All posts by Xuân Mai Trần

Ảnh của Louis Marie Preau.

4 năm kiên trì đợi dưới lòng sông, nhiếp ảnh gia đã chụp được bức ảnh chú Hải ly để đời.

Mặc trang phục và mang theo thiết bị lặn biển chuyên dụng, Nhiếp ảnh giaLouis-Marie Preau nằm bất động dưới lòng sông, và kiên trì chờ đợi từ 2-3 giờ mỗi đêm, để có được bức ảnh chụp chú Hải ly tuyệt mỹ ‘độc nhất vô nhị’.

Nhiếp ảnh gia Louis Marie Preau đang bơi dưới nước để chụp ảnh. (Ảnh: leblogdici.fr).

Có thể nói rằng: Niềm đam mê mãnh liệt, cộng với sự kiên nhẫn phi thường, đã làm nên một tác phẩm để đời, một cảnh tượng đẹp đến kinh ngạc về một chú Hải ly Á-Âu đang tìm kiếm thức ăn cho bữa tối của mình ở vùng Loire miền Tây nước Pháp.
Thật không may, những gì loài Hải ly này có được, lại mang lại bất hạnh cho chúng. Chính bộ lông và mùi hương Hải ly (castoreum) của nó khiến nhiều thợ săn ráo riết săn lùng, bởi vậy loài Hải ly Âu-Á gần như đứng bên bờ tuyệt chủng vào giữa thế kỷ 19.
Ở Pháp, loài Hải ly này (tên khoa học là Castor fiber) đã gần như hoàn toàn biến mất, chỉ còn khoảng 100 con sinh sống ở thung lũng Rohne. Hiện các nhà chức trách đang nỗ lực bảo vệ chúng  trước nguy cơ tuyệt chủng.
Hiện tại đang có tổng cộng hơn 14.000 con Hải ly đang sinh sống ở Pháp, chúng giữ vai trò quan trọng trong hệ sinh thái sông của Thung lũng Loire.
 
Thời thơ ấu của Nhiếp ảnh gia Louis Marie Preau gắn liền với những cuộc phiêu lưu và khám phá thiên nhiên, cũng như quan sát động vật hoang dã, trong đó có cả Hải ly. Bản thân anh đã dành hơn một thập kỷ để quan sát loài động vật này. Có lần, anh nhìn thấy một con Hải ly trưởng thành mang một nhánh cây dưới nước về nhà của nó – và anh quyết định dành thời gian để chụp lại cảnh này – và đã mất 4 năm để làm điều đó.
Mỗi đêm, trong bộ đồ lặn chuyên dụng, anh nằm bất động dưới lòng sông trong nhiều giờ đồng hồ. Cuối cùng, những nỗ lực của anh cùng những nhà Bảo tồn đi tiên phong trong việc bảo vệ Hải ly đã được đền đáp xứng đáng.

Chú hải ly Âu-Á đang đi kiếm ăn - Bức ảnh độc nhất vô nhị của nhiếp ảnh gia Louis-Marie Preau. (Ảnh: Louis Marie Preau)Chú hải ly Âu-Á đang đi kiếm ăn – Bức ảnh độc nhất vô nhị của Nhiếp ảnh gia Louis-Marie Preau. (Ảnh: Louis Marie Preau)

Dưới đây là các bức ảnh tuyệt vời khác về thế giới động vật của Louis Marie Preau:
2188989
nhiếp ảnh gia
Snow Goose, Quebec, Canada
Snowy Owl, Quebec, Canada
Black-tailed Godwit, Loire, France
Theo Tree Hugger.
(Ảnh: Louis-Marie Preau).
Minh Minh.
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Chút Buồn Cuối Thu

Chiều nay 
vắng bóng em rồi
Lòng anh thơ thẩn 
bùi ngùi nhớ nhung
Thu này 
vẫn đượm sắc tình
Sao như tan rã tơ mành vấn vương

Bóng em
giờ đã mù sương
Chỉ còn thương tiếc
hương xưa tháng ngày
Luyến lưu chi buổi ban đầu
Khi em sắp sửa làm dâu nhà người

Lạy trời xin tạnh cơn mưa
Để cho cảnh vật như chưa từng sầu

Hoàng Thanh

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Vĩnh biệt kinh tế mới

Phước An 
Inline images 1

Có lẽ mẹ con chúng tôi là những người đi Vùng Kinh Tế Mới trong những đợt đầu tiên, và cũng có thể chúng tôi là những người đi Vùng Kinh Tế Mới trong các đợt sau cùng.

Vào những ngày cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa, Ba mẹ và bảy anh em chúng tôi, lớn nhất là tôi mười bốn tuổi và bé nhất thì chưa đầy một tuổi, bồng bế, cột dính vào nhau hòa theo đoàn người xe hỗn loạn trên quốc lộ 1 chạy vào Sài Gòn. Đến Cam Ranh, giữa rừng người chen lấn chúng tôi leo lên được một tàu nhỏ của Nhật trong tiếng kêu la, khóc thét, trong tiếng súng gần của lính VNCH, tiếng súng xa của bộ đội Cộng Sản. Tàu này chuyển chúng tôi ra Hạm Đội 7. Vào đến Sài Gòn nhưng không được cập bến nên chuyển hướng ra đảo Phú Quốc. Từ đảo ba tôi liên lạc xin vào nhận nhiệm sở mới ở Sài Gòn qua đường Cần Thơ.

Ba tôi loay hoay chạy quanh giữa một Sài Gòn hỗn loạn. Cho đến lúc Tổng Thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng thì gia đình chúng tôi lạc mất nhau. Phải mấy ngày sau chúng tôi mới gặp lại nhau. Chúng tôi vào tá túc nhà của một người đã chạy ra nước ngoài trong khu gia binh. Một thời gian sau, ba tôi bị đi tù “Cải Tạo” biệt tích. Mẹ và bảy anh em chúng tôi bơ vơ giữa Sài Gòn xa lạ với hai bàn tay trắng, không có một đồng bạc hay một miếng “mẻ” vàng, theo cách nói của mẹ tôi. Chúng tôi phải đi xin ăn, tôi mắc cỡ nên đi cách xa các em tôi một quãng, đợi các em tôi xin xong thì dắt các em về”. Trong thời gian này, mẹ tôi rất hoang mang lo sợ, gầy xộc hẳn đi. Mẹ con chúng tôi mang đầy ghẻ chóc “bộ đội”, sống không bữa no, chẳng biết làm gì, không tiền không biết đi đâu về đâu. Tối đến mấy mẹ con ôm nhau khóc sướt mướt. Đã vậy vào một buổi sáng, một đoàn bộ đội tiến đến tiếp thu nhà, đuổi mấy mẹ con ra đường. Chúng tôi sống lang thang, đứa xin ăn, đứa nhận bánh bán trả tiền sau.

Khi chính quyền Cộng Sản lập danh sách đi Kinh Tế Mới trong khu gia binh, chúng tôi là những người thuộc diện đi đầu tiên bởi vì chúng tôi không nhà, không hộ khẩu. Nghe Cán Bộ nói cho nhà, cho đất lại còn cấp cho sáu tháng gạo nữa. Vì vậy, chúng tôi có lẽ là những người đi Vùng Kinh Tế Mới trong những đợt đầu tiên của cuộc đời mới.

Ngày lên đường, một hàng xe dài chờ mọi người chất đồ đạc lên xe. Ai cũng tất bật, kẻ khiên người vác, nào là bàn ghế, giường tủ, chén bát và hàng hàng trăm thứ lỉnh kỉnh. Riêng mấy mẹ con chúng tôi chỉ vài túi vải đựng áo quần và đôi cái nồi đen đúa. Đặt biệt là có tấm ván ép mỏng bề mặt bằng khoảng một giường nhỏ, của ai vất bên đường mà mẹ tôi nhặt đem theo để làm giường ngủ.

Đoàn xe lên đến Bình Long, rời đường nhựa len vào dưới tàng cây rậm rạp của rừng cao su bạt ngàn. Qua khỏi rừng cao su đến cánh rừng tre nứa âm u. Để mấy chục gia đình xuống giữa mấy dãy nhà nhỏ lợp tôn, chung quanh không có vách, rồi đoàn xe lăn bánh chạy mất hút.

Chúng tôi được cấp dao chặt cây, cuốc cào và mấy chục ký gạo. Nhận được nhà, mẹ con đem áo quần, nồi niêu vào, đặt tấm ván ép giữa nhà. Ăn xong bữa cơm muối thì trời sập tối, sương mù bao quanh. Mấy mẹ con chùm chăn nằm sắp hàng trên tấm ván, ngủ đêm đầu tiên trên vùng Kinh Tế Mới.. Càng về khuya càng nhiều sương lạnh bao phủ. Tiếng côn trùng rỉ rả, tiếng Nai Mang kêu thất thanh trong rừng, lạo xạo tiếng thú ăn đêm quanh nhà, tiếng nghiến rít của rừng tre gìa kèn kẹt. Chúng tôi lo sợ chập chờn ngủ trong tiếng thì thào của đêm đen. Sáng ra người mấy mẹ con loang lổ ướt lạnh, phần vì sương đêm, phần vì các em nhỏ của tôi đái dầm chảy dài trên tấm ván ép.

Những ngày sau, mẹ và tôi dùng cuốc và dao để phát quang những đám cây khoai Mài, khoai Nần, cỏ dại loang lỗ hố quanh nhà. Chúng tôi phát hiện nhiều rào que thấp cắm chung quanh một cái cọc, có tấm ván nhỏ vẽ hình sọ người với một chữ “Mìn” lẫn lộn trong cây cỏ dại. Có nhiều nơi chỉ còn có cái que nhỏ cắm bên cạnh một khối thép hoen rỉ nửa chìm nửa nổi. Mẹ tôi vội kêu tất cả anh em chúng tôi lại, cấm chúng tôi bước ra các đám cây cỏ, chỉ được đi trên những đường mòn nhỏ.Những ngày kế tiếp mấy mẹ con ở trong nhà không dám bước ra ngoài. Mẹ tôi ngồi hàng giờ, ngày qua ngày nhìn sâu vào rừng không nói năng, đôi lúc nước mắt mẹ chảy dài. Anh em chúng tôi ít cười nói ồn ào vì sợ mẹ la, đôi lúc chúng tôi cũng khóc theo mẹ.

Vài người gan dạ vào rừng hái măng rau về ăn, rồi càng lúc càng đông người đi. Chúng tôi thì chỉ cơm canh muối, rồi cũng không chịu nỗi mẹ gởi tôi và em gái kế cho một người nhà bên cạnh theo họ đi lấy măng, hái rau. Sáng sớm tôi cầm dao, em gái tôi cầm 1 cái bao tời nhỏ, đi theo người đàn ông hàng xóm vào rừng. Trong rừng có rất nhiều măng, mọc giữa những bụi tre, Lồ-Ô to lớn san sát che kín mặt trời. Có những cây tre cao vút, lại có nhiều cây nghiêng ngả ngang dọc la đà đủ các tầm cao thấp. Nhiều cây nằm dài trên mặt đất, cho nên rất khó đi đứng và khó mà lấy được măng. Chúng tôi chui bò vào những bụi tre rậm rạp cố len lỏi để gai tre khỏi cào vào tay vào mặt bẻ những búp măng to dài. Có lẽ người hàng xóm và anh em tôi qúa mải mê tìm măng, nên đã thất lạc 
nhau. Hai anh em tôi sợ qúa, kêu la vang rừng nhưng không có ai trả lời. Chúng tôi vừa đi vừa khóc, phần sợ thú dữ phần sợ trời sắp tối. Tôi quyết định bỏ bớt măng lại cho nhẹ và đi như chạy về hướng ngược lại của mặt trời lặn, vì buổi sáng chúng tôi vào rừng với mặt trời mọc sau lưng. Hai anh em vừa chạy vừa khóc, chạy riết không biết bao lâu. Trời nhá nhem tối thì chúng tôi nghe tiếng mẹ tôi xa xa. Chúng tôi chạy đến gần thì thấy mẹ đứng sau nhà, day mặt lên trời hướng về đám rừng khóc la, kêu hú như điên dại. Gặp chúng tôi mẹ đánh hai anh em tôi túi bụi, khóc cười nước mắt ướt dầm dề.

Tối đó chúng tôi được ăn một bữa cơm ngon gồm có canh măng và măng kho. Mẹ gầy nhỏ, tóc tai rối bời ngồi suốt đêm nhìn chúng tôi ngủ. Sáng ra khi mặt trời chưa mọc, ánh sáng lẫn lộn sương mai. Mẹ thức chúng tôi dậy, tôi thấy áo quần và gạo đã được chia đều ra từng bao nhỏ, những cái nồi cũng đã được bỏ vào bao cẩn thận. Mẹ phân công tôi dắt ba em, hai trai một gái đi trước. Còn mẹ thì dắt ba em gái nhỏ đi sau, cách chúng tôi một quãng độ hai ba trăm mét. Mẹ dặn nếu có ai hỏi thì bảo rằng về thăm ngoại, và cho một em chạy lui báo cho mẹ biết, để mẹ trốn vào ven rừng hai bên đường.

Hồi hộp, sợ hãi chúng tôi bước những bước nhanh trên thảm lá ẩm ướt. Nhiều thú nhỏ ăn đêm nhìn chúng tôi một thoáng, rồi lủi nhanh vào bóng tối. Mỗi lần mệt, chúng tôi trốn vào những bụi cây để nghỉ. Chúng tôi nghỉ rất nhiều lần bởi vì phải thay phiên nhau cõng các em nhỏ. Với nhiều lần nghỉ như vậy, chúng tôi vượt qua rừng dày, rừng thưa và rừng cao su. Thỉnh thoảng vài người bắt gặp chúng tôi, họ ngạc nhiên khi thấy bầy trẻ chúng tôi nhớn nhác đi như chạy.

Nhưng họ cũng không kêu gọi hay hỏi han gì. Chiều đến chúng tôi ra đến đường lộ. Một xe tải cho qúa giang về thị trấn và đêm đó chúng tôi ngủ ở bến xe.Trời sáng, mẹ bán ít gạo đón xe về Sài Gòn. Lang thang ở Sài Gòn mấy ngày, mẹ tôi gặp người quen cho biết cả ông bà nội, ông bà ngoại đều đã về mua đất ở hai làng quê hẻo lánh nằm giữa Cam Ranh và Nha Trang để làm nông.

Mẹ xin một xe khách trả ít tiền để về Cam Ranh. Trên xe chỉ có mẹ tôi là được ngồi trên ghế bồng em gái út, còn chúng tôi thì ngồi dưới sàn xe. Đứa đằng trước, đứa đằng sau, ngồi lẫn lộn với hàng hóa, vịt gà rồi ngủ gà ngủ gật. Đến Cam Ranh, chúng tôi thức giấc lục tục xuống xe. Khi xe đã chạy xa, mẹ phát hiện thấy thiếu mất một đứa em trai. Mẹ khóc thét lên, rồi bỏ chúng tôi ngơ ngác chạy về hướng xe đã khuất, vừa chạy vừa vò đầu bức áo khóc la thảm thiết. Chúng tôi tay dắt nhau, tay xách đồ, bồng bế lếch thếch chạy theo mẹ và cũng đua nhau khóc la thảm thiết không kém. Trời xập tối không một bóng người, không còn thấy bóng dáng mẹ, chúng tôi chạy mệt, khóc khản tiếng đành ngồi bệt bên vệ đường. Một lúc sau mẹ quay lại không nói năng, mắt đỏ hoe bồng bé út dắt chúng tôi bỏ đường quốc lộ đi về hướng ngọn núi xa mờ.Vượt qua mười mấy cây số đường đất dưới trời đêm, mẹ con tìm đến được nhà ông bà ngoại.

Ông bà ngoại tôi có tới mười sáu người con, mẹ tôi là con gái đầu và rất nhiều cậu dì nhỏ tuổi hơn cả chúng tôi. Có điều đặt biệt là cả mười sáu người con đều không mất người nào. Gặp lại ông bà ngoại cùng các cậu dì, mẹ tôi khóc òa kể lể về chuyện lạc mất một đứa con trong khi về đây và cứ nhắc đi nhắc lại rằng sợ khi ba tôi về sẽ trách mẹ. Những ngày kế mẹ tôi cứ khóc ngày khóc đêm, hết nắm tay người này lại đấm lưng người khác trong nhà van xin hãy đi tìm dùm em tôi. Ông bà ngoại cùng các cậu dì rất là khổ sở vì biết bao nhiêu là mối lo. Nào là vấn đề hộ khẩu, công an, du kích hết rình mò lại hạch hỏi tạm trú tạm vắng, nào là không biết lấy gì để ăn. Nhà ông bà ngoại đã đông nay lại thêm bảy tám mẹ con chúng tôi nữa. Cơm gạo đối với chúng tôi hầu như chỉ còn thấy trong cơn mơ những lúc ngủ. Chúng tôi ăn hết Sắn khoai trong nhà ăn ra Sắn khoai ngoài vườn. Ăn cả rễ lá khoai Sắn, rồi ăn luôn rễ chuối, thân cây chuối. Món thường ăn nhất là canh lá khoai Lang cắt nhỏ hòa với bột Sắn. Ông bà ngoại buồn lo, đâm gắt gỏng khi thấy mẹ tôi khóc suốt ngày suốt đêm. Còn các cậu dì thấy mẹ tôi đâu thì tránh đó, vì sợ mẹ tôi bắt đi tìm kiếm em tôi. Nếu mà nắm được ai, mẹ khóc lóc van xin đi kiếm em tôi, người đó cứ đi một vòng ra khỏi nhà, rồi về nói là không tìm thấy.

Trong nhà ông bà ngoại lúc đó, có một ông Dượng chồng của dì tôi là một lính Không Quân VNCH rất cao lớn, cũng về tá túc ở đây. Dượng thấy mẹ tôi ngày nào cũng khóc lóc thẫn thờ, bèn khăn gói áo quần, khoai sắn làm lương thực, dắt xe đạp đi kiếm em tôi. Dượng đạp xe theo quốc lộ 1 dọ hỏi dọc đường. Vượt mấy chục cây số ra tới Nha Trang, mà vẫn không có tin tức gì về đứa em thất lạc.

Dượng la cà ở bến xe Nha Trang thì có người cho hay rằng, trước đây có thấy một bé trai độ bảy tám tuổi ngủ quên trên xe đò, khóc dữ lắm. Chủ xe bèn giao cho một đoàn bộ đội đang trên đường đi, nghe đâu đóng quân ở Tuy Hòa chuẩn bị ra Bắc. Biết đúng là cháu mình, dượng tức tốc đạp xe ra Tuy Hòa cách Nha Trang mấy chục cây số. Đến Tuy Hòa, lần tìm được chỗ bộ đội đóng quân, dượng vào trình bày hoàn cảnh của mẹ con chúng tôi. Bộ đội xác nhận là có nuôi một đứa trẻ thất lạc và cho em tôi ra nhận diện. Sau khi em tôi được hỏi và nhận đúng là người nhà thì bộ đội cho dượng đem em về. Sau mấy ngày tìm kiếm, dượng và em tôi về đến nhà khi mấy mẹ con đang mót khoai ngoài vườn. Nghe tin đã tìm lại được em về, mẹ tung rổ rễ khoai chạy băng băng như cắt qua các luống đất gập ghềnh, vừa chạy lại vừa khóc.

Từ khi tìm được em tôi mẹ hết khóc, cả nhà ai cũng mừng. Nhưng chỉ được một hôm cả nhà lại buồn lo cho miếng ăn hàng ngày. Mẹ hết suy lại tính, không muốn dành ăn của các em nhỏ.. Nên mẹ quyết định chúng tôi sẽ ra đi, dù rằng không biết đi đâu. Lần lừa mãi rồi cũng phải khăn áo ra đi. Ngày chia tay, ông bà ngoại cùng các cậu dì cho mẹ con chúng một bịch khoai khô, kèm theo thật nhiều nước mắt.

Ra khỏi nhà ông bà ngoại, chúng tôi lếch thếch cùng mẹ dọc theo đường đất bụi bặm. Trời nắng gắt, mồ hôi nhớt nhác, ghẻ lở ngứa ngáy, gãi đến chảy máu đỏ dính loang lổ áo quần như là có hoa. Chân bỏng rát, đầu thì ghẻ chí ngứa ran, các em gái tôi phải cạo đầu cho hết chí Chúng tôi ngồi nghỉ bên vệ đường như kẻ ăn xin. Hết mệt lại đi, chúng tôi tìm về được nhà ông bà nội trời vừa tối. Dưới ngọn đèn dầu tù mù, mẹ khóc lóc kể lể trước vẻ mặt cố dửng dưng của ông bà nội. Còn cô tôi thì tránh xa chúng tôi, ngồi khuất lờ mờ trên giường, hình như sợ đám ghẻ trên người chúng tôi vậy. Tối đó mấy mẹ con ngủ dưới đất một giấc say sưa vì mệt. Hôm sau chúng tôi được ăn một bữa no, ông bà nội cho mẹ con ít tiền. Ông nói ông không nuôi nổi thân ông làm sao nuôi một mẹ bảy con chúng tôi được. Ông bà nội tôi có sáu người con, bốn trai hai gái, ba tôi là con trai đầu. Ba tôi và chú kế là sĩ quan An Ninh Quân Đội VNCH, còn hai chú sau là Cảnh Sát. Có điều lạ là bốn người con trai của ông bà nội tôi không ai có một căn nhà riêng cả. Mẹ tôi nhiều lần nhắc ba tôi kiếm một căn nhà để ở và cũng là để dành cho con cái, nhưng ba tôi luôn phất tay nói “Đời còn dài”. Hai chú nhỏ sau là cảnh sát nhưng làm việc đâu ở Dakto, Dakbek gì đó. Ba tôi và chú kế thì hết việc trong sở, lại lo điều tra chống tham nhũng. Chống tham nhũng được gì đâu không biết, chứ mỗi lần moi ra một vụ là mỗi lần gia đình tôi lại theo ba tôi bị chuyển đi Tỉnh khác, Vùng khác. Có lần còn ở tù, có lần sém chết phải tự xin thuyên chuyển đi nơi khác. Vì vậy gia đình tôi hết ở khu gia binh, khu sĩ quan hay ở hẳn trong sở, nhưng nhiều nhất là ở nhà thuê. Ba năm cuối trước ngày 30 tháng 4 ba tôi bị chuyển về Ninh Hòa, nhưng ở nhà thuê gần một chợ quê.

Từ giã nhà ông bà nội, mẹ con chúng tôi ra đi mà chẳng biết đi đâu. Lang thang mấy ngày, mẹ con về đến nhà ông bà ngoại. Lần này gặp lại nhau ai cũng khóc, nhưng ít nước mắt hơn. Được ít hôm ông bà ngoại lại cho khoai sắn khô, để làm luơng thực đi đường. Và lần chia tay ra đi này, mẹ con chúng tôi biết rằng sẽ khó quay trở lại.

Mẹ tôi quyết định trở về vùng Kimh Tế Mới Bình Long. Chúng tôi đi ra ga xe lửa, vô tới Sài Gòn mẹ đổi ý. Chúng tôi không đi đâu chỉ ở trong sân ga, rồi lên tàu về Nha Trang. Tàu đến Nha Trang không có nơi để về, nên lại đi vô Sài Gòn. Cứ thế, hết đón tàu đi vô rồi lại đón tàu đi ra. Chúng tôi như những người sống trên tàu vậy. Một hai lần đầu nhân viên trên tàu còn hỏi vé đuổi xuống. Sau thấy hoàn cảnh của mẹ con chúng tôi, lại thấy mẹ con ngồi lì dưới sàn tàu, đói rách ghẻ lở nên họ lơ đi. Thỉnh thoảng có người cho đồ ăn, có người cho tiền. Không như các em tôi ôm nhau ngủ trong tiếng sập sình như bầy chó con. Tôi ngồi cách xa mẹ và các em làm như một người xa lạ. Nhưng nhìn cách ăn mặc, bộ dạng tôi ai cũng biết tôi ở trong đám ăn xin đó.

Có một lần mẹ con xuống ga Tháp Chàm ở Phan Rang, đi vào trong thành phố xin ăn. Đi suốt ngày không được gì, anh em chúng tôi đói lả khóc rinh rích. Bụng tôi đau âm ỉ từng cơn, bao tử lép kẹp như dính vào xương. Nhưng tôi vẫn phải cõng em trên lưng, chân ê ẩm bỏng rát chỉ mong được nằm lăn ra đất. Trời đêm nhiều sao, mấy mẹ con nằm trên một sạp gỗ trong chợ vắng vẻ. Các em tôi đói, khóc mệt, ngủ vùi miệng nhai nhóp nhép. Kê một cục gạch trên đầu, nghe tiếng lạch bạch của một mái tôn, tiếng ồng ộc trong bụng, mấy ngụm nước lạnh không làm no, tôi không ngủ được. Một người đàn ông trung niên áo quần lôi thôi lếch thếch, tò mò nhìn mấy mẹ con rồi tiến đến hỏi chuyện mẹ tôi. Nghe mẹ kể hoàn cảnh, ông ta bảo mẹ thức anh em tôi dậy theo ông đi đến một gánh 
cháo gà. Ông ta mua cho mỗi người một tô cháo trắng. Tuy không có thịt gà, nhưng mùi thịt và mỡ gà làm chúng tôi không thể ăn chậm được, vèo một cái là hết sạch. Mẹ tôi thì vẫn ăn cái cách chậm rãi của mẹ, thấy các em ăn xong mẹ chia cho các em mỗi đứa một ít. Trả tiền xong, người đàn ông nọ dắt mẹ con tôi về lại sạp chợ ban nãy. Ông ta nói mẹ theo ông vào trong này chút xíu để ông ta cho tiền. Vào sâu giữa chợ hoang vắng, mù mờ, tôi thấy ông ta tay ôm, tay cầm lấy tay mẹ dằng co. Tôi vội chạy vào, đến gần tôi nghe tiếng mẹ tôi khóc năn nỉ, lưng gập lại dật tay ra, miệng nói “không! không! xin ông”. Còn ông ta nói rít nho nhỏ trong cổ họng “trả tiền cháo lại”. Tôi chạy đến đứng giữa nhìn thẳng vào mặt ông ta, sợ qúa hai tay hai chân tôi cứ run lên bần bật không nói được gì. Ông ta cũng không nói, nhìn tôi trừng trừng như đánh gía một cái gì đó. Mẹ tôi nói trong nước mắt “Cám ơn bác đã cho ăn cháo đi con”. Tôi lí nhí cám ơn. Rồi hai mẹ con đi như chạy về thức các em dậy, chúng tôi dắt díu chạy vội ra ga xe lửa. Tim đập thình thịch tôi quay lại, vẫn thấy bóng đen của người đàn ông nhìn theo chúng tôi.

Không thể cứ lang thang hoài được. Mẹ đem chúng tôi về cái làng nơi ở trước ngày chạy giặc. Ở đây hầu như mọi người đều biết mặt nhau. Nên nhiều người vừa ngạc nhiên vừa tò mò nhìn bà vợ sĩ quan và đoàn con tàn tạ đi qua đi lại nơi ở cũ. Nuốt tủi nhục mẹ con đi vào căn nhà thuê thủa nào, gặp một người đàn bà lạ từ trong nhà đi ra. Bà ta cho biết là đang mướn căn nhà này. Nhìn vào trong, tôi thấy đôi ba vật dụng của nhà tôi xưa kia. Mẹ tôi muốn xin lại ít vật dụng, nhưng bà ta lắc đầu không biết chúng tôi là ai rồi đóng cửa lại. Chúng tôi sang nhà bà cô họ của ba tôi xin ở nhờ vài hôm, nhưng vợ chồng con cái bà cô họ không cho. Năn nỉ thật lâu, họ chỉ cho ở trước hiên nhà. Tất cả đồ đạc của nhà tôi trước kia hầu như là đã được khuân về đây. Mẹ xin họ thương tình cho lại ít đồ đạc để bán nuôi con, nhưng hai vợ chồng lắc đầu nói gì tôi không muốn nhớ. Nhìn vào trong nhà họ, tôi thấy hàng giầy dép của ba mẹ, của chúng tôi sắp thẳng tắp, trong khi chúng tôi đi chân đất. Mẹ xin cô dượng cho mỗi đứa chúng tôi một đôi nhưng họ cũng không cho. Trước đây cô dượng vẫn cậy quyền của ba tôi, vừa được ba tôi giúp thật nhiều, đổi đời lòng người cũng đổi thay. Mẹ giận qúa không thèm ở nhờ trước hiên nhà họ, đem chúng tôi ra ngủ ngoài các sạp chợ. Chợ làng này nhóm vào mờ mờ sáng và tan vào lúc một hai giờ chiều. Lúc đó chợ vắng, chỉ còn người quét chợ và chúng tôi. Tất cả các sạp ở chợ này chỉ có mái lợp bằng tôn hoặc bằng tranh. Riêng ở giữa chợ có một cái Ki-ôt bàn hàng vuông vít mỗi bề ba mét là có vách tường, không cửa sổ, chỉ độc một cái cửa nhỏ ra vào. Người chủ không dùng tới, thấy mẹ con tôi đêm đêm ngủ trống trải nên cho mấy mẹ con vào ở nhờ.

Nơi ở đã có, nhưng lấy gì để sống. Mẹ tôi đi mua chịu chuối xanh về dấu chín đem bán, hoặc luộc lên cắt thành từng chùm ba hoặc bốn qủa mà bán. Rồi mẹ lại còn mua thêm mía cắt thành từng khúc ngắn bán cho con nít. Thật là kỳ lạ, đây là thôn quê vậy mà bán rất chạy. Sau buổi chợ, mẹ quay lại nghề mà mười mấy năm trước khi lấy ba tôi, là đi đến các tiệm may nhận may thuê.. Tôi và các em đi lượm mót củi ở trong một nghĩa địa gần đó để nấu ăn. Tối đến trên chiếc chiếu lớn lấm tấm cáu và máu, chúng tôi nằm ngủ ngang dọc. Cánh cửa luôn mở rộng vì hơi người chật chội, vì mùi chuối ủ rơm bốc lên hầm hập, mùi máu ghẻ tanh tanh, mùi nước tiểu đái dầm khai nồng của các em nhỏ, mùi cá thịt. Tôi không ngủ được, vì vậy tôi hay ôm tấm chăn ra ngủ ngoài các sạp gỗ. Trời mờ sáng, khi bắt đầu họp chợ là tôi lẩn ra nghĩa địa. Chờ cho đến khi chợ tan tôi mới về, vì tôi sợ những người đi chợ, sợ đám trẻ con sàng sàng ngang tuổi anh em chúng tôi, tò mò nhìn vào đám rách rưới bên trong Ki-ốt. Nhất là sợ những thằng bạn, những đứa con gái học cùng lớp với tôi trước đây. Thoáng một cái tôi không còn là tôi.

Mẹ thấy tôi cứ ngoài nghĩa địa, ngoài rừng Đước bờ sông, bắt ốc, hái củi trốn tránh người quen. Nên mới nhờ hai vợ chồng dì dượng em mẹ tôi, cho tôi theo làm than trên núi. Kể từ đó, tôi mới biết thế nào là lao động vất vả để kiếm miếng ăn. Dì dượng và tôi ở một cái chòi trên núi. Suốt ngày cưa chặt cây củi, khiêng vác, đào lò đốt than, gánh xuống núi bán. Cả người, tay chân tôi lúc nào cũng ê ẩm. Không ngày nào là không có thương tích, nhiều khi vết thương tay làm độc cương mủ cầm chén cơm, đôi đũa không nổi.

Mấy tháng sau, mẹ nhắn tôi về để đi Kinh Tế Mới. Dân địa phương ở đây đã mấy đợt đi Kinh Tế Mới. Chính quyền thôn xã đã nhiều lần động viên, đe dọa nhiều tháng trời nhưng mẹ tôi cứ lì ra không chịu đi. Họ phải đưa mẹ và một số người ngoan cố lên xem thử vùng Kinh Tế Mới. Thấy vùng này gần, người đông cũng không có đạn mìn thời chiến tranh còn sót lại, nên mẹ và mười mấy gia đình cuối cùng chấp nhận lên vùng Kinh Tế Mới này.

Một con đường đất mới ủi chui sâu vào rừng rậm, là con đường bộ đội dùng để khai thác và chuyên chở gỗ về đồng bằng. Phái đoàn cán bộ bỏ mười mấy gia đình chúng tôi xuống giữa đường rừng. Họ đo bề ngang mỗi quãng 25 mét và chỉ vào rừng gìa âm u nói “Đây là đất thổ cư, đất trồng trọt hoa màu của đồng bào”. Và họ lên xe đi về. Mọi người chỉ còn biết lắc đầu kêu trời.

Hồi trước đi Kinh Tế Mới ở Bình Long chúng tôi còn được cấp dao rựa, cào cuốc còn lần này họ chỉ phát gạo tùy theo đầu người mỗi tháng. Không biết mẹ tôi mua lại của ai được một cái rựa cùn. Hai mẹ con thay phiên nhau cực lực phát quang rừng gìa mà phải làm thật nhanh cho kịp với bà con hàng xóm để cùng đốt rẫy một lần. Nói sao cho siết nỗi cực nhọc của hai mẹ con chân tay yếu ớt, cả đời chưa bao giờ biết khai hoang phát rẫy. Mười lăm ngày vớì nhiều mồ hôi nước mắt trộn lẫn máu mủ, tay chân phồng dộp. Sau khi ngọn lửa ngút trời thêu rụi rừng cây đổ nghiêng đổ ngã, chúng tôi có một mảnh đất. Mảnh đất phủ một màu tro than, ngoằn nghèo rễ cây, ngổn ngang cây đá, cùng những thân cây to đen không cháy hết.

Tôi vẫn nhớ như in ngày mùa hè hôm đó. Giữa nắng trời gay gắt, mẹ và tôi chặt cây, gom củi chân bước ngập tro than hầm nóng, mặt mũi da thịt ướp dày tro đen. Gần chiều bỗng một cơn mưa dông bất thần, những hạt mưa rơi lụp bụp trên mặt thảm tro. Chung quanh bốc lên khói hơi của đất hoang, của rừng gìa, của tro than nồng nồng bịnh hoạn. Mẹ và tôi vội chạy về với các em, đang ở nhà một người lên đây trước, cho chúng tôi ở nhờ trong khi khai hoang làm nhà. Tối đó, mẹ tôi sốt nặng phải đem ra trạm xá. Trạm xá Kinh Tế Mới chỉ là một cái chòi lá vách ván, vài ba lọ thuốc đếm được, một cái giường và một bà mụ gìa được gọi là y tá. Sau khi chích thuốc, cho mẹ tôi uống thuốc, bà y tá nói mẹ tôi bị sốt rét vài ngày sẽ khỏi. Rồi bà ta đi về nhà ngủ. Chúng ngồi ngủ quanh mẹ trên giường. Người mẹ hết nóng lại lạnh, nằm co quắp run cầm cập suốt đêm. Đó là hình ảnh cuối cùng mà tôi được nhìn thấy mẹ còn sống. Không như lời bà y tá đoán, mấy ngày sau bịnh tình mẹ tôi càng nặng phải chuyển lên bịnh viện Huyện. Tôi phải ở nhà giữ các em nhỏ, đứa em gái kế tôi đi theo chăm sóc mẹ. Ở bịnh viện Huyện mấy ngày, mẹ tôi được chuyển lên bịnh viện Tỉnh. Hai ngày sau, mẹ tôi cô đơn chết trong khi em gái tôi chạy ra ngoài pha nước sôi. Tính ra mẹ tôi đi Kinh Tế Mới lần này được một tháng.

Được tin, ông bà nội ngoại vội mướn xe chở xác mẹ tôi về lo đám tang chôn cất vùng nhà ông bà ngoại, vì vùng Kinh Tế Mới ở đây chưa có nghĩa địa. Chúng tôi nheo nhóc về nhà ông bà ngoại, khóc lóc, bu quanh xác mẹ.. Đám tang mẹ tôi không có gì cho người ta ăn uống. Trái lại bà con chòm xóm của ông bà ngoại người cho khoai, người cho sắn. Không có hòm, người ta cho mẹ tôi một tấm ván ép mỏng khoảng một phân, cưa ra đóng thành hòm.

Ngày đưa xác mẹ ra nghĩa trang, chúng tôi đứa nào đứa nấy khăn tang trắng ố vàng dài qúa mông. Người ta khiêng hòm trên vai đi trên con đường gập ghềnh, quanh co ra nghĩa địa nằm cao trên một đồi núi cỏ cây lấp sấp cách xa mấy cây số. Chúng tôi đứa đằng trước, đứa đằng sau, có đứa đi cả dưới hòm của mẹ. Xác mẹ được đem chôn vào lòng đất lẫn hàng ngàn tiếng khóc, hàng ngàn nước mắt của anh em chúng tôi và cũng chôn luôn niềm an toàn được mẹ chở che. Ngay lúc mộ mẹ vừa đắp xong, thì sự cô đơn, nỗi lo sợ bất an bắt đầu lảng vảng chung quanh hay đâu đó trong lòng tôi.

Lo xong cho người chết, nội ngoại hai bên họp bàn lo cho người sống là chúng tôi. Nội ngoại bàn chia anh em chúng tôi ra làm hai, một nửa sống với nội một nửa sống với ngoại. Hỏi ý tôi thế nào, tôi xin nội ngoại hai bên nuôi các em tôi, còn tôi xin được lên lại vùng đất Kinh Tế Mới.. Nơi mảnh đất mà mẹ tôi đã bỏ mạng sống. Các em đều đòi đi theo tôi, cuối cùng anh em tôi đành phải chia ba.

Tôi cùng hai em, một trai một gái lên lại vùng Kinh Tế Mới. Chúng tôi vào rừng đào củ, hái rau để ăn. Vào rừng chặt cây, chặt củi. Vào rừng cắt Tranh để dành làm nhà. Nói là nhà chứ thật ra ngày ông nội, ông ngoại lên giúp chúng dựng nhà mấy ngày, chỉ dựng được cái chòi Tranh cao vuông vứt bốn mét xoay lưng về hướng núi rừng. Và nhà chỉ có một vách mặt trước, vì hết Tranh. Xong việc hai ông nội ngoại ra về.

Đêm đầu tiên trong căn nhà đầu tiên của anh em mồ côi chúng tôi, ba anh em tôi ngủ không được yên giấc. Trời tối đen dày đặc. Mưa không buồn nhưng mưa ầm nước ào, trĩu nặng mái Tranh như muốn đè bẹp căn nhà. Gío hú, gío thốc từ sau hướng không có vách che, mang theo mưa bay vào làm tắt đống lửa giữa nhà. Ba anh em ôm nilon, chăn mền chạy ra đứng trước mái hiên ngủ gật gà. Như trêu ngươi, gío trở chiều, anh em lại vội khăn gói chạy vào trong nhà. Và cứ chạy ra hàng hiên ngủ một chốc, lại chạy vào nhà mơ một lát. Vài lần như vậy người cả ba anh em nửa ướt nửa khô.

Đến nửa đêm, mưa tạnh gío êm. Tiếng côn trùng chui ra từ sũng đất râm ran. Đom đóm xanh xao vật vờ quanh quẩn. Xa xa ngọn núi sau nhà, ẩn hiện những cặp mắt lúc xanh biếc, lúc rực đỏ. Tiếng con gì bay ngang quẹt phải mái Tranh, luống cuống một chốc rồi bay mất hút vào bóng đêm. Hai em lăn ra ngủ vùi, tôi bó gối nhìn vào rừng đêm mịt mùng, lo lắng sợ hãi. Nỗi sợ lúc mơ hồ, lúc hiển hiện bao quanh. Suy nghĩ mung lung, bỗng nhiên thấy thời gian, không gian như lập lại. Cũng tiếng Nai Mang thất thanh trong đêm tối, tiếng côn trùng ỉ ôi, tiếng sột soạt thú rừng kiếm ăn, tiếng tranh giành sự sống của đêm nào trên vùng Kinh Tế Mới Bình Long. Nhưng cuộc sống và con người thì đã đổi thay.

Qua mấy mùa mưa nắng. Chúng tôi kiếm ăn như thú rừng, chân tay mọc thêm u nần. Dân số của vùng Kinh Tế Mới vơi dần. Riêng xóm chúng tôi, có đêm ngủ thức dậy thấy biến mất cả một gia đình. Có gia đình mười người, bỗng một hôm nhân khẩu chỉ còn có năm, rồi hai, cuối cùng không còn ai. Có nhà thì ban ngày ban mặt, mướn xe tải rộn ràng dọn đồ đạc lên xe, chưa hết lời chia tay, quay qua ngoảnh lại thì thấy nhà đã thành nhà hoang. Những căn nhà dọc theo hai bên con đường xưa rộn tiếng người, gìơ vắng vẻ, chỉ còn mỗi túp lều của ba anh em chúng tôi. Những căn nhà không người chăm sóc, mưa nắng, gío bão sụp đổ mau lẹ. Có căn mục nát, rồi đổ ầm xuống một cái thế là xong. Có căn tung vách, tróc nốc chỉa những cái cột siêu vẹo lên trời. Có căn chỉ còn chơ vơ bốn vách để bầy Sóc, bầy Thỏ đôi lúc chạy đùa bên trong..

Qua mấy mùa nắng mưa. Chúng tôi sống như Kinh như Thượng, áo quần mục dần theo thời gian. Màu xanh của cây rừng phủ chụp, lan nhanh trên những vườn tược, trên những căn nhà sụp đổ hoang tàn. Con đường đất rộng lớn xưa nhiều xe cộ qua lại, thưa dần rồi dứt hẳn. Cây cỏ đua chen mọc lên, biến nó trở nên con đường mòn nhỏ cho người dân tộc đi qua. Anh em chúng tôi cố gắng giữ mảnh đất của mẹ cho khỏi rừng xanh bao phủ. Chúng tôi đã gĩư được mảnh đất khỏi màu xanh rừng rú, nhưng đã lạc mất tuổi thơ, tuổi xuân xanh nơi núi rừng vùng Kinh Tế Mới này.

II.

Anh em chúng tôi ít khi nghĩ đến ngày, tháng, năm. Nhưng thời gian vẫn vun vút trôi qua. Chúng tôi thêm tuổi, cây rừng thêm lá,kinh tế mới thêm nhà hoang.

Nhà tôi
Các em thêm tuổi thì chỉ muốn về sống chung với tôi, anh em xum vầy dù đói khổ. Thêm tuổi nhưng chúng tôi vẫn khù khờ hơn những đứa cùng trang lứa. Thỉnh thoảng chúng tôi đốn củi, chẻ tre vác xuống phố bán để mua thực phẩm. Một tuần đôi lần, chúng tôi cầm đèn dầu xuống trường học của kinh tế mới để học bổ túc văn hóa vào ban đêm. Hoặc xuống họp nông hội, tuy nhỏ nhưng tôi không vào đoàn thể thanh thiếu niên của “Bác”, bởi vì tôi là chủ hộ. Những lần đi học như vậy, bọn trẻ tuy có đứa cũng làm bạn với chúng tôi, nhưng đa số là chọc ghẹo, ăn hiếp chúng tôi. Người lớn thì nhìn chúng tôi vừa tò mò vừa thương hại. Tôi thường tránh né những lời thương hại của họ, chúng làm tôi mặc cảm và thấy mình nhỏ bé. Mà mọi người cũng không thể nhìn khác được, bởi vì áo quần chúng tôi mặc không thể gọi là áo quần được. Chúng được vá víu vụng về, bất kể màu sắc, cũ hay mới, quần hay áo. Có khi tay áo vá vào ống quần, hay ngược lại ống quần bóp nhỏ biến thành tay áo. Ði đứng phải cẩn thận, nếu không muốn chúng rách tung ngoài đường.

Ðặc biệt đôi dép của tôi là khó làm cho mọì người nín cười được. Đó là một đôi dép nhựa đứt quai màu nâu, ai vất bỏ trong rừng.. Nó to rộng quá nên tôi cắt gọt cho vừa. Vì dùng dao và bị gọt mất lớp nhựa láng bên ngoài nên trông rất nham nhở. Sau đó tôi khoét lỗ, lấy dây rừng sỏ làm quai dép, mỗi lần đứt quai lại lấy dây rừng xỏ lại. Vậy mà nó cũng theo tôi được mấy năm. Cũng vì áo, vì quần mà tôi bị mất mối tình đầu.

Ba nàng chết trận đã lâu, mẹ con nàng đơn chiếc đi kinh tế mới. Một hôm ba mẹ con nàng đi đốn củi, ghé vào nhà tôi xin nước uống. Thấy hoàn cảnh chúng tôi cũng đơn chiếc như nhà bà, nên mẹ nàng nói rảnh thì xuống nhà bà chơi cho đỡ buồn. Mới gặp nàng lần đầu, trong lòng tôi rộn ràng, vu vơ cảm giác thân quen như tìm lại được hạnh phúc thủa gia đình còn đông đủ.. Cảm giác khó tả đó cứ dâng lên mỗi lần gặp nàng. Thường sau một ngày lao động, đám con trai, con gái mới lớn hay tụ tập lại nhà nàng chơi. Lần đầu mới tới nhà nàng tôi rất ngượng, sau cũng quen. Bọn con trai đàn ca, chọc cười, tán gái. Con gái thì viết thơ, coi bói, làm duyên. Tôi không nói gì với nàng nhiều, chỉ biết nhìn nàng và giúp mẹ nàng làm hết việc nhà. Mẹ nàng thường thưởng công và đãi chúng tôi món bánh tráng chấm mật đường. Từ đó tôi mê cả món mật đường của mẹ nàng và nàng. Tôi thường đến chơi, giúp cuốc đất trồng khoai, nhổ mì gọt sắn, việc lớn việc nhỏ trong nhà nàng đều có tay tôi dính vào. Tụi bạn có đứa chọc tôi “Việc nhà thì nhác việc cô bác thì siêng”. Ai cũng xem như tôi làm rể nhà nàng. Nhờ lì, ít nói, siêng làm nên nàng yêu tôi. Bọn con trai hết còn dám tán tỉnh nàng. Ði đâu tôi cũng hãnh diện, khoe khoang nàng là người yêu của tôi.

Mùa hè năm đó, chúng bạn rủ nhau đi tắm suối. Quần đùi bên trong của tôi rách quá, nên tôi về nhà lôi cái váy đầm học trò, đồ viện trợ duy nhất còn sót lại, mới như chưa mặc một lần. Cái váy xếp ly đó, ngắn cách đầu gối một gang tay, bằng vải ca-tê mỏng màu xanh lá non, sọc trắng. Không biết tại sao chúng tôi có nó lâu rồi nhưng không mặc. Có lẽ kiểu cách của chiếc váy không phù hợp với dân lao động chúng tôi. Tôi xòe nó ra, đặt xếp đôi trên bàn, cắt một miếng hình tam giác dưới vạt, khâu lại thành cái đáy quần đùi. Xỏ hai chân vào cái quần đùi mới may, mang quần dài vào, tôi chạy lại nhà nàng cùng đám bạn đi tắm suối. Tới suối bọn con gái mặc luôn quần dài và cả áo mà tắm. Con trai chúng tôi thì ở trần, mặc quần đùi. Khi tôi cởi áo, quần dài ra thì cả bọn, trai lẫn gái đều sửng sốt, trợn mắt nhìn tôi chằm chằm. Tôi nhìn xuống chân. Trời ơi! Không như tôi nghĩ, nó không biến thành cái quần đùi, mà vẫn là cái váy xếp, xòe rộng lất phất trong gió. Ngượng quá tôi nhảy ùm xuống nước trong tiếng cười rộ của tụi bạn. Họa vô đơn chí. Nhảy xuống nước cái quần đùi của tôi bọc không khí vào trong, nổi phùng lên như một cái phao dù màu xanh bao bọc quanh tôi. Lũ bạn bò lăn ra cười. Ðiên tiết tôi đè cái “dù” xanh của tôi xuống, lặn một hơi thật xa không thèm tắm gần bọn chúng. Bơi mệt tụi nó lên bờ nằm nghỉ. Lò dò đi lên, nhìn xuống chân, tôi giật thót cả người. Cái quần đùi của tôi ướt, mỏng dính, bó sát lấy thịt da như không mặc gì.. Tôi vội ngồi thụp xuống nước. May quá chưa có đứa nào thấy. Nguyên ngày cho đến chiều, tôi ngâm mình dưới nước, không một lần lên bờ. Mặc cho tụi bạn kêu réo, xin lỗi, mặc cho nàng năn nỉ, tôi nhất định ngâm mình dưới nước. Trời chiều, không kiên nhẫn với tôi nữa, mấy đứa bạn bỏ về hết. Chỉ còn mình nàng, nàng năn nỉ tôi đưa nàng về. Tôi vẫn không chịu lên bờ, giận tôi nàng đi về một mình. Cẩn thận nhìn quanh không còn ai, tôi đi lên bờ, chui vào bụi rậm vắt quần đùi cho khô, mặc quần dài vào rồi chạy một mạch về nhà.
Nàng
Về nhà buồn, mặc cảm. Nghĩ thân phận mồ côi nghèo hèn, thân mình còn lo còn không nổi, làm sao nghĩ đến lo cho nàng. Không thể giải thích cho nàng những điều khó nói, từ đó tôi không đến nhà nàng nữa. Gặp nàng xa xa, tôi tránh đi đường khác. Nếu không tránh được nàng, tôi làm mặt xa lạ như chưa bao giờ biết nhau. Năm sau, một gã thanh niên từ thành phố lên cưới nàng, đem cả gia đình nàng về thành phố. Từ đó không bao giờ tôi còn được găp lại nàng nữa.

Cuộc sống niềm vui thì ít, sự buồn thì nhiều. Cũng may, chúng tôi còn trẻ và không có nhiều giờ rãnh để buồn. Nhưng điều phiền phức thì khó có thể tránh né. Một trong những điều phiền phức đó là tôi không nhận ra được các em gái tôi đã lớn, đã thành thiếu nữ. Cho đến lúc thấy bọn con trai trong làng kéo đến nhà tôi chơi càng lúc càng đông, tôi mới biết. Ðó cũng là lúc tôi thấy trách nhiệm “Quyền huynh thế phụ” của mình nặng hơn cả trách nhiệm cơm gạo.

Ðiều phiền của tôi lúc đó là bọn công an, xã đội, du kích thôn xã. Mỗi tối chúng chia nhau đi tuần khắp làng, rồi trở về điểm hẹn tập trung là nhà tôi. Chắc vì nhà tôi không có người lớn. Chúng cứ gõ cửa xét nhà bất kể giờ giấc, bắt tôi thức dậy thắp đèn lên, chúng soi dọi đèn pin lên trần, dưới gầm, vào giường các em, bới móc thúng rỗ, nồi nêu, áo quần kể cả những miếng vải vụn của các em gái tôi chúng cũng không từ. Vừa lục soát như nhà không người, chúng vừa nói cười hô hố. Có nhiều đêm chúng ngồi trước sân nhà tôi, ăn uống cười nói oang oang, nồng nặc mùi rượu, hứng lên lại gõ cửa xét nhà.

Sợ nhất là mấy thằng say xỉn, phá làng phá xóm. Băng quậy phá toàn những đứa xưa chăn trâu xứ này. Lợi dụng chăn trâu, chúng bới cơm, đem thuốc nuôi cha ông, bà con của chúng là cán bộ, du kích trốn trong rừng. Bây giờ cha ông, bà con của chúng là Tỉnh Ủy, Huyện Ủy, Chủ Tịch, Công An, nhỏ nhất cũng Bí Thư Xã. Bọn chúng một chữ cũng không biết, không làm gì được, chỉ làm biếng nên suốt ngày rượu chè say sưa. Chuyện ăn hiếp người dân, phá làng phá xóm, muốn đánh ai thì đánh của chúng thì không sao kể hết được. Những ai không biết, nghe một hai chuyện của chúng thì đã khiếp, thấy đâu tránh đó. Một bận có nhóm bộ đội đóng quân khai thác gỗ gần làng, xuống làm quen con gái trong xóm. Nhóm bộ đội và tụi nó kình nhau, thấy bộ đội có súng nên chúng nhịn. Ðêm sau phục kích hai bộ đội trên đường về trại, chúng xông ra thủ sẵn tre vót nhọn đâm hai bộ đội chết tại chỗ. Cán bộ ở trên xuống bắt chúng về điều tra, mấy ngày sau thấy chúng về nhà phây phây, lại có thêm tiền nhậu lớn nữa. Từ đó chúng càng phá làng phá xóm hơn. Có lần sau khi nhậu say, chúng ra lịnh làm lễ “Tắt Ðèn”.. Chẳng ai hiểu gì hết, sau mới biết là khi chúng đi đến xóm nào thì xóm đó phải tắt hết đèn, nếu nhà nào không tắt đèn, chúng sẽ xông vào đập phá nhà đó. Nhiều khi làm lụng ngoài nương rẩy về, vừa mới dọn cơm tối ra ăn, chưa kịp ăn mà nghe chúng đi ngoài đường gào lên “Tắt Ðèn!” thì phải tắt đèn ngay. Cũng may chúng chỉ làm lễ “Tắt Ðèn!”có vài lần thì chán không muốn chơi nữa.
Em tôi
Bọn chúng cũng đến nhà tán tỉnh, chọc ghẹo các em gái tôi thường. Chúng xin đưa em gái tôi đi chơi, tôi không chịu, tụi nó tức lắm nhưng vì đang tán em gái tôi nên chúng nhịn. Theo hoài không được, chúng nó rình sáng sớm em tôi gánh rau Lang ra chợ bán. Bọn nó bao vây định cưỡng ép, em tôi vất gánh rau chạy về được. Tôi làm đơn kiện ra xã, thì ủy ban xã chỉ gọi hai bên lên giải hòa rồi thôi. Từ đó chúng hay tới nhà tôi quậy phá luôn, có lần đập phá đồ đạc, còn hăm dọa đốt nhà. Ði trình báo công an, công an cũng không tới giải quyết. Một hôm chúng đến bao vây nhà, đòi tôi đi mua rượu cho chúng uống. Tôi ngồi trên giường trả lời không có tiền, thì tên đầu đàn cung tay đánh một cùi chỏ vào giữa mặt tôi. Tôi té lật ngang, tay ôm mặt, không đau nhưng tôi choáng váng không thấy gì một thoáng. Ðịnh thần trở lại, tôi thấy máu từ trong mũi mình chảy ra đỏ cả mặt cả áo. Các em tôi khóc la kêu cứu xóm làng. Tay ôm mặt tôi gượng ngồi dậy trên giường như không có gì xảy ra. Thằng đầu đàn lại hỏi “Mày có chịu đi mua rượu không?” Tôi lắc đầu. Nó nắm tay lại giơ lên cao đấm vào đầu tôi, tôi bật ngửa, trong đầu máu như sôi lên nóng ran. Lồm cồm ngồi dậy, máu trong mũi tôi lại chảy ra. Thấy tôi ngồi lên, nó lại hất hàm hỏi tiền, tôi lại trả lời không có tiền. Thực sự là chúng tôi không có tiền, nhưng nó tưởng tôi ngoan cố. Nó vung chân đạp thẳng vào bụng tôi, tôi nghe miệng tôi thoát ra một tiếng “Hự” khô khan, ruột như rách ra. Tôi đứng dậy, cố giữ hai chân cho vững, tay vịn vào thành giường. Nó bước lui một bước, trợn mắt nhìn, tôi nói, Nếu các anh không muốn chúng tôi sống ở đây, ngày mai chúng tôi sẽ khăn gói ra đi. Chúng nó chửi tôi thêm mấy câu tục tỉu nữa, rồi kéo nhau đi. Tôi nằm vật ra giường, thấy mình mẩy đau quá, nhất là cái mũi. Nhìn lên trần nhà, vừa đau vừa ức, nước mắt tôi chảy ra ròng ròng không cầm được. Tôi khóc như một đứa con nít. Không biết sao, từ đó chúng không quậy phá nhà tôi nữa.

Một trong những niềm vui hiếm hoi, nhưng to lớn của chúng tôi là nhận được thư của ba tôi báo tin còn sống. Ba tôi hiện đang “cải tạo” tại trại tù thuộc tỉnh Thanh Hóa tận ngoài Bắc. Trong thư ba viết vẫn khỏe, khuyên chúng tôi cố gắng sống chờ ba về, và nếu có thể thì đi thăm ba một chuyến, hoặc gởi ít quà cho ba. Ðọc thư ba chúng tôi mừng quá, cứ như người bơi kiệt sức thấy bến bờ. Chúng tôi liền viết thư cho ba, tha hồ trút hết buồn đau, côi cút.. Tôi quyết định phải đi thăm ba tôi một lần, nhưng tiền đâu, quà thăm nuôi đâu mà đi. Chúng tôi trở lại nghề ăn xin. Ông bà ngoại cho một bao cát (loại bao dùng đựng cát, làm hầm chống bom đạn) khoai lang luộc, xắt lát phơi khô. Ông bà nội cho con chó giữ nhà, làm thịt, đem kho mặn để ăn cho được lâu. Ông nội cũng còn cho một xị rượu đế, bỏ ít rể cây vào rồi ghi bên ngoài chai là rượu thuốc trị đau lưng. Chúng tôi đi đến các nhà bà con, người quen hay các bạn cũ của ba tôi mà chúng tôi biết để xin tiền. Cuối cùng cũng gom được ba bao cát quà nhỏ và một ít tiền. Quà thì chỉ khoai khô, sắn bột, gạo rang, bánh tráng và ít đường cát. Nói chung chỉ toàn sản phẩm của thôn quê.. Tôi gánh hai bao, em gái tôi vác một bao cùng lên đường.

Ðường đi ra Bắc thăm cha thật gian nan không kể xiết. Trời lạnh, áo không đủ ấm, chúng tôi phải luôn quấn tấm nylon quanh mình, lúc đi cũng như khi ngủ. Chúng tôi hết đi tàu lửa, rồi đi xe hàng trăm cây số. Ði ghe qua sông, qua suối, lại đi bộ hằng mấy chục cây số mới đến được trại tù heo hút. Dọc đường gặp những người cũng đi thăm tù, thuê người gánh hàng bao tải thực phẩm. Hai anh em tôi nhìn lại ba bao quà tí xíu của mình mà buồn. Cán bộ nói sẽ cho cha con ăn chung một bữa cơm. Chúng tôi vội thổi cơm, nấu đồ ăn dọn sẵn chờ ba chúng tôi ra ăn. Ba tôi mặc bộ đồ tù đi ra, phải một lúc chúng tôi mới nhận ra nhau, rồi cứ ngồi nghẹn ngào khóc suốt cả buổi thăm nuôi. Nói chuyện không được bao nhiêu thì hết giờ. Tôi rút hết tiền ra trao cho ba tôi, chỉ chừa lại chút ít đủ để ăn trên đường về. Ba tôi tháo gỡ quà ra cho cán bộ xét, rồi cất gánh đi vào, đi vài bước lại quay nhìn chúng tôi. Ðợi ba tôi khuất bóng, chúng tôi chuẩn bị đi về. Trên đường ra khỏi trại tù “cải tạo”, tôi thấy nhiều người tù ăn mặc phong phanh cuốc đất trong cái rét kinh hồn của miền Bắc, cái rét mà người ta nói là cá cũng phải chết nổi lên mặt nước. Một người tù gìa đứng gần lề đường, nháy mắt với tôi chỉ vào một bụi rậm. Nhìn vào trong bụi cây, thấy một bó thư, tôi vội lượm nhét vào bụng. Nhìn quanh thấy yên, tôi cởi áo ấm và lấy tấm ni-lon dùng để che mưa gió của tôi nhét vào bụi rậm. Ði một đoạn tôi cúi xuống tháo đôi giầy vải ném vào lề đường. Mấy người tù gần đó thấy vậy vẫy tay chào cám ơn. Trên đường về chúng tôi nhẹ nhàng quá, không còn gì. Nhưng càng đi càng lạnh, máu ở bàn chân như đông cứng lại. Chân tôi từ từ sưng đỏ lên, không còn cảm giác. Ðường về càng dài hơn, phần không có tiền đi xe đành đi bộ, phần chân đau cứ đi vài cây số lại phải nghĩ. Chúng tôi quá giang xe, đi tàu chui (không vé) về tới thành phố Vinh thì may sao gặp một chiếc tàu chở than đá vào Huế. Chúng tôi nằm lăn trên than ngủ vùi. Ðến Huế chúng tôi nhảy xuống sông Hương, tắm rữa cho sạch bụi than. Rồi lại đi tàu chui mà về Nam . Về đến nhà hai bàn chân tôi sưng đỏ, căng bóng lên hết mấy tuần. Cứ mỗi lần nhìn vào hai bàn chân sưng húp, đỏ như hai bắp chuối sứ, là tôi lại chảy nước mắt vì sợ và nhớ ba tôi. Gần mười năm ba tôi ở tù “cải tạo”, chúng tôi chỉ đi thăm được hai lần như vậy.

Kinh tế mới này ruộng thì ít, rừng rẫy thì nhiều vậy mà cũng bị đưa vào hợp tác xã nên đời sống ở đây càng tệ hại hơn. Người làm lụng trực tiếp thì ít, người lao động gián tiếp thì nhiều. Nông dân chỉ làm lấy lệ, vì làm điểm nhiều nhưng lúa gạo chẳng bao nhiêu. Nhân số cán bộ sấp sỉ nhân số xã viên. Từ tổ trưởng, tổ phó lên đội trưởng, đội phó. Từ thôn trưởng, thôn phó lên xã trưởng, xã phó. Rồi còn kiểm soát tổ, đội, thư ký, kế toán, thủ trưởng (chủ nhiệm hợp tác xã), thủ phó, thủ qủy, thủ kho v.v.. Nói chung đi đâu cũng đụng cán bộ. Cán bộ chẳng làm gì, ôm cặp sách chỉ tay năm ngón. Cán bộ chỉ đi bắt bớ, đi tán dóc, tán gái, la cà uống cà phê. Vậy mà cuối vụ, lãnh lúa gạo vẫn nhiều hơn xã viên. Mấy năm sau hợp tác xã giải tán, cán bộ chia nhau đất ruộng tốt, dành cho nông dân xã viên phần ruộng xa đất xấu.

Phần anh em chúng tôi cũng vậy, sống nhờ rừng nhờ suối. Sống trong rừng riết, chúng tôi biết nhìn cây, nhìn rong rêu đoán hướng đi. Biết bẫy thú rừng để ăn. Biết phân biệt rau qủa rừng nào ăn được, cái nào không. Nấm nào độc, nấm nào lành. Vào rừng không có nước biết chặt cây lấy nước uống. Hái trái rừng làm xà phòng giặc áo quần…. Tóm lại chúng tôi cứ như là sinh trưởng trong rừng vậy, chẳng còn chút hơi hướng thành phố. Thế mà anh em chúng tôi cũng có vài lần suýt chết vì rắn rết chui vào gầm giường, vì ăn trúng độc. Có một lần đào được mấy củ nần, đem ngâm dưới suối chưa tan hết chất độc, đói quá luộc lên ăn. Trưa hôm ấy cả mấy anh em đều lăn ra hôn mê không còn biết gì.. May có người đi rừng ngang qua, báo bà con dưới xóm lên cứu chữa. Cũng có lần ăn hột đậu rựa, vì không làm kỹ, anh em tôi chóng mặt, nhức đầu, ói mửa nằm la liệt. May bữa đó tôi ăn ít, tuy có say sẫm nhưng cũng còn sức đi xuống kêu cứu với xóm làng.

Cuối cùng ba tôi cũng được thả về. Ba tôi đi thăm ông bà nội ngoại, rồi gom các em nhỏ cùng về xum họp một nhà. Chúng tôi mừng lắm, nhất là tôi, như trút bỏ được gánh nặng, thấy từ đây cuộc sống sẽ khá hơn. Ba tôi vừa làm cha vừa đóng vai mẹ. Sắp xếp việc trong việc ngoài, nấu nướng bữa ăn hằng ngày cho chúng tôi đi rừng kiếm gạo, kiếm tiền. Tưởng rằng cuộc sống sẽ tốt hơn, nhưng không nó cũng vậy mà còn tệ hơn. Ở vùng kinh tế mới này ba tôi là người có cấp bực lớn nhất của chế độ cũ đi tù về, nên du kích, công an hay rình mò, mời lên mời xuống hoài. Nhà thì nhỏ, người thì đông, ba tôi lấy tre làm thêm giường. Nhà thêm người nhưng gạo tiền, khoai sắn chẳng thêm ra. Ba tôi gần mười năm trong tù đã quen nếp sống đói khổ một mình. Nay ra ngoài thấy cuộc sống khó khăn hơn, đói khổ một nhà nên đâm ra khó tính, gắt gỏng la mắng anh em tôi suốt ngày. Chúng tôi cứ nghĩ dại, chắc ba bị tiêm thuốc tẩy não nên tính tình mới thay đổi như vậy. Cuộc sống cha con, anh em chúng tôi cứ trôi qua trong căng cứng phiền muộn, no đầy tủi cực.

Mấy năm sau, nhiều người lo thủ tục giấy tờ đi Mỹ diện H.O. Ba tôi sợ, không tin cộng sản nên không chịu làm giấy tờ ra đi. Bởi vì có mấy người bạn cùng tù “cải tạo”của ba tôi, loan báo tin tức chương trình H..O. trước khi nhà nước công bố nên bị bắt đi tù trở lại. Sau này nhiều người đã đi Mỹ rồi, ba tôi cũng không nhúc nhích gì. Cho đến lúc ông bác họ của ba tôi qua Mỹ gởi thư về nhiều lần khuyên bảo, ba tôi mới muộn màng đi tìm hiểu lo thủ tục giấy tờ xuất cảnh. Cái khó khăn bấy giờ của cha con chúng tôi là tiền đâu để lo thủ tục. Ba cùng tôi chạy đến anh em, bà con họ hàng xin xỏ vay mượn. Ðược chừng nào thì lo chừng đó, thiếu lại chạy đi xin, đi mượn nữa. Thật tình cha con chúng tôi cũng không hy vọng gì mấy. Làm hồ sơ thì làm chứ không có đủ tiền để lo lót đến nơi đến chốn làm sao đi được, chỉ cầu may. Chúng tôi cứ nghĩ rằng, kiếp chúng tôi không thể nào thoát khỏi cảnh rừng rú này.

Chờ đợi mấy năm, nhận được giấy báo, rồi giấy phỏng vấn, gia đình chúng tôi vẫn không tin là thật. Cứ như mơ chúng tôi chạy vay tiền bạc, vào Sài Gòn phỏng vấn, khám sức khỏe. Lòng luôn phập phồng lo lắng trục trặc hay có sự gì đổi thay. Số chúng tôi luôn không được suông sẽ, phải ở lại thêm sáu tháng để tôi uống thuốc chữa bịnh phổi. Cái khó của chúng tôi là không tiền và ở ngoài Trung quá xa Sài Gòn. Ðành chấp nhận, chạy ra chạy vô, chắp vá tiền bạc. Cuối cùng chúng tôi cũng bò lết tới được ngày ra đi.

Dù không biết ngày mai ra sao, không nghề nghiệp, học vấn, tiếng Anh không có gì, chúng tôi cũng có lo lắng qua Mỹ làm gì để sống. Nhưng chắc một điều là sẽ sung sướng, tự do hơn ở đây rất nhiều, nên chúng tôi thấp thỏm chờ đợi ngày đi. Ngày đi Mỹ đã tới, chúng tôi bỏ nguyên lại nhà cửa, vật dụng, bỏ lại những thứ rách rưới đã bao năm cùng chúng tôi. Vài bộ áo quần vào Sài Gòn, như là hành trang bước vào một giấc mơ. Chỉ sợ khi tỉnh giấc, lại phải quay về vùng kinh tế mới sống nốt đời hoang dã.

Ðiều may mắn hiếm hoi đến trong cuộc sống mọn hèn của chúng tôi, làm chúng tôi không dám tin rằng, đời mình mà cũng có ngày hôm nay. Ngồi trên máy bay rồi, tôi cũng chưa chắc sẽ được đi Mỹ. Cho đến lúc máy bay rời khỏi mặt đất, tôi mới dám nói lời: Vĩnh biệt kinh tế mới.

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Về một tâm hồn Việt

—————————— —————-
Image may contain: 1 person, outdoor
Nhà thơ nhà văn Trần Mộng Tú (Ảnh:Uyên Nguyên)
 
Nếu quý vị mở cuốn sách giáo khoa dạy văn chương “Glencoe Literature” do nhà xuất bản McGraw Hill ấn hành, quý vị sẽ thấy một bài thơ của một thi sĩ Việt Nam dịch sang tiếng Anh đi song song với bài diễn văn nổi tiếng của Tổng Thống Abraham Lincoln trong thời Nội chiến Mỹ, tại bãi chiến trường Gettysburg. Đó là bài thơ của Trần Mộng Tú, The Gift in Wartime, nhan đề tiếng Việt là “Quà Tặng Trong Chiến Tranh.”
 
Hai tác phẩm trên được đem ra để dạy học sinh môn văn chương Hoa Kỳ. Trong phần thứ ba của cuốn sách giáo khoa, viết về văn chương thời kỳ nội chiến Nam Bắc ở Mỹ và sau cuộc nội chiến, các nhà soạn sách giáo khoa của công ty Glencoe – McGraw Hill, rất thông dụng trong các trường trung học ở Mỹ đã có sáng kiến đem bài thơ Trần Mộng Tú, qua bản dịch Anh ngữ cho học sinh nghiên cứu song song với bài diễn văn trầm hùng của Abraham Lincoln, so sánh cách dùng chữ, cách chọn hình ảnh, những ý tưởng trong mỗi bài của hai tác giả. Đây là một kinh nghiệm văn chương quý báu mà các học sinh Mỹ được hưởng khi tiếp xúc với một thi sĩ ngoại quốc để thấy hậu quả của chiến tranh trên tâm hồn một phụ nữ Việt Nam cũng mang những tính chất nhân bản và sâu sắc không khác gì vị Tổng Thống mà tất cả mọi người Mỹ đều quen thuộc. Có lẽ sau này học sinh Việt Nam khi học về văn chương thời nội chiến Nam Bắc ở thế kỷ 20 cũng sẽ có cơ hội nghiên cứu bài thơ của Trần Mộng Tú.

Bài thơ “Quà Tặng Trong Chiến Tranh” được viết ở Việt Nam, khi thi sĩ còn rất trẻ, từ những xúc động trước cái chết của một chiến sĩ quân lực Việt Nam Cộng Hòa, người yêu đầu của cô, sau đó đã được đăng trên các tạp chí khắp nơi ở hải ngoại.
 
Bài diễn văn do Tổng Thống Lincoln đọc ngày 19 tháng 11 năm 1863 trong dịp khánh thành một nghĩa trang cho các tử sĩ tại chiến trường Gettysburg, tiểu bang Pennsylvania. Trước ông, một chính trị gia và nhà hùng biện nổi tiếng đã nói suốt 2 giờ; đến lượt Lincoln ông chỉ nói trong vòng 2 phút. Sau buổi lễ, các nhà báo tường thuật không ai nhắc đến những lời Lincoln nói, nhưng dần dần dân tộc Mỹ đã nhận ra đó là một tác phẩm văn chương bất hủ, xuất phát từ tấm lòng của một nhà lãnh đạo vốn rất ghét chiến tranh nhưng phải dẫn đầu nước Mỹ trong một cuộc chiến bất đắc dĩ và đã thành công trong việc bảo vệ một quốc gia thống nhất với những lý tưởng tự do, bình đẳng. Câu nói được cả thế giới ngày nay nhắc lại nhiều lần kết thúc bài diễn văn ca ngợi các chiến sĩ đã hy sinh để một “chính phủ của dân, do dân, và vì dân sẽ không bị hủy diệt trên trái đất.”
 
Cuốn sách giáo khoa tiếp theo đã giới thiệu thi sĩ Trần Mộng Tú, sinh ở tỉnh Hà Đông,Việt Nam, người phụ nữ có kinh nghiệm chính mình sống với những hậu quả của cuộc chiến tranh trong đó hai triệu người Việt Nam thiệt mạng cũng như 57,000 người Mỹ. Sau khi đọc bài thơ Trần Mộng Tú, học sinh được hướng dẫn với những câu hỏi để khám phá những cảm xúc mà tác giả gợi cho người đọc cũng như tìm hiểu nội dung bài thơ. 
Cuốn sách giáo khoa cũng gợi ý cho học sinh tìm hiểu về kỹ thuật, học sinh tự hỏi tại sao thi sĩ đã dùng các điệp ngữ và nhắc lại các hình ảnh để gây ấn tượng nợi người đọc. Sau đó, các học sinh được mời so sánh hai áng văn chương cùng viết trong thời nội chiến ở hai quốc gia, hai thế kỷ khác nhau. Abraham Lincoln đọc bài diễn văn của ông trước một đám đông, và ông nhắm vào công chúng. Còn Trần Mộng Tú viết một mình, cho mình. Nhưng học sinh có thể tìm thấy những mục đích và cảm xúc giống nhau trong hai tác phẩm ngắn này. Học sinh cũng được dịp tìm hiểu khai phá sự khác biệt giữa hai nền văn hóa của hai tác giả, và thử hỏi một người Mỹ thời nay nếu viết về chiến tranh thì sẽ viết giống tác phẩm nào.
 
Để quý vị thông cảm với tác giả Trần Mộng Tú, chúng tôi xin đăng lại nguyên văn 2 bài thơ của thi sĩ bằng tiếng Việt dưới đây. Bài Quà Tặng Trong Chiến Tranh (Trong American Literature textbook) và bài Giấc Mơ Hòa Bình (Trong Vision of War, Dream of Peace)
Quà Tặng Trong Chiến Tranh
 
Em tặng anh hoa hồng
Chôn trong lòng huyệt mới
Em tặng anh áo cưới
Phủ trên nấm mồ xanh
Anh tặng em bội tinh
Kèm với ngôi sao bạc
Chiếc hoa mai màu vàng
Chưa đeo còn sáng bóng
Em tặng anh tuổi ngọc
Của những ngày yêu nhau
Đã chết ngay từ lúc
Em nhận được tin sầu
Anh tặng em mùi máu
Trên áo trận sa trường
Máu anh và máu địch
Xin em cùng xót thương
Em tặng anh mây vương
Mắt em ngày tháng hạ
Em tặng anh đông giá
Giữa tuổi xuân cuộc đời
Anh tặng môi không cười
Anh tặng tay không nắm
Anh tặng mắt không nhìn
Một hình hài bất động
Anh muôn vàn tạ lỗi
Xin hẹn em kiếp sau
Mảnh đạn này em giữ
Làm di vật tìm nhau.
Tháng 7/ 1969
 
 
Giấc Mơ Hòa Bình
 
 
Em nghe nói hòa bình
Trên những tờ nhật báo
Em nghe nói hòa bình
Trên miệng người lãnh đạo
Em để lòng khờ khạo
Ôm giấc mơ hòa bình
Mong chiến tranh chấm dứt
Anh giã từ đao binh
Tin về từ trận tuyến
Anh chết giữa chiến trường
Ôi giấc mơ khờ khạo
Chỉ còn là đau thương
Từ khi em ra đời
Từ khi có trí khôn
Em thấy toàn chém giết
Em thấy toàn máu xương
Từ khi em biết nghe
Từ khi em biết nói
Toàn những lời giả dối
Toàn những lời hứa suông
Từ khi em biết yêu
Từ khi em biết nhớ
Anh đã dặn đợi chờ
Rồi anh không về nữa
Ôi giấc mơ khờ khạo
Ôi giấc mơ hòa bình
Xây giữa lòng tham bạo
Chết trước khi thành hình
Ôi lòng non bé nhỏ
Như giấy trắng thơm tho
Vết mực đen loang lổ
Làm hoen ố hồn thơ
Em đã biết giận thù
Biết cuộc đời dối trá
Trang nhất nói hòa bình
Trang tư toàn cáo phó
Em không còn bồng bột
Tin những lời đầu môi
Em bắt đầu tỉnh ngộ
Thì đã mất anh rồi
Ôi giấc mơ hòa bình
Anh trả bằng sự sống
Em trả bằng tủi hờn
Bằng một đời đơn độc
Tháng 7/1969
Cao La ( sưu tầm )
 
 
 
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Tô Kiều Ngân và mặc khách Sài Gòn

  Viên Linh

 


Nhà thơ ngâm sĩ Tô Kiều Ngân (1926-2012).
Trong thập niên 80’ thế kỷ trước, khi phụ trách một chương trình sinh hoạt văn học nghệ thuật cho đài phát thanh – lúc ấy ông Vũ Quang Ninh là giám đốc chương trình đài Việt Ngữ của cơ sở truyền thông đầu tiên của người Việt hải ngoại tại miền Nam California – tôi có làm một chương trình 15 phút gọi là Sinh Hoạt Văn Học Nghệ Thuật, ngoài phần tin tức mỗi chương trình có mục nói về một nhân vật nổi tiếng trong giới văn nghệ sĩ tại miền Nam trong khoảng 20 năm lịch sử 1954-1975; hai người phụ trách chính, vừa viết bài vừa trình diễn, là Viên Linh và Khúc Lan. Chương trình rất giản dị: ngoài phần tiểu sử người nghệ sĩ được nói đến, ví dụ nghệ sĩ Hồ Điệp – giọng ngâm vàng trong không gian âm thanh – chúng tôi nhắc đến tiểu sử của bà, nói đến một hay hai chương trình bà đã là nhân vật chính, ví dụ Ban Tao Đàn của thi sĩ Đinh Hùng, chúng tôi còn phát thanh lại ít nhất là một đoạn thơ do bà đã trình diễn, đã ngâm lên.

Chương trình bắt đầu và tiến triển mỗi tuần một lần, một năm khoảng 50 lần, và kéo dài khoảng hai năm, và chúng tôi đã có một bộ vừa văn bản vừa băng nhựa, đĩa nhựa, chân dung ngâm vịnh với thơ và nhạc, của gần trăm văn nghệ sĩ. Có thể gọi bộ đó là một cuốn sổ nhân văn, gồm tiểu sử và tác phẩm nhiều văn nghệ sĩ, ngày nay, khi những dòng chữ này được viết ra, có ít ra là 108 nhân vật trong giới văn học nghệ thuật Việt Nam trong và ngoài nước, phần lớn cho tới ngày nay, là những người đã quá cố.

 

Nhìn lại sinh hoạt văn học nghệ thuật của hơn 40 năm ở hải ngoại, và nhân đó, 20 năm ở miền Nam, thật là đồ sộ, chỉ tiếc là người Việt hải ngoại không có một hàn lâm viện, không có một hội văn nghệ sĩ có gốc nguồn lâu bền từ quá khứ, đó là một điều vô cùng đáng tiếc. Nét chính của sự thiếu sót này căn nguyên lớn là là lực phá hoại tự thân của lưu dân, và nhất là chủ trương và hoạt động được tài trợ của những kẻ gây ra cuộc lưu vong. Nhưng không vì thế mà không có những người yêu văn hóa, cộng với các thành phần xã hội ngưỡng mộ tiền nhân vì nước, không hành động hay kém đi hoạt động. Có nhiều công trình vẫn thành hình.

Hãy xét về Tháng Mười, chỉ trong Tháng Mười, nhiều tài liệu cho thấy chúng ta có thể tìm ra được và kể ra được công trình của những trí thức văn nghệ sĩ như sẽ kể ra dưới đây.

Chỉ trong Tháng Mười, chúng ta có:

Tạ Trọng Hiệp, Tháng Mười 1996
Bùi Giáng, Tháng Mười 1998
Hà Thượng Nhân, Tháng Mười 2011
Tô Kiều Ngân, Tháng Mười 2012

Xa hơn nữa chúng ta nếu đã có tuổi, có thể còn biết đến những người đã ra đi lâu hơn:

Bàng Bá Lân, Tháng Mười 1988
Quang Dũng, Tháng Mười 1988
Trần Văn Tuyên, Tháng Mười 1976
Đỗ Tốn, Tháng Mười 1973

Cứ làm như thế từng tháng một, chúng ta sẽ có việc làm cả năm. Trong tám người kể trên có 5 thi sĩ..

Mục này đã từng viết về các thi sĩ Bàng Bá Lân, Hà Thượng Nhân, lần này chúng ta nhớ đến một người song hành vừa trình diễn thơ, ngâm thơ, và cũng làm thơ nhưng không nhiều, đó là Tô Kiều Ngân.

Người ta gọi ông là thi sĩ, cũng thường gọi ông là ngâm sĩ, vì ông làm cả hai việc, mà ngâm thơ trên làn sóng đài phát thanh là việc ông làm thường xuyên mỗi tuần. Ông tên khai sinh là Lê Mộng Ngân, sinh năm 1926 tại Huế, khoảng giữa thập niên 50 nổi tiếng qua làn sóng phát thanh bằng giọng ngâm thơ và tiếng sáo của ông hơn là bằng ngòi bút. Đó là một người hoạt động thi ca hơn là sáng tác thơ văn. Những năm đó Ban Tao Ðàn là một hiện tượng sinh hoạt văn nghệ rất được hâm mộ, không riêng với một Tô Kiều Ngân mà còn với những người trong ban, ngoài Đinh Hùng còn có Thanh Nam giữ phần biên tập, còn có Quách Đàm, Hồ Điệp, Hoàng Thư, Hoàng Oanh. Ngoài tiếng sáo và giọng ngâm, Tô Kiều Ngân còn cùng nhà văn Thanh Nam chủ trương tờ tuần báo Thẩm Mỹ và cộng tác thường xuyên với tờ Tiểu Thuyết Thứ Năm hay Tiểu Thuyết tuần san. Về thơ ông xuất bản được thi phẩm “Ngàn Năm Mây Trắng.”

Sau 1975 và thật muộn màng, phải hai năm sau khi ra đi vĩnh viễn Tháng Mười, 2012,  tác phẩm “Mặc Khách Sài Gòn” của ông mới được ra đời. Đây là một ấn phẩm trang nhã do Nhã Nam xuất bản, bìa mộc mạc màu gỗ, với chân dung các nhân vật nghệ sĩ được viết đến ở bên trong, Tô Kiều Ngân may mắn thay còn để lại cho bằng hữu và người đọc người nghe, nói chung là giới thưởng ngoạn và yêu chuộng nghệ thuật còn lại, tác phẩm tâm huyết của ông nhan đề “Mặc Khách Sài Gòn.”

Ông giải thích như sau trong “Lời Nói Đầu:”

“Mặc Khách Sài Gòn” là từ chỉ các văn nhân thi sĩ cùng những người hoạt động nghệ thuật, mong muốn đem tài hoa, tim óc ra tô đẹp cho đời. Chữ “khách” hàm ý chỉ những người của đám đông, được nhiều người lưu tâm hay ngưỡng mộ. Mặc Khách Sài Gòn khá đông, mỗi người một vẻ, không chỉ một lúc mà viết hết được, nên chỉ xin giới hạn trong một số người mà tác giả may mắn quen biết, giao du hoặc cùng hoạt động chung trong một môi trường nghệ thuật.” Những người được thể hiện qua ngòi bút của Tô Kiều Ngân qua những bài viết nhan đề như sau. Nhan đề mang tính văn nghệ, nên người điểm sách sẽ ghi chú bên cạnh cho rõ hơn:

-Nhà văn An Nam khổ như chó: Viết về nhà thơ Nguyễn Vỹ (trang 7)

-Ai xuôi vạn lý: Viết về nhạc sĩ Lê Thương, tác giả ba bản Hòn Vọng Vu.

-Để ta tròn một kiếp say: Viết về Vũ Hoàng Chương.

-Trời cuối thu rồi em ở đâu: Viết về thi sĩ Đinh Hùng.

-Thương về năm cửa ô xưa: Viết về họa sĩ Tạ Tỵ, tác giả bài thơ nổi tiếng về Hà Nội.

-Tấm thân với mảnh hình hài: Viết về thi sĩ Bùi Giáng.

-Cho tôi về Ký Con: Ký Con là tên con phố ở Sài gòn, nơi Mai Thảo sống trong căn nhà phố dùng làm tòa soạn tạp chí Sáng Tạo.

-Chưa bao giờ buồn thế; Một lời nhạc của Cung Trầm Tưởng.

-Về yêu hoa cúc: Một nửa câu thơ của Nguyên Sa: Tóc nàng vàng tôi về yêu hoa cúc.

-Gối đầu trên đại bác: Hoàng Trúc Ly

-Lao vào lửa: Thụy Vũ

-Cánh đồng con ngựa chuyến tàu: Một câu thơ của Tô Thùy Yên.

Ba bài sau cùng trong tập sách viết về Nhã Ca, Nguyễn Thị Hoàng và Phạm Thiên Thư.

Tác giả Tô Kiều Ngân tên thật là Lê Mộng Ngân, ra đời tại Huế năm 1926, mất tại Sài Gòn, Tháng Mười 2012.

Cuốn “Mặc Khách Sài Gòn” dày 270 trang, do Hồng Đức xuất bản, Nhã Nam tổng phát hành, trình bày nhã nhặn, giản dị mà phong cách rất sang. Cảm ơn cô Quỳnh Hương, con gái tác giả Tô Kiều Ngân, đã gửi cho chúng tôi cuốn sách này từ 2014, nay mới có dịp nói đến. (Viên Linh)

__._,_.___
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Cám Ơn Đời

Cảm ơn đời mang anh đến bên em
Cho em thấy được ngọt ngào hạnh phúc
Được bên anh trong từng giờ từng phút
Tim rộn ràng theo tiếng gọi tình yêu
Chút nhớ nhung em gửi gắm bao điều
Những lời hứa cho mối tình trọn vẹn
Tỏa hương sắc cùng bao lời ước hẹn
Khi xa rồi lòng trống vắng mênh mông
Đã yêu rồi anh có nhận thấy không
Một nỗi nhớ cồn cào dâng trong dạ
Khúc tình mộng đang ngân lên rộn rã
Để nhớ hoài vòng tay ấm đê mê
Bao yêu thương từng đêm cứ hiện về
Cứ lặng lẽ theo em vào giấc ngủ
Làn môi thắm vẫn còn luôn ấp ủ
Nụ hôn nồng mà anh đã từng trao.
Tùng Nguyễn
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Còn Lại Đây

Em ra đi còn mình tôi ở lại 
Dấu chân buồn hụt hẩng lối quen xưa 
Đoạn đường nào che bóng dưới cơn mưa 
Và khoảng nắng chói chang tình hai đứa 
Em ra đi mang hồn tôi một nửa 
Vì bàng hoàng tôi quên cả nửa kia 
Nên chập chờn thao thức giữa đêm khuya 
Tìm trong dãy mộ bia vùng kỷ niệm 
Em đi rồi vùng trời sao tím lịm 
Trăng cũng buồn soi chẳng sáng bao nhiêu 
Để lòng này nghe thêm chút cô liêu 
Và thương nhớ theo mây chiều bao phủ 
Em đi rồi còn mình tôi ủ rủ 
Nhìn lại đời sao lấp lánh rêu xanh 
Cuộc tình này còn đây chút mong manh 
Và khoảng trống chờ em về che kín.
 HNLC
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Chuyện kể về thuốc trụ sinh

Mùa phát giải thưởng Nobel đang xảy ra, ta hãy ôn lại một giải thưởng Nobel có tính cách lịch sử liên quan đến thuốc trụ sinh penicillin.

 

Bắt đầu vào khoảng cuối thế kỷ thứ 19, rất nhiều nhà khoa học và y sĩ đã quan sát và miêu tả tính chất diệt vi khuẩn của một số nấm và mốc, trong đó có cả loại nấm tên là Penicillium. Quan sát và miêu tả, nhưng hầu hết không đưa ra một lời giải thích nào thỏa đáng. Mãi cho tới năm 1928, khoa học gia người Tô Cách Lan, tên là Alexander Fleming, tình cờ nhận thấy trên đĩa cấy vi trùng Staphylococcus, một loại nấm màu xanh lá cây mọc lấn vào và ngăn chặn sự sinh sản của những con vi trùng Staphylococcus ấy. Tò mò, ông ta tiếp tục cấy riêng những nấm ấy, sau này có tên là Penicillium chrysogenum và lọc ra chất thuốc gọi là “penicillin”. Thoạt đầu ông ta chỉ muốn dùng “chất thuốc” lọc được để làm thuốc tẩy rửa, khử trùng bên ngoài mà thôi. Sau đó, một số bác sĩ đã thí nghiệm sử dụng thuốc penicillin vào việc chữa trị nhiều loại bệnh nhiễm trùng khác nhau. Do phát hiện thuốc trụ sinh penicillin, ông Alexander Fleming được giải thưởng Nobel vào năm 1945.

 

Sự khám phá ra thuốc trụ sinh penicillin được xem là một loại thuốc huyền diệu. Trước khi penicillin ra đời, một vài vết xướt hay vết trầy nhỏ cũng đủ bành trướng thành những u nhọt nhiễm trùng nặng, đưa đến việc cưa cắt tay chân. Thời đó, cứ 10 người bị sưng phổi có đến 4 người tử vong, và có khoảng 10 người trong 1,000 sản phụ sẽ mất mạng vì sanh nở. Con số thống kê nầy lấy được từ những bệnh viện “cao cấp”, trên thực tế, số tử vong còn cao hơn gấp bội. Chưa kể đến số lượng người bị điếc vì nhiễm trùng lỗ tai, bị mù vì bệnh giang mai hoa liễu, hoặc hàng trăm hàng ngàn binh lính tử vong vì thương tích ngoài mặt trận.

 

Sự thành công của penicillin đã khiến nhiều công ty dược phòng ráo riết đi tìm thêm những thuốc trụ sinh mới. Nhiều dược phòng đã yêu cầu các nhà truyền giáo ở khắp năm châu, hay những chiến sĩ đi hành quân xa gửi về những mẫu đất, những loại rêu, meo, mốc và nấm đủ loại để tìm tòi ra thuốc trụ sinh mới. Công ty Lederle đã xin những mẫu đất thu nhặt được trong khuôn viên trường Đại Học University of Missouri. Một trong những mẫu đất lấy được từ trong đống cỏ dại của khoa Nông Nghiệp, có chứa một loại vi khuẩn tiết ra một chất màu vàng kim loại. Chất thuốc nầy có khả năng tiêu diệt nhiều thứ vi trùng mà chính penicillin cũng chịu thua. Thuốc được đặt tên là Aureomycin (Aurum theo tiếng latin có nghĩa là kim loại vàng). Công thức hóa học của Aureomycin là chlortetracycline, chính là tiền thân của các loại thuốc tetracyclin hay doxycyclin ngày nay.

 

Cũng trong thời gian nầy, sau Thế Chiến Thứ 2, để cung ứng cho nhu cầu thực phẩm, những trại chăn nuôi gà theo kiểu công nghiệp bắt đầu phát triển mạnh mẽ. Người ta tìm mọi cách để thúc cho gà nuôi chóng lớn, tăng cân và đẻ nhiều trứng, nhưng không có kết quả hữu hiệu. Lại tình cờ, khi chữa bệnh cho gà, công ty Merck khám phá ra rằng thuốc trụ sinh streptomycin khi trộn với thức ăn cho gà, cho dù không cần tăng nguồn thức ăn, sẽ làm cho gà tăng cân mau chóng. Lý do, một sản phẩm phụ của thuốc streptomycin chính là vitamin B12.

 

Vì thuốc Aureomycin có cấu trúc tương tự như streptomycin, năm 1948, một khoa học gia tên Thomas Jukes, làm việc cho hãng Lederle, để cạnh tranh, tiến hành một cuộc thử nghiệm thuốc Aureomycin, cho trộn vào thức ăn của gà. Kết quả cho thấy những con gà được “cho ăn” thuốc trụ sinh tăng cân nhiều hơn. Những cuộc thí nghiệm tương tự trên các loại gia cầm khác cũng cho thấy kết quả tương tự.

 

Mặc dù thuốc Aureomycin được đăng ký là thuốc trụ sinh cho người, nhưng lại ghi là “thuốc bổ” cho gà và gia súc. Kể từ đó thuốc Aureomycin (chlortetracycline) được tiếp tục sử dụng rộng rãi trong công nghiệp nuôi súc vật để lấy thịt. Một phần làm cho thú vật chóng lớn, phần khác để phòng ngừa bệnh tật khi mà súc vật được nuôi chen chúc trong những chuồng trại chật hẹp.

 

Không riêng gì thú vật, khoảng giữa thập niên 1950’s người ta bắt đầu tiến hành những cuộc thí nghiệm “bán chính thức” trong con người, ở những nước nghèo như Guatemala và Kenya. Bằng cách cho trẻ em còm cõi “ ăn” thêm thuốc trụ sinh, người ta thấy hiện tượng tương tự, các trẻ con nầy tăng cân mau chóng. Thế là, người ta bắt đầu trộn, ngâm thuốc trụ sinh vào thịt cá được bày bán ở các siêu thị. Thuốc trụ sinh được bán không cần toa, trộn luôn vào kẹo chewing gum, kem đánh răng, nước súc miệng, thậm chí son môi thời ấy cũng có thuốc trụ sinh!

 

Ngày nay thuốc Aureomycin và nhiều loại trụ sinh khác vẫn được tiếp tục sử dụng trong “kỹ nghệ chăn nuôi”, kể cả hải sản tôm cá nuôi trong lồng. Bạn có thể Google tìm mua thuốc Aureomycin trên mạng internet với giả rẻ mạt, $15 dollar một pound. Đó là giá bán lẻ, còn giá bán sỉ cho trại chăn nuôi còn rẻ hơn bội phần.

 

Vấn đề là thuốc trụ sinh đi theo nguồn thức ăn thâm nhập vào cơ thể con người. Nghiên cứu cho thấy, thuốc trụ sinh vẫn còn tác dụng làm tăng cân, gây béo phì. Sử dụng thuốc trụ sinh lâu dài sẽ giết hại những con vi khuẩn tốt trong đường ruột. Có hàng nghìn tỉ vi khuẩn tốt sống ký túc trong ruột già của chúng ta. Những con vi khuẩn nầy giúp chống bệnh tật vì chúng cạnh tranh với những con vi trùng khác, giúp giảm nguy cơ bị bệnh tiểu đường và béo phì bằng cách giảm sự thẩm thấu của đường vào mạch máu, và nhiều hiệu ứng tốt khác. Một khi lượng vi khuẩn tốt bị giệt chủng, những con vi trùng độc sẽ bùng phát. Thí dụ như vi trùng C. difficile làm tiêu chảy kinh niên, mà cách chữa trị có khi phải cấy ghép phân của người mạnh khoẻ.

 

Có một điều khác mà người ta đã coi thường đó là sự lờn thuốc trụ sinh. Ngay từ thập niên 1940’s, chính ông Fleming, “cha đẻ” của thuốc trụ sinh cũng đã lên tiếng về khả năng bị lờn thuốc do sự lạm dụng.

 

Thuốc penicillin có tác dụng ngăn chận không cho vi trùng xây dựng được màng tế bào của chúng được vững chắc. Khi màng tế bào yếu, những vi trùng dễ bị vỡ và chết. Hiệu ứng này về lâu về dài, vi trùng tìm cách biến hoá để chống lại thuốc.

 

Trong nhiều năm qua, vi trùng đã lờn thuốc, rất nhiều loại thuốc đời con, đời cháu và đời chắt, bà con nội ngoại của thuốc penicillin đã lần lượt ra đời. Sớm nhất vào năm 1961 như Ampicillin, Amoxicillin, rồi Methicillin, Nafcillin, Oxacillin, Cloxacillin, Dicloxacillin, Flucloxacillin, đến Carbenicillin, Ticarcillin, Temocillin, và Mezlocillin. Cuối cùng là Piperacillin, Clavulanic acid, Sulbactam, Tazobactam… Ôi thôi đủ thứ!

 

Gần đây các cơ quan chức năng ý tế đã không ngừng lên tiếng cảnh báo về nguy cơ bị lờn thuốc. Sẽ có một ngày, không có thuốc kháng sinh nào trên trái đất nầy có thể diệt được vi khuẩn! Thế là hết thuốc chữa!

 

Một phần có thể vì không có biên giới giữa thuốc dùng cho súc vật và loài người, phần khác chính con người cũng lạm dụng thuốc bừa bãi. Ngày nay gần 70% vi trùng có thể ảnh hưởng đến cả người lẫn súc vật.

 

Hiện tại các bác sĩ cho người lẫn thú y đuợc khuyến cáo nên hạn chế sử dụng thuốc trụ sinh. Riêng về nghành chăn nuôi, các nghiên cứu được thúc đẩy để bớt sử dụng thuốc trụ sinh với mục tiêu thúc đẩy tăng cân.

 

Trở lại với cuối thập niên năm 1950’s ở tại một làng quê hẻo lánh miền Trung Việt Nam, có một em bé khoảng 5 tháng tuổi bị sốt hôn mê suốt hơn 10 ngày và thường bị làm kinh phong liên tục cho dù đã được “thầy lang” chữa trị bằng tàn nhang và nước lạnh có pha tro đốt từ bùa ngải. Không thể để mất con, mẹ của em bé bèn lặn lội đón tàu lửa, mang em vào Bệnh Viện Trung Ương Huế để được chữa trị. Một bác sĩ người Pháp đã chẩn bệnh cho bé là bị sưng màng óc (meningitis), và cho uống thuốc trụ sinh bột có màu vàng kim loại. Sau năm ngày thuốc, em bé tỉnh hẳn và được cho xuất viện. Những viên thuốc đã cứu sống đứa bé ấy có tên là Aureomycin, loại thuốc mà ngày nay được bán rất rẻ tiền để thúc cho gia súc mau lớn tăng cân. Còn đứa bé ấy, hôm nay, chính là người đang viết bài nầy, kể “chuyện cổ tích” về thuốc trụ sinh!

BS Hồ Ngọc Minh

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

THỔI HỒN VÀO ĐÁ CUỘI

 Đá cuội ở sông suối không phải là thứ xa lạ đối với hầu hết mọi người. Tuy nhiên, khi xem những viên đá cuội đã được nữ họa sĩ Ernestina Gallina “thổi hồn”, chắc chắn người xem không khỏi thán phục.
 
alt
Họa sĩ Ernestina Gallina đến từ Cenestino, nước Ý. Từ khi còn là một đứa trẻ đã biết cách biến những vật tầm thường thành những vật độc đáo lạ mắt.
Lúc nhỏ, bà Gallina rất đam mê lĩnh vực hội họa, thiết kế. Tuy nhiên, do gia đình Gallina không ủng hộ sự lựa chọn này của bà cho nên bà không có cơ hội để phát triển tài năng của mình cũng như không ghi danh tham gia học tập tại bất kỳ trường nghệ thuật chính thống. Bà chỉ thể hiện tài năng nghệ thuật của mình như là một thú vui giải trí.
 
alt
Năm 1987, bà cùng với gia đình chuyển đến thành phố Nairobi, ở Kenya để sinh sống. Tại đây sự nghiệp hội họa của bà được thăng hoa.
Gallina kể lại, vào một hôm tại thư viện, vô tình bà đã vấp phải một cuốn sách được trưng bày trên những bức tranh đá. Từ hôm đó bà bắt đầu suy nghĩ về cách biến những viên đá cuội bình thường ở sông suối thành những tác phẩm nghệ thuật.
Đây chính là điểm mấu chốt giúp bà kết hợp và phát huy được niềm đam mê nghệ thuật cùng với tình yêu thiên nhiên đất trời. Kể từ đó, bà đến với nghệ thuật vẽ tranh trên đá như một điều tất yếu và không bao giờ ngừng lại được.
Sau 3 năm làm quen với công việc vẽ tranh trên đá, bà Ernestina Gallina đã có thể dạy lại những bí quyết vẽ tranh trên đá cho nhiều học viên, đến năm 2003 bà đã thành lập câu lạc bộ vẽ trên đá đầu tiên tại Ý.
 
Xin mời các bạn chiêm ngưỡng một số tác phẩm của bà Ernestina Gallina:
 
alt
 
alt
alt
alt
alt
alt
alt
alt
alt
alt
alt
alt
alt
alt
alt
alt
alt
alt
alt
alt
alt
alt
alt

alt

alt
alt

ST 

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

10 điều cấm kỵ khi ăn CUA

 

View Image   View Image

1. Kỵ ăn cua chết

Trong cơ thể cua có chứa nhiều thành phần hóa học mang tên histidine (có công thức phân tử C3H3N2CH2 (NH2)CO2H). 
Cua sau khi bị chết, các loại vi khuẩn liền phồn thực rất mạnh trong cơ thể cua, khiến histidine nhanh chóng chuyển hóa thành histamine (công thức phân tử C3H3N2H4 NH2) gây độc đối với cơ thể người.
Đặc biệt là cua chết càng lâu thì lượng histamine sinh ra càng nhiều, khi ta ăn vào càng dễ bị ngộ độc. Bởi vậy, một khi cua đã chết (dù là cua bể to rất đắt) phải kiên quyết loại bỏ, không tiếc rẻ!

2. Kỵ ăn cua đã luộc, nấu chín nhưng để đã lâu

Thịt cua để lâu rất dễ bị ôi thiu, ô nhiễm do vi khuẩn xâm nhập vì vậy, với cua nên chế biến đến đâu ăn hết đến đó. 
Nếu thực sự xài không hết, phần dư nên bảo quản trong tủ lạnh, hoặc để nơi thoáng đãng, sạch sẽ, và nên nhớ trước khi ăn phải đun nấu lại thật kỹ.

3. Kỵ ăn cua sống

Bởi trong thịt cua sống có chứa nang trùng “lungfluke” (trùng hút máu phổi, còn gọi là đỉa phổi), nếu không qua khử trùng tiêu độc ở nhiệt độ cao mà ăn sống ăn tái kiểu “gỏi cua” sẽ rất dễ mắc bệnh “đỉa phổi”. 
Loại lungfluke ký sinh trong phổi, không những kích thích hoặc phá hoại các tổ chức phổi, dẫn tới ho, khạc ra máu, mà còn có thể xâm nhập lên não, dẫn tới chứng co giật, thậm chí gây bại liệt. 
Nếu lungfluke xâm nhập các khí quan như mắt, thận, gan, tim, tủy sống vv…, còn dẫn tới các hậu quả nghiêm trọng hơn. Bởi vậy cua phải nấu thật chín mới được ăn, phải qua đun sôi tối thiểu 20-30 phút.

4. Không ăn “bọng hoi” (dạ dầy) của cua 
Bởi trong có chứa nhiều loài vi khuẩn gây bệnh và tạp chất có độc.

5. Người bị dị ứng phải hết sức cẩn trọng khi ăn cua

6. Tuyệt đối không ăn cua kèm quả hồng
Bởi chất tannin chứa trong quả hồng sẽ kết hợp với chất protein trong thịt cua, sẽ gây nên các triệu chứng như lợm giọng, nôn ói, đau bụng, tiêu chảy vv…

7. Người tỳ vị hư hàn không nên ăn cua
Cua tính hàn, dễ gây đau bụng, tiêu chảy. Bởi vậy, với người tỳ vị hư hàn không nên ăn nhiều cua, nếu ăn mà xuất hiện các triệu chứng trên, có thể dùng bài thuốc tía tô (15g) phối hợp với sinh khương (gừng tươi) 5-6 lát, đổ nước ninh kỹ, uống nóng ấm sẽ “cầm” ngay.

8. Với người đang mắc các chứng bệnh: như sỏi mật, viêm túi mật, viêm dạ dầy mạn tính, viêm loét hành tá tràng, viêm gan không nên ăn cua.

9. Với người bệnh tim (động mạch vành), cao huyết áp, xơ vữa động mạch, mỡ máu cao… kỵ ăn gạch cua, vì trong gạch cua có hàm lượng cholesterol cực cao, ăn vào sẽ làm bệnh càng trầm trọng.


10. Với người mắc chứng thương phong (cảm cúm), phát sốt, đau dạ dầy… cũng kiêng ăn cua.

ST

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

15 đất nước tốt nhất thế giới năm 2017

Theo nghiên cứu mới nhất từ Báo cáo tin tức và thế giới của Hoa Kỳ thì đứng đầu các nước tốt nhất thế giới hiện nay là Thụy Sỹ. Trong khi đó, bất ổn chính trị trong suốt năm 2016 đã khiến Hoa Kỳ trượt ba bậc trong khi Đức tụt từ vị trí thứ Nhất trong năm ngoái xuống vị trí thứ Tư.

Tổ chức này đánh giá 80 quốc gia theo nhiều tiêu chí, từ kinh tế đến dân cư và chất lượng cuộc sống, thông qua việc khảo sát hơn 21.000 lãnh đạo doanh nghiệp, các công dân tiêu biểu và công dân nói chung. 
 
Đây là báo cáo chuyên sâu lần thứ hai, có sự cộng tác với Tập đoàn tư vấn BAV của Y&R và Trường Wharton của Đại học Pennsylvania.
 
Dưới đây là 15 nước đứng đầu trong danh sách bảng xếp hạng:
1. Thụy Sỹ
alt
Đất nước châu Âu nhỏ đã giành được vị trí thứ nhất nhờ hệ thống xã hội tiến bộ, bảo vệ nhân quyền và môi trường kinh doanh thân thiện
 
2. Canada
alt
Canada có chất lượng cuộc sống cao hơn bất kỳ nước nào, có nghĩa là nó có tính kinh tế và chính trị ổn định, thân thiện với các gia đình và có hệ thống giáo dục và y tế công cộng phát triển.
 
3. Vương quốc Anh
alt
Anh và Bắc Ailen đã tránh được cú sốc của cuộc trưng cầu dân ý về vấn đề EU để giữ vị trí cao trong bảng xếp hạng. Vương quốc Anh nhờ thế đứng vị trí thứ Ba nhờ ảnh hưởng văn hoá của nó.
 
4. Đức
alt
Nỗi lo lắng về dòng người tị nạn vào các nước châu Âu và một loạt các vụ tấn công khủng bố dẫn đến một kết quả yếu trong xếp hạng năm 2017 của nước Đức. Nó đã bị tụt 3 bậc từ vị trí thứ Nhất xuống vị trí thứ Tư trong năm nay. Tuy nhiên, Đức vẫn được coi là nước tốt nhất trên thế giới về tinh thần kinh doanh.
 
5. Nhật Bản
alt
Nhật Bản đã tăng hai bậc lên vị trí thứ năm trong năm nay, nhờ sự ổn định chính trị và kinh tế. Quốc gia này xếp trong top 10 về lĩnh vực kinh doanh, các nền kinh tế đang lên và các quốc gia có ảnh hưởng văn hoá nhất.
 
6. Thụy Điển
alt
Thụy Điển là quốc gia Bắc Âu xếp hạng cao nhất trong danh sách. Nó được coi là đất nước tuyệt vời nhất cho phụ nữ, nuôi dạy con cái, và sống xanh.
 
7. Hoa Kỳ
alt
Gần 75% số người được hỏi cho biết họ đã mất “sự tôn trọng” đối với lãnh đạo Hoa Kỳ sau cuộc bầu cử tổng thống. Đất nước này bị rơi khỏi một số mục xếp hạng đất nước tốt nhất cho kinh doanh, quốc tịch, giáo dục và minh bạch – nhưng nó vẫn là quốc gia hùng mạnh nhất trên trái đất.
 
8. Úc
alt
Đứng thứ hai chỉ sau New Zealand về quốc gia tốt nhất trên thế giới để nghỉ hưu, Úc cũng được coi là một trong những quốc gia tốt nhất để các công ty đặt trụ sở kinh doanh
 
9. Pháp
alt
Pháp đã mất một bậc trong bảng xếp hạng năm nay bởi sự bất ổn chính trị trong nước. Báo cáo cũng đã phát hiện ra rằng Pháp là quốc gia Châu Âu ít tiếp nhận các chính sách nhập cư nhất
 
10. Na Uy
alt
Na Uy là một trong bốn nước thuộc top 15 có thủ tướng nữ và đứng đầu trong bảng xếp hạng về quyền công dân, có nghĩa là nước này có những chính sách xã hội và môi trường tiến bộ nhất trên thế giới.
 
11. Hà Lan
alt
Là một quốc gia tương đối trẻ, Hà Lan đã đi một chặng đường dài đáng kể. Đây là quốc gia đầu tiên trên thế giới hợp pháp hoá hôn nhân đồng tính, đồng thời giữ thái độ tự do về ma túy, mại dâm và phá thai.
 
12. Đan Mạch
alt
Theo báo cáo, Đan Mạch là nước tốt thứ hai trên thế giới để nuôi dạy trẻ em, chỉ sau Thụy Điển
 
13. Phần Lan
alt
Có lẽ không đáng ngạc nhiên khi các nước Bắc Âu chiếm đến vài vị trí trong danh sách. Phần Lan đạt được tỷ số cao trong đa số các hạng mục và đứng đầu bảng xếp hạng về tính minh bạch.
 
14. New Zealand
alt
Nổi tiếng vì cảnh quan tuyệt vời của nó, New Zealand còn được ca ngợi vì sự tự do tôn giáo và bình đẳng giới. Trong báo cáo, New Zealand là quốc gia tốt nhất trên thế giới để nghỉ hưu.
 
15. Singapore
alt
Thành phố đảo quốc Singapore vẫn giữ vững vị trí của mình trong bảng xếp hạng năm nay và coi là một trong những quốc gia tốt nhất để đầu tư.
Hữu Nguyên
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Thiếu chất này tăng nguy cơ bệnh tiểu đường, tim mạch

Sự thiếu hụt vitamin D có liên quan đến hàng loạt các vấn đề sức khỏe như tăng nguy cơ mắc bệnh Alzheimer, tiểu đường, loãng xương và bệnh tim mạch, thậm chí là ung thư.

 

Theo báo cáo của Nutrition Research, khoảng 42% người trưởng thành ở Mỹ thiếu chất vitamin D, trong khi một số nghiên cứu khác báo cáo con số này lên tới 75%.

Vitamin D rất quan trọng đối với cơ thể con người, nó đóng vai trò chính trong việc bảo đảm hoạt động của cơ bắp, tim, phổi và chức năng hoạt động của não. 

Sự thiếu hụt vitamin D có liên quan đến hàng loạt các vấn đề sức khỏe như tăng nguy cơ mắc bệnh Alzheimer, tiểu đường, loãng xương và bệnh tim mạch, thậm chí là ung thư. Thêm vào đó, nếu bạn được chẩn đoán mắc ung thư vú hoặc ung thư tuyến tiền liệt, cơ hội sống sót của bạn sẽ thấp hơn nếu cơ thể thiếu vitamin D.

Mặc dù số liệu thống kê này gióng lên hồi chuông báo động về tình trạng thiếu chất dinh dưỡng, tuy nhiên, hầu hết mọi người thường không để ý đến điều này. Vitamin D là vi chất đặc biệt không có quá nhiều trong các loại thức ăn hàng ngày (trừ cá hồi, sữa chua và sữa).

Thiếu chất này tăng nguy cơ bệnh tiểu đường, tim mạch: Bạn có thuộc nhóm người đang thiếu? - Ảnh 1.

(Ảnh minh họa)

Cách duy nhất để cơ thể nhận được dưỡng chất này nhiều là tiếp xúc với ánh nắng mặt trời buổi sáng, trong khi đó hầu hết những người làm công việc văn phòng không thể làm được việc này.

Giám đốc của GrassrootsHealth – tôt chức phi lợi nhuận với mục đích làm tăng nhận thức về tầm quan trọng của vitamin D cho biết, kiểm tra máu là cách tốt nhất để tìm hiểu bạn có thiếu chất dinh dưỡng này hay không.

Dưới đây là danh sách 10 nhóm người có nguy cơ thiếu vitamin D cao nhất:

1. Nhóm người trên 55 tuổi

Khi chúng ta già đi, nhiều người có xu hướng ít vận động hơn, thời gian ở bên ngoài trời cũng ít hơn, cơ thể cũng yếu đi, từ đó, việc cơ thể thu nhận vitamin D cũng ít hơn. Đây là lý do vì sao hầu hết người già đều bị loãng xương.

Bên cạnh đó, da lão hóa cũng hạn chế việc tổng hợp vitamin D hiệu quả, theo một nghiên cứu của Canada năm 2007. Thực tế, theo báo cáo có khoảng 50% người cao tuổi ở Mỹ bị gãy xương hông do nồng độ vitamin D thấp trong máu.

2. Nhân viên văn phòng

Thiếu chất này tăng nguy cơ bệnh tiểu đường, tim mạch: Bạn có thuộc nhóm người đang thiếu? - Ảnh 2.

(Ảnh minh họa)

Nếu bạn làm việc trong văn phòng từ 9h sáng đến 17h chiều, xin chia buồn bởi bạn đã nằm trong nhóm người thiếu vitamin D trầm trọng. Theo Viện Y tế Quốc gia Mỹ (NIH), những người có nghề nghiệp hạn chế tiếp xúc với ánh sáng mặt trời dường như cơ thể không đủ vitamin D. Dù vậy, bạn vẫn có thể bổ sung chất này thông qua chế độ ăn uống thông minh để giữ sức khỏe.

3. Nhóm người có làn da sẫm màu

Nhiều báo cáo khác nhau cho thấy, ở những người có da sẫm màu (Da đen) thường có mức vitamin D thấp hơn ở những người da trắng hoặc da vàng. Nguyên nhân là bởi, người da sẫm màu có nhiều melanin hơn trong lớp biểu bì – lớp ngoài cùng của da, điều này ngăn ngừa cơ thể tổng hợp vitamin D từ ánh sáng mặt trời.

Do vậy, nếu bạn có làn da sẫm màu, tốt nhất bạn nên tổng hợp vitamin D từ chế độ ăn nhiều hơn.

4. Bệnh nhân viêm đại tràng

Vitamin D là vitamin có khả năng hòa tan trong chất béo, điều đó có nghĩa là sự hấp thụ của chất này phụ thuộc vào lượng mỡ trong ruột. Trên thực tế, có đến 70% người mắc bệnh viêm ruột (bệnh Crohn và viêm loét đại tràng) không đủ vitamin D. Do vậy, nếu bạn mắc chứng bệnh này, nên tham khảo ý kiến bác sĩ và chuyên gia dinh dưỡng để bổ sung vitamin D.

Thiếu chất này tăng nguy cơ bệnh tiểu đường, tim mạch: Bạn có thuộc nhóm người đang thiếu? - Ảnh 3.

(Ảnh minh họa)

5. Nhóm người ăn chay

Hầu hết các thực phẩm chứa vitamin D đều có nguồn gốc từ động vật như cá hồi, lòng đỏ trứng. Một số thực phẩm khác cũng có chất dinh dưỡng này là sữa và các chế phẩm từ sữa, những người ăn chay thường thiếu vi chất dinh dưỡng quan trọng này.

Tuy nhiên, các chuyên gia dinh dưỡng cho biết, những người ăn chay có thể bổ sung vitamin D thông qua các sản phẩm từ đầu nành, bột yến mạch và nấm, mặc dù những thực phẩm này không chứa nhiều vitamin D như nguồn thực phẩm động vật.

6. Những người có tỷ lệ % mỡ trong cơ thể cao

Nếu bạn có chỉ số khối cơ thể (BMI) trên 30 hoặc tỷ lệ % mỡ trong cơ thể cao thì vitamin D sẽ ít hơn người bình thường.

7. Nhóm người uống thuốc kê toa

 

Các loại thuốc chứa corticosteroid như prednisone, thuốc giảm cân như orlistat, và cholestyramine giảm cholesterol có thể làm giảm sự tổng hợp vitamin D.

8. Nhóm người bị đau khớp và đau cơ thường xuyên

Nếu thời gian gần đây bạn được chẩn đoán viêm khớp hoặc đau xơ cơ, đây có thể là dấu hiệu của cơ thể thiếu vitamin D.

Thiếu chất này tăng nguy cơ bệnh tiểu đường, tim mạch: Bạn có thuộc nhóm người đang thiếu? - Ảnh 4.

(Ảnh minh họa)

9. Những người bị trầm cảm

Theo một nghiên cứu của Tạp chí Nghiên cứu Tâm thần học Anh trên 31.000 người, những người có mức vitamin D thấp trong máu có thể dễ bị chẩn đoán mắc bệnh trầm cảm cao gấp 2 lần so với những người có mức độ vitamin D cao hơn. Các chuyên gia y tế cho rằng, vitamin D có thể làm thay đổi hormone và các vùng não ảnh hưởng đến việc điều chỉnh tâm trạng.

10. Nhóm người bị đau đầu mãn tính

Theo nghiên cứu năm 2017 trên 2.600 người đàn ông, nếu bạn bị nhức đầu thường xuyên, lượng vitamin D trong máu thấp có thể là nguyên nhân. Theo đó, những người tham gia nghiên cứu mức vitamin D thấp có thể tăng gấp 2 lần nguy cơ nhức đầu kinh niên.

Mặc dù mối liên hệ giữa nhức đầu và vitamin D vẫn còn chưa rõ ràng, nhưng các nhà nghiên cứu cho rằng, bổ sung vitamin D có thể giúp chống lại chứng viêm gây ra đau nửa đầu và nhức đầu.

*Theo Prevention

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Mưa Tháng Chín

Mưa tháng Chín
Cơn mưa chiều bất chợt
Mưa nhạt nhòa, mưa ướt áo em bay
Mưa ướt tóc huyền buông xỏa chấm ngang vai.

Mưa tháng Chín
Cơn mưa đầu thu
Mưa của bao miền cảm xúc
Của bao người lúc mới đầu biết yêu.

Mưa tháng Chín
Mưa của đợi chờ, của thương nhớ về anh
Em đếm mưa rơi đếm lá mọc trên cành
Mà sao không đếm được tình anh trao tình.

Hienquangnam1982

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin