Category Archives: Góp Nhặt Trăm Hoa

TRONG NỖI CÔ ĐƠN HÓA THÂN – kim thanh

tặng tất cả những ai không còn mẹ
      Sáng ba mươi Tết năm nay, Trường bỗng dưng lù lù xuất hiện tại cửa nhà tôi. Một cách bất ngờ, không báo trước –do một đệ tam nhân cho địa chỉ, nhưng không biết số điện thoại của tôi. “Để thăm và chúc Tết bạn”, Trường cười nói. Lần đầu tiên, sau ba mươi mốt năm. Tôi quen Trường, một cách sơ giao, từ khi mới đặt chân đến Mỹ, năm 1985. Thỉnh thoảng gặp nhau tại nhà thờ, cũng chào hỏi, à ới vài câu cho đúng thủ tục của người “có văn hóa”, nhưng trong thâm tâm không bên nào muốn bước thêm bước nữa để trở thành bạn, đúng nghĩa. Bởi anh rất đạo đức, đạo mạo, cẩn trọng, mặc dù suýt soát bằng tuổi, ngược hẳn với tôi tính tình bộc trực, bất cần đời, thấy chướng tai gai mắt là đốp chát liền. Thấy tôi đâu, anh không quên mời gia nhập hội này hội nọ trong giáo xứ, lại còn nhắc năng xưng tội, rước lễ  –điều mà tôi luôn hứa, cho qua chuyện, nhưng không bao giờ làm. Riết rồi anh chán, và tôi cũng chán, tìm cách trốn anh.
      Trường sống một mình, không vợ con, kiểu tu tại gia. Nghe nói anh đã được phong vài chức thánh nhỏ, mà tôi cũng chẳng hỏi anh tại sao không thừa thắng xông lên đi làm thầy sáu hay linh mục, cho ấm thân. Công việc chính, âm thầm, mà anh tự đặt, là đi thăm viếng những đồng hương bị bệnh đang nằm điều trị ở nhà thương, hoặc tại gia, để an ủi, nâng đỡ tinh thần, đọc kinh cầu nguyện, có khi đem Mình Thánh Chúa đến cho họ v.v…

      Ngoài ra, Trường còn tình nguyện đi thăm các ông bà già trong những nhà dưỡng lão. Đó cũng là mục đích chính đã khiến Trường đến tôi bất ngờ sáng nay. “Tiện đường, rủ bạn cùng đi cho vui ấy mà”, anh nói. Tôi hỏi vặn: “Bộ hết người để rủ đi hay sao mà ông cứ nhắm tôi hoài vậy cà?” Anh cười, không trả lời. Mặc dù lu bu bởi trăm thứ việc không tên, tôi cũng thấy mềm lòng và mặc cảm tội lỗi với anh. Bèn OK.
      1. Nhà dưỡng lão tư mà Trường chở tôi đến cũng ở cùng khu với nhà tôi. Một căn nhà diện tích trung bình, sạch sẽ, thoáng mát, có một vườn nhỏ đầy hoa muôn sắc, xen lẫn với rau thơm đủ loại mà chủ nhân trồng thêm, cho những bữa ăn thuần túy Việt Nam. Bên trong cải biến thành một gian rộng, chia ra sáu phòng nhỏ vừa đủ cho sáu giường nằm. Có bếp và phòng vệ sinh chung. Bình thường, tổng số “cư dân” –toàn là trên bảy, tám bó– là sáu, hôm nay chỉ còn ba, vì các cụ lần lượt từ giã cõi trần, hoặc con cái muốn “đổi nhà dưỡng lão, với nhiều lý do riêng”, bà chủ nhà nói.
      Hôm ấy, Trường muốn thăm gặp, đặc biệt, một cụ ông 98 tuổi, Công giáo, không thân nhân. Vì vậy, chúng tôi vào thẳng phòng cụ trước, với sự hướng dẫn của bà chủ và một chị chăm sóc viên (caretaker), tên Sang, chuyên giúp các cụ ăn uống, làm vệ sinh, tắm gội, thay tã, dắt đi bộ ngoài vườn v.v…  Thấy có khách, cụ ông đang nằm cố gắng ngồi dậy, mặc dù Trường giơ tay ngăn cản. Trông cụ còn tráng kiện so với số tuổi, nói năng hoạt bát, nhưng đã lẫn, quên hết chuyện mới, ví dụ, vừa được Sang cho ăn đó, mà cụ lại không nhớ, kêu đói. Khiến chị phải cải chính, chỉ chỉ vào bụng của cụ. Trái lại, những chuyện cũ năm xửa năm xưa, cụ nhớ rất kỹ, và kể ra vanh vách, tuy không mạch lạc. Đặc biệt, nhớ cả bài thơ tình tám câu mà cụ nói cụ làm để tán tỉnh cô hàng xóm, thuở còn trẻ, “dễ thương ơi là dễ thương” (lời cụ), rồi cụ hứng chí đọc đi đọc lại bài thơ, lần nào cũng sai vài chữ, vài câu, rồi cười khanh khách, sảng khoái. Cười xong, cụ bỗng rơm rớm nước mắt, như trong lòng mang nặng tâm sự, và nằm vật ra giường. Trong lúc đó, bà chủ và chị Sang, vì bận việc, đã kín đáo bỏ đi, để mặc khách chuyện trò với cụ.
      Rời cụ ông 98 tuổi, chúng tôi thăm viếng xã giao, ngoài chương trình, hai “cư dân” còn lại, gồm một nam, một nữ. Cụ ông này, 85 tuổi, yếu lắm, bỏ ăn, một tuần trước đó, than khó thở, được xe cấp cứu chở đi bệnh viện nằm một ngày, và đưa về lại. Chủ nhà báo tin cho mấy đứa con cụ, nhưng ai cũng trả lời không thể ghé thăm, nại cớ bận đi làm. Nằm bất động trên giường, cụ chỉ lắng nghe, mà không nói, mà có nói cũng thều thào, không thành tiếng. Nửa tháng sau, tình cờ gặp lại Sang, tôi hỏi thăm về cụ, và nghe chị kể: “Mấy hôm sau khi hai anh gặp cụ thì cụ qua đời, lúc bấy giờ con cái mới tới, gọi nhà quàn cho xe đến chở xác cụ đi thiêu”.
      2. Rồi chúng tôi vào phòng cụ bà duy nhất. Cụ đã 86 tuổi, trông rất yếu. những còn tỉnh táo, minh mẫn, không lẫn chút nào. Gương mặt nhăn nheo phảng phất một nét đẹp thanh tú của ngày xưa còn sót lại. Sang nói, cụ được con cái thỉnh thoảng đến thăm.
      Lúc chúng tôi bước vào, cụ đang ngồi trên xe lăn, kế bên là Sang, tay cầm muỗng cơm, khom người dụ dỗ, thiếu điều năn nỉ, cụ mở miệng, để đút cho cụ ăn. Nhưng cụ lắc đầu, nhất quyết tuyệt thực. Chúng tôi nghe lời đối đáp giữa hai người:
      – Cụ ăn vài miếng giùm con đi. Đã hai ngày rồi, mà cụ không có gì trong ruột…
      Cụ òa khóc, nức nở:
      – Tôi nhớ con, nhớ cháu lắm, cô cho tôi về thăm nhà ba ngày Tết đi, rồi tôi trở lại, tôi hứa mà, giúp tôi đi, cô ơi. Con tôi không tới đón tôi về, thì tôi nhất định ngậm miệng…
      Mủi lòng, tôi tiến đến bên, cúi xuống, choàng vai cụ, vỗ nhẹ lưng, và lấy giấy Kleenex lau nước mắt cho cụ, trong khi Sang nói tiếp:
      – Cụ ăn đi, rồi chốc nữa, mấy anh mấy chị sẽ đến đón cụ về…
      Cụ ngừng khóc, vẻ mặt u buồn đổi sang một chút hớn hở, nhưng còn thút thít, hoặc nấc lên, tức tưởi, như trẻ thơ, và hỏi lại:
      – Thật nhé?
      – Dạ thật.
      Lúc đó, cụ mới hả miệng, chịu ăn hết chén cơm, có rau, thịt, và uống hết một ly nước cam vắt. Xong xuôi, như thường lệ, Sang bế cụ lên giường, để cụ nghỉ trưa.
      Ra khỏi phòng, chị khẽ kể cho hai chúng tôi rằng, theo lời yêu cầu của cụ, bà chủ đã gọi các con cháu, khá đông, đến rước cụ về thăm nhà trong dịp Tết, nhưng ai cũng trả lời là bận đi làm, không thể đưa cụ về được. Chị nói: “Khi nãy, em phải nói như thế để cho cụ chịu ăn, chứ thật tình em biết qua bà chủ là họ sẽ không đến. Hóa ra mình nói dối với cụ”. Tôi trả lời: “Chị đừng áy náy. Lúc còn chiến tranh, tại Phan Thiết, tôi cũng đã một lần nói dối với bà mẹ của một người lính ở đơn vị vừa chết trận. Gặp bà mẹ anh đang bị bệnh nặng nằm thoi thóp trên giường, hỏi thăm con, tôi không nỡ, và không thể, nói thật… Trong trường hợp này, chị đã phản ứng không khác chi tôi.”     
      Trường đứng im, lắc đầu, không nói gì. Còn tôi, tự dưng, thấy tái tê, đau đớn, như có trăm nghìn mũi kim vô hình đâm xuyên trái tim. Chợt nghe vọng về bên tai những câu hát quen thuộc, bất hủ, tưởng đã chôn vùi trong ký ức từ lâu:
      “Mẹ mẹ là dòng suối dịu hiền. Mẹ mẹ là bài hát thần tiên. Là bóng mát trên cao. Là mắt sáng trăng sao. Là ánh đuốc trong đêm khi lạc lối. Mẹ mẹ là lọn mía ngọt ngào. Mẹ mẹ là nải chuối buồng cau. Là tiếng dế đêm thâu”… (Phạm Thế Mỹ).
      Hay “Lòng Mẹ bao la như biển Thái Bình rạt rào / Tình Mẹ tha thiết như giòng suối hiền ngọt ngào / Lời Mẹ êm ái như đồng lúa chiều rì rào / Tiếng ru bên thềm trăng tà soi bóng Mẹ yêu”… (Y Vân).
      Hay “Maman, Maman jolie (Mẹ ơi, Mẹ xinh đẹp ơi) / Maman tu es la plus belle du monde (Mẹ, mẹ đẹp nhất trần đời) / Aucune autre à la ronde n’est plus jolie (Không ai chung quanh đẹp hơn)”… (Dalida).                       
      3. Và tôi bỗng thấy nhớ Mẹ dấu yêu của tôi quay quắt –đã ra đi, về với Tuổi, từ bao thu rồi. Thầm ước mong, và tưởng tượng, một ngày nào Mẹ thức dậy từ giấc ngủ ngàn năm, và cũng bảo tôi đưa về thăm nhà, vì nhớ con, nhớ cháu. Để Mẹ ôm chặt các con, các cháu vào lòng, không rời, trong vòng tay trìu mến. Để cho tôi khóc cạn nước mắt, trên vai gầy của Mẹ, trên trọn cuộc đời này. Khóc cho mẹ tôi, giờ đây vẫn nằm dưới mộ sâu, vô vàn cách trở. Khóc cho tất cả những người mẹ thân xác còn đó mà một nửa hồn đã chết, như hoa tàn rụng, trong nỗi tuyệt vọng vô bờ và chờ đợi mỏi mòn.
     Trong nỗi cô đơn tột cùng. Trong nỗi cô đơn hóa thân. Qua hình hài của một bà cụ 86 tuổi tội nghiệp, một bà mẹ đáng thương đã bỏ ăn, bỏ uống, vì không được con cái đón về nhà để vui Xuân cùng với gia đình. Một bà mẹ bất hạnh, khổ đau, không quen biết –mà tôi đã không hẹn đến để thăm gặp, để lau hộ những dòng lệ héo hắt tuôn rơi, vào sáng ngày ba mươi Tết, năm nay, tại một nhà dưỡng lão Portland.
Portland, 4 tháng 3, 2016

 

Kim Thanh 
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 3

Sự tích 12 con Giáp

http://baomai.blogspot.com/
Ngày xửa ngày xưa, sau nhiều vòng tuyển chọn gắt gao, Trời đã tìm được 12 con vật sẽ đại diện 12 địa chi. Tuy nhiên, Trời còn băn khoăn chưa biết xếp ai đầu bảng. Thế nên, một cuộc họp đã được triệu tập để tìm ra loài xứng đáng nhất.
Anh Trâu to lớn hăng hái phát pháo đầu tiên: “Loài Trâu chúng tôi có công lao động giúp người no ấm. Con người bao giờ cũng coi trọng trâu, “con trâu là đầu cơ nghiệp,” “con trâu đi trước, cái cày theo sau.” Việc lớn phải làm trong đời là “tậu trâu, cưới vợ, làm nhà.” Trâu vừa là “đầu,” vừa là “trước,” lại còn hơn cả… vợ nữa nhé. Tôi đứng đầu là phải rồi.
http://baomai.blogspot.com/
Bác Hổ nghe nói thế cười khì bảo: Anh trâu ơi, để anh đứng đầu rồi người ta suốt ngày làm quần quật như… trâu à? Anh quan trọng với người thật, nhưng họ chỉ xem anh như cái cày cái cuốc thôi. Còn tôi đây đường đường xưng hiệu “chúa sơn lâm,” ai nhắc đến cũng phải kính nể gọi một tiếng “ông ba mươi.” “Chúa sơn lâm” tất phải đứng đầu rồi, lãnh đạo phải có uy như tôi đây mới được.
http://baomai.blogspot.com/
Cô Mèo liền lên tiếng: Bác Hổ nói có lý đấy, nhưng thời nay làm sếp mà không có… ngoại hình cũng không được đâu. Hình dáng bác khiếp thế kia, làm sao đi… giao dịch chứ? Phải như em đây, mình nhỏ, eo thon, dễ luồn dễ lách, lại giỏi lấy lòng, ăn vụng còn biết… chùi mép, có lỡ “ị” ra cũng biết cách giấu diếm… thế mới làm lãnh đạo được chứ? Bác không biết phụ nữ rất yêu loại mèo bọn em à? Mà phụ nữ là ưu tiên một đấy nhé.
http://baomai.blogspot.com/
Cậu Chó nhảy vào nói: À không, không thể được, người đứng đầu mà lại lươn lẹo như cô em à? Phải là người trung thành, đáng tin cậy như anh đây. Người ta bảo chó là người bạn tốt nhất của con người, ai mà cầm tinh tuổi anh đều dễ… thương cả đấy.
http://baomai.blogspot.com/
Nghe thấy thế, bác Rồng vừa e hèm vừa vuốt râu: Cậu em chó có thể làm bạn với người, nhưng ta cần… sếp, chứ có cần bạn đâu? Như ta đây, linh thiêng, cao quý mạnh mẽ nhất, luôn ở trên trời, sai gió gọi mưa… thế mới xứng là người đứng đầu chứ!
http://baomai.blogspot.com/
Cô Rắn liền xì một tiếng rõ to, vừa uốn éo mình xà, vừa phát biểu: Bác Rồng ơi, bác nhìn quanh xem, có ai là con vật tưởng tượng như bác không? Bác mà đứng đầu, thiên hạ lại chẳng bao giờ biết mặt mũi bác là ai, nhưng như mấy ông quan… liêu ấy à? Cử bác làm sếp, em chỉ e việc gì rồi cũng ảo như quỹ đầu tư thì chúng em… chết. Chi bằng cứ chọn em đây, trông cũng giống bác, nhưng được cái sờ tận tay, day tận mặt được. Bác cứ hỏi quý ông xem có ủng hộ rượu tam xà, ngũ xà không nào?
http://baomai.blogspot.com/
Anh Ngựa gõ móng ra chiều không thuận: Hình dáng cô rắn mà làm sếp khó coi lắm, làm… Thư ký thì được. Cô cứ uốn éo thế kia, lại mang nọc độc, ai mà dám ngoại giao với cô? Phải chọn tôi, nhanh nhẹn, dáng đẹp này, biết đoàn kết này: “Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ” đấy, làm kinh tế giỏi này. (Không tin các bác cứ đến trường đua… ngựa mà xem nhé).
Bác Dê be he lên một tràng: Chọn anh để thói … ngựa nó xuất hiện ngày càng nhiều à? Lý do chọn tôi không thể đơn giản hơn các bác ạ. Thử hỏi không bắt chước loài… dê chúng tôi, có duy trì nòi giống con người không? Khối ông quan to vẫn học theo sư phụ này đấy nhá.
http://baomai.blogspot.com/
Cậu Khỉ liền góp tiếng: Này, xét ra, tôi mới chính là tổ tiên loài người, trông… người hơn quý vị nhiều đấy. Lại nhớ xưa kia Tề Thiên Địa Thánh oai hùng đại náo thiên cung, danh vang khắp chốn. Tôi đứng đầu mới hợp lẽ.
chicken animated GIF
Anh Gà vỗ cánh phành phạch: Cậu cứ hay làm trò khỉ, sao đủ nghiêm túc đứng đầu? Phải như tôi đây, gồm đủ Văn – Võ –Nghĩa –Tín –Dũng, lại mỗi sáng đều dậy sớm gọi mặt trời. Có tôi đứng đầu, đời mới tươi sáng chứ.
http://baomai.blogspot.com/
Chú Heo đứng mãi cuối hàng, bây giờ mới lên tiếng: Các bác ạ, em chẳng có công trạng to lớn gì, nhưng giúp người no ấm cũng chả kém anh Trâu là mấy, chỉ cần bán… thân em cũng đủ. Con người cũng tôn kính em chả kém bác Hổ, chẳng thế mà người ta luôn đặt đầu em lên bàn thờ những dịp lễ trọng. Còn trò của bác Dê bọn em cũng làm rất tốt. Em chỉ biết, nhìn em là thấy sung túc, no đủ, với lại an nhàn rồi. Con người ai chẳng thích thế hả các bác, dân dĩ thực vi tiên mà. Chọn em đứng đầu mới phải.
image
Các con vật đều đã phát biểu, Trời nhìn đi nhìn lại mới thấy chú Chuột từ đầu cứ tủm tỉm cười mà chẳng nói gì. Trời liền phán hỏi: “Tại sao Chuột không nói gì? Hay ngươi không muốn đứng đầu?
http://baomai.blogspot.com/
Chuột liền cung kính đáp: “Bẩm Trời, con nghe các bác này nói mà thấy họ đều lầm cả. Ví như bác Hổ, có sức mạnh đấy nhưng chỉ dọa được vài người là cùng. Anh Trâu, anh Ngựa, anh Chó, cô Mèo… đều chỉ quanh quẩn xó nhà, tác động không thể to lớn. Anh Gà, bác Rồng chỉ có giá trị tinh thần, khó… thuyết phục quần chúng lắm. Còn họ nhà Chuột chúng con, tuy nhỏ bé nhưng cắn phá hết mùa màng làm hư hao kho to đụn lớn đều là chuyện nhỏ. Nhiều ông quan hạ giới đục khoét kho tàng rỗng ruột rồi đều đổ cho Chuột làm, xem thế đủ biết sức mạnh loài Chuột. Lại có câu “cháy nhà mới ra mặt Chuột,” chui sâu, trèo cao, ẩn mình kỹ lưỡng… như thế, nên loài chuột chúng con hay được ví với những ông quan to, hay nắm giữ chức cao quyền lớn, mà sức ăn thật vô cùng, chẳng từ thứ gì. Những kẻ ấy thật ra là những con chuột lớn đi hai chân mà thôi. Vì thế mà con thiết nghĩ chỉ có chúng con mới xứng đáng, thưa Trời!
image
Nghe lập luận đanh thép này của Chuột, chẳng loài vật nào nói được gì nữa. Thế là từ đó, Trời chọn Chuột đứng đầu 12 con giáp, khiến cho mãi đến nay, rất nhiều Chuột hai chân vẫn còn nhan nhản trên đời!  Sưu tầm  
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 11

“Lúc cha mẹ cho con thứ gì, con đều nở nụ cười, lúc con cái cho cha mẹ thứ gì thì cha mẹ khóc”

Trên thế gian này, chỉ có cha mẹ mới toàn tâm toàn ý yêu thương ta mà không đòi hỏi gì. Vì con, họ có thể làm tất cả mà không cần báo đáp. Nhưng liệu chúng ta mấy ai ý thức được điều đó, hay chỉ nhận ra khi mọi chuyện đã quá muộn màng.


Tôi lên giường ngủ lúc 11 giờ khuya, bên ngoài trời đang có tuyết rơi. Tôi co ro rúc vào trong chăn, cầm chiếc đồng hồ báo thức lên xem thì phát hiện nó đã ngừng hoạt động từ lúc nào, tôi đã quên không mua pin cho nó.
Bên ngoài trời lạnh như thế, tôi quả thực không muốn phải ngồi dậy, liền gọi điện thoại cho mẹ: “Mẹ ơi, đồng hồ báo thức của con hết pin rồi, ngày mai con có cuộc họp công ty, khoảng 6 giờ mẹ gọi điện đánh thức con dậy nhé!”.

Mẹ ở đầu dây bên kia giọng như đang ngái ngủ, nói: “Được rồi, mẹ biết rồi!”.
Sáng hôm sau, điện thoại báo thức vang lên trong lúc tôi còn đang mộng đẹp. Ở đầu dây bên kia, mẹ nói: “Con gái mau dậy đi, hôm nay con còn có cuộc họp đấy”.
Tôi mở mắt nhìn đồng hồ, mới có 5h40, liền cảm thấy khó chịu mà cằn nhằn mẹ: “Chẳng phải con nói 6 giờ mới gọi con dậy sao? Con còn muốn ngủ thêm một lát nữa, lại bị mẹ làm phiền rồi”.
Mẹ ở đầu dây bên kia lặng im không nói gì, tôi cũng cúp điện thoại…
Tôi ngồi dậy rửa mặt, chải đầu rồi ra khỏi nhà. Thời tiết thật lạnh, khắp nơi toàn là tuyết, trời đất chỉ một màu.
Tại ga xe bus tôi không ngừng dậm chân cho đỡ lạnh, trời vẫn còn tối đen như mực, đứng bên cạnh tôi là hai ông bà lão tóc bạc trắng.
Tôi nghe ông lão nói với bà: “Bà xem xem, cả đêm ngủ không yên giấc, mới sáng sớm đã thúc tôi dậy rồi, nên giờ mới phải chờ lâu như thế”.
Năm phút sau, cuối cùng xe bus cũng đã tới. Tôi vội bước lên xe, tài xế là một người thanh niên còn rất trẻ, anh ta chờ tôi lên xe rồi vội vã lái xe đi.
Tôi nói: “Khoan đã! Anh tài xế, phía dưới còn có hai ông bà lão nữa, thời tiết lạnh như thế mà họ đã đợi từ rất lâu rồi, sao anh không chờ họ lên xe mà đã đi rồi?”.
Anh ta ngoảnh đầu lại, cười nói: “Không sao đâu, đó là cha mẹ của tôi đó. Hôm nay là ngày đầu tiên tôi lái xe bus, nên họ đến xem tôi đấy”.
Tôi đột nhiên rơi lệ, nhìn lại dòng tin nhắn của cha tôi: “Con gái, mẹ của con cả đêm ngủ không được, mới sáng sớm đã tỉnh dậy, bà ấy lo con sẽ muộn giờ”…
Người Do Thái có một câu ngạn ngữ: “Lúc cha mẹ cho con thứ gì, con đều nở nụ cười; lúc con cái cho cha mẹ thứ gì, cha mẹ khóc”. Cả đời này, người có thể làm cho chúng ta mọi thứ mà không cầu báo đáp chỉ có cha mẹ, vậy nên, dù thế nào cũng đừng phàn nàn họ, hãy thông cảm cho họ, quan tâm tới họ.

Hãy trân trọng từng phút giây bên cha mẹ, bởi không ai biết được khi nào họ sẽ rời xa ta mãi mãi. Khi cha mẹ còn hãy luôn nở nụ cười, hãy luôn quan tâm chăm sóc tới họ, đừng để cha mẹ mỏi mắt ngóng trông mà không nhìn thấy hình bóng của bạn.
Nhưng nếu một ngày cha mẹ buộc phải ra đi, họ sẽ không thể báo trước cho bạn một lời nào, không thể tiếp tục gọi tên bạn, cũng không thể cùng bạn ăn cơm và quan tâm tới bạn được nữa…
Cây muốn lặng mà gió chẳng ngừng, con muốn báo hiếu mà cha mẹ đâu còn? Giá như ta đã có thể bớt xem một bộ phim, bớt chơi một ván cờ, bớt đi dạo cùng bạn bè, để dành thời gian ở bên cha mẹ, ta sẽ cảm thấy bản thân đỡ ân hận phần nào!
Bởi vậy, nhân lúc cha mẹ còn đang khỏe mạnh, hãy an ủi tinh thần cho họ, hãy dành nhiều thời gian hơn để bên cạnh họ, cố gắng đáp ứng hết nguyện vọng của họ, đừng khiến cho bản thân sau này phải hối hận.
Hãy yêu thương cha mẹ như yêu thương chính bản thân mình, bởi vì họ cũng cần được yêu thương… Và nếu có một ngày thực sự họ rời đi, chúng ta sẽ không phải ngậm ngùi về những tháng ngày đã qua…

ST
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 14

15 Chân Lý của Đức Phật

Nếu muốn cuộc sống hạnh phúc bạn đừng bỏ qua 15 chân lý của Đức Phật
Làm người phải đầy đủ, ngọn nguồn của niềm vui là cảm giác hài lòng mỗi ngày, cuộc sống đầy đủ thì không phải nghĩ ngợi lung tung.
maxresdefault (1)

1. Là người biết hài lòng, sẽ cảm nhận được hạnh phúc, không biết hài lòng, mãi mãi không biết hạnh phúc.
2. Đừng làm nô lệ của dục vọng, lòng người không thể như rắn nuốt voi, luôn luôn cảnh giác dục vọng không tốt.
3. Làm người phải biết vui vẻ, niềm vui và nỗi buồn luôn xen kẽ lẫn nhau, vì thế vui vẻ hay buồn bả cần có mức độ thì cả đời mới bớt khổ.
4. Không đi đến cực đoan, đi đến cực đoan bao giờ cũng gặp thất bại thảm hại, phải chủ động tìm kiếm sự khôn ngoan của cuộc đời.

chuaadida_full_hoc-cach-buong-xa-de-phien-nao-qua-di-binh-an-tro-ve

5. Không so sánh, luôn điều chỉnh tâm thái, để những ngày đi qua đều tốt đẹp.
6. Không tồn tại ác tính, tâm có ác, tất nhiên tinh thần không tĩnh.
7. Làm người phải không ngừng vươn lên, bần cùng thường tương liên với chán nản, người nghèo thường tương quan với ý chí ngắn ngủi, chỉ có tự lực tự cường, ngày tốt đẹp mới bắt đầu.
8. Không sống quá mệt mỏi, học cách thư giãn.
9. Không oán trách, oán trách không có lợi ích, lạc quan là quan trọng nhất.
10. Làm chủ cuộc sống, đừng đi thay đổi người khác, tự mình phải làm chủ được bản thân mình.

1loi-phat-day-ve-buong-bo-phien-nao-phunutodayvn-1437-phunutoday

11. Làm người phải đầy đủ, ngọn nguồn của niềm vui là cảm giác hài lòng mỗi ngày, cuộc sống đầy đủ thì không phải nghĩ ngợi lung tung.
12. Làm người phải biết yêu thích bản thân, học cách yêu thương mình, mỗi ngày tặng cho bản thân 1 nụ cười, tại sao không làm cho cuộc sống vui vẻ?
13. Không hối tiếc, ván đã đóng thuyền, hối tiếc không có lợi, phải ôn hòa nhã nhặn để giải quyết vấn đề còn lại.
14. Làm những việc nên làm, theo ý muốn của mình, học tốt những kỹ năng cần thiết.
15. Không tranh luận đến đánh giá của người khác, không có một bức tranh nào là không bị người khác đánh giá, không có một con người nào không bị người khác bàn luận. Nguồn: Internet
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 13

Hòn đá bên cây tùng

coi-tung

Cội tùng cheo leo bên vực thẳm trong vườn quốc gia Zion, bang Utah, Hoa Kỳ 

Sinh ra lớn lên tại khu ghetto nghèo đầy tội phạm thường thấy tại các thành phố lớn, John không có cha, mẹ nghiện ngập suốt ngày. Bao nhiêu tiền chính phủ trợ cấphàng tháng cho gia đình nghèo, mẹ anh dùng mua rượu, thuốc.
John nhiễm theo tính xấu môi trường chung quanh, tuy chưa dính vào ma túy, nhưng thỉnh thoảng trốn học, cạy cửa xe, đột nhập nhà ăn trộm để có tiền mua những món đồ mình thích. John cũng từng bị cảnh sát bắt một lần nhưng dưới tuổi trưởng thànhnên chưa phải ngồi tù..

Do mẹ anh không còn tiền mua thực phẩm, John ăn sáng ăn trưa tại trường học được Bộ Xã hội tài trợ cho học    sinh nghèo. Chiều tối John cuốc bộ đến nhà ăn từ thiện dưới phố dành cho người khốn khó. Đến đây ăn đã nhiều năm nhưng John không quen ai trong nhóm thiện nguyện, bởi mỗi ngày có những nhóm khác nhau tham gia phục vụ.
Người duy nhất John nhớ đến là ông già tuổi ngoài 70 thường làm vào chiều thứ Bảy. Mỗi lần gặp, ông cười tươi, chào mọi người đến ăn rất chân tình. Ông khéo léo múc các món thức ăn vào khay, tươm tất gọn gàng. Khi đưa khay thức ăn, ông bao giờ cũng niềm nở, chúc người ăn ngon miệng như thể đang phục vụ cho vị khách cao quý tại nhà hàng sang trọng nào. Mỗi lần gặp ông, John cảm thấy an lạc, nhẹ nhàng. Thỉnh thoảng khi vắng người, thấy John ngồi ăn lẻ loi một mình, ông pha ly nước cam đem đến.
John thường không giấu ông điều gì, ngay cả chuyện đánh nhau ở trường hay cạy xe ăn cắp vặt bị cảnh sát bắt. Ông ngồi nghe chăm chú gật gù, cám ơn người thiếu niên to lớn tuổi teen đã chia sẻ. Sau mỗi lần trò chuyện, ông luôn cười rất tươi khuyên John:
-­ Làm cậu bé tốt tính đi! Đừng làm chuyện dính vào phiền phức nữa, khi đến tuổi trưởng thành sẽ không tốt cho cháu.
John bản tính ương ngạnh, máu giang hồ ảnh hưởng từ khu ghetto, cười lanh lảnh, chỉ vào bắp tay cuồn cuộn, tự hào:
-­ Cháu mạnh, chắc như đá tảng. Không ai làm gì được cháu đâu!
Không giống như những người khác đến dùng cơm một thời gian rồi ra đi, John đến đây hàng ngày, năm này qua năm kia nên tất cả các nhóm thiện nguyện đều biết đến cậu tuổi teen này. John trở nên thân thiết gắn bó với ông già, gọi ông thân mật hí hỏm bằng cái tên tự đặt: Ông già Cool (cool: vui vẻđiềm tĩnh).
Bẵng đi một thời gian dài John đột nhiên biến mất không đến dùng cơm. Mọi người thắc mắc muốn tìm hiểu nhưng không biết địa chỉ. Mấy tháng sau, viên cảnh sát đến tìm ông Cool tại nhà ăn, trao bức thư:
“Ông Cool ơi, cháu đã 20 tuổi rồi, đang ngồi tù vì tội trộm cướp.. Mẹ cháu mất hơn nửa năm nay. Tháng tới cháu sẽ được thả nhưng không biết phải đi đâu, làm gì để sống. Với hồ sơ tội phạm nếu không người bảo lãnh sẽ không ai muớn cháu, dù có tiền thuê nhà không ai sẽ cho cháu thuê. Cháu không muốn sống trở lại với giới giang hồ để tiếp tục con đường cũ.. Cháu muốn làm người tốt, ông ơi!”.
*
Buổi chiều bước chân ra khỏi nhà tù, nét mặt John mệt mỏi, hoang mang cực độ sau một đêm trằn trọcCảm giác được tự do không đủ làm anh vui khi đối diện tương lai vô vọng phũ phàng.. John thất thểu bước đến trạm đăng ký xe miễn phí dành cho tù nhân mãn hạn, dù không biết phải đi đâu. Hình như có ai đang vẫy tay nơi xa xa. Nụ cười tươi mát ấy, khuôn vóc điềm tĩnh ấy, không thể nào ai khác, John mừng rỡ kêu to, anh chạy ào đến ôm choàng, siết chặt:
-­ Ông Cool!
Ông xoa nhẹ, vỗ về tấm lưng chắc thịt của người thanh niên mới lớn, ông cho biết các nhóm thiện nguyện tại nhà ăn đã quyên góp mướn căn phòng gần đó giúp anh có nơi cư trú trong 6 tháng. Ông sẽ chở John về nhà ở tạm đêm nay rồi ngày mai đi nhận phòng. John bàng hoàng như không tin vào chính tai mình. Mới vài phút đây thôi anh thấy cô đơn lạc lõng tận cùng. Thế giới như không có anh, loài người như không biết đến sự hiện hữu của anh. Cảm giác được yêu thương, được chấp nhận làm John xúc động mạnh. Mắt anh hoen ướt đầu tiên trong đời.
Ông Cool sống một mình trong căn nhà nhỏ chỉ có một phòng ngủ nhưng có phòng khách lót sàn gỗ khá rộng thoáng. Nơi đây ngoài mấy kệ sách, vài tấm gối ngồi trên sàn của Nhật (tọa cụ), có chiếc bàn thô sơ chưng bức tượng đồng ngồi mỉm cười thật đẹp mà John không biết là ai và có ý nghĩa gì. 
Ông Cool làm sẵn món mì Ý đãi John trong buổi cơm chiều. John kể cho ông nghe nhiều khía cạnh khốc liệt đời sống trong tù. Ông chăm chú lắng nghe, gật gù. Dùng bữa xong, ông khuyên John đi tắm để ông lót nệm ngoài phòng khách cho John ngủ tối nay. Khi tắm xong, John bước rakhông gian thanh tịnh lạ lùng. Anh chợt giật mình khi thấy ông Cool phong thái rất an nhiên, ngồi thẳng lưng lặng im giữa căn phòng, miệng mỉm cười cùng bức tượng trên bàn.
Đột nhiên ông nói khẽ:
-­ Cháu ngồi xuống đây bên cạnh ta, trên tấm gối này, chúng ta cùng trò chuyện.
John nghe lời, ngồi xuống như dáng ông ngồi, nhìn vào bức tượng đang mỉm cườiKhông gian lắng đọng, anh nghe được cả hơi thở chính mình.
Ông Cool hỏi John:
– Cháu kể về đời sống trong tù, thế cháu có dự tính gì sau khi ra tù không?
-­ Cháu không biết bắt đầu ra sao ông ạ, mọi chuyện đối với cháu như ngõ cụt. Cháu may mắn được ban thiện nguyện giúp 6 tháng tiền trọ, nhưng sau 6 tháng cháu cũng không biết phải làm gì.
Vẫn nhìn bức tượng mỉm cười, dáng an nhiên bất động, ông lên tiếng:
– Thật ra cháu đã biết bắt đầu rồi đấy chứ. Cách đây 1 tháng, cháu biết bắt đầu bằng nhận thức rằng mình phải làm người tốt. Chính điều ấy đã gieo mầm cho những điều tốt đẹp hôm nay. Nếu cháu tiếp tục con đường làm người tốt thì điều tốt đẹp sẽ tiếp tục đến với cháu.
-­ Nhưng cháu tiếp tục như thế nào hở ông? Cháu sẽ cố gắng xin việc làm, nhưng cháu không có kinh nghiệm gì. Ai sẽ mướn một người từng ở tù như cháu?
Nhẹ nhàng, ông Cool khuyên:
-­ Cháu hãy cố gắng kiếm việc làm hàng ngày. Ai cũng muốn thuê người tốt.. Vậy cháu nên làm gì để mọi người có cơ hội biết cháu là người tốt?
Suy nghĩ một lúc lâu, John lên tiếng, giọng vẫn còn rổn rảng, khô cứng của giới giang hồ:
– Mỗi ngày ăn ở nhà ăn thiện nguyện, cháu sẽ giúp dọn dẹp, rửa chén hoặc bất cứ việc gì cần làm.
Ông Cool đôi mắt sáng biểu lộ niềm vui:
– Thật tuyệt vời! Cháu thấy không? Cháu biết mình phải bắt đầu như thế nào mà.
Chỉ vào bức tượng trên bàn, ông nói tiếp:
– Làm người tốt bao gồm làm người chung quanh cảm thấy an vui. Mỗi ngày cháu ráng bỏ ra 10 phút, ngồi một mình, thở nhẹ nhàng, tập cười như bức tượng kia cười. Gặp ai cháu cũng cười nhẹ nhàng như bức tượng nhé. Làm được như thế, nhiều điều mầu nhiệm sẽ đến. Cháu sẽ thấy đời sống đáng yêu, âu lo cũng bớt đi rất nhiều. Mấy mươi năm nay mỗi ngày ông đều ngồi tập cười như thế.
John trầm trồ:
– Ồ, thì ra vì thế mà ông lúc nào cũng cười rất tươi mát với mọi người. Ai cũng thân thiện quý mến ông.. Làm thế nào cháu cũng có một tượng như thế? Tượng là Buddha (Phật) phải không ông? Phật là vị thánh như thế nào?
– Ông sẽ cho cháu một tượng như thế. Phật là người có thể tự tại mỉm cười trước mọi hoàn cảnh. Cháu có thể nghĩ đơn giản rằng: Phật là người lúc nào cũng cool. Sau này cháu muốn tìm hiểu thêm, ông sẽ nói thêm.
*
Ngày đầu tiên John trở lại dùng cơm tại nhà ăn, mọi người vui vẻ đón chào. Khi anh ngỏ lời muốn giúp những việc lặt vặt tại đây, các nhân viên từ thiệnđều đồng ý nhưng có chút ưu tư trong lòng: không biết tính khí giang hồ trước đây của anh có làm công việc khó khăn nặng nề thêm? Thế nhưng chỉ sau vài ngày, mọi người thì thầm bàn tán “thằng John rổn rảng ngang ngược ngày trước sao giờ dễ thương quá đỗi!”.
John không hề câu nệ bất cứ việc gì, từ lau chùi dọn dẹp cho đến nấu nướng. Anh tâm niệm lời ông Cool dạy, lúc nào cũng niềm nở cười tươi. Gặp những người già, anh tận tình đem đồ ăn thức uống đến tận bàn và thỉnh thoảng hỏi han cần thêm chi. Chỉ một tháng, hơn trăm nhân viên tình nguyệncủa các tổ chức phục vụ tại đây đều quý mến John. Sau hai tháng, biết John hằng ngày nỗ lực xin việc làm, ông chủ chuỗi nhà hàng sang trọng thỉnh thoảng đến đây làm thiện nguyện đã ngỏ lời mướn anh.
Ông ta nói với John:
-­ Anh làm việc không lương mà vẫn vui tươi tận tình như thế thì tôi biết khi có lương anh sẽ làm tốt hơn thế nữa.
John như không tin vào tai mình, vui mừng cực độ khi lần đầu tiên trong đời được mướn đi làm.
Anh đến vội nhà ông Cool báo tin. Gặp ông, anh dang hai tay lên trời sung sướng hét to:
-­ Ông ơi! Thật nhiệm mầu, cháu có được việc làm rồi! Cháu thật không ngờ những điều ông dạy đơn giản như thế lại thành sự thật. Lãnh lương đầu tiên, cháu sẽ đãi tiệc ông.
Ông Cool hân hoan, giọng điềm đạm từ tốn:
– Ông thật vui cho cháu, nhưng phải nhớ nhé, mỗi ngày cháu tiếp tục cố gắng bỏ ra ít phút tập thở và cười. Nếu mình bỏ lơ đi một ngày thì sẽ từ từ thành hai ngày và rồi đánh mất chính mình tự lúc nào. Điều mầu nhiệm cũng sẽ biến mất. Thực hành trong mỗi ngày nhắc nhở ta sống trong ý thức, nhắc nhở ta sống trong chánh niệm.
huyenlam1.jpg
Khung cảnh giờ ăn tại nhà thiện nguyện (ảnh minh họa) – Ảnh: H.L
John hỏi:
– Chiều Chủ nhật hàng tuần, ông cho cháu đến nhà ngồi chung với ông nhé, để dạy cháu thêm?
Ông Cool nhìn John trìu mến, vỗ nhẹ vào vai anh:
-­ Được chứ, ông rất vui khi cháu đến!
Cuộc sống John kể từ đó thuận buồm xuôi gió, anh được tài trợ đi học thêm, thăng tiến chức vụ theo năm tháng, từ người hầu bàn, thành ca trưởng, trợ lý. Mười năm sau anh được thuyên chuyển qua tiểu bang khác làm quản lý nhà hàng. Tuy xa ông Cool nhưng anh vẫn liên lạc mỗi tuần và hàng ngày thực hành lời ông dạy.
Một hôm, khi gọi thăm như thường lệ, anh rất ngạc nhiên khi nghe giọng nói đầu dây khác lạ. Qua vài câu xã giao thăm hỏi, giọng người lạ báo tin:
-­ Tôi là cháu Thiền sư Sota từ tiểu bang khác về, cách đây vài hôm bệnh viện báo tin ông đã qua đời anh ạ. Ông ra đi khuôn mặt vẫn cười rất an lạc. Ông có để lại di chúc, trong đó có nhờ anh tí việc.
***
Một ngày mùa xuân, người đàn ông tên John tuổi ngoài 30, theo lời dặn trong di chúc để lại của ông lão dạy thiền nơi miền Tây­ bắc Hoa Kỳ, lái xe hơn 2 ngàn cây số xuôi Nam tìm đến Vườn quốc gia Zion, bang Utah, Hoa Kỳ. Đoạn đường dài như bất tận ấy, một mình lái xe, John thả hồn trong cảm xúcnhớ thương ông lão vô biên… 
Sau một đêm nghỉ ngơi tại nhà trọ trong Vườn quốc gia, sáng sớm anh hỏi người quản lý giúp nhận định địa điểm tên một đỉnh núi trong hơn mấy chục đỉnh tại đây, John lần theo đường mòn đi bộ lên đỉnh núi cao. Con đường trắc trở, khi đi, khi trèo qua những khối đá, phải mất 4 giờ John mới tới nơi. Anh loay hoay ngang dọc trên đỉnh một lúc lâu rồi thốt lên mừng rỡ:
-­ Ô, đây rồi! Ôi, đẹp quá!
Một cây tùng xanh tươi mọc ngay trên bờ đông của đỉnh mà một phần thân trườn ra bên ngoài vực sâu thăm thẳm cả ngàn mét. Gió ở đây khá mạnh, rít từng cơn làm John cảm tưởng có thể hất văng anh xuống vực bất cứ lúc nào.
John mở ba-­lô lấy hộp đựng tro, anh quỳ xuống, cẩn thận tỉ mỉ, rót từng giọt tro qua những khe đá nơi rễ cây tùng mọc. Xong việc anh ngồi đối diện cây tùng, hồi hộp mở lá thơ ông Cool để lại, không biết ông viết gì trong ấy mà phải đến đây mới được đọc.
John giọng mỗi lúc mỗi nghẹn ngào:
“Thời trai trẻ biết bao lầm lỗi, ta lang thang đến đây. Trong tuyệt vọng chán chường ta có ý định nhảy xuống vách núi kết liễu cuộc đời. Nhưng mi ­- cây tùng ­ bỗng nhiên hiện diện vững vàng ngay trên vách. Ở đây chỉ có đá và gió, thân mi thì có thể rơi xuống vực sâu bất cứ lúc nào, nhưng mi vẫn sống khỏe trên vùng núi khắc nghiệt này, vẫn xanh, vẫn tươi mát chở che soi bóng cho hòn đá thô cứng bên cạnh. Cám ơn mi cứu mạng, giúp ta bài học nhiệm mầu. Xin gởi đám tro tàn góp phần cho mi”..
Nước mắt John tuôn chảy, xúc cảm từng cơn chấn động châu thân. John thấy mình hết sức phước đức được ông Cool bằng xương bằng thịt chỉ dẫntừng bước trong cuộc sống. Còn ông Cool khởi đầu chỉ có cây tùng. Anh thấy mình có nhiệm vụ làm cây tùng tiếp nối cho những hòn đá khác.
Nghẹn ngào, hùng tráng, anh ngâm to bài thơ ông Cool làm cho cây tùng trên đỉnh núi cao, giữa không gian lộng gió:
Núi sừng sững cao
Vực thăm thẳm sâu
Gió cuồng điên bạt!
Sấm gầm động vang!
Hề ta đứng! Mỉm cười cùng năm tháng
Soi bóng đời che chở đá cô liêu.
 
Huyền Lam__._,_._
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 43

Đấu giá cuối cùng

Có một người đàn ông yêu thích mỹ thuật. Ông ta say mê đến mức gần như sống vì niềm say mê của mình. Sưu tập tranh là mục tiêu cả đời của ông. 

Ông làm việc rất chăm chỉ để dành tiền tiết kiệm nhằm mua thêm các tác phẩm hội họa cho bộ sưu tập của mình. Ông mua rất nhiều tác phẩm của các họa sỹ nổi tiếng.

Người đàn ông này đã góa vợ. Ông chỉ có một người con trai. Ông đã truyền lại cho con mình niềm say mê sưu tầm đó. Ông rất tự hào về con trai của mình khi anh ta cũng trở thành một nhà sưu tầm nổi tiếng như ông.

Một thời gian sau, đất nước bỗng có chiến tranh. Người con trai, cũng như mọi thanh niên khác, lên đường tòng quân. Và sau một thời gian thì câu chuyện xảy ra…

Một hôm, người cha nhận được một lá thư thông báo rằng người con đã mất tích khi đang làm nhiệm vụ. Người cha đau khổ đến tột cùng. Thật là khủng khiếp khi người cha không thể biết được điều gì đang xảy ra với con mình. Vài tuần sau ông nhận được một lá thư nữa. Lá thư này báo với ông rằng con ông đã hy sinh khi làm nhiệm vụ. Ông gần như chết đi một nửa người. Thật khó khăn khi đọc tiếp lá thư đó, nhưng ông vẫn cố. Trong thư, người ta báo rằng con ông đã rút lui đến nơi an toàn. Nhưng thấy trên bãi chiến trường vẫn còn những đồng đội bị thương, con ông đã quay lại và đưa về từng thương binh một. Cho đến khi đưa người cuối cùng về gần đến khu vực an toàn thì con ông đã trúng đạn và hy sinh.

Một tháng sau, đến ngày Noel, ông không muốn ra khỏi nhà. Ông không thể hình dung được một Noel mà thiếu con trai mình bên cạnh. Ông đang ở trong nhà thì có tiếng chuông gọi cửa. Đứng trước cửa nhà là một chàng trai tay cầm một bọc lớn.

Chàng trai nói “Thưa bác, bác không biết cháu, nhưng cháu là người mà con bác đã cứu trước khi hy sinh. Cháu không giàu có, nên cháu không biết đem đến cái gì để đền đáp cho điều mà con bác đã làm cho cháu. Cháu được anh ấy kể lại rằng bác thích sưu tầm tranh, bởi vậy dù cháu không phải là một họa sỹ, cháu cũng vẽ một bức chân dung con trai bác để tặngcho bác. Cháu mong bác nhận cho cháu.”

Người cha đem bức tranh vào nhà, mở ra. Tháo bức tranh giá trị nhất vẫn treo trên lò sưởi xuống, ông thay vào đó là bức chân dung người con. Nước mắt lưng tròng, ông nói với chàng trai “Đây là bức tranh giá trị nhất mà ta có được. Nó có giá trị hơn tất cả các tranh mà ta có trong căn nhà này.” Chàng trai ở lại với người cha qua Noel đó rồi hai người chia tay. Sau vài năm, người cha bị bệnh nặng. Tin tức về việc ông qua đời lan truyền đi rất xa. Mọi người đều muốn tham gia vào cuộc bán đấu giá những tác phẩm nghệ thuật mà người cha đã sưu tầm được qua thời gian.

Cuối cùng thì buổi bán đấu giá cũng được công bố vào ngày Noel năm đó. Các nhà sưu tầm và những nhà đại diện cho các viện bảo tàng đều háo hức muốn mua các tác phẩm nổi tiếng. Toà nhà bán đấu giá đầy người.

Người điều khiển đứng lên và nói “Tôi xin cám ơn mọi người đã đến đông đủ như vậy. Bức tranh đầu tiên sẽ là bức chân dung này…”

Có người la lên “Đó chỉ là chân dung đứa con trai ông cụ thôi! Sao chúng ta không bỏ qua nó, và bắt đầu bằng những bức có giá trị thật sự?”

– Người điều khiển nói “Chúng ta sẽ bắt đầu bằng bức này trước!”

– Người điều khiển bắt đầu “Ai sẽ mua với giá $100?”

– Không ai trả lời nên ông ta lại tiếp “Ai sẽ mua với giá $50?”

– Cũng không có ai trả lời nên ông ta lại hỏi “Có ai mua với giá $40?”

Cũng không ai muốn mua. Người điều khiển lại hỏi “Không ai muốn trả giá cho bức tranh này sao?” Một người đàn ông già đứng lên “Anh có thể bán với giá $10 được không? Anh thấy đấy, $10 là tất cả những gì tôi có. Tôi là hàng xóm của ông cụ và tôi biết thằng bé đó. Tôi đã thấy thằng bé lớn lên và tôi thật sự yêu quý nó. Tôi rất muốn có bức tranh đó. Vậy anh có đồng ý không?”

Người điều khiển nói “$10 lần thứ nhất, lần thứ nhì, bán!”

Tiếng ồn ào vui mừng nổi lên và mọi người nói với nhau “Chúng ta có thể bắt đầu thật sự được rồi!” Người điều khiển nói “Xin cảm ơn mọi người đã đến. Thật là vinh hạnh khi có mặt những vị khách quý ở đây. Bữa nay chúng ta sẽ dừng tại đây!”

Đám đông nổi giận “Anh nói là hết đấu giá? Anh vẫn chưa đấu giá toàn bộ các tác phẩm nổi tiếng kia mà?” Người điều khiển nói “Tôi xin lỗi nhưng buổi bán đấu giá đã chấm dứt. Mọi người hãy xem chúc thư của ông cụ đây, NGƯỜI NÀO LẤY BỨC CHÂN DUNG CON TÔI SẼ ĐƯỢC TẤT CẢ CÁC BỨC TRANH CÒN LẠI! Và đó là lời cuối cùng!”

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 40

Cuộc Đời Tựa Chuyến Tàu Về Đích, Kẻ Ở Người Đi Đều Tại Chữ Duyên

Cuộc đời mỗi người đều tựa như một đoàn tàu đang trên hành trình về đích. Trên cuộc hành trình đó luôn có những điểm dừng, có người sẽ tiếp tục đồng hành với ta, có người rời xa ta mãi mãi…
Không ai có thể đi cùng bạn từ đầu đến cuối của cuộc hành trình, kể cả người thân, bạn bè, người yêu. Bạn sẽ chứng kiến rất nhiều người lên lên xuống xuống và nếu như may mắn bạn sẽ gặp được người cùng đi với mình một chặng.
Khi người này đến lúc phải xuống xe… Dù cho không nỡ cũng nên cảm kích và nói lời từ biệt. Bởi vì, đến một trạm khác sẽ có người lên và tiếp tục cuộc hành trình cùng bạn.
1. Cà phê đắng hay ngọt không phải ở cách pha chế, mà là ở việc bỏ đường hay không
Một cơn đau không phải phụ thuộc vào bạn quên như thế nào. Mà là ở việc bạn có can đảm để bắt đầu lại hay không?
2. Người đồng thời truy đuổi hai con thỏ, sẽ không thể bắt được con nào
Đừng thèm muốn những thứ không có.
Đừng tính toán những thứ không biết.
Đừng mong đợi những thứ không thể.
Hãy làm công việc mà bạn am hiểu nhất!
3. Mỗi người đều là một quả táo mà Thượng đế đã cắn một miếng, đều là có chỗ thiếu hụt
Có người có chỗ thiếu hụt khá lớn, là vì Thượng đế đặc biệt yêu thích “hương thơm” của họ!
4. Lúc yêu cuồng nhiệt, đôi tình nhân thường thốt lên rằng kiếp trước mình tích được nhiều đức
Khi đã kết hôn các cặp vợ chồng lại than rằng kiếp trước mình đã tạo nghiệp gì?
5. Cùng là một chai nước, ở ngoài cửa hàng có giá 5.000
Nhưng cũng chai nước ấy ở trong khách sạn có giá 20.000.
Đôi khi, giá cả của một người, một vật được quyết định bởi vị trí, nhưng giá trị thì vẫn là như vậy.  
6. Tình cảm giữa hai người giống như đan chiếc áo len
Lúc đan phải cẩn thận từng mũi từng đường, trong thời gian dài. Nhưng khi dỡ bỏ chỉ cần nhẹ nhàng kéo một đường.
7. Hôn nhân không phải là 1+1 = 2, mà là 0,5 +0,5 = 1
Tức là hai người bỏ đi một nửa cá tính và khuyết điểm của mình, sau đó gộp lại với nhau thành một thứ trọn vẹn.
8. Đề thi của cả đời gồm có 4 nội dung: Học tập, sự nghiệp, hôn nhân và gia đình
Muốn đạt được điểm cao bạn có thể cố gắng ở cả 4 nội dung mà không cần phải tập trung thời gian và tinh lực vào một nội dung duy nhất.
9. Cuộc đời nói dài thì rất dài, mà nói ngắn cũng rất ngắn
Hãy quý trọng tất cả những người ở xung quanh mình!
10. Cảm ơn trời đất, cảm ơn cha mẹ, cảm ơn anh chị em!
Hãy quý trọng tất cả những người thân bên mình, bởi vì đời này gặp mặt đời sau có thể vĩnh viễn không gặp lại…!
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 41

Tuổi Heo Có Phước

Tuổi HEO có PHƯỚC?
Hoàng Thanh

Cứ mỗi độ Xuân về Tết đến, có lẽ điều đầu tiên ai cũng muốn biết, đó là “Năm mới sẽ là con (giáp) gì?” Các bà, các cô nào dự định có em bé thì thường “canh me” tính toán sao cho bé trai sẽ chào đời vào các năm “Nhâm”, còn bé gái thì vào những năm “Quý”. Bởi ông bà mình có câu “Nam Nhâm Nữ Quý”, nghĩa là nếu sinh vào những năm này thì cuộc đời của các bé trai, gái sẽ rất thuận lợi hanh thông. Nếu là trai, ba mẹ thường muốn con trai mình sinh vào năm Nhâm Thìn, bởi Nhâm là tốt, còn Thìn là Rồng, biểu tượng của quyền uy và dũng mãnh.

Trong 12 con giáp thì gia đình tôi chiếm hơn một nửa rồi. Mà sao thấy con nào cũng cực. Ba tôi, tuổi Quý Dậu, làm ca một, nên ngày nào cũng phải thức dậy từ tờ mờ sáng. Má tôi – Giáp Tuất, cả đời bà phải tính toán chắt chiu lắm mới nuôi nổi 5 chị em tôi. Bà chị cả – Nhâm Dần nên cao số. Lấy chồng trễ nên nay tuổi cũng cao rồi mà vẫn còn phải lận đận nuôi con nhỏ. Cô em kế tôi – Mậu Thân, tuy khá giả về tiền bạc, nhưng cứ lục đục cả ngày với chồng. Cậu em trai út – Nhâm Tý, tốt nghiệp kỹ sư nhưng không kiếm được việc làm ổn định, cứ phải nhảy hết hãng này đến xưởng nọ.

Nhưng nếu hỏi con giáp nào cực nhất thì chính là tôi đây. Bính Ngọ, chào đời 8 giờ sáng, đó là giờ ngựa ta phải rời chuồng đi kéo xe. Bởi vậy cả đời tôi chẳng lúc nào được nhàn nhã. Lúc nhỏ thì cắm đầu cắm cúi học. Ra trường tôi lao vào làm 2, 3 job. Tiền thì có, mà cực vẫn hoàn cực.

À mà quên, có một con giáp lúc nào cũng sướng. Là cô em gái tôi – Tân Hợi. Cả ngày con heo có làm gì đâu, cứ ăn uống rồi ủn a ủn ỉn đi ra đi vô. Tuổi heo, nên cô em sướng thiệt. Từ nhỏ đến lớn, Hợi cứ vô tư ăn, học và tung tăng với bạn bè. Hợi học không giỏi, nên khi trưởng thành không có một nghề gì chắc chắn hầu có thể tự nuôi thân, như các chị em khác. Trong nhà Má tôi lo cho Hợi nhất, vì các đứa con khác đều tốt nghiệp đại học, hay có một nghề chuyên môn, khả dĩ có thể tự sinh sống.

Hợi cũng đi làm, nhưng lương ba cọc ba đồng chẳng bao nhiêu. Má tôi vì thương con gái út nên “Thôi cứ ở chung với Má, Má nuôi”. Rảnh rổi nên Hợi bắt đầu đi chùa, làm công quả. Mà nó nhiệt tình lắm. Chùa nào, lễ nào, Phật đản, Vu lan, nó cũng đều có mặt. Phụ bếp, nấu ăn, rửa chén, việc gì nó cũng làm. Mỗi dịp Tết là Hợi đều xung phong đến các chùa, chuẩn bị các trái quít treo lên nhành mai ở chánh điện. Cả nhà bảo nhau “Tuổi Heo thiệt là có Phước!”.

Có mấy lần Hợi rủ chị em tôi đi nghe pháp, hình như có ông sư nào đó sang giảng. Cậu Tý nhíu mày “Ai rảnh như chị mà đi?”. Hợi hỏi tiếp “Vậy có ai muốn cúng dường hôn, em cúng phần em, sẵn em đưa dùm luôn cho”. Bà chị Dần trợn mắt ” Mày có tiền cúng à? Lương mày nuôi thân còn chưa xong, tiền đâu mày cúng?”. Hợi cười cười “Thì có ít cúng ít”.

Một thời gian sau hình như Hợi còn tham gia nhóm phật tử gì đó, cứ chiều tối là thấy nó đi tụng kinh, niệm Phật. Giai đoạn này Hơi đang làm cashier trong một cửa hàng, mà cũng chỉ làm part time, tối tối và cuối tuần thì lại đi đến đạo tràng. Nhớ có một lần ai đó hấp hối, thế là Hợi gọi xin “call sick” mấy ngày, sáng trưa chiều tối có mặt ở bệnh viện để hộ niêm. Cả nhà biết chuyện xúm lại la. Má tôi rầy “Vào bệnh viện tiếp xúc với người sắp chết rất dễ lây lan vi trùng mà mắc bệnh”. Bà chị Dần lớn tiếng ” Sao mà “quỡn” dữ vậy, ăn cơm nhà mà đi vác ngà voi”. Cô Thân góp ý ” Hay Hợi đi học một nghề nào đi. Mai này Má chết, thì làm sao tự sống?” Tôi thì lắc đầu. Còn Hợi thì cứ ngồi im thin thít.

Thời gian đó, cô em Thân lục đục với chồng dữ lắm, cãi nhau suốt ngày, đòi đâm đơn ly dị. Hợi thủ tha thủ thỉ với chị Thân, khuyên chị “vợ chồng một câu nhịn chín câu lành”, thôi chị bớt cằn nhằn, bớt gây khẩu nghiệp để gia đình êm ấm”.

Có một khoảng thời gian, bà chị Dần và chồng đều thất nghiệp, nên cuộc sống vợ chồng chị ngày càng khó khăn. Vì vậy chị càng tính toán từng li từng tí trong việc tiêu xài. Một hôm Hợi “rủ” chị Dần giúp tiền cho người nghèo ở Việt nam. Chị cự ngay “Tiền đâu mà giúp?”. Thế là Hợi giảng ‘moral”: “Càng không có tiền mới càng phải giúp, chị cho ra đi, dù chút ít, cũng sẽ giúp chị chuyển Nghiệp”.

Rồi một ngày đẹp trời, Hợi về nhà báo tin “sẽ lấy chồng”. Mọi người ngạc nhiên. Mà nó nói thật. Hợi dẫn về ra mắt gia đình một anh chàng dễ thương, gương mặt hiền từ, có nghề nghiệp vững chắc đàng hoàng. Hóa ra 2 đứa quen nhau ở chùa, trong một khóa tu gì đó. Dĩ nhiên là cả nhà ai nấy đều đồng ý. Còn mừng nữa là khác. Hổng mừng sao được, bởi nhẹ gánh quá chừng, tự dưng ở đâu có một anh chàng xuất hiên lo cho con Hợi.

Ngày đám cưới, bà con cô bác ai cũng gật gù “Tuổi Heo thiệt là có Phước!”. Lấy chồng về, Hợi tuyên bố sẽ không có con, để dành thời giờ … TU. Anh chồng cũng chịu. Rồi cuối tuần nào Hợi cũng lại tiếp tục “khăn gói áo tràng” đến chùa tụng Kinh niệm Phật. Ông xã của Hợi chẳng những không cằn nhằn mà còn khuyến khích vợ đi nghe pháp, hộ niệm nữa chứ. Quả thật “Tuổi Heo thiệt là có phước!”.

Những năm 2007 – 2009 là khoảng thời gian tôi đau khổ nhất. Số là sau cả chục năm cật lực đi cày, dành dụm được một số tiền, tôi quyết định đầu tư, chơi chứng khoán. Thấy thiên hạ mua nhà, bán nhà, ngon ăn hơn nên tôi liền nhảy vào thị trường địa ốc – lúc đó đang sôi sùng sục. Nào ngờ … bong bóng bể. Mất nhà, mất tiền, tôi suy sụp hoàn toàn. Thấy vậy, Hợi đưa tôi quyển sách “Niệm Phật thế nào để được vãng sanh?”, bảo ráng đọc đi. Tôi thờ ơ cầm lấy cho có lệ. Tình cờ một bữa nọ, khi sắp xếp lại bàn làm việc, vô tình đụng phải cuốn này, tôi liền mở ra lướt mắt đọc sơ. Nào ngờ quyển sách thu hút tôi từ trang đầu đến trang cuối. Xếp lại trang cuối cùng, tâm tôi bừng mở. Thì ra có một con đường giúp tôi thoát Khổ. Cám ơn em Hợi!

Từ đó Ngọ tôi thay đổi hẳn. “Kéo xe” hằng ngày tôi không còn than vãn. Sáng thức dậy tôi lạy Phật, tối về tôi niệm Phật. Cuối tuần tôi đến chùa nghe pháp. Tôi tập bố thí, cúng dường. Tôi và Hợi đã có niềm vui chung.

Rồi vợ chồng Hợi mua căn nhà mới. Chiều 24 Tết, Hợi mời cả gia đình đến chơi cho biết nhà. Sau khi dẫn mọi người đi tham quan một vòng ngôi nhà đẹp và ấm cúng, Hợi mở cửa một căn phòng, giới thiệu đây là phòng để niệm Phật. Hợi trang trí bàn thờ Phật thật đẹp và trang nghiêm, tượng Phật A Di đà ở chính giữa, Quan Thế âm và Đức Phật Dược sư ở 2 bên. Tôi đứng chiêm ngưỡng tượng của các Ngài không chớp mắt. Bỗng nghe tiếng cô em Thân và chị Dần thì thầm “Cũng mừng cho nó. Mà lạ thiệt. Nhà mình ai cũng có nghề nghiệp vững chắc, nhưng sao số ai cũng cực. Giờ rốt cuộc nhìn lại trong gia đình không ai sướng bằng con Hợi. Nhà cao, cửa rộng, chồng quý trọng thương yêu, cuộc đời hạnh phúc. “Tuổi Heo thiệt là có Phước!”.

Tôi im lặng. Nhưng trong thâm tâm, tôi hiểu Phước của Hợi từ đâu mà đến …

Phước không phải tự nhiên sinh ra, cũng không phải do ông trời ban cho. Phước lại càng không phải do ta may mắn chào đời vào năm một con giáp nào đó (năm Hợi, năm Thìn). Bởi nếu quả vậy thì cả trăm triệu người sinh vào năm Hợi đều sung sướng hết hay sao?

Tôi quay sang Thân và chị Dần “Nhìn lại mà xem, những gì Hợi làm đều là những điều Phật dạy: đi chùa, làm công quả, nghe Pháp, niệm Phật, bố thí, cùng dường, hộ niệm, chia sẻ Kinh Pháp cho em, khuyên Thân nhịn chồng bớt khẩu nghiệp, khuyên chị Dần phát tâm giúp người khổ hơn mình. Đây là những việc mang lợi ích cho người khác. Khi mình tặng cho ai một thứ gì, thì sớm hay muộn mình cũng sẽ nhận lại những quả tốt lành. Hợi vô tư giúp rất nhiều người, bởi vậy nên nó có Phước …”.

Thế là tự dưng cả nhà xúm nhau bàn bạc về Phước. Cậu Tý hỏi “Vậy làm gì mới có Phước như chị Hợi ?”. Tôi nói ” Thì làm tất cả những gì nhự Hợi đã làm”. Chị Dần thắc mắc “Thử nhắc lại xem”. Hợi cười ” Có gì đâu nè, ví dụ như:

– bố thí, cúng dường, giúp người nghèo, người khó khăn hơn mình
– xây chùa, xây chánh điện để phật tử có nơi tu tập
– đúc các tượng Phật (Phật Thích ca, Phật Dược sư, Phật Quan Âm…) để nhiều người có thể đến chiêm bái lễ lạy
– niệm Phật, lạy Phật, tụng kinh,
– bớt tham, sân, si.
– sống hòa đồng giúp đỡ người khác
– cẩn trọng lời nói, hành động, đừng hại hay làm tổn thương ai

Má tôi, nãy giờ đứng mãi mê ngắm các tượng Phật, bỗng nhiên quay lại, cất tiếng ” Như Má già yếu rồi, nếu má cúng dường đúc tượng Phật Dược sư, thì Má sẽ có phước được sức khỏe dồi dào phải không mấy con?”

Hợi giải thích ” Phật Dược sư có lời nguyện chữa lành mọi bệnh tật khổ đau cho chúng sanh. Ngài nguyện giúp họ tăng trưởng sức khỏe về Thân và Tâm. Ngài nguyện cầu cho những ai đang chịu đau khổ vì đói, vì khát sẽ đều được cung cấp mọi thứ cần thiết: thức ăn, đồ uống và quần áo, giải phóng họ khỏi những bận tâm để họ có thể bắt đầu làm lợi ích cho người khác”.

Tôi khuyến khích ” Má nên cúng dường đúc tượng Phật Dược sư, và đồng thời Má cũng nên niệm Phật nữa. Như vậy Má vừa được thân khỏe mà tâm lại an. Mỗi tháng Má ráng nhín chút tiền cúng dường các chùa xây chánh điện, cúng dường tăng ni, hay giúp người nghèo. Ba chục, năm chục đồng không làm Má nghèo đi, nhưng Má sẽ được phước báu, không những đời này mà khi sang đời sau, Má sẽ hưởng…”

Cô Thân reo lên “Cho em đóng góp nữa!”

Cậu Tý la to “Em nữa!”

Chị Dần hồ hởi “Vậy cả nhà ráng làm theo những điều Phật dạy, để ai cũng có Phước … như Hợi nhà mình !” (Mọi người vỗ tay)

Ngước lên bàn thờ Phật, tôi thấy dường như các Ngài đang mĩm cười.

Ngoài kia làn gió Xuân thoang thoảng. Năm cũ qua đi. Năm mới cận kề. Cuộc sống là một chu kỳ tuần hoàn, như vòng tròn Nhân quả. Gieo hạt lành, hưởng trái ngọt.

PHƯỚC – Niềm mơ ước của mọi người.

PHƯỚC – Nỗi cầu mong của chúng ta mỗi lần Tết đến Xuân sang.

PHƯỚC – Lời chúc không thể thiếu trong những ngày đầu năm mới

Phước đến từ Tâm.

Phước có tự lòng thành.

Phước do việc thiện lành mang lại.

Hãy sống tốt, sống vì người khác, mang hạnh phúc niềm vui đến cho mọi người, thì dù sinh vào con giáp nào, bạn cũng đều sẽ có PHƯỚC !

Hoàng Thanh
Xuân Kỹ Hợi 2019

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 50

Bảo tàng viện LOUVRE phá kỷ lục du khách

global museums

Du khách quốc tế tại Viện bảo tàng Louvre, Paris. Ảnh chụp ngày 03/12/2018.
Reuters
Louvre, viện bảo tàng được viếng thăm nhất thế giới, đã vượt qua ngưỡng 10 triệu khách trong năm 2018, một kỷ lục đối với một viện bảo tàng quốc tế về mỹ thuật và cổ vật.

Hôm nay, 03/01/2018, chủ tịch – giám đốc viện bảo tàng Louvre, Paris, ông Jean-Luc Martinez cho hãng tin AFP biết là lần đầu tiên trong lịch sử của viện bảo tàng này và cũng là lần đầu tiên trong lịch sử của các viện bảo tàng, 10,2 triệu khách đã đến viếng thăm Louvre trong năm 2018.  

Trong năm 2017, Louvre vẫn dẫn đầu thế giới về số khách viếng thăm ( 8,1 triệu ), nhưng theo sát là Viện bảo tàng quốc gia Trung Quốc ( 8 triệu ) và Viện bảo tàng Nghệ thuật New York ( 7,3 triệu ).

Theo giải thích của ông Martinez, sau khi sụt giảm 30% trong những năm gần đây do hậu quả của các vụ khủng bố, số du khách quốc tế đến Paris đã tăng trở lại.
 Mặt khác, viện bảo tàng Louvre trong những năm gần đây đã được tu bổ thêm, cho nên khả năng đón tiếp khách cũng tăng theo. 

Một lý do khác khiến Louvre phá kỷ lục về số khách viếng thăm, đó là kể từ nay khách có thể đặt mua vé trên mạng, nên đỡ mất thời gian xếp hàng.
Theo thống kê, có đến gần 2 phần 3 khách viếng thăm là người ngoại quốc, nhưng dân Pháp ( 2,5 triệu người, chiếm 25% tổng số ) vẫn là quốc tịch chiếm số đông nhất. 

Điều đáng chú ý là trong số khách viếng thăm người Pháp, có đến 565 ngàn học sinh.

 Về khách nước ngoài, người Mỹ vẫn chiếm số đông nhất, với gần 1,5 triệu.
 Đứng thứ hai là khách Trung Quốc, với gần một triệu người, tăng cực kỳ nhanh. 

Theo lời giám đốc Martinez, cách đây 5 năm, hầu như không có khách nào từ Trung Quốc đến bảo tàng Louvre.
Trung Quốc hiện là quốc gia hàng đầu thế giới về du lịch ở nước ngoài, với 129 triệu người. 

Riêng du khách Trung Quốc đến châu Âu ngày càng thích tìm hiểu về văn hóa của châu lục này, cũng như viếng thăm các thắng cảnh thiên nhiên.

Cũng theo lời giám đốc Martinez, các cuộc biểu tình của những người Áo Vàng trong những tuần cuối năm 2018 đã không có ảnh hưởng gì đến số khách viếng thăm Louvre, vì viện bảo tàng này chỉ đóng cửa một ngày là thứ bảy 08/12.

Một tin vui cho những khách viếng thăm tương lai : kể từ 05/01, viện bảo tàng Louvre sẽ miễn phí vào mỗi tối thứ bảy đầu tháng! 

Và đặc biệt trong tối thứ bảy miễn phí ấy, tại một số phòng triển lãm sẽ có người hướng dẫn, giải thích cho chúng ta hiểu nhiều hơn về các tác phẩm được trưng bày. 
Mục đích là để thu hút những thành phần công chúng mới, ngoài khách du lịch.

Trước đây, viện bảo tàng Louvre mở cửa cho vào miễn phí mỗi chủ nhật đầu tháng, nhưng ban giám đốc đã bỏ phương thức này, vì thấy là nó chỉ có lợi cho khách nước ngoài, chứ không thu hút thêm khách Pháp.

Trong năm 2019 này, sẽ có hai sự kiện lớn tại bảo tàng Louvre : kỷ niệm 30 năm kim tự tháp bằng kính nổi tiếng và 500 năm ngày doanh họa Ý Leonardo da Vinci qua đời tại Pháp.

Thanh Phương
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 11

MỘT BÁC SĨ GỐC VIỆT TÀI BA & BÁC SĨ TỊ NẠN CS LỪNG DANH THẾ GIỚI

Rất vui được đọc bài viết về người Bác Sĩ tài ba Phạm Sĩ (tên thật là Phạm Mai Sĩ), mà Sĩ lại là người bạn rất thân của mình. Câu chuyện về Sĩ mình cũng đã có kể cho nhiều bạn bè nghe rồi. Nay đọc bài báo thấy cần xin kể lại.

Xin mời đọc tiếp link dưới đây:

http://www.carolyndo.com/gop-nhat-tram-hoa/mot-bac-si-goc-viet-tai-ba-bac-si-ti-nan-cs-lung-danh-the-gioi/

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 30

10 bức họa nổi tiếng về phụ nữ

‘Mona Lisa’, ‘Người đàn bà xa lạ’ hay ‘Thiếu nữ đeo hoa tai ngọc trai’ là những tác phẩm tôn vinh vẻ đẹp người phụ nữ – niềm cảm hứng bất tận và là một đề tài muôn thuở của hội họa.

1. The Birth of Venus (Sự ra đời của thần Vệ Nữ)
Tác giả: Sandro Botticelli (Italy)
Năm hoàn thành: 1486


Sandro Botticelli là một họa sĩ thiên tài người Italy vào thời kỳ tiền Phục Hưng. The Birth of Venus là tác phẩm vĩ đại nhất của ông và được coi như là một biểu tượng của “Chân – Thiện – Mỹ”. Trong thần thoại Hy Lạp, thần Vệ Nữ được sinh ra từ bọt biển, là con của Chúa tể bầu trời – thần Uranus. Sự ra đời của thần Vệ Nữ trở thành một đề tài lớn trong hội họa, trong đó có những bức tranh rất nổi tiếng của Cabanel, Bouguereau hay Amaury Duval.

Tuy vậy, bức tranh của Botticelli vẫn được công nhận rộng rãi là tác phẩm hoàn hảo và kinh điển nhất. Trong tranh, thần Vệ Nữ được miêu tả có mái tóc mây vàng rực rỡ, làn da trắng muốt, gương mặt thánh thiện và làn môi mọng. Vệ Nữ có cơ thể tròn trịa, đầy đặn, tràn đầy sức sống, tượng trưng cho sự sinh sôi, tình yêu, hoan lạc và sắc đẹp.


2. Mona Lisa (Nàng Mona Lisa)
Tác giả: Leonardo da Vinci (Italy)
Năm hoàn thành: khoảng 1503 – 1506

Leonardo da Vinci là một thiên tài toàn năng người Italy: một họa sĩ, kiến trúc sư kiệt xuất, một nhạc sĩ, một kỹ sư siêu việt, một nhà khoa học đi trước thời đại…Mona Lisa, không nghi ngờ gì, là tác phẩm hội họa nổi tiếng nhất thế giới, được coi như chuẩn mực của cái đẹp.

Bức họa thể hiện một người đàn bà đầy đặn, trông có vẻ phúc hậu đang đan tay vào nhau, khóe miệng khẽ giãn ra một nụ cười hư ảo. Hậu thế đã cố gắng phân tích bí ẩn trong nụ cười của nàng Mona Lisa: nàng đang cười hay không cười, nụ cười đó có ý nghĩa gì, làm sao da Vinci có thể tạo nên một nụ cười như vậy… nhưng chưa bao giờ đưa ra được câu trả lời thỏa mãn. Đã có hàng loạt giả thuyết, huyền thoại xung quanh nguyên mẫu của bức tranh.

Người ta tranh cãi nguyên mẫu của bức tranh là mẹ của họa sĩ, một gái điếm, vợ của một thương gia giàu có, người tình đồng giới của ông hoặc là chính Leonardo da Vinci. Đáp lại sự tò mò của hậu thế, Mona Lisa vẫn mãi mãi mỉm cười bí ẩn, như thể luôn muốn nói một điều gì mà chẳng bao giờ nói.


3. Sleeping Venus (Vệ Nữ say ngủ)
Tác giả: Giorgione (Italy)
Năm hoàn thành: 1510

Giorgione là một bậc thầy hội họa của phong trào Phục Hưng. Cuộc đời của ông ngắn ngủi, để lại không nhiều tác phẩm và trong số đó, Sleeping Venus là bức tranh nổi tiếng nhất. Khi Giorgione mất, bức Sleeping Venus vẫn còn dang dở và Titian, một danh họa vĩ đại khác, cũng là bạn của ông đã hoàn thành bức tranh bằng cách vẽ thêm phong cảnh và bầu trời.

Sleeping Venus vẽ một phụ nữ nằm nghiêng, mắt nhắm nghiền như đang ngủ, mặt khẽ quay về hướng người xem, tay phải làm gối, tay trái đặt hờ lên cơ thể, chân trái duỗi đặt trên chân phải hơi co lại – một kiểu bố cục kinh điển mà rất nhiều tác phẩm hội họa về sau đã học theo. Thiên nhiên đằng sau nàng cũng có những đường cong tinh tế như họa lại cơ thể của người đàn bà, tôn vinh sự hòa hợp giữa con người và thiên nhiên. Việc vẽ một người phụ nữ khỏa thân đánh dấu một cuộc cách mạng trong nghệ thuật và được coi là một trong những điểm khởi đầu của mỹ thuật hiện đại.


4. Girl with a Pearl Earring (Thiếu nữ đeo hoa tai ngọc trai)
Tác giả: Johannes Vermeer (Hà Lan)
Năm hoàn thành: khoảng năm 1665


Johannes Vermeer là một trong những họa sĩ vĩ đại nhất của Thời đại Hoàng kim Hà Lan. Sinh thời, ông vẽ rất chậm và để lại rất ít tranh, phần lớn tranh của ông lấy đề tài những người phụ nữ của tầng lớp bình dân. Girl with a Pearl Earring là một trong những kiệt tác để đời của ông, được mệnh danh là “Mona Lisa Hà Lan” hoặc “Mona Lisa phương Bắc”.

Bức tranh mô tả một thiếu nữ nhìn nghiêng, khăn đội đầu che hết mái tóc, đồ trang sức duy nhất là một bên hoa tai bằng ngọc trai. Thiếu nữ trong tranh có đôi mắt tròn to, lộ vẻ rụt rè, sợ hãi nhưng làn môi mọng lại hé mở, khơi gợi ham muốn. Bức tranh vừa thể hiện sự ngây thơ mong manh, vừa phảng phất một sự cám dỗ gọi mời. Ánh sáng phản chiếu trên hoa tai ngọc trai là một điểm nhấn hoàn hảo của tác phẩm. Năm 1999, Tracy Chevalier đã viết một 
cuốn tiểu thuyết lịch sử nổi tiếng cùng tên với cảm hứng dựa trên bức tranh này.


5. Whistler’s Mother (Mẹ của Whistler)
Tác giả: James McNeil Whistler (Mỹ)
Năm hoàn thành: 1871


Whistler là một họa sĩ nổi tiếng gốc Mỹ, một trong những chủ soái của phong trào “nghệ thuật vị nghệ thuật”. Whistler’s Mother là bức tranh nổi tiếng nhất của ông, được coi là biểu tượng Mỹ và “Mona Lisa của thời Victoria”.

Tương truyền, Whistler đã định vẽ một người khác nhưng bất thành và ông liền thay thế người mẫu bằng chính mẹ ông, bà Anna Whistler. Cũng có tin đồn, đầu tiên bà Whistler được vẽ đứng nhưng sau đó vì quá mỏi chân, bà phải ngồi trên ghế.

Trong tranh, bà mặc một bộ váy màu đen giản dị, ngồi gọn gàng, tay đặt trên váy, chân đặt trên chiếc ghế để chân, nhìn chăm chú về phía trước. Nét mặt nghiêm trang và tông màu đen xám của bức tranh gợi một cảm giác ngột ngạt và tang tóc như thể một điều gì đó rất nghiêm trọng đang xảy ra. Tuy nhiên, ngày nay bức tranh được rộng rãi công nhận như là một biểu tượng mẫu mực của tình mẹ.


6. Portrait of an Unknown Woman (Người đàn bà xa lạ)
Tác giả: Ivan Nikolaevich Kramskoi (Nga) 
Năm hoàn thành: 1883



Kramskoi là một họa sĩ và nhà phê bình nghệ thuật nổi tiếng, chủ soái của phong trào nghệ thuật dân chủ Nga. Portrait of an Unknown Woman được coi là một kiệt tác của nền hội họa Nga và từ lâu đã rất quen thuộc với công chúng Việt Nam với tên gọi Người đàn bà xa lạ.

Bức tranh vẽ một người phụ nữ ngồi trên xe ngựa mui trần vào buổi sáng mùa đông ảm đạm, tuyết phủ trắng xóa mái nhà. Người phụ nữ trong tranh quý phái và kiêu hãnh với đầu ngẩng cao, môi mím chặt nghiêm nghị, ánh mắt nhìn xuống uể oải.

Cho đến nay, nguyên mẫu của bức họa vẫn là một điều bí ẩn với rất nhiều phỏng đoán chưa được chứng minh. Bức tranh thường được ví với Anna Karenina trong kiệt tác cùng tên của đại văn hào Leo Tolstoy và đã nhiều lần được dùng để minh họa cho trang bìa của cuốn sách. Bức tranh được đánh giá là thể hiện tính cách Nga rõ rệt và là một biểu tượng của sự đài các, thượng lưu.


7. Madame X (Quý bà X)
Tác giả: John Singer Sargent (Mỹ)
Năm hoàn thành: 1884



John Singer Sargent là một họa sĩ vẽ tranh chân dung hàng đầu thế kỷ 19. Madame X là bức tranh nổi tiếng và có lẽ là tai tiếng nhất của ông.

Người phụ nữ trong tranh là Virginie Gautreau, vợ của một ông chủ nhà băng giàu có người Pháp. Sinh thời, bà rất nổi tiếng trong giới thượng lưu Paris vì sắc đẹp ưu việt của mình. Bức chân dung vẽ bà trong bộ váy màu đen cúp ngực, tay phải làm trụ khẽ đỡ lấy cơ thể, tay khác bấu hờ vạt váy và gương mặt quay đi hướng khác. Màu đen bóng của bộ váy cùng tông màu nâu của hậu cảnh như tương phản và càng làm nổi bật thêm làn da trắng nhức.

Cơ thể người mẫu như hướng về phía người họa sĩ nhưng đầu lại quay sang một bên, vẻ lảng tránh, tạo cảm giác xung đột, vừa muốn tiến đến vừa muốn cưỡng lại. Bức tranh bị coi là khêu gợi, không đứng đắn và trở thành một “quả bom” scandal thời bấy giờ. Bà Gautreau từ đó không xuất hiện trước công chúng nữa còn họa sĩ Sargent thì nhanh chóng rời khỏi Pháp, định cư lâu dài ở London.


8. Flaming June (Tháng Sáu bỏng cháy)
Tác giả: Nam tước Frederic Leighton (Anh)
Năm hoàn thành: 1895



Nam tước Frederic Leighton là một họa sĩ kiêm nhà điêu khắc nổi tiếng người Anh.Flaming June là tác phẩm tiêu biểu nhất của ông và được coi là một kiệt tác của hội họa thế giới.

Nguyên mẫu trong tranh là nữ diễn viên Dorothy Dene, người được đánh giá là có gương mặt và hình thể giống với hình mẫu lý tưởng của Leighton nhất. Dorothy Dene vào những năm 1890 cũng được mệnh danh là người đẹp nhất nước Anh. Bức tranh khắc họa cô đang nằm ngủ trong một tư thế thiếu tự nhiên tựa như đó chỉ là một giấc ngủ ngắn mệt nhọc.

Tác phẩm đẫm chìm trong màu hổ phách hoàn hảo và cảnh dòng sông ở hậu cảnh gần như sáng trắng dưới ánh nắng mặt trời tháng sáu. Bộ váy mỏng manh trong suốt thể hiện những đường cong tinh tế của người phụ nữ. Cây trúc đào bên góc phải tượng trưng cho sự mong manh giữa giấc ngủ và cái chết. Thiếu nữ trong tranh với vẻ đẹp vừa nhục dục vừa trong sáng khiến người xem nhớ đến những tiên nữ nanh-phơ trong thần thoại Hy Lạp ngày xưa.


9. Portrait of Adele Bloch-Bauer I (Chân dung nàng Adele Bloch-Bauer I)
Tác giả: Gustav Klimt (Áo)
Năm hoàn thành: 1907



Gustav Klimt là một họa sĩ thiên tài người Áo, nổi tiếng với những đề tài về phụ nữ và tình yêu. Cho tới nay, Portrait of Adele Bloch-Bauer I là một trong 5 bức tranh được trả giá cao nhất trong lịch sử. Năm 2006, bức tranh được bán với giá kỷ lục 135 triệu USD, trở thành bức tranh đắt giá nhất lúc bấy giờ.
Adele Bloch-Bauer là vợ của một nhà tư bản kếch xù, người thường mạnh dạn ủng hộ và giúp đỡ tiền bạc cho Gustav Klimt. Bà là tình nhân bí mật của Klimt và cũng là người phụ nữ duy nhất được họa sĩ hai lần vẽ chân dung. Bức chân dung thứ hai của bà, Portrait of Adele Bloch-Bauer II, từng được trả giá 88 triệu USD, cũng là một trong những bức tranh đắt giá nhất thế giới.

Portrait of Adele Bloch-Bauer I tràn ngập một màu vàng vương giả, người phụ nữ trong tranh trông thoải mái và đường bệ như một nữ hoàng. Bức tranh còn được mệnh danh là “Mona Lisa của nước Áo” hoặc “Phu nhân vàng”.


10. Dora Maar with Cat (Dora Maar với Mèo)
Tác giả: Pablo Picasso (Tây Ban Nha)
Năm hoàn thành: 1941



Picasso là họa sĩ thiên tài người Tây Ban Nha, một trong những cái tên sáng chói nhất trong giới hội họa thế kỷ 20. Dora Maar with Cat được giới phê bình cùng công chúng đánh giá cao và là một trong những bức tranh đắt nhất thế giới với giá hơn 95 triệu USD.

Dora Maar là người tình lâu năm của họa sĩ và cũng là một nhiếp ảnh, họa sĩ có tiếng. Trong tranh, bà ngồi trên một cái ghế trông như ngai vàng với một cái mũ trông như vương miện trên đầu. Một con mèo nhỏ xuất hiện bên vai phải, trông vừa có sự hăm dọa, vừa có vẻ hài hước. Những móng tay của Dora Maar cũng được vẽ rất dài và sắc nhọn, hàm ý cô cũng là một con mèo nhỏ ranh mãnh. Bức tranh cũng rất nổi tiếng về sự lựa chọn màu sắc, phối màu phức tạp.
Nguồn: vnexpress.net
 

 

Chiêm  ngưỡng những  bức tranh đẹp nhất William-Adolphe Bouguereau từng khắc họa
về những người mẹ

 

Bức “Người phụ nữ trẻ ngắm hai con chơi đùa” (1861)
Bức “Người phụ nữ trẻ ngắm hai con chơi đùa” (1861)
Bức “Tình anh em” (1851)
Bức “Tình anh em” (1851)
Bức “Tâm tình” (1880)
Bức “Tâm tình” (1880)
Bức “Cô gái và đứa trẻ” (1881)
Bức “Cô gái và đứa trẻ” (1881)
Bức “Lòng nhân hậu” (1859)
Bức “Lòng nhân hậu” (1859)
Bức “Chùm nho” (1868)
Bức “Chùm nho” (1868)
Bức “Người mẹ ngắm con” (1869)
Bức “Người mẹ ngắm con” (1869)
Bức “Người mẹ trẻ và đứa con nhỏ” (1877)
Bức “Người mẹ trẻ và đứa con nhỏ” (1877)
Bức “Đức Mẹ của những đóa hồng” (1903)
Bức “Đức Mẹ của những đóa hồng” (1903)
Bức “Bản nhạc của những thiên thần” (1881)
Bức “Bản nhạc của những thiên thần” (1881)
Bức “Không có gì nặng nhọc” (1895)
Bức “Không có gì nặng nhọc” (1895)
Bức “Ngây thơ” (1893)
Bức “Ngây thơ” (1893)
Bức “Bé con hôn mẹ” (1890)
Bức “Bé con hôn mẹ” (1890)
Bức “Cô bé dỗi hờn” (1888)
Bức “Cô bé dỗi hờn” (1888)
Bức “Nghỉ ngơi” (1879)
Bức “Nghỉ ngơi” (1879)
Bức “Trở về sau mùa thu hoạch” (1878)
Bức “Trở về sau mùa thu hoạch” (1878)
Bức “Ru con” (1875)
Bức “Ru con” (1875)
Bức “Đứa trẻ nhà Breton” (1871)
Bức “Đứa trẻ nhà Breton” (1871)
Bức “Người mẹ ngắm con” (1871)
Bức “Người mẹ ngắm con” (1871)
Bức “Những âu yếm đầu đời” (1866)
Bức “Những âu yếm đầu đời” (1866)
Bức “Kẻ trộm bé nhỏ” (1872)
Bức “Kẻ trộm bé nhỏ” (1872)
Bức “Đức Mẹ, Jesus và Thánh John” (1875)
Bức “Đức Mẹ, Jesus và Thánh John” (1875)
Bức “Lòng nhân hậu” (1878)
Bức “Lòng nhân hậu” (1878)
Bức “Người phụ nữ Gíp-xi” (1879)
Bức “Người phụ nữ Gíp-xi” (1879)
Bức “Đất mẹ” (1883)
Bức “Đất mẹ” (1883)
Chiêm  ngưỡng những  bức tranh đẹp nhất
William-Adolphe Bouguereau từng khắc họa
về những người mẹ 
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 19

Sống Thọ chưa phải là may mắn!


Cứ mỗi lần có dịp phải vào nhà dưỡng lão để thăm người quen hay bạn bè, tôi thường có những suy nghĩ và ám ảnh, liệu rồi sau này lúc già yếu, bệnh hoạn, tôi có phải vào nằm ở đây không, mà ví như cha mẹ tôi còn sống, tôi có khả năng nuôi nấng săn sóc cha mẹ tôi ở nhà không hay lại phải đưa quý cụ vào đây?

“Nước mắt chảy xuôi” là thành ngữ Việt Nam nói đến tình thương chỉ có thể từ cha mẹ dành cho con cái, theo dòng thuận của đời người, từ cao xuống thấp, để khuyên chúng ta đừng đòi hỏi một sự báo đáp từ con cái. Nhưng sự thật, các bậc cha mẹ cũng buồn lòng khi thấy con cái đối xử với mình tệ bạc nhất là đến tuổi già, bệnh tật, có khi bị bỏ quên, cha mẹ cảm thấy cô đơn, cần sự an ủi, săn sóc. Trong một bài viết về nỗi niềm của cha mẹ già bị bỏ quên trong xã hội hôm nay, tôi nhận được lá thư của một vị cao niên ở tận miền Ðông, bày tỏ ý kiến của cụ:

“Tôi đã khóc, khóc cho chính mình và cho ai trong tuổi già ở xứ này.

Ông kể lại có cụ già đã chết cả một hai tuần, không ai biết.

-Con cái ở đâu?

Ðó là những người có con mà còn vậy, còn những người không con thì chắc phải vô trường hợp này quá. Vì tôi không con gái, chỉ hai ‘đực rựa’, một ở Cali, một ở gần đây, nhưng ít khi kêu, và có khi không kêu hỏi thăm được một tiếng, lúc cần tiền hay cần gì đó mới kêu.

– Có lúc tôi nghĩ: “Hay mình bất hiếu với cha mẹ nên con cái nó bạc với mình chăng?”

Ở Florida này cũng có một bà Việt Nam ở riêng, mỗi tuần có cậu con trai mang đồ ăn tới.

Hôm đó cậu ta kêu cửa, nhưng không ai ra mở. Cậu ta tưởng bà cụ đi vắng bèn treo gói đồ ăn vào hàng rào cổng. Mấy ngày sau trở lại, thấy gói đồ ăn vẫn còn, mới khám phá ra bà mẹ đã chết.

-“Thật là thảm!”

Ðây chắc chắn là chuyện này có thể tránh được.

– Nếu mẹ ở nhà riêng, con nên có một cái chìa khóa nhà để dùng lúc cần thiết.
– Ðem thức ăn đến cho mẹ, khi mẹ đi vắng, dù bận thế nào đi nữa, thì cũng vào nhà, để thức ăn vào tủ lạnh cho mẹ.
– Nếu mẹ ngủ thì cũng vào nhà xem mẹ có khỏe không?
– Ðiện thoại cho mẹ nhiều lần mà không nghe trả lời thì phải nhờ người ở gần, đến gõ cửa nhà mẹ xem sao, hay vội vàng chạy lại xem sự thể thế nào?

Câu chuyện như trên có thể xẩy ra bất cứ ở đâu.

-Trái tim của người mẹ có nhiều chỗ dành cho đứa con, như đôi cánh của một con gà mẹ có thể dang ra che kín mười đứa con bé dại, nhưng người mẹ có chỗ nào trong trái tim của con?

– Ngày xưa, mẹ chưa bao giờ biết nói tiếng “bận” với con.

– Khi đang ăn mà con “làm bậy” cũng phải buông đũa đứng dậy.

– Nửa đêm dù đau yếu, mỏi mệt nghe tiếng con khóc cũng phải mở mắt, vỗ về và ôm con vào lòng.

– Sao các con bây giờ vẫn thường nói tiếng “bận” với cha mẹ.

– Vì bận nên các con đưa cha mẹ già lú lẫn vào nursing home,

– Vì bận, nên theo lời một cô y tá cho biết, nhiều gia đình bỏ cha mẹ vào đây rồi không bao giờ lui tới thăm viếng.

– Cô cho biết nhiều người đã ở đây năm sáu năm rồi, không hề có ai lai vãng.

– Có bao nhiêu lý do để những đứa con có thể nêu ra để không còn chỗ nào trong lòng, nhớ đến cha mẹ.

– Đàn ông chúng ta nên vui, vì hiện nay trong các nhà dưỡng lão 70% là quý bà, vì các ông đã quy tiên sớm hơn vợ mình, thông thường ít nhất là 6 năm, để ngày nay khỏi phải chịu cảnh cô đơn, buồn tẻ.

-Trước ngày Giáng Sinh tôi có dịp vào viếng thăm một người bạn sắp qua đời trong một nursing home.

Trên hành lang dẫn vào phòng người bạn, và ngay trước chỗ làm việc của nhân viên ở đây, tôi thấy nhiều ông bà cụ ngồi trên những chiếc xe lăn, nhìn những người qua lại.

Các cô y tá đã sắp xếp cho các cụ ra ngồi trên hành lang đối điện với văn phòng làm việc, một phần để trông chừng các cụ, một phần cho các cụ đỡ buồn.

Nhưng các cụ nhìn sự vật một cách dửng dưng, đôi mắt đờ đẫn, có người đã gục đầu xuống ngủ. Giá mà có người đẩy xe lăn đưa các cụ đi dạo một vòng ngoài trời nắng ấm kia, chắc hẳn các cụ vui hơn và biết đâu cuộc sống sẽ kéo dài thêm một thời gian nữa.

Giờ này trong công viên hay trên những con đường trong thành phố nhiều người mẹ đang đẩy chiếc xe đưa con đi dạo, nhưng vài mươi năm nữa ai sẽ đẩy chiếc lăn cho bà.

Phải chăng định luật của cuộc sống và tình thương là “nước mắt chảy xuôi”, sẽ không bao giờ có một dòng nước chảy ngược về nguồn.

Người Âu Mỹ thường thèm địa vị của các bậc cha mẹ người Á Ðông lúc về già vẫn còn được con cái lui tới săn sóc, nhưng họ cũng nên nhớ lại, họ chỉ nuôi con cho đến năm 18 tuổi là hết bổn phận, trên pháp lý, không ai trừng phạt gì họ được, mà trên mặt tình cảm cũng không có gì phải cắn rứt lương tâm.

Trong xã hội văn minh này, một đứa trẻ bỏ học, đi lang thang ngoài đường hay bị đối xử tàn tệ, cha mẹ có thể ra tòa và mất quyền nuôi dưỡng, còn những cụ già vô gia cư, đói khát bị bỏ bên lề đường, không ai có trách nhiệm và chẳng có ai phải ra tòa.

Ðiều đáng nói là các cụ già cũng như những đứa trẻ, đều yếu đuối, không có khả năng tự bảo vệ và rất dễ xúc động, buồn vui.

Trong một xã hội đáng gọi là văn minh, các trẻ em và người cao niên đều được che chở, bảo vệ và săn sóc chu đáo.

Các cụ có các cơ quan xã hội lo thuốc men, thực phẩm nhưng với nỗi cô đơn, phiền muộn ai là người lo cho các cụ, trong khi những đứa trẻ có người an ủi, vỗ về và nói với nó những lời dịu ngọt.

Ngân khoản của liên bang cấp để ngăn ngừa tình trạng lạm dụng có đến 90% dành cho việc ngăn ngừa lạm dụng trẻ con, 7% để ngăn ngừa bạo hành trong gia đình nhưng chỉ có 2% sử dụng trong việc ngăn ngừa ngược đãi người già.

Không biết có bao nhiêu đạo luật và ngân khoản dành cho việc chống lại việc ngược đãi súc vật? Cứ vào “Pet-Abuse.com” chúng ta sẽ tìm thấy hàng nghìn trường hợp công dân Mỹ, già và trẻ, đàn ông lẫn đàn bà bị tù tội, phạt tiền vì bạc đãi, bỏ đói, đánh đập hoặc giết những con vật thân yêu trong nhà.

Bỏ quên một bà mẹ già trong nhà dưỡng lão nhiều năm có phải là một trường hợp ngược đãi không?

Tôi nghĩ là không……. Nếu có, luật pháp đã bắt đứa con phải phạt vạ hay vào nhà tù.

Theo người xưa, tuổi thọ là một ơn Trời và là một phúc đức lớn cho gia đình nào có cha mẹ tuổi thọ cao, trước nhất là của chính người cao tuổi nhưng đồng thời cũng là cho con cháu, bởi vì cha mẹ có sống lâu, con cháu mới có cơ hội được thể hiện lòng hiếu thảo. Có ba điều người ta thường mong ước ở đời là Phước , Lộc , Thọ..

Phước có chỗ đứng cao hơn hết, Lộc thì phù du, mà ở đây Thọ chưa hẳn đã là may mắn.

Vu Trung Hien 

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 25

Lời Dặn Dò Cuối Cùng Của Đức Phật

Biên soạn dựa theo một bài viết của Thiền sư và Giáo sư Triết học người Pháp

Gérard Pilet, đăng trong nội san của Hội Thiền học Quốc tế AZI (Association Zen Internationale), trụ sở tại Paris, và tài liệu của Bukkyo Dendo Kyokai (Society For the Promotion of Bouddhism), trụ sở tại Tokyo.

Xin hãy lắng lòng nghe,

chiêm nghiệm, và thực hành

những lời dặn dò cuối cùng của Đức Phật

để thân tâm an lạc thật sự.

Thật ra Phật đã đau yếu từ ba tháng trước và đã khởi sự dặn dò người đệ tử thân cận nhất là A-nan-đà. Phật bảo A-nan-đà tập họp các đệ tử để nghe giảng và thông báo trước sự tịch diệt của mình.

Lúc ấy Phật đã 80 tuổi. Trong những tháng cuối cùng, Phật đã gầy còm và mệt mỏi, nhưng vẫn đi thuyết giảng như thường, tuy không còn đi xa được nữa. A-nan-đà xin Phật hãy tĩnh dưỡng trong những ngày còn lại, nhưng Ngài khoát đi và dạy rằng:

 

“Thân ta tuy có kém mạnh khoẻ, nhưng lòng từ bi của ta, trí sáng suốt của ta không kém sút. Ta còn tại thế ngày nào thì ngày ấy không phải là một ngày vô ích”.

 

Trong một khu rừng cạnh thị trấn Câu-thi-na (Kusinaga, còn viết là Kuçinagara), ngày nay là một thị trấn nhỏ tên là Kasia, cách 50 cây số về phía đông tỉnh Gorakhpur, và cách 150 kilomét về phía bắc-đông-bắc Varanasi (Bénarès), Phật nằm nghỉ giữa hai gốc cây sa-la. Ngài tự gấp áo cà sa làm bốn, rồi nằm nghiêng về phía tay phải, đầu hướng về phía bắc, mặt hướng về phía tây, hai chân duỗi thẳng, chân này gác lên chân kia. Sau đó Phật ngỏ những lời cuối cùng với các đệ tử để nhắc lại một lần nữa tầm quan trọng của Đạo Pháp. Phật nhắc nhở các đệ tử phải hiểu rằng vị thầy của họ không phải là một nhân vật nào cả, dù đó là Phật, vị thầy đích thực của họ chính là Đạo Pháp. Phật cất tiếng và nhắn nhủ các đệ tử đang ngồi chung quanh Ngài như thế này:

 

“Này các đồ đệ, các con hãy tự làm đuốc để soi sáng cho các con, hãy trông cậy vào chính sức mạnh của các con; không nên lệ thuộc vào bất cứ ai. Những lời giảng huấn của ta sẽ làm ngọn đuốc dẫn đường cho các con, làm nơi nương tựa cho các con; không cần phải lệ thuộc thêm vào những lời giảng huấn nào khác nữa.

 

Hãy nhìn vào thân xác các con, các con sẽ thấy cái thân xác đó ô uế biết chừng nào. Khi các con hiểu được rằng lạc thú lẫn đớn đau của thân xác cũng chỉ là cội nguồn chung của khổ đau, khi hiểu được như thế, các con sẽ không thể nào tự buông lỏng cho dục vọng chi phối các con.

 

Hãy nhìn vào tâm thức các con, các con sẽ thấy cái tâm thức đó biến dạng không ngừng. Vì thế các con sẽ không thể nào tự buông rơi vào chính những ảo giác của tâm thức, để rồi tự duy trì những kiêu căng và ích kỷ do tâm thức tạo ra, nhất là khi các con đã hiểu rằng những xúc cảm đó nhất định chỉ mang đến khổ đau mà thôi.

 

Hãy nhìn vào tất cả các vật thể chung quanh xem có vật thể nào trường tồn hay chăng? Có vật thể nào không phải là những cấu hợp sinh ra hay không? Tất cả sẽ gẫy nát, tan rã và phân tán.  Các con chớ sợ hãi khi nhận thấy khổ đau cùng khắp mọi nơi, hãy noi theo những lời giáo huấn của ta, kể cả sau khi ta đã tịch diệt. Như thế các con sẽ loại bỏ được khổ đau. Thật vậy, cứ noi theo những lời giáo huấn của ta, rồi nhất định các con sẽ trở thành những đồ đệ thật sự của ta.

 

Này các đồ đệ của ta, những lời giáo huấn ta giảng cho các con, các con đừng bao giờ quên, đừng bao giờ để cho mai một đi. Phải bảo tồn những lời giáo huấn ấy, đem ra nghiên cứu và thực hành. Nếu theo đúng những lời giáo huấn ấy, các con sẽ đạt được an vui.

 

Những gì hệ trọng nhất trong những lời giáo huấn của ta là các con phải kiểm soát được tâm thức các con. Hãy gạt bỏ mọi thèm muốn và giữ cho thân xác đứng thẳng, tâm thức tinh khiết và ngôn từ chân thật. Nếu các con biết tự nhắc nhở là cuộc sống của các con chỉ là tạm bợ, các con sẽ đủ khả năng loại bỏ mọi thèm khát và hung dữ đưa đến khổ đau.

 

Nếu các con nhận ra được là tâm thức các con đang có xu hướng bám níu hay vướng mắc vào ham muốn, các con phải gạt bỏ ngay sự ham muốn và chận đứng sự cám dỗ đó. Các con phải làm chủ được tâm thức các con.

 

Tâm thức có khả năng biến một con người thành một vị Phật hay một con thú. Khi rơi vào sự lầm lẫn, ta có thể trở thành quỷ sứ, nhưng khi Giác Ngộ ta sẽ thành Phật. Vì thế, các con phải kiểm soát lấy tâm thức các con và không đi lạc ra ngoài Chánh Đạo.

 

Để có thể giữ đúng như lời giáo huấn của ta, các con hãy kính trọng lẫn nhau và đừng cãi vã. Đừng bắt chước như nước với dầu xô đẩy lẫn nhau; hãy bắt chước như nước với sữa, có thể hoàn toàn hòa lẫn vào nhau.

 

Hãy cùng nghiên cứu với nhau, cùng giảng giải cho nhau, thực hành với nhau. Không nên phí phạm tâm thức của các con và thời giờ của các con trong sự cãi vã hay lười biếng. Hãy hân hoan đón nhận hoa thơm của Giác Ngộ vào lúc ra hoa và hái lấy quả ngọt trên Đường Ngay Thật.

 

 

Những lời giáo huấn ta ban cho các con là do nơi kinh nghiệm của chính ta, và chính ta đã noi theo con đường đó. Các con nên tuân theo những lời giáo huấn ấy và giữ đúng như thế dù phải gặp hoàn cảnh khó khăn nào. Nếu các con xao lãng, có nghĩa là các con chưa hề gặp được ta, các con thật sự còn đang ở một nơi nào đó thật xa, dù cho trong lúc này đây các con đang ngồi bên cạnh ta cũng vậy. Nhưng nếu ngược lại, các con chấp nhận và đem ra thực hành những lời giáo huấn của ta, thì dù cho các con ở thật xa trong một chốn tận cùng của thế giới, nhưng cũng giống như các con đang ở bên cạnh ta trong lúc này.

 

Hỡi các đồ đệ, phút cuối cùng của ta đã gần kề, phút xa lìa giữa ta và các con không còn bao lâu nữa. Tuy nhiên các con không nên than khóc. Sự sống là một sự đổi thay không ngừng và không có gì cản trở được sự tan rã của xác thân. Cái sự thực đó, ta đang chứng minh cho các con thấy ngay trên thân xác của ta, thân xác ta sẽ tan rã như một cỗ xe hư nát. Đừng than khóc một cách vô ích, trái lại các con phải hân hoan khi nhận ra được cái quy luật biến đổi ấy và hiểu được rằng sự sống của con người chỉ là trống không mà thôi. Đừng cố gắng duy trì cái khát vọng phi lý, mong muốn những gì tạm bợ phải nhất định trở thành trường tồn.

 

Con quỷ của những dục vọng thế tục luôn luôn tìm cách đánh lừa tâm thức các con. Nếu có một con rắn độc trong phòng, các con sẽ không thể nào ngủ yên nếu chưa đuổi được nó ra ngoài. Các con phải cắt đứt những mối dây ràng buộc của thèm khát thế tục và dứt bỏ những mối dây đó như các con đã đuổi bỏ con rắn độc ra khỏi phòng.

Các con phải bảo vệ thật cẩn thận tâm thức các con.

 

Này các môn đệ của ta, giây phút cuối cùng của ta đã đến, tuy vậy các con phải hiểu rằng cái chết chỉ là sự tan rã của xác thân vật chất mà thôi. Thân xác được cha mẹ sinh ra, nó lớn lên nhờ thức ăn, nó không có cách gì tránh khỏi bịnh tật và cái chết. Một vị Phật đích thực không mang thân xác con người, mà vỏn vẹn chỉ là sự Giác Ngộ. Chỉ có sự Giác Ngộ mà thôi. Thân xác con người phải tiêu tan, nhưng Trí Tuệ của Giác Ngộ sẽ trường tồn vô tận trong thực thể của Đạo Pháp, trên con đường tu tập Đạo Pháp. Nếu có ai chỉ thấy thân xác ta thì kẻ ấy không thấy ta một cách thật sự. Chỉ có người nào chấp nhận những lời giáo huấn của ta mới thật sự nhìn thấy ta.

 

Sau khi ta tịch diệt, Đạo Pháp thay ta làm vị thầy cho các con. Biết noi theo Đạo Pháp, ấy chính là cách các con tỏ lòng trung thành với ta. Trong bốn mươi lăm năm sau cùng trong cuộc đời của ta, ta không hề giấu giếm điều gì trong những lời giáo huấn.

Chẳng có một lời giáo huấn nào bí mật, không có một lời nào mang ẩn ý. Tất cả những lời giảng của ta đều được đưa ra một cách ngay thật và minh bạch.

Này các con yêu quý của ta, đây là giây phút chấm dứt. Trong một khoảnh khắc nữa ta sẽ nhập vào Niết Bàn.

Những lời này là những lời dặn dò cuối cùng của ta cho các con”.

 

Người chép lại những lời này của Phật xin chắp tay mong rằng:

– Vì Phật, chúng ta hãy đọc lại những lời nhắn nhủ trên đây thêm một lần.

– Vì tất cả chúng sinh, vì sự đau khổ của muôn loài, chúng ta lại đọc thêm một lần nữa.

– Để gửi đến từng đơn vị nhỏ nhoi nhất của sự sống, chúng ta lại đọc thêm một lần nữa, đọc thêm một lần nữa…

 

Chúng ta nguyện sẽ đọc lên và đọc lên cho từng chúng sinh một, ta đọc cho đến khi nào những lời dặn dò trên đây của Phật trở thành những lời dặn dò xuất phát từ chính tâm thức ta, để nhắn nhủ cho chính ta, nhắn nhủ những người chung quanh ta,

kể cả những sinh linh nhỏ nhoi nhất của sự sống. Khi những lời nhắn nhủ chân thật và tràn đầy Từ Bi trên đây của Phật trở thành làn hơi thở của của chính ta,

thì biết đâu lúc ấy ta cũng sẽ là một vị Phật.

Bures-Sur-Yvette (Pháp quốc)

(Biên soạn dựa theo một bài viết của Thiền sư và Giáo sư Triết học người Pháp Gérard Pilet, đăng trong nội san của Hội Thiền học Quốc tế AZI (Association Zen Internationale), trụ sở tại Paris, và tài liệu của Bukkyo Dendo Kyokai (Society For the Promotion of Bouddhism), trụ sở tại Tokyo).

sự quyền uy, trang nghiêm hoặc sự cao thượng..jpg
NAM GIANG TỬ 
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 73

: Tìm Về Nguồn Cội Tâm Linh

ÂN ĐỨC CỦA NHƯ LAI
Đức Phật xuất hiện để phá tan cái tăm tối của vô minh và để chỉ cho nhân gian 
biết phương pháp giải thoát khỏi khổ đau.
 
Đức Phật là hiện thân của tất cả những phẩm hạnh mà Ngài thuyết giảng. Trong 
thành quả của 45 năm dài hoằng pháp, Ngài đã chuyển lời nói thành hành động.
 Không lúc nào mà Ngài không trình bầy bất cứ cái yếu đuối của con người hay 
bất cứ dục vọng căn bản nào. Giới luật của Đức Phật là giới luật toàn hảo nhất 
mà thế giới từng được biết đến.
 
Trên 25 thế kỷ qua, hàng triệu người đã tìm được nguồn cảm hứng và 
an ủi trong Giáo Lý của Ngài. Ngày nay sự vĩ đại của Ngài vẫn rực rỡ như 
vầng thái dương chiếu sáng nơi tối tăm. Giáo Lý của Ngài vẫn đem yên ổn và 
bình an của Niết Bàn cho người hành hương lo âu. Không có ai đã hy sinh 
quá nhiều lạc thú trần gian để cứu khổ cho nhân loại như Ngài.
 
Đức Phật là vị lãnh đạo tôn giáo đầu tiên trong lịch sử thế giới khiển trách
 việc dùng sanh mạng con vật để hy sinh bất cứ vì lý do gì, và kêu gọi con người
 không nên hại bất cứ sinh vật nào.
 
Với Đức Phật, tôn giáo không phải là chuyện mặc cả nhưng là đường lối
 để tiến tới giác ngộ. Ngài không muốn tín đồ của Ngài mù quáng; Ngài muốn họ
 suy gẫm một cách tự do và trí tuệ. Toàn thể nhân loại được Ngài ban phước 
qua sự hiện diện của Ngài.
 
Chưa có lúc nào Ngài dùng đến những lời bất nhã với bất cứ một ai. Ngay cả
 đến những người chống đối Ngài, những kẻ thù xấu nhất, Ngài cũng không 
bao giờ tỏ ra thiếu thân thiện với họ. Một số người có thành kiến, chống đối 
Ngài và muốn giết Ngài, nhưng với họ, Đức Phật vẫn không coi họ là kẻ thù. 
Đức Phật có lần nói:
 
‘Như voi chiến ra trận, 
 hứng lãnh làn tên mữi đạn, 
 cũng thế ấy,  Như Lai phải chịu đựng lời nguyền rủa’.
 (Kinh Pháp Cú, Câu 320).
 
Trong biên niên sử, không có một nhân vật nào đã hy sinh đem hạnh phúc c
ho nhân loại như Đức Phật đã làm. Từ giờ Giác Ngộ cho đến lúc Nhập Diệt, 
Ngài không ngừng tranh đấu để nâng cao nhân loại. Ngài chỉ ngủ có hai giờ 
một ngày. Hai Mươi Năm Lăm thế kỷ trôi qua từ khi Vị Đại Đạo Sư này đã qua 
đời, thông điệp tình thương và trí tuệ của Ngài vẫn hiện hữu thuần khiết như 
lúc ban đầu. Thông điệp của Ngài vẫn ảnh hưởng sâu xa đến vận mệnh của
 nhân loại. Ngài là một Đấng Từ Bi cao cả nhất đã soi sáng thế giới với 
tình thương thân ái.
 
Sau khi nhập Niết Bàn, Ngài đã để lại bức thông điệp bất tử cho chúng ta. 
Ngày nay hòa bình thế giới của chúng ta bị đe dọa khủng khiếp. Không bao giờ
 trong lịch sử của thế giới thông điệp của Ngài lại thiết yếu hơn như cho thời đại này.
 
Đức Phật đản sanh để xóa tan cái tăm tối của vô minh, chỉ cho thế gian làm sao
 thoát khỏi khổ đau, bệnh não, suy tàn, cái chết và tất cả lo âu, đau đớn 
khổ sở của chúng sanh.
 
Theo một số tín ngưỡng, một đấng thiêng liêng nào đó sẽ thỉnh thoảng xuất hiện
 để diệt kẻ ác, và che chở người lương thiện. Đức Phật không xuất hiện trên thế gian
 này để diệt kẻ ác nhưng để dạy họ con đường chân chính.
 
Trong lịch sử thế giới cho đến thời kỳ Đức Phật, chúng ta chưa hề nghe thấy một
 vị thầy trong bất cứ tôn giáo nào lại chan chứa tình cảm thương yêu đối với 
loại khổ đau như Đức Phật?  Đồng thời với Đức Phật, chúng ta có nghe thấy một
 số nhà hiền triết Hy Lạp như Socrates, Plato, và Aristotle. Nhưng các vị này
chỉ là những triết gia, những nhà tự do tư tuởng và những người đi tìm chân lý; 
họ đều thiếu sự phát triển tình thương trước sự đau khổ bao la của chúng sanh.
 
Con đường cứu độ nhân loại của Đức Phật là dạy cho con người làm sao tìm 
được giải thoát. Ngài không chú trọng đến làm nhẹ bớt một vài trường hợp 
về thân và tâm bệnh. Ngài quan tâm nhiều đến việc vạch ra con 
Đường để mọi người đi theo.
 
 Chúng ta hãy lấy tất cả những triết gia, tâm lý, những nhà tự do tư tưởng,
 khoa học gia, duy lý luận, xã hội, các nhà cách mạng vĩ đại nhất của tất cả các
 đạo sư của các tôn giáo khác, và với một tinh thần không thiên vị, chúng ta đem
so sánh những vĩ đại của họ, đức hạnh của họ, ân đức phục vụ của họ, và trí tuệ 
của họ với đức hạnh, lòng từ tâm và sự giác ngộ của Đức Phật. 
Ta có thể thấy ngay Đức Phật đứng trong một vị thế nào giữa những người này.
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 85

TÌM THẤY VIÊN NGỌC TRÊN ĐƯỜNG BÙN

Gudo tuy là quốc sư, nhưng ngài vẫn hay du hành như một kẻ khất sĩ lang thang. Một hôm trên đường đi Edo, một trung tâm văn hóa và chính trị quan trọng, ngài đến gần một ngôi làng có tên là Takenaka. Trời đã tối và mưa tầm tả, Gudo ướt mẹp và đôi dép rơm đã tơi tả. – một căn nhà tranh gần làng, ngài thấy có khoảng bốn hay năm đôi dép bày ở cửa sồ và muốn vào hỏi mua một đôi. Người đàn bà thấy ngài ướt lạnh, thương tình mời ngài trú qua đêm. Gudo nhận lời và cám tạ bà ta. Ngài đến trước bàn thờ giữa nhà tụng một thời kinh. Sau đó bà mẹ của bà chủ và bầy con ra chào. Nhìn thấy cả nhà buồn bả, ngài hỏi cớ sự. “Chồng con là kẻ cờ bạc say sưa”, người đàn bà kể lể. “Khi ổng ăn bạc thì uống rượu say mèm rồi về nhà đánh đập vợ con. Nếu ổng thua thì đi vay mượn khắp nơi. Lắm khi say quá lại không về nhà. Con phải làm sao?”

“Ðể bần tăng giúp cho,” Gudo nói. “Ðây có ít tiền, hãy đi mua một chung rượu ngon và ít đồ nhấm. Rồi bà đi nghỉ đi. Bần tăng sẽ tọa thiền trước bàn thờ.” Nữa đêm, ông chồng say khướt trở về, la lối om xòm. “Con mẹ nó đâu, tao về nhà đây này. Có cái gì ăn không?”

“Có” Gudo nói, “Bần tăng bị mắc mưa và được bà nhà thương tâm cho tạm trú qua đêm. Ðể đền đáp bần tăng có mua một ít rượu và đồ nhấm dành cho ông dùng.”

Gã đàn ông hài lòng, uống sạch chung rượu rồi ngã lăn trên sàn mà ngủ. Gudo tọa thiền cạnh bên. Sáng sớm hôm sau, gã đàn ông tỉnh dậy quên hẳn mọi chuyện đêm qua.

“Ông là ai? – đâu đến đây?” gã hỏi Gudo khi ngài vẫn còn trầm tư mặc tưởng. “Bần tăng là Gudo từ Ðông Kinh đến, trên đường đi Edo,” Thiền sư trả lời.

Gã đàn ông xấu hổ quá, liền miệng xin lỗi quốc sư. Gudo mĩm cười.

“Mọi sự, mọi vật trên đời đều vô thường,” ngài giảng giải. “Cuộc đời rất ngắn ngủi. Nếu ông cứ tiếp tục cờ bạc và rượu chè thì ông chẳng làm được việc gì hữu sự, lại còn làm khổ vợ con.”

Gã đàn ông chợt ngộ, như ra khỏi cơn mê.

“Ðại sư nói đúng,” anh ta dõng dạc. “Làm sao con có thể đền bù cho ngài về lời dạy này! Hay là để con mang hành lý hộ ngài và tin ngài một đoạn đường.ẽ

“Nếu ông muốn,” Gudo tán đồng.

Hai người lên đường. Sau khoảng ba dặm, Gudo bảo y quay về.

“Xin được thêm năm dặm nữa,” gã nài nỉ. Họ tiếp tục đi.

“Giờ ông nên quay về,” Gudo khuyên.

“Hẳn thêm mười dặm nữa,” gã đàn ông xin.

“Hãy về ngay,” Gudo bảo sau khi đã đi hết mười dặm.

“Xin cho con theo Ðại sư suốt đời,” gã tuyên bố.

Những thiền sư hiện đại của Nhật đều là môn đệ của người kế thừa Gudo. Tên của ngài là Mu-nan, người đàn ông đã không bao giờ quay trở lại. 

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 29