Category Archives: Góp Nhặt Trăm Hoa

Thế hệ bố, có lẽ, là thế hệ đầu tiên biết lắng nghe con cái

“Một hôm. cậu con trai hỏi bố của mình:
“Bố ơi, con không hiểu ngày xưa bố và mọi người sống như thế nào khi không có Internet. không có máy tính, không có tivi, không có điều hòa, không có điện thoại di động? “

Người bố trả lời:
“Thì cũng giống như thế hệ ngày nay thôi con: sống mà không biết đến nguyện cầu, không có lòng trắc ẩn, không có danh dự, không có sự tôn trọng, không biết xấu hổ, không khiêm tốn và không thích đọc sách…”.
“Thế hệ bố, và thế hệ trước, sinh ra trong khoảng thời gian từ năm 1945-1985 thật là may mắn, khi:
– Ai cũng không ngại đi học một mình từ sau ngày đầu tiên đến trường.
– Sau giờ học, ai cũng được chơi đến tận tối mịt.
– Không ai ôm tivi từ giờ này qua giờ khác. Và ai cũng có những người bạn thực sự chứ không phải với những người bạn từ Internet..
– Nếu như khát, bọn bố uống luôn nước máy, chứ không phải nước đóng chai.
– Bọn bố ít bị ốm, dù rằng hay ăn chung uống chung, như 4 đứa cùng uống chung 1 cốc nước quả. Nếu có ốm thì ông bà chữa bệnh cho bằng các loại thuốc rẻ tiền trong nước sản xuất, hay là bằng các bài thuốc dân gian.
– Bọn bố không bị béo phì, dù rằng ngày nào cũng chén căng bánh mì và khoai tây.
– Bọn bố chơi bằng các đồ chơi tự làm lấy và chia sẻ đồ chơi, sách truyện với nhau.
– Ngày xưa, các gia đình hầu hết là không giàu có. Nhưng các ông bố bà mẹ đã tặng cho con cái tình yêu của mình, dạy cho con biết trân trọng những giá trị tinh thần chứ không phải là vật chất, dạy cho con biết thế nào là giá trị thực sự của con người : Sự trung thực, Lòng trung thành, Sự tôn trọng và Tình yêu lao động.
– Ngày xưa, bọn bố chưa bao giờ có điện thoại di động, đầu DVD, trò chơi điện tử Play Station, máy tính, không biết thế nào là Internet, chat…
Nhưng bọn bố có những người bạn thực sự, là khi:
– Thường đến chơi nhà nhau mà chả cần phải có lời mời, đến nhà ai gặp gì ăn nấy.
– Ký ức của thế hệ ngày đó chỉ là những tấm ảnh đen trắng, nhưng đầy ánh sáng và rực rỡ, ai cũng trân trọng lật mở cuốn album gia đình với sự thích thú, tôn kính, trong cuốn album đó luôn lưu giữ chân dung của ông bà cụ kỵ các con…
– Thế hệ bố không bao giờ ném sách vào thùng rác, mà đứng chồn chân trong hàng để mua sách, rồi sau đó đọc chúng suốt ngày đêm.
– Bọn bố không bao giờ đưa cuộc sống riêng tư của thiên hạ ra để đàm tiếu, cũng như biết giữ bí mật cuộc sống của gia đình mình, không phải như những gì bây giờ đang xảy trên Facebook và Instagram….
– Thế hệ bố, có lẽ, là thế hệ cuối cùng mà con cái biết nghe lời cha mẹ.
– Thế hệ bố, có lẽ, là thế hệ đầu tiên biết lắng nghe con cái.
– Thế hệ bố là như thế đó, là “phiên bản giới hạn”, vậy nên các con hãy biết tận hưởng những ngày bên bố mẹ, hãy biết học hỏi và trân quý…
…Trước khi thế hệ này biến mất, nhé con “

Sưu tầm 

Hits: 19

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Tiên tri của Đại sỹ Liên Hoa Sinh hơn 1.000 năm trước về thời mạt Pháp

Tiên tri của Đại sỹ Liên Hoa Sinh hơn 1.000 năm trước về thời mạt Pháp

Tượng Đại sỹ Liên Hoa Sinh tại Namchi, Ấn Độ.

Đại sỹ Liên Hoa Sinh nói, thời đại đó rất nhiều người xuất gia truy cầu danh lợi, đi khắp nơi lừa bịp tín chúng, rắp tâm suy nghĩ thu lấy tiền tài của người khác, họ có tài sản cá nhân nhưng không làm Phật sự, không tụng kinh văn mà đắm chìm trong ca múa giải trí, phá giới mà trong tâm không ái náy hổ thẹn… 

Đại sỹ Liên Hoa Sinh (Padmasambhava) là người nước Ô Trượng Na (Uddiyan, tức vùng Tây Bắc Pakistan ngày nay). Người nước Ô Trượng Na nổi tiếng là những tăng nhân vân du. Tương truyền Quốc vương Ô Trượng Na phát hiện một em bé trên hoa sen trong hồ và nuôi dưỡng thành vương tử, sau này bị quốc vương truất địa vị vương tử, Ngài vào rừng sâu tu hành. Ngài là tăng nhân chùa Na Lạn Đà và tăng nhân vân du ở Ấn Độ thế kỷ thứ 8. Sau này nhận lời Luận sư Tịch Hộ và Tạng vương Xích Tùng Đức Tán Lễ mời vào Tây Tạng sáng lập tăng đoàn, được người đời sau gọi là Liên Sư. Về sau, Ngài được chúng đệ tử sùng kính, tôn là Phật Đà thứ 2.

Theo truyện ký về Ngài, thì sau khi Liên Sư nhận lời mời, khoảng năm 750, Ngài từ Ấn Độ khởi hành đến Tây Tạng hoằng Pháp, dùng Thần thông đánh đổ các thầy phù thủy, thầy mo của đạo Bon và quỷ Thần bản địa, sáng lập nên ngôi chùa đầu tiên ở Tây Tạng – Chùa Tang Da (Samye Gompa). Từ đó người dân Tây Tạng đã cải giáo sang Phật giáo chính thống. Để kỷ niệm sự ra đời của Phật giáo Tây Tạng, Liên Sư và Tịch Hộ, Xích Tùng Đức Tán được gọi là Sư quân tam tôn (ba vị tôn sư).

(Ảnh minh họa: vkfaces.com)

***

Những lời tiên tri từ hơn 1.000 năm trước

Hơn 1.000 năm trước, Liên Sư đã có tiên tri về thời kỳ mạt Pháp, cũng chính là tất cả những gì của thời đại chúng ta ngày nay như: Màn hình tinh thể lỏng, ván trượt, máy bay, xe hơi, điện thoại thông minh v.v… Rất nhiều tiên tri của Ngài, đến nay xem lại khiến con người kinh sợ và tự kiểm điểm sâu sắc.

Rất nhiều đệ tử Kim Cương thừa đều biết, xưa kia đệ tử của Liên Sư đã thỉnh giáo Đại sỹ Liên Hoa Sinh – Giáo chủ Ô Kim giáo rằng: “Xin thượng sư từ bi khai thị, thời đại ác thế mạt Pháp thì khi nào sẽ đến?”.

Liên Sư nói rất từ bi rằng: “Khi chim sắt bay trên không trung (tức máy bay), ngựa sắt chạy trên đất (tức tàu hỏa và xe hơi) thì đó là thời đại mạt Pháp đến. Lúc đó Mật Pháp của Phật Pháp sẽ hưng thịnh và hồng truyền khắp thế giới. Ở thời mạt Pháp này, toàn thế giới sẽ xuất hiện tình hình như thế này: Vua không giống vua, bề tôi không giống bề tôi, cha không giống cha, con không giống con, cha con như bạn bè. Phụ nữ không giữ trinh tiết, đàn ông dâm dục không kiềm chế, rất nhiều hiện tượng triệu chứng mạt Pháp của Phật giáo đều xuất hiện”.

Liên Sư lại tiên tri rằng: “Rất kỳ diệu, xe thời kỳ đó không cần ngựa kéo, tự nó có thể khởi động chạy. Rất kỳ diệu, thanh thiếu niên thời đó tại sao không cần xỏ sừng trâu dưới chân mà lắp bánh xe trượt đi trượt lại? Rất kỳ diệu, mọi người thời đại đó không phải ra khỏi nhà, hàng ngày chỉ cần ngồi đó nhìn vào cái gương nhỏ liền biết chuyện thế sự trong thiên hạ, hơn nữa còn có thể thông tin tức cho nhau. Thật là thần kỳ”.

Đây chẳng phải điện thoại di động trên tay chúng ta đó sao. Có lẽ xem đến đây mọi người đều rõ, xe hơi, ván trượt, màn hình tinh thể lỏng, điện thoại di động đều là những thứ người hiện đại rất quen thuộc.

Liên Sư nói tiếp, thời đại đó rất nhiều người xuất gia truy cầu danh lợi, đi khắp nơi lừa bịp tín chúng, rắp tâm suy nghĩ thu lấy tiền tài của người khác, họ có tài sản cá nhân nhưng không làm Phật sự, không tụng kinh văn mà đắm chìm trong ca múa giải trí, phá giới mà trong tâm không ái náy hổ thẹn.

Về các chúng sinh thời kỳ mạt Pháp, Liên Sư nói: “Thời đại đó sẽ có phụ nữ chen ngang vào giữa vợ chồng (người thứ 3), con cái bất hiếu đuổi cha mẹ ra khỏi nhà, anh em đánh nhau vì gia sản, tạo cả 5 loại nghiệp mà không có tâm xấu hổ, lời dạy của Phật Đà dần dần bị mai một mất đi. Giữa người thân thích có xuất hiện loạn luân. Có rất nhiều người chìm đắm trong cờ bạc, người nghiện cả ngày nuốt khói nhả khói, người nghiện rượu say đắm tham bôi. Tượng Phật, Pháp khí lưu lạc nơi đầu đường cuối phố, trở thành hàng hóa. Có rất nhiều người đem báu vật ông bà tổ tiên truyền lại bán cho người nước ngoài. Do chặt phá rừng tràn lan khiến đất màu cuốn mất, dẫn đến thiên tai liên tiếp xuất hiện. Trong thành phố trộm cắp nổi lên khắp nơi. Người ăn xin khắp các thành phố. Có rất nhiều người chết trong chiến tranh”.

***

Những lời tiên tri của Liên Sư này ngày nay xem quả là ‘những điều trông thấy mà đau đớn lòng’. Nhân loại đã điên cuồng khai thác cướp bóc thiên nhiên, tuy có hình thành vật chất phồn vinh chưa từng có, nhưng đạo đức không còn, trộm cắp ăn xin khắp nơi, bệnh tật hoành hành, các vấn đề xã hội nối nhau kéo đến. Nếu chúng ta không tăng cường cảnh giác, kiềm chế hành vi bản thân thì cuối cùng cũng sẽ có ngày bị hủy hoại trong cái ‘văn minh’ của chính mình.

Nhất Tâm

Hits: 13

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Cơn Bão Ngoài Trời, Cơn Bão Trong Lòng

Tác giả lần đầu dự Viết Về Nước Mỹ 2018. Bà cho biết: Tên thật là Ngô Phương Liên,  học Trưng Vương thời trung học, vượt biển qua Mỹ năm 79. Đi học lại gần  6 năm mới ra trường với bằng BS engineer năm 85. Hiện là cư dân ở Lafayette, Louisiana, còn vài năm nữa sẽ … ăn tiền gìa. Bút hiệu Pha Lê, theo chú giải vui của tác giả, không phải là trong veo như Pha Lê, mà là… Pha trò và Lê la! Sau đây là bài viết thứ tư của bà.

                                           ******************************

  Ông John nhìn sững trên màn ảnh TV, hớp nốt ngụm beer còn lại, ông bóp nát lon beer trong tay và bực dọc ném mạnh vào thùng rác nơi góc bếp. Cơn bão Harvey bất ngờ đổ ập đến làm hỏng hết dự tính ông đã sắp đặt suốt 3 tháng trời.

Để tiến hành dự tính này, ông John đã phải tìm kiếm những dữ kiện, chỉ dẫn trên internet, nhưng ông phải vào thư viện, vào những quán cà phê để sử dụng máy computer của họ vì ông không thể dùng máy của ông được. Ngay cả cuộn dây thừng, tấm bạt nylon, cuộn băng keo, ông cũng phải lái xe ra khỏi thành phố, đến nhưng tiệm hardware nhỏ của địa phương  để mua. Đặc biệt đôi găng tay, ông đã phải đi ba bốn tiệm  mới tìm đươc một đôi vừa  ý.

Nhưng John dự tính gì mà cần chuẩn bị quá kỹ lưỡng đến vậy? Ông phải tính toán, hoạch định từng chi tiết nhỏ để sẽ không có một sơ hở, một lỗi lầm nào trong lúc ông thực hiện công việc này, bởi chỉ một chút sơ sẩy, cái giá ông phải trả chính là mạng sống của ông! Đúng vậy, bởi vì ông ta đang âm mưu “giết vợ!” 
 Ông John, một người Mỹ gốc Ái Nhĩ Lan trên 60 tuổi, là một tài xế lái xe truck xuyên bang. Ông đã thất nghiệp hơn nửa năm nay. Hai vợ chồng ông lấy nhau hơn 30 năm,  bà John làm quản thủ thư viện của thành phố hơn 20 năm. Ccó lẽ vì công việc ở thư viện ngồi nhiều hơn phải đi nên bà John thuộc hạng người “ăn gì to lớn đẫy đà làm sao”, nhưng bà rất hiền lành, bình dị và nói cho cùng, vóc dáng của bà cũng vẫn tương xứng với  thân hình hộ pháp của ông, 6ft 9 và nặng  hơn 250lb!

John còn nhớ cách đây hơn 4 tháng, khi ông mới thất nghiệp, trong một lần trà dư tửu hậu, một ông bạn già vợ vừa mất, bạn bè ngỏ lời chia buồn, nhưng ông ta  chỉ cười cười vì ông vừa “ẵm” gần 250 ngàn đô tiền bảo hiểm nhân thọ cùa bà vợ quá cố. Câu chuyện đó đã ám ảnh ông John mãi.

Thật ra, dù không còn yêu vợ, ông John chẳng bao giờ dám có ý nghĩ đen tối như vậy, nhưng thất nghiệp, ngày ngày đi ra  đi vào,  cuộc sống ông John dần dần đi đến chỗ bế tắc. Nợ nhà, nợ xe, nợ thẻ tín dụng, đủ thứ nợ dồn dập mỗi tháng khiến ông muốn ngộp thở, đã thế, lâu lâu lại nghe tin ông bạn vợ vừa mất nay đi du lịch nước này, mai đi thưởng ngoạn  bãi biển kia khiến ông John càng nôn nóng, và ông quyết định phải thanh toán bà vợ hơn 30 năm đầu ấp tay gối này!

Ông bắt đầu suy tính kế hoạch, ông nhớ nhiều lần coi những phim cảnh sát điều tra tội ác, người đàn ông giết vợ mà tỉnh bơ đi mua sắm những vật dụng cần thiết cho âm mưu đen tối của mình tại một cửa tiệm gần nhà, xài thẻ tín dụng, lại còn cà kê dê ngỗng một hồi với người bán hàng. Khi bị bắt, hình ảnh ông ta trên camera của tiệm hiện ra rõ mồn một, hết đường chạy tội!

Có bà thuốc cho chồng chết và khai người chồng bị ngộ độc, khi bị điều tra, cảnh sát tìm ra trên computer của bà, bà đã  nghiên cứu tìm tòi trên internet các loại độc dược, cách sử dụng, công hiệu v.v…, hết cách chối tội!  Toàn những bộ óc kém thông minh, lạy ông tôi ở bụi này, ông John thầm nghĩ.

Cho nên ông đã phác họa một phương án vô cùng toàn hảo cho âm mưu của ông. Đôi găng tay ông sẽ xiết cổ bà vợ, gói bà vào tấm bạt nylon, cột thật chặt bằng hai cuộn dây thừng, mang xác bà tới một khu rừng vắng và với 10 gallons xăng, ông sẽ đốt và phi tang xác bà một cách dễ dàng.

Ông đã cẩn thận cất dấu  tất cả những “vật liệu” này trên căn gác  của nhà kho sau vườn. Một điều thuận lợi hơn nữa là nhà ông nằm cuối cùng của khu phố, bên trái là  một khoảng đất trống, còn người hàng xóm bên phải là hai vợ chồng già VN trên 80 tuổi,  ông bà Phan, họ sống rất khép kín. Cho nên ông John rất yên tâm không ai có thể nhận ra sự vắng mặt của vợ ông.

 Nhưng người tính không bằng trời tính! Nhiều lần ông đã định ra tay, nhưng cứ trật vuột hoài, có lúc thì bà John lái xe về thăm cha mẹ ở thành phố khác cả tuần, khi thì chị ông ghé qua thăm  rồi ở chơi vài ngày, và lần này còn thê thảm hơn, mưa gió bão bùng lụt lội như thế này, làm sao ông vô rừng “đốt” được cái xác!

Ông John ngồi thừ người suy nghĩ, trên TV dự  báo thời tiết cơn bão sẽ tiến vào đất liền nội trong ngày mai. Quá mệt mỏi, ông John ngả người trên sofa và chìm vào giấc ngủ một cách khó nhọc.

Tiếng sấm và làn chớp sáng lòa ngoài cửa sổ khiến ông John giật mình bừng tỉnh. Ông ngơ ngác vài giây, căn nhà tối đen vì cúp điện, chỉ có một ngọn nến leo lét trong nhà bếp. Với tay cầm chiếc cell phone lên, ông giật mình vì đã hơn 3 giờ sáng. Ngoài trời gió bắt đầu mạnh hơn,và mưa cũng đang rơi xối xả. Đặt chân xuống đất, ông  John hốt hoảng vì ông vừa dẵm lên phần thảm ướt nhẹp,  trong nhà ông, nước đã ngập ngang qua bực thềm của lò sưởi. Tiếng bà John cất lên sau lưng khiến ông John giật bắn mình:

– Nhà mình nước ngập như thế này, nhà ông bà Phan chắc còn tệ hơn, tôi nhìn sang thấy tối thui.

Ông John bực mình ngắt lời bà:

– Cúp điện, bà không thấy sao,nhà nào mà chẳng tối.

Giọng bà John bỗng trở nên khẩn khoản :

– Ngày mai ông thử chạy sang xem sao, tội hai vợ chồng già, con cái lại ở xa.

– Ừ, để mai rồi tính!

 Ông John hứa đại với bà cho xong chứ chính bản thân  ông cũng chưa biết ngày mai sẽ ra sao.

Hôm sau, tiếng bà John  cùng cái lay nhẹ trên vai khiến ông John bừng tỉnh, đã gần 9 giờ sáng mà bầu trời vẫn xám xịt và cơn mưa mỗi lúc càng nặng hạt hơn. Nhớ tới đôi vợ chồng già hàng xóm bên cạnh, ông John tất tả bước ra ngoài, mực nước bây giờ đã dâng ngang đầu gối ông. Biết không thể nào vào nhà bằng cửa trước được, ông John đành phải phá cửa sổ  vừa trèo vào,vừa lớn tiếng kêu gọi ông Phan, từ trong phòng ngủ một giọng nói yếu ớt vang lên  : 

– Chúng tôi ở trong phòng ngủ, cái phòng cuối cùng.

Cố lội nhanh về hướng đó, và khi ánh đèn pin rọi vào góc phòng, một hình ảnh khiến ông John sững người cảm động, trên chiếc giường, ông Phan đang ngồi ôm vợ. mặt bà Phan xám ngắt và đôi mắt bà vẫn nhắm nghiền, nhìn thấy ông John, ông Phan mừng rỡ nói :

– Lạy Chúa tôi, cám ơn ông đã đến, suốt đêm qua tôi cứ phải luôn trấn an vợ tôi, tôi chỉ lo bà ấy sợ quá rồi ngất xỉu thì thật tôi không biết phải làm sao. Có cái cell phone thì tôi lại đánh rơi xuống nước, giờ không gọi được nữa.

 Rồi ông Phan quay sang nhìn bà vợ với ánh mắt thương yêu, ông dịu dàng nói:

– Có tôi đây, bà không phải lo gì hết.

 Chợt chuông điện thoại của ông John réo vang, nhìn qua số phone, ông John mừng rỡ vì đó là  mục sư William. Ông mục sư cho biết hội trường nhà thờ xây trên một khu đất cao, chắc chắn sẽ không bị lụt, ông muốn tất cả giáo dân nếu chưa kịp di tản, hãy đến trú ngụ tạm tại nơi đây cho qua cơn bão táp. Ông John vắn tắt nói ý đó với ông Phan và dặn ông bà hãy sửa soạn một ít quần áo và vật dụng cá nhân, ông sẽ quay lại.

 Lội bì bõm qua mảnh sân để về nhà, từ xa ông đã nhìn thấy bóng bà John đang đứng lo lắng nhìn về cuối đường. Bước vào nhà, ông nhắc lại ý của mục sư Wiliam và thúc dục bà mau thu xếp ít đồ dùng cá nhân để kịp tới hội trường nhà thờ trước khi cơn bão trở nên  dữ dằn hơn. Nhìn bà lật đật, lúng túng thu dọn, lòng  ông John  chợt xốn xang, và ông cảm thấy  bà rất đáng thương, ông buột miệng lập lại câu nói của ông Phan ;

– Có tôi đây, bà không phải lo gì hết!

Hơi ngạc nhiên từ  câu nói nhẹ nhàng hiếm có của chồng, nhưng bà John chỉ khẽ mỉm cười. Ông John cũng chợt nhớ ra suốt 2 ngày nay, ông đã gần như quên cả ý định đưa bà sang bên kia thế giới!

*
Bây giờ thì mọi người đã tề tựu trong hội trường của nhà thờ. Có tất cả 38 người. Mục sư William chào mừng và cầu chúc mọi người được bình an qua cơn bão táp phong ba này. Rồi ông buồn bã lo lắng nói:

– Vì không chuẩn bị trước nên chúng ta chỉ có đủ xăng  chạy máy phát điện đến 2 giờ đêm, sau đó chúng ta chỉ còn đèn cầy mà thôi, và với tình trạng này, chẳng có một cây xăng nào mở cửa.

 Bỗng một giọng nói vang lên từ cuối hội trường:

– Tôi có xăng, tôi còn xăng dự trữ ở nhà.

Mọi người cùng quay lại và nhận ra đó là ông John. Mục sư William vui mừng nhưng ông vẫn dè dặt hỏi lại :

– Ông không cần giữ lại phần xăng đó để làm gì sao?

 – Thưa không, số xăng đó bây giờ tôi không cần đến nữa!

Ông John đưa Mục sư William về nhà kho của ông. Hai cậu trai tình nguyện viên của nhà thờ đang mò mẫm trên căn gác xép nơi ông John cất dấu thùng xăng, chợt một cậu lên tiếng: .

– Trời ơi có cả một cuộn dây thừng, tấm bạt nylon, 2 cuộn băng keo, tất cả đều còn mới nguyên trong bọc. Nhà thờ đang cần những thứ này, chúng tôi mang xuống hết được  không?

 Ông John choáng váng gần như á khẩu, mục Sư William vẫn kiên nhẫn đứng yên chờ đợi. Thở một hơi dài,ông John cố gắng nói,nhưng ông chợt cảm thấy tiếng nói của ông như từ một nơi xa xăm nào đó vọng lại:

– Thưa vâng, mang về nhà thờ đi. Tất cả mấy thứ này bây giờ không cần cho công việc của tôi nữa.

Nắm chặt đôi tay của ông John, mục sư William vừa ra dấu  biết ơn, vừa ngỏ ý:

– Nhưng công việc đó là công việc gì, ông có cần  chúng tôi giúp một tay không?

 Đến lúc này ông John không thể chịu đựng được nữa, ông cảm thấy nghẹt thở và tim ông đập những nhịp đập không bình thường, ông đành bước ra ngoài xe ngồi chờ mọi người.

Đêm hôm đó, nhờ số xăng của ông John, hội trường có đèn sáng suốt đêm. Tấm bạt nylon được dùng để che một góc sau hội trường cho các bà nấu nướng. Những cuộn dây thừng dùng để cột những nhánh cây to để khi gió thổi mạnh, chúng không  quật  ngược lại hội trường, có thể làm sập mái nhà.  Cuộn băng keo dùng để dán những cửa số bằng kính xung quanh hội trường.

 Bây giờ mọi người cảm thấy bình tĩnh và an tâm hơn sau khi mỗi người được một chén soup nóng. Không  gian trong hội trường thật êm ả, bình an dù bên ngoài cơn bão  cấp 3 đang tiến dần vào thành phố. Mục sư William ngỏ ý muốn cử hành một thánh lễ ngắn gọn vừa để tạ ơn Thiên Chúa, vừa cầu xin Người che chở cho mọi người trong những ngày mưa gió sắp tới.

Đứng trên bục  giảng, mục sư William thật cảm động khi nhìn xuống giáo dân đang thành tâm khấn nguyện. Các bà với khuôn mặt đầm đìa nước mắt, ngay cả những các ông đôi mắt cũng rưng rưng. Mục sư cũng nhắc nhở tên ông John nhiều lần vớùi lời tri ân trang trọng và thắm thiết.

Quỳ bên cạnh vợ, khuôn mặt ông John cũng ràn rụa nước mắt. Nhìn ông khóc, mọi người càng thương cảm và quý mến ông hơn. “Ông ta đúng là thiên thần hộ mệnh do Thiên Chúa sai xuống để giúp đỡ, che chở  cho chúng ta trong cơn hoạn nạn thương đau này, những giọt nước mắt kia thật quý giá,” một số người đã nghĩ như thế về ông.

Nhưng dĩ nhiên không một ai, kể cả mục sư William và ngay cả bà John đang quỳ bên cạnh, có thể hiểu rõ ý nghĩa thật sự của những giọt nước mắt đang lăn dài trên khuôn mặt ông John. Đó chính là những giọt lệ vừa ăn năn  thống hối, vừa vui mừng,  hạnh phúc vì ông đã không thực hiện âm mưu đen tối, không nhúng tay vào tội ác tày trời.

Đối với mọi người, cơn bão Harvey là sự tàn phá, mất mát, và đau thương, nhưng đối với riêng ông, cơn bão này đã giúp ông rời xa cái vực thẳm tội ác, biến đổi ông thành một con ngưới mới, biết yêu thương, tha thứ và quảng đại.

 Sau thánh lễ, dù trời đã khuya, và bên ngoài gió vẫn thổi phần phật lẫn  trong tiếng mưa xối xả, nhưng mọi người quây quần thành từng nhóm. Ông John cố tránh tiếp xúc với mọi người vì ông thật khổ sở với những câu cám ơn, những cái xiết tay, những ánh mắt ngưỡng mộ.

Bước về phía cuối phòng, ông John  ngồi xuống cạnh những ông bạn già. Một ông đang kể về những trận bão, giọng ông thật hài hước:

– Cơn bão Harvey này là tên đàn ông nên không đáng lo ngại lắm. Cơn bão tên đàn bà mới là cả một vấn đề, như bão Katrina năm nào, khi “nàng” lên cơn, sức tàn phá thật khủng khiếp, và khi ra đi, “nàng” cuốn theo hết cả sinh mạng lẫn nhà cửa, tài sản…

 Ông ngừng vài giây, chỉ vào ngực mình và nói tiếp :

– Như tôi đây, từng là nạn nhân của nàng Katrina, nay chỉ còn tay trắng mà thôi!

 Nói xong ông phá lên cười khoái trá. Ông John cũng muốn cười to vì tính cách khôi hài của câu chuyện, nhưng chỉ dám cười nho nhỏ vì ông không muốn ai biết ông đang ngồi đây.

Khẽ dựa lưng vào góc tường, ông John đưa mắt nhìn quanh. Nơi góc phòng, cạnh cửa sổ, ông bà Phan đang ngồi trên một tấm nệm mỏng trải tạm cho ông bà. Khuôn mặt bà Phan đã hồng hào và tươi tỉnh hơn trước. Với chiếc quạt giấy trên tay, bà khe khẽ quạt nhè nhẹ cho ông Phan.

Ngồi cạnh vơ, ông Phan chợt nhớ lại cảnh tượng hãi hùng đêm qua. Hơn 50 năm lấy nhau, trải qua bao tháng ngày cực khổ, nghèo đói nơi quê nhà. Trải ra bao  tủi nhục đắng cay nơi trại cải tạo, rồi thêm một cuộc vượt biên thập tử nhất sinh. Đã hết đâu, còn những năm tháng lao động cật lưc mưu sinh trên đất nước này để nuôi dạy đàn con 4 đứa. Bây giờ mọi việc đã xong xuôi, con cái ông bà đã trưởng thành, ông bà bắt đầu an hưởng tuổi già, chẳng lẽ ông bà lại chết vì trận bão “lãng xẹt” này hay sao! Ông Phan nói lại cho bà nghe ý nghĩ đó, bà chỉ nhìn ông móm mém cười đôn hậu. Nhìn nụ cười đó cùng với những sợi tóc bạc lơ thơ trên vầng trán già nua nhăn nheo của vợ, ông Phan xúc động  đọc cho bà vài câu trong bài thơ  “Tình  Già ” của Phan Khôi :

   Hai mươi bốn năm xưa, một đêm vừa gió lại vừa mưa
   Dưới ngọn đèn mờ, trong gian nhà nhỏ,
   Hai mái đầu xanh kề nhau than thở…

 Ông bỗng bật cười vì 3 chữ  “mái đầu xanh”, có lẽ phải đổi “mái đầu… grey” mới đúng!

 *
 Rồi cơn bão cũng đi qua. Mọi người lục đục sửa soạn trở về xem  lại nhà cửa. Ông bà Phan và vài gia đình được con cái hay người thân đón về tam trú tại nhà họ nơi các thành phố khác. Mục sư William đứng trước cửa hội trường bắt tay, chúc bình an cho từng người. Tới phiên ông John, với cái xiết tay thật chặt, mục sư William thành khẩn tri ân ông và nguyện xin ơn trên trả công bội hậu cho ông.

Suốt mấy ngày nay ông John đã  khổ sở  “bị ” nghe những câu nói như thế, không đủ can đảm đứng nghe thêm , ông vội vã cáo từ mục sư và cùng vợ hối hả bước ra xe.

 Ngồi trên xe truck lái về nhà, chung quanh ông cảnh tượng thật hoang tàng đổ nát. Bà John ngồi im lìm nhưng trên khuôn mặt bà hiện lên nhiều nét đau thương, rồi bỗng bà nói:

– Nhà cửa, xe cộ, tài sản mất hết thì vẫn còn có thể kiếm lại được, nhưng không biết trong những ngôi nhà kia, gia đình có còn đầy đủ mọi người hay không, cơn bão Harvey này thật tàn khốc !

 Ông John khẽ liếc nhìn vợ, ông cảm thông những điều bà vừa nói, nhưng bà làm sao biết được mấy ngày vừa qua, chính ông cũng bị một cơn bão, mạnh gấp trăm lần cơn bão ngoài trời kia, “quậy” phá khiến ông xơ xác tiều tụy. Đó chính là cơn bão trong lòng ông!

Đẩy cửa bước vào nhà, dù đã đoán trước cảnh tượng sẽ rất tiêu điều, ông bà John cũng dội ngược vì mùi ẩm mốc bay lên. Nhìn vợ ngẩn ngơ trước những đổ vỡ, mất mát, ông John dặn vợ đừng đụng vào đồ vật trong nhà, rồi ông đẩy cửa bước ra sau nhà.

Bên ngoài cây cối ngã rạp, hàng rào nghiêng đổ, bỗng chân ông vấp phải một vật gì, nhìn xuống, ông nhận ra đó là bình đựng xăng mà ông mua dư cho ” dự tính” của ông. Vẩn vơ suy nghĩ, chợt ông tìm ra được một điều khá lý thú, những thứ ông mua: xăng, cuộn dây thừng, tấm bạt nylon, cuộn băng keo với một mục đích kết liễu một mạng người, nhưng ngẫu nhiên nó lại được dùng để cứu giúp cho những người khác trong cơn  hoạn nạn, nguy khốn.

 Nhìn lên bầu trời xanh ngắt  lãng đãng những cụm mây trắng. ông John chợt ngộ ra một điều rằng trong cõi vũ trụ huyền vi vô thường kia, chắc chắn phải có một đấng tạo hóa tài năng vô song đã sắp xếp tất cả mọi chuyện xảy ra một cách tuần tự, lớp lang cho cõi trần gian ô trọc và đầy hệ lụy này! Dù xung quanh ông John cảnh tượng thật hoang tàng, đổ nát, nhưng lòng ông bỗng cảm thấy thật thanh thản, bình an.

 Bước vào nhà, ông John thấy vợ đang ngồi qua lưng về phía ông, chẳng lẽ bà đang nhặt lại những đồ vật không bị hư hỏng vì cơn bão hay sao, ông John tự hỏi, thay vì gắt gỏng như mọi khi, ông John chỉ nhẹ nhàng nói:

– Tôi đã dặn bà đừng đụng tay vào đồ vật trong nhà, những vi khuẩn mốc meo có thể sẽ làm bà bịnh đó.

 Bà  John quay lại mỉm cười nói:

– Tôi biết, nhưng tôi tìm được đôi găng tay còn mới nguyên trong bao, đôi bao tay thật dầy, lại có lớp cao su bên ngoài.

 Nói xong bà đưa hai tay lên, ông John nhìn thấy bà đang đeo đôi bao tay vàng mà vài tháng trước ông đã phải lặn lội đi khắp nhiều tiệm để tìm mua, ông choáng váng á khẩu. bà John lại nói tiếp:

– Mấy ngày ở hội trường nhà thờ, mấy bà cứ tấm tắc khen ông là người biết lo xa. Có bà còn đùa nói tôi thật có phước mới lấy được ông!

 Bây giờ thì ông John không chịu đựng được nữa, ông cảm thấy như có một bàn tay ai đang chẹn cổ khiến ông không thở nổi, nếu ông còn đứng đây nghe những lời thương yêu của vợ, chắc ông sẽ đứng tim mất thôi. Ông đành gật đầu và đẩy cửa bước vội ra sân.
Vì vợ chồng  ông là người Mỹ, chứ nếu là người Việt, biết đâu trong một giây phút cảm động  nào đó, bà sẽ  rưng rưng hát tặng ông câu hát từ bài ca một thời được ưa thích:
“…May mà có Ông, Đời còn dễ thương.”

Pha Lê

Hits: 22

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Rút lui

Chúng ta vẫn thường nghe “an hưởng tuổi già”, nhưng trong thực tế, có người sống những tháng năm vui vẻ, còn có người lại u uất muộn phiền. Vậy nên, để an hưởng tuổi già đúng nghĩa, chúng ta phải chuẩn bị thật tốt 5 “con đường lui” dưới đây. 
 
Khi về già, cũng là lúc chỉ còn lại khoảng thời gian cuối cùng trong đời người, bạn đã có con đường lui của mình chưa? Sau đây là 5 gợi ý thú vị giúp bạn luôn thảnh thơi khi tuổi tác xế chiều:
 
Con đường thứ 1: Có một thân thể mạnh khỏe
Điều này quan trọng nhất, bất kể có tiền hay không, khi có một thân thể mạnh khỏe thì đã có những năm tuổi già hạnh phúc..
Có thân thể mạnh khỏe sẽ không gây thêm phiền phức cho con cháu.
Có thân thể mạnh khỏe sẽ không đem tiền tặng cho bệnh viện.
Có thân thể mạnh khỏe, thì bản thân mới có niềm vui.
Thế nên, bất kể lúc nào, có thân thể mạnh khỏe mới là con đường lui tốt đẹp nhất đời người.
Khi bạn có tuổi càng cần chú ý, cái gì cũng của người khác, chỉ thân thể mới là của mình, đó là cái mình phải đem đi.
Ở trong nhà không bằng hoạt động. Bình thường cần chú ý những thông tin mà thân thể biểu lộ. Đối với thân thể nhất định phải chăm chút, định kỳ kiểm tra sức khỏe, chớ tự làm khó mình.
Cần xem nhẹ tất cả, tâm tĩnh lại rồi thì bệnh tật sẽ tránh xa.
Bất kể có tiền hay không, khi có một thân thể mạnh khỏe thì đã có những năm tuổi già hạnh phúc.
 
Con đường thứ 2: Bên mình có người dìu bước
Đó chính là người chung gối, là bạn đời. Có tuổi rồi, có bạn đời bầu bạn mới là phúc.
Dân gian thường nói: “Con cháu đầy nhà cười ha hả, chẳng bằng một người bạn già bên thân”. Hay như câu: “Con chăm cha không bằng bà chăm ông”.
Đây không phải thứ tình cảm oanh liệt hoành tráng gì, chỉ là cùng trò chuyện, bình thản, nhẹ nhàng, đó mới khiến trái tim xúc động nhất.
Có người bạn đời biết yêu, biết thương, đó mới là con đường tốt nhất. 
 
Con đường thứ 3: Cuộc sống cần có quy luật
Con người có tuổi nhất định phải sống có quy luật. Nghỉ ngơi, ăn uống, vui chơi, ngủ nghê, v.v.. cần phải có thời gian của mình. Bởi vì các ‘linh kiện’ trên thân mình đều đã lão hóa, chẳng thể chịu nổi sức tàn phá của bất quy luật. Ăn uống không được chè chén thỏa thê. Trưa nhất định cần ngủ. Với bạn già khiêu vũ chơi bài cũng cần có mức độ.
Kết giao bạn bè là rất quan trọng, người có tuổi cũng nên có nhóm của mình, chớ khép kín mình, nhưng kết giao nhất định phải cẩn thận.
Chớ kết giao với người có lòng dạ hẹp hòi. Nên tìm người tuổi tác tương đồng, cơ ngộ tương tự, có cùng niềm vui sở thích để cùng chia sẻ, có thể giúp nhau giải buồn phiền. Như vậy niềm vui cũng đủ rồi.
Về già hãy học cách thiện đãi bản thân. .
 
Con đường thứ 4: Dành đủ tiền chi tiêu cho mình
Việc này rất quan trọng, chớ đem hết tiền cho con cháu. Có tiền rất quan trọng.
Nếu xảy ra bất trắc gì thì đã có đủ tiền xử lý. Khi có việc cần dùng đến tiền, tự mình lấy ra, không phải ngửa tay xin con cháu.
Có tiền ra ngoài, đáng tiêu thì tiêu, đi du lịch một chuyến, mua bộ quần áo đẹp. Khi tâm tình vui vẻ thì mới cảm thấy được đã không cô phụ bao năm tháng đã qua.
 
Con đường thứ 5: Một trái tim vui vẻ
Con cháu đều bận rộn, chúng ta chớ làm phiền chúng. Chúng ta nghỉ hưu rồi, nhất định phải tìm niềm vui của riêng mình.
Tuổi tác này là quý báu nhất, do đó cần hưởng thụ cuộc sống.
Hát ca, nhảy múa, du lịch, dạo chơi, thăm thú, v.v.. xem còn có những phong cảnh đẹp nào mà mình chưa xem, nếu điều kiện cho phép thì hãy đi thực hiện. Nhất định cần trân quý quãng thời gian cuối cùng..

— 

Henry Hoang

Hits: 29

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Nụ hôn của Sự sống

Bức ảnh đạt giải thưởng danh giá tôn vinh tình yêu và sự sống

Tháng 7/1967, nhiếp ảnh gia Rocco Morabito đã chụp được một bức ảnh để đời khi đang tác nghiệp trên đường phố New York, Mỹ. Ông đặt tên cho nó là “Nụ hôn của Sự sống”.

Thời điểm đó, Rocco Morabito tình cờ chứng kiến cảnh tượng hiếm có: công nhân điện J.D. Thompson đang hô hấp nhân tạo cho đồng nghiệp của mình – Randall G. Champion ở trên không sau khi người này chạm vào đường dây điện cao thế.

Được biết, khi hai người đang thực hiện bảo dưỡng định kì trên ngọn của một cột điện cao thế, không may, Champion chạm tay vào đường dây điện hơn 4.000 volts khiến anh bị giật. Tim trở nên ngừng đập và bất tỉnh. Nhờ dây đai an toàn nên anh không bị rơi xuống.

“Nụ hôn của Sự sống”
Trong lúc đó, Thompson đang trên đường xuống. Anh phát hiện ra tình hình nguy cấp của bạn đồng nghiệp và đã nhanh chóng thực hiện việc hô hấp bằng miệng.

Bởi vì đang ở trên không nên Thompson không thể cấp cứu bằng CPR (ấn vào lồng ngực để hồi phục tim). Anh liên tục thổi vào phổi của Champion cho đến khi cảm thấy một sự giật nhẹ từ người bạn. Sau đó, Thompson vội tháo dây đai an toàn cho đồng nghiệp, đỡ anh bạn trên vai và đưa cả hai xuống. Ở độ cao như vậy, việc đưa một người đàn ông đang hôn mê xuống mặt đất thật khó khăn biết bao, nhưng may mắn là Thompson đã làm được.

Xuống đến mặt đất, Thompson và một công nhân khác tiếp tục thực hiện hô hấp nhân tạo cho Champion và anh gần như đã sống lại cho đến khi xe cấp cứu tới. Ơn Chúa, cuối cùng Champion đã hoàn toàn bình phục.

Năm 1968, nhờ bức ảnh “Nụ hôn của Sự sống”, Rocco Morabito đã đoạt giải Pulitzer, giải thưởng tôn vinh những tác phẩm ảnh xuất sắc của nhà báo. Bức ảnh sau đó được đăng trên khắp các tờ báo toàn thế giới.

***

Bức ảnh này sở dĩ có sức lan toả lớn đến vậy, theo tôi, chính bởi thông điệp đặc biệt của nó. Nụ hôn giữa Thompson và Champion không phải là của những người yêu nhau, cũng không phải nụ hôn dành cho gia đình hay bạn bè – không có một chút vị tư nào trong đó cả. Đó là một nụ hôn cao thượng, thuần khiết. Đó là nụ hôn của sự sống, và nó dành cho cuộc sống!

Ở trong hoàn cảnh nguy cấp và nguy hiểm đến vậy, Thompson không có thời gian để cân nhắc bất cứ điều gì, anh càng không có cơ hội cho bất cứ một suy nghĩ chần chừ nào, anh làm tất cả bằng bản năng của am

Hits: 37

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Vì sao các nền văn minh vĩ đại lại sụp đổ

baomai.blogspot.com
“Những nền văn minh vĩ đại không bị giết chết, mà chúng tự kết liễu mình.”
Đó là kết luận mà sử gia Arnold Toynbee nêu ra trong bộ nghiên cứu lịch sử đồ sộ gồm 12 quyển của ông, A Study of History, một công trình tìm hiểu về sự trỗi dậy và suy tàn của 28 nền văn minh khác nhau. 
Ông nói đúng ở một số khía cạnh: các nền văn minh thường phải chịu trách nhiệm về sự tàn lụi của chính chúng. Tuy nhiên, việc các nền văn minh rơi vào tình trạng tự phá huỷ thường được hỗ trợ bởi những yếu tố khác nữa.
baomai.blogspot.com
  
Chẳng hạn như Đế chế La Mã là nạn nhân của nhiều vận hạn, trong đó gồm việc mở rộng lãnh thổ quá mức, tình trạng thay đổi khí hậu, môi trường suy thoái và sự lãnh đạo yếu kém. Sự tan rã một phần nữa là do hậu quả của việc thành Rome bị người Visigoth cướp phá vào năm 310, và rồi đến lượt người Vandal, vào năm 455.
Sự sụp đổ thường xảy ra nhanh chóng và một nền văn minh dù vĩ đại đến đâu cũng không thể miễn nhiễm.
Đế chế La Mã trải rộng trên 4,4 triệu cây số vuông vào năm 390. Năm năm sau, diện tích bị thu lại chỉ còn 2 triệu cây số vuông. Tới năm 476, đế chế này trở thành zero.
baomai.blogspot.com
  
Trong quá trình nghiên cứu tại Đại học Cambridge, tôi muốn tìm hiểu xem vì sao sự sụp đổ lại diễn ra, thông qua việc thử làm một cuộc giảo nghiệm lịch sử.
Sự trỗi dậy và sụp đổ của các nền văn minh trong lịch sử có thể nói cho chúng ta biết những gì? Những thế lực nào thúc đẩy hoặc trì hoãn sự sụp đổ? Và chúng ta có nhìn thấy những khuôn mẫu tương tự xảy ra vào thời nay hay không?
baomai.blogspot.com
Cách đầu tiên để nhìn vào các nền văn minh trong quá khứ là so sánh thời gian tồn tại ngắn, dài của chúng. Đây là việc khó, bởi không có một định nghĩa chặt chẽ thế nào là một nền văn minh, cũng như không có cơ sở dữ liệu hoàn thiện nào cho ta biết về sự ra đời và kết thúc của chúng.
Trong hình minh hoạ dưới đây, tôi so sánh thời gian tồn tại của một số nền văn minh khác nhau, mà tôi định nghĩa đó là các xã hội nông nghiệp có nhiều thành thị, một xã hội mà quân sự đóng vai trò nổi bật trong khuôn khổ khu vực địa lý của nó, và có cấu trúc chính trị tồn tại liên tục, tiếp nối.
Dựa theo định nghĩa này, mọi đế chế đều là nền văn minh, nhưng không phải nền văn minh nào cũng là đế chế.
baomai.blogspot.com
  
Dữ liệu được lấy ra từ hai công trình nghiên cứu về sự tăng trưởng và suy tàn của các đế chế (cho các giai đoạn 3000-600 trước Công nguyên, và 600 trước Công nguyên – 600), và một khảo sát không chính thức, tập hợp từ việc kêu gọi mọi người đóng góp thông tin, về các nền văn minh cổ đại (mà tôi có chỉnh sửa).
Như mô tả trong hình dưới đây, thời gian tồn tại trung bình của một nền văn minh cổ đại là 336 năm.
baomai.blogspot.com
Thời gian tồn tại của các nền văn minh cổ đại
Sự sụp đổ có thể được định nghĩa là tình trạng mất dân, mất bản sắc, và mất đi độ phức tạp xã hội-kinh tế một cách nhanh chóng và kéo dài. Các dịch vụ công trở nên bê bết, tình trạng mất kỷ cương khiến chính phủ mất quyền kiểm soát trước tình trạng bạo lực.
Toàn bộ các nền văn minh trước đây đều đối diện với số phận này.
Một số gượng lại được hoặc chuyển đổi thành dạng khác, chẳng hạn như ở Trung cộng và Ai Cập. Một số khác sụp đổ vĩnh viễn, như trường hợp Đảo Phục sinh.
baomai.blogspot.com
Có những lúc các thành phố nằm ở tâm điểm của sự sụp đổ lại hồi sinh, như trường hợp thành Rome.
Trong những trường hợp khác, chẳng hạn như đống phế tích của người Maya, thì chúng bị lãng quên, trở thành tàn tích cho du khách sau này tới thăm.
baomai.blogspot.com
  
Điều gì có thể nói cho chúng ta biết về tương lai của nền văn minh hiện đại toàn cầu? Những bài học về các nền văn minh nông nghiệp có áp dụng được cho giai đoạn chủ nghĩa tư bản công nghiệp từ sau Thế kỷ 18 của chúng ta không?
Tôi cho là có. Các xã hội trước kia và hiện nay chỉ là những hệ thống phức tạp gồm con người và công nghệ.
Thuyết “tai nạn bình thường” nói rằng những hệ thống công nghệ phức tạp thường mở đường dẫn tới thất bại. Cho nên sự sụp đổ có lẽ là hiện tượng bình thường cho các nền văn minh, bất kể chúng có kích cỡ, quy mô ra sao.
Chúng ta vào lúc này đang tiến bộ hơn các nền văn minh khác về mặt công nghệ. Thế nhưng điều này không khiến ta tin rằng chúng ta miễn dịch với các mối đe doạ vốn từng hủy hoại tổ tiên chúng ta. Khả năng công nghệ mà chúng ta mới khám phá ra thậm chí còn đem lại những thách thức mới, chưa từng xảy ra.
baomai.blogspot.com
  
Hiện nay chúng ta đang đạt quy mô toàn cầu, nhưng việc sụp đổ có vẻ như sẽ xảy ra ở cả các đế chế rộng lớn lẫn các vương quốc còn non nớt. Không có cơ sở gì để tin rằng việc chúng ta phát triển tới quy mô to lớn sẽ giúp tạo ra bộ khiên giáp chống lại tình trạng xã hội tan rã.
Hệ thống kinh tế toàn cầu hoá vốn gắn bó như hình với bóng với xã hội đó, sẽ càng làm cho cuộc khủng hoảng lan rộng.
baomai.blogspot.com
Tình hình khí hậu ngày càng trở nên tồi tệ
Nếu như số phận của các nền văn minh trước đây có thể là lộ trình cho tương lai của chúng ta, thì chuyện đó nói lên điều gì?
Ta có thể dùng một biện pháp là xem xét các xu hướng sụp đổ từng xảy ra trong lịch sử và quan sát xem chúng đang dần diễn ra như thế nào trong thời đại này.
Tuy không có bất kỳ một học thuyết đơn lẻ nào được chấp nhận về việc vì sao một nền văn minh lại đi đến sụp đổ, nhưng các sử gia, các nhà nhân chủng học và những người khác đã đưa ra nhiều cách giải thích khác nhau, trong đó có:
THAY ĐỔI KHÍ HẬU
baomai.blogspot.com
  
Khi tình trạng khí hậu không còn ổn định mà bị thay đổi thì nó sẽ gây ra những kết quả vô cùng tai hại, như mùa màng thất bát, nạn đói và sa mạc hoá.
Sự sụp đổ của Anasazi, nền văn minh Tiwanaku, đế quốc Akkad, người Maya, Đế chế La Mã, và nhiều nền văn minh khác, đều xảy ra cùng lúc với sự thay đổi khí hậu đột ngột, mà thường là nạn hạn hán.
MÔI TRƯỜNG SUY THOÁI
baomai.blogspot.com
  
Sự sụp đổ có thể xuất hiện khi nhu cầu của xã hội vượt quá khả năng chịu đựng của môi trường tương ứng. Thuyết sụp đổ về sinh thái này, vốn là chủ đề trong các quyển sách ăn khách, chỉ ra rằng tình trạng khai thác rừng quá mức, ô nhiễm nước, đất bạc màu và việc mất đi sự đa dạng sinh học là các nguyên nhân chủ chốt.
BẤT BÌNH ĐẲNG VÀ CHẾ ĐỘ QUYỀN LỰC TẬP TRUNG
baomai.blogspot.com
  
Sự bất bình đẳng về tài sản và chính trị là những động lực trung tâm gây ra tình trạng xã hội tan rã, cũng như việc trung ương hoá, tập trung quyền lực vào tay một số nhà lãnh đạo. Việc này không chỉ gây ra những căng thẳng trong xã hội, mà còn trói buộc, cản trở năng lực của xã hội trong việc ứng phó với các vấn đề sinh thái, xã hội và kinh tế.
Lĩnh vực lịch sử – động lực (cliodynamics) phác ra việc các yếu tố, chẳng hạn như sự liên quan giữa sự bình đẳng và vị trí địa lý với tình trạng bạo lực chính trị.
Việc phân tích số liệu thống kê về các xã hội trước đây cho thấy điều này xuất hiện theo chu kỳ.
Khi dân số tăng lên, nguồn lao động cũng tăng lên, dẫn tới cung vượt cầu. Khi đó, nhân công trở nên rẻ hơn và xã hội trở nên quá nặng nề ở phần thượng tầng. Sự bất bình đẳng này làm xói mòn tâm lý đoàn kết chung, từ đó dẫn tới tình trạng bất ổn chính trị.
SỰ PHỨC TẠP
baomai.blogspot.com
  
Chuyên gia nghiên cứu về sự sụp đổ của các nền văn minh, sử gia Joseph Tainter đưa ra ý kiến rằng các xã hội rốt cuộc sụp đổ bởi chính sức nặng của mình, được tích tụ lại thành sự phức tạp và tình trạng quan liêu.
Để giải quyết được các vấn đề mới, các xã hội đã phải phát triển lên mức độ phức tạp, tinh tế. Thế nhưng mức độ phức tạp đến một lúc nào đó sẽ đạt mức cực thịnh rồi dần đi xuống. Từ đó trở đi sẽ tới lúc sụp đổ.
Có một biện pháp khác giúp tăng mức độ phức tạp, được gọi là Lợi tức Năng lượng Đầu tư (Energy Return on Investment – EROI). Thuật ngữ này được dùng để chỉ tỷ lệ giữa tổng năng lượng có được từ một nguồn tài nguyên nào đó và số năng lượng cần thiết phải sử dụng để thu được tổng năng lượng đó.
baomai.blogspot.com
  
Cũng giống như sự phức tạp, EROI có vẻ như cũng có điểm cực thịnh rồi đi đến thoái trào.
Trong cuốn The Upside of Down của mình, khoa học gia Thomas Homer-Dixon quan sát thấy sự xuống cấp của môi trường trong suốt thời kỳ tồn tại của Đế chế La Mã đã dẫn tới sự đi xuống nhanh chóng của EROI trong nguồn cung ứng lương thực thực phẩm: các vụ mùa lúa mạch và cỏ linh lăng (alfalfa – chuyên để nuôi gia súc). Đế chế La Mã đi xuống cùng với EROI của nó.
Tainter cũng cho rằng đây là nguyên nhân chính dẫn đến sự sụp đổ, trong đó gồm cả sự sụp đổ của nền văn minh Maya.
NHỮNG CÚ SỐC TỪ BÊN NGOÀI
baomai.blogspot.com
  
Nói cách khác, đó là “tứ kỵ mã”, gồm chiến tranh, thiên tai, nạn đói và bệnh dịch.
Ví dụ như Đế chế Aztec bị xoá sổ do những kẻ xâm lược Tây Ban Nha. Hầu hết các nhà nước nông nghiệp tàn lụi là do những trận dịch bệnh chết người.
Việc con người và gia súc sống quần tụ trong những khu định cư có tường rào vây quanh với điều kiện vệ sinh tồi tệ khiến các trận bùng phát dịch bệnh là điều không thể tránh khỏi.
Có đội khi các thảm hoạ khác nhau xảy ra cùng lúc, như trong trường hợp người Tây Ban Nha mang bệnh đường ruột tới châu Mỹ.
NHỮNG YẾU TỐ TÌNH CỜ / XUI XẺO
baomai.blogspot.com
  
Phân tích số liệu thống kê về các đế chế cho thấy sự sụp đổ xảy ra ngẫu nhiên và không liên quan gì tới thời gian đã tồn tại của đế chế.
Nhà sinh học chuyên về tiến hoá và khoa học gia chuyên về phân tích dữ liệu Indre Zliobaite cùng các đồng nghiệp của bà đã quan sát thấy có mô hình tương tự trong hồ sơ tiến hoá của các loài.
Có một sự giải thích chung cho sự ngẫu nhiên này, đó là “Hiệu ứng Nữ hoàng Đỏ”: nếu các loài liên tục đấu tranh sinh tồn trong một môi trường thay đổi với các đối thủ cạnh tranh, thì sự tuyệt chủng sẽ rồi sẽ đến với một số loài,
baomai.blogspot.com
  
Tuy đã có khá nhiều các cuốn sách, các bài báo viết về chủ đề này, nhưng chúng ta vẫn không có một lời giải thích rõ ràng về lý do khiến các nền văn minh sụp đổ.
Điều mà chúng ta đã biết đó là các yếu tố được nêu trên đây đều có thể góp phần dẫn tới sự sụp đổ đó.
Sự sụp đổ chỉ là hiện tượng bên trên, còn các yếu tố bên dưới, kết hợp lại với nhau, chính là thứ tàn phá, tác động tới khả năng thích ứng của xã hội.
Luke Kemp

Hits: 35

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Nguyên Sa, nhà thơ tình và nhiều phương diện văn nghệ

image.png
Nguyên Sa (sanh năm 1932) là người trước tôi một thế hệ. Khi thằng bé nhà quê theo học những năm cuối của Trung học, đương bị cuốn hút bởi từng bài trong tạp chí Sáng Tạo với văn phong mới của mấy cây bút di cư vào Nam và với những bài viết về văn học rất đặc biệt…. luôn ngóng chờ ngày cuối tháng để tới tòa soạn của tạp chí Sáng Tạo ở một khu xóm bình dân mà đa số là người Tàu tại góc đường Nguyễn Công Trứ và Ký Con gần chợ Cầu Ông Lãnh, Sàigòn.  Mua số mới nhất vừa đọc vừa đi bộ về nhà, quên cả trời đất, mê mẩn thưởng thức những bài nóng hổi, còn thơm mùi giấy mực, băng qua đoạn đường đầy người Tàu cho mướn sách hình trên lề đường… thì TRần Bích Lan đã có những bài viết về văn học trong những số đầu của tờ nguyệt San rất được bạn bè cùng lứa chúng tôi ưa thích. 
Bài về Hồ Xuân Hương, ông xác nhận rằng thì là không có nhân vật Hồ Xuân Hương, chẳng qua là người ta, bất kỳ ai thích làm bài thơ không thanh nhã thì sáng tác rồi cứ việc ký tên Hồ Xuân Hương. Thế là xong, khỏi trách nhiệm, khỏi ngại bị lời ong tiếng ve. Luận cứ nầy rất được đồng tình thời đó, lúc người làm công việc nghiên cứu văn học chưa tìm thấy được những tài liệu khả tín về tiểu sử của nữ thi sĩ quá độc đáo nầy.
Bài viết về Phan Huy Vịnh với bản dịch Tỳ Bà Hành, ông dùng cái tựa rất khéo, hình như là Phan Huy Vịnh và cái đũa thần âm thanh, chỉ cần nghe ông xác định như vậy là học sinh Trung học có thể theo đó mà tán thành một bài luận khá trong kỳ thi Tú Tài 1.
Một bài khác ông nói về Tạo Hóa, ông Trời, con Tạo, ông Tạo, Trẻ Tạo, ông Xanh, Khuôn thiêng, Khuôn xanh… trong thi ca Việt Nam cũng là ý tưởng mới, có cái nhìn tổng hợp thoát ra ngoài vòng sách vở…
Lúc đó thì hầu hết học sinh chúng tôi đều không biết người viết những bài hay ho và đặc biệt như vậy với cái tên Trần Bích Lan là thi sĩ Nguyên Sa, có thơ tình trên Sáng Tạo chạm vô tâm thức những người mới lớn. Một người bạn cùng lớp, tên Tỵ (?) nói với tôi anh ta là bà con sao đó, vai em, với Trần Bích Lan, Nguyên Sa. Tới lúc nầy tôi mới nhập tâm được hai cái tên của tác giả hai lãnh vực văn học và thi ca là một và tôi thưởng thức những bài thơ tình đặc biệt đối với tôi rất mới lạ bằng một cảm thức vị nễ, khang khác. 
Rồi có lúc, 1958, tôi đứng ngoài lớp dạy luyện thi Triết học của Giáo Sư Trần Bích Lan. Khi ấy trong trường Chu Văn An, Cha T. dạy Triết rất buồn ngủ khi ngài cầm và đọc từng đoạn trong những quyển sách giáo khoa Triết quá dài dòng của cha Cao Văn Luận mà tôi cho rằng mình học mấy quyển sách của Foulqué dễ hiểu hơn. Đứng ngoài lớp đâu chừng hai lần để quyết định mình có nên học thêm Triết học với Giáo Sư thi sĩ hay không. Ông giảng vui, đưa ra nhiều câu chuyện liên hệ với đời sống thực tế (ông kể chuyện khi ở Pháp mình học kinh nghiệm nấu cơm sao cho không khét, không ba từng, bằng cách đo ngón tay mực nước cần phải cho vô nồi (thí nghiệm trong khoa học). Ông kể chuyện sáu cây cầu trên sông Seine nhưng đi qua hết sáu cái cầu đó phải qua cầu 7 lần (Toán học vị trí, Topology). Ông đọc nhiều thơ tình của các thi sĩ nổi tiếng thời tiền chiến và có khi đọc cả thơ của Nguyên Sa.
Không biết tại sao tôi không ghi tên học lớp Luyện Thi Triết đó sau hai lần đứng ngoài dò đường. Có thể là do  thời khóa biểu không thích hợp, chạy đến lớp có thể trể giờ, có thể là tiền học phí tôi không xoay xở được do nhà nghèo, mồ côi, ở nhà người cô cũng nghèo, khó có thể cho thêm tiền học trong nhiều tháng.
Có điều là từ hai lần kinh nghiệm đứng ở ngoài lớp như Trần Minh khố chuối ngày xưa, sau nầy lúc về dạy Triết ở trường Petrus Ký tôi tự biết mình kể chuyện không duyên dáng và không tự tin bằng Nguyên Sa hay Nguyễn Xuân Hoàng, không viết sách Triết gọn ghẽ, rõ ràng bằng Vĩnh Đễ nên không dạy tư ở bất cứ trường lớp nào và khi có dịp từ giã Triết học thì đi thẳng luôn, không quay lại…
Bà Nga, nhân vật trong bài thơ Nga :
Hôm nay Nga buồn như con chó ốm,
Như con mèo ngái ngủ trên tay anh
Đôi mắt cá ươn như sắp sửa se mình
Để anh giận sao chả là nước biển…
kể với tôi (NVS) rằng đầu thập niên 50, bà đương du học ở Pháp theo ngành Toán học gặp Nguyên Sa đương theo đuổi môn Triết học. Hai người quen nhau và yêu nhau. Có những bài thơ tình bà được tặng lúc tình yên đầu đời, nhưng cả hai quyết định không đưa ra công chúng vì có tính cách riêng tư. Bà cũng kể rằng bài thơ Nga được in thay giấy báo hỷ – lúc đó cả hai đương là sinh viên nghèo,  mà cũng thấy rằng đây là một ý nghĩ ngộ nghĩnh nên thực hiện – cho buổi tiệc cưới đơn giản ở Áo quốc, mùa Noel 1954.
Tôi gọi Nguyên Sa là thi sĩ của nhiều mặt văn nghệ vì ông viết nhiều mặt: Sách giáo khoa Triết học, sách về một tác giả Triết cổ thụ của Pháp, sáng tác thể truyện ngắn, thể thi ca, làm báo về những ca sĩ, chủ trương một tạp chí thời danh… Ở thi ca ông nổi trội nhứt với những bài thơ tình, từ lục bát, sang tự do, sang thơ văn xuôi, thơ phá thể, nhiều bài thiên nhiều về lý trí nhưng đa phần trong thơ đều có nhạc điệu réo rắc và thiên nhiều về biểu lộ tình cảm nhớ thương hay như đối thoại với người yêu.
Chắc chắn rằng một bài thơ được phổ nhạc mà bản nhạc được các ca sĩ hàng đầu hát tới hát lui nhiều lần thì bài thơ như lãng đãng trong không gian chờ đợi người đọc nhìn vào nó thì âm thanh và ý nghĩa liền bay vào hồn, mê tơi phải cất tiếng hát theo…
Nguyên Sa đã ra đi hai mươi năm rồi, cũng tháng tư, ngày 24, tháng ông quyết định bỏ tất cả cơ ngơi mình gầy dựng, một nhà in, hai trường Trung học đồ sộ, dắt díu vợ con lên đường sang Pháp, xứ ông học hành và sống cả chục năm thời thanh xuân.
Bạn bè văn nghệ xác nhận rằng ông an nhiên làm lại cuộc đời khi di cư sang Mỹ, không bao gìờ tỏ ý tiếc rẻ về những gì đã bỏ lại sau lưng. Ông quan niệm đời có khi thành công khi thất bại, nhưng con người muốn sống thoải mái thì phải coi mình nhỏ nhoi, là hạt cát giữa mênh mông đại ngàn như cái nghĩa của chữ Nguyên Sa.
Thơ tình Nguyên Sa cũng như thơ tình của Nhất Tuấn, của Xuân Diệu, Huy Cận, đã ảnh hưởng lên thanh thiếu niên một thời, thể thơ như văn xuôi mượt mà giai điệu, thanh thoát réo rắt làm xao xuyến trái tim học trò mới lớn
“không có anh lấy ai cười trong mắt,
ai ngồi nghe em nói chuyện thu phong,
ai cầm tay mà dắt mùa Xuân,
nghe đường máu run từng cành lộc biếc..”
(Cần Thiết)
hoặc hút hồn theo kiểu tuổi mười ba mà ai cũng thuộc lòng
“trời hôm nay mưa nhiều hay rất nắng,
mưa tôi chả về bong bong vỡ đầy tay “
hay ầm vang như thác đổ
“tôi trân trọng mời em dự chuyến tàu tình ái…
vé có thể là những thư xanh,
tàu là gian nhà rất nhỏ,
nhưng mỗi ga chắc chắn sẽ là những chiếc hôn nồng cháy cuộc đời.”
Và nhiều đoạn thơ ru hồn con gái khác mà tôi thường thấy đứa em họ trân trọng nhiều đêm chép vào tập giấy pelure màu sắc…
Nguyên Sa in bốn tập thơ và một quyển Toàn Tập cuối đời, nhưng với tôi, Nguyên Sa thể hiện bản sắc mình chỉ ở Tập Một, trong đó có những bài thơ tình viết trong những ngày ở Pháp. Điều đó cũng là bình thường, Đông Tây kim cổ thi sĩ, văn nhân, nhạc sĩ, họa sĩ, điêu khắc gia… thường sáng nhiều, nổi tiếng nhưng tóm lại chỉ được dăm tác phẩm trở nên bất hũ, làm nên cái tên, cái ấn tín của nghệ nhân đó.
Hai mươi năm Nguyên Sa ra đi, ta nhìn lại công trình ông, khen chê chắc là, nếu có linh hồn, thi sĩ  bên cõi kia cũng mỉm cười… Đã là hạt cát thì có sá gì!
Nguyễn văn Sâm 

Hits: 44

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

17 Nơi Cổ Xưa Nhất Ở Sài Gòn

01. Ngôi trường xưa nhất : 
 

https://farm6.staticflickr.com/5570/15137651265_9afa3afb2b_z.jpg

Trường Lê Quý Đôn được xây vào năm 1874, hoàn tất năm 1877 do người Pháp quản lý. Lúc đầu trường có tên Collège Indigène (Trung học bản xứ), rồi đổi thành Collège Chasseluop Laubat. Năm 1954, trường mang tên Jean Jacques Rousseau. Năm 1967, trường được trả cho người Việt quản lý mang tên Trung tâm giáo dục Lê Quý Đôn. Từ năm 1975 đến nay đổi tên là trường Trung học phổ thông Lê Quý Đôn. Hơn một thế kỷ qua trường vẫn giữ được kiến trúc ban đầu.

02.Nhà máy điện xưa nhất :

https://farm4.staticflickr.com/3871/15114649216_7133cefa7a_z.jpg

Nhà máy điện Chợ Quán được xây vào năm 1896, máy phát điện chạy bằng hơi nước có 5 lò hơi với 150m2, cung cấp dòng điện 3 pha, công suất chưa tới 120MW [Megawatt]. Máy phát điện chính công suất 1000A/h [A=Ampere hay Amp./h=hour]. Hiện nay, nhà máy đã được trang bị hiện đại với 7 máy phát điện, hòa với lưới điện quốc gia cung ứng phần quan trọng cho lưới điện thành phố. Nhà máy tọa lạc tại số 8 Bến Hàm Tử, quận 5.

 

03. Bệnh viện xưa nhất :

https://farm4.staticflickr.com/3901/14950991610_05e3a73df8_z.jpg

Bệnh viện Chợ Quán được xây vào năm 1826 do một số nhà hảo tâm đóng góp, sau đó hiến cho nhà nước. Năm 1954-1957 [Bệnh viện được] giao cho Quân đội và đổi tên thành Viện Bài lao Ngô Quyền. Năm 1974, đổi thành Trung tâm Y tế Hàn-Việt với 522 giường. Tháng 9/1975, mang tên Bệnh viện Chợ Quán. Đến ngày 5/9/1989 chuyển thành Trung tâm Bệnh Nhiệt đới. Hiện nay có 610 Cán bộ-Công nhân viên và 550 giường bệnh.

04. Nhà hát xưa nhất :

https://farm6.staticflickr.com/5560/15137272912_958f56d51a_z.jpg

Nhà hát thành phố do kiến trúc sư người Pháp khởi công và hoàn tất vào ngày 17/1/1900. Các phù điêu bên trong được một họa sĩ tên tuổi ở Pháp vẽ giống như mẫu của các nhà hát ở Pháp cuối thế kỷ XIX. Nhà hát là nơi trình diễn ca nhạc kịch cho Pháp kiều xem. Năm 1956-1975, Nhà hát được dùng làm trụ sở Hạ nghị viện cho các chính phủ Đệ I & II Việt Nam Cộng Hòa; tháng 5/1975 trở thành Nhà hát thành phố với 750 chỗ ngồi. Kỷ niệm 300 năm Sài Gòn, toàn bộ phần kiến trúc bên ngoài Nhà hát đã được tu sửa lại như lúc nguyên thủy.

05. Khách sạn xưa nhất :

https://farm6.staticflickr.com/5560/14951098478_6cc3f3566f_z.jpg

Khách sạn Continental tọa lạc tại 132-134 Đồng Khởi, được xây vào năm 1880 do Kiến trúc sư người Pháp thiết kế, tên khách sạn có ngay từ những ngày đầu. Sau ngày cướp được miền Nam, khách sạn Continental bị Bắc Việt đổi thành Hải Âu. Đến năm 1989, khách sạn được nâng cấp, chỉnh trang và lấy lại tên cũ Continental với diện tích 3430m2, cao 3 tầng, nơi đây đã từng đón tiếp các vị tổng thống, thống đốc, nhà văn, người mẫu nổi tiếng. Ngày nay, khách sạn Continental là một trong những khách sạn đạt tiêu chuẩn quốc tế.

06. Nhà thờ xưa nhất :

https://farm6.staticflickr.com/5570/14951098318_7fb0cbd160_z.jpg

Nhà thờ Chợ Quán tọa lạc tại số 20 Trần Bình Trọng, P.2 [phường], Q.5 [quận] được xây vào năm 1674 là nhà thờ cổ nhất tại Sài Gòn và cổ nhất ở miền Nam. Ngôi thánh đường nằm ở vị trí trung tâm, có kiến trúc kiểu phương Tây, lợp ngói đỏ, có thể chứa khoảng 1000 người. Ngoài việc sinh hoạt tôn giáo, Họ đạo Chợ Quán tích cực tham gia công tác xã hội giúp đỡ người nghèo. Trải qua hơn 3 thế kỷ Nhà thờ Chợ Quán đã được trùng tu nhiều lần. Hiện nay, nơi đây có phòng khám và phát thuốc từ thiện dưới quyền quản lý của Hội Chữ thập đỏ [Hội Hồng Thập Tự] Quận 5.

07. Ngôi đình xưa nhất :

https://farm4.staticflickr.com/3856/15114648836_9683b2c7f4_z.jpg

Một trong những ngôi đình cổ nhất của đất Gia Định xưa và xưa nhất Nam Bộ là đình Thông Tây Hội, được xây vào khoảng năm 1679, là chứng tích còn nguyên vẹn nhất của thời kỳ dân Ngũ Quảng kéo vào khai khẩn vùng Gò đất có nhiều cây Vắp (từ đó trở thành tên địa phương là Gò Vấp). Đình lúc đầu là của thôn Hạnh Thông–thôn khởi nguyên của Gò Vấp, sau đổi thành Thông Tây Hội (do sự sáp nhập của thôn Hạnh Thông Tây (thôn Mới) và thôn An Hội). Đình Thông Tây Hội có vị Thành Hoàng rất độc đáo. Hai vị thần thờ ở đình là hai hoàng tử con vua Lý Thái Tổ, do tranh ngôi với thái tử Vũ Đức nên bị đày đi khai hoang ở vùng cực Nam tổ quốc và trở thành “Thủy tổ khai hoang” trong lịch sử Việt Nam; hai vị thần đó là: Đông Chinh Vương và Dục Thánh Vương. Ngôi đình còn giữ được khá nguyên vẹn về quy mô và kiến trúc, kết cấu, với những chạm khắc đặc trưng Nam bộ. Đình Thông Tây Hội thuộc P.11, Gò Vấp.

08. Nhà văn hóa xưa nhất :

https://farm6.staticflickr.com/5586/14950991020_1393c512dd_z.jpg

Cung Văn hóa Lao Động. Năm 1866, với tên gọi Cèrcle Sportif Saigonnais được xây dựng làm sân thể thao cho các quan chức người Pháp với những hồ bơi, sân quần vợt, phòng đấu kiếm và phòng nhảy đầm. Thời Mỹ chiếm đóng, sân chơi được mở rộng hơn [và] phục vụ cho cả giới quý tộc. Tháng 11/1975, Ủy ban Quân quản Sài Gòn–Gia Định trao toàn bộ khu này cho Liên đoàn Lao động Thành phố để biến cải thành khu hoạt động văn hóa thể thao và vui chơi giải trí cho công nhân lao động, lấy tên là Câu lạc bộ Lao Động, sau đổi thành Nhà văn hóa Lao Động, và rồi là Cung Văn hóa Lao Động. Diện tích 2.8ha, với 132 năm hình thành và phát triển, Cung Văn hóa Lao Động là Nhà văn hóa cổ và lớn nhất của Sài Gòn.

 

09. Công viên lâu đời nhất :

https://farm4.staticflickr.com/3847/14951097928_4f6d9bbb1a_z.jpg

Thảo Cầm Viên do người Pháp xây vào năm 1864, nhà thực vật học nổi tiếng người Pháp Louis Pierre làm giám đốc đầu tiên. Mục đích xây dựng Thảo Cầm Viên để ươm cây giống trồng dọc các đại lộ Sài Gòn, đồng thời là nơi nuôi & trồng những động & thực vật [thuộc] miền nhiệt đới mà các Thảo Cầm Viên của Pháp [lúc bấy giờ] chưa có. Năm 1865, chính phủ Nhật đã hỗ trợ khoảng 900 giống cây quý như: Chizgnamat, Goyamtz, Acamatz, Coramatz, Kayanoki, Kayamaki, Enoki, Maiki, Asoumaro, Sengni, Momi, Cashi, Kiaki, Inoki… Động vật của Thảo Cầm Viên khá phong phú như: gà lôi, sếu, cu gáy, hồng hoàng, công, hưu, nai, cọp, khỉ, chồn hương, tắc kè, rùa, cọp xám, báo đen, gà lôi xanh, chim cú lợn… Đến năm 1989, Thảo Cầm Viên được trùng tu, mở rộng và nhận thêm nhiều giống thú mới, trồng thêm cây quý. Hiện nay, có 600 đầu thú thuộc 120 loài, 1823 cây gỗ thuộc 260 loài và nhiều loại cây kiểng quý trên diện tích 21.352m2. Năm 1990, Thảo Cầm Viên là thành viên chính thức của Hiệp hội các vườn thú Đông Nam Á. Thảo Cầm Viên đã tròn 134 tuổi, số lượng động & thực vật ngày càng tăng, nơi đây đã gắn bó với từng bước đi lên của thành phố và là một trong những công viên khoa học lớn nhất Đông Dương.

10. Ngôi nhà xưa nhất :

https://farm4.staticflickr.com/3899/15137650435_80c20cfce6_z.jpg

Ngôi nhà có tuổi thọ lâu đời nhất còn hiện diện tại Sài Gòn nằm trong khuôn viên Tòa Tổng Giám Mục Sài Gòn, số 180 Nguyễn Đình Chiểu, P.6, Q.3. Năm 1790, Vua Gia Long cho cất ngôi nhà này ở gần Rạch Thị Nghè làm nơi ở cho Linh Mục Bá-Đa-Lộc và làm nơi dạy học cho Hoàng tử Cảnh. Ngôi nhà được xây bên bờ sông Thị Nghè trong địa phận Thảo Cầm Viên bây giờ. Năm 1799, Bá-Đa-Lộc chết, ngôi nhà được giao cho linh mục khác. Từ năm 1811 đến năm 1864 ngôi nhà bị đóng cửa vì chính sách cấm đạo của triều đình Huế. Sau khi vua Tự Đức ký hòa ước với Pháp, ngôi nhà được trao lại cho Tòa Giám Mục và được di chuyển về vị trí đường Alexandre de Rhodes hiện nay. 

Sau đó năm 1900 Tòa Giám Mục được xây cất tại 180 đường Richaud (nay là đường Nguyễn Đình Chiểu) thì ngôi nhà gỗ lại được dời về đây làm nhà thờ của Tòa Giám Mục. Ngôi nhà 3 gian 2 chái, lợp ngói âm dương, sườn, cột bằng gỗ, khung cửa và các khung thờ đều được chạm trổ công phu [với] hình hoa, lá, chim thú, hoa văn. Trong các di vật còn lại của ngôi nhà có một di vật có giá trị lịch sử lớn, đó là đôi liễn gỗ có tám chữ triện khảm xà cừ là tám chữ vua Gia Long ban tặng giám mục Bá-Đa-Lộc, một bên là “Tứ Kỳ Thịnh Hy”, một bên là “Thần Chi Cách Tư”.

Ngôi nhà được tu sửa vào năm 1980, cách tu sửa có tính chất vá víu, cốt giữ lại những gì có thể giữ được. Trải qua hai thế kỷ ngôi nhà không giữ được nguyên trạng nhưng đây là một di tích kiến trúc mang dấu ấn lịch sử, tôn giáo và văn hóa nghệ thuật. Đây là một tài sản có giá trị mà các bậc tiền nhân đã để lại cho chúng ta, không chỉ là truyền thống – bản sắc dân tộc mà còn là bộ mặt quá khứ mang tính văn hóa kiến trúc, một khía cạnh văn minh tại một vùng đất mới mọc lên từ đầm lầy, kênh rạch.

11. Ngôi chùa xưa nhất :

https://farm4.staticflickr.com/3840/14951097858_7e3be216ea_z.jpg

Ngôi chùa có cảnh trí đẹp nhưng nằm ở địa điểm không tiện đi lại nên được ít người biết đến, [đó] là chùa Huê Nghiêm, tọa lạc ở 20/8 Đặng Văn Bi, Thủ Đức. Chùa được thành lập năm 1721 do Tổ Thiệt Thùy (Tánh Tường) khai sáng. Tên chùa lấy từ tên bộ kinh Hoa Nghiêm. Đây là chùa cổ xưa nhất trong các chùa ở TP Sài Gòn nên còn gọi là Huê Nghiêm Cổ Tự. Những ngày đầu là một ngôi chùa nhỏ được xây cất trên vùng đất thấp cách địa thế chùa hiện nay khoảng 100m. Sau đó, Phật tử Nguyễn Thị Hiên pháp danh Liễu Đạo cúng đất để xây lại ngôi chùa rộng rãi khang trang như hiện nay. 

Qua nhiều lần trùng tu vào các năm 1960, 1969, 1990 mặt tiền chùa ngày nay mang dáng vẻ kiến trúc của chùa hiện đại nhưng các gian phía trong vẫn giữ nguyên kiến trúc cổ truyền, mái gian mặt tiền được cấu trúc gồm 3 lớp, nhỏ dần về phía trên. Các đường gờ mái chạy dài xuống cuối đầu đăng đều trang trí bằng hoa văn hình cánh sen đối xứng, giữa là hình bánh xe luân pháp, đặt trên hoa sen. Mái lợp ngói ống màu đỏ, đường viền mái ngói màu xanh. 

Vườn chùa có nhiều cây xanh bóng mát, có 9 ngôi tháp cổ với nhiều kiểu dáng khác nhau như những cánh sen vươn lên. Những hàng cột gỗ trong chùa được khắc nổi các câu đối bằng chữ Hán màu đen kết hợp với việc chạm khắc mô típ “long ẩn vân” dùng trang trí.

Chùa Huê Nghiêm là một di tích Phật giáo quan trọng, là nơi dừng chân, sống đạo và hành đạo của nhiều vị danh tăng uyên thâm Phật pháp, có đạo hạnh và có đạo đức. Chùa cũng là bằng chứng về trình độ kiến trúc và phong tục tập quán của người Việt trên vùng đất mới khai phá, mở ra nền văn minh trên vùng đất hoang sơ.

12. Đường sắt đầu tiên ở thành phố :

https://farm6.staticflickr.com/5572/15137272162_4727853a56_z.jpg

Tuyến đường sắt đầu tiên ở nước ta là đoạn đường sắt Sài Gòn–Mỹ Tho dài 71km, được xây vào năm 1881. Ga chính trước chợ Bến Thành, văn phòng đường sắt là tòa nhà 2 tầng chiếm cả khu đất bao bọc bởi ba đường Hàm Nghi–Huỳnh Thúc Kháng–Nam Kỳ Khởi Nghĩa, nay là Xí nghiệp Liên hợp đường sắt khu vực 3. Xe lửa chạy bằng máy hơi nước phải dùng than củi đốt nồi súp-de nên xe chạy khá chậm. Vì không cạnh tranh nổi với xe đò trong việc chuyên chở hàng hóa và hành khách, đường xe lửa Sài Gòn–Mỹ Tho đã ngưng hoạt động từ lâu. Sau năm 1975, Ga xe lửa Sài Gòn được dời về Ga Hòa Hưng. Vào ngày 8/8/1998, người ta khởi công xây cất Trung Tâm Văn Hóa Thương Mại Sài Gòn trên nền Ga Sài Gòn cũ.

13. Người Việt đầu tiên viết sử Việt Nam bằng tiếng Pháp :

https://farm4.staticflickr.com/3902/15137650075_6d3a706413_z.jpg

Ông Trương Vĩnh Ký (1837-1898). Năm 1859, Pháo hạm Pháp bắn vào cửa biển Đà Nẵng và thành cũ Gia Định, triều đình nhà Nguyễn bắt buộc chấp nhận mở cửa đất nước cho tư bản thực dân Pháp xâm nhập. Trong giai đoạn lịch sử mới, người Việt Nam từng bước tiếp xúc với ngôn ngữ và văn minh mới. Trương Vĩnh Ký là một trong những người sớm tiếp xúc và hấp thụ ngôn ngữ văn hóa phương Tây đã trở thành học giả có nhiều sáng tác nhất bằng cả tiếng Pháp và tiếng Hán–Việt. Ông là người Việt Nam đầu tiên viết sử Việt Nam bằng tiếng Pháp. Cuốn “Giáo trình lịch sử An Nam” đã được xuất bản gồm hai tập dày 462 trang. Đây thực sự là một công trình bác học biên soạn công phu dưới ánh sáng của một phương pháp luận khoa học tiến bộ so với đương thời.

14. Tờ báo bằng chữ Quốc Ngữ đầu tiên :

https://farm6.staticflickr.com/5557/14951103347_3da4b80a15_z.jpg

Tờ “Gia Định Báo” là tờ báo chữ Quốc ngữ đầu tiên ở nước ta ra đời tháng 4/1865. Tờ báo đăng những thông tin nghị định của nhà nước và những tin kinh tế xã hội, lời bàn về thời cuộc, luân lý, lịch sử. Báo ra hằng tháng. Sau 4 năm phát hành, chính quyền thuộc địa cho phép báo phát hành hàng tuần bằng quyết định số 51 ngày 18/3/1869.

15. Tờ báo đầu tiên của Phụ nữ Việt Nam :

https://farm4.staticflickr.com/3868/14951097588_bd6f1ed35a_z.jpg

Ngày 1/2/1918 tờ báo chuyên về Phụ nữ đầu tiên ra đời là tờ “Nữ Giới Chung” nhằm nâng cao trí thức, khuyến khích công-nông-thương, đề cao người Phụ nữ trong xã hội, chú trọng đến việc dạy đức hạnh, nữ công, phê phán những ràng buộc đối với Phụ nữ, đánh đổ mê tín dị đoan, động viên Phụ nữ quan tâm đến việc “Nữ quyền”. Muốn có vị trí ngang hàng với nam giới ngoài việc tề gia nội trợ phải am hiểu “tình trong thế ngoài”.

Chủ bút tờ báo là nữ sĩ Sương Nguyệt Anh, con gái nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu, vốn có lòng yêu nước, yêu thương đồng bào như thân phụ nên khi làm báo Bà có ý muốn làm diễn đàn để tỉnh thức lòng yêu nước trong dân chúng. Tuy chỉ tồn tại được hơn 6 tháng nhưng “Nữ Giới Chung” cũng đã gióng lên một hồi chuông nữ quyền còn vang mãi đến ngày nay.

16. Cuốn từ điển tiếng Việt đầu tiên :

https://farm4.staticflickr.com/3916/14950952779_3d8d4d9ff4_z.jpg

“Đại Nam Quốc Âm Tự Vị” là cuốn từ điển tiếng Việt quốc ngữ La-tinh của Huỳnh Tịnh Của gồm hai tập: Tập I xuất bản năm 1895, tập II xuất bản 1896 tại Sài Gòn. Bộ từ điển chứa nhiều từ ngữ xưa, thành ngữ, tục ngữ, từ ngữ về thảo mộc, cầm thú của Việt Nam và của miền Nam. Bộ từ điển này trở thành Từ điển Bách khoa toàn thư đầu tiên về Nam Bộ.

17. Người kiến trúc sư Việt Nam đầu tiên :

https://farm4.staticflickr.com/3888/14950952749_db3f00b646_z.jpg

Ông Nguyễn Trường Tộ (1828-1871) người làng Bùi Chu, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Gia đình ông theo đạo Thiên Chúa, ông giỏi chữ Nho, thông hiểu Ngũ Kinh Tứ Thư, học chữ Quốc ngữ và chữ Pháp với các giáo sĩ. Ông được giám mục Gauthier đưa sang Paris năm 1858. Ông am hiểu chính trị, kinh tế, quân sự, ngoại giao, pháp luật. Năm 1861 ông trở về nước, tàu ghé Sài Gòn thì nơi đây đã đổi chủ, ông buộc phải làm phiên dịch cho người Pháp.

Trong lúc ở Sài Gòn, ông đã đứng ra xây cất tu viện dòng thánh Phao-lô (số 4 Tôn Đức Thắng). Đây là công trình xây cất theo kiến trúc Châu Âu do người Việt Nam thực hiện tại Sài Gòn. Công trình được khởi công từ tháng 9/1862 đến 18/7/1864 hoàn thành gồm nhà nguyện với ngọn tháp nổi bật trên cao xây theo kiểu Gô-thic, một tu viện, một nhà nuôi trẻ mồ côi.






Hits: 38

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Chân dung cha đẻ hãng máy bay Boeing lớn nhất thế giới

Ông vua sản xuất máy bay lớn nhất thế giới sinh ngày 1/10/1881 tại Detroit-Mỹ, là con cả của một gia đình nhập cư người Đức giàu có. Cha của ông là một thương gia người Đức buôn gỗ cùng quyền khai khoáng, khiến nhập học trường dạy bay Glenn L. Martin School ở Los Angeles, và trong thời điểm này Boeing và những người bạn chung chí hướng cũng bắt đầu xây dựng nhà máy và thiết kế 1 chiếc máy bay mới.

Trong những ngày này, thế giới tập trung sự chú ý của mình vào hãng Boeing khi dòng máy bay 737 Max của tập đoàn bị đặt nghi vấn về an toàn sau 2 sự cố rơi máy bay gần đây khiến hàng trăm người thiệt mạng. Dẫu vậy, không ai có thể phủ nhận được vị thế của Boeing trên thị trường hàng không và không dễ gì để một đế chế như vậy sụp đổ chỉ vì những tai nạn đáng tiếc. 

https://vietbf.com/forum/attachment.php?attachmentid=1348757&stc=1&d=1552404308

Tuy nhiên ít ai biết rằng sự phát triển của Boeing có công rất lớn của nhà sáng lập William Boeing, nhưng bản thân ông lại bị chính phủ Mỹ tước đoạt công sức của mình bằng luật chống độc quyền. Cho đến ngày nay, không có nhiều người nhớ đến nhà sáng lập Boeing dù ông là một trong những người có công lớn xây dựng nên đế chế hàng không của Mỹ cũng như trên thế giới.

Chàng trai nhà giàu buôn gỗ mê máy bay

Sinh ngày 1/10/1881 tại Detroit-Mỹ, ông William Edward Boeing là con cả của một gia đình nhập cư người Đức giàu có. Cha của ông là một thương gia người Đức buôn gỗ cùng quyền khai khoáng, đồng thời có cổ đông trong công ty bảo hiểm Standard Life Insurance và là Chủ tịch của Ngân hàng People Savings Bank tại Galvin Brass và Iron Works.

https://vietbf.com/forum/attachment.php?attachmentid=1348758&stc=1&d=1552404308
William Boeing


Sau khi cha qua đời năm Boeing 8 tuổi còn mẹ ông tái giá, Boeing được cho đi du học ở Thụy Sĩ rồi trở về Mỹ tiếp tục sự nghiệp học hành. Tuy vậy chàng trai năng động này chẳng ngồi yên trên ghế nhà trường được bao lâu. Năm 1903, ông bỏ học để chu du và tìm hiểu cuộc sống. Thời gian này, Boeing bắt đầu sự nghiệp buôn gỗ giống cha mình và thậm chí có thành công rất sớm. Với nhiều thương vụ sinh lời, Boeing có tiền để mua các cánh rừng, bất động sản cũng như đầu tư mở rộng buôn bán.

Năm 1908, ông thành lập Greenwood Timber Company và thậm chí mua lại 1 xưởng đóng tàu khi có hứng thú với nghề này.

Tuy nhiên, sự chú ý của ông nhanh chóng chuyển hướng sang máy bay, loại hình vận tải vẫn còn sơ khai và được đóng bằng gỗ thời kỳ đó.

Năm 1909, Boeing lần đầu tiên nhìn thấy máy bay tại hội chợ ở Seattle và chúng đã tác động mạnh đến chàng trai trẻ này. Xin nhắc lại là máy bay được anh em nhà Wright bay thử thành công lần đầu tiên vào năm 1903 và ngành hàng không thời kỳ này vẫn trong giai đoạn mò mẫm và trình diễn là chính.

Năm 1910, Boeing quyết định tham dự hội chợ hàng không đầu tiên tại Mỹ ở Los Angeles để nhờ từng phi công cho ông được bay thử cùng, nhưng hầu hết họ đều từ chối. Cuối cùng có một phi công người Pháp cũng đồng ý nhưng sau khi Boeing đợi 3 ngày, ông phát hiện viên phi công này đã bỏ về đi tham dự hội chợ khác và lời hứa kia chẳng khác nào trò cười.

Dù nhận được cái nhìn coi thường của giới hàng không nhưng Boeing chẳng nản chí. Chỉ 4 năm sau hội chợ hàng không đó, Boeing làm quen được với trung úy hải quân Conrad Westervelt, người có cùng sở thích máy bay với mình và cùng lập kế hoạch để được bay trên bầu trời.

Cuối năm đó, cả 2 mua được chiếc máy bay thiết kế bởi nhà Curtiss và thuê phi công Terah Maroney chở họ quanh hồ Lake Washington. Tuy nhiên chuyến bay này chẳng thoải mái chút nào vì động cơ quá ồn và không ổn định, chẳng khác nào một chuyến đi mạo hiểm lắc lư trên bầu trời.

Thất vọng vì điều đó, Boeing quyết định tự xây dựng cho mình một mô hình máy bay hoàn hảo. Ông trao đổi thông tin với những phi công khác và nhập học trường dạy bay Glenn L. Martin School ở Los Angeles vào năm 1915. Kết thúc khóa học, ông đặt mua 1 chiếc máy bay của hãng Martin để bay thử. Thời điểm này Boeing và những người bạn chung chí hướng cũng bắt đầu xây dựng nhà máy và thiết kế 1 chiếc máy bay mới.

Năm 1916, họ cho bay thử chiếc B&W 1 (Viết tắt của Boeing và Westervelt), một khởi đầu cho đế chế sản xuất máy bay lớn nhất thế giới

sau này.
https://vietbf.com/forum/attachment.php?attachmentid=1348759&stc=1&d=1552404308
Công xưởng đầu tiên của Boeing bên hồ Lake Union


Gây dựng đế chế và bị tước đoạt

Chỉ 1 tháng sau ngày thử bay, Boeing và Westervelt thành lập Pacific Aero Products nhằm phát triển máy bay. Tuy nhiên cuối năm 1916, Westervelt bị thuyên chuyển qua bờ tây nước Mỹ do vẫn còn tại ngũ. Dù phải rời bỏ công ty mới thành lập nhưng Westervelt nhận thấy Thế chiến I sẽ cần sự tham chiến của máy bay và ông hối thúc Boeing tham gia các hợp đồng cung cấp máy bay cho hải quân Mỹ.

Với vị thế của mình, Boeing giành được những hợp đồng cung cấp máy bay này nhưng ông lại gặp khó khăn khi thiếu kỹ sư. Tuy nhiên Boeing đã rất thông minh khi đề nghị xây dựng hệ thống quạt gió thông khí cho trường đại học Washington, đổi lại họ sẽ mở lớp đào tạo kỹ sư hàng không cũng như gửi những sinh viên tốt nghiệp xuất sắc nhất cho Boeing.

Sau khi Mỹ tham dự Thế chiến I, Boeing quyết định đổi tên Pacific Aero Products thành Boeing Airplane Company vào ngày 9/5/1917. Công ty đã gửi 2 chiếc Model Cs cho hải quân Mỹ và ngay lập tức gây ấn tượng với giới quân đội. Hãng được đặt hàng thêm 50 chiếc Model Cs nữa và công việc kinh doanh phát đạt tới mức Boeing phải di chuyển sang nhà máy mới để đáp ứng đủ yêu cầu sản xuất.

Trớ trêu thay khi Thế chiến I dần kết thúc, nhu cầu máy bay suy giảm và thị trường tràn ngập những chiếc máy bay cũ thải ra từ quân đội, khiến hàng loạt công ty sản xuất như của Boeing điêu đứng. Để có thể tồn tại, công ty Boeing đã phải sản xuất và bán phụ tùng đóng tàu, đồ gia dụng và nhiều mặt hàng khác.

May mắn thay, Boeing phát hiện một mỏ vàng mới mà ngành hàng không có thể khai thác, đó là đưa thư. Năm 1919, Boeing thực hiện chuyến bay đưa thư đầu tiên từ Seattle-Mỹ đến British Columbia-Canada. Chuyến bay thành công đã giúp Boeing tìm hướng đi mới duy trì được công việc kinh doanh của mình.

https://www.vietbf.com/forum/highslide/graphics/warning.gif

https://vietbf.com/forum/attachment.php?attachmentid=1348760&stc=1&d=1552404308
William Boeing và Eddie Hubbard sau chuyến bay đưa thư đầu tiên từ Seattle-Mỹ đến British Columbia-Canada


Đến năm 1921, công ty Boeing bắt đầu kinh doanh tốt hơn nhờ những hợp đồng sửa chữa, bảo dưỡng máy bay cũng như thiết kế, lắp đặt các mẫu máy bay mới cho quân đội. Trong 10 năm sau đó, Boeing tiếp tục thống trị mảng sản xuất máy bay cho quân đội và thu được nguồn lợi lớn.

Ở mảng dân dụng, Boeing tích cực tham gia ngành vận tải thư bằng hàng không, nhất là khi chính phủ thông qua luật thương mại hóa ngành thư tín. Năm 1927, Boeing thắng thầu thành công tuyến vận tải thư từ San Francisco tới Chicago nhờ chiếc máy bay Model 40A vận thư có sử dụng công nghệ làm lạnh bằng khí thay vì bằng nước như đương thời.

Động thái đi trước thời đại này của Boeing đã giúp ông có hợp đồng 26 chiếc Model 40A. Không dừng lại ở đó, dòng máy bay này có 2 ghế trống phía sau có thể chờ thêm người và Boeing tìm thấy tiềm năng vận tải cho ngành hàng không ngoài việc đưa thư.

Trong năm đầu tiên hoạt động, công ty Boeing đã chở 1.300 tấn thư cũng như 6.000 lượt hành khách. Sự thành công này khiến Boeing dần trở thành hãng sản xuất máy bay và hàng không lớn nhất thị trường. Năm 1929, Boeing bao thầu hàng loạt kênh vận tải thư cũng như mua lại các hãng hàng không nhỏ yếu hơn như Pacific Air Transport, Pratt and Whitney, Hamilton Standard Propeller, Chance Vought. Năm 1930, Boeing mua lại hãng hàng không lớn nhất, và đầu tiên, của Mỹ thời kỳ đó là National Air Transport.

Sự bành trướng này của Boeing đã buộc chính phủ Mỹ phải vào cuộc, nhất là khi ngành hàng không chiếm vai trò trọng yếu trong an ninh và quân sự thời kỳ đó. Năm 1934, Mỹ thông qua bộ luật Air Mail Act, buộc các hãng hàng không rời bỏ ngành sản xuất máy bay nếu kinh doanh vận tải dân dụng.

https://vietbf.com/forum/attachment.php?attachmentid=1348756&stc=1&d=1552404308
William Boeing


Động thái này khiến William Boeing phải chia tách công ty của mình thành 3 phần:

– United Aircraft Corporation, chuyên sản xuất máy bay cho miền Đông Mỹ và nay là United Technologies Corporation.

– Boeing Airplane Company, chuyên sản xuất máy bay cho miền Tây Mỹ và nay là The Boeing Company.

– United Airline, chuyên kinh doanh vận tải hàng không

Trước áp lực mạnh mẽ từ chính phủ, Boeing dù đã tách công ty của mình thành các phần nhưng vẫn phải từ chức chủ tịch và bán hết cổ phiếu trong doanh nghiệp. Để đền bù, ngày 20/6/1934, chính phủ Mỹ vinh danh huân chương Daniel Guggenheim Medal cho Boeing vì những cống hiến cho ngành hàng không.

Dù đã rời bỏ công ty nhưng Boeing vẫn làm cố vấn cho những đứa con tinh thần của mình trong Thế chiến II. Thậm chí ông còn đích thân tham dự kế hoạch xây dựng “Dash 80”, tiền thân của Boeing 707, chiếc máy bay dân dụng thương mại thành công đầu tiên của Boeing.

Ngày 28/9/1956, Boeing qua đời vì đau tim ở tuổi 74, chính thức chấm dứt cuộc đời huyền thoại của người gây dựng nên đế chế hàng không lớn nhất Mỹ.

ST

__._,_.___

Hits: 29

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

BỐ TÔI – MỘT NGƯỜI XA LẠ

Sau khi bố tôi mất được ba năm, ông ấy đã đến nhà tôi. So với người cha của tôi, ông ấy tầm thường đến nỗi chẳng có ưu điểm gì đáng để nói đến. 
Nhưng mà, người mẹ ngoài 50 tuổi của tôi cần có một người bầu bạn, mà yêu cầu của người già đã ngoài 50 đối với một nửa kia chỉ cần phẩm cách tốt là được rồi.
Về mặt này ông ấy có đủ điều kiện, bởi ông là người tốt nổi tiếng gần xa thật thà chất phác. Cái hôm gặp gỡ lần đầu tiên với mẹ tôi, ông rất bối rối.
Bởi ông biết rất rõ rằng mọi phương diện của mình đều không có ưu thế: nhà thì chật hẹp, tiền lương thì ít, ông chỉ là một công nhân phổ thông nghỉ hưu, hơn nữa nhà của cậu con trai của ông vừa mới kết hôn cũng cần đến sự giúp đỡ của ông.
Thật lòng, mẹ tôi cũng chỉ vì nể mặt người mai mối nên mới quyết định đến gặp ông ấy. Và cuối cùng, mẹ đã có thiện cảm với ông ấy bởi tài nghệ nấu nướng của ông.

Sau khi gặp mặt, ông ấy nói: “Bà Hồng này, tôi biết điều kiện của bà rất tốt, không thiếu gì cả, thật tôi không có gì đáng để gửi tặng bà. Nhưng dù thế nào, chúng ta hãy thử quen nhau xem sao, chiều nay bà hãy ở lại nhà tôi dùng bữa cơm đạm bạc nhé!”.
Tấm lòng chân thành của ông khiến mẹ tôi không nỡ từ chối, bà đã ở lại. Ông không để bà động tay đến, thoáng chốc đã làm một bát canh với bốn loại rau, đặc biệt là món bí ngô nấu thịt, mẹ tôi đã ăn ngon đến không nỡ đặt đũa xuống.

Trước khi đi, ông đã nói với mẹ tôi rằng: “Sau này nếu như muốn ăn nữa, thì hãy đến đây. Nhà tôi tuy không khá giả lắm, nhưng chiêu đãi món bí ngô thì không tốn công phí sức chút nào”.

Về sau, mẹ tôi lần lượt gặp thêm vài người lão niên khác nữa, tuy điều kiện của mọi người mẹ gặp đều tốt hơn ông ấy, nhưng cuối cùng mẹ tôi vẫn chọn ông.

Lí do thật ra cũng được xem là ích kỷ, bà ấy đã phục vụ và chăm sóc ba tôi hơn nửa đời người rồi, lần này bà muốn một lần được người ta chăm sóc lại.
Cứ như vậy, ông ấy và mẹ tôi đã đến với nhau…

Hôm đó, ông ấy, mẹ tôi, thêm tôi nữa, còn có gia đình ba người của con trai ông cùng dùng một bữa cơm với nhau.
Tôi đặc biệt sắp xếp bữa cơm này trong một khách sạn năm sao sang trọng, bên ngoài thì là bày tỏ sự tôn trọng đối với ông, thật ra là thông qua đó tôi thể hiện đẳng cấp của mình.

Khi rời khỏi khách sạn, ông nhẹ nhàng nói với tôi: “Từ nay chúng ta đã là người nhà với nhau rồi, là hai bố con đấy! Sau này nếu con muốn mời bố ăn cơm thì chỉ việc đi đến những quán ăn bên đường là được rồi, ở đó bố sẽ ăn được thoải mái hơn, lòng không bị đau và cũng không thấy tiếc tiền”.

Chính tình cảm chân thành của ông đã làm tổn thương cái tâm hư vinh giả dối của tôi, khiến tôi cảm thấy đấu trí với một người thật thà, giống như một người lớn lấy kẹo để dụ dỗ một đứa con nít vậy, thật là vô sỉ chẳng còn gì để nói nữa.

Ông ấy đã chăm lo cho mẹ tôi rất tốt, bà ấy mỗi lần gặp tôi đều bảo cần phải giảm cân, đó là một giọng điệu hạnh phúc.

Ông ấy nấu ăn thật sự rất ngon. Một lần nọ, khi cùng ăn cơm với mọi người, tôi không nhịn được nói với vợ rằng: “Lần sau khi chú Phúc làm cơm, em hãy ở bên cạnh mà học hỏi một chút”.

Tôi thấy sắc mặt của vợ vốn không hề có phần muốn học, trái lại còn có mấy phần tức giận.

Ông vội vàng đứng ra giải vây, ông nói: “Một đời này của bố đều không làm được gì tốt cả, chỉ có chút tài nghệ làm được mấy món ăn, các con đều là những người làm chuyện đại sự, tuyệt đối đừng có học theo ta, nếu như muốn ăn, thì hãy đến đây, đến bất cứ lúc nào cũng được. Nấu ăn, sợ nhất là món ăn mình làm ra không có người ăn”.
Hôm chúng tôi ra về, ông ấy đã gói rất nhiều đồ do chính tay ông làm bảo chúng tôi mang về, vừa cầm lấy tay tôi vừa nói: “Đừng có khen cơm bố nấu ngon nữa, nói thật lòng, hễ có người nói đến ưu điểm này thì bố thấy ngại lắm. Một người đàn ông chỉ biết nấu ăn, còn những phương diện khác thì lại không làm được trò trống gì cả, đây đâu thể nói là ưu điểm được”.

Trên đường về nhà, tôi đã kể lại cho vợ nghe những lời này của ông Cô ấy nói: “Người như ông ta, trời sinh là số phải phục vụ người ta, trời sinh chính là bằng lòng cúi đầu đến sát mặt đất. Mẹ chúng ta có phúc khí, già rồi còn làm một hoàng thái hậu”.
Tôi vừa lái xe, vừa dùng mắt liếc nhìn vợ, cảm nhận sự khinh thường của vợ đối với ông ấy, trong lòng lại không biện giải gì cho ông. Rốt cuộc, ông trước sau vẫn là một người ngoài mà.

Hôm tôi dọn sang nhà mới, ông ấy và mẹ đã đến giúp tôi cúng đất đai gia trạch cho chúng tôi. Ông đã làm theo tập tục một cách cẩn thận, kỹ càng, đâu vào đấy. Nhưng, đến lúc ăn cơm, ông lại không xuất hiện trên ghế dành cho bề trên, tìm khắp nơi đều không thấy ông ấy, gọi điện thoại cho ông, cũng ở trong tình trạng khóa máy.

Dường như đã tính toán kỹ thời gian, khi khách khứa đi hết cả, ông đã quay trở lại, cẩn thận dọn dẹp đống bát đĩa bừa bộn đó, đem những đồ ăn còn thừa lại đựng trong hộp cơm mà ông đã chuẩn bị sẵn, để mang về nhà ăn.

Mẹ không mong ông làm như vậy, cảm thấy tủi thân cho ông, ông nhỏ tiếng nói thầm với bà rằng: “Buổi tối anh sẽ nấu cơm mới cho em, những cái này anh sẽ tự ăn hết”.
Mẹ nói: “Làm gì mà ngày nào cũng phải ăn cơm thừa rau thừa như vậy chứ? Anh có biết rằng em thấy anh làm như vậy, trong lòng rất khó chịu hay không?”.

Ông ấy an ủi mẹ tôi rằng: “Em tuyệt đối đừng thấy khó chịu, để anh nhìn thấy lãng phí như vậy, trong lòng anh mới không dễ chịu. Tiền của Tân (tên của tôi) đều rất vất vả mà đánh đổi lấy, chúng ta không giúp con nó được gì cả, vậy thì hãy gắng sức tiết kiệm thay cho nó”.

Lời của ông khiến mẹ tôi day dứt, sau đó bà ấy quyết định nói với tôi. Nghe mẹ nói thay cho ông ấy trong điện thoại, cảm giác trong lòng tôi lúc ấy rất phức tạp, đồng thời cũng cảm thấy rất xấu hổ. Dần dần, thiện cảm đối với ông ấy mỗi lúc một nhiều hơn.

Ông ấy âm thầm làm rất nhiều chuyện cho chúng tôi: thay ống nước bị hư trong nhà, mỗi ngày đưa cháu đến nhà trẻ và rước cháu về nhà, khi mẹ nằm viện ông ấy đã không ngủ không nghỉ mà chăm sóc bà, mãi đến sau khi xuất viện mới nói với chúng tôi.

Chỉ là không ngờ có một ngày, ông cũng ngã bệnh, hơn nữa bệnh còn rất nghiêm trọng. Trên đường ông ấy đưa con của tôi đến nhà trẻ thì đột nhiên ngã xuống – bệnh tai biến mạch máu não, bán thân bất toại mà nằm trên giường.

Tôi và con trai của ông ấy, ban đầu đều rất tích cực đối với việc trị liệu của ông, chúng tôi mong ông mau chóng khỏe lại, vẫn có thể chịu mệt nhọc vất vả mà phục vụ cho chúng tôi giống như trước đây.

Nhưng mà, ông đã không bao giờ đứng dậy được nữa. Trước đây ông lúc nào cũng mỉm cười, không ngờ giờ đây đã biến thành yếu ớt như vậy, lúc nào cũng chảy nước mắt.
Mẹ chăm sóc cho ông, ông khóc; chúng tôi đẩy xe lăn dẫn ông đi chơi vùng ngoại ô, ông khóc; nhiều lần nằm viện, nhìn thấy tiền tiêu đi như nước; ông khóc.

Một ngày, ông đã dùng con dao cạo râu ra sức cắt cổ tay của mình. Cấp cứu trong suốt 5 giờ đồng hồ, ông mới từ cõi chết trở về, rất mệt mỏi, cũng rất tuyệt vọng.

Điều thật sự không ngờ rằng, người đầu tiên bỏ ông ấy đi lại chính là con trai của ông. Con trai của ông rất ít khi đến thăm ông, sau này còn không ló mặt đến một lần. Mỗi lần gọi điện thoại, anh ta đều nói rằng mình đang đi công tác, trở về sẽ ghé thăm ông.
Điều khiến tôi không ngờ hơn nữa, mẹ tôi vào lúc này cũng đề xuất với tôi rằng bà muốn chia tay với ông. Hai người vốn dĩ chưa đăng ký, chỉ là chuyện vỗ mạnh một cái mỗi người mỗi ngả.

Mẹ nói với tôi rằng: “Mẹ đã già rồi, không lo nổi cho ông ấy. Mẹ không giúp được gì cho con cả, nhưng cũng không thể mang một người cha tàn phế về, làm liên lụy con được”. Đây chính là hiện thực tàn nhẫn.

Tôi không muốn để mẹ tôi làm người ác, thế là tôi đành phải nhẫn tâm đóng vai kẻ ác, quyết định tự mình đến nói ra chuyện chia tay này.

Tôi nói với ông, vẫn đang nằm trên giường bệnh rằng: “Chú Phúc, mẹ con bệnh rồi”. Nước mắt của ông lại tuôn trào ra như mưa. Tôi gắng sức nói tiếp những lời tàn nhẫn: “Chú biết đấy, mẹ con cũng đã có tuổi rồi. Những ngày này, bà ấy đối với chú như thế nào, chú cũng đã thấy rồi”.

Chú tiếp tục chảy nước mắt gật đầu. Tôi lại nói tiếp: “Chú Phúc, chúng con còn phải đi làm, mẹ con sức khỏe lại không tốt. Chú xem như vậy có được không, sau khi xuất viện, chú hãy về nhà của chú, con sẽ thuê một bảo mẫu cho chú. Đương nhiên, tiền sẽ do con trả, con cũng sẽ thường xuyên đến thăm chú”.

Khi nói đến đây, chú không khóc nữa. Chú gật đầu liên hồi, nói một cách cảm kích: “Nếu được như vậy thì tốt quá, nếu được như vậy thật đúng là tốt quá. Không cần mời bảo mẫu, thật sự không cần…”.

Tôi bước ra khuôn viên của bệnh viện mà chảy nước mắt, không rõ đó là cảm giác nhẹ nhõm sau khi được giải thoát, hay là trong lòng có nỗi day dứt không nói thành lời.
Tôi thuê một bảo mẫu cho ông ấy, trả trước chi phí trong một năm. Sau đó, tôi đến nhà ông ấy, thuê công nhân tu sửa lại nhà của ông một chút, tôi đã cố gắng trọn nhân trọn nghĩa. Không phải vì ông, chỉ vì an ủi nỗi bất an trong lòng. Cái ngày ông ấy xuất viện trở về nhà, tôi không đến đón, mà bảo tài xế trong đơn vị đến đón ông.

Tài xế sau khi trở về đã nói với tôi rằng: “Chú Phúc nhờ tôi nói tiếng cảm ơn với anh, còn bảo rằng ngay cả con trai ruột của chú, cũng không làm được như vậy”.

Những lời này, đã an ủi tôi ít nhiều, khiến tôi nhẹ nhõm phần nào, nhưng loại an ủi này vốn không duy trì được bao lâu.

Ngày Tết không có ông ấy ở nhà, chúng tôi cảm thấy có chút buồn tẻ, không còn một người bằng lòng vùi đầu vào trong nhà bếp, làm đủ các loại món ăn cho chúng tôi.
Chúng tôi ngồi ăn cơm tất niên trong khách sạn năm sao, nhưng lại không cảm nhận được cái hương vị nồng ấm của ngày Tết nữa. Con trai trên đường về nhà nói: “Con muốn ăn món cá chép do ông nội làm”.

Vợ tôi nháy mắt ra hiệu cho con trai đừng nói nữa, nhưng con lại càng dữ dội hơn: “Tại sao mọi người không để ông nội về nhà đón Tết, mọi người thật đúng là xấu xa mà!”.

Vợ tôi tức giận giáng cho con trai một cái bạt tai thật mạnh. Nhưng cái bạt tai đó như là đang đánh vào mặt tôi vậy, khắp mặt sưng lên đau đớn. Một câu nói của con trai, khiến cho điều chúng tôi tự thấy an ủi đều đã sụp đổ tan tành.

Tôi nhìn qua kính chiếu hậu, nhìn thấy đôi mắt của mẹ cũng đang đỏ hoe. Đó là ngày 30 Tết buồn biết mấy. Tôi thấy rất nhớ năm ngoái, năm mà ông ấy vẫn còn ở nhà chúng tôi, một gia đình ấm cúng hạnh phúc, được xây dựng trong sự lặng lẽ của một người.

Không biết giờ này, chú Phúc đang đón tết với ai? Liệu có nhớ đến chúng tôi chăng? Liệu có vì sự vô tâm của chúng tôi mà cảm thấy tủi thân?

Sau khi đón giao thừa xong, tôi lái xe đi đến chỗ của chú Phúc. Ông ấy bước những bước chân tập tễnh ra mở cửa cho tôi, nhìn thấy tôi, miệng thì nở nụ cười, nhưng mắt lại đẫm lệ.

Đi vào ngôi nhà lạnh lẽo của ông, nước mắt của tôi cũng không thể ngăn lại. Tôi cầm điện thoại lên gọi cho con trai của ông ấy, sau khi mắng cho anh ta một trận, bắt đầu đồ xôi và kho nồi thịt kho cho ông.

Bảo mẫu đã về nhà đón Tết, trong tủ lạnh đã chuẩn bị sẵn điểm tâm đủ cho ông ấy dùng đến ngày 15, trong lòng tôi cũng thầm trách mẹ.

Những nắm xôi nóng hổi cuối cùng đã giúp nhà ông ấy có được một chút không khí ấm cúng của ngày Tết. Chúng tôi cứ ăn một miếng, nước mắt lại rơi lã chã.

Buổi sáng tinh mơ của ngày mùng một, tôi lảo đảo rời khỏi căn nhà của ông, tôi uống rượu.. Tôi đậu xe ngay dưới lầu của nhà ông ấy, một mình đi trên con đường lạnh tanh, trong lòng đầy thê lương.

Điện thoại reo lên, là vợ gọi đến: “Anh ở đâu vậy hả?”.

Tôi phát hỏa: “Tôi đang ở trong nhà của một ông lão cô độc, nghe rõ chưa hả? Chúng ta là loại người gì vậy hả? Khi ông ấy có thể đi lại được, chúng ta lợi dụng người ta; bây giờ ông không cử động được nữa, chúng ta lại gửi trả về. Lương tâm chúng ta phải chăng đã bị chó tha mất rồi, vậy mà còn đòi học theo người ta nói nhân nghĩa đạo đức, tôi khinh!”.

Ở trên đường cái, tôi mắng chửi bản thân mình thật tệ hại, mắng đủ rồi, mắng mệt rồi, tôi không chút do dự mà chạy trở lại, cõng ông ấy trên lưng rồi đi ra bên ngoài. Ông giãy giụa, hỏi tôi: “Con làm vậy là sao?”.

Tôi lấy giọng điệu chắc nịch mà nói với ông rằng: “Về nhà”.

Ông ấy đã trở về. Người cảm thấy vui nhất là con trai tôi. Nó vừa ôm vừa hôn ông, luôn miệng đòi ăn món cá chép, đòi ăn món mỳ bò, muốn làm thẻ siêu nhân.
Vợ lôi tôi vào trong phòng, hỏi tôi: “Anh điên rồi sao? Ngay đến cả con trai ông ta còn không lo cho ông ta, anh dẫn ông ta về nhà làm gì vậy?”.

Tôi không còn nổi nóng nữa, ôn hòa nhã nhặn nói với cô ấy: “Con trai ông ấy làm chuyện không đúng, đó là chuyện của anh ta, không nên lấy đó làm cái cớ để chúng ta bỏ rơi ông ấy.

Anh không yêu cầu em phải xem ông ấy như bố chồng của mình, nhưng mà, nếu như em yêu anh, nếu như em biết nghĩ cho anh, thì hãy xem ông ấy như người nhà, bởi trong lòng của anh, ông ấy chính là người nhà, chính là người thân, bỏ rơi ông ấy thì rất dễ dàng, nhưng không giấu được nỗi day dứt trong tâm. Anh muốn tâm mình được thanh thản một chút, chỉ đơn giản vậy thôi”.

Cùng một lời này, khi nói với mẹ, bà nước mắt như mưa, nắm chặt lấy tay tôi nói rằng: “Con trai à, mẹ thật không ngờ con lại có tình có nghĩa như vậy”.

Tôi nói: “Mẹ, mẹ yên tâm đi. Nói hơi khó nghe một chút, cho dù sau này có một ngày, mẹ mà đi trước chú ấy, con cũng sẽ phụng dưỡng chú ấy đến cuối đời, vớithu nhập của con hiện giờ, nuôi chú ấy nào là chuyện khó gì? Thêm một người thân, thì có gì không tốt chứ?”.

Một lúc sau, con trai tôi đi vào xin tôi: “Bố ơi, đừng có gửi ông nội về đâu nữa. Sau này, con sẽ chăm sóc ông ấy. Sau này bố già rồi, con cũng chăm sóc bố mà!”.

Tôi ôm con trai vào lòng, trống ngực đập thình thịch, thật may là vẫn chưa quá muộn, còn may chưa để lại một ấn tượng bất hiếu trong lòng của con tôi.
.

“Ông nội mà, chính là để cho chúng ta yêu thương, sao lại gửi đi được nữa!”.
Tôi mở miệng nói đùa với con trai, để củng cố niềm tin vững chắc cho nó…


 Nguyễn Huy Cường.

Hits: 45

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hãy Già Một Cách Khôn Ngoan

  1. Đây là lúc mà ta phải tiêu hết số tiền mà ta đã để dành.

Hãy tiêu chúng đi và tiêu một cách hoan hỉ.

Hãy đừng đưa tiền đó cho những người mà họ không có một ý nghĩ gì về tại sao ta đã khó khăn mới kiếm được.

Hãy đặc biệt lưu ý tới những người cùng huyết tộc với các chương trình về cách kiếm tiền khó khăn như thế nào mà quý vị đã làm để có chúng.

Bây giờ cũng là thời gian không thuận lợi cho các đầu tư khác mặc dù việc đầu tư này có ít rủi ro. Đầu tư vào giai đoạn này chỉ mang lại lo âu và nhiều chuyện khó khăn. Đây là lúc mà quý vị cần tận hưởng một cách im lặng.

2. Hãy đừng lo nghĩ tới tài chánh của con cháu.

Xin hãy ngưng lo nghĩ về tình trạng tài chánh của con cháu mình và đừng cảm thấy tội lỗi về cách mà bạn tiêu tiền do chính mình làm ra. Quý vị đã nuôi chúng trong nhiều năm và đã chỉ dẫn cho chúng tất cả những gì mà quý vị biết. Quý vị đã giúp chúng về học vấn, thực phẩm, nhà ở và tiền túi. Bây giờ chính là lúc chúng phải lo kiếm tiền để tự túc.

3.-Hãy giữ sức khỏe.  

Tập thể dục vừa phải như đi bộ mỗi ngày, dinh dưỡng đầy đủ và hãy ngủ đều đặn Ở tuổi này, quý vị rất dễ bị bệnh và muốn được khỏe mạnh thì cần nhiều cố gắng khó khăn hơn.Vì thế quý vị phải giữ mình ở tình trạng tốt và hãy lưu ý tới các nhu cầu về sức khỏe.Hãy giữ liên lạc với các bác sĩ bằng cách khám bệnh định kỳ, thực hiện các xét nghiệm mặc dù quý vị vẫn cảm thấy bình thường. “Cẩn tắc vô ưu”, cổ nhân vẫn dạy ta vậy.

4-Luôn luôn mua vật dụng tốt nhất.

Luôn luôn mua vật dụng tốt nhất và đẹp nhất cho những người thân.Phần thưởng mà quý vị mua những quà với tiền của chính mình thật là vô giá. Vào một ngày nào đó, một trong số những người thân của quý vị sẽ nhớ đến nhau và khi đó thì tiền chẳng cung cấp một điều quý giá gì cho nhau, vì vậy hãy cùng nhau tiêu tiền khi quý vị còn có thể sống với nhau.

5-Hãy bỏ qua những điều lặt vặt.

Trong đời sống, hãy bỏ qua những điều nhỏ nhặt.Quý vị đã từng vượt qua những điều như vậy trong suốt cuộc đời. Quý vị đã từng có những kỷ niệm vui buồn nhưng hiện tại mới là điều quan trọng. Hãy đừng để quá khứ dìm quý vị xuống và đừng để tương lai làm quý vị sợ hãi. Hãy tận hưởng với những gì của hiện tại. Quý vị hãy quên đi những chuyện lặt vặt.

6- Luôn luôn làm sống lại tình yêu.

Dù quý vị ở vào tuổi nào, luôn luôn làm sống lại tình yêu và sự thơ mộng. Hãy yêu mến người bạn đồng hành của quý vị, yêu đời sống, yêu gia đình quý vị, yêu hàng xóm, yêu chó hoặc yêu mèo và luôn luôn nhớ rằng: “Một người đàn ông chẳng bao giờ già khi ông ta có sự thông minh và tình thân ái”.

7-Hãy mạnh dạn tự kiêu…

Hãy mạnh dạn và tự kiêu từ tâm hồn tới thể xác.Đùng ngưng tới tiệm hớt tóc, chăm sóc móng tay móng chân, đi khám bệnh ngoài da và đi nha sĩ, giữ đầy đủ đồ làm đẹp. Khi quý vị đã tự giữ mình thì quý vị sẽ cảm thấy kiêu hãnh và tự tin.

8. Đừng để ý tới bề ngoài.

Ở tuổi của quý vị hãy đừng để ý tới vẻ bề ngoài. Không có gì lố bịch hơn là một người ở tuổi quý vị lại mặc quần áo của giới trẻ. Quý vị đã tạo ra một cái gì thích hợp với quý vị thì xin hãy giữ lấy nó và kiêu hãnh với nó. Đó là một phần của quý vị.

9. Luôn luôn theo dõi xung quanh.

Đọc nhật báo, coi internet và đọc tin tức.Hãy có một điện thư còn hoạt động và cố gắng dùng một trong những điều của xã hội. Quý vị sẽ rất ngạc nhiên gặp những người bạn cũ. Giữ liên lạc với những gì đã xẩy ra và những người mà quý vị đã biết là điều quan trọng dù quý vị có già.

10. Hãy tôn trọng thế giới trẻ

Hãy tôn trọng giới trẻ và ý kiến của họ. Và hy vọng rằng họ sẽ kính trọng quý vị. Họ có thể không có cùng quan điểm với quý vị nhưng họ sẽ là tương lai và hướng thế giới về phía họ. Hãy góp ý mà chẳng nên chỉ trích và hãy cố gắng mà nhắc nhở họ rằng sự khôn ngoan của quá khứ bây giờ vẫn còn áp dụng.

11.Đừng bao giờ dùng câu: “Vào thời của tôi”.

Ngày của quý vị là bây giờ.Bao lâu mà quý vị còn sống, quý vị là một phần của hiện tại. Quý vị có thể trẻ hơn, nhưng quý vị vẫn là quý vị. Hãy vui lên và tận hưởng cuộc đời.

12.Một số quý vị sẽ trìu mến những năm huy hoàng trong khi đó thì nhiều vị trở nên cay đắng và gắt gỏng.

Đời sống quá ngắn để bận tâm với những điều nhỏ nhen.Hãy chia xẻ với những người tích cực và vui vẻ. Điều này sẽ mang lại niềm vui cho chính quý vị và thời gian sẽ dễ chịu hơn. Sống với người yếm thế sẽ làm quý vị già hơn và khó mà sống với người khác.

13. Hãy đừng bỏ ý định sống với các con.

hoặc các cháu, nếu hoàn cảnh tài chính cho phép. Thực vậy, sống với nguời thân là điều tốt nhưng chúng ta có nếp sống riêng tư. Chúng thích sống cuộc đời của chúng và ta cần cuộc sống của ta.Nếu chẳng may mà quý vị mất người bạn đường (chúng tôi chia buồn cùng quý vị), hãy kiếm một người sống cùng và giúp lẫn nhau. Và cả khi đó nếu quý vị thấy thật cần sự giúp đỡ và không muốn sống một mình.

14. Hãy đừng từ bỏ các thú vui.

Nếu quý vị không có thì hãy tạo ra một thú vui khác.Quý vị có thể đi du lịch, nấu ăn, đọc sách báo và khiêu vũ.Quý vị có thể nuôi một chú mèo, một con chó, làm vườn, đánh bài, chơi domino, quần vợt.Quý vị có thể vẽ, làm việc thiện nguyện hoặc chỉ sưu tầm một loại đồ vật nào đó.

Hãy kiếm điều gì mà quý vị thích và tận hưởng niềm vui với chúng.

15. Hãy nhận lời mời mặc dù quý vị không muốn.

Hãy tới các lễ rửa tội, hội họp, ra trường, ngày sinh nhật, đám cưới và hội thảo.

Hãy ra khỏi căn nhà và gặp những người quen từ lâu mà quý vị chưa gặp lại.

Hãy trải qua điều gì mới hoặc cũ nhưng hãy đừng bực mình nếu không được mời.Một vải hoạt động như vậy bị giới hạn vì phương tiện và quý vị nhớ cho rằng không phải ai cũng mời được như vậy.

Điều quan hệ là đôi khi hãy ra khỏi căn nhà. Hãy tới viện bác cổ hoặc đi lang thang trong vườn bách thảo. Điều cần là hãy tạm thời ra khỏi căn nhà một khoảng thời gian ngắn.

16. Hãy tiết kiệm lời nói.

Nghe nhiều, nói ít. Có nhiều trong số quý vị liên tục nhắc lại quá khứ mà không để ý người khác có thích nghe không.

Hãy nghe trước và trả lời câu hỏi sau nhưng đừng quá kéo dài câu chuyện trừ khi được yêu cầu.

Hãy nói với giọng nhã nhặn và nên trành than phiền hoặc chỉ trích nhiều quá trừ khi cần.

Hãy cố gắng chấp nhận hoàn cảnh khi việc xẩy ra. Mọi người đều trải qua những hoàn cảnh như vậy và nhiều người khó chịu vì phải nghe các lời than phiền. Vậy thì hãy cố gắng tìm các điều tốt để nói.

17. Đau và khó chịu thường xuất hiện ở tuổi cao.

Không nên cố bám lấy nó và cho nó là một phần của cuộc sống mà mọi người phải trải qua. Hãy cố gắng giảm thiểu sự đau nhức và sự khó chịu ra khỏi trí óc.Chúng không phải tự nhiên mà quý vị có, chúng là những gì thêm thắt mà đời sống thêm vào cho quý vị. Nếu quý vị bận tâm đến nó, quý vị sẽ mất vai trò của quý vị. Hãy tha thứ.

Nếu quý vị bị người khác làm tổn thương, hãy quên đi. Nếu quý vị làm người khác buồn, hãy xin lỗi. Đừng kéo dài sự bất mãn với chính mình. Nó chỉ làm quý vị cảm thấy mất vui và cay đắng. Ai phải cũng thế thôi.

Có người đã nói: “Giữ sự bực tức thì cũng giống như uống chất độc và hy vọng rằng người đó sẽ chết”.

18. Hãy tận hưởng niềm tin mãnh liệt nếu quý vị đã có.

Nhưng xin đừng cố thuyết phục người khác.Họ sẽ tự quyết định và quý vị sẽ bất mãn.Hãy sống với điều mà mình tin.

19. Hãy cười to lên.

Và cười thật nhiều.Cười về mọi thứ.Hãy nhớ quý vị là một trong những người có may mắn.Quý vị đã thu xếp để có một nếp sống, một nếp sống kéo dài.Nhiều người không bao giờ đạt được tuổi đó, chưa bao giờ hưởng trọn cuộc đời..Nhưng quý vị đã đạt được điều đó.Như vậy thì tại sao quý vị không vui cười to lên? Hãy mỉm cười trong bất cứ hoàn cảnh nào.

20. Đừng để ý tới lời bình phẩm của người khác về quý vị và đôi khi không thèm để ý tới những gì họ nghỉ về mình.

Họ sẽ luôn luôn bình phẩm và quý vị nên tự kiêu hãnh và những điều tốt mình đã thực hiện. Hãy để họ nói và đừng quan tâm.Họ không hiểu tý gì về quý vị, về các ký ức của quý vị và đời sống của quý vị. Có nhiều điều cần ghi lại vậy thì hãy viết và đừng phí thì giờ về những gì mà ngưởi khác có thể gán cho quý vị. Bây giờ là lúc cần nghỉ ngơi và sống hạnh phúc càng nhiều càng tốt./.

Bác sĩ Nguyễn Ý-Đức

Texas-Hoa Kỳ

Hits: 16

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

NHÀ THƠ HỮU LOAN, LẦN GẶP MẶT

**

*

*

*

*

*

**

Hits: 34

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

CUỘC ĐỜI KHÔNG DẠY BẠN

Inline image
 

1. Xã hội này giữa người với người đừng nên nhìn mặt đoán lòng. Họ cười họ nói một đằng nhưng trong tâm họ lại nghĩ một kiểu. Hoá ra thứ lạnh lẽo nhất trên đời này chính là lòng người…

2. Chẳng bao giờ người ta cần có lý do để ghét bỏ ai đó. Yêu hay ghét nó là cảm giác của mỗi người, mà con người luôn là tạo vật đầy rẫy mâu thuẫn, thế nên, đừng dằn vặt mình vì: “Sao nó ghét mình?”, “Mình đã làm gì nó đâu?” có bới móc tìm ra lý do biện minh cho việc yêu quý hay hờn ghét, nói thật là chẳng để làm gì. Nó ghét vì nó thích thế. Đơn giản vậy thôi!
3. Lời đồn xuất phát từ những kẻ hay ghét người khác. Lan truyền bởi những kẻ dại khờ và được chấp nhận bởi những kẻ ngu ngốc.
Inline image

4. Cuộc đời này ngắn lắm, chớp mắt trôi qua đã hết nửa quãng thanh xuân. Trong cái lúc tuổi xanh vùn vụt chạy qua như chuyến tàu tốc hành, còn bao nhiêu chuyện khác phải lo để tồn tại, cớ gì phải vơ hết chuyện thiên hạ về mình cho mệt?

5. Càng ngày tôi càng thấy sợ một số người xung quanh mình. Họ diễn hay quá và hạ màn cũng thật bất ngờ

6. Người đời không nuôi bạn lớn ngày nào. Lúc bạn đau khổ, họ cũng không ở cạnh lo cho bạn, vỗ về nỗi đau của bạn. Lúc bạn vui, họ lại càng không quan tâm, chưa kể còn có phần ganh ghét. Thế thì chả việc gì phải bận tâm lo sợ đám đông người đời đánh giá cuộc đời bạn thế nào?
Inline image

7. Miệng lưỡi người nào ai quản nổi? Họ nói những gì họ thích và làm những điều họ muốn chẳng bao giờ quan tâm tới những tàn nhẫn của “thú vui” ấy. Rồi nạn nhân sẽ sống thế nào đây?

8. Làm sao để nhận biết được một con người qua vẻ bề ngoài. Hoa hồng đẹp thế mà còn có gai đấy thôi! Con người cũng vậy…càng vẻ mặt từ bi bao nhiêu có khi trong lòng lại càng nham hiểm bấy nhiêu…Tất nhiên cũng có những người tuyệt vời cả về hình thức lẫn tâm hồn.

9. Chốt lại, bạn có sống tốt thế nào cũng có người ghét. Cho nên mình cứ sống vui, sống khỏe đừng đánh mất sự lương thiện, tốt bụng trong mình là được! Ừ lương thiện thì thiệt thân, nhưng tôi cứ sống cho tốt cái bụng mình thì chẳng bao giờ phải hổ thẹn với đời.
ST  

Hits: 29

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

MỘT CHÚT VỀ LỆ KHÁNH

Nhà thơ nữ Lệ Khánh, tên thật: Dương Thị Khánh, sinh năm 1944 tại tỉnh Thừa Thiên – Huế. Hiện đang sinh sống cùng con trai ở số 71 đường 3/2 thành phố Đà Lạt tỉnh Lâm Đồng.

Theo một bài viết của La Ngạc Thụy :

– “Vào những năm thập kỷ 60, trên diễn đàn văn nghệ xuất hiện một nhà thơ gây xôn xao dư luận, có thể nói là ngang tầm với hiện tượng T.T.Kh, đó là nhà thơ Lệ Khánh tác giả của 5 tập thơ “Em Là Gái Trời Bắt Xấu” do nhà xuất bản Khai Trí xuất bản liên tục trong 3 năm từ năm 1964 đến năm 1966.

“Chính tên tập thơ “Em là gái trời bắt xấu” đã gây chú ý hấp dẫn, từ đó độc giả đã “đua nhau” tìm đọc. Điều làm mọi người kinh ngạc là Lệ Khánh xuất bản thơ với tựa đề “Em Là Gái Trời Bắt Xấu” nhưng thật ra Lệ Khánh lại là một cô gái Huế xinh đẹp, lúc xuất bản tập thơ đầu tiên Lệ Khánh vừa đúng 20 tuổi  

“… Một điều đáng chú ý khác là đời thơ của Lệ Khánh không dài, chỉ bắt đầu vào năm 1964 và kết thúc trước năm 1975.

Thập niên 60, Lệ Khánh đã nổi tiếng, có người yêu là nhạc sĩ Thục Vũ đang mang cấp bậc Đại Úy.

Thục Vũ tên thật là Vũ Văn Sâm, sinh năm 1932 tại làng Nam Lạng – Trực Ninh – Bắc Việt. Ông tốt nghiệp khóa 4 phụ Đà Lạt năm 1954, năm ký hiệp định đình chiến Geneva. Vì thế, ông ở lại miền Nam Việt Nam bỏ lại phía bên kia người vợ chưa cưới. Năm 1955, người vợ chưa cưới của ông vào Nam và làm lễ cưới năm 1956.

Thục Vũ gặp và yêu lúc Lệ Khánh vừa tròn 20 tuổi, trong thời gian này ông đã phổ nhạc bài thơ “Vòng Tay Nào Cho Em”, gây xôn xao giới yêu nhạc. Hai người có một đứa con là Vũ Khánh Thục. Bà Thục Vũ biết nhưng không làm to chuyện mà còn đến thăm nom, chăm sóc cho ngày con Lệ Khánh ra đời… Sau đó, Thục Vũ lên Trung Tá ở Sư Đoàn 5 Bộ Binh. Sau 1975, ông đi cải tạo và chết trong trại năm 1978, để lại cho bà vợ lớn 5 đứa con, và nhà thơ Lệ Khánh 1 đứa con.

– Tác phẩm đã xuất bản: Em là gái trời bắt xấu (thơ tập 1, 2, 3, 4, 5) Khai Trí Sài Gòn xuất bản: 1964-1965-1966; Vòng tay nào cho em (thơ 1966); Nói với người yêu (thơ 1967).

em là gái trời bắt xấu

Tác giả: Lệ Khánh

Chiều chúa nhật đợi chờ anh mãi mãi

Sao trễ giờ cho chua xót anh ơi

Hẹn hò chi ? Chừ lỡ dở cả rồi

Tình mới chớm đã vội vàng lịm tắt

Tôi yêu anh nhưng hoài hoài thắc mắc

Liệu người ta đáp trả lại hay không

Đến bao giờ dẫm được xác pháo hồng

Áo cưới đỏ cười vui cô dâu mới

Anh hẹn đúng hai giờ anh sẽ tới

Nhưng sao chừ trời đã tối… anh đâu

Mưa hôm nay êm như tiếng mưa ngâu

Anh lỗi hẹn nên chiều buồn rứa đó

Tôi gục mặt khóc thầm bên cửa sổ

Mà cô đơn trời hỡi vẫn cô đơn

Nơi xa xôi, anh có biết tôi buồn

Anh có biết tôi cười mắt ngấn lệ

Anh lỗi hẹn hay là anh đến trễ

Cho chiều nay đường phố lạnh mưa thu

Và đêm nay thành-thị ướt sương mù

Người con gái gục đầu thương mệnh bạc

Chuyện thủy-chung biết lấy gì đổi chác

Khi tôi nghèo, bằng cấp trắng bàn tay

Sao yêu anh cho đau khổ thế này

Thà câm nín như ngày xưa anh nhỉ ?

Vì Thượng-Đế đày tôi làm Thi-Sĩ

Nên tâm tình trào ngọn bút thành thơ

Dâng riêng anh anh nhận lấy, hững hờ

Tôi hổ thẹn bực mình đem đăng báo

Thiên hạ đọc bảo nhau rằng tôi láo

Đẹp như tiên vờ nói xấu vô duyên

Buồn không anh ? Một số kiếp truân chuyên

Làm con gái không bạc vàng nhan sắc

Tôi yêu anh nhưng hoài hoài thắc mắc

Người ta sao ? Không nói chuyện ân tình

Hẹn hò rồi còn nỡ để một mình

Tôi đứng đợi suốt chiều mưa chúa nhật

Lần sau nhé bận gì anh cứ khất

Xin sẵn sàng đứng đợi vạn mùa đông

Bạn bè đi qua trao vội thiếp hồng

Tôi vẫn mặc để chờ anh trọn kiếp

Lệ Khánh

Hits: 37

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin