Category Archives: Góp Nhặt Trăm Hoa

Gánh Nhẹ Nhàng

                                                    C huyện kể:
Một người cảm thấy cuộc sống quá nặng nề, bèn đi tìm nhà triết học Plato cầu mong kiếm được con đường giải thoát.
Plato chẳng nói chẳng rằng, chỉ đưa cho ông ta một cái sọt bảo ông đeo lên vai, đồng thời chỉ vào một con đường lổn nhổn đất đá nói:
Mỗi khi anh bước đi một bước thì nhặt một hòn đá cho vào sọt, xem thử cảm giác như thế nào.
Người này bắt đầu làm theo lời Plato, còn Plato thì bước nhanh đến đầu kia của con đường.
Được một lúc, người kia đã đi đến con đường. Plato hỏi anh ta cảm, thấy thế nào. Người kia nói:
Tôi cảm thấy càng lúc càng nặng!
Đây chính là nguyên nhân giải thích tại sao anh cảm thấy cuộc đời ngày càng nặng nề. Plato nói:
Mỗi người khi đến thế giới này, đều đeo một cái sọt rỗng, mỗi một bước đi trên con đường đời anh ta đều nhặt một thứ gì đó từ trong thế giới này để bỏ vào sọt, cho nên càng đi càng cảm thấy mệt mỏi.
Người kia hỏi:
Có cách nào có thể giảm bớt gánh nặng này không ?
Plato hỏi ngược lại anh ta:
Vậy anh có đồng ý vứt bỏ đi một trong các thứ nhưcông việc, tình yêu, gia đình hay tình bạn không ?
Người kia nghe xong im lặng.
Plato nói:
Nếu thấy khó có thể vứt bỏ thì đừng nghỉ đó là gánh nặng nữa mà nên nghĩ đến niềm vui mà nó mang lại. Cái sọt của mỗi người trong chúng ta không những chứa đựng ân huệ mà Ông Trời ban cho chúng ta mà còn có trách nhiệmnghĩa vụ. Khi anh cảm thấy nặng nề, có lẽ anh đừng vội buồn, có thể cái sọt của kẻ khác còn to hơn, còn nặng hơn của anh nhiều. Nếu cứ nghĩ như thế, chẳng phải trong sọt của anh sẽ bớt nỗi buồn hay sao?”.
Người kia nghe xong chợt hiểu ra.
 
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 68

CÂU CHUYỆN HAY VỀ LÒNG THAM CỦA CON NGƯỜI

 

 Một vị thiền sư đi ngao du thiên hạ, khi đến một vùng núi nọ thì bị ốm  nặng. Ông được một bà goá là chủ quán trà cứu và đưa về nhà chăm sóc. 
Mặc dù không biết tung tích vị thiền sư, quán nghèo thưa thớt khách, không có tiền nhưng người phụ nữ vẫn tận tình chăm sóc và cứu chữa cho 
Hơn 3 tháng ròng vị thiền sư mới bình phục. Cảm động ân tình của bà  chủ quán, vị thiền sư trước khi rời đi dành một tuần liền để đào một  cái giếng cạnh quán cho bà goá tiện dùng nước, không phải ra tận suối  gánh nữa. 

Không ngờ, từ khi dùng nước giếng mà vị thiền sư đã đào để pha trà  bán, trà của bà goá có mùi thơm thật đặc biệt và vị của trà cũng rất  ngon. Ai uống một lần cũng phải quay lại. Tiếng lành đồn xa, quán trà  của bà goá khách đến đông nườm nượp. Người đàn bà goá trở nên giàu có  từ đó. 

Ít lâu sau, vị thiền sư có dịp ghé qua quán để thăm lại ân nhân của  mình, thấy cơ ngơi khang trang, vị thiền sư rất mừng cho bà goá. Khi  hỏi về giếng nước, bà goá than phiền với thiền sư: “Giếng nước này tốt  lắm, có điều nước cạn liên tục, vài ngày mới lại đầy nên tôi chẳng bao  giờ đủ để bán cho khách”. Vị thiền sư nghe xong lắc đầu, nói: “Không  tốn kém gì cả, từ nguồn nước trời cho rồi kiếm ra nhiều tiền mà bà vẫn không thấy hài lòng ư?” . 

Ông viết lên tường một câu: “Trời đất bao la nhưng lòng tham của con  người còn mênh mông hơn thế!” rồi lẳng lặng quay đi, không bao giờ  quay trở lại quán nữa. Giếng nước từ ấy cũng cạn dần. 

Chúng ta phần lớn giống như bà goá kia, không bao giờ hài lòng với cái  mình có mà thường đứng núi này trông núi nọ. Chúng ta thường hay so  sánh, hay mong ước viển vông mà quên vui hưởng hiện tại của mình. Hãy  nhìn lại để thấy mình đã được may mắn hơn bao nhiêu người chẳng có gì, để biết vui sống, để bớt “lòng tham”, để không phải hối hận về sau.

Trích từ” Những Câu chuyện Thiền”

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 58

Đôi Dép Da

Ngày xưa, bên Ấn Độ, có một nhà vua cảm thấy đau thương cho dân trong nước bị trầy chân hay đứt chân vì gai góc đá sỏi gồ ghề của mặt đất bèn cho vời quần thần đến ra lệnh:
– Trẫm không thể chịu nổi khi thấy con dân trong nước bị đá sỏi gai góc làm thương tổn đôi chân mềm mại. Vậy, hãy cố gắng cho lót bằng da thú tất cả mặt đất trong nước cho ta.
Một hiền giả cao niên trong nước khuyên vua:
– Theo ngu ý, thì tại sao bệ hạ không cho thi hành một cách giản dị và dễ thực hiện hơn, là truyền cho nhân dân mỗi người hãy cắt hai miếng da vừa với đôi chân.
Như thế, kết quả cũng như nhau: Không ai bị đá sỏi gai góc làm tổn thương đôi bàn chân của mình nữa cả.
Vua nghe nói phải. Và nhờ đó mới có bày ra đôi dép da.
Lời bàn:
Giọng u mặc trong bài văn trên thật là một thứ u mặc thượng thừa, vì nó đã đặt ra một vấn đề vô cùng quan trọng của nhân sinh: Sự đối xử của con người với sự vật
bên ngoài. Hay nói một cách rõ ràng hơn, nó đưa ra cho chúng ta hai phương pháp thức trị nội của Đông phương Đạo học và phương thức trị ngoại của Tây phương
Khoa học
Cả hai phương thức, tuy khác nhau về phương tiện, nhưng mục tiêu đều phục vụ con người với một lòng thương yêu chân thành
Theo Đông phương Đạo học, bắt con người thích ứng với thiên nhiên dễ hơn và giản tiện hơn là bắt thiên nhiên chiều theo con người. Nói một cách khác: Mùa đông
mặc áo lạnh dễ hơn là bắt đừng có một mùa đông

 

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 45

Nông Dân và Bác Học

Người nông dân thách đố nhà bác học

Trong lúc đợi xe buýt, một nhà bác học tài giỏi nói với người nông dân cũng đang đợi xe rằng:

– Trong khi đợi xe chúng ta chơi trò đố nhau đi để giết thời giờ. Tôi học cao, bác là nông dân vậy tôi ăn bác một đồng thì bác ăn tôi 10 đồng nhé!bachocvanongdan

Bác nông dân suy nghĩ rồi gật đầu đồng ý. Nhà bác học đố trước:

– Tại sao bánh xe người ta làm tròn mà không làm vuông?

Người nông dân suy nghĩ một lúc, không được bèn lấy một đồng trả cho nhà bác học.

Nhà bác học hỏi tiếp:

– Tại sao chiếc tàu to lớn lại nổi được trên mặt nước?

Người nông dân chẳng hiểu gì cả và đành móc túi ra trả nhà bác học một đồng nữa.

Nhà bác học khoái chí đố tiếp:

– Vậy chớ nhờ gì mà máy bay bay được trên trời không bị rớt?

Người nông dân nghĩ “Phải chi ông đố lúa phân thì dễ, mấy cái này chẳng hiểu gì cả!” và đành lấy đồng bạc thứ ba trả cho nhà bác học và nói:

– Tới phiên tôi đố ông nhé! Vậy chớ con gì ban ngày bò lên núi bốn chân khi chiều thì bò xuống lại có tới chín chân?

Nhà bác học suy nghĩ dữ dội lục cả bộ óc vĩ đại đã chứa biết bao nhiêu thông tin về động vật cũng chẳng có con nào như thế và sau một hồi lâu đành móc 10 đồng trả người nông dân và hỏi:

– Vậy chớ con gì ban ngày bò lên núi bốn chân, chiều xuống núi lại có tới chín chân?

Người nông dân không trả lời mà chỉ lẳng lặng móc một đồng trả cho nhà bác học rồi nói:

– Tôi cũng không biết!!!

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 39

Bộ tứ của hội họa Việt Nam

Người ta thường nói về những bộ tứ của hội họa Việt Nam “nhất Trí, nhì Vân, tam Lân, tứ Cẩn ” và bộ tứ thứ 2 “nhất Sáng, nhì Liên, tam Nghiêm, tứ Phái ” vì sao có sự sắp hạng và đặt tên như thế ? pho-co-ha-noi-01

Ngay từ những năm 1960 đã xuất hiện trong công chúng thuật ngữ đó để nói về 2 bộ tứ của hội họa Việt Nam “nhất Trí, nhì Vân, tam Lân, tứ Cẩn ” và bộ tứ thứ 2 “nhất Sáng, nhì Liên, tam Nghiêm, tứ Phái “.Có thể thấy, BXP cùng với 3 người bạn đồng khóa của ông (Sáng-Liên-Nghiêm)đều đã có những thành tựu và tác phẩm quan trọng (từ khi còn trẻ tầm U40) để đủ được xếp vào tứ trụ trong nền mỹ thuật Việt Nam.Thực tế, đó là do quần chúng tự phong “tước hàm,tước vị” cho các ông từ những năm 60.Tôi nhớ khi xưa,BXP cũng không tỏ ra thú vị hay tán thưởng lắm về sự xếp hạng và đặt tên như thế.Có lần ông còn nói vui :”Người ta nói thế cho có vần điệu chứ thực ra là mượn ý của câu dân gian liệt kê thứ bậc ,chất lượng món cờ tây :“nhất bạch, nhì vàng, tam khoan, tứ đốm”. 

Tất cả những họa sĩ trong 2 bộ tứ ấy đều là sinh viên Trường Mỹ thuật Đông Dương – một trường cao đẳng được thành lập năm 1925 và nằm trong hệ thống Đại học Đông Dương được chính quyền Pháp bắt đầu xây dựng từ đầu thế kỷ 20.
Đối với bộ tứ thứ nhất,một bộ tứ quan trọng không chỉ về thành tựu sáng tạo mà còn về tính tiên phong của nền hội họa non trẻ của đất nước:”nhất Trí, nhì Vân, tam Lân, tứ Cẩn “, Riêng chỗ đứng của Nguyễn Tường Lân xem ra khá mong manh. Thật ra, họa sĩ Nguyễn Tường Lân là một họa sĩ kỳ tài của Việt Nam thời 1930 đến 1946, tuy nhiên ông dã không để lại được nhiều những dấu ấn và những tác phẩm đủ quan trọng để đứng vào nhóm tứ trụ này.
Có hai họa sĩ sáng giá ,đáng tiếc lại không được đứng vào bộ tứ nào đó là trường hợp: Lê Phổ và Nguyễn Phan Chánh. Lê Phổ có sự nghiệp hội họa được thế giới biết đến như một biểu tượng của sự kết hợp Đông và Tây, các tác phẩm hội họa của Lê Phổ được chào đón trên thị trường nghệ thuật thế giới từ Paris đến NewYork, điều mà chưa có một họa sĩ Việt Nam nào đạt tới và thang giá tranh của Lê Phổ đến thời điểm này vẫn cao giá nhất trên thị trường mỹ thuật thế giới dành cho họa sĩ người Việt Nam.. Nếu Lê Phổ có vấn đề không gắn bó với Tổ quốc(ông rời bỏ Việt Nam từ năm 1937 và sống cho đến hết đời tại Pháp ) thì Nguyễn Phan Chánh hoàn toàn đáng được vinh danh,ông là một người đã tạo ra một diện mạo tranh lụa Việt Nam không lẫn vào bất kỳ một phong cách nào đối với các nước có nền tranh lụa lớn nhất thế giới như Trung Quốc và Nhật Bản. Trong những buổi trà dư,tửu hậu, bàn luận về các bậc họa sĩ tiền bối,anh em họa sĩ thường ví von họa sĩ Nguyễn Phan Chánh giống như là “Nguyễn Bính” trong hội họa,ý muốn nói nghệ thuật của ông chân chất ,hiền lành và hơi quê quê.Có người còn ví xem tranh của ông nó “nhẹ” như uống bia mặc dù biết rằng bia mà uống nhiều thì vẫn có thể làm người ta say ,nhưng vẫn là bia,nó không phải là chất rượu mạnh như Nguyễn Sáng ,như Bùi Xuân Phái…
Bộ tứ “Phái – Sáng – Liên – Nghiêm” đều tồn tại với thời gian sau nửa thế kỷ thử thách. Họ, mỗi con người đều có một lịch sử dữ dội, một định mệnh của thiên tài. bộ tứ này chỉ còn lại một mình Nghiêm – Nguyễn Tư Nghiêm, lừng danh với Điệu múa cổ; Thuý Kiều,Kim Trọng; Những con giáp…tranhnguoi
Ngoài tài năng, cá tính tư duy sáng tạo, lòng đam mê sáng tạo của các ông còn có một yếu tố cực kỳ quan trọng đó là bối cảnh đất nước. Nếu họ không có một lịch sử như thế thì ngọn lửa nào đủ cường độ để tạo ra những vàng ròng của đất nước?Họ là những nghệ sĩ biết bạo gan bơi ngược dòng chủ lưu, tìm ra cho bằng được con đường riêng của mình trong sáng tạo nghệ thuật, làm nên những tác phẩm mà ban đầu rất có thể sẽ bị đón tiếp một cách lừng khừng,ghẻ lạnh nhưng sau này đã trở thành những giá trị được cả xã hội thừa nhận. Hãy nhìn vào từng cuộc đời của Phái – Sáng – Liên – Nghiêm, chúng ta sẽ hiểu vì sao có sự sắp hạng và đặt tên như thế. Mỗi người trong số họ có riêng một phong cách nghệ thuật và một số phận dữ dội thật sự hiếm có trong lịch sử hội họa Việt Nam.
Thế kỷ 20, hội họa Việt Nam sản sinh được hai bộ tứ huyền thoại,mang tầm vóc Quốc tế .Nhưng từ năm 1975 đến nay đã hơn 30 năm, chúng ta không hề có thêm được một họa sĩ “Người Lớn” nào chứ đừng nói có thêm được “bộ tứ huyền thoại”.Phải chăng cuộc sống hiện đại và những tiện nghi tiêu dùng đầy đủ ,cùng các phương tiện giải trí phong phú đã triệt tiêu những câu thúc,dồn nén ,những khát vọng sáng tạo của người nghệ sĩ ?

Nguồn:www.hoihoasivietnam.com

 

 

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 172

Phật Và Phân

Phật Và Phân

Tô Đông Pha và Phật Ấn thiền sư là hai người bạn. Một hôm Tô Đông Pha hỏi Phật Ấn thiền sư:

Đại Sư à! Ngài nhìn tôi ngồi ở đây giống cái gì?
Phật Ấn trả lời:
Xem ra giống một vị Phật.
Tô Đông Pha nói:
Nhưng ngược lại tôi nhìn thấy ngài ngồi giống một đống phân.
Phật Ấn cười nói:
Ũa vậy à!
 Tô Đông Pha:
Ha ha ngài tôn tôi là Phật, tôi nói ngài là đống phân mà ngài không giận sao?
Phật Ấn:
Tôi phải nên vui mừng mới đúng, vì sao mà nổi giận được. Bỡi vì Tâm mình là Phật thì thấy ai cũng là Phật. Còn Tâm mình là phân thì thấy ai cũng giống phân ha ha…
Thế giới đi theo cặp mắt của mỗi người mà hiện ra. Người như thế nào thì sẽ thấy thế giới như thế ấy. Tâm như thế nào sẽ sanh ra kết luận như vậy.

Hồ Ly Và Bồ Đào Viên

 

Một con Hồ Ly nhìn thấy trong vườn nho Bồ Đào kết nhiều trái.

Hồ Ly cười nói: Ha ha vào đó chén một bữa no nê. Nhưng mà nó mập quá không chui lọt hàng rào. Do đó nó nhịn 3 ngày, 3 đêm không ăn uống để thân thể nhỏ ốm chui vào vườn đào.

Sau đó nó nói:

Ồ! cuối cùng ta cũng chui vào được rồi. Trời ơi ngon quá, cực kỳ ngon ha ha, mình ăn cho đã đời rồi mới  chui ra.

 Thế là Hồ Ly chén đã đời nên chui ra không lọt. Chàng Hồ Ly phải nhịn đói lại 3 ngày, 3 đêm mới chui ra được.

Ngẫm việc đời, con người lúc đến trần trụi, lúc ra đi cũng trụi trần. Cứ mãi quẩn quanh, quanh quẩn, rồi cuối cùng cũng phải Buông bỏ rồi đi…. Sống là một nghệ thuật, tự mình làm an lạc chính mình…

 

 

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 50