Category Archives: Chuyện Quanh Ta

Sinh Bảy, Kỳ Tích

Những đứa trẻ trong kỳ tích sinh 7 khiến cả thế giới chấn động năm 1997 hiện sống khỏe mạnh và chuẩn bị bước vào đại học.

Cuộc sống tất bật của gia đình sinh 7 ở Mỹ
Năm 1997, sau khi uống thuốc điều trị vô sinh, chị Bobbi McCaughey ở thành phố Des Moines, bang Iowa, mang bầu 7 thai. Bobbi và chồng là Kenny McCaughey đã quyết định giữ lại toàn bộ các thai thay vì chỉ chọn một số phôi khỏe. Các bác sĩ lo rằng, nếu cả 7 đứa trẻ cùng ra đời, chúng sẽ không thể sống được. Lựa chọn của gia đình Bobbi dấy lên một cuộc tranh cãi ở Mỹ vào thời điểm đó, theo Daily Mail.
Cuộc sống tất bật của gia đình sinh 7 ở Mỹ
Bobbi trước giờ lâm bồn. Ngày 11/9/1997, chị hạ  sinh 7 em bé trước dự sinh 9 tuần. Ngay sau ca sinh, đích thân Tổng thống Mỹ khi đó là Bill Clinton gọi điện chúc mừng vợ chồng chị Bobbi. “Nữ hoàng truyền thông” Oprah chào đón họ trong một chương trình của cô, trong khi nhiều người ẩn danh đề nghị giúp đỡ cặp vợ chồng và 7 đứa bé. 
Cuộc sống tất bật của gia đình sinh 7 ở Mỹ
Họ đã nhận rất nhiều quà tặng từ mọi người, gồm căn nhà rộng 500 m2, một ôtô 9 chỗ, một năm sử dụng mì ống và pho mát cùng hai năm dùng tã giấy miễn phí. Ngoài ra, 7 em bé của gia đình Bobbi sẽ được tài trợ học bổng 100% tại bất kỳ trường đại học nào trong bang Iowa.
Mấy tháng đầu chào đời, mỗi ngày 7 đứa con của vợ chồng anh Kenny McCaughey uống 42 bình sữa, dùng 52 chiếc tã giấy. Hiện nay, cả gia đình 9 thành viên vẫn đang sống trong ngôi nhà và vẫn sử dụng chiếc xe hơi 9 chỗ được tặng ngày đó. Anh Kenny McCaughey cho biết nhờ những sự giúp đỡ này của mọi người mà họ mới có thể nuôi dạy thành công 7 đứa trẻ.
Trong những tháng đầu chào đời, mỗi ngày 7 đứa con của vợ chồng chị Bobbi uống 42 bình sữa, dùng 52 chiếc tã giấy. Hiện nay, gia đình chị vẫn sống trong ngôi nhà và sử dụng xe ôtô được tặng cách đây 18 năm. “Chúng tôi đã nhận sự giúp đỡ từ rất nhiều người”, chị Bobbi nói.
Cuộc sống tất bật của gia đình sinh 7 ở Mỹ
 
Quá trình nuôi dưỡng bọn trẻ gặp nhiều khó khăn. Hai trong 7 bé là Alexis và Nathan mắc chứng bại não thể liệt cứng. Tuy nhiên, hai em hiện đều phát triển khỏe mạnh sau khi phẫu thuật. Chị Bobbi nói rằng, mua sắm thực phẩm cho bọn trẻ là một trong những việc khó khăn nhất bởi họ cần mua chúng với số lượng lớn.
Gi ờ dâ
Sau 18 năm, 7 chị em đã tốt nghiệp trung học. Cô gái ngồi hàng đầu tiên, áo kẻ là chị cả Mikayla (hơn 7 người em một tuổi).
Cuộc sống tất bật của gia đình sinh 7 ở Mỹ
Natalie khi còn trong bệnh viện và giờ đây là một học sinh chăm học và có triển vọng.
Cuộc sống tất bật của gia đình sinh 7 ở Mỹ
Brandon là một thiếu niên “bướng bỉnh nhưng mạnh mẽ”. Cậu rất thích môn đấu vật.
Cuộc sống tất bật của gia đình sinh 7 ở Mỹ
Lúc mới sinh, Kelsey là trẻ có số cân nặng ít nhất trong 7 anh/chị em. Hiện tại, Kelsey có niềm đam mê môn bóng đá.
Cuộc sống tất bật của gia đình sinh 7 ở Mỹ
Cậu bé Kenny nay là một thiếu niên hài hước.
Cuộc sống tất bật của gia đình sinh 7 ở Mỹ
Alexis từng mắc bại não. Ước mơ của Alexis là trở thành một giáo viên.
Cuộc sống tất bật của gia đình sinh 7 ở Mỹ
Nathan giờ đây nuôi ước muốn thành nhà khoa học.
Em út Joel cũng là trẻ nhẹ cân khi sinh ra. Em yêu thích môn điền kinh
Em út Joel cũng là trẻ nhẹ cân khi sinh ra. Cậu rất yêu thích môn điền kinh
Cuộc sống tất bật của gia đình sinh 7 ở Mỹ
Chị cả Mikayla, 19 tuổi, cùng các em gái trong lễ kết hôn. Natalie, Alexis và Kelsey là những phù dâu xinh đẹp.
Cuộc sống tất bật của gia đình sinh 7 ở Mỹ
Trong cuộc phỏng vấn đặc biệt trên kênh Today hôm 16/9, bà Bobbi nói: “18 năm trôi qua với nhiều kỷ niệm vui, buồn. Chúng đưa chúng tôi tới ngày hôm nay. Đó là điều vô cùng đặc biệt”.
Cuộc sống tất bật của gia đình sinh 7 ở Mỹ
Vợ chồng Bobbi luôn hài lòng với quyết định giữ 7 thai nhi năm xưa. Họ đã tạo nên kỳ tích và một câu chuyện nổi tiếng thế giới.
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 21

Khoai Mì Và Khế là thực phẩm nguy hiểm

Một số loại thực phẩm truyền thống của các nước trên thế giới, kể cả vài loại được coi là đặc sản, thực tế chứa đầy nguy cơ gây hại đối với sức khỏe con người, thậm chí có thể gây tử vong nếu chúng ta không biết cách chế biến để loại bỏ những thành phần cực độc của chúng.

Dưới đây là thống kê về các loại thực phẩm nguy hiểm hàng đầu thế giới

Khoai mì sẽ là món ăn an toàn sau khi đã được luộc, rán, hấp hoặc nghiền nhừ rồi nấu chín. Tuy nhiên, ăn sống hoặc chưa chế biến kỹ có thể nguy hiểm, vì loại củ này chứa hàm lượng lớn  linamarin, chất sẽ chuyển hóa thành cyanide độc hại khi ăn sống. Năm 2005, 27 trẻ em ở Philippines từng mất mạng sau khi ăn khoai mì ở trường.
Hạt điều đóng gói bán ở các siêu thị đã được hấp và sơ chế để loại bỏ các hóa chất độc hại, chúng không phải là hạt điều sống. Ở trạng thái sống, hạt điều chứa  urishol – một chất độc cũng được tìm thấy ở cây trường xuân.
Quả khế
Nếu chức năng thận của bạn không tốt, bạn nên tránh xa quả khế. Lí do vì, chỉ 100ml nước khế nguyên chất cũng có thể gây hại cho người bị bệnh thận, do loại quả này chứa các độc tố thần kinh, ảnh hưởng tiêu cực tới bộ não và các dây thần kinh. Đối với những người có các quả thận khỏe mạnh, khế là món ăn an toàn vì cơ thể họ có thể đối phó với các độc tố thần kinh tồn tại trong đó.
Ở Nhật, cá nóc có thể được chế biến thành món gỏi, món chiên/rán, rượu sakê fugu, món fugu luộc hoặc ăn kèm đậu hũ miso. Tuy nhiên, bạn cần phải rất cẩn trọng khi ăn cá nóc vì gan và các cơ quan nội tạng của chúng chứa một chất độc nguy hiểm chết người, gọi là  tetrodotoxin. Đã có tới 44 trường hợp tử vong liên quan đến ăn cá nóc ở Nhật trong giai đoạn từ 1996 – 2006 và chỉ tính riêng trong năm nay đã có 5 người mất mạng vì ăn gan loài cá này.
Khác với người Pháp chỉ  “chén” mình phần chân ễnh ương, dân ở các quốc gia châu Phi có thói quen ăn mọi bộ phận của loài động vật lưỡng cư này. Các chuyên gia cảnh báo, những con ễnh ương chưa trưởng thành và vẫn chưa bắt đầu giao phối là nguy hiểm nhất vì chúng chứa một chất độc có thể gây suy thận.
Quả Ackee
Chúng ta chỉ nên ăn quả ackee của Jamaica khi chúng đã chín mọng và được loại bỏ hạt. Loại quả này chứa các hạt đen mang độc tố và  chất độc hypoglycin có thể gây hội chứng nôn mửa Jamaica. Năm 2011, đã có 35 trường hợp bị ngộ độc vì ăn quả ackee.
Một đặc sản nổi tiếng của người Hàn Quốc là món bạch tuộc sống nổi tiếng sannakji. Các điểm giác mút trên xúc tu của những con bạch tuộc được chế biến vẫn giữ nguyên khả năng hút dính của chúng sau khi bạch tuộc chết, nên khi ăn sannakji, chúng ta cần nhai rất kỹ. Thống kê cho thấy, có khoảng 6 người thiệt mạng vì nghẹt cổ trong khi ăn sannakji mỗi năm.
Sò huyết
Sò huyết chứa rất nhiều virus và vi khuẩn, chẳng hạn như virus gây bệnh viêm gan (Hepatitis A) và viêm gan E (Hepatitis E), mầm bệnh thương hàn và bệnh lỵ. Hơn 300.000 người đã bị nhiễm khuẩn và 31 trường hợp trong số đó tử vong sau khi ăn sò huyết ở Thượng Hải, Trung Quốc năm 1998. Theo các chuyên gia, khoảng 15% những người “chén” sò huyết bị nhiễm độc vì các virus, vi khuẩn tồn tại tự nhiên trong đó.
Cá mập Hakari
Để chế biến món hakari có nguồn gốc từ Greenland, cá mập được cho lên men và phơi khô suốt 6 tháng, rồi cắt lát và ăn cùng bánh mỳ mạch đen. Đây là một món ăn tương đối nguy hiểm, vì cá mập không có thận hay đường tiết niệu nên các chất độc hại được lọc bỏ qua da của chúng.
Pho mát Casa marzu
Ở Sardinia và Italia, món pho mát thối rữa Casa Marzu được để lên men bên ngoài không che đậy, cho phép ruồi đẻ trứng bên trong. Các con giòi làm pho mát lên men và khi được hấp thụ, các ấu trùng của ruồi có thể chui qua thành ruột gây bệnh nghiêm trọng.
Sứa Nomura (Echizen kurage)
Nếu được chế biến phù hợp, cắt bỏ những phần chứa độc, sứa Nomura có thể ăn được mà không gây hại cho sức khỏe con người. Loài sứa này hiện là mối đe dọa đối với nguồn cung cấp cá hồi của Nhật, vì chúng chỉ sống sót nhờ ăn một lượng cá lớn.
Hạt Pangium edule
Còn được biết đến với biệt danh  “hạt gây buồn nôn”, hạt Pangium edule, vốn có nguồn gốc tự nhiên ở Indonesia, Malaysia và Papua New Guinea chỉ có thể ăn được sau khi được ngâm nước và bỏ vỏ luộc kỹ hoặc chôn vùi vào trong lá chuối và tro khoảng 1 tháng trước khi luộc. Hạt này nếu chưa chế biến kỹ có chưa một chất hydrogen cyanide độc hại.
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 44

Nữ văn sỹ Jackie Collins qua đời

Tiểu thuyết gia Mỹ lừng danh Jackie Collins vừa qua đời ở tuổi 77 vì bệnh ung thư vú.

Bà sinh ra ở Anh quốc và là em gái của diễn viên Joan Collins.

Gia đình bà cho hay nữ văn sỹ qua đời ở Los Angeles.jackie-collins-01-800

Trong 40 năm cầm bút, Jackie Collins bán tổng cộng 500 triệu cuốn sách tại 40 nước trên thế giới.

Thông cáo của gia đình nói bà đã sống “một cuộc sống tuyệt vời viên mãn”, được người thân, bạn bè và độc giả yêu mến.

“Bà là nguồn cảm hứng tuyệt vời, là người tiên phong cho phụ nữ viết văn và nguồn sáng tạo. Bà sẽ còn sống mãi qua các nhân vật của mình, nhưng chúng tôi thương nhứ bà vô kể.”

Collins bị chẩn đoán ung thư vú giai đoạn bốn vào sáu năm rưỡi trước, theo tạp chí People.

Bao nhiêu người lại sẽ từ giả cỏi đời vì căn bịnh này. Chúng ta cần làm gì để ngăn chận. KNVM mời các bạn nghe lại bài nhạc “Cancer Cancer Cancer” của Vũ Hàn Giang nhé.

KMVN

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 24

Người đàn ông Úc điều khiển được sát thủ đầm lầy.

Người đàn ông với biệt danh thổ dân chân trần ở Queensland, Úc, có sở thích ngồi trên lưng của những con cá sấu khổng lồ để chơi đùa với chúng.

Ông Rob Bredl, 65 tuổi, chỉ cần dùng những dụng cụ đơn giản như gậy, mũ để trêu đùa và ngồi trên lưng của những con cá sấu cực lớn, việc mà các tay săn cá sấu lâu năm cũng không dám làm.

Mọi người biết tới Bredl qua những trò đùa của ông với loài bò sát nguy hiểm như ngồi trên lưng, dụ cá sấu về phía bờ sông hay nắm đầu kéo chúng lên bờ. “Khi nhắc tới cá sấu, mọi người đều muốn sự kịch tính hoặc điều gì đó nguy hiểm. Chúng khiến họ thỏa mãn. Nhưng sau khi chứng kiến những gì tôi làm với loài bò sát này, họ sẽ phải kinh ngạc”,Daily Mail dẫn lời Bredl nói.

Trong màn trình diễn trước một nhóm khoảng 20 người, Bredl bắt đầu bằng việc đặt tay xuống nước rồi dùng gậy đập mạnh để thu hút con vật được coi là “sát thủ đầm lầy”.

“Tôi có thể nắm đầu của Brian, con cá sấu nặng gần 800 kg và kéo nó lên khỏi mặt nước. Tôi tự tin vì đã làm việc này trong nhiều năm. Cá sấu nước mặn hành động theo bản năng. Chúng nguy hiểm hơn khi ở dưới nước. Khi lên bờ, chúng không thể chạy”, ông nói.

Dù làm việc với tâm lý thoải mái, Bredl vẫn cảnh giác cao về độ nguy hiểm của loài bò sát khổng lồ.

Người đàn ông nổi tiếng với biệt danh thổ dân chân trần từng bị cá sấu và các loài rắn độc cắn hơn 40 lần song ông vẫn tiếp tục hành động mạo hiểm.

Ông chủ trang trại chia sẻ: “Tôi chắc hẳn là người may mắn và điên rồ nhất thế giới. Cá sấu và rắn từng cắn tôi nhiều lần nhưng tôi vẫn không từ bỏ công việc này”.

Gica đình của Bredl sống tại trang trại và cũng là khu bảo hộ có diện tích hơn 0,7 hecta gần bãi biển Airlie, Queensland. Ngoài cá sấu, trang trại của ông còn nuôi đà điểu Ú, gấu túi, kangaroo, chim, rắn và một số loài bò sát khác.

Kích thước não của cá sấu nước mặn chỉ nhỏ bằng ngón tay cái song chúng lại là sinh vật nguy hiểm nhất đối với con người.

Với truyền thống chuyên đối đầu với các loài thú dữ của gia đình, người nhà của ông cũng tham gia vào các hoạt động trong trang trại. Họ cũng phải đối mặt với nguy hiểm.

Karla, cháu gái của Bredl, từng bị một con cá sấu không răng tấn công khi cô làm việc tại công viên hoang dã.
Cặp hàm chắc khỏe của con cá sấu có thể nghiền nát xương của con người dù nó không còn răng.

Bố mẹ của ông Bredl lập nên một trong những vườn thú tư nhân đầu tiên ở Úc. Năm 1970, họ mở một trang trại để nuôi cá sấu. Ở tuổi 65, Bredl vẫn chưa muốn nghỉ hưu.

“Tôi sẽ tiếp tục cho tới khi nhắm mắt xuôi tay. Chứng viêm khớp khiến tôi chậm chạp hơn xưa. Nhưng ơn trời, lũ cá sấu cũng di chuyển chậm vì chúng ngày càng mập”, Bredl cho biết.

Nguồn Internet

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 17

Khánh Ly Tiết Lộ Về Bốn Người Tình Của Đời Mình

Khánh Ly vừa trở lại Hà Nội. Bà diện quần áo đơn giản, tóc buộc thõng, mặt không phấn son. Những câu chuyện liên quan đến đời tư được giấu kín bao năm lần đầu tiên được Khánh Ly bộc bạch…
Khánh Ly, Trịnh Công Sơn, Hoàng Đoan,
Danh ca Khánh Ly.


Mang ”nỗi oan” nhiều năm mới được “gột rửa”
Chậm rãi nói về quá khứ, nữ danh ca cho biết, cuộc đời bà có những đoạn đường đi qua khiến bà chẳng dám ngoái đầu lại vì sợ rơi nước mắt nhưng có những người khiến Khánh Ly không thôi nghĩ về với một tình yêu bao la và sự tôn trọng vĩnh cửu.
Người đầu tiên Khánh Ly thấy quan tâm, nhơ nhớ hay như các bạn trẻ bây giờ thường nói là mối tình đầu tiên là một người lính phi công tên Hải. “14 tuổi, tôi biết anh Hải – người bạn của anh trai tôi. Anh Hải duyên, nhảy đầm giỏi.
Thủa đó chúng tôi chẳng biết nắm tay, hôn má, hôn môi là gì. Không gặp thấy mong, thấy nhớ. Tôi vẫn nhớ câu nói của anh: Khi nào anh ra trường, anh sẽ cưới Mai (tên thật của Khánh Ly)” – Khánh Ly trải lòng.
Khánh Ly bảo khi bà bắt đầu đi hát cũng là lúc anh Hải bỏ trường dược đi lính vào binh chủng không quân. Thời gian khiến họ không có cơ hội gặp nhau. Khánh Ly lấy chồng và về Đà Lạt sống.
Nữ danh ca nói: “Cuộc đời tôi có nhiều khốn khổ. Người chồng đầu tiên không phải là người tôi yêu rồi lấy. Tôi thấy mình khi đó vừa ngu dại, vừa cô đơn, gia đình không ngó ngàng gì tới, như một người trôi trên sông gặp cái gì cũng tưởng là cái phao và níu lấy thôi”.
Khánh Ly kể một lần lên Pleiku chơi, tình cờ gặp lại anh Hải trong một vũ trường. Bà nhớ lại: “Hôm đó tôi đi với người chị chồng, còn anh Hải đi với người yêu. Chúng tôi gặp lại chào hỏi, tôi nói với anh Hải lên Pleiku là tình cờ và không biết biển hồ ở đây như nào.

 

Anh Hải nói với tôi rằng ngày mai nếu rảnh sẽ đưa tôi đến các biển hồ xem trước khi về lại Sài Gòn. Thế rồi chúng tôi chia tay. Tối đó tôi về khách sạn với bà chị chồng. Tôi ngủ một phòng, chị chồng một phòng. Tới khuya, tôi nghe tiếng đập cửa rất mạnh, tôi mở cửa thì thấy anh Hải.
Tôi ngạc nhiên vì thấy anh xuất hiện và không có phản ứng gì. Những xúc cảm ngày xưa không kịp sống lại bởi quá bất ngờ. Bỗng anh ngã nhào vào tôi rồi cả hai đổ xuống giường. Tôi chỉ kịp đẩy anh Hải ra thì anh đã nằm vật ra ngủ.
Hóa ra anh Hải bị say quá. Có khi lúc đó ôm mà anh không biết là tôi đâu. Thấy anh ngủ, tôi kéo mền đắp, phần còn lại chiếc giường tôi nằm. 5h sáng tôi tỉnh dậy và không thấy ai. Tôi biết rõ ràng mình không mơ, đó là câu chuyện rất thật”.
Khánh Ly bảo đó là buổi sáng định mệnh bởi anh Hải lặng lẽ rời khỏi căn phòng và ra đi mãi mãi. “Buổi sáng hôm đó, khi vẫn đang ở khách sạn, tôi nghe một tiếng nổ rất lớn. Hỏi ra mới biết chiếc máy bay anh Hải lái chưa kịp cất cánh đã bị nổ.
Tôi lao đến nơi anh Hải bị nạn. Rồi chiều đó, tôi xin được đi theo chuyến bay đưa thi thể anh về lại Sài Gòn. Khi máy bay đáp xuống, mọi người lạnh nhạt với tôi. Họ chẳng biết tôi là ai hoặc có thể đã nghe về tôi nhưng vì một lý do nào đó nên không ai nói gì.
Đám tang anh Hải, chờ cho dòng người tiễn đưa anh đã về hết, tôi mới lặng lẽ vào nghĩa trang. Tôi ngồi đó, một mình bên nấm mộ của anh. Sau này, tôi được biết mọi người đều nghĩ vì tôi mà anh Hải chết. Họ đặt câu hỏi: Tôi và anh đã làm gì đêm trước để đến nỗi hôm sau anh Hải phải ra đi?”.
Khánh Ly tâm sự bà đã phải mang theo nỗi oan này suốt một khoảng thời gian khá dài. Mãi tới khi sang Mỹ, lúc đó Khánh Ly đã lấy người chồng thứ ba là ông Hoàng Đoan thì mới nhận được một bức thư rất lạ.
“Tôi mở thư thấy hình của anh Hải. Đằng sau là chữ của bố anh viết: Gửi ca sĩ Khánh Ly, thay mặt cho cố nhân…. Lúc đó, tôi hiểu rằng nỗi oan của mình đã được giải. Tôi cầm tấm hình anh Hải rồi tôi trốn vào buồng tắm khóc vì không muốn chồng biết. Tôi khóc vì tôi tủi” – Khánh Ly bùi ngùi.
4 lần sinh con, 4 lần khóc và 4 lần một mình
Khánh Ly nói rằng đi gần trọn cuộc đời nhưng đến bây giờ bà vẫn đang tự hỏi, tình yêu là như thế nào? Với người chồng đầu tiên bà không có tình yêu. Lúc đó, Khánh Ly chỉ nghĩ mình lỡ lầm với ai thì lấy người đó. 16 tuổi, Khánh Ly mang bầu, theo người đàn ông đó về Đà Lạt sinh sống.

 

“Tôi sống với gia đình người đàn ông đó một thời gian, sinh được hai người con nhưng hồi đó vẫn còn quá trẻ để trở thành người vợ, người mẹ theo đúng nghĩa. Chúng tôi chia tay sau một thời gian chung sống. Đến giờ, người đàn ông đó vẫn còn sống, đang ở Mỹ”.
Người đàn ông thứ 2 từng được dư luận nhắc đến là người tình trong bóng tối của Khánh Ly là một vị tướng khong quan . Ông biết bà khi đi hát ở phòng trà và ngạc nhiên khi thấy một người con gái trẻ hát nhạc Đoàn Chuẩn, Từ Linh… – loại nhạc không hề đúng lứa tuổi của mình.
“Người đàn ông đó đã cho tôi tiền. Ông vẫn nói tôi rằng: Em nhớ sau này, dù gì ở đâu, đi đâu đừng bao giờ quên nụ cười bởi nụ cười sẽ mở cho em các cánh cửa. Tôi không bao giờ quên câu nói này của ông và lúc đó thật tình tôi chỉ có cảm tình chứ không phải là yêu ông”, Khánh Ly tiết lộ.
Người đàn ông thứ 3 trong cuộc đời, Khánh Ly gặp vào khoảng năm 1967. Bà nhớ lại: “Anh đẹp trai, có duyên và rất nhiều người phụ nữ mê đắm. Tôi yêu anh và hạnh phúc, sung sướng khi có với anh một người con con gái”.
Nhưng cũng vì quá yêu mà Khánh Ly tự nhận mình là người ích kỷ. Bà bảo khi biết người đàn ông này không chỉ dành riêng cho bà, trái tim ông dành nhiều ngăn cho những người phụ nữ khác nữa thì bà quyết định không thể cùng chung lối đi.

Khánh Ly, Trịnh Công Sơn, Hoàng Đoan,
Khánh Ly và ông Hoàng Đoan.

Người đàn ông thứ 4 gắn bó khá dài với Khánh Ly, cũng là người chồng thứ 3 – ông Hoàng Đoan. Khánh Ly bảo khi bà lấy ông Hoàng Đoan cũng không cảm nhận được tình yêu. “Khi đến Mỹ tôi đã có 3 người con. Tiền không có, ông Đoan là người đầu tiên mua cho tôi 6 cái chén, 6 đôi đũa đầu tiên.
Những tháng đầu gặp, ông Đoan không hề ngỏ lời nhưng vài tháng sau, một lần ông nói với tôi: Anh đi sang Mỹ có một thân, em cũng sang đây có một mình hay anh với em về ở chung một nhà với nhau. Tôi bảo để suy nghĩ vì lúc đó thú thực tôi đang khóc nhớ người khác còn ông Đoan cũng nhớ vợ.
Nhưng rồi đời sống nó phải sống. Tôi không thể nào khóc mà con tôi no được. Mấy tháng sau tôi đồng ý. Nhưng tới khi hẹn ngày giờ đi thử máu để làm hôn thú thì ông Đoan lại sợ và trốn. Tôi hỏi tại sao?, ông Đoan nói: Em ca sĩ, cờ bạc hút sách, anh sợ lắm…. Nhưng đến lúc lấy nhau rồi ông Đoan mới biết tôi không phải là người như thế”.
Điều gì là ở lại và điều gì bà đã học được từ những người đàn ông đã đi qua cuộc đời mình? đặt câu hỏi cho Khánh Ly, bà trầm ngâm rồi nói: “Tôi có 4 đứa con, khi đi sinh lần nào tôi cũng đi một mình và tỉnh dậy cũng một mình. Và lần nào tôi cũng khóc.
Với những người đàn ông, tôi học được sự cay đắng và chẳng để lại trong đời tôi được cái gì ngoài sự đổ vỡ, thất bại và không còn niềm tin. Tôi chưa bao iờ nói với ông Hoàng Đoan lời yêu, bởi cả hai đến với nhau lúc đầu không phải vì tình yêu. Chỉ đến khi ông ấy đã ra đi, tôi mới nghĩ đó là người đàn ông tôi muốn ăn đời ở kiếp”.

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 97

Hương Xưa, Hương Nay?

Vừa rồi cô Hồng Tước gửi cho nghe bài Hương Xưa của Cung Tiến do Cecilia Bach  ca. Có cả phụ đề Anh Ngữ, như muốn cho Tây nghe thử nhạc ta ?

Nhiều bạn ta đã có lời bình, mình cũng xin bàn ké!
Dù ông Cung Tiến cứ khẳng định bài này (cũng như những bài Hoài Cảm, Thu Vàng mà ông làm lúc còn học Trung Học) chỉ là những “bài tập nhỏ”, không có gì đáng kể, người yêu nhạc vẫn cứ trân trọng, coi như là những tuyệt phẩm, và các ca sĩ thì không ít người muốn khẳng định giọng ca của mình qua bài hát danh giá này.Cô Minh Nguyệt cho biết, cô Cecilia Bach đã phải bỏ ra 4 năm để tập hát bài này!
Nhưng không phải cứ muốn hát là hát. Những fan cuồng nhiệt của Cung Tiến như ông Trần Như Vĩnh Lạc (Đoàn Thế Ngữ) sẽ không “tha” dù hát sai nửa cung hay lời hát sai một từ! Ông còn cho rằng có người “không xứng đáng” hát nhạc Cung Tiến nữa kìa!
Xin nói ngay là bài Hương Xưa do cô Cecilia Bach ca rất hay, rất xứng đáng đưa vào “tuyển tập”
Phải nói quả đáng tội cái khó khi hát Hương Xưa không chỉ là giai điệu mà là ca từ. Trong khi điệu nhạc được lập đi lập lại, thì lời bài hát được thay đổi dù vẫn giữ nguyên ý chính là phục vụ cho chủ đề hoài niệm, rất thơ, rất sang, nhưng cũng rất dễ lộn đoạn này với đoạn khác! Hiểu và diễn tả được ý nghĩa của bài hát, không phải ai cũng làm được. Xin nghe thử:
Hương Xưa Cung Tiến


Trần Thu Hà  (Video)
Trần Thu Hà (+ MC Vĩnh Lạc)Trần Như Vĩnh Lạc Đoàn Thế Ngữ bình rất hay
Trần Hiếu
Nguyên Khang
Thanh Lan
Hoàng Lân
Như Mai
Dzoãn Minh
Tuấn Ngọc
Hồng Nhung (sai lời 11 chỗ)
Sĩ Phú (Mới vào câu đầu đã thấy sai)

Duy Trác
Thiên Tôn
Ngyễn Thành Vân

Người ơi, môt chiều nắng tơ vàng hiền hòa hồn có mơ xa?
Ngươi ơi, đường xa lắm con đường về làng dìu mấy thuyền đò
Còn đó tiếng tre êm ru
Còn đó bóng đa hẹn hò
Còn đó những đêm sao mờ hồn ta mênh mông nghe sáo vi vu

Người ơi, còn nhớ mãi trưa nào thời nào vàng bướm bên ao
Người ơi, còn nghe mãi tiếng ru êm êm buồn trong ca dao
Còn đó tiếng khung quay tơ,
Còn đó con diều vật vờ
Còn đó, nói bao nhiêu lời thương yêu đến kiếp nào cho vừa

Ôi, những đêm dài hồn vẫn mơ hoài một kiếp xa xôi
Buồn sớm đưa chân cuộc đời
Lời Đường Thi nghe vẫn rền trong sương mưa
Dù có bao giờ lắng men đợi chờ
Tình Nhị Hồ vẫn yêu âm xưa
Cung Nguyệt Cầm vẫn thương Cô-tô
Nên hồn tôi vẫn nghe trong mơ tiếng đàn đợi chờ mơ hồ
Vẫn thương muôn đời nàng Quỳnh Như thuở đó

Ôi, những đêm dài hồn vẫn mơ hoài một giấc ai mơ
Dù đã quên lời hẹn hò
Thời Hoàng Kim xa quá chìm trong phôi pha
Chờ đến bao giờ tái sinh cho người

Đời lập từ những đêm hoang sơ
Thanh bình như bóng trưa đơn sơ
Nay đời tan biến trong hư vô,
chết đầy từng mồ oán thù.
máu xương tơi bời nhiều mùa thu ….

Người ơi, chiều nào có nắng vàng hiền hòa sưởi ấm nơi nơi?
Người ơi, chiều nào có thu về cho tôi nhặt lá thu rơi?
Tình có ghi lên đôi môi
Sầu có phai nhòa cuộc đời
Người vẫn thương yêu loài người và yên vui cuộc sống vui.
Đời êm như tiếng hát của lứa đôi,
Đời êm như tiếng hát của lứa đôi ….

“Người vẫn thương yêu loài người và yên vui cuộc sống vui.”
Câu này rất nhiều ca sĩ hát sai thành: “Người có …” , sai hẳn nội dung: dù (tình, đời) có gì thì (người) vẫn (thương yêu …). Trong số những người hát sai có cả Duy Trác, Lệ Thu, Tuấn Ngọc (còn Trần Hiếu thì quá bôi bác, không thể chấp nhận được, và chính Trần Thu Hà đã gián tiếp công nhận điều này,  tuy vẫn còn sai chữ có như nhiều ca sĩ khác).Tôi đánh giá cao cô Thanh Lan , khi hát đúng nguyên tác

Thêm nữa tôi nghĩ đây là một bài tự sự êm đềm, vì vậy thể hiện tâm tình tác giả phải là chính, không thể lấy chất giọng “đè” nội dung bài hát. Cecilia Bach tuy là hậu bối nhưng đã không mắc sai lầm nào như một số ca sĩ Việt Nam (Hồng Nhung, Trần Hiếu,…)

 

Trong khi những fan của ông Cung Tiến trân trọng ổng như vậy thì có những “đồng nghiệp” của ổng không coi Hương Xưa là “cái dinh” gì cả.
Gần nửa thế kỷ sau, một bài hát Hương Xưa khác ra đời (có thể tạm gọi là Hương nay để phân biệt với Hương Xưa “chính chủ”?)
 
Hương Xưa Vũ Hoàng/Thơ Cao Vũ Huy Miên
Quang Lê
Không hiểu vì sao ta có buổi chiều nay
Gặp lại nhau và bỗng dưng em khóc
Giọt nước mắt anh làm sao ngăn được
Em bây giờ như xa một tầm tay.
Em bây giờ như xa một tầm tay
Biết nói gì khi tình đã nhạt phai
Tháng mười hai trời còn mưa muộn
Anh bâng khuâng đứng lặng ở cuối đường.
Chẳng có điều gì để trách cứ nhau.
Khi trái tim không cùng suy nghĩ
Đốt làm chi những tờ thư cũ
Xoá được không kỷ niệm mênh mông.
Rồi mai này anh sẽ yêu ai
Tình yêu ấy nghìn lần không đơn giản
Tình yêu ấy còn chút gì lãng mạn
Để gởi về người con gái yêu anh
Để gởi về người con gái anh yêu.
Ông nhạc sĩ Vũ Hoàng này trước đó cũng đã có bài “nhạc phổ thơ”:

Hương Thầm Vũ Hoàng Thơ Phan Thị Thanh Nhàn
Bảo Yến
Khung cửa sổ hai nhà cuối phố
Chẳng hiểu vì sao không khép bao giờ.
Đôi bạn ngày xưa học chung một lớp
Cây bưởi sau nhà ngan ngát hương thơm.
Giấu một chùm hoa trong chiếc khăn tay.
Cô bé ngập ngừng sang nhà hàng xóm
Bên ấy có người ngày mai ra trận,
Bên ấy có người ngày mai đi xa.

Nào ai đã một lần dám nói.
Hương bưởi thơm cho lòng bối rối.
Cô bé như chùm hoa lặng lẽ.
Nhờ hương thơm nói hộ tình yêu.

Hai người chia tay sao chẳng nói điều chi?
Mà hương thầm theo mãi bước người đi?
Hai người chia tay sao chẳng nói điều gì?
Mà hương thầm vương vấn mãi người đi!

Không khó để thấy nhạc sĩ Vũ Hoàng “tự” đạo nhạc của mình khi nghe cả 2 bài Hương Xưa và Hương Thầm! Chuyện đó không đáng nói, chỉ bực mình vì thấy bài Hương Xưa của Cung Tiến bị Hương nay “quấy rối”!

Nghe Hồng Nhung hát Hương Xưa của Cung tiến, rồi lại nghe Quang Lê hát Hương Xưa của Vũ Hoàng, bỗng phát hiện được lý do tại sao hơn 40 năm qua, nền tân nhạc Việt Nam không khá lên được!

Lê Ngọc Phượng

Tháng 9/ 2015

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 152

Nhiều người trẻ đột tử sau khi tắm, vậy làm sao để tránh? >

 Mùa đông năm 2013, một thanh niên 22 tuổi đã mất sau khi tắm. Trước đó, bố mẹ anh lên phòng gọi xuống ăn cơm thì thấy anh đã nguy kịch. Gia đình đưa anh đi cấp cứu, nhưng anh không qua khỏi.
Anh của chàng trai này rơm rớm nước mắt chia sẻ: Em nó ra đi khi còn trẻ quá, sức khỏe của nó bình thường, có lẽ do tắm tối, trời lại lạnh nên bị như vậy.
 Mới đây nhất, Toàn Shinoda qua đời ở tuổi 27. Lý do Toàn mất do anh vốn cóbệnh về hô hấp, tắm xong vào nằm điều hòa nên bị suy hô hấp và không thểcứu được.
Toàn Shinoda tên thật là Trần Vũ Toàn, sinh năm 1987. Anh được biết đến là một trong những Vlogger được yêu mến nhất Việt Nam vì có những clip hài hước nhưng sâu sắc. Toàn là cựu học sinh khối chuyên Anh trường Hanoi-Amsterdam, từng nhận được học bổng toàn phần trường đại học Wesleyan University (top 20 trường ĐH hàng đầu ở Mỹ). Và anh đã ra đi khi còn quá trẻ.
Vì vậy, bạn hãy cẩn trọng để tránh những hậu quả không tốt từ việc tắm.

1. Tắm quá lâu

Cho dù việc tắm mang lại rất nhiều lợi ích cho cơ thể, tuy nhiên, việc tắm quá lâu lại gây phản tác dụng. Việc ngâm mình trong nước quá lâu có thể khiến cho nhiệt độ cơ thể hạ thấp quá mức, ảnh hưởng đến hoạt động của các cơ quan, dễ gây ra cảm lạnh, ảnh hưởng đến        hoạt động của các mạch máu, huyết áp, dẫn đến ngất xỉu, thậm chí còn có thể gây tử vong.

2. Nằm điều hòa sau khi tắm

Việc nhiệt độ hạ thấp đột ngột ngay sau khi tắm sẽ gây ảnh hưởng xấu tới hoạt động lưu thông máu trong cơ thể, làm cho máu lên não chậm, không những thế còn ảnh hưởng tới nhịp đập của tim và huyết áp.
Đặc biệt, với những người có sức khỏe và sức đề kháng yếu, việc nằm điều hòa ngay sau khi tắm rất dễ gây tai biến, và đột quỵ.

3. Đừng tắm khi đang có sấm sét

Hãy ngưng sử dụng nhà tắm vì sấm sét có thể đánh vào đường điện làm nguy hiểm đến tính mạng của bạn.
Hệ thống đường ống, điện ngầm cùng các thiết bị điện làm bạn như đang nằm trên một chiếc giường hút gió.
Đừng sử dụng điện thoại và các thiết bị điện tử trong nhà tắm khi đang sét, vì đó có thể là một nguồn lực kéo sét về phía bạn.

4. Nền nhà tắm trơn trượt

Thảm chùi chân sẽ giúp bạn chống các pha té ngã trong nhà tắm. Không chỉ có người già gắn liền với những pha gãy tay, gãy chân thậm chí là từ vong vì ngã trong nhà tắm mà nó còn gây nguy hại đến tất cả mọi người.
Hãy tắm cùng với những đôi dép chống trơn hay những chiếc thảm chùi chân, đây chính là giải pháp an toàn nhất cho bạn.

5. Tắm ngay sau khi ngủ dậy

Sau một giấc ngủ dài, việc tắm gội khiến não bộ hưng phấn để khởi đầu một ngày mới tỉnh táo và tràn đầy năng lượng. Tuy nhiên, đi tắm ngay khi vừa ngủ dậy với cái bụng đói rỗng có thể khiến bạn cảm thấy chóng mặt, thậm chí gây hiện tượng tụt huyết áp, đột quỵ. 

Cộng thêm với việc nếu bạn tắm với nước quá nóng làm giãn mạch máu sẽ khiến máu không lưu        thông lên não kịp thời, đau đầu, chóng mặt là chuyện khó tránh khỏi. Vì vậy, thời gian thích hợp nhất để bạn tắm gội lúc ngủ dậy là sau khi ăn một bữa sáng nhẹ.

6. Tắm nước quá nóng

Tắm nước ấm, nhiệt độ vừa phải rất tốt cho cơ thể lại tránh được nguy cơ trúng gió. Tuy nhiên, nếu nhiệt độ nước quá cao sẽ dễ gây tổn thương cho da dẫn đến các mao mạch giãn nở gây hiện tượng da bị khô, nứt nẻ. 

Ngoài ra, tắm nước quá nóng sẽ khiến gây áp lực cho tim bởi tất cả các mạch máu trên da đều giãn nở hết cỡ gây thiếu oxy cung cấp đến tim. Nhiệt độ nước thích hợp để tắm nhất vào mùa đông là từ 24 – 29 độ.

7. Tắm đêm

Các chuyên gia khuyến cáo sau 23 giờ là thời điểm bạn đặc biệt không nên tắm, gội đầu bằng nước lạnh.  Nó khiến các tĩnh mạnh giãn ra, huyết áp giảm. Đặc biệt, những người huyết áp thấp, huyết áp không ổn định còn có thể xuất hiện hiện tượng thiếu máu não nghiêm trọng, dẫn đến bất tỉnh, hôn mê, khả năng tử vong là rất cao.

8. Tắm khi quá no, quá đói

Ngoài lời khuyên không nên tắm đêm thì bạn còn không nên tắm khi quá no hoặc đói. Tắm khi no dễ mắc các bệnh về đường ruột, dạ dày. Khi đói lượng đường trong máu xuống mức thấp nhất, dễ bị chóng mặt, thậm chí bị ngất xỉu.

9. Tắm nước lạnh

Nguy hiểm hơn, tắm nước lạnh trong tình trạng cơ thể suy yếu sẽ nhanh dẫn đến tình trạng đột quỵ, tai biến, đặc biệt với những người bị say rượu, mắc các bệnh tim mạch, cao huyêt áp. Khi cơ thể đang mệt mỏi hoặc có bệnh trong người.

Việc tắm nước lạnh khiến các mạch máu trong cơ thể co lại, ảnh hưởng đến quá trình lưu thông máu. Lúc này, cơ thể đang yếu sẽ càng suy yếu hơn.

10. Tắm khi nhiệt độ cơ thể đang cao

Nhiều người có thói quen tắm khi nhiệt độ cơ thể đang cao. Điều này thực sự không tốt bởi vì nếu tắm đêm khi cơ thể chưa ráo mồ hôi, hơi nước sẽ ngấm qua lỗ chân lông đang mở rộng. Đây là nguyên nhân khiến bạn bị ho, sốt, kéo theo các nguy cơ viêm, nhiễm phổi. Quá trình này diễn ra sau một thời gian khá dài nên ít người nhận ra nguyên nhân.

11. Tắm gội từ đầu xuống chân

Trình tự tắm gội chuẩn như sau: Rửa mặt, tắm toàn thân và gội đầu. Nếu là mùa đông thì có thể dùng nước ấm dội vào bàn chân trước để cơ thể thích nghi nhanh với nhiệt độ môi trường. 

Không nên gội đầu xong mới tắm vì khi đó khiến các mạch máu trên đầu khó lưu thông vì sự chênh lệnh nhiệt độ đột ngột, có thể gây choáng váng.

12. Tắm xong đi ngủ ngay

Độ nóng của nước nóng sẽ khiến nhiệt độ cơ thể tăng nhanh gây ức chế hoạt động của não bộ và gây hại cho sức khỏe của bạn. Nếu lập tức đi ngủ sau khi tắm, bạn sẽ rất khó chìm sâu vào giấc ngủ.

Tốt hơn hết là bạn nên tắm trước khi đi ngủ khoảng 1 – 2 giờ. Còn trường hợp bạn không có thời gian mà vẫn muốn sạch sẽ để lên giường thì chỉ cần dùng khăn lạnh ẩm lau lại phần trán và cổ 5 phút là được. Cách làm này sẽ khiến nhiệt độ cơ thể được trung hòa ở mức bình thường.

13. Tắm sau khi uống rượu

Rượu làm ảnh hưởng đến chức năng gan và kiềm chế giải phóng glycogen (chuỗi phân tử đường gluco). Tuy nhiên, quá trình tắm lại làm tăng tiêu thụ gluco của cơ thể. Việc thiếu đường trong máu sẽ gây ra hoa mắt, nhìn mờ, mệt mỏi và thậm chí dẫn đến hôn mê do giảm gluco huyết.

14. Tắm khi đang sốt

Năng lượng tiêu thụ sẽ tăng lên 20% khi cơ thể người tăng lên 38 độ C. Vì thế, đừng tắm khi bạn sốt để tránh tai nạn.

15. Tắm ngay sau khi làm việc

Dù cho bạn làm việc thể chất hay vận động thể lực, nên nghỉ một lát mới tắm, nếu không nó dễ dàng dẫn tới thiếu máu cung cấp cho tim và não, thậm chí gây bất tỉnh.

                                          Sưu tầm
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 141

Không Biết Yêu

EM.
Tôi đi tìm tiệm tạp hoá để mua một lố pin. Có tiếng kêu “Cha” ở sau lưng. Tôi quay lại, thấy vợ Em đội khăn tang mắt đỏ hoe.
– Chồng con bị ung thư, mới mất hồi hôm.
– Để cha thắp cho ảnh một cây nhang. Tôi tìm tên thánh của Em ở trên vách: không có. Tôi hỏi vợ Em.
– Tên thánh của chồng con là gì?
– Chồng con là người ngoại.
– ?!…Hồi đó cha làm phép cưới cho con mà.
– Chúng con thôi nhau từ lâu. Sau một thời gian con mới lấy anh này.
Xin lỗi Em, vì tôi tưởng Em đã chết…
Vợ Em đi lấy chồng, rồi bỏ chồng. Vợ Em lại lấy chồng, rồi chồng chết. Còn Em thì lấy vợ, rồi mất vợ, mất con và lại lấy vợ…Buồn quá!
Tôi điều tra về cuộc đời của Em.
1. Em lấy vợ. Cha Em làm cho Em một căn chòi sát bên bờ sông và chia cho Em bốn công ruộng. Không đủ sống. Em phải đi làm mướn để sống qua ngày.
Vợ Em có thai được sáu tháng. Ột ệt. Tối ngày chỉ quẩn quanh trong cái chòi sàn: nấu cơm, quét nhà, giặt đồ… rồi nằm võng. Cót két. Đu đưa. Nhưng lại ăn rất khỏe. Tôi tình cờ gặp Em.
– Vợ chồng con vui vẻ không?
– Con thì đầu tắt mặt tối, còn nó thì chơi không suốt ngày. Không làm ra một đồng bạc cắt, mà ăn thì như heo. Mỗi bữa nó ăn hết một thau cơm.
– Vợ con có thai thì phải ăn gấp hai để nuôi bé chứ. Em làm thinh một cách nhẫn nhục…Tôi chỉ biết đến đó.
2. Các bạn của Em kể tiếp:
– Vợ ăn nhiều thì phải mừng. Tốn gạo thì đỡ tốn tiền thuốc. Nó ngu như trâu.
– Ngu nên mới mất vợ. Cũng vừa!
Bây giờ tôi mới hay. Mỗi bữa Em khuyên vợ chỉ nên ăn ba chén cơm. Vợ Em hờn dỗi nên chỉ ăn hai chén. Nhưng đói chịu không nổi. Em không cho vợ giữ tiền, vợ Em phải xúc gạo đổi lấy bún mà ăn. Bà Út Thêm chèo xuồng bán bún rong. Mùi bún nước lèo thơm ngào ngạt. Vợ Em chì cần ngoắt một cái là xuống ghé bến. Tha hồ mà sì sụp.
Thấy khạp gạo mau vơi, Em sinh nghi. Em rình và bắt quả tang vợ đang xúc gạo đổi bún. Em chửi vợ tàn tệ như chửi súc vật. Vợ Em không nhịn nhục, ôm đồ và ôm bầu về ở với mẹ ruột. Em chống xuồng về bên ấy xin lỗi mẹ, để rước vợ về. Vô ích. Thế là hết.
Em bỏ căn chòi bên bờ sông, chèo xuồng lõm chõm đi về hướng Nam. Đi mà không về. Mất tăm.
Em lại có một căn chòi khác, nhỏ hơn, nhưng ấm cúng hơn căn chòi của một người đàn bà góa. Bà tặng Em một đứa con mà Em không mất công sinh thành. Bé gái lên năm, đen thủi đen thui, cặp mắt trắng dã, nhưng rất dễ thương. Trẻ em nào mà chẳng dễ thương. Em lại có với người đàn bà góa ấy hai đứa con nữa. Có trai có gái. Cúc cung tận tụy. Không than phiền. Không tả oán. Em đã thấm đòn rồi.
EM.
Bây giờ Em đã tạm ổn định cuộc sống. Từ đây Em hãy nhìn về phía sau, rồi nhìn về phía trước.
1. Nhìn về phía sau, Em thấy mình đã phạm nhiều lầm lỗi.
Vợ Em có thai mà Em không cho nghỉ. Em tả oán vì Em phải đầu tắt mặt tối để nuôi người vợ ở không suốt ngày. Cái thai ấy là con của cả hai vợ chồng. Thế mà một mình vợ Em phải mang nặng hăm bốn trên hăm bốn trong suốt thời gian hai trăm bảy mươi tám ngày. Ấy là chưa kể đến ngày sanh con, đau như đứt từng khúc ruột. Em không chia sẻ một phần nào hết. Vậy cái “đầu tắt mặt tối” của Em chỉ là cái đền ơn vợ mang thai con của Em mà thôi. Nếu Em không muốn nhìn nhận công lao ấy của vợ Em, thì hãy chọn một trong hai điểm sau đây:
– Một: Em xin Thượng Đế cho Em mang bầu để vợ đi làm nuôi Em.
– Hai: Em hãy mướn người dưng mang bầu để vợ Em đi làm. Công mang bầu lớn lắm, nhưng Em chỉ cần trả mỗi ngày bốn mươi ngàn đồng thôi. Còn công sanh đau đứt ruột thì tính riêng, theo sự thỏa thuận giữa đôi bên.
Vợ ăn khỏe thì Em chê là ăn như heo. Ăn khỏe được thì mừng. Ăn khỏe, đỡ tốn tiền thuốc. Ăn khỏe thì sồng vui và làm ra nhiều của cải. Vả lại vợ Em ăn nhiều để nuôi con của Em. Biểu vợ ăn ít là Em cúp khẩu phần của đứa bé đang lớn lên trong dạ mẹ. Em có thể làm tàn nhẫn như thế đối với đứa con của Em ư? Bạn chê Em là ngu như trâu. Thật chí lý!
Em chửi vợ Em một cách tàn tệ. Vợ là người để Em yêu và kính trọng. Chính Em đã cam kết thi hành điều ấy trong ngày thành hôn. Em cam kết long trọng trước mặt Chúa và Giáo Hội “Yêu thương và kính trọng vợ mọi ngày suốt đời tôi”. Đây là món nợ đời mà Em mắc với vợ, muôn đời không trả.
1. Nhìn về phía trước.
Trứơc mắt Em là người vợ cũ đã được Thiên Chúa nối kết mà loài người không được phân ly. Cũng trước mắt Em là người vợ sau và hai đứa con mà Em đã sinh thành. Ấy là chưa kể đứa con chính thức mà Em đã cấu tạo trong hôn phối thứ nhất. Em phải làm gì bây giờ?
Nhà làm luật biểu Em phải trở về sum họp với người vợ chính thức. Được không? Nếu không? Luật vị nhân sinh hay luật vị luật? Người bợ bị ruồng rẫy sẽ không bao giờ quay lại để nhìn Em. Người phụ nữ không thích quên và không bao giờ quên.
Vả lại, nếu Em sum họp được với người vợ cũ, hàn gắn được vết thương sâu hoắm, thì số phận của hai đứa con mà Em có với người vợ sau, sẽ ra thế nào, sẽ đi về đâu? Chúng có quyền được yêu thương, được nuôi nấng và được dạy dỗ. Chúng không thể bị ruồng rẫy. Quyền lợi ấy của chúng là quyên tối thượng.
Em phải chết, để chúng được sống. Em phải sống bất hợp luật, để chúng được nhờ. Và hãy phú thác đời mình cho lòng xót thương của Chúa. Hãy sống thật tốt, để đền bù. Đó là ý kiến riêng của tôi, ngoài lề Giáo Luật.

 

Lm. Pio Ngô Phúc Hậu 

Nguồn: dunglac.org

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 21

NGUYÊN LÝ TỐI THƯỢNG CỦA TỰ DO TÂM LINH

 NGUYÊN LÝ TỐI THƯỢNG CỦA TỰ DO TÂM LINH 

“Này các người Kalama,
chớ vội tin vì nghe lời truyền miệng đồn đại;
chớ vội tin vì nghe truyền thuyết;
chớ vội tin vì theo truyền thống;
chớ vội tin vì được kinh điển truyền tụng;
chớ vội tin vì lý luận suy diễn;
chớ vội tin vì diễn giải tương tự;
chớ vội tin vì đánh giá hời hợt những dữ kiện;
chớ vội tin vì phù hợp với định kiến;
chớ vội tin vì phát xuất từ nơi có uy quyền,
chớ vội tin vì lòng tôn kính vị đạo sư.

Nhưng này các người Kalama, khi nào tự mình biết rõ như sau:
Các pháp này là bất thiện;
Các pháp này là đáng chê;
Các pháp này bị các người trí chỉ trích;
Các pháp này nếu thực hiện và chấp nhận đưa đến bất hạnh khổ đau,
thời này các ông, hãy từ bỏ chúng!

Nhưng này các người Kalama, khi nào tự mình biết rõ như sau:
Các pháp này là thiện;
Các pháp này là không đáng chê;
Các pháp này không bị các người trí chỉ trích;
Các pháp này nếu thực hiện và chấp nhận đưa đến hạnh phúc an lạc,
thời này các ông, hãy tự đạt đến và an trú! ”
—————————————————–tutrainghiem

Lời của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni
Trích từ Kinh Kalama
Tăng Chi Bộ III.65 (Anguttara Nikaya III.65)

Sáu Không: sưu tầm trên net

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 36

Thức Tỉnh

Thức Tỉnh:  Con người có thể thức tỉnh bất cứ lúc nào nếu họ đã gieo hạt giác ngộ trong tiền kiếp                   
 Luật vượt biển đến Hồng Kông năm 1982, sau khi cải tạo tại Tiên Lãnh được sáu năm. Chuyến đi của anh suông sẻ chỉ mất hai ngày hai đêm trên biển. Điều trước tiên, anh đánh điện tín về nhà báo tin cho vợ con biết anh đã vượt thoát khỏi Việt Nam an toàn để chị mừng. Anh theo chân những người tị nạn vào phố Hồng Kông xin việc làm, anh được một nhà hàng sắp xếp cho anh rửa chén bát, việc làm cũng không đến nỗi khổ cực, lương tương đối khá. Mỗi ngày người ta cho anh mang về trại thức ăn dư thừa để anh chia cho những người không tìm được việc làm. Ở đây anh cảm thấy thoải mái hơn khi ở quê nhà rất nhiều. Không ai quan tâm hoặc theo dõi kẻ khác, không phạm pháp thì không sợ sệt ai. Trong trại ai cũng thân thiện, tận tâm chỉ vẽ nhau những điều người khác không biết. Mọi người chung quanh thương mến anh vì bản tính hiền lành. Ở Hồng Kông gần 1 năm thì anh được phái đoàn Mỹ nhận cho đi định cư.
Thế nhưng có một điều làm anh thắc mắc mãi, tại sao một ông thầy chùa đã giúp đỡ anh tận tình như vậy ? Anh chưa hề quen biết ông. Anh nhớ lại cái đêm vượt biên bị Công An phát giác, anh nhảy xuống sông vừa bơi vừa lặn, trước khi tàu Công An kẹp sát. Lên bờ vì trời tối anh không biết đây là nơi nào. Anh lần mò trong bóng tối chừng ba tiếng đồng hồ vẫn không thấy đường cái. Bỗng nhiên anh trông thấy ánh đèn từ xa, anh đi tới, thì ra đây là ngôi chùa nhỏ. Anh vào chùa gặp vị sư còn trẻ, Sư hỏi anh cần gì ? Anh tình thật thưa rằng anh đang lạc đường và xin được giúp đỡ. Vị Sư đưa anh vào chánh điện rồi đến thưa với thầy trụ trì. Thầy trụ trì chừng trên dưới sáu mươi tuổi, mặc bộ đồ màu lam, nước da ngăm đen, khuôn mặt hiền từ. Khi nhìn thấy anh Thầy có vẻ hơi giật mình. Thầy bảo người Sư trẻ dọn cơm cho anh ăn. Trong lúc nói chuyện để anh an tâm, Thầy cho anh biết sẽ không có ai làm phiền hay quấy rối anh. Anh muốn ở đây bao lâu cũng được. Thầy đích thân dọn phòng cho anh ngủ. Anh tự hỏi giữa lúc khó khăn, gạo châu củi quế, thế mà nhà chùa lại rộng lượng quá vậy.
Sáng dậy, anh bước ra phòng rửa mặt thì đã thấy Thầy ngồi tại bàn ăn đang uống trà. Thầy mời anh cùng uống trà và nói chuyện. Tuyệt đối Thầy không hỏi anh về cuộc sống hiện thời, về gia đình, về nơi ăn chốn ở. Thầy dặn anh có ai hỏi thì bảo anh là bà con ở quê ra thăm thầy. Thầy cũng cho anh biết ngôi chùa nhỏ nghèo nàn nên ăn uống sơ sài, không biết anh có chịu được không ? Anh chắp tay cám ơn Thầy và nói “Được Thầy bảo bọc, chuyện ăn uống không thành vấn đề, tất cả đều tốt với tôi. Xin Thầy đừng bận tâm”. Khi còn ở nhà, anh và vợ con bữa đói bữa no, làm gì được như thế nầy. Trong những ngày ở chùa, Thầy ít khi gặp anh, ít nói chuyện với nhau ngoại trừ vào bữa ăn. Không hiểu sao Thầy cố giữ anh lại, mà không cho biết lý do. Chừng mười ngày sau, khi ăn cơm chiều xong, Thầy bảo anh ngồi lại để Thầy nói chuyện. Chỉ còn lại hai người đối diện nhau, Thầy nói với anh :
– “Khi anh bước chân vào chùa nầy, tôi đã biết anh là người trốn thoát Công An lùng bắt vì tội vượt biên. Ở đây tôi đã gặp vài trường hợp giống anh và tôi đã che chở nên họ về nhà an toàn. Như anh biết chùa là nơi mở rộng vòng tay giúp đỡ cho những người sa cơ thất thế, chúng tôi làm hết sức mình trong điều kiện cho phép. Hơn nữa vượt biên theo tôi không phải là cái tội, họ chỉ trốn thoát chế độ không phù hợp với họ, không chống cự, không phản đối, thì không thể bảo họ mang tội. Trường hợp của anh khác với những người kia, khác như thế nào sau nầy anh sẽ rõ. Đêm nay có một chuyến vượt biên uy tín mà tôi tin tưởng, tôi muốn gửi anh đi trong chuyến nầy, mười một giờ sẽ có người tới dẫn anh đi. Tôi đã chuẩn bị sẵn cho anh mọi thứ, gồm có hai bộ quần áo để anh thay đổi khi tới nơi, và một lượng vàng cho anh tiêu dùng trong thời gian chờ định cư đến nước thứ ba.”
Anh trố mắt nhìn Thầy mà không nói nên lời, anh đi từ ngạc nhiên nầy đến ngạc nhiên khác. Không biết lý do gì mà Thầy tận tình giúp đỡ anh như vậy. Thầy bảo anh về phòng nằm nghỉ, chờ đến giờ có người tới đưa đi. Thầy không cho anh nói một lời nào dù là lời cám ơn. Thầy lên chánh điện tụng kinh. Anh nằm suy nghĩ mãi về sự giúp dỡ nầy của Thầy. Một lượng vàng là một tài sản không nhỏ vào thời điểm đó. Thế mà Thầy lại biếu anh, chưa kể Thầy còn phải đóng tiền cho chủ ghe để được đi, chứ không ai cho đi không. Anh thắc mắc sao lại có một người tốt như vậy. Anh hứa với lòng mình, sau khi An cư Lạc nghiệp ở xứ người, anh trở về thăm thầy, anh hỏi thầy lý do tại sao thầy đã giúp đỡ anh. Anh nghĩ sẽ hoàn trả lại số vàng bằng gấp bao nhiêu lần mà Thầy đã chi phí cho anh. Thầy nói chùa đã từng che chở cho những người vượt biên bị bể, đã đưa họ về nhà, đó là một việc làm tốt, một công đức cao cả mà chỉ có Bồ Tát mới hành xử như vậy. Vì biết bao nhiêu hệ lụy sẽ gây rắc rối cho chùa và cho Thầy nếu chính quyền biết được. Ấy vậy mà Thầy chẳng sợ gì. Niềm tin nào đã làm cho Thầy hành động một cách liều lĩnh như thế. Sống giữa một xã hội mà người dân chỉ còn cách trốn ra nước ngoài mới yên thân, thì còn sợ chi chuyện bắt bớ. Tuy nhiên ở trường hợp của Thầy lại khác, Thầy đứng ngoài mọi liên hệ với những người chạy trốn, mà lại dang tay ra đỡ cho họ khỏi bị tù tội. Còn hoàn cảnh của anh được Thầy che chở rồi lại tìm cách đưa đi tiếp. Qua sự việc nầy, Thầy đã tạo cho anh một niềm tin vào cuộc đời, vẫn còn có người đầy lòng nhân ái.
Anh nằm trong phòng không nhắm mắt được. Anh nghe tiếng tụng kinh của thầy ngoài chính điện, giọng thầy trầm bổng uy nghi, gieo vào lòng anh một thức tỉnh và suy tư. Anh chưa bao giờ nghe được những lời kinh có uy quyền, thấm đẫm vào lòng anh một cách sâu xa, xoa dịu những nhọc nhằn căng thẳng mà anh đã từng gánh chịu. Anh suy nghĩ, đây mới chính là nơi Phật hiện diện. Không cần chi chùa phải lớn, phải nguy nga. Chính ngôi chùa nhỏ bé nầy, ở một nơi hẻo lánh mà đã chứa lực đại hùng của Phật, sáng tỏa trong lòng anh sự từ bi mà bây giờ anh mới ngộ ra được. Người anh lâng lâng như đang bước vào một cõi tâm thức, tiếng kinh như thinh lặng, đôi lúc dìu dặt, đôi lúc khoan thai, có phải chăng đang dìu anh ra khơi trong êm ả, một chuyến đi mà anh không còn mang nỗi sợ. Rồi anh thiếp đi lúc nào không hay.
Gần mười một giờ đêm, Thầy vào gọi anh dậy. Thầy trao cho anh cái bọc nylon chứa hai bộ quần áo và một lượng vàng. Thầy bảo anh cẩn thận cất vàng vào túi quần sau cài nút lại. Trong bọc nylon có một lá thư, Thầy dặn khi lên ghe lớn hãy đọc. Nếu trường hợp bị Công An phát hiện, bằng mọi cách phải hủy lá thư trước. Thầy đứng ngay cửa nhìn anh ra khỏi chùa. Người dẫn đường đưa anh ra ghe nhỏ cách đó chừng nửa giờ. Trên ghe có khoảng mười người, rồi ghe chạy ra sông cái tấp vào ghe lớn đang chờ sẵn. Khi leo lên ghe anh làm rớt bọc Nylon xuống sông không vớt lên được. Như vậy lá thư và hai bộ áo quần mất từ đó.
Đúng như lời Thầy nói, chuyến đi rất an toàn, hai ngày sau tới Hồng Kông. Anh đổi lượng vàng ra thành 10 chỉ, để tiêu dùng trong những ngày sống ở trại tị nạn. Anh tiện tặn vì không biết chờ đợi đến bao lâu mới đi định cư ở nước thứ ba. Anh may mắn được phái đoàn Mỹ phỏng vấn và cho đi sớm. Một gia đình người Mỹ ở Oakland California làm sponsor cho anh. Lúc đó Oakland chưa có người Việt nhiều, thành phố toàn người Mỹ đen và Mễ. Dần dần những năm sau người Việt tới định cư và những quán Café mọc lên ở đường E.14. Chính ở đây là nơi truyền những tin tức từ Việt Nam qua, chuyện bàn luận Chính trị bắt đầu sôi nổi trên bàn Café của những chính khách không tên tuổi. Đúng, sai không ai cần biết, có cãi vả với nhau khi bất đồng, nhưng tất cả đều bỏ lại bàn, không ai mang trong lòng. Đó là niềm vui duy nhất của mỗi cuối tuần cho những người Việt tha hương sinh sống trong Thành phố. Anh share phòng với một gia đình Việt Nam, ăn uống anh tự túc nấu lấy, nên tiết kiệm thêm một ít tiền. Anh viết thư bảo vợ thỉnh thoảng qua chùa Mân Thái cúng Phật và thăm Thầy Trụ Trì. Anh cho chị biết, Thầy là ân nhân của anh và gia đình, chị phải thay anh thăm viếng Thầy thường xuyên.
Sau khi có quốc tịch Hoa Kỳ, anh làm hồ sơ bảo lãnh vợ con. Anh thu xếp một chuyến về Việt Nam, để trước hết thăm Thầy, sau đó hỏi về lý do Thầy đã tận tình giúp anh. Một thắc mắc cứ canh cánh trong lòng khiến anh trăn trở mãi. Thầy thường che chở cho những người vượt biên, nhưng Thầy chưa bao giờ nói là đã giúp ai phương tiện và vật chất để họ tiếp tục đi như anh. Thăm viếng gia đình, bà con hang xóm xong, anh đón xe đi Mân Thái thăm Thầy. Chùa vẫn y nguyên như xưa, như những ngày anh sống dưới sự bảo bọc của Thầy. Anh gặp vị sư trẻ, vị sư nầy nhận ra anh ngay. Thầy nhìn anh, đôi mắt Thầy sáng lên đầy ngạc nhiên và vui mừng. Anh chạy đến ôm Thầy, anh cảm thấy sung sướng, nước mắt ràn rụa. Thầy mời anh ngồi trên chiếc bàn ăn ngày nào. Anh tình thật thưa với Thầy là lúc hối hả leo lên tàu lớn trong đêm tối, anh đánh rơi bọc Nylon có lá thư và hai bộ áo quần Thầy cho, nên đến bây giờ anh vẫn không biết trong thư Thầy viết gì. Thầy cười hiền hòa và nói trong thư căn dặn anh phải giữ gìn sức khỏe, luôn luôn nghĩ tới vợ con, chứ không có gì quan trọng. Thế nhưng anh không nghĩ như vậy, có một điều gì bí mật mà Thầy chưa tiện nói ra.
Anh ở lại chùa vài ngày để trò chuyện với Thầy, luôn tiện anh xin Thầy cho anh quy y. Thầy đồng ý. Thế là mỗi đêm, khi Thầy tụng kinh anh cũng chắp tay ngồi phía sau, vừa nghe câu kinh Thầy tụng vừa thấy lòng mình lắng xuống, như ngộ ra được một cái gì đó rất tâm linh mà không thể nào diễn tả được. Mỗi lần tụng xong câu kinh Thầy gõ một tiếng chuông, rồi cúi xuống lạy. Tiếng chuông ngân vang trong đầu anh, như dẫn dắt anh bước vào sâu thẳm của cõi siêu hình. Dạy cho ta những đạo đức để giữ mình, để sống với tha nhân. Anh cảm thấy những ngày ở chùa tuy ngắn ngủi nhưng anh đã học được nhiều điều quý giá. Một buổi tối sau khi ăn cơm xong, Thầy và anh ngồi uống trà nói chuyện. Thầy nhìn thẳng vào mắt anh, rồi từ từ nói :
– “Chắc anh thắc mắc trong lòng bấy lâu nay, là tại sao tôi tận tình giúp anh, tiếp tay làm tròn ước nguyện mong muốn của anh là vượt thoát ra khỏi đất nước. Chẳng qua đó là cái ơn mà tôi phải trả cho anh trong thời kỳ chinh chiến. Có lần anh đã giúp tôi mà anh tuyệt nhiên không hay biết. Bây giờ tôi xin kể đầu dây mối nhợ của câu chuyện. Anh không còn nhớ, nhưng với tôi chuyện gặp anh lúc đó tôi không bao giờ quên được. Trước khi nhắc lại chuyện cũ, Tôi xin nói về tôi. Tôi có vợ và hai con, hồi đó gia đình chúng tôi sống trong vùng mất an ninh. Tôi hoạt động Cách mạng và làm đến chức Huyện Ủy Viên. Vợ con tôi chết trên chuyến đò tiếp tế bị máy bay phát hiện, từ đó tôi là người không có gia đình. Tôi được cấp trên giao cho nhiệm vụ hoạt động trong vùng Hòa Vang và Điện Bàn. Để dễ dàng đi lại, tôi giả làm một nhà sư mặc áo nâu sòng, trên vai luôn luôn mang cái bị chuông mõ, nhưng thực tế trong đó chứa những tài liệu hoạt động và một khẩu súng ngắn. Tôi tránh đi lại ban ngày vì sợ dễ bị phát giác. Thường di chuyển vào lúc mặt trời sụp tối và Du kích địa phương báo trước cho tôi biết đoạn đường nào an toàn để đi.
Buổi chiều tôi nhận được lệnh là sáng hôm sau tôi có một cuộc họp với thượng cấp tại xã Thanh Trường, huyện Điện Bàn. Tôi và hai cận vệ yên tâm ra đi, người cận vệ đi đầu bi đau bụng nên ngồi lại đi cầu, như vậy tôi trở thành người đi đầu. Đi được một đoạn thì tôi bị một toán lính Quốc Gia phát hiện, người đi phía sau tôi núp vào bụi cây nên thoát được. Tôi được dẫn vào trình diện ông Trung úy Đại đội trưởng, người Chỉ huy cuộc hành quân đó. Tôi nghĩ trong bụng, tôi không thể nào thoát được lần nầy, thế nào họ cũng xét người và chiếc bị mang trên vai, đầy tài liệu và cây súng ngắn trong đó… Dưới ánh đèn nho nhỏ, ông Trung úy ngước lên nhìn tôi với khuôn mặt hiền từ, hỏi tôi một câu cho lấy lệ : “Thầy đi đâu trong đêm tối ? Thầy có biết vùng nầy nguy hiểm lắm không ?” Tôi thưa với ông rằng : “Xóm trên có người mới mất, tôi đến tụng kinh rồi ra về. Không ngờ trời sụp tối mau vậy.” Người lính đứng gần hỏi ông Trung úy có cần xét ông thầy nầy không ? Ông Trung úy nói khỏi cần, rồi sai người lính trải Poncho cho thầy ngủ lại, sáng mai hãy về, chứ đi trong đêm thế nào cũng bị bắn. Tôi nghĩ lúc đó có người khuất mặt che chở cho tôi nên họ không xét người tôi. Sáng hôm sau thức dậy, ông Trung úy đưa cho tôi một ca nước trà, rồi tôi lên đường. Suốt trên đoạn đường đi, tôi suy nghĩ mãi về ông Trung úy. Điều gì đã làm cho ông cư xử với tôi như vậy ? Ông có biết rằng trong đêm đó tôi có thể giết ông rồi bỏ chạy, giữa đêm khuya tối mịt làm sao bắn trúng tôi ? Ai đã khiến tôi, ngăn cản tôi không làm điều đó. Trong chiến tranh không từ nan bất cứ thủ đoạn nào, giết người không một chút cắn rứt. Nhưng giữa anh và tôi, hai kẻ thù gặp nhau ở điểm “lòng nhân ái”, không biết nó đã tiềm ẩn trong người tự lúc nào mà khi nó tỉnh dậy lại vào lúc đúng nhất. Từ đêm đó, tôi bắt đầu suy nghĩ về tâm linh, chiếc áo nâu sòng tôi đang mặc, phải có cái duyên tôi mới khoác nó lên người. Trong những năm cuối cùng chiến tranh chiếc áo như đã che chở cho tôi tránh những lằn tên mũi đạn. Tôi nguyện trong lòng, sau khi cuộc chiến chấm dứt, thế nào tôi cũng tìm gặp anh. Ánh mắt và khuôn mặt anh không làm sao tôi quên được. Anh đã cứu tôi không những tại mặt trận, mà còn cứu tôi ra khỏi vũng lầy của sự hận thù. Tôi luôn luôn âm thầm cầu nguyện cho anh thoát khỏi mọi tai ương. Cái đêm anh bước vào chùa, khi anh ngước lên nhìn tôi, cũng ánh mắt ấy cách đây hơn mười năm giống hệt nhau. Tôi giật mình, ân nhân năm xưa bây giờ đã đến, tôi có bổn phận phải giúp anh, phải đưa anh thoát khỏi nghịch cảnh mà anh và gia đình gánh chịu. Bây giờ anh đã hiểu rồi chứ ? Đây là cơ hội cho tôi trả lại anh món nợ cũ. Điểu làm tôi suy nghĩ mãi là cơ duyên nào đưa anh tới đây ? Có phải chăng ơn trên đã dẫn dắt anh. Trong cuộc sống thiên hình vạn trạng, rất hiếm có trường hợp giống nhau. Thế mà chúng ta lại rơi đúng vào sự trùng hợp nầy một cách bất ngờ.”
Anh sững sờ nhìn Thầy, một câu chuyện mà anh không hề nghĩ đến, cho đến bây giờ Thầy nhắc. Đúng là trường hợp hi hữu, tất cả đều có sự sắp xếp của ơn trên. Ký ức anh bắt đầu quay về khoảng không gian mười năm trước đây :
“Hồi đó đơn vị anh hành quân ở khu vực Miếu Bông, sát Quốc lộ 1, giữa đường từ Đà Nẵng vào Vĩnh Điện. Gần 6 giờ chiều, anh được lệnh di chuyển vào khu vực xã Hòa Lân gần một con lộ đá từ Non Nước vào Hội An. Chính sự di chuyển nầy đánh lạc hướng du kích địa phương và những liên lạc viên, vì họ không ngờ đơn vị của anh di chuyển ban đêm. Ông Huyện ủy viên tưởng rằng không có lính Quốc gia hành quân, nên ông mới đi trên lộ trình nầy. Khi ông bị lính chận lại, ông rất ngạc nhiên tại sao một cuộc hành quân như vậy mà du kích không phát giác được. Chỉ huy Đại đội đóng gần cái miểu, anh treo chiếc võng bên ngoài, định nằm nghỉ thì người lính gác dẫn một ông thầy chùa vào trình diện. Anh ngước nhìn thấy ông thầy chùa cũng lớn tuổi, con người khắc khổ tội nghiệp. Anh không nghi ngờ gì cả, bảo ông nghỉ lại đây cho an toàn rồi ngày mai về sớm. Đi trong đêm nguy hiểm vì có thể gặp đơn vị Quốc gia khác đi kích, lúc đó khó tránh khỏi rắc rối. Đơn giản là như vậy, chứ anh hoàn toàn không có ý nghĩ gì khác, hoặc nghi ngờ ông thầy chùa là Việt Cộng. Sáng hôm sau khi ông thầy chùa đi rồi, thì anh mới tự hỏi tại sao mình không lục xét ông thầy, biết đâu ông là Việt Cộng thì sao ? Giữa thời buổi chiến tranh bất cứ ai cũng có thể nghi ngờ. Nghĩ như vậy, nhưng anh không cho lính chạy theo gọi ông trở lại. Chuyện nầy anh cũng lãng quên, bây giờ Thầy nhắc anh mới nhớ lại.”
Anh nhìn Thầy, nhưng hoàn toàn không còn nhớ khuôn mặt. Càng nghĩ anh càng cảm thấy sự màu nhiệm của đức tin, có thể biến đổi được con người, xoa dịu những vết thương tưởng chừng như không bao giờ xóa đi được. Anh lặng người để tâm hồn lắng xuống, nhìn Thầy như cảm nhận có được một luồng hùng lực tỏa sáng. Khuôn mặt Thầy hiền từ, ăn nói chậm rãi, từ tốn. Anh thấy, Thầy hoàn toàn lột xác. Thường thường chính trị viên nào cũng ăn nói lưu loát, cứng rắn, họ là những người nắm sinh mạng của đơn vị, đẩy những chiến binh dưới quyền mình vào chỗ dầu sôi lửa bỏng. Bây giờ lời Thầy có một hấp lực mang đến sự an lành cho mọi người. Ôi, tất cả đều nằm trong nghiệp số.
– Thưa Thầy, thế thì lúc nào Thầy mới chính thức bước vào đường tu hành ?
Thầy nhìn anh cười. Bây giờ anh mới để ý nụ cười của Thầy hiền lành, đúng là một bậc chân tu :
– Sau 30 tháng 4 năm 1975, khi quân Cách mạng hoàn toàn chiếm Miền Nam, cũng vào ngày đó tôi chính thức đi tu. Những bạn bè cũ cùng chiến đấu với tôi rất ngạc nhiên. Lúc được hưởng những sung sướng nhất, giàu sang nhất, tôi lại chọn lấy con đường cực khổ nhất. Tôi trả lại tất cả những chức vụ, đảng viên, những quyền hành v.v… chỉ xin một điều, hãy để cho tôi yên, đừng quấy phá làm phiền tôi. Những ai đến thăm chùa, những ai ngụ trong chùa xin các người đừng gây rắc rối cho họ. Những ngày tôi theo Cách mạng, hy sinh cả vợ con, sự cống hiến của tôi đã đủ. Bây giờ cho tôi yên phận trong tuổi già. Tôi nghĩ chỉ có con đường nầy mới giải thoát được tôi, vợ con tôi dưới suối vàng cũng mĩm cười. Lúc đầu họ không chịu, nhưng tôi quyết liệt quá, họ đành phải chìu ý tôi. Họ bảo tôi lãnh đạo Phật Giáo tỉnh, tôi từ chối. Tôi muốn làm một người tu hành đúng nghĩa nhất. Không lợi dụng chiếc áo cà-sa nữa, vì tôi đã lợi dụng nó quá nhiều trong thời chiến tranh để che đỡ mình.
Lúc đầu khi về chùa tôi thỉnh một bộ kinh và sắm chuông mõ, tôi tự trồng trọt để nuôi thân. Dân địa phương họ biết tôi trước đây hoạt động cho quân Giải Phóng nên họ rất e dè, ít người lui tới. Dần dần người nầy truyền đạt cho người kia về tôi, họ thấy tôi không nguy hiểm mà trái lại rất dễ thương. Từ đó chùa có một sinh khí mới, buổi tối ai rãnh thì đến chùa tụng kinh với tôi. Đạo hữu họ cũng biết chùa che chở cho nhiều người trốn thoát Công An, họ cho đó là việc làm đúng. Công An họ tin rằng tôi là một đảng viên, không thể chấp chứa những thành phần phản động. Nhưng họ không ngờ rằng tôi bây giờ đã hoàn toàn lột xác, tất cả đều là anh em, không thù không oán. Chính vì vậy chùa đã bao che cho những người vượt biển trốn tại đây.
– Thưa Thầy, chùa nầy đã có trước đây hay mới làm và người đệ tử theo Thầy từ lúc nào ?
– Chùa nầy trước đây là chùa hoang, nằm trong vùng oanh kích tự do nên không ai dám lui tới. Làng mạc tiêu điều, dân làng ra Thành phố tỵ nạn tránh bom đạn, chùa không còn ai hương khói. Chỉ có tượng Phật lành lặn, còn tất cả đều bị đạn bắn phá. Chính điều nầy cũng làm cho tôi bao nhiêu đêm suy nghĩ, tượng Phật không hề hấn gì cũng lạ thật. Những năm cuối cuộc chiến, tôi ngủ dưới bệ tượng Phật, tôi cảm thấy an tâm, hình như có một cái gì đó che chở cho tôi. Tôi nguyện trong lòng, sau khi đất nước hòa bình, tôi sẽ về đây tu bổ lại ngôi chùa và sinh sống. Nếu gặp được phước duyên tôi sẽ đi tu, gia đình vợ con không còn nữa, chẳng còn chỗ nào làm nơi nương tựa. Trong thời chiến tôi lấy nơi đây làm nơi cư ngụ và hoạt động. Sau nầy, như mong ước, tôi tu bổ dần dần trở thành một ngôi chùa tuy không lớn, nhưng đạo hữu đến cũng khá đông. Tôi dự định sang năm đủ tiền, sẽ xây lại lớn hơn, để những người con Phật có nơi khang trang hành lễ trong những ngày Vía lớn. Người Thầy trẻ phụ giúp tôi trong chùa, lúc thầy đến mới 10 tuổi, cha mẹ thất lạc lúc chạy loạn. Thấy tội nghiệp tôi nuôi nấng cho ăn học. Bây giờ thầy đã là Kỹ sư công nghệ. Tôi bảo thầy có thể ra đời lấy vợ, vì chuyện ở chùa chỉ là hoàn cảnh bức bách lúc đó. Thầy bảo là con quyết tâm tu hành theo chân sư phụ. Thôi biết đâu cũng là cơ duyên. Tôi không bao giờ sai bảo thầy nhỏ những gì mà tôi có thể làm được, thầy thấy tôi làm việc nầy thì thầy làm việc khác, từ xưa đến giờ trở thành một nề nếp. Cách đây hai năm cha mẹ của thầy trẻ từ nước ngoài về tìm thầy. Khi họ lạc nhau thầy đã 10 tuổi nên thầy dễ dàng nhận ra cha mẹ. Cha mẹ sẽ bảo lãnh cho thầy đi, nhưng thầy vẫn chưa quyết định. Tôi có khuyên thầy nên đi, dù sao tình ruột thịt cũng cần thiết hơn. Tôi nghĩ thế nào thầy trẻ cũng rời khỏi chùa, nên tôi đang tìm một người sau nầy sẽ thay tôi. Cái khó không phải là không có người, mà người thay thế tôi có được lòng bà con, có siêng năng tu tập, có đủ nghị lực để quán xuyến ngôi chùa không. Và điều quan trọng nhất là đừng để chùa biến thành công cụ phụng sự Chính trị. Nhiều đêm suy nghĩ nhưng chưa tìm được người như vậy. Thật tình thì có lo lắng cũng không được. Thôi thì cứ để mọi chuyện từ từ, người nào có Phật duyên tự nhiên sẽ đến.
Bây giờ tôi già rồi, những việc nặng nhọc không làm được, người đệ tử của tôi quán xuyến hết. Hơn nữa đạo hữu cũng khá nhiều, mỗi ngày có vài người đến chùa làm công quả, nên tôi có thì giờ nghỉ ngơi, chỉ lo Phật sự. Tôi tự tu hành, học trong kinh sách của Phật dạy. Phần nhiều kinh sách viết bằng chữ Hán nên đã gây cho tôi khó khăn lúc ban đầu.
Mặc dù Thầy không đi tu từ nhỏ, nhưng quyết tâm cố gắng của Thầy, kiên trì học hỏi của Thầy, đã tạo cho Thầy một con người thông hiểu giáo lý nhà Phật, có một kiến thức rộng. Thầy không có một vị sư đỡ đầu, trong Phật Giáo gọi người nầy là Thầy Bổn Sư, nên khi gặp những rắc rối liên quan đến sự tu hành, Thầy tìm đến những cao tăng xin chỉ dạy. Mỗi tháng hai lần, ngày mồng Một và ngày Rằm, Thầy thuyết giảng để đạo hữu hiểu những điều Phật dạy, để sửa mình, để tu thân. Chính quyền tại đây biết rõ về Thầy nên không ai đến quấy rầy. Vì vậy Thầy yên tâm tu hành. Từ khi chính thức bước vào cửa chùa, Thầy không quan tâm đến sự việc bên ngoài. Tiếng tăm của Thầy dần dần được những Phật tử quanh vùng biết đến và từ đó sinh hoạt Phật sự trong chùa trở nên nhộn nhịp hơn. Có người đề nghị với Thầy nên trùng tu lại ngôi chùa cho phù hợp với số đạo hữu ngày càng gia tăng. Thầy nhận biết điều nầy, nhưng Thầy không dám kêu gọi đóng góp. Thầy cố tiện tặn để dành nhưng vẫn chưa đủ tiền thực hiện.
Một buổi sáng trong lúc uống trà, anh đặt một bọc tiền trên cái khay nhỏ, rồi thưa với Thầy :
– Thưa Thầy, đây là số tiền con dành dụm từ lâu, con hứa khi về quê nhà con sẽ nhờ Thầy dùng nó để làm việc gì mà Thầy cảm thấy cần thiết phải làm. Con không nghĩ là trả lại cái ơn mà Thầy đã giúp, vì ơn nầy to lớn quá con không trả nỗi. Con thấy Chùa hư hại quá nhiều, Thầy cho con góp một tay với Thầy xây dựng lại tốt hơn. Nếu có thiếu hụt trong lúc trùng tu, con sẽ gửi về thêm để Thầy trang trải.
Thầy nhìn anh, Thầy cảm thấy như anh trả lại món nợ trước đây Thầy đã giúp anh vượt biên, nhưng khi nghe anh trình bày thành thật. Thầy trầm tư, đắn đo có nên nhận của anh hay không ? Cuối cùng Thầy quyết định :
– Lòng tốt của anh Thầy ghi nhận. Tuy chùa cũng rất cần, nhưng nhận số tiền nầy của anh Thầy cảm thấy áy náy quá. Thôi thì thay mặt chùa, Thầy cám ơn anh. Thầy sẽ nhờ người vẽ kiểu rồi từ từ thực hiện theo đó. Làm cho đến khi nào hết tiền thì ngưng, có tiền làm tiếp. Ngày xưa các vị sư tổ xây chùa từ đời nầy qua đời khác, không có ai xây chùa chỉ một đời. Lấy kinh nghiệm nầy, Thầy sẽ thực hiện cho đến khi nào Thầy không còn khả năng.
Thầy và anh bàn nhiều chuyện, trong đó để tiết kiệm tiền bạc, Thầy định làm một lò nung gạch, đào đất trước sân chùa để làm gạch. Cái hố lấy đất sau nầy sẽ trồng sen, trở thành một hồ sen. Thấy những dự tính của Thầy hợp lý, anh cũng vui thích.
Trở lại Mỹ, mỗi đêm anh ngồi trước bàn thờ tụng kinh. Lúc đầu anh không biết tụng kinh như vậy để làm gì, sau vài tháng anh ngộ ra được một điều cái “quả” mà anh nhận được bây giờ, gia đình yên vui, vợ con sẽ đoàn tụ, công việc trôi chảy, chính nhờ vào cái “nhân” mà anh đã gieo. Anh tụng kinh là nhắc nhở mình phải luôn luôn gìn giữ cái tâm ngay thẳng. Anh không nghĩ đến những chuyện cao siêu, chỉ biết đơn giản là tu thân tích đức. Anh cảm thấy tâm hồn anh thanh thản hơn, bỏ ra ngoài những hệ lụy rắc rối không mang tới niềm vui cho mình, cho mọi người. Câu kinh anh tụng trở nên nhiệm màu.


Vợ con anh sau vài năm tới Mỹ theo diện đoàn tụ. Anh có hỏi vợ về ngôi chùa ở Mân Thái.Vợ anh cho biết ngôi chùa đã xây xong, không lớn lắm nhưng khang trang. Thầy có làm một tấm đá gắn trên tường khắc tên những người đóng góp xây dựng nên ngôi chùa như một lời tri ân. Nhiều đêm không ngủ được anh lại nghĩ tới ngôi chùa, nghĩ tới Thầy. Ngôi chùa nhỏ nhưng chứa một tấm lòng quá lớn. Đối với gia đình anh đây cũng là thánh địa, đã cứu giúp anh vượt qua những khó khăn. Trong chiến tranh, chỉ một lần ngẫu nhiên gặp gỡ mà người Thầy đã giác ngộ, đã từ bỏ hết những danh vọng, những quyền thế, xóa sạch những hận thù, những dĩ vãng đen tối. Chấp nhận một cuộc sống thanh bần khổ cực. Mấy ai trên đời nầy làm được như Thầy ? Công đức của Thầy theo anh, đó là một ngọn Thái-sơn mấy ai leo tới. Năm nay Thầy đã bát tuần, như một quyển kinh đã đọc đến những trang gần cuối. Thầy không có gì phải vướng bận khi ra đi, chắc Thầy cũng đã sẵn sàng đi theo Phật. Cuộc đời, mọi vật rồi cũng sẽ trở thành cát bụi, chỉ còn chăng là một tấm lòng. Anh viết thư cho quý đạo hữu hãy báo tin cho anh biết khi Thầy viên tịch, anh sẽ thu xếp về ngay để tiễn đưa Thầy lần cuối.

Phan Xuân Sinh
 Bài viết thật có ý nghĩa . xin phép tác giả được chia sẻ đến cùng mọi người.
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 53

Cuộc Sống Hiện Đại

Liệu bạn có hài lòng với cuộc sống hiện đại, với tốc độ tăng trưởng như vũ bão ngày nay? Rõ ràng chúng ta không thể phủ nhận được những lợi ích từ sự phát triển ấy mang lại. Tuy nhiên, điều gì cũng có hai mặt của nó, sự phát triển cũng kéo theo những hậu quả đáng báo động cho nhân loại ngày nay. Steve Cutts, một nghệ sỹ vẽ tranh minh họa đã phác họa những sự thật trần trụi của cuộc sống hiện đại ngày nay. Hãy xem và cùng suy ngẫm.

Smartphone đang khiến con người trở thành loài vô tri vô giác

Liệu tiền có thực sự mang lại hạnh phúc?

Tác hại của đồ ăn nhanh và sự lười nhác của con người


Những ai đang ưa chuộng những thứ xa xỉ phù phiếm thì chỉ vỗ béo cho các công ty sản xuất

Ai đang kiểm soát ai???

Trái Đất đang bị hủy hoại bởi những con người bất chấp mọi thứ để kiếm được ra tiền


Có một nỗi sợ hãi của đa số mọi người mang tên Ngày thứ Hai


Ngưng Ngược Đãi

Những tin tức lá cải ngày càng tràn ngập trên các phương tiện truyền thông

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 58

Bên trong cung điện vua Bảo Đại xin giữ lại sau lễ thoái vị

Sau khi đọc chiếu thoái vị chiều 30/8/1945, cựu hoàng Bảo Đại đã xin giữ lại cung điện do vua cha Khải Định xây dựng để cùng gia đình dọn ra khỏi Hoàng thành về đây sinh sống.
Cung An Định nằm bên bờ sông An Cựu (TP Huế), được vua Khải Định cho xây dựng năm 1917. Sau lễ thoái vị chiều 30/8/1945, cựu hoàng đã đưa mẹ là bà Từ Cung, vợ Nam Phương cùng con cái và người hầu cận về cung An Định sinh sống.
 
Hiện tại, cung điện rộng khoảng 750 m2 này là nơi tham quan của du khách khi đến Huế. Sau cánh cổng được sơn son thếp vàng là tòa cung điện nguy nga.
 
Tòa cung điện 3 tầng với hơn 20 phòng được gọi với là Khải Tường Lâu. Trong căn phòng chính giữa ngay lối vào, vua Khải Định cho vẽ 6 bức tranh tường mô tả những khu lăng tẩm của các vị vua nhà Nguyễn. Bức tượng vua trước đây từng đặt ở Đình Trung Lập (ngay phía cổng vào), nay được đưa vào trưng bày tại đây.
 
Trần của Khải Tường Lâu được trang trí hoa văn tinh xảo, đẹp mắt. Cung điện đã nhiều lần được bảo tồn, phục dựng với mong muốn đưa về lại nguyên bản.
 
Bên trái của căn phòng chính là phòng tiếp khách với bộ bàn ghế mang đậm nét cổ xưa, pha lẫn với phong cách phương Tây.
 
Đối diện với phòng khách là phòng ăn rộng, có một chiếc bàn dài và ghế dựa, xung quanh là những chiếc tủ cổ. 
 
Tủ cổ đều được chạm khắc tinh xảo, phía dưới tủ chạm nổi họa tiết đầu rồng. Hiện nay, các tài liệu về việc bài trí nội thất Khải Tường Lâu hầu như không còn, nên không thể tái hiện chính xác.
 
Cầu thang dẫn từ tầng 1 lên tầng 2 của cung điện mang đậm phong cách phương Tây. 
 
Sau khi cùng gia đình dọn về cung điện, vua Bảo Đại cũng sớm ra Hà Nội làm cố vấn cho chính phủ cách mạng lâm thời, chủ yếu chỉ có Đức Từ Cung và hoàng hậu Nam Phương cùng con cái sống ở cung An Định. Trên tầng 2 hiện được kê một chiếc phản lớn, được xác định chính xác là phòng của Đoan Huy Hoàng Thái Hậu (Đức Từ Cung).
 
Một số hình ảnh của vua Bảo Đại và gia đình đang được trưng bày ở cung điện. Năm 1955, sau khi phế truất Quốc trưởng Bảo Đại, cung An Định bị chính quyền Ngô Đình Diệm tịch thu.
 
Một bức tranh chân dung Hoàng hậu Nam Phương được vẽ năm 1944. Trải qua nhiều biến cố lịch sử, cung An Định cũng không còn giữ được những nét đẹp ban đầu.
 
  
Phía sân sau cung điện hiện có một bãi cỏ, vốn là nhà hát Cửu Tư Đài – nơi gia đình vua nghe nhạc, nhảy đầm, nhưng đã bị phá hỏng năm 1947.  Sau năm 1975, bà Từ Cung đã hiến tặng lại cung điện này cho Nhà nước.
                                Vô Danh sưu tầm

 

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 69

Hình ảnh Những Bà Mẹ Việt Nam thật…đau lòng,


Xúc thương những cụ bà lặn lội gánh hàng rong

Gánh những bó rau từ lúc trời tờ mờ sáng

Xúc thương những cụ bà lặn lội gánh hàng rongBán hàng tới lúc 1 giờ đêm dưới trời mưa

Xúc thương những cụ bà lặn lội gánh hàng rong

Đôi chân trần mải miết bước đi trong mưa gió

Gánh nặng trên vai những thứ quà lặt vặt và rất rẻ tiền

Xúc thương những cụ bà lặn lội gánh hàng rong

“Gia-Tài của Mẹ” : Là 2 chiếc làn nhựa và mấy đôi giày

Xúc thương những cụ bà lặn lội gánh hàng rong

Dù cả ngày chỉ kiếm thêm được vài ba đồng vẫn còn hơn không có

Xúc thương những cụ bà lặn lội gánh hàng rong

Dù những món hàng đem bán chỉ là mớ rau muống, bó dọc kkhoai

Đôi mắt mù lòa vẫn ngồi bán nước ở Hồ Gươm.

Xúc thương những cụ bà lặn lội gánh hàng rong

Số tiền lãi chỉ được tính bằng 1-2 nghìn lẻ.

Mẹ Già ơi ! Mẹ đủ tiền mua cơm chưa ?

Xúc thương những cụ bà lặn lội gánh hàng rong

Mẹ ơi ! Mẹ cười hay mếu ?

Xúc thương những cụ bà lặn lội gánh hàng rong

….Tuổi già đè nặng trên vai nhưng không có ai chia sẻ nên dù tuổi cao, dù lưng mỏi, các cụ vẫn phải lặn lội sớm khuya để kiếm thêm miếng cơm ăn, kiếm manh áo mặc…

Xót lòng trước cảnh cụ bà còng lưng đi nhặt rác

Mẹ ơi ! Mẹ đang làm gì thế , lưọm rác hay bới rác ?

Phố đã lên đèn , trời tối rồi , Mẹ ngủ ở đâu ?

Nguyện-cầu trên khắp Quê-Hương đêm nay không mưa-giông gíó-rét

Chúng con cầu-xin cho tất cả các Mẹ có cuộc sống an lành, ấm no trong tuổi già.

__

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 119

Tiết lộ chấn Động về thuốc Tây Y

                    VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ UNGTHƯ                                                                   

  Để mở đầu bài viết xin trích dẫn câu nói khá nổi tiếng ” Ngàn lần nói sai thành chân lý”, đa số chúng ta khi sinh ra tới khi chết đi nếu bạn không tinh ý bạn sẽ bị dẫn dắt bởi giáo dục, truyền thông đang hàng ngày “tẩy não” chúng ta một cách hết sức tinh vi và có hệ thống .  Tây Y (Western medecine) đã tiến bộ và phát triển mạnh mẽ trong khoảng 100 năm trở lại đây, Bên cạnh những thành tựu xuất sắc, đặc biệt của các trị liệu bằng phẫu thuật, vi phẫu thuật, đặt implant, thay ghép tạng, sử dụng tế bào mầm v.v…người ta nhận ra là vẫn có một bộ phận của Tây Y trở nên ì ạch không phát triển gì nhiều. Đó là sự tồn đọng của nhiều bệnh (thường gặp) mà nguyên nhân vẫn còn không được biết rõ! Và vì thế, những trị liệu hiện nay chỉ có tính cách trị triệu chứng (symptom relief) hoặc trị liệu tạm thời (palliative care). Ví dụ bệnh suyễn, bệnh cao huyết áp, bệnh tiểu đường, bệnh vảy nến, bệnh vảy cá (ichthyosis) v.v và v.v…nhất là Tây Y chưa giải quyết được một bệnh ác tính đang tăng nhanh trong thời đại này, đó là bệnh ung thư. Khi nhìn về y học cổ truyền, thì người ta lại nhận ra rằng y học cổ truyền đã thất lạc mất rồi. Dù đã được phục hồi phần nào trong thời gian gần đây nhưng nền y học cổ truyền đã bị thất lạc rất nhiều kiến thức mà nó đã xây dựng qua hàng ngàn thế kỷ! Điều đáng sợ, là không phải nền y học cổ truyền tự nó suy tàn, mà nó đã bị “bức tử” trong đầu thế kỷ 20. Có thông tin cho rằng chính giới tài phiệt của nước Mỹ, vì cạnh tranh, đã tiêu diệt nền y học cổ truyền với mục đích kiếm lợi! Dĩ nhiên một người sáng suốt sẽ không quá khích (như những người chủ trương thuyết âm mưu) cho rằng nền Tây Y là không giá trị. Ngược lại, phải thấy rõ cái vĩ đại mà ngành Y bây giờ đã đạt được trong thời gian ngắn khoảng 100 năm trở lại đây. Phải thấy biết ơn những gì mà giới tư bản đã đóng góp cho các trường Y trên thế giới, giúp ngành Y có được những thành tựu như ngày nay.Nhưng, không vì thế, mà ta không biết một chút về mặt trái của tài  phiệt tư bản, của cái gọi là Quỹ Rockefeller. Cục quản lý thuốc và thực phẩm Hoa Kỳ- FDA <mime-attachment.jpg> Vấn đề của các hệ thống y tế là nó được điều hành bởi các nhà tài phiệt để phục vụ cho các mục đích tài chính. Nó chẳng sinh lợi gì trừ khi có người bị bệnh, do đó toàn bộ hệ thống y tế được thiết kế để làm con người càng ngày càng bệnh tật nhiều hơn.” (Tiến sĩ bác sĩ Guylain Lanctor, tác giả của ‘The Medical Mafia: How to Get Out of It Alive and Take Back Our Health & Wealth’ )Việc tẩy não quần chúng được ngành Dược được bắt đầu rất sớm. Ai nắm giữ quá khứ sẽ kiểm soát tương lai. Ai nắm giữ hiện tại sẽ tóm gọn quá khứ” phải có sự hiểu biết cặn kẽ về Cục Quản lý Thuốc và Thực Phẩm Hoa Kỳ (US FDA), nhất là về những cộng sự và lịch sử tăm tối của Cục – George Orwell’s (in Nineteen eighty four).  Cục quản lý thuốc và thực phẩm (F.D.A) lúc mới bắt đầu thành lập chỉ là một ban quản lý hóa chất (Division of Chemistry), thời gian sau được gọi là Cục quản lý hóa chất (Bureau of Chemistry), mãi về sau mới đổi tên thành F.D.A.. Cái tên đã được thay đổi nhằm che dấu các dự án hóa chất công nghiệp. Cơ quan này cấp cho các công ty tư cách pháp lý để đưa hóa chất vào thực phẩm và giúp các hãng dược phẩm bằng cách chứng nhận “được FDA chấp thuận”. Người dân sẽ không có bằng chứng pháp lý nào để chống lại ngành công nghiệp hóa chất được. Công việc thực sự của nó đã và đang làm là “thông qua” hoặc “xử phạt” những sản phẩm thuộc ngành công nghiệp hóa chất. và với quyền lực này, nó che dấu một cách hợp pháp cho những hóa chất trong ngành công nghiệp, bằng cách tuyên bố …cái gì mới là “an toàn”. Nó đều đặn chia xẻ những dữ liệu được bảo mật với các nghiệp đoàn hóa học cộng sự, để làm giảm nhẹ trách nhiệm. Thí dụ, những thông tin ô nhiễm mà họ đã ém nhẹm trước công chúng. Đây là những vấn đề thuộc “quan hệ công chúng”Mô hình F.D.A hiện đại hơn được tiến hành vào năm 1913—trong cùng một thời điểm thành lập ra quỹ Rockefeller. Tay nắm tay, FDA – Quỹ Rockefeller và Hiệp hội y tế Hoa Kỳ (AMA) cùng nhau hoạt động sát cánh. Quỹ Rockefeller được thành lập vào năm 1913, với mục đích trọng yếu là nhắm vào lãnh vực y học và đào tạo y khoa. Tài trợ ban đầu của Rockefeller cho trường y đạt trên 550.000.000 dollar. Chỉ trong năm 1928, Quỹ Rockefeller đã tài trợ tiền cho 18 trường Y trên khắp 14 quốc gia. Từ đó, những cộng sự của Rockefeller tại FDA đã bắt đầu thúc đẩy cuộc cạnh tranh khốc liệt với tất cả các loại thuốc nào được coi là “đối lập” với ngành công nghiệp hóa chất.


“Tôi sẽ không đời nào công nhận mọi loại thuốc mới nào, trừ phi loại thuốc ấy đến từ một hãng dược khổng lồ với những nguồn tài chính vô hạn. “
 – Tiến sĩ Richard J.Crout, giám đốc của cục quản lý thuốc của FDA (Spotlight, 18 tháng 1, 1982)

Các loại thảo dược bị đàn áp là tất cả thứ mà FDA không thể kiểm soát, và khống chế bằng các tấm bằng sáng chế (patent). Thuốc từ tự nhiên sẽ chẳng bao giờ có thể được cấp bằng sáng chế cả! Đó là lý do tại sao tất cả các liệu pháp thiên nhiên và không gây độc hại hiển nhiên trở thành “thuốc bịp bợm” theo cách gọi của FDA, của ngành kỹ nghệ hóa chất, và của ngành y! Ngược lại chỉ có những hóa chất trái với tự nhiên (như phi hữu cơ và chất độc ) là có thể được cấp bằng sáng chế, và những loại thuốc không chứa độc tố được xem là một mối đe dọa trong việc kinh doanh thuốc.
 <mime-attachment.jpg>“FDA bảo vệ các tập đoàn dược phẩm lớn, sau đó được nhận lại sự khen thưởng. FDA xử dụng quyền lực của chính phủ, họ tấn công những ai gây nguy hại cho các hãng dược lớn. Người dân nghĩ rằng FDA đang bảo vệ họ. Nhưng không phải thế!. Những gì mà FDA đang làm và những gì mà người dân tưởng như vậy, thực sự hoàn toàn trái ngược như ngày với đêm.” – Tiến sĩ Herbert Ley, cựu thành viên hội đồng của FDA“Vào năm 1919, việc Rockefeller trao tặng một số trường y ở Canada 5.000.000 dollar đã góp phần tạo nên nền giáo dục y khoa Canada đến tận thế kỷ 20.  Y học thời đó làm gì có cái thị trường sinh ra lợi lộc như bây giờ, thế nên các trường y đã phải nương nhờ vào các khoản viện trợ của Rockefeller (dành cho những trường đào tạo đạt yêu cầu). Ngành Y nhận tài trợ và chấp nhận điều kiện của Rockefeller là phải tuân thủ các quy định: Một là, từ bỏ các thể loại y học cổ truyền và các dược liệu tự B nhiên, thay vào đó là một thế hệ mới các sản phẩm thuốc từ các dẫn xuất hóa học. Hai là phải xóa bỏ toàn bộ nền y học của quá khứ. Điều gì đã xảy ra để khơi mào cho nạn đốt sách ở khắp nơi? Trong một vài trường hợp, chính FDA đã thiêu hủy sách. Quả là một thời kỳ gian nan cho các bác sĩ theo truyền thống trị liệu tự nhiên (traditional naturalpathic) <mime-attachment.jpg>Nhà tài phiệt Rockefeller Tất cả những ai bất đồng chính kiến, cố nắm giữ quá khứ, có quan điểm tổng quan (holistic), dùng các liệu pháp thiên nhiên để chữa bệnh, từ nay sẽ được xem như bị quỷ ám, một dạng “lang băm” đối với hệ thống đào tạo y khoa chính quy, dù cho đó có là những “lang băm” từng đoạt giải nobel y học, và kết quả thu được sâu rộng đến chừng nào. Một số bác sĩ người Việt ở Hoa Kỳ cũng hùa theo tài phiệt tư bản Mỹ, đề cao Tây y lên tận mây xanh, đạp nền y học cổ truyền xuống tận bùn đen, mà thật sự họ (các bác sĩ Tây y) hoàn toàn dốt nát về y học cổ truyền. Có các vitamin hay sữa tươi có thể thực sự tiêu diệt các tế bào ung thư. Điều đó có nghĩa là có khi chỉ cần thực dưỡng mà chẳng cần phải có các bác sĩ với những phương pháp chữa bệnh nào nữa. Thực dưỡng như vậy là bất hợp pháp, dù bằng cách này hay cách khác, vì chẳng có một phương pháp thực dưỡng nào được “chấp thuận” cả.. Đã có một mối quan hệ bất chính được hình thành giữa hiệp hội Y học Hoa Kỳ, FDA, và Quỹ Rockefeller. Để đảm bảo sự tuân thủ hợp đồng của các trường Y, quỹ Rockefeller thường xuyên nhấn mạnh các trường Y phải đặt nhân viên của Quỹ Rockefeller vào ban giám đốc điều hành. Hệ thống pháp lý mới củng cố sự độc quyền của ngành Y, cùng với sự độc quyền ở lĩnh vực kỹ nghệ hóa dầu của Rockefeller trong quá khứ. Thay vì chỉ sở hữu tất cả các nguồn dầu khí, đế chế Rockefeller hiện nay đã kiểm soát hầu hết tất cả các loại thuốc men tiêu dùng. Nó sở hữu vị chúa sơn lâm, được gọi là “kỹ nghệ dược phẩm”, mà trước đây là ngành kỹ nghệ hóa chất. Lại một lần nữa, thuốc men sẽ được kiểm soát và điều chế để chống lại người dân Mỹ. Hệ thống từ đó phân nhánh vươn ra trên toàn thế giới. Suốt cả cuộc đời, ngài John D. Rockefeller đã từ chối uống loại thuốc thế hệ mới! Trái lại, cả đời ngài lại xử dụng những phương pháp có tính toàn diện của y học truyền thống cho mục đích sức khỏe của chính mình. Nhiều người bạn của ngài tại FDA và AMA cũng cùng một kiểu như thế. Sau khi Rockefeller cưỡng chiếm các trường Y, thì các bệnh chết người như bại liệt- tim- và ung thư thực sự bùng phát. Từng có một bác sĩ chuyên khoa u não (ung thư não) chễm trệ trong phòng khách của tôi bảo với tôi rằng, anh ta sẽ chẳng bao giờ xạ trị, nếu như chẳng may bị u não đi nữa. Và tôi hỏi anh ta rằng, “thế chẳng phải anh vẫn chuyển người ta đến khu xạ trị sao?” anh ta điềm nhiên trả lời “phải thế thôi, nếu không tôi sẽ bị tống cổ khỏi bệnh viện” (Tiến sĩ, bác sĩ Ralph Moss.) 
 Nếu mắc bệnh ung thư thì: 90% bác sĩ ung thư học (oncologist) sẽ không bao giờ chấp nhận chiếu xạ cho ung thư phổi. 84% sẽ không chấp nhận hóa trị cho ung thư đại tràng.        Nghiên cứu của đại học Harvard được công bố tại viện sức khỏe quốc gia Hoa Kỳ: “Có sự khác biệt về sự thuận tình chấp nhận các liệu pháp kháng ung thư của các bác sĩ chuyên khoa ung thư khi chính họ bị bệnh”           Xạ trị, hóa trị những điều bạn chưa biết: Liệu pháp hóa trị và xạ trị được cho là phương pháp điều trị ung thư khoa học nhất. Tuy nhiên, những con số khoa học đó chẳng ăn khớp gì với nhau.100% quá trình điều trị đều độc hại. Tính trung bình, liệu pháp hóa trị và xạ trị chỉ có hiệu quả 4-5% trong cả một quá trình phục hồi dai dẳng.Nhóm chữ “điều trị thành công” được các bác sĩ chuyên khoa ung thư và y văn định nghĩa, tức là không có các khối u (chẳng có tí dính dáng gì đến ung thư) trong vòng 5 năm, và họ tiếp tục đếm con số bệnh nhân ‘sống sót’, dù cho 6 năm sau là những người này có chết đi chăng nữa, những con số này tiếp tục được họ xào nấu thành tỷ lệ chữa bệnh của mình. Đây là một trong những cách mà khoa học điều chế cho ra đúng thuốc khớp với những con số của mình. 
 “Những nghiên cứu của tôi chỉ ra rằng, những bệnh nhận ung thư không điều trị sống lâu hơn gấp 4 lần những bệnh nhân điều trị. Đối với các loại ung thư điển hình, thì người từ chối điều trị có thể sống giao động trong vòng từ nửa năm đến 12 năm. Còn những ai chấp nhận phẫu thuật, hay các phương pháp trị liệu khác như hóa trị, xạ trị, cobalt] chỉ có một mức trung bình là 3 năm.” (Tiến sĩ Hardin Jones, bộ môn sinh lý học, đại học California, Berkeley). Tất cả những phương pháp điều trị hạt nhân và hóa trị được biết là căn nguyên gây ra và di căn ung thư.Những phương pháp vô lý này được gọi là “biết được mặt trái của hiệu quả”. Công việc sàng lọc để phân loại ung thư cũng cùng một kiểu với phương pháp điều trị, đưa ra càng nhiều trường hợp bệnh nhân nhiễm phóng xạ và các độc chất kỹ nghệ càng tốt. Đây là lý do mà con số mắc bệnh ung thư vú bùng phát cùng với sự gia tăng những thử nghiệm chụp nhũ ảnh. Trường hợp tử vong do điều trị (tử vong do bác sĩ điều trị) đứng thứ 3 trong những nguyên nhân tử vong hàng đầu tại Mỹ trích từ thống kê riêng của các tổ chức y tế. Cái chết bởi thầy thuốc bình thường tới nỗi người ta đã gói gọn nó trong một chữ “iatrogenic” – do thầy thuốc. Các cô gái phải trải qua hóa và xạ trị phải đối diện với nguy cơ 35% nguy cơ mắc bệnh ung thư vú vào độ tuổi 40, 75% là điều này sẽ xảy ra cao hơn cái mức trung bình 35% kia. Bức xạ quang tuyến vú cũng sinh ra các loại ung thư, đặc biệt là ở vùng ngực. “Một nghiên cứu với hơn 10.000 bệnh nhân cho thấy rõ ràng rằng chỉ định hóa trị mạnh cho chứng Hodgkin (u hạch bạch huyết) được ghi nhận trong hồ sơ bệnh án thực là trò lừa bịp. Những bệnh nhân trải qua hóa trị, có hơn 14% phát triển các bệnh bạch cầu và hơn 6% phát triển ung thư các cơ xương khớp gấp nhiều lần những bệnh nhân không phải trải qua hóa trị liệu – Tiến sĩ-Bác Sĩ y khoa John Diamond Tiến sĩ Ewan Cameran, đã 2 lần thắng Linus Pauling ở giải Nobel tại Scotland (mà nghiên cứu của Linus sau này đã được nhân rộng trên các nghiên cứu tại Canada và Nhật Bản), bằng nghiên cứu so sánh giữa việc điều trị vitamin C với hóa trị liệu. Đoán thử xem, nhóm bệnh nhân này sẽ sống dai hơn thời gian trung bình của các bệnh nhân ung thư là bao lâu? Và số bệnh nhân trong nhóm này là bao nhiêu? Vitamin C giúp kéo dài tuổi thọ trung bình của các bệnh nhân ung thư lên gấp 6 lần, và đương nhiên cũng làm phẩm chất  đời sống của họ tốt hơn. Có một sự khác biệt so với thực tế là Vitamin C tăng cường hệ thống miễn dịch, thay vì làm suy yếu nó hơn như hóa trị đã làm. “Là một nhà hóa học được đào tạo để giải thích dữ liệu, thông tin này khiến tôi khó mà chấp nhận rằng các bác sĩ đã bác bỏ bằng chứng rõ ràng rằng càng hóa trị bao nhiêu, càng hại nhiều hơn là lợi.” – TIến sĩ Alan Nixon, cựu chủ tịch của hiệp hội hóa học Hoa Kỳ. Bệnh nhân ung thư đều có nguy cơ tử vong do nhiễm trùng máu bất kỳ lúc nào, điều đó là hiển nhiên vì hóa trị liệu đã phá hủy hoàn toàn hệ thống miễn dịch của bệnh nhân, và do đó vi khuẩn đã từ đó dễ dàng xâm nhập và giết chết bệnh nhân. Thông thường thì những trường hợp như thế này lại được tính là “tử vong do nhiễm trùng máu” thay vì là tử vong do ung thư. Đó là một phương cách khác để hội đồng y tế thao túng các số liệu thống kê về sự an toàn và hiệu quả của hóa trị và xạ trị liệu pháp. Các công ty hóa chất đã tạo ra vấn đề, để họ có thể kinh doanh trên chúng ta bằng giải pháp của riêng họ. Các giải pháp phòng ngừa mà họ nói chỉ đơn giản là không để lộ ra thứ chất độc mà họ đang kinh doanh. Tiếng nói của họ vô cùng mạnh mẽ trên các hệ thống truyền thông đại chúng, cho nên họ mặc nhiên có thể đổ lỗi những bệnh tật đã gây ra cho chúng ta là do mặt trời. Chứng thiếu hụt vitamin D rất là phổ biến hiện nay, chứng minh rằng mọi người đã không nhận được đủ ánh sáng mặt trời. Thời gian trung bình đã dự kiến để chữa bệnh thường được kéo dài thêm 4% trên tổng số quá trình (đó là chưa tính trong vòng 5 năm trở lại đây họ đã dùng những tin đồn để gian lận các thông số chữa trị). Vì vậy, với lượng độc tố trong các “phương pháp điều trị quy chuẩn”, thì có khoảng 96% là phương pháp điều trị sẽ giết bạn, nhiều hơn là căn bệnh ung thư sẽ giết chết bạn.Ngay từ khi còn là sinh viên các bác sĩ đã nhận quà của Big Pharma, càng về sau sự nghiệp thì những món quà này càng lớn hơn. Các bác sĩ chuyên khoa khác chỉ đơn giản là viết toa thuốc, nhưng riêng bác sĩ chuyên khoa ung bướu (trị ung thư) có lợi nhuận cao hầu nhờ mua sỉ các loại thuốc chống ung thư trên thị trường, và bán chúng cho bệnh nhân với giá trên  trời. Họ cho bệnh nhân biết rằng những người này sẽ chết nếu không có thuốc. <mime-attachment.jpg>(NBC Nightly News story- Các bác sĩ khoa ung thư thu lợi nhuận từ các thuốc hóa trị liệu.)
 “Phần lớn bệnh nhân mắc bệnh ung thư ở đất nước này chết vì hóa trị. Liệu pháp hóa trị không trị hết ung thư vú, ung thư đại tràng hay ung thư phổi. Sự thực này đã được ghi nhận trong hơn một thập kỷ qua, nhưng các bác sĩ vẫn áp dụng hóa trị đối với những khối u loại này. Nữ giới bị ung thư vú có nguy cơ chết nhanh hơn là không có hóa trị.” (Bác sĩ y khoa Alan Levin).

“Hiệp hội ung thư Hoa Kỳ (The American Cancer Society) đã cố gắng hủy đi nền tảng nghiên cứu của tôi”. (Tiến sĩ Albert Szent-Gyorgyi, người nghiên cứu những đột phá của vitamin C, người chiến thắng giải Nobel Y học năm 1937 )
 Hiệp Hội Ung Thư Hoa Kỳ – The American Cancer Society Bạn đoán thử xem tổ chức này được thành lập khi nào và và bởi ai?   Tổ chức này được thành lập bởi John. D. Rockefeller Jr., trong năm 1931 màu nhiệm, cùng với thời điểm khi ngài “hiến tặng” tài sản cho đại học Havard. Bạn có tin rằng một ngày đẹp trời nào đó, họ sẽ công bố phương pháp chữa lành bệnh ung thư, và vứt bỏ chiếc xe tải chất hàng đống tiền của mình không? Và bạn sẽ hiểu tại sao vitamin C lại đe dọa đến sứ mệnh của họ? Chúng ta được giáo dục để tin vào “kỳ tích” của hóa dược hiện đại, là vượt trội hơn so với các loại thảo dược truyền thống. Nhưng, cái mà họ không đề cập đến là khoảng từ 50-70% thành phần hóa học của thuốc hiện đại được trích từ các thành phần thảo dược. Chính các hợp chất hữu cơ ấy là lý do tại sao một số loại hóa dược đôi khi lại có hiệu quả! Theo ghi nhận của ủy ban điều tra dân số Hoa Kỳ, ung thư là sát thủ đứng thứ 2 ở nước Mỹ, nhưng hầu hết những ca tử vong là do phương pháp điều trị, chứ không phải do bệnh ung thư. Các loại dược phẩm là kẻ giết người đứng thứ 4. Nước Mỹ sở hữu một hệ thống y tế nguy hiểm và đắt tiền nhất thế giới. Hệ thống này tạo ra 60% tất cả các vụ phá sản tại nước Mỹ. “Không chỉ có một, mà còn rất là nhiều những phương pháp chữa trị cho bệnh ung thư. Nhưng tất cả những phương pháp còn lại đều bị ACS, NCI và các trung tâm ung thư lớn đàn áp. Bởi hiện tại họ đang có quá nhiều lợi nhuận trong chuyện này”. (Tiến sĩ, bác sĩ y khoa, tác giả của “chế độ ăn kiêng Atkins”.)


Bài viết được đăng bởi http://www.zeronews.us

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 209

Mười Quốc Gia Có Dân Số Học Thức Nhất Thế Giới

Những quốc gia nổi tiếng như Pháp, Thụy Sĩ, Bỉ, Đức ….không được nhắc đến trong bản thống kê này. Riêng Đức là một cường quốc về kinh tế cũng không nằm trong danh sách.

Phó thường dân tôi chỉ là thợ khách nhưng có thể giải thích như thế này : Hệ thống giáo dục và chương trình học ở Đức không những khó mà khá phức tạp, chưa nói đến chuyện tiếng Đức vốn rất khó. CHÍNH vì vậy những thuyền nhân tỵ nạn qua Đức trong lứa tuổi thành niên thuộc thế hệ I gặp nhiều trở ngại, không thành công trên lãnh vực học vấn như đi sang Úc, Mỹ hay Canada ….. cũng vì lý do này. Những con em thuộc thế hệ hai nhờ lớn lên ở Đức nên thành công hơn. Một điểm khác tôi cũng lưu ý : NGAY cả người Đức cũng gặp khó khăn khi học ở Đức (TH + Đại Học) VÌ vấn đề thi cử phức tạp, chương trình học khó (LNC_Ger).

ps: Đừng hiểu lầm nhưng tôi chỉ nói sự thật : nhiều người đã tốt nghiệp BA, BSc ở Úc Mỹ với điểm cao (thuộc loại giỏi) nhưng qua tu học ở TU Đức để lấy MA hay MS…thì “swim” chới với vì chương trình học và lối thi cử khác nhau …!!!. Tôi quen vài Dược sĩ+ Bácsĩ
tốt nghiệp ở VN trước 1975 qua Đức thấy KHÓ nuốt nên xin di dân sang Mỹ, học lại và 2-3 năm sau ra trường, mở tiệm + phòng mạch

Subject: 10 QUỐC GIA CÓ DÂN SỐ HỌC THỨC NHẤT THẾ GIỚI !

10 QUỐC GIA CÓ DÂN SỐ HỌC THỨC NHẤT THẾ GIỚI !
Kính chuyển quý vị, VN là nước có số TiếnSĩ cao nhất Đông Nam
Á, và số tướng lãnh vượt con số 360 mà lại thua nhiều nước về trình
độ trí thức và sức mạnh quân sự kể cũng lạ, ht

10 Quốc gia có dân số “Học thức nhất thế giới”.

(Theo 24/7 Wall Street) Tổ chức Phát Triển và Hỗ Tương Kinh Tế
(OECD) vừa công bố một bản khảo cứu cho biết là trong vòng 50
năm qua, số sinh viên đại học ở các quốc gia phát triển gia tăng
gần 200 phần trăm.

Bản công bố này cũng liệt kê danh sách 10 quốc gia trên thế giới
có cư dân học thức nhất trên thế giới.

Phần Lan đứng hàng thứ 10 với tỷ lệ dân số có bằng cấp đại học là
37%. Sản lượng quốc gia tính theo đầu người là 36,585 Mỹ kim.

Úc Đại Lợi là quốc gia có cư dân học thức đứng hàng thứ 9 trên thế
giới, với tỷ lệ dân số có bằng cấp đại học cũng 37 %.
Sản lượng GDP tính theo đầu người là 40,719 Mỹ kim.

Anh là quốc gia đứng hàng thứ 8 về số dân học thức,
với tỷ lệ dân số có bằng cấp cũng ở mức 37 %,
và sản lượng GDP tính theo đầu người là 35,504 Mỹ kim

Na Uy là quốc gia đứng hàng thứ 7 trong bảng sắp hạng: 38% dân
số tốt nghiệp đại học, với sản lượng GDP ở mức 56,617 Mỹ kim một
đầu người .

Nam Hàn là quốc gia đứng hàng thứ 6, với tỷ lệ dân số có bằng cấp
đại học là 39 %, trong khi sản lượng GDP mỗi đầu người ở mức
29,101 Mỹ kim

Tân Tây Lan, là Quốc gia đứng hàng thứ 5
với tỷ lệ dân số có bằng cấp đại học là 40 %.
Sản lượng GDP mỗi đầu người chỉ ở mức 29,871 Mỹ kim

Hoa Kỳ là quốc gia đứng hàng thứ 4,
với số dân có bằng cấp đại học ở mức 41 %.
Trong khi sản lượng GDP mỗi đầu người là 46,588 Mỹ kim

Nhật là Quốc gia đứng hàng thứ 3 trong bảng danh sách ,
với 44 % dân số có bằng cấp đại học.
Sản lượng GDP mỗi đầu người ở mức 33,751 Mỹ kim

Do Thái là quốc gia đứng hàng thứ 2 trong bảng danh sách với
45 % dân số có bằng cấp đại học, trong khi sản lượng GDP mỗi
đầu người chỉ ở mức 28,596 Mỹ kim

Canada là quốc gia đứng hàng đầu về trình độ trí thức,
với 50 % dân số có bằng cấp đại học.

Sản lượng GDP mỗi đầu người ở mức 39,070 dola

                                                   Sưu Tầm

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 134