Category Archives: Góp Nhặt Trăm Hoa

ĐỨC DALAI LAMA . HỌC LÀM NGƯỜI

Tín ngưỡng của tôi rất đơn giản. Không cần có các chùa chiền, không cần các triết lý cao siêu. Tim và óc của tôi là các chùa chiền; triết lý của tôi là lòng tốt. 
Học làm người là việc học suốt đời chẳng thể nào tốt nghiệp được!
 
1. Thứ nhất, “học nhận lỗi”.Con người thường không chịu nhận lỗi lầm về mình, tất cả mọi lỗi lầm đều đổ cho người khác, cho rằng bản thân mình mới đúng. Thật ra không biết nhận lỗi chính là một lỗi lầm lớn.
 
2. Thứ hai, “học nhu hòa”.Răng người ta rất cứng, lưỡi người ta rất mềm, đi hết cuộc đời răng người ta lại rụng hết, nhưng lưỡi thì vẫn còn nguyên. Cho nên cần phải học mềm mỏng, nhu hòa thì đời con người ta mới có thể tồn tại lâu dài được.
3. Thứ ba, ” học nhẫn nhục”.Thế gian này nếu nhẫn được một chút thì sóng yên bể lặng, lùi một bước biển rộng trời cao. Nhẫn, vạn sự được tiêu trừ. Nhẫn chính là biết xử sự, biết hóa giải, dùng trí tuệ và năng lực làm cho chuyện lớn hóa thành nhỏ, chuyện nhỏ hóa thành không.
 
4. Thứ tư, “học thấu hiểu”.Thiếu thấu hiểu nhau sẽ nảy sinh những thị phi, tranh chấp, hiểu lầm.Mọi người nên thấu hiểu thông cảm lẫn nhau, để giúp đỡ lẫn nhau. Không thông cảm lẫn nhau làm sao có thể hòa bình được?
 
5. Thứ năm, “học buông bỏ”.Cuộc đời như một chiếc vali, lúc cần thì xách lên, không cần dùng nữa thì đặt nó xuống, lúc cần đặt xuống thì lại không đặt xuống, giống như kéo một túi hành lý nặng nề không tự tại chút nào cả. Năm tháng cuộc đời có hạn, biết buông bỏ thì mới tự tại được!
 
6. Thứ sáu, “học cảm động”.Cảm động là tâm thương yêu, tâm Bồ tát, tâm Bồ đề; trong cuộc đời mấy mươi năm của tôi,có rất nhiều câu chuyện, nhiều lời nói làm tôi cảm động, cho nên tôi cũng rất nỗ lực tìm cách làm cho người khác cảm động.
 
7. Thứ bảy, “học sinh tồn”.Để sinh tồn, chúng ta phải duy trì bảo vệ thân thể khỏe mạnh; thân thể khỏe mạnh không những có lợi cho bản thân, mà còn làm cho gia đình, bạn bè yên tâm, cho nên đó cũng là hành vi hiếu đễ với người thân.
Ra đi ta có được gì ?Ra đời hai tay trắng
Lìa đời trắng hai tay.
Sao mãi nhặt cho đầy.Túi đời như mây bay.
Dalai Lama
Tất cả chân lý đều ở trong cuộc sống này, khi sống với tham sân si thì đó là luân hồi đau khổ, khi đoạn tận tham sân si thì đó là Niết-bàn tịch tịnh. Vậy bài học là thấy ra đâu là đau khổ, đâu là Niết-bàn và nguyên nhân của nó ngay trong chính mình và cuộc sống chứ không phải cố gắng cho những ảo tưởng ở tương lai… Lắng nghe, quan sát lại chính mình trong tương giao với cuộc sống, sẽ thấy ra (vipassati) mọi chân lý mà chư Phật đã chứng ngộ.
“ Sức mạnh của trẻ thơ là tiếng khóc. Sức mạnh của đàn bà là phẩn nộ. Sức mạnh của người ăn trộm là vũ khí. Sức mạnh của vua chúa là quyền uy. Sức mạnh của kẻ ngu là áp đảo. Sức mạnh của bậc hiền trí là cảm hóa. Sức mạnh của người đa văn là thẩm sát. Sức mạnh của sa môn là nhẫn nhịn.”Phần lớn chúng ta khổ vì muốn được thường, lạc, ngã mà không thấy vô thường, khổ, vô ngã trong vạn pháp. Trong vô thường mà muốn thường hằng, trong khổ đau mà muốn hạnh phúc, trong vô ngã mà muốn đó là ta, của ta và tự ngã của ta: Đây được gọi là những điên đảo tưởng.Mọi sự mọi vật do duyên sinh đều có biến đổi, có thành hoại, có sinh diêt. Do đó ai muốn chúng thường còn thì tự chuốc lấy khổ đau. Ví dụ như hoa Mai có nở có tàn nhưng ai muốn hoa Mai nở mãi không tàn thì sẽ khổ đau thất vọng .
Mọi sự mọi vật do ái dục + vô minh, tức tham-sân + si chi phối trong các hành động tạo tác mà đưa đến sầu khổ. Ví dụ như đời người có sinh, già, đau, chết nhưng ai tham sống sợ chết thì sẽ khổ đau phiền muộn
Mọi sự mọi vật vốn vận hành theo quy luật tự nhiên của chúng, còn ý niệm “ta, của ta, tự ngã của ta” được gán ghép vào đó chỉ là ảo tưởng. Và chính ảo tưởng này đem lại khổ sầu. Ví dụ như mắt thấy mà cho là “ta thấy”, tai nghe mà cho là “ta nghe”… rồi “đây là con ta”, “đây là tài sản của ta”… nên mới khổ.
Bởi chúng ta không thể thay đổi được thế giới chung quanh, nên chúng ta đành phải sửa đổi chính mình, đối diện với tất cả bằng lòng từ bi và tâm trí huệ”
“Ra đời hai tay trắng.Lìa đời trắng hai tay.
Sao mãi nhặt cho đầy.Túi đời như mây bay”.
Hãy thành thật đối diện với mâu thuẫn và khuyết điểm trong tâm mình, đừng lừa dối chính mình.
Thiên Đàng, Cực Lạc, chỉ là cách gọi tên thôi. Phật giáo, Thiên Chúa giáo chỉ là hệ thống tổ chức Tôn giáo và Giáo lý thôi. Trên thực tế Chân Lý vẫn là một đối với người đã giác ngộ. (Giống như người miền Trung gọi là củ sắn thì người miền Nam gọi là củ mì, còn người nào ăn củ đó rồi thì mới thấy chỉ là một củ thôi …)
Khi còn tranh cãi nhau về cách lập ngôn hay còn chấp giữ hệ thống lý thuyết riêng của mình thì vẫn còn chưa thấy Chân Lý… Chính ý niệm của con người chia cắt manh mún Sự Thật thành cái của tôi và của anh mà thôi.
Sự khác biệt giữa con người là do mức tiến hóa khác nhau qua các kiếp sống. Có khi nào ta thù ghét một kẻ kém ta? Nhận thức rằng “ Vạn vật đồng nhất ”, ta sẵn sàng tha thứ cho kẻ khác, vì họ không hiểu biết, không ý thức hành động của mình, vả lại họ và ta nào có khác nhau đâu. Khi ta hiểu rằng vạn vật như chính mình, từ loài người qua loài thú, thảo mộc, kim thạch, và ý thức rằng mọi vật đều có sự sống, đều có Thượng đế ngự ở trong, ta sẽ cởi bỏ thành kiến, mở rộng lòng thương đến muôn loài.
Có hai cách biết: Một là cái biết thực tính (paramattha), hai là cái biết chế định (paññatti) với khái niệm.
Khi biết thực tính thì không qua khái niệm và không phản ứng tạo tác (không làm: vô vi, hoặc làm mà không tạo tác: duy tác).
Khi biết chế định với khái niệm thì có hai cách: Một là làm thiện theo nhu cầu cần thiết, hai là làm bất thiện theo tà kiến và tham ái.
Vì vậy, thấy biết chân thật là chính, còn làm hay không là một động lực tất yếu từ sự thấy biết này.
Sống với đạo Phật:
– Nếu không nói được những gì Phật nói, hãy im lặng như chánh pháp; đừng nói những lời ác, xuyên tạc, bịa đặt, vu khống, làm tổn hại kẻ khác.
– Nếu không làm được những gì Phật làm, hãy im lặng và lắng nghe, quán sát, học hỏi những thiện tri thức; đừng vọng động làm những điều thương tổn đến tha nhân”.
Trí tuệ không để bản ngã xen vào chấp thủ của các tư kiến) sự vận hành của các Pháp được gọi là Minh. Chỉ có Minh mới chấm dứt được toàn bộ tiến trình của bản ngã trói buộc con người, làm cho con người bị động trong vòng luân hồi sinh tử.
“Ác khẩu, mãi mãi đừng để nó thốt ra từ miệng chúng ta, cho dù người ta có xấu bao nhiêu, có ác bao nhiêu.
– Anh càng nguyền rủa họ, tâm anh càng bị nhiễm ô.
– Anh hãy nghĩ, họ chính là thiện tri thức của anh”.
– Trong lành là tuyệt đỉnh của Giới.
– Tĩnh lặng là tuyệt đỉnh của Định.
– Sáng suốt là tuyệt đỉnh của Tuệ.
Thực ra, chỉ có buông xả mới đạt được tuyệt đỉnh của Giới Định Tuệ mà thôi…
“Người mà trong tâm chứa đầy cách nghĩ và cách nhìn của mình thì sẽ không bao giờ nghe được tiếng lòng người khác.Ví như trong tay anh nắm chặt một vật gì mà không buông xuống, thì anh chỉ có mỗi thứ ấy, nếu anh chịu buông xuống, thì anh mới có cơ hội chọn lựa những thứ khác.
Vì thế, nếu một người luôn khư khư với quan niệm của mình, không chịu buông xuống thì trí tuệ chỉ có thể đạt đến ở một mức độ nào đó mà thôi.”
Hãy tin vào tất cả nhưng cũng đừng tin vào điều gì cả, hay nói chính xác hơn là đừng bám víu vào bất cứ điều gì. Tin vào mọi sự, mọi người, mọi vật… vì tất cả điều gì đến với mình đều có nhân duyên với mình, đều là bài học giúp mình học ra cái đúng cái sai, cái xấu cái tốt, cái chân cái giả…
Do đó phải biết ơn và phải học cho thật nhiệt tình, tận tâm và chuyên chú… chứ không nên chểnh mảng.
Nhưng phải cẩn thận, đừng bám víu vào điều gì, vì bám víu là dính mắc, dính mắc là trói buộc, trói buộc là đau khổ, là không còn thong dong tự tại…
“Hạnh phúc không phải là thứ có sẵn, Nó đến từ chính hành động của bạn…
Tín ngưỡng của tôi rất đơn giản. Không cần có các chùa chiền, không cần các triết lý cao siêu. Tim và óc của tôi là các chùa chiền; triết lý của tôi là lòng tốt source from karma / Dalai Latma )
… Tất cả những điều đơn giản nói trên, chúng ta tuần tự phát tâm theo đuổi, học hỏi và chia sẻ, thì không cần phải nhọc công gây quỹ xây chùa chiền cho to bự nguy nga. Đức Phật chưa bao giờ kêu gọi bất cứ sư sãi nào cố gắng kiếm tiền xây chùa to, bự, nguy nga, mà tâm hồn thì trống lỏng, mắc phải thêm nhiều tham sân si hỷ nộ ái ố… Ấy không gọi là U Minh thì gọi là gì?! Hãy đơn giản hóa cuộc sống, và phát triển lòng từ bi !
| phan nguyên luân |… thực hiện

Hits: 2

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Nguồn gốc tên gọi Sài Gòn và những địa danh quen thuộc ai cũng biết

Tên gọi Sài Gòn nghĩa là thị trấn trong rừng, Đa Kao là do đọc chệch âm, Hàng Xanh bởi viết sai chính tả, hay Gò Vấp là vùng đất cao trồng nhiều cây vắp… Mỗi vùng đất Sài Gòn đều có những cách lý giải thú vị, độc đáo. Bài viết này sẽ tìm hiểu về nguồn gốc một số tên gọi ở Sài Gòn có từ ngày xưa.

Người từng sống ở Sài Gòn sẽ thấy mảnh đất này trù phú và tốt lành nhường nào. Vì bao đời nay, mảnh đất phương Nam này đã đón nhận triệu người con tha phương tìm đến, lập nghiệp rồi thành công. Không phải ngẫu nhiên, Sài Gòn được mệnh danh là “Hòn ngọc Viễn Đông”, bởi cái lẽ sống tự nhiên mà đôn hậu như vậy.

Thế nhưng, sống ở Sài Gòn lâu nay, bạn có bao giờ từ đặt câu tên gọi Sài Gòn là gì? Quận Gò Vấp là thế nào? Hàng Xanh do đâu mà thành?… Câu chuyện về tên gọi quen thuộc của các địa danh Sài Gòn sau đây sẽ lý giải cho những câu hỏi đó.

Sài Gòn

Nguồn gốc tên gọi Sài Gòn vẫn chưa thống nhất mà có nhiều lý giải khác nhau.

Nhiều người cho rằng, tên gọi Sài Gòn là được phiên âm từ “Prai Nokor” trong tiếng Khmer, nghĩa là “thị trấn ở trong rừng”. Sau này, dần dà đọc chệch từ “Prai” thành “Rai” rồi thành “Sài”, từ “Nokor” đọc lướt thành “Kor” và thành “Gòn” nên mới có Sài Gòn như hiện nay. Cũng theo thuyết thì ở Sài Gòn xưa, cư dân bản địa chủ yếu sống quanh vùng Chợ Lớn hiện nay. Thời đó, có một rừng gòn bao bọc khu vực người dân Khmer sinh sống, vì vậy, người ta gọi đất này là Prai Nokor – nghĩa là thị trấn trong rừng. 

Lý giải thú vị về tên gọi Sài Gòn và những địa danh quen thuộc ai cũng biết nhưng ít khi rõ nghĩa ảnh 0

Trong Đại Nam Quấc Âm Tự Vị, Huỳnh Tịnh Của cũng bảo: “Sài tức là củi thổi, gòn là loại cây bông xốp nhẹ, nhẹ hơn bông thường, trong Nam thường dùng để dồn gối, dồn nệm…”. Cùng quan điểm, học giả Trương Vĩnh Ký đã quyết là xưa người Khmer có trồng nhiều cây gòn chung quanh đồn Cây Mai và chính cụ cũng đã thấy loại cây đó. Vậy nên Sài Gòn có thể đơn giản mang nghĩa là “rừng gòn”.

Gò Vấp

Hiện nay, Gò Vấp là một địa danh hành chính quen thuộc ở Sài Gòn, một quận tập trung đông cư dân sinh sống. Có thuyết cho rằng, cái tên Gò Vấp ra đời bởi trước đây nơi này là một gò đất cao có trồng nhiều cây vắp (loại cấy có nguồn gốc từ châu Á, cây thân gỗ lớn, thuôn thẳng, cao từ 15-20m, vỏ màu nâu đen, tán lá rậm). Loại cây này đã mọc nhiều thành rừng đã che chở cho đời sống của cộng đồng người Chăm, vì vậy, trong dấu tích tiếng Chăm vẫn gọi cây vắp là Krai.

Sau này, người dân do đọc chệch âm và viết sai chính tả thành Gò Vấp như hiện này. Còn về cây vắp, bấy giờ đã không còn trên địa bàn Sài Gòn, nhưng nhiều cư dân bản địa cho rằng: Ở Thảo Cầm Viên Sài Gòn vẫn còn 2 cây vấp có tuổi thọ trên trăm năm.

Bên cạnh cách giải thích về loài cây vắp, dân tiểu thương tại chợ Gò Vấp lại kể một câu chuyện hài hước: “Ngày trước đây ở đây cao, dân buôn bán nhà nghèo tụ họp thường bị rượt đuổi hoài, bỏ chạy thì vấp gò mà té nên gọi là Gò Vấp”. Dĩ nhiên đây chỉ là một lý giải cho vui chứ không có phần nào là sự thật.

Riêng bàn về quận huyện ở Sài Gòn, bên cạnh quận có chữ số: Q.1, Q.2, Q.3, Q.4…, vẫn còn những tên quận được đặt tên với ý nghĩa là vùng đất mới, trù phú và mong muốn an lành như Tân Bình, Bình Chánh, Bình Thạh,…

Ngã tư Bảy Hiền

Ngày nay, ngã tư Bảy Hiền là giao lộ trọng yếu của Q. Tân Bình nối Trường Chinh – Cách Mạng Tháng Tám – Hoàng Văn Thụ – Lý Thường Kiệt. Chắc hẳn người Sài Gòn đã quá quen thuộc với địa danh này. Thế nhưng Bảy Hiền là ai, và vì sao người ta lại lưu giữ cái tên này đến tận bây giờ không đổi thì ít ai hiểu được.

Theo đó, Bảy Hiền tên thật là Trần Văn Hiền, là một chủ điền nổi tiếng ngày xưa. Không chỉ giàu có, ông Hiền còn giàu lòng thương người. Vào mỗi dịp Rằm hằng tháng, ông thường đem bạc đựng trong hai thúng đầy trước nhà (nay là Trung tâm văn hóa Tân Bình) để phân phát cho dân nghèo. Vào ngày nọ, người dân tập trung đông đúc chen lấn lấy bạc khiến hai đứa trẻ chết ngạt. Ông Hiền đau khổ, dằn vặt. Từ đó, ông không phát tiền nữa, mà mỗi tháng sẽ cho người đem sổ sách ra ngay ngã tư bây giờ, cứ ai khó khăn thì trình bày, ký báo thì ông sẽ giúp đỡ.

Sau khi mất, người Sài Gòn nhớ ơn ông Bảy Hiền mà gọi địa danh này là ngã tư Bảy Hiền.

Ngã 4 Bảy Hiền

Hàng Xanh

Là nút giao thông lớn ở cửa ngõ phía Đông của Sài Gòn, Hàng Xanh quen thuộc với mọi người Sài Gòn. Thế nhưng, bạn có biết rằng, địa danh này hình thành là bởi sự đọc chệch, viết sai chính tả của người miền Nam?

Theo nhiều nghiên cứu, ban đầu địa danh có tên Hàng Sanh (Sanh là một loại cây lớn, nhánh có tua, về loại cây da, mà lá nhỏ). Ngày trước, dọc đường nay vẫn có 2 hàng cây sanh lớn được người dân trồng. Vì quen thuộc nên họ gọi khu vực bằng tên cây là Hàng Sanh. Song, do sau này người miền Nam không phân biệt “s” và “x”, cũng như viết sai chính tả đã tạo nên sự thay đổi của địa danh thành Hàng Xanh như hiện nay.

Ngã 4 Hàng Xanh

Cầu Bông

Người Sài Gòn vẫn quen thuộc với những cây câu nối liền các quận ở Sài Gòn như Chà Và, Thị Nghè… Cầu Bông cũng là một phần như thế. Cầu nằm trên đường Đinh Tiên Hoàng, hiện nay nối liền Q.1 với Q. Bình Thạnh. Theo đó, cầu Bông được xây dựng vào thế kỷ 18, do một viên vương người Khmer bắt cầu cho dân tiện đường sang sông.

Tên gọi cầu Bông có nhiều giả thuyết đặt ra, tuy nhiên theo nghiên cứu thì vào đời Tả quân Lê Văn Duyệt đã cho xây một vườn hoa gần cầu, người dân quen thuộc gọi là cầu Hoa. Sau này, vào đời vua Mạng, vì hiện tượng kỵ huý với tên gọi của vợ vua là bà Hồ Thị Hoa nên người ta phải đổi hẳn sang cầu Bông. Bởi lẽ, với người Nam, từ bông là cách gọi khác để chị hoa cỏ.

Cầu Bông

Bến Nghé

Từng là tên một bến nước xưa, rồi thành tên rạch, tên sông và giờ Bến Nghé trở thành địa phận hành chính của Q.1. Hiện nay, người ta vẫn có nhiều lý giải tên gọi của địa danh này, tuy nhiên nguồn gốc thì luôn gắn liền với hình ảnh con trâu.

Theo Trịnh Hoài Đức, Bến Nghé trước đây là bến nước tụ họp cho trâu con uống nước, do một tên rất cũ là Kompong Krabey (bến trâu) đã được Việt hóa. Nhưng nhiều nhà nghiên cứu khác cũng thêm rằng: Bến Nghè từng không phải là nơi trâu uống nước mà theo tương truyền, trên sông này ngày trước có rất nhiều cá sấu sống, đêm đêm chúng kêu lên văng vẳng như tiếng gầm của trâu rống, nên được người ta gọi là “nghé” kết hợp với “bến” trong từ bến nước.

Dù cách lý giải như thế nào, ta vẫn thấy rõ ràng, ở nơi này đã từng là một địa bàn có cuộc sống của thú rừng, cây cỏ trù phú,… đặc trưng của vùng sông nước phương Nam.

Rạch Bến Nghé

Đa Kao

Bạn có tin rằng, Đa Kao nghe có vẻ Tây hoá, nhiều người thường ngộ nhận là địa danh tiếng Pháp, thực ra lại là một từ rất Thuần Việt bị người dân đọc chệch và phiên âm mà thành.

Theo đó, Đa Kao bắt nguồn từ tên vùng đất Sài Gòn xưa gọi là Đất Hộ. Sau này, vào thời Pháp, người Việt phải phiên âm tên đất sang tiếng nước ngoài thành Đa Kao để dùng trong hành chính. Từ đó, cái tên Đất Hộ bị quên lãng, người hiện nay chỉ còn nhớ về địa danh Đa Kao là một phường hành chính thuộc Q.1.

Ông Lãnh, Bà Chiểu, Bà Hạt, Bà Điểm, Bà Quẹo, Bà Hom

Ở Sài Gòn, có lẽ ai cũng nghe tên 5 chợ mang tên các bà này. Có giả thuyết cho rằng đây là tên của 5 bà vợ của Lãnh Binh Thăng, là một lãnh binh tên Nguyễn Ngọc Thăng (1798-1866), võ tướng nhà Nguyễn thời vua Tự Đức. Địa danh cầu ông Lãnh cũng là từ ông Lãnh Binh nổi tiếng này.

Học giả Trương Vĩnh Ký cho rằng 5 người phụ nữ được đặt tên chợ ở Sài Gòn này vốn là các bà vợ của ông Nguyễn Ngọc Thăng. Những vị quan đa thê thời xưa thường áp dụng phương pháp kinh tế tự túc nên vị lãnh binh đã lập 5 chợ ở khu vực khác nhau, giao cho mỗi bà cai quản một cái. Việc này tránh các bà đụng mặt nhau, đồng thời chuyên tâm làm kinh tế.

Về cây cầu mang tên Ông Lãnh, nhà bác học Trương Vĩnh Ký khẳng định “chiếc cầu gỗ do ông Lãnh binh ở gần đó cho bắc qua, chắc là ông Lãnh Binh Thăng này, chớ không phải ai khác”. Cây cầu này đầu tiên (nối đại lộ Đông Tây ngày nay) bắc qua một con rạch nhỏ. Khi rạch bị lấp, cây cầu mới nối bến Chương Dương (quận 1) và Bến Vân Đồn (quận 4).

Năm 1874, một ngôi chợ được xây ở khu vực này, mang tên chợ Cầu Ông Lãnh. Nơi đây tàu ghe tấp nập từ miền Tây theo sông Sài Gòn vào kênh Tàu Hủ buôn bán. Chợ được chia làm 3 khu vực: bán trái cây, bán cá và bán tạp hóa.

Tuy nhiên trong cuốn “Sài Gòn năm xưa”, học giả Vương Hồng Sển lại cho rằng nên thận trọng khi cho “Ông Lãnh” và “Bà Chiểu”, Bà Điểm”, “Bà Hom”, “Bà Hạt”, “Bà Quẹo” là vợ chồng.

Bởi theo ông, Bà Hạt, Bà Điểm, Bà Chiểu có thể là người đầu tiên buôn bán tại các chợ này, sau lấy tên đặt cho chợ. Giống như chợ Bà Hoa ở khu ngã tư Bảy Hiền (quận Tân Bình), do người đàn bà tên Hoa đã hiến đất xây chợ và là người đầu tiên buôn bán nên người ta lấy tên bà đặt cho ngôi chợ.

Lý giải về Bà Hom, có sách chép rằng do Bàu Hom (bàu ngâm hom tre) nói chệch thành. Còn tên Bà Quẹo cũng đọc chệch từ Bờ Quẹo hoặc Bàu Quẹo vì khu này có một khúc quẹo rất rõ. Từ quẹo vốn cũng được đặt cho nhiều địa danh như Cống Quẹo ở xã Phạm Văn Hai (huyện Bình Chánh) hay lộ Quẹo tại huyện Cần Giờ.

Thị Nghè

Ở quận Bình Thạnh có cầu, chợ và kênh mang tên Thị Nghè. Người này vốn tên Nguyễn Thị Khánh, con gái quan khâm sai Nguyễn Cửu Vân. Trịnh Hoài Đức trong Gia Định thành thông chí viết rằng, “do có chồng là thư ký mỗ, nên người đương thời gọi là Thị Nghè. Do bà khai hoang đất ở, bắc cầu để tiện việc đi lại, nên dân gọi là kênh, cầu Thị Nghè”.

Ông Tạ

Địa danh Ông Tạ là vùng đất thuộc các phường 3, 4, 5, 7 thuộc quận Tân Bình hiện nay, cũng là tên một ngôi chợ ở phường 5, cạnh chợ có một tiệm thuốc Nam của ông Tạ.

Ông Tạ tên thật là Trần Văn Bỉ, lấy hiệu Tạ Thủ là một thầy thuốc nam chữa bệnh nổi tiếng trong vùng.

Trước đây, ông Tạ có mở một tiệm thuốc nằm ở góc đường Phạm Văn Hai – Cách Mạng Tháng Tám hiện nay. Đa số người bệnh tìm đến ông và lấy thuốc về đều khỏi. Tiếng lành đồn xa nên người dân ở các tỉnh Nam Kỳ tìm về cơ sở của ông không ngớt.

Ông còn là một nhà hảo tâm, thường xuyên chữa bệnh và bốc thuốc miễn phí cho người nghèo. Khu đất xung quanh tiệm thuốc của ông Tạ được đặt tên là ông Tạ ngay khi ông còn sống, là cách nhân dân tỏ lòng tôn kính ông vì đã chữa bệnh giúp người.

Ngã 5 Chuồng Chó

Đây có lẽ là địa danh lạ nhất, được nhân dân quen gọi cho dù khu đất này ngày nay đổi tên chính thức thành Ngã 6 Gò Vấp.

Nguồn gốc tên gọi là vào những năm 1945, thực dân Pháp cho xây dựng ở khu vực ngã năm này một cơ sở nuôi, huấn luyện chó lớn nhất Đông Dương, phục vụ việc tuần tra và cảnh giới.

Theo Saostar

Hits: 7

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hoàng tử William trải lòng về cái chết của Công nương Diana

Hoàng tử Anh cho rằng không có nỗi đau nào lớn hơn việc mất người thân, đồng thời khuyến khích người dân bộc lộ cảm xúc nhiều hơn.

Hoàng tử Anh William phát biểu trong buổi phát động một chiến dịch về sức khỏe tâm lý tại London hôm 15/5. Ảnh: AP.

Hoàng tử Anh William phát biểu trong buổi phát động chiến dịch về sức khỏe tâm lý tại London hôm 15/5. Ảnh: AP.

“Tôi nghĩ rằng việc mất người thân, đặc biệt khi còn trẻ, khiến bạn cảm thấy đau đớn hơn bất kỳ nỗi đau nào khác. Tôi có thể đồng cảm sâu sắc với điều này. Sẽ rất khó để vượt qua điều gì đó đau đớn hơn thế trong cuộc đời”, Hoàng tử William hôm qua chia sẻ trong bộ phim tài liệu về sức khỏe tinh thần của BBC.

Công nương Diana, mẹ của Hoàng tử William, qua đời năm 1997 trong một vụ tai nạn ôtô ở Paris, Pháp khi đang chạy trốn phóng viên. Vào thời điểm đó, William 15 tuổi và em trai Harry mới 12 tuổi.

Công tước xứ Cambridge cho biết người Anh, đặc biệt là nam giới, nên cảm thấy thoải mái khi nói về vấn đề tâm lý của mình. 

“Chúng ta lo lắng về cảm xúc của mình. Sức chịu đựng của người Anh là điều tuyệt vời và chúng ta đôi khi cần đến nó trong những thời điểm thực sự khó khăn. Tuy nhiên, chúng ta cũng phải thư giãn một chút và nói về cảm xúc của mình, bởi chúng ta không phải robot”, Hoàng tử cho hay.

Cả Hoàng tử William và Harry trong những năm gần đây đều đề cập nhiều tới vấn đề sức khỏe tâm lý. Hồi tháng 9/2018, Hoàng tử William lập một trang web nhằm cải thiện sức khỏe tâm lý tại nơi làm việc, đồng thời chỉ trích các câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp ở Anh vì không coi trọng vấn đề tâm lý của các cầu thủ.

Ánh Ngọc (Theo BBC

Hits: 3

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Một tài liệu xưa rất quý về ẢI NAM QUAN

 
Sau đó Mạc Đăng Dung cắt cho Tàu Quốc năm động của những sắc tộc ít người nằm ở vùng biên giới Tàu Việt: Ty Phù, Kim Lặc, Cổ Sâm, Liễu Cát, và La Phù thuộc châu Vĩnh An, ở Yên Quảng.
Hổ thẹn vì sự kiện ở Nam Quan (Lạng Sơn) nên sau đó Mạc Đăng Dung ốm và chết vào năm sau, năm 1541, được 59 tuổi.
 
Họa phẩm này được in trong cuốn “An Nam lai uy đồ sách” là một cuốn sách ghi chép ngắn về lịch sử và địa lý phiên quốc An Nam trong mối quan hệ với nước Tàu thời Minh, bao gồm những ký sự, sắc lệnh, thi phẩm, họa phẩm và các tài liệu khác liên quan đến mối bang giao Tàu Quốc – An Nam.
 
 
       Trấn Nam Quan Bổ Phòng Đồ (1) 
 
Còn gọi là “Thanh Quân Trấn Nam Quan Bổ Phòng Đồ” (Họa đồ bố trí phòng thủ Trấn Nam Quan của quân Thanh). Đây là bức họa các vị trí đóng quân của nhà Thanh nơi Trấn Nam Quan bên trong nội địa Tàu Quốc. Địa hình đồi núi khái lược. Cổng ra vào với Ải Nam Quan của Việt Nam nằm tại cạnh phải của bức họa (có đóng khung).
 
Bức họa theo lối sơn thủy về hình ảnh “Trấn Nam Quan” trong đời nhà Thanh (Tàu Quốc). Niên đại được cho rằng họa vào đời vua Ung Chính khi xảy ra cuộc chiến Trung-Pháp (1884-1885)
 
      Trấn Nam Quan Bổ Phòng Đồ (2) 
 
Các vị trí đóng quân của nhà Thanh nhìn từ hướng Việt Nam. Không hiểu tại sao bố cục của bức họa này lại rất giống với bố cục trên bưu ảnh (tham khảo hình B1) do người Pháp chụp vào đầu TK20 (hoặc cuối TK19?) . Có thể bức họa này dựa theo tài liệu của người Pháp mà vẽ ra. Giá trị của bức họa này so với bưu ảnh (B1) là do sự quan sát của người Tàu Quốc vào thời đại cũ nên ta thấy được kiến trúc nguyên thủy của Ải Nam Quan bên phía Việt Nam. Ta thấy có một cổng lớn, hai bên cổng là hai dãy tường thành dâng cao nhưng bị cắt ở hai bên lưng núi. Một khoảng sau cổng mới đến phần cổng có mái ngói. Từ phần cổng mái ngói này có dãy tường thành chạy dài lên đỉnh núi. Đó là phần Tàu Quốc. Các điểm này tương xứng với bưu ảnh (B1).
 
Minh họa cảnh giao chiến giữa                                    quân Pháp và quân Thanh tại cổng Nam                                    Quan vào năm 1885. Niên đại của bức                                    họa không rõ nhưng ta thấy tường                                    thành có kiến trúc giống cổng Ải Nam                                    Quan của hình A2.
 
Mô tả cảnh quân Pháp rút quân                                    và binh lực quân Thanh tại Trấn Nam                                    Quan. Hãy quan sát vị trí cổng theo                                    khung hướng dẫn trong hình.
 
 
Vẫn dựa theo tường thành phía Việt Nam là hai đoạn ngắn nhưng phần cổng đã thay đổi thành cổng nhỏ. Phía Tàu là cổng lớn và cao hơn, thiết kế hai mái ngói và tường thành chạy dài lên núi giống các bức họa đã nêu trên. Có lẽ sau giao tranh vào năm 1885. Cổng phía Việt Nam đã bị phá hủy nên được xây lại không còn qui mô như xưa. 
Khoảng trống đến phần cổng phía Tàu là vùng cảnh giới của hai bên vì dựa theo hình phía bên Tàu Quốc ta sẽ thấy có sự đối xứng (tham khảo nhóm hình C).
 
Phụ ảnh:(B1) Ảnh màu để xác                                    nhận hai phần mái ngói đỏ.

Phụ ảnh:(B1) Ảnh màu để xác nhận hai phần mái ngói đỏ.

 
 
Người dân kéo xe bò trên Ải Nam                                    Quan.

Người dân kéo xe bò trên Ải Nam Quan.

Quan sát các nhân vật trong                                    hình, ta thấy ở cạnh trái có binh                                    lính Việt Nam đứng thành hàng dài.                                    Giữa cổng đi ra là hàng phu khiêng                                    kiệu đội nón vải rộng vành của quân                                    nhà Thanh (chở quan viên?). Ở cạnh                                    phải của hình có những người nhà                                    Thanh đội nón và kết tóc đuôi sam.                                    Có lẽ đang diễn ra một sự kiện nào                                    đó trong lịch sử bang giao tại Ải                                    Nam Quan.

 
 
Ải Nam Quan của Việt Nam khoảng                                    năm 1906 nhỏ bé khiêm nhường, một                                    tầng mái, giữa hai cửa quan là một                                    vùng đệm, phía sau vài chục mét là                                    Trấn Nam Quan hai mái lầu của Trung                                    Quốc còn tồn tại đến ngày nay, ải                                    Nam Quan của Việt Nam thì không còn                                    nữa.
 
 
Bức ảnh quý hiếm của Ải Nam                                    Quan (Việt Nam) với cận cảnh hình                                    trang trí trên cửa ải, các vòm cổng                                    của hai bên, phía sau là Trấn Nam                                    Quan (Trung Quốc)
 
Cổng đóng then gài, cỏ mọc cao                                    ngất ngưỡng. Hoang tạnh.. Trong lời                                    nhắn trên bưu thiếp cho ta biết cổng                                    được tu phục vào năm 1908. Nhật ấn                                    “Lạng Sơn”. Xác nhận bờ tường thành                                    chỉ còn dấu thang bậc đi lên để so                                    sánh với tường thành phía bên Trung                                    Quốc
 
 
                                           C1. Trấn Nam Quan (1) 
 
Nhìn từ bên Tàu. Kiến trúc ở đây đã khác. Phần mái ngói lớn phía dưới đã mất, chỉ còn lại phần mái ngói bên trên và cấu trúc mái cũng khác. Chỉ có dãy tường thành là vẫn chạy dài lên trên. Cạnh trái trên đỉnh núi có doanh trại. Phía dưới trước mặt cổng có cụm nhà ngói. Kiến trúc thay đổi có lẽ do sự phá hủy trong cuộc “Khởi nghĩa Trấn Nam Quan” do Tôn Trung Sơn lãnh đạo vào năm 1907. Để dễ phân biệt với nhóm hình chụp từ phía Việt Nam ta sẽ quan sát thêm sự khác nhau của địa hình đồi núi.
 
 
Đối diện với cổng có một bức bình phong chắn ngang. Trong kiến trúc cổ, theo quan niệm phong thủy, bình phong có tác dụng khắc phục, hạn chế những yếu tố xấu, phát huy những yếu tố tốt về phong thuỷ. Bức bình phong chắn sự dòm ngó từ ngoài vào. 
Hoạt động ngoại giao nơi này diễn ra sôi động với chương trình khảo sát, hoạch định biên giới giữa Pháp và nhà Thanh. 
Có thể phân biệt được quan chức Pháp trong bộ Âu phục trắng, cưỡi ngựa trắng và quan chức nhà Thanh đội nón, cưỡi ngựa ô trong số các nhân vật trong ảnh.
 
 
Mặt bằng của Trấn Nam Quan. Bờ tường thành chia theo lô khác với hình thang bậc bên phía Việt Nam. Ta thấy rõ bên phía Tàu cũng có khoảng cách so với cổng lớn (Quan). Một án tường trắng đối diện cổng là theo lối phong thủy ngày xưa tránh sự dòm ngó thẳng vào nhà mình từ phía bên ngoài (ngay trong các kiến trúc cổ của Việt Nam từ đình làng đến lăng miếu ta sẽ nhận ra điểm này). Theo sử liệu Tàu Cộng, cụm nhà nhỏ phía trước cổng lớn (nơi có hai nhân vật áo trắng đang đứng) là miếu thờ Quan Công gọi là Quan Đế Miếu và Đền Chiêu Trung. Sau đó vào năm 1896 trong chương trình khảo sát biên giới giữa Tàu-Pháp đã xây trên nền này một văn phòng quản lý cùng với 9 điểm khác trên biên giới Tàu-Việt. Năm 1914 xây lại lần hai thành kiến trúc nhà lầu kiểu Pháp nên còn gọi là “Pháp Lầu”hoặc “Pháp Quốc Lầu” vẫn còn tồn tại cho đến nay.
 
 
Trên bưu thiếp có tiêu đề “NAM QUAN (Chine) – Le Village” rõ ràng đây là khu làng mạc(Trấn) trong đất Tàu. So sánh các khung vị trí với hình C3: 
Dãy nhà lá và con đường đất ở giữa, trước mặt là cụm nhà ngói và tán cây.. Ngang ở tâm trái của hình là bờ tường thành. Phía góc phải là vách núi đá (đá vôi?) trắng.
Chữ “Trấn” trong văn tự Tàu Quốc có rất nhiều nghĩa, như “trấn giữ”, “trấn áp”, “trấn tĩnh”, “trấn địa”…v.v. đều là chỉ việc gìn giữ, ổn định. “Trấn” còn là một đơn vị hành chính sau cấp huyện có từ thời xưa tại Tàu Quốc (đơn vị hành chính Việt Nam thời xưa cũng thường sử dụng). Trong một số sử sách Việt Nam có nói “Trấn Nam Quan” nằm trong nội địa Tàu Quốc. Thì đây, “Trấn Nam Quan” đã xác định là những hình này! Khối nhà lợp mái ngói ta sẽ hiểu là khu nhà quan binh, hai dãy nhà lá là khu dân cư dựa theo binh đội để có cuộc sinh hoạt yên bình. “Trấn” là khu phố nhỏ, làng mạc. Đừng làm lệch lạc lịch sử và đừng theo luận điệu của bọn bán nước mà cho rằng “Ải Nam Quan phải gọi là Bắc Quan”. Chữ“Nam Quan” là do Tàu Quốc kiêng kỵ Việt Nam nên không muốn gọi là “Đại Nam Quan” mà thôi. Chữ “Quan” là chiếc cổng qua lại. “Đại Nam Quan” hay “Nam Quan” là cửa ngõ giao thiệp với nước Việt Nam. Hai bên đã thủ lễ với nhau bằng khoảng trống ở hai bên cổng lớn. Theo sử liệu, sau chiến tranh Tàu-Pháp thì nhà Thanh đã chiếm giữ cổng lớn và buộc phía Việt nam phải cách xa cổng là 100 thước. Việc này ta thấy tương đương với khoảng cách của hai cổng trong nhóm hình B.
 
 
Trên bưu thiếp có tiêu đề “NAM QUAN (Chine) – Le Village” rõ ràng đây là khu làng mạc(Trấn) trong đất Tàu. So sánh các khung vị trí với hình C3: 
Dãy nhà lá và con đường đất ở giữa, trước mặt là cụm nhà ngói và tán cây. Ngang ở tâm trái của hình là bờ tường thành. Phía góc phải là vách núi đá (đá vôi?) trắng.
 
Đường lên Ải Nam Quan từ Đồng                                    Đăng

Đường lên Ải Nam Quan từ Đồng Đăng

Những người Pháp (quần âu, áo                                    trắng bên trái) đang chứng kiến vụ                                    xử trảm một người Hoa trên khu vực                                    Ải Nam Quan năm 1906.

Những người Pháp (quần âu, áo trắng bên trái) đang chứng kiến vụ xử trảm một người Hoa trên khu vực Ải Nam Quan năm 1906.

D1. Cổng Nam Quan (1) Đây là                                    một kiến trúc khác hẳn so với các                                    nhóm hình trên. Có vẻ sơ sài vì đã                                    mất hẳn phần kiến trúc phía trên                                    trong cuộc nội chiến tại Trung Quốc                                    vào năm 1949. Ta thấy có dáng một                                    nhân vật đang cầm súng. Tiêu đề trên                                    bưu thiếp “NAM QUAN (Tonkin)…” đây                                    là bên phía Việt Nam khi qua cổng                                    nhỏ để đứng sát với cổng lớn (vào                                    lúc này có lẽ kiến trúc cổng nhỏ                                    cũng đã mất). Theo sử liệu Trung                                    Quốc, trong cuộc giao tranh vào năm                                    1949 thì toàn bộ phần trên cổng đã                                    bị phá hoại hoàn toàn (tham khảo                                    hình E2).

 
D2. Cổng Nam Quan (2) Hình đăng                                    trên tạp chí “National Geographic”                                    do GS Nguyễn Văn Canh đưa lên mạng                                    và không rõ niên đại. Một số bạn                                    nghi ngờ bức ảnh này không chính xác                                    với hình ảnh của Ải Nam Quan. Tuy                                    nhiên so sánh với hình D1, ta đã                                    thấy kiến trúc cùng kiểu của hai                                    hình. Tại đây, dãy tường thành chạy                                    lên cao đến vách núi trắng tương ứng                                    với hình C3-C4, có thể xác định là                                    hình được chụp từ cao điểm bên phía                                    Việt Nam.
 
 
E1. Không xác định (1) Một hình                                    ngôi chùa trên đường đi Long Châu                                    nơi có cổng giao thiệp với Việt Nam                                    là Bình Nhi Quan. Cùng với Nam Quan                                    và Bình Nhi Quan còn có Thủy Khẩu                                    Quan là 3 cổng quan yếu để vào đất                                    Việt Nam nên gọi chung là “Tam                                    Quan”, có khi cổng Nam Quan còn gọi                                    là riêng là “Tam Quan” do ở vị trí                                    quan trọng hàng đầu so với hai cổng                                    Bình Nhi-Thủy Khẩu. Nơi hình này có                                    tiêu đề “Chine - NAM QUAN – Loc Hang                                    Thiap”. Chưa rõ chữ “Loc Hang Thiap”                                    là gì nhưng hình xác định là Nam                                    Quan trên đất Trung Quốc, có phải là                                    một ngôi chùa trong “Trấn Nam Quan”                                    hay không? Hay là thuộc Trấn Bình                                    Nhi Quan?
 
 
Quân đội Trung Quốc đứng trên                                    tường thành giương cờ trong cuộc                                    chiến thắng quân Tưởng Giới Thạch                                    vào ngày 11.12.1949 tuyên bố giải                                    phóng Quảng Tây. Thế tường thấp với                                    cổng và trên mặt tường cổng có chữ                                    “Trấn Nam Quan”.
 
Phụ ảnh: Hình chụp chính diện                                    của Trấn Nam Quan trong ngày giải                                    phóng Quảng Tây tháng 12.1949. Trên                                    mặt tường cổng thành ta thấy rõ chữ                                    “Trấn Nam Quan”. (phòng trưng bầy                                    lịch sử Hữu Nghị Quan)
 

Hits: 10

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

NHỮNG CON ĐƯỜNG THƯỞ HỌC TRÒ CỦA SÀI GÒN NGÀY XƯA

Những con đường Học Trò của Sài Gòn ngày xưa 
Trong muôn vàn nỗi nhớ rong rêu xưa cũ về Sài Gòn, có một miền nhớ thiết tha tôi dành cho những con đường Sài Gòn rợp bóng me xanh. Những con đường gắn liền với tuổi học trò, những con đường đầy những cây me mà với nhiều người Sài Gòn nếu không có nó Sài Gòn sẽ không còn là Sài Gòn nữa vậy.
Ảnh cùng dòng

Ngoài con đường Duy Tân ( Phạm Ngọc Thạch ) “ cây dài, bóng mát ” đã được “ thần thánh hóa ” bởi Ông nhạc sĩ Phạm Duy thì con đường Cộng Hòa ( Nguyễn Văn Cừ ) cũng là con đường đẹp nhất nhì trong ký ức của các cô cậu học trò thời đó.
Có lẽ vì nó cõng trên lưng mình một cụm bốn ngôi trường liền kề nhau: Trung Học Trương Vĩnh Ký ( nay là trường chuyên Lê Hồng Phong ), Đại Học Khoa Học Sài Gòn ( nay là ĐH Khoa Học Tự Nhiên ), Đại Học Sư Phạm Sài Gòn, Trung Học Bác Ái ( Cao Đẳng Sư Phạm, bây giờ là Đại Học Sài Gòn ).
Con đường này thuở đó rộng và vắng, quanh năm phủ bóng những hàng me tây gốc to, tán rộng. Bên cạnh những hàng me tây chạy dọc phía trước, ngay cổng trường Trương Vĩnh Ký ngày đó còn có hai cây phượng, mỗi bận hè sang hoa nở đỏ rực cả một góc trời.
Ảnh cùng dòng

Cũng từng được đi vào thơ ca là con đường Bà Huyện Thanh Quan, một trong bốn con đường bao bọc xung quanh ngôi trường Gia Long ( nay là trường Nguyễn Thị Minh Khai ). Đường Bà Huyện Thanh Quan khúc gần Trần Quý Cáp ( nay là Võ Văn Tần ), Phan Đình Phùng ( nay là Nguyễn Đình Chiểu ) được trồng rất nhiều me, những gốc me to sù sì, tán cây xòe rộng chụm vào nhau xõa bóng che kín mặt đường.
Đây là nơi các cô cậu học trò thường hay đến ngồi dưới gốc cây học bài hay đơn giản chỉ để ngồi nhìn lá me bay trong một buổi chiều đầy gió bởi cái vắng vẻ yên tĩnh của khung trời đầy thơ mộng này.

 

Riêng tôi, con đường Bà Huyện Thanh Quan còn mang đến cho tôi nỗi nhớ về những buổi trưa vắng, ngồi nhìn bóng nắng lọt qua kẻ lá in xuống mặt đường những hình thù ngộ nghĩnh, thả hồn theo tiếng dương cầm réo rắt bay ra từ khung cửa ngôi biệt thự của nhạc sĩ VĐC nằm ở một góc cuối con đường.
Ảnh cùng dòng

Con đường Nguyễn Bỉnh Khiêm nằm cạnh bên Trường Nữ Trung Học Trưng Vương và Trường Nam Trung Học Võ Trường Toản cũng là một con đường học trò đầy bóng lá me, mà mỗi buổi trưa tan trường, từng có biết bao nhiêu anh chàng “ đứng ngẩn trông vời áo tiểu thơ ”.
Sài Gòn trong ký ức tôi còn có rất nhiều con đường lá me đầy ấp kỷ niệm học trò như: Phan Đình Phùng ( Nguyễn Đình Chiểu ), Sương Nguyệt Anh, Trần Quý Cáp ( Võ Văn Tần ), Hồng thập Tự ( Nguyễn thị Minh Khai ), đường Nguyễn Du…
Sau bao nhiêu năm, những con đường học trò rời rợi bóng me của Sài Gòn xưa đã có nhiều thay đổi. Nhưng với nhiều người từng sống ở Sài Gòn, từng in dấu chân mình trên những cung đường kỷ niệm ấy mãi mãi vẫn còn mơ những giấc mơ xanh ngời bóng lá.
Nguồn: Ngô Thị Thu Vân

Hits: 14

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Một ngôi sao vừa lim tắt trên bầu trời âm nhạc Hollywood

Hàng triệu fans ái mộ trên thế giới vô cùng thương tiếc một ngôi sao tài sắc vẹn toàn, một huyền thoại âm nhạc vừa giã từ khán giả hâm mộ: Nữ ca sĩ Doris Day của những thập niên 1950′ và 1960′.

Nhất là các khán giả tại Sài Gòn, Miền Nam trước năm 1975 không thể quên Doris Day qua một danh sách dài top hits bất hủ vượt thời gian như “When I Fall In Love”, “Pillow Talk”, “Secret Love”, và “Que Sera, Sera” (What Will Be Will Be), v.v…  
Khi được mời cùng đóng với James Stewart trong phim L’homme Qui en Savait Trop (The Man Who Knew Too Much) với đạo diễn tài ba về phim kinh dị Alfred Hitchcock và được yêu cầu hát bài Que Sera Sera, cô đã từ chối vì cô thường hát các bản tình ca hơn là bái hát về thiếu nhi. Sau một thời gian suy nghĩ trước những thuyết phục, cô đã hát bài Que Sera, Sera trong bộ phim :”Người đàn ông Biết Quá Nhiều” đó, và không ngờ bài hát Que Sera Sera đã đưa cô lên cao hơn nữa trên đỉnh cao danh vọng, và cả thế giới biết đến cô qua ca khúc dễ thương này. 
Xin cùng nghe lại ba bài “When I Fall In love”,”Secret Love”, và “Que Sera Sera” như một tưởng nhớ đến người ca sĩ tài sắc vẹn toàn Doris Day – trong hai thập niên huy hoàng của VNCH.
Phạm Gia Đại

Hits: 8

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Tương lai khi già ai sẽ nuôi dưỡng bạn?

“Nuôi con dưỡng già” là quy luật bất thành văn từ ngàn đời này. Tuy nhiên, ngày nay khi đọc tin tức, có rất nhiều bài viết về “người già vô gia cư, con tranh chấp tài sản của bố mẹ”, bạn có nghĩ rằng quan niệm “nuôi con dưỡng già” vẫn còn đúng?

Bạn hãy xem câu chuyện bên dưới để suy ngẫm và tìm câu trả lời cho chính mình nhé.

Có một người mẹ đơn thân nuôi con, chồng bỏ đi từ sớm, cô ấy sống bằng nghề dạy học, với thu nhập khá khiêm tốn đã nuôi dưỡng con trai khôn lớn thành tài.
Lúc còn nhỏ, con trai rất ngoan ngoãn, vâng lời. Cô vất vả nuôi dạy con đến tuổi trưởng thành, và cậu con trai được đi Mỹ du học. Sau khi con trai tốt nghiệp đại học đã ở lại Mỹ làm việc, kiếm được khá nhiều tiền rồi mua nhà, và lấy vợ, sinh con, xây dựng một gia đình hạnh phúc đầm ấm.
Người mẹ già này, dự định sau khi nghỉ hưu sẽ đến Mỹ đoàn tụ cùng con trai và con dâu, hưởng phúc gia đình vui vẻ sum vầy. Chỉ ba tháng trước khi cô sắp nghỉ hưu, cô đã nhanh chóng viết một lá thư cho con trai, nói với con về nguyện vọng này.
Trong tâm cô rất đỗi vui mừng khi nghĩ đến chặng đường “nuôi con dưỡng già” của mình sắp đến hồi kết tốt đẹp, cùng những ánh mắt hâm mộ của bà con, bạn bè xung quanh. Vì thế mà một mặt cô đợi hồi âm của con, một mặt cô thu xếp bán nhà và nộp đơn nghỉ hưu.
Vào đêm trước ngày nghỉ hưu, cô nhận được thư hồi âm của con trai gửi từ Mỹ về, mở thư ra xem, trong thư có kèm một tấm ngân phiếu 30 ngàn đô la Mỹ.
Cô cảm thấy rất lạ, bởi vì từ trước đến giờ con trai không bao giờ gửi tiền về, cô vội vàng mở thư, bức thư viết rằng: “Mẹ à, sau khi vợ chồng con cùng nhau bàn bạc, quyết định là không thể đón mẹ đến Mỹ sống chung được. Cứ cho rằng mẹ có công nuôi dưỡng con trước đây, toàn bộ chi phí đó, thì tính theo giá cả thị trường bây giờ khoảng 20 ngàn đô Mỹ. Nhưng con sẽ gửi thêm một chút, là tấm chi phiếu 30 ngàn đô này. Hy vọng từ nay về sau mẹ đừng viết thư cho con nữa, cũng đừng kể lể về những việc như thế này nữa.”
Sau khi người mẹ đọc xong lá thư này thì nước mắt đầm đìa. Cô lặng im một hồi lâu, thật khó mà chấp nhận được sự thật này. Nhưng với tấm lòng người mẹ bao la như biển cả, cô không trách con trai, chỉ cảm thấy tủi phận cho một đời góa bụa. Khi trẻ đơn độc nuôi con, bây giờ cần nơi nương tựa vẫn lẻ bóng, lòng cô đau như cắt!.
Sau đó, cô tìm đến cửa Phật, và bắt đầu học Phật Pháp. Học được một thời gian, cô cảm thấy tâm thái nhẹ nhõm, suy nghĩ cũng thông mọi chuyện. Cô dùng 30 ngàn đô đó để đi du lịch khắp thế giới, lần đầu tiên trong đời, cô được mở mang tầm mắt thấy được quang cảnh thế giới này thật đẹp biết bao.
Như cởi được tất cả mọi sân si, hờn giận, cô thanh thản viết cho con trai mình một bức thư.
“Con trai à, con muốn mẹ đừng viết thư cho con nữa, thế thì, cứ xem như lá thư này là bổ sung cho bức thư con đã gửi mẹ trước đây. Mẹ nhận tấm séc rồi, cũng đã dùng nó để thực hiện một chuyến du lịch vòng quanh thế giới.
Trong chuyến đi này, mẹ đột nhiên cảm thấy rằng nên cảm ơn con, cảm ơn con đã giúp mẹ hiểu thấu được mọi chuyện, có thể buông bỏ nhân tâm, khiến mẹ nhận ra tình thân quyến, tình bạn và tình yêu của con người trên thế gian này đều không phải là vĩnh cửu, chỉ như như bèo dạt mây mà trôi, tất cả đều đang thay đổi từng ngày.
Nếu ngày hôm nay mẹ không thông suốt, vẫn còn ôm giữ bao nhiêu sân si, hờn giận, đau khổ thì có thể một vài năm nữa, mẹ có lẽ sẽ không sống nổi. Sự tuyệt tình của con khiến mẹ ngộ được chữ “duyên” nơi trần gian này, chẳng phải duyên hợp lại tan đó sao! Tất cả đều là vô thường!  Mẹ cũng học được cách giữ tâm mình thanh tĩnh và ung dung tự tại. Mẹ đã không còn con cái nữa, tâm đã vô lo, nên mới có thể đi đến bất cứ nơi đâu mà tâm không mảy may vướng bận.”
“Thật đáng thương cho cái tâm của các bậc làm cha mẹ trên thế giới này”, vì họ luôn muốn điều tốt đẹp nhất cho con cái của mình, nhưng kết quả cuối cùng lại chưa hẳn là tốt nhất.
Có một câu nói rằng: “Nhà của cha mẹ là nhà của con cái, nhà của con cái không bao giờ là nhà của cha mẹ. Sinh con là nhiệm vụ, nuôi con là nghĩa vụ, nhưng dựa vào con là sai lầm.”
Mặc dù không phải tất cả con cái đều vô lương tâm như người con trai trong câu chuyện này. Nhưng những bậc làm cha mẹ nhất định không nên nghĩ rằng sẽ dựa vào con cái của mình. Chân thành mà nói, bạn hãy chỉ dựa vào chính bản thân mình. Con cháu nếu có hiếu thảo với bạn, thì đó cũng là phúc đức của bạn. Còn nếu chúng không hiếu thảo, thì bạn cũng không thể cưỡng cầu mà có được. Cách tốt nhất là hãy sớm lên kế hoạch “dưỡng già” ngay từ bây giờ, sẽ không bao giờ là quá muộn cả!.

Sưu Tầm  

Hits: 11

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

‘31 Tháng Tư,’ tiếc đã muộn!

Tiếc Muộn

 

Cho dù tiếc muộn vẫn hơn không !!!

Giặc chiếm quê hương, chửa chạnh lòng !?

Giới trẻ thích chơi bời láo nháo !

Lớp già mê nhậu nhẹt long nhong !

Mặc cho dân Hán tràn biên giới;

Bất kể lính Tàu ngập núi sông.

Chẳng tự giúp mình…ai cứu nổi?

Tương lai nước Việt sẽ…đi đong.  

Cuốn “Hơn Nửa Đời Hư” in ở Sài Gòn của nhà văn Vương Hồng Sển. (Hình: Zing)
 
Ai cũng biết Tháng Tư chỉ có 30 ngày. Riêng ngày “30 Tháng Tư năm 1975” thì người dân Sài Gòn không thể nào nhớ lộn, không thể nào nói hay viết lầm được.
 
Nhưng nhà văn Vương Hồng Sển, trong cuốn “Nửa Đời Còn Lại” đã viết ít nhất hai lần “ngày 31 Tháng Tư năm 1975.” Lần đầu, trong bản in năm 1996 của nhà xuất bản Văn Nghệ, California, ở trang 285, cụ viết: “…tôi xin được lẩn thẩn lấy theo sức học đáy giếng mà luận việc trên cao để được tỏ chút nỗi lòng một dân Nam thấp hèn buổi 31-4-1975.”
 
Xin nhắc lại, Vương Hồng Sển viết: “…một dân Nam thấp hèn buổi 31 Tháng Tư, 1975.”
 
Cụ còn “viết lộn” thêm một lần nữa, trang 291: “…tôi đây đã trải cảnh chịu đựng sau ngày 31-4-1975 ở Sài Gòn, làm tôi bắt nhớ Nguyễn Du năm 1802,…”
 
Các “bạn trẻ” dưới 60 tuổi có thể không biết nhà văn Vương Hồng Sển là ai; độc giả sống ở miền Bắc càng ít người biết đến cụ.
 
Vương Hồng Sển là một “nhân chứng” cho những nhà viết sử. Cụ thường kể chuyện đời mình, để ghi lại cuộc biển dâu diễn ra chung quanh. Lâu lâu mới châm biếm chuyện chính trị. Cụ thường kể chuyện “Sài Gòn Năm Xưa,” tên một cuốn hồi ký. Cụ rỉ rả bàn về thú chơi đồ cổ, coi hát bội. Cụ tự chế nhạo mình sống “Hơn Nửa Đời Hư,” một cuốn hồi ký khác. Năm 1993, đã ngoài 90 tuổi, cụ vẫn gắng sức ngồi viết kể tiếp những chuyện mình đã từng trải qua cuốn “Nửa Đời Còn Lại.”

Hai lần “viết lầm” ngày 31 Tháng Tư, 1975, có thể vì cụ Vương Hồng Sển tuổi già đã lẫn lộn, hay là người đánh máy lại cuốn sách đã bấm lộn số không thành số một trên computer?
 
Cụ Vương đã viết lầm chăng? Nhưng, trong sáu, bảy trang sách mà viết lộn tới hai lần, giống hệt nhau, thì chuyện đó khó xảy ra. Vì khi đọc cả cuốn tự sự này, chúng ta thấy ông còn rất minh mẫn. Vương Hồng Sển nổi tiếng là người có thói quen ky cóp cất giữ các kỷ vật, ghi chép các biến cố trong đời mình rất cẩn thận. Ngoài 90 tuổi, ông nhắc lại những chuyện thời 1922 hay 1946, vẫn nhớ và ghi lại từng chi tiết. Ông còn giữ cái toa thuốc của Bác Sĩ Nguyễn Văn Thinh viết ngày 17 Septembre 1924.
 
Còn người đánh máy, nếu ngón tay bấm sai nút trên máy vi tính, thì chỉ lộn zero sang số 9 chứ không thể bấm số 1, vì trên bàn máy hai số zero và số một nằm ở hai đầu xa nhau.
 
Cho nên, có thể đoán cụ Vương cố ý viết hai lần ngày 30 thành 31 Tháng Tư.
 
Đó là một cách phát biểu ý kiến về chính trị, theo lối văn “đặc biệt Vương Hồng Sển!” Trong các tác phẩm, cụ Sển thường dùng lối văn “cà rỡn, cà tửng” theo phong thái Miệt Vườn. Cụ kể chuyện miên man, chuyện nọ xọ chuyện kia, rồi lâu lâu “đánh du kích” một câu thấm thía! Đó là những lúc cụ bàn xéo về chính trị! Viết ngày 30 thành 31 là một lối nói “cà tửng,” để gửi một thông điệp cho người đọc hiểu thâm ý của mình, người miền Bắc gọi là “nói kháy!”
 
Hai lần cố ý viết ngày 30 thành 31, là hai lần tác giả đang viết với tấm lòng đầy cảm khái. Lần thứ nhất, cụ nói đến thân phận “một dân Nam thấp hèn buổi 31-4-1975” sau khi tự nhận mình thấp hèn như “ốc ngồi đáy giếng” đòi bàn luận việc “trên cao.”
 
Lần viết lộn thứ hai là đoạn Vương Hồng Sển tự so sánh mình với kiếp “hàng thần lơ láo phận mình ra đâu” của Nguyễn Du khi phải làm tôi triều Nguyễn. Vương Hồng Sển đã viết rất dài về tâm sự Nguyễn Du trong thời gian đầu thế kỷ 19, để biện luận rằng trong thân phận “hàng thần” đó Tố Như không thể bình tâm mà sáng tác truyện Kiều được.
 
Lần thứ ba viết đến ngày lịch sử này thì Vương Hồng Sển viết chính xác, khi mô tả quang cảnh một khu phố Sài Gòn thay đổi, ở trang 333, “…từ ngày 30-4-1975 và hiện nay đã trở nên phố xá tấp nập lớp buôn bán, lớp làm cửa hàng to…” Ba lần viết đến ngày 30 Tháng Tư, hai lần viết lộn. Chắc là cố ý.
 
Cố ý, nhưng là ý gì? Vương Hồng Sển là dùng một ngày “không có thật,” 31-4-1975, để nói tóm gọn tất cả những năm tháng sau ngày 30 Tháng Tư, sau cuộc đổi đời! Đọc những chữ này, độc giả sẽ chia sẻ nỗi niềm của người dân miền Nam trong thời buổi “sau ngày 30 Tháng Tư!”
 
Vương Hồng Sển là công chức trong chế độ Việt Nam Cộng Hòa nhưng không chịu cảnh tù biệt xứ. Cụ nhắc đến lúc đoàn quân của Nguyễn Ánh ra chiếm Bắc Hà, nhắc lại rằng chỉ có hai người trong giới sĩ phu của Nhà Lê và nhà Tây Sơn bị chế độ mới hành hạ, là Phan Huy Ích bị bỏ tù và Cống Chỉnh bị đánh đến chết vì thù riêng. Vương Hồng Sển nhắc chuyện đời Gia Long chính là để so sánh với cái thông cáo lừa bịp để bắt giam hàng trăm ngàn người đi tù mút mùa gọi là “cải tạo!”
 
Có đoạn đang bàn chuyện Phạm Quỳnh, cụ Vương tự nhiên “đánh” một câu: “…trong này có miệng mà khó nói nên lời, có tay cầm viết mà khó ghi lời nào khỏi bị sửa chữa, cắt xén – vả lại tôi là người gì mà được phép nói…” (trang 267). Viết “trong này” tức là trong miền Nam; và “ngày nay” tức là với khác với trước 1975.
 
Tôi là người gì mà dám nói? Nhưng cụ Vương có lúc bỗng trở nên nồng nhiệt, dầu vẫn rụt rè nhưng nhất quyết phải nói, khi cụ lên tiếng bênh vực một danh nhân miền Nam vẫn bị đảng Cộng Sản buộc tội và bêu riếu một cách thô bạo, bất công là Phan Thanh Giản. Sau khi biện luận để phục hồi danh dự Phan Thanh Giản, Vương Hồng Sển viết: “…người đời nay học thuyết mới, tư tưởng theo mới, quên ơn kẻ trồng cây, quên ơn sanh thành đào tạo,…”
 
Ai cũng biết, sau ngày 30 Tháng Tư, 1975, lẫn trong đám các nhà văn, nhà thơ và học giả miền Bắc vào Sài Gòn, có nhiều người mang thái độ kiêu ngạo của “bên thắng cuộc,” lên mặt “dạy dỗ, cải tạo” giới văn nghệ và học thuật miền Nam, họ được bọn “cách mạng 30” nhi nhô đóng vai chỉ điểm.
 
Cảnh tiếp xúc hai miền Nam Bắc lúc đó, Vũ Hoàng Chương đã diễn tả qua hai câu: “Rằng vách có tai, thơ có họa – Biết lòng ai đỏ, mắt ai xanh!” Những người trí thức Sài Gòn như Vương Hồng Sển (hoặc Nguyễn Hiến Lê, Dương Nghiễm Mậu,…) chọn sống ẩn dật chứ không chịu ra làm tay sai cho bọn vua quan mới. Cụ Vương ví mình với con dế: “Tôi dư biết cho thân, thà làm dế sống trong hang, có lẽ được yên thân hơn là múa gáy cho trẻ nhỏ nó biết chỗ trốn, chúng đổ nước ngập hang, bắt dế về nuôi trong hộp diêm, hộp quẹt, thỉnh thoảng bắt ra đá độ, gãy càng queo râu toi mạng” (trang 84).
 
Sống trong một xã hội đầy những “vách có tai, thơ có họa” nhìn chung quanh không “biết lòng ai đỏ, mắt ai xanh,” Vương Hồng Sển không thể nói thẳng mà chỉ dùng mật ngữ. Có lúc kể chuyện Sài Gòn đời xưa từ 1867, trải qua trào Tây, trào Nhật, cụ lại quay qua nói chuyện vua Napoleon III bên Pháp, rồi chợt cảm khái: “Trở lại người dân đất Sài Gòn, như tôi đã nói, dám chắc không dân nào trí lanh tay xảo hơn. Khi bỏ áo giáp, tuột giầy trận, chịu đi đày, bán từ bàn thờ tổ tiên, bán ván gõ để nằm dưới gạch, căn đày kiếp đọa, tiếc đã muộn..” (trang 55).
 
Trong mấy dòng này là những ám hiệu cho “dân Sài Gòn” hiểu với nhau! Những nét chấm phá độc đáo: Kẻ thì “bỏ áo giáp, tuột giầy trận, chịu đi đày;” người ở lại nhà thì “bán bàn thờ tổ tiên, căn đày kiếp đọa!” Và tất cả đều “tiếc đã muộn!”
 
“Căn đày kiếp đọa, tiếc đã muộn!” Vương Hồng Sển gói ghém bao nhiêu nỗi đoạn trường trong thời buổi “31 Tháng Tư!”
 
Mấy trang tiếp, sau khi kể chuyện cà kê Kép Tư Út hát bài Anh Khóa đời xưa, tiếp đến chuyện ngôi nhà Tổng Đốc Phương bị tháo gỡ bán qua Đài Loan, bỗng nhiên Vương Hồng Sển lại viết: “Dân Sài Gòn tự khoe tiến bộ ký quỹ, gửi tiền nhà băng, giải phóng vào, hốt sạch sành sanh, thua xa dân Thổ Trà Vinh, Sốc Trăng… bán lúa mùa này xong, chôn bạc giữa lẫm rồi đổ lúa mới lên trên…” (trang 57). Kể lại cách cất giấu tiền của dân Thổ (người Việt gốc Khmer) đời xưa, để so sánh với dân Sài Gòn thời 1975, chỉ cốt viết một câu kết án: “Giải phóng vào, hốt sạch sành sanh!” Trong bảy chữ, Vương Hồng Sển cực tả một vụ cướp bóc đại quy mô, một vụ “ăn cướp hoành tráng.” Hốt sạch sành sanh!
 
Vào cái buổi 31 Tháng Tư, người miền Nam sống ra sao? Có lúc cụ Vương đang kể miên man những chuyện lẩm cẩm ở Sài Gòn từ thời Tây qua thời Nhật, bỗng tóm gọn một câu: “Kẻ trí đi ra nước ngoài, người ở lại phải giả dại qua ải” (trang 58). Phải sống “giả dại qua ải” nhưng Vương Hồng Sển cũng sống đủ lâu, được chứng kiến bản lãnh dân miền Nam vững vàng. Cụ viết: “Nói chi thì nói, phải nhìn nhận dân Sài Gòn vẫn có bản lĩnh – nước dưới sông thấy đó mà chặt không đứt, dứt không rời…” (trang 80). Cho nên “trải mấy trào liên tiếp mà dân vẫn là dân, cảnh có đổi mà dân không đổi…” Thơ Đỗ Phủ viết “Quốc phá, sơn hà tại,” chế độ vỡ, núi sông vẫn còn. Vương Hồng Sển không nói đến núi sông, mà chú ý tới “dân Sài Gòn vẫn có bản lĩnh” vững chãi như sông, như núi!
 
Ai cũng biết vào cái “Buổi 31 Tháng Tư” thì xã hội miền Nam đã thay đổi. Ai cũng có thể so sánh “trước ngày 30” và sau “buổi 31 Tháng Tư.”
 
Trước ngày 30 Tháng Tư năm 1975, trẻ em miền Nam vẫn giữ được những lời nói, cử chỉ kính trọng các thầy cô giáo hơn bây giờ. Mà các thầy cô hồi đó cũng giữ được tư cách đạo đức hơn buổi 31 Tháng Tư.
 
Trước ngày 30 Tháng Tư, 1975, ở miền Nam trai thiếu gái thừa, nhưng chưa có người mẹ nào bán con cho người ngoại quốc với giá mấy trăm đô la. Không có những cô gái xếp hàng trưng bày cho đàn ông ngoại quốc chọn. Không có người mẹ nào đem con gái bán cho các mụ Tú Bà.
 
Trước ngày 30 Tháng Tư, 1975, mặc dù đang chiến tranh dân miền Nam vẫn dám biểu tình phản đối chính phủ, không thua gì dân Nam Hàn, Đài Loan cùng thời gian đó. Sinh viên Sài Gòn biểu tình đòi giáo sư y khoa phải dạy bằng tiếng Việt, ký giả biểu tình phản đối bộ thông tin đóng cửa báo, các công nhân đình công, bãi thị, các học sinh bãi khóa. Tinh thần độc lập, tự chủ của người dân rất cao. Ngày nay, chỉ cần viết cho nhau trên Internet, nói chuyện tự do dân chủ, chống Trung Cộng xâm chiếm Hoàng Sa, cũng bi ghép tội rồi bỏ tù.
 
Nhưng chúng ta có thể tin tưởng như Vương Hồng Sển, là dân Việt Nam rất có bản lãnh. Dân vẫn là dân, các chế độ đi qua rồi sẽ biến mất. Chính Vương Hồng Sển cũng có lúc tỏ ý lạc quan. Đọc lại cuốn “Hơn Nửa Đời Hư” in ở Sài Gòn, cụ đã cải chính mấy đoạn đã bị cắt xén, trong cuốn ách tiếp theo, in ở nước ngoài. Nhân dịp đó, cụ còn tỏ ý tha thứ cho nhà xuất bản và hy vọng: “…tự xét tuổi gần đất xa trời, cũng nên hỉ xả họa may nối thêm được một ít lâu để chờ xem mãn cuộc… cuộc gì cũng chưa dám nói và nên hiểu ngầm…” (trang 277)!” Mãn cuộc gì? Ai cũng hiểu!
 
Vương Hồng Sển đã qua đời, chưa thấy hồi mãn cuộc. Nhưng “hồi mãn cuộc” cũng sắp tới rồi! Cái “buổi 31 Tháng Tư” đang tới hồi kết thúc, người Việt Nam có ngày sẽ trở lại làm người Việt Nam, giống như “trước 30 Tháng Tư!”
 
Ngô Nhân Dụng

Hits: 14

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Bài viết hay nên đọc Lúc về già …

Trong hình ảnh có thể có: 1 người, đang đứng và văn bản
Quốc Tú  

“Khi chúng ta chết đi, tiền của chúng ta vẫn còn ở trong ngân hàng…Tuy nhiên khi chúng ta còn sống, chúng ta lại nghĩ mình không có đủ tiền. Thực tế thì khi chúng ta qua đời chúng ta vẫn còn rất nhiều tiền chưa tiêu đến
Một ông trùm người Trung Quốc qua đời, để lại cho vợ 1,9 tỉ đô trong ngân hàng. Bà vợ ông sau đó đã lấy người lái xe của chính ông. Người lái xe nói: Tôi đã nghĩ tôi phải làm việc cho ông chủ mình. Nhưng giờ đây tôi mới nhận ra rằng cả đời ông chủ làm việc cho tôi.
Điều quan trọng là sống lâu hơn là có nhiều của cải. Vì vậy chúng ta phải cố gắng để sống khỏe mạnh.
Bạn có biết
Với một chiếc điện thoại xịn thì 70% chức năng của nó chúng ta không dùng đến
Với một chiếc xe đắt tiền thì 70% tốc độ và các đồ phụ kiện là không cần thiết
Với 1 căn biệt thự thì đến 70% không gian là chúng ta không dùng đến
70% quần ào trong tủ của bạn không được mặc tới
Cả cuộc đời làm việc thì đến 70% số tiền kiếm được là dành cho người khác tiêu
Vì vậy chúng ta phải bảo vệ và tận dụng hết khả năng 30% còn lại của chính mình bằng cách
– Đi kiểm tra sức khỏe thường xuyên, cho dù không ốm đau
– Uống nhiều nước, ngay cả khi không khát
– Học cách buông bỏ, ngay cả khi đối diện với những vấn đề nghiêm trọng
– Học cách thỏa hiệp ngay cả khi bạn là người đúng
– Học cách khiêm tốn, ngay cả khi bạn giàu có và có quyền lực
– Học cách bằng lòng ngay cả khi bạn không giàu
– Tập luyện thể thao ngay cả khi bạn bận rộn
– Dành thời gian cho những người bạn yêu mến
Cuộc sống này rất ngắn ngủi, vì vậy hãy hưởng thụ nó một cách trọn vẹn nhất.
ST

Hits: 12

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Lúc về già …

1. Lúc về già mình sẽ tuyệt đối không được chủ quan nghĩ rằng còn khoẻ, còn sung sức để nghĩ và làm những việc như hồi thanh niên. Tiền bạc là của con, địa vị là tạm thời, vẻ vang là quá khứ, SỨC KHOẺ là của mình.
2. Lúc về già mình nên quan tâm đến BẢN THÂN, sống thế nào cho vui thì sống, việc nào muốn và thích thì làm, ai nói sao mặc kệ vì mình đâu phải sống vì ý thích hay không thích của người khác, nên sống thật với mình.
3. Lúc về già mình sẽ SỐNG GẦN CON mà không sống chung với bất cứ đứa nào, chỉ sống với…vợ. Nếu cứ thương con cái, sống với chúng nó thể nào cũng đến lúc mình ở trọ trong chính ngôi nhà của mình. Con không có tiền mua nhà thì thuê, không đủ tiền thuê mình hỗ trợ, quyết không ở chung, trai gái dâu rể gì cũng vậy hết, một tuần đến thăm nhau 1 lần vào ngày cuối tuần là đủ.
4. Lúc về già… rất già, nên đặt một chỗ ở một trung tâm DƯỠNG LÃO nào đó. Tiền ít ở chỗ xoàng, tiền nhiều ở chỗ tươm để được chăm sóc y tế tốt và có nhiều cơ hội vui chơi bên bạn đồng trang lứa.. 
5. Lúc về già nên và chỉ nói hai chữ “ngày xưa” (đúng hơn là những câu chuyện hoài niệm) với BẠN đồng niên, tuyệt đối không nói với lũ trẻ, vì chúng sẽ cho mình bị dở hơi. Với tụi trẻ chỉ nói “ngày mai” và chỉ trả lời khi chúng hỏi. Về lại chốn xưa, gặp lại người thân, cùng nhắc lại những ước mơ thuở nhỏ, cùng bạn học nhớ lại bao chuyện vui thời trai trẻ, có như vậy mới tìm lại được cảm giác của một thời đầy sức sống. Quý trọng và được đắm mình trong những tình cảm chân thành là một niềm vui lớn của tuổi già. Nếu bạn đã cố hết sức mà vẫn không thay đổi tình trạng không hài lòng thì mặc kệ nó! Đó cũng là một sự giải thoát. Chẳng việc gì cố mà được, quả ngắt vội không bao giờ ngọt.
6. Lúc về già, mình sẽ dành thời gian đi THĂM QUAN những vùng đất mà chưa bao giờ đặt chân đến.
7. Lúc về già mình phải thay đổi quan niệm cũ kỹ đi, hãy chia tay với “ông sư khổ hạnh”, hãy làm “CON CHIM BAY LƯỢN”. Cần ăn thì ăn, cần mặc thì mặc, cần chơi thì chơi, luôn luôn nâng cao chất lượng cuộc sống, hưởng thụ những thành quả công nghệ cao, đó mới là ý nghĩa sống của tuổi già.
8. Lúc về già đừng bao giờ đến CƠ QUAN CŨ nếu như chưa nhận được một lời mời trân trọng, vào những dịp đặc biệt.
9. Lúc về già cần HIỂU rõ:
– Hạnh phúc do mình tạo ra. Vui sướng là mục tiêu cuối cùng của đời người, niềm vui ẩn chứa trong những sự việc vụn vặt nhất trong đời sống, mình phải tự tìm lấy. Hạnh phúc là cảm giác, cảm nhận, điều quan trọng là ở tâm trạng.
– Tiền không phải là tất cả nhưng không phải không là gì. Đừng quá coi trọng đồng tiền, càng không nên quá so đo, nếu hiểu ra thì sẽ thấy nó là thứ ngoại thân, khi ra đời chẳng mang đến, khi chết chẳng mang đi. Nếu có người cần giúp, rộng lòng mở hầu bao, đó là một niềm vui lớn. Nếu dùng tiền mua được sức khỏe và niềm vui thì tại sao không bỏ ra mà mua? Nếu dùng tiền mà mua được sự an nhàn tự tại thì đáng lắm chứ! Người khôn biết kiếm tiền biết tiêu tiền. Làm chủ đồng tiền, đừng làm tôi tớ cho nó.
– Cha mẹ yêu con là vô hạn; con yêu cha mẹ là có hạn. Con ốm cha mẹ buồn lo; cha mẹ ốm con nhòm một chút hỏi vài câu là thấy đủ rồi. Con tiêu tiền cha mẹ thoải mái; cha mẹ tiêu tiền con chẳng dễ. Nhà cha mẹ là nhà con; nhà con không phải là nhà cha mẹ. Khác nhau là thế, mình phải coi việc lo liệu cho con là nghĩa vụ, là niềm vui, mà không mong báo đáp, chờ báo đáp là tự làm khổ mình.
– Ốm đau trông cậy ai? Trông cậy con ư? Nếu ốm dai dẳng chẳng có đứa con có hiếu nào ở bên giường đâu. Trông vào bạn đời ư? Người ta lo cho bản thân còn chưa xong, có muốn đỡ đần cũng không làm nổi. Vậy nên cần chuẩn bị tài chính để sẵn sàng thuê người chăm sóc để con cái đỡ vất vả vì mình. 
– Người ngu gây bệnh (hút thuốc, say rượu, tham ăn tham uống….). Người dốt chờ bệnh (ốm đau mới đi khám chữa bệnh). Người khôn phòng bệnh, chăm sóc bản thân, chăm sóc cuộc sống. Khát mới uống, đói mới ăn, mệt mới nghỉ, thèm ngủ mới ngủ, ốm mới khám chữa bệnh…. Tất cả đều là muộn.
– Chất lượng cuộc sống của người già cao hay thấp chủ yếu tùy thuộc vào cách tư duy, tư duy tích cực là bất cứ việc gì đều xét theo yếu tố có lợi, dùng tư duy lạc quan để thiết kế cuộc sống tuổi già sẽ làm cho tuổi già đầy sức sống và sự tự tin, cuộc sống có hương vị; tư duy hướng hại là tư duy tiêu cực, sống qua ngày với tâm lý bi quan, sống như vậy sẽ chóng già chóng chết.
– “Hoàn toàn khỏe mạnh” là thân thể, tâm lý và đạo đức đều khỏe mạnh. Tâm lý khỏe mạnh là biết chịu đựng, biết tự chủ, biết giao thiệp; đạo đức khỏe mạnh là có tình thương yêu, sẵn lòng giúp người, có lòng khoan dung, người chăm làm điều thiện sẽ sống lâu.
10. Lúc về già mình sẽ thực hiện : 3 QUÊN, 4 CÓ, 5 KHÔNGvà 6 VỊ BÁC SĨ .
– 3 QUÊN
* Một quên mình tuổi đã già
Sống vui, sống khỏe, lo xa làm gì.
* Hai là bệnh tật quên đi
Cuộc đời nó thế, việc gì nhọc tâm
* Ba quên thù hận cho xong
Ăn ngon ngủ kỹ để lòng thảnh thơi.
                                                
– 4 CÓ
* Một nên có một gia đình
Vì không – homeless – người khinh lẽ thường
* Hai cần phải có nhà riêng
Đói no cũng chẳng làm phiền dâu, con
* Ba là trương mục ngân hàng
Ít nhiều tiết kiệm an thân tuổi già
* Bốn cần có bạn gần xa
Tri âm, tri kỷ để mà hàn huyên.
– 5 KHÔNG
* Một không vô cớ bán nhà
Dọn vào chung chạ la cà với con
* Hai không nhận cháu để trông
Nhớ thì thăm hỏi bà, ông, cháu mừng
* Ba không cố gắng ở chung
Tiếng chì, tiếng bấc khó lòng tránh lâu
* Bốn không từ chối yêu cầu
Ít nhiều quà cáp con, dâu, cho mình
* Năm không can thiệp nhiệt tình
Đời tư hay việc riêng phần của con.
– 6 VỊ BÁC SĨ TỐT NHẤT TRONG ĐỜI :
  *  Ánh nắng mặt trời
  *  Nghỉ ngơi
  *  Thể dục
  *  Ăn uống điều độ
  *  Tự tin
  *  Bạn bè
Cuối cùng luôn xác định TƯ TƯỞNG: 
“Sinh  – bệnh – lão – tử” là quy luật ở đời, không chống lại được. Khi thần chết gọi thì thanh thản mà đi. Cốt sao sống đàng hoàng để không hổ thẹn với lương tâm và cuối cùng đặt cho mình một dấu CHẤM HẾT THẬT TRÒN ./.
Sưu tầm 

Hits: 9

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Chuyện Một Người Mang Tên Nguyễn Thị Di Tản

ditantruyen

Hình trên net

Tên tôi là Nguyễn Thị Di Tản. Cái họ Nguyễn của tôi đã chứng tỏ tôi là người Việt Nam chính hiệu con nai vàng. Song có điều tôi là đứa bé Việt Nam chào đời ở một miền đất lạ xa – đảo Guam – một nơi chốn thật lạ lẫm với quê hương tôi. Theo lời mẹ tôi kể tôi chào đời vào những tháng ngày buồn thảm nhất của miền Nam Việt Nam. Tôi đã nằm trong bụng mẹ, theo mẹ trên con đường di tản của dân tộc tôi.

Tôi đã là một chứng nhân của lịch sử. Tiếng khóc chào đời của tôi ở một quần đảo nơi quê người đã giúp mẹ tôi nhiều can đảm vượt qua những thử thách, gian truân của cuộc đời.

Tôi là Nguyễn Thị Di Tản từ ngày ấy. Đã hơn một phần tư thế kỷ kể từ 30 tháng 4 năm ấy. Thế mà đã 44 năm qua…

Đã 44 năm qua. Tôi đã lớn. Đã trưởng thành nơi miền đất tạm dung của một tỉnh lỵ miền Tây Canada. Thành phố Winnipeg buồn hắt hiu như tâm sự “Người Di Tản Buồn” của mẹ. Mẹ rất yêu bản nhạc “Người Di Tản Buồn” của Nam Lộc. Ngày còn bé, bằng bài hát ấy mẹ đã ru tôi ngủ.. Riết rồi tôi quen với từng lời ca tiếng nhạc. Mẹ bảo đêm nào không nghe bài hát ấy tôi không ngủ. Đến lúc tôi bập bẹ biết nói mẹ dạy tôi hát. Tôi vừa quấn quít bên mẹ vừa đỏ đẻ hát:

Chiều nay có một người đôi mắt buồn
Nhìn xa xăm về quê hương rất xa
Chợt nghe tên Việt Nam ôi thiết tha
Và rưng rưng lệ vương mắt nhạt nhòa
Bạn ơi đó là người di tản buồn
Ngày ra đi lặng câm trong đớn đau
Rồi đêm khuya hằn lên đôi mắt sâu
Thời gian đâu còn những phút nhiệm mầu
Cho tôi xin lại một ngày, ở nơi nơi thành phố cũ
Cho tôi xin lại một đời, một đời sống với quê hương
Cho tôi đi lại đoạn đường, hàng cây vươn dài bóng mát
Cho tôi yêu lại từ đầu, bên người yêu dấu ngày xưa
Chiều nay có một người di tản buồn
Nhìn quê hương còn ai, hay mất ai?
Còn bao nhiêu thằng xông pha chiến khu?
Và bao nhiêu nằm trong những lao tù?
Ở đây có những chiều mưa rất nhiều!
Nhiều hơn khi hành quân trong tháng mưa
Buồn hơn khi rừng khuya vang tiếng bom
Ngày vui ơi giờ đâu nước không còn
Cho tôi xin lại một lần, ở nơi tôi dừng quân cũ
Cho tôi xin lại bìa rừng, nơi từng chiến đấu bên nhau
Cho tôi xin một lời chào, chào bao nhiêu người đã khuất
Cho tôi xin một mộ phần, bên ngàn chiến hữu của tôi!

Tôi hát như sáo. Mẹ hát sao tôi hát theo vậy. Mẹ bằng lòng lắm. Dần dà tôi có thể hát được cả bài. Bạn bè của mẹ đến nhà chơi, mẹ đem con sáo của mẹ ra khoe. Mẹ bắt tôi hát. Mỗi lần hát xong các bác, các cô, bạn của mẹ ai cũng đều rươm rướm nước mắt. Có lần tôi thỏ thẻ hỏi mẹ:
– Sao con hát hay mà mẹ với các bác lại khóc?

Mẹ ôm tôi vào lòng và nói:
– Bao giờ con lớn con sẽ hiểu tại sao.

Cái trí óc non nớt ngày ấy của tôi mơ hồ cảm nhận có một điều gì khác thường ở mẹ, một cái gì mất mát lớn lao trong đời mẹ. Những lúc rảnh rỗi, sau giờ cơm chiều mẹ dạy tôi nói, tôi đọc:

– Con là người gì? 
– Dạ thưa con là người Việt nam
– Con tên gì?
– Con tên là Di Tản
– Con có yêu nước Việt Nam không?
– Con yêu Việt Nam lắm!

Tôi đã thuộc nằm lòng những câu mẹ dạy. Tôi đã quen thuộc với cái tên Di Tản. Tôi thấy tên tôi nó ngồ ngộ, dễ thương làm sao. Đến lúc tôi lên năm, mẹ dắt tôi đến một ngôi trường Tiểu Học ở gần nhà để ghi tên đi học. Từ ngày còn bé tôi chỉ loanh quanh ở cái Apartment (chung cư) mẹ ở mà thôi. Chung cư nầy đa số là người Việt Nam. Lần đầu tiên đến trường, một khung cảnh mới, người mới. Các học sinh cùng lớp với tôi hoàn toàn là những khuôn mặt lạ xa.

Cô giáo cũng thế. Không giống mẹ. Không giống các bác, các cô đến chơi nhà mẹ. Lúc mẹ chào cô giáo ra về, tôi ở lại trường với tâm trạng thật lạc lõng, bơ vơ. Tôi muốn khóc. Tôi muốn theo mẹ ra về làm sao. Tôi ngồi cô đơn một góc lớp. Cô giáo rất trẻ, đến bên tôi nhỏ nhẹ hỏi:
– “What is your name?” (Tên con là gì?)

Tôi cúi mặt, bặm môi chừng như rướm máu, lí nhí đáp bằng cái giọng Việt Nam đặc sệt “Dạ .. Di Tản”. Cô giáo chừng như không hiểu, cô xem lại quyển sổ và hỏi lại tôi “Your name is Đaithen”. Tôi lắc đầu và lập lại “Di Tản”. Cả lớp rộ lên cười. Tôi bật khóc. Tôi khóc ngon lành như bị ai ức hiếp.

Sau buổi học, mẹ đến đón tôi về. Trên suốt quãng đường từ trường về nhà tôi lặng thinh, không nói một điều gì cả với mẹ. Mẹ âu yếm hỏi tôi “Con đi học có vui không”. Chừng như tôi chỉ chờ mẹ hỏi, tôi òa lên khóc và bảo:

– Sao mẹ không đặt cho con một cái tên nào dễ kêu như Helen, như Cindy hay Linda như tụi nó mà mẹ đặt tên con là Di Tản. Cô giáo đọc không được tên con, mấy đứa cùng lớp tụi nó chọc ghẹo con.

Mẹ tôi dịu dàng, từ tốn bảo:
– Con có biết cả nước Canada nầy có biết bao nhiêu là Helen, là Cindy không con? Còn tên Di Tản chỉ có mỗi một mình con. Con không thấy con đặc biệt sao con. Con phải hãnh diện vì cái tên rất là Việt Nam của con mới phải.

Tôi nũng nịu pha một chút hờn dỗi:
– Mà cô giáo đọc là Đaithen mẹ thấy có kỳ không?

Mẹ trìu mến đưa tay vuốt tóc tôi, hiền hòa khẽ bảo:
– Tại cô giáo không biết cách phát âm của người Việt Nam mình đó thôi. Con phải đọc lại cho cô biết rồi từ từ cô sẽ đọc đúng.

Giọng mẹ thiết tha hơn, chùng xuống, sũng đầy nước mắt.
– Mẹ đã mất tất cả rồi con ơi! Mẹ chỉ còn cái tên Việt Nam mẹ gửi cho con. Con có biết như thế không?

Đầu óc của một đứa bé lên năm làm sao tôi hiểu được hết những gì mẹ nói, song tôi biết mẹ buồn lắm. Có một cái gì làm cho mẹ khổ tâm lắm. Tôi cảm thấy ân hận. Tôi ôm mẹ, hôn mẹ, và bảo:
– Con xin lỗi mẹ. Con làm mẹ buồn lắm phải không mẹ?

Tôi thấy mắt mẹ long lanh ngấn lệ.
– Không phải đâu con, con của mẹ ngoan lắm.

Đó là câu chuyện ngày lên năm của tôi. Mãi cho đến những năm sau nầy tên tôi vẫn là một đề tài cho lũ bạn chọc ghẹo. Cái chọc ghẹo cho vui chứ không có một ác ý nào cả. Lúc tôi vào Highschool (Trung Học) tôi đã lớn lắm rồi. Tôi đã hiểu những u uất của đời mẹ. Tôi thương mẹ hơn bao giờ hết.

Thấm thoát mà tôi đã là cô gái 18. Soi gương tôi cũng biết mình đẹp lắm. Mẹ không cho tôi cắt tóc ngắn. Cả trường con gái mái tóc dài chấm lưng với khuôn mặt Á Đông của tôi vẫn là một đề tài nổi bật nhất.

Lại thêm cái tên Di Tản nữa. Lúc nầy tôi không còn buồn mỗi lần bị giáo sư đọc trật tên. Bạn bè tôi, những đứa quen nhau từ lớp Mẫu Giáo đến giờ được tôi huấn luyện cách phát âm nên đọc tên tôi đúng lắm. Tụi nó bỏ dấu còn lơ lớ nhưng tạm được. Nhưng mỗi lần bắt đầu một niên học mới, tên tôi lại là một tràng cười cho lũ bạn cùng lớp mỗi khi các giáo sư mới gọi tên tôi. Giáo sư nào cũng thế. Ngập ngừng một hồi lâu rồi mới đọc.

Tôi cũng không nín cười được cái giọng như ngọng nghịu của một giáo sư người Canada đọc một cái tên lạ quơ lạ hoắc chưa bao giờ thấy và gặp trong lịch sử dân tộc. Trên tay cầm bài test của tôi, ngập ngừng rồi vị thầy gọi “Đai then”.. Cả lớp ồ lên một loạt “Oh, my god”. Vị giáo sư lúng túng, đảo mắt nhìn quanh lớp. Cả lớp nhao nhao lên như bầy ong vỡ tổ. Chừng như tụi nó thích những dịp như thế để câu giờ, “nhứt quỉ, nhì ma, thứ ba học trò” mà. Con Linda ngồi cạnh, hích nhẹ cùi chỏ vào tôi và khẽ bảo:

– Ditan, ổng đọc sai tên mầy rồi kìa, mầy sửa cho ổng đi.

Tôi đỏ mặt. Tôi chưa kịp nói gì cả thì tụi con trai ngồi sau lưng tôi ào ào lên như chợ nhóm “Ditản, Ditản not Đai then”. Vị giáo sư lúc đó mới vỡ lẽ ra, mới biết là mình phát âm sai, ông gục gặc đầu nói lời xin lỗi và lập lại “Ditản Ditản”.

Lúc nầy tôi không còn nhút nhát như ngày xưa nữa. Bạn bè tôi Tây, Tàu, Canadian nữa đều “cứu bồ” tôi mỗi lần có tình trạng như trên vừa xảy ra. Dần dà mọi người gọi tên tôi rất ư là dễ thương. Đến bây giờ nhớ lại những lời mẹ nói với tôi ngày nào, tôi hãnh diện vô cùng về cái tên mẹ đã cho tôi. Tôi thương mẹ vô cùng.

Cái đất nước Việt Nam khổ đau muôn chiều đã gắn liền với mẹ tôi như hình với bóng trong cuộc đời lưu lạc xứ người hơn một phần tư thế kỷ.

Một điều mà tôi có thể khẳng định rằng “dù hoàn cảnh có thể tách rời mẹ ra khỏi quê hương, nhưng không có một hoàn cảnh nào tách rời quê hương ra khỏi tâm hồn mẹ được”.

Mẹ sống như chờ đợi, như mong mỏi một điều gì sẽ đến. Có lần tôi bắt gặp mẹ ngồi một mình trong đêm, tay mân mê, vuốt ve bức ảnh bán thân của bố tôi. Mẹ vẫn nuôi hy vọng Bố còn sống và sẽ có lần gia đình tôi lại đoàn tụ như xưa. Nhưng định mệnh đã an bài. Sau khi nhờ một người bạn làm ở Usaid đưa mẹ con tôi di tản, Bố hứa Bố sẽ gặp lại mẹ sau.

Trong lúc dầu sôi lửa bỏng Bố bảo sao, mẹ nghe vậy. Một mình mẹ bụng mang dạ chửa mẹ đã lên phi cơ, theo đoàn người di tản và mong có ngày gặp lại Bố.

Nhưng niềm hy vọng đó đã vơi dần theo năm tháng cho đến một ngày mẹ được tin Bố đã nằm xuống nơi trại cải tạo.

Mẹ như điên loạn.
Rồi mẹ tỉnh lại.
Mẹ biếng cười, biếng nói.
Cuộc sống của Mẹ đã thầm lặng bây giờ càng thầm lặng hơn xưa.

Ngoài giờ ở sở, về nhà cơm nước xong, trò chuyện với tôi đôi lát rồi Mẹ vào phòng. Cái khoảng đời quá khứ ngày xưa. Những kỷ niệm ngọc ngà ngày nào của Bố và Mẹ như chút dấu yêu còn sót lại. Thời gian không làm nhạt nhòa mà ở Mẹ không một hình ảnh nào mà Mẹ không nhớ.

Mỗi lần nhắc tới Bố, Mẹ như trẻ lại. Mắt Mẹ long lanh ngời sáng. Mẹ kể cho tôi nghe chuyện tình của cô sinh viên Văn Khoa với chàng thủy thủ Hải Quân.

Tôi thuộc nhiều bài hát Việt Nam lắm nên tôi ghẹo Mẹ “Mẹ và Bố giống em hậu phương còn anh nơi tiền tuyến quá”. Ngoài tình mẹ con ra, tôi như một người bạn nhỏ để Mẹ tâm sự, để Mẹ trang trải nỗi niềm nào là “con biết không Bố hào hoa và đẹp trai lắm”… v.v… và v..v…

Tôi nịnh Mẹ:
– Bố không đẹp trai làm sao cua được Mẹ.

Mẹ cười thật dễ thương. 

Một điều mà tôi biết chắc chắn rằng không ai có thể thay thế hình bóng Bố tôi trong tim Mẹ.

Tôi không ích kỷ, song điều đó làm tôi yên tâm hơn. Tôi muốn cùng Mẹ nâng niu, giữ gìn những kỷ niệm dấu yêu, ngọc ngà của Mẹ và Bố cho đến suốt cuộc đời.

Hôm nay nhân ngày giỗ lần thứ 44 của Bố. Con muốn thưa với Bố một điều. Con cám ơn Bố Mẹ đã tạo cho con nên hình, nên vóc. Dù chưa một lần gặp mặt Bố. Dù bây giờ Bố đã nằm xuống. Bố đã đi thật xa, không có lần trở lại với Mẹ, với con. Song với con Bố vẫn là một hiện hữu bên con từng giờ, từng phút.

Con nghĩ Bố đã che chở Mẹ con con hơn một phần tư thế kỷ nay. Xin Bố hãy giữ gìn, che chở Mẹ, con trong suốt quãng đời còn lại. Con mong làm sao ngày nào đất nước thật sự thanh bình Mẹ sẽ đưa con trở về thăm lại quê hương. Con sông xưa sẽ trở về bờ bến cũ. Ngày ấy ở một phía trời nào đó của quê hương con thấy bố mỉm cười và Bố nói với con: “Bố sung sướng lắm, con biết không? Con yêu dấu!”

Hoàng Thị Tố Lang

Hits: 12

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Thế hệ bố, có lẽ, là thế hệ đầu tiên biết lắng nghe con cái

“Một hôm. cậu con trai hỏi bố của mình:
“Bố ơi, con không hiểu ngày xưa bố và mọi người sống như thế nào khi không có Internet. không có máy tính, không có tivi, không có điều hòa, không có điện thoại di động? “

Người bố trả lời:
“Thì cũng giống như thế hệ ngày nay thôi con: sống mà không biết đến nguyện cầu, không có lòng trắc ẩn, không có danh dự, không có sự tôn trọng, không biết xấu hổ, không khiêm tốn và không thích đọc sách…”.
“Thế hệ bố, và thế hệ trước, sinh ra trong khoảng thời gian từ năm 1945-1985 thật là may mắn, khi:
– Ai cũng không ngại đi học một mình từ sau ngày đầu tiên đến trường.
– Sau giờ học, ai cũng được chơi đến tận tối mịt.
– Không ai ôm tivi từ giờ này qua giờ khác. Và ai cũng có những người bạn thực sự chứ không phải với những người bạn từ Internet..
– Nếu như khát, bọn bố uống luôn nước máy, chứ không phải nước đóng chai.
– Bọn bố ít bị ốm, dù rằng hay ăn chung uống chung, như 4 đứa cùng uống chung 1 cốc nước quả. Nếu có ốm thì ông bà chữa bệnh cho bằng các loại thuốc rẻ tiền trong nước sản xuất, hay là bằng các bài thuốc dân gian.
– Bọn bố không bị béo phì, dù rằng ngày nào cũng chén căng bánh mì và khoai tây.
– Bọn bố chơi bằng các đồ chơi tự làm lấy và chia sẻ đồ chơi, sách truyện với nhau.
– Ngày xưa, các gia đình hầu hết là không giàu có. Nhưng các ông bố bà mẹ đã tặng cho con cái tình yêu của mình, dạy cho con biết trân trọng những giá trị tinh thần chứ không phải là vật chất, dạy cho con biết thế nào là giá trị thực sự của con người : Sự trung thực, Lòng trung thành, Sự tôn trọng và Tình yêu lao động.
– Ngày xưa, bọn bố chưa bao giờ có điện thoại di động, đầu DVD, trò chơi điện tử Play Station, máy tính, không biết thế nào là Internet, chat…
Nhưng bọn bố có những người bạn thực sự, là khi:
– Thường đến chơi nhà nhau mà chả cần phải có lời mời, đến nhà ai gặp gì ăn nấy.
– Ký ức của thế hệ ngày đó chỉ là những tấm ảnh đen trắng, nhưng đầy ánh sáng và rực rỡ, ai cũng trân trọng lật mở cuốn album gia đình với sự thích thú, tôn kính, trong cuốn album đó luôn lưu giữ chân dung của ông bà cụ kỵ các con…
– Thế hệ bố không bao giờ ném sách vào thùng rác, mà đứng chồn chân trong hàng để mua sách, rồi sau đó đọc chúng suốt ngày đêm.
– Bọn bố không bao giờ đưa cuộc sống riêng tư của thiên hạ ra để đàm tiếu, cũng như biết giữ bí mật cuộc sống của gia đình mình, không phải như những gì bây giờ đang xảy trên Facebook và Instagram….
– Thế hệ bố, có lẽ, là thế hệ cuối cùng mà con cái biết nghe lời cha mẹ.
– Thế hệ bố, có lẽ, là thế hệ đầu tiên biết lắng nghe con cái.
– Thế hệ bố là như thế đó, là “phiên bản giới hạn”, vậy nên các con hãy biết tận hưởng những ngày bên bố mẹ, hãy biết học hỏi và trân quý…
…Trước khi thế hệ này biến mất, nhé con “

Sưu tầm 

Hits: 17

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Tiên tri của Đại sỹ Liên Hoa Sinh hơn 1.000 năm trước về thời mạt Pháp

Tiên tri của Đại sỹ Liên Hoa Sinh hơn 1.000 năm trước về thời mạt Pháp

Tượng Đại sỹ Liên Hoa Sinh tại Namchi, Ấn Độ.

Đại sỹ Liên Hoa Sinh nói, thời đại đó rất nhiều người xuất gia truy cầu danh lợi, đi khắp nơi lừa bịp tín chúng, rắp tâm suy nghĩ thu lấy tiền tài của người khác, họ có tài sản cá nhân nhưng không làm Phật sự, không tụng kinh văn mà đắm chìm trong ca múa giải trí, phá giới mà trong tâm không ái náy hổ thẹn… 

Đại sỹ Liên Hoa Sinh (Padmasambhava) là người nước Ô Trượng Na (Uddiyan, tức vùng Tây Bắc Pakistan ngày nay). Người nước Ô Trượng Na nổi tiếng là những tăng nhân vân du. Tương truyền Quốc vương Ô Trượng Na phát hiện một em bé trên hoa sen trong hồ và nuôi dưỡng thành vương tử, sau này bị quốc vương truất địa vị vương tử, Ngài vào rừng sâu tu hành. Ngài là tăng nhân chùa Na Lạn Đà và tăng nhân vân du ở Ấn Độ thế kỷ thứ 8. Sau này nhận lời Luận sư Tịch Hộ và Tạng vương Xích Tùng Đức Tán Lễ mời vào Tây Tạng sáng lập tăng đoàn, được người đời sau gọi là Liên Sư. Về sau, Ngài được chúng đệ tử sùng kính, tôn là Phật Đà thứ 2.

Theo truyện ký về Ngài, thì sau khi Liên Sư nhận lời mời, khoảng năm 750, Ngài từ Ấn Độ khởi hành đến Tây Tạng hoằng Pháp, dùng Thần thông đánh đổ các thầy phù thủy, thầy mo của đạo Bon và quỷ Thần bản địa, sáng lập nên ngôi chùa đầu tiên ở Tây Tạng – Chùa Tang Da (Samye Gompa). Từ đó người dân Tây Tạng đã cải giáo sang Phật giáo chính thống. Để kỷ niệm sự ra đời của Phật giáo Tây Tạng, Liên Sư và Tịch Hộ, Xích Tùng Đức Tán được gọi là Sư quân tam tôn (ba vị tôn sư).

(Ảnh minh họa: vkfaces.com)

***

Những lời tiên tri từ hơn 1.000 năm trước

Hơn 1.000 năm trước, Liên Sư đã có tiên tri về thời kỳ mạt Pháp, cũng chính là tất cả những gì của thời đại chúng ta ngày nay như: Màn hình tinh thể lỏng, ván trượt, máy bay, xe hơi, điện thoại thông minh v.v… Rất nhiều tiên tri của Ngài, đến nay xem lại khiến con người kinh sợ và tự kiểm điểm sâu sắc.

Rất nhiều đệ tử Kim Cương thừa đều biết, xưa kia đệ tử của Liên Sư đã thỉnh giáo Đại sỹ Liên Hoa Sinh – Giáo chủ Ô Kim giáo rằng: “Xin thượng sư từ bi khai thị, thời đại ác thế mạt Pháp thì khi nào sẽ đến?”.

Liên Sư nói rất từ bi rằng: “Khi chim sắt bay trên không trung (tức máy bay), ngựa sắt chạy trên đất (tức tàu hỏa và xe hơi) thì đó là thời đại mạt Pháp đến. Lúc đó Mật Pháp của Phật Pháp sẽ hưng thịnh và hồng truyền khắp thế giới. Ở thời mạt Pháp này, toàn thế giới sẽ xuất hiện tình hình như thế này: Vua không giống vua, bề tôi không giống bề tôi, cha không giống cha, con không giống con, cha con như bạn bè. Phụ nữ không giữ trinh tiết, đàn ông dâm dục không kiềm chế, rất nhiều hiện tượng triệu chứng mạt Pháp của Phật giáo đều xuất hiện”.

Liên Sư lại tiên tri rằng: “Rất kỳ diệu, xe thời kỳ đó không cần ngựa kéo, tự nó có thể khởi động chạy. Rất kỳ diệu, thanh thiếu niên thời đó tại sao không cần xỏ sừng trâu dưới chân mà lắp bánh xe trượt đi trượt lại? Rất kỳ diệu, mọi người thời đại đó không phải ra khỏi nhà, hàng ngày chỉ cần ngồi đó nhìn vào cái gương nhỏ liền biết chuyện thế sự trong thiên hạ, hơn nữa còn có thể thông tin tức cho nhau. Thật là thần kỳ”.

Đây chẳng phải điện thoại di động trên tay chúng ta đó sao. Có lẽ xem đến đây mọi người đều rõ, xe hơi, ván trượt, màn hình tinh thể lỏng, điện thoại di động đều là những thứ người hiện đại rất quen thuộc.

Liên Sư nói tiếp, thời đại đó rất nhiều người xuất gia truy cầu danh lợi, đi khắp nơi lừa bịp tín chúng, rắp tâm suy nghĩ thu lấy tiền tài của người khác, họ có tài sản cá nhân nhưng không làm Phật sự, không tụng kinh văn mà đắm chìm trong ca múa giải trí, phá giới mà trong tâm không ái náy hổ thẹn.

Về các chúng sinh thời kỳ mạt Pháp, Liên Sư nói: “Thời đại đó sẽ có phụ nữ chen ngang vào giữa vợ chồng (người thứ 3), con cái bất hiếu đuổi cha mẹ ra khỏi nhà, anh em đánh nhau vì gia sản, tạo cả 5 loại nghiệp mà không có tâm xấu hổ, lời dạy của Phật Đà dần dần bị mai một mất đi. Giữa người thân thích có xuất hiện loạn luân. Có rất nhiều người chìm đắm trong cờ bạc, người nghiện cả ngày nuốt khói nhả khói, người nghiện rượu say đắm tham bôi. Tượng Phật, Pháp khí lưu lạc nơi đầu đường cuối phố, trở thành hàng hóa. Có rất nhiều người đem báu vật ông bà tổ tiên truyền lại bán cho người nước ngoài. Do chặt phá rừng tràn lan khiến đất màu cuốn mất, dẫn đến thiên tai liên tiếp xuất hiện. Trong thành phố trộm cắp nổi lên khắp nơi. Người ăn xin khắp các thành phố. Có rất nhiều người chết trong chiến tranh”.

***

Những lời tiên tri của Liên Sư này ngày nay xem quả là ‘những điều trông thấy mà đau đớn lòng’. Nhân loại đã điên cuồng khai thác cướp bóc thiên nhiên, tuy có hình thành vật chất phồn vinh chưa từng có, nhưng đạo đức không còn, trộm cắp ăn xin khắp nơi, bệnh tật hoành hành, các vấn đề xã hội nối nhau kéo đến. Nếu chúng ta không tăng cường cảnh giác, kiềm chế hành vi bản thân thì cuối cùng cũng sẽ có ngày bị hủy hoại trong cái ‘văn minh’ của chính mình.

Nhất Tâm

Hits: 11

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Cơn Bão Ngoài Trời, Cơn Bão Trong Lòng

Tác giả lần đầu dự Viết Về Nước Mỹ 2018. Bà cho biết: Tên thật là Ngô Phương Liên,  học Trưng Vương thời trung học, vượt biển qua Mỹ năm 79. Đi học lại gần  6 năm mới ra trường với bằng BS engineer năm 85. Hiện là cư dân ở Lafayette, Louisiana, còn vài năm nữa sẽ … ăn tiền gìa. Bút hiệu Pha Lê, theo chú giải vui của tác giả, không phải là trong veo như Pha Lê, mà là… Pha trò và Lê la! Sau đây là bài viết thứ tư của bà.

                                           ******************************

  Ông John nhìn sững trên màn ảnh TV, hớp nốt ngụm beer còn lại, ông bóp nát lon beer trong tay và bực dọc ném mạnh vào thùng rác nơi góc bếp. Cơn bão Harvey bất ngờ đổ ập đến làm hỏng hết dự tính ông đã sắp đặt suốt 3 tháng trời.

Để tiến hành dự tính này, ông John đã phải tìm kiếm những dữ kiện, chỉ dẫn trên internet, nhưng ông phải vào thư viện, vào những quán cà phê để sử dụng máy computer của họ vì ông không thể dùng máy của ông được. Ngay cả cuộn dây thừng, tấm bạt nylon, cuộn băng keo, ông cũng phải lái xe ra khỏi thành phố, đến nhưng tiệm hardware nhỏ của địa phương  để mua. Đặc biệt đôi găng tay, ông đã phải đi ba bốn tiệm  mới tìm đươc một đôi vừa  ý.

Nhưng John dự tính gì mà cần chuẩn bị quá kỹ lưỡng đến vậy? Ông phải tính toán, hoạch định từng chi tiết nhỏ để sẽ không có một sơ hở, một lỗi lầm nào trong lúc ông thực hiện công việc này, bởi chỉ một chút sơ sẩy, cái giá ông phải trả chính là mạng sống của ông! Đúng vậy, bởi vì ông ta đang âm mưu “giết vợ!” 
 Ông John, một người Mỹ gốc Ái Nhĩ Lan trên 60 tuổi, là một tài xế lái xe truck xuyên bang. Ông đã thất nghiệp hơn nửa năm nay. Hai vợ chồng ông lấy nhau hơn 30 năm,  bà John làm quản thủ thư viện của thành phố hơn 20 năm. Ccó lẽ vì công việc ở thư viện ngồi nhiều hơn phải đi nên bà John thuộc hạng người “ăn gì to lớn đẫy đà làm sao”, nhưng bà rất hiền lành, bình dị và nói cho cùng, vóc dáng của bà cũng vẫn tương xứng với  thân hình hộ pháp của ông, 6ft 9 và nặng  hơn 250lb!

John còn nhớ cách đây hơn 4 tháng, khi ông mới thất nghiệp, trong một lần trà dư tửu hậu, một ông bạn già vợ vừa mất, bạn bè ngỏ lời chia buồn, nhưng ông ta  chỉ cười cười vì ông vừa “ẵm” gần 250 ngàn đô tiền bảo hiểm nhân thọ cùa bà vợ quá cố. Câu chuyện đó đã ám ảnh ông John mãi.

Thật ra, dù không còn yêu vợ, ông John chẳng bao giờ dám có ý nghĩ đen tối như vậy, nhưng thất nghiệp, ngày ngày đi ra  đi vào,  cuộc sống ông John dần dần đi đến chỗ bế tắc. Nợ nhà, nợ xe, nợ thẻ tín dụng, đủ thứ nợ dồn dập mỗi tháng khiến ông muốn ngộp thở, đã thế, lâu lâu lại nghe tin ông bạn vợ vừa mất nay đi du lịch nước này, mai đi thưởng ngoạn  bãi biển kia khiến ông John càng nôn nóng, và ông quyết định phải thanh toán bà vợ hơn 30 năm đầu ấp tay gối này!

Ông bắt đầu suy tính kế hoạch, ông nhớ nhiều lần coi những phim cảnh sát điều tra tội ác, người đàn ông giết vợ mà tỉnh bơ đi mua sắm những vật dụng cần thiết cho âm mưu đen tối của mình tại một cửa tiệm gần nhà, xài thẻ tín dụng, lại còn cà kê dê ngỗng một hồi với người bán hàng. Khi bị bắt, hình ảnh ông ta trên camera của tiệm hiện ra rõ mồn một, hết đường chạy tội!

Có bà thuốc cho chồng chết và khai người chồng bị ngộ độc, khi bị điều tra, cảnh sát tìm ra trên computer của bà, bà đã  nghiên cứu tìm tòi trên internet các loại độc dược, cách sử dụng, công hiệu v.v…, hết cách chối tội!  Toàn những bộ óc kém thông minh, lạy ông tôi ở bụi này, ông John thầm nghĩ.

Cho nên ông đã phác họa một phương án vô cùng toàn hảo cho âm mưu của ông. Đôi găng tay ông sẽ xiết cổ bà vợ, gói bà vào tấm bạt nylon, cột thật chặt bằng hai cuộn dây thừng, mang xác bà tới một khu rừng vắng và với 10 gallons xăng, ông sẽ đốt và phi tang xác bà một cách dễ dàng.

Ông đã cẩn thận cất dấu  tất cả những “vật liệu” này trên căn gác  của nhà kho sau vườn. Một điều thuận lợi hơn nữa là nhà ông nằm cuối cùng của khu phố, bên trái là  một khoảng đất trống, còn người hàng xóm bên phải là hai vợ chồng già VN trên 80 tuổi,  ông bà Phan, họ sống rất khép kín. Cho nên ông John rất yên tâm không ai có thể nhận ra sự vắng mặt của vợ ông.

 Nhưng người tính không bằng trời tính! Nhiều lần ông đã định ra tay, nhưng cứ trật vuột hoài, có lúc thì bà John lái xe về thăm cha mẹ ở thành phố khác cả tuần, khi thì chị ông ghé qua thăm  rồi ở chơi vài ngày, và lần này còn thê thảm hơn, mưa gió bão bùng lụt lội như thế này, làm sao ông vô rừng “đốt” được cái xác!

Ông John ngồi thừ người suy nghĩ, trên TV dự  báo thời tiết cơn bão sẽ tiến vào đất liền nội trong ngày mai. Quá mệt mỏi, ông John ngả người trên sofa và chìm vào giấc ngủ một cách khó nhọc.

Tiếng sấm và làn chớp sáng lòa ngoài cửa sổ khiến ông John giật mình bừng tỉnh. Ông ngơ ngác vài giây, căn nhà tối đen vì cúp điện, chỉ có một ngọn nến leo lét trong nhà bếp. Với tay cầm chiếc cell phone lên, ông giật mình vì đã hơn 3 giờ sáng. Ngoài trời gió bắt đầu mạnh hơn,và mưa cũng đang rơi xối xả. Đặt chân xuống đất, ông  John hốt hoảng vì ông vừa dẵm lên phần thảm ướt nhẹp,  trong nhà ông, nước đã ngập ngang qua bực thềm của lò sưởi. Tiếng bà John cất lên sau lưng khiến ông John giật bắn mình:

– Nhà mình nước ngập như thế này, nhà ông bà Phan chắc còn tệ hơn, tôi nhìn sang thấy tối thui.

Ông John bực mình ngắt lời bà:

– Cúp điện, bà không thấy sao,nhà nào mà chẳng tối.

Giọng bà John bỗng trở nên khẩn khoản :

– Ngày mai ông thử chạy sang xem sao, tội hai vợ chồng già, con cái lại ở xa.

– Ừ, để mai rồi tính!

 Ông John hứa đại với bà cho xong chứ chính bản thân  ông cũng chưa biết ngày mai sẽ ra sao.

Hôm sau, tiếng bà John  cùng cái lay nhẹ trên vai khiến ông John bừng tỉnh, đã gần 9 giờ sáng mà bầu trời vẫn xám xịt và cơn mưa mỗi lúc càng nặng hạt hơn. Nhớ tới đôi vợ chồng già hàng xóm bên cạnh, ông John tất tả bước ra ngoài, mực nước bây giờ đã dâng ngang đầu gối ông. Biết không thể nào vào nhà bằng cửa trước được, ông John đành phải phá cửa sổ  vừa trèo vào,vừa lớn tiếng kêu gọi ông Phan, từ trong phòng ngủ một giọng nói yếu ớt vang lên  : 

– Chúng tôi ở trong phòng ngủ, cái phòng cuối cùng.

Cố lội nhanh về hướng đó, và khi ánh đèn pin rọi vào góc phòng, một hình ảnh khiến ông John sững người cảm động, trên chiếc giường, ông Phan đang ngồi ôm vợ. mặt bà Phan xám ngắt và đôi mắt bà vẫn nhắm nghiền, nhìn thấy ông John, ông Phan mừng rỡ nói :

– Lạy Chúa tôi, cám ơn ông đã đến, suốt đêm qua tôi cứ phải luôn trấn an vợ tôi, tôi chỉ lo bà ấy sợ quá rồi ngất xỉu thì thật tôi không biết phải làm sao. Có cái cell phone thì tôi lại đánh rơi xuống nước, giờ không gọi được nữa.

 Rồi ông Phan quay sang nhìn bà vợ với ánh mắt thương yêu, ông dịu dàng nói:

– Có tôi đây, bà không phải lo gì hết.

 Chợt chuông điện thoại của ông John réo vang, nhìn qua số phone, ông John mừng rỡ vì đó là  mục sư William. Ông mục sư cho biết hội trường nhà thờ xây trên một khu đất cao, chắc chắn sẽ không bị lụt, ông muốn tất cả giáo dân nếu chưa kịp di tản, hãy đến trú ngụ tạm tại nơi đây cho qua cơn bão táp. Ông John vắn tắt nói ý đó với ông Phan và dặn ông bà hãy sửa soạn một ít quần áo và vật dụng cá nhân, ông sẽ quay lại.

 Lội bì bõm qua mảnh sân để về nhà, từ xa ông đã nhìn thấy bóng bà John đang đứng lo lắng nhìn về cuối đường. Bước vào nhà, ông nhắc lại ý của mục sư Wiliam và thúc dục bà mau thu xếp ít đồ dùng cá nhân để kịp tới hội trường nhà thờ trước khi cơn bão trở nên  dữ dằn hơn. Nhìn bà lật đật, lúng túng thu dọn, lòng  ông John  chợt xốn xang, và ông cảm thấy  bà rất đáng thương, ông buột miệng lập lại câu nói của ông Phan ;

– Có tôi đây, bà không phải lo gì hết!

Hơi ngạc nhiên từ  câu nói nhẹ nhàng hiếm có của chồng, nhưng bà John chỉ khẽ mỉm cười. Ông John cũng chợt nhớ ra suốt 2 ngày nay, ông đã gần như quên cả ý định đưa bà sang bên kia thế giới!

*
Bây giờ thì mọi người đã tề tựu trong hội trường của nhà thờ. Có tất cả 38 người. Mục sư William chào mừng và cầu chúc mọi người được bình an qua cơn bão táp phong ba này. Rồi ông buồn bã lo lắng nói:

– Vì không chuẩn bị trước nên chúng ta chỉ có đủ xăng  chạy máy phát điện đến 2 giờ đêm, sau đó chúng ta chỉ còn đèn cầy mà thôi, và với tình trạng này, chẳng có một cây xăng nào mở cửa.

 Bỗng một giọng nói vang lên từ cuối hội trường:

– Tôi có xăng, tôi còn xăng dự trữ ở nhà.

Mọi người cùng quay lại và nhận ra đó là ông John. Mục sư William vui mừng nhưng ông vẫn dè dặt hỏi lại :

– Ông không cần giữ lại phần xăng đó để làm gì sao?

 – Thưa không, số xăng đó bây giờ tôi không cần đến nữa!

Ông John đưa Mục sư William về nhà kho của ông. Hai cậu trai tình nguyện viên của nhà thờ đang mò mẫm trên căn gác xép nơi ông John cất dấu thùng xăng, chợt một cậu lên tiếng: .

– Trời ơi có cả một cuộn dây thừng, tấm bạt nylon, 2 cuộn băng keo, tất cả đều còn mới nguyên trong bọc. Nhà thờ đang cần những thứ này, chúng tôi mang xuống hết được  không?

 Ông John choáng váng gần như á khẩu, mục Sư William vẫn kiên nhẫn đứng yên chờ đợi. Thở một hơi dài,ông John cố gắng nói,nhưng ông chợt cảm thấy tiếng nói của ông như từ một nơi xa xăm nào đó vọng lại:

– Thưa vâng, mang về nhà thờ đi. Tất cả mấy thứ này bây giờ không cần cho công việc của tôi nữa.

Nắm chặt đôi tay của ông John, mục sư William vừa ra dấu  biết ơn, vừa ngỏ ý:

– Nhưng công việc đó là công việc gì, ông có cần  chúng tôi giúp một tay không?

 Đến lúc này ông John không thể chịu đựng được nữa, ông cảm thấy nghẹt thở và tim ông đập những nhịp đập không bình thường, ông đành bước ra ngoài xe ngồi chờ mọi người.

Đêm hôm đó, nhờ số xăng của ông John, hội trường có đèn sáng suốt đêm. Tấm bạt nylon được dùng để che một góc sau hội trường cho các bà nấu nướng. Những cuộn dây thừng dùng để cột những nhánh cây to để khi gió thổi mạnh, chúng không  quật  ngược lại hội trường, có thể làm sập mái nhà.  Cuộn băng keo dùng để dán những cửa số bằng kính xung quanh hội trường.

 Bây giờ mọi người cảm thấy bình tĩnh và an tâm hơn sau khi mỗi người được một chén soup nóng. Không  gian trong hội trường thật êm ả, bình an dù bên ngoài cơn bão  cấp 3 đang tiến dần vào thành phố. Mục sư William ngỏ ý muốn cử hành một thánh lễ ngắn gọn vừa để tạ ơn Thiên Chúa, vừa cầu xin Người che chở cho mọi người trong những ngày mưa gió sắp tới.

Đứng trên bục  giảng, mục sư William thật cảm động khi nhìn xuống giáo dân đang thành tâm khấn nguyện. Các bà với khuôn mặt đầm đìa nước mắt, ngay cả những các ông đôi mắt cũng rưng rưng. Mục sư cũng nhắc nhở tên ông John nhiều lần vớùi lời tri ân trang trọng và thắm thiết.

Quỳ bên cạnh vợ, khuôn mặt ông John cũng ràn rụa nước mắt. Nhìn ông khóc, mọi người càng thương cảm và quý mến ông hơn. “Ông ta đúng là thiên thần hộ mệnh do Thiên Chúa sai xuống để giúp đỡ, che chở  cho chúng ta trong cơn hoạn nạn thương đau này, những giọt nước mắt kia thật quý giá,” một số người đã nghĩ như thế về ông.

Nhưng dĩ nhiên không một ai, kể cả mục sư William và ngay cả bà John đang quỳ bên cạnh, có thể hiểu rõ ý nghĩa thật sự của những giọt nước mắt đang lăn dài trên khuôn mặt ông John. Đó chính là những giọt lệ vừa ăn năn  thống hối, vừa vui mừng,  hạnh phúc vì ông đã không thực hiện âm mưu đen tối, không nhúng tay vào tội ác tày trời.

Đối với mọi người, cơn bão Harvey là sự tàn phá, mất mát, và đau thương, nhưng đối với riêng ông, cơn bão này đã giúp ông rời xa cái vực thẳm tội ác, biến đổi ông thành một con ngưới mới, biết yêu thương, tha thứ và quảng đại.

 Sau thánh lễ, dù trời đã khuya, và bên ngoài gió vẫn thổi phần phật lẫn  trong tiếng mưa xối xả, nhưng mọi người quây quần thành từng nhóm. Ông John cố tránh tiếp xúc với mọi người vì ông thật khổ sở với những câu cám ơn, những cái xiết tay, những ánh mắt ngưỡng mộ.

Bước về phía cuối phòng, ông John  ngồi xuống cạnh những ông bạn già. Một ông đang kể về những trận bão, giọng ông thật hài hước:

– Cơn bão Harvey này là tên đàn ông nên không đáng lo ngại lắm. Cơn bão tên đàn bà mới là cả một vấn đề, như bão Katrina năm nào, khi “nàng” lên cơn, sức tàn phá thật khủng khiếp, và khi ra đi, “nàng” cuốn theo hết cả sinh mạng lẫn nhà cửa, tài sản…

 Ông ngừng vài giây, chỉ vào ngực mình và nói tiếp :

– Như tôi đây, từng là nạn nhân của nàng Katrina, nay chỉ còn tay trắng mà thôi!

 Nói xong ông phá lên cười khoái trá. Ông John cũng muốn cười to vì tính cách khôi hài của câu chuyện, nhưng chỉ dám cười nho nhỏ vì ông không muốn ai biết ông đang ngồi đây.

Khẽ dựa lưng vào góc tường, ông John đưa mắt nhìn quanh. Nơi góc phòng, cạnh cửa sổ, ông bà Phan đang ngồi trên một tấm nệm mỏng trải tạm cho ông bà. Khuôn mặt bà Phan đã hồng hào và tươi tỉnh hơn trước. Với chiếc quạt giấy trên tay, bà khe khẽ quạt nhè nhẹ cho ông Phan.

Ngồi cạnh vơ, ông Phan chợt nhớ lại cảnh tượng hãi hùng đêm qua. Hơn 50 năm lấy nhau, trải qua bao tháng ngày cực khổ, nghèo đói nơi quê nhà. Trải ra bao  tủi nhục đắng cay nơi trại cải tạo, rồi thêm một cuộc vượt biên thập tử nhất sinh. Đã hết đâu, còn những năm tháng lao động cật lưc mưu sinh trên đất nước này để nuôi dạy đàn con 4 đứa. Bây giờ mọi việc đã xong xuôi, con cái ông bà đã trưởng thành, ông bà bắt đầu an hưởng tuổi già, chẳng lẽ ông bà lại chết vì trận bão “lãng xẹt” này hay sao! Ông Phan nói lại cho bà nghe ý nghĩ đó, bà chỉ nhìn ông móm mém cười đôn hậu. Nhìn nụ cười đó cùng với những sợi tóc bạc lơ thơ trên vầng trán già nua nhăn nheo của vợ, ông Phan xúc động  đọc cho bà vài câu trong bài thơ  “Tình  Già ” của Phan Khôi :

   Hai mươi bốn năm xưa, một đêm vừa gió lại vừa mưa
   Dưới ngọn đèn mờ, trong gian nhà nhỏ,
   Hai mái đầu xanh kề nhau than thở…

 Ông bỗng bật cười vì 3 chữ  “mái đầu xanh”, có lẽ phải đổi “mái đầu… grey” mới đúng!

 *
 Rồi cơn bão cũng đi qua. Mọi người lục đục sửa soạn trở về xem  lại nhà cửa. Ông bà Phan và vài gia đình được con cái hay người thân đón về tam trú tại nhà họ nơi các thành phố khác. Mục sư William đứng trước cửa hội trường bắt tay, chúc bình an cho từng người. Tới phiên ông John, với cái xiết tay thật chặt, mục sư William thành khẩn tri ân ông và nguyện xin ơn trên trả công bội hậu cho ông.

Suốt mấy ngày nay ông John đã  khổ sở  “bị ” nghe những câu nói như thế, không đủ can đảm đứng nghe thêm , ông vội vã cáo từ mục sư và cùng vợ hối hả bước ra xe.

 Ngồi trên xe truck lái về nhà, chung quanh ông cảnh tượng thật hoang tàng đổ nát. Bà John ngồi im lìm nhưng trên khuôn mặt bà hiện lên nhiều nét đau thương, rồi bỗng bà nói:

– Nhà cửa, xe cộ, tài sản mất hết thì vẫn còn có thể kiếm lại được, nhưng không biết trong những ngôi nhà kia, gia đình có còn đầy đủ mọi người hay không, cơn bão Harvey này thật tàn khốc !

 Ông John khẽ liếc nhìn vợ, ông cảm thông những điều bà vừa nói, nhưng bà làm sao biết được mấy ngày vừa qua, chính ông cũng bị một cơn bão, mạnh gấp trăm lần cơn bão ngoài trời kia, “quậy” phá khiến ông xơ xác tiều tụy. Đó chính là cơn bão trong lòng ông!

Đẩy cửa bước vào nhà, dù đã đoán trước cảnh tượng sẽ rất tiêu điều, ông bà John cũng dội ngược vì mùi ẩm mốc bay lên. Nhìn vợ ngẩn ngơ trước những đổ vỡ, mất mát, ông John dặn vợ đừng đụng vào đồ vật trong nhà, rồi ông đẩy cửa bước ra sau nhà.

Bên ngoài cây cối ngã rạp, hàng rào nghiêng đổ, bỗng chân ông vấp phải một vật gì, nhìn xuống, ông nhận ra đó là bình đựng xăng mà ông mua dư cho ” dự tính” của ông. Vẩn vơ suy nghĩ, chợt ông tìm ra được một điều khá lý thú, những thứ ông mua: xăng, cuộn dây thừng, tấm bạt nylon, cuộn băng keo với một mục đích kết liễu một mạng người, nhưng ngẫu nhiên nó lại được dùng để cứu giúp cho những người khác trong cơn  hoạn nạn, nguy khốn.

 Nhìn lên bầu trời xanh ngắt  lãng đãng những cụm mây trắng. ông John chợt ngộ ra một điều rằng trong cõi vũ trụ huyền vi vô thường kia, chắc chắn phải có một đấng tạo hóa tài năng vô song đã sắp xếp tất cả mọi chuyện xảy ra một cách tuần tự, lớp lang cho cõi trần gian ô trọc và đầy hệ lụy này! Dù xung quanh ông John cảnh tượng thật hoang tàng, đổ nát, nhưng lòng ông bỗng cảm thấy thật thanh thản, bình an.

 Bước vào nhà, ông John thấy vợ đang ngồi qua lưng về phía ông, chẳng lẽ bà đang nhặt lại những đồ vật không bị hư hỏng vì cơn bão hay sao, ông John tự hỏi, thay vì gắt gỏng như mọi khi, ông John chỉ nhẹ nhàng nói:

– Tôi đã dặn bà đừng đụng tay vào đồ vật trong nhà, những vi khuẩn mốc meo có thể sẽ làm bà bịnh đó.

 Bà  John quay lại mỉm cười nói:

– Tôi biết, nhưng tôi tìm được đôi găng tay còn mới nguyên trong bao, đôi bao tay thật dầy, lại có lớp cao su bên ngoài.

 Nói xong bà đưa hai tay lên, ông John nhìn thấy bà đang đeo đôi bao tay vàng mà vài tháng trước ông đã phải lặn lội đi khắp nhiều tiệm để tìm mua, ông choáng váng á khẩu. bà John lại nói tiếp:

– Mấy ngày ở hội trường nhà thờ, mấy bà cứ tấm tắc khen ông là người biết lo xa. Có bà còn đùa nói tôi thật có phước mới lấy được ông!

 Bây giờ thì ông John không chịu đựng được nữa, ông cảm thấy như có một bàn tay ai đang chẹn cổ khiến ông không thở nổi, nếu ông còn đứng đây nghe những lời thương yêu của vợ, chắc ông sẽ đứng tim mất thôi. Ông đành gật đầu và đẩy cửa bước vội ra sân.
Vì vợ chồng  ông là người Mỹ, chứ nếu là người Việt, biết đâu trong một giây phút cảm động  nào đó, bà sẽ  rưng rưng hát tặng ông câu hát từ bài ca một thời được ưa thích:
“…May mà có Ông, Đời còn dễ thương.”

Pha Lê

Hits: 19

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Rút lui

Chúng ta vẫn thường nghe “an hưởng tuổi già”, nhưng trong thực tế, có người sống những tháng năm vui vẻ, còn có người lại u uất muộn phiền. Vậy nên, để an hưởng tuổi già đúng nghĩa, chúng ta phải chuẩn bị thật tốt 5 “con đường lui” dưới đây. 
 
Khi về già, cũng là lúc chỉ còn lại khoảng thời gian cuối cùng trong đời người, bạn đã có con đường lui của mình chưa? Sau đây là 5 gợi ý thú vị giúp bạn luôn thảnh thơi khi tuổi tác xế chiều:
 
Con đường thứ 1: Có một thân thể mạnh khỏe
Điều này quan trọng nhất, bất kể có tiền hay không, khi có một thân thể mạnh khỏe thì đã có những năm tuổi già hạnh phúc..
Có thân thể mạnh khỏe sẽ không gây thêm phiền phức cho con cháu.
Có thân thể mạnh khỏe sẽ không đem tiền tặng cho bệnh viện.
Có thân thể mạnh khỏe, thì bản thân mới có niềm vui.
Thế nên, bất kể lúc nào, có thân thể mạnh khỏe mới là con đường lui tốt đẹp nhất đời người.
Khi bạn có tuổi càng cần chú ý, cái gì cũng của người khác, chỉ thân thể mới là của mình, đó là cái mình phải đem đi.
Ở trong nhà không bằng hoạt động. Bình thường cần chú ý những thông tin mà thân thể biểu lộ. Đối với thân thể nhất định phải chăm chút, định kỳ kiểm tra sức khỏe, chớ tự làm khó mình.
Cần xem nhẹ tất cả, tâm tĩnh lại rồi thì bệnh tật sẽ tránh xa.
Bất kể có tiền hay không, khi có một thân thể mạnh khỏe thì đã có những năm tuổi già hạnh phúc.
 
Con đường thứ 2: Bên mình có người dìu bước
Đó chính là người chung gối, là bạn đời. Có tuổi rồi, có bạn đời bầu bạn mới là phúc.
Dân gian thường nói: “Con cháu đầy nhà cười ha hả, chẳng bằng một người bạn già bên thân”. Hay như câu: “Con chăm cha không bằng bà chăm ông”.
Đây không phải thứ tình cảm oanh liệt hoành tráng gì, chỉ là cùng trò chuyện, bình thản, nhẹ nhàng, đó mới khiến trái tim xúc động nhất.
Có người bạn đời biết yêu, biết thương, đó mới là con đường tốt nhất. 
 
Con đường thứ 3: Cuộc sống cần có quy luật
Con người có tuổi nhất định phải sống có quy luật. Nghỉ ngơi, ăn uống, vui chơi, ngủ nghê, v.v.. cần phải có thời gian của mình. Bởi vì các ‘linh kiện’ trên thân mình đều đã lão hóa, chẳng thể chịu nổi sức tàn phá của bất quy luật. Ăn uống không được chè chén thỏa thê. Trưa nhất định cần ngủ. Với bạn già khiêu vũ chơi bài cũng cần có mức độ.
Kết giao bạn bè là rất quan trọng, người có tuổi cũng nên có nhóm của mình, chớ khép kín mình, nhưng kết giao nhất định phải cẩn thận.
Chớ kết giao với người có lòng dạ hẹp hòi. Nên tìm người tuổi tác tương đồng, cơ ngộ tương tự, có cùng niềm vui sở thích để cùng chia sẻ, có thể giúp nhau giải buồn phiền. Như vậy niềm vui cũng đủ rồi.
Về già hãy học cách thiện đãi bản thân. .
 
Con đường thứ 4: Dành đủ tiền chi tiêu cho mình
Việc này rất quan trọng, chớ đem hết tiền cho con cháu. Có tiền rất quan trọng.
Nếu xảy ra bất trắc gì thì đã có đủ tiền xử lý. Khi có việc cần dùng đến tiền, tự mình lấy ra, không phải ngửa tay xin con cháu.
Có tiền ra ngoài, đáng tiêu thì tiêu, đi du lịch một chuyến, mua bộ quần áo đẹp. Khi tâm tình vui vẻ thì mới cảm thấy được đã không cô phụ bao năm tháng đã qua.
 
Con đường thứ 5: Một trái tim vui vẻ
Con cháu đều bận rộn, chúng ta chớ làm phiền chúng. Chúng ta nghỉ hưu rồi, nhất định phải tìm niềm vui của riêng mình.
Tuổi tác này là quý báu nhất, do đó cần hưởng thụ cuộc sống.
Hát ca, nhảy múa, du lịch, dạo chơi, thăm thú, v.v.. xem còn có những phong cảnh đẹp nào mà mình chưa xem, nếu điều kiện cho phép thì hãy đi thực hiện. Nhất định cần trân quý quãng thời gian cuối cùng..

— 

Henry Hoang

Hits: 25

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin