Category Archives: Góp Nhặt Trăm Hoa

Ký Ức Về Những Bài Học Thuộc Lòng Thời Tiểu Học

Dân miền Nam, những ai bây giờ chừng 55 tuổi trở lên, chắc đều nhớ rõ cách tổ chức độc đáo ở các lớp bậc tiểu học cách đây hơn bốn thập niên. Hồi đó, cách gọi tên các lớp học ngược lại với bây giờ, theo thứ tự từ lớn đến nhỏ. Lớp Năm là lớp Một ngày nay, rồi đến lớp Tư, lớp Ba, lớp Nhì, trên cùng là lớp Nhứt. Lớp Năm, tức là lớp thấp nhất, thường do các thầy cô giỏi nhất hoặc cao niên, dồi dào kinh nghiệm nhất phụ trách.

Sở dĩ như vậy là vì bậc học này được xem là vô cùng quan trọng, dạy học trò từ chỗ chưa biết gì đến chỗ biết đọc, biết viết, biết những kiến thức cơ bản đầu tiên, nghĩa là biến từ chỗ không có gì đến chỗ bắt đầu có. Cô giáo dạy tiếng ViệtHọc trò, không phân biệt giàu nghèo, khi đến lớp chỉ được dùng một thứ bút duy nhất, là bút ngòi lá tre. Gọi là lá tre bởi vì bút có cái ngòi có thể tháo rời ra được, giống hình lá tre nho nhỏ, khi viết thì chấm vào bình mực. Bình mực, thường là mực tím, có một cái khoen nơi nắp để móc vào ngón tay cho tiện. Thân bình bên trong gắn liền với một ống nhựa hình phểu dưới nhỏ trên to để mực khỏi sánh ra theo nhịp bước của học trò. Khi vào lớp thì học trò đặt bình mực vào một cái lổ tròn vừa vặn khoét sãn trên bàn học cho khỏi ngã đổ. Bút bi thời đó đã có, gọi là bút nguyên tử, là thứ đầy ma lực hấp dẩn đối với học trò ngày ấy, nhưng bị triệt để cấm dùng.

Các thầy cô quan niệm rằng rèn chữ là rèn người, nên nếu cho phép học trò lớp nhỏ sử dụng bút bi sớm, thì sợ khi lớn lên, chúng sẽ dễ sinh ra lười biếng và cẩu thả trong tính cách chăng. Mỗi lớp học chỉ có một thầy hoặc một cô duy nhất phụ trách tất cả các môn.

Thầy gọi trò bằng con, và trò cũng xưng con chứ không xưng em với thầy. Về việc dạy dỗ, không thầy nào dạy giống thầy nào, nhưng mục tiêu kiến thức sau khi học xong các cấp lớp phải bảo đảm như nhau. Thí dụ như học xong lớp Năm thì phải đọc thông viết thạo, nắm vững hai phép toán cộng, trừ, lớp Tư thì bắt đầu tập làm văn, thuộc bảng cửu chương để làm các bài toán nhân, chia… Sách giáo khoa cũng không nhất thiết phải thống nhất, nên không có lớp học giống lớp nào về nội dung cụ thể từng bài giảng. 

Cứ mỗi năm lại có các ban tu thư, có thể là do tư nhân tổ chức, soạn ra những sách giáo khoa mới giấy trắng tinh, rồi đem phân phối khắp các nhà sách lớn nhỏ từ thành thị cho chí nông thôn. Các thầy cô được trọn quyền lựa chọn các sách giáo khoa ấy để làm tài liệu giảng dạy, miễn sao hợp với nội dung chung của Bộ Giáo dục là được.

Tuyệt nhiên không thấy có chuyện dạy thêm, học thêm ở bậc học này nên khi mùa hè đến, học trò cứ vui chơi thoải mái suốt cả mấy tháng dài. Các môn học ngày trước đại khái cũng giống như bây giờ, chỉ có các bài học thuộc lòng trong sách Việt Văn, theo tôi, là ấn tượng hơn nhiều.

Đó là những bài thơ, những bài văn vần dễ nhớ nhưng rất sâu sắc về tình cảm gia đình, tình yêu thương loài vật, tình cảm bạn bè, tình nhân loại, đặc biệt là lòng tự tôn dân tộc Việt.

Tôi còn nhớ rõ trong sách Tân Việt Văn lớp Năm có bài học thuộc lòng thật hay về bóng đá mà hồi đó gọi bằng một từ rất hoa mỹ, là túc cầu:

TRẬN CẦU QUỐC TẾ

Chiều chưa ngã, nắng còn gay gắt lắm
Hai đội cầu hăng hái tiến ra sân
Tiếng hoan hô thêm dũng mãnh bội phần
Để cổ võ cho trận cầu quốc tế.
Đoàn tuyển thủ nước nhà hơi nhỏ bé
Nếu so cùng cầu tướng ở phương xa
Còi xuất quân vừa lanh lảnh ban ra
Thì trận đấu đã vô cùng sôi nổi.
Tiền đạo ta như sóng cồn tiến tới
Khi tạt ngang, khi nhồi bóng, làm bàn
Khiến đối phương thành rối loạn, hoang mang
Hậu vệ yếu phải lui về thế thủ
Thiếu bình tỉnh, một vài người chơi dữ
Nên trọng tài cảnh cáo đuổi ra sân
Quả bóng da lăn lộn biết bao lần
Hết hai hiệp và…đội nhà đã thắng
Ta tuy bé nhưng đồng lòng cố gắng
Biết nêu cao gương đoàn kết đấu tranh
Khi giao banh, khi phá lưới, hãm thành
Nên đoạt giải dù địch to gấp bội…

Bài học thuộc lòng này, về sau tôi được biết, lấy cảm hứng từ chiếc cúp vô địch đầu tiên và duy nhất cho đến bây giờ của Việt Nam tại Đông Á Vận Hội trên sân Merdeka của Malaysia vào cuối thập niên 50, với những tên tuổi vang bóng một thời như Tam Lang, Ngôn, Cù Sinh, Vinh “đầu sói”, Cù Hè, Rạng “tay nhựa”… Tuy không biết chơi bóng đá, nhưng thằng bé là tôi lúc đó rất thích bài học thuộc lòng này nên tự nhiên…thuộc lòng luôn.

Càng đọc càng ngẫm nghĩ, đây đâu phải là bài thơ chỉ nói về bóng đá mà thôi. Nó là bài học đoàn kết của một dân tộc tuy nhỏ bé nhưng gan lỳ, bất khuất khiến cho cả thế giới phải ngước nhìn bằng đôi mắt khâm phục. Bạn thấy lạ lùng chưa, chỉ một bài thơ ngắn nói về một thứ trò chơi thôi, mà lại chứa đựng biết bao nhiêu điều vĩ đại mà những lời đao to búa lớn ồn ào chắc chi đã làm được.

Nói về môn Lịch sử, hồi đó gọi là Quốc sử, đã có sẵn một bài học thuộc lòng khác:

GIỜ QUỐC SỬ

Những buổi sáng vừng hồng le lói chiếu
Trên non sông, làng mạc, ruộng đồng quê,
Chúng tôi ngồi yên lặng, lắng tai nghe
Tiếng thầy giảng khắp trong giờ Quốc sử.
Thầy tôi bảo:
“Các con nên nhớ rõ,
Nước chúng ta là một nước vinh quang.
Bao anh hùng thưở trước của giang san,
Đã đổ máu vì lợi quyền dân tộc.
Các con nên đêm ngày chăm chỉ học,
Để sau này mong nối chí tiền nhân.
Ta tin rằng, sau một cuộc xoay vần,
Dân tộc Việt vẫn là dân hùng liệt.
Ta tin tưởng không bao giờ tiêu diệt,
Giống anh hùng trên sông núi Việt Nam.
Bên những trang lịch sử bốn ngàn năm,
Đầy chiến thắng, vinh quang và hạnh phúc”

Hình ảnh ông thầy dạy Sử trong bài học thuộc lòng hiện lên, nghiêm nghị nhưng lại thân thương quá chừng, và bài Sử của thầy, tuy không nói về một trận đánh, một chiến công hay một sự kiện quá khứ hào hùng nào, nhưng lại có sức lay động mãnh liệt với đám học trò chúng tôi ngày ấy, đến nỗi mấy chục năm sau chúng tôi vẫn nhớ như in.

Lại có bài song thất lục bát về ông thầy dạy Địa lý, không nhớ tác giả là ai, nhưng chắc chắn tựa đề là “Tập vẽ bản đồ”, phía lề trái còn in cả hình vẽ minh họa của Quần đảo Trường Sa và Hoàng sa:

Hôm qua tập vẽ bản đồ,
Thầy em lên bảng kẻ ô rõ ràng.
Ranh giới vẽ phấn vàng dễ kiếm,
Từ Nam Quan cho đến Cà Mau.
Từng nơi, thầy thuộc làu làu,
Đây sen Đồng Tháp,
đây cầu Hiền Lương. Biển Đông Hải,
trùng dương xanh thẳm,
Núi cheo leo thầy chấm màu nâu.
Tay đưa mềm mại đến đâu,
Sông xanh uốn khúc, rừng sâu chập chùng…
Rồi với giọng trầm hùng, thầy giảng:
“Giống Rồng Tiên chói rạng núi rừng,
Trải bao thăng giáng, phế hưng,
Đem giòng máu thắm, bón từng gốc cây.
Làn không khí giờ đây ta thở,
Đường ta đi, nhà ở nơi này,
Tổ tiên từng chịu đắng cay,
Mới lưu truyền lại đêm ngày cho ta.
Là con cháu muôn nhà gìn giữ,
Đùm bọc nhau, sinh tử cùng nhau.
Tóc thầy hai thứ từ lâu,
Mà tài chưa đủ làm giàu núi sông !
Nay chỉ biết ra công dạy dỗ,
Đàn trẻ thơ mong ở ngày mai.
Bao nhiêu hy vọng lâu dài,
Dồn vào tất cả trí tài các con …”

Giờ đây, mấy chục năm đã trôi qua, tóc trên đầu tôi cũng bắt đầu hai thứ như ông thầy già dạy Địa trong bài học thuộc lòng ngày ấy, nhưng có một điều mà tôi nghĩ mãi vẫn chưa ra. Ông thầy đang dạy Địa, hay ông thầy đang âm thầm truyền thụ lòng yêu nước, lòng tự tôn dân tộc cho đàn trẻ thơ qua mấy nét vẽ bản đồ?

Lời của thầy thật là nhẹ nhàng, khiêm tốn nhưng cũng thật là tha thiết, chạm vào được chỗ thiêng liêng nhất trong tâm hồn những đứa trẻ ngây thơ vào những ngày đầu tiên cắp sách đến trường, nơi chúng được dạy rằng ngoài ngôi nhà nhỏ bé của mình với ông bà, cha mẹ, anh em ruột thịt, chúng còn có một ngôi nhà nữa, rộng lớn hơn nhiều, nguy nga tráng lệ, thiêng liêng vĩ đại hơn nhiều, một ngôi nhà mà chúng phải thương yêu và có bổn phận phải vun đắp: Tổ quốc Việt Nam.

Lê Tuấn Đạt

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Bí quyết sống hạnh phúc vui vẻ là gì?

Người có trí tuệ xưa nay thường không sống “trong miệng” của người khác, cũng không sống “trong mắt” 
của người khác. Gặp nhau là duyên mà không gặp cũng là duyên, gặp lại là duyên mà biệt ly cũng là duyên. 
Trần thế mênh mông giữa đến và đi cho nên gặp hay không gặp cần gì phải đau khổ luyến lưu? 

Vậy bí quyết sống hạnh phúc vui vẻ là gì?

Bất luận bạn làm tổn thương ai thì xét về lâu về dài, đó đều là sẽ tự làm tổn thương đến mình.. Có thể hiện giờ bạn sẽ không cảm nhận thấy được nhưng nó nhất định sẽ chuyển động ngược trở lại và quẩn quanh bên bạn. Phàm là bạn làm việc gì đối với người khác thì cũng là đối với mình, bạn khiến người khác trải qua điều gì thì sau này bạn nhất định sẽ trải qua điều đó.. Phật giáo truyền giảng về nhân quả không phải để hù dọa con người mà chính là có ý muốn nhắc nhở, bảo ban con người.
Đây là chân lý, cho dù bạn có tin hay không thì nó vẫn cứ tồn tại không cách nào bị mất đi.

 
Đến với giáo lý nhà Phật không phải là để ký thác khi mất đi mà là để đối đãi đúng đắn với cuộc đời. Nhìn thấu sự “vô thường” của nhà Phật chúng ta sẽ nhận thấy rất nhiều điều mặc dù là tốt đẹp nhưng sẽ không bền vững lâu dài. Hay rất nhiều khi chúng ta rơi vào thống khổ tưởng như không thể chịu đựng được nữa nhưng rồi chúng lại qua đi nhanh chóng. Cho nên,”vô thường” là gợi ý tốt nhất cho cuộc đời. Nó khiến cho chúng ta ở trong hoàn cảnh biến đổi thất thường của cuộc đời mà có thể thăng hoa trí tuệ.
 
Học giáo lý nhà Phật để làm gì? Chính là để điều phục tự tâm (tạm hiểu: điều hòa, thu phục tâm). 
Rất nhiều người chỉ vì một lòng muốn cầu sống lâu, cầu không bệnh tật, cầu tiền tài, cầu sinh con trai mà đến tu trì.. 
Kỳ thật, đây đều là đã đi ngược lại với Phật Pháp.
 
Bái lạy 
không phải chỉ là khom lưng cúi người xuống mà là buông bỏ ngạo mạn. 
 
Niệm Phật 
không phải là thể hiện ở số lượng thanh âm mà là thể hiện ở sự thanh tịnh của tâm địa
 
Chắp tay 
không phải chỉ là khép hai tay lại mà còn thể hiện sự cung kính. 
 
Thiền định 
không phải là ngồi lâu đến mức không dậy nổi mà là trong tâm không bị dao động bởi bên ngoài. 

Vui mừng
 
không phải là ở khuôn mặt rạng rỡ mà là ở sự khoan khoái, dễ chịu trong lòng.
 
Thanh tịnh 
không phải là ở sự vứt bỏ dục vọng mà là thể hiện ở tâm địa không mưu cầu cái lợi. 
 
Bố thí 
quyên tặng không phải chỉ là cho đi hết vật chất mà là chia sẻ tấm lòng yêu thương. 
 
Tín Phật
không phải là học tập tri thức mà là thực hiện vô ngã.
 
Có những người khi ăn chỉ chuyên chọn những thứ mình yêu thích, ở cũng chọn chỗ mình yêu thích, kết giao bạn bè cũng chỉ chấp nhận người mình ưa thích… 
Vậy một khi gặp được điều mình không ưa thích sẽ không có cách nào tiếp nhận. Kỳ thực, ngoại cảnh không thể vĩnh viễn cho bạn sự sung sướng, hạnh phúc. 
Chỉ có học được cách thích ứng được với cả điều mình không yêu thích thì mới vĩnh viễn 
có được niềm hạnh phúc!
 
Sống trên đời, 
không tranh giành chính là từ bi
không tranh cãi chính là trí tuệ, 
không nghe thấy chính là thanh tịnh
không nhìn chính là tự tại, 
không tham lam chính là bố thí, 
đoạn tuyệt cái ác chính là làm việc thiện, 
sửa đổi chính là sám hối, 
khiêm tốn chính là lễ Phật, 
tha thứ chính là giải thoát
thấy đủ chính là buông bỏ
lợi người chính là lợi mình.
 
Rất nhiều khi chúng ta nhìn thấy sự hào nhoáng, phù hoa mà lại không nhìn thấy một “mạch nước ngầm” đang khởi động: Có một ít người biểu hiện bề ngoài hạnh phúc là bởi vì họ đang che dấu nỗi khổ khó tả. 
Có một ít người bên ngoài nở nụ cười nhưng trong lòng lại đang có âm thanh của nước mắt. 
Có một ít người thường hay khoa trương nhưng kỳ thực trong tâm linh lại có nhiều hư không…
 
Bình luận của người khác thực sự không quá trọng yếu như vậy, 
Hạnh phúc và vui vẻ của bản thân là 
không phải ở trong con mắt của người khác 
mà là ở chính trong tâm mình!
ST  ONLINE
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Tiếng Anh Dễ Òm

Câu này không phải do mấy đứa nhỏ nói, mà thốt ra từ miệng một bà già 90 tuổi. Đó là mẹ tôi, bà mới được con cháu bảo lãnh qua đây có hai năm, trước ngày bầu cử Tổng Thống Mỹ  vài tháng.

Ngày Mỹ đổ quân ào ạt vào VN, lúc đó mẹ tôi chưa biết nói một câu tiếng Anh. Vậy mà chỉ mấy tháng sau bà đã đọc được bảng “room for rent”  là phòng cho Mỹ thuê. Bà còn hóm hỉnh trả lời, nếu cho người Việt thuê thì họ đã viết bằng tiếng Việt..

Sau đó khi hàng xóm ào ào lùi ra đàng sau, kiếm chỗ ở nơi hang cùng ngõ hẻm, nhường cho mấy chú GI và các cô vợ hờ mướn nguyên căn nhà để có tiền dôi ra chút đỉnh, nuôi cả gia đình vào thời buổi kiệm ước,  người khôn của khó.

Chỉ sau khi mướn nhà ít lâu, là mấy cô vợ hờ đã móc nối mấy bà buôn bán, xúi mấy chú lính Mỹ  tuồn  hàng PX  ồ ạt đổ vào xóm từng xe cam nhông đầy ắp. Lúc đó mẹ tôi cũng nhanh chóng nói tiếng Anh ào ào. Dĩ nhiên là tiếng bồi, bà mua bán đồ hộp, thuốc lá, và đổi tiền đô la đỏ, đô la xanh với các chú lính GI.

Hồi đó tiền cent của đô la đỏ cũng in bằng giấy, không phải là đồng xu như bây giờ, nhưng tờ giấy nhỏ hơn tờ 1 đồng hay tờ 100.

Mẹ tôi  học hết tiểu học thời Pháp, nhưng mua bán không giỏi như mấy bà bạn của bà, mù chữ, nghĩa là ngay cả chữ quốc ngữ cũng không biết, nhưng các bà này không bao giờ tính nhầm bất kỳ mua loại hàng nào với mấy chú mắt xanh tóc vàng. Đến độ mấy chú còn gọi các bà bạn mù chữ của mẹ tôi là “mamysan number one”, rồi giơ ngón cái lên.

Chỉ cần number one là tốt, number ten là xấu, người mua kẻ bán vẫn ngã giá được với nhau. Thời đó chữ OK chưa thịnh hành như bây giờ… Nhưng lại có câu “OK Salem”. Salem là tên một loại thuốc lá nhẹ có mùi bạc hà cho phụ nữ. Còn đàn ông thì có Pall Mall, Lucky Lucky, Dunhill, Camel, Caraven A màu đỏ có hình con mèo. Hay Xì gà Half & Half…

Đặc biệt khi mấy anh nón cối vào Saigon, họ không dùng một chữ tiếng Mỹ nào, mà họ dùng tiếng riêng của họ, đổng, đài, đạp, quần bò, áo phông. Áo mưa thì họ gọi là áo tơi.

Trong khi dân miền Nam, dù là trẻ đánh giầy, bán vé số ở vỉa hè cũng nói tiếng Anh ào ào, chúng gọi quần jean, áo pull, quần short…  Trong ngôn ngữ hàng ngày mọi người dùng biết bao tiếng Mỹ xen với tiếng Việt, vào quán bar, đi xem movie…

Mấy chục năm trời trôi qua, bây giờ qua Mỹ ở tuổi 90, mẹ tôi rất tự tin bảo rằng, tiếng Mỹ dễ học, không khó như tiếng Pháp bà học ngày xưa.

Khi qua Mỹ, dĩ nhiên mấy tiếng bồi ngày xưa đâu có dùng được. Ở đây từ trẻ con tới người lớn đều nói năng đúng sách vở, đâu có nói theo kiểu đường phố như bên VN hồi xưa.

Ba chữ đầu tiên mẹ tôi học là: Yes, No, OK. Chỉ cần ba chữ này thôi là bà có thể babysit cháu bà ngon lành. Nấu món gì xong, bà chỉ rồi hỏi: yes, no. Nếu cháu gật đầu, thì bà múc ra tô, hay rót ra ly. Rồi lại nói: ok?  Nếu nhiều quá, thì cháu sẽ lắc, bà múc bớt lại cho tới khi cháu nói: ok.

Chỉ có ba chữ đó thôi, mà bà có thể hiểu, liên lạc được với cháu mọi chuyện. Bố mẹ cứ yên tâm đi làm, chẳng phải lo lắng gì cả.

Bà rất tự tin, mạnh dạn bốc điện thoại nhà khi nghe chuông reng, và nói chữ đầu tiên là Hello, sau đó không cần nghe bên đầu dây nói cái gì, bà nói luôn Việtnamese. Dĩ nhiên nếu là người Việt Nam thì cái accent của một bà già Việt nói tiếng Mỹ người bên kia biết ngay, thế là chuyển qua tiếng Việt. Còn gặp người Mỹ thì đầu giây bên kia, họ cũng hơi khựng lại một chút. Bởi vì chỉ có mỗi chữ Việtnamese, thì chẳng biết là hỏi hay trả lời, chính cái khựng vài giây đó, mẹ tôi hiểu ngay không phải là người bà có thể nói chuyện. Nhưng bà rất lịch sự nói tiếp: No English, rồi mới cúp máy. 


Mở ti vi bà có thể biết hôm nay sẽ nóng hay lạnh, các con số, màu sắc và dấu hiệu của mưa, tuyết hiện lên trên màn hình.

Mẹ tôi bảo rằng cách dậy của người Mỹ dễ hiểu quá. Khi đi khám bệnh, bác sĩ hỏi bà đau nhiều đau ít bằng cách chỉ vào con số. Bất kỳ cái gì bà cũng khen người Mỹ, nào là mấy người câm điếc cũng xem được ti vi.

Mẹ tôi bảo người tàn tật qua Mỹ “sướng” thật, chẳng hạn cô hàng xóm bị sốt tê liệt hồi nhỏ, chân đi khập khễnh. Ở VN cô phải nghỉ học sớm, đi bán vé số. Cô mới được bảo lãnh qua Mỹ theo diện anh em. Qua đây cô được đi học và lãnh trợ cấp tàn tật. Cô bảo rằng cô ráng học để có chữ rồi đi làm, chứ cô không muốn hưởng trợ cấp xã hội. Mẹ tôi cứ suýt soa khen cô có lòng tự trọng, khi cô khoe được điểm khá trong lớp. Cô ráng học để đi làm, chứ tiền trợ cấp ít lắm, vậy mà nhiều người cứ bám vào đồng tiền ít ỏi đó sống lây lất cả đời. Mẹ tôi đã tuyên bố hùng hồn, nếu qua đây sớm, bà cũng sẽ đi làm cho biết với người ta.

Nhờ babysit trẻ con, mẹ tôi học tiếng Anh rất nhanh, chỉ mỗi tội bà cắt cả tiếp đầu ngữ lẫn tiếp vĩ ngữ một cách tỉnh bơ. Chẳng hạn bà hỏi con có ăn cơm không: du ít rai (you eat rice). Cháu sửa: bà ơi đọc là “rai sờ”, chứ bà chỉ nói “rai” ngắn gọn, tức là đúng, khác với chữ wrong là sai. Có điều chữ sờ chỉ nghe hơi gió thôi, đằng này bà nói chữ sờ lại còn rõ hơn cả chữ rai. Nên mọi người đề nghị bà cứ gọi cơm là rai, còn dễ nghe hơn rai-sờ. Sở dĩ bà dùng tiếng Anh, vì giữ thêm hai chú bé Mỹ con nhà hàng xóm.

Chưa hết, bà không bao giờ dùng thể nghi vấn, luôn luôn dùng câu xác định. Bà thích trồng rau, nên vườn sau lúc nào cũng xanh um các loại rau, ăn không hết.

Bữa kia gặp bà hàng xóm đứng bên kia hàng rào. Mẹ tôi nhanh nhẩu hỏi: du lai pi nít. Ý mẹ tôi hỏi bà có thích rau dền không? Rau spinach bà gọi là rau dền. Bà hàng xóm có vẻ lúng túng, mẹ tôi chạy ra vườn, cắt một bó spinach đưa, lúc đó bà hàng xóm mới hiểu ra. Đã có lần bà hỏi cô cháu gái, cũng dùng chữ pi nít, nó đã lắc đầu, miệng thì kêu “iu, iu”. Thằng cháu bảo pi nít( penis)  là con cu đó bà.. Bà phải gọi là Sì pi nít.

Nói gì thì nói, bà không sửa được. Nhưng vốn bạo dạn, thân thiện bà cũng giơ tay chào hàng xóm mỗi khi đi dạo trong xóm. Có điều bà chỉ nhớ  good morning và good night, nhưng không phân biệt afternoon và evening rõ ràng, mới chiều chiều hàng xóm đi làm về là đã good night rồi.

Mẹ tôi thích khen thức ăn ở chợ Mỹ tươi ngon hơn các chợ Á Châu. Trái cây, rau cỏ không bị dập nát, bới lộn tùng phèo. Người Mỹ họ “ thật thà” hơn dân Á Châu (ý bà nói mấy chợ Tàu), đồ cũ, đồ hư thì bỏ, chứ không nhập nhằng mang đi xào nấu để bán cho người ăn, mà mẹ tôi bảo là “khuất mắt trông coi”. Chưa bao giờ bà mua phải đồ hộp hết hạn ở chợ Mỹ, chứ ở chợ Á Châu bị hoài.

Mẹ tôi rất thức thời, bà bảo rằng: qua xứ người ta  học tiếng của người ta, là phải rồi.. Không những thế còn phải học “ cái văn minh” của người ta. Vì vậy khi đi ra ngoài đường mẹ tôi cũng mặc quần tây như mấy bà già Mỹ. Bà chê mấy bà Ấn Độ sao cứ mặc mấy bộ đồ của xứ họ đi chợ là không đúng. Mình phải hòa đồng với người bản xứ, họ không nói ra vì sợ mang tiếng kỳ thị, nhưng trong bụng họ nghĩ gì làm sao mình biết được. Bởi vậy mấy bộ đồ ngủ là không có mặc ra đường, ngay cả ra vườn cũng không, “quan trên trông xuống, người ta trông vào”. Bà thì lúc nào cũng ca dao tục ngữ khắp mọi nơi mọi chỗ.

Qua xứ người, thấy được điều hay của người ta mình phải bắt chước, mẹ tôi than phiền bố tôi không chịu mang hearing aid, không chịu mang răng giả. Kêu ca vướng víu, khó chịu nên cuối cùng chẳng có bạn bè nào gọi điện thoại nói chuyện được. Bà kết luận “tự mình làm khổ mình, tự mình cô độc mình”.

 Một bữa kia, nghe bà bảo với các cháu: bạn của ông ngoại sắp sửa qua thăm ông, bạn từ hồi ông còn trẻ, hơn 70 năm. Trẻ con hỏi ngay: bạn của ông có còn răng không? Bạn của ông còn nghe được không? Bà trả lời “bạn của ông ok”.  Đó mọi người thấy không, mẹ tôi đã dùng chữ ok một cách chính xác. Không khen không chê, có nghĩa là được được. Nào ai dám chê bà già 90.

Mẹ tôi luôn luôn dùng những người trên TV để dẫn chứng, xem kìa bố mẹ ông Bush con, răng tóc người ta lúc nào cũng gọn ghẽ, ai như người Á Châu mình xuề xòa quá, thành nhếch nhác.

Hàng ngày xem tin tức VN, mẹ tôi vô cùng xót xa cho trẻ em bị thất học, và cảnh chen chúc nằm la liệt dưới gầm giường trong bệnh viện của các em nhỏ. Bà cứ than thở “chỗ ăn không hết, chỗ lần chẳng ra”.

Trẻ con ở bên này sao được ưu ái mọi điều, còn bên VN phải lội sông lội suối mới được năm ba chữ.

Dù ở miền Đông Bắc, nhưng mẹ tôi không hề than vãn. Bà bảo rằng cả ngày lúi húi với đám trẻ cũng đã hết giờ. Vả lại bà cũng chẳng lái xe, nên mưa gió bão bùng cũng không ảnh hưởng gì đến bà.

Anh em chúng tôi vô cùng cám ơn mẹ, không phải vì sự cặm cụi lo nấu nướng cho cả nhà. Mà vì thái độ lạc quan của bà đã làm cho không khí trong nhà luôn vui vẻ.

Ngay cả khi nằm trong bệnh viện, mẹ tôi cứ xua tay bảo các bà bạn, tôi sắp về đi chùa với các bà rồi. Rồi bà chép miệng, đâu ai lột da sống đời mãi đâu.

Mẹ tôi lặng lẽ ra đi, nhưng con cháu vẫn nhớ hoài, bất cứ chuyện gì bà cũng luôn nói “không khó đâu con”. Trong bụng mẹ tối thế, mà con vẫn kiếm cách chui ra được, thì bây giờ có thêm ánh sáng mặt trời, chuyện gì cũng dễ òm.

Trẻ con nghe vậy, cùng hùa theo “ tiếng Anh dễ òm”  phải không bà?
 LTM
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Ảnh của Louis Marie Preau.

4 năm kiên trì đợi dưới lòng sông, nhiếp ảnh gia đã chụp được bức ảnh chú Hải ly để đời.

Mặc trang phục và mang theo thiết bị lặn biển chuyên dụng, Nhiếp ảnh giaLouis-Marie Preau nằm bất động dưới lòng sông, và kiên trì chờ đợi từ 2-3 giờ mỗi đêm, để có được bức ảnh chụp chú Hải ly tuyệt mỹ ‘độc nhất vô nhị’.

Nhiếp ảnh gia Louis Marie Preau đang bơi dưới nước để chụp ảnh. (Ảnh: leblogdici.fr).

Có thể nói rằng: Niềm đam mê mãnh liệt, cộng với sự kiên nhẫn phi thường, đã làm nên một tác phẩm để đời, một cảnh tượng đẹp đến kinh ngạc về một chú Hải ly Á-Âu đang tìm kiếm thức ăn cho bữa tối của mình ở vùng Loire miền Tây nước Pháp.
Thật không may, những gì loài Hải ly này có được, lại mang lại bất hạnh cho chúng. Chính bộ lông và mùi hương Hải ly (castoreum) của nó khiến nhiều thợ săn ráo riết săn lùng, bởi vậy loài Hải ly Âu-Á gần như đứng bên bờ tuyệt chủng vào giữa thế kỷ 19.
Ở Pháp, loài Hải ly này (tên khoa học là Castor fiber) đã gần như hoàn toàn biến mất, chỉ còn khoảng 100 con sinh sống ở thung lũng Rohne. Hiện các nhà chức trách đang nỗ lực bảo vệ chúng  trước nguy cơ tuyệt chủng.
Hiện tại đang có tổng cộng hơn 14.000 con Hải ly đang sinh sống ở Pháp, chúng giữ vai trò quan trọng trong hệ sinh thái sông của Thung lũng Loire.
 
Thời thơ ấu của Nhiếp ảnh gia Louis Marie Preau gắn liền với những cuộc phiêu lưu và khám phá thiên nhiên, cũng như quan sát động vật hoang dã, trong đó có cả Hải ly. Bản thân anh đã dành hơn một thập kỷ để quan sát loài động vật này. Có lần, anh nhìn thấy một con Hải ly trưởng thành mang một nhánh cây dưới nước về nhà của nó – và anh quyết định dành thời gian để chụp lại cảnh này – và đã mất 4 năm để làm điều đó.
Mỗi đêm, trong bộ đồ lặn chuyên dụng, anh nằm bất động dưới lòng sông trong nhiều giờ đồng hồ. Cuối cùng, những nỗ lực của anh cùng những nhà Bảo tồn đi tiên phong trong việc bảo vệ Hải ly đã được đền đáp xứng đáng.

Chú hải ly Âu-Á đang đi kiếm ăn - Bức ảnh độc nhất vô nhị của nhiếp ảnh gia Louis-Marie Preau. (Ảnh: Louis Marie Preau)Chú hải ly Âu-Á đang đi kiếm ăn – Bức ảnh độc nhất vô nhị của Nhiếp ảnh gia Louis-Marie Preau. (Ảnh: Louis Marie Preau)

Dưới đây là các bức ảnh tuyệt vời khác về thế giới động vật của Louis Marie Preau:
2188989
nhiếp ảnh gia
Snow Goose, Quebec, Canada
Snowy Owl, Quebec, Canada
Black-tailed Godwit, Loire, France
Theo Tree Hugger.
(Ảnh: Louis-Marie Preau).
Minh Minh.
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

9 điều không biết và 9 điều không thể trong đời, cần nhớ kỹ để sống an nhiên.

Đời người thật ngắn ngủi, thời gian chẳng có nhiều, nhưng hãy thật tỉnh táo bước đi trên chặng đường rạo rực, đầy ý nghĩa ấy. Có những điều, nhất định bạn phải khắc cốt ghi tâm…


9 điều không biết


1. Không biết trân quý, ôm cả núi vàng cũng sẽ không thấy vui

Vĩnh viễn thực ra là xa bao nhiêu? Qua bao nhiêu năm mới hiểu thì ra thế gian này thật sự vốn không có gì gọi là vĩnh viễn. Một quãng tình bạn, rời khỏi rồi thì sẽ tản mất đi. Một quãng ái tình, buông tay rồi thì thành phai nhạt. Hoa rơi, nước chảy đâu phải chuyện vô tình. Người không thể ở lại rồi sẽ ra đi. Người vốn dĩ không bao giờ đến thì đợi chờ một kiếp cũng là khổ công, vô vọng. Hãy trân quý những gì ở trong vòng tay, trước tầm mắt bạn, ai biết được sau một giây tất cả có còn thuộc về bạn nữa hay không?

2. Không biết khoan dung, bạn bè dù nhiều cuối cùng cũng rời bỏ hết

Nước trong quá không có cá, người quá xét nét thì không có bạn. Sao chỉ nhìn thấy cái gai trong mắt của người anh em, nhưng lại không thấy được cảcái xà trong con mắt của mình? Sống khoan dung không khó, quan trọng là bạn có đủ từ bi hay không. Từ bi cũng không khó, quan trọng là bạn có biết nghĩ cho người khác trước tiên hay không.

3. Không biết cảm ân, dù xuất sắc hơn người cũng khó mà thành công

Uống nước không quên ơn người đào giếng, người trước trồng cây người sau hóng mát. Cá biết ân của nước, chim biết ân của gió trời, đó chính là cội nguồn của hạnh phúc vậy.

4. Không biết hành động, dù thông minh hơn người cũng khó thành tựu ước mơ

Những tri thức có được từ sách vở rốt cuộc vẫn chỉ là điều nông cạn. Muốn hoàn toàn hiểu thấu sự vật, hiện tượng thì cần phải đích thân thực hành, trải nghiệm. Hãy nhớ rằng trường đời cho bạn những bài học quý báu và đắt giá hơn gấp trăm lần những trang sách. Khi giấc mơ được đưa vào thực tế, được thực hiện, nó sẽ trở nên thiêng liêng, cao cả hơn biết bao nhiêu.

5. Không biết hợp tác, dù cố gắng hơn cũng khó thành việc lớn

Có câu: “Thiên thời không bằng địa lợi, địa lợi không bằng nhân hòa”.. Có thể phát huy, tận dụng trí huệ và sức mạnh của mọi người thì không khó khăn nào ngăn cản nổi. Một bó đũa lớn thì chẳng sợ bị người ta bẻ gẫy bao giờ.


6. Không biết tiết kiệm, dù kiếm tiền giỏi hơn cũng khó thành đại phú

Xem qua sử sách, những chuyện cổ nhân thì thấy thành công vì cần kiệm, bại vong vì xa hoa. Kiếm củi suốt ba năm ròng, đừng nên đốt sạch chỉ trong một giờ.
7. Không biết thỏa mãn, dù giàu hơn cũng khó mà hạnh phúc

Biết đủ thì an vui. Không biết đủ thì mãi truy cầu nhọc tâm tổn sức, đoản thọ yểu mệnh, bệnh tật vây quanh. Một người cảm thấy hạnh phúc không phải bởi anh ta có được nhiều, mà là bởi anh ta ít toan tính.

8. Không hiểu được đạo dưỡng sinh, dù chạy chữa nhiều hơn cũng khó trường thọ

Chữa bệnh đã mắc, không bằng phòng bệnh chưa mắc. Thay vì bệnh nặng rồi mới lo chạy chữa, chi bằng lúc chưa có bệnh mà tìm hiểu đạo dưỡng sinh. Cái đạo dưỡng sinh lớn nhất không phải là tẩm bổ, an dưỡng mà chính là di dưỡng tính tình, tu tâm sửa tính, tích đức hành thiện. Khi an lạc từ trong tâm, sức khỏe cũng được vun bồi.

9. Không biết cuộc sống, sống càng lâu càng cảm thấy tẻ nhạt

“Chí lớn không già theo năm tháng, chết đi vẫn là ma anh hùng”. Đời người chính là một cuộc hành trình, quan trọng không phải là điểm cuối mà là phong cảnh dọc đường đi.

 

 

 

9 điều không thể:


1. Có một thứ không thể lợi dụng, đó chính là thiện lương

Càng là người lương thiện, càng không phát giác ra dụng ý bất lương của người khác. Thiện lương là một tài sản quý báu. Nếu bị lợi dụng để đạt được mục đích bất hảo thì loại tài sản này sẽ khô héo, thậm chí biến mất. Một khi thiện lương bị thay thế bởi lạnh lùng, vô cảm thì người bị tổn hại sẽ nhiều đến chừng nào.

2. Có một thứ không thể lừa gạt, đó chính là tình cảm

Có thể đùa giỡn với bất cứ ai, bất cứ điều gì, nhưng đừng đùa giỡn với tình cảm.. Đừng lừa gạt người khác khi họ đã trao cho bạn niềm tin, là những người thật lòng tốt với bạn. Họ chính là phúc duyên của bạn, đừng để lỡ họ trong cuộc đời.

3. Có một loại tình cảm không thể đùa giỡn, đó chính là sự chân thành

Hẳn bạn đã nghe rất nhiều lần câu chuyện quen thuộc về cậu bé chăn cừu nói dối “Sói đến rồi!”. Lời nói dối, dù chỉ là bông đùa đôi khi cũng gây ra những thương tổn lớn vô cùng. Đừng bùa bỡn với tình cảm chân thành của người khác, cuối cùng chính là tự mình gánh lấy hậu quả.

4. Có một thứ không thể thiếu, đó chính là tình bạn

Ở nhà dựa vào cha mẹ, ra ngoài thì nhờ cậy bạn bè. Tình bạn này, đẹp bởi thêu hoa trên gấm, quý ở trao tặng than hồng giữa trời tuyết lạnh. Người không có bạn bè thì tâm hồn cằn cỗi, gỗ đá biết bao.

5. Có một thứ không thể truyền tải bằng lời, đó chính là nỗi nhớ nhung

Tình này đã sớm trở thành nỗi nhớ nhung về dĩ vãng, cho đến bây giờ chỉ còn lại đau thương. Nghìn vàng dù có mua được bài phú của Tương Như, đằng đẵng mối tình này biết ngỏ cùng ai?

6. Có một thứ không thể tha thứ, đó chính là phản bội

Những kẻ phản bội bạn bè, thường thường cũng đang tự hủy diệt bản thân mà không tự biết. Nếu như có người phản bội bạn, bạn có thể tha thứ cho anh ta, chính là giống như chưa từng bị tổn thương vậy. Nhưng từ nay trở đi đừng bao giờ tin tưởng anh ta nữa.

7. Có một thứ không thể cứu vớt được, đó chính là tuyệt vọng

Tuyệt vọng, nếu như phủi đi lớp bụi lạnh lùng thì lại đang ẩn chứa một loại sức mạnh vô cùng hung dữ, hoàn toàn là không có lý trí, hoàn toàn không thể lý giải. Một người một khi rơi vào trong tuyệt vọng, thì anh ta sẽ không còn lo ngại chi nữa, thậm chí cũng sẽ không tiếc dùng đôi tay của mình xé nát trái tim đang bị tổn thương của anh ta.

8. Có một thứ không thể lãng quên, đó chính là lòng cảm ơn

Cuộc sống cần một trái tim cảm ơn để sáng tạo, một trái tim cảm ơn cần dùng cuộc sống để vun trồng.

9. Có một thứ không thể tham luyến, đó chính là danh lợi

Đừng truy cầu danh và lợi, danh lợi là kẻ thù của tự thân. Cam chịu làm kẻ an nhàn ngâm thơ trong vũ trụ, còn hơn làm quan lãnh bổng lộc trong trời đất.

Thiện Sinh
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Những thắng cảnh mê hoặc lòng ngườ trong truyện Kim Dung

Các tiểu thuyết kiếm hiệp của Kim Dung khiến nhiều người say mê và được chuyển thể thành những bộ phim ấn tượng. Nhiều danh thắng trong truyện cũng là cảnh đẹp có ngoài đời thực.
Zoom in (real dimensions: 959 x 661)
Hoa Sơn: Những ai từng đọc truyện Kim Dung không thể không biết tới núi Hoa Sơn, nơi có môn phái cùng tên nổi danh thiên hạ với Hoa Sơn kiếm pháp và Tử hà thần công. Đây là một ngọn núi thuộc dãy Tần Lĩnh của tỉnh Thiểm Tây. Đây còn là nơi diễn ra Hoa Sơn luận kiếm, một sự kiện đặc biệt của giới võ lâm trong truyện của Kim Dung. Trong lịch sử, Hoa Sơn là nơi ẩn cư của các nhà hiền triết, từ các tu sĩ đạo Lão tới nhà sư Phật giáo. Đường lên núi hiểm trở khó lường, chỉ dành cho những người có ý chí mạnh mẽ và sức khỏe hơn người. Ảnh: Photobucket.
Zoom in (real dimensions: 959 x 640)Image


Là một trong Ngũ đại danh sơn của Trung Hoa, Hoa Sơn có 5 đỉnh núi chính, cao nhất là đỉnh Nam Phong (2.154 m). Đỉnh chính của ngọn Hoa Sơn là Hóa Sơn hay Tây Nhạc, có độ cao 2.083 m. Với khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ, hoang sơ, nơi này thu hút du khách từ khắp nơi trên thế giới. Màu xanh của cây cối nổi bật trên những vách đá hoa cương trắng sừng sững khiến bạn có cảm giác như lạc vào một thế giới khác. Ảnh: Business Insider.
Zoom in (real dimensions: 959 x 640)Image


Tuyến đường từ đỉnh Bắc tới đỉnh Nam Phong được đánh giá là một trong những đường bộ nguy hiểm nhất hành tinh. Ngoài nhiều bậc thang dốc đứng, du khách còn phải vượt qua những đoạn ván gỗ, hốc đá chỉ vừa đủ đặt chân. Nhiều người Trung Quốc vẫn giữ thói quen leo lên đây vào ban đêm để đến đỉnh Đông lúc bình minh, dù trên núi giờ đã có nhiều khách sạn. Ảnh: Random Travels.
Zoom in (real dimensions: 959 x 640)Image


Chùa Thiếu Lâm: Chùa Thiếu Lâm nằm ở chân núi Thiếu Thất thuộc dãy Tung Sơn, tỉnh Hà Nam, Trung Hoa. Được xem là cái nôi của Thiền tông Trung Hoa, ngôi chùa này lại nổi tiếng nhờ gắn liền với võ phái Thiếu Lâm. Chùa được Hiếu Văn Đế nhà Bắc Ngụy xây dựng, với trụ trì là Bồ Đề Đạt Ma, người đặt nền móng cho Thiền tông và võ thuật Thiếu Lâm. Võ công của các nhà sư đạt đỉnh cao vào thời nhà Minh và hình thành một võ phái riêng biệt. Ảnh: Legacy of Taste.
Zoom in (real dimensions: 959 x 621)Image


Chùa Thiếu Lâm được xem là nơi khởi nguồn của nhiều võ phái nổi tiếng của Trung Hoa. Tới đây, du khách có thể ghé thăm Đại Hùng Bửu Điện, Tàng Kinh Các hay Rừng Tháp – nơi đặt tro cốt của các nhà sư. Ngoài ra, nhiều du khách còn dành thời gian để học kungfu ở các lò võ quanh chùa. Ảnh: Thoughtco.
Zoom in (real dimensions: 959 x 638)Image


Đại Lý: Đại Lý là quê hương của chàng công tử si tình Đoàn Dự – một quốc gia theo Phật giáo Mật Tông, từ vua tới dân đều sùng đạo. Trên thực tế, thành cổ Đại Lý nằm ở Vân Nam, Trung Hoa. Nơi đây có các di tích lịch sử, nhiều tòa nhà, đền miếu cổ. Trước đây, Đại Lý là một vương quốc của người Bạch, tồn tại từ năm 937 cho đến năm 1253, khi quốc gia này bị đế quốc Mông Cổ xâm chiếm. Ảnh: Flickr.
Zoom in (real dimensions: 959 x 638)Image


Thành cổ Đại Lý khá bình yên, nhỏ nhắn, không có xe cộ nên du khách có thể thoải mái dạo bộ tham quan. Chính phủ không cho xây dựng các công trình hiện đại trong khu thành cổ, do đó kiến trúc nơi đây vẫn mang đậm nét truyền thống. Các điểm tham quan chính là cổng thành phía nam và phía bắc, Sùng Thánh Tự, phố Tây và nhà truyền thống của người Bạch. Ảnh: HKU.
Zoom in (real dimensions: 959 x 564)Image


Núi Nga Mi: Nằm ở phía trung Nam tỉnh Tứ Xuyên, miền Tây Trung Hoa, núi Nga Mi là một trong Tứ đại Phật giáo danh sơn, do Bồ tát Phổ Hiền bảo trợ. Đỉnh cao nhất của Nga Mi là Vạn Phật thuộc ngọn Kim Đỉnh, với độ cao 3.099 m. Ảnh: Chinadiscovery.
Zoom in (real dimensions: 959 x 512)Image


Trong truyện Kim Dung, đây là nơi đặt đại bản doanh của Nga Mi, một trong ba võ phái lớn nhất Trung Hoa. Sư tổ sáng lập ra võ phái này là Quách Tương, con gái của Quách Tĩnh và Hoàng Dung. Khu vực này thường xuyên có biển mây bao phủ, tạo phong cảnh thơ mộng, hữu tình. Nơi đây còn có 26 đền chùa, miếu mạo với lịch sử lâu đời và dấu ấn văn hóa độc đáo. Ảnh: Taici.
Zoom in (real dimensions: 959 x 657)Image


Núi Võ Đang: Nằm ở phía nam thành phố Thập Yển, tỉnh Hồ Bắc, Võ Đang được coi là một trong những cái nôi võ thuật của Đạo giáo. Tại đây, Thái Cực quyền và Bát Quái chưởng nổi tiếng đã hình thành từ thế kỷ 13. Ảnh: WFPA.
Zoom in (real dimensions: 959 x 558)Image


Kim Dung chọn dãy núi này là nơi đặt phái Võ Đang. Với độ cao trung bình hơn 1.000 m, dãy núi có khung cảnh hùng vĩ, huyền ảo, thu hút du khách đến thưởng ngoạn. Ảnh: Wudang.
Zoom in (real dimensions: 959 x 638)Image


Thái Sơn: Thái Sơn là một ngọn núi linh thiêng của Trung Quốc, nằm ở tỉnh Sơn Đông. Di sản thế giới này là thánh địa của Đạo gia và nơi tế lễ của triều đình. Thái Sơn có đỉnh Ngọc Hoàng cao 1.545 m so với mặt nước biển, thế núi hiểm trở, có nhiều đền chùa, miếu mạo linh thiêng. Trong truyện Kim Dung, đây là đại bản doanh của kiếm phái Thái Sơn nổi tiếng. Ảnh: Thousand Wonders..
Zoom in (real dimensions: 959 x 600)Image


Quang Minh Đỉnh: Quang Minh Đỉnh là nơi ẩn náu của Minh giáo, và cũng là nơi Trương Vô Kỵ một mình chiến đấu với 6 bang phái trong Ỷ Thiên Đồ Long Ký. Địa danh tuyệt đẹp này có chiều cao 1.840 m, nằm trong số 3 đỉnh cao nhất thuộc dãy Hoàng Sơn, phía nam tỉnh An Huy, miền Đông Trung Quốc. Ảnh: Missadventuresmag.
Zoom in (real dimensions: 959 x 643)Image


Nhờ vị trí địa lý đặc biệt, khung cảnh trên Quang Minh đỉnh biến ảo không lường, với hệ động thực vật độc đáo cho du khách khám phá. Ảnh: Landbeauties.
Zoom in (real dimensions: 959 x 633)Image


Núi Côn Luân: Phái Côn Luân xuất hiện khá nhiều trong các tác phẩm của Kim Dung, dù không có vai trò nổi bật. Võ phái này xuất phát từ núi Côn Lôn, Tây Vực. Trên thực tế, dãy Côn Lôn nằm ở Tây Tạng và là một trong những dãy núi dài nhất châu Á (3.000 km). Dãy núi hùng vĩ này có độ cao trung bình hơn 5.500 m. Đây được xem là thiên đường của người theo Đạo giáo. Ảnh: SummitPost.

Hoàng Linh
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Chữ Nghĩa Văn Chương

Khi thấy con cháu cứ thích đàn đúm với đám bạn bè, mà các bậc ông bà cha mẹ không ưa, nhưng chẳng biết làm sao. Chúng ta thường nghe các cụ than thở: ngưu tầm ngưu, mã tầm mã.
Thật sự ra câu tục ngữ đó chỉ ngụ ý những người cùng sở thích đi tìm lẫn nhau. Tuy nhiên đã từ lâu, con người vốn có ý khinh miệt loài vật, ngu như bò, làm như trâu, chạy như ngựa. Vì thế hễ cái gì xấu xa thì mang thú vật ra ví.
Bà mẹ về không thấy cô con gái lớn ở nhà, hỏi ra thì biết cô  đang say sưa hát Karaoke với đám bạn đầu ngõ, chẳng lo cơm nước gì cả. Nhà cửa lạnh tanh, con trai thì đang sát phạt bài cào bên nhà hàng xóm.Chồng thì chưa tới nửa đêm là chưa về nhà, ông còn đang ngất ngưởng nhậu với các bạn ở các quán vỉa hè. Bà vợ chỉ biết chép miệng than: ngưu tầm ngưu, mã tầm mã. Cha nào con nấy.
Trong văn chương người ta gọi những người cùng sở thích là những người cùng hội cùng thuyền. Hội nhà văn, hội nhà báo, hội tao đàn… những người trong những hội này chắc chắn không phải là những người vai u thịt bắp, ăn no vác nặng. Những người phải dùng tim óc để cho ra những bài thơ, bản nhạc hay những áng văn tuyệt tác, những người mình hạc xương mai, trói gà không chặt.
Cha mẹ nào cũng muốn con mình sau này có cuộc sống đỡ vất vả. Mà muốn đỡ vất vả thì phải có công ăn việc làm cụ thể, thực tế như Bác Sĩ, Kỹ Sư, chứ đàn ca hát xướng thì không khá được.
Thành văn sĩ, nhạc sĩ, thi sĩ, họa sĩ, dĩ nhiên sẽ được rất nhiều người ngưỡng mộ, với điều kiện phải thật giỏi, xuất sắc mới kiếm được tiền. Còn làm thợ, y tá, kỹ sư, bác sĩ cỡ nào cũng vẫn có người thuê mướn.
Bởi vậy thi sĩ Vũ hoàng Chương được xưng tụng là Thi Bá, vẫn sống bằng nghề dạy học. Nguyên Sa nhà thơ, cũng là ông thầy dạy triết, và là Hiệu Trưởng trường Văn Học ở Sàigon. Nhạc sĩ Lê Vân Tú bảo rằng mê nhạc từ bé, nhưng cha mẹ không cho. Ông cũng phải học cho thành Giảng Sư toán lý của Đại Học Khoa Học. Qua Úc thành Khoa Trưởng một trường đại học. Ông bảo rằng bây giờ (đã qua tuổi cổ lai hy) ông mới tha hồ viết nhạc.
Cơm áo gạo tiền là cái thực tế mà mấy ông làm thơ, viết văn cứ lơ mơ như ở trên mây, bởi vậy mới chật vật về cuộc sống hàng ngày. Trong khi văn chương hạ giới rẻ như bèo. Thi sĩ Tú Xương chẳng có làm bất cứ việc gì ngoài chuyện làm thơ. Vợ thì quanh năm buôn bán ở mom sông, nuôi đủ năm con với một chồng. Cái gì cũng phó mặc cho “mẹ đĩ”. Ông cũng biết một đàn rách rưới con như bố. Thế mà nhất định không làm gì hết, chỉ có làm thơ, thảnh thơi thơ túi rượu bầu. Tài thật, hèn chi khi nghe ông hỏi, bà cũng trả lời “rằng hay thì thật là haykhông hay sao lại đậu ngay tú tài”. Thời xưa không có “mục” li dị, chứ như bây giờ, ông chẳng có  tối rượu Sâm Banh, sáng sữa bò nữa đâu. Cứ xem như nhạc sĩ Trúc Phương làm biết bao nhiêu bản nhạc tình ca tụng tình yêu, xúc động hàng vạn  trái tim. Nhưng cũng chẳng có trái tim nào mủi lòng cho ông ở nhờ, đành lê lết ngủ ở bến xe đò. Nhạc sĩ tài hoa mà sao cuộc đời cơ cực.
Những người thực tế đã khuyên các cô ĐỪNG YÊU NGƯỜI LÀM THƠ, thà lấy anh bán phở, nói năng dùi đục chấm mắm cáy, vậy mà no bụng.
Nhà văn Nguyễn Vỹ đã từng than thở “nhà văn An Nam khổ như chó”, bởi vì tiền kiếm được không nuôi nổi bản thân. Còn Tản Đà thì bảo “văn chương hạ giới rẻ như bèo”. Thưa cụ, câu này không còn hợp thời nữa rồi, trong nước bây giờ họ nói bèo cũng chẳng còn. Sông rạch ô nhiễm, mọi thứ đã chết hết cả, chẳng có lục bình hay bèo bọt nữa đâu. Đừng ví cuộc đời em như lục bình trôi giạt nơi nào. Tất cả bèo và lục bình trôi tuốt qua bến Hàn    (Quốc) Đài (Loan) cả rồi.
Các anh trai làng bây giờ đều mang tâm trạng như Nguyễn Bính, cùng một nỗi niềm:
Hôm qua em đi tỉnh về,
Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều.
Cứ đếm xem có bao nhiêu ca sĩ trong nước lấy chồng Mỹ. Vì tiếng gọi của con tim? hay đó là cách duy nhất để vào Mỹ bằng tờ hôn thú. Diện con cái thì các cụ chết hết cả rồi, diện anh em lấy đâu ra. Kiếm một chàng mắt xanh tóc vàng là nhanh nhất. Cái cột đèn còn muốn đi nữa là.
Chủ nghĩa thực dụng bây giờ đã lan tràn khắp chốn, người ta không còn thích có con trai nữa. Có con gái gả cho Đài Loan, Hàn Quốc kiếm tiền xây nhà, mua xe le lói với bà con chòm xóm. Biết bao nhiêu anh chàng đã đau khổ vì bị  sinh ra làm thân con trai: trai tài gái sắc. Vậy là đua nhau chuyển giới để thành những cô gái mỹ miều, họ cho rằng cứ là con gái là kiếm tiền bằng nghề không vốn.Lòng tự trọng và liêm sỉ là cái gì đó thật mơ hồ.Đừng hãnh diện và cũng đừng mặc cảm về những cái không do mình làm ra: có cha mẹ giàu, có vẻ đẹp mỹ miều… Ngày xưa khi còn bé, tôi đã ngẩn ngơ khi thấy cô Nha Sĩ “đẹp ơi là đẹp”, tôi về kể lại cho các bạn. Cô đẹp đến độ tôi cứ líu ríu nghe lời cô, há miệng cho cô nhổ răng, mà chả kêu khóc gì cả. Để rồi được nghe cô khen với lời dịu ngọt và cái vuốt má êm dịu làm tôi đê mê. Còn anh chàng  Nick Vujicic bên Úc sinh ra chẳng có tay chân, anh chẳng đổ thừa cho ai cả, đã tự cứu mình, chứng minh mình vẫn còn ích lợi, ít nhất cho bản thân ngay từ khi còn rất bé. Anh vẫn cám ơn Chúa, dù sao anh cũng có được bộ óc thông minh hơn người. Anh đã chứng tỏ mình tàn mà không phế cũng  học xong đại học, cũng bơi chơi đàn như người bình thường. Chu du diễn thuyết để giúp cho giới trẻ và những người khiếm khuyết hãy tự tin, vươn lên tự giúp mình và giúp đời.
Có một tác phẩm mà tôi đã quên tên. Nói về một người nô lệ có bộ mặt gớm ghiếc nhưng rất thông minh. Một bữa kia có ông Hầu Tước, mua được anh nô lệ này, mang về làm người hầu cho vợ. Khi vừa thấy anh, bà vợ che mắt rú lên kinh hãi như vừa thấy ma quỷ hiện hình. Nhưng sau đó bà chợt nhận ra sự lố bịch của mình. Nhưng anh nô lệ vẫn ôn tồn: thưa bà, ai khi trông thấy tôi, họ cũng cùng phản ứng như bà thôi, tôi đã quen rồi. Sợ rằng ông chồng sẽ trả lại món hàng. Anh nô lệ năn nỉ xin bà cho tôi được hầu hạ bà. Tôi tin rằng bà sẽ không chọn lầm đâu.
Anh nô lệ không dám nhận mình là người, xã hội lúc đó không công nhận anh là người. Anh chỉ là món đồ cho những người được gọi là người đổi chác.
Sau một thời gian ngắn, bộ mặt gớm ghiếc của anh đã hầu như mờ nhạt, bà Bá Tước chỉ thấy hình ảnh một con người thông minh duyên dáng. Bà chỉ muốn nói chuyện với anh nô lệ cả ngày. Còn ông chồng thì xấu xí, ngớ ngẩn, nói năng thì “ngữ bất đồng tâm, bán cú đa”.
Một bữa kia ông chồng hoảng hốt chạy về nhà, bên ngoài dân chúng la ó bắt ông phải giữ lời hứa. Ông không biết làm sao, vì trước kia ông đã nói rằng: nếu ông không giúp dân ngăn chận được ngoại xâm, thì ông sẽ uống hết nước biển. Nay quân thù đang vượt qua biên giới. Dân chúng bắt ông phải giữ lời hứa, trước khi toàn dân cùng đồng lòng đoàn kết chống lại quân thù. Bà vợ thở dài, bây giờ người ngoài mới biết ông là đồ vô dụng. Còn bà thì đã nhìn thấy từ lâu, một thứ tốt mã rẻ cùi.
Bà chợt nhớ ra anh nô lệ. Khi hiểu ra câu chuyện, anh nô lệ nói rằng anh sẽ cứu ông thoát chết, với điều kiện ông phải trả tự do cho anh. Dĩ nhiên Bá Tước phải đồng ý. Anh nói rằng ông cứ bình tĩnh nói với đám đông đang la ó: ông đồng ý uống hết nước biển, nhưng với điều kiện phải chận các con sông lại.
Như giao ước từ nay anh nô lệ đã được tự do, bà Bá Tước tan nát cả cõi lòng, bà đã yêu anh tự bao giờ.
Bên VN các bà các cô đua nhau qua Nam Hàn sửa sắc đẹp. Họ khoác lên người đủ thứ hàng hiệu, họ khoe đủ thứ tiện nghi vật chất từ xe đến nhà. Họ giống như những con búp bê, đầu óc rỗng tuểch. Toàn đồ giả! Mọi thứ đều nghi ngờ.
Khi làm ra đồ giả, có nhà sản xuất nào ghi chú: đây là đồ copy.  Nhưng lúc ra sân khấu lại  được giới thiệu ca sĩ chuyển giới. Chỉ có xem youtube thôi, mà tôi đã thấy nhột. Tội nghiệp cho cái cô imitate đó quá. Nếu khán giả xem tắc lưỡi hít hà khen đẹp, thì cũng an ủi cho người đã chấp nhận giảm bớt tuổi thọ, và chịu bao đau đớn của dao kéo để có ngày hôm nay, đằng này cứ oang oang “đồ giả, không phải đồ thiệt” đâu. Vô nhân đạo, bất lịch sự!
Tìm hiểu cuộc đời của các nhà văn nhà thơ tiền chiến. Những người chết trong nghèo khó vì không cónghề tay trái, phương tiện sinh nhai của họ chỉ bằng văn chương chữ nghĩa. Thơ văn chỉ viết được khi có cảm hứng, bởi vậy thi sĩ Tản Đà rất  ngông. Thơ của ông dĩ nhiên là tuyệt tác, vì vậy mấy ông chủ báo sẵn sàng đưa nhuận bút trước khi đưa bài. Người ta mua báo chỉ để đọc thơ của Tản Đà.
Tiền thì tiêu hết, báo đã lên khuôn, chỉ chờ bài của ông là cho ra lò. Năm lần bẩy lượt cũng chẳng thấy bài, cuối cùng ông nói thẳng làm thơ không phải chẻ củi, nên không phải lúc nào làm cũng được. Ông có cái lý của ông, đứa con tinh thần của ông không thể là những đứa con èo uột. Giá trị ở phẩm chứ không phải ở lượng. Nhạc sĩ Đặng thế Phong chỉ có 5 bản nhạc để lại cho đời, nhưng tất cả đều là tuyệt tác.
Bây giờ người ta phải sống bằng hai con người khác nhau. Ngày thường thì là người trần mắt thịt, để lo cho cuộc sống cơm áo gạo tiền. Vì thế đừng ngạc nhiên nếu thấy ông thi sĩ này làm chủ tiệm phở, bà văn sĩ kia làm chủ tờ báo. Các cụ đã bảo phi thương bất phú, không buôn bán làm sao giàu. Nhưng buôn bán thì  phải mánh lới mưu mẹo vi phú bất nhân. Khi làm thương mại, họ hiện rõ bản chất, chửi nhau vì quyền lợi, cãi nhau như mổ bò, khẩu chiến, bút chiến,đưa nhau ra tòa cho thân bại danh liệt.
Nhà văn nhà thơ tiền chiến như Nguyễn Bính, Vũ trọng Phụng chết trong nghèo đói vì chỉ sống bằng ngòi bút. Bây giờ nếu chỉ sống bằng thơ văn thì đời tàn trong ngõ hẹp. Thời đại Internet có mấy ai mua sách, mấy ai có nhuận bút. Nhạc có hay mà không có đất dụng võ thì cũng không ai biết. Nói thế không có nghĩa không có người đột nhiên nổi tiếng như trường hợp tác giả loạt sách giả tưởng Harry Potter.
Nhưng độc giả Âu Mỹ khác với dân mình, họ trân quý nhân tài, mọi thứ tốt đẹp họ vinh danh cho tác giả khi họ còn sống. Chứ không đợi tới khi nhắm mắt mới làm lễ tuyên dương tưởng niệm. Cỗ bàn dẫu có long trọng thì cũng người sống hưởng.
Văn thơ nhạc họa bây giờ coi như nghề tay trái. Tổng Thống khi về hưu mới viết sách. Hàng ngày phải sống bằng nghề tay phải: Bác Sĩ, Kỹ Sư, Luật Sư…
Làm chủ tiệm nước mắm, tuy mùi hương tưởng nhớ có khó chịu, nhưng tiền thu vào thì dễ chịu. Dẫu khi chất nước mắm lên xe cho khách, vẫn nhớ đến câu “Câu thơ thi xã, con thuyền Nghệ An (chở nước mắm)”.
Ban ngày làm Bác Sĩ mổ tim (thiệt), rồi ban đêm thành thi sĩ mở cửa trái tim. Con tim (Bác Sĩ) sẽ vui trở lại. Muốn mơ mộng      (không ai cấm), nhưng vợ con và ngay bản thân mình cũng phải có thực mới vực được đạo.
Như vậy thơ văn là mộng, mưu sinh là thực. Mộng và thực bồng bềnh xen kẽ trong đời sống con người. Lúc mộng lúc thực, có thế đời mới thăng hoa đáng sống.
Ngày xưa tôi vẫn nhớ hoài những bài Études de texts của Thầy Rock Cường dạy Pháp Văn, nói về ý nghĩa của sách, cờ, bếp lửa, tấm màn che. Sách là người bạn tốt, sách giúp ta hiểu mọi điều, đưa ta đến chân trời góc bể, vì vậy người không biết chữ, không đọc được sách được ví như người mù. Cờ là biểu tượng cho quê hương mình, ý nghĩa của cờ vô cùng thiêng liêng: tung bay dẫn đầu đoàn quân khi chiến thắng trở về quê nhà, cờ như mẹ hiền ôm ấp hình hài những đứa con khi gục ngã nơi chiến trường, chiến đấu để bảo vệ màu cờ tổ quốc. Bếp lửa còn có nghĩa là gia đình, hình ảnh mọi người quây quần quanh bếp lửa, là hình ảnh gia đình, nơi đó cho ta cảm giác ấm áp yêu thương. Mỗi người đều có một tấm màn che vô hình bao quanh, sự cảm thông hay thái độ của ta với người đối diện, tùy thuộc vào bức màn. Có người chỉ được phép thấy một chút ít phía trên, còn người tri kỷ, tâm giao là những người mà bức màn đã hạ xuống hoàn toàn.
Tất cả mọi cách đối nhân xử thế, chúng ta đều được học qua sách vở, qua văn chương báo chí, qua phim ảnh, qua tiếng nhạc lời ca.
 
Những văn nghệ sĩ đã để lại cho đời những câu thơ tuyệt tác, những chữ khi nói lên nao nao tấc dạ:
Nước non ngàn dặm ra đi.
 
Vâng chúng ta đã xa lìa nước non chúng ta ngàn dặm. Chẳng phải chỉ cách nửa quả địa cầu, hai mươi giờ bay. Mà là:
Nhìn về đường cố lý, cố lý xa xôi.
 
Mỗi năm cứ đến ngày 30 tháng Tư, tôi thấy lòng chùng xuống. Chạnh lòng nhớ về những người đã khuất: các tướng lãnh, các văn nghệ sĩ tài hoa. Những Vũ hoàng Chương, Nguyễn mạnh Côn, Thục Vũ, Minh Kỳ.
Tôi chẳng sung sướng gì khi thấy trẻ con sống lê la đầu đường xó chợ, những cụ già sống ngắc ngoải thoi thóp vì miếng cơm manh áo.
Ở hải ngoại này, chúng ta được gọi là những người “đẻ bọc điều”… những  đồng  bào cùng cội nguồn…nhưng niềm vui không bao giờ trọn vẹn. Khi đồng bào, những người cùng cộ
 
Bố tôi tuy không viết sách, nhưng đọc rất nhiều sách. Di cư vào Nam ông chẳng mang gì ngoài mấy rương sách báo. Vì vậy khi lớn lên tôi cũng cầm được những tờ Nam Phong tạp chí cũ ơi là cũ. Bạn bè của bố tôi toàn văn nghệ sĩ, mà đã là văn nghệ sĩ thì trò chuyện cũng khác người thường. Tôi là đứa để sai vặt mỗi khi bố có khách. Mà cái tật, tuy còn nhỏ nhưng tôi rất hóng chuyện, thích nghe các cụ khề khà bàn chuyện thơ văn. Trong khi mẹ tôi không thèm để ý mấy ông nói chuyện gì, bổn phận của bà là lo dọn thức nhắm cho tôi mang ra.
 
Bố tôi làm ở kho bạc Gia Định, nhà văn Bình nguyên Lộc cũng vậy.
 
Hai ông khi gặp nhau đã khoe rằng trong tay tao lúc nào cũng có  bạc triệu. Nhưng mà, nhà văn Bình nguyên Lộc nói:
– Đời buồn như người ngồi đếm giấy bạc… KHÔNG PHẢI CỦA MÌNH.
 
Nghe vậy, tôi xoè tay ra bác ơi! vậy tiền này…
Tôi nheo nheo mắt nhìn những tờ giấy bạc, bác nhờ tôi ra đầu ngõ mua thuốc lá. Bác BNL vội vàng để riêng ra một tờ cái này là của cháu, cái này để mua thuốc cho bố và bác. Nói rồi bác củng nhẹ đầu tôi, khen con bé lém lỉnh.
 
Không lém lỉnh sao được. Tôi đã từng mang học bạ khoe với các bạn lời phê của thầy Bàng bá Lân: biết cách học. Ý nói tôi chỉ học cái gì cần học, bởi vì trong xóm tôi có một cô thi Tú Tài I ba năm không đậu: ba năm tức là 6 lần.Khi tôi đã học năm thứ hai đại học, cô bưng một chồng sách đủ cả 8 môn thi. Cô hỏi tôi mỗi chương học phần nào? Tôi bảo rằng tôi không thể, vì điều này thuộc sự cảm nhận của mỗi con người. Cũng như khi ta tiếp xúc với bất kỳ người nào, linh tính hay trực giác sẽ cho ta biết người đó đối với ta ra sao. Ai cũng có cá tính, nếu người đó có nhiều điểm khó hòa hợp, thì ta hạn chế qua lại. Đừng có tham vọng  nghĩ ai cũng như ai. Hãy chỉ nhìn những điều tốt của họ, ta sẽ không sầu não than van. Xã hội là một bức tranh nhiều màu, phải có trắng lẫn đen. Không hợp nhau thì lặng lẽ rút lui, không giận hờn trách móc, coi như duyên của mình và họ tới đây là hết. Nếu nghĩ vậy thì làm sao chúng ta nghe được ca khúc nửa hồn thương đau. Làm sao có câu thơ người đi một nửa hồn tôi chết, một nửa hồn kia bỗng dại khờ.
 
Văn nghệ sĩ có trái tim dễ xúc cảm như vậy, bảo sao bà mẹ nào muốn con mình là thi sĩ nghĩa là mơ với gió, yêu theo trăng và vơ vẩn cùng mây.
 
Xin can, đừng yêu người làm thơ. Yêu anh bán phở tiền tiêu dài dài!
 
Tôi rất phục các nhà văn nhà thơ, trong đầu họ đầy ắp chữ, mà không phải chữ thường, mà là những chữ rất riêng biệt. Những chữ trong thơ rất cô đọng, chứ đâu có nói tràng giang đại hải. Dẫu có bằng cử nhân, tiến sĩ cũng chẳng nghĩ ra được một câu thơ. Trong khi nhiều nhà thơ, nhà văn nổi tiếng đâu có học xong trung học. Một số nhạc sĩ cũng vậy, đọc tiểu sử toàn là con nhà nghèo, không được đi học tới nơi tới chốn, vậy mà khi viết nhạc họ tìm ra những chữ thật tuyệt vời, diễn tả thật đúng nỗi lòng, khiến người nghe bồi xúc động.
 
Văn nghệ sĩ họ nhìn sự vật khác người thường. Không giống người trần mắt thịt, một cộng một là hai, nhưng em với ta tuy hai mà một. Bởi vậy chữ nghĩa của họ đôi khi phải chính tác giả giải thích người nghe mới hiểu.
 
Cũng là nơi ở khiêm nhường, trên căn gác lửng, thưở còn được tự do làm thơ họa với bạn bè, thi sĩ Vũ hoàng Chương gọi là Gác mây, vì ở trên cao, tha hồ đi mây về gió. Sau 75, ông đổi thành Gác bút. Nhưng gác này là động từ: ông đã bị cấm viết.
 
Còn Nguyễn Tuân khi đi họp, mọi người chuyền cho ông tờ giấy, hàng cuối có chữ Bút Ký. Ông bảo bỏ bớt chữ Bút, vì khi ký tên, ai cũng phải dùng bút, có ai dùng chổi mà ký bao giờ. Nhà văn có khác, nói và nhìn sự vật khác người thường. Chẳng hạn khi họ nói:
–  Sách vở ích gì cho buổi ấy,
–  Mười người đi học chín người thôi.
 
Theo bạn, có mấy người đi học? Chín người hay một người?
Trong các tác phẩm văn chương ngày xưa (coi như trước 75), nhà văn nhà thơ hay dùng điển tích như Bá Nha Tử Kỳ, nàng Trác văn Quân …vì họ đọc rất nhiều sách kim cổ.
 
Ngày nay văn chương chữ nghĩa trong nước cũng có thêm rất nhiều tiếng mới. Những tiếng này người ở hải ngoại không thể nào hiểu được, nếu không có người diễn giảng. Ví dụ buôn dưa lê, hay làm bà Tám là ngồi lê đôi mách. Bà Tám là người nhiều chuyện. Đôi khi người ta bỏ luôn chữ bà: lại đitám nữa rồi.
 
Muốn cười (ra nước mắt), cứ xem hình ảnh nhan nhản ngoài đường phố. Từ các bích chương quảng cáo nơi công cộng, hay thông cáo ở các cơ quan chính phủ, tới cách ăn mặc quái đản của các cô gái thời thượng (cổ). Nhất là tư duy sáng tạo khắc phục khó khăn trong giao thông. Cả một xã hội bát nháo, ai muốn làm gì thì làm. Trật tự là chữ lạ, tiên học lễ là gì? Không ai hiểu. Đói cho sạch là câu mơ hồ.
 
Ngày xưa các nhà giáo lão thành, cả đời tận tụy dạy học, viết sách để lại cho con cháu, lúc nào cũng nhắc nhở tới luân thường đạo lý.
–  Trai thời trung hiếu làm đầu.
–  Gái thời tiết hạnh làm câu trau mình.
 
Hồi xưa nghe nói những người theo chủ nghĩa hiện sinh, đã coi là ghê gớm. Bây giờ lối sống trong nước, không biết phải gọi là chủ nghĩa gì cho đúng.
 
Sống chết mặc bay, tiền thầy bỏ túi.
Trọng thầy mới được làm thầy
Những phường bội bạc sau này ra chi.
 
Ngày xưa thầy phải coi trọng hơn cha: Quân Sư Phụ. Vậy mà bây giờ toàn nghe trò đánh chết thầy. Thầy dụ dỗ trò. Nhà văn Nguyễn thị Hoàng chỉ viết truyện Vòng tay học trò, đâu có tả cảnh nào về sex đâu, chỉ có mỗi tội đưa ra một ý tưởng quá mới mẻ: cô giáo yêu học trò. Đã bảo tình yêu không phân biệt tuổi tác, con tim có những lý lẽ của nó.Có điều truyện đã vượt qua giới hạn của lễ giáo phong kiến nên bị kết tội, chỉ trích um sùm. Cậu học sinh trong truyện cũng đâu phải vị thành niên, nhưng cấm là cấm.Trong khi ở Mỹ có cô giáo dụ dỗ cậu học sinh chỉ 14 tuổi,khi cô có bầu mới bị phát giác. Đẻ xong, giao con gái cho bố mẹ “bạn trai”, rồi vô tù. Hết hạn, vừa lúc cậu học sinh đủ tuổi kết hôn. Cả hai chính thức làm đám cướicon gái lúc trước nay thành cô phù dâu nhí.
–  Yêu nhau mấy núi cũng trèo.
–  Mấy sông cũng lội mấy đèo cũng qua.
 
Mấy năm tù chỉ là cái lẻ tẻ. Đó là chuyện bên Tây, chứ bên ta chưa ai dám ngang nhiên tỉnh  coi thường dư luận như vậy.
Chẳng biết trong nước bây giờ trẻ con được học những gì, mà khi hỏi về lương tâm và liêm sỉ chẳng em nào biết. Truyện Kiều, Chinh phụ Ngâm, Nguyễn Khuyến, Nguyễn công Trứ… Không biết có được đưa vào chương trình giáo khoa hay không?
 
Thơ văn nhạc họa… là những món ăn tinh thần của con người. Khác với thú vật, sự sống chỉ có nhu cầuăn uống. Đối với con người, đôi khi món ăn tinh thần còn quan trọng hơn cả đồ ăn thức uống. Phật ngồi im thiền định 49 ngày dưới gốc cây bồ đề, Ngài có ăn uống gì đâu, vậy mà đâu có chết. Trong khi những người ăn uống ngồm ngoàm, vô độ, thì bị gọi là những đứa phàm phu tục tử, võ dõng vô mưu, vai u thịt bắp.
Các cụ còn nói kẻ sĩ ba ngày không đọc sách, mặt mày khó coi!
Như vậy rõ ràng, đối với con người, món ăn tinh thần quan trọng hơn món ăn vật chất. Hãy nghĩ xem, trong 24 giờ/ ngày, bạn dành bao nhiêu thời gian cho việc ăn uống để nuôi cái xác phàm. Thời gian còn lại bạn làm gì? Học hành, nghiên cứu, nghe nhạc, xem phim… và mơ mộng.
Hãy tưởng tượng một buổi sáng thức dậy, không có truyền thanh, truyền hình, sách báo. Cả một không gian im lìm, bạn sẽ hoảng hốt hơn là khi thấy điện cúp, nước không chảy.
Với con người món ăn tinh thần cần thiết hơn món ăn vật chất. Bằng cớ là mỗi lần bạn bè của bố tôi gặp nhau. Thời buổi kinh tế kiệm ước, đồ ăn thức uống có chút xíu, mà sao mọi người nói cười rộn rã. Mặt mày ai cũng hớn hở, bình văn bình thơ nghe đã làm sao. Tôi là con bé để sai vặt, nhưng tôi vô cùng thích thú vì được nghe các bạn thơ văn của bố nói chuyện. Quả thật, ngay từ bé, tôi đã nhìn ra những nét đặc biệt của cả ba miền: Trung, Nam, Bắc của nước. Phong thổ của mỗi miền ảnh hưởng vào nếp sống, tâm tính và cách suy nghĩ của con người nói chung, và văn nghệ sĩ nói riêng của miền đó.
Miền Nam ruộng lúa mênh mông, sông rạch chằng chịt nên đời sống dễ chịu. Các món ăn cũng vì thế được chế biến đơn giản, nhanh gọn: cá lóc nướng trui. Con cá to đùng bọc đất sét, chất củi nướng. Chỉ nhấp nháy là bửa con cá ra, bỏ đầu, xương, da (vì đã dính vào đất sét), ăn phần thịt trắng nõn. Ăn như vậy, mẹ tôi bảo ăn phí của Giời! Bắc Kỳ hả? Không có đâu, với một con cá như vậy. Nó sẽ được luộc lên, gỡ thịt để riêng. Xương và đầu giã nhuyễn, lọc lấy nước ngọt, đem nấu canh hay nấu cháo (gọi là nấu ám). Mẹ tôi rất nghiêm khắc trong chuyện dạy con. Không có kiểu hầu con như hiện nay đâu, con trai con gái gì cũng phải làm việc nhà. Khi mẹ đi chợ về là tất cả đứa lớn (trên 10 tuổi) là phải đứng dậy ra đón mẹ: đứa thì xách giỏ vào bếp, đứa cao thì treo nón (lá) vào chỗ cũ.Sau đó soạn giỏ, dao thớt, đặc biệt mẹ chỉ ngồi xuống là một đứa phải đẩy ngay cái ghế con cho mẹ ngồi xuống. Sau đó thì nhặt rau hoặc xé cua.Anh tôi chuyên làm việc này, vì tôi là con gái sợ bị cua kẹp. Anh tôi giã nhuyễn, để đó cho mẹ tôi lọc.Còn tôi nhặt rau xong, rửa sạch rồi thu dọn rác. Sau khi mọi thứ đã sẵn sàng để nấu, lúc đó chúng tôi mới được phép lên nhà, rồi muốn làm gì thì làm, với điều kiện không được làm ồn. Khi dọn cơm chỉ thấy có tô canh rau đay nấu với cua đồng, và đĩa tép riu nhỏ xíu. Vậy mà ồn ào xúm lại cả nhà, làm cho tôi nhớ tới truyện Hồn bướm mơ tiên của Khái Hưng. Khi đi thăm chùa, khách nghe dưới nhà bếp lách cách tiếng dao tiếng thớt, tiếng người lao xao, tưởng như đang chuẩn bị một bữa ăn thịnh soạn, chứ có đâu khi dọn lên, chỉ thấy bát cà, đĩa rau. Nhà tôi cũng vậy thôi, mọi người lăng xăng vào bếp nào có cơm gà cá gỏi gì đâu.Chỉ vì mẹ tôi là thế đấy, mẹ về là phải đứng dậy, không phải chào mẹ đã về, mà để biết bổn phận làm con.Có đâu như bây giờ, chẳng quan tâm đến ai, ai đi ai về cũng mặc, đang mải chơi game nên mắt cứ dán vào màn hình, chẳng cần biết chuyện gì khác.Đói thì vào bếp lục thức ăn, đồ uống. Coi như chuẩn bị bữa ăn không phải là chuyện của tụi nó.
 
Vì được tập tành từ nhỏ, nên năm tôi 13 tuổi, em gái tôi thua tôi một giáp. Mẹ tôi đi làm từ sáng sớm, về nhà khi chập choạng tối. Ngày xưa các lớp học chỉ có một buổi nên anh em chúng tôi thay phiên nhau trông em. Riêng tôi là con gái nên đảm thêm việc chợ búa cơm nước. Có một chuyện tức cười làm tôi nhớ mãi. Cô bạn hàng xóm là dân Nam Kờ chính gốc, ông bà nội ngoại ở Cần Thơ rất giàu có. Dĩ nhiên cô được ăn uống toàn món ngon, hàng ngày cô qua chơi với tôi. Hôm đó tôi nhờ cô bóc vỏ một lạng (100g) tép bạc để nấu canh rau cải. Cô vừa bóc vừa hỏi sao có chút xíu dzậy? Tôi ậm ừ, đủ nấu canh rồi. Khi bóc xong, cô cầm cái rổ nhỏ đựng vỏ và đầu tôm định trút vào thùng rác. May sao tôi thấy, la lên: đâu có bỏ. Cô bạn ngạc nhiên hết “thịch” rồi! Tôi trả lời chưa xong mà.
 
Trước con mắt ngạc nhiên của cô bạn, tôi lôi chày cối ra giã nát mớ vỏ và đầu tôm, sau đó dùng rây lọc nước. Nấu xong tôi giải thích cho cô bạn NK, phún và thịt  khác nhau chỗ nào, người Bắc đã tận dụng vỏ tôm, đầu cá, ngay cả những con cáy chẳng có bao nhiêu thịt. Nhưng khi giã nát lọc lấy nước, chất ngọt cũng có từ  thịt cá, cua,tôm còn sót lại tụ thành phún.
 
Hứng chí tôi còn kể cho cô chuyện vui: bạn Nam Kỳ mời bạn ăn cơm. Món tôm rang của NK không có cắt râu, nên mỗi lần gắp là được cả chùm. Còn khi Bắc Kỳ mời lại, tôm rang được cắt râu gọn ghẽ, nên mỗi lần gắp chỉ được một con thôi.
Tôi còn khoe, chỉ có một con gà, má tao làm được mấy món: thân luộc, lòng xào dứa, cổ cánh bằm nhuyễn viên lại, nấu giả chim, còn lông thì để bán cho người ta mang về làm chổi lông gà.
 
Tôi còn “tự hào”, xứ tao nghèo, nhưng không đến nỗi như miền Trung sỏi đá,có chuyện  một anh học trò nghèo đi thi. Anh đẽo một con cá bằng gỗ, khi vào quán ăn, anh chỉ mua cơm và xin một chút nước mắm. Anh chấm con cá vào nước mắm, ung dung như đang ăn cơm với cá. Sau đó con cá gỗ lại được cất đi, để dùng cho bữa sau. Chuyện thật hay tưởng tượng, nhưng chắc chắn anh học trò này không phải là dân Nam Kờ với toàn những món nguyên con: cá nướng trui, gà đút lò. Tự ái dân tộc nổi lên khi còn ở trong trại định cư, đám con nít Nam Kờ chọc anh em tôi là Bắc Kỳ ăn cá rô cây!
 
Phong thổ tạo ra ẩm thực, bạn bố tôi về xứ Quảng ăn tết. Khi trở lại saigon, ông cho bánh tổ, bánh rế, bánh men, kẹo gừng, kẹo mạch nha… nguyên liệu chỉ là đường phổi, khoai, nếp, đậu, cá tôm đâu chẳng thấy ở xứ khô cằn sỏi đá. Cuộc sống khó khăn đã khiến người ta cố gắng vươn lên. Miền Trung đã sản sinh ra biết bao nhân tài, điển hình là các ông vua triều Nguyễn, ngay cả Tổng Thống Ngô đình Diệm cũng là người dân xứ Huế.
Văn thi nhạc sĩ gồm đủ người ở cả ba miền: Trung Nam Bắc.
Văn sĩ miền Nam như Hồ biểu Chánh, Sơn Nam, Hồ Trường An, Bình nguyên Lộc…
Thi sĩ miền Bắc như Lưu Trọng Lư, Nguyễn Bính…
Nhạc sĩ miền Trung như Hoàng Thi Thơ, Châu Kỳ…
Những dí dỏm, thâm trầm, đơn  mộc mạc đặc trưng của mỗi miền đều thể hiện trong các tác phẩm của họ. Văn là người. Khi cho ra những món ăn tinh thần, ít nhiều gì chúng ta cũng thấy bàng bạc hình ảnh con người tác giả. Từ quan niệm sống cho tới cá tính của mỗi người.
 
Mặc dù vợ của mấy ông nhà văn nhà thơ ít khi được nhắc đến. Họ như những bóng mờ, chỉ biết Tú Xương có năm con, nhà thì ở gần sông, bà vợ buôn bán lặt vặt (bởi vậy mới nghèo): quanh năm buôn bán ở mom sông, nuôi đủ năm con với một chồng. Tuy vậy Tú Xương cũng biết cám ơn người bạn đời, chứ Tản Đà đọc thơ của ông, không nghe nói đến vợ con, toàn nghe than thở văn chương hạ giới rẻ như bèo. Còn làm thơ thì toàn ca tụng những ai ở đâu đâu, trong khi các bà vợ một nắng hai sương hầu như không ai nhớ đến.
 
Sau 75, bắt gặp hình ảnh của những nhà văn nhà thơ miền Bắc sống chui rúc ở những căn nhà ổ chuột.Cuộc sống cơ cực, tôi cảm thấy chạnh lòng.Văn nghệ sĩ miền Nam đâu có khốn khổ như thế. Tài hoa của đất nước bị đối xử thế sao? Lê Xuyên chú Tư Cầu bán vé số, Trúc Phương ngủ ở bến xe cũng chỉ khi nước mất nhà tan. Trước kia vốn truyền thống trọng nghĩa khinh tài, họ cũng đã có thời gian huy hoàng, xứng đáng với những cống hiến của họ.
Chẳng tham ruộng cả ao điền,
Tham vì cái bút cái nghiên anh đồ.
 
Anh đồ kẻ sĩ là hình ảnh tượng trưng cho những văn nghệ sĩ. Những người dùng tim óc để cho ra những món ăn tinh thần cho mọi người. Họ được ví như kiếp con tằm: nhả hết tơ rồi chết. Dốc hết mọi tinh hoa làm đẹp cho đời chỉ vì: cái nghiệp của họ. Đã mang cái nghiệp vào thân, cũng đừng trách móc trời gần trời xa.
 
Mẹ tôi thường nói ăn no hóa lú. Khi no nê người ta chẳng muốn làm gì, những người giàu có sung sướng hình như tài năng ít phát triển. Trong khi cuộc đời của những danh nhân,  nhân toàn là những người có cuộc sống khó nghèo, không phải lúc tuổi thơ thì cũng lúc trưởng thành. Vũ trọng Phụng chết khi chưa tới tuổi ba mươi. Đặng thế Phong cũng thế, chết bởi những bệnh không đáng chết. Sự thiếu thốn làm thành mơ ước. Nguyễn Bính mồ côi mẹ từ nhỏ, nhưng ai cấm ông mơ ước: tết đến mẹ tôi vất vả nhiều. Chị đi em ở lại nhà, vườn rau em giữ mẹ già em thương.
 
Khuôn mặt không đẹp trai, nhà nghèo, học ít, nhưng ông mơ mộng có bao người con gái yêu ông, hay ông yêu. Nguyễn Bính đã làm bao nhiêu con tim thổn thức, ông làm thơ cho tha nhân hay cho chính mình.
 
Sau khi bức màn sắt được vén lên do biến cố mất nước 1975, mọi người mới thấy được bằng xương bằng thịt những con người tài hoa: Văn Cao, Nguyễn Tuân… cuộc sống của họ ở miền Bẳc sao mà thê thảm thế. Nhà không phải là nhà, quần áo đồ đạc của họ trông thật nhếch nhác. Nhà văn Dương thuHương đã ngồi sụp ở chợ Bến Thành khóc nức nở khi biết mình bị lừa. Đoàn Chuẩn với bản nhạc Gửi người em gái miền Nam âm điệu du dương. Nhạc quá hay, ý thật tuyệt, nhưng lời thì làm cho các người trẻ tuổi viết Comment bên dưới: sao mà tuyên truyền láo khoét vậy. Thương cho em vào miền Nam phải sống trong nghèo đói, cúi đầu mà đi!
 
Những thương tiếc cho văn nghệ sĩ miền Bẳc chưa kịp nguôi, thì tới lượt văn nghệ sĩ miền Nam, những người bị gọi là bọn biệt kích cầm bút chịu cảnh tù đầy: Vũ Hoàng Chương, Dương Hùng Cường, Nguyễn Mạnh Côn, Minh Kỳ, Thục Vũ… Thi hào thi bá còn đâu. Những con người chỉ sống bằng ngòi bút, nhả ngọc phun châu. Những mình hạc xương mai, trói gà không chặt nay chịu cảnh đọa đầy.
Lũ chúng ta đầu thai lầm thế kỷ.
Xuân đời chưa hưởng kịp, mây mùa Thu đã sang.,
                                                                      VHC
Ngày xưa khi còn đi học, không phải chỉ có mấy ông già mới bình thơ, bọn nữ sinh chúng tôi cũng chuyền tay nhau những tập thơ tình. Để rồi tấm tắc:  thi nhạc sĩ sao mà tài thế. Trong bồ chữ nghĩa,mình thò tay vào thì toàn lôi ra sỏi đá. Còn tới lượt mấy ổng, chẳng cần mở mắt, cứ bỏ tay vào bồ chữ,là lôi ra toàn ngọc trai, cẩm thạch, hột xoàn.
–  Có phải em yêu tôi thành thật
–  Hay là tinh nghịch nói cho vui.
Con bạn tôi oang oang, lời thơ dịu dàng ngọt ngào quá chừng. Chữ dùng thì khỏi chê. Thắc mắc mà không dám hỏi, rụt rè dò ý   phải cho mình đỡ quê, nếu bị bé cái lầm.Vẫn hy vọng người ta đâu có ác,nên chỉ trách nhẹ nhàng  tinh nghịch. Chỉ là đùa thôi mà.
Khen xong, con nhỏ nói, cỡ tao chắc chỉ dám hỏi:
–  Cô có thương tui thiệt lòng không?
–  Hay cô làm bộ giỡn chọc tui.
Bọn con gái chúng tôi đã hét lên thơ con cóc, nghe cù lần. Lại còn hăm dọa này kia, thiệt là cú mà đứng bên cạnh công.
Nhiều khi tụi tôi còn dám tấm tắc khen phò mã tốt áo, mang thơ Vũ hoàng Chương, Đinh Hùng ra bàn.
Những bài thơ chuyện chúng mình của Nhất Tuấn hay thơ  Nguyễn Bính lúc nào cũng có trong cặp.
Ngày xưa văn nghệ sĩ chỉ sống bằng ngòi bút. Viết báo thì có nhuận bút, viết sách thì có nhà xuất bản trả tiền cho bản quyền. Đời sống của văn nghệ sĩ trong miền Nam đâu có thê thảm như những văn nghệ sĩ miền Bắc. Nhà văn Xuân Vũ vốn người miền Nam tập kết ra Bắc. Khi biết sự thật sau bức màn sắt,ông đã tìm cách trở về hồi chánh, cũng như ca sĩ Đoàn Chính. Họ là những nhân chứng nói ra những sự thật đau lòng về thân phận của những văn nghệ sĩ miền Bắc sau năm 54.
Nguyễn Bính chết trong nghèo nàn khủng khiếp. Không cho nằm bệnh viện, không cáo phó. Một đám tang buồn tẻ lạnh lẽo thê lương cho con người tài hoa, ông đã qua sông đắm đò. Như NB đã nói cuộc đời của ông là hình ảnh của người con gái Lỡ bước sang ngang. Xót xa cho kiếp con tằm. Những sợi tơ óng ánh từ những vần thơ của ông, ở lại với chúng ta mãi mãi.
Lại Thị Mơ
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Cẩn Thận Khi Đi Máy Bay Đường Dài

Chỉ một tích tắc sau khi chiếc máy bay khổng lồ Boeing 747 đáp xuống phi trường quốc tế Frankfurt của Đức Quốc, trực thăng cứu cấp đã chờ sẵn và bốc ngay Cô Emma C. 28 tuổi, vừa đi nghỉ hè tại Sydney trở về, vào bệnh viện cấp cứu. Tất cả mọi cố gắng của toán cấp cứu và bác sĩ, y tá bệnh viện không thể cải tử hoàn sinh người nữ hành khách trẻ tuổi bất hạnh này. 

 

Lý do tử vong: cô bị nhồi máu vào hai buồng phổi (Lungenembolie – embolie pulmonaire – plumonary embolism) do cục máu đông của hai cẳng chân dội ngược lên. Một cơn bệnh chết người gần như 100% mặc dù trình độ phát triển y học hiện đại. 

Đưa ra một đề tài đang tranh luận là làm thế nào để phòng ngừa một sự thay đổi của sự đông máu trong cơ thể con người đưa đến việc đột tử. 

– Phòng ngừa và làm chận đứng sự đông máu đang di chuyển trong mạch máu 

– Điều hành cơ chế tạo cục máu đông

Để dễ hiểu rõ vấn đề, bài viết được thu gọn trong một số câu vấn đáp cụ thể để giải thích những dữ kiện nêu trên như sau:

*1- Một chuyến bay đường xa nguy hiểm như thế nào?

Có một điều chắc chắn là thường một chuyến bay đường dài vì sự ngồi bất động trong suốt cuộc hành trình là nguyên nhân đưa đến sự đông máu ở phần hạ chi. Bao nhiêu hành khách trong số hàng triệu triệu lữ hành hằng năm khắp năm châu bốn biển gặp phải nghịch cảnh nói trên, chúng ta không thể tìm ra được một con số chính xác. Những phi trường quốc tế London, Paris, Lyon, Sydney hay Frankfurt đã phúc trình qua nhiều báo cáo y khoa nhưng sự thật vẫn còn nằm trong vòng bí mật.

Lý do chính là tai biến do thành hình cục máu đông ở phần dưới cơ thể không phát hiện sớm khi máy bay đáp xuống mặt đất, mà triệu chứng lâm sàng của tai biến mạch máu lại thường xảy ra khoảng 14 ngày sau đó. Do đó thống kê của các sân bay quốc tế không thể mang ra ánh sáng những con số chính xác được. Ngoài ra còn có những bản báo cáo thiếu dữ kiện không đem lại lợi ích chung cho khách hàng… Vậy điểm rõ ràng mà mỗi hành khách trước khi lên máy bay cần phải biết: những chuyến bay trên những đoạn đường xa, thời gian càng dài là yếu tố chắc chắn tạo nên sự đông máu mà chúng ta không ai có thể lường trước được.

*2- Sự nguy hiểm do đâu mà ra?

Chúng ta chỉ biết rõ là chức năng đưa đến sự đông máu thường lại xảy ra do chỗ ngồi quá hẹp của hạng bình dân (Economy-Class) . Chính vì sự kiện ngẫu nhiên này nên người ta đã không ngần ngại và đã nhầm lẫn khi viết: triệu chứng lâm sàng của sự đông máu ở hạng du lịch bình dân (Economy-Class- Syndrom). Sự nhận xét trên không đúng 100% vì ngay cả những hành khách hạng nhất, hạng thương gia cũng bị tai biến mạch máu nêu trên. Nguyên nhân được chứng minh rõ ràng là biến chứng tạo nên do sự tạo thành cục máu nhỏ rồi phát triển và lan dần rộng ra do các cục máu tụ kết hợp lại.

Hiện tượng máu tụ được hiểu biết là do là thiếu cử động trong chuyến bay và 2 cẳng chân xếp lại do tư thế ngồi trên máy bay. Hai nhận xét này thực ra rất đúng cho các hành khách máy bay ở hạng bình dân, do chỗ ngồi khá chật chội.

*3 -Hành khách di chuyển bằng xe buýt, tàu hoả và xe hơi trên chặng đường dài có gặp phải tai biến tuần hoàn trên không?

Có, hành khách sử dụng các phương tiện du lịch vừa kể trên cũng có thể xảy ra tai biến tạo thành cục máu rồi đưa đến đông máu tĩnh mạch ở hạ chi. Tuy nhiên một điểm phải được chú ý thêm nữa là trên máy bay, khí thông trong buồng hành khách rất khô. Ví dụ trong chuyến bay, quý vị để một chén cơm nóng thì chỉ cần 1 tiếng đồng hồ sau cơm sẽ khô như chén cơm chiên. Tác động “phụ” của không khí khô khan trong buồng hành khách sẽ “hút thêm” nước từ các mạch máu của cơ thể bạn trong hành trình, sự kiện “máu cô lại” chính là yếu tố quyết định nguyên nhân bắt đầu xuất hiện những cục máu đông nhỏ nằm ở phần hạ chi của con người.

Ngoài sự khô ráo, áp lực khí trong buồng máy bay cũng giảm xuống tạo thêm một yếu tố “rút nước” trong máu rồi tích lũy vào lớp mô. Đó cũng là một lý do đưa đến máu “khô” rồi… cục máu đông sẽ dễ thành hình. Nguy hiểm hơn nữa là trong chuyến bay, hành khách theo thói quen lại thích uống rượu ‘không mất tiền’. Chất rượu sẽ làm mạch máu nở rộng thêm ra; máu lưu hành trong cơ thể chảy chậm hơn cho nên hổ trợ mạnh mẽ cho sự đông máu được nhanh hơn. Sự di chuyển bằng máy bay như vậy nguy hiểm hai lần nhiều hơn bằng xe búyt hay ô tô. Di chuyển bằng xe lửa được xem như là an toàn hơn hết.

* 4-Nhóm hành khách nào có nhiều nguy cơ tai biến mạch máu?

Tất cả hành khách đi trên các chuyến bay đều có thể gặp phải, bất luận già hay trẻ. Tuy nhiên những hành khách cao niên, phái nữ thì khả năng bị tai biến dễ gặp hơn… Ngay cả những lực sĩ cũng bị tai biến mạch máu, như trường hợp 3 lực sĩ trong phái đoàn Anh Quốc đã bị tai biến đông máu trên đường đến tham dự thế vận hội Sydney trong năm vừa qua. Ngoài ra vẫn có một số hành khách tương đối “dễ gặp phải” tai biến hơn so với những nhóm người khác…

* 5- Những ai thuộc nhóm người này?

Nhóm hành khách nằm trong diện sau đây rất có thể bị tai biến mạch máu:

a.- mập 

b.- các bà dùng thuốc thuốc ngừa thai.

c.- những hành khách trên 50 tuổi

d.- các bệnh nhân có tình trạng yếu tim

e.- trong gia đình có thân nhân đã bị tai biến mạch máu

g..- một vài loại thuốc an thần trong một vài điều kiện sẽ khích động tai biến mạch máu 

h.- hút thuốc lá

Hành khách nào mang trong người càng nhiều yếu tố nêu trên thì dễ gặp phải tai biến hơn.

*6- Trường hợp nào tai biến mạch máu sẽ dễ dàng khởi động?

Nằm trong diện nguy hiểm này gồm có:

a.- đã có lần bị đông cục máu trước đây

b.- bị nhiễu loạn chu trình đông máu trong cơ thể mà người ta tìm thấy qua khám nghiệm cục máu đông sau tai biến

 

c.- đã bị tai biến mạch máu não và bị liệt một phần của cơ thể

 

d.- đang bị bó bột do chấn thương gãy xương

 

e.- vừa bị mổ xong nhất là sau các trường hợp mổ bụng

 

f.- sản phụ vừa mới sinh xong

 

g.- bướu trong người, bướu ung thư thường khuyến khích sự đông máu

 

 *7- Hành khách nên chuẩn bị như thế nào?

 

. Hành khách nên đi lui tới trong buồng máy càng nhiều càng tốt
… Khi ngồi thì nên cử động bàn chân & cẳng chân tuồng như đang lái xe hơi (đạp thắng, nhả ga…) 

 

. Nên tham gia chương trình tập thể dục được truyền hình trong chuyến bay (Flyrobic) – hiệu quả rất khả quan.

 

Một điểm nên chú ý nữa là:

 

. Không bỏ hành lý dưới chân. 

 

. Không hút thuốc.

 

Điều quan trọng đáng lưu ý :. Không uống rượu nhiều,
… Phải uống thật nhiều nước để bù lại sự mất nước.

 


*8-Thế nào là uống thật nhiều nước?

 

Tuỳ theo nhu cầu đòi hỏi của cơ thể và cường độ khát nước; nên uống trà, nước trái cây và nước suối.

 

 *9- Hành khách trong nhóm “dễ” bị tai biến phải chuẩn bị như thế nào?

 

Trong trường hợp không cấm dùng thuốc có chứa Acetylsalicylsaure thì hành khách nên uống một viên Aspirin 100mg trước khi lên máy bay. Nhóm hành khách này nên ngồi ngoài lối đi hoặc cạnh chỗ lối thoát nạn để có thể cử động dễ dàng. Theo kinh nghiệm, nên mang thêm vớ chống sự tạo thành cục máu đông.

 

 *10 – Còn các hành khách thuộc nhóm “nguy hiểm” thì phải xử trí như thế nào.

 

Nhóm người thuộc diện “nguy hiểm” thì phải nên suy nghĩ tìm một phương tiện chuyên chở an toàn hơn; tuy nhiên nếu phải xử dụng máy bay thì bắt buộc gặp bác sĩ gia đình trước khi lên đường, thường thì được chích loại thuốc loãng máu “Heparin” hai tiếng đồng hồ trước khi máy bay cất cánh. Thuốc “Heparin” có công hiệu trong vòng 24 tiếng đồng hồ.

 

Chuẩn bị thuốc men vẫn chưa đủ, hành khách thuộc nhóm “nguy hiểm” này phải tuân theo đúng những lời hướng dẩn đã nêu trên trong suốt hành trình.

 

 *11- Thời gian và khí hậu thay đổi có kéo thêm sự khó khăn không?

 

Quá đúng như vậy. Vì giờ giấc bị thay đổi cho nên thời điểm cần phải uống thuốc cũng bị ảnh hưởng theo. Bệnh đái đường là nhóm người bị ảnh hưởng nhiều nhất. Nhóm bệnh nhân dùng thuốc loãng máu “Macumar” không bị nhiễu loạn mạnh vì hiện tại thì thuốc “Macumar” được chia đều cho 7 ngày, nhóm hành khách trên thường không gặp phải biến chứng. Những chuyến du hành đến miền nhiệt đới hay về Việt-Nam thì tai biến đông máu thường dễ gặp phải hơn, vì khí hậu nóng và ẩm tại chỗ ngay sau khi đáp xuống phi trường địa phương dễ “khuyến khích” tai biến tạo cục máu đông. Một điểm nữa cũng phải cần lưu ý là các chuyến bay ban đêm dễ bị tai biến nhiều hơn những chuyến bay ban ngày vì ban đêm cơ thể thường ít hoạt động hơn.

 

 *12- Phía các hãng máy bay quốc tế nên thay đổi thế nào để giảm bớt tai biến đông máu?

 

Các hãng máy bay quốc tế chuyên dành cho các “hành trình dài” phải tôn trọng các điều kiện căn bản tối thiểu để bảo vệ sức khỏe và sinh mạng hành khách. Chúng tôi thiết nghĩ:

. quảng cáo ưu điểm các bít tất có sức “co dãn mạnh” để ôm sát vào cẳng chân chống việc ứ máu phần hạ chi và cho phép bán trên máy bay.

. các hành khách “mập” phải có những “ghế bành ngồi” phù hợp với “thân hình đồ sộ” của khách hàng.

.. và khách hàng chuẩn bị “túi tiền” cho vé máy bay có tất cả điều kiện thích hợp để có sự bảo đảm về sức khoẻ trong chuyến bay và cho một cuộc sống chắc chắn sau khi đáp xuống phi đạo.

 Dr. Tôn Thất Hứa 
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

NẤM NGỌC HƯƠNG THIỀN

Miền Tây bắc Hoa Kỳ núi rừng hùng vĩ, nơi đây mưa nhiều do gần Thái Bình Dương. Cũng chính vì yếu tố thiên nhiên này, rừng núi ở đây có vô số loài nấm mọc, trong đó có loài cực kỳ quý hiếm. Là thành viên của Hiệp hội Nấm rừng, người viết thường có những chuyến đi khảo sát
Trong một lần dừng chân tại thị trấn nhỏ dưới rặng núi Cascade, khi tiếp xúc người dân địa phương để tìm hiểu đặc chủng nấm trong vùng, người viết được kể cho nghe về câu chuyện một thiền sư sống đơn độc giữa núi rừng. Người viết xin ghi lại câu chuyện đầy xúc cảm này như một món quà xuân dành tặng quý độc giả . 
 
huyen lam1
 
Mô phỏng căn nhà cabin mà ông Ken sinh sống
Thị trấn Ran nhỏ bé, khoảng vài trăm cư dân, nằm giữa rừng già đại ngàn, không xa lắm là dãy núi Cascade hùng vĩ mùa đông phủ tuyết. Mười năm trước, dân nơi đây bàn tán về người đàn ông tuổi ngoài 70 nhưng dáng dấp khỏe mạnh, nhân cách nhẹ nhàng vi diệu như một ông tiên. Cứ mỗi độ hoa lê rừng nở trắng xóa trên triền núi, người dân lại thấy ông lái chiếc xe pickup cũ từ đường mòn trên núi cao vào trung tâm thị trấn rồi dừng tại nhà dưỡng lão dành cho người nghèo.
Mỗi tuần ông đến đây hai lần, từ sáng sớm cho đến chiều. Ông nấu cho người già ăn, đánh dương cầm cho người già nghe, chỉ cho họ cách đi, cách ngồi, cách thở. Mà lạ thay, ông làm việc gì cũng chậm rãi nhưng đầy năng lượng tươi vui. Mỗi lần có ông, nhà dưỡng lão bừng lên sức sống, được thay luồng khí mới. Các cụ già ánh mắt rạng ngời, nụ cười rạng rỡ như những đóa hoa vừa được tưới tẩm tình thương.
Khi lá rừng chuyển sang màu vàng cũng là lúc người dân thị trấn không còn thấy ông nữa. Các cụ già cố gắng làm theo lời ông chỉ dẫn để cuộc sống an lạc, tâm linh hơn. Nhưng không có ông, nhà dưỡng lão như mất đi lò sưởi ấm mùa đông, trở nên trầm buồn lạnh lẽo. Các cụ già từng ngày nhìn ra khung cửa sổ giữa màu tuyết trắng mênh mông lại mỏi mắt trông chờ những cánh hoa lê rừng nở trắng.
***
Ông Ken từng thọ giáo, học thiền, học Phật nhiều năm từ Đức Dalai Lama, Thiền sư Suzuki. Ông vốn là nhà khoa học nghiên cứu về tác động môi trường từ chất thải hóa học do con người tạo ra. Một hôm đọc tập san chuyên ngành Khoa học Môi trường, trong đó có bài nói về triết lý Phật giáo nhấn mạnh đến mối tương quan, tương tức của vạn vật đã làm ông ngạc nhiên về tính khoa học của một tôn giáo mà trước đây ông cho là quá cổ xưa lạc hậu.
Ông không ngờ từ ngàn xưa tôn giáo ấy đã biết quý trọng cây cỏ mọi loài sinh linh và chỉ ra mối liên hệ mật thiết cần bảo vệ. Từ đó ông tìm hiểu về Phật giáo nhiều hơn. Ông đã trải qua từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác khi nghiên cứu kho tàng kinh điển bao la của đạo Phật. Ông quyết định trở thành người con Phật sau chuyến du hành sang Dharamshala – Ấn Độ dự khóa tu do ngài Dalai Lama giảng dạy.
Trước khi về hưu, ông tìm mua khu đất rừng rộng mấy mươi ha trên triền núi dãy Cascade miền Tây bắc Hoa Kỳ. Ông cho dựng căn nhà nhỏ làm bằng cây rừng thô ghép lại (cabin). Đây là ước mơ bao năm của ông có được nơi yên tĩnh, hoang dã để tu tập và viết những bài nghiên cứu cho các tạp chí Phật giáo bằng Anh ngữ. Dù đã về hưu nhưng ông rất tinh tấn, năm giờ sáng ông thức dậy pha trà, đốt nén hương ngồi thiền. Sau buổi ăn sáng, ông thiền hành, thả bộ theo con suối bên hông nhà xuống cánh rừng sồi phía dưới.
Trong một buổi thiền hành cuối thu, ngồi nghỉ chân bên bờ suối ngắm nhìn cánh rừng ngợp lá vàng bay trước mặt, ông thấy mấy chú sóc từ trên cây leo xuống, vừa đi chậm rãi vừa đánh hơi thảm lá vàng dưới đất. Chợt chúng dừng chân, moi lên dưới thảm lá mục những viên củ rừng to bằng trứng chim cút, có viên to bằng quả chanh rồi đem về tổ trên cây cao cất giấu.
Tò mò, ông tới nơi chúng đào, dùng nhánh cây rừng khơi xung quanh, vài viên củ rừng trăng trắng hiện ra. Ông đưa lên mũi, thoang thoảng mùi hương nhẹ phảng phất. Như không tin vào thính giác mình, ông đem xuống bờ suối dùng hòn đá có góc cạnh bén cắt đôi, hương thơm theo vết cắt lan tỏa đậm đà, một thứ hương không nồng, không nặng, rất nhẹ nhàng tinh tế dễ chịu. Ông Ken thầm thốt lên: – Nấm truffle.
Ông không ngờ cánh rừng do mình làm chủ có loại nấm vô cùng quý hiếm này, mỗi ký được bán lên tới cả 5-10 ngàn USD. Đây là loài thực phẩm mắc nhất thế giới. Ông quay lại chỗ sóc đào, lượm thêm một viên nấm rồi tiếp tục thiền hành trở về nhà. Sau khi rửa sạch, ông thành kính bỏ viên nấm vào dĩa dâng lên bàn thờ Phật như dâng lên viên ngọc quý báu ban tặng từ đất trời.
Suốt ngày đó, ông vẫn làm những công việc bình thường, mỗi khi ý niệm truffle phấn khích nổi lên, ông theo dõi hơi thở, điều tâm thanh tịnh trở lại. Hôm sau, thay vì thắp nhang lễ Phật trước khi ngồi thiền như thường lệ, ông cắt một phần viên nấm thành những lát mỏng thay thế mùi nhang. Trong thiền phòng giữa không gian yên tĩnh núi rừng trùng điệp, mùi hương nấm nhẹ nhàng lan tỏa. Khi hơi thở đã rất nhẹ rất sâu, tâm đã lắng đọng trong sáng, ông Ken bắt đầu suy nghĩ phải làm gì với kho báu giữa rừng già?
Ông đã bỏ tất cả để tìm đến chốn này, tiền hưu trí hàng tháng ông dùng chỉ một phần rất nhỏ, hầu hết gởi tặng các tu viện, cơ sở thiện nguyện. Không khéo cánh rừng này sẽ đốt tan công phu tu tập của ông, trở thành nơi tranh chấp gây tạo ác nghiệp.
***
Mùa thu khi lá phong, lá sồi chuyển sang màu vàng cam rực rỡ cũng là lúc ông Ken bắt đầu thu hoạch truffle. Đối với người chuyên môn tìm loại nấm quý này, họ luôn sử dụng chó hoặc heo để phát hiện những viên nấm được giấu kín dưới lớp thảm mục rừng. Riêng ông Ken cách tìm nấm cũng không khác chi hành thiền.
Mỗi ngày ông thiền hành đến cánh rừng, chọn một chỗ khác hôm qua, ngồi xuống hít thở khí trời, nghe tiếng chim hót líu lo, nhìn những chú sóc nhỏ chạy tung tăng tìm nấm. Ông chờ chúng lấy xong, tới chỗ chúng đào lấy những viên nấm còn sót lại xung quanh. Loài sóc đã quen hình dáng ông bao năm qua nên không hề có chút sợ hãi. Từ ngày thấy ông “mót” nấm mà không tranh giành với chúng, loài sóc hiểu được. Chúng thương ông, đào nhiều nơi nhưng lấy đi rất ít, như làm dấu giúp ông thu hoạch tốt hơn.
Mùa nấm truffle kéo dài 2 tháng, bắt đầu từ cuối tháng 9 đến cuối tháng 11. Mỗi tuần ông Ken thu hoạch được vài ký, ông bán hết cho nhà thu mua, chỉ giữ lại một ít thay nhang cúng Phật mỗi sáng ngồi thiền. Ông gởi trọn số tiền bán nấm thông qua trương mục vô danh cho viện dưỡng lão dưới chân núi nơi ông thường làm việc thiện nguyện.
***
huyen lam3
 
Mô phỏng hình ảnh ông Ken đánh dương cầm cho người già tại viện dưỡng lão

Mùa xuân năm ấy, khi hoa lê rừng nở trắng trên triền núi, các cụ già trong viện dưỡng lão lại háo hức chờ đón ông Ken. Một tuần qua, hai tuần qua, hoa lê đã rụng tàn, màu xanh lá rừng đã trỗi dậy nhưng ông Ken vẫn không xuất hiện. Người dân thị trấn Ran xôn xao bàn tán không biết chuyện gì đã xảy ra trên núi cao. Họ vận động chính quyền địa phương cùng cư dân dành một ngày cuối tuần lên núi tìm hiểu sự tình.

Sáng sớm, đoàn xe vài chục chiếc chậm rãi theo con đường mòn gồ ghề đầy sỏi đá tiến vào dãy núi Cascade. Trên con đường độc đạo hoang vu, giữa lưng chừng núi, căn nhà gỗ đơn sơ đậm nét dưới ánh mặt trời. Viên cảnh sát thị trấn (Sheriff) dẫn đầu cho xe dừng lại, đi bộ đến căn nhà có nhiều cỏ dại mọc cao như báo hiệu đã lâu không ai chăm sóc. Viên cảnh sát gõ nhẹ cửa nhiều lần nhưng không tiếng trả lời. Bỗng người dân đi theo hốt hoảng la lên bên cánh cửa sổ hông nhà:

– Coi kìa! Có phải ông Ken?
Phía sau khung kiếng bụi mờ, một thân thể bất động da nhăn khô đang ngồi trước tượng Phật cổ xưa. Viên cảnh sát phá vội ổ khóa cánh cửa ra vào: Mùi hương thơm từ trong nhà thoát ra làm mấy chục cư dân thị trấn Ran ngạc nhiên trầm trồ. Bước vào trong, bên cạnh thân thể khô cứng đang nhập định còn có nhiều khay đựng đầy nấm truffle thái mỏng đã khô nhưng vẫn tỏa mùi hương ngào ngạt.
Người ta tìm thấy tờ di chúc để lại trên bàn Phật, ông hiến tặng toàn bộ đất đai tài sản cho viện dưỡng lão, đồng thời tiết lộ điều bí mật được giữ kín lâu nay về cánh rừng có nấm truffle. Ông cẩn thận ghi chép điều kiện bắt buộc để nhận tài sản là phải có một ủy ban giám sát khai thác nấm truffle theo cách ông làm: Tôn trọng và bảo vệ loài sóc trước khi thu hoạch cho loài người vì chúng là chủ nhân đầu tiên kho báu này.

Mọi người không ngờ chính ông là nhà hảo tâm vô danh đóng góp tài chánh duy trì viện dưỡng lão nhiều năm qua! Ngày làm lễ hỏa thiêu rải tro bên bờ suối theo lời ông dặn trong di chúc, thị trấn Ran hầu như tham dự không thiếu một người. Từ cậu bé nhà nghèo bỏ báo buổi sớm mai cho đến cụ già trong viện dưỡng lão đều được giúp đỡ phương tiện lên núi. Lần đầu tiên cư dân thị trấn Ran gắn bó chăm sóc lẫn nhau như đại gia đình. 

Đoàn xe hơn trăm chiếc chậm chạp trên con đường gồ ghề tiễn ông đi. Cư dân khóc sướt mướt, thương mến cảm phục một nhân cách vi diệu sống trọn đời không những cho tha nhân mà ngay cả muôn loài.
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Trăm năm ngó xuống đời hư ảo – Phút chốc nhìn lên ngộ lẽ trời.

 
Hình ảnh
 
Only friends and family will be present in sickness. Stay in touch.

(Chỉ có gia đình và bạn bè bên cạnh khi đau ốm. Nhớ gần gũi họ.)
   
Life is too short. Don’t waste time hating anyone.
(Cuộc đời quá ngắn ngủi. Đừng phí thì giờ ghét bỏ ai làm gì.)<!>
 
Make peace with your past so it won’t screw up the present.
(Hãy chôn quá khứ để hiện tại không bị xáo trộn.)
 Don’t compare your life to others. They have different journeys.
(Đừng đem đời mình so với ai đó; đời mỗi người mỗi khác)
 
Everything can change in the blink of an eye.
(Mọi chuyện ở đời có thể thay đổi trong chớp mắt)
 
You don’t need to win every argument. Agree to disagree.
(Không cần thắng trong mọi cuộc tranh luận. Hãy chấp nhận bất đồng.)
Crying is good, but it’s more healing crying with friends.
(Khóc cũng tốt, nhất là khi khóc với bạn bè.)
 
Take a deep breath. It calms the mind.
(Hít thở sâu giúp tinh thần ổn định)
Get rid of anything that is neither useful, beautiful, nor joyful.
(Hãy gạt bỏ những gì vô ích, xấu xa, buồn bã)
What doesn’t kill you really makes you stronger.
(Điều gì không giết ta được sẽ giúp ta mạnh hơn)
Today is special. Enjoy it.
(Ngày hôm nay là ngày đặc biệt. Phải tận hưởng nó)
Your belief of your being right doesn’t count. Keep an open mind.
(Đừng tin rằng mình luôn luôn đúng. Phải có đầu óc cỏ̉i mỏ̉)
 
Forgive everyone everything.
(Hãy tha thứ tất cả cho mọi người)
What other people think of you is none of your business.
(Đừng bận tâm về nhận xét của ai đó về mình)
 
 It’s OK to yield.
(Nhường nhịn một chút cũng không sao) 
However good or bad a situation is, it will change.
(Tình thế dù tốt hay xấu, rồi cũng thay đổi)
Don’t take yourself so seriously. No one else does.
(Đừng quá nghiêm khắc với bản thân. Không ai làm như vậy)
 
Release your children when they become adults, its their life now.
(Hãy buông con cái ra khi chúng trưởng thành. Chúng đã có cuộc sống riêng.)
 
Time heals almost everything. Give time time.
(Thời gian hàn gắn gần như mọi sự. Hãy để cho thời gian có thì giờ)
 
 
clip_image011
Trăm năm ngó xuống đời hư ảo

Phút chốc nhìn lên ngộ lẽ trời. 
 
clip_image002
Yêu thương xin nở nụ cười

Vị tha là để lòng người thanh cao
clip_image003
Hơn thua so với chính mình

Hôm nay mình phải hơn mình hôm qua.
clip_image004
Ngỡ chỉ là một cuộc chơi

Ngoái lại sau thấy một trời phù vân.
clip_image005
Hãy sống và ước vọng

Để thấy đời mênh mông.
clip_image007
Trần gian mắc đọa nợ nần

Mai sau hóa kiếp bụi trần tìm vui.
clip_image008
Ta nay ở trọ trần gian

Trăm năm về chốn xa xăm cuối trời.
clip_image010
Đơn sơ thôi những nụ cười

Cho ta ý nghĩa cuộc đời từ nhau.
 
clip_image012
    Người từ vô tận tái sinh

Đi qua trần thế mang tình nhân gian.
clip_image013
Đường về khép bóng trần gian

Lợi danh gói một hành trang vô thường.
clip_image015
Núi là núi, sông là sông

Thiền là một tách trà nồng trên tay.
clip_image016
Ở đời muôn sự của chung

Hơn nhau một tiếng anh hùng mà thôi.
clip_image017
Bóng trúc quét sân trần chẳng đọng

Vầng trăng xuyên biển nước không xao.
clip_image018
Khói trần bén giấc mơ tiên

Bâng khuâng trăng trải qua miền quạnh hiu.
clip_image019
Trần gian mỏng mộng vô thường

Đường xa mỏi mệt tôi nhường nhịn tôi.
clip_image021
Trải qua mấy bận long đong
Ngộ ra chẳng sắc thì không cũng đành.
clip_image023
Cuộc đời bao khúc bể dâu
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Vĩnh biệt kinh tế mới

Phước An 
Inline images 1

Có lẽ mẹ con chúng tôi là những người đi Vùng Kinh Tế Mới trong những đợt đầu tiên, và cũng có thể chúng tôi là những người đi Vùng Kinh Tế Mới trong các đợt sau cùng.

Vào những ngày cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa, Ba mẹ và bảy anh em chúng tôi, lớn nhất là tôi mười bốn tuổi và bé nhất thì chưa đầy một tuổi, bồng bế, cột dính vào nhau hòa theo đoàn người xe hỗn loạn trên quốc lộ 1 chạy vào Sài Gòn. Đến Cam Ranh, giữa rừng người chen lấn chúng tôi leo lên được một tàu nhỏ của Nhật trong tiếng kêu la, khóc thét, trong tiếng súng gần của lính VNCH, tiếng súng xa của bộ đội Cộng Sản. Tàu này chuyển chúng tôi ra Hạm Đội 7. Vào đến Sài Gòn nhưng không được cập bến nên chuyển hướng ra đảo Phú Quốc. Từ đảo ba tôi liên lạc xin vào nhận nhiệm sở mới ở Sài Gòn qua đường Cần Thơ.

Ba tôi loay hoay chạy quanh giữa một Sài Gòn hỗn loạn. Cho đến lúc Tổng Thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng thì gia đình chúng tôi lạc mất nhau. Phải mấy ngày sau chúng tôi mới gặp lại nhau. Chúng tôi vào tá túc nhà của một người đã chạy ra nước ngoài trong khu gia binh. Một thời gian sau, ba tôi bị đi tù “Cải Tạo” biệt tích. Mẹ và bảy anh em chúng tôi bơ vơ giữa Sài Gòn xa lạ với hai bàn tay trắng, không có một đồng bạc hay một miếng “mẻ” vàng, theo cách nói của mẹ tôi. Chúng tôi phải đi xin ăn, tôi mắc cỡ nên đi cách xa các em tôi một quãng, đợi các em tôi xin xong thì dắt các em về”. Trong thời gian này, mẹ tôi rất hoang mang lo sợ, gầy xộc hẳn đi. Mẹ con chúng tôi mang đầy ghẻ chóc “bộ đội”, sống không bữa no, chẳng biết làm gì, không tiền không biết đi đâu về đâu. Tối đến mấy mẹ con ôm nhau khóc sướt mướt. Đã vậy vào một buổi sáng, một đoàn bộ đội tiến đến tiếp thu nhà, đuổi mấy mẹ con ra đường. Chúng tôi sống lang thang, đứa xin ăn, đứa nhận bánh bán trả tiền sau.

Khi chính quyền Cộng Sản lập danh sách đi Kinh Tế Mới trong khu gia binh, chúng tôi là những người thuộc diện đi đầu tiên bởi vì chúng tôi không nhà, không hộ khẩu. Nghe Cán Bộ nói cho nhà, cho đất lại còn cấp cho sáu tháng gạo nữa. Vì vậy, chúng tôi có lẽ là những người đi Vùng Kinh Tế Mới trong những đợt đầu tiên của cuộc đời mới.

Ngày lên đường, một hàng xe dài chờ mọi người chất đồ đạc lên xe. Ai cũng tất bật, kẻ khiên người vác, nào là bàn ghế, giường tủ, chén bát và hàng hàng trăm thứ lỉnh kỉnh. Riêng mấy mẹ con chúng tôi chỉ vài túi vải đựng áo quần và đôi cái nồi đen đúa. Đặt biệt là có tấm ván ép mỏng bề mặt bằng khoảng một giường nhỏ, của ai vất bên đường mà mẹ tôi nhặt đem theo để làm giường ngủ.

Đoàn xe lên đến Bình Long, rời đường nhựa len vào dưới tàng cây rậm rạp của rừng cao su bạt ngàn. Qua khỏi rừng cao su đến cánh rừng tre nứa âm u. Để mấy chục gia đình xuống giữa mấy dãy nhà nhỏ lợp tôn, chung quanh không có vách, rồi đoàn xe lăn bánh chạy mất hút.

Chúng tôi được cấp dao chặt cây, cuốc cào và mấy chục ký gạo. Nhận được nhà, mẹ con đem áo quần, nồi niêu vào, đặt tấm ván ép giữa nhà. Ăn xong bữa cơm muối thì trời sập tối, sương mù bao quanh. Mấy mẹ con chùm chăn nằm sắp hàng trên tấm ván, ngủ đêm đầu tiên trên vùng Kinh Tế Mới.. Càng về khuya càng nhiều sương lạnh bao phủ. Tiếng côn trùng rỉ rả, tiếng Nai Mang kêu thất thanh trong rừng, lạo xạo tiếng thú ăn đêm quanh nhà, tiếng nghiến rít của rừng tre gìa kèn kẹt. Chúng tôi lo sợ chập chờn ngủ trong tiếng thì thào của đêm đen. Sáng ra người mấy mẹ con loang lổ ướt lạnh, phần vì sương đêm, phần vì các em nhỏ của tôi đái dầm chảy dài trên tấm ván ép.

Những ngày sau, mẹ và tôi dùng cuốc và dao để phát quang những đám cây khoai Mài, khoai Nần, cỏ dại loang lỗ hố quanh nhà. Chúng tôi phát hiện nhiều rào que thấp cắm chung quanh một cái cọc, có tấm ván nhỏ vẽ hình sọ người với một chữ “Mìn” lẫn lộn trong cây cỏ dại. Có nhiều nơi chỉ còn có cái que nhỏ cắm bên cạnh một khối thép hoen rỉ nửa chìm nửa nổi. Mẹ tôi vội kêu tất cả anh em chúng tôi lại, cấm chúng tôi bước ra các đám cây cỏ, chỉ được đi trên những đường mòn nhỏ.Những ngày kế tiếp mấy mẹ con ở trong nhà không dám bước ra ngoài. Mẹ tôi ngồi hàng giờ, ngày qua ngày nhìn sâu vào rừng không nói năng, đôi lúc nước mắt mẹ chảy dài. Anh em chúng tôi ít cười nói ồn ào vì sợ mẹ la, đôi lúc chúng tôi cũng khóc theo mẹ.

Vài người gan dạ vào rừng hái măng rau về ăn, rồi càng lúc càng đông người đi. Chúng tôi thì chỉ cơm canh muối, rồi cũng không chịu nỗi mẹ gởi tôi và em gái kế cho một người nhà bên cạnh theo họ đi lấy măng, hái rau. Sáng sớm tôi cầm dao, em gái tôi cầm 1 cái bao tời nhỏ, đi theo người đàn ông hàng xóm vào rừng. Trong rừng có rất nhiều măng, mọc giữa những bụi tre, Lồ-Ô to lớn san sát che kín mặt trời. Có những cây tre cao vút, lại có nhiều cây nghiêng ngả ngang dọc la đà đủ các tầm cao thấp. Nhiều cây nằm dài trên mặt đất, cho nên rất khó đi đứng và khó mà lấy được măng. Chúng tôi chui bò vào những bụi tre rậm rạp cố len lỏi để gai tre khỏi cào vào tay vào mặt bẻ những búp măng to dài. Có lẽ người hàng xóm và anh em tôi qúa mải mê tìm măng, nên đã thất lạc 
nhau. Hai anh em tôi sợ qúa, kêu la vang rừng nhưng không có ai trả lời. Chúng tôi vừa đi vừa khóc, phần sợ thú dữ phần sợ trời sắp tối. Tôi quyết định bỏ bớt măng lại cho nhẹ và đi như chạy về hướng ngược lại của mặt trời lặn, vì buổi sáng chúng tôi vào rừng với mặt trời mọc sau lưng. Hai anh em vừa chạy vừa khóc, chạy riết không biết bao lâu. Trời nhá nhem tối thì chúng tôi nghe tiếng mẹ tôi xa xa. Chúng tôi chạy đến gần thì thấy mẹ đứng sau nhà, day mặt lên trời hướng về đám rừng khóc la, kêu hú như điên dại. Gặp chúng tôi mẹ đánh hai anh em tôi túi bụi, khóc cười nước mắt ướt dầm dề.

Tối đó chúng tôi được ăn một bữa cơm ngon gồm có canh măng và măng kho. Mẹ gầy nhỏ, tóc tai rối bời ngồi suốt đêm nhìn chúng tôi ngủ. Sáng ra khi mặt trời chưa mọc, ánh sáng lẫn lộn sương mai. Mẹ thức chúng tôi dậy, tôi thấy áo quần và gạo đã được chia đều ra từng bao nhỏ, những cái nồi cũng đã được bỏ vào bao cẩn thận. Mẹ phân công tôi dắt ba em, hai trai một gái đi trước. Còn mẹ thì dắt ba em gái nhỏ đi sau, cách chúng tôi một quãng độ hai ba trăm mét. Mẹ dặn nếu có ai hỏi thì bảo rằng về thăm ngoại, và cho một em chạy lui báo cho mẹ biết, để mẹ trốn vào ven rừng hai bên đường.

Hồi hộp, sợ hãi chúng tôi bước những bước nhanh trên thảm lá ẩm ướt. Nhiều thú nhỏ ăn đêm nhìn chúng tôi một thoáng, rồi lủi nhanh vào bóng tối. Mỗi lần mệt, chúng tôi trốn vào những bụi cây để nghỉ. Chúng tôi nghỉ rất nhiều lần bởi vì phải thay phiên nhau cõng các em nhỏ. Với nhiều lần nghỉ như vậy, chúng tôi vượt qua rừng dày, rừng thưa và rừng cao su. Thỉnh thoảng vài người bắt gặp chúng tôi, họ ngạc nhiên khi thấy bầy trẻ chúng tôi nhớn nhác đi như chạy.

Nhưng họ cũng không kêu gọi hay hỏi han gì. Chiều đến chúng tôi ra đến đường lộ. Một xe tải cho qúa giang về thị trấn và đêm đó chúng tôi ngủ ở bến xe.Trời sáng, mẹ bán ít gạo đón xe về Sài Gòn. Lang thang ở Sài Gòn mấy ngày, mẹ tôi gặp người quen cho biết cả ông bà nội, ông bà ngoại đều đã về mua đất ở hai làng quê hẻo lánh nằm giữa Cam Ranh và Nha Trang để làm nông.

Mẹ xin một xe khách trả ít tiền để về Cam Ranh. Trên xe chỉ có mẹ tôi là được ngồi trên ghế bồng em gái út, còn chúng tôi thì ngồi dưới sàn xe. Đứa đằng trước, đứa đằng sau, ngồi lẫn lộn với hàng hóa, vịt gà rồi ngủ gà ngủ gật. Đến Cam Ranh, chúng tôi thức giấc lục tục xuống xe. Khi xe đã chạy xa, mẹ phát hiện thấy thiếu mất một đứa em trai. Mẹ khóc thét lên, rồi bỏ chúng tôi ngơ ngác chạy về hướng xe đã khuất, vừa chạy vừa vò đầu bức áo khóc la thảm thiết. Chúng tôi tay dắt nhau, tay xách đồ, bồng bế lếch thếch chạy theo mẹ và cũng đua nhau khóc la thảm thiết không kém. Trời xập tối không một bóng người, không còn thấy bóng dáng mẹ, chúng tôi chạy mệt, khóc khản tiếng đành ngồi bệt bên vệ đường. Một lúc sau mẹ quay lại không nói năng, mắt đỏ hoe bồng bé út dắt chúng tôi bỏ đường quốc lộ đi về hướng ngọn núi xa mờ.Vượt qua mười mấy cây số đường đất dưới trời đêm, mẹ con tìm đến được nhà ông bà ngoại.

Ông bà ngoại tôi có tới mười sáu người con, mẹ tôi là con gái đầu và rất nhiều cậu dì nhỏ tuổi hơn cả chúng tôi. Có điều đặt biệt là cả mười sáu người con đều không mất người nào. Gặp lại ông bà ngoại cùng các cậu dì, mẹ tôi khóc òa kể lể về chuyện lạc mất một đứa con trong khi về đây và cứ nhắc đi nhắc lại rằng sợ khi ba tôi về sẽ trách mẹ. Những ngày kế mẹ tôi cứ khóc ngày khóc đêm, hết nắm tay người này lại đấm lưng người khác trong nhà van xin hãy đi tìm dùm em tôi. Ông bà ngoại cùng các cậu dì rất là khổ sở vì biết bao nhiêu là mối lo. Nào là vấn đề hộ khẩu, công an, du kích hết rình mò lại hạch hỏi tạm trú tạm vắng, nào là không biết lấy gì để ăn. Nhà ông bà ngoại đã đông nay lại thêm bảy tám mẹ con chúng tôi nữa. Cơm gạo đối với chúng tôi hầu như chỉ còn thấy trong cơn mơ những lúc ngủ. Chúng tôi ăn hết Sắn khoai trong nhà ăn ra Sắn khoai ngoài vườn. Ăn cả rễ lá khoai Sắn, rồi ăn luôn rễ chuối, thân cây chuối. Món thường ăn nhất là canh lá khoai Lang cắt nhỏ hòa với bột Sắn. Ông bà ngoại buồn lo, đâm gắt gỏng khi thấy mẹ tôi khóc suốt ngày suốt đêm. Còn các cậu dì thấy mẹ tôi đâu thì tránh đó, vì sợ mẹ tôi bắt đi tìm kiếm em tôi. Nếu mà nắm được ai, mẹ khóc lóc van xin đi kiếm em tôi, người đó cứ đi một vòng ra khỏi nhà, rồi về nói là không tìm thấy.

Trong nhà ông bà ngoại lúc đó, có một ông Dượng chồng của dì tôi là một lính Không Quân VNCH rất cao lớn, cũng về tá túc ở đây. Dượng thấy mẹ tôi ngày nào cũng khóc lóc thẫn thờ, bèn khăn gói áo quần, khoai sắn làm lương thực, dắt xe đạp đi kiếm em tôi. Dượng đạp xe theo quốc lộ 1 dọ hỏi dọc đường. Vượt mấy chục cây số ra tới Nha Trang, mà vẫn không có tin tức gì về đứa em thất lạc.

Dượng la cà ở bến xe Nha Trang thì có người cho hay rằng, trước đây có thấy một bé trai độ bảy tám tuổi ngủ quên trên xe đò, khóc dữ lắm. Chủ xe bèn giao cho một đoàn bộ đội đang trên đường đi, nghe đâu đóng quân ở Tuy Hòa chuẩn bị ra Bắc. Biết đúng là cháu mình, dượng tức tốc đạp xe ra Tuy Hòa cách Nha Trang mấy chục cây số. Đến Tuy Hòa, lần tìm được chỗ bộ đội đóng quân, dượng vào trình bày hoàn cảnh của mẹ con chúng tôi. Bộ đội xác nhận là có nuôi một đứa trẻ thất lạc và cho em tôi ra nhận diện. Sau khi em tôi được hỏi và nhận đúng là người nhà thì bộ đội cho dượng đem em về. Sau mấy ngày tìm kiếm, dượng và em tôi về đến nhà khi mấy mẹ con đang mót khoai ngoài vườn. Nghe tin đã tìm lại được em về, mẹ tung rổ rễ khoai chạy băng băng như cắt qua các luống đất gập ghềnh, vừa chạy lại vừa khóc.

Từ khi tìm được em tôi mẹ hết khóc, cả nhà ai cũng mừng. Nhưng chỉ được một hôm cả nhà lại buồn lo cho miếng ăn hàng ngày. Mẹ hết suy lại tính, không muốn dành ăn của các em nhỏ.. Nên mẹ quyết định chúng tôi sẽ ra đi, dù rằng không biết đi đâu. Lần lừa mãi rồi cũng phải khăn áo ra đi. Ngày chia tay, ông bà ngoại cùng các cậu dì cho mẹ con chúng một bịch khoai khô, kèm theo thật nhiều nước mắt.

Ra khỏi nhà ông bà ngoại, chúng tôi lếch thếch cùng mẹ dọc theo đường đất bụi bặm. Trời nắng gắt, mồ hôi nhớt nhác, ghẻ lở ngứa ngáy, gãi đến chảy máu đỏ dính loang lổ áo quần như là có hoa. Chân bỏng rát, đầu thì ghẻ chí ngứa ran, các em gái tôi phải cạo đầu cho hết chí Chúng tôi ngồi nghỉ bên vệ đường như kẻ ăn xin. Hết mệt lại đi, chúng tôi tìm về được nhà ông bà nội trời vừa tối. Dưới ngọn đèn dầu tù mù, mẹ khóc lóc kể lể trước vẻ mặt cố dửng dưng của ông bà nội. Còn cô tôi thì tránh xa chúng tôi, ngồi khuất lờ mờ trên giường, hình như sợ đám ghẻ trên người chúng tôi vậy. Tối đó mấy mẹ con ngủ dưới đất một giấc say sưa vì mệt. Hôm sau chúng tôi được ăn một bữa no, ông bà nội cho mẹ con ít tiền. Ông nói ông không nuôi nổi thân ông làm sao nuôi một mẹ bảy con chúng tôi được. Ông bà nội tôi có sáu người con, bốn trai hai gái, ba tôi là con trai đầu. Ba tôi và chú kế là sĩ quan An Ninh Quân Đội VNCH, còn hai chú sau là Cảnh Sát. Có điều lạ là bốn người con trai của ông bà nội tôi không ai có một căn nhà riêng cả. Mẹ tôi nhiều lần nhắc ba tôi kiếm một căn nhà để ở và cũng là để dành cho con cái, nhưng ba tôi luôn phất tay nói “Đời còn dài”. Hai chú nhỏ sau là cảnh sát nhưng làm việc đâu ở Dakto, Dakbek gì đó. Ba tôi và chú kế thì hết việc trong sở, lại lo điều tra chống tham nhũng. Chống tham nhũng được gì đâu không biết, chứ mỗi lần moi ra một vụ là mỗi lần gia đình tôi lại theo ba tôi bị chuyển đi Tỉnh khác, Vùng khác. Có lần còn ở tù, có lần sém chết phải tự xin thuyên chuyển đi nơi khác. Vì vậy gia đình tôi hết ở khu gia binh, khu sĩ quan hay ở hẳn trong sở, nhưng nhiều nhất là ở nhà thuê. Ba năm cuối trước ngày 30 tháng 4 ba tôi bị chuyển về Ninh Hòa, nhưng ở nhà thuê gần một chợ quê.

Từ giã nhà ông bà nội, mẹ con chúng tôi ra đi mà chẳng biết đi đâu. Lang thang mấy ngày, mẹ con về đến nhà ông bà ngoại. Lần này gặp lại nhau ai cũng khóc, nhưng ít nước mắt hơn. Được ít hôm ông bà ngoại lại cho khoai sắn khô, để làm luơng thực đi đường. Và lần chia tay ra đi này, mẹ con chúng tôi biết rằng sẽ khó quay trở lại.

Mẹ tôi quyết định trở về vùng Kimh Tế Mới Bình Long. Chúng tôi đi ra ga xe lửa, vô tới Sài Gòn mẹ đổi ý. Chúng tôi không đi đâu chỉ ở trong sân ga, rồi lên tàu về Nha Trang. Tàu đến Nha Trang không có nơi để về, nên lại đi vô Sài Gòn. Cứ thế, hết đón tàu đi vô rồi lại đón tàu đi ra. Chúng tôi như những người sống trên tàu vậy. Một hai lần đầu nhân viên trên tàu còn hỏi vé đuổi xuống. Sau thấy hoàn cảnh của mẹ con chúng tôi, lại thấy mẹ con ngồi lì dưới sàn tàu, đói rách ghẻ lở nên họ lơ đi. Thỉnh thoảng có người cho đồ ăn, có người cho tiền. Không như các em tôi ôm nhau ngủ trong tiếng sập sình như bầy chó con. Tôi ngồi cách xa mẹ và các em làm như một người xa lạ. Nhưng nhìn cách ăn mặc, bộ dạng tôi ai cũng biết tôi ở trong đám ăn xin đó.

Có một lần mẹ con xuống ga Tháp Chàm ở Phan Rang, đi vào trong thành phố xin ăn. Đi suốt ngày không được gì, anh em chúng tôi đói lả khóc rinh rích. Bụng tôi đau âm ỉ từng cơn, bao tử lép kẹp như dính vào xương. Nhưng tôi vẫn phải cõng em trên lưng, chân ê ẩm bỏng rát chỉ mong được nằm lăn ra đất. Trời đêm nhiều sao, mấy mẹ con nằm trên một sạp gỗ trong chợ vắng vẻ. Các em tôi đói, khóc mệt, ngủ vùi miệng nhai nhóp nhép. Kê một cục gạch trên đầu, nghe tiếng lạch bạch của một mái tôn, tiếng ồng ộc trong bụng, mấy ngụm nước lạnh không làm no, tôi không ngủ được. Một người đàn ông trung niên áo quần lôi thôi lếch thếch, tò mò nhìn mấy mẹ con rồi tiến đến hỏi chuyện mẹ tôi. Nghe mẹ kể hoàn cảnh, ông ta bảo mẹ thức anh em tôi dậy theo ông đi đến một gánh 
cháo gà. Ông ta mua cho mỗi người một tô cháo trắng. Tuy không có thịt gà, nhưng mùi thịt và mỡ gà làm chúng tôi không thể ăn chậm được, vèo một cái là hết sạch. Mẹ tôi thì vẫn ăn cái cách chậm rãi của mẹ, thấy các em ăn xong mẹ chia cho các em mỗi đứa một ít. Trả tiền xong, người đàn ông nọ dắt mẹ con tôi về lại sạp chợ ban nãy. Ông ta nói mẹ theo ông vào trong này chút xíu để ông ta cho tiền. Vào sâu giữa chợ hoang vắng, mù mờ, tôi thấy ông ta tay ôm, tay cầm lấy tay mẹ dằng co. Tôi vội chạy vào, đến gần tôi nghe tiếng mẹ tôi khóc năn nỉ, lưng gập lại dật tay ra, miệng nói “không! không! xin ông”. Còn ông ta nói rít nho nhỏ trong cổ họng “trả tiền cháo lại”. Tôi chạy đến đứng giữa nhìn thẳng vào mặt ông ta, sợ qúa hai tay hai chân tôi cứ run lên bần bật không nói được gì. Ông ta cũng không nói, nhìn tôi trừng trừng như đánh gía một cái gì đó. Mẹ tôi nói trong nước mắt “Cám ơn bác đã cho ăn cháo đi con”. Tôi lí nhí cám ơn. Rồi hai mẹ con đi như chạy về thức các em dậy, chúng tôi dắt díu chạy vội ra ga xe lửa. Tim đập thình thịch tôi quay lại, vẫn thấy bóng đen của người đàn ông nhìn theo chúng tôi.

Không thể cứ lang thang hoài được. Mẹ đem chúng tôi về cái làng nơi ở trước ngày chạy giặc. Ở đây hầu như mọi người đều biết mặt nhau. Nên nhiều người vừa ngạc nhiên vừa tò mò nhìn bà vợ sĩ quan và đoàn con tàn tạ đi qua đi lại nơi ở cũ. Nuốt tủi nhục mẹ con đi vào căn nhà thuê thủa nào, gặp một người đàn bà lạ từ trong nhà đi ra. Bà ta cho biết là đang mướn căn nhà này. Nhìn vào trong, tôi thấy đôi ba vật dụng của nhà tôi xưa kia. Mẹ tôi muốn xin lại ít vật dụng, nhưng bà ta lắc đầu không biết chúng tôi là ai rồi đóng cửa lại. Chúng tôi sang nhà bà cô họ của ba tôi xin ở nhờ vài hôm, nhưng vợ chồng con cái bà cô họ không cho. Năn nỉ thật lâu, họ chỉ cho ở trước hiên nhà. Tất cả đồ đạc của nhà tôi trước kia hầu như là đã được khuân về đây. Mẹ xin họ thương tình cho lại ít đồ đạc để bán nuôi con, nhưng hai vợ chồng lắc đầu nói gì tôi không muốn nhớ. Nhìn vào trong nhà họ, tôi thấy hàng giầy dép của ba mẹ, của chúng tôi sắp thẳng tắp, trong khi chúng tôi đi chân đất. Mẹ xin cô dượng cho mỗi đứa chúng tôi một đôi nhưng họ cũng không cho. Trước đây cô dượng vẫn cậy quyền của ba tôi, vừa được ba tôi giúp thật nhiều, đổi đời lòng người cũng đổi thay. Mẹ giận qúa không thèm ở nhờ trước hiên nhà họ, đem chúng tôi ra ngủ ngoài các sạp chợ. Chợ làng này nhóm vào mờ mờ sáng và tan vào lúc một hai giờ chiều. Lúc đó chợ vắng, chỉ còn người quét chợ và chúng tôi. Tất cả các sạp ở chợ này chỉ có mái lợp bằng tôn hoặc bằng tranh. Riêng ở giữa chợ có một cái Ki-ôt bàn hàng vuông vít mỗi bề ba mét là có vách tường, không cửa sổ, chỉ độc một cái cửa nhỏ ra vào. Người chủ không dùng tới, thấy mẹ con tôi đêm đêm ngủ trống trải nên cho mấy mẹ con vào ở nhờ.

Nơi ở đã có, nhưng lấy gì để sống. Mẹ tôi đi mua chịu chuối xanh về dấu chín đem bán, hoặc luộc lên cắt thành từng chùm ba hoặc bốn qủa mà bán. Rồi mẹ lại còn mua thêm mía cắt thành từng khúc ngắn bán cho con nít. Thật là kỳ lạ, đây là thôn quê vậy mà bán rất chạy. Sau buổi chợ, mẹ quay lại nghề mà mười mấy năm trước khi lấy ba tôi, là đi đến các tiệm may nhận may thuê.. Tôi và các em đi lượm mót củi ở trong một nghĩa địa gần đó để nấu ăn. Tối đến trên chiếc chiếu lớn lấm tấm cáu và máu, chúng tôi nằm ngủ ngang dọc. Cánh cửa luôn mở rộng vì hơi người chật chội, vì mùi chuối ủ rơm bốc lên hầm hập, mùi máu ghẻ tanh tanh, mùi nước tiểu đái dầm khai nồng của các em nhỏ, mùi cá thịt. Tôi không ngủ được, vì vậy tôi hay ôm tấm chăn ra ngủ ngoài các sạp gỗ. Trời mờ sáng, khi bắt đầu họp chợ là tôi lẩn ra nghĩa địa. Chờ cho đến khi chợ tan tôi mới về, vì tôi sợ những người đi chợ, sợ đám trẻ con sàng sàng ngang tuổi anh em chúng tôi, tò mò nhìn vào đám rách rưới bên trong Ki-ốt. Nhất là sợ những thằng bạn, những đứa con gái học cùng lớp với tôi trước đây. Thoáng một cái tôi không còn là tôi.

Mẹ thấy tôi cứ ngoài nghĩa địa, ngoài rừng Đước bờ sông, bắt ốc, hái củi trốn tránh người quen. Nên mới nhờ hai vợ chồng dì dượng em mẹ tôi, cho tôi theo làm than trên núi. Kể từ đó, tôi mới biết thế nào là lao động vất vả để kiếm miếng ăn. Dì dượng và tôi ở một cái chòi trên núi. Suốt ngày cưa chặt cây củi, khiêng vác, đào lò đốt than, gánh xuống núi bán. Cả người, tay chân tôi lúc nào cũng ê ẩm. Không ngày nào là không có thương tích, nhiều khi vết thương tay làm độc cương mủ cầm chén cơm, đôi đũa không nổi.

Mấy tháng sau, mẹ nhắn tôi về để đi Kinh Tế Mới. Dân địa phương ở đây đã mấy đợt đi Kinh Tế Mới. Chính quyền thôn xã đã nhiều lần động viên, đe dọa nhiều tháng trời nhưng mẹ tôi cứ lì ra không chịu đi. Họ phải đưa mẹ và một số người ngoan cố lên xem thử vùng Kinh Tế Mới. Thấy vùng này gần, người đông cũng không có đạn mìn thời chiến tranh còn sót lại, nên mẹ và mười mấy gia đình cuối cùng chấp nhận lên vùng Kinh Tế Mới này.

Một con đường đất mới ủi chui sâu vào rừng rậm, là con đường bộ đội dùng để khai thác và chuyên chở gỗ về đồng bằng. Phái đoàn cán bộ bỏ mười mấy gia đình chúng tôi xuống giữa đường rừng. Họ đo bề ngang mỗi quãng 25 mét và chỉ vào rừng gìa âm u nói “Đây là đất thổ cư, đất trồng trọt hoa màu của đồng bào”. Và họ lên xe đi về. Mọi người chỉ còn biết lắc đầu kêu trời.

Hồi trước đi Kinh Tế Mới ở Bình Long chúng tôi còn được cấp dao rựa, cào cuốc còn lần này họ chỉ phát gạo tùy theo đầu người mỗi tháng. Không biết mẹ tôi mua lại của ai được một cái rựa cùn. Hai mẹ con thay phiên nhau cực lực phát quang rừng gìa mà phải làm thật nhanh cho kịp với bà con hàng xóm để cùng đốt rẫy một lần. Nói sao cho siết nỗi cực nhọc của hai mẹ con chân tay yếu ớt, cả đời chưa bao giờ biết khai hoang phát rẫy. Mười lăm ngày vớì nhiều mồ hôi nước mắt trộn lẫn máu mủ, tay chân phồng dộp. Sau khi ngọn lửa ngút trời thêu rụi rừng cây đổ nghiêng đổ ngã, chúng tôi có một mảnh đất. Mảnh đất phủ một màu tro than, ngoằn nghèo rễ cây, ngổn ngang cây đá, cùng những thân cây to đen không cháy hết.

Tôi vẫn nhớ như in ngày mùa hè hôm đó. Giữa nắng trời gay gắt, mẹ và tôi chặt cây, gom củi chân bước ngập tro than hầm nóng, mặt mũi da thịt ướp dày tro đen. Gần chiều bỗng một cơn mưa dông bất thần, những hạt mưa rơi lụp bụp trên mặt thảm tro. Chung quanh bốc lên khói hơi của đất hoang, của rừng gìa, của tro than nồng nồng bịnh hoạn. Mẹ và tôi vội chạy về với các em, đang ở nhà một người lên đây trước, cho chúng tôi ở nhờ trong khi khai hoang làm nhà. Tối đó, mẹ tôi sốt nặng phải đem ra trạm xá. Trạm xá Kinh Tế Mới chỉ là một cái chòi lá vách ván, vài ba lọ thuốc đếm được, một cái giường và một bà mụ gìa được gọi là y tá. Sau khi chích thuốc, cho mẹ tôi uống thuốc, bà y tá nói mẹ tôi bị sốt rét vài ngày sẽ khỏi. Rồi bà ta đi về nhà ngủ. Chúng ngồi ngủ quanh mẹ trên giường. Người mẹ hết nóng lại lạnh, nằm co quắp run cầm cập suốt đêm. Đó là hình ảnh cuối cùng mà tôi được nhìn thấy mẹ còn sống. Không như lời bà y tá đoán, mấy ngày sau bịnh tình mẹ tôi càng nặng phải chuyển lên bịnh viện Huyện. Tôi phải ở nhà giữ các em nhỏ, đứa em gái kế tôi đi theo chăm sóc mẹ. Ở bịnh viện Huyện mấy ngày, mẹ tôi được chuyển lên bịnh viện Tỉnh. Hai ngày sau, mẹ tôi cô đơn chết trong khi em gái tôi chạy ra ngoài pha nước sôi. Tính ra mẹ tôi đi Kinh Tế Mới lần này được một tháng.

Được tin, ông bà nội ngoại vội mướn xe chở xác mẹ tôi về lo đám tang chôn cất vùng nhà ông bà ngoại, vì vùng Kinh Tế Mới ở đây chưa có nghĩa địa. Chúng tôi nheo nhóc về nhà ông bà ngoại, khóc lóc, bu quanh xác mẹ.. Đám tang mẹ tôi không có gì cho người ta ăn uống. Trái lại bà con chòm xóm của ông bà ngoại người cho khoai, người cho sắn. Không có hòm, người ta cho mẹ tôi một tấm ván ép mỏng khoảng một phân, cưa ra đóng thành hòm.

Ngày đưa xác mẹ ra nghĩa trang, chúng tôi đứa nào đứa nấy khăn tang trắng ố vàng dài qúa mông. Người ta khiêng hòm trên vai đi trên con đường gập ghềnh, quanh co ra nghĩa địa nằm cao trên một đồi núi cỏ cây lấp sấp cách xa mấy cây số. Chúng tôi đứa đằng trước, đứa đằng sau, có đứa đi cả dưới hòm của mẹ. Xác mẹ được đem chôn vào lòng đất lẫn hàng ngàn tiếng khóc, hàng ngàn nước mắt của anh em chúng tôi và cũng chôn luôn niềm an toàn được mẹ chở che. Ngay lúc mộ mẹ vừa đắp xong, thì sự cô đơn, nỗi lo sợ bất an bắt đầu lảng vảng chung quanh hay đâu đó trong lòng tôi.

Lo xong cho người chết, nội ngoại hai bên họp bàn lo cho người sống là chúng tôi. Nội ngoại bàn chia anh em chúng tôi ra làm hai, một nửa sống với nội một nửa sống với ngoại. Hỏi ý tôi thế nào, tôi xin nội ngoại hai bên nuôi các em tôi, còn tôi xin được lên lại vùng đất Kinh Tế Mới.. Nơi mảnh đất mà mẹ tôi đã bỏ mạng sống. Các em đều đòi đi theo tôi, cuối cùng anh em tôi đành phải chia ba.

Tôi cùng hai em, một trai một gái lên lại vùng Kinh Tế Mới. Chúng tôi vào rừng đào củ, hái rau để ăn. Vào rừng chặt cây, chặt củi. Vào rừng cắt Tranh để dành làm nhà. Nói là nhà chứ thật ra ngày ông nội, ông ngoại lên giúp chúng dựng nhà mấy ngày, chỉ dựng được cái chòi Tranh cao vuông vứt bốn mét xoay lưng về hướng núi rừng. Và nhà chỉ có một vách mặt trước, vì hết Tranh. Xong việc hai ông nội ngoại ra về.

Đêm đầu tiên trong căn nhà đầu tiên của anh em mồ côi chúng tôi, ba anh em tôi ngủ không được yên giấc. Trời tối đen dày đặc. Mưa không buồn nhưng mưa ầm nước ào, trĩu nặng mái Tranh như muốn đè bẹp căn nhà. Gío hú, gío thốc từ sau hướng không có vách che, mang theo mưa bay vào làm tắt đống lửa giữa nhà. Ba anh em ôm nilon, chăn mền chạy ra đứng trước mái hiên ngủ gật gà. Như trêu ngươi, gío trở chiều, anh em lại vội khăn gói chạy vào trong nhà. Và cứ chạy ra hàng hiên ngủ một chốc, lại chạy vào nhà mơ một lát. Vài lần như vậy người cả ba anh em nửa ướt nửa khô.

Đến nửa đêm, mưa tạnh gío êm. Tiếng côn trùng chui ra từ sũng đất râm ran. Đom đóm xanh xao vật vờ quanh quẩn. Xa xa ngọn núi sau nhà, ẩn hiện những cặp mắt lúc xanh biếc, lúc rực đỏ. Tiếng con gì bay ngang quẹt phải mái Tranh, luống cuống một chốc rồi bay mất hút vào bóng đêm. Hai em lăn ra ngủ vùi, tôi bó gối nhìn vào rừng đêm mịt mùng, lo lắng sợ hãi. Nỗi sợ lúc mơ hồ, lúc hiển hiện bao quanh. Suy nghĩ mung lung, bỗng nhiên thấy thời gian, không gian như lập lại. Cũng tiếng Nai Mang thất thanh trong đêm tối, tiếng côn trùng ỉ ôi, tiếng sột soạt thú rừng kiếm ăn, tiếng tranh giành sự sống của đêm nào trên vùng Kinh Tế Mới Bình Long. Nhưng cuộc sống và con người thì đã đổi thay.

Qua mấy mùa mưa nắng. Chúng tôi kiếm ăn như thú rừng, chân tay mọc thêm u nần. Dân số của vùng Kinh Tế Mới vơi dần. Riêng xóm chúng tôi, có đêm ngủ thức dậy thấy biến mất cả một gia đình. Có gia đình mười người, bỗng một hôm nhân khẩu chỉ còn có năm, rồi hai, cuối cùng không còn ai. Có nhà thì ban ngày ban mặt, mướn xe tải rộn ràng dọn đồ đạc lên xe, chưa hết lời chia tay, quay qua ngoảnh lại thì thấy nhà đã thành nhà hoang. Những căn nhà dọc theo hai bên con đường xưa rộn tiếng người, gìơ vắng vẻ, chỉ còn mỗi túp lều của ba anh em chúng tôi. Những căn nhà không người chăm sóc, mưa nắng, gío bão sụp đổ mau lẹ. Có căn mục nát, rồi đổ ầm xuống một cái thế là xong. Có căn tung vách, tróc nốc chỉa những cái cột siêu vẹo lên trời. Có căn chỉ còn chơ vơ bốn vách để bầy Sóc, bầy Thỏ đôi lúc chạy đùa bên trong..

Qua mấy mùa nắng mưa. Chúng tôi sống như Kinh như Thượng, áo quần mục dần theo thời gian. Màu xanh của cây rừng phủ chụp, lan nhanh trên những vườn tược, trên những căn nhà sụp đổ hoang tàn. Con đường đất rộng lớn xưa nhiều xe cộ qua lại, thưa dần rồi dứt hẳn. Cây cỏ đua chen mọc lên, biến nó trở nên con đường mòn nhỏ cho người dân tộc đi qua. Anh em chúng tôi cố gắng giữ mảnh đất của mẹ cho khỏi rừng xanh bao phủ. Chúng tôi đã gĩư được mảnh đất khỏi màu xanh rừng rú, nhưng đã lạc mất tuổi thơ, tuổi xuân xanh nơi núi rừng vùng Kinh Tế Mới này.

II.

Anh em chúng tôi ít khi nghĩ đến ngày, tháng, năm. Nhưng thời gian vẫn vun vút trôi qua. Chúng tôi thêm tuổi, cây rừng thêm lá,kinh tế mới thêm nhà hoang.

Nhà tôi
Các em thêm tuổi thì chỉ muốn về sống chung với tôi, anh em xum vầy dù đói khổ. Thêm tuổi nhưng chúng tôi vẫn khù khờ hơn những đứa cùng trang lứa. Thỉnh thoảng chúng tôi đốn củi, chẻ tre vác xuống phố bán để mua thực phẩm. Một tuần đôi lần, chúng tôi cầm đèn dầu xuống trường học của kinh tế mới để học bổ túc văn hóa vào ban đêm. Hoặc xuống họp nông hội, tuy nhỏ nhưng tôi không vào đoàn thể thanh thiếu niên của “Bác”, bởi vì tôi là chủ hộ. Những lần đi học như vậy, bọn trẻ tuy có đứa cũng làm bạn với chúng tôi, nhưng đa số là chọc ghẹo, ăn hiếp chúng tôi. Người lớn thì nhìn chúng tôi vừa tò mò vừa thương hại. Tôi thường tránh né những lời thương hại của họ, chúng làm tôi mặc cảm và thấy mình nhỏ bé. Mà mọi người cũng không thể nhìn khác được, bởi vì áo quần chúng tôi mặc không thể gọi là áo quần được. Chúng được vá víu vụng về, bất kể màu sắc, cũ hay mới, quần hay áo. Có khi tay áo vá vào ống quần, hay ngược lại ống quần bóp nhỏ biến thành tay áo. Ði đứng phải cẩn thận, nếu không muốn chúng rách tung ngoài đường.

Ðặc biệt đôi dép của tôi là khó làm cho mọì người nín cười được. Đó là một đôi dép nhựa đứt quai màu nâu, ai vất bỏ trong rừng.. Nó to rộng quá nên tôi cắt gọt cho vừa. Vì dùng dao và bị gọt mất lớp nhựa láng bên ngoài nên trông rất nham nhở. Sau đó tôi khoét lỗ, lấy dây rừng sỏ làm quai dép, mỗi lần đứt quai lại lấy dây rừng xỏ lại. Vậy mà nó cũng theo tôi được mấy năm. Cũng vì áo, vì quần mà tôi bị mất mối tình đầu.

Ba nàng chết trận đã lâu, mẹ con nàng đơn chiếc đi kinh tế mới. Một hôm ba mẹ con nàng đi đốn củi, ghé vào nhà tôi xin nước uống. Thấy hoàn cảnh chúng tôi cũng đơn chiếc như nhà bà, nên mẹ nàng nói rảnh thì xuống nhà bà chơi cho đỡ buồn. Mới gặp nàng lần đầu, trong lòng tôi rộn ràng, vu vơ cảm giác thân quen như tìm lại được hạnh phúc thủa gia đình còn đông đủ.. Cảm giác khó tả đó cứ dâng lên mỗi lần gặp nàng. Thường sau một ngày lao động, đám con trai, con gái mới lớn hay tụ tập lại nhà nàng chơi. Lần đầu mới tới nhà nàng tôi rất ngượng, sau cũng quen. Bọn con trai đàn ca, chọc cười, tán gái. Con gái thì viết thơ, coi bói, làm duyên. Tôi không nói gì với nàng nhiều, chỉ biết nhìn nàng và giúp mẹ nàng làm hết việc nhà. Mẹ nàng thường thưởng công và đãi chúng tôi món bánh tráng chấm mật đường. Từ đó tôi mê cả món mật đường của mẹ nàng và nàng. Tôi thường đến chơi, giúp cuốc đất trồng khoai, nhổ mì gọt sắn, việc lớn việc nhỏ trong nhà nàng đều có tay tôi dính vào. Tụi bạn có đứa chọc tôi “Việc nhà thì nhác việc cô bác thì siêng”. Ai cũng xem như tôi làm rể nhà nàng. Nhờ lì, ít nói, siêng làm nên nàng yêu tôi. Bọn con trai hết còn dám tán tỉnh nàng. Ði đâu tôi cũng hãnh diện, khoe khoang nàng là người yêu của tôi.

Mùa hè năm đó, chúng bạn rủ nhau đi tắm suối. Quần đùi bên trong của tôi rách quá, nên tôi về nhà lôi cái váy đầm học trò, đồ viện trợ duy nhất còn sót lại, mới như chưa mặc một lần. Cái váy xếp ly đó, ngắn cách đầu gối một gang tay, bằng vải ca-tê mỏng màu xanh lá non, sọc trắng. Không biết tại sao chúng tôi có nó lâu rồi nhưng không mặc. Có lẽ kiểu cách của chiếc váy không phù hợp với dân lao động chúng tôi. Tôi xòe nó ra, đặt xếp đôi trên bàn, cắt một miếng hình tam giác dưới vạt, khâu lại thành cái đáy quần đùi. Xỏ hai chân vào cái quần đùi mới may, mang quần dài vào, tôi chạy lại nhà nàng cùng đám bạn đi tắm suối. Tới suối bọn con gái mặc luôn quần dài và cả áo mà tắm. Con trai chúng tôi thì ở trần, mặc quần đùi. Khi tôi cởi áo, quần dài ra thì cả bọn, trai lẫn gái đều sửng sốt, trợn mắt nhìn tôi chằm chằm. Tôi nhìn xuống chân. Trời ơi! Không như tôi nghĩ, nó không biến thành cái quần đùi, mà vẫn là cái váy xếp, xòe rộng lất phất trong gió. Ngượng quá tôi nhảy ùm xuống nước trong tiếng cười rộ của tụi bạn. Họa vô đơn chí. Nhảy xuống nước cái quần đùi của tôi bọc không khí vào trong, nổi phùng lên như một cái phao dù màu xanh bao bọc quanh tôi. Lũ bạn bò lăn ra cười. Ðiên tiết tôi đè cái “dù” xanh của tôi xuống, lặn một hơi thật xa không thèm tắm gần bọn chúng. Bơi mệt tụi nó lên bờ nằm nghỉ. Lò dò đi lên, nhìn xuống chân, tôi giật thót cả người. Cái quần đùi của tôi ướt, mỏng dính, bó sát lấy thịt da như không mặc gì.. Tôi vội ngồi thụp xuống nước. May quá chưa có đứa nào thấy. Nguyên ngày cho đến chiều, tôi ngâm mình dưới nước, không một lần lên bờ. Mặc cho tụi bạn kêu réo, xin lỗi, mặc cho nàng năn nỉ, tôi nhất định ngâm mình dưới nước. Trời chiều, không kiên nhẫn với tôi nữa, mấy đứa bạn bỏ về hết. Chỉ còn mình nàng, nàng năn nỉ tôi đưa nàng về. Tôi vẫn không chịu lên bờ, giận tôi nàng đi về một mình. Cẩn thận nhìn quanh không còn ai, tôi đi lên bờ, chui vào bụi rậm vắt quần đùi cho khô, mặc quần dài vào rồi chạy một mạch về nhà.
Nàng
Về nhà buồn, mặc cảm. Nghĩ thân phận mồ côi nghèo hèn, thân mình còn lo còn không nổi, làm sao nghĩ đến lo cho nàng. Không thể giải thích cho nàng những điều khó nói, từ đó tôi không đến nhà nàng nữa. Gặp nàng xa xa, tôi tránh đi đường khác. Nếu không tránh được nàng, tôi làm mặt xa lạ như chưa bao giờ biết nhau. Năm sau, một gã thanh niên từ thành phố lên cưới nàng, đem cả gia đình nàng về thành phố. Từ đó không bao giờ tôi còn được găp lại nàng nữa.

Cuộc sống niềm vui thì ít, sự buồn thì nhiều. Cũng may, chúng tôi còn trẻ và không có nhiều giờ rãnh để buồn. Nhưng điều phiền phức thì khó có thể tránh né. Một trong những điều phiền phức đó là tôi không nhận ra được các em gái tôi đã lớn, đã thành thiếu nữ. Cho đến lúc thấy bọn con trai trong làng kéo đến nhà tôi chơi càng lúc càng đông, tôi mới biết. Ðó cũng là lúc tôi thấy trách nhiệm “Quyền huynh thế phụ” của mình nặng hơn cả trách nhiệm cơm gạo.

Ðiều phiền của tôi lúc đó là bọn công an, xã đội, du kích thôn xã. Mỗi tối chúng chia nhau đi tuần khắp làng, rồi trở về điểm hẹn tập trung là nhà tôi. Chắc vì nhà tôi không có người lớn. Chúng cứ gõ cửa xét nhà bất kể giờ giấc, bắt tôi thức dậy thắp đèn lên, chúng soi dọi đèn pin lên trần, dưới gầm, vào giường các em, bới móc thúng rỗ, nồi nêu, áo quần kể cả những miếng vải vụn của các em gái tôi chúng cũng không từ. Vừa lục soát như nhà không người, chúng vừa nói cười hô hố. Có nhiều đêm chúng ngồi trước sân nhà tôi, ăn uống cười nói oang oang, nồng nặc mùi rượu, hứng lên lại gõ cửa xét nhà.

Sợ nhất là mấy thằng say xỉn, phá làng phá xóm. Băng quậy phá toàn những đứa xưa chăn trâu xứ này. Lợi dụng chăn trâu, chúng bới cơm, đem thuốc nuôi cha ông, bà con của chúng là cán bộ, du kích trốn trong rừng. Bây giờ cha ông, bà con của chúng là Tỉnh Ủy, Huyện Ủy, Chủ Tịch, Công An, nhỏ nhất cũng Bí Thư Xã. Bọn chúng một chữ cũng không biết, không làm gì được, chỉ làm biếng nên suốt ngày rượu chè say sưa. Chuyện ăn hiếp người dân, phá làng phá xóm, muốn đánh ai thì đánh của chúng thì không sao kể hết được. Những ai không biết, nghe một hai chuyện của chúng thì đã khiếp, thấy đâu tránh đó. Một bận có nhóm bộ đội đóng quân khai thác gỗ gần làng, xuống làm quen con gái trong xóm. Nhóm bộ đội và tụi nó kình nhau, thấy bộ đội có súng nên chúng nhịn. Ðêm sau phục kích hai bộ đội trên đường về trại, chúng xông ra thủ sẵn tre vót nhọn đâm hai bộ đội chết tại chỗ. Cán bộ ở trên xuống bắt chúng về điều tra, mấy ngày sau thấy chúng về nhà phây phây, lại có thêm tiền nhậu lớn nữa. Từ đó chúng càng phá làng phá xóm hơn. Có lần sau khi nhậu say, chúng ra lịnh làm lễ “Tắt Ðèn”.. Chẳng ai hiểu gì hết, sau mới biết là khi chúng đi đến xóm nào thì xóm đó phải tắt hết đèn, nếu nhà nào không tắt đèn, chúng sẽ xông vào đập phá nhà đó. Nhiều khi làm lụng ngoài nương rẩy về, vừa mới dọn cơm tối ra ăn, chưa kịp ăn mà nghe chúng đi ngoài đường gào lên “Tắt Ðèn!” thì phải tắt đèn ngay. Cũng may chúng chỉ làm lễ “Tắt Ðèn!”có vài lần thì chán không muốn chơi nữa.
Em tôi
Bọn chúng cũng đến nhà tán tỉnh, chọc ghẹo các em gái tôi thường. Chúng xin đưa em gái tôi đi chơi, tôi không chịu, tụi nó tức lắm nhưng vì đang tán em gái tôi nên chúng nhịn. Theo hoài không được, chúng nó rình sáng sớm em tôi gánh rau Lang ra chợ bán. Bọn nó bao vây định cưỡng ép, em tôi vất gánh rau chạy về được. Tôi làm đơn kiện ra xã, thì ủy ban xã chỉ gọi hai bên lên giải hòa rồi thôi. Từ đó chúng hay tới nhà tôi quậy phá luôn, có lần đập phá đồ đạc, còn hăm dọa đốt nhà. Ði trình báo công an, công an cũng không tới giải quyết. Một hôm chúng đến bao vây nhà, đòi tôi đi mua rượu cho chúng uống. Tôi ngồi trên giường trả lời không có tiền, thì tên đầu đàn cung tay đánh một cùi chỏ vào giữa mặt tôi. Tôi té lật ngang, tay ôm mặt, không đau nhưng tôi choáng váng không thấy gì một thoáng. Ðịnh thần trở lại, tôi thấy máu từ trong mũi mình chảy ra đỏ cả mặt cả áo. Các em tôi khóc la kêu cứu xóm làng. Tay ôm mặt tôi gượng ngồi dậy trên giường như không có gì xảy ra. Thằng đầu đàn lại hỏi “Mày có chịu đi mua rượu không?” Tôi lắc đầu. Nó nắm tay lại giơ lên cao đấm vào đầu tôi, tôi bật ngửa, trong đầu máu như sôi lên nóng ran. Lồm cồm ngồi dậy, máu trong mũi tôi lại chảy ra. Thấy tôi ngồi lên, nó lại hất hàm hỏi tiền, tôi lại trả lời không có tiền. Thực sự là chúng tôi không có tiền, nhưng nó tưởng tôi ngoan cố. Nó vung chân đạp thẳng vào bụng tôi, tôi nghe miệng tôi thoát ra một tiếng “Hự” khô khan, ruột như rách ra. Tôi đứng dậy, cố giữ hai chân cho vững, tay vịn vào thành giường. Nó bước lui một bước, trợn mắt nhìn, tôi nói, Nếu các anh không muốn chúng tôi sống ở đây, ngày mai chúng tôi sẽ khăn gói ra đi. Chúng nó chửi tôi thêm mấy câu tục tỉu nữa, rồi kéo nhau đi. Tôi nằm vật ra giường, thấy mình mẩy đau quá, nhất là cái mũi. Nhìn lên trần nhà, vừa đau vừa ức, nước mắt tôi chảy ra ròng ròng không cầm được. Tôi khóc như một đứa con nít. Không biết sao, từ đó chúng không quậy phá nhà tôi nữa.

Một trong những niềm vui hiếm hoi, nhưng to lớn của chúng tôi là nhận được thư của ba tôi báo tin còn sống. Ba tôi hiện đang “cải tạo” tại trại tù thuộc tỉnh Thanh Hóa tận ngoài Bắc. Trong thư ba viết vẫn khỏe, khuyên chúng tôi cố gắng sống chờ ba về, và nếu có thể thì đi thăm ba một chuyến, hoặc gởi ít quà cho ba. Ðọc thư ba chúng tôi mừng quá, cứ như người bơi kiệt sức thấy bến bờ. Chúng tôi liền viết thư cho ba, tha hồ trút hết buồn đau, côi cút.. Tôi quyết định phải đi thăm ba tôi một lần, nhưng tiền đâu, quà thăm nuôi đâu mà đi. Chúng tôi trở lại nghề ăn xin. Ông bà ngoại cho một bao cát (loại bao dùng đựng cát, làm hầm chống bom đạn) khoai lang luộc, xắt lát phơi khô. Ông bà nội cho con chó giữ nhà, làm thịt, đem kho mặn để ăn cho được lâu. Ông nội cũng còn cho một xị rượu đế, bỏ ít rể cây vào rồi ghi bên ngoài chai là rượu thuốc trị đau lưng. Chúng tôi đi đến các nhà bà con, người quen hay các bạn cũ của ba tôi mà chúng tôi biết để xin tiền. Cuối cùng cũng gom được ba bao cát quà nhỏ và một ít tiền. Quà thì chỉ khoai khô, sắn bột, gạo rang, bánh tráng và ít đường cát. Nói chung chỉ toàn sản phẩm của thôn quê.. Tôi gánh hai bao, em gái tôi vác một bao cùng lên đường.

Ðường đi ra Bắc thăm cha thật gian nan không kể xiết. Trời lạnh, áo không đủ ấm, chúng tôi phải luôn quấn tấm nylon quanh mình, lúc đi cũng như khi ngủ. Chúng tôi hết đi tàu lửa, rồi đi xe hàng trăm cây số. Ði ghe qua sông, qua suối, lại đi bộ hằng mấy chục cây số mới đến được trại tù heo hút. Dọc đường gặp những người cũng đi thăm tù, thuê người gánh hàng bao tải thực phẩm. Hai anh em tôi nhìn lại ba bao quà tí xíu của mình mà buồn. Cán bộ nói sẽ cho cha con ăn chung một bữa cơm. Chúng tôi vội thổi cơm, nấu đồ ăn dọn sẵn chờ ba chúng tôi ra ăn. Ba tôi mặc bộ đồ tù đi ra, phải một lúc chúng tôi mới nhận ra nhau, rồi cứ ngồi nghẹn ngào khóc suốt cả buổi thăm nuôi. Nói chuyện không được bao nhiêu thì hết giờ. Tôi rút hết tiền ra trao cho ba tôi, chỉ chừa lại chút ít đủ để ăn trên đường về. Ba tôi tháo gỡ quà ra cho cán bộ xét, rồi cất gánh đi vào, đi vài bước lại quay nhìn chúng tôi. Ðợi ba tôi khuất bóng, chúng tôi chuẩn bị đi về. Trên đường ra khỏi trại tù “cải tạo”, tôi thấy nhiều người tù ăn mặc phong phanh cuốc đất trong cái rét kinh hồn của miền Bắc, cái rét mà người ta nói là cá cũng phải chết nổi lên mặt nước. Một người tù gìa đứng gần lề đường, nháy mắt với tôi chỉ vào một bụi rậm. Nhìn vào trong bụi cây, thấy một bó thư, tôi vội lượm nhét vào bụng. Nhìn quanh thấy yên, tôi cởi áo ấm và lấy tấm ni-lon dùng để che mưa gió của tôi nhét vào bụi rậm. Ði một đoạn tôi cúi xuống tháo đôi giầy vải ném vào lề đường. Mấy người tù gần đó thấy vậy vẫy tay chào cám ơn. Trên đường về chúng tôi nhẹ nhàng quá, không còn gì. Nhưng càng đi càng lạnh, máu ở bàn chân như đông cứng lại. Chân tôi từ từ sưng đỏ lên, không còn cảm giác. Ðường về càng dài hơn, phần không có tiền đi xe đành đi bộ, phần chân đau cứ đi vài cây số lại phải nghĩ. Chúng tôi quá giang xe, đi tàu chui (không vé) về tới thành phố Vinh thì may sao gặp một chiếc tàu chở than đá vào Huế. Chúng tôi nằm lăn trên than ngủ vùi. Ðến Huế chúng tôi nhảy xuống sông Hương, tắm rữa cho sạch bụi than. Rồi lại đi tàu chui mà về Nam . Về đến nhà hai bàn chân tôi sưng đỏ, căng bóng lên hết mấy tuần. Cứ mỗi lần nhìn vào hai bàn chân sưng húp, đỏ như hai bắp chuối sứ, là tôi lại chảy nước mắt vì sợ và nhớ ba tôi. Gần mười năm ba tôi ở tù “cải tạo”, chúng tôi chỉ đi thăm được hai lần như vậy.

Kinh tế mới này ruộng thì ít, rừng rẫy thì nhiều vậy mà cũng bị đưa vào hợp tác xã nên đời sống ở đây càng tệ hại hơn. Người làm lụng trực tiếp thì ít, người lao động gián tiếp thì nhiều. Nông dân chỉ làm lấy lệ, vì làm điểm nhiều nhưng lúa gạo chẳng bao nhiêu. Nhân số cán bộ sấp sỉ nhân số xã viên. Từ tổ trưởng, tổ phó lên đội trưởng, đội phó. Từ thôn trưởng, thôn phó lên xã trưởng, xã phó. Rồi còn kiểm soát tổ, đội, thư ký, kế toán, thủ trưởng (chủ nhiệm hợp tác xã), thủ phó, thủ qủy, thủ kho v.v.. Nói chung đi đâu cũng đụng cán bộ. Cán bộ chẳng làm gì, ôm cặp sách chỉ tay năm ngón. Cán bộ chỉ đi bắt bớ, đi tán dóc, tán gái, la cà uống cà phê. Vậy mà cuối vụ, lãnh lúa gạo vẫn nhiều hơn xã viên. Mấy năm sau hợp tác xã giải tán, cán bộ chia nhau đất ruộng tốt, dành cho nông dân xã viên phần ruộng xa đất xấu.

Phần anh em chúng tôi cũng vậy, sống nhờ rừng nhờ suối. Sống trong rừng riết, chúng tôi biết nhìn cây, nhìn rong rêu đoán hướng đi. Biết bẫy thú rừng để ăn. Biết phân biệt rau qủa rừng nào ăn được, cái nào không. Nấm nào độc, nấm nào lành. Vào rừng không có nước biết chặt cây lấy nước uống. Hái trái rừng làm xà phòng giặc áo quần…. Tóm lại chúng tôi cứ như là sinh trưởng trong rừng vậy, chẳng còn chút hơi hướng thành phố. Thế mà anh em chúng tôi cũng có vài lần suýt chết vì rắn rết chui vào gầm giường, vì ăn trúng độc. Có một lần đào được mấy củ nần, đem ngâm dưới suối chưa tan hết chất độc, đói quá luộc lên ăn. Trưa hôm ấy cả mấy anh em đều lăn ra hôn mê không còn biết gì.. May có người đi rừng ngang qua, báo bà con dưới xóm lên cứu chữa. Cũng có lần ăn hột đậu rựa, vì không làm kỹ, anh em tôi chóng mặt, nhức đầu, ói mửa nằm la liệt. May bữa đó tôi ăn ít, tuy có say sẫm nhưng cũng còn sức đi xuống kêu cứu với xóm làng.

Cuối cùng ba tôi cũng được thả về. Ba tôi đi thăm ông bà nội ngoại, rồi gom các em nhỏ cùng về xum họp một nhà. Chúng tôi mừng lắm, nhất là tôi, như trút bỏ được gánh nặng, thấy từ đây cuộc sống sẽ khá hơn. Ba tôi vừa làm cha vừa đóng vai mẹ. Sắp xếp việc trong việc ngoài, nấu nướng bữa ăn hằng ngày cho chúng tôi đi rừng kiếm gạo, kiếm tiền. Tưởng rằng cuộc sống sẽ tốt hơn, nhưng không nó cũng vậy mà còn tệ hơn. Ở vùng kinh tế mới này ba tôi là người có cấp bực lớn nhất của chế độ cũ đi tù về, nên du kích, công an hay rình mò, mời lên mời xuống hoài. Nhà thì nhỏ, người thì đông, ba tôi lấy tre làm thêm giường. Nhà thêm người nhưng gạo tiền, khoai sắn chẳng thêm ra. Ba tôi gần mười năm trong tù đã quen nếp sống đói khổ một mình. Nay ra ngoài thấy cuộc sống khó khăn hơn, đói khổ một nhà nên đâm ra khó tính, gắt gỏng la mắng anh em tôi suốt ngày. Chúng tôi cứ nghĩ dại, chắc ba bị tiêm thuốc tẩy não nên tính tình mới thay đổi như vậy. Cuộc sống cha con, anh em chúng tôi cứ trôi qua trong căng cứng phiền muộn, no đầy tủi cực.

Mấy năm sau, nhiều người lo thủ tục giấy tờ đi Mỹ diện H.O. Ba tôi sợ, không tin cộng sản nên không chịu làm giấy tờ ra đi. Bởi vì có mấy người bạn cùng tù “cải tạo”của ba tôi, loan báo tin tức chương trình H..O. trước khi nhà nước công bố nên bị bắt đi tù trở lại. Sau này nhiều người đã đi Mỹ rồi, ba tôi cũng không nhúc nhích gì. Cho đến lúc ông bác họ của ba tôi qua Mỹ gởi thư về nhiều lần khuyên bảo, ba tôi mới muộn màng đi tìm hiểu lo thủ tục giấy tờ xuất cảnh. Cái khó khăn bấy giờ của cha con chúng tôi là tiền đâu để lo thủ tục. Ba cùng tôi chạy đến anh em, bà con họ hàng xin xỏ vay mượn. Ðược chừng nào thì lo chừng đó, thiếu lại chạy đi xin, đi mượn nữa. Thật tình cha con chúng tôi cũng không hy vọng gì mấy. Làm hồ sơ thì làm chứ không có đủ tiền để lo lót đến nơi đến chốn làm sao đi được, chỉ cầu may. Chúng tôi cứ nghĩ rằng, kiếp chúng tôi không thể nào thoát khỏi cảnh rừng rú này.

Chờ đợi mấy năm, nhận được giấy báo, rồi giấy phỏng vấn, gia đình chúng tôi vẫn không tin là thật. Cứ như mơ chúng tôi chạy vay tiền bạc, vào Sài Gòn phỏng vấn, khám sức khỏe. Lòng luôn phập phồng lo lắng trục trặc hay có sự gì đổi thay. Số chúng tôi luôn không được suông sẽ, phải ở lại thêm sáu tháng để tôi uống thuốc chữa bịnh phổi. Cái khó của chúng tôi là không tiền và ở ngoài Trung quá xa Sài Gòn. Ðành chấp nhận, chạy ra chạy vô, chắp vá tiền bạc. Cuối cùng chúng tôi cũng bò lết tới được ngày ra đi.

Dù không biết ngày mai ra sao, không nghề nghiệp, học vấn, tiếng Anh không có gì, chúng tôi cũng có lo lắng qua Mỹ làm gì để sống. Nhưng chắc một điều là sẽ sung sướng, tự do hơn ở đây rất nhiều, nên chúng tôi thấp thỏm chờ đợi ngày đi. Ngày đi Mỹ đã tới, chúng tôi bỏ nguyên lại nhà cửa, vật dụng, bỏ lại những thứ rách rưới đã bao năm cùng chúng tôi. Vài bộ áo quần vào Sài Gòn, như là hành trang bước vào một giấc mơ. Chỉ sợ khi tỉnh giấc, lại phải quay về vùng kinh tế mới sống nốt đời hoang dã.

Ðiều may mắn hiếm hoi đến trong cuộc sống mọn hèn của chúng tôi, làm chúng tôi không dám tin rằng, đời mình mà cũng có ngày hôm nay. Ngồi trên máy bay rồi, tôi cũng chưa chắc sẽ được đi Mỹ. Cho đến lúc máy bay rời khỏi mặt đất, tôi mới dám nói lời: Vĩnh biệt kinh tế mới.

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Tiền và gia đình, điều gì quan trọng hơn?

https://baomai.blogspot.com/
Tiền và gia đình, điều gì quan trọng hơn? Đây là câu trả lời của người Mỹ, châu Âu và Trung Cộng
Lời chia sẻ chân thành của những người bạn:
Ngày nọ, một nhóm bạn thân người Úc đã trò chuyện cùng một anh bạn người Trung Cộng. Chủ đề mà họ nói đến là mức coi trọng gia đình của người Trung Cộng  và người Úc khác nhau như thế nào.
Thật bất ngờ, mấy anh bạn người Úc này đã thẳng thắn nói: “Cậu đừng giận, thật ra, chúng tớ cảm thấy người Trung Cộng  các cậu vốn không yêu thương gia đình, vốn không xem trọng gia đình giống như các cậu đã nói. Nói thẳng là các cậu yêu tiền nhiều hơn!”.
https://baomai.blogspot.com/
Những người bạn thân người Úc này lại chân thành nói tiếp:
“Không kể là ở Úc hay ở Trung Cộng , người Trung Cộng  các cậu xác thực là rất chăm chỉ, các cậu ở nước ngoài cũng đều tiết kiệm được nhiều tiền hơn so với người bản địa. Nhưng tớ không cho rằng người Trung Cộng  các cậu có tố chất làm ăn hơn, mà là các cậu tiết kiệm hơn chúng tớ.
Có thể tiết kiệm là nhờ hạ thấp tiêu chuẩn cuộc sống đi. Các cậu bình thường rất ít khi đi quán bar, thậm chí cuối tuần hoặc ngày nghỉ cũng đều không dám nghỉ ngơi. Quần áo đều là mua từ bên Trung Cộng đem sang đây, bởi vì mua ở bên đó rẻ hơn, tớ thậm chí còn nhìn thấy có du học sinh Trung Cộng còn mang theo rất nhiều chén đĩa sang đây”.
“Các cậu sẽ làm việc không quản ngày đêm, phó mặc con cái cho ông bà chăm sóc. Ngoài việc quan tâm thành tích học tập của con cái ra, thì bận rộn đến nỗi rất ít khi chơi cùng chúng. Ngày lễ Giáng Sinh, thậm chí còn không nghỉ ngơi. Vậy nên, những đứa trẻ người Hoa  các cậu mặc dù thành tích học tập rất ưu tú, nhưng chúng luôn cảm thấy lạc lõng. Chúng cảm thấy so với các bạn, điều mà bố mẹ quan tâm hơn là khoản tiền thu nhập của gia đình, là điểm số học tập của chúng, chứ không phải là bản thân chúng có vui vẻ hạnh phúc hay không”.
https://baomai.blogspot.com/
“Đúng là tôi biết cậu muốn nói gì. Người Trung Cộng  các cậu nói như vầy, là vì con cái nên ráng kiếm thêm chút tiền cho chúng sau này.. Nhưng mỗi một đời đều nói bản thân kiếm tiền là vì đời sau, thế thì rốt cuộc đời nào sẽ thật sự dùng khoản tiền này đây?”.
“Cuộc đời là ngắn ngủi như thế, các cậu mượn cớ là vì tương lai của gia đình, mà đã hy sinh gia đình của hiện tại. Tôi thật không hiểu tổn thất này nên phải bù đắp như thế nào nữa! Sao các cậu còn có thể dùng quan niệm này mà lấy làm tự hào đây?”.
“Các cậu vì công việc, có thể chấp nhận vợ chồng phải sống ly thân trong khoảng thời gian rất dài. Nhưng trong con mắt chúng tớ, vợ chồng không ở bên nhau từ 3 tháng trở lên, trên cơ bản thì đã nên cân nhắc đến chuyện ly hôn rồi.
Vậy nên chúng tớ nếu được cử sang nước ngoài làm việc, thì nhất định phải là cả gia đình cùng đi, vợ của tôi, con cái của tôi đều phải cùng chuyển sang đây. Nếu như họ không đồng ý sang, tớ sẽ không thể tiếp nhận công việc này, bởi so với công việc thì dĩ nhiên gia đình quan trọng hơn rồi.
https://baomai.blogspot.com/
Tớ thậm chí còn nghe nói ở Trung Cộng  có vợ chồng mấy chục năm đều chia nhau sống ở hai nơi, đến lúc nghỉ hưu mới có thể sống chung với nhau. Đây là sự thật quá đau lòng. Lẽ nào các cậu không thể vì gia đình mà từ bỏ công việc sao? Có thể tìm một công việc khác cũng được mà!”.
“Trong công ty Trung Cộng của tôi có một nhân viên rất xuất sắc, nhưng vợ con lại sống ở thành phố khác, mỗi một tháng thậm chí hai tháng mới có thể gặp nhau một lần. Tại sao một trong hai người lại không thể từ bỏ công việc chứ? Tôi biết có rất nhiều người làm việc ở thành phố, họ thậm chí chỉ một năm mới về thăm nhà một lần, đều nói là kiếm tiền vì gia đình, nhưng tiền như vậy, có nhiều hơn nữa, lại có ý nghĩa gì đâu?”.
Biết bao nhiêu phụ huynh, từ sớm đã hy sinh tuổi thơ của con cái, cuối tuần bôn ba trên đường đến các lớp phụ đạo, học thêm các loại. Đợi đến khi hết tiểu học, thì bản thân xem như đã được giải thoát rồi! Nhưng tiểu học xong rồi, phát hiện trung học cũng có lớp học thêm, hơn nữa còn nhiều hơn, tụi trẻ con chính là không có thời gian để vui chơi nữa!
Đợi khi con cái lên đại học thì coi như đã xong nhiệm vụ rồi … Nhưng con cái học xong đại học rồi, đến lúc tìm kiếm công việc vẫn phải bận tâm như vậy!
Đợi đến khi con cái có công việc ổn định rồi, thì tưởng như không còn gánh nặng gì nữa … Tuy nhiên, công việc tìm được rồi, lại bắt đầu bận tâm chuyện hôn sự, nhà cửa cho con cái! Sau khi con cái kết hôn rồi, thì tôi không cần phải bận tâm gì nữa! Nhưng kết hôn, có nhà có cửa rồi, thì chúng lại sinh cháu để bế rồi!
https://baomai.blogspot.com/
Bao nhiêu nỗi lo toan, dù có muốn quản cũng không quản được hết, cứ lặp đi lặp lại như vậy không dứt. Tầm mắt của chúng ta vẫn luôn nhìn về phía trước; vì tương lai, hôm nay tích lũy sức khỏe, tích lũy văn bằng, tích lũy tiền bạc. Kết quả bản thân lại than trời trách đất, tầm mắt của chúng ta không có lúc nào sống ở hiện tại.. Nhiều người đến cuối đời đã nhận ra rằng, cả một đời không có lấy một ngày sống vì bản thân mình.
Kỳ thực, rất nhiều người chính là đang sống như vậy!
Vậy nên, có nhận xét rằng: Người biết hưởng thụ nhất là người Mỹ; người có tín ngưỡng nhất là người châu Âu; từ khi sinh ra cho đến lúc chết đi, đều chứa đầy cạnh tranh và áp lực là người Trung Cộng 
Một đời của đại đa số người Mỹ
https://baomai.blogspot.com/
0 – 10 tuổi: Tham gia các loại hoạt động tập thể như khảo sát, khám phá các vùng đất;
10 – 20 tuổi: Theo đuổi ước mơ;
20 – 30 tuổi: Tìm kiếm cho mình một công việc ổn định;
30 – 40 tuổi: Cuối cùng tìm ra được mục tiêu theo đuổi của đời mình, hưởng thụ cuộc sống, có nhà cửa, có xe hơi, có con cái;
40 – 50 tuổi: Thỉnh thoảng trải qua kỳ nghỉ dài sau áp lực công việc;
50 – 60 tuổi: Tận hưởng cuộc sống, du lịch;
60 – 70 tuổi: Bắt dầu viết hồi ký, du lịch;
70 – 80 tuổi: An hưởng tuổi già;
Sau khi mất: Thông thường được đưa vào nghĩa trang công cộng.
Một đời của đại đa số người châu Âu
https://baomai.blogspot.com/
0 – 10 tuổi: Tham gia đội nhạc trong trường, học tập âm nhạc cổ điển;
10 – 20 tuổi: Tổ chức nhóm nhạc của mình, tiến hành thưởng thức các loại âm nhạc;
20 – 30 tuổi: Chịu nhận ảnh hưởng của văn hóa nghệ thuật Gothic;
(Nghệ thuật Gothic là một phong trào nghệ thuật phát triển theo nghệ thuật Rôman ở Pháp vào thế kỷ 12, sau đó đã nhanh chóng lan rộng ra khắp Tây Âu, gần như toàn bộ phía bắc dãy núi Alpe)
30 – 40 tuổi: Đội nhạc bắt đầu chính thức đi vào tuyến đường “màu kim loại đen”;
40 – 50 tuổi: Nhớ lại sự hồn nhiên của tuổi thơ, bắt đầu trở về cuộc sống “tràn đầy màu sắc”;
50 – 60 tuổi: An định lại, tìm kiếm tình cảm ấm áp, sống cuộc sống bình yên;
60 – 70 tuổi: Đến giáo đường tổng kết một đời của mình;
70 – 80 tuổi: An hưởng tuổi già cùng con cái;
Sau khi chết: Yên tâm nằm ở trên một miếng đất thuộc về mình.
Một đời của đại đa số người Trung Cộng hay Việt Nam cũng vậy
https://baomai.blogspot.com/
0 – 10 tuổi: Bị ép phải học tập các loại kỹ năng, không ngừng kiểm tra cấp bậc, đa số đều là bởi sĩ diện và mong đợi của bố mẹ;
10 – 20 tuổi: Gặm nhấm cả một núi sách, ứng phó các loại kỳ thi dồn dập kéo đến như sóng biển.
20 – 30 tuổi: Nộp sơ yếu lý lịch khắp nơi, lo lắng bản thân không tìm được công việc;
30 – 40 tuổi: Trở thành nô lệ của nhà cửa, xe cộ;
40 – 50 tuổi: Bận tâm lo lắng cho tương lai của con cái, nhịn ăn nhịn mặc, cố gắng dự trữ tiền bạc;
50 – 60 tuổi: Cuối cùng đã có được cuộc sống của mình, lại phát hiện đã sắp phải nghỉ hưu, lại bắt đầu lo lắng sau khi nghỉ hưu phải làm gì;
60 – 70 tuổi: Bỏ ra phần lớn sức lực để dưỡng sinh, lại phát hiện còn phải trông nom cháu;
70 – 80 tuổi: Cuối cùng an định lại để hưởng ngày tháng cuối đời;
Trước lúc chết: Phát hiện thì ra một một miếng đất ở khu nghĩa trang lại có giá ‘cắt cổ’
https://baomai.blogspot.com/
Người ta vẫn thường nói rằng, đời người trôi qua nhanh như bóng câu qua cửa sổ. Vậy trong những năm tháng của đời mình, bạn đã có lúc nào để tâm mình lắng lại và cảm thấy bình yên hạnh phúc bên gia đình mình; hay phải luôn bôn ba bận rộn chấp nhận làm nô lệ cho vô vàn những thứ khác!
Giữa tiền và gia đình, điều gì thực sự quan trọng hơn, trên những ngã rẽ ấy bạn đã chọn lựa đúng đắn chưa?
Cuối cùng, hành trình của một đời người là trôi qua như vậy, bạn muốn sống như một người Mỹ, Âu châu, hay là một người Trung Cộng như đã kể ở trên? Đều là do bạn quyết định vậy!
ST ONLINE
https://baomai.blogspot.com/
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Buồn cho cái Tuổi Già

– Không mua nhà lớn để con cháu thỉnh thoảng đến thăm có nơi ở, hãy xài tiền đó đi.  Cứ để chúng thuê khách sạn vì đó là lý do người ta  xây khách sạn ( …that is what hotel for ).

– Nên ở gần con để tiện thăm viếng, nhưng không quá gần để chúng đem con đến gởi hằng ngày.  Nên nhớ là bạn đã làm xong bổn phận của mình ( … you have paid your due ).
SỰ THẬT: Cha mẹ và con cái.
Lạc quan hay bi quan ? Hay cần phải có cái nhìn triết lý ?
Bài nên đọc để hiểu rằng mình chỉ nên lo cho con cái xong bổn phận rồi  thì đừng bao giờ trông cậy ở chúng điều gì. Mình hãy sẵn sàng khi già không còn làm việc nổi thì vào nursing home như vậy thì mình sẽ bớt  khổ.  Đời sống này ai cũng giống như vậy mà thôi! Mình cũng còn có phúc hơn rất nhiều người là bên này mình được hưởng trợ cấp dù có làm việc hay không cũng được và có cả housing nữa vậy thì chả nên bi quan mà nên chấp nhận những gì cuộc đời đã dành sẵn cho mình rồi!..  Không chừng tới khi già lại cùng các bạn đồng tuổi vào ở chung một nursing home thì lại còn vui nữa đấy!
Mời quí vị đọc và nhớ để đời  hai thân già bớt khổ…..!!!!!
Quí vị thấy những cặp vợ chồng có 9,10 người con ,dù là kỹ sư, bác sĩ,họ vẫn khổ vì con cái bạc bẽo!!! Nói chi quí vị chỉ có 4 hay 5 con!
Chính bản thân tôi đã gặp  nhiều cha mẹ khổ vì sự bạc bẽo của con cái ở xứ Mỹ này! Con họ là những người có học, giầu có, nhưng họ vẫn phải đi ” share” phòng hay “get line ” sau lưng tôi để xin nhà ” low  income “…    Bài đọc sau rất chính xác và thiết thực. Xin quí vị đọc và nhớ dùm tôi cho đời mình bớt khổ vì chính những đứa con mà mình đã suốt đời hy sinh cho chúng nên nguời. Tôi đã đọc được 1 bài rất hay: Nếu lỡ sanh con thì: vui với con khi chúng còn nhỏ. Lo cho chúng hoc hành nên người, và khi chúng trưởng thành, có gia đình rồi thì quên chúng đi để sống. Và đây là điều quan trong: Đừng trông mong chúng báo hiếu, kẻo thất vọng nặng nề…!!!!??? ( sách nói nhé ). Chính vì biết rõ điều này nên bản thân tôi, đã 73 xuân xanh, ngày ngày đi phòng ” gym ” 3 tiếng để  tập thể dục, bơi lội…vì bà xã đã bịnh rồi, tôi bịnh nữa là chỉ còn nước dắt nhau vào ” nursing  home ” thôi???
Thân chào và chúc quí vị nhiều sức khỏe .
Một bài rất hay, hãy ráng đọc cho hết, đừng đọc nửa chừng rồi cho qua !!!
 
https://baomai.blogspot.com/
Trong truyện cổ, người ta có kể chuyện một ông phú hộ và bốn người con trai. Khi bốn người con này lớn lên lập gia đình, ông phú hộ này đem một phần gia tài chia cho bốn người con, phần còn lại vợ chồng ông giữ để dưỡng già. Mấy năm sau khi vợ ông qua đời, mấy người con sợ rằng ông sẽ tìm vợ mới, lúc có con, gia tài này phải chia cho những đứa con khác. Chúng bàn với nhau thuyết phục cha, về ở với mình, săn sóc cha thật chu đáo, sung sướng để ông không cảm thấy cô đơn, khỏi cần phải tục huyền. Ðược ít lâu, chúng thuyết phục ông phú hộ chia hết tài sản  cho chúng. Bùi tai và thấy không cần giữ riêng cho mình một tài khoản nào, ông đồng ý đem gia tài chia hết cho bốn đứa con.
Sau đó ông đến ở với đứa con thứ nhất, nhưng đứa con này nghe vợ, chỉ được ít hôm, bảo ông đến ở nhà đứa em kế. Cứ như thế, không ở được với đứa con nào. Không một đồng xu dính túi, người cha bị bỏ rơi, phải đi khất thực từng nhà. Bấy giờ cây gậy cũng còn có ích hơn là những đứa con. Cây gậy đó có thể giúp ông già xua đuổi những con chó, dò dẫm trên đường, tránh những vũng nước và giúp ông những lúc yếu chân sắp ngã.
 
https://baomai.blogspot.com/
Câu chuyện này sao giống câu chuyện của một bà mẹ ở Quận Cam. Sau Tháng Tư 1975, hai vợ chồng đem một đàn con vượt biển sang Mỹ. Trong nhiều năm, ông bà vừa nuôi con khôn lớn, ăn học thành tài, dựng vợ gả chồng cho con, vừa tậu được một căn nhà khang trang trong vùng Bolsa. Sau khi người chồng qua đời ít lâu, bà vợ được con cái thuyết phục nên bán ngôi nhà đi, chia đều cho các con rồi về ở với con cháu cho đỡ cô đơn. Bà nghe theo, và cũng lần lượt ở với nhiều đứa con, chịu cảnh bạc đãi và cuối cùng bà quyết định phải rời khỏi nhà những đứa con ấy. May thay, trên đất Mỹ, bà già cô đơn này còn có chỗ nương tựa, đó là một món trợ cấp nhỏ và ngôi nhà “housing ” mà chính phủ đã đành cho bà. Nếu  ở một xứ sở khác, chắc bà cũng cần đến một cây gậy.
 
Những đứa con mua nhà mới có thể đã không tính đến một chỗ cho cha mẹ già khi xế bóng, nhưng tôi biết nhiều bậc cha mẹ khi luống tuổi, con cái lập gia đình đi xa cả rồi, mà vẫn giữ cái nhà cũ nhiều phòng, với ý nghĩ dành cho con lúc trở về thăm viếng. Tôi có một người bạn được con trai bảo lãnh sang Mỹ, nhưng chỉ ít lâu sau cô con dâu muốn chồng bán căn nhà đang ở và đi mua lại một cái nhà nhỏ hơn, lấy lý do để tiết kiệm cũng là lý do để cha mẹ chồng phải dọn ra.
https://baomai.blogspot.com/
Cha mẹ đối với con lúc nào cũng hết lòng. Mẹ có thể lăn vào lửa để cứu con, cha có thể đổ mồ hôi nhọc nhằn để đứa con có được một nụ cười hạnh phúc, nhưng những đứa con, khi đã có gia đình riêng của mình, không giữ được sự chăm sóc, lo lắng cho đời sống của cha mẹ. Người mẹ nào cũng mỗi đêm kéo chăn đắp cho con, sờ trán con, hạnh phúc theo từng nụ cười của con, nhưng bây giờ con ở xa, thời giờ dùng để gọi về thăm mẹ đôi khi cũng hiếm hoi.
Ông Chu Dung Cơ nói về mối liên hệ giữa cha mẹ già và con cái:
“ Cha mẹ thương con là vô hạn, con thương cha mẹ là có hạn. Con bệnh cha mẹ buồn lo. Cha mẹ bệnh con đến nhòm một cái, hỏi vài câu thấy là đủ.
Con tiêu tiền của cha mẹ thoải mái, cha mẹ tiêu tiền của con chẳng dễ chút nào.
Nhà của cha mẹ là của con. Nhà của con không phải là nhà cha mẹ. Ốm đau trông cậy vào ai? Nếu ốm đau dai dẳng có đứa con hiếu nào ở bên giường đâu ( cứu bệnh sàng tiền vô hiếu tử )”.
Và lời khuyên đối với các bậc cha mẹ là: “ Khác nhau là như vậy! Người hiểu đời coi việc lo cho con là nghĩa vụ, là niềm vui không mong báo đáp. Chờ báo đáp là tự làm khổ mình. ”
https://baomai.blogspot.com/
Cũng có nhiều con cái nuôi cha mẹ. Luận Ngữ chép, Tử Du hỏi về đạo hiếu. Khổng Tử đáp:
“ Ngày nay người ta cho nuôi cha mẹ là hiếu, nhưng đến chó ngựa kia, người ta cũng nuôi, nếu nuôi mà không kính hiếu cha mẹ thì có khác chi! ”.  Người già không khác những đứa trẻ, nhiều khi hay tủi thân, hờn dỗi và dễ phiền muộn, con cái có thể cho cha mẹ ăn  uống, hầu hạ cha mẹ khuya sớm nhưng rất khó biết đến nỗi buồn của cha mẹ lúc về già.
 
Người thợ hớt tóc cho tôi biết về con cái của ông, cả hai đứa con đều có nhà riêng, cùng ở trong quận Cam, nhưng không mấy khi chúng điện thoại hỏi thăm ông. Tháng trước, ông bệnh, nằm nhà một tuần lễ mà cũng chẳng đứa con nào ghé qua thăm.. Ông nói thêm: “ Chỉ trừ lúc nào chúng cần nhờ đến ông việc gì đó ”, và buồn bã kết luận: “Ở Mỹ này, có chín  đứa con, cha mẹ già bệnh cũng phải vào nursing home thôi! ”
https://baomai.blogspot.com/
Tuy vậy, nursing home ở Âu Mỹ,  mang tiếng là văn minh, hiện đại nhưng liệu rằng đây có phải là nơi yên ổn cho những ngày cuối cùng của tuổi già không? Tại các viện dưỡng lão trên đất Mỹ mỗi năm có hàng chục nghìn trường hợp khiếu nại vì cách đối xử của nhân viên như bỏ bê, đánh đập, đại tiểu tiện, ói mửa mà không dọn dẹp, không cho uống nước, tệ hại nhất là đối với những bệnh nhân Alzheimer. Năm ngoái, phúc trình của Bộ Y Tế Minnesota cho ta thấy chỉ trong vòng 5 tháng đã có 15 trường hợp bệnh nhân mất trí nhớ bị hành hạ, trong đó có những vụ như bị chọc ghẹo liên tục, bị nhổ nước bọt vào miệng. Phải chăng nhà dưỡng lão, chặng cuối đời của người già là chốn địa ngục có thật trên trần gian như thế!
Vậy thì con cái có hiếu tâm, xin cầu nguyện cho các đấng sinh thành sớm ra đi trước khi họ trở thành những người mất trí lú lẫn, nằm suốt ngày một chỗ, tiêu tiểu không kiểm soát được.
Thấy cha mẹ lớn tuổi mà còn minh mẫn, mạnh khỏe nên mừng, mà thấy cha mẹ ra đi nhẹ nhàng, trước khi phải chịu những cảnh đau lòng của tuổi già lại càng mừng hơn.
Tuy vậy, rất nhiều gia đình người Việt trên xứ người có được niềm an ủi là họ có những đứa con Việt Nam, nhất là những đứa con của một gia đình nghèo khó, lớn lên trong chiến tranh và thông cảm được nỗi thiệt thòi bất hạnh của cha mẹ.
PHAN NGUYÊN LUÂN
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

CHIẾC XE ĐẠP VÀ NGƯỜI ĐẠP XE ĐẦU TIÊN TẠI VIỆT NAM

Bức tranh được họa vào những năm 1895 -1897 cho thấy Hoàng đế An Nam, tức vua Thành Thái bấy giờ (1887- 1907) là người Việt Nam đầu tiên sở hữu xe đạp.

 Xe Đạp ra đời từ giữa thế kỷ 19 nhưng chiếc xe đạp có hai bánh bằng có đường kính bằng nhau như ta thấy hiện nay mới chính thức ra đời ở Pháp vào năm 1885.
Sự kiện trên được báo L’Illustration đương thời đã đăng bài kèm theo bức họa..
Vua Thành Thái sử dụng xe đạp chỉ để đi dạo trong hoàng thành trong lúc rãnh rỗi.
Quan sát xe đạp lúc nầy chưa có “gạc đờ bu” (chắn bùn), xe không sử dụng xích kéo mà dùng hai cây ” lắp” để truyền lực. Đèn xe lúc ấy chưa có dynamo và dường như được thắp sáng bằng dầu …mù u !
                            Theo Blogger  Ngô Bá Dũng
Tuy vậy, vua Thành Thái không phải người Việt đầu tiên …đi xe đạp
Ai là người Việt Nam đi xe đạp đầu tiên? Cái này chưa ai biết chính xác!

tấm hình xưa nhứt chụp vua Thành Thái đi xe đạp lóng chừng 1900 tới 1907  Tấm hình xưa nhứt chụp vua Thành Thái đi xe đạp

Thành Thái không phải là người đi xe đạp đầu tiên, vì lúc đó ông ở Huế, mà chiếc xe đạp đầu tiên là nhập vô  Sài Gòn  và dân Sài Gòn đạp xe đạp đầu tiên.

Nam Kỳ đạp xe

Chiếc xe mà Pháp kêu là Bicyclette, Anh kêu là Bicycle,Tàu kêuTư hành xa. Dân  Nam Kỳ  hay lấy hành động đặt tên: thấy ngồi đạp bằng hai cái chân nên đặt là “xe đạp”..
Những bộ phận của chiếc xe đạp được dân Nam Kỳ Vệt hóa hết. Đàng trước có cái tay lái kêu là guy-đông (guidon), dưới chân có bàn đạp pê-đan (pedale), ngồi trên yên là selle de vélo…
Rồi có cái vỏ xe les pneumatiques bằng cao su, ruột xe les chambres a air , phía sau có cái yên để chở người kêu là pọc-ba-ga (porte-bagages). Lại có sợi dây sên -gạc-đờ-sên (garde-chaine), hai cái vè chắn bùn bánh xe kêu là gạc-đờ-bu (garde-boue), căm xe là les rayons, líp xe (roue libre), rồi thắng xe là frein (phanh)….
Xe đạp xưa nhập nguyên chiếc từ Pháp qua ,nhãn của các hãng Peugoet, Mercier, Marila, Follis, Sterling…,mỗi xe đều có một cái ống bơm tay (pompe), một cái dynamo quay điện để sáng đèn đi ban đêm.

Xe đạp sau đó ra Bắc Kỳ

Nói xe đạp phải nhắc tới ông Nguyễn An Ninh hồi những năm 1926 làm báo La Cloche fêlée (Cái chuông rè). Ông thường mặc áo trắng, đi xe đạp, tay ôm mớ nhật trình, miệng rao bán khắp Sài Gòn.
Sau khi Pháp đóng cửa tờ báo, ông đạp xe đi bán dầu cù là, vừa bán vừa tuyên truyền chánh trị.
Đô thành Sài Gòn (tên gọi Sài Gòn thời trước năm 1975) mỗi sáng sớm có nhiều công chức đi làm bằng xe đạp, học trò đạp tới trường, tà áo dài trắng và chiếc xe đạp thành biểu tượng của học trò thời bấy giờ.
Xin đọc lại một đoạn văn của ông Hồ Biểu Chánh tả đô thành Sài Gòn hồi năm 1954 trong “Bức thơ hối hận”:
“ Buổi sớm mai, trong thủ đô Sài Gòn, cũng như trong vùng ngoại ô Bà Chiểu Ngã Năm, sự hoạt động của dân cư tạo thành một quang cảnh náo nhiệt cực điểm.
(source Nguyễn Gia Việt’s FB)
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Về một tâm hồn Việt

—————————— —————-
Image may contain: 1 person, outdoor
Nhà thơ nhà văn Trần Mộng Tú (Ảnh:Uyên Nguyên)
 
Nếu quý vị mở cuốn sách giáo khoa dạy văn chương “Glencoe Literature” do nhà xuất bản McGraw Hill ấn hành, quý vị sẽ thấy một bài thơ của một thi sĩ Việt Nam dịch sang tiếng Anh đi song song với bài diễn văn nổi tiếng của Tổng Thống Abraham Lincoln trong thời Nội chiến Mỹ, tại bãi chiến trường Gettysburg. Đó là bài thơ của Trần Mộng Tú, The Gift in Wartime, nhan đề tiếng Việt là “Quà Tặng Trong Chiến Tranh.”
 
Hai tác phẩm trên được đem ra để dạy học sinh môn văn chương Hoa Kỳ. Trong phần thứ ba của cuốn sách giáo khoa, viết về văn chương thời kỳ nội chiến Nam Bắc ở Mỹ và sau cuộc nội chiến, các nhà soạn sách giáo khoa của công ty Glencoe – McGraw Hill, rất thông dụng trong các trường trung học ở Mỹ đã có sáng kiến đem bài thơ Trần Mộng Tú, qua bản dịch Anh ngữ cho học sinh nghiên cứu song song với bài diễn văn trầm hùng của Abraham Lincoln, so sánh cách dùng chữ, cách chọn hình ảnh, những ý tưởng trong mỗi bài của hai tác giả. Đây là một kinh nghiệm văn chương quý báu mà các học sinh Mỹ được hưởng khi tiếp xúc với một thi sĩ ngoại quốc để thấy hậu quả của chiến tranh trên tâm hồn một phụ nữ Việt Nam cũng mang những tính chất nhân bản và sâu sắc không khác gì vị Tổng Thống mà tất cả mọi người Mỹ đều quen thuộc. Có lẽ sau này học sinh Việt Nam khi học về văn chương thời nội chiến Nam Bắc ở thế kỷ 20 cũng sẽ có cơ hội nghiên cứu bài thơ của Trần Mộng Tú.

Bài thơ “Quà Tặng Trong Chiến Tranh” được viết ở Việt Nam, khi thi sĩ còn rất trẻ, từ những xúc động trước cái chết của một chiến sĩ quân lực Việt Nam Cộng Hòa, người yêu đầu của cô, sau đó đã được đăng trên các tạp chí khắp nơi ở hải ngoại.
 
Bài diễn văn do Tổng Thống Lincoln đọc ngày 19 tháng 11 năm 1863 trong dịp khánh thành một nghĩa trang cho các tử sĩ tại chiến trường Gettysburg, tiểu bang Pennsylvania. Trước ông, một chính trị gia và nhà hùng biện nổi tiếng đã nói suốt 2 giờ; đến lượt Lincoln ông chỉ nói trong vòng 2 phút. Sau buổi lễ, các nhà báo tường thuật không ai nhắc đến những lời Lincoln nói, nhưng dần dần dân tộc Mỹ đã nhận ra đó là một tác phẩm văn chương bất hủ, xuất phát từ tấm lòng của một nhà lãnh đạo vốn rất ghét chiến tranh nhưng phải dẫn đầu nước Mỹ trong một cuộc chiến bất đắc dĩ và đã thành công trong việc bảo vệ một quốc gia thống nhất với những lý tưởng tự do, bình đẳng. Câu nói được cả thế giới ngày nay nhắc lại nhiều lần kết thúc bài diễn văn ca ngợi các chiến sĩ đã hy sinh để một “chính phủ của dân, do dân, và vì dân sẽ không bị hủy diệt trên trái đất.”
 
Cuốn sách giáo khoa tiếp theo đã giới thiệu thi sĩ Trần Mộng Tú, sinh ở tỉnh Hà Đông,Việt Nam, người phụ nữ có kinh nghiệm chính mình sống với những hậu quả của cuộc chiến tranh trong đó hai triệu người Việt Nam thiệt mạng cũng như 57,000 người Mỹ. Sau khi đọc bài thơ Trần Mộng Tú, học sinh được hướng dẫn với những câu hỏi để khám phá những cảm xúc mà tác giả gợi cho người đọc cũng như tìm hiểu nội dung bài thơ. 
Cuốn sách giáo khoa cũng gợi ý cho học sinh tìm hiểu về kỹ thuật, học sinh tự hỏi tại sao thi sĩ đã dùng các điệp ngữ và nhắc lại các hình ảnh để gây ấn tượng nợi người đọc. Sau đó, các học sinh được mời so sánh hai áng văn chương cùng viết trong thời nội chiến ở hai quốc gia, hai thế kỷ khác nhau. Abraham Lincoln đọc bài diễn văn của ông trước một đám đông, và ông nhắm vào công chúng. Còn Trần Mộng Tú viết một mình, cho mình. Nhưng học sinh có thể tìm thấy những mục đích và cảm xúc giống nhau trong hai tác phẩm ngắn này. Học sinh cũng được dịp tìm hiểu khai phá sự khác biệt giữa hai nền văn hóa của hai tác giả, và thử hỏi một người Mỹ thời nay nếu viết về chiến tranh thì sẽ viết giống tác phẩm nào.
 
Để quý vị thông cảm với tác giả Trần Mộng Tú, chúng tôi xin đăng lại nguyên văn 2 bài thơ của thi sĩ bằng tiếng Việt dưới đây. Bài Quà Tặng Trong Chiến Tranh (Trong American Literature textbook) và bài Giấc Mơ Hòa Bình (Trong Vision of War, Dream of Peace)
Quà Tặng Trong Chiến Tranh
 
Em tặng anh hoa hồng
Chôn trong lòng huyệt mới
Em tặng anh áo cưới
Phủ trên nấm mồ xanh
Anh tặng em bội tinh
Kèm với ngôi sao bạc
Chiếc hoa mai màu vàng
Chưa đeo còn sáng bóng
Em tặng anh tuổi ngọc
Của những ngày yêu nhau
Đã chết ngay từ lúc
Em nhận được tin sầu
Anh tặng em mùi máu
Trên áo trận sa trường
Máu anh và máu địch
Xin em cùng xót thương
Em tặng anh mây vương
Mắt em ngày tháng hạ
Em tặng anh đông giá
Giữa tuổi xuân cuộc đời
Anh tặng môi không cười
Anh tặng tay không nắm
Anh tặng mắt không nhìn
Một hình hài bất động
Anh muôn vàn tạ lỗi
Xin hẹn em kiếp sau
Mảnh đạn này em giữ
Làm di vật tìm nhau.
Tháng 7/ 1969
 
 
Giấc Mơ Hòa Bình
 
 
Em nghe nói hòa bình
Trên những tờ nhật báo
Em nghe nói hòa bình
Trên miệng người lãnh đạo
Em để lòng khờ khạo
Ôm giấc mơ hòa bình
Mong chiến tranh chấm dứt
Anh giã từ đao binh
Tin về từ trận tuyến
Anh chết giữa chiến trường
Ôi giấc mơ khờ khạo
Chỉ còn là đau thương
Từ khi em ra đời
Từ khi có trí khôn
Em thấy toàn chém giết
Em thấy toàn máu xương
Từ khi em biết nghe
Từ khi em biết nói
Toàn những lời giả dối
Toàn những lời hứa suông
Từ khi em biết yêu
Từ khi em biết nhớ
Anh đã dặn đợi chờ
Rồi anh không về nữa
Ôi giấc mơ khờ khạo
Ôi giấc mơ hòa bình
Xây giữa lòng tham bạo
Chết trước khi thành hình
Ôi lòng non bé nhỏ
Như giấy trắng thơm tho
Vết mực đen loang lổ
Làm hoen ố hồn thơ
Em đã biết giận thù
Biết cuộc đời dối trá
Trang nhất nói hòa bình
Trang tư toàn cáo phó
Em không còn bồng bột
Tin những lời đầu môi
Em bắt đầu tỉnh ngộ
Thì đã mất anh rồi
Ôi giấc mơ hòa bình
Anh trả bằng sự sống
Em trả bằng tủi hờn
Bằng một đời đơn độc
Tháng 7/1969
Cao La ( sưu tầm )
 
 
 
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin