Category Archives: Góp Nhặt Trăm Hoa

Những câu chuyện xúc động về tình yêu thương ngày Tết

Đằng sau mỗi món quà trao tặng nhau dịp đầu năm mới là một câu chuyện cảm động về tình yêu thương và sự sẻ chia ấm áp.

Là nét đẹp văn hóa của người Việt, tặng quà Tết vừa nhằm gắn kết yêu thương vừa như một lời chúc tốt đẹp đến người thân, bạn bè trong những ngày đầu năm mới. Với nhiều tính năng thông minh phù hợp với nhu cầu đa dạng của mỗi người, các quà tặng công nghệ đang ngày càng được ưa chuộng và đã thực sự là người bạn đồng hành thiết thực trong cuộc sống hàng ngày. Đó cũng là lý do giúp cuộc thi Quà Tết yêu thương – cuộc thi viết về những món quà tặng công nghệ do Samsung đồng hành đã thu hút sự tham gia của rất nhiều người.

Một món quà phù hợp không chỉ mang đến “lộc xuân” may mắn, ý nghĩa mà còn có giá trị sử dụng bền lâu khi đáp ứng đúng nguyện vọng của người được nhận.

Trái hẳn với suy nghĩ chung rằng các sản phẩm công nghệ thường chỉ dành cho đấng mày râu hoặc giới trẻ, độc giả Hoàng Giang đã gây xúc động với những chia sẻ về chiếc điện thoại dành tặng mẹ dịp Tết này: “Có Galaxy Trend Plus, con có thể khoe với mẹ tháng lương vừa nhận, bài khóa luận hay, khoe áo mới, khoe nhà cửa đã dọn dẹp tinh tươm. Thỉnh thoảng con bị dị ứng thời tiết, mẹ có thể nhìn con qua video call là biết ngay và nhắc mua thuốc uống. Thật ra con có thể tự lo được hết nhưng vẫn muốn được mẹ nhắc nhở, được mẹ quan tâm vậy đó… Nhờ vậy mà con luôn cảm thấy ấm áp và gần gũi gia đình mình mỗi ngày. Còn mẹ cũng đỡ nhớ con, lúc nào cũng vui vẻ và an tâm về đứa con gái duy nhất”.

Chiếc smartphone là bạn đồng hành đắc lực dành cho cha mẹ trong cuộc sống hàng ngày .

Cũng dành cho mẹ, bạn Ngọc Lan với bài dự thi Bạn thân của mẹ tôi lại thu hút người đọc với câu chuyện về lòng hiếu thảo: “Cuối cùng, niềm mơ ước nhỏ nhoi cũng thực hiện được. Tôi gom hết tiền tiết kiệm được trích từ số tiền ba mẹ cho chi tiêu hằng ngày. Vậy là cũng được gần hai triệu đồng. Sáng ngủ dậy, tôi ghé ngay vào cửa hàng điện thoại để sắm một chiếc cầm tay như ai. Chọn mãi thì cũng có cái vừa túi tiền mà trông cũng đẹp không kém của người bạn: Samsung Galaxy V. Đây chính là món quà đầu tiên của một đứa con gái đi học xa lần đầu về thăm nhà. Có lẽ ba mẹ sẽ rất vui”.

Món quà trao đi chân thành không chỉ mang đến lời chúc may mắn và những giá trị sử dụng thiết thực mà còn giúp kết nối tình cảm của những người thân yêu. Nếu đang ấp ủ dự định mang đến cho người thân sự bất ngờ với món quà công nghệ trong dịp Tết này, bạn hãy chia sẻ câu chuyện của mình tại cuộc thi Quà Tết yêu thương để có cơ hội trúng giải hấp dẫn là máy tính bảng Galaxy Tab S 8.4 sành điệu. Chương trình diễn ra từ ngày 14/1 đến ngày 22/2 và được chia thành 4 đợt bình chọn. Độc giả vào đây để biết thêm thông tin chi tiết.

Hà Mỹ Giang

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Linh Quy Pháp Ấn Sơn

Nằm cách trung tâm Bảo Lộc khoảng 20 km, chùa Linh Quy Pháp Ấn nằm trên đỉnh đồi 45 thuộc huyện Lộc Thành (Lâm Đồng). Đường vào chùa rất gian nan với những con dốc cao ngất và bề rộng chỉ chừng 40 cm, luôn là thách thức thú vị với du khách thập phương. 
 
Toàn khuôn viên chùa khoảng 40 ha, địa hình kéo dài qua nhiều ngọn đồi cao bao phủ bởi những rừng cây và đồi chè, cà phê. Quán Chiếu Đường với cổng trời và sân mây được xem là chốn bồng lai tiên cảnh. 
 
Nhà sư trụ trì Thích Minh Thành cho biết trong thời gian tu học tại Nhật, thầy yêu thích lối kiến trúc Nhật Bản nên đã xây chùa theo phong cách này. 
 
 
Vào những buổi sớm mai mây tràn dần về phủ khắp núi rừng, những tia nắng xuyên qua tạo nên bức tranh thiên nhiên kỳ ảo.
 
 
Nhìn về phía xa, mây như tràn về thung lũng. 
 
 
Mỗi 6h, khi mặt trời vừa nhô lên, sư thầy Pháp Thạnh bắt đầu thay y phục và chuẩn bị cho buổi kinh sớm.
 
 
Trước khi đọc kinh thầy luôn lau bụi bẩn trên ngôi tượng Phật Thích Ca, biểu thị lòng thành kính.
 
 
Sau đó, thầy niệm kinh trước cửa Quán Chiếu đường
 
 
Thầy dành nửa tiếng để tĩnh tâm và đọc kinh.
 
 
Sau buổi kinh sáng, thầy ra gác chuông để gióng những hồi chuông sớm.
 
 
Tiếng chuông vang vọng khắp núi rừng báo hiệu một ngày mới bình yên.
 
 
Cây cổ thụ trên đồi trước chùa là nơi các sư thầy chọn để tu thiền mỗi sáng sớm.
 
 
Thường sư trụ trì Minh Thành sẽ có những buổi thuyết giảng tại đây cho các đệ tử.
 
 
Tiếng kinh hòa cùng không gian bồng bềnh của sớm mai khiến lòng người tĩnh lặng rũ bỏ mọi ưu phiền.
 
 
Một vài sư thầy lại chọn cách tịnh thiền một mình trên các mỏm đá. 
 
 
Hiện nay Linh Sơn Pháp Ấn là nơi yêu thích bậc nhất của các bạn trẻ ưa khám phá khi đến với khu vực Tây Nguyên nói chung hay Bảo Lộc nói riêng. Trong thời gian tới chùa sẽ tiếp tục được mở rộng và xây dựng cao hơn theo hình bảo liên đăng. Ảnh:Hoàng Đức.
 
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Nét Đẹp

Vẻ đẹp của tuổi thanh xuân đến từ ngoại hình, vẻ đẹp của tuổi trung niên đến từ kinh nghiệm, vẻ đẹp của tuổilão niên đến từ khí chất và tâm hồn
 
Vậy thì, làm thế nào để hình thành khí chất, để dưỡng được tâm hồn?
 
Xinh đẹp là một cuộc chạy bộ đường dài, đó không phải là điều thuộc về giai đoạn tuổi tác nào mà là toàn bộ đời người.
 
Trên hành trình cuộc đời, 20 tuổi là sống với thanh xuân, 30 tuổi là sống cùng sự nghiệp, 40 tuổi thì sống bằng trí tuệ, 50 tuổi sống một cách thản nhiên, 60 tuổi sống ung dung tự tại, còn 70, 80 tuổi sống với khi chất và tâm hồn, bảo vật vô giá.  Dù cho có già đi, đầu tóc có bạc trắng, dung nhan đã xế chiều, thì cũng phải giữ vững phần đẹp đẽ nhất sâu thẳm trong tâm hồn.
 
Bạn và tôi đều biết rằng, lão hoá là điều không thể tránh khỏi của đời người. Nhưng trên con đường trở nên già đi ấy, có người sống thật mệt mỏi, già nua, có người lại sống rất thảnh thơi, bình thản, tóc bạc da mồi mà vẫn mang khí chất ung dung.
 
Vậy thì, nếu muốn sống một cách ung dung thoải mái, và nếu muốn dưỡng khí chất của tuổi già, chúng ta cần có:
 
Một thái độ giữ vững vẻ đẹp
Con người ta không thể lựa chọn tướng mạo. Tướng mạo trời ban ấy có thể khiến bạn “xinh” trong mắt ai đó, nhưng không thể quyết định bạn có trở thành một người “đẹp” hay không.
 
Vẻ đẹp là một loại thái độ, cũng là một sự lựa chọn. Không kể bao nhiêu tuổi, chúng ta đều cần phải giữ gìn thân hình tao nhã, ăn mặc khéo léo, trang điểm phù hợp. Đây vừa là tôn trọng bản thân, cũng là tôn trọng mọi người.
 
Một quá trình tu dưỡng tinh thần
Vẻ đẹp của tuổi thanh xuân đến từ ngoại hình, vẻ đẹp của tuổi trung niên đến từ trải nghiệm, nhưng vẻ đẹp của tuổi lão niên lại đến từ khí chất và tâm hồn. Khí chất ấy bắt nguồn từ quá trình tu dưỡng, từ việc tu tâm dưỡng tính mà trở nên đoan trang, mẫu mực, phong thái chính trực, đường hoàng.
 
Con người không thể lựa chọn ngoại hình, nhưng hoàn toàn có thể dưỡng thành nên khí chất. Chỉ cần có thể bồi dưỡng tính tình, bồi dưỡng nhân cách, làm dịu tâm hồn, thì bất cứ ai cũng có thể tu được vẻ đẹp, dưỡng được tinh thần.
 
Một trái tim luôn thiện đãi chính mình
Dù bận trăm công nghìn việc, hãy lưu lại một chút thời gian cho bản thân. Nếu như bạn không thể yêu thương chính mình, thì còn trông mong ai sẽ đối tốt với bạn đây? Đã yêu thương bản thân thì lại càng yêu thương người khác, hãy để bản thân tràn đầy hào quang của lòng thiện.
 
Một loại vận động giữ gìn sức khỏe
Trong 100 phút của đời người, sức khỏe đứng ở vị trí hàng đầu. Không có sức khỏe thì cũng không thể làm được bất cứ điều gì. Làm người, thì không thể nửa đời trước dùng cả mạng sống để kiếm tiền, nửa đời sau dùng toàn bộ tiền bạc để mua lại mạng sống.
 

alt
Trong 100 phút của đời người, sức khỏe chính là số 1 đứng ở vị trí ban đầu. 


Giữa thế sự xô bồ, hãy dành một chút thời gian để lắng lại và sống cho chính mình. Một chút vận động để giữ gìn sức khoẻ, cũng là cách để cảm nhận vẻ đẹp và yên bình của đất trời.
 
Một phần thanh cao đạm bạc
Đến độ tuổi lão niên, họ đã không cần phải hăng hái phấn đấu như thời son trẻ nữa, cũng đã xem nhẹ những thủ đoạn dối trá lừa gạt và mưu mô toan tính kia. Thế gian ồn ào sôi nổi, thì hãy cứ mặc cho họ sôi nổi ồn ào.
 
Thiện Sinh
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Những di sản văn hóa và kiến trúc cổ nhất ở Sàigòn..

  01. Ngôi trường xưa nhất
 

Trường Lê Quý Đôn được xây vào năm 1874, hoàn tất năm 1877 do người Pháp quản lý. Lúc đầu trường có tên Collège Indigène (Trung học bản xứ), rồi đổi thành Collège Chasseloup Laubat. Năm 1954, trường mang tên Jean Jacques Rousseau. Năm 1967, trường được trả cho người Việt quản lý mang tên Trung tâm giáo dục Lê Quý Đôn. Từ năm 1975 đến nay đổi tên là trường Trung học phổ thông Lê Quý Đôn. Hơn một thế kỷ qua trường vẫn giữ được kiến trúc ban đầu.
02.Nhà máy điện xưa nhất

Nhà máy điện Chợ Quán được xây vào năm 1896, máy phát điện chạy bằng hơi nước có 5 lò hơi với 150m2, cung cấp dòng điện 3 pha, công suất chưa tới 120MW[Megawatt]. Máy phát điện chính công suất 1000A/h [A=Ampere hay Amp./h=hour].Hiện nay, nhà máy đã được trang bị hiện đại với 7 máy phát điện, hòa với lưới điện quốc gia cung ứng phần quan trọng cho lưới điện thành phố. Nhà máy tọa lạc tại số 8 Bến Hàm Tử, quận 5.
 
03. Bệnh viện xưa nhất
         
Bệnh viện Chợ Quán được xây vào năm 1826 do một số nhà hảo tâm đóng góp, sau đó hiến cho nhà nước. Năm 1954-1957 [Bệnh viện được] giao cho Quân đội và đổi tên thành Viện Bài lao Ngô Quyền. Năm 1974, đổi thành Trung tâm Y tế Hàn-Việt với 522 giường. Tháng 9/1975, mang tên Bệnh viện Chợ Quán. Đến ngày 5/9/1989 chuyển thành Trung tâm Bệnh Nhiệt đới. Hiện nay có 610 Cán bộ-Công nhân viên và 550 giường bệnh.
                            04. Nhà hát xưa nhất
                           
Nhà hát thành phố do kiến trúc sư người Pháp khởi công và hoàn tất vào ngày 17/1/1900. Các phù điêu bên trong được một họa sĩ tên tuổi ở Pháp vẽ giống như mẫu của các nhà hát ở Pháp cuối thế kỷ XIX. Nhà hát là nơi trình diễn ca nhạc kịch cho Pháp kiều xem. Năm 1956-1975, Nhà hát được dùng làm trụ sở Hạ nghị viện cho các chính phủ Đệ I & II Việt Nam Cộng Hòa; tháng 5/1975 trở thành Nhà hát thành phố với 750 chỗ ngồi. Kỷ niệm 300 năm Sài Gòn, toàn bộ phần kiến trúc bên ngoài Nhà hát đã được tu sửa lại như lúc nguyên thủy.
                          05. Khách sạn xưa nhất
Khách sạn Continental tọa lạc tại 132-134 Đồng Khởi, được xây vào năm 1880 do Kiến trúc sư người Pháp thiết kế, tên khách sạn có ngay từ những ngày đầu. Sau ngày cướp được miền Nam, khách sạn Continental bị Bắc Việt đổi thành Hải Âu. Đến năm 1989, khách sạn được nâng cấp, chỉnh trang và lấy lại tên cũ Continental với diện tích 3430m2, cao 3 tầng, nơi đây đã từng đón tiếp các vị tổng thống, thống đốc, nhà văn, người mẫu nổi tiếng. Ngày nay, khách sạn Continental là một trong những khách sạn đạt tiêu chuẩn quốc tế.
                         06. Nhà thờ xưa nhất
                            
Nhà thờ Chợ Quán tọa lạc tại số 20 Trần Bình Trọng, P.2 [phường], Q.5 [quận] được xây vào năm 1674 là nhà thờ cổ nhất tại Sàigòn và cổ nhất ở miền Nam. Ngôi thánh đường nằm ở vị trí trung tâm, có kiến trúc kiểu phương Tây, lợp ngói đỏ, có thể chứa khoảng 1000 người. Ngoài việc sinh hoạt tôn giáo, Họ đạo Chợ Quán tích cực tham gia công tác xã hội giúp đỡ người nghèo. Trải qua hơn 3 thế kỷ Nhà thờ Chợ Quán đã được trùng tu nhiều lần. Hiện nay, nơi đây có phòng khám và phát thuốc từ thiện dưới quyền quản lý của Hội Chữ thập đỏ [Hội Hồng Thập Tự] Quận 5.
                           07. Ngôi đình xưa nhất
                
Một trong những ngôi đình cổ nhất của đất Gia Định xưa và xưa nhất Nam Bộ là đình Thông Tây Hội, được xây vào khoảng năm 1679, là chứng tích còn nguyên vẹn nhất của thời kỳ dân Ngũ Quảng kéo vào khai khẩn vùng Gò đất có nhiều cây Vắp (từ đó trở thành tên địa phương là Gò Vấp). Đình lúc đầu là của thôn Hạnh Thông–thôn khởi nguyên của Gò Vấp, sau đổi thành Thông Tây Hội (do sự sáp nhập của thôn Hạnh Thông Tây (thôn Mới) và (thôn An Hội). Đình Thông Tây Hội có vị Thành Hoàng rất độc đáo. Hai vị thần thờ ở đình là hai hoàng tử con vua Lý Thái Tổ, do tranh ngôi với thái tử Vũ Đức nên bị đày đi khai hoang ở vùng cực Nam tổ quốc và trở thành “Thủy tổ khai hoang” trong lịch sử Việt Nam; hai vị thần đó là: Đông Chinh Vương và Dục Thánh Vương. Ngôi đình còn giữ được khá nguyên vẹn về quy mô và kiến trúc, kết cấu, với những chạm khắc đặc trưng Nam bộ. Đình Thông Tây Hội thuộc P.11, Gò Vấp.
                         08. Nhà văn hóa xưa nhất
           
Cung Văn hóa Lao Động. Năm 1866, với tên gọi Cèrcle Sportif Saigonnais được xây dựng làm sân thể thao cho các quan chức người Pháp với những hồ bơi, sân quần vợt, phòng đấu kiếm và phòng nhảy đầm. Thời Mỹ chiếm đóng, sân chơi được mở rộng hơn [và] phục vụ cho cả giới quý tộc. Tháng 11/1975, Ủy ban Quân quản Sàigòn–Gia Định trao toàn bộ khu này cho Liên đoàn Lao động Thành phố để biến cải thành khu hoạt động văn hóa thể thao và vui chơi giải trí cho công nhân lao động, lấy tên là Câu lạc bộ Lao Động, sau đổi thành Nhà văn hóa Lao Động, và rồi là Cung Văn hóa Lao Động. Diện tích 2.8ha, với 132 năm hình thành và phát triển, Cung Văn hóa Lao Động là Nhà văn hóa cổ và lớn nhất của Sàigòn.
                         09. Công viên lâu đời nhất
          
Thảo Cầm Viên do người Pháp xây vào năm 1864, nhà thực vật học nổi tiếng người Pháp Louis Pierre làm giám đốc đầu tiên. Mục đích xây dựng Thảo Cầm Viên để ươm cây giống trồng dọc các đại lộ Sàigòn, đồng thời là nơi nuôi & trồng những động & thực vật [thuộc] miền nhiệt đới mà các Thảo Cầm Viên của Pháp [lúc bấy giờ] chưa có. Năm 1865, chính phủ Nhật đã hỗ trợ khoảng 900 giống cây quý như: Chizgnamat, Goyamtz, Acamatz, Coramatz, Kayanoki, Kayamaki, Enoki, Maiki, Asoumaro, Sengni, Momi, Cashi, Kiaki, Inoki… Động vật của Thảo Cầm Viên khá phong phú như: gà lôi, sếu, cu gáy, hồng hoàng, công, hưu, nai, cọp, khỉ, chồn hương, tắc kè, rùa, cọp xám, báo đen, gà lôi xanh, chim cú lợn… Đến năm 1989, Thảo Cầm Viên được trùng tu, mở rộng và nhận thêm nhiều giống thú mới, trồng thêm cây quý. Hiện nay, có 600 đầu thú thuộc 120 loài, 1823 cây gỗ thuộc 260 loài và nhiều loại cây kiểng quý trên diện tích 21.352m2. Năm 1990, Thảo Cầm Viên là thành viên chính thức của Hiệp hội các vườn thú Đông Nam Á. Thảo Cầm Viên đã tròn 134 tuổi, số lượng động & thực vật ngày càng tăng, nơi đây đã gắn bó với từng bước đi lên của thành phố và là một trong những công viên khoa học lớn nhất Đông Dương.
                            10. Ngôi nhà xưa nhất
                  
Ngôi nhà có tuổi thọ lâu đời nhất còn hiện diện tại Sàigòn nằm trong khuôn viên Tòa Tổng Giám Mục Sàigòn, số 180 Nguyễn Đình Chiểu, P.6, Q.3. Năm 1790, Vua Gia Long cho cất ngôi nhà này ở gần Rạch Thị Nghè làm nơi ở cho Linh Mục Bá-Đa-Lộc và làm nơi dạy học cho Hoàng tử Cảnh. Ngôi nhà được xây bên bờ sông Thị Nghè trong địa phận Thảo Cầm Viên bây giờ. Năm 1799, Bá-Đa-Lộc chết, ngôi nhà được giao cho linh mục khác. Từ năm 1811 đến năm 1864 ngôi nhà bị đóng cửa vì chính sách cấm đạo của triều đình Huế. Sau khi vua Tự Đức ký hòa ước với Pháp, ngôi nhà được trao lại cho Tòa Giám Mục và được di chuyển về vị trí đường Alexandre de Rhodes hiện nay. 
Sau đó năm 1900 Tòa Giám Mục được xây cất tại 180 đường Richaud (nay là đường Nguyễn Đình Chiểu) thì ngôi nhà gỗ lại được dời về đây làm nhà thờ của Tòa Giám Mục. Ngôi nhà 3 gian 2 chái, lợp ngói âm dương, sườn, cột bằng gỗ, khung cửa và các khung thờ đều được chạm trổ công phu [với] hình hoa, lá, chim thú, hoa văn. Trong các di vật còn lại của ngôi nhà có một di vật có giá trị lịch sử lớn, đó là đôi liễn gỗ có tám chữ triện khảm xà cừ là tám chữ vua Gia Long ban tặng giám mục Bá-Đa-Lộc, một bên là “Tứ Kỳ Thịnh Hy”, một bên là “Thần Chi Cách Tư”.
Ngôi nhà được tu sửa vào năm 1980, cách tu sửa có tính chất vá víu, cốt giữ lại những gì có thể giữ được. Trải qua hai thế kỷ ngôi nhà không giữ được nguyên trạng nhưng đây là một di tích kiến trúc mang dấu ấn lịch sử, tôn giáo và văn hóa nghệ thuật. Đây là một tài sản có giá trị mà các bậc tiền nhân đã để lại cho chúng ta, không chỉ là truyền thống – bản sắc dân tộc mà còn là bộ mặt quá khứ mang tính văn hóa kiến trúc, một khía cạnh văn minh tại một vùng đất mới mọc lên từ đầm lầy, kênh rạch.
                               11. Ngôi chùa xưa nhất
Ngôi chùa có cảnh trí đẹp nhưng nằm ở địa điểm không tiện đi lại nên được ít người biết đến, [đó] là chùa Huê Nghiêm, tọa lạc ở 20/8 Đặng Văn Bi, Thủ Đức. Chùa được thành lập năm 1721 do Tổ Thiệt Thùy (Tánh Tường) khai sáng. Tên chùa lấy từ tên bộ kinh Hoa Nghiêm. Đây là chùa cổ xưa nhất trong các chùa ở TP Sàigòn nên còn gọi là Huê Nghiêm Cổ Tự. Những ngày đầu là một ngôi chùa nhỏ được xây cất trên vùng đất thấp cách địa thế chùa hiện nay khoảng 100m. Sau đó, Phật tử Nguyễn Thị Hiên pháp danh Liễu Đạo cúng đất để xây lại ngôi chùa rộng rãi khang trang như hiện nay. 
Qua nhiều lần trùng tu vào các năm 1960, 1969, 1990 mặt tiền chùa ngày nay mang dáng vẻ kiến trúc của chùa hiện đại nhưng các gian phía trong vẫn giữ nguyên kiến trúc cổ truyền, mái gian mặt tiền được cấu trúc gồm 3 lớp, nhỏ dần về phía trên. Các đường gờ mái chạy dài xuống cuối đầu đăng đều trang trí bằng hoa văn hình cánh sen đối xứng, giữa là hình bánh xe luân pháp, đặt trên hoa sen. Mái lợp ngói ống màu đỏ, đường viền mái ngói màu xanh. 
Vườn chùa có nhiều cây xanh bóng mát, có 9 ngôi tháp cổ với nhiều kiểu dáng khác nhau như những cánh sen vươn lên. Những hàng cột gỗ trong chùa được khắc nổi các câu đối bằng chữ Hán màu đen kết hợp với việc chạm khắc mô típ “long ẩn vân”dùng trang trí.
Chùa Huê Nghiêm là một di tích Phật giáo quan trọng, là nơi dừng chân, sống đạo và hành đạo của nhiều vị danh tăng uyên thâm Phật pháp, có đạo hạnh và có đạo đức. Chùa cũng là bằng chứng về trình độ kiến trúc và phong tục tập quán của người Việt trên vùng đất mới khai phá, mở ra nền văn minh trên vùng đất hoang sơ.
                 12. Đường sắt đầu tiên ở thành phố
                
Tuyến đường sắt đầu tiên ở nước ta là đoạn đường sắt Sàigòn–Mỹ Tho dài 71km, được xây vào năm 1881. Ga chính trước chợ Bến Thành, văn phòng đường sắt là tòa nhà 2 tầng chiếm cả khu đất bao bọc bởi ba đường Hàm Nghi–Huỳnh Thúc Kháng–Nam Kỳ Khởi Nghĩa, nay là Xí nghiệp Liên hợp đường sắt khu vực 3. Xe lửa chạy bằng máy hơi nước phải dùng than củi đốt nồi súp-de nên xe chạy khá chậm. Vì không cạnh tranh nổi với xe đò trong việc chuyên chở hàng hóa và hành khách, đường xe lửa Sàigòn–Mỹ Tho đã ngưng hoạt động từ lâu. Sau năm 1975, Ga xe lửa Sàigòn được dời về Ga Hòa Hưng. Vào ngày 8/8/1998, người ta khởi công xây cất Trung Tâm Văn Hóa Thương Mại Sàigòn trên nền Ga Sàgòn cũ.
13. Người Việt đầu tiên viết sử Việt Nam bằng tiếng Pháp
                                         
Ông Trương Vĩnh Ký (1837-1898). Năm 1859, Pháo hạm Pháp bắn vào cửa biển Đà Nẵng và thành cũ Gia Định, triều đình nhà Nguyễn bắt buộc chấp nhận mở cửa đất nước cho tư bản thực dân Pháp xâm nhập. Trong giai đoạn lịch sử mới, người Việt Nam từng bước tiếp xúc với ngôn ngữ và văn minh mới. Trương Vĩnh Ký là một trong những người sớm tiếp xúc và hấp thụ ngôn ngữ văn hóa phương Tây đã trở thành học giả có nhiều sáng tác nhất bằng cả tiếng Pháp và tiếng Hán–Việt. Ông là người Việt Nam đầu tiên viết sử Việt Nam bằng tiếng Pháp. Cuốn “Giáo trình lịch sử An Nam”đã được xuất bản gồm hai tập dày 462 trang. Đây thực sự là một công trình bác học biên soạn công phu dưới ánh sáng của một phương pháp luận khoa học tiến bộ so với đương thời.
14. Tờ báo bằng chữ Quốc Ngữ đầu tiên
                                   
Tờ “Gia Định Báo” là tờ báo chữ Quốc ngữ đầu tiên ở nước ta ra đời tháng 4/1865. Tờ báo đăng những thông tin nghị định của nhà nước và những tin kinh tế xã hội, lời bàn về thời cuộc, luân lý, lịch sử. Báo ra hằng tháng. Sau 4 năm phát hành, chính quyền thuộc địa cho phép báo phát hành hàng tuần bằng quyết định số 51 ngày 18/3/1869.
15. Tờ báo đầu tiên của Phụ nữ Việt Nam
                                      
Ngày 1/2/1918 tờ báo chuyên về Phụ nữ đầu tiên ra đời là tờ “Nữ Giới Chung” nhằm nâng cao trí thức, khuyến khích công-nông-thương, đề cao người Phụ nữ trong xã hội, chú trọng đến việc dạy đức hạnh, nữ công, phê phán những ràng buộc đối với Phụ nữ, đánh đổ mê tín dị đoan, động viên Phụ nữ quan tâm đến việc “Nữ quyền”. Muốn có vị trí ngang hàng với nam giới ngoài việc tề gia nội trợ phải am hiểu “tình trong thế ngoài”.
Chủ bút tờ báo là nữ sĩ Sương Nguyệt Anh, con gái nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu, vốn có lòng yêu nước, yêu thương đồng bào như thân phụ nên khi làm báo Bà có ý muốn làm diễn đàn để tỉnh thức lòng yêu nước trong dân chúng. Tuy chỉ tồn tại được hơn 6 tháng nhưng “Nữ Giới Chung” cũng đã gióng lên một hồi chuông nữ quyền còn vang mãi đến ngày nay.
               16. Cuốn từ điển tiếng Việt đầu tiên
                   
“Đại Nam Quốc Âm Tự Vị” là cuốn từ điển tiếng Việt quốc ngữ La-tinh của Huỳnh Tịnh Của gồm hai tập: Tập I xuất bản năm 1895, tập II xuất bản 1896 tại Sàigòn. Bộ từ điển chứa nhiều từ ngữ xưa, thành ngữ, tục ngữ, từ ngữ về thảo mộc, cầm thú của Việt Nam và của miền Nam. Bộ từ điển này trở thành Từ điển Bách khoa toàn thư đầu tiên về Nam Bộ.
     17. Người kiến trúc sư Việt Nam đầu tiên
                                           
Ông Nguyễn Trường Tộ (1828-1871) người làng Bùi Chu, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Gia đình ông theo đạo Thiên Chúa, ông giỏi chữ Nho, thông hiểu Ngũ Kinh Tứ Thư, học chữ Quốc ngữ và chữ Pháp với các giáo sĩ. Ông được giám mục Gauthier đưa sang Paris năm 1858. Ông am hiểu chính trị, kinh tế, quân sự, ngoại giao, pháp luật. Năm 1861 ông trở về nước, tàu ghé Sài Gòn thì nơi đây đã đổi chủ, ông buộc phải làm phiên dịch cho người Pháp.
Trong lúc ở Sàigòn, ông đã đứng ra xây cất tu viện dòng thánh Phao-lô (số 4 Tôn Đức Thắng). Đây là công trình xây cất theo kiến trúc Châu Âu do người Việt Nam thực hiện tại Sàigòn. Công trình được khởi công từ tháng 9/1862 đến 18/7/1864 hoàn thành gồm nhà nguyện với ngọn tháp nổi bật trên cao xây theo kiểu Gô-thic, một tu viện, một nhà nuôi trẻ mồ côi và một tháp chuông. Công trình xây cất này là kết quả nghiên cứu kiến trúc châu Âu của Nguyễn Trường Tộ khi ông ở Hồng Kông. Qua nhiều lần sửa chữa trùng tu, ngày nay tu viện thánh Phao-Lô vẫn giữ được đường nét kiến trúc xưa, chứng tỏ tài năng kiến trúc của Nguyễn Trường Tộ không thua gì các kiến trúc sư người Pháp.
18. Người Việt Nam đầu tiên vẽ bản đồ địa lý và đồ họa Sài Gòn theo phương pháp phương Tây
Ông Trần Văn Học, sinh quán ở Bình Dương, giỏi Quốc ngữ, La-tinh và tiếng Tây Dương, được giới thiệu làm thông ngôn cho Nguyễn Ánh. Ông phụ trách việc dịch sách kỹ thuật phương Tây, đồng thời kiêm việc chế tạo hỏa xa, địa lôi và các loại binh khí. Năm 1790, Nguyễn Ánh xây thành Bát Quái. Trần Văn Học phụ trách “phác họa đường sá và phân khu phố phường”.
Ông rất có tài vẽ địa đồ, họa đồ và kỹ thuật bản đồ như: tỷ lệ, trắc địa, và vẽ gần như chính xác các thành trì và công trình. Ông được coi [như là] người đầu tiên vẽ bản đồ Sàigòn-Gia Định theo phương pháp Tây phương.
Bản đồ Gia Định – Sàigòn – Bến Nghé do Trần Văn Học vẽ 1815. Khu vực trong và ngoài thành Bát Quái (Phiên An – trung tâm tâm đô thị Sàigòn) là những con đường ngang dọc vuông vức mà hiện chúng ta đang đi. Từ hai thành Phiên An, Gia Định, các trục lộ chính tỏa bốn hướng giờ vẫn còn: Hai Bà Trưng (giữa thành, qua Phú Nhuận, xuống Gò Vấp và quay lại thành), đường Nguyễn Trãi (đi Chợ Lớn), đường Nguyễn Thị Minh Khai (bên trái thành đi miền Tây, phải thành đi miền Đông, ra xa lộ Hànội, QL1), Cách Mạng Tháng 8 (đi Campuchia), Nguyễn Tất Thành (đi Q.7, Nhà Bè, Cần Giờ).
Kim Phượng sưu tầm
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Chỉ Có Văn và Nhạc ! Chỉ có Đời Sống và Tình Yêu! Cám Ơn – Merci Jean d’O & Johnny.

TS.Phan Văn Song
 
Đôi lời xin lỗi :

Nói đến văn, nói đến nhạc, là nói đến sở thích của mỗi con người, là ít nhiều bắt buộc, phải kể đến cái cá nhơn, khi nói đến cái ý thích, cái sở thích, cái « goût » của mỗi con người, không ai giống ai, có giống chăng, là do sự tình cờ, do cùng « yêu » cái độc đáo, cái riêng biệt của mỗi tài tử, mỗi nhà văn, nhạc sĩ, ca sĩ… Người viết chúng tôi, xin phép, và xin tất cả quý thân hữu tha thứ, nếu quý vị thấy bực mình, vì tôi sẽ kể chuyện về tôi rất nhiều … Nếu hợp « goût » nhau, xin chia sẻ, trao tặng nhau một nụ cười, hề hà với nhau… nếu không chia sẻ với nhau được xin quý vị rộng lượng, tha thứ cho !

Hôm nay, xin phép, bỏ qua tất cả, những thời sự, quê nhà, quốc tế, chiến tranh xa gần, thật giả, cả bom nguyên tử, cả thời lẫn tiết nắng hạn, tuyết rơi, bão lụt… Xin phép … bỏ ngoài tai tất cả ! Hôm nay, xin phép kể chuyện thời xưa, thời của những năm cuối những năm ‘50, đầu những năm ‘60 ;  thời cái tuổi mới lớn của thế hệ chúng tôi và chúng ta ; thế hệ nay cùng lứa, « già 7 bó, non 8 bó » !

 

Tuần qua nước Pháp đầy văn hóa bổng mất hai nghệ sĩ khổng lồ, hai cây cổ thụ. Kẻ nhà văn, người ca sỉ : Hàn lâm Viện sĩ Jean d’Ormesson, nhà văn 92 tuổi với gần 40 tác phẩm và Johnny Hallyday, 74 tuổi ca sĩ, cũng với 50 tuyển phẩm với hàng ngàn bản nhạc.

Nếu Jean d’Ormesson thuộc thế hệ trước của người viết, sanh năm 1925, thì Johnny Hallyday, lại cùng thế hệ, sanh năm 1943. Cả hai đều sanh vào tháng 6, tháng Juin – cùng tháng với ông Cụ người viết – kẻ, cùng ngày 15 – Johnny ; người, sau một ngày – Jean D’O, ngày 16. Nhưng Jean d’Ormesson lại chết ngày 5 tháng 12 nầy, sanh sau một ngày, lại chết trước một ngày, Johnny ra đi ngày 6 tháng 12. Và ông Cụ tôi cũng ra đi tháng 12 (ngày 15 năm 1967, tại Sài gòn).

Thật là một ngẩu nhiên, trùng hợp kỳ lạ, thât là những tình cờ của cuộc đời !

Có lẽ vì thế, thằng tôi có duyên, thích mến đọc sách Jean d’Ormesson và thích và mê nghe nhạc do Johnny hát. Thật tình, tôi cũng chẳng khác gì ai cả, cũng như bao nhiêu người khác thôi. Cũng cùng thuộc thế hệ thanh niên, thanh nữ lớn lên trong những năm bản lề của sau thời kỳ thế giới vực dậy sau Thế Chiến II, với những « năm ‘60  đầy Sự Sống và nhiều Tình Yêu » của thế hệ chúng tôi và chúng ta đó thôi !

Vì những thế hệ trước « thế hệ ‘60 chúng ta », âu tây hay á đông gì cũng thế, thường « bị » giáo dục  gia đình, thủ tục xã hội, gò bó : Sống theo ý gia đình, nhơn danh truyền thống hàng xóm láng giềng đất nước tổ tiên ; Yêu cũng theo ý cha mẹ, trầu cau dạm ngõ, cân đo, gia đình phải môn đăng, hộ đối , cũng nhơn danh truyền thống tổ tiên, văn hóa đất nước!

 

Và cả hai nghệ sĩ, kẻ viết văn, người ca nhạc đều ca tụng « cuộc Sống đầy Sự Sống tự do », và những « cuộc Tình đầy Chất Yêu tự do ». Hai vế chánh của cuộc Đời !

Cả hai đều được người viết, thằng tôi ngưởng mộ và mê thích.

 

1 / Jean d’Ormesson : Chúng ta đang mất đi Một Ánh sáng – 


 

une clarté qui nous manquera et nous manque déjà.(điếu văn của Tổng Thống Pháp E. Macron)

Người viết, có cái may mắn, đã được đọc sách d’Ormesson thuở chơn ướt chơn ráo đến đất Pháp.  Tháng 11/ 1961, đến Paris, để nhập học Viện Chánh trị Học, đã may mắn được dịp, đọc ngay, trong những ngày đầu bở ngở ấy, cuốn sách đầu tay của ông. Khi viết những giòng nầy, hồi tưởng cuộc gặp gở với cuốn tiểu thuyết « L’amour est un plaisir – Tình yêu là là một lạc thú »– Nxb Juillard 1956 đó. Ngay tủ sách của nhà trọ, đường Henri Barbusse, tỉnh Clichy, ngoại ô Bắc Paris. Lúc ấy trạm métro cuối cùng – terminus, là Porte de Clichy, phải lội bộ hay đi xe bus – 1 trạm – để về nhà trọ, là nhà của một người bạn của ông bà Cụ, chú Đoàn Xứng ; lúc ấy tùng sự tại Sứ quán Việt Nam Cộng Hòa, số 45, avenue des Villiers, quận 15, Paris.Thím Simone, vợ Chú Xứng là người Pháp, Giáo Viên, nên nhà đầy sách. Gặp Jean d’Ormesson vì tình cờ, hay duyên số ? Nhưng đọc, vì tò mò, chỉ vì đã nghe tên ông, qua lời khen của thầy Bornecque – dạy Pháp Văn – Français, lớp – classe de Première M1, năm thi Tú tài Bac 1, 1960, Lycée Yersin Dalat, nhưng không có dịp đọc, vì không tìm ra sách.

Thật sự, đọc Jean d’Ormesson, lúc ấy, đúng hơn, chỉ muốn để so sánh với Françoise Sagan, nữ văn sĩ đang lên, đã được, thằng tui, người viết (và nhiều bạn cùng lứa, cùng thời) đã đọc say mê. Với cái tuổi mới lớn đầy mơ mộng, với cái thời trung học tại một trường Pháp dạy phải lắm tò mò học hỏi, với cái không khí  đầy lãng mạng của Dalat ; mê văn Sagan, mê tiếng hát Dalila (với bài Bambino), mê tài tử James Dean, mê nhạc Rock, mê jazz, mê Be bop …  với nào Be bop a Lula, với nào Blue Berry Hill gần như là chuyện bình thường, chuyện của thời đại – Thuở ấy, khoảng những năm 58, 59, 60, Việt Nam thanh bình, tuổi trẻ, giới học trò mới lớn của đám Yersin Dalat chúng tôi, thực sự sống xa thực tế, mơ mộng với sách vỡ, ảo tưởng, văn chương âm nhạc… ngoại quốc, Pháp, Mỹ …  đứa nào cũng ca tụng, cũng mê sống như Françoise Sagan, giống cuốn tiểu thuyết đầu tay của nàng. Sách pháp được truyền tay nhau đọc, … nhạc Mỹ bu đầu nhau nghe. Ngày ngày, ngoài cái học trường, thì chỉ bắt chước học đời. Học chữ đã đành, học suy nghĩ dĩ nhiên, nay thêm học chưn diện, học chải chuốc, học ăn, học uống, học yêu, học sống …và học nhảy đầm… Mẫu, modèle là những tài từ phim, tây mỹ….Thằng tôi tuy còn nhỏ, chưa đầy 17 tuổi, học cở Seconde-Đệ tam, đã bắt đầu, bắt chước Sagan, thèm những cuộc tình « vượt biên giới » – bạn gái cùng lứa tuổi, đều chê là choai choai, xem như đàn em, con nít, chỉ thích được « các chị » thương thôi ! – Các nàng chắc cũng vậy, xem tụi tui là con nít luôn – kết luận suốt ngày « cu ky, và cũng trồng cây si » – dáng tóc phồng, đầu gục, vai rút, suốt ngày thất tình, kiểu James Dean !

(Hồi tưởng lại, dạo ấy, được xem có cả hai phim tạo bởi  hai cuốn tiểu thuyết của thiên tài Françoise Sagan, chiếu ở rạp Ngọc Lan Dalat. Nay nhớ rõ phim Buồn ơi, chào mi – Bonjour Tristesse do Jean Seberg và David Niven thủ vai chánh và còn phim  Un certain sourire – A certain smile, quên nội dung tuồng chỉ nhớ bài ca với giọng ca Johnny Mathis diễn tả, rầu đứt ruột : « A certain smile, a certain face. Can lead an unsuspecting heart on a merry chase …. »

Đọc sách ấy, trong những ngày đầu Paris đó, vì khi nhìn thấy sách nầy, tại tủ sách của Thím Simone, bèn nhớ lại, tác giả Jean d’Ormesson đươc giới thiệu bởi nxb Juillard, như là một Françoise Sagan thứ hai. Ngày nay, với kỷ niệm, quên hẳn nội dung sách, mại mại ấn tượng mơ hồ  rằng không bằng Sagan, nhưng chắc khá hấp dẫn vì, theo trí nhớ, đã tìm đọc, suốt thời gian ấy, ở Paris và sau đó khi về Toulouse, năm sau đọc, những cuốn tiếp theo như « Un amour pour rien – một cuộc tình vô tích sự » hay « Du côté de chez Jean – bên lề cuộc đời Jean »… Sau đó, một phần bận bịu với gia đình, vợ con, vừa đi làm, vừa phải soạn luận án. Tiếp theo đó, trở về Sài gòn phục vụ đất nước, rồi thân phận cá nhơn, cũng như toàn dân miền Nam đất Việt chúng ta, cùng nổi lẫn trôi theo vận nước ; nước mất, nhà tan, người người tứ tán… Riêng thằng tôi, 4 năm tù tội xong, hết tỵ nạn, đến lang thang, tha phương cầu thực, lúc lên voi, làm « giám đốc thuê » châu Phi phè phởn, khi xuống chó, đi « bán mướn » lội khắp châu Âu …, lúc lên hương, đóng phim, tài tử, hào hoa hái bạc, lúc hết thời tạp hóa, quán ăn, sớm khuya bạc cắc từng xu, chắc chiu tằng tiện, độ nhựt kiếm cơm ; thằng tui, quên hẳn Jean d’Ormesson, và quên cả văn chương, tiểu thuyết, … chỉ biết cuộc sống và gia đình thôi !

Và khi thằng tôi trở lại với tiểu thuyết văn chương, với những truyện của Jean d’O – Jean d’Ormesson nay đã trở thành Jean d’O, tác giả đại thành công và đại nổi tiếng – tuổi đời thằng tui cũng đã khá cao rồi – xêm xêm trên dưới 60 – sóng đã lặn, gió đã ngừng  … và đã hưu trí tại Hồi Nhơn Sơn, nơi đất lành chim đậu, đã hơn hai thập niên ; hai thằng trai út đã vào Đại học, hai thằng trai lớn đã thành tài, đã là hai con chim vững cánh bay xa và lập riêng tổ ấm rồi !

Với Jean d’O, với tuổi già hưu trí của tôi, vì nay tôi đã hưởng đủ tinh túy đầy vị ngọt của đời, nên dễ dàng tìm được qua hương vị của giọng văn nhẹ nhàng ngọt ngào, yêu đời của ông, với nào là « Saveur du temps – Mùi vị của thời gian », với nào là « C’est l’amour que nous aimons – Chỉ có tình yêu là ta thích nhứt », hay « La Conversation – Cuộc Đàm thoại » hay … , nhưng cuốn tôi thích nhứt, vừa đọc xong cách đây một tháng « Je dirai malgré tout que cette vie fut belle – Cuối cùng, tôi khẳng định rằng cuộc sống bao giờ cũng đẹp ». Tôi yêu văn Jean d’O, là tôi yêu cái Sống trong văn chương của ông.

Con người Jean d’O rất bình dân. Mặc dù sanh trưởng « có giòng có giống », quý phái… với cái tên dài « dòng dọc » có chữ đuôi – de – thuôc về. Tên Jean d’O trọn vẹn là :  

Jean Bruno Wladimir François de Paule Lefèvre d’Ormesson.

Ông quả thật là đẻ bọc điều :

– Con nhà giàu : sanh, lớn ở lâu đài – Château Fargeau vùng Bourgogne Đông Nam Pháp ;

– Học giỏi : École Normale Supérieure – Đại học Sư phạm – tuy Cử nhơn Sử, nhưng quyết chí thi cho được Thạc sĩ Triết học – Agrégé de Philosophie ;

– Vợ đẹp : tuy lấy vợ trễ – vào năm ông đã 37 tuổi – nhưng « lọt vào hủ đường ».

– Ngày 2 avril 1962, ông lấy cô Françoise Béghin, sanh năm 1938, nhỏ hơn ông 13 tuổi, con gái út cưng, của Ferdinand Béghin, chủ nhựt tờ nhựt báo số một của nước Pháp tờ Figaro, và chủ Hảng đường (số một Pháp) Beghin-Say.

– Con ngoan : Cô gái duy nhứt Héloïse, nay là chủ nhơn một nhà xuất bản lớn ở Paris.

– Dù chỉ chủ nhiệm báo Figaro có 3 năm – 1974 đến 1977, nhưng ông vẫn tiếp tục  cộng tác cho báo nầy đến những năm gần đây, đến nỗi dư luận vẫn cho rằng Figaro là « tiếng nói » của Jean d’O.

Tôi thích Jean d’O, bởi cái tinh thần yêu nước (Pháp) của ông. Một tình yêu nước điềm đạm, ôn hòa, cởi mở. Tuy ủng hộ hướng chánh trị phái hữu, ủng hộ các vị Tổng thống phái hữu, nhưng ông là người cuối cùng được Tổng thống phái tả François Mitterand mời vào Viện Élysée ăn chia xẻ buổi cơm cuối cùng đời Tổng thống.

Xin trích một đoạn trong bài điếu văn  của Tổng thống Macron nói về Jean d’Ormesson :

« Có phải ông là người của Ánh sáng ?

Không một chổ nào, không một buổi thảo luận nào, không một cơ hội nào, đi đến đâu, ông đều mang ánh sáng đến đó. Và rõ ràng hơn nữa, ông mang sự yêu đời đến cho người chán nãn, và mang tương lai đến cho người tuyệt vọng  –

« Ne fut-il pas lui-même un être de clarté?Il n’était pas un lieu, pas une discussion, pas une circonstance, que sa présence n’illuminât. Il semblait fait pour donner aux mélancoliques le goût de vivre et aux pessimistes celui de l’avenir. »

Tóm lại, tôi ngưởng mộ  Jean d’O, do Jean d’Ormesson là một nhà văn, vừa được quần chúng – bình dân ưa chuộng, nhưng cũng được giới văn hoá – thượng lưu quý trọng. Bằng chứng, tác phẩm của ông được in trong Bộ sách La Pléiade  ( Chòm Sao Thất Đẩu ) một ấn bản đặc biệt của nhà xuất bản Gallimard dành cho những nhà văn có uy tín trên thế giới. Thường thường là những nhà văn đã qua đời, vì chỉ sau khi mất, tổng kết cuộc đời, mới tổng kết giá trị được sự nghiệp. Ông được nhập bọn Nhóm Sao Thất Đẩu nầy năm 2015. Đặc biệt với các nhà văn rất hiếm hoi – đứng đầu là André Gide, người đầu tiên (năm 1939) – mà các tác phẩm được in lúc còn sống – Tất cả chỉ 11 người tính đến năm 2011 với Milan Kundera. Ông nay là thứ 12 đó thôi !

2/ Jean d’O và Việt Nam Cộng Hòa chúng ta :

Giám đốc nhựt báo Le Figaro, năm 1975, ông đã cùng với Raymond Aron (1905-1983) tích cực bênh vực miền Nam Việt Nam, trong khi cả xứ Pháp cộng sản và thiên tả vỗ tay reo mừng Sàigòn và Pnompênh « bị » giải phóng, và phía phe hữu im lặng khóc thầm. Ngày nay, vẫn còn người nhắc nhở những cuộc tranh luận nẩy lửa giữa Jean d’O và các ký giả thiên Cộng Sản Pháp về chiến tranh Việt Nam. Ông đã từng (dám) viết : « việc Cộng Sản chiếm Pnompenh và Sàigòn là một đại họa. Bởi vì người ta muốn nói gì thì nói, không ai có thể chối cãi có « một luồng gíó tự do » ( un air de liberté )trước khi rơi vào tay Cộng Sản ». Ca sĩ cộng sản nổi tiếng Jean Ferra ( làm sao có thể vừa là ca sĩ vừa là cộng sản được ? Chỉ có ở Pháp – nó vừa hát cho Đảng vừa bán dỉa hát – hành động tư bản với lợi nhuận tư bản !!) làm một bản nhạc, Un air de liberté, kết án d’Ormesson tay vấy máu vì đã bênh vực những người chống Cộng. Bài hát không được hát, trong buổi phát hình ký giả Jacques Chancel giới thiệu nghệ sĩ Jean Ferrat ngày 15 tháng 11, năm 1975, của Đài truyền Hình 2  Pháp lúc bấy giờ, vì lời bài hát của Jean Ferrat đã đụng chạm, mạt sát Jean d’O (bàn tay vấy máu). Năm 1978, Jean d’O có làm đơn yêu cầu cấm bài hát nầy, nhưng thất bại. Quyền tự do dư luận là một quyền công dân rất được tôn trọng ở Pháp. Khác hẳn Việt Nam Cộng Sản ngày nay !

Merci  Monsieur Jean D’Ormesson  pour cet Air de Liberté !

3/  Với Johnny : Và tôi yêu em, và tôi yêu em , và tôi yêu em –


 

Et je t’aime et je t’aime, et je t’aime …

Và Johnny ? Nói đến Johnny, là nói đến Rock and Roll, nói đến Elvis, nói đến Chuck Berry, nói đến  Blue Berry Hill, nói đến Be Bop A Lula, … Và nói đến Tình Yêu ! Nhớ lại, thuở ấy, chúng tôi, một bầy trẻ « mồ côi địa dư », nội trú trường Trung học Yersin, Đà lạt, sau giờ ăn trưa, sau khi tan trường, trước vào « étude – phòng học » họp nhau tại « phòng chơi – foyer », một căn nhà sàn – sur pilotis, gỗ nhỏ. Ở đấy, một chiếc đàn piano, một lô dĩa hát . .. thường để đọc báo, chơi cờ, đờn ca,… nhưng chúng tôi lại …nghe nhạc Rock… và dạy nhau nhảy « danse « de salon »– nhảy « đầm » ( tiếng người lớn nói : dạ vũ, tại sao « dạ » – đêm ?, ban ngày tụi tui cũng nhảy tuốt ! ): Dạy nhau nhảy tất cả các kiểu : từ « cha cha cha », đến  boléro, valse, hay tango …hay « bôp ». Nhảy « bộp » tức là « bebop », tức là « rock », phải tay giỏi, tay hay truyền nghề. Nào phải « giữ ligne », nào phải « giữ nhịp » tempo, nào phải … Nhờ được luyện như vậy, mà thằng tui, vào một tối, hè năm 63, đi « nhót » ở một Cave (hầm), gần Place Odéon Paris, lãnh được một cái Giải Nhảy Rock. Ở Pháp không dùng từ Bop, dùng từ Rock. Được các bạn Yersin truyền nghề, tôi đã làm tây lé mắt… Hãnh diện một thời !

Xin lỗi quý thân hữu, kể chuyện thời trai trẻ, thật tình thế hệ chúng tôi, biết lắm chuyện.

Trở lại nhạc Rock ! Và chuyện Johnny Hallyday với chúng tôi người viết ! Nhạc Rock là tuổi trẻ chúng tôi. Chúng tôi biết Rock trước khi Mỹ đến Sàigòn, biết trước cả Elvis Phương hát Rock. Năm 1961, khi thằng tui đến Paris, Johnny đã nổi danh, nên thằng tui đã, tốn tiền, hao dầu, mỗi tuần thứ Sáu đi đến quán Golf Drouot, 2 rue Drouot quận 9 Paris – métro Richelieu Drouot, nghe Johnny hát. Hồi ấy, ở đấy cũng có nhóm Chaussettes Noires – Vớ đen, hát độc lắm. Sau nầy ca sĩ của nhóm Vớ đen là Eddy Michel (sanh ngày 3/07/42 hơn tôi 4 ngay!) ra hát ra riêng, ngày nay cũng còn nỗi tiếng lắm ! Lúc ấy cũng có những tay hát Rock hay lắm như Gene Vincent hay là Vince Taylor…

Với Johnny, tôi học nhảy Twist, ngay tuần đầu khi đến Paris ! Noël 61, lễ gia đình, tôi « mồ côi địa dư », đi nhót ở một Cave gần đường Saint Michel, cùng với một cô bạn, cũng dân Sciences Po, cùng lớp, cũng mồ côi địa dư, nhà xa không tiền về quê ăn Giáng Sanh được. Lần đầu tiên, tôi cặp một « cô em tóc đỏ, mắt xanh tím như Elisabeth Taylor thần tượng », và em đi « bop » tuyệt điệu. Tiếc cuộc tình đấu ấy ở Pháp không bền lâu… Không có cảnh « Người em mắt nâu, … ngồi vườn Lục Xâm… Tóc vàng sợi nhỏ … » như thơ Cung Trầm Tưởng, nhạc Valse của Phạm Duy bất hủ.

Vì vậy, nhạc Rock và Johnny rất gắn bó với thế hệ chúng tôi « thế hệ lớn lên của những năm 60 » của chúng tôi, và cá nhơn chúng tôi. Yêu với nhạc Johnny, Xa nhau cũng với nhạc Johnny, gặp lại cũng với nhạc Johnny …Chúng tôi lúc ấy Sống và Yêu với nhạc Johnny nhiều …. Johnny đi cạnh cuộc đời tình ái của chúng tôi ! Cũng có qua những thời kỳ Beatles, hay Stones… tôi có nghe đấy, nhưng vẫn gắn bó với Rock xưa cũ, với những Chuck Berry, với những Elvis,…

Để Kết Luận :


 

Tôi rất thủ cựu, xưa cũ, rất nhà quê. Ngày nay, tuy già rồi, với nhạc Việt Nam hay nhạc « tình yêu » chỉ thích tiền chiến, « Nỗi lòng… Yêu Ai yêu cả một đời … » , hay « Em đến thăm Anh một chiều mưa »… hay Boléro thật mùi thật « Sến ». Nhạc Pháp thì vẫn Yves Montand với « les Feuilles Mortes », hay Aznavour với « Sur Ma Vie »… cả nhạc Mỹ  cũng thế, Johnny Mathis với « A Certain Smile », hay Bing Crosby, Nat King Cole, hay Frank Sinatra…

Nói dông nói dài, cá nhơn tôi là một thằng nhà quê, với cái goût nhà quê ; ciné Mỹ thì phim cao bồi,  chưởng Tàu chỉ có hai ba phim với Lý Tiểu Long, một hai phim với Khương Đại Vệ thời những năm 72/73 Sài gòn, thuở ấy thường chiếu ở rạp Oscar, đường Trần Hưng Đạo thôi !

Hôm đám ma Johnny, tôi ngồi xem truyền hình suốt 4 tiếng đồng hồ, xem cái ngưởng mộ của dân bình dân Pháp, xem cái ngưởng mộ của dân thượng lưu Pháp, và khóc cho cái tuổi thiếu thời – nay đã mất – hẳn của tôi.

Merci Johnny ! Tu as emporté un bout de ma jeunesse avec toi. Cám ơn Johnny, bồ đã mang theo một mãnh tuổi trẻ của tôi !

Xin cảm ơn quý thân hữu đã chia sẻ cùng tôi một khoảng quá khứ !

Hồi nhơn Sơn , 10 tháng 12 2017

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hồi chuông báo tử cho một nền Văn Học miền Nam!

      Nguyễn Văn Lục

Lê Phụng đã nằm xuống. Sự ra đi của ông làm tôi trăn trở tới số phận một con người làm văn học. Một con người hầu như để cả nửa cuộc đời từ sau 1975 đọc và nghiên cứu, rồi cầm bút để nhận được sự thờ ơ, ghẻ lạnh của mọi người.

Nghĩ xa hơn thay vì chỉ nghĩ tới cá nhân Lê Phụng. Tôi đang phải đối mặt với một cái chết — không phải của chế độ miền Nam — mà nghĩ tới một sự chấm dứt một dòng văn học đã có một thời làm cho người miền Nam nói chung thấy hãnh diện.

Sự hãnh diện ấy thật chính đáng mà không có gì phải lấy làm hổ thẹn. Sự hãnh diện ấy tôi đã nhiều lần bày tỏ công khai trên các diễn đàn báo chí hải ngoại trong nhiều năm nay. Nhưng nay đến lúc phải nhìn ra sự thực

Trước đây, có lúc tôi còn vương vấn và còn gọi gián tiếp là một dòng văn học bị “nghẽn mạch”. Nhưng nghẽn là tạm thời rồi vẫn có cơ hội thông suốt.

Nhưng nay phải gọi cho đúng tên của nó. Một dòng văn học đã chấm dứt.

Thật vậy. Nay mất một người là mất một người. Chiếc ghế trống để lại không ai thay thế. Mai Thảo mất thì không có Mai Thảo thứ hai. Đơn giản như vậy bởi vì không có kế thừa. Chỉ vài năm nữa một vài người còn sống sót trong bóng tối lẻ loi như một Nguyễn Văn Trung, Doãn Quốc Sỹ cũng sẽ không còn nữa.

Hoàn cảnh nào đã đấy người cầm bút đến chỗ như thế? Tất cả là do thay đổi hoàn cảnh xã hội; họ như bị bứng gốc đi trồng ở một nơi khác. Nhãn Hưng Yên, Bưởi Biên Hòa trồng ở California hẳn có điều gì khác, huống chi một con người?

Phải chăng, nếu còn VNCH thì chỗ đứng của Lê Phụng cho một người cầm bút có tầm vóc như ông sẽ như thế nào? Thật ra, suy cho cùng, số phận người cầm bút như Lê Phụng cũng là số phận dành cho đa số người cầm bút trước 1975 và cả sau 1975.

Câu trả lời của tôi là cách đây đã lâu — khoảng hơn 20 năm — tôi có viết một bài nhan đề như một lời cảnh báo về tương lai Văn Học Việt Nam Hải Ngoại. Nhan đề bài viết của tôi là “Hiện trạng lão hóa trong văn học Việt Nam Hải ngoại”.

Tôi gọi đó là hiện tượng “Lão hóa kép” chẳng những về phía tác giả như về đề tài, về sức viết, về khả năng sáng tạo, v.v.. Và “lão hóa” cả về phía người đọc như tính trì trệ, tính thờ ơ “tính không đọc sách”, hay thiếu một vốn văn hóa đọc.

Nói như thế chẳng có ý trách ai hoặc nhắm vào người nào. Trách ai cũng là một cách gián tiếp trách chính mình.

Một xã hội người di tản vốn là thiểu số, lại thiếu một gốc gác văn hóa “truyền thống”, thường chỉ có một thứ văn hóa vay mượn từ nước Tàu mà tưởng là của mình. Hãy chỉ cho tôi có cái gì thuộc di sản thuần túy Việt Nam? 20 năm văn học miền Nam là một thành tựu đáng nể, nhưng chưa đủ cắm sào ở bất cứ bến Văn Học nào thì quy luật của đa số sẽ “ nuốt trửng” cái thiểu số đó và ngày một ngày hai sẽ nó sẽ bị tan loãng trong cái đa số theo luật “melting pot”.

Cuộc di cư năm 1954 là một bài học khác hẳn về môi trường xã hội, văn học cũng như chính trị. Thay vì nó bị “hóa lỏng, hòa tan” thì nó trở thành một dòng chảy văn học từ một dòng sông nhỏ biến thành dòng sông lớn. Dòng chảy này đẹp biết là bao vì nó bao gồm được tính nhân bản, khai phá, sáng tạo và đa dạng, tính kế thừa. Mà mỗi chữ tôi dùng là một nét đẹp và nói mãi không hết. Mà nhắc đến nó là nước mắt lưng tròng. Mà nó nhỏ hay nó lớn thì chưa chắc đã quan trọng bằng cái nó là của người dân miền Nam đã nuôi dưỡng và tạo ra nó.

Nó mất đi và nay nó không còn nữa chỉ vì có cuộc đổi đời. Một cuộc đổi đời thô bạo nhất mà chỉ người trong cuộc mới thấm đẫm cái đau của nó.

Vẫn biết rằng sự hội nhập và công việc giữ gìn bản sắc luôn là một thử thách, một cái không dễ gì, mà vẫn cố trì kéo, cố níu nó lại, giữ gìn bản sắc để cái “tôi là” trước áp lực của cái “tôi sẽ là”. Một quy luật xã hội cho mọi cộng đồng, mọi sắc dân, một va chạm cọ sát với đầy những huyền thoại và thực tế.

Sụ biến chất do cọ sát hàng ngày làm ta thay đổi đến chính ta cũng không nhận ra những thay đổi ấy. Nhưng nếu có dịp về lại Việt Nam hôm nay, ta sẽ ngỡ ngàng về sự “biến chất” từ cái văn hóa vật thể thấy được bề ngoài như cách ăn mặc, cử chỉ , điệu bộ, ngôn ngữ đến cả cái văn hóa phi vật thể là tinh thần, tâm linh, cách suy nghĩ, nền tảng đạo đức đến cả tôn giáo nữa.

Đối với mọi người, ta chỉ còn có cái tên gọi, hai chữ Việt Nam và mầu da vàng đối với người ngoại quốc. Còn thực sự ta không thể chính thức là người Việt Nam hoặc người bản xứ dù đã hơn nửa đời người sống ở xứ người. Ta là “nửa người nửa ngợm” chăng? Và này dân số trẻ sinh ra và lớn lên ở xứ người, chiếm phân nửa, ít nói tiếng Việt, làm sao bắt chúng chia sẻ cái phần gia tài văn hóa, cái căn cước Việt như tiếng nói, bài ca, tình tự đất nước, hay nỗi vinh nhục của một lá cờ hay những hội chứng sau một cuộc chiến? Bình Giả hay Pleime, Đức Cơ là nghĩa quái gì cơ chứ?

Sự mâu thuẫn có tính nội tại, phi thực nằm ngay trong chính chúng ta, sống phi thực, sống giữa một huyền thoại quá khứ đã sói mòn và áp đặt một cách “xuẩn ngốc” lên người khác, lên giới trẻ.

Đến lúc nào cho phép chúng ta nói lên được câu: Giã từ quá khứ?

Mặc dầu lý lẽ thì như vậy, người Việt di tản vẫn cố gắng tìm cho mình một căn cước Việt tính như một lẽ sống còn, như một chỗ trú ẩn. Căn cước Việt tính ấy không cần tìm đâu xa xôi như trong truyền thống, lịch sử, văn hóa, tôn giáo, v.v..

Nó rất gần, còn như sôi sục. Đó là cuộc chiến tranh và sự thua cuộc còn như vết thương nhức nhối. Nó trở thành một cái “trung tâm văn hóa và kỷ niệm” phi vật thể như một trục xoay mà người ta chỉ nhận thấy và nhận ra nhau trong các buổi hội họp, trong các buổi văn nghệ hay trong lúc trà dư tửu hậu.

Hơn lúc nào hết, cái ta hiện hữu được phô trương rõ rệt và muốn được mọi người nhìn nhận. Phô trương là một trong những nét cá tính của người Việt di tản.

Không lạ gì, nếu vứt bỏ cái quá khứ đó đi thì còn lại gì?

Nhiều người sẽ buồn chán đến phát điên. Theo nghĩa xã hội học, người ta gọi cái đó là Hội chứng sau 1975, hội chứng thua cuộc. Hội chứng di tản hay còn bi kịch hơn, “Hội chứng lưu vong”.

Tất cả mọi người có mặt trong đám đông đó chỉ muốn vực dậy, làm sống lại quá khứ đó mà nay nhiều khi nó chỉ còn là sự tô hồng quá khứ, như một huyền thoại. Nó mắc sinh một sự quá đà là căn bệnh nói phét.

Ở một mặt khác, người ta nhận ra rằng, càng có một truyền thống văn hóa hoặc tôn giáo truyền thống ăn sâu vào tâm thức người dân thì sự hội nhập vào một xã hội càng trở nên khó khăn. Hành lý càng nặng nề thì sự hội nhập càng khó khăn theo tỉ lệ thuận.

Trong nhiều sắc dân như Do Thái, người da đen, dân Hồi giáo, dân Palestine với một truyền thống lâu đời và một nền văn minh cố cựu bám rễ cho thấy sự đụng chạm giữa các nền văn minh càng trở thành một bi kịch của xã hội trong việc hội nhập. Như ta thấy hiện nay giữa Do Thái và Palestine.

Trong một cuốn sách nhan đề: “Juifs & Noirs, Du Mythe à la réalité”, nxb In Presse, dưới sự điều hợp của Shmuel Trigano, do nhiều tác giả cộng tác cho thấy sự mất còn của căn cước người tỵ nạn là những nhan đề gây những mối căng thẳng, đi đến kết quả là sự kỳ thị chủng tộc, sự căng thẳng đối đầu, sự cưỡng chế và khuất phục hầu như không tránh khỏi.

Nghĩ như thế, để nhìn lại căn cước người tỵ nạn Việt Nam Hải ngoại là một cuộc hội nhập tương đối êm dịu và có thể chưa hề bùng nổ một cuộc va chạm “nảy lửa và sắt máu” nào với dân bản địa.

Cho nên, không lạ gì, người Việt sinh sống tại Pháp thì dễ dàng ăn mừng lễ Noel và thói quen uống rượu vang. Trong khi người Việt tại Mỹ thì nay lại ăn mừng trọng thể ngày lễ Tạ ơn. Đây không còn là giai đọan thích ứng, hội nhập mà là đồng hóa rồi.

Ngay các đồng hương ở Ba Lan, mặc dầu chính phủ hiện nay có khuynh hướng siết chặt cánh cửa cho tỵ nạn, vậy mà người Việt ở đây xem ra vẫn ung dung, thoải mái. (Vẫn xả thịt chó ngay trong “ấp” với tiết canh, rựa mận và dồi chó.)

Bởi vì họ biết thích ứng tương đối dễ dàng, bởi vì.. bởi vì thiếu vốn “văn hóa…truyền thống” mặc dầu giữa người Việt với nhau thì “ăn thua đủ”. Ăn thịt chó, chửi tục, “ăn thua đủ” là “nếp sống” văn hóa chứ không phải truyền thống văn hóa.

Như thế thì chúng ta nên mừng hay nên lo?

Nghĩ thế, có lẽ chỉ có một nhà văn Việt Nam ở Hải ngoại là Mai Thảo xem ra có bản sắc, có “căn cước Việt tính” rõ nét và ông không dễ dàng chịu hội nhập vào xã hội mới là Hoa Kỳ. Xin trích dẫn bài viết của Nguyễn Mộng Giác về Mai Thảo:

“Anh là hiện thân trọn vẹn hai tiếng “lưu vong”, hơn thế nữa, trong khi những bạn văn khác tìm cách thích nghi với hoàn cảnh mới, Mai Thảo khăng khăng sống y như cũ, từ chối tất cả những thay đổi cần thiết để hội nhập. Anh không học Anh Văn, không lái xe, chữ viết nắn nót trang trọng trên trang giấy kẻ hàng, thậm chí hàng tháng cứ dùng viết Big viết từng địa chỉ và họ tên của 700 độc giả dài hạn của tạp chí Văn lên phong bì chứ không dùng phương tiện điện toán hiện đại. Tinh thần anh đề kháng với những gì đang đổi thay trước mắt.”

(Thư quán bản thảo, số đặc biệt tạp chí Sáng Tạo, số 60 tháng 7-2014, trang 37 Nguyễn Mộng Giác, “Nỗi cô đơn lớn lao của Mai Thảo”. Nguồn chính:tạp chí Văn Học, số 143, tháng 3 năm 1998.)

Nhìn lại các cộng đồng người di dân khác trên khắp thế giới hiện nay, sự có mặt của các sắc dân đa tạp chủng tộc trở thành mối lo cho các chính quyền đã tiếp nhận họ như tại Pháp, tại Mỹ và nhiều Quốc gia khác. Và họ tạo thành những ghettos.

Theo Vincent Viet, trong cuốn “Histoire des Francais venus d’ailleurs de 1850 à nos jours” ông đã viết:

“Chẳng hạn ở trung tâm thành phố Marseille, có những khu như: Auvergnats trên đường Roquette, ở khu 11, dân Bretons thì tụ tập chung quanh nhà ga Montparnasse, dân Alsaciens thì quần tụ chung quanh vùng Villette, ở phía Đông Bắc thành phố, ở khu 19.

Đặc biệt những nhân công di dân làm phu thợ, phu đập đá, phu lợp mái nhà, sống theo lề thói của họ từ nếp sống bản địa. Họ cùng đi làm một nơi, cùng về một khu nhà chung cư, ăn chung cùng một món súp do người chủ nhà trọ nấu, nói chung một thứ tiếng hay nói chung một thổ ngữ.”

(Vincent Viet, Histoire des Francais venus d’ailleurs de 1850 à nos jours, nxb Perrin, 2004 trang 22)

Bài viết này chú trọng nhiều đến vấn đề văn học với các nhà văn của cộng đồng người Việt mà không quan tâm nhiều đến các vấn đề kinh tế, xã hội, chính trị của cộng đồng người Việt.

Thoạt đầu, sau 1975, nhất là sau đợt Boat people, 1979, số lượng các nhà văn, các tác giả cầm bút trước 1975 vượt biển tìm tự do khá đông, rộ lên một đợt di dân đã từng có kinh nghiệm sống dưới chế độ cộng sản. Họ hừng hực khí thế đấu tranh và thề sẽ có ngày trở về giải phóng quê hương. Trong một bài phỏng vấn ông bà Võ Kỳ Điền, do báo Sóng ở Montréal thực hiện, qua đó nó cũng phản ảnh cái tâm tình của người tỵ nạn Việt Nam lúc bấy giờ (năm 1992), tôi đọc được phát biểu của chị Diên như sau:

“Tội nghiệp, vì trong khi ai ai cũng đang nghĩ đến công tác “dọn đường về nước”, mọi người chúng ta cũng đang hướng lòng về quê hương Việt Nam khốn khó, về đồng bào ruột thịt của mình.”

(Trích Phỏng vấn của Võ Bá Điền, báo Sống phỏng vấn nhà văn Võ Kỳ Điền, nạn nhân của chiến dịch thư nặc danh. Tháng 9-92, Tài liệu riêng của Võ Kỳ Điền)

Cho đến bây giờ, nhiều người trong cộng đồng vẫn có tham vọng chống Tàu và cộng sản cùng lúc. Nhưng thực tế, tôi vẫn thấy họ tổ chức các bữa tiệc tại các Restaurants Tàu, vẫn du lịch sang Trung Quốc và vẫn ra vào tiệm 1$ (Un Dolllar).

Ở thập niên 90, họ đã đem lại niềm phấn khởi, một không khí đấu tranh và một tin tưởng về một tương lai Văn Học hải ngoại? Thế giá người cầm bút lúc ấy vì thế còn cao lắm.

Tôi còn nhớ, trong số báo Hợp Lưu đặc biệt có chủ đề để tưởng niệm học giả Hán-Nôm Tạ Trọng Hiệp. Bài vở đã tạm đầy đủ với nhiều cây bút có thế giá, chờ lên khuôn. Chỉ còn thiếu có bài của Nguyễn Văn Trung ở Montréal. Tòa soạn quyết định tạm chưa in, chờ bài viết của Nguyễn Văn Trung. Bài viết của Nguyễn Văn Trung viết tay, phải gửi bằng bưu điện sang Mỹ, thời gian chờ đợi trong 10 ngày. Báo đành ra trễ.

Xin ghi lại nguyên văn lời tòa soạn, số 34 tháng 4&5, 1997 như sau ở Lời tòa soạn:

“Lẽ ra số báo này không đến tay bạn đọc trễ nải như đã. Chỉ vì tòa soạn đã cố gắng – ngót mười ngày – chờ đợi bài viết dưới đây của giáo sư Nguyễn Văn Trung.

Những vị nào đã từng đọc bản thảo của giáo sư Nguyễn Văn Trung , đều hiểu là rất khó đọc (hình như khó nhất trong các tác giả viết tay), các chuyên viên đánh máy đều “chạy”, nên tòa soạn đã phải vừa đọc (đoán) vừa thực hiện công việc này.”

(Hợp Lưu, số 34, năm 1997. Bài Nguyễn Văn Trung: Tạ Trọng Hiệp, Ông Đồ gàn thời nay, trang 26)

Đó là 1997; nào có xa xôi gì!

Như thế cho thấy, tác giả viết bài còn có giá lắm chứ! Hơn 10 năm sau, Nguyễn Văn Trung ngưng cầm bút, nay sống lủi thủi ở nột góc nhà, không một bạn bè, it ai thăm hỏi. Và hoàn toàn bị rơi vào quên lãng! Phải chăng sự bỏ rơi này chỉ là luật cung cầu? Và nếu cần trách cái gì và trách ai bây giờ.

Trong số những người cầm bút hết lòng với văn học miền Nam Hải Ngoại từ 1979 kể ra thì nhiều lắm. Như một Nguyễn Mộng Giác, Cao Xuân Huy, Hoàng Khởi Phong, Bùi Vĩnh Phúc, Phạm Quốc Bảo, Võ Đình, Vũ Huy Quang, Nguyễn Bá Trạc, Trịnh Y Thư, Khánh Trường, Mai Kim Ngọc, Nguyễn Đức Lập, Trần Vũ đều xả thân với văn học với đầy thiện chí.

Nhưng tôi vẫn thấy có hai người để hết tấm lòng cho văn học miền Nam như Viên Linh và Trần Hoài Thư.

Nếu như báo Văn Học ít lắm có mặt được 16 năm mà vẫn cứ “ Xìu xìu ểnh ểnh” chết lên, chết xuống, thay mấy đời chủ bút mà dần đần số người đọc ít hơn số người viết.

Và nếu có cuốn sách nào được in ra thì đó không phải là nhu cầu của người đọc mà là nhu cầu của người viết.

Báo chợ hay những tập quảng cáo? Nguồn: DCVONline tổng hợp.

Sau này, nhiều tác giả muốn có danh đã tự bỏ tiền in sách, mời bạn bè thân hữu đến ăn uống. Khi ra về, mỗi người còn nhận một cuốn sách biếu. Đúng là vừa được ăn, vừa được gói mang về. Vấn đề là người được tặng sách có đọc hay không lại là một chuyện khác.

Đó quả thực không phải là một sinh hoạt văn học lành mạnh và thiếu một điều quan trọng là niềm tự trọng.

Trở lại báo Văn Học. Mỗi khi hết tiền để trả tiền in, tiền tem thì Trịnh Y Thư chủ nhiệm lại móc tiền túi ra trả các chi phí. Có thế nào được coi là bình thường khi từ chủ nhiệm, chủ bút đến người viết bài trong 16 năm ấy, chưa một ai nhận được tiền nhuận bút dù chỉ một lần.

Sau này viết cho một “tờ báo chợ”, chắc chắn có tiền, nhiều thì không có, nhưng rủng rỉnh thì có.

Hiện nay thì có thêm nạn “Ti vi chợ” Từ 10 năm nay, nhiều đài Tivi chợ xuất hiện mà mục đích chính là quảng cáo thương mại về các sản phẩm làm đẹp cho phụ nữ. Tệ thêm một bậc là quảng cáo đủ loại các thuốc men trị bá bệnh. Thuốc thật hay giả là chuyện của luật pháp của chính quyền Mỹ.

Nhưng tôi cảm thấy hổ thẹn thay cho một bọn người nay có danh phận đã đồng lõa một cách vô lương tâm để lừa bịp những người dân, phần đông là có lợi tức thấp.

Sự trơ trẽn của họ làm tôi không vui. Nghĩ lại thời nào họ cũng chống Cộng vung vít lắm. Sự “xuống cấp” văn học Việt Nam hải ngoại với báo chợ, tivi chợ thì theo tôi thà chúng không có.

Tivi chợ và quảng cáo. Nguồn: DCVOnline tổng hợp

Nhưng tôi vẫn thấy có hai người để hết tấm lòng cho văn học miền Nam như Viên Linh và Trần Hoài Thư.

Viên Linh là tờ Khởi Hành, một mình một chợ, chủ nhiệm kiêm chủ bút, kiêm tất cả cặm cụi suốt năm tháng với Khởi Hành.

Cuối tháng 3-2014, Viên Linh phải trải qua một cuộc giải phẫu tim thập tử nhất sinh để thay thế các “aortic valve, mitral valve và coronary valve” 31 tiếng đồng hồ sau mới tỉnh dậy, ông viết,

“Chủ trương lúc lên đường từ 1996 tới nay vẫn được tiếp tục: Khởi Hành có mặt để bảo tồn, duy trì và phát triển di sản văn học miền Nam, Văn Học Việt Nam.”

(Viên Linh, Chủ nhiệm, chủ bút Khởi Hành, số 209-210, May-July, 2014, lời mở đầu)

Có lẽ tờ Khởi Hành với Viên Linh là tờ báo có mặt lâu nhất cho đến nay nếu tính từ năm 1996.

Người thứ hai là Trần Hoài Thư. THT tự mua máy in, rồi một mình sưu tầm các tác giả là các nhà thơ trẻ có thơ trước 1975 cũng như các nhà văn trẻ mà một số ở trong quân đội, các nhóm như Sáng Tạo, v.v.. Ông đặt tên cho các tuyển tập ấy nằm trong Thư Quán Bản Thảo với nhiều chủ đề. Cặm cụi làm việc một mình, ngoài việc phải chăm sóc cho người vợ nằm liệt một chỗ, rảnh là chúi đầu vào in ấn, cắt xén và gửi bạn bè.

Trong số những tác giả lạc quan nhất về tương lai Văn học hải ngoại lúc ấy có Nguyễn Mộng Giác và Mai Kim Ngọc. Nhưng trong một số báo Văn Học, xem ra niềm tin vào sự trường tồn của văn học hải ngoại của ông Nguyễn Mộng Giác có phần lung lay. Ông đã viết một bài nhan đề“Triển vọng của văn học hải ngoại” trong đó, ở phần kết luận ông viết:

“Sinh hoạt văn nghệ di dân không còn biệt lập, dần dần yếu đi, khiêm nhường, đóng vai trò “đại lý” y như những người Thụy Sỹ gốc Pháp, gốc Ý, gốc Đức, hoặc những người Mỹ gốc Hoa ở New York, San Francisco.”

(Nguyễn Mộng Giác Văn Học, số 103, tháng 11 năm 1994, trang 39)

Người viết đông đảo với số lượng tạp chí văn học sầm uất như thuở nào với Văn, Văn Học, Thế kỷ 21 rồi Khởi Hành, Hợp Lưu, Làng Văn. Tại chỗ tôi ở, Montréal, có tờ Đi Tới và có tới ba tiệm sách.

Nhưng có một hiện tượng ngược chiều là số người đọc mỗi ngày một ít đi. Cắt nghĩa hiện tượng này thì có thể trong quá trình Hội Nhập vào bản địa từ giai đoạn: Thích ứng-Hội Nhập và Đồng hóa, có hiện tượng melting-pot. Trong đó cái đa số, số đông áp đảo cái thiểu số theo cái tinh thần rất thông tục là “Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài”.

Các tiệm sách thay nhau đóng cửa. Tôi cũng đã thấy có người từ khi di tản năm 1975 sang đây, chưa hề đọc một cuốn sách nào. Nhà trang trí nào đàn Piano, tủ kính đựng bát đĩa. Nhưng thiếu tủ sách, ngay đến một kệ sách cũng không có.

Trên bàn thờ, có bầy hương án, bài vị, dòng họ con quan cháu quan, các vị tổ tiên áo mũ, cân đai, thẻ bài trước ngực. Nhưng con cháu xem ra “mù chữ” theo nghĩa không đọc sách tiếng Việt.

Nhận xét như trên có vẻ sống sượng. Nhưng đó lại là sự thật.

Chỉ cần đưa ra một nhận xét rất đơn giản là: văn học hải ngoại mà chất liệu sáng tạo là quá khứ. Quá khứ kéo dài được bao lâu? Trí nhớ người cầm bút thì như mặt lõm của một ngọn đồi — nhớ nhớ quên quên. Chuyện hiện tại thì như mặt phẳng của một ngọn đồi, vừa nói xong đã quên.

Mà mất cái quá khứ thì như thể mất cái căn cước người tỵ nạn, mất chỗ trú ẩn, mất cái làm nên họ là họ.

Người giữ được quá khứ, theo tôi, không ai khác là nhà văn Xuân Vũ. Một cán bộ hồi chánh trước 1975.

Nhưng tệ hại nhất và vô cùng tệ hại là họ chuyển hóa những hoài niệm quá khứ thành lý tưởng, thành một chủ trương, một đường lối, một chỉ hướng soi đường để họ hành xử và phê phán bất cứ ai không theo họ hay nghĩ khác họ.

Tệ hại này là lớn nhất, bi kịch nhất, đã kéo dài trong nhiều năm cho đến tận bây giờ. Cộng đồng người Việt khắp nơi dần trở thành những ghetto để bêu xấu, chửi bới nhau. Họ “mềm” và dễ sai bảo đối với người dân bản địa. Nhưng họ trở thành “cứng” hung dữ đến sẵn sàng “ ăn thua đủ” chỉ vì một nhận xét, một ý kiến trái chiều. Họ là nhất, ai không theo họ là bị chụp mũ, đủ thứ mũ. Họ độc tài hơn cả những kẻ độc tài mà họ từng phải bỏ chạy.

Đã có thời thư rơi, thư nặc danh hay ngay cả thư rơi có tên người viết nhiều như bươm bướm bêu xấu đời tư, chửi bới nhau thậm tệ và không cần bằng chứng. Người chửi và người bị chửi cùng ở trong cộng đồng người tị nạn chống cộng sản.

Tìm hỏi người đã “ký tên” trong một lá thư rơi tôi được biết chỉ có một tên — người đã viết lá thư rơi — là thật, còn lại những người “ký tên” khác cũng chỉ là nạn nhân. Tôi có lá thư này do do một nạn nhân giao lại. Nội dung những lá thư nặc danh, thư rơi giả tên người viết là rác bẩn trong cộng đồng người Việt, không đáng được nhắc đến. Chúng đã tạo ra một bầu khí vẩn đục, gây sự nghi kỵ giữa những người cùng trong cộng đồng người Việt tị nạn cộng sản.

Khắp nơi, cộng đồng người Việt dần trở thành những ghetto để bêu xấu, chửi bới nhau mà những người làm báo, viết văn có trách nhiệm không nhỏ.

Nghĩ tới việc người Việt chửi bới người Việt, tố cáo chụp mũ nhau thân cộng. Tôi nghĩ đến cuốn truyện của nhà văn Nguyễn Khắc Trường nhan đề “Mảnh đất lắm người nhiều ma”. Cuốn truyện cho thấy cùng trong làng xã, nhưng hai họ có mối thủ riêng, truyền hết từ đời cha dến đời con như thể không bao giờ dứt.

Phải chăng đó cũng là hoàn cảnh người Việt hải ngoại hiện nay? Tệ hại này sẽ còn kéo dài mãi cho dù nền Văn Học của hải ngoại đã khép lại.

Cái yếu tố làm cho nền văn học hải ngoại chết non, ngoài những yếu tố vừa nêu trên, còn có vấn đề nền văn học đó không có kế thừa.

Trên tờ Hợp Lưu, số 72, tháng 8-9, 2003 có dành hẳn một số báo cho các nhà văn được gọi là “Thế hệ sau chiến tranh” với các bài viết Đỗ Lê Anh Đào, Thơ Thơ, Quang Thanh, Nguyễn Hương, Bùi Hoằng Vị, Lê Quỳnh Mai, Bảo Phi, Nguyễn Việt Hà, Trần Tiến Dũng, Phan Huyền Thư, Đinh Linh, Phạm Thị Ngọc, Thận Nhiên, Nguyễn Hữu Hồng Minh, Nguyễn Quốc Chánh, Đình Trường Chinh, Nguyễn Thanh Hùng Tylur, Thu Hiền ngô, Trần Tiễn cao Đăng, Đông Triều, Nguyễn Danh Bằng, Nguyễn Nam Trân, v.v..

Lúc đó các nhà văn trẻ trên dưới 40 tuổi trên không bị triệu chứng hậu chiến tranh, lại có trình độ, đủ mọi điều kiện vật chất.

Nghĩa là họ hội đủ các yếu tố khách quan để thành danh trớ thành những nhà văn như lớp kế thừa. Vậy mà họ dần dần buông bứt. Nhiều người chỉ vỏn vện có vài truyện ngắn rồi im bặt. Và tôi tự hỏi, bây giờ họ ở đâu?

Sau đó, tôi có viết trên Tờ Hợp Lưu, lúc bấy giờ người chủ bút là anh Trần Vũ, yêu cầu viết để khuyến khích các cây viết trẻ như: Đỗ Hoàng Diệu, Miêng, Mai Ninh, Trần Vũ, Nguyễn Thị Thanh Bình, Lê Thị Thấm Vân, Nguyễn Bình Phương và rất nhiều nhà văn trẻ khác.

Những nhà văn trẻ trên dưới 40 tuổi này liệu họ làm được gì? Kỳ vọng gì vào họ?

Theo tôi, họ thường viết cho họ thay vì nghĩ đến chuyện kế thừa hay nghĩ tới chuyện thay thế ai?

Một nhận xét rất khác thường là họ cầm bút khá muộn và tính đến nay thì họ đã trên 60 tuổi! Tính đến năm 1995 thì Đặng Thơ Thơ sinh năm 1962, Hoàng Mai Đạt, 1960, Lê Thị Thấm Vân 1961, Lê Minh Hà 1962, Lê Thị Huệ 1953, Nguyễn Thị Ngọc Lan 1957, Nguyễn Ý Thuần 1953, Phan Thị Trọng Tuyến 1951, Trần Vũ 1962.

Nhận xét chung của tôi về họ là họ không còn viết như trước nữa.

Và cho đến hôm nay, không mấy người trong số họ tạo được một thế giá văn học.

Nhưng khi Trần Vũ ra đi khỏi Hợp Lưu thì như có một sự tan rã khó cắt nghĩa. Các nhà văn trẻ tứ tán mỗi người một nơi trên Web điện tử như Da màu, Gio-o.com. Theo tôi, cho đến nay, ít người nào có được tiếng tăm theo kiểu một Võ Phiến, Mai Thảo, Nguyên Sa. Ngay cả trường hợp Trần Vũ mà tôi trân trọng, quý mến.

Có thể nói, cái thời của một miền Nam Việt Nam trước 1975 với bao hào quang và vinh dự đã không bao giờ trở lại nữa. Vâng không bao giờ.

Những người còn ở lại sống vất vưởng và bị bỏ quên một cách rất vô tình trước sự bạc bẽo của tình người.

Họ không hẹn mà ra đi không kèn không trống.

Chỉ trong tháng 10-2017, nhà thơ kiêm nghệ sĩ thổi sáo Tô Kiều Ngân ra đi. Còn mấy ai nhớ đến Chương trình Tao Đàn của thi sĩ Đinh Hùng.

Rồi học giả Lê Hữu Mục, một nhà Hán Nôm, đồng thời là tác giả cuốn: Tác giả Ngục Trung Nhật Ký không phải của Hồ Chí Minh cũng lặng lẽ ra đi

Rồi đến lượt Lê Phụng. Và mới đây nhất đến lượt ông Trần Thiện Đạo, ở Pháp ra đi ngày 25-11. Trước 1975, ông là nhà dịch thuật các tác phẩm của các triết gia Hiện sinh như các dịch giả khác như Vũ Đình Lưu, Trần Phong Giao, Trần Thiện Đạo, Nguyễn Minh Hoàng, Bùi Ngọc Dung, Võ Lang, Lê Thanh Hoàng Dân, Mai Vi Phúc, Phùng Thăng, Dương Kiềnvv..

Nhìn lại ngày hôm nay, số lượng các nhà văn nhà thơ trước 1975 còn lại bao nhiêu? Nguyễn Văn Trung, Trần Ngọc Ninh, Nguyễn Đình Toàn hầu như đã vắng mặt. Những người khác như nhà thơ Viên Linh, nhà văn Trần Hoài Thư kể như suốt những năm ở Hải ngoại miệt mài với chữ nghĩa… với sưu tầm với nhiều tâm huyết. Những người còn lại như thi sĩ Cung Trầm Tưởng, Du Tử Lê thỉnh thoảng xuất hiện. Những nhạc sĩ như Phạm Mạnh Cương, Lê Dinh là những nhạc sĩ nằm trong danh sách chót còn sót lại.

Trong khi đó không có người kế thừa chỗ của những kẻ đã ra đi. Ghế trống mỗi ngày một nhiều không ai ngồi thay thế. Ai có thể thay thế được những người ấy?

Requiem in Pacis cho nền Văn Học Miền Nam đã một thời sáng chói và nay đã tắt.. Nguồn: DCVOnline

Requiem in Pacis cho nền Văn Học Miền Nam đã một thời sáng chói và nay đã tắt.

© 2017 DCVOnline

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

18 thị trấn mộng mơ đẹp tựa cổ tích giữ

Trên thế giới, những ngôi làng có vẻ đẹp thanh bình như thể thời gian đã tồn tại được hàng thế kỷ. Bạn có thể tìm thấy vẻ đẹp tự nhiên, bên cạnh những căn nhà nhỏ ấm cúng đẹp như trong truyện cổ tích mà lại hoàn toàn có thật, giống như 18 ngôi làng ở dưới đây.
1. Xứ sở hoa oải hương Provence là một vùng đất nên thơ nằm ở bên bờ biển Địa Trung Hải với truyền thống sản xuất rượu.
2. Làng cổ Bibury đẹp nhất xứ Anh với những căn nhà được xây bằng đá sa thạch cổ kính tồn tại suốt hàng trăm năm.

3. Thành phố Rothenburg, Đức vẫn còn giữ được dáng vẻ của thời Trung Cổ xa xưa.

4. Phượng Hoàng cổ trấn tại Hồ Nam, Trung Quốc có tuổi đời 1300 năm tuổi là nhà của các dân tộc với rất nhiều thành quách, đền chùa, những dãy phố, nhà cổ dọc bờ sông.
 



5. Ngôi làng Gásadalur nằm ở phía Tây Vagar, quần đảo Faroe sở hữu quang cảnh tuyệt đẹp nhìn ra Vịnh Stream, Bắc Đại Tây Dương.
 

6. Thị trấn ven hồ Hallstatt, Áo nằm bao quanh bởi dãy núi Alps mờ sương được nhiều người bình chọn là thị trấn đẹp nhất thế giới.

7. Thành phố Manarola, Ý nằm chênh vênh trên vách đá hướng ra phía biển, gây ấn tượng bởi những ngôi nhà đầy màu sắc nằm san sát nhau.
 
8. Làng cổ Goyakama ở Nhật Bản được biết đến nhờ những ngôi nhà xây dựng theo kiến trúc gassho-zukuni với mái nhà tranh giống như các bàn tay đang cầu nguyện.

9. Hamnoy là làng chài lâu đời nhất và cũng sở hữu phong cảnh đẹp nhất vùng Nordland, Na Uy.

10. Ngôi làng Dehang, Hồ Nam là nơi lưu giữ những nét văn hoá đặc sắc của dân tộc Miêu tại Trung Quốc.
11. Làng Wengen ở Thụy Sỹ với tuyết phủ trắng xóa quanh năm luôn là điểm đến được săn lùng nhiều nhất vào mùa đông với những trải nghiệm thú vị.
 

12. Tồn tại hơn 300 năm, làng cổ Shirakawa xứ Nhật vẫn giữ nguyên hình dáng kiến trúc ban đầu cũng như lối sinh hoạt và phong tục truyền thống.

13. Các du khách đặt chân đến làng Alacati ở Thổ Nhĩ Kỳ sẽ không thể nào quên lối kiến trúc vườn nho cùng với những cối xay gió.


14. Nhắc đến xứ Santorini ở Hy Lạp thì không thể nào bỏ qua làng Oia. Thật khó để chuyển tải vẻ đẹp huyền ảo cũng như khung cảnh hoàng hôn lãng mạn có một không hai nơi đây chỉ qua vài bức hình.

15. La Petite-Pierre là một xã thuộc tỉnh Bas-Rhin tro ng vùng Alsace đông bắc nước Pháp.

16. Bled là một khu tự quản trong vùng Gorenjska của Slove nia với dân số chỉ hơn 8000 người.


17. Làng Shirakawa-go cổ kính ở Nhật Bản với những ngôi nhà có tuổi đời hơn 100 năm. Ngôi làng này cũng được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới năm 1995.

18. Châu Trang là một thị trấn cổ thuộc tỉnh Giang Tô, Trung Quốc, cách Thượng Hải khoảng 1 giờ xe chạy. Chỉ có khoảng 20.000 người sống tại đây. Nếp sống bình dị và không gian sống yên bình nơi đây đã mê hoặc du khách bốn phương và đưa họ vào không gian cổ tích nghìn năm tuổi…
 Nam Mai st
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hãy để “Em sang sông”

 “Ai là tác giả của nhạc phẩm Tôi đưa em sang sông” là vấn đề được bàn thảo khá rộng rãi trong vài năm qua. Người viết có đọc trên Internet những tranh luận nhưng thú thiệt chưa bao giờ dám hỏi thẳng anh Nhật Ngân vì, một phần, hỏi là nghi ngờ mà nghi ngờ là xúc phạm và phần khác là vì anh đã nói rõ ra rồi. Nhạc sĩ Nhật Ngân khẳng định anh đã viết nhạc phẩm đầu tay đầy kỷ niệm vào năm 1960 khi chỉ vào 18 tuổi ở Đà Nẵng và giải thích lý do có thêm tên nhạc sĩ Y Vũ.
 
Tôi đưa em sang sông theo lời kể của Nhạc sĩ Nhật Ngân
 
Nhạc sĩ Trường Kỳ, một cây bút chuyên viết đời sống và tác phẩm của các văn nghệ sĩ, trong một bài viết vào năm 2000, đã thuật lại nguồn gốc của nhạc phẩm Tôi đưa em sang sông theo lời kể của nhạc sĩ Nhật Ngân, và dưới đây là vài đoạn chính:“Theo lời tâm sự của Nhật Ngân, đáng lẽ ông đã trở thành một nhạc công vĩ cầm như người em họ là Nhật Hiền, nhưng vì gia đình ông quá nghèo, không mua nổi cây đàn cho ông. Do đó, ông đành quyết định thôi học. Vì lòng đam mê âm nhạc và nhất là nhờ ở khả năng thiên phú của mình, Nhật Ngân đã hoàn thành nhạc phẩm đầu tay khi ông mới vừa 18 tuổi vào năm 1960. Ðó là một ca khúc tình cảm mang tên Tôi đưa em sang sông.
 
Mặc dù chưa có phương tiện phổ biến rộng rãi trong thời gian đầu, nhưng Tôi đưa em sang sông đã trở thành một ca khúc được giới học sinh, sinh viên Ðà Nẵng rất ưa thích, chép tay truyền cho nhau hát.
 
Sau đó Nhật Ngân gửi ca khúc này vào Sài Gòn nhờ nhạc sĩ Y Vân phổ biến dùm, với sự sửa đổi một vài chữ trong bản nhạc cho hợp với đường lối của Bộ Thông tin lúc đó không cho phép phổ biến những nhạc phẩm ủy mị, ướt át. Câu “Rồi thời gian lặng lẽ trôi, đời tôi là cánh mây trôi bốn phương trời. Và đời em là cánh hoa thì bao người ước mơ, đưa đón trông chờ” được nhạc sĩ Y Vân đổi thành “Rồi thời gian lặng lẽ trôi, đời tôi là chiến binh đi khắp phương trời. Mà đời em là ước mơ đẹp muôn ngàn ý thơ, như ngóng trông chờ” cho phù hợp với hoàn cảnh chiến tranh của đất nước.
 
Câu kết của bản chính là “Nàng đã thay một lối về, thay cả bàn tay đón đưa” cũng đã được Y Vân đổi thành “Nàng đã thay một lối về, quên cả người trong gió mưa.” Sự thay đổi lời ca này đã khiến cho tác giả cảm thấy “hẫng” đi một chút, như lời ông nói, vì không đúng với tâm trạng của mình khi đến lúc đó, chưa hề trải qua đời sống trong quân ngũ.
 
Hơn nữa, vì tác giả còn là một người chưa có tên tuổi nên cần nhờ tới một nhạc sĩ nổi tiếng đứng chung tên để Tôi đưa em sang sông đến với quần chúng dễ dàng hơn. Khi được phát hành, Tôi đưa em sang sông được ký tên bởi hai người là Trần Nhật Ngân và Y Vũ”.
 
Nhạc sĩ Nhật Ngân qua đời ngày 21 tháng 1, 2012 tại California, Hoa Kỳ.
 
Tôi đưa em sang sông theo lời kể của Nhạc sĩ Y Vũ:
 
Trong một bài viết được phổ biến rộng rãi trên Internet, nhạc sĩ Y Vũ nhắc lại chuyện tình để lại một đứa con tinh thần có tên Tôi đưa em sang sông“Tôi sinh ra ở Hà Nội nhưng lớn lên tại đất Sài Gòn náo nhiệt. Những ngày tháng thơ ngây tại trường trung học có lẽ không bao giờ phai mờ trong trí 

nhớ của tôi, bởi ở đó tôi đã để trái tim mình rung động trước cô bạn chung lớp tên Thanh. Tình yêu học trò trong sáng lắm, chỉ cảm nhận qua ánh mắt, nụ cười chứ đâu có dám ngồi gần, dám nắm tay. Những khi tan trường sóng bước bên nhau cũng không biết nói câu gì, chỉ biết… đá cái lon sữa bò khua vang đường phố.

 
Thanh là con một gia đình khá giả, có cây xăng ở ngã bảy Lý Thái Tổ. Còn tôi hồi đó chỉ có chiếc “xế nổ” hiệu Roumie ngày ngày đi học. Mỗi chiều khi thay ba ra trông cây xăng, Thanh lại nhắc tôi ra đổ xăng… chùa. Những ngày tháng đó với tôi thật hạnh phúc, lãng mạn. Nhưng ngày vui ngắn chẳng tày gang, Thanh biến mất khỏi cuộc đời tôi vì một đám cưới ép gả với chàng bác sĩ. Hụt hẫng, chơi vơi, tôi uống chén đắng đầu đời và nếm trải mùi vị của “thất tình”. Tỉnh cơn say vào 2 giờ sáng, tôi ôm guitare và thế là Tôi đưa em sang sông ra đời. Bài hát với giai điệu buồn da diết được coi là tài sản chung cho nhiều chàng trai lâm vào cảnh như tôi thời đó.
 
Mối tình đầu làm tôi trắng tay, nhưng nỗi bất hạnh ấy đem lại cho tôi xúc cảm để có được hai bài hát tâm đắc. Sau Tôi đưa em sang sông gắn liền với tiếng hát Lệ Thu, ca khúc Ngày Cưới Em lại thành công vang dội: “Hôm nay ngày cưới em, nào men nồng nào hoa thơm, nào môi hồng nào da phấn, khăn áo muôn sắc đua chen…”
 
Tương tự, nhạc sĩ Y Vũ cũng “ngậm ngùi tâm sự” chuyện tình của ông cho nhạc sĩ Trịnh Hưng nghe: “Đó là nhạc ghi lại mối tình đầu của em. Dạo đó, em còn là học sinh trung học tư thục Hàn Thuyên ở phố Cao Thắng, gần nhà và lớp nhạc của anh, yêu một nữ sinh cùng lớp tên Thanh. Đó là mối tình học trò, trong trắng. Tình yêu chúng em chỉ cảm nhận qua ánh mắt trao đổi, chứ chưa một lần nắm tay nhau. Nhà nàng giàu sang, có cây xăng ở ngã bảy Lý Thái Tổ, còn em thì nghèo, chỉ có chiếc xe gắn máy hiệu Bromic do anh Y Vân mua cho. Nàng dặn em, mỗi ngày cứ vào buổi chiều, canh đúng giờ nàng ra thay thế cho cha mẹ nàng về nhà nghỉ ngơi, thì tới để nàng đổ đầy bình xăng cho, không phải trả tiền. Và cứ thế, rồi bẵng đi một tuần không thấy Thanh đi học và ra cây xăng. Em nhớ Thanh quá, mới lấy hết can đảm tới nhà nàng, hỏi thăm cô em gái nàng, thì được biết mấy hôm nay nhà bận rộn vì phải tiếp nhận lễ hỏi cưới chị Thanh, do cha mẹ gả cho một ông bác sĩ lớn tuổi.”
 
Nhạc sĩ Y Vũ trưng bằng chứng “bản thảo”
 
Giữa tháng 11, 2017, trong một chương trình truyền hình Hát trên chuyện tình trong nước, nhạc sĩ Y Vũ phát biểu về nhạc phẩm Tôi đưa em sang sông:
 
“Tôi xin khẳng định một điều bài này của tôi viết có một mình tôi thôi. Anh Y Vân có dạy hai người học trò là Nhật Ngân và Anh Thy. Khi tôi thất tình tôi viết bài Tôi đưa em sang sông được mấy ngày sau, trình anh Y Vân duyệt, bài này được tốt rồi. Anh đề nghị ngay, bây giờ mày có thể để thêm tên Nhật Ngân vào bài này không để cho hai đứa cùng nổi tiếng với nhau, có chút tiếng, bài này hay, sẽ nổi đó. Kính thưa quý vị, tôi rất vô tư. Tôi không nghĩ cái chuyện mấy chục năm sau lại như thế. Tôi bảo anh muốn để thì em để vào. Bài đó ký tác quyền cho nhà xuất bản Diên Hồng và có thêm tên Nhật Ngân, và tôi có hứa trên báo chí là sẽ có một ngày tôi lục được cái bài gốc, gọi là bản thảo, tôi viết tay.”
 
Sau đó nhạc sĩ Y Vũ đưa bản viết tay cho người dẫn chương trình và cô đọc “Bản thảo ký ngày 5 tháng 6 năm 1962.”
 
Các báo trong nước phần lớn đồng ý với lời “khẳng định” của nhạc sĩ Y Vũ và báo Thanh Niên kết luận: “Lần đầu tiên, nhạc sĩ Y Vũ khẳng định ca khúc Tôi đưa em sang sông do chính ông tay ông viết mà không có bất kì một nhạc sĩ nào tham gia vào. Hơn nữa, nhạc sĩ còn đem theo bản gốc viết tay hơn 40 năm trước để làm bằng chứng chân thật nhất cho những lời kể của ông.”
 
Khoan, xin đừng quá vội.
 
– Bản gốc:
 
“Bản thảo” chép tay mà nhạc sĩ Y Vũ dùng làm bằng chứng không thể chứng minh đó bản gốc của nhạc phẩm Tôi đưa em sang sông. Ngoài nhạc sĩ Y Vũ, không có người nào hay cơ quan có thẩm quyền độc lập nào xác định đó là bản thảo. Cách đây hơn nửa thế kỷ, mọi sáng tác văn nghệ đều phải chép tay, dù do chính tác giả sáng tác hay chép lại nhạc của người khác.
 
Nhạc sĩ Nhật Ngân cũng có thể có một bản thảo chép tay như bản của nhạc sĩ Y Vũ nhưng còn đang thất lạc. Cuộc đời nhạc sĩ Nhật Ngân giống như âm nhạc của anh gắn liền với những chặng đường gian nan của đất nước. Rời Đà Nẵng, đi lính, gia nhập ban Tâm Lý Chiến của Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung, chịu đựng cực khổ sau 1975, vượt biên sang Thái Lan 1982. Mạng sống lo chưa xong nói gì là bản thảo.
 
– Thời điểm nhạc phẩm ra đời:
 
Khi còn sống, trong các buổi trả lời phỏng vấn trên báo chí, qua truyền hình, truyền thanh, nhạc sĩ Nhật Ngân đều khẳng định một cách chính xác nhạc phẩm đó anh viết lúc 18 tuổi từ năm 1960. Khẳng định này đã được phổ biến cùng khắp.
 
Nhạc sĩ Y Vũ, qua các lời kể, dù thừa nhận đã có biết, có nghe những tranh luận nhưng không phản đối về thời điểm 1960 do nhạc sĩ Nhật Ngân đưa ra.
 
Tạm cho là lúc đó nhạc sĩ Y Vũ chưa tìm ra “bản thảo” để chứng minh nhưng ít nhất ông phải nhớ năm nhạc phẩm ra đời và phản bác thời điểm 1960 của nhạc sĩ Nhật Ngân chứ. Chẳng lẽ ông nhớ những chi tiết nhỏ như “Thanh là con một gia đình khá giả, có cây xăng ở ngã bảy Lý Thái Tổ. Còn tôi hồi đó chỉ có chiếc “xế nổ” hiệu Roumie ngày ngày đi học” mà lại không nhớ mình sáng tác bản nhạc năm nào?
 
Không phản biện về thời điểm có nghĩa ông đồng ý bản nhạc ra đời vào năm 1960 chứ không phải 1962 và như vậy bản của nhạc sĩ Nhật Ngân dù còn đang bị thất lạc mới thật sự là bản gốc.
 
– Thời điểm tìm ra “bản thảo”
 
Trên báo Thanh Niên ngày 17 tháng 11, 2017, Nhạc sĩ Y Vũ tiết lộ thời gian tìm ra “bản thảo”: “Bản gốc của ca khúc này do bà cụ cất giữ. Bà rất quý sáng tác của hai anh em tôi và giữ mỗi người một bản gốc mà bà yêu thích nhất. Bà kẹp bản gốc ca khúc Lòng mẹ của Y Vân và bản gốc Tôi đưa em sang sông trong ngăn tủ của mình cùng với giấy khai sinh của tôi và một vài giấy tờ quan trọng khác. Mãi đến khi bà mất, tôi mới kiếm được những tư liệu này.”
 
Người viết xin lỗi phải nhắc đến bà cụ nhưng vì nhạc sĩ Y Vũ nhắc trước.
 
Mẹ của hai nhạc sĩ Y Vân và Y Vũ không phải qua đời năm ngoái, năm kia hay thậm chí không phải mười năm trước mà qua đời cách đây 24 năm. Báo chí trong nước viết về ngày cụ qua đời: “ngày 28/11/1992, nhạc sĩ Y Vân giã từ cõi người khi vừa bước vào tuổi 60 và mười tháng sau, mẹ của ông, (cũng là mẹ của nhạc sĩ Y Vũ) qua đời.”
 
Theo lời kể của chính nhạc sĩ Y Vũ, bà cụ cũng chẳng chôn giấu “bản thảo” ở một góc nhà nào kín đáo hay gởi cho ai mà để ngay trong phòng của cụ cùng với các giấy tờ quan trọng khác. Do đó, “bản thảo” trong xấp giấy tờ quan trọng phải được tìm ra ngay sau khi bà cụ qua đời.
 
Nhưng cứ tạm cho rằng ông không tìm ra “bản thảo” ngay mà 10 năm sau mới tìm ra thì tại sao 14 năm rồi ông không công bố “bản thảo” dù ông có rất nhiều cơ hội và tại sao ông không công bố khi nhạc sĩ Nhật Ngân còn sống để hai mặt một lời cho dứt khoát? Điều gì khiến ông dè dặt?
 
– Vai trò của nhạc sĩ Y Vân:
 
Người có thẩm quyền nhất và có tính xác định cao nhất ai là tác giả của nhạc phẩm Tôi đưa em sang sông chính là nhạc sĩ Y Vân vì cả nhạc sĩ Y Vũ và Nhật Ngân đều đồng ý là nhạc sĩ Y Vân đã ghép chung hai nhạc sĩ vào nhạc phẩm.
 
Nhạc phẩm này không phải bây giờ mới nổi tiếng mà nổi tiếng ngay sau khi được Lệ Thu hát cho tới nay. Nhạc sĩ Y Vân qua đời năm 1992. Tuy lâu nhưng không phải quá lâu. Nhạc sĩ Nhật Ngân không có ở trong nước nhưng nhạc sĩ Y Vũ ở bên cạnh anh mình cho đến ngày cuối nhưng tại sao ông không yêu cầu nhạc sĩ Y Vân xác định giùm ông những bí mật, những khuất tất chung quanh nhạc phẩm này nếu ông là “tác giả duy nhất”?
 
Người viết không dám phê bình nhạc sĩ Y Vân nhưng khách quan mà nhận xét lý luận cho rằng nhạc sĩ Y Vân thêm tên em mình vào một nhạc phẩm mà ông biết sẽ nổi tiếng có lẽ dễ thuyết phục hơn là thêm một tên còn đang học nhạc 18 tuổi vô danh ở ngoài Đà Nẵng vào nhạc phẩm của em mình.
 
– Lời nhạc
 
Nhạc sĩ Nhật Ngân có hơn 200 nhạc phẩm, không tính nhạc ngoại quốc lời Việt, và nhiều trong số đó đã gắn liền với tâm sự với những người xa quê hương như Xuân này con không về, Một mai giã từ vũ khí nhưng khi được yêu cầu anh thường hát Tôi đưa em sang sông.
 
Người viết nghe chính nhạc sĩ Nhật Ngân hát Tôi đưa em sang sông lần đầu 14 năm trước tại Dallas, rồi sau đó những lần khác trong các đại hội Quảng Đà, họp mặt Liên Trường ở Nam California. Anh hát với tất cả xúc động chân thành toát ra từ ánh mắt, từ lời ca, từ niềm hoài vọng về một thành phố cảng thân yêu nơi có bến đò ngang và dòng sông đẹp.
 
Ai đã từng sống ở Đà Nẵng hay sống cả hai thành phố Đà Nẵng và Sài Gòn, và lắng lòng ngồi nghe anh Nhật Ngân hát, chắc hẳn sẽ đồng ý chính anh là tác giả của Tôi đưa em sang sông bởi vì “sông” trongTôi đưa em sang sông là dòng sông thật chứ không phải “đưa người ta không đưa qua sông” theo cách ví trừu tượng của Thâm Tâm.
 
Chuyện tình của nhạc sĩ Y Vũ không có tình tiết nào được phản ảnh trong lời nhạc Tôi đưa em sang sông. Theo lời kể của ông phần lớn chỉ diễn ra bên cây xăng ở Ngã Bảy Lý Thái Tổ và thậm chí cầm tay cũng chưa có thì làm gì có “bàn tay nâng niu ân cần” như trong Tôi đưa em sang sông.
 
Chuyện tình của nhạc sĩ Nhật Ngân không đánh dấu bằng những “cây dài bóng mát”, “vòm lá me xanh”, “thương xá sắp đóng cửa” hay “muôn tà áo tung bay” ở Sài Gòn mà bằng “đường vắng”, “bến đất”, “bến gió”, “lối mòn” thường gặp trong các thành phố xa thủ đô. Nói chung, không một động từ, một danh từ, một tĩnh từ nào trong Tôi đưa em sang sông làm người nghe liên tưởng đến Sài Gòn.
 
– Tôi đưa em sang sông so sánh với Ngày cưới em
 
Nhạc sĩ Y Vũ, trong dịp khẳng định tác quyền Tôi đưa em sang sông có nhắc đến ca khúc Ngày Cưới Em.
 
Lẽ ra không cần phải bàn đến nhạc phẩm không liên hệ nhưng vì nhạc sĩ Y Vũ “tâm đắc” và nhấn mạnh nhạc phẩm này cũng đã “thành công vang dội” nên người viết mời độc giả vào Youtube nghe hai nhạc phẩm rồi đọc kỹ lời của hai nhạc phẩm để thấy sự khác nhau trong cách diễn tả và ngôn ngữ được dùng.
 
Những câu hát trong Tôi đưa em sang sông là những câu thơ, có trách móc, có chút đắng cay nhưng rất nhẹ nhàng và bóng gió:
 
Tôi đưa em sang sông, chiều xưa mưa rơi âm thầm
Để thấm ướt chiếc áo xanh, và đẫm ướt mái tóc em
Nếu xưa trời không mưa, đường vắng đâu cần tôi đưa
Chẳng lẽ chung một lối về mà nỡ quay mặt bước đi
 
Tôi đưa em sang sông, bàn tay nâng niu ân cần
Sợ bến đất lấm gót chân, sợ bến gió buốt trái tim
Nếu tôi đừng đưa em, thì chắc đôi mình không quen
Đừng bước chung một lối mòn, có đâu chiều nay tôi buồn…
 
Trong lúc đó, lời của Ngày cưới em:
 
Hôm nay ngày cưới em
Nào men nồng nào hoa thơm
Nào môi hồng nào giá phấn
Khăn áo muôn sắc đua chen
Mắt biếc ngời ánh đêm
Làn tóc nụ cười ngát hương
Từng bước dập dìu bước êm
Chỉ mình lòng tôi hoang vắng
 
Hôm nay ngày cưới em
Mừng vui họ hàng đôi bên
Vì đâu nàng mời tôi đến
Tuy có đây cũng như không
Chiếc áo tình chóng phai
Một sớm một chiều đã thay
Thì nhớ đừng vì có tôi
Mà nàng giấu vui không cười…
 
Lời của Ngày cưới em không bóng gió như thơ mà là những đoạn văn xuôi tả rất cụ thể, rõ ràng với “men”, “môi”, “phấn”, “mắt”, “khăn áo”, “họ hàng đôi bên”.
 
Ngôn ngữ bao la nhưng mỗi nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ chỉ có một cuốn tự điển để sử dụng cho riêng mình và dù có viết trăm bài thì những chữ tác giả dùng cũng giới hạn trong tự điển đó thôi.
 
– Tiền bản quyền
 
Nhạc sĩ Y Vũ than trên báo Thanh Niên: “Nghe nói tiền bản quyền ca khúc bên Mỹ cao lắm, mà hàng chục năm qua tôi không được một đồng.” Đây là điểm thuộc về pháp lý và sẽ do các luật sư chuyên về bản quyền giải thích nhưng trong quan điểm phổ quát, tiền bản quyền thuộc về ai tùy thuộc vào ai giữ bản quyền. Người viết cũng đã từng nộp bản quyền và biết cơ quan bản quyền không dựa vào bản chép tay dù cũ bao lâu của ai đó để xác định bản quyền.
 
Việt Nam và Mỹ đều là thành viên của Berne Convention cho nên nếu nhạc sĩ Nhật Ngân nộp bản quyền nhạc của ông sau khi định cư ở Mỹ năm 1982 và gia đình nhạc sĩ Nhật Ngân giữ quyền thừa kế bản quyền của Tôi đưa em sang sông thì họ có thể kiện những ai dùng nhạc phẩm vào mục đích thương mại ngay cả đã sử dụng tại Việt Nam trước đây, đang sử dụng hiện nay và cả sẽ sử dụng sau này.
 
Nhạc sĩ Y Vũ có nhiều điều kiện, nhiều thời gian, nhiều cơ hội và nhiều người để giúp chứng minh ông là tác giả của nhạc phẩm Tôi đưa em sang sông nhưng đã không làm. Hôm nay, nhạc sĩ Nhật Ngân không còn sống để biện hộ cho anh nên dù nói gì nhạc sĩ Y Vũ cũng chỉ vẽ nên nhiều nhất là một nửa cái bánh mà thôi.
 
Trong lúc một số người dễ tin có thể cho những bằng chứng nhạc sĩ Y Vũ đưa ra là thật nhưng những người khác thận trọng, suy nghĩ chín chắn hơn sẽ nghĩ khác. Ngay cả những khán giả vỗ tay khi nhạc sĩ Y Vũ trưng ra bản chép tay mà ông viết là “bản thảo” trên đường về cũng có thể tự trách mình đã vội vàng vì không có gì chứng minh đó là bản đầu tiên của nhạc phẩm Tôi đưa em sang sông.
 
Bản chép tay mà nhạc sĩ Y Vũ đưa ra không phải lấy từ hồ sơ lưu trữ của Bộ Thông Tin Việt Nam Cộng Hòa, không phải do gia đình cố nhạc sĩ Y Vân công bố, không phải do một người thứ ba nào khám phá mà chỉ từ nhạc sĩ Y Vũ.
 
Mười hai năm trước khi qua đời, nhạc sĩ Nhật Ngân kể lại với nhạc sĩ Trường Kỳ: “Tôi không bao giờ than vãn cuộc đời. Tôi vẫn mang trái tim của tôi, mang sự yêu mến cuộc đời của mình để bước vào cuộc đời.”
 
Lúc 10 giờ sáng ngày Thứ Bảy, 21 tháng 1, 2012, tác giả Xuân này con không về đã bước ra khỏi cuộc đời cũng bằng trái tim đầy yêu thương như thế.
 
Vì nhạc sĩ Y Vũ khẳng định ông là tác giả duy nhất của Tôi đưa em sang sông nên người viết muốn phân tích để chứng minh những gì dễ cho là thật và tưởng là thật nhiều khi lại không hẳn là thật.
 
Sự kiện Tôi đưa em sang sông là một biến cố đáng tiếc trong âm nhạc Việt Nam nhưng suy cho cùng cũng chẳng làm nhạc sĩ nào thiệt hại hoàn toàn. Cả hai nhạc sĩ cùng với nhạc sĩ Y Vân qua nhân duyên văn hóa đã góp phần tạo nên nhạc phẩm tuyệt vời này.
 
Nhạc sĩ Nhật Ngân đã qua đời và nhạc sĩ Y Vũ sắp bước vào tuổi tám mươi, nên mỉm cười đón nhận nhân duyên. Tôi đưa em sang sông sẽ mãi mãi là một phần của văn hóa Việt Nam và các thế hệ Việt Nam mai sau cũng sẽ mỉm cười kính mến và trân trọng khi nhắc đến tên hai vị.
 
Hãy để “em sang sông”, thưa nhạc sĩ Y Vũ.
 
1/12/2017
 
Trần Trung Đạo
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Điều gì làm nên hạnh phúc?

Sinop, thành phố không đèn giao thông, tuần làm việc 3 ngày: ‘Đơn giản chính là hạnh phúc’

Sinop là một địa danh du lịch nổi tiếng của Thổ Nhĩ Kỹ, đất nước nối liền hai châu lục Á và Âu. Theo Thống kê, y tế và cơ sở hạ tầng ở Sinop xếp hạng kém so với các tỉnh thành khác của đất nước. Tuy nhiên, cư dân Sinop lại là những người hạnh phúc nhất nơi đây.
Sinop – Thành phố không phân biệt giàu nghèo
Ở một số nơi khác như thủ đô Istabul của Thổ Nhĩ Kỳ, người ta rất dễ dàng bắt gặp các hội tiểu thư, công tử nhà giàu thích “chơi trội”. Họ đi siêu xe, uống rượu trong các hộp đêm, hưởng thụ những thú vui trên trời dưới biển không suy nghĩ. Nhưng nếu tới Sinop, những hội con nhà giàu đều sẽ không có “đất diễn”, vì người giàu và người nghèo ở đây dường như không có sự phân biệt.
Ở Sinop, người giàu và người nghèo dường như không có sự phân biệt.
Ở một thành phố thanh bình như Sinop, người giàu và người nghèo gần như không có khoảng cách về diện mạo bên ngoài hay những gì họ thể hiện khi ra ngoài phố. Bên trong ngôi nhà của họ có thể có tiện nghi và tài sản khác nhau nhưng một khi đã ngồi cùng nhau bên ngoài thì họ chỉ có điểm chung là sự điềm đạm và bình thản.
Cơ sở hạ tầng ở Sinop xếp hạng kém so với các tỉnh thành khác của đất nước nhưng cư dân lại là những người hạnh phúc nhất nơi đây.
“Ở đây không có sự phân biệt giàu nghèo. Tôi không có cảm giác rằng một số người thì giàu, còn một số thì nghèo. Mọi tầng lớp trong xã hội đều đến cùng một quán cà phê để ăn một loại bánh tráng miệng có vừng truyền thống và uống trà”, bà Aylin Tok, quản lý nhà hàng Teyze’nin Yeri nổi tiếng ở Sinop cho biết.
Người dân Sinop vẫn giữ cho mình được khu phố cổ từ thời những người Hy Lạp còn sống ở đó. Họ cũng có kiến thiết thêm nhưng hầu như không hề xuất hiện những tòa nhà chọc trời.
Người dân Sinop yêu sự đơn giản, bình dị…
Con người nơi đấy thích sống đơn giản và thoải mái. Công chức chỉ làm việc 3 ngày/tuần, sau đó là 4 ngày nghỉ liên tiếp. Người dân cũng chẳng màng đến những thứ xa xỉ, hào nhoáng. Những ngôi nhà nhỏ ấm cúng là nơi những người hàng xóm có thể vươn mình qua cửa sổ để trò chuyện với nhau. Họ cũng có thể làm như vậy nếu muốn mua đồ ở cửa hàng tạp hóa,  bởi mọi người ở đây đều thích nói chuyện trực tiếp với nhau, và họ yêu sự đơn giản, bình dị…
Có lẽ vì thế mà họ không cần phải bon chen kiếm cho được nhiều tiền và chạy đua theo những thứ cao cấp, thời thượng. Người dân sống với nhau vẫn theo nếp cũ hàng nghìn năm nay: ăn uống, mua đồ ở các cửa hàng địa phương và không mấy khi quan tâm đến những thứ mình không có.
Người dân sống với nhau vẫn theo nếp cũ hàng nghìn năm nay: ăn uống, mua đồ ở các cửa hàng địa phương và không mấy khi quan tâm đến những thứ mình không có.
Không giống như những thành phố khác trên thế giới, phụ nữ Hồi giáo ở đây cũng được đối xử đặc biệt và tôn trọng. Họ có thể thoải mái mặc quần áo theo sở thích và ra đường vào lúc 3 giờ sáng mà không bị ai chỉ trích. Sinop không phân biệt tôn giáo và mọi người ở đây đều được tạo điều kiện để sống thoải mái nhất và được là chính mình.
Những bãi biển trải dài dọc theo con đường mang hơi thở của biển…
Một điều thú vị nữa là thành phố Sinop không có đèn giao thông và họ cũng không cần điều đó. Bạn sẽ vô cùng thích thú khi di chuyển ở đây bởi xe cộ ở đây lưu thông một cách có trật tự và vô cùng từ tốn. Mọi người dường như không vội vã đi đâu cả cho dù đó là một buổi sáng làm việc trong tuần, và người dân cũng thích đi bộ hơn là phải lái xe.
Điều gì làm nên hạnh phúc?
Sinop nổi tiếng là quê hương của nhà triết học Hy Lạp cổ đại Diogenes, người đã sống như một người ăn xin khắp phố khoảng năm 300 trước công nguyên. Phong cách sống của ông được gọi là “Cynic” (tiếng Hy Lạp cổ nghĩa là “một con chó”). Ông cũng là người sáng lập chủ nghĩa Hoài nghi với niềm tin rằng: “Các công ước xã hội cản trở tự do cá nhân và cản trở con đường dẫn đến cuộc sống tốt đẹp, trong khi thuận theo tự nhiên là cách nhanh nhất để có được cuộc sống hạnh phúc”.
Sinop nổi tiếng là quê hương của nhà triết học Hy Lạp cổ đại Diogenes, người đã sống như một người ăn xin khắp phố khoảng năm 300 TCN
Và Diogenes đã sống cuộc đời không có gì ngoài một bộ quần áo trên người và một chiếc thùng để ngủ. “Diogenes đã tìm thấy hạnh phúc trong một cuộc sống giản dị, hòa hợp với thiên nhiên, ông tận hưởng những gì ông đang có và không màng đến những thứ khác”, giáo sư Stephen Voss ở Khoa Triết học giải thích.
Ở Sinop, họ thân thiện và quý mến nhau nhưng điều đáng quý là không ai can thiệp hay phán xét cuộc sống của người khác.
Có vẻ người dân Sinop không “cực đoan” như Diogenes, nhưng những triết lý của ông vẫn chảy tràn trong tâm hồn của mỗi người dân nơi đây. Họ luôn sống và đề cao sự đơn giản, tận hưởng trọn vẹn những gì mình có và bỏ qua những thứ không có được. Họ thân thiện và quý mến nhau nhưng điều đáng quý là không ai can thiệp hay phán xét cuộc sống của người khác.
Thả hồn mình thư thái trước những cảnh sắc yên bình, bạn sẽ cảm thấy lòng thanh thản lạ lùng….
Dạo qua những ngọn đồi thoai thoải, những cánh đồng mát dịu với những chú bò đang nhởn nhơ gặm cỏ. Xa xa, những khung cửa sổ hiền hòa phủ đầy những dây thường xuân.Thỉnh thoảng, những bãi biển trải dài dọc theo con đường mang hơi thở của biển, thả hồn mình thư thái trước những cảnh sắc yên bình, bạn sẽ cảm thấy lòng thanh thản lạ lùng….
Mùa đông Sinop cũng bình yên quá đỗi…
Ảnh: Joshua Allen/ BBC

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Một nhân tài.

Nhiều khi mình phải suy nghĩ, dù chỉ là nơi thuộc địa, nhưng người Pháp đã xây dựng nên những công trình gía trị với thời gian như ở  quốc họ. Sự chí tâm và say sưa chức nghiệp của họ đáng ngưỡng phục. Tên ba người Pháp mà ở VN không thể quên ơn họ, đó là Pasteur, Yersin, Eiffel. 
DgN
 
Người Việt Nam  đã bao nhiêu lần đi qua cây Cầu Long Biên ở Hà Nội, Cầu Trường Tiền ở Huế và không bao nhiêu người đã đến Bưu Điện Saigon, nhưng mấy ai biết tác giả những kiến trúc là ai. Bài viết dưới đây, tuy ngắn nhưng cũng giúp chúng ta có thêm chút kiến thức về tiểu sử và công trình của một con người tài ba kiệt xuất…  Gustave Eiffel.
Mời xem.
Ng.
 
Inline image
 
Ông GUSTAVE EIFFEL (hình trên đây) Một Kiến Trúc Sư tài ba là tác giả nhiều công trình vĩ đại trên thế giới trong đó có Cầu Long Biên ở Hà Nội, Cầu Tràng Tiền ở Huế, Nhà Bưu Điện Trung Ương ở Saigon .  Tháp Eiffel (Tên ông ta) ở Pháp và Tượng Nữ Thần Tự Do ở Mỹ (Do nước Pháp tặng) cũng chính ông ta là người thiết kế để đem bức tượng khổng lồ này từ Pháp sang Mỹ.
 
 
https://i1.wp.com/www.daikynguyenvn.com/wp-content/uploads/2017/04/Ho%C3%A0ng-h%C3%B4n-c%E1%BA%A7u-Long-Bi%C3%AAn-flickr.com_-1.jpg

 
 
Cầu Long Biên đẹp long lanh về đêm.
 
 
https://i1.wp.com/www.daikynguyenvn.com/wp-content/uploads/2017/04/c%E1%BA%A7u-tr%C3%A0ng-ti%E1%BB%81n-hu%E1%BA%BF-my-tour.jpg

Cầu Tràng Tiền (Huế) cũng đẹp không kém khi về đêm.

 
https://i0.wp.com/www.daikynguyenvn.com/wp-content/uploads/2017/04/b%C6%B0u-%C4%91i%E1%BB%87n-s%C3%A0i-g%C3%B2n-my-tour.jpg

  Bưu điện Sài Gòn, biểu tượng của “hòn ngọc viễn đông”.
 
Ta hãy tìm hiểu đời sống của con người ta ba kiệt xuất này ra sao …
 
Gustave Effel vốn là một cậu nhỏ  đặc biệt thông minh và tò mò, không chuyên cần lắm ở trường Lycée Royal (Trung Học Hoàng Gia), vì cậu thấy các môn học là “nhàm chán, buồn tẻ, không khí nhà trường tù hãm…“, Gustave Eiffel chỉ thấy hứng thú ở hai năm cuối phổ thông với lịch sử và văn chương, chứ không phải kỹ thuật hay công nghệ mà ông thành danh sau này.
Sau khi tốt nghiệp trung học Eiffel lên Paris, theo học tại Collège Sainte Barbé để luyện thi vào École Polytechnique – trường Đại Học Bách Khoa nổi tiếng thế giới, nơi ông định theo đuổi chuyên ngành hóa học.
Nhưng chàng sinh viên bản tính lãng mạn không thể kìm nén được tình yêu say đắm đối với Paris hoa lệ. Anh dành hầu hết thì giờ rỗi để bơi lội trên Sông Seine, thăm Bảo Tàng Louvre, đi xem kịch tại Nhà Hát Opera.
 
 
https://i2.wp.com/www.daikynguyenvn.com/wp-content/uploads/2017/04/song-seine-hinh-anh-1.jpg

Tháp Eiffel
 
 
https://i2.wp.com/www.daikynguyenvn.com/wp-content/uploads/2017/04/bao-tang-Louvre-hinh-anh-1-2.jpg

Viện Bảo Tàng Louvre Paris. 

 
https://i1.wp.com/www.daikynguyenvn.com/wp-content/uploads/2017/04/ki%E1%BA%BFn-tr%C3%BAc-%C4%91%E1%BA%B9p-ng%E1%BA%A5t-ng%C3%A2y-c%E1%BB%A7a-nh%C3%A0-h%C3%A1t-Opera-Paris.jpg

L’Opera de Paris với kiến trúc và nội thất lộng lẫy 
 
 
Kết quả là anh rớt Đại Học Bách Khoa. Tuy rớt, nhưng không hề lãng phí thì giờ vào việc buồn nản, mà lại thi ngay vào École Centrale des Arts et Manufactures, trường Nghệ Thuật & Sản Xuất, được đánh giá là một trong những trường đào tạo nghệ thuật, kỹ thuật và công nghệ hàng đầu Châu Âu thời bấy giờ. Từ đó mở ra con đường của Gustave Eiffel tới với những công trình có kết cấu vĩ đại.
 
Tượng nữ thần Tự Do: Biểu tượng của nước Mỹ hùng mạnh được tạo nên như thế nào?
https://i1.wp.com/www.daikynguyenvn.com/wp-content/uploads/2017/04/n%E1%BB%AF-th%E1%BA%A7n-t%E1%BB%B1-do-8.jpg

Biểu tượng nước Mỹ có tên đầy đủ là Tự Do Soi Sáng Thế Giới 
 
Tượng Nữ Thần Tự Do với tên đầy đủ là Tự Do Soi Sáng Thế Giới (La liberté éclairant le monde/Liberty Enlightening the World), là một món quà đặc biệt của nước Pháp dành tặng nước Mỹ nhân dịp kỷ niệm tròn 100 năm ngày nước Mỹ tuyên bố độc lập.
Édouard René Lefèvre de Laboulaye, một nhà chính trị kiêm nhà văn chuyên viết về lịch sử Mỹ đã đề xuất ý tưởng tặng nước Mỹ một món quà để ca ngợi nền tự do. Ý tưởng của ông lập tức được chính phủ Pháp ủng hộ, và việc thiết kế mỹ thuật được giao cho nhà tạc tượng trứ danh Frédéric-Auguste Bartholdi.
Bartholdi đã thiết kế nên hình ảnh
 
“Nữ thần cao lớn có nét đẹp kinh điển như những bức tượng Hy Lạp cổ đại với kích thước khổng lồ ở tư thế đứng thẳng, đầu đội vương miện với 7 tia hào quang toả ra tượng trưng cho 7 biển và lục địa trên trái đất,tay trái mang một phiến đá ghi dòng chữ “JULY IV MDCCLXXVI”, tức là “Tháng Bẩy, Ngày 4 Năm 1776” (ngày độc lập của Mỹ), tay phải giương cao bó đuốc của tự do, thân mặc tấm áo choàng phủ kín tới chân.”
 
 
https://i2.wp.com/www.daikynguyenvn.com/wp-content/uploads/2017/04/n%E1%BB%AF-th%E1%BA%A7n-t%E1%BB%B1-do-6.jpg
Nữ thần Tự Do chính là hình ảnh nữ thần Hy Lạp dũng mãnh đầu đội vương miện tỏa ra 7 ánh hào quang tượng trưng cho 7 lục địa và biển.
Bài toán nan giải: người giải được chỉ có Gustave Eiffel!
 
Nhưng ngay lập tức Bartholdi phải đối mặt với 2 bài toán nan giải:
·  Làm thế nào để bức tượng khổng lồ có thể tháo rời ra từng bộ phận để chuyên chở sang Mỹ?
·  Bức tượng sẽ được dựng trên Đảo Tự Do trong Cảng New York, vậy phải làm thế nào để nó chịu đựng được gió bão rất mạnh ngoài biển Đại Tây Dương?
Người thích hợp nhất có thể giúp Bartholdi giải 2 bài toán hóc búa đó không thể là ai khác Gustave Eiffel! Vào thời điểm này, tuy công trình tháp Eiffel nổi tiếng chưa ra đời, nhưng tên tuổi kiến trúc sư Gustave Eiffel lừng danh đã được rất nhiều người biết tới như một công trình sư tài ba xây dựng nên những công trình khổng lồ với kết cấu phức tạp và chắc chắn.
 
Vì thế ông đã được mời giúp Bartholdi xây dựng Tượng Nữ Thần Tự Do. Ngay lập tức Eiffel hưởng ứng và bắt tay vào việc: Xây dựng tượng Nữ Thần Tự Do trên Đảo Tự Do, Cảng New York, sau này trở thành biểu tượng của nước Mỹ.
Trước hết, bài toán thứ nhất được giải bằng cách “cắt rời thân thể” Nữ Thần Tự Do ra làm 350 mảnh rồi chất lên chiếc thuyền buồm mang tên Isère để chở sang Mỹ. Tới Mỹ, nó được đưa lên một hòn đảo có tên là Đảo Tự Do (Liberty Island) ở cửa sông Hudson nhìn ra cảng New York (New York Harbour).
Những con số ấn tượng
Để giải bài toán thứ hai, Eiffel xây dựng một hệ thống cốt sắt làm cốt lõi bên trong để lắp ghép 350 mảnh đồng, tạo nên một bức tượng cao 46m, nặng tổng cộng 204 tấn, đứng trên một bệ cao 45,7m (bệ do người Mỹ xây dựng).
 
 
https://i2.wp.com/www.daikynguyenvn.com/wp-content/uploads/2017/04/n%E1%BB%AF-th%E1%BA%A7n-t%E1%BB%B1-do-5.jpg

[8]Riêng cánh tay giơ bó đuốc đã dài tới 12m, và  vương miện là gian phòng rộng có tới 25 cửa sổ, các du khách từ đó mà ngó ra vẫy chào
“Riêng cánh tay giơ bó đuốc đã dài tới 12m, ngón trỏ dài 2,4m, cái đầu tính từ cằm tới vuơng miện cao 5m, riêng cái miệng rộng 1m.”
 
Ngày nay du khách tới thăm bức tượng sẽ phải leo 354 bậc thang để lên tới vương miện. Bản thân vương miện là một “gian phòng” rộng với 25 cửa sổ, trông từ xa như 25 viên đá quý cài trên vương miện. Tổng cộng bức tượng bao gồm 31 tấn đồng và 125 tấn thép.
Các tấm đồng làm bề mặt bức tượng có chiều dày 2,37 mm, được ghép với nhau sao cho cách ly với khung thép bằng những tấm cách điện để tránh hiệu ứng pin kim loại làm rỉ chỗ ghép do hơi nước biển gây nên.
Mặc dù được hai tài năng xuất chúng là Bartholdi và Eiffel phối hợp thực hiện, dự án này vẫn không thể nào hoàn thành kịp thời hạn kỷ niệm 100 năm nước Mỹ độc lập (1876), mà phải đợi tới mười năm sau, tức 1886, Tượng Nữ Thần Tự Do mới được tổng thống Mỹ Groover Cleveland chính thức cắt băng khánh thành.
 
Trong bài báo “Gustave Eiffel: The Man Behind The Masterpiece” (Gustave Eiffel: Người đứng sau các kiệt tác), ký giả Karen Plumley viết: “Eiffel dựng một khung thép để gắn các tấm kim loại vào đó, và đặt nhiều chùm thép thẳng đứng cắm sâu vào trong bệ đá granite của nền móng để giữ cho bức tượng khổng lồ đứng vững.
https://i2.wp.com/www.daikynguyenvn.com/wp-content/uploads/2017/04/Khung-th%C3%A9p-Gustave-Eiffel.jpg

[9]Eiffel dựng một khung thép để gắn các tấm kim loại vào đó, và đặt nhiều chùm thép thẳng đứng cắm sâu vào trong bệ đá granite của nền móng để giữ cho bức tượng khổng lồ đứng vững.
Kết quả là có một bức tượng nhẹ hơn (so với tượng đặc) nhưng vẫn đảm bảo chắc chắn, có khả năng chịu đựng được một tải trọng khổng lồ và hàng loạt tác động khắc nghiệt khác.
 
 
https://i2.wp.com/www.daikynguyenvn.com/wp-content/uploads/2017/04/n%E1%BB%AF-th%E1%BA%A7n-t%E1%BB%B1-do-9.jpg

[10]Tượng Nữ Thần Tự Do có khả năng chịu đựng được một tải trọng khổng lồ và hàng loạt tác động khắc nghiệt khác.
 
“Một lần nữa, Eiffel đã chứng minh khả năng của ông trong việc giải quyết những bài toán kỹ thuật phức tạp và khó khăn nhất, trong đó sử dụng những kỹ thuật mà trước đó không ai dám làm.”
 
Bách khoa toàn thư Wikipedia cho rằng thiết kế kết cấu của Eiffel là điều kiện không thể thiếu để biến dự án Tượng Nữ Thần Tự Do khổng lồ thành hiện thực.
Kể từ 1886, kiệt tác văn hóa này nhanh chóng trở thành biểu tượng quốc gia của nền tự do ở Mỹ, đem lại niềm kiêu hãnh cho người Mỹ, trở thành một tâm điểm thu hút khách du lịch và di dân từ khắp thế giới đến Mỹ, thúc đẩy nền kinh tế ở đây phát triển mạnh mẽ chưa từng có.”
 
 
https://i2.wp.com/www.daikynguyenvn.com/wp-content/uploads/2017/04/N%E1%BB%AF-th%E1%BA%A7n-t%E1%BB%B1-do-1.jpg
Vốn ban đầu là một màu vàng đồng diễm lệ, tuy nhiên ngày nay tượng trở nên xanh do đồng đã bị o xy hóa, đây là điều ít người biết đến
 
Một số người Mỹ sống ở Pháp đã hài lòng với món quà mà người Pháp đã dành tặng cho đất nước họ, đến nỗi họ trả ơn người Pháp bằng cách xây dựng một phiên bản Tượng Nữ Thần Tự Do ở Pháp.
Phiên bản này cũng bằng đồng, cao 11m (khoảng ¼ bức tượng ở New York) đã được dựng lên tại hòn đảo Thiên Nga cách Tháp Eiffel khoảng 2km về phía bắc.
 
Họa vô đơn chí: Trong gian nan mới rõ mặt anh hùng
 
https://i2.wp.com/www.daikynguyenvn.com/wp-content/uploads/2017/04/Gustave-Eiffel.jpg

[11]Trong gian nan mới rõ mặt anh hùng
 
Bước sang năm 1887, chưa kịp nghỉ ngơi sau vinh quang do Tượng Nữ Thần tự Do mang lại, Eiffel đã gặp cảnh “họa vô đơn chí”: Vợ ông mắc bệnh nặng và ra đi vĩnh viễn.
Nỗi đau chia tay người vợ yêu thương chưa kịp hồi phục thì một tai họa thứ hai giáng lên đầu ông, liên quan đến việc làm ăn với Công Ty Kênh Đào Panama của Pháp do Ferdinand de Lesseps lãnh đạo.
 
Theo hợp đồng ký kết với công ty Lesseps, Công ty Eiffel tiến hành thiết kế và xây dựng những chốt khóa đóng mở cho kênh đào này. Nhưng không may, do quản lý kém, công ty Lesseps bị vỡ nợ, làm trắng tay hàng trăm ngàn nhà đầu tư Pháp.
Một cuộc điều tra được mở ra, trong đó tất cả những ai dính líu đến việc sử dụng nguồn vốn đầu tư đều bị luật pháp hỏi thăm, Eiffel không phải là ngoại lệ… Nếu bị kết án, ông có thể sẽ phải đối mặt với một bản án tù ít nhất 2 năm.
Nhưng sau 5 năm điều tra, Eiffel được chứng minh là vô can. Tuy vậy, cuộc điều tra đã làm ông mệt mỏi, dẫn tới quyết định về hưu vào năm 1893, khi ông đương chức chủ tịch hội đồng quản trị công ty.
Nhưng trong hoạn nạn mới rõ mặt anh hùng: Chính trong những ngày tháng mệt mỏi nhất vì phải đối mặt với cuộc điều tra, Eiffel đã làm nên công trình huyền thoại của đời mình – Tháp Eiffel!”
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

50 câu nói trí tuệ

50 Câu Nói Trí Tuệ Và Sâu Sắc Giúp Bạn Hiểu Vì Sao Người Do Thái Lại Thông Minh Và Giàu Có

 
Biết những câu nói nổi tiếng dưới đây của người Do Thái bạn sẽ hiểu được vì sao họ lại thông minh và giàu có như vậy. 

1. Tài sản có thể trở về số 0 nhưng kiến thức phải càng ngày càng mở rộng.
2. Thời gian tốt nhất để trồng cây là vào 20 năm trước. Thời gian tốt thứ hai là ngay bây giờ.
3. Điếc, nhưng không phải là không biết gì bởi còn có thể đọc được sách báo.
4. Nếu không học tập, cho dù đi vạn dặm đường xa thì mãi vẫn chỉ là người đưa thư mà thôi.
5. Ai cũng than vãn thiếu tiền nhưng chả ai than thở thiếu trí khôn cả.
6. Trên đời có 3 thứ không thể bị ai cướp mất: Đầu tiên là thức ăn đã vào trong dạ dày, hai là ước mơ đã ở trong lòng, ba là những kiến thức đã học trong đầu.
7. Người lớn dạy trẻ con học nói, còn trẻ con dạy người lớn im lặng.
8. Một người chỉ ra sai sót của bạn chưa chắc đã là kẻ thù của bạn; một người luôn luôn ca ngợi bạn chưa hẳn đã là bạn của bạn.
9. Hãy sợ con dê húc phía trước, con ngựa đá phía sau, còn kẻ ngu thì phải đề phòng tứ phía.
10. Kinh nghiệm là cái từ mà mọi người dùng để gọi các sai lầm của mình.
11. Khi bạn khóc vì không có giày để đi, hãy nhìn những người không có chân.
12. Khi già đi người ta thị lực kém đi nhưng nhìn thấy nhiều hơn.
13. Đừng sợ đi chậm. Chỉ sợ đứng yên.
14. Ta không cầu xin cho gánh nặng sẽ nhẹ hơn. Nhưng cho đôi vai hãy vững vàng hơn.
15. Bông lúa càng nhiều hạt, đầu nó càng rủ xuống. Người giỏi thường hay khiêm tốn.
16. Mất tiền chỉ là mất nửa đời người, mất lòng tin là mất tất cả.
17. Phần lớn người ta thất bại không phải do họ không có khả năng, mà là vì ý chí không kiên định.
18. Đừng nói gì trừ khi bạn đã học được cách im lặng.
19. Giúp người thì sẽ làm tăng tài sản, ki bo chỉ làm nghèo đi.
20. Một hành trình ngàn dặm cũng chỉ khởi đầu từ bước đi đầu tiên.
21. Nếu vấn đề nào giải quyết được bằng tiền, thì đó không phải là vấn đề mà là chi phí.
22. Nếu bạn bị vấp ngã, điều đó chưa chắc có nghĩa bạn đang đi sai đường.
23. Có tiền cũng không tốt lắm, cũng như thiếu tiền cũng chẳng tồi lắm.
24. Không có tình huống vô vọng, chỉ có giải pháp không chính xác.
25. Chúa trời cho con người hai tai và một miệng để nghe nhiều nói ít.
26. Luôn luôn nhìn vào mặt tươi sáng của sự vật. Nếu không thấy, hãy đánh bóng cho đến khi nó tỏa sáng.
27. Nếu cuộc sống không dần dần tốt lên thì nó sẽ kém đi.
28. Đừng sợ rằng bạn không biết một cái gì đó. Hãy sợ rằng bạn không chịu tìm hiểu về nó.
29. Con người phải sống tối thiểu là vì sự tò mò.
30. Một khi bạn mắc một sai lầm, điều tốt nhất bạn có thể làm là cười vào nó.
31. Nếu mà làm từ thiện chẳng tốn kém gì thì ai cũng làm từ thiện cả.
32. Hầu như những loại hoa có màu trắng đều rất thơm, hoa có màu sắc đẹp đẽ thường không thơm. Người cũng vậy, càng mộc mạc giản dị, càng tỏa hương thơm từ bên trong.
33. Chết vì cười còn hơn là chết vì hoảng sợ.
34. Một người đàn ông có thể chuyển núi bắt đầu từ việc mang đi những viên đá nhỏ.
35. Khi chúng ta đem hoa tặng cho người khác thì người ngửi được mùi hương đầu tiên là chính chúng ta. Khi chúng ta nắm bùn ném vào người khác, thì người bị làm bẩn đầu tiên là bàn tay chúng ta.
36. Ngủ trên gối êm không có nghĩa có giấc mơ đẹp.
37. Nếu bạn không thể xử lý những việc nhỏ thì những việc lớn của bạn sẽ trở nên vô nghĩa.
38. Khi bồ câu kết bạn với quạ, mặc dù cánh của nó vẫn còn màu trắng nhưng trái tim thì dần dần chuyển sang màu đen.
39. Lúc nào vô công rỗi nghề thì người ta sẽ làm những việc long trời lở đất.
40. Khi còn trẻ phải làm những việc bạn nên làm, thì khi về già mới có thể làm những việc bạn muốn làm.
41. Cái khuy áo đầu tiên sai, cái sau cùng khó mà chữa được.
42. Hạnh phúc chỉ đến khi cánh cửa đã được mở.
43. Một ngôi nhà nhỏ đầy ắp tiếng cười có giá trị hơn một cung điện đầy nước mắt.
44. Cười là loại mỹ phẩm rẻ nhất, vận động là loại y dược rẻ nhất, chào hỏi là loại chi phí giao tiếp rẻ nhất.
45. Kinh nghiệm giống như một chiếc lược mà cuộc đời chỉ ban tặng sau khi chúng ta đã mất hết cả tóc.
46. Nếu bạn thực sự có tài năng thì bạn sẽ không sợ mình kém may mắn.
47. Tình yêu có ngọt ngào đến đâu cũng chẳng lấy ra nấu chè được.
48. Chúa trời bảo vệ kẻ nghèo ít nhất là không sa vào những thói hư tật xấu xa hoa.
49. Chúa không thể có mặt đồng thời khắp nơi nên Người đã tạo ra các bà mẹ.
50. Adam quả là tay gặp may đầu tiên vì chẳng có mẹ vợ.
 
Mộc Trà (tổng hợp)
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Chuyển tiếp: Fwd: Lạ lùng thị trấn tuyệt đẹp tọa lạc trên… một cây cầu

Du khách có thể ghé thăm thị trấn này tại thành phố Trùng Khánh, Trung Quốc.

La lung thi tran tuyet dep toa lac tren... mot cay cau
Thị trấn kỳ lạ tọa lạc trên một cây cầu
Thị trấn Hồng Tửu nằm trên cây cầu nằm thuộc khu Phù Linh, thành phố Trùng Khánh. Cầu được xây dựng ngay trên “giao lộ” của suối Lê Hương và sông Trường Giang nổi tiếng. Những ngày gần đây, hồ trữ nước Tam Hạp, Trùng Khánh thu về 175 mét nước, khiến mực nước dưới chân cầu dâng cao, bất ngờ tạo nên khung cảnh đẹp tựa tranh vẽ cho thị trấn trên cầu.
 
La lung thi tran tuyet dep toa lac tren... mot cay cau
Những ngôi nhà ở đây được sơn đủ màu sắc rực rỡ
Cây cầu này có độ dài 400 mét, trên cầu là những ngôi nhà đủ màu sắc được xây dựng san sát nhau, chia ra thành từng cụm. Một nửa trong số đó được xây theo kiến trúc phương tây, nửa còn lại được thiết kế mang âm hưởng phương đông.
La lung thi tran tuyet dep toa lac tren... mot cay cau
La lung thi tran tuyet dep toa lac tren... mot cay cau
Toàn cảnh cây cầu nằm giao thoa giữa suối Lê Hương và sông Trường Giang
Du khách tới nơi đây sẽ vô cùng thích thú trước những bức tượng chúa Jesus, tượng Hy Lạp xuất hiện ở bất cứ đâu, dù là trước cổng nhà, trên rìa cầu hoặc thậm chí là ở trên…mái nhà. Đan xen là những bức tượng theo trường phái Trung Hoa, chẳng hạn như tượng thần thổ địa. Các cửa hàng bán rượu gạo nếp, bánh nướng đậm chất Trung Quốc cũng được xây dựng để thu hút du khách. Phong cách độc đáo khiến nơi đây giống như một thị trấn trong truyện cổ tích.
La lung thi tran tuyet dep toa lac tren... mot cay cau
La lung thi tran tuyet dep toa lac tren... mot cay cau
Du khách tới đây có thể bắt gặp các bức tượng theo trường phái châu Âu ở khắp nơi
La lung thi tran tuyet dep toa lac tren... mot cay cau
Bên cạnh kiến trúc phương Tây, nơi đây cũng có những ngôi nhà mang đậm văn hóa Trung Quốc
Do không có người sinh sống nên thị trấn này hiện đã trở thành một điểm tham quan thú vị dành cho nhiều du khách trên khắp thế giới. Điểm du lịch này mở cửa từ 8 giờ đến 17 giờ hàng ngày và có thu phí theo từng khu tham quan. Người dân nơi đây sẽ cung cấp dịch vụ giải trí trên nước, thăm quan thị trấn trên cầu hoặc thăm quan làng cổ Lận Thị nằm sát ngay bên cạnh.
La lung thi tran tuyet dep toa lac tren... mot cay cau
Nhìn từ trên cao, nhìn thị trấn này không có gì khác biệt so với những cây cầu bình thường
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin