Category Archives: Góp Nhặt Trăm Hoa

Kỳ Thú Tú Lệ: Thăm Ruộng Lúa Và Tắm Tiên

                                                             
Tú Lệ là một thung lũng nằm giữa ba ngọn núi cao là: Khau Phạ, Khau Thán, Khau Song, đây cũng là nơi cư trú của hơn một ngàn hộ dân, chủ yếu là đồng bào dân tộc Thái. “Nếp Tú Lệ, tẻ Mường Lò”, câu ca ấy đã vượt ra khỏi ranh giới vùng đất đất Yên Bái để đến với người dân các vùng miền trong cả nước và gợi lên sự háo hức trong tâm hồn những kẻ lữ hành.
Từ thị xã Văn Chấn, trung tâm của cánh đồng Mường Lò, theo Quốc lộ 32 lên Mù Cang Chải, trước lúc vượt sừng trời (đèo Khau Phạ), Tú Lệ đột ngột hiện ra với mùi lúa nếp chín thơm ngào ngạt. Xã Tú Lệ nằm trọn trong lòng thung lũng khá rộng, với 172 ha ruộng nước.
Gần 20 năm trở về trước, xã Tú Lệ được mệnh danh là vương quốc của cây thuốc phiện. Thuốc phiện được trồng khắp cánh đồng Tú Lệ, nhà nào cũng trồng thuốc phiện. Vào những mùa Anh túc nở, thung lũng Tú Lệ mang một vẻ đẹp huyền bí. Nhưng vẻ đẹp của loài hoa Anh túc càng rực rỡ bao nhiêu thì cuộc sống người dân Tú Lệ càng khốn khó bấy nhiêu. Thuốc phiện không những chẳng đem lại cơm ăn áo mặc, chẳng làm cho bà con người Thái ở Tú Lệ đổi đời mà nó còn kéo theo đói nghèo và cùng cực, bởi số người nghiện thuốc phiện cứ theo đó mà tăng lên.
Sau này từ chủ trương xóa bỏ cây thuốc phiện, cán bộ từ huyện đến xã mà đứng đầu là các già làng, trưởng bản đã tích cực vận động nhân dân nhổ bỏ cây thuốc phiện. Thế rồi, những cánh đồng thuốc phiện dần dần được chuyển sang trồng lúa, trồng ngô, trồng đậu tương. Từ khi quốc lộ 32 được nâng cấp, xã vùng cao này đã có nhiều đổi thay, trung tâm xã trở thành một thị tứ sôi động, là điểm đến của nhiều khách du lịch trong và ngoài nước. Đó cũng là điều kiện để các mặt hàng nông sản được khách thập phương biết đến, dọc quốc lộ nhiều khách sạn mọc lên, gà đồi, nếp thơm là món ăn ưa thích của nhiều du khách. Bây giờ thì cây Anh túc chỉ còn lại trong ký ức xưa của người già trong xã.
Dân đi bụi, dân phượt ở miền Bắc một thú vui khá kỳ lạ “Đi thăm lúa”. Khắp ở trên mọi nẻo đường của Tây Bắc, Đông Bắc, bất cứ nơi nào có núi, có ruộng bậc thang, có mùa gieo hạt, có tháng lúa xanh, tuần lúa chín, hay ngày cơm mới, là có những bước chân háo hức lên đường…
Cái thú vị đầu tiên đó là vùng đất này không quá xa xôi cách trở, ôtô và xe máy đều có thể đến và đi một cách dễ dàng. Những thung lũng, cánh đồng, biển lúa hầu hết đều nằm hai bên đường của quốc lộ 32 từ Nghĩa Lộ đi Mù Căng Chải. Tú Lệ thích hợp cho một chuyến đi từ 2 – 2,5 ngày cuối tuần, rất dễ thu xếp vào bất kỳ một quãng thời gian nào quanh năm.
 
Cái thú vị tiếp theo đó là cảnh sắc mỗi mùa một nét gợi cảm riêng biệt, thú vị và không bao giờ gây nhàm chán. Mùa làm đất thì long lanh sắc nước, bờ be đất nâu một màu trù phú. Mùa gieo mạ, lúa xanh như tấm thảm, xanh từng mảnh rời rạc tạo thành những điểm nhấn ấn tượng.
 
 Mùa lúa xanh, xanh ngát đến tận trời. Mùa lúa chín lại vàng ươm rạt rào như sóng biển. Mùa gặt náo nức rộn ràng, mùi cơm mới theo gió bảng lảng trên chái nhà. Nhìn ngày mùa mới tươi tắn cũng thấy cuộc sống căng tràn nhựa sống và mang màu sắc của bình yên.
 
Đỉnh dốc Hai Bà Cháu là một trong những địa điểm lý tưởng nhất để ngắm nhìn toàn cảnh thị trấn Tú Lệ. Những chái nhà lợp gỗ pơmu nằm san sát, biển lúa dập dờn như cánh sóng, suối Tú Lệ như một dải lụa mềm của một vị thần tiên lỡ tay đánh rơi khi bay ngang qua vùng trời này.
Cái thú vị khác nữa là những món đặc sản không thể bỏ qua cùng phong tục tắm suối khoáng độc đáo của người dân vùng cao mà phần sau bài viết sẽ đề cập tới.
 
Quãng đường tuyệt đẹp trên quốc lộ 32, xuyên qua những thị tứ xinh xắn của đất Yên Bái. Từ Nghĩa Lộ đến Văn Chấn bắt đầu những con đường đèo dốc quanh co. Văn Chấn rồi Tú Lệ, những thửa ruộng tuyệt đẹp trải dài suốt hai bên con đường. Kia là đỉnh đèo Khau Phạ với mênh mang những lúa và lúa, bản làng êm ả dưới rặng cây, những con đường đất đỏ vạch ngoằn ngoèo trên núi, bát ngát và khoáng đạt vô cùng.
Rồi từ chợ trung tâm, có một lối rẽ chạy thẳng xuống ngầm bắc trên dòng Tú Lệ. Đột nhiên, bạn thấy mình đang đứng sững giữa cánh đồng bao la thẳng cánh chim bay.
Các thửa ruộng ở Tú Lệ phần lớn gieo trồng một vụ. Một bộ phận nhân dân trong thời gian gần đây lại chuyển sang gieo trồng hai vụ, tuy nhiên không quá nhiều. Chính điều đó làm bức tranh Tú Lệ trở nên đa sắc đủ vần điệu.
Cùng trên một mảnh đất lành, nhưng có thửa ruộng đã gặt, thửa đang xanh và thửa mới chỉ được gieo trồng cấy mạ. Điều này sẽ làm bạn cảm thấy ngạc nhiên và cực kỳ thú vị, giống như một ngày có cả bốn mùa, một vụ lúa có đủ công đoạn từ làm đất, gieo trồng, lớn lên, chín hạt đến gặt hái và thơm mùi gạo mới. Tất cả chỉ gói gọn trong một ngày!
Tại Tú Lệ, những thửa ruộng của bản làng người Thái đã thơm hương ngào ngạt. Nếu vào đúng mùa gặt, bạn sẽ thấy những cô gái Thái, Mông, Dao đeo gùi hối hả từ chợ về nhà hay vội vã cày ải, nhặt cỏ, gặt lúa trên thửa ruộng nhà mình và bạn cũng sẽ được ăn những bát cơm gạo mới. Còn nếu đến sớm hơn một chút, hãy thưởng thức thử món cốm thơm được làm từ gạo nếp Tú Lệ trứ danh. Mùa táo mèo cũng thường trùng với mùa lúa chín. Những trái táo chua chua chát chát ngâm rượu ngon tuyệt.
 
Cuối chiều, khi những cô gái chàng trai người dân tộc Thái trở về nhà sau một ngày làm đồng rộn rã là lúc dòng suối nước nóng giữa những cánh đồng đông người nhất. Người Thái tắm dưới suối, thật tự nhiên trong thiên nhiên tươi đẹp.
 Tắm ở đầu nguồn là một trong những phong tục độc đáo của phụ nữ Thái và nếu có lần nào đó lên vùng Tây Bắc, nơi có nhiều người Thái sinh sống, ta sẽ dễ dàng gặp những phụ nữ tắm suối – tại Nghĩa Lộ, Tú Lệ cũng vậy. Nơi đây đã được thiên nhiên hào phóng ban tặng nhiều nguồn nước khoáng nóng, nên khi ở dưới xuôi mới chỉ làm quen với dịch vụ tắm nước khoáng nóng với giá không rẻ thì người Thái ở Nghĩa Lộ đã tắm nước khoáng nóng miễn phí từ hàng trăm năm nay.
Ở Tú Lệ có hai bể tắm nước khoáng nóng ngay cạnh dòng suối mát và bên bờ là ruộng nương chín vàng. Một bể tắm rất nóng và một bể tắm âm ấm: tắm nóng nhiều hay ít là tùy ý mỗi người.Mỗi khi chiều xuống, sau một ngày lao động vất vả thì những cô gái Thái lại kéo nhau xuống dòng suối Tú Lệ, tự nhiên trút bỏ xiêm y và trở thành những nàng tiên giữa trời đất. Người thì ngâm mình dưới dòng nước, cô khác ngồi kỳ cọ hay giặt giũ trên hững viên đá cuội khổng lồ nằm tràn trên hai bờ. Nước trong văn vắt, reo vui như tiếng cười của con trẻ.
Có người tắm nước khoáng một cách thời thượng, cũng có người mặc váy thay đồ theo phương pháp truyền thống. Thậm chí có cô cô giũ bỏ xiêm y bên trên triền đá để ngâm trọn vẹn thân ngà ngọc trong dòng nước ấm cũng không vấn đề gì vì đó cũng là chuyện đã có hàng trăm năm qua. Nước khoáng hơi rít tóc, nhưng vẫn có thể gội đầu và rất tốt cho sức khỏe, người ta nói thế và có lẽ đúng vì người dân Tú Lệ hiếm có bệnh vặt như dân thành thị.
Trong các bể nước khoáng hay ngay trên các dòng suối khoáng nóng có những viên đá cuội tròn, các chị các cô đang kỳ lưng cho nhau. Áo váy họ để ngay trên thành bể hay các hòn đá; có cô ngồi “lộ thiên” giặt giũ bên bể.
 
Vào mùa lạnh cuối năm: các suối và giếng khoáng bốc hơi nghi ngút, thoảng mùi H2S và lưu huỳnh với nhiệt độ trung bình khoảng 45°C, rất tốt cho sức khỏe.
Lữ khách tới đây cũng có thể cùng tắm, các chàng trai cũng được phép tắm chung, được hòa mình vui đùa giữa thiên nhiên, nghỉ ngơi hay thư giãn trong làn nước nóng thoang thoảng mùi hăng hăng của lưu huỳnh giữa thiên nhiên cùng tiết trời hanh hanh lạnh. Bạn cũng có thể vọc nước, trò chuyện với các chị, các cô gái xinh xắn má đỏ hây hây nhưng tuyệt đối phải giữ khoảng cách và không được có những hành vi xấu, nếu không sẽ bị trai bản và chính quyền địa phương trừng phạt.
Xứ người có chuyện tắm hồ giữa băng giá thì xứ ta cũng có chốn tắm khoáng giữa tiết lập đông giữa bao cô gái xinh đẹp, tỉnh táo cả người – cái rét, cái mệt lặng lờ trôi theo dòng nước cả!
Tú Lệ còn nổi tiếng một đặc sản mà không nơi nào sánh được: Nếp thơm Tú Lê là của trời cho mà không ở vùng cao nào có được, vì vậy hàng năm xe ô tô từ khắp mọi miền đất nước lên Yên Bái rồi vào Văn Chấn ngược lên Tú Lệ mua gạo nếp về gói bánh chưng, thổi xôi thờ cúng tổ tiên và đãi khách trong ba ngày Tết.
 
 Còn với những du khách đã từng đến Tú Lệ được thưởng thức các món ăn được chế biến từ gạo nếp Tú như: Cốm, cháo cốm vịt, xôi nếp ngũ sắc, cơm lam… nhấp thêm chén rượu nếp trong tiếng “Khắp mời lẩu” (hát mời rượu) của các thiếu nữ trong vùng hay điệu xoè nồng hậu mới thấm hơn cái hồn của xứ Thái và ý nghĩa sâu xa của câu ca: “Mường Lò gạo trắng nước trong /Ai đi đến đó lòng không muốn về”.
 
Có lẽ chưa một nhiếp ảnh gia nào dù là chuyên nghiệp hay nghiệp dư khi qua nơi này đều không khỏi hồi hộp và rung động khi đứng trước một cô gái khỏe khoắn và duyên dáng như Tú Lệ. Cánh đồng bản Pha, bản Thái, Cao Phạ không biết đã bao lần được ghi hình vào trong máy ảnh, dù là mùa xanh, mùa trắng, mùa nắng hay mùa vàng…
Tú Lệ có thể ví như một cô gái miền sơn cước vô cùng xinh đẹp. Đẹp ngay từ dốc ba tầng nơi bắt đầu địa giới của vùng, cao ngất trời mây bên vách đá chênh vênh, núi rừng hoang dại và đầy vẻ kiêu kỳ bí ẩn. Đẹp từ những mảnh ruộng nằm lẻ loi trên sườn núi đá, những ngôi nhà nhỏ bằng gỗ cheo leo thoáng ẩn thoáng hiện giữa đỉnh trời.
Khi những cành hoa ban trên sườn núi Khau Phạ xốn xang trang điểm cho mùa xuân màu trắng tinh khôi, cũng là lúc con suối Mường Lùng bắt đầu chắt chiu những dòng nước ngọt lành thấm vào cánh đồng Mường Lò.
 
Sự ngọt ngào của dòng suối không chỉ làm nên vị thơm của chè, nấm hương, lúa nếp mà còn làm nên sự ngọt ngào của tình đất, tình người.
 
Mùa xuân, núi rừng Tây Bắc như đoán được ánh mắt đầy háo hức của những viễn khách đang ngỡ ngàng trước vẻ đẹp thiếu nữ Thái da trắng hồng mịn màng, mái tóc đen suôn mềm mại đang ngồi giã cốm, đồ xôi ngũ sắc, thổi cơm lam trong nếp nhà sàn. Con người, sản vật, phông tục của mảnh đất Tú Lệ, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái đó sẽ là một nơi đến khó phai nhòa.
                                                                            Nguồn. net
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 51

Kinh Pháp Cú

Kinh Pháp Cú là một tập hợp những câu dạy ngắn gọn nhưng đầy ý nghĩa của Đức Phật Thích Ca trong ba trăm trường hợp giáo hóa khác nhau. Những câu này do chính Đức Phật khi còn tại thế nói ra trong suốt gần nửa thế kỷ thuyết pháp của Ngài. Ngài giảng dạy bằng lời nói chứ không viết sách. Ba tháng sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn thời các vị đại đệ tử của Đức Phật mới nhóm họp để đọc lại và ghi chép, kết tập những giáo pháp của Ngài. Các câu Pháp Cú được các vị đại đệ tử sắp xếp thành 423 bài “kệ”, chia ra làm 26 “phẩm” theo như hình thức hiện nay để cho thích hợp vớigiới độc giả và người nghe.

KMVN mời các bạn thưởng thức vài đoạn kinh Pháp Cú trong Phẩm (chapter) tham ái

Kinh Pháp Cú Phẩm Tham Ái

DS334334.
“Người sống đời phóng dật,
Ái tăng như giây leo.
Nhảy đời này đời khác,
Như vượn tham quả rừng.”

DS335335.
“Ai sống trong đời này,
Bị ái dục buộc ràng
Sầu khổ sẽ tăng trưởng,
Như cỏ Bi gặp mưa.”

DS336336.
“Ai sống trong đời này
Ái dục được hàng phục
Sầu rơi khỏi người ấy
Như giọt nước lá sen.”

DS347347.
“Người đắm say ái dục
Tự lao mình xuống dòng
Như nhện sa lưới dệt.
Người trí cắt trừ nó,
Bỏ mọi khổ, không màng.”

DS348348.
“Bỏ quá, hiện, vị lai,
Ðến bờ kia cuộc đời,
Ý giải thoát tất cả,
Chớ vướng lại sanh già.”

KMVN
Nguồn: internet

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 70

Hồ Ly Và Bồ Đào Viên

Một con Hồ Ly nhìn thấy trong vườn nho Bồ Đào kết nhiều trái.
Hồ Ly cười nói : Ha ha vào đó chén một bữa no nê. Nhưng mà nó mập quá không chui lọt hàng rào. Do đó nó nhịn 3 ngày, 3 đêm không ăn uống để thân thể nhỏ ốm chui vào vườn đào.
Sau đó nó nói:
Ồ! cuối cùng ta cũng chui vào được rồi. Trời ơi ngon quá, cực kỳ ngon ha ha, mình ăn cho đã đời rồi mới  chui ra.
 Thế là Hồ Ly chén đã đời nên chui ra không lọt. Chàng Hồ Ly phải nhịn đói lại 3 ngày 3 đêm mới chui ra được . Ngẫm việc đời, con người lúc đến trần trụi, lúc ra đi cũng trụi trần. Cứ quẩn quanh, quanh quẩn,rồi cuối cùng cũng  phải buông bỏ rồi đi…. Sống là một nghệ thuật, tự mình làm an lạc chính mình…
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 77

Tai Hại Của Lòng Tham.

Tai Hại Của Lòng Tham.

Thời đức Phật còn tại thế, một hôm Ngài cùng A Nan đi du hóa tại một vùng quê. Đức Phật đang đi trên đường bỗng Ngài bước đi trên bờ cỏ. A Nan ngạc nhiên, tự nghĩ: “đức Thế Tôn không bao giờ đi dậm trên cỏ, hôm nay vì lý do gì Ngài không đi trên đường mà lại đi trên cỏ”. Nghĩ thế A Nan bạch Phật: Bạch Thế Tôn, vì sao Thế Tôn không đi trên đường mà lại đi trên cỏ?

Này A Nan, phía trước ta có kẻ giặc, sau ta có ba Phạm Chí đang đi, họ sẽ gặp giặc đó! Ba người Phạm Chí đang đi bỗng thấy bên đường có một gói vàng bèn dừng lại lấy bỏ túi. Khi được của ba anh em mới bàn tính, rồi bảo một người đến chợ mua đồ về ăn uống no say khao nhau một bữa. Anh đi chợ vừa đi vừa nghĩ: “gói vàng ấy nếu chia hai anh kia thì ta sẽ ít đi, chỉ bằng nhân lúc này ta cho thuốc độc vào đồ ăn để giết hai người kia thì số vàng đó ta sẽ hưởng trọn”. Nghĩ thế anh liền thực hiện ngay ý định. Trong khi đó, hai người ở lại cũng cùng nhau bàn tính: “nếu chúng ta chia cho người kia số vàng sẽ bị ít đi, chi bằng đợi nó về giết quách là xong”. Nghĩ vậy người cùng núp vào chỗ kín, chờ người kia đi chợ mua đồ ăn về, liền nhảy ra giết chết. Giết xong hai người đem đồ ăn ra, ăn uống no say thỏa mãn, nhưng khi ăn xong thuốc độc thấm vào người liền lăn đùng ra đất chết hết. Đức Phật bảo A Nan: Cả ba vì lòng tham nên sinh ác tâm để rồi cùng giết hại lẫn nhau. Kẻ ngu si thật đáng thương vậy.

Nguồn: Internet
Lời bàn: Lòng tham là căn bịnh ung thư nguy hiểm nhất của mọi thời đại. Khó có thuốc trị nếu con bịnh không có hiểu biết về tam độc “tham, sân, si”, về luật nhân quả. Tìm đến với đạo Phật sẽ tìm thấy thuốc chửa cho cơn bịnh ngặt nghèo này. Bịnh tham tại hại vô lường. Có thể hủy diệt mình, người và cả một xã hội.

Sáu Không

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 66

Biển Ác Mênh Mông

 

Không có cảnh nào thương tâm cho bằng cảnh cô bé trạc tuổi lên ba bật khóc nức nở khi đang ngồi bên cạnh chú chó thân thương của mình mới bị giết thịt
Bức ảnh làm chấn động lòng người khắp nơi.
concho
Sáu Không nghĩ cũng nên chia sẽ với các bạn điều này vì miếng ăn, ở đây là miếng ăn “ngon”, mà người ta có thể làm tất cả những gì tàn nhẫn nhất.

Vết thương tâm lý đó sẽ khó lành với một bé gái còn thơ ngây, tâm hồn trong trắng.
Trước cùng một sự kiện, có hai phe rõ rệt. Một phe nói. “Ăn thịt chó thì đã sao. Khác gì heo, gà, bò, vịt. Mấy ông, các bà chỉ đạo đức giả!”

Một phe phản đối : “Con chó thông minh, gần gũi với ta, chơi đùa với ta như anh chị em, con cháu trong nhà, lại là giống trung thành, canh trộm, giử nhà, có nghĩa, biết ơn, còn đáng quý hơn nhiều “con người”. Vậy mà ta nỡ lòng ăn thịt nó thì ta có khác chi con thú dữ, mất hết cả nhân tính”

Bức ảnh này hiện vẫn đang tiếp tục được share với tốc độ chóng mặt trên mạng đa phần với nội dung:
“Một bức ảnh hơn vạn lời nói”. Cuộc tranh luận vẫn chưa đến hồi kết, và dù “phe” nào cũng có cái lý riêng của họ, nhưng rõ ràng, việc để một đứa trẻ ngây thơ phải khóc và chứng kiến cảnh người bạn của mình bị giết và trở thành thức ăn của người lớn là một điều cần được suy ngẫm.

Những ai hiểu rõ được luật nhân quả của nhà Phật thì câu trả lời đã quá rõ ràng, còn những ai còn u mê trong lục dục thì sẽ còn sa đà trong biển ác mênh mông.

Đã đến lúc chúng ta cần tẩy chay việc ăn thịt chó và gióng lên hồi chuông thức tỉnh!

Sáu Không

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 76

Ai Biết “Chi” Là Chi!

GIAI THOẠI VĂN CHƯƠNG

Chúng ta, không ai không nghe nhắc đến ông Lê quý Ðôn, từ còn bé đã nổi tiếng là thần đồng, đỗ Bảng nhãn thời vua Lê hiến Tông ( 1497-1504 ) lúc mới 19 tuổi, tính khí cao ngạo . Trước cửa nhà, ông huyênh hoang treo một tấm bảng: “Thiên hạ nghi nhất tự lai vấn” ( Người nào có một chữ gì không biết, cứ việc đến mà hỏi ) Vào một ngày ông đang bận bịu lo đám ma thân sinh, có một cụ già bước vào nói là, bạn của ông Tiến sĩ Lê phú Thứ ( là thân phụ của ông ) vì thi cử hoài không đỗ đạt gì cả, nhà lại nghèo, đường thì xa xôi, phải tội tình đến trể. Ông cụ bảo ông Lê quý Ðôn đem bút, nghiêng ra ông đọc cho viết hai câu đối phúng bạn.
Cụ già chậm rải đọc:
– “Chi”
Ông Lê quý Ðôn ngần ngừ, không biết chữ “chi” nằm trong nghĩa nào. “Chi” là tay chân? “Chi” là cành cây? “Chi” là chưng? “Chi” là một vì sao trong nhị thập bát tú? “Chi” là nhánh sông? v..v…nên, chờ chữ sau biết nghĩa mà viết. Cụ gìà thung dung lại đọc tiếp:
– “Chi”
Ông Lê quý Ðôn suy nghĩ, lúng túng, không biết sao mà viết ra được chữ chi. Thắc mắc, hơi thẹn, ông bèn hỏi :
– Bẩm cụ, thưa “chi” gì ạ ?.
Cụ già tỏ vẻ thất vọng, nói;
– Cháu đỗ đến Bảng nhãn, chữ “chi” cũng không biết viết, liệu có ai đến hỏi, cháu làm sao mà trả lới!?. Quan viên hiện diện lăng thinh, ông Lê quý Ðôn tái cả mặt, trong lúc cụ già từ từ đọc :
– “Chi chi tam thâp niên dư, Xích huyện Hồng châu kim thượng tại. Tại tại sổ thiên lý ngoại, Ðào hoa Lưu thủy tử hà chi?”
Tạm dịch :
( Ðã hơn ba chục năm qua đi rồi, Xích huyện, Hồng châu nay vẫn còn đây
Ơi hởi ngoài xa ngàn dặm kia, Ðào hoa, Lưu thủy, bác thác về đâu? )

Ðọc xong, cụ già van vái trước linh sàng mà than: “Anh ơi là anh, sao con anh đỗ đến Bảng nhãn, Thám hoa mà chữ “chi” là “chưng” nó cũng không viết được! Xong, cụ già chống gậy ra về mặc cho ai hỏi han, mời mọc. Tương tự, nhân một buổi hội làng, một cụ lão nho nhờ ông viết giùm một câu. Ông cụ đọc “tri”. Bảng nhãn Lê quý Ðôn chờ. Cụ lão đọc tiếp “tri”. Người hay chữ Lê quý Ðôn cắn bút chờ nữa. Chữ “tri” rất nhiều đồng âm dị nghĩa mà viết thì lại không giống nhau. Ông già chơi ác, phạng thêm một chữ “tri” nữa. Thần đồng Lê quý Ðôn ngẩn tò te. Lão nho đọc; “tri chi dĩ vi tri, bất tri dĩ bất tri, thị tri” ( biết thì nói là biết, không biết thì nói là không biết, như vậy mới là biết ). Rõ ràng, đây là những bài học cho riêng thần đồng Lê quý Ðôn và cho chung những ai tự đắc, hợm hĩnh vậy.

KMVN. Nguồn Internet

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 62

Gánh Nhẹ Nhàng

                                                    C huyện kể:
Một người cảm thấy cuộc sống quá nặng nề, bèn đi tìm nhà triết học Plato cầu mong kiếm được con đường giải thoát.
Plato chẳng nói chẳng rằng, chỉ đưa cho ông ta một cái sọt bảo ông đeo lên vai, đồng thời chỉ vào một con đường lổn nhổn đất đá nói:
Mỗi khi anh bước đi một bước thì nhặt một hòn đá cho vào sọt, xem thử cảm giác như thế nào.
Người này bắt đầu làm theo lời Plato, còn Plato thì bước nhanh đến đầu kia của con đường.
Được một lúc, người kia đã đi đến con đường. Plato hỏi anh ta cảm, thấy thế nào. Người kia nói:
Tôi cảm thấy càng lúc càng nặng!
Đây chính là nguyên nhân giải thích tại sao anh cảm thấy cuộc đời ngày càng nặng nề. Plato nói:
Mỗi người khi đến thế giới này, đều đeo một cái sọt rỗng, mỗi một bước đi trên con đường đời anh ta đều nhặt một thứ gì đó từ trong thế giới này để bỏ vào sọt, cho nên càng đi càng cảm thấy mệt mỏi.
Người kia hỏi:
Có cách nào có thể giảm bớt gánh nặng này không ?
Plato hỏi ngược lại anh ta:
Vậy anh có đồng ý vứt bỏ đi một trong các thứ nhưcông việc, tình yêu, gia đình hay tình bạn không ?
Người kia nghe xong im lặng.
Plato nói:
Nếu thấy khó có thể vứt bỏ thì đừng nghỉ đó là gánh nặng nữa mà nên nghĩ đến niềm vui mà nó mang lại. Cái sọt của mỗi người trong chúng ta không những chứa đựng ân huệ mà Ông Trời ban cho chúng ta mà còn có trách nhiệmnghĩa vụ. Khi anh cảm thấy nặng nề, có lẽ anh đừng vội buồn, có thể cái sọt của kẻ khác còn to hơn, còn nặng hơn của anh nhiều. Nếu cứ nghĩ như thế, chẳng phải trong sọt của anh sẽ bớt nỗi buồn hay sao?”.
Người kia nghe xong chợt hiểu ra.
 
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 70

CÂU CHUYỆN HAY VỀ LÒNG THAM CỦA CON NGƯỜI

 

 Một vị thiền sư đi ngao du thiên hạ, khi đến một vùng núi nọ thì bị ốm  nặng. Ông được một bà goá là chủ quán trà cứu và đưa về nhà chăm sóc. 
Mặc dù không biết tung tích vị thiền sư, quán nghèo thưa thớt khách, không có tiền nhưng người phụ nữ vẫn tận tình chăm sóc và cứu chữa cho 
Hơn 3 tháng ròng vị thiền sư mới bình phục. Cảm động ân tình của bà  chủ quán, vị thiền sư trước khi rời đi dành một tuần liền để đào một  cái giếng cạnh quán cho bà goá tiện dùng nước, không phải ra tận suối  gánh nữa. 

Không ngờ, từ khi dùng nước giếng mà vị thiền sư đã đào để pha trà  bán, trà của bà goá có mùi thơm thật đặc biệt và vị của trà cũng rất  ngon. Ai uống một lần cũng phải quay lại. Tiếng lành đồn xa, quán trà  của bà goá khách đến đông nườm nượp. Người đàn bà goá trở nên giàu có  từ đó. 

Ít lâu sau, vị thiền sư có dịp ghé qua quán để thăm lại ân nhân của  mình, thấy cơ ngơi khang trang, vị thiền sư rất mừng cho bà goá. Khi  hỏi về giếng nước, bà goá than phiền với thiền sư: “Giếng nước này tốt  lắm, có điều nước cạn liên tục, vài ngày mới lại đầy nên tôi chẳng bao  giờ đủ để bán cho khách”. Vị thiền sư nghe xong lắc đầu, nói: “Không  tốn kém gì cả, từ nguồn nước trời cho rồi kiếm ra nhiều tiền mà bà vẫn không thấy hài lòng ư?” . 

Ông viết lên tường một câu: “Trời đất bao la nhưng lòng tham của con  người còn mênh mông hơn thế!” rồi lẳng lặng quay đi, không bao giờ  quay trở lại quán nữa. Giếng nước từ ấy cũng cạn dần. 

Chúng ta phần lớn giống như bà goá kia, không bao giờ hài lòng với cái  mình có mà thường đứng núi này trông núi nọ. Chúng ta thường hay so  sánh, hay mong ước viển vông mà quên vui hưởng hiện tại của mình. Hãy  nhìn lại để thấy mình đã được may mắn hơn bao nhiêu người chẳng có gì, để biết vui sống, để bớt “lòng tham”, để không phải hối hận về sau.

Trích từ” Những Câu chuyện Thiền”

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 58

Đôi Dép Da

Ngày xưa, bên Ấn Độ, có một nhà vua cảm thấy đau thương cho dân trong nước bị trầy chân hay đứt chân vì gai góc đá sỏi gồ ghề của mặt đất bèn cho vời quần thần đến ra lệnh:
– Trẫm không thể chịu nổi khi thấy con dân trong nước bị đá sỏi gai góc làm thương tổn đôi chân mềm mại. Vậy, hãy cố gắng cho lót bằng da thú tất cả mặt đất trong nước cho ta.
Một hiền giả cao niên trong nước khuyên vua:
– Theo ngu ý, thì tại sao bệ hạ không cho thi hành một cách giản dị và dễ thực hiện hơn, là truyền cho nhân dân mỗi người hãy cắt hai miếng da vừa với đôi chân.
Như thế, kết quả cũng như nhau: Không ai bị đá sỏi gai góc làm tổn thương đôi bàn chân của mình nữa cả.
Vua nghe nói phải. Và nhờ đó mới có bày ra đôi dép da.
Lời bàn:
Giọng u mặc trong bài văn trên thật là một thứ u mặc thượng thừa, vì nó đã đặt ra một vấn đề vô cùng quan trọng của nhân sinh: Sự đối xử của con người với sự vật
bên ngoài. Hay nói một cách rõ ràng hơn, nó đưa ra cho chúng ta hai phương pháp thức trị nội của Đông phương Đạo học và phương thức trị ngoại của Tây phương
Khoa học
Cả hai phương thức, tuy khác nhau về phương tiện, nhưng mục tiêu đều phục vụ con người với một lòng thương yêu chân thành
Theo Đông phương Đạo học, bắt con người thích ứng với thiên nhiên dễ hơn và giản tiện hơn là bắt thiên nhiên chiều theo con người. Nói một cách khác: Mùa đông
mặc áo lạnh dễ hơn là bắt đừng có một mùa đông

 

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 45

Nông Dân và Bác Học

Người nông dân thách đố nhà bác học

Trong lúc đợi xe buýt, một nhà bác học tài giỏi nói với người nông dân cũng đang đợi xe rằng:

– Trong khi đợi xe chúng ta chơi trò đố nhau đi để giết thời giờ. Tôi học cao, bác là nông dân vậy tôi ăn bác một đồng thì bác ăn tôi 10 đồng nhé!bachocvanongdan

Bác nông dân suy nghĩ rồi gật đầu đồng ý. Nhà bác học đố trước:

– Tại sao bánh xe người ta làm tròn mà không làm vuông?

Người nông dân suy nghĩ một lúc, không được bèn lấy một đồng trả cho nhà bác học.

Nhà bác học hỏi tiếp:

– Tại sao chiếc tàu to lớn lại nổi được trên mặt nước?

Người nông dân chẳng hiểu gì cả và đành móc túi ra trả nhà bác học một đồng nữa.

Nhà bác học khoái chí đố tiếp:

– Vậy chớ nhờ gì mà máy bay bay được trên trời không bị rớt?

Người nông dân nghĩ “Phải chi ông đố lúa phân thì dễ, mấy cái này chẳng hiểu gì cả!” và đành lấy đồng bạc thứ ba trả cho nhà bác học và nói:

– Tới phiên tôi đố ông nhé! Vậy chớ con gì ban ngày bò lên núi bốn chân khi chiều thì bò xuống lại có tới chín chân?

Nhà bác học suy nghĩ dữ dội lục cả bộ óc vĩ đại đã chứa biết bao nhiêu thông tin về động vật cũng chẳng có con nào như thế và sau một hồi lâu đành móc 10 đồng trả người nông dân và hỏi:

– Vậy chớ con gì ban ngày bò lên núi bốn chân, chiều xuống núi lại có tới chín chân?

Người nông dân không trả lời mà chỉ lẳng lặng móc một đồng trả cho nhà bác học rồi nói:

– Tôi cũng không biết!!!

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 39

Bộ tứ của hội họa Việt Nam

Người ta thường nói về những bộ tứ của hội họa Việt Nam “nhất Trí, nhì Vân, tam Lân, tứ Cẩn ” và bộ tứ thứ 2 “nhất Sáng, nhì Liên, tam Nghiêm, tứ Phái ” vì sao có sự sắp hạng và đặt tên như thế ? pho-co-ha-noi-01

Ngay từ những năm 1960 đã xuất hiện trong công chúng thuật ngữ đó để nói về 2 bộ tứ của hội họa Việt Nam “nhất Trí, nhì Vân, tam Lân, tứ Cẩn ” và bộ tứ thứ 2 “nhất Sáng, nhì Liên, tam Nghiêm, tứ Phái “.Có thể thấy, BXP cùng với 3 người bạn đồng khóa của ông (Sáng-Liên-Nghiêm)đều đã có những thành tựu và tác phẩm quan trọng (từ khi còn trẻ tầm U40) để đủ được xếp vào tứ trụ trong nền mỹ thuật Việt Nam.Thực tế, đó là do quần chúng tự phong “tước hàm,tước vị” cho các ông từ những năm 60.Tôi nhớ khi xưa,BXP cũng không tỏ ra thú vị hay tán thưởng lắm về sự xếp hạng và đặt tên như thế.Có lần ông còn nói vui :”Người ta nói thế cho có vần điệu chứ thực ra là mượn ý của câu dân gian liệt kê thứ bậc ,chất lượng món cờ tây :“nhất bạch, nhì vàng, tam khoan, tứ đốm”. 

Tất cả những họa sĩ trong 2 bộ tứ ấy đều là sinh viên Trường Mỹ thuật Đông Dương – một trường cao đẳng được thành lập năm 1925 và nằm trong hệ thống Đại học Đông Dương được chính quyền Pháp bắt đầu xây dựng từ đầu thế kỷ 20.
Đối với bộ tứ thứ nhất,một bộ tứ quan trọng không chỉ về thành tựu sáng tạo mà còn về tính tiên phong của nền hội họa non trẻ của đất nước:”nhất Trí, nhì Vân, tam Lân, tứ Cẩn “, Riêng chỗ đứng của Nguyễn Tường Lân xem ra khá mong manh. Thật ra, họa sĩ Nguyễn Tường Lân là một họa sĩ kỳ tài của Việt Nam thời 1930 đến 1946, tuy nhiên ông dã không để lại được nhiều những dấu ấn và những tác phẩm đủ quan trọng để đứng vào nhóm tứ trụ này.
Có hai họa sĩ sáng giá ,đáng tiếc lại không được đứng vào bộ tứ nào đó là trường hợp: Lê Phổ và Nguyễn Phan Chánh. Lê Phổ có sự nghiệp hội họa được thế giới biết đến như một biểu tượng của sự kết hợp Đông và Tây, các tác phẩm hội họa của Lê Phổ được chào đón trên thị trường nghệ thuật thế giới từ Paris đến NewYork, điều mà chưa có một họa sĩ Việt Nam nào đạt tới và thang giá tranh của Lê Phổ đến thời điểm này vẫn cao giá nhất trên thị trường mỹ thuật thế giới dành cho họa sĩ người Việt Nam.. Nếu Lê Phổ có vấn đề không gắn bó với Tổ quốc(ông rời bỏ Việt Nam từ năm 1937 và sống cho đến hết đời tại Pháp ) thì Nguyễn Phan Chánh hoàn toàn đáng được vinh danh,ông là một người đã tạo ra một diện mạo tranh lụa Việt Nam không lẫn vào bất kỳ một phong cách nào đối với các nước có nền tranh lụa lớn nhất thế giới như Trung Quốc và Nhật Bản. Trong những buổi trà dư,tửu hậu, bàn luận về các bậc họa sĩ tiền bối,anh em họa sĩ thường ví von họa sĩ Nguyễn Phan Chánh giống như là “Nguyễn Bính” trong hội họa,ý muốn nói nghệ thuật của ông chân chất ,hiền lành và hơi quê quê.Có người còn ví xem tranh của ông nó “nhẹ” như uống bia mặc dù biết rằng bia mà uống nhiều thì vẫn có thể làm người ta say ,nhưng vẫn là bia,nó không phải là chất rượu mạnh như Nguyễn Sáng ,như Bùi Xuân Phái…
Bộ tứ “Phái – Sáng – Liên – Nghiêm” đều tồn tại với thời gian sau nửa thế kỷ thử thách. Họ, mỗi con người đều có một lịch sử dữ dội, một định mệnh của thiên tài. bộ tứ này chỉ còn lại một mình Nghiêm – Nguyễn Tư Nghiêm, lừng danh với Điệu múa cổ; Thuý Kiều,Kim Trọng; Những con giáp…tranhnguoi
Ngoài tài năng, cá tính tư duy sáng tạo, lòng đam mê sáng tạo của các ông còn có một yếu tố cực kỳ quan trọng đó là bối cảnh đất nước. Nếu họ không có một lịch sử như thế thì ngọn lửa nào đủ cường độ để tạo ra những vàng ròng của đất nước?Họ là những nghệ sĩ biết bạo gan bơi ngược dòng chủ lưu, tìm ra cho bằng được con đường riêng của mình trong sáng tạo nghệ thuật, làm nên những tác phẩm mà ban đầu rất có thể sẽ bị đón tiếp một cách lừng khừng,ghẻ lạnh nhưng sau này đã trở thành những giá trị được cả xã hội thừa nhận. Hãy nhìn vào từng cuộc đời của Phái – Sáng – Liên – Nghiêm, chúng ta sẽ hiểu vì sao có sự sắp hạng và đặt tên như thế. Mỗi người trong số họ có riêng một phong cách nghệ thuật và một số phận dữ dội thật sự hiếm có trong lịch sử hội họa Việt Nam.
Thế kỷ 20, hội họa Việt Nam sản sinh được hai bộ tứ huyền thoại,mang tầm vóc Quốc tế .Nhưng từ năm 1975 đến nay đã hơn 30 năm, chúng ta không hề có thêm được một họa sĩ “Người Lớn” nào chứ đừng nói có thêm được “bộ tứ huyền thoại”.Phải chăng cuộc sống hiện đại và những tiện nghi tiêu dùng đầy đủ ,cùng các phương tiện giải trí phong phú đã triệt tiêu những câu thúc,dồn nén ,những khát vọng sáng tạo của người nghệ sĩ ?

Nguồn:www.hoihoasivietnam.com

 

 

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 183

Phật Và Phân

Phật Và Phân

Tô Đông Pha và Phật Ấn thiền sư là hai người bạn. Một hôm Tô Đông Pha hỏi Phật Ấn thiền sư:

Đại Sư à! Ngài nhìn tôi ngồi ở đây giống cái gì?
Phật Ấn trả lời:
Xem ra giống một vị Phật.
Tô Đông Pha nói:
Nhưng ngược lại tôi nhìn thấy ngài ngồi giống một đống phân.
Phật Ấn cười nói:
Ũa vậy à!
 Tô Đông Pha:
Ha ha ngài tôn tôi là Phật, tôi nói ngài là đống phân mà ngài không giận sao?
Phật Ấn:
Tôi phải nên vui mừng mới đúng, vì sao mà nổi giận được. Bỡi vì Tâm mình là Phật thì thấy ai cũng là Phật. Còn Tâm mình là phân thì thấy ai cũng giống phân ha ha…
Thế giới đi theo cặp mắt của mỗi người mà hiện ra. Người như thế nào thì sẽ thấy thế giới như thế ấy. Tâm như thế nào sẽ sanh ra kết luận như vậy.

Hồ Ly Và Bồ Đào Viên

 

Một con Hồ Ly nhìn thấy trong vườn nho Bồ Đào kết nhiều trái.

Hồ Ly cười nói: Ha ha vào đó chén một bữa no nê. Nhưng mà nó mập quá không chui lọt hàng rào. Do đó nó nhịn 3 ngày, 3 đêm không ăn uống để thân thể nhỏ ốm chui vào vườn đào.

Sau đó nó nói:

Ồ! cuối cùng ta cũng chui vào được rồi. Trời ơi ngon quá, cực kỳ ngon ha ha, mình ăn cho đã đời rồi mới  chui ra.

 Thế là Hồ Ly chén đã đời nên chui ra không lọt. Chàng Hