Category Archives: Góp Nhặt Trăm Hoa

BÀI HỌC CỦA SỰ THA THỨ

Tha thứ là một trong những bước quan trọng và khó khăn nhất để quên đi những điều không hay đã xảy ra. Nó giải thoát ta khỏi những u uất trong lòng, giúp ta thoát khỏi cảm giác trống trải và sợ hãi.
Nếu bạn là một người thông minh, bạn sẽ nhận ra rằng khi tha thứ, người được lợi trước tiên và nhiều nhất chính là mình. Chúng ta tha thứ không phải để xóa bỏ sai lầm mà là để giải thoát bản thân khỏi những cảm xúc tiêu cực đang bủa vây tâm trí. Dù thật khó khăn nhưng nó vẫn ít đau đớn hơn là để nỗi đau đè nặng lên trái tim. Chúng ta tha thứ vì nếu không làm thế, chúng ta sẽ gây tổn thương chính mình. Chúng ta tha thứ bởi suy cho cùng, đó là hành động khôn ngoan nhất mà ta có thể làm cho bản thân. Và cuối cùng, chúng ta tha thứ vì điều đó sẽ đem lại trong ta sự thanh thản.

Để thực sự tha thứ, chúng ta cần trải qua hai bước hay nói đúng hơn là hai giai đoạn vô cùng khó khăn. Trong giai đoạn thứ nhất, ta phải hiểu và chấp nhận rằng chúng ta nên tha thứ, rằng cuộc sống không phải lúc nào cũng diễn ra như ta mong đợi. Giai đoạn này đòi hỏi chúng ta phải vượt qua những bất ổn mà mình muốn từ bỏ. Giai đoạn thứ hai, quan trọng hơn, nằm ở nhận thức của chúng ta về việc khi nào ta nên bỏ qua quá khứ và tiến về phía trước. Nhận thức này đánh dầu sự trưởng thành thực sự ở mỗi người. Để làm được điều đó, trước tiên ta phải bỏ qua những vọng tưởng và ước mơ viễn vông. Có như thế, chúng ta mới có thể đưa ra những quyết định và việc làm đúng đắn. Điều này đòi hỏi chúng ta phải thực sự thấu hiểu mọi thương tổn trong lòng và chấp nhận rằng quá khứ là quá khứ, chúng ta không thể là gì để thay đổi chúng.

Ta chỉ có thể tha thứ và bỏ qua khi đã hoàn toàn phục hồi trước nhưng thương tổn trong quá khứ, đồng thời hiểu được rằng tha thứ cho người khác không đi đôi với việc ta phải thỏa hiệp ha miễn cưỡng bản thân.

” Khi tha thứ, ta sẽ nhận về sự thanh thản”. Đó là điều mà hầu như ai cũng biết nhưng không phải lúc nào cũng làm được. Trước kia, tôi luôn cho rằng tha thứ là một đặc ân quá hào phóng mà những người từng gây tổn thương cho tôi không đáng được nhận.

” Tại sao tôi phải tha thứ cho họ? Tại sao tôi phải cho họ quyền thanh thản sau những gì họ gây ra cho tôi?”. Nhưng thời gian đã giúp tôi hiểu rằng. Khi sẵn sàng bỏ qua mọi chuyện không hay, tôi sẽ rũ bỏ gánh nặng của sự bi hận đang nặng trĩu tâm trí mình.

Người ta không thể tha thứ cho người khác trong một sớm một chiều; cũng không thể tha thứ chỉ bởi vì đó là một việc nên làm. Tha thứ cũng không có nghĩa là ta phải miễn cưỡng gần gũi những người mà ta cần giữ khoảng cách, hoặc quay về quá khứ để sửa đổi lỗi lầm. Đơn giản, tha thứ là sẵn sàng sống với thực tại mà không đay nghiến hay phán xét những sai lầm đã qua. Trước khi tha thứ, hãy dành thời gian để cảm nhận và thấu hiểu cặn kẽ tất cả những khúc mắt trong lòng và để tâm hồn tự tháo bỏ những rào cản đó. Khi thực tâm tha thứ cho người khác, tâm hồn ta sẽ được giải phóng, trí óc ta sẽ không còn vướng bận nỗi đau quá khứ. Tất cả sẽ được bỏ lại sau lưng.

Chúc bạn…

Đủ hạnh phúc để trở nên ngọt ngào,

Đủ thử thách để trở nên mạnh mẽ,

Đủ nỗi đau để giữ bạn là con người,

Đủ hy vọng để bạn hạnh phúc,

Đủ thất bại để bạn khiêm tốn,

Đủ thành công để bạn khao khát,

Đủ bạn bè để mang lại cho bạn nguồn an ủi,

Đủ giàu có để đáp ứng những nhu cầu của bản thân,

Đủ háo hức để mong chờ,

Đủ niềm tin để xua đi muộn phiền,

Đủ quyết đoán để làm mỗi ngày trở nên tốt hơn hôm qua.

Sự tha thứ chính là món quà cuộc sống mang lại cho bạn!

Bạn hãy nhận thêm nhiều món quà và tặng người khác nhiều hơn nữa để thấy giá trị cuộc sống nhé!

Sưu tầm

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 3

Các nhà khoa học của đạo Hồi

Trong hai bài biên khảo về đạo Hồi lần trước, tác giả Phạm Văn Tuấn đã cho chúng ta biết rõ thêm về Hồi Giáo, một trong ba tôn giáo lớn có cùng nguồn gốc và cùng phát xuất từ vùng xa mạc của Trung Đông là Do Thái Giáo, Thiên Chúa Giáo và Hồi Giáo.
Vào thời cực thịnh của đạo Hồi, kéo dài từ thế kỷ thứ 9 cho tới thế kỷ 14, đạo Hồi đã có các nhà vật lý học, hóa học, toán học, thiên văn học, địa dư học… họ không những làm sống lại nền Khoa Học của xứ Hy Lạp mà còn nới rộng, đào sâu, xây dựng nền móng của nhiều bộ môn kiến thức ngày nay.
Nền văn minh và văn hóa của đạo Hồi đã suy tàn do cuộc xâm lăng của quân Mông Cổ đánh chiếm thành Baghdad vào năm 1258, và do các nhân vật Hồi giáo chính thống (orthodox Muslims) trong các thế kỷ về sau đã dùng quyền lực và uy tín để chống lại các cải cách và tiến bộ.
Đặc San Lâm Viên mời quý vị đọc bài biên khảo của tác giả Phạm Văn Tuấn về “Các Nhà Khoa Học Của Đạo Hồi” để biết thêm về khía cạnh khoa học rất đặc sắc của tôn giáo này.
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 10

10 đại cao thủ trong tiểu thuyết Kim Dung

Với 15 bộ tiểu thuyết, Kim Dung ghi dấu trong lòng bạn đọc nhiều thập niên khi xây dựng một thế giới võ hiệp đa sắc màu. Nhìn chung, các bậc đại cao thủ trong truyện Kim Dung phân chia thành hai phe: chính hoặc tà. Với chính phái, đó là những đại hiệp xả thân vì dân, cứu vớt kẻ yếu, còn tà phái là những nhân vật mưu mô, thâm hiểm với trí tuệ trác tuyệt. Ngoài ra, một số cao thủ có danh phận khiêm tốn hoặc chỉ được hồi tưởng qua ký ức của những nhân vật khác.

Vô danh thần tăng – Thiên long bát bộ

Nhà sư quét lá (Tảo địa thần tăng) trong Thiên long bát bộ (1963) là một trong những nhân vật được đề cập nhiều ở các cuộc bàn luận đi tìm đệ nhất cao thủ của truyện Kim Dung. Trong truyện, ông được miêu tả là nhà sư quét dọn Tàng Kinh Các của Thiếu Lâm Tự. Ông xuất hiện trong bộ áo cà sa sờn cũ nhằm hòa giải ân oán giữa Tiêu Viễn Sơn – cha của Tiêu Phong – và Mộ Dung Bác – cha của Mộ Dung Phục.

Nhà sư vô danh (trái) trong phim Thiên long bát bộ năm 2003.
Nhà sư vô danh (trái) trong phim ‘Thiên long bát bộ’ năm 2003.

Võ công của Vô danh thần tăng được miêu tả: một tay đỡ đòn Hàng Long Thập Bát Chưởng của Tiêu Phong, hai tay đánh gục Tiêu Viễn Sơn và Mộ Dung Bác. Không chỉ đạt cảnh giới võ học tối cao, nhà sư này còn am tường Phật pháp, y lý, khiến các cao tăng đại đức trong chùa cũng phải nghiêng mình kính phục.

Độc Cô Cầu Bại – Thần điêu hiệp lữ

Độc Cô Cầu Bại không hiện diện trực tiếp trong tiểu thuyết mà chỉ được hồi tưởng qua lời kể của các hậu bối. Ông được đề cập trong hai bộ tiểu thuyết Thần điêu hiệp lữ, Tiếu ngạo giang hồ và được nhắc đến ngắn gọn trong bộ Lộc đỉnh ký. Danh xưng Độc Cô Cầu Bại hàm ý về một cao thủ cô độc vì đã đạt đến trình độ đệ nhất, chỉ mong được một lần bại trận trong đời. Cuối đời, ông chết trong buồn bã ở một sơn cốc, sau khi chôn các thanh kiếm tại kiếm mộ cùng các chú giải về triết lý dùng kiếm.

Môn kiếm thuật đắc ý của ông là Độc Cô cửu kiếm cùng triết lý võ công “vô chiêu thắng hữu chiêu”. Các nhân vật có thể coi là truyền nhân của Độc cô cầu bại là Dương Quá (Thần điêu hiệp lữ), Phong Thanh Dương và Lệnh Hồ Xung (Tiếu ngạo giang hồ).

Đông Phương Bất Bại – Tiếu ngạo giang hồ

Là nhân vật phản diện số một trong tiểu thuyết Tiếu ngạo giang hồ, Đông Phương Bất Bại là giáo chủ của Nhật Nguyệt thần giáo – môn giáo bị xem là tà phái. Nhân vật này nổi tiếng với Quỳ Hoa bảo điển – võ học có cùng nguồn gốc với Tịch tà kiếm pháp. Trong truyện, Đông Phương Bất Bại được miêu tả là đệ nhất cao thủ. Một mình Đông Phương Bất Bại đánh bại ba cao thủ Lệnh Hồ Xung, Nhậm Ngã Hành, Hướng Vấn Thiên. Sau đó, vì bảo vệ người tình, nhân vật này chết dưới tay Nhậm Ngã Hành. Trên màn ảnh, Đông Phương Bất Bại là vai kinh điển do Lâm Thanh Hà đóng trong phim Tiếu ngạo giang hồ năm 1992.

Lý Liên Kiệt - Lâm Thanh Hà trong "Tiếu ngạo giang hồ" bản điện ảnh

Lý Liên Kiệt – Lâm Thanh Hà trong “Tiếu ngạo giang hồ” bản điện ảnh.

Trương Tam Phong – Ỷ thiên Đồ long ký

Trương Tam Phong là một trong những nhân vật có thật trong lịch sử Trung Hoa, được Kim Dung đưa vào sách. Ông tên thật là Trương Quân Bảo, lần đầu xuất hiện trong truyện Thần điêu hiệp lữ. Ông được sư phụ – Giác Viễn đại sư – truyền dạy một phần của Cửu Dương chân kinh. Cộng thêm với trí tuệ trác tuyệt, ông lập nên phái Võ Đang.

Cụ ông 82 tuổi đóng Trương Tam Phong trong Ỷ thiên Đồ long ký 2018.
Cụ ông 82 tuổi đóng Trương Tam Phong trong “Ỷ thiên Đồ long ký 2018”.

Trong truyện Ỷ thiên Đồ long ký, Kim Dung miêu tả ông là bậc tôn sư võ học ngoài 100 tuổi, nội công đã đạt đến “lô hỏa thuần thanh” (lửa trong lò đã hóa màu xanh, ngụ ý chỉ cảnh giới tối cao). Những năm cuối đời, ông sáng tạo ra môn Thái cực quyền và Thái cực kiếm. Nguyên lý của môn này lấy tĩnh chế động, lấy nhu khắc cương, tương phản với võ học đương thời.

Vương Trùng Dương – Anh hùng xạ điêu

Vương Trùng Dương xuất hiện lần đầu trong bộ Anh hùng xạ điêu, được miêu tả là người sáng lập phái Toàn Chân, từng nắm giữ Cửu Âm chân kinh – võ học cao nhất thời bấy giờ. Trong lần luận kiếm thứ nhất ở Hoa Sơn, ông đứng đầu trong “võ lâm ngũ bá” với ngoại hiệu Trung Thần Thông. Bốn cao thủ – Đông Tà, Tây Độc, Nam Đế, Bắc Cái – đều khuất phục trước ông. Ở bộ Thần điêu hiệp lữ, nhân vật này tiếp tục được nhắc đến ở tình tiết Dương Quá đọc được một số võ công Cửu Âm chân kinh khắc trên tường đá Cổ Mộ. Ngoài đời, ông là nhân vật có thật – một đạo sĩ sống vào thế kỷ 12, đời nhà Tống.

Tiêu Phong – Thiên long bát bộ

Tiêu Phong là một trong bộ ba nhân vật chính của Thiên long bát bộ, bên cạnh Đoàn Dự và Hư Trúc. Từng là bang chủ Cái Bang, ông nổi tiếng với Hàng Long Thập Bát Chưởng, là người rút gọn bộ chưởng pháp này từ 28 chiêu xuống còn 18 chiêu. Nhờ nền tảng nội lực thâm hậu và năng khiếu võ học, những môn nào ông thi triển đều đạt uy lực tối cao. Võ công của Tiêu Phong được miêu tả kỹ trong trận ác chiến tại Tụ Hiền Trang và chùa Thiếu Lâm.

Tiêu Phong đại chiến ở Tụ Hiền Trang phiên bản năm 2003

Tiêu Phong đại chiến ở Tụ Hiền Trang phiên bản năm 2003.

Quách Tĩnh – Anh hùng xạ điêu

Trong truyện, Quách Tĩnh vốn là chàng trai khờ khạo, nói năng vụng về. Nhờ Hoàng Dung, chàng liên tiếp được Hồng Thất Công, bang chủ Cái Bang truyền thụ Hàng Long Thập Bát Chưởng. Về sau, khi lên Đào Hoa đảo, chàng gặp Chu Bá Thông, được truyền thụ hai môn võ lợi hại là Song Thủ Hỗ Bác, bảy mươi hai lộ Không Minh Quyền và vô tình học được toàn bộ Cửu Âm chân kinh. Sang bộ Thần điêu hiệp lữ, võ công của chàng càng tiến triển, một mình chống lại binh đoàn Mông Cổ, đánh trả Kim Luân Pháp Vương – cao thủ phản diện trong truyện.

Quách Tĩnh bắn cung trong "Anh hùng xạ điêu" 2017

Quách Tĩnh bắn cung trong “Anh hùng xạ điêu” 2017.

Dương Quá – Thần điêu hiệp lữ

Là nhân vật chính của Thần điêu hiệp lữ, với tư chất thông minh, từ đầu truyện, Dương Quá nhanh chóng học được nhiều môn võ của các cao thủ như Âu Dương Phong, Hồng Thất Công, Hoàng Dược Sư… Nhờ chỉ dẫn của thần điêu, Dương Quá biết được cách luyện công của tiền bối Độc Cô Cầu Bại. Từ đó, võ công chàng tăng tiến, đạt đến cảnh giới rất cao. Trong 16 năm chờ đợi Tiểu Long Nữ, Dương Quá đã sáng tạo ra môn võ công Ám Nhiên Tiêu Hồn Chưởng, sau đó đánh bại Kim Luân Pháp Vương trong trận chiến Tương Dương. Trong cuộc Hoa Sơn luận kiếm lần thứ ba, Dương Quá được tôn là Tây Cuồng – một trong Thiên hạ ngũ tuyệt (thay thế cho danh xưng Võ lâm ngũ bá).

* “Thần điêu đại hiệp” – phim chuyển thể truyện Kim Dung

Thần điêu đại hiệp (1995)

Trương Vô Kỵ – Ỷ thiên Đồ long ký

Ở đầu truyện, Trương Vô Kỵ vốn là con trai Trương Thúy Sơn của môn pháp Võ Đang. Bị trúng độc chưởng từ nhỏ, chàng cùng Trương Tam Phong đi khắp nơi tìm phương pháp chữa trị. Bước ngoặt trong hành trình luyện võ của Trương Vô Kỵ là khi chàng vô tình tìm được Cửu Dương chân kinh – võ học trước kia Trương Tam Phong chỉ luyện được một phần. Sau đó, chàng học được Càn khôn đại na di – môn võ uy trấn của Minh giáo, võ công tiếp tục tiến triển. Vô Kỵ về sau được Trương Tam Phong truyền thụ hai môn Thái cực quyền và Thái cực kiếm, được chỉ điểm nhiều điểm bí ảo trong võ học. Cuối truyện, chàng được tôn là minh chủ võ lâm, thống lĩnh quần hùng.

Lệnh Hồ Xung – Tiếu ngạo giang hồ

Là nhân vật được yêu thích với trí thông minh, tính cách phóng khoáng, lãng tử, Lệnh Hồ Xung là bậc đại cao thủ về kiếm thuật. Chàng được thái sư thúc tổ Phong Thanh Dương truyền cho môn kiếm pháp Độc Cô cửu kiếm. Về sau, chàng mất hết võ công do trọng thương. Một lần vô tình bị giam dưới Tây Hồ, chàng học được Hấp Tinh đại pháp do Nhậm Ngã Hành ghi lại bí kíp. Từ đó, chàng chữa được chấn thương, võ công tăng vượt bậc. Sau này, Lệnh Hồ Xung còn được Phương Chứng đại sư – chưởng môn phái Thiếu Lâm – truyền cho Dịch Cân Kinh để chữa di chứng của Hấp tinh đại pháp. 

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 8

CÁI TÔI LUÔN THAY MẶT ĐỔI TÊN

Những ngày nóng bức cuối cùng cũng đi qua. Những ngọn gió đầu thu dễ chịu vô cùng. Ngoại cảnh đang từng bước chuyển mình để thích ứng với mùa thu tới. Con người cũng phải từng bước chuyển mình để thích ứng cuộc sống mới. Sự phát triển và hoại diệt của muôn loài, sự đổi thay của ngoại cảnh. Ngay cả dòng tâm thức của con người cũng từng sát na sinh diệt . Đó không phải cuộc sống luôn đổi mới, dòng đời luôn luân lưu, trôi chảy để lúc nào cũng mới mẻ, tươi mát sao?

Nhận rõ và thấu suốt sự vận hành này, dòng chảy này để biết mình là ai và cuối cùng mình đi về đâu, không phải là Thiền sao? Đây cũng chính là  tinh thần giác ngộ mà đức Thế Tôn dạy. Nếu bên trong không thấu sự vận hành của nội tâm, ngoài không rõ được tiến trình sinh diệt của ngoại cảnh, đây là con mắt tâm chưa mở. Ta vẫn còn nhắm mắt mà đi, nhắm mắt mà sống.Trong đời thường, ta chỉ biết vay mượn mọi thứ, càng nhiều càng tốt, để tô bồi cái ta khôn ngoan, cái ta thông thái, cái ta giỏi giang của mình. Có câu chuyện Thiền rất thú vị: Sau giờ tọa thiền, trời tối, một anh thiền sinh mù, mượn cây đèn lồng của vị thầy để đi đường. Đang đi, chợt anh đụng vào một người đi ngược chiều với anh. Giận quá, anh quát: ” Bộ không thấy cây đèn người ta đang cầm sao? Người kia đáp: ” Đèn của anh tắt từ lúc nào rồi anh ơi “. Từ lúc nào, tuệ giác ta đã vắng mặt, sự nội quán không có nên thường không biết rõ về mình, về sự vận hành của tâm thức, về con người mình. Ta chỉ vay mượn những kiến thức, những kinh nghiệm bên ngoài để trang bị, khoe khoang và bảo vệ mình. Bình thường, ta thao thao không ngừng về cái thấy xa, hiểu rộng, cái vốn hiểu biết và kinh nghiệm cạn cợt của mình nhưng khi va chạm sự thật, ta ú ớ, ta…  ” mất thần thông”, chỉ còn biết để phiền khổ khống chế và trách móc người, nếu khá hơn, ta chỉ chịu đựng hay tìm cách xoa dịu, khuất lấp cho yên. Con mắt tâm không mở, tuệ giác không có, hay dùng ngôn ngữ phổ thông hơn là không tỉnh thức nên không có khả năng biết được cơn giận hay buồn phiền từ đâu có. Anh chàng thiền sinh mù trong chuyện này, anh quá tin vào cây đèn anh đang cầm mà quên rằng có lúc nó cũng tắt, anh quên một sự thật là anh mù và đang đi ngoài trời tối, còn một sự thật rõ ràng nữa là, mình mù nên mình đụng người mà tưởng là người đụng mình….

Đức Phật dạy, mỗi người hãy tự thắp đuốc lên mà đi. Ngọn đuốc này không có ai thắp sáng thay ta được, Phật, Bồ tát, chư Tổ hay các bậc Thầy chỉ cho ta biết, ta có nhiên liệu và có khả năng thắp lên ngọn đuốc tâm ấy, đuốc do ta thắp nên nếu lỡ tắt, ta biết thắp lại, dần dần ngọn đuốc cháy lâu hơn đến lúc sáng mãi. Thắp lên được ngọn đuốc tuệ giác, nhờ đó những máy động của thân,những vận hành của tâm thức lộ rõ. Tuệ giác càng sáng, ta thấy càng rõ và sâu sắc hơn, đằng sau những vận hành ấy là ai và cuối cùng thấu suốt nguồn gốc và thực chất khổ đau. Ngày xưa, buổi sơ khai, Thế Tôn chỉ dạy Kinh Tứ Diệu Đế và Thiền Tứ Niệm Xứ, đây là thiền kinh căn bản, là đầu mối khám phá nội tâm giúp người tu từng bước trên con đường nội quán để thành tựu sự giải thoát.  Từ căn bản, nếu ta không hay biết hơi thở vào ra thế nào trong thân, cảm giác đau nhức, ngứa ngấy nơi thân thì làm sao ta để ý và rõ được những tâm hành sâu sắc khác như, buồn, phiền, giận, hờn…vận hành ra sao? cũng như nguyên nhân và thực chất của những tâm hành và đối tượng của những tâm hành này? để cuối cùng dứt khổ, giải thoát. Các vị Thiền sư đã từng nói, chỉ cần dứt tình phàm, đâu cần cầu thánh giải? Phàm tình này, đâu không phải là những tình chấp, những ma tánh xuất hiện hàng ngày trong ta hay sao? Trong kinh, Phật vẫn gọi là ma phiền não, những ma tánh này thường có mặt những khi đối duyên xúc cảnh, trong cuộc sống đời thường. Nếu ma tánh vẫn còn sâu dày và khống chế ta, làm sao Phật tánh hiển lộ? Có phải, hàng ngày ta sống bằng ma tánh của ta hay không? Từ sáng đến chiều, cái gì thường vận hành trong ta? Ai suy nghĩ? Ai nói năng? Ai cho mình giỏi, mình đúng, Ai cho mình là thế này, thế kia?  Ai vui buồn khi cảnh thuận hay nghịch với những gì ta đặt để, cho là ?

Có vị Tăng hỏi Thiền sư Duy Khoan:

– Đạo ở đâu ?

Sư đáp:

– Ở trước mắt.

Ông tăng hỏi thêm:

– Sao con không thấy ?

Sư bảo:

– Vì ông còn có ngã (cái tôi).

Ông tăng hỏi tiếp:

– Con còn có cái tôi nên không thấy, vậy hòa thượng thấy không?

Sư đáp:

– Có ông, có ta rồi cũng không thấy.

Ông tăng lại hỏi thêm câu nữa:

– Không con, không kòa thượng lại thấy chăng ?

Sư đáp:

– Không ông không ta, còn ai cầu thấy ?

Những đám mây đen còn che kín, tuy mặt trời có đó nhưng làm sao hiễn lộ? Những ngày mây đen che kín, mưa gió và sấm chớp ầm ì, nếu có dịp đi phi cơ, ta thử để ý, khi phi cơ lên cao, vượt khỏi những lớp mây, bên trên là mặt trời sáng chói? Nhưng, mặt trời không thể chiếu xuyên qua những lớp mây dày để mặt đất sáng sủa được. Nếu mây tan, dưới đất sẽ không còn mưa bảo sấm chớp. Chỉ cần những đám mây thành kiến, định kiến, những khái niệm hay giỏi, đúng, sai..v.v…mà ta vay mượn để hình thành cái tôi của mình, những thứ này phải được tuệ giác thường xuyên soi chiếu, thì mới có ngày mây tan trăng hiện. Đây không phải “tình phàm hết, thể hiện bày” sao? Xin tiếp một ví dụ này để vấn đề sáng tỏ hơn. Có một người nghèo khổ, chỗ ở của  anh là căn lều mục nát, anh sống lây lất qua ngày bằng cách xin ăn. Một hôm, có người tốt bụng nói với anh rằng: Ngay trong căn lều anh ở, dưới chỗ anh thường nằm ngủ có mỏ vàng. Ban đầu, anh không tin, nhưng đến mùa mưa dầm, anh không thể nào sống trong mái lều ấy, cũng như không đi xin ăn được. Một hôm, nhớ lời người tốt bụng, anh tìm mượn được cây cuốc, âm thầm đào đất dưới chỗ anh nằm, quả nhiên, có vàng, nhưng không thể xử dụng được vì còn lẫn lộn với quặng. Anh lại kiên trì học cách lọc quặng, đãi vàng. Quặng lọc tới đâu, vàng nguyên chất hiễn lộ tới đó. Dần dần, anh bán vàng, xây dựng nhà cửa, cơ sở, giúp đỡ những người nghèo khó trong làng có công ăn chuyện làm, đồng thời, anh tiếp tục lọc quặng. Cuối cùng, anh trở thành người giàu có nhất làng vì anh có những khối vàng, thuần vàng.

Trong thiền Đông độ, có giải ngộ và chân ngộ. Khi giải ngộ, hành giả chỉ hiểu và nhận ra mình có cái chân thật, (Phật tánh) nhờ nghe giảng hay nghiên cứu kinh, luận và thiền sử, trường hợp này, hoàn toàn là kiến giải, tức khái niệm về Phật tánh. Còn chân ngộ, hành giả cũng nghiên cứu kinh, luận và thiền sử, nhưng nhờ sự trăn trở, thao thức dứt khổ là động cơ đẩy mạnh công phu nội quán, bền bỉ và sâu sắc, đến lúc chín muồi, nhờ duyên ngoài tác động, như cơn gió thổi qua làm rụng trái chín. Trong giây phút chớp lòe ấy, Phật tánh hiển lộ, hành giả hỉ lạc vô cùng, những chấp thô rơi rụng nhưng những chấp trước vi tế ( nhỏ nhiệm, sâu, khó thấy) vẫn còn; ngay lúc này, cái chấp ngã ôm lại trạng thái ngộ và ý thức liền hình thành khái niệm kiến tánh, ngộ đạo. Từ đó cái tôi kiến tánh, cái tôi ngộ đạo có mặt. Ta khó nhận ra chỗ này, vì ta đang là một với cái thấy biết mới, cao hơn, nếu duyên may gặp người chỉ điểm, giúp ta vượt qua. Bằng không, ta dễ ỷ lại chỗ ngộ và nghĩ mình đã xong việc. Nếu lòng tha thiết muốn thoát ly sinh tử, đạt đến giải thoát hoàn toàn, hành giả sẽ dễ nhận ra chỗ này và tiếp tục rõ mình, rõ người trong những lúc đối duyên xúc cảnh, để thấu suốt những bóng mây còn ẩn kín, nhờ vậy, cái tôi và những thay mặt, đổi tên của cái tôi (phóng hiện của bản ngã), không còn lừa dối được ta . Đây là đoạn 153 -154 trong kinh Pháp Cú:

– Ta lang thang trong vòng luân hồi qua bao kiếp sống, tìm mãi mà không gặp kẻ làm nhà. Đau khổ thay kiếp sống cứ tái diễn mãi ! Hỡi kẻ làm nhà! Nay ta gặp được ngươi rồi. Ngươi không thể làm nhà nữa. Cột và đòn tay của ngươi đều gãy cả, nóc và xà nhà của ngươi đã tan vụn rồi. Ta đã chứng đắc Niết bàn, bao nhiêu dục ái đều dứt sạch.

Gom những cột, kèo và đòn tay, người thợ đã xây dựng thành nóc nhà, xà nhà rồi thành căn nhà. Cũng như suốt đời ta vay mượn nhiều thứ bên ngoài để hình thành ngôi nhà ngã chấp. Người làm nhà đâu không phải chính cái tôi của mình hay sao? Đức Thế Tôn đã từng căn dặn: Vô ngã thị Niết Bàn. Khi nào rõ ràng, thấu suốt được cái tôi, khi ấy mới thực chứng Niết Bàn. Chính ngài, ngài đã phát hiện, đã chạm mặt người thợ làm nhà nên cái tôi tạo tác căn nhà sinh tử không còn tiếp tục nữa và ngôi nhà ấy cũng sụp đổ hoàn toàn. Ngài dứt khổ, giải thoát và thực chứng cái vô lượng vô biên không thể nghĩ bàn.

 Ngay những câu đầu của đoạn kinh:

– Ta lang thang trong vòng luân hồi qua bao kiếp sống, tìm mãi mà không gặp kẻ làm nhà. Đau khổ thay kiếp sống cứ tái diễn mãi !

Lời than thật thiết tha, thật đau xót cho chính ta. Ta lang thang, trôi nổi, lặn ngụp trong khổ đau biết bao nhiêu đời kiếp rồi, nếu ta chưa gặp và chạm mặt người thợ làm nhà, thử hỏi, ta còn quanh quẩn, đắm chìm trong khổ đau luân hồi bao nhiêu đời kiếp nữa?

Ta đã từng đóng biết bao vai, tùy theo trình độ thăng tiến của ta, ta vẽ và xây biết bao nhiêu căn nhà, để rồi, ta khư khư bảo vệ nó, tô bồi nó, và khổ đau vì nó. Ta không biết, ngày nào chưa tìm ra người thợ làm nhà, là ngày đó ta còn xây nhà, còn ôm chặt những gì ta sở hữu, khi ai đụng đến những chấp cứng này, ta phiền não và sẵn sàng nhào ra chống trái, bảo vệ, gây tạo vô số tội, để cả cuộc đời không sao có ngày vui. Nếu cứ tiếp tục như vậy, cuối cùng ta được gì và đi về đâu?  

Nhận rõ sự vận hành của nội tâm để bắt gặp người thợ làm nhà, là ta đặt chân đến đầu nguồn của dòng sinh tử, làm chủ và đổi mới tâm thức mình để luôn hòa nhịp cùng sự mới lạ, tươi mát, trôi chảy của dòng đời và cảnh vật.

THÔNG HỘI

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 10

Tiền & Thời Gian

meditacion (5)

Có một người rất keo kiệt, lúc nào cũng chắt bóp chẳng dám ăn tiêu gì.

Tích cóp cả đời, anh ta để dành được cả một gia tài lớn. Không ngờ một ngày,

Thần Chết đột nhiên xuất hiện đòi đưa anh ta đi. Lúc này anh ta mới nhận ra mình chưa kịp

hưởng thụ chút gì từ số tiền kia. Anh ta bèn nài nỉ:

– Tôi chia một phần ba tài sản của tôi cho Ngài,  chỉ cần cho tôi sống thêm một năm thôi. 

– Không được. Thần Chết lắc đầu. 

– Vậy tôi đưa Ngài một nửa. Ngài cho tôi nửa năm nữa, được không? – 

Anh ta tiếp tục van xin. – Không được. – Thần Chết vẫn không đồng ý. 

Anh ta vội nói: 

– Vậy… tôi xin giao hết của cải cho Ngài. Ngài cho tôi một ngày thôi, được không? 

– Không được. – Thần Chết vừa nói, vừa giơ cao chiếc lưỡi hái trên tay.

Người đàn ông tuyệt vọng cầu xin Thần Chết lần cuối cùng: 

– Thế thì Ngài cho tôi một phút để viết chúc thư vậy.

Lần này, Thần Chết gật đầu. Anh run rẩy viết một dòng: 

 
– Xin hãy ghi nhớ: “Bao nhiều tiền bạc cũng không mua nổi một ngày“.
 
– Tiền có thể mua được một chiếc đồng hồ, nhưng không mua được thời gian.
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 12

Cái lạnh nào đáng sợ nhất?

  lanhcongCái lạnh nào đáng sợ nhất Mùa đông đến, những cơn gió se lạnh, những đợt gió bấc thổi ném vào người mà thấy như ai lấy dao cắt da cắt thịt ta. Mọi người đều phải trang bị cho mình những chiếc áo thật ấm, những chiếc khăn thật dài, những đôi tất thật dày, những đôi giày thật đẹp, những chiếc mũ thật xinh để chống lại cái lạnh giá của mùa đông. Tất cả mọi người ai ai cũng sợ cái lạnh, cái lạnh được ví như con dao cắt da, cắt thịt, hoặc lạnh buốt đến tận xương.

Cái lạnh chẳng trừ một ai. Cái lạnh nó đến với cả làng chứ chẳng riêng gì ai. Chẳng ai thích cái lạnh, cái rét làm gì cho khổ, nhưng cực chẳng đã, con người dù không muốn cũng phải chịu. Đi trong thành phố những ngày này, nếu quan sát kĩ, ta thấy những nghịch cảnh: người ngồi làm việc trong các văn phòng mặc ba, bốn tầng áo ấm mà vẫn thấy lạnh cóng, ở ngoài đường thấy mọi người đi xe môtô bịt kín, chỉ hở hai con mắt để quan sát đường đi, nhưng vẫn có những người nông dân phong phanh áo vải gánh những thúng rau, thúng hoa quả đi bán rong giữa phố phường.
 

Rét như thế, nhưng về nhà quê thấy mọi người vẫn lội dưới ruộng nước cày cuốc, đắp bời, vơ cỏ. Nhìn thấy họ làm việc vất vả trong lạnh giá như vậy, tôi thấy sởn gai ốc. Có người ngủ trong phòng kín, có đầy đủ chăn bông gối đệm mà nhiều khi vẫn thấy lạnh, nhưng có biết bao nhiêu người trong các khu nhà ổ chuột, ở gầm cầu, nhà cửa của họ rất đơn sơ, làm sao họ có thể qua được cái lạnh của mùa đông khắc nghiệt . Nhưng lạ thay, họ vẫn phải sống, họ vẫn phải tồn tại năm này qua năm khác, thế hệ này qua thế hệ khác, và cái rét thì vẫn thế, vẫn theo họ và con cháu họ suốt đời. Có nhiều người vô gia cư nằm ngủ cuộn tròn trong những manh chiếu rách, với mấy bộ quần áo rách quấn kín lấy người, không chăn, không màn, không gối, không đệm.

Trong xã hội văn minh, hiện đại ngày nay còn có những cái lạnh, thiết nghĩ, còn đáng sợ hơn cái lạnh của mùa đông nhiều và rất nhiều lần. Cái lạnh của lòng người, cái vô cảm của con người, đó là khi ta nhìn thấy những người đau khổ mà không có chút động lòng; hoặc khi ta thờ ơ trước những bàn tay xương xẩu đang dơ lên xin ta chỉ một đồng tiền lẻ để sống qua ngày, khi ta lãnh đạm trước những người gặp cảnh khó khăn cần đến ta. Không gì lạnh hơn những con người “lương tháng thì có, lương tâm thì không”, khi một bác sĩ để một người nghèo không có “phong bì” phải chết oan khi vào bệnh viện cấp cứu. Không có cái lạnh nào bằng cái lạnh của một cán bộ khi hạch sách người dân khi họ đến xin một chữ ký mà không có “phong bì”. Không có cái lạnh nào bằng cái lạnh khi người khác chào hỏi mà ngoảnh mặt đi không trả lời, khi người với người nhìn nhau bằng ánh mắt lạnh lùng xa cách, nói với nhau những câu lạnh nhạt xỉa sói không lọt được vào tai, khinh bỉ nhau, nói xấu nhau, thấy ai hơn mình thì buồn, tìm cách trừ diệt, hạ bệ.

Cái lạnh lọt cả vào những nơi được coi là tốt nhất, ấm nhất của xã hội, nơi người “kĩ sư tâm hồn” thay vì nói sự thật, nói chân lý, thì lại gieo rắc những tư tưởng, những triết lý sai lầm, những điều đi ngược với chân lý, đi ngược với lương tâm con người.

Cái lạnh thâm nhập cả trong gia đình khi con cái lạnh nhạt với cha mẹ, để cha mẹ chịu đói, rét, để cha mẹ phải đi ăn xin, tục ngữ có câu:
“Lúc sống con chẳng cho ăn, 
đến khi thác xuống làm văn tế ruồi”. 

 
Vợ chồng lạnh nhạt với nhau dẫn đến ly dị, bỏ con bơ vơ vất vưởng. Anh em lạnh nhạt với nhau, khinh bỉ nhau chỉ vì những chuyệt rất nhỏ dẫn đến chia rẽ nhau, cổ nhân có câu: 
“Anh em thì thật là hiền, 
chỉ vì đồng tiền mà mất lòng nhau”.
Mức sống của xã hội càng lên cao thì cái lạnh lòng người càng lộ rõ: có những người quý chó hơn người giúp việc, quý chó hơn đồng loại, quý chó hơn người trong nhà. Không biết bao nhiêu con người đang chết dần chết mòn, chết dai dẳng, chết âm thầm không phải vì cái lạnh của mùa đông mà là cái lạnh của lòng người. Có người chết lạnh giữa mùa hè nóng bức, có người chết lạnh giữa chăn bông gối đệm, có người chết lạnh trong biệt thự, có người chết lạnh trong khách sạn, có người chết lạnh giữa những người thân. Có thể số người chết vì lạnh, cái lạnh của lòng người còn lớn hơn rất nhiều lần so với số người chết lạnh vì thời tiết.

Cái lạnh của thời tiết đã là rất đáng sợ với những người nghèo, những người sống vô gia cư, vô tài sản, với những người sống bằng nghề bới rác, những người làm ruộng, lội ngập sâu trong nước. Nhưng còn chưa đáng sợ bằng những cái lạnh do con người gây ra cho nhau, cái lạnh lòng người quả là đáng ghê sợ hơn gấp bội phần.

                                                                                                                      Tâm Ngữ

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 10

Những địa danh có thật trong tiểu thuyết của cố nhà văn Kim Dung

Những tín đồ bộ truyện võ hiệp nổi tiếng của cố nhà văn Kim Dung hẳn sẽ rất tò mò về các vùng đất có khung cảnh như tiên giới xuất hiện trong tiểu thuyết. Cùng khám phá xem địa danh nào đã làm nên nhiều trang tiểu thuyết kinh điển đó.

Ngày 30/10, nhà văn Kim Dung – cha đẻ của hàng loạt tiểu thuyết võ hiệp đặc sắc như Thiên long bát bộ, Anh hùng xạ điêu, Thần điêu hiệp lữ, Tiếu ngạo giang hồ… đã qua đời vì tuổi cao, hưởng thọ 94 tuổi.
Với những tín đồ của bộ truyện hẳn sẽ rất tò mò về các vùng đất có khung cảnh như tiên giới xuất hiện ở từng trang tiểu thuyết. Để tưởng nhớ về cố nhà văn Kim Dung, hãy cùng khám phá đâu là những địa danh có thật bước ra từ trang sách kinh điển ấy.
Núi Nga Mi
Nhắc đến Nga Mi Sơn, ắt hẳn nhiều người sẽ nhớ ngay tới nhân vật nổi tiếng trong bộ truyện “Ỷ thiên Đồ long ký” của cố nhà văn là Chu Chỉ Nhược, Diệt Tuyệt sư thái. Theo nội dung từ cuốn tiểu thuyết, võ lâm Trung Nguyên có 3 phái lớn gồm Thiếu Lâm, Võ Đang và Nga Mi. Trong đó, môn phái võ thuật Nga Mi ra đời ở núi Nga Mi, do Quách Tương – con gái Quách Tĩnh và Hoàng Dung sáng lập, được truyền bá rộng rãi tại Tứ Xuyên.
Bước ra từ trang tiểu thuyết, núi Nga Mi là địa danh hoàn toàn có thật, cũng nhờ đó trở thành một trong những điểm đến hút du khách bậc nhất tại Trung Quốc.
Núi Nga Mi cao 3099m, là một trong 4 ngọn núi danh thắng, được gọi là “Tứ đại Phật giáo danh sơn”, nằm ở Tứ Xuyên. Đỉnh cao nhất của núi là Vạn Phật, nằm trên ngọn núi chính Kim Đính.
Nga Mi sơn như chốn bồng lai tiên cảnh
Nga Mi sơn như chốn bồng lai tiên cảnh
Trên Nga Mi Sơn có chùa Vạn Niên là ngôi chùa mang kiến trúc đậm dấu ấn Đạo giáo. Trong chùa có bức tượng Phổ Hiền Bồ Tát nặng 62 tấn, được đúc bằng đồng mạ 20kg vàng bên ngoài, sớm trở thành điểm đến không thể bỏ lỡ khi tới ngọn núi danh tiếng này.
Nhạn Môn Quan
Nhạn Môn Quan là một cửa ải của Vạn Lý Trường Thành nằm trên thung lũng thuộc tỉnh Sơn Tây. Đây là địa danh có hai bên là vách núi dựng đứng hùng vỹ. Sở dĩ địa danh mang tên Nhạn Môn Quan bởi ở đây có nhiều chim nhạn và chỉ chúng mới bay qua được.
Nhạn Môn Quan là địa danh từng chứng kiến nhiều cuộc chiến khốc liệt
Nhạn Môn Quan là địa danh từng chứng kiến nhiều cuộc chiến khốc liệt
Địa danh Nhạn Môn Quan dưới ngòi bút của Kim Dung đã trở thành vùng đất huyền thoại trong bộ tiểu thuyết “Thiên Long Bát Bộ”. Nơi này gắn liền với nhân vật Kiều Phong, một đại anh hùng đã dùng chính sinh mạng của mình đổi lấy sự bình yên của dân hai nước Tống – Liêu.
Nhạn Môn Quan cách thành phố Hân Châu, tỉnh Sơn Tây chừng 20km về phía Bắc, đồng thời là cửa ải trọng yếu của trường thành trước kia. Nơi này từng chứng kiến rất nhiều cuộc chiến khốc liệt trong lịch sử. Bởi vậy, ngày nay khi đến với Nhạn Môn Quan, không chỉ thăm thú danh lam thắng cảnh, du khách có dịp tìm hiểu thêm lịch sử trầm hùng của vùng đất này.
Đây là một trong những cửa ải rất quan trọng
Đây là một trong những cửa ải rất quan trọng
Hiện tại, 3 cửa ải của Nhạn Môn Quan vẫn được bảo vệ tốt. Địa danh này đã trở thành một phần quan trọng của Di sản Văn hóa Thế giới.
Hoa Sơn
Hoa Sơn là một trong 5 ngọn núi danh tiếng nhất của Trung Quốc, mang trong mình ý nghĩa lịch sử to lớn về tín ngưỡng. Năm 1990, Hoa Sơn được UNESCO công nhận là Di sản Thiên nhiên Thế giới.
Nếu là tín đồ của tiểu thuyết Kim Dung, sẽ không ai xa lạ với cụm từ “Hoa Sơn luận kiếm” của Đông tà Hoàng Dược Sư, Tây độc Âu Dương Phong trong bộ “Anh hùng xạ điêu”. Cũng nhờ địa hình hiểm trở, cố nhà văn Kim Dung đã chọn Hoa Sơn là nơi tỷ võ chọn Đệ nhất võ lâm Trung Nguyên, bởi đơn giản, chỉ những bậc võ nghệ cao cường mới vượt được dãy núi hiểm trở để lên đỉnh.
Núi Hoa Sơn cấu tạo từ đá hoa cương, có hình dáng dựng đứng, xòe rộng như bông hoa, nên gọi với cái tên như vậy. Gồm 5 đỉnh núi chính, trong đó đỉnh cao nhất 2154m gọi là Nam Phong hay Lạc Nhạn.
Tới thăm Hoa Sơn, du khách có cảm giác lạc giữa chốn bồng lai tiên cảnh, như bước vào thế giới kiếm hiệp từ trang tiểu thuyết năm nào. Cũng vì lẽ đó, từ lâu Hoa Sơn đã trở thành điểm du lịch hút khách, đặc biệt với những tín đồ của bộ truyện võ hiệp Kim Dung.
Hoàng Hà (TheoDantri)
 
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 29

Nữa Đời Về Sau

Nửa đời về sau, hãy học được cách trầm tĩnh

Có đôi khi bị người khác hiểu lầm, đừng tranh luận.Trong cuộc sống, có rất nhiều chuyện đúng sai khó có thể nói rõ ràng, thậm chí căn bản là không có hoàn toàn đúng hay hoàn toàn sai..

Nửa đời về sau, hãy trở nên bình thản.

Con người đến độ tuổi nào đó, tự nhiên không còn thích những gì ồn ào náo nhiệt, tâm thái bình thản giúp cho cơ thể khỏe mạnh, kéo dài tuổi thọ.Mặc kệ là đời sống vật chất dư dả hay bần cùng, chỉ cần nội tâm bình thản, chính là sống một cuộc đời hạnh phúc.

Nửa đời về sau, hãy học cách cúi mình

Bạn bất đồng ý kiến với với con cái, nói chuyện mâu thuẫn với bạn bè, những điều này cũng không sao cả. Lúc này bạn cũng có thể về lau nhà… Trong lúc lao động, bạn sẽ nhận ra tâm trạng và suy nghĩ của mình dần lắng xuống.

Nửa đời về sau, hãy đừng cảm thấy hối hận

Cuộc đời là một con đường dài với vô số ngã rẽ, và ta luôn phải lựa chọn không ngừng.. Không có cơ hội nào lặp lại, lựa chọn rồi thì đừng hối hận, cũng đừng nói câu muốn làm lại từ đầu .

Nửa đời về sau, hãy tiếp tục học tập

Đọc sách xem báo, hội họa, ca hát ,nghe nhạc…đều có thể đem đến cho cuộc sống niềm vui, khiến cho tâm tình khoan khoái dễ chịu.

Nửa đời về sau, hãy giữ gìn sự đơn thuần

Suy nghĩ quá nhiều, ngược lại càng làm cuộc sống thêm phức tạp, “đơn thuần” thật ra chính là một ân huệ mà trời cao ban cho chúng ta. Cảm nhận mùi thơm của đồ ăn, nhận ra niềm vui của vận động, cùng bạn bè nói chuyện không đâu…

Nửa đời về sau, hãy thỉnh thoảng buông thả bản thân

Mỗi ngày ăn trái cây rau quả, thực phẩm lành mạnh, có phải là có lúc cũng thèm thịt cá? Vậy thì cứ ăn đi ! Cuộc đời không nên gò ép bản thân mình quá, ngẫu nhiên phóng túng thì càng bình dị, gần gũi.

Nửa đời về sau, hãy luôn ăn mặc đẹp

Yêu cái đẹp nên là điều mà chúng ta theo đuổi cả đời, tuyệt đối đừng vì suy nghĩ mình lớn tuổi mà không muốn chưng diện nữa.. Hãy nhân lúc lưng còn thẳng, chân còn khỏe, hãy mặc thật xinh đẹp…

Nửa đời về sau, đôi lúc hãy ngờ nghệch một chút

Có những chuyện, cần hờ hững thì hờ hững, điều gì không làm rõ được thì không cần làm rõ, người nào cần lướt qua thì cứ lướt qua. Nếu như chỉ biết nhớ không biết quên, chỉ biết tính toán mà không biết cho qua, chỉ biết khôn khéo mà lại không biết vụng về… sẽ chỉ làm cuộc sống của chúng ta luôn nặng nề, phiền não.

Nửa đời về sau, hãy thường xuyên chúc phúc cho người khác

Chúng ta đối đãi với người khác thế nào, họ cũng sẽ đối đãi với ta như vậy. Cho nên, hãy thường xuyên khen ngợi bạn bè, con cháu của mình, thậm chí cả người xa lạ cũng đừng tiếc một lời chúc phúc ! Khi bạn làm cho người khác vui vẻ, bạn sẽ nhận ra rằng mình còn được nhân lên.. niềm vui..

Nguồn Internet

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 14

BẢO LONG: Cuộc đời nổi loạn và bi thương của Hoàng thái tử triều Nguyễn

Dù vua Bảo Đại đã tuyên bố thoái vị từ năm 1945, nhưng cho đến giữa thập niên 1950, mong muốn và tính toán cho việc đưa Bảo Long lên ngôi chấp chính vẫn còn âm ỉ.

Trên đất Pháp, Bảo Long được chăm chút chuyện học hành, chăm sóc bảo vệ theo tiêu chuẩn của một ông hoàng. Thế nhưng, khác với Bảo Đại, Bảo Long đã tự quăng quật trong khó khăn, luôn cố gắng thoát khỏi bóng dáng chiếc áo bào Vương gia.
Năm 1948, sau khi sang Pháp, bà Nam Phương quyết định cho Bảo Long vào học trường Roches. Đây là một trường đứng đắn, kỷ luật rất nghiêm khắc, được nhà thờ Công giáo bảo trợ. Bà rất hiểu tính nết bướng bỉnh khó bảo của con trai, hy vọng học trường này con bà sẽ trở nên thuần thục hơn.
Bảo Long cố gắng khép mình vào kỷ luật học đường, song tước vị hoàng tử kế nghiệp cũng cho cậu được hưởng một số đặc quyền: Mỗi buổi sáng cậu ta được tắm nước nóng trong khi các bạn cùng lớp phải tắm nước lạnh. Khẩu phần bữa tối cũng được ưu tiên: Được chia nhiều thức ăn hơn, nhiều chocolate hơn. Cậu ta còn đem chia bớt cho các bạn.
Bảo Long thông minh, sáng dạ, nhanh chóng hoà nhập với tập thể, giỏi văn chương, ngôn ngữ, cả từ ngữ như tiếng Hy Lạp cổ. Ngược lại về toán và các khoa học tự nhiên thì kết quả bình thường, tuy nhiên, cũng nhiều lần đứng hàng đầu trong bảng tổng xếp hạng.
Thời gian đầu, các thầy cô giáo và bạn học lúng túng không biết xưng hô thế nào cho phải với tước vị cao quý của Bảo Long. Cuối cùng ông hiệu trưởng chọn tên… Philippe để đặt cho cậu. Philippe có nguồn gốc Hy Lạp “hyppos”, có nghĩa là ngựa. Bảo Long vốn mê cưỡi ngựa. Được hỏi ý kiến, Bảo Long về hỏi lại mẹ, cuối cùng cả hai đều đồng ý.
Bảo Long chỉ có ba người bạn thật sự gọi là thân thiết. Anh thích thể thao, biết chơi nhiều môn. Đây cũng là đặc thù của nhà trường. Phần lớn các buổi chiều đều dành cho hoạt động thể thao. Sinh hoạt lớp có trưởng lớp điều khiển, được gọi là “đội trưởng”. Bảo Long được lòng bạn bè nên từ lớp đệ nhị bậc trung học anh được chỉ định làm trưởng lớp.
Mười bảy tuổi, Bảo Long đỗ tú tài triết học, nhưng vẫn luôn luôn có cảnh binh đi kèm. Sau này Bảo Long kể lại: “Tôi phải sống ngăn cách với thế giới xung quanh, có cảnh binh bảo vệ, mặc dù ở Cannes là cả một thế giới ăn chơi, có ôtô sang trọng, có máy bay riêng, có gia nhân đầy tớ. Tóm lại tôi không biểu sao người ta lại bắt tôi sống trong ký túc xá trường trung học Roches, kỷ luật khắt khe, thiếu thốn mọi thứ. Sau này tôi mới hiểu, chính mẹ tôi muốn tránh cho tôi khỏi bị nuông chiều quá, tránh cuộc sống phóng đãng như cha tôi, một lối sống đã gây cho bà nhiều đau khổ”.
Dù sao, anh cũng được bố tặng một chiếc ôtô làm quà sinh nhật, tuy còn thiếu nửa năm nữa mới đến tuổi cầm tay lái. Trên chiếc thuyền y-át cha anh mới mua, neo ở Monte-Carlo, ở đó một thanh tra cảnh sát đã chuẩn bị sẵn chờ anh đến là trao anh giấy phép đặc cách, dành cho con trai Hoàng đế An Nam do nước cộng hoà Pháp bảo trợ.
Y-át là một chiếc xe đẹp và dài, nổi tiếng thanh lịch, động cơ mang nhãn hiệu Jaguar XK 120. Đó là ước mơ của Bảo Long. Vừa ra khỏi cảng, xe đã đâm vào sườn một chiếc xe đi ngược chiều. Anh đã biết lái đâu, chưa qua một lớp học lái, chỉ trông vào thực hành. Trong hai năm anh gây ra mười hai vụ tai nạn.
May là không nghiêm trọng cho cả hai bên. Mỗi lần cầm tay lái chiếc xe tốc độ cao, anh phải cố kiềm chế để xe đi với vận tốc trung bình. Đám cảnh sát hò hét hết hơi để chạy theo, nhiều khi phải mượn chiếc xe 203 của cha anh mới đuổi kịp. Sau vụ âm mưu bắt cóc, cảnh sát vẫn giám sát chặt chẽ hành trạng của Bảo Long.
Thường chỉ có một nhân viên được phân công luôn luôn kèm sát thái tử để bảo vệ. Đó là thanh tra Tổng nha tình báo Chabrier. Ông ngủ luôn ở phòng liền kề, thông với phòng ngủ của Bảo Long, có thể nhanh chóng can thiệp khi có chuyện. Hàng ngày, ông theo Bảo Long đến trường, chiếm một chỗ ngồi cuối lớp nhưng không phải để nghe giảng bài mà chỉ chăm chăm theo dõi nhất cử nhất động của thái tử.
Ban đầu, các bạn học ngạc nhiên thấy hôm nào cũng có một người lớn tuổi có mặt trong lớp nhưng cũng quen dần. Mỗi khi Bảo Long ra ngoài, dù trên máy bay hay xe lửa, Chabrier luôn luôn đi bên cạnh. Những hôm Bảo Long lái xe đi chơi xa, người ta thấy ông ghì chặt tay lái chiếc xe 203 bám theo xe của Bảo Long. Nhưng khi anh về nghỉ với gia đình ở Paris, Cannes hay Valberg, thì lập tức đã có cảnh sát địa phương thay thế.
Đỗ tú tài xong, Bảo Long ghi tên học dự thính cả hai trường một lúc: trường Hành chính và trường Luật. Thế rồi, đột nhiên Bảo Long muốn từ bỏ cuộc sống được chiều chuộng quá mức, có nhiều xe ôtô sang trọng, kể cả các thanh tra Tổng nha tình báo chăm chú bảo vệ mình để xin đứng vào hàng ngũ chiến đấu.
Anh cho cha anh biết ý định từ bỏ vai trò kế vị ngôi báu mà người ta giao cho anh từ khi chào đời và muốn trở về nước, theo học trường võ bị Đà Lạt mới thành lập để trở thành sĩ quan quân đội quốc gia (của chính phủ Bảo Đại làm quốc trưởng bù nhìn).
Bất ngờ trước ý định của con trai, cựu hoàng Bảo Đại ban đầu chối từ, chắc hẳn ông không muốn con trai ông làm vật hy sinh. Thấy Bảo Long tha thiết theo đuổi binh nghiệp hơn là làm chính trị, Bảo Đại cho con vào học trường võ bị Saint – Cyr, có tiếng hơn và… an toàn hơn. Ngoài ra ông thường nói: “Làm gì có giải pháp Bảo Đại mà chỉ có một giải pháp của người Pháp mà thôi!”. Trong lòng bực bội nhưng Bảo Long tuân lệnh cha, không trở lại Việt Nam.
Bảo Long bình thản chịu đựng cuộc sống khắc khổ trong quân ngũ, chan hoà với hai mươi bảy bạn đồng ngũ chung chạ trong một phòng.
Anh có thể rời bỏ trường bất kỳ lúc nào anh muốn. Nhưng anh ở lại. Kiêu hãnh trong bộ quân phục áo đỏ, mũ chùm lông, đặc trưng của học sinh quân Saint-Cyr, anh tham gia cuộc diễu binh ngày Quốc khánh Pháp 14/7/1955, đi qua quảng trường Champs-Elysées, anh đi ở hàng cuối của tiểu đoàn vì vóc dáng bé nhỏ
Chàng thanh niên kế vị triều Nguyễn quyết định dứt khoát, tìm đến cái chết để khỏi phải đau khổ, chấm dứt chuỗi thất bại và bơ vơ trong thời niên thiếu của mình. Thay vì tự tử anh xin chuyển sang đội quân lê dương để đi chiến đấu ở Algérie. Anh nghĩ đó là cách chắc chắn nhất để không bao giờ phải nghĩ lại nữa và tự kết liễu đời mình nhanh nhất.
Phải gần ba tháng sau anh mới nhận được công văn chấp thuận của Bộ chiến tranh, trong khi ở Sài Gòn người ta đem hình nộm và ảnh chân dung của cha anh ra đốt và làm nhục
Khi biết quyết định của con, Bảo Đại cũng như Nam Phương “tôn trọng ý nguyện của con” không tìm cách làm thay đổi sự lựa chọn của con, tránh không gợi vấn đề và giữ im lặng, không bộc lộ cơn xúc động trước mặt con. Chắc hẳn Bảo Đại cảm thấy tổn thương vì con không nói thẳng với mình mà chỉ được vợ cho biết.
10 năm – khoảng thời gian phục vụ ở Algérie đã để lại trong anh một dư vị cay đắng. Một cảm giác ghê tởm. Đạo quân anh đã lầm lạc phục vụ suốt mười năm, không để lại cho anh một kỷ niệm nào tốt đẹp. Anh đã mất thăng bằng về tinh thần và không tìm được chút hơi ấm tình người anh vẫn đòi hỏi một cách tuyệt vọng.
Sau đó, Bảo Long rời quân đội làm việc trong một chi nhánh ngân hàng có hội sở giao dịch khá to và đẹp trên đại lộ Opéra. Ông là người có tài, có kinh nghiệm dày dạn trong việc làm cho tiền của mẹ ông sinh sôi. Ông phụ trách công việc đầu tư tiền của khách hàng ra nước ngoài, đem lại lợi ích cho họ.
Đến giờ ăn trưa, ông cũng dừng lại trước một quầy hàng có mái che do dự rồi bước vào mua một bánh mì kẹp thịt để ăn trưa như tất cả mọi người. Trái với cha ông, ông giàu có. Từ văn phòng ngân hàng, ông quản lý tài sản thừa kế của mẹ, quan tâm đến việc sinh lợi, giữ được đôi chút ổn định sau bao nhiêu bão tố.
Ông sống trong một căn hộ đẹp ở đường Marais. Chưa bao giờ lập gia đình, ông cũng không có con cái. Ông luôn luôn day dứt vì cuộc sống lưu vong. Cuộc sống nhiều tai tiếng của bố, suốt từ thời trị vì đến lúc sau này thân bại danh liệt lúc về già ở nước ngoài, lại còn tranh chấp kiện tụng giữa hai cha con chia nhau báu vật trong đó có hai quốc bảo là ấn và kiếm nhà Nguyễn xưa, khiến tâm trạng ông lúc nào cũng u uất, buồn phiền.
Trong đám tang Bảo Đại, Bảo Long, người đã được tấn phong kế vị ngai vàng từ năm 1936 đứng ở bên linh cữu. Nhưng khi tang lễ kết thúc, trong lúc tiếng đàn ống lớn của nhà thờ vang lên, ông không đi theo cùng đoàn tang như truyền thống đòi hỏi, mà chỉ có “Hoàng hậu Thái Phương” đi sau linh cữu.
Bảo Long, gần như không muốn mọi người nhìn thấy, kín đáo bước ra khỏi nhà thờ bằng một cửa ngách. Cộng đồng người ở Paris không biết gì mấy về một ông hoàng bí ẩn, giữ kẽ.
Một cáo phó trên báo Le Monde (Pháp) cho biết Hoàng thái tử Bảo Long – con Vua Bảo Đại, đã qua đời vào ngày 28/7/2007 tại Bệnh viện Sens (Pháp), lễ an táng được tổ chức vào ngày 2/8, chỉ bao gồm những người thân thích của gia đình.

Nguồn: Blog NGƯỜI MIỀN NAM XƯA

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 32

HỮU DUYÊN VÔ PHẬN. HỮU PHẬN VÔ DUYÊN

(Có duyên mà không có phận, có phận mà không có duyên)

Mỗi người đều có những cuộc gặp mà suốt đời này không thể nào quên, có những cuộc gặp là mãi mãi, nhưng cũng có những cuộc gặp sớm đứt gánh giữa đường.

Duyên phận là điều gì đó rất kì lạ, không ai có thể thực sự nói rõ về nó. Có thể hữu duyên vô tình quen biết nhưng lại hiểu thấu nhau. Có thể hài hòa với nhau, mà không thể gần nhau. Không cố ý theo đuổi thì có, bỏ tâm cố gắng lại chẳng thành. Như là “có lòng trồng hoa, hoa chẳng nở, vô tình cắm liễu, liễu lại xanh”.

Dân gian có câu: ”duyên do trời định, phận do nhân định”. Đó là cách nói nôm na, nhưng kỳ thực, gặp nhau & bên nhau là do Nhân Duyên tụ hội. Dựa vào đôi bên gìn giữ, phát triển thì duyên một lần gặp gỡ mới thành mối phận trăm năm. Nhưng duyên phận dài ngắn thế nào lại chẳng ai hay, ai biết? Một năm, năm năm, cả đời? Hết thảy chúng ta đều không đoán đươc.

Hôm nay có duyên phận không có nghĩa là vĩnh viễn sẽ có duyên phận. Phật dạy về nhân duyên rằng, cái gì cũng chỉ có thời điểm, duyên phận cũng vậy. Bởi thế mà những mối duyên lành phải biết ý thức và trân quí.

Tuy nhiên, đã là duyên phận thì không nên cưỡng cầu, mất đi rồi cũng không nên ủ rũ, càng không thể cảm thấy cả thế giới sụp đổ vì duyên đã hết, phận đã đứt, cưỡng cầu chỉ thêm đau lòng. Người mất đi nhất định không phải người thích hợp nhất, vật mất đi nhất định không phải vật tốt đẹp nhất. Mất đi chỉ chứng minh rằng ta với người chẳng qua là cùng nhau đi một đoạn đường, gặp hạnh ngộ rồi chia li.

Kỳ thực, trong cuộc đời mỗi người có rất nhiều điều là không thể lý giải. Chính bởi vì không hiểu điều này mà khiến cho con người ta lúc nào cũng tràn đầy suy tưởng. Mọi người sống trên thế gian đều có cảm tưởng dường như mọi việc là theo sự an bài sẵn vậy! Đến thời điểm nào sẽ gặp ai, sự tình gì sảy ra đều là đã được nhân duyên vận chuyển.

Làm người cốt học được cách điềm nhiên đối đãi với hết thảy, dùng bình tĩnh để đối đãi với mọi sự công bằng và bất công bằng trong cuộc sống, thản nhiên tiếp nhận mọi sự an bài hợp ý và không hợp ý mình. Ấy mới là cách đối đãi của bậc trí huệ. Duyên đến không cần phải vui mừng quá đỗi, duyên đi cũng không cần phải khóc lóc thảm thiết.

Không có tình yêu thì bên cạnh bạn vẫn có bạn bè.

Không có bạn bè tri kỷ thì bên cạnh bạn vẫn còn có gia đình

Không có gia đình thì bạn vẫn còn sinh mệnh của chính mình.

Duyên hợp, duyên tan đều lưu lại một điều gì đó tốt đẹp và một chút tiếc nuối.

Trong sinh mệnh mỗi người, điều gì là của bạn thì sẽ không mất, còn như điều gì không là của bạn thì cuối cùng cũng không thuộc về bạn.

Mọi sự tùy duyên, điều gì qua đi thì hãy buông bỏ để nó qua đi, nên bình tĩnh đối diện, quý trọng hết thảy những gì đang có ở hiện tại, như vậy mới sống được tự nhiên, thanh thản. Còn nếu như cố gắng níu giữ thì chỉ khiến bạn sống triền miên trong vô vọng và tâm linh bị đè nặng mà thôi.

Con người thế gian, nếu như so đo, tính toán quá nhiều thì sẽ tạo thành một loại ràng buộc, bị mê lạc quá lâu thì sẽ tạo thành một loại gánh nặng. Vì vậy, không cần quá để ý, khi có được điều gì hãy thật lòng trân quý, khi mất đi điều gì cũng đừng đau khổ tiếc nuối. Để ý quá nhiều, quá sâu sẽ khiến bạn mất đi một nửa hạnh phúc, xem nhẹ hết thảy sẽ khiến cuộc sống thăng hoa hơn, nhẹ nhàng hơn rất nhiều.

“Có duyên mà không có phận, có phận mà không có duyên” 

đều là một phần trong nghiệp mệnh, nó không nên trở thành bước đệm dẫn bạn đến bước đường cùng của cuộc đời. Đừng vì “duyên đi” mà sinh ra tâm oán thù, hay nuối tiếc.

Sống trên đời, điều gì đến thì hãy quý trọng, điều gì phải đi thì nên buông tay, như thế mới sống được tự do tự tại thực sự.

Sống thuận theo tự nhiên là một loại trí tuệ, cũng là một loại cảnh giới cao của người giác ngộ.

Duyên đến, duyên đi, duyên như nước chảy qua cầu!

Từ Tâm
__(())__


Ngàn năm danh lợi sống đời
Không nghe Phật Pháp…kiếp người uổng thay
Dù cho sống chỉ một ngày
Được nghe Chánh Pháp…quý thay kiếp người!

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
NAM GIANG TỮ
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 20

Đụng Độ Ngôn Ngữ

Tác giả: Dân Việt
Môt bài viết hay, mời đọc.
 Ngôn ngữ là phương tiện để liên lạc, kết nối giữa người với người. Nhưng cũng có khi, ngôn ngữ làm cho con người trở nên ngăn cách, xa nhau hơn. Chuyện “đụng độ” giữa tiếng Việt trong nước và tiếng Việt ngoài nước là một ví dụ.Một số đông người Việt ở hải ngoại không chấp nhận một số từ ngữ người trong nước hiện nay đang dùng. Thí dụ như “Hãy vô tư đi!” Hay là “bữa tiệc hôm nay hoành tráng thật!” Những người mới sang Mỹ định cư  khi bị người ở lâu hơn bắt bẻ hoài, đâm cáu! Đã có người xẵng giọng: “Tại sao lại cấm tui ‘vô tư’ nói rằng ‘bữa tiệc này hoành tráng’? Xứ sở này tự do ngôn luận mà!”Nhớ lại, hồi mới qua Mỹ, tôi cũng đã bị chỉnh một số từ ngữ. Cũng đã từng nổi “cơn tự ái”, nghĩ rằng người bên này “quá khích” khi bắt bẻ thói quen sử dụng ngôn ngữ của người khác. Nhưng rồi sau một thời gian, chính tôi cũng thấy là mình nên thay đổi cách sử dụng phải xét lại một số từ ngữ trong nước.Là người đã học trung học đệ nhất cấp trước 1975, ở lại trong nước hơn 30 năm, và ở Mỹ được hơn 10 năm. Xét ra, thời gian “ở với cộng sản” còn lâu hơn thời gian trước 1975 và ở Mỹ cộng lại.Thực ra, chuyện phê bình “tiếng Việt trong nước” đã xảy ra ngay trong nước từ lâu rồi. Tôi nhớ ngay sau 1975,  phải học “5 điều bác Hồ dạy thiếu niên nhi đồng”, trong đó có “học tập tốt, lao động tốt”. Tôi tự nghĩ, thầy cô mình ở tiểu học vẫn dạy “tốt” là tĩnh từ, dùng để bổ nghĩa cho danh từ. Ở đây “học tập” và “lao động” là động từ, mà dùng chữ “tốt” thì nghe cũng lạ tai.Người đầu tiên nói với tôi về cách sử dụng từ ngữ sau 1975 ở Việt Nam là nhà báo Trần Đại Lộc, hồi anh mới đi tù cải tạo về năm 1978. Anh Lộc là một giáo sư dạy triết bậc trung học trước 1975. Là một người Nam hiền hòa, nhưng khi anh kể chuyện mấy anh cán bộ trong trại cải tạo dùng từ “đao to búa lớn” một cách bừa bãi, thì giọng anh khá châm biếm, chua chát. Một công ty tính toán lãi lỗ thì cán bộ nói là “hạch toán kinh tế độc lập”. Một người bị nhức đầu thì cán bộ y tế ghi toa là “chấn thương hệ thần kinh sọ não”, và rồi cho uống… xuyên tâm liên! Anh Lộc nói cách dùng từ kiểu này là “xấu hay làm tốt, dốt hay nói chữ”.Trở lại với chuyện sử dụng từ ngữ trong nước ở bên xứ Mỹ. Ngôn ngữ còn được gọi là “sinh ngữ”, bởi vì nó giống như một thực thể sống. Nó cũng có quá trình sinh-trụ-hoại-diệt giống như muôn loài. Nó thay đổi liên tục, có khi tốt hơn, có khi xấu hơn. Một giáo sư có bằng cao học về ngôn ngữ cho biết người Pháp sử dụng cả Viện Hàn Lâm Pháp để tìm cách chống lại ảnh hưởng của tiếng Anh. Họ tìm cách thuyết phục cả nhà văn Pháp nên sử dụng tiếng Pháp thuần túy. Nhưng họ đã thất bại. Tiếng Pháp, cũng như bao ngôn ngữ khác, vẫn pha trộn với những ngôn ngữ khác, vì sự tương tác giữa các nền văn hóa là không thể cưỡng lại trong thế giới phẳng ngày nay. Người Mỹ “Hợp Chủng Quốc” dường như phóng khoáng hơn, không cứng nhắc với một thứ “tiếng Mỹ tiêu chuẩn”. Khi có số đông chấp nhận, thì từ ngữ đó trở thành tiếng Mỹ chính thức.Có thể cũng từ góc nhìn này, các chương trình tiếng Việt của VOA, BBC, RFI khi nói cũng như viết, thường dùng kiểu ngôn ngữ trong nước, vì nó có tới hơn 90 triệu người sử dụng.Trở lại trường hợp cá nhân tôi. Sau khi sang Mỹ gần 2 năm, tôi được kêu vào làm cộng tác viên của một tờ báo tiếng Việt ở vùng Bolsa. Ngày đầu tiên vào  để phỏng vấn, vị chủ bút hỏi tôi ở Mỹ được bao lâu? Anh ta cho rằng phải ở Mỹ đủ lâu để suy nghĩ, sử dụng ngôn ngữ giống với người bên này. Bởi vì nếu dùng từ ngữ theo kiểu trong nước, nhà báo sẽ dễ bị “ném đá”! Sau này nghiệm lại, tôi thấy lời khuyên này rất đúng, và đúng không chỉ riêng cho nghề báo. Văn hóa, xã hội ở Việt Nam khác với ở Mỹ một trời một vực. Nếu suy nghĩ, ăn nói hành xử theo thói quen ở Việt Nam, thì dễõ gặp khó khăn, thất bại không chỉ với báo chí, mà cả với các nhà kinh doanh, chính trị, giáo dục…Sau vài năm sinh hoạt với cộng đồng người Việt ở Mỹ, khi tham dự những buổi hội họp của các đoàn thể cộng đồng như hướng đạo, hội đồng hương, hội cựu học sinh… tôi nhận ra rất nhiều người điều hợp đã sử dụng một thứ ngôn ngữ Việt chuẩn mực, nghe thích vô cùng. Thứ ngôn ngữ mà tôi đã từng quen thuộc thời còn học tiểu học trước 1975, từ ông bà, cha mẹ. Nhưng rồi sau đó, nó dần dần bị bỏ quên trong nước. Ra hải ngoại, tôi bắt đầu nhận ra nó trở lại. Và cũng từ đó, tôi mới thấy mình không đúng khi trước đây “nổi cơn tự ái” vì bị bắt bẻ về một số từ ngữ. Tôi chú tâm đi tìm hiểu nhiều hơn nguyên do dẫn đến sự khác biệt giữa “tiếng Việt trong nước” và “tiếng Việt hải ngoại”.Phân tích về ngôn ngữ là một đề tài mênh mông và đòi hỏi chuyên môn. Bài viết này chỉ là những chia sẻ trong giới hạn của một người bình thường.Điều đầu tiên, ngôn ngữ thay đổi theo thời gian và hoàn cảnh sống. Có những thứ trước 1975 không có, hoặc chỉ có ở Mỹ mà chưa có ở Việt Nam. Từ đó  mà đẻ ra từ ngữ mới. Một thí dụ rất hay cho trường hợp này là nhóm từ “cà thẻ”. Đây chắc chắn là một từ do người Việt sinh sống ở hải ngoại đẻ ra. Trước 1975 không có “thẻ”(tín dụng) để mà “cà”. Còn người Việt trong nước thì phải vài chục năm sau 1975 mới quen với khái niệm này. Cả người trong nước lẫn hải ngoại đều dùng từ mới “cà thẻ” một cách hết sức tự nhiên, không ai tranh cãi.Một thí dụ khác là những từ ngữ kỹ thuật sử dụng trong ngành công nghệ thông tin, máy tính. Trước 1975 ngành công nghệ này còn phôi thai, chỉ mới bùng nổ vài thập niên cuối thế kỷ 20. Rất nhiều từ mới trong nước đã xuất hiện, dịch theo các từ ngữ chuyên môn từ Tiếng Anh. Thí dụ như “software”, người trong nước dùng từ “phần mềm”, còn ở hải ngoại dùng từ “nhu liệu”. Một tiếng Việt, còn một là từ Hán-Việt. Sự khác nhau không đáng kể.Trường hợp thứ hai, ngôn ngữ khác nhau do thói quen sử dụng. Đây có lẽ là nguồn gốc lớn nhất của sự khác biệt giữa từ ngữ trong nước và hải ngoại. Sau 1975, Việt Nam chìm trong bức màn sắt. Những người thoát ra ngoài nhờ di tản, vượt biên, đoàn tụ… có rất ít thông tin những gì xảy ra trong nước. Đến thập niên 90 thời mở cửa, sự liên lạc giữa người trong và ngoài nước mới trở nên dễ dàng hơn. Và sự khác biệt về nhiều mặt giữa người sống trong và ngoài nước bắt đầu được nhận diện, trong đó có vấn đề ngôn ngữ.Một thí dụ cho trường hợp này là từ “hộ chiếu” của người trong nước, và từ “thông hành” có từ trước 1975 và được người hải ngoại tiếp tục sử dụng. Cả hai đều  có nghĩa là giấy cho phép người mang đi qua biên giới (tiếng Pháp: “passeport”, hay tiếng Anh “passport”) Hộ Chiếu hay Thông Hành đều là từ ngữ  gốc Hán- Việt, nhưng cũng khác nhau. “Thông Hành” là từ ngữ thời quốc gia. Còn “Hộ Chiếu”, theo trang Vienam Global network, chỉ có hai nước cộng sản là Việt Nam và Trung Cộng dùng từ “hộ chiếu”. Có thể coi, tuy khác nhau nhưng còn có nghĩa để hiểu được.Tuy nhiên, nếu thói quen sử dụng do dùng sai nghĩa một từ, rồi cứ  lập đi lập lại và mặc nhiên cho là đúng, thì điều này cần xem xét lại. “Liên hệ” và “liên lạc” là thí dụ rõ nhất cho trường hợp này, và đã gây tranh cãi rất nhiều. Trước 1975 và ở hải ngoại, hai từ này phân biệt rõ ràng, và đúng theo nghĩa của cả từ Hán-Việt lẫn tiếng Anh. “Hệ” trong tự điển Hán Việt có nghĩa ràng buộc, có dính dáng, liên quan với nhau. “Liên hệ” được  dùng tương đương với từ “relation” bên tiếng Anh. Còn “liên lạc” có nghĩa là tiếp xúc, giao thiệp, tương đương với từ “contact” của tiếng Anh. Tuy nhiên, nếu tra tự điển trong nước ngày nay, thí dụ nhưwww.tratu.soha.vn thì thấy “liên hệ” đồng nghĩa với “liên lạc”. “Liên hệ” bây giờ là sự lắp ghép hai từ “liên lạc” và “quan hệ” lại, rồi gán cho nó ý nghĩa là:  “tiếp xúc, trao đổi để đặt và giữ quan hệ với nhau”. Đây là một cách dùng từ mà giới lãnh đạo trong nước rất hay làm, do đó đã đẻ ra những từ đặc trưng của chế độ, như  “quan ngại” (quan tâm + lo ngại), nay đã trở thành câu nói đầu môi chót lưỡi của Bộ Ngoại Giao CSVN.Việc cố tình đánh đồng nghĩa “liên hệ” và “liên lạc” như vậy đã tạo ra thói quen của người trong nước sử dụng chúng lẫn lộn với nhau. Nhưng nếu xét về nghĩa gốc, thì không thể nào “relation” và “contact” lại đồng nghĩa với nhau được.Và có cần thiết phải làm như vậy không? Tại sao phải đơn giản hóa, xóa đi sự khác biệt rõ ràng về nghĩa của hai từ này. Tại sao phải thay đổi từ va ønghĩa của từ đã có từ lâu trong lịch sử tiếng Việt?Có nhiều lý do. Có thể là do một người, một nhóm người nào đó trong giới lãnh đạo do ngu dốt hiểu không đúng nghĩa khi bắt đầu, rồi bắt cả xã hội dùng theo. Nhưng cũng có thể là do giới lãnh đạo CSVN cố tình muốn làm khác với ngôn ngữ truyền thống. Giả thiết này rất đáng tin cậy.Những người đã từng sống ở Miền Nam sau 1975 đều nhận thấy sự bài xích, cố tình xóa bỏ đi nền văn hóa, giáo dục của chế độ Miền Nam là một chủ trương rõ rệt của chính quyền cộng sản. Làm “cách mạng triệt để” phải xóa đi tận gốc “tàn dư của nền văn hóa chế độ cũ”! Và điều này cũng xảy ra ở những quốc gia cộng sản khác như Liên Xô, Trung Cộng.Không ai diễn tả ý đồ của các chế độ độc tài cộng sản khi đơn giản hóa ngôn ngữ chính xác hơn George Orwell, tác giả của Animal Farm, 1984. Khi nói về khái niệm Newspeak (ngôn ngữ mới), ông cho rằng các chế độ độc tài đơn giản hóa ngôn ngữ để triệt tiêu tư tưởng đối kháng. Ngôn ngữ được đơn giản hóa đến mức trần trụi, thô thiển, không cần văn hoa, cảm xúc, không có trí tưởng tượng. Con người không có tư tưởng, từ đó dễ trở thành một công cụ trong một guồng máy, dễ điều khiển, dễ sai khiến.Để đơn giản hóa ngôn ngữ, chính quyền cộng sản sau 1975 đã đổi từ máy bay “trực thăng” thành máy bay “lên thẳng”. Áo ngực đổi thành “nịt vú”. Những bảng hiệu như “cửa hàng thịt thanh niên tươi sống” bắt đầu xuất hiện. Và tệ hại hơn nữa, vào năm 1978, họ đổi bảo sanh viện Từ Dũ ở Sài Gòn thành “xưởng đẻ Từ Dũ”!Nói đến đây, vấn đề đã mở rộng hơn, không còn đơn thuần chỉ là “vấn đề ngôn ngữ”. Dù là người trong nước hay ở hải ngoại, đại đa số người Việt Nam đã nhận ra rằng đất nước mình từ hơn 60 năm qua đã được dẫn dắt bởi nhiều người lãnh đạo dốt nát, dối trá và tàn ác. Không bàn sâu về vấn đề chính trị, ở đây chỉ bàn đến khía cạnh họ đã hủy hoại con người, từ đó hủy hoại văn hóa, hủy hoại ngôn ngữ truyền thống trong cả xã hội Việt Nam như thế nào.Đã tự bao giờ, người Việt trở thành quen thuộc, nhàm chán với sự dốt nát trong cách sử dụng ngôn ngữ của giới lãnh đạo? Đã tự bao giờ, vì đã “nghe quen”, người Việt bắt đầu dùng thường xuyên những từ ngữ thể hiện sự dốt nát của giới lãnh đạo lúc nào mà không hay? Dùng một từ sai văn phạm, lẫn lộn với nhiều nghĩa khác nhau là một biểu hiện của sự ngu dốt, lười suy nghĩ. Phải chăng có một cán bộ cao cấp nào đó bắt đầu dùng từ “xử lý” một cách tùy tiện, bừa bãi, để rồi dần dần động từ này được cả xã hội trong nước dùng cho mọi trường hợp: “xử lý” công việc, “xử lý” văn bản, “xử lý” nước thải, “xử lý” bài hát… Có mấy ai nhớ lại trong từng trường hợp, tiếng Việt ngày xưa đã từng có những động từ khác nhau để diễn đạt những ý tưởng khác nhau: chế biến nước thải, diễn cảm bài hát, giải quyết công việc…Hai từ “vô tư” và “hoành tráng” cũng nằm trong trường hợp này. Có rất nhiều người trong nước, ban đầu cố tình sử dụng hai từ này sai chỗ để hàm ý diễu cợt. Nhưng rồi nói mãi, trở thành thói quen lúc nào không biết! Và dùng từ sai trong câu chuyện phiếm thì vẫn còn chấp nhận được. Nhưng viết từ với nghĩa sai trên bài luận văn, báo chí, nói ở những nơi chốn cần sử dụng ngôn ngữ Việt tiêu chuẩn như trong hội nghị ngoại giao thì đó là biểu hiện của sự xuống cấp văn hóa, ngôn ngữ của cả một xã hội.Ngôn ngữ thể hiện sự dốt nát là vậy. Còn ngôn ngữ thể hiện cái ác của lãnh đạo?Ngày nay, ở trong nước từ “máu” được sử dụng tùy tiện như di chứng của một thời đại “say máu quân thù” của Tố Hữu: “thằng này rất máu!”, “sao mà máu thế!”… Chẳng lẽ cách dùng từ “sắt máu” kiểu này trở thành ngôn ngữ Việt chính thống chỉ vì có nhiều người sử dụng?Những người ở lại Việt Nam cuối thập niên 70 đầu thập niên 80 vẫn còn nhớ hai tên gọi trái ngược nhau dành cho những người vượt biên: nếu vượt biên bị bắt, thì đó là “kẻ phản quốc”; nhưng nếu vượt biên trót lọt, thì đó là… “Việt kiều yêu nước”! Càng về sau, ở trong nước càng có nhiều từ thể hiện sự lươn lẹo của chính quyền. “Tàu lạ” là một từ chỉ có ở Việt Nam, và được sử dụng chính thức bởi quan chức, giới truyền thông báo chí, để né tránh gọi đích danh tàu Trung Quốc khi chúng tấn công ngư dân Việt. Và mới đây nhất, quan chức Bộ Giao Thông đã “sáng tạo” ra từ “trạm thu giá” để thay cho “trạm thu phí”, chỉ vì muốn hợp pháp hóa những trạm thu tiền của dân một cách vô tội vạ! Chẳng lẽ người Việt hải ngoại cũng phải chấp nhận dùng những từ ngữ đầy lươn lẹo như vậy, chỉ vì đa số người trong nước phải chấp nhận chúng?Khi biết tôi định viết về đề tài này, một người bạn  khuyên rằng “Ấy chớ! Đề tài này rộng lắm, và gây tranh cãi dài dài…”. Tôi cũng biết vậy, và cũng biết mình không phải là một nhà ngôn ngữ học.Trong phạm vi vài trang giấy, chỉ mong được chia sẻ, cảm thông giữa mọi người Việt Nam.Từ sau ngày cả nước bị dìm trong bạo lực cộng sản,  cả xã hội xuống cấp về mọi mặt, từ kinh tế, chính trị cho đến giáo dục, văn hóa, đạo đức… Phải sống trong hoàn cảnh như vậy, chúng ta rất dễ bị nhiễm những thói quen xấu mà không hề hay biết, trong đó có thói quen về ngôn ngữ.Khi sang đến một xứ sở văn minh như Mỹ, hầu hết chúng ta sẵn sàng từ bỏ những thói quen xấu trong một xã hội xuống cấp để hòa nhập vào xã hội mới, thí dụ như đi xe vượt đèn đỏ, không xếp hàng trật tự… Thói quen sử dụng ngôn ngữ cũng vậy. Hãy bình tâm nhận ra những từ ngữ xuất phát từ một xã hội mà sự gian dối, tàn ác, ngu dốt đang thắng thế và dần dần từ bỏ thói quen sử dụng chúng, giống như từ bỏ những thói quen xấu khác.Để có thể dẹp bỏ tự ái, xin hãy quan niệm như thế này: thứ ngôn ngữ Việt Nam đẹp, chuẩn mực không phải là của riêng cộng đồng người Việt hải ngoại, hay của những người Việt sống ở Miền Nam trước 1975. Nó là di sản chung của dân tộc Việt Nam, đã có từ thuở xa xưa, qua những câu hò, tục ngữ, ca dao, qua Hịch Tướng Sĩ của Trần Hưng Đạo,  truyện Kiều của Nguyễn Du, rồi tiếp nối bởi thế hệ hiện đại như Tự Lực Văn Đoàn, Nhân Văn Giai Phẩm, Sáng Tạo… Mỗi người Việt dù ở trong nước hay ở hải ngoại đều có sẵn di sản văn hóa ngôn ngữ đó trong tâm hồn. Chỉ từ khi đất nước gặp kiếp nạn cộng sản, những di sản ngôn ngữ văn hóa đó mới bị xóa bỏ, lu mờ. Những người ra đi sớm hơn có may mắn không bị ảnh hưởng bởi một nền văn hóa do những người dốt nát làm hỏng. Họ chỉ là những người gìn giữ lại cái đẹp của văn hóa, ngôn ngữ do tổ tiên dân tộc Việt Nam để lại.Vậy thì những người ra hải ngoại sau này cũng nên tự điều chỉnh, để rồi cùng tham gia vào một sứ mạng cao quí: gìn giữ tính Chân-Thiện- Mỹ của ngôn ngữ Việt Nam.Hãy tưởng tượng hình ảnh một dòng sông đang trôi chảy. Bỗng dưng có kẻ ngăn sông, biến một khúc quành của dòng sông tạo thành một vũng ao tù. Không muốn dòng sông không chịu cảnh tù đọng, một nhóm người khác đã tự khơi một nhánh mới, để nối dòng sông tiếp tục trôi chảy, không qua khúc quành đã bị chận lại thành ao tù. Sau một thời gian, một số dòng nước từ ao bắt đầu tìm đường chảy về con sông xưa. Từ chốn ao tù ra sông, những dòng nước cảm thấy khác lạ khi hòa nhập. Nhưng vì dòng sông xưa nay vẫn cuồn cuộn chảy, cho nên những nước ao tù nhanh chóng hòa mình vào dòng nước tự do. Và một này nào đó, khi những con đập ngăn sông bị phá, cả khúc  ao tù sẽ có dịp lại hòa mình vào dòng chảy lịch sử.Tôi muốn kết thúc bài viết này bằng cách mời mọi người hồi tưởng lại giọng hát của Thái Thanh qua một ca khúc bất hủ của Phạm Duy, nói về tình yêu đối với ngôn ngữ, con người, đất nước Việt Nam. Một tác phẩm văn hóa tuyệt đẹp, đã từng bị cấm đoán trong nước trong suốt ba thập kỷ:
Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời người ơi!
Mẹ hiền ru những câu xa vời , À à ơi! Tiếng ru muôn đời
Tiếng nước tôi! Bốn ngàn năm ròng rã buồn vui
Khóc cười theo mệnh nước nổi trôi, nước ơi!
Tiếng nước tôi! Tiếng mẹ sinh từ lúc nằm nôi
Thoắt ngàn năm thành tiếng lòng tôi, nước ơi!…


Dân Việt

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 15

Chăm sóc hoa hồng

Vị trí: Hoa hồng là loại cây thích hợp sống trong điều kiện thoáng gió và có nhiều nắng, nếu đủ nắng chiếu 8 tiếng 1 ngày cây sẽ sinh trưởng tốt và ít bị sâu bệnh gây hại, ra nhiều hoa và màu sắc của hoa cũng sáng đẹp, rực rỡ.
chăm sóc hoa hồng
Tưới nước: Nếu trồng dưới đất vườn bạn cần tưới mỗi ngày 1 lần, trồng trong chậu thì mỗi ngày tưới nước 2 lần vào sáng sớm và chiều mát. Cây hoa hồng cần đủ nước để lá quang hợp, nếu cây khô thiếu nước sẽ xuất hiện nhện đỏ hại cây, vàng lá và rụng lá. Bạn hạn chế tưới nước vào buổi tối vì nước sẽ đọng trên lá cây khiến lá cây dễ bị nấm bệnh. 
Dinh dưỡng:
Dinh dưỡng: Rất quan trọng trong việc quyết định cây hồng của bạn có ra nhiều hoa hay không, hoa có to và rực rỡ hay không đặc biệt là khi bạn trồng hoa hồng trong chậu. Bạn quan sát nhánh mới ra nếu có màu đỏ tía đậm và cành mập mạp tức là cây được cung cấp đủ dinh dưỡng, nếu nhánh gầy và cao thì cần bổ sung dinh dưỡng cho cây. 
Đất trồng: Bạn nên thay đất trồng mỗi năm 1 lần.
Phân bón: Kết hợp phân bón lá và bón gốc xen kẽ, định kỳ 1 tháng 1 lần.
Khi cây ra ngọn, lá non bón bổ sung phân hạt Dynamic, phân dơi quanh gốc cây rồi tưới nước giúp cây hấp thu tốt dinh dưỡng, pha phân NPK hay DAP nông nghiệp tưới lên lá thân và gốc.
Lúc cây mới nhú nụ hoa bón thêm kali hồng thì hoa sẽ có màu sắc đặc trưng đậm đà. Nhưng lưu ý lúc cây ra hoa không tưới phân vì sẽ làm hỏng hoa.
Cắt tỉa cành:
Thường xuyên cắt tỉa những cành nhánh đã già, cành yếu, không cần thiết, tạo tán cho cây, để kích thích cho cây ra nhiều mầm, ngọn của các mầm chính là nụ hoa.
chăm sóc hoa hồng 1

Sau khi hoa tàn, cần cắt bỏ phần bông hoa và cắt thêm 1 mắt nữa để kích thích cây ra mầm mới.

Sâu bệnh thường gặp khi trồng hoa hồng
Rệp: Nhiệt độ 20 độ C và độ ẩm 70-80% tạo điều kiện thuận lợi cho rệp phát triển nhanh nhất trong năm. Rệp có mầu xanh nhạt hoặc đỏ, xám. Rệp tập trung ở ngọn, mầm non và nụ hoa. Thay vì dùng thuốc diệt rệp, bạn nên làm cách rất đơn giản như sau: dùng một miếng bông, thấm nước và nhẹ ốp miếng bông vào ngọn cây có rệp, rệp sẽ bám dính vào miếng bông. Bạn làm liên tục 3-5 ngày là sạch bóng rệp nhé. Nếu nhiều bạn có thể dùng thuốc Supaside 40 ND nồng độ 0,15%, Supathion, Thiodal.
chăm sóc hoa hồng 3
chăm sóc hoa hồng 4
Rệp xanh thường tập trung ở mầm và nụ hoa.
chăm sóc hoa hồng 2

Bạn dùng một miếng bông, thấm nước và nhẹ ốp miếng bông vào ngọn cây có rệp, rệp sẽ dính và rụng vào miếng bông.

chăm sóc hoa hồng 5
Rệp dính vào miếng bông.
Nhện đỏ: cư trú ở mặt đất, chích hút dịch trong mô lá làm cho lá có màu vàng, quăn queo rồi rụng, khi có dấu hiệu này bạn dùng Peganus 500 SC 7-10 hoặc Ortus 5SC.
Sâu: Sâu đẻ trứng từng ổ dưới mặt lá, có thể ngắt bỏ ổ trứng, cắt bỏ hoặc tiêu huỷ các bộ phận bị sâu phá hoại và dùng các loại thuốc Supracide, Pegacus 500 SC, Cyperin 5EC.
chăm sóc hoa hồng 6

Sâu thường làm tổ trên mặt lá.

Bệnh phấn trắng: Gây hại trên các lá non, các lá bánh tẻ và cổ bông bệnh, phát triển rất nhanh làm lá biến dạng, thân khô, cây chết, bạn có thể dùng thuốc Score 250 ND, Anvil 5 SC để chữa bệnh này cho cây.
chăm sóc hoa hồng 7
Đốm đen: Bệnh phá hoại trên lá bánh tẻ, vết bệnh xuất hiện ở cả hai mặt lá, làm lá vàng, rụng hàng loạt. Bạn có thể dùng thuốc phòng trừ bệnh là Daconil 500 SC, Đồng Oxyclorua 30 BTN, Anvil 5 SC.
Bệnh gỉ sắt: Vết bệnh dạng chấm nổi màu vàng da cam hoặc màu gỉ sắt, hình thành ở mặt dưới lá, bệnh làm lá khô cháy, dễ rụng, thuốc phòng trừ là Kocide, Vimonyl 72 BTN, Daconil 500 SC.
chăm sóc hoa hồng 8
Chúc các bạn luôn có những bông hoa hồng rực rỡ nhé!
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 15

Nhiếp Ảnh Gia Vũ Công Hiển

 
 
Vũ Công Hiển
 
 
Sunset On The Mekong Delta
 
 
On The Long Way Home
 
 
 
 
 
 
Pfeiffer Beach At Sunset
 
 
Sand Playing In The Early Morning
 
Street Art
 
 
Straw Hat Vendor
 
Handcrafter At Sapa Night Market
 
Heading For The High Sea
 
 
Lantern Shop
 
 
Cow Race
 
 
A Real Fight
 
 
Feeding
 
 
Hunting Cheetah
 
 
Helping Grandma To Cook
 
 
Fish Cooking For Tet Sale
 
 
A Little H’Mong Girl
 
 
At Ngoc Son Temple
 
 
Early Morning On The Beach
 
 
Boatgirl In The Jungle
 
 
I Really Need A Break
 
 
Working On The Sea Salt Field
 
Long Time Friends
 
 
Saigon By Night
 
 
Sunset Bath
 
 
Sunset At Newport Beach
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 16

Xin hãy đọc 17 câu phương châm nầy để hiểu thêm ý nghĩ …. CUỘC ĐỜI “

Hãy đếm tuổi của bạn bằng số bạn bè chứ không phải số năm. Hãy đếm cuộc đời bạn bằng nụ cười chứ không phải bằng nước mắt. Khi cuộc đời cho bạn cả trăm lý do để khóc, hãy cho đời thấy bạn có cả ngàn lý do để cười.

1. Khi còn khỏe mạnh, ai cũng nghĩ rằng ngày tháng còn dài, cơ hội tương phùng không thiếu. Nhưng ai biết chăng đời người như ánh chớp giữa hư không, nhân sinh vốn là cơn ảo mộng. Cuộc đời người ta nguyên là một phép trừ, gặp nhau một lần cũng chính là trừ bớt đi một lần.



2. Thời còn nghèo khổ, hãy ít ở nhà mà ra ngoài nhiều hơn. Còn khi giàu sang rồi lại nên ở nhà nhiều hơn ở bên ngoài. Đây chính là nghệ thuật của cuộc sống.

3. Đừng buông lời làm tổn thương người khác khi bạn đang tức giận. Chớ lý giải, đánh giá người khác chỉ với đôi tai.

Đừng buông lời làm tổn thương người khác khi bạn đang tức giận.

4. Càng là lúc nghèo khổ càng nhất định phải phóng khoáng. Nghèo đừng oán trách, giàu cũng đừng khoe khoang. Sống đơn giản hơn, bình lặng nhưng thiết thực, làm việc thiện nhiều hơn tâm sẽ tự bình yên.


5. Cơ hội ít khi xuất hiện hai lần cũng như không ai tắm hai lần trên cùng một dòng sông. Có những chuyện một khi trôi qua là trôi mãi, chẳng có lần sau. Có những điều không nói ra sẽ mãi mãi là bí mật, sống để dạ chết mang đi. Hãy thành thực, hồn hậu sống tùy duyên, không lo ngày mưa, chẳng sợ ngày nắng, ung dung như cơn gió phiêu bồng.


6. Tha thứ cho người nào đó nhưng trong tâm vẫn không thể vui vẻ lên, vẫn còn oán hận. Ấy là vì bạn đã quên mất một điều: Tha thứ cho chính mình.



7. Tuổi trẻ là tài sản lớn nhất vậy nên hãy biết trân quý thời gian. Nghèo khổ không phải là bi kịch, mất đi lòng yêu sự sống mới là thất bại lớn nhất đời người.

8. Những thứ không cần đến dù có tốt đến mấy cũng chỉ là rác rưởi.


9. Một ngày kia bạn sẽ hiểu được rằng, lương thiện khó đạt được hơn thông minh. Thông minh là trời phú, còn lương thiện là một loại chọn lựa. Ở đời, đối đãi ta chọn thiện lương, xử sự ta chọn chân thành, đối với người thì khoan dung, đối với mình thì nghiêm cẩn. Được thế chẳng phải đã được sống một đời ung dung, tự tại nhất đó rồi sao?


Lương thiện khó đạt được hơn thông minh.


10. Quen biết bao nhiêu người không nói lên được bạn tài giỏi bao nhiêu. Chính là trong lúc hoạn nạn, khó khăn có được bao nhiêu người “quen biết” bạn?


11. Trên đời có những việc không cần giải thích, có những điều hôm qua còn là tranh chấp thiệt hơn ngày mai đã thành mây thành khói. Nếu không làm sai, bạn không cần giải thích, biện minh. Nếu đã làm sai, giải thích cỡ nào cũng chẳng ai tin bạn.


12. Người phụ nữ không có sức hút mới cảm nhận được thói trăng hoa của đàn ông. Người đàn ông không có thực lực mới cảm nhận được năng lực thật sự của phụ nữ.


13. Lúc người nghèo khổ chớ so đo, miệt thị. Người nghèo nhưng chí không nghèo, hãy đối đãi với họ bằng cả tấm lòng thiện lành, trân quý. Khi người giàu có cũng chớ cầu cạnh, nịnh hót xun xoe. Giàu tiền không bằng giàu đức, nhà rộng ba gian không bằng lòng người rộng rãi.


14. Đầy trong thiên hạ người quen biết, tri kỷ cùng ta được mấy người. Gặp người tri kỷ thì nâng cốc, thơ chỉ bình ngâm với bạn hiền.


15. Trên đời, chuyện không như ý thường chiếm đến 8, 9 phần. Có một số việc, đến lúc cần chấm dứt thì hãy chấm dứt. Có một số người, đến lúc phải quên thì hãy quên đi.


16. Hãy đếm tuổi của bạn bằng số bạn bè chứ không phải số năm. Hãy đếm cuộc đời bạn bằng nụ cười chứ không phải bằng nước mắt. Khi cuộc đời cho bạn cả trăm lý do để khóc, hãy cho đời thấy bạn có cả ngàn lý do để cười.


17. Chuyến phiêu lưu của đời là học hỏi. Mục đích của đời là trưởng thành. Bản tính của đời là thay đổi. Thách thức của đời là vượt qua. Tinh túy của đời là quan tâm. Cơ hội của đời là phụng sự. Bí mật của đời là dám làm. Hương vị của đời là giúp đỡ. Vẻ đẹp của đời là cho đi.


***

Với mỗi người khác nhau, hạnh phúc cũng sẽ có “hình dạng” khác nhau. Điều con trẻ mong cầu rất đơn giản, chỉ cần được vui chơi, có cái ăn cái mặc thì đã là hạnh phúc. Còn những điều người lớn theo đuổi lại phức tạp vô cùng, có ăn có mặc, lại còn phải có nhà lầu, xe hơi, thăng quan tiến chức.

Nhiều người cho rằng đuổi theo hạnh phúc thì sẽ bắt kịp, truy cầu tiền tài thì tiền tài sẽ đến. Kỳ thực, mọi chuyện nào có đơn giản như vậy! Một hôm chó con hỏi mẹ: “Hạnh phúc là gì hả mẹ?“. Chó mẹ ôn tồn nói: “Hạnh phúc chính là cái đuôi của con đó!“. Chó con nghe xong thích thú, vui đùa nhảy nhót cả ngày. Một hôm nó ỉu xìu đến trước chó mẹ than thở: “Mẹ ơi! Sao con chẳng bao giờ bắt được hạnh phúc của mình vậy?“. Chó mẹ lại dịu dàng: “Con chẳng cần phải đuổi bắt nó làm gì, chỉ cần con luôn mỉm cười và tiến lên phía trước thì hạnh phúc sẽ theo sau con đó!“.


Thực vậy, nhìn về phía trước, sống thật tốt cuộc đời của mình, buông bỏ đi ham muốn, dục vọng, hạnh phúc chính là đã ở sau lưng bạn rồi!

 
NAM GIANG TỮ
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 16

Mặt trái của nhân tính: Bạn càng nhân nhượng, người khác càng lấn tới, bài viết bạn không nên bỏ qua

Làm người có thể rộng rãi nhưng cần gặp được người biết báo ân; có thể lương thiện nhưng cần phải gặp người thông tình đạt lý. Những lời nói sau đây tuy chua chát nhưng lại chính là mặt trái trong nhân tính con người

Bạn càng nhân nhượng, người khác lại càng muốn lấn tới

 Bạn càng nhân nhượng, người khác lại càng muốn lấn tới. (Ảnh: Internet)

Bạn càng lùi bước, người khác lại càng tàn nhẫn hơn, càng muốn đuổi cùng giết tận.

Bạn càng tha thứ, người khác lại càng liều lĩnh hơn, càng không kiêng nể gì cả.

Bạn càng mềm lòng, người khác càng tham lam vô độ hơn.

Người hiền lành thường dễ bị bắt nạt, ngựa tốt thường bị người cưỡi.

Đây chính là bản chất trần trụi của nhân tính…

Bạn luôn theo đuổi, cũng sẽ dễ dàng bị ruồng bỏ.

Bạn luôn quan tâm, cũng sẽ bị ngoảnh mặt làm ngơ.

Bạn luôn cho đi, cũng sẽ bị coi là tất yếu.

Bạn luôn dốc lòng, cũng sẽ bị xem thành kẻ vô tâm.

Ngốc nghếch thường bị người đùa nghịch, thành tâm lại hay bị người giẫm đạp.

Đây là bài học xương máu…

Làm người có thể rộng lượng, nhưng cần phải gặp được người biết báo ân, bằng không, lòng tốt của bạn coi như uổng phí.

Làm người có thể rộng lượng, nhưng cần phải gặp được người biết báo ân. (Ảnh: Internet)

Làm người có thể lương thiện, nhưng cần phải gặp được người thông tình đạt lý, bằng không thì chỗ dụng tâm của bạn coi như lãng phí.

Làm người có thể bao dung, nhưng cần gặp được người có lòng có dạ, nếu không thì bao nhiêu nhẫn nại cũng là vô ích.

Hãy nói với những người không hiểu ân tình kia, đừng xem bạn là kẻ ngốc. Bạn có thể dễ dàng tha thứ cho họ, chỉ vì bạn coi họ là bằng hữu. Nếu như nói ra những điều xấu của họ, thì nhất định có người sẽ mất mặt.

Đối với bạn bè, tha thứ nhưng không dung túng. Đối với tình cảm, quý trọng nhưng không thể nuông chiều.

Bạn có nỗi khổ tâm, nhưng cũng cần ai đó hiểu được. Bạn không muốn nói tâm trạng, nhưng cũng cần một ai đó cảm thông.

Bạn từng xem tôi là kẻ có mắt không tròng, bây giờ tôi xem bạn như người qua đường xa lạ.

Bạn đã từng bao lần không đếm xỉa đến tôi, bây giờ tôi cũng không muốn ngó ngàng gì tới bạn.

Bạn từng xem tôi là người đa tình đa cảm, bây giờ tôi xem bạn tựa như gió thoảng qua tai.

Hãy dành trái tim chân thành của bạn cho những người quan tâm bạn nhất!

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 81