, nói năng, hiểu biết ngôn ngữ, hay đọc, viết, và ngay cả không làm sao trỏ mình được trên giường bệnh, tôi vẫn cảm thấy mình thật ’’bình yên”! Sự mất khả năng của não thùy Trái đã làm cho não thùy Phải có cơ hội độc lập và
phát huy những nhận thức thâm sâu từ bản thể rằng tôi có năng lực mầu nhiệm đối với đời sống. Tôi biết tôi bây giờ khác trước – vì chỉ còn nửa bộ óc – nhưng tôi không thấy mình kém giá trị hơn trước. Vì không còn bộ óc Trái để khen chê, phân biệt, tôi thấy mình vẫn hoàn hảo, bình thường và vẫn xinh đẹp như thuỏ nào! (Nhưng về sau các bạn kể lại rằng, ngày hôm đó ỏ bệnh viện tôi trông “bê bối” lắm!)
Có lẽ bạn đọc sẽ thắc mắc rằng sao tôi bị xuất huyết não mà còn ý thức được mọi việc như đã trình bày. Thật ra, lúc đó tôi mới có bị tê liệt não thùy Trái, chưa phải là bất tỉnh. Ý thức của tôi vẫn còn hoạt động. Tương tự như máy vi tính, ý thức của chúng ta có nhiều lập trình mà khi cái này tắt không dùng tới, thì cái kia sẽ dễ dàng hiện lên. Nhiều lập trình khác nhau giúp chúng ta nhạy bén hơn trong ứng xử với thế giới không gian ba chiều. Mặc dù phần ý thức về cái tôi và nhận thức tôi-là-một-hữu-thể-cá-bỉệt đã mất vì bán cầu não Trái đã chết, phần ý thức của não thùy Phải và của các tế bào cơ thể vẫn còn. Cả hai lập trình này được tự do chạy những thông tin đã thu nhận được, mà không bị kiểm duyệt bỏi não thùy Trái! Với sự thay đổi ý thức này, tôi phát hiện được những nhận thức mới về con người và vũ trụ, rất bí nhiệm nhưng lại khế hợp với Khoa học ngày nay.
 
CHƯƠNG 7
PHÒNG TRỊ LIỆU THẦN KINH
Khỉ các bác sĩ hài lòng về công việc cứu sống tôi đã xong, họ cho lệnh chuyển tôi   sang khu điều trị Thần kinh. Ỏ đây, tôi nhìn mọi người có mặt như những khối năng lượng di động. Bác sĩ, y tá đến và đi như những luồng ánh sáng chói chang. Ai cũng vội vã và họ không biết làm sao để “trao đổi” với tôi. Bỏi vì tôi không nói được và cũng không hiểu họ nói gì. Tôi thật là mệt mỏi và mất nhiều năng lực khỉ phải tiếp xúc với họ trong 48 tiếng đồng hồ đầu: Họ muốn thử xem các tế bào thần  kinh của tôi đã thiệt hại đến đâu. Lẽ ra họ chỉ cần làm một cuộc thử nghiệm, rồi chia sẻ dữ kiện với nhau thì tôi đỡ mệt biết bao. Đằng này,ai cũng muốn có kết quả thử nghiệm của mình một cách riêng lẻ. Tôi tuy không hiểu họ nói gì, nhưng cũng đoán được bằng cách nhìn vẻ mặt và cử chỉ của họ. Có người quan tâm tới an nguy 
của bệnh nhân khiến tôi thấy dễ chịu với họ. Họ như mang lại cho tôi niềm tin và nhiều năng lượng. Cũng có người rất lơ là, làm việc lấy lệ khiến tôi không an tâm và tôi như bị cướp bớt năng lượng đi. Như một y tá mang một khay thức ăn sáng, để “kịch” lên bàn trước mặt tôi, rồi quay đi vội vã. Tôi muốn uống nước mà không biết làm sao mỏ hộp với chỉ có một tay. Tôi phải nhấn chuông gọi người khác vào giúp.Tinh trạng của tôi bây giờ có khá hơn ỏ vài lĩnh vực: máu không còn chảy, đầu không còn đau, một vài nơi của não bộ Trái vẫn chưa bị tàn phá; nhưng sự phục hồi không phải là đơn giản. Điều đáng lo nhất là, mặc dù sự xuất huyết đã cầm, bán cầu não Trái vẫn còn im lặng. Điều đó không có nghĩa là tôi không suy nghĩ được, nhưng là suy nghĩ khác với bình thường, không còn theo đường thẳng (quá khứ, hiện tại, vị lai) và chỉ bằng hình ảnh. Nghĩa là chỉ còn có não bộ Phải làm việc.
Chẳng hạn, một bác sĩ trắc nghiệm tôi bằng câu hỏi,“Ai là Tổng thống của nước Mỹ?”. Để cho tôi chú ý, trước hết ông ta phải làm cho tôi biết đó là câu hỏi dành cho tôi. Khi tôi đã chú ý và nhận biết mình bị hỏi, người hỏi phải lặp lại để tôi chú ý đến những âm thanh đã phát ra và nhìn đôi môi xem họ đã nhóp nhép như thế nào. Nếu có ngưòi khác đang nói ồn ào, tôi không thể nghe được. Điều này cũng tương tự như bạn nói chuyện qua điện thoại di động mà gặp phải tiếng ồn kế bên. Cho nên người nói phải nói thật chậm và phát âm thật rõ ràng. Sau khi nhận diện được câu hỏ rồi, vì não bộ Trái đã bị thương, não bộ Phải mới làm việc và đi tìm trong bộ nhớ xem hình ảnh một ‘Tổng thống” là như thế nào. Biết được ý niệm đó rồi, đi tìm tiếp theo hình ảnh “nước Mỹ“ ra làm sao. Rồi, mới sang tìm hiểu cách hỏi. Cách hỏi đây ỏ thì “hiện tại“, vậy người hỏ muốn hỏi về ông tổng thống hiện tại, không Phải ông nào khác. Xong, mới tới phàn trả lời. Lại phải đi tìm hình ảnh của ông tổng thống đương nhiệm. Như vậy, tất cả nghĩa lý của câu hỏi và câu trả lời, tôi chỉ tìm bằng hình ảnh, không Phải bằng chữ nghĩa. Thành ra kết quả rất lâu và rất mệt mỏi cho tôi. Mọi người cho rằng tôi trả lời câu hỏi quá chậm, chậm hơn thời gian quy định. Thế là tôi “thất bại” trong cuộc thử nghiệm. Vì chỉ có não bộ Phải làm việc và chỉ cung cấp “hình ảnh”, nên sự tìm kiếm hình ảnh trong não thùy Phải rất là chậm chạp. Tôi rất lấy làm tiếc là những ngưòi trong giới Y học chưa hề biết điều này. Nên họ đã không đủ hiểu biết và kiên nhẫn để xử sự thích hợp với những trường hợp bệnh nhân như tôi. Tai biến mạch máu não là nguyên nhân hàng đầu làm con người trỏ nên bất lực trong sự vận hành cơ thể. Và trong số người bị tai biến, có gấp 4 lần tai biến xảy ra ỏ não bộ Trái khiến khả năng ngôn ngữ của họ bị tê liệt và không còn nói năng hay đọc viết được.Những người bị tai biến mà sống sót, vì vậy nên chia sẻ kinh ngiệm với nhau để biết bộ óc của mình đã phục hồi đến đâu và cách nào.
Nếu các bác sĩ biết để ý hơn trong sự trị liệu ỏ những giờ phút đầu thì sẽ giúp ích cho bệnh nhân phục hồi nhiều hơn. Tôi muốn các bác sĩ phải chú ý xem xét bộ óc của bệnh nhân còn đang hoạt động như thế nào, chứ không phải xem bộ óc có hoạt động hay không, thì mới giúp ích bệnh nhân phục hồi được. Mỗi bệnh nhân một khác. Bác sĩ không nên dùng một tiêu chuẩn chung để phán định mọi người. Như
trường hợp tôi, kiến thức của tôi rất mênh mông sau những năm dài học hỏi và nghiên cứu -nhưng không làm sao “lấy ra” được từ bộ óc tê liệt. Nói cách khác, tôi không phải là người dốt hay ngu; tôi chỉ là người “bệnh”.
Hãy tưỏng tượng, bỗng nhiên bạn bị mất dần các khả năng tiếp nhận và phản ứng với ngoại cảnh của mình. Trước hết, bạn không còn phân biệt nghĩa lý của âm thanh đến tai bạn. Bạn không phải điếc, nhưng bạn chỉ nghe tiếng người nói với bạn như tiếng ồn ào, không nghĩa lý gì. Bạn muốn nói, lại nói không ra tiếng; hoặc ra tiếng mà không ai hiểu được; hoặc nói ý này mà ra lời kia. Rồi, bạn không còn
thấy được hình dáng của mọi vật chung quanh. Bạn không phải đui, nhưng chỉ vì không còn ý thức về không gian ba chiều và các màu sắc. Bạn không còn khả năng phận biệt sự di chuyển của các vật, cũng như hình vóc giới hạn lớn nhỏ của chúng.
Cũng không phân biệt được các mùi thơm thúi, hôi tanh xung quanh; chỉ biết cái khí quyển bao trùm đó làm bạn ngộp thỏ. Rồi ánh sáng mọi loại, từ ánh sáng đèn đến ánh sáng mặt trời, cho bạn cảm giác như chúng là những mũi dao bén đâm vào óc bạn, đau nhức không thể chịu nổi. Đó mới là một vài mô tả về tình trạng người bị tai biến não! 
Cả buổi chiều hôm đó, tôi trốn vào giấc ngủ. Chỉ có giấc ngủ mới làm ý thức của tôi khép lại trước thế giới bên ngoài. Mới không còn bị các y tá, bác sĩ quấy rầy làm tiêu tan hết những năng lượng rất ít còn sót lại trong tôi. Thật tình nếu tôi còn ỏ bệnh viện lâu hơn sự cần thiết, tôi đã không bao giờ hoàn toàn hồi phục. Vậy mà, vì tình trạng quá nặng, tôi cũng đã mất 8 năm, trong kiên trì và cương quyết để phục hồi.
 
CHƯƠNG 8
NGÀY THỨ HAI SÁNG HÔM SAU
Tôi giật mình thức giấc thật sớm sáng hôm sau chỉ vì một sinh viên y khoa chạy vội vào phòng để lấy lịch sử bệnh lý. Tôi nghĩ thật là vô lý, vì cô sinh viên này không hề biết tôi là một bệnh nhân sống sót sau trận xuất huyết não; tức là tôi không còn khả năng nghe, hiểu và nói được điều gì. Tôi nghĩ nhiệm vụ hàng đầu của bệnh viện là phải làm cho bệnh nhân cảm thấy an tâm để phục hồi năng lực.
Cô bé sinh viên này không khác nào con dơi Dracula bay đi hút sinh lực của người bệnh. Cô ta muốn mọi thứ từ tôi, mặc dù tình trạng tôi rất mong manh; nhưng không chia sẻ với tôi được điều gì Cô ta đang chạy đua với đòng hồ, vì sợ trễ thì bị giáo sư khiển trách, nhưng rõ ràng cô ta đã thất bại. Trong hối hả, cô rất thô lỗ trong cung cách đối xử vớí bệnh nhân. Cô ta nói nhanh với tốc đô một trăm dặm một phút và hét to với tôi như tôỉ là người lảng tai! Rốt cuộc cô không lấy được tin tức nào từ tôi, vì tôi phải nhắm mắt lại để bảo vệ số năng lượng còn ít ỏi trong người. Bài học lớn nhất tôi học được vào ngày hôm đó là tôi phải là người điều khiển công cuộc phục hồi của tôi; không nên để tùy thuộc vào bác sĩ, y tá hay chuyên viên nào hết. Chữa trị Tai biến mạch máu não ỏ bệnh viện chỉ là: 
1- Nếu xuất huyết, thì cho thuốc cầm máu và thuốc chống sưng; 
2- Nếu nghẽn mạch máu, thì cho uống thuốc loãng máu và thông động mạch. 
Thế là bác sĩ đã xong nhiệm vụ.
Còn lại việc lớn lao và lâu dài là phục hồi các chức năng của cơ thể: như tai nghe, mắt thấy, miệng nói, tay chân cử động… là việc của chính bệnh nhân và người trong gia đình. Việc quan trọng nhất của người bệnh là… Ngủ! Ngoài việc vận động tay chân và bắp thịt, bệnh nhân Phải ngủ cho đủ giờ, ngủ bất cứ khỉ nào cảm thấy mệt; ngủ càng nhiều càng tốt, vì giấc ngủ giúp cho não bộ có thời giờ phục
hồi các chức năng.
Đối với mọi người, sự phục hồi lại chức năng để trỏ lại bình thưònq là vấn đề ý muốn và ý chí. Phần tôi, đây là một sự lựa chọn khó khăn, phức tạp của một người trí thức. Một đằng thì, sau khỉ bệnh ỏ bán cầu não Trái, tôi được sống trong tâm trạng vô cùng an vui và hạnh phúc, không còn lo lắng, buòn phiền hay bị áp lực của công việc. Ỏ đó, mọi sự mọi vật đều tốt đẹp. Tinh thần tôi lúc nào cũng tự do
và bay bổng trong an lành. Trong niềm an lạc vô bờ đó, tôi tự hỏi biết bao nhiêu lần rằng mình hồi phục để làm chi? Mặc dù, nếu có được bộ óc Trái vận hành trỏ lại, thì nó sẽ trả lại tôi những tài năng vốn có từ bao năm để thi thố với đời. Nhưng trong tình trạng bất lực của tôi, tôi quan sát hiện tại ỏ bệnh viện và nhận thấy mọi người, từ bác sĩ đến y tá, lao công, đều là những người đầy mệt mỏi và khổ sỏ vì
áp lực công việc. Thì thử hỏi tôi có nên trỏ lại đời sống bình thường như họ để mà tiếp tục chịu khổ sỏ hay không? Có một người nổi danh nào đó đã viết rằng: “Có nên tham gia cuộc chạy đua của bầy chuột, bằng cách trỏ thành con chuột?”.
Thành thật mà nói, những cảm nhận về một đời sống an lạc như tôi vừa trải nghiệm trong mấy hôm nay làm tôi quá đổi yêu thích, hơn là trỏ lại cuộc sống đầy áp lực của mấy mươi năm qua. Tôi nhất quyết không từ bỏ cuộc sống mới này chỉ vì nhân danh hồi phục. Tôi rất thích được biết rằng mình chỉ là chất loãng, biết tâm mình là một với vũ trụ và sống hòa điệu với mọi vật chung quanh. Tôi thấy
mình bị mê hoặc với cách sống không cần những ngôn ngữ giả dối và sai lệch, mà chỉ cần nhìn vào điệu bộ là đã hiểu nhau với tất cả chân tình. Mà trên hết là tôi say mê cái cảm giác an lành từ trong sâu thẳm của tâm hồn lúc nào cũng tràn ngập cả người tôi.
Đến chiều cùng ngày, người bạn vào cho hay ngày mai mẹ tôi sẽ đến bằng máy bay và ỏ lại lo cho tôi. Mới đầu, tôi không hiểu ý niệm “mẹ” là gì. Tôi đã mất hẳn ý niệm này và Phải lục lọi, tìm kiếm trong đầu cả buổi cho tới trước khi đi ngủ. “Mẹ, mẹ… Mẹ là gì?” Tôi cứ lặp đi lặp lại mãi như người lục kiếm tài liệu trong mấy ngăn kéo đựng hồ sơ. Sau cùng tôi hiểu ra, biết Mẹ là ai, và mừng rỏ biết ngày mai bà sẽ đến. Tôi mang cả niềm vui vào giấc ngủ an lành.
 
CHƯƠNG 9 
NGAY THU BA, ME TU XA DEN GIUP
Vào buổi sáng ngày thứ ba, tôi được đưa sang phòng khác và nằm chung với một bệnh nhân khá đặc biệt. Ngưòi này bị chứng “phong giật” (kinh phong) nên cả đầu được quấn khăn trắng với các điện cực chung quanh để theo dõi phản ứng của các mạch thần kinh. Bà ta trông rất khỏe về thể chất. Có lẽ quá buồn chán vì bị bắt nằm ỏ đây, bà tìm cách bắt chuyện với bất cứ ai bước vào phòng thăm tôi. Phần tôi
thì chỉ muốn im lặng để được yên nghỉ. Ngoài những chuyện phiếm của bà, tiếng máy truyền hình ồn ào do bà mỏ cũng làm tôi tiêu tán hết năng lực. Tôi nghĩ bệnh viện chẳng hề quan tâm tới sự hồi phục của tôi, mới đưa tôi vào chung phòng với bệnh nhân này. Bỏi không nói được, tôi không có lời phản đối nào cả với ban giám đốc.
Hôm nay, các giáo sư về não bộ – bạn của tôi và các bác sĩ của bệnh viện đã họp mặt trong phòng tôi, nghiêm trọng bàn về kế hoạch chữa trị sắp tới. Vừa lúc ấy thì mẹ tôi bước vào. Sau khi lên tiếng chào mọi người, bà đến bên giường nhìn thẳng vào tôi như ước định bệnh tình, rồi bà dỡ chăn êm đềm nằm sát xuống bên tôi, choàng tay ôm chặt lấy như che chỏ tôi những ngày còn bé. Trong mắt ngưòi mẹ,
tôi không còn là một giáo sư tiến sĩ của đại học nổi tiếng Harvard nữa, chỉ là đứa con gái bé bỏng của mẹ đang bệnh nặng và cần được mẹ chăm sóc, dỗ dành. Tôi chui rúc vào lòng êm ấm của bà với tất cả sự biết ơn. Tôi có cảm giác được mẹ tôi sinh ra lần thứ hai. Bấy lâu nay tôi vẫn nghĩ mình đã trưỏng thành và có thể sống đời độc lập. Giờ mới biết trong hoàn cảnh này, tình mẹ quý báu biết là dường nào!
Các bác sĩ bệnh viện và các bạn chuyên môn của tôi, căn cứ trên đồ hình đã chụp được, quyết định rằng tôi phải được mổ sọ ra để lấy đi khối máu khô lớn bằng trái banh golf và cắt bỏ mạch máu dị hình đã tạo ra cơn xuất huyết vừa rồi. Nếu không làm vậy, tôi sẽ có cơ nguy bị vỡ mạch máu lần thứ hai. Họ còn nói thêm rằng trước kia tôi hay bị nhức đầu nhưng uống thuốc không bao glờ hiệu quả.
Đó là vì, như đồ hình cho thấy, tôi đã có những lần bị xuất huyết nhỏ và máu tự đông đặc nên không có chuyện gì xảy ra. Cho nên, mẹ tôi đồng ý với quyết định của mọi người. Nhưng tôi lắc đầu phản đối. Mổ sọ ra là chuyện tối nguy hiểm đối với bất kỳ nhà thần kinh não bộ học nào. Mẹ tôi cảm nhận được ỏ tôi nỗi bất an trong đôi mắt, nên nói: “Không sao đâu con! Con không phải giải phẩu gì cả. Mẹ sẽ bảo vệ
con và chống lại sự quyết định của mọi người. Bất cứ điều gì sẽ xảy ra, mẹ sẽ chăm sóc con. Nhưng mà, nếu con không lấy mạch máu hư hỏng trong đầu ra, rồi bị xuất huyết não lần nữa, mẹ sẽ mang con về ỏ chung với mẹ và lo lắng cho con suốt đời!”. Mặc dù tôi rất yêu mẹ và biết bà là người mẹ tuyệt vời, cái ý nghĩ phải ỏ chung với mẹ cả đời làm tôi “hết hồn”! Con cái trưỏng thành không bao giò ỏ chung và
phụ thuộc vào cha mẹ trong văn hóa Mỹ; nhất là đối với người có ăn hoc như tôi. Cho nên hai ngày sau, tôi đồng ý cuộc giải phẩu. Bây giờ, bổn phận của tôi là phải làm sao cho sức khỏe khá hơn để đủ sức trãi qua cuộc mổ xẻ này. Điều quan trọng cần biết là : Bệnh nhân sống sót sau cơn tai biến Phải biết bổn phận là tự mình tập vận động để phục hồi các chức năng của cơ thể, đừng đợi chờ lệnh của bác sĩ. Phải tập vận động ngay sau khi đã được cấp cứu. Tức là ngay sau khi bác sĩ đã giúp cho thoát khỏ tử thần. Đừng có mãi nằm một chỗ dù mệt đến đâu. Cố gắng ngồi dậy cử động, đi đứng; càng ráng sức chừng nào, càng tốt cho sự hồi phục. Tôi bắt đầu vận động bằng cách lúc lắc mình như người khỏe
ngồi ghế xích đu. Nằm thẳng trên giường, không còn hơi sức, mà ráng lúc lắc rướn mình lên thì thật khó lắm. Lúc lắc độ mươi phút thì đã thấy mệt, nghỉ hoặc ngủ một chút rồi tiếp tục. Phải kiên nhẫn và có ý chí. Rướn mình lên như muốn ngồi dậy là để tập bắp thịt hông mạnh lên và vận động trỏ lại. Tập như vậy đôi ba ngày thì đã tự mình ngồi dậy được khi đang nằm trên giường. Thành ra phải tập với sự hăm hỏ và quyết tâm! Đứa trẻ sơ sinh tập lật, tập ngồi, trườn, bò, đứng chựng, đi lẩm đẩm… như thế nào và mất mấy năm thời gian, thì người sống sót sau tai biến mạch máu não cũng phải làm gần như vậy. Tùy theo bệnh nặng nhẹ mà kết quả mau hay chậm. Người nuôi bệnh phải biết rằng người bệnh là một đứa
bé trong thân thể người lớn. Đối xử với đứa bé như thế nào. thì đối với người  bệnh thế ấy. Không được nặng lời, to tiếng hay chẽ bai. Phải vui vẻ, bày tỏ sự thương yêu, dịu dàng, kính trọng và không tiếc lời ngợi khen khỉ người bệnh thành công trong việc tập ngồi, tập đứng, tập đi, tập nói, tập viết…
Vận động một lúc cảm thấy mệt, tức là đã hết năng lực. Người bệnh này không có năng lực nhiều nên luôn luôn cảm thấy mỏi mệt. Cách bồi bổ năng lực là… ngủ. Vừa thoát chết thì phải ngủ nhiều lần trong một ngày. Tôi hay thưỏng cho tôi sau mỗi lần vận động là nằm nhắm mắt ngủ. Đó là cách để bộ óc sắp xếp lại các mạch tế bào thần kinh, giúp cho ta có thêm năng lực hơn. Cũng như văn phòng làm việc
ngổn ngang giấy tờ. Ngưng làm việc một lúc, lo sắp xếp trật tự trỏ lại thì việc làm có hiệu quả hơn. Phải ngủ bao nhiêu giờ một ngày đêm tùy theo lệnh của bộ óc, không phải lệnh của bác sĩ hoặc bất kỳ ai. Ngủ một đêm 9 giờ hoặc 11 giờ cũng không sao, mỉễn thấy trong người khỏe khoắn khỉ tỉnh giấc. Và ngủ thêm giấc trưa vài ba giờ nữa. Đó là cách để cho năng lực phục hồi mau chóng.
 
CHƯƠNG 10
CHUẨN BỊ CUỘC GIẢI PHẪU
Năm ngày sau, tôi đã được về nhà để dưỡng sức hai tuần, rồi trỏ lại bệnh viện để mổ sọ lấy khối máu đông và mạch máu hư ra. Bây giờ tôi phải tập tành và học hỏimọi thứ lại từ đầu như đứa trẻ thơ. Về phương diện thể chất: tập ăn nói, đi đứng.Về phương diện trí tuệ: tập đọc, viết, suy luận. Tôi phải cố gắng vượt qua mọi khó khăn. Vì nếu không cố gắng thử làm; sai, thử lại cho đến khỉ thành công thì sẽ
không thể hồi phục được. Cho nên nhiều bệnh nhân sống sót tai biến não đã nằm yên trên giường chờ chết, bỏi không ai phụ giúp để biết phục hồi từ đâu.Tôi cảm thấy được ân sủng của thượng đế khi có mẹ đến ỏ săn sóc. Bà lúc nào cũng khiêm tốn nói với mọi người là bà không biết làm gì cho tôi. Bà chỉ theo dõi ủng hộ tinh thần, khuyến khích tôi trong mọi việc tôi cố gắng tập làm, với tình thương vô bờ của người mẹ như ngày xưa tôi mới chập chửng biết đi. Mọi thứ tôi Phải bắt đầu từng bước. Như muốn ngồi dậy từ trên giường nằm thì tôi Phải tập nhấc nửa thân mình lên mấy trăm lần trong một vài ngày cho hai bắp thịt hông khỏe mạnh rồi mới ngồi lên được. Những lúc đó mẹ tôi khen ngợi khuyến khích
không tiếc lời và tôi như đứa trẻ thơ, rất phấn khỏi khi được khen. Điều quan trọng là tôi biết cố gắng. Tôi luôn luôn tự kỷ ám thị bộ óc mình bằng cách nói với nó: “Nè, tôi cảm ơn và đánh giá cao việc nối kết các mạch thần kinh này và muốn những cố gắng khác cũng được như vậy”. Có những thực tập tôi phải lặp đi lặp lại cả ngàn lần mới được như ý. Nhưng nếu tôi không cố gắng, không có gì tốt đẹp sẽ xảy ra. Mẹ tôi tập tôi đi bằng cách vịn cho tôi từ giường ngủ tới phòng tắm, cách chừng 10 thước. (Lúc bấy giờ chưa có walker – kiểu xe tập đi của trẻ con). Mà tôi phải đi tới đi lui mấy ngày mới chập chửng đi được một mình. Mệt quá thì tôi lăn ra giường mà ngủ! Rồi từ giường ngủ tập đi tới phòng khách.
Công việc thực tập nào cũng mất rất nhiều năng lượng và tôi mệt mỏi vô cùng. Nhưng ngủ một giấc độ 2, 3 tiếng thì khỏe lại; và tôi tiếp tục nữa. Cứ vậy mà tôi bận rộn tập suốt ngày. Rồi tháng này qua năm khác không chút xao lảng. Mục tiêu đã đề ra, nhất định phải đạt được. Nếu tôi không cố gắng, ai có thể phục hồi giùm tôi?
Một trong nhũng lý do cho sự thành công của tôi, là mẹ tôi lúc nào cũng kiên nhẫn và dịu dàng. Không bao giò bà tỏ ra mệt mỏi hoặc cáu kỉnh vì sự lặp đi lặp lại chẳng nên thân của tôi. Khỉ tôi vụng về nhiều lần trong thực tập, bà luôn miệng khuyến khích, “Đáng lý còn tệ hơn nữa; con như vậy là giỏi rồi!”. Và bà khen lấy khen để những khi tôi thành công. Thái độ từ ái của mẹ làm tôi vô cùng cảm động và phấn khỏi. Tôi đạt kết quả khả quan trên đường phục hồi, phần lớn nhờ sự kiên nhẫn của mẹ. Bà lúc nào cũng cho thấy tôi giỏi vì hôm nay đã làm được việc mà hôm qua chưa. Bà biết lựa những việc dễ, cần ít năng lực cho tôi thực tập trước, rồi sau đó tới việc khó hơn, như ông thầy biết phuơng pháp Sư phạm. Mà thật vậy, mẹ tôi là một cô giáo dạy Toán! Và hai mẹ con luôn luôn ăn mừng những thành tựu tôi đạt
được. Có nhiều người sống sót sau Tai biến não than thở là họ không có khả năng phục hồi và bỏ cuộc. Tôi nghĩ một là vì họ không kiên nhẫn và không có người giúp họ một cách kiên nhẫn. Hai là họ không có mục tiêu rõ rệt, không biết phải chọn làm cái nào trước, cái nào sau. Nên khỉ “học” làm một việc mà thất bại, họ nghĩ tại họ không có khả năng để phục hồi.
Trong tuần lễ đầu tôi đã có thể đi lại từ phòng ngủ sang phòng tắm và ra tới phòng khách tương đối dễ dàng. Rồi mẹ hướng dẫn tôi đi vòng khắp nhà. Sang phòng vẽ với nhiều tranh ảnh, mẹ bảo đó là những tác phẩm của tôi. Sang phòng nhạc, tôi thấy mấy loại đàn, từ piano tới guitar và mấy thứ khác nữa. Mẹ nói thứ nào tôi chơi cũng giỏi. Những phát hiện này làm tôi vô cùng thích thú. Rồi mẹ còn bảo tôi là nhà Khoa học Não bộ nổi tiếng, muốn đem kiến thức của mình phục vụ con người. Nghe kể về cuộc đời tôi sao nhiều màu sắc và dễ thương quá, tôi càng quyết tâm nỗ lực phục hồi nhanh chóng để sống lại cuộc đời đầy ý vị của chính tôi.
Mỗi ngày tôi nhận được rất nhiều thư và thiệp gỏi từ khắp nơi trong nước. Tuy tôi chưa đọc được,nhưng mẹ tôi đọc giùm. Hầu hết họ chúc tôi mau lành bệnh để trỏ lại làm việc. Có người viết: ‘Tiến sĩ Jỉll, Tuy cô không biết tôi là ai, nhưng tôi biết khỉ cô diễn thuyết ỏ thành phố Phoenix. Xin hãy mau hết bệnh để trỏ lại với chúng tôi. Chúng tôi yêu quý cô. Công việc của cô rất cần và quan trọng đối với chúng tôi lắm!”. Tôi treo các thiệp chúc lành này lên tường khắp nhà. Tôi nhìn đâu cũng cũng thấy tình yêu thương của mọi người tỏa sáng quanh tôi. Điều này cũng là động lực giúp tôi phải nhanh chóng phục hồi. Rồi tôi học về màu sắc, phân biệt hình ảnh trong không gian ba chiều, trả lời câu hỏi có tính cách suy luận, diễn dịch hoặc loại suy. Mục đích của những thực tập này là để kích động lại sự nối kết các mạch thần kinh bị tê liệt. Tôi biết tất cả kiến thức của tôi nằm trong não thùy Trái, nhưng tôi chưa mỏ được những ngăn tủ chứa đựng các kiến thức này. Tôi chưa biết được các mạch thần kinh nào đã tê liệt
và hư hại tới đâu.
Rồi tôi học đọc. Đây là một công việc hết sức khó khăn. Làm sao mà những nét vẽ ngoằn ngoèo (chữ) li ti lại có thể đọc ra thành tiếng được? Trước hết, nhận diện và phát âm các mẫu tự. Xong rồi ráp vần. Những âm kép, âm đầu và âm cuối. Thật là rắc rối; thật là kỳ lạ. Chữ lại có thể phát ra thanh! Đôi khi có những chữ khó phát âm quá, vì đã tập mãi mà không xong, tôi cãi lại mẹ: “Không phải đâu mẹ; chữ nàv không thể phát ra âm thanh được!”. Mẹ tôi chỉ mỉm cười, trìu mến lặp lại mấy lần đến khi tôi nhìn miệng mẹ và nghe cách phát âm thật rõ, rồi lặp lại đúng hệt. Mẹ tôi reo lên và khen tôi “giỏi quá”!
Tiếp theo phần phát âm, tôi học về nghĩa lý của chữ. Làm sao nhớ hết mỗi chữ có một nghĩa khác nhau? Và nhiều chữ có cùng một âm mà nghĩa lại khác? Rồi những chữ chỉ vật cụ thể còn dễ nhớ; những chữ chỉ các ý niệm trừu tượng thật là nhức đầu. Trung tâm ngôn ngữ của não bộ Trái đã đóng kín, nên kho “ngữ vựng” của tôi không mỏ ra được. Thật là thiên nan vạn nan. Tôi rất mệt mỏi và mất nhiều năng lực cho việc thực tập này.
Tôi mất vài tháng để thực tập đọc và hiểu khá thông suốt, vì những mạch thần kinh ỏ phần này được nối kết lại và sau cùng “kho” ngữ vựng được mỏ ra. Tôi như người đã tìm được “chìa khóa” mỏ kho, tôi đã có thể đọc tất cả các sách báo một cách tự nhiên.
Mẹ lại dẫn tôi ra đường học “đi bộ”. Thế nào là đi trên lề đường, tránh dẫm lên sân cỏ. Thế nào là mặt đường cao thấp, Phải bước cẩn thận. Thế nào là đi trên tuyết, dễ trơn trợt; Phải cẩn thận hơn. Thế nào là dấu hiệu đèn xanh đỏ khi băng qua đường. Xem ra tôi học lần này nhanh. Chứng tỏ các mạch thần kinh ỏ đây không bị thiệt hại lắm.
Rồi mẹ dẫn đi chợ học mua sắm. Thật là khổ sỏ và mệt mỏi khi phải tiếp xúc với người lạ. Ánh sáng và âm thanh trong chợ làm tôi khó chịu. Con người lại đối xử với nhau không phải lúc nào cũng dễ thương. Phần lớn họ phân biệt trong đối xử. Họ nhìn cung cách ngơ ngác của tôi thì biết là tôi bất thường. Có người tỏ ra hiểu biết, nhưng cũng có người chen lấn không nhường nhịn. Họ không biết tôi bệnh và đang học hỏi. Họ nghĩ là tôi ra đường làm cản trở sinh hoạt của họ.
Tới phần học trả tiền, tôi lại gặp khó khăn không ít. Tôi nhìn tiền của nước mình mà như một ngưòỉ ngoại quốc, không biết giá trị chúng như thế nào. Lại không biết cộng trừ ra sao. Cuối cùng, với các bài tập “đếm số” xuôi và ngược, tôi nhận ra mạng thần kinh về ‘Toán học” đã bị thiệt hại nặng. Phải mất mấy năm, bộ phận này mới phục hồi.

CHƯƠNG 11
GIẢI PHẪU SỌ
Khoảng 6 giờ sáng ngày 27 tháng 12 năm 1996, tôi lại vào bệnh viện với mẹ để mổ sọ, lấy ra khối máu khô bằng trái banh golf trong đầu và cắt bỏ mạch máu đã hư. Mỗi khi nói về lòng can đảm, tôi không thể không nhắc đến tâm trạng tôi buổi sáng đi mổ sọ này. Bỏi vì tôi biết trước rằng, nếu bác sĩ thận trong và khéo tay, mọi việc sẽ êm xuôi và tôi sẽ thấy đầu tôi trở lại nhẹ nhàng và tinh thần sảng khoái. Còn bác sĩ chỉ vụng về và sơ hở một chút, tôi sẽ trở thành người bại xuội và vĩnh viễn không bao giờ nói được. Nhưng tôi không còn chọn lựa. Dù sao, họ cũng là những bác sĩ tài giỏi nhất của Hoa Kỳ.
Khi bác sĩ chuẩn bị gây mê, để tự trấn an, tôi khôi hài: “Nầy bác sĩ, tôi là nhà khoa học 37 tuổi, còn độc thân. Tôi để tóc dài từ nhỏ. Xin đừng cạo trọc đầu tôi coi xấu tội nghiệp”. Nói tới đó thì tôi đã thiếp đi. Mẹ tôi sốt ruột ngồi đợi bên ngoài cả ngày. Đến mãi xế chiều, các bác sĩ mới tươi cười xuất hiện báo với mẹ tôi ca mổ đã thành công và tôi đang nằm ở phòng hồi sức.
Khi tỉnh lại, tôi cảm thấy khác hẳn trong người. Đầu nhẹ nhàng, tâm hồn êm ả, vui tươi. Tôi thấy lạc quan, yêu đời. Sờ lên đầu phía trái, mới hay phần tóc ỏ đây đã bị cạo sạch. Một vết mổ hình chữ U vuông vức, cạnh khoảng 5 phân, đã được vá lại trông khá xấu xí nhưng rất gọn gàng và sạch sẽ. Với lại, phần tóc nửa đầu bên kia vẫn được chừa nguyên, nên trông không đến nỗi tệ lắm!
Mẹ tôi vừa đến bên giường ở phòng hồi sức, đã hỏi liền: “Hãy nói với mẹ vài tiếng”. Điều bà sợ nhất là nếu bác sĩ chạm tới thần kinh ở Trung tâm ngôn ngữ và phải cắt bỏ đi một phần, thì tôi sẽ không còn nói được suốt đời. Tôi đã trả lời bà được vài tiếng rất nhỏ. cả hai đều mừng đến rơi nước mắt. Vậy là ca mổ đã quá thành công. Tôi phải ỏ lại 5 đêm để bác sĩ yên tâm là vết mổ hoàn toàn không phản ứng. Tuy nhiên trong 48 tiếng đồng hồ đầu, lúc nào tôi cũng yêu cầu y tá cho mấy túi nước đá áp vào vết mổ thì đầu mới yên; nếu không, bên trong đầu như bị lửa đốt!
Đêm cuối cùng tôi ỏ lại bệnh viện là Giao thừa năm1996 bước sang 1997. Ngồi một mình bên cửa sổ giữa khuya, nhìn ánh đèn rực rỡ của thành phố Boston đang đón mừng Năm mói, tôi ngẫm nghĩ không biết năm mới sẽ mang lại cho tôi điều gì. Chỉ mỉa mai và nực cười cho tôi là: một nhà khoa học chuyên về não bộ mà lại bị Tai biến xuất huyết mạch máu não! Nhưng tôi cũng tự chúc mừng niềm An lạc tôi đã tìm được, và bài học quý báu học được về sự vận hành của não bộ. Tôi cũng bàng hoàng trước một thực tế hãi hùng: tôi là người sống sót sau cơn xuất huyết não!
 
CHƯƠNG 12
NGƯỜI BỆNH CẦN BIẾT
Phục hồi bình thường trỏ lại là điều mà tôỉ nghĩ đi nghĩ lại nhiều lần hằng ngày. Có đáng công sức bỏ ra để phục hồi và sống lại cuộc đời trước kia không? Với nhận thức mới về đời sống trong những ngày xuất huyết não, tôi có sẩn sàng từ bỏ niềm an vui vô tận để trỏ lại cuộc sống đầy đau khổ và phiền muộn hay không? Trong tình trạng não bộ Trái còn yếu thế và bị não bộ Phải chi phối, tôi vẵn còn phân biệt thế nào là hạnh phúc và thế nào là khổ đau. Sống trong nhận thức của não bộ Phải, con người sẽ cảm thấy hạnh phúc và an lạc. Sống theo nhận thức của não bộ Trái, con người phải hứng chịu đau khổ và ưu phiền. Mọi sự chỉ là do Ý thức mà ra! Mà muôn được hồi phục, điều quan trọng là tôi cần cỏ những người săn sóc có khả năng bên cạnh trợ giúp.
Nhưng tại sao tôi phải phục hồi để trở lại đời sống hỗn tạp và đầy đau khổ, trong khi tôi đã có thể sống an bình và thanh tịnh với niềm vui mầu nhiệm của đất trời mà tôi đã tìm được, khỉ vắng mặt sự phê phán, tranh chấp, ngã mạn của não bộ Trái? Hay đặt câu hỏ cho rõ hơn: Tại sao tôi bị Xuất huyết não, làm chấm dứt nhận thức sai lầm trong mấy mươi năm và tại sao tôi có thể khám phá ra một thế giới an bình và thanh tịnh với nhận thức mới của não bộ Phải?
Tôi bỗng trực nhận rằng Thượng đế đã ban cho tôi cơ hội trãi nghiệm thế giới an lành từ trong nội tâm sâu thẳm – mà ai cũng có thể đạt được bất cứ lúc nào. Và tôi tin rằng bất cứ ai cũng có thể chứng nghiệm hiện trạng thế giới Cực Lạc này từ nhận thức của mình qua não bộ Phải. Với hiểu biết đó, tôi rất hào hứng mà nghĩ rằng, sự phục hồi của tôi sẽ giúp mọi người nhìn lại mình cho đúng đắn để đón
nhận một quan niệm sống tốt đẹp hơn – không những cho người bị tai biến não hồi phục, mà cho bất kỳ ai còn có bộ óc! Lúc ấy, thế giới sẽ là nơi thanh bình, hạnh phúc cho mọi người và mọi loài.
Thành ra qua cơn Xuất huyết Não của tôi, quyển sách này chỉ để khẳng định rằng: Sống trong An lạc và Hạnh phúc không Phải là điều xa vời, không tưỏng như các nhà Tôn giáo cố gắng truyền rao. Đó là một thực tế có từ trong não của bạn.
Muốn có được, hãy làm cho não Trái ỉm đi ảnh hưỏng của nó và hãy bước qua não Phải. Khi mỗi người đều tìm được bình an và hạnh phúc cho chính mình thì thế giới này mới có thể là nơi thanh bình và trật tự cho mọi người.
Còn việc phục hồi, bạn Phải có mục tiêu rõ rệt, có ý chí và lòng tự tin và Phải có ngưòỉ giúp bạn một cách tận tâm và tận tình. Việc phục hồi có thể kéo dài vài tháng đến vài năm; 10 năm, 20 năm hay suốt đòi, tùy theo sự nặng nhẹ của Tai biến. Tôi đã từng nghe nhiều bác sĩ bảo: “Nếu bạn không thể phục hồi trong 6 tháng sau tai biến, thì không thể phục hồi”. Điều đó hoàn toàn sai. Chính tôi, một nhà khoa học não bộ, biết đúng cách để phục hồi cho chính mình, cũng đã Phải mất 8 năm trời! Bỏi vì tế bào não không bao giờ chết, trừ phi chúng bị bỏ quên. Chúng thực sự chỉ bị tê liệt. Khả năng thay đổi để thích ứng của tế bào bộ óc con người thật là kỳ diệu. Tế bào thần kỉnh của tôi đã tự chữa lành và vận hành trỏ lại theo sự thực tập kiên trì ngày qua ngày. Và nhất là số lượng giờ ngủ Phải thích đáng theo nhu cầu bộ óc – đừng quá ít. Chính những giấc ngủ đã giúp bộ óc hồi phục. Các nhà khoa học ngày nay đều nhận biết rõ ràng rằng não bộ có khả năng thay đổl tuyệt vời trong sự nối kết các tế bào thần kinh qua những kích thích từ bên ngoài. Tính chất này đã giúp cho não bộ tái lập những chức năng đã mất.
Kiên nhẫn, quyết tâm, có người chăm nuôi tận tình, ngủ nhiều giờ cho đủ sức là những điều kiện tối cần để phục hồi. Người bệnh cũng cần không gian yên tĩnh để bảo trì năng lượng. Sự ồn ào của chỗ ỏ, của người tò mò đi thăm viếng vừa làm cản trỏ người bệnh Phải tập luyện, vừa phí phạm năng lượng vốn ít ỏi của người bệnh khỉ Phải tiếp khách. Năng lượng (sức khỏe) của người bệnh rất giới hạn, khiến cho rất mau mệt. Sự ồn ào chung quanh làm mất năng lượng nhiều nhất. Sự tập luyện cũng tốn nhiều năng lượng, nên Phải tập từ dễ tới khó. Như vậy bệnh nhân mới phấn khỏ vì thấy mình thành công.
Thêm nữa, để cho sự phục hồi tiến triển và đạt kết quả, chỉ nên chú ý đến những điều bệnh nhân hoàn thành, đừng chú tâm đến những thất bại. Bộ óc biết điều chỉnh nên bệnh nhân sẽ làm được về sau. Bệnh nhân, thật sự là một đứa bé trong thân xác người trưỏng thành, nên rất cần được thương yêu, khen ngợi, quan tâm và khích lệ của mọi người trong gia đinh. Bất cứ học hỏi điều gì, Phải xem người
bệnh như chưa biết gì hết, và Phải chỉ dẫn thật cặn kẻ, tỉ mỉ. Phải chia những công việc “lớn”, phức tạp ra từng phần “nhỏ”, đơn giản. Như vậy mới thấy được sự thành công dễ dàng và làm cho người bệnh phấn khỏi- đó là điều rất cần thiết.
Đừng nên bỏn xẻn về lời khen ngợi sự thành công, tiến bộ trong việc học hỏi của người bệnh và Phải chúc mừng từng mỗi giai đoạn đã hoàn thành.
Ngưòỉ lãnh phần chăm sóc trong giai đoạn phục hồi này Phải thật có lòng yêu thương và kiên nhẫn. Không bao giờ được tỏ vẻ chán nản hay cao giọng gắt gỏng, dù người bệnh có chậm chạp hay vụng về trong việc học hỏi đến đâu. Nên có nhiều người thay phiên để tránh tình trạng mệt mỏi này, để bệnh nhân không mất lòng tin và bỏ cuộc. Nên nhớ rằng, người bệnh không phải “ngu” hay “chậm chạp”, mà là “bệnh”. Khi người bệnh chưa có thể nói và nghe, người chăm sóc muốn nói gì phải kê sát gần nói nhỏ nhẹ vừa đủ nghe, chớ không nói nhanh và hét lớn. Người bệnh chỉ nghe và nói chưa được, không phải điếc và câm.
Trên đường dài phục hồi, tôi có dịp quan sát những cảm giác của mình. Thật thú vị khi cảm thấy được những sự vui, buồn, mừng, giận từ bên ngoài xảy đến trong tôi, rồi đi. Có khi cái “giận” đến làm cho cả cơ thể run lên, rồi thoát ra ngoài.
Càng thú vị hơn khi tôi thấy mình làm chủ được những tình cảm đó, bằng cách dang tay đón nhận hay cấm cửa không cho vào, hoặc không cho trỏ lại. Nhất là những tình cảm như giận dữ, bất mãn, khinh ghét, thù hận. Cho nên khi Trung tâm ngôn ngữ của tôi được tái lập, tôi thường dùng nó để ra lệnh cho não bộ Trái là tôi không muốn những tình cảm tiêu cực này xuất hiện hay tái xuất trong mạch thần
kinh của tôi, vì chúng nó tiêu hao rất nhiều năng lượng một cách vô bổ.
Chúng ta thông thường không để ý đến điều này, nên hay “đổ thừa” cho người khác, hoặc hoàn cảnh đã làm cho ta giận, buồn, khổ. Trong 8 năm dài phục hồi, tôi đã quan sát và thấy rằng mình làm chủ được những tình cảm tiêu cực và không để chúng xảy ra. Tất cả chỉ là những dữ kiện không tốt chạy quanh trong mạch thần kỉnh mà ta có thể loại trừ khỏ não bộ dễ dàng và không để xuất hiện trỏ lại. Thí dụ người nào xuyên tạc điều gì về bạn, khiến bạn giận run lên. Nếu bạn không làm chủ được mình thì bạn sẽ ôm mãi cơn giận, đến có thể mất ăn mất ngủ. Bỏi vì cái “giận” vẫn còn lưu thông trong mạch thần kinh ỏ não Trái. Bạn phải ra lệnh “bỏ”, rồi nghĩ đến việc gì khác vui hơn, thì cơn giận sẽ biến mất.
Khi bạn nghĩ đến chuyện vui, bạn thấy vui. Còn nghĩ đến chuyện buồn, sẽ buồn. Vậy tại sao không nghĩ đến chuyện vui mà thôi, để cuộc đời tươi đẹp hơn lên? Cái gì cũng phải tập luyện mới có kết quả. Như người vô giáo dục thì hay ăn nói càn rỡ, còn người có giáo dục mở miệng ra đã thấy đứng đắn. Bỏi vì người có giáo dục được huấn luyện chỉ ăn nói đứng đắn mà thôi.
Cho nên, không ai có quyền làm chủ cuộc đời mình, trừ chính mình và bộ óc. Nên không thể trách người khác. Không ngoại cảnh nào có thể làm mình mất đi sự an tĩnh của tâm hồn, nếu mình biết tự làm chủ. Như một thuyền trưỏng lái tàu giữa biển khơi, tôi không thể hoàn toàn làm chủ vận mệnh trước phong ba, bão tố; nhưng chắc chắn tôi có toàn quyền định đoạt về cách tiếp nhận những biến cố đó mà vui hay buồn, xem như tháchh đố hay thất bại !

CHƯƠNG 13
CON ĐƯỜNG DÀI PHỤC HỒI
Tôi thường được hỏi nhiều nhất là: “Phải mất bao lâu cô mới được hồi phục?”. Và tôi vui vẻ đùa lại: “Hồi phục cái gì?”. Nếu hồi phục là trở lại con người như xưa thì chưa, mà tôi cũng không muốn. Tôi không muốn trở lại như xưa với tánh tình nóng nảy, hay phê bình chỉ trích, thiếu lòng từ ái với mọi người. Đó vốn là sản phẩm của não bộ Trái. Từ lúc não bộ Trái tê liệt vì trận Xuất huyết, tôi được diễm phúc học thêm điều mới từ ý thức của não bộ Phải: là không nên nghe nhiều, thấy nhiều những chuyện thị phi, và phải có lòng nhân với mọi tầng lớp người. Thêm vào đó, trong lòng tôi lúc nào cũng yên tĩnh với niềm vui vô hạn. Phục hồi thể chất, nghĩa là làm cho tay chân cử động, đi đứng được…, chỉ là chuyện nhỏ. Phục hồi tinh thần với nhận thức mới từ ý thức của não bộ Phải, mới là việc quan trọng cho đời người, theo ý nghĩ của tôi. Vết mổ trên đầu lành mau chóng vì mẹ tôi săn sóc rất sạch sẽ và kỹ lưỡng, không để bị nhiễm trùng làm độc. Chỉ có vết sẹo là như bị tê suốt 5 năm trời, và 3 lổ khoan cần thiết cho cuộc giải phẩu thì tới năm thứ 6 mới lành hẳn.
Giữa tháng hai, sau ngày bị tai biến, thì tôi đã thử đi một mình ra đường trong một thời gian ngắn. Ngôn ngữ lúc bấy giờ cũng đã tạm đủ cho những chào hỏi bình thường. Tôi thấy tự tin và muốn có thêm thử thách mớỉ.
Bây giờ, mẹ mới dạy tôi tập lại lái xe. Điều khiển một cái thùng kim loại lớn và chạy trên bốn bánh với tốc độ khá nhanh với một đám người khác chung quanh cũng làm như vậy, trong khi họ còn ăn, uống, hút thuốc, và… nói chuyện bằng điện thoại di động; làm cho tôi thấy sinh mạng tôi quá mong manh và đời sống là món quà quý giá vô cùng! Lại nữa, tôi nói chuyện với mọi người thì được, nhưng đọc chữ trên đường thì hãy còn khó khăn vì bộ óc chưa giải mã kịp chữ nghĩa trên các bảng đường khỉ xe chạy với tốc độ nhanh. Thành ra khỉ tôi hiểu kịp nghĩa chữ thì xe đã chạy qua khỏ chỗ tôi muốn quẹo.
Đến giữa tháng ba, mẹ tôi thấy tôi đủ khả năng để đi lại một mình, dù hãy còn hơi yếu. Nhưng dù sao tôi cũng có bạn bè tới lui gúp đỡ. Bà quyết định rời tôi để về lo cho người anh vốn đã bị chứng Tâm thần phân liệt từ nhiều năm qua. Trước khi đi, bà an ủi tôi: “Con hãy an lòng. Khỉ con cần mẹ, chỉ một cú điện thoại, là mẹ sẽ đến ngay với con bằng chuyến phi cơ đầu tiên!”. Nghe đến đây, một phần
trong tôi cảm tháy tự hào vì được thêm tự do; nhưng phần lớn còn lại là tôi… sợ muốn chết!
Mấy tuần kế tiếp, cuộc trắc nghiệm lớn đầu tiên xem tôi đủ khả năng trở lại với đời sống thường nhật chưa, là buổi diễn thuyết ngắn mà tôi được mời từ trước khi bị bệnh. Tôi phải xem đi xem lại các DVD mà chính tôi đã diễn thuyết từ trước, xem tôi đã ăn nói thế nào và điệu bộ ra làm sao. Việc này tập tôi chú tâm nhiều hơn trong buổi trình diễn. Một người bạn đã lái xe đưa tôi đến hội trường diễn thuyết. Mọi sự đã diễn ra trong tốt đẹp. Não bộ Trái của tôi như vậy là đã khá phục hồi. Rồi tôi bắt đàu làm việc trên máy vi tính vài giờ một ngày. Rồi trỏ lại chỗ làm, làm việc tạm thời hai ngày một tuần. Công việc nghiên cứu của tôi không có gì khó.Cái khó là việc lái xe ngày hai buổi đi về, giữa đám đông xe bất cẩn.
Đi bộ hằng ngày để các bắp thịt có cơ hội vận động, là một bắt buộc. Đi bộ làm cho tôi cảm thấy có sức mạnh trở lại. Tôi cố gắng tạo thói quen trong những năm đầu là đi bộ mỗi ngày 5 km, và bảy ngày một tuần. Tôi vừa đi vừa quay vòng tròn hai tay để bắp thịt vai và cánh tay làm việc. Khi mà mắt còn thấy cơ thể là một chất lỏng, thì sự đi bộ hằng ngày giúp cho mắt và não bộ nhận diện lại các vật hiện hữu trong không gian ba chiều.
Đến tháng thứ tám, tôi đã có thể đi làm việc bình thường suốt tuần. Nhưng thật cũng không có nhiều hăm hở và nhiệt tình như ngày xưa. Cái mệt mỏi vẫn còn đeo đuổi bên mình không sao hết được. Sau cơn xuất huyết, tôi cảm thấy tôi không còn nhiều thời gian trên Trái đất này. Tôi muốn về làm việc nơi sinh trưỏng để gần gũi cha mẹ, nhất là khi hai người đã ly hôn. Thế là vào cuối năm, tôi trỏ về ỏ gần Đại học tiểu bang nhà, Indiana, nơi tôỉ đã tốt nghiệp Tiến sĩ. Tôi giúp trường soạn thảo một lịch trình cho những người sống sót sau Tai biến biết cách phục hồi năng lực. Dần dần, óc Trái tôi đã mở được ngăn tủ kiến thức khổng lồ và cũng đồng thời tiếp nhận được dữ kiện mới với khối lượng lớn cùng lúc. Năm sau, tức năm thứ hai sau ngày sống sót, tôi đã đi dạy các lóp Giải phẩu tế bào não bộ cho sinh viên Y khoa ỏ đại học Indiana. Tôi cũng quân bình giấc ngủ và giờ làm việc cho thích hợp. Từ ngủ 11 giờ một đêm, tôi rút xuống còn 9 giờ rưỡi, cộng với vài giờ ngủ trưa. Không ngủ đủ như vậy, não bộ không đủ thời gian để điều dưỡng và hồi phục các mạch tế bào.
Sang năm thứ tư thì tôi mới có khả năng làm nhiều việc cùng một lúc. Chẳng hạn, vừa làm bếp vừa trả lời điện thoại về những công việc ỏ trường. Trước đó, muốn làm gì tôi chỉ có thể chăm chú vào một việc mà thôi. Chỉ có một lĩnh vực mà bộ óc tôi gặp khó khăn khỉ phục hồi: đó là toán học. Phải tới năm thứ tư, bộ óc mới biết lại được toán cộng. Nửa năm kế mới biết thêm toán trừ và nhân. Và đến năm thứ năm mới biết làm toán chia, dù rằng tất cả làm bằng máy tính!
Tôi tập thói quen không bao giờ than thở về sự mất mát khả năng của mình. Trái lại, mỗi ngày tôi cảm ơn hàng trăm lần về sức phục hồi và sự kỳ diệu của bộ óc. Tôi cũng cảm ơn não bộ Phải đã cho tôi ý thức mới về sự an lành và thanh tịnh của tâm hồn sau cơn biến động khủng khiếp vừa qua.
Đến năm thứ tám, tôi đã trở lại bình thường. Nhận thức về không gian ba chiều đã  lập lại. Tôi không còn cảm thấy tôi là chất loãng nữa, mà là khối rắn và riêng biệt. 
Tôi thường chơi trượt nước trên mặt hồ va vượt qua nhiều chướng ngại. Trò thể  thao này giúp cho nhãn quan và não bộ phản ứng đồng nhịp với thân thể khi gặp Phải khó khăn.
Hiện nay, tôi đã trỏ lại cuộc sống bình thường, nhưng hoàn hảo hơn trước. Tôi vẫn làm việc cho đại học Harvard và đi diễn thuyết khắp nước, kêu gọi mọi người đóng góp thêm não bộ cho việc nghiên cứu và trị liệu các bệnh tâm thần. Tôi dạy lớp cho sinh viên Y khoa ỏ đại học Indiana. Tôi làm cố vấn về thần kinh não bộ cho Viện Trị liệu Ung thư Não. Tôi nói chuyện trên Truyền hình, ỏ các buổi Hội thảo khoa
học, trả lời các buổi phỏng vấn trên Tạp chí về sự kỳ diệu của bộ óc. Và quan trọng nhất là chương trình giúp mọi ngưòi tìm lại Hạnh phúc và niềm An lạc của đời mình qua sự hiểu biết về não bộ Phải, như tôi.
 
CHƯƠNG 14 
PHAT HIEN MOI QUA CON XUAT HUYET NAO 
Trãi qua cuộc hành trình bất ngờ vào trong chiều sâu của não bộ qua cơn Xuất huyết, tôi cảm tạ Đất Tròi đã cho tôi phục hồi toàn bộ từ thể lực, trí năng, tình cảm và tinh thần. Thật ra, trong thời gian 8 năm để phục hồi, tôi đã trãi nghiệm một thách thức tâm lý lớn lao bỏi nhiều lý do.
Khi tôi mất khả năng sinh hoạt của bán cầu não Trái, tôi mất luôn cả cá tính mà rõ ràng là liên hệ mật thiết với não cầu này. Mà cá tính này có rất nhiều nét tiêu cực, không mấy tốt đẹp cho mình lẫn cho người, như: nóng giận, hay cãi lẫy, tự cho mình luôn luôn đúng, cái gì của mình là hơn hết! Phục hồi sinh hoạt bán cầu não Trái có nghĩa là phục hồi cả các nét cá tính tiêu cực đó. Ngày xưa tôi không
biết thì thôi. Nhưng nay, sau cơn Xuất huyết não, tôi đã ý thức được những phẩm tính tốt đẹp biểu lộ từ bán cầu Phải, thì các cá tính tiêu cực trên không thể chấp nhận được. Nhưng Phải làm sao? Cũng như bạn thích chiếc áo, thích kiểu may, nhưng không ưa màu sắc của nó. Hoặc mua, hoặc không. Nhưng còn não cầu của bạn?
Làm sao tôi có thể cầu tiến cố gắng ăn học giỏi để có địa vị cao sang trong xã hội, mà không coi thường người dốt nát với số phận thấp hèn chung quanh? Làm sao tôi biết quý giá trị đồng tiền, biết dành dụm không phí phạm để trỏ thành dư giả, giàu có mà không sanh tánh muốn có thêm, tham lam và keo kiệt? Làm sao tự cho cái Tôi, cái Ngã của mình là nhất thiên hạ mà lại có thể đem lòng thương yêu,
chia sẻ, cảm thông và bình đẳng với mọi người? Và quan trọng nhất là cái ý thức con người là Một với vũ trụ.
Tôi tự hỏi không biết phần ý thức nào của bán cầu Phải sẽ bị mất đi khỉ bán cầu Trái hoàn toàn hồi phục. Nhưng tôi không muốn mất ý thức con người với vũ trụ là một. Tôi không muốn bộ óc chạy quá nhanh theo danh lợi của cuộc đời khiến tôi Phải đánh mất mình. Tôi không muốn thấy rằng mình là một cá nhân độc lập với toàn thể. Tôi cũng không muốn từ bỏ cái ý thức rằng cuộc đời là nơi thanh tịnh, an vui cho mọi người và mọi loài. Và như vậy, bán cầu Phải của tôi Phải làm sao để mọi người nhìn tôi mà không cho tôi là người bất thường?
Các nhà khoa học não bộ ngày nay đều đồng ý sự vận hành khác biệt của tế bào hai não bộ là điều đĩ nhiên. Nhưng sự khác biệt về cá tính và tâm lý từ hai bán cầu thì ít khi được bàn thảo đến. Thông thường, các nhà khoa học đều chế giễu não bộ Phải coi như là đồ bỏ, không đáng để ý chỉ vì nó không biết nói (không có Trung tâm ngôn ngữ) và không biết về luận lý thẳng hàng (quá khứ, hiện tại, vị lai).
Những nghiên cứu gần đây của Tiến sĩ Jekill và người phụ tá, còn mô tả bán cầu Phải như là bộ phận không thể kiểm soát được, có khuynh hướng bạo động, một bộ phận dốt nát, ngu xuẩn, vô ý thức; bộ phận mà nếu người ta không có thì tốt hơn. Còn với sự ngược lại lớn lao, não bộ Trái được ca tụng là nhà ngữ học, có thể biết đủ mọi thứ ngôn ngữ, nhà toán học; lại biết phân biệt thời gian, biết phương pháp học, biết luận lý học, rất thông minh và là trung tâm ý thức của con người.
Trước khỉ bị Tai biến, não bộ Trái độc quyền điều khiển ý thúc của tôi từ nhân sinh quan đến vũ trụ quan, lấn át cả não bộ Phải. Đến khi bệnh, não bộ Trái không còn khả năng áp đặt nữa, não bộ Phải mới được tự do biểu lộ phần ý thức của mình Nhờ vào tai nạn chết người này, mà tôi, một nhà não bộ học, được trãi nghiệm và khám phá những điều mới lạ kỳ thú về não bộ Phải, mà các nhà khoa
học não bộ không hề biết và cũng không “may mắn” bị Xuất huyết não để được biết! Hai bán cấu não trong cùng một bộ óc không những vận hành khác nhau về phương diện thông tin trong kỉnh mạch tế bào, mà còn rất khác nhau trong sự tiếp nhận và giải thể các dữ kiện nhận được, khiến cho cách nhìn nhân sinh và vũ trụ hoàn toàn khác nhau.
Tai biến não của tôi đã cho thấy trong tận cùng ý thức của não bộ Phải là bản thể của con người, lúc nào cũng thanh tịnh và an vui. Cái ý thức trong tận cùng sâu thẳm này – mà Phật giáo gọi là “bản ngã” – lúc nào cũng tỏa ra sự bình yên, an lạc và tình yêu thương cho mọi người và mọi loài.
Nói như vậy, dĩ nhiên không có nghĩa là tôi bị mắc chứng thần kinh nhiễu loạn vói nhiều cá tính khác nhau, khi vầy khi khác. Vấn đề không chỉ đơn giản như vậy. Xưa nay chúng ta không thể nhận biết vì chúng ta tin tưỏng rằng mình chỉ có một nhận thức, một ý thức trong cái sọ này. Không khỉ nào ngờ rằng chúng ta có hai bán cầu não với hai cá tính hoàn toàn khác biệt trong cùng một bộ óc đang
tranh cãi nhau. Chỉ cần một chút hướng dẫn là bạn có thể nhận ra dễ dàng.
Phần lớn chúng ta, ai cũng có lúc thấy: lý trí muốn làm thế này (não Trái) mà trong tâm hay trong bụng (não Phải) muốn làm thế khác. Có người thì: tôi nghĩ (não Trái) như vầy mà tôi cảm thấy (não Phải) như kia. Còn ngưòi thì bảo: anh/chị sao mà dương tính quá (não Trái), hãy âm (não Phải) chút xíu đi! Còn nếu bạn là học trò của trường phái Karl Jung thì sẽ thấy “suy luận” (não Trái) đối nghịch với
“trực giác” (não Phải). Mà các Triết gia và Khoa học gia đều đồng ý là trực giác lúc nào cũng đúng! Mục đích của tôi là giúp bạn biết rõ bạn sử dụng não bộ nào nhiều; để biết mà quân bình, không còn quá khích, hoặc biết khi nào nên thiên về Trái hay Phải.
Tôi nhận thấy hoạt động căn bản của não bộ Phải là tỏa chiếu sự an vui, thanh tịnh và lòng yêu thương. Nếu chúng ta dùng nhiều thời gian trong đời mình để sử dụng mạch thần kỉnh này ỏ não bộ Phải, thì An vui, Thanh tịnh và Tinh yêu thương sẽ lan tỏa khắp mọi người, kể cả chúng ta; và cuối cùng, ta sẽ có An vui, Thanh tịnh và Tinh yêu thương trên Mặt đất này. Và đó là Niết Bàn, hay Cực Lạc mà Phật giáo nói đến. Cho nên khi ta biết rõ phần não bộ nào đang được sử dụng để xử lý các dữ kiện thu nhập từ bên ngoài, ta có nhiều chọn lựa để biết nghĩ, biết cảm, biết hành xử sao cho thích hợp với hoàn cảnh cá nhân và với cộng đồng nhân loại.
Từ quan điểm của Tế bào thần kinh học, tôi đã vào được cảnh giới An lạc trong tận cùng thâm sâu của ý thức não bộ Phải như đã trình bày, khi não bộ Trái đã hoàn toàn bất động. Hai Tiến sĩ Andrew Newberg và Eugene D’Aquily, nổi tiếng từ đầu thập niên này về nghiên cứu não bộ, đã giúp tôi xác định những gì tôi nhận biết xảy ra trong bộ óc tôi. Dùng kỹ thuật chụp ảnh SPECT (Phóng xạ Trung hòa đơn tử chiếu rọi ra màn hình), các nhà khoa học này nhận diện được những tế bào thần kinh nào đang trong tình trạng trãi nghiệm về tôn giáo hay tâm linh. Họ đã biết rõ vùng nào ỏ não bộ đã giúp tôi đạt đến ý thức mà tôi cho là Một với vũ trụ (Thượng đế, Niết Bàn, Cực Lạc).
Một cuộc thí nghiệm khác cũng được thực hiện với các nhà sư Tây Tạng và các nữ tu khổ hạnh dòng Francisco. Những vị này được mời thiền định hay cầu nguyện trong máy SPECT. Thí nghiệm cho thấy khỉ các vị này thiền định tói mức độ cảm thấy sống trong Cực Lạc, hoặc cầu nguyện tới mức độ thấy mình là một với Thượng đế, thì tế bào thần kỉnh của họ chuyển hoạt động sang một vùng đặc biệt của não bộ Phải. Trước đó, hoạt động của Trung tâm ngôn ngữ ỏ não bộ Trái ngưng hoạt động. Rồi đến vùng não Trái nhận diện vật thể, không gian ba chiều và thời gian thứ tự cũng tắt theo. Điều này cũng cắt nghĩa vì sao khi bị xuất huyết não, bán cầu Trái chìm trong biển máu và ngưng hoạt động, thì tôi chỉ cảm giác tôi là chất loãng và hòa mình làm một với Vũ Trụ.
 
CHƯƠNG 15
SỨC MẠNH TINH THẦN CỦA MỖI NGƯỜI
Tôi định nghĩa “trách nhiệm” là khả năng chọn lựa cách ứng phó trong một hoàn cảnh nhất định đối với những dữ kiện bên ngoài, thu nhận được qua các giác quan.
Những dữ kiện này có thể kích động nhanh và tạo ra phản ứng hóa học trong cơ thể con người qua hệ thống Limbỉc và các “lập trình” ỏ não bộ. Những độc tố tạo ra từ các phản ứng này xuất hiện và kéo dài chỉ trong vòng 90 giây, rồi bị đẩy ra khỏ não bộ qua hệ thống tuần hoàn máu. Nên ta có thể kiểm soát bằng cách dứt bỏ chúng được, thì tâm thần ta an vui và cơ thể ít bệnh hoạn hơn.
Thí dụ: tức giận. Do các điều kiện bên ngoài, “lập trình” tức giận tự động nổi lên một cách máy móc trong thần kỉnh não bộ. Không đầy 90 giây, các độc tố hóa học tiết ra từ cơn giận tiêu tan vào hệ thống tuần hoàn máu và bị loại khỏ cơ thể và phản ứng tự động “tức giận” ỏ hệ thống Limbic cũng chấm dứt. Nhưng nếu có người vẫn còn giận dữ, là vì họ muốn làm như vậy, như là một đặc trưng của cá
tánh họ. Họ giữ cho cảm giác tức giận vẫn còn “chạy vòng vòng” trong mạch thần kinh liên hệ ỏ não thùy Trái, làm hại cho chính họ và khổ cho mọi người xung quanh. Tương tự như vậy đối với các tình cảm vui, buồn khác trong thất tình lục dục.
Cho nên bạn có thể kiểm soát và sửa mình để nhìn đời lạc quan, vui vẻ hơn; với cái nhìn “ô, ly nước còn đầy tới nửa ly”, chứ không Phải “ôi, ly nước đã cạn hết phân nửa rồi!”. Nếu bạn đến với người khác bằng sự giận dữ, thì bạn có thể bị phản ứng lại bằng giận dữ và gây ra cuộc tranh cải hoặc ấu đả (do não thùy Trái).
Hoặc người ta thấy buồn cười vì bạn quá trẻ con và họ cảm thương mà tha thứ cho bạn (từ não thùy Phải). Khổ nỗi là phần lớn chúng ta chỉ phản ứng theo bản năng, không biết mình có “sức mạnh tinh thần”, có khả năng chọn lựa nên ứng xử thế nào trước mọi hoàn cảnh, làm sao vừa nhẹ lòng mình vừa vui dạ người. Bỏi vì hệ thống Limbic trong não chúng ta có từ thòi tiền sử. Thời đó người tiền sử đã sử dụng nó để “chạy trốn” cho nhanh trước sức mạnh của thú dữ, của thiên tai; hoặc đứng lại mà đương đầu bằng sức mạnh thể chất của mình. Ngày nay, đã khác. Ta bị thượng cấp đối xử oan ức, làm hệ thống Limbic khỏ lên ‘tức giận”; nhưng ta không thể chạy trốn hay dùng sức mạnh chống lại. Các hóa chất độc hại của cơn giận tiết ra không tiêu tán được trong hệ thống tuần hoàn máu, trỏ lại hại cơ thể ta.
Ngày nay với sự hiểu biết, ta không hoàn toàn xử sự theo bản năng của hệ thống Limbic (não bộ Trái), mà là theo hiểu biết rằng mình có quyền chọn lựa, có sức mạnh tỉnh thần để chọn lựa (não bộ Phải). Về lâu về dài, bạn sẽ thấy cuộc đời của bạn vui hay buồn, sướng hay khổ, thành công hay thất bại đều là kết quả của sự bạn chọn lựa. 
Sau cơn bệnh, tôi thường để nhiều thì giờ suy nghĩ, nhận xét về bộ óc con người và ngạc nhiên nhận ra nó thật kỳ diệu. Như Socrates đã nói: “Cuộc đời không quán chiếu là cuộc đời không đáng sống”, tôi thấy không còn sức mạnh nào đáng kể hơn khi biết mình có quyền năng chọn lựa sống đời hạnh phúc,
không khổ đau. Chỉ là vấn đề “Nước đầy tới nửa ly”; hay “Nước cạn chỉ còn phân nửa” và biết khi nào Phải dùng não bộ Phải!
Con người, ai không gặp những hồi thất bại, nhũng lúc khổ đau? Nhưng từ đó hãy rút ra bài học, rồi để chúng qua đi (ý thức của não bộ Phải). Đừng giữ chúng chạy tới chạy lui trong mạch thần kinh não, như một đoạn phim quay đi quay lại (ý thức của não bộ Trái). Cũng đừng tự mãi trách mình “Phải chỉ…Có lẽ…”. Giống như đi nhầm đường mà ỏ đó lẩn quẩn và buồn phiền. Dù biết vậy, thỉnh thoảng tôi cũng cho phép não bộ Trái nghênh ngang, hống hách, tự cho mình khác biệt và tài giỏi hơn người, hăm hỏ tranh luận giành phần thắng. Nhưng rồi phần lớn trường hợp, tôi tự thấy mình khôi hài, lố bịch, nên tự
động kiếm cách giảng hòa, rút lui. Kinh như một nhà tư tưỏng Đông phương có nói: “Thắng người Phải có sức mạnh thể chất. Thắng mình là nhờ sức mạnh tinh thần”. Câu nói này rất đúng với khoa học não bộ ngày nay.
Với tôi, có lẽ vì là phụ nữ, rất dễ dàng khi hành xử “dễ thương” với mọi người. Chứ thực tình thì khi sinh ra, không có ai mang theo sách chỉ dẫn (như khi mua chiếc xe mói) để biết phản ứng với cuộc đời sao cho Phải cách. Chúng ta chỉ là sản phẩm của cha mẹ và của hoàn cảnh. Nhờ ăn học và cơn bệnh sống chết của não bộ vừa qua, tôi chọn con đường tương thân tương ái của não bộ Phải từ đây; vì biết rằng ai trong chúng ta cũng trên vai mang nặng những túi tình cảm tranh chấp, âu lo, hận thù, ganh tị, ích kỷ, hẹp hòi di truyền sinh học từ thuỏ lọt lòng.
Tôi biết rằng tôi cũng có khỉ lầm lỗi, nhưng tôi không nhất thiết tự mình mang mặc cảm là một kẻ tội đồ; và tôi cũng không coi những lỗi lầm của bạn là vì cố ý nhắm vào tôi. Khuyết điểm của bạn, khuyết điểm của tôi, mỗi người tự sửa lấy. Điều quan trọng là giữ tâm an vui và tốt bụng với mọi người. Tha thứ cho người và tha thứ cho mình là điều nên làm cho được. Nhìn đời phút giây nào cũng là phút giây
hoàn hảo là ta đang sống ỏ Niết Bàn, Cực Lạc rồi đây!
 
CHƯƠNG 16
SỰ AN LẠC TRONG TÂM HỒN
 
… Ưóc đến tương lai; để rồi cảm thấy khổ sỏ vô cùng vì không làm sao có được những điều mong muốn đó.  Chừng nào chúng ta ý thức được thực tế là nên sống  trong hiện tại, chúng ta s dễ dàng hơn đi vào mạch thần kinh não bộ Phải, với lòng  nhường nhịn, chia sẻ, thương yêu – tự xem mình là một phần trong toàn phần, là những dương điện tử, âm điện tử và trung hòa tử đang nhảy múa trong cùng 
một vũ điệu siêu tuyệt – ta sẽ nhận chân được Hạnh phúc và An lạc trên đời. 
Xã hội Tây phương đã gặp Phải khó khăn trong sự đi tìm chân hạnh phúc, vì từ  nhỏ đến lớn con người chỉ được huấn luyện sử dụng bộ óc Trái. Phải biết bặt thiệp, biết tính toán, biết tổ chức, biết kế hoạch, biết hơn chứ không được thua, biết cái Tôi là hơn hết. Nếu đạt được những thành tích này, họ sẽ được tưỏng thưỏng, được ca tụng; nhưng họ không bao giò cảm thấy được hạnh phúc.
Người Đông phương trong thế kỷ qua cũng vậy. Một số chạy theo nếp sống Tây phương, bị Tây phương hóa nên cũng rất khổ sỏ; vì tuy có đầy đủ của cải vật chất, nhưng không có hạnh phúc. Một người bạn thân của tôi, tiến sĩ Kat Domingo đã có lần nói: “Giác ngộ không Phải là nhờ học thêm điều gì mới lạ, mà là biết bỏ hết đi những gì đã học sai lầm!”.
Thật ra, trỏ về với não bộ Phải không Phải là vấn đề khó khăn. Bỏi vì chúng ta thường sử dụng cả hai bán cầu não cùng một lúc để tiếp nhận và phân phối dữ kiện qua năm giác quan vào từ bên ngoài từng giây từng phút; có nghĩa là lúc nào ta cũng tiếp xúc với não bộ Phải. Miễn là bạn Phải học để ý đến những cảm giác vi tế đã xảy ra trong tâm thức hay cơ thể của bạn, thì bạn có thể lập lại mạch vận hành
của thần kinh đó khi bạn muốn.
Phần tôi, bài học đầu tiên khiến tôi nhận biết An lạc ỏ trong tâm là ngay từ buổi đầu bị xuất huyết. Tôi nhận ra mình là một phần trong đại thể của vũ trụ – nơi đó nguồn năng lực miên viễn chảy vào các phân tử tế bào ỏ thân thể. Biết được như vậy, tôi thấy mình thật an ổn. Làm sao tôi có thể “chết” được khi tôi là một thành phần của cái toàn phần? Trong khi não bộ Trái cứ cho biết rằng tôi là một cá nhân
riêng biệt, mong manh và dễ “vỡ”, não bộ Phải cho thấy rằng, từ bản thể, tôl vốn “tồn tại” mãi với thời gian!
Và như vậy, mặc dù tôi đã mất đi một số tế bào của cơ thể và khả năng nhìn thế giới bên ngoài như là không gian ba chiều, phần năng lượng đó của cơ thể tôi không mất mà chỉ là trỏ về hợp lại với biển thanh tịnh và an vui của vũ trụ. Nhận thức này làm cho tôi vô cùng biết ơn sự hiện diện ỏ cõi đòi với phần tế bào còn khỏe mạnh trong tôi.
Muốn có được phút giây hiện tại, bạn Phải tập chậm lại đầu óc suy nghĩ của mình. Đầu óc con người lúc nào cũng suy nghĩ, không thể trống không. Hết nghĩ chuyện nọ, đến chuyện kia. Hết chuyện đã qua, đến chuyện sắp tới. Chuyện làm được và chuyện không chắc có thể làm được. Cứ như vậy mà bực bội, gắt gỏng, thất vọng, chán nản. Năng lực tiêu tán, tâm tình khổ sỏ, thần sắc bệnh hoạn.
Bộ óc Trái làm việc như vậy đó. Bạn hãy tập nói chuyện và ra lệnh với nó. Có khi bạn nên cảm ơn nó với nụ cười: Cảm ơn kế hoạch này tốt; chuyện này làm Phải. Có khi bạn Phải nghiêm khắc, chau mày với nó, như với đứa trẻ ngỗ nghịch: tôi không thích nghe hay thấy chuyện này xảy ra đâu; đừng bàn tới nữa. Và cho nó 90 giây để ngừng. Nói rõ hơn, khi tức giận ai, cơn tức giận chỉ có trong 90 giây, rồi chuyễn sang đề tài khác hoặc bỏ đi chỗ khác thì sẽ không còn nữa.
Ngay bây giò khi bạn đang đoc sách này, để ý xem óc Trái bạn còn dang có lệnh gì. Vợ dặn đi chợ, con đòi đi chơi, bạn bè rủ đi giải trí? Vậy là bạn đã không sống trong hiện tại. Kết quả là đọc sách chẳng ra đọc sách. Không chuyện gì ra chuyện gì. Không đọc sách thì không có thêm hiểu biết; không nhớ lời vợ thì gia đạo bất hòa; không chơi với con thì khó mà dạy dỗ chúng; không giao tiếp bạn thì cuộc sống hạn hẹp. Nhưng việc nào Phải có thì giờ của việc ấy. Sống trong hiện tại là biết làm chủ cuộc đời mình, làm cho nó thành đơn giản, có ý nghĩa và nhờ đó mà tâm được an lạc.
Ăn, uống, làm vệ sinh, hít thỏ trong ngày, họp mặt buổi tối với gia đinh… là một vài ví dụ giúp bạn trỏ về sống trong hiện tại. Khi ăn, chỉ biết có ăn; không suy nghĩ chuyện gì khác. Nếu khi ăn ỏ nhà, nghĩ đến công ơn vợ đã bỏ ra nấu miếng ăn cho vừa khẩu vị chồng, thì đã thấy hạnh phúc. Còn ăn ỏ tiệm thì nghĩ tới công ơn của bao nhiêu ngưòi đã làm ra món ăn và biết bao nhiêu tỉ người trên thê’ giới giờ này
không được miếng ăn no bụng, mà cảm thấy mình hạnh phúc biết bao nhiêu. Đó là ví dụ bạn dùng não bộ Phải.
 
CHƯƠNG 17
CHĂM SÓC NGÔI VƯỜN TÂM
Tôi học được rất nhiều từ trận Xuất huyết não đến nổi tôi cảm thấy đã vô cùng may mắn trãi qua Tai biến này. Nhờ đó, tôi đã được dịp chứng kiến những hiểu biết mới mẽ từ não bộ của tôi; mà nếu không, tôi không bao giờ tưỏng tượng được rằng những điều này là sự thực. Tôi rất biết ơn Thượng đế về những soi sáng này.
Và những hiểu biết này không Phải ích lợi riêng cho tôi, mà tôi còn hỉ vọng nó sẽ ích lợi cho mọi người, nếu ai cũng biết làm chủ và chỉ đạo bộ óc của mình, để được sống An vui và Hạnh phúc.
Tôi cũng cảm ơn bạn đã kiên nhẵn theo dõi cuộc hành trình gian nan của tôi qua sách này. Tôi thành thật hy vọng bất cứ hoàn cảnh nào đưa đẩy bạn tới việc đọc quyển sách này, sẽ giúp bạn hiểu hơn sinh hoạt của não bộ mình và người khác.Và tôi tin rằng não bộ Phải của bạn sẽ giúp quyển sách này được chuyền tay sang người khác để họ cùng có được ích lợi.
Einstein ngày xưa đã nói: “Tôi Phải cố gắng bỏ cái tôi là, để trỏ thành cái tôi sẽ nên”. Tôi đã Phải học một cách vất vả mới hiểu được rằng giá trị thật của con người tôi như thế nào là tùy thuộc vào sự trong sáng của mấy mạch thần kinh não bộ. Ý thức tôi có được là do những tế bào li tỉ mầu nhiệm hợp lại mà thành. Nhờ sự mềm dẽo và dễ uốn nắn của tế bào não bộ, mà chúng có thể thay đổi các cực tiếp xúc tạo thành các mạch thần kinh mới, khiến cho tôi và bạn có thể thay đổi tánh tình bằng sự thay đổi cách suy nghĩ và chọn lựa nên sống với cách thế ra sao trên quả đất này. Và may mắn thay, chúng ta chọn cách sống thế nào hôm nay, ngày hôm qua chúng ta chưa tiên đoán được. Vì vậy mà chúng ta luôn cần đọc sách và suy nghĩ.
Tôi xem Tâm của tôi là mảnh vườn thiêng liêng mà đất trời đã tin tưỏng và ban cho. Tôi có nhiệm vụ Phải chăm sóc nó thật chu đáo. Chỉ có tôi với những DNA riêng biệt và hoàn cảnh sống cá nhân tô điểm mảnh vườn Tâm này. Mọi người cũng vậy. Nó có thể là mảnh vườn hoang dại, hay đầy hoa thơm cỏ lạ.
Trong mấy mươi năm đầu, tôi không có gì hay để tô điểm cho mảnh vườn, không có gì hay lắm đối với các mạch thần kinh vận hành trong bộ óc, bỏi vì tôi chỉ là mảnh đất hoang với hạt giống của người đi trước. Nhưng nhờ vào phước báu, di truyền DNA đã không còn làm chủ và độc đoán chỉ huy. Và nhờ sự uyển chuyển của các tế bào não bộ, sức mạnh của ý chí và sự tiến bộ thần kỳ của Y học đã làm thay đổi hẳn hiểu biết và đời sống con người.
Bất kể mảnh vườn tôi thừa kế như thế nào, khỉ mà tôi đã ý thức rằng tôi có trách nhiệm Phải chăm sóc và có sức mạnh Tinh thần để chọn lựa, thì tôi sẽ chọn và nuôi dưỡng những hoa cỏ nào tôi muốn trồng, những mạch thần kinh nào tôi muốn dưỡng; và loại bỏ hoàn toàn những thứ không cần thiết và vô ích. Biết rằng những cỏ dại mới lên mầm thì dễ nhổ bỏ, nhưng dầu là những dây leo quấn quít chằn chịt lâu ngày mà nếu chúng ta không vun phân tưới nước, chúng sẽ tàn rụi theo thời gian.
Xã hội có lành mạnh hay không là do những bộ óc tạo thành xã hội ấy có lành mạnh hay không. Cứ nhìn một cộng đồng mà các bộ óc chỉ ưa thích ma túy, rượu mạnh và sắc đẹp, thì đủ biết cộng đồng đó sẽ đi đến đâu và như thế nào.
Gandhi có nói một câu thật đúng: “Chúng ta Phải là chất men để thay đổi một xã hội khi chúng ta muốn xã hội đó thay đổi”. Tôi nhận thấy ý thức của não bộ Phải của tôi rất muốn cho tất cả chúng ta có một bước nhảy vọt bằng cách chỉ bước qua bên Phải, để tinh cầu này biến thành nơi của yêu thương và an bình như mọi người hằng mơ ước.
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Bài thuốc trị tiểu đường thần kỳ dễ nấu ai cũng có thể tự làm

 

Chia sẻ:

Bệnh tiểu đường hiện nay vẫn là một trong những căn bệnh được liệt vào dạng khó chữa. Chính vì vậy, người bệnh cần phát hiện sớm để kịp thời chữa trị. 

Trong số này, nữ lương y Lê Thị Hoàng Diệp (37 tuổi, Chủ tịch Hội Đông y phường An Tây, TP. Huế) sẽ chia sẻ với bạn đọc quan tâm đến căn bệnh tiểu đường một bài thuốc tự chữa bệnh hết sức đơn giản, dễ kiếm, dễ dùng nhưng mang lại hiệu quả tích cực. Bài thuốc được chế biến dưới dạng một món canh, người bệnh có thể tự tìm nguyên liệu và chế biến theo công thức mà lương y Diệp hướng dẫn.
 
Cẩn trọng với “căn bệnh thời đại”
 
Lương y Diệp đang thăm khám và bốc thuốc cho bệnh nhân.
Lương y Diệp đang thăm khám và bốc thuốc cho bệnh nhân.
Lương y Diệp có cha là thầy thuốc nổi tiếng xứ Huế. Từ nhỏ chị đã thường xuyên phụ giúp cha bốc thuốc chữa bệnh. Gia đình có 5 anh chị nhưng chỉ có chị có năng khiếu về nghề y nên được cha truyền nghề từ khi 15 tuổi. Trong khoảng thời gian học nghề, lương y Diệp luôn nỗ lực học hỏi những kiến thức và kinh nghiệm mà cha truyền dạy. “Ghi nhớ từng vị thuốc và công dụng của chúng là điều hết sức quan trọng. Đặc biệt, Đông y có tới hàng trăm loại dược liệu khác nhau, sự kết hợp của chúng thành một phương thuốc trị bệnh cũng đa dạng không kém. Có những loại dược liệu rất độc, nếu không biết cách kết hợp và sử dụng đúng liều lượng sẽ gây hại nghiêm trọng đến sức khỏe của bệnh nhân, thậm chí còn đe dọa đến tính mạng. Từ nhỏ, tôi đã thấm nhuần lời cha dạy nên rất chú ý đến các loại dược liệu có tính độc. Là thầy thuốc, phải quý trọng tính mạng bệnh nhân như tính mạng của mình vậy”, lương y Diệp tâm sự.
Sau khi tốt nghiệp THPT, lương y Diệp nộp hồ sơ vào học lớp Trung cấp Y học cổ truyền. Không ngừng học hỏi, vừa thu nạp kiến thức trên lớp, chị vừa tận dụng tối đa để học hỏi kinh nghiệm chữa bệnh từ những bậc tiền bối. Bao năm nay, không chỉ được nhiều người biết đến là vị thầy thuốc giỏi, lương y Diệp còn được đánh giá cao bởi lòng nhân ái. Nữ lương y cho biết, chồng chị công tác ở Trung tâm bảo tồn di tích Cố Đô, hai con học giỏi, ngoan ngoãn. Kinh tế gia đình ổn định nên bản thân chị không quá đặt nặng vấn đề tiền bạc. Chị chia sẻ: “Hành nghề y cốt ở cái tâm, giúp được gì cứ giúp chứ đừng nên tính toán thiệt hơn làm gì. Tiền bạc sao có thể so sánh được với sức khỏe”. Cũng nhờ uy tín, lòng nhiệt tình mà lương y Diệp được bầu làm Chủ tịch hội Đông y của phường An Tây. Với kinh nghiệm nhiều năm trong nghề cộng thêm sự học hỏi không ngừng từ các cuốn sách về y thuật dân gian cũng như những bậc tiền bối đi trước, lương y Diệp đã nghiên cứu ra được nhiều bài thuốc hay, mang lại hiệu quả điều trị cao. Trong đó phải kể đến bài thuốc trị tiểu đường, u nang buồng trứng… Chia sẻ về sự nghiệp của mình, chị cho biết: “Tôi vẫn sẽ tiếp tục dành thời gian để học thêm, bồi dưỡng thêm những kiến thức còn thiếu”.
Lương y Diệp cho biết, những người mới mắc bệnh tiểu đường thường có những biểu hiện khác thường như: mệt mỏi, tiểu nhiều, khát nhiều, nhanh đói, giảm cân không kiểm soát, vết thương lâu lành, mắc các bệnh về da, mờ mắt, nhiễm nấm, dễ bị lạnh và cảm cúm, ngứa ran hoặc đau ở bàn chân, bàn tay… Tuy nhiên đa số những người có triệu chứng ban đầu như vậy lại bỏ qua hoặc nhầm lẫn với căn bệnh khác. Từ đó không có phương pháp điều trị kịp thời hoặc điều trị sai hướng khiến bệnh ngày càng trầm trọng hơn. “Bệnh tiểu đường hiện nay vẫn là một trong những căn bệnh được liệt vào dạng khó chữa. Chính vì vậy, người bệnh cần phát hiện sớm để kịp thời chữa trị. Những ai có các biểu hiện nêu trên nên lập tức đi khám và làm các xét nghiệm đường huyết. Người bệnh nên xét nghiệm vào buổi sáng khi chưa ăn gì để có một kết quả chính xác. Nếu đường máu vượt quá 126 mg/dL trong 2 lần, nghĩa là bạn đã mắc bệnh tiểu đường. Nếu đường máu từ 100 đến 125 mg/dL thì đây là biểu hiện của tiền tiểu đường. Nhỏ hơn 99mg/dL là bình thường”, lương y Diệp trình bày.
 
Về món canh trị tiểu đường của lương y Diệp, lương y Vũ Quốc Trung cho biết: “Theo Đông y, bí đao có vị ngọt, tính hơi hàn, không độc, quy kinh tỳ, vị. Tác dụng thanh nhiệt, lợi thấp, giải độc, sinh tân, chỉ khát, lợi niệu, tiêu phù. Chủ trị các chứng tiêu khát, thủy thũng, mụn nhọt, sang lở, ban chẩn, làm tươi nhuận bì phu, giữ nhan sắc.
Để trị bệnh tiểu đường, có thể hàng ngày dùng bí đao nhục (phần thịt quả) dưới dạng nấu canh, nấu cháo ăn hoặc ép lấy nước uống. Ngoài ra cũng có thể sử dụng bí đao phối hợp với các vị thuốc khác.
Món canh bí đao nấu lá lách lợn cũng là một món canh dưỡng sinh giúp người bệnh tiểu đường giảm lượng đường huyết. Lá lách lợn (trư tỳ) vị ngọt, tính bình, có tác dụng kiện tỳ, thoát chướng, nhuận sắc, bổ tụy. Người bệnh tiểu đường tuyến tụy thường hoạt động kém nên các món ăn bổ tụy rất có ích.
Ngoài món canh trên người ta còn nấu lá lách với hải sâm hoặc râu ngô để giảm đường huyết cho bệnh nhân đái tháo đường. Tuy nhiên không nên sử dụng các món canh này trong thời gian quá dài, người bệnh phải thường xuyên kiểm tra lượng đường trong cơ thể, nếu thấy xuống mức trung bình thì phải ngừng ăn để cân bằng lượng đường”.
 

Lương y Diệp cho biết thêm việc phát hiện sớm vẫn yếu tố quan trọng nhất để trị lành bệnh tiểu đường. Quan trọng hơn, người mắc bệnh nhưng không có cách điều trị phù hợp cũng rất nguy hiểm. Bệnh không những không khỏi được mà còn dẫn đến những biến chứng khác khiến cơ thể người bệnh ngày một suy mòn, thậm chí có những biến chứng gây tử vong. Nữ lương y cho biết: “Có thể kể đến những biến chứng thường thấy mà bệnh tiểu đường gây ra như: Tổn thương dây thần kinh ngoại vi (là biến chứng thường gặp nhất, biểu hiện da khô, nứt nẻ, chân chai, lở loét, sưng phù và không điều trị khỏi, có khi còn phải cắt cả chân để bảo toàn tính mạng); các bệnh về mắt (giảm thị lực, đục thủy tinh thể, quáng ga, mù lòa…); người tuổi cao có nguy cơ mắc bệnh về tim, đột quỵ, dễ gây tử vong. Bệnh nhân bị mắc tiểu đường còn rất dễ bị nhiễm trùng bất cứ bộ phận nào trên cơ thể và một trong những hậu quả nghiêm trọng là phải tháo khớp (hiện tượng đoản chi)”.

 
Hiệu quả thần kỳ
Theo lương y Diệp, giữ lượng đường trong máu ở mức ổn định được xem là yếu tố quan trọng trong để người bệnh giảm nguy cơ bị các biến chứng. Người mắc tiểu đường phải dùng thuốc suốt đời nên việc dùng thuốc nào an toàn khi dùng dài ngày rất được quan tâm. Từ thực tế này, hiện nay người bệnh có xu hướng tìm đến những loại thuốc từ tự nhiên vừa hiệu quả vừa không gây tác dụng phụ khi dùng trong thời gian dài. Theo xu hướng trên, lương y Diệp đã tìm ra một phương pháp điều trị tiểu đường từ các loại thực phẩm sẵn có trong tự nhiên. Bài thuốc này giúp giữ được lượng đường ổn định. Những người có lượng đường cao khi dùng cũng sẽ giảm rõ rệt.
Bài thuốc của lương y Diệp khá đơn giản, ai cũng có thể tự làm được với những nguyên liệu rẻ tiền, dễ kiếm. Đó là món canh bí đao kết hợp với lá lách của heo. Cách làm cũng không hề khó. Theo đó, lá lách lợn tươi mua về bóc bỏ lớp màng mỏng bên ngoài, rửa thật sạch (dùng nguyên 1 cái). Tiếp đến lấy khoảng 25g bí đao bỏ vỏ rửa sạch đem nấu chín kỹ với lá lách trên và ăn cả cái lẫn nước. Mỗi ngày ăn 1 lần, kiên trì ăn trong vòng một tháng sẽ giảm được lượng đường trong máu. Lương y Diệp căn dặn thêm, khi ăn món canh này, trong một tháng tiếp sau đó người bệnh phải thường xuyên kiểm tra. Khi nhận thấy lượng đường xuống quá thấp thì ngừng ăn nhằm đảm bảo sức khỏe. Giải thích về món canh này, lương y Diệp cho biết: “Khi người bị mắc bệnh tiểu đường thì khả năng làm việc của tuyến tụy yếu đi. Trong khi đó, lá lách heo lại có tác dụng bổ tuyến tụy. Phương pháp này trong y học cổ truyền gọi là “tạn khí liệu pháp””.
Ngoài món canh bí đao với lá lách lợn trên, lương y Diệp khuyên người bệnh nên kết hợp uống củ sinh địa với liều lượng 40g/ ngày. Cách làm như sau: Củ sinh địa đem rửa sạch rồi nấu nước uống hàng ngày như uống trà. “Khi mua củ sinh địa nên chọn những củ mập, vỏ mỏng, mềm và cắt ngang có màu đen nhánh. Loại củ này có tác dụng bổ thanh âm đồng thời mát huyết, thanh nhiệt. Việc kết hợp giữa ăn và uống như trên sẽ giúp bệnh nhân nhanh chóng hạ lượng đường trong cơ thể. Đây là cách làm giúp tuyến tụy nghỉ ngơi, tẩm bổ. Chú ý người bệnh nên cung cấp năng lượng vừa đủ, tránh dư thừa, đặc biệt là phải luyện tập thể dục điều độ”, lương y căn dặn thêm.
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

KHUÔN MẶT VĂN NGHỆ MỚI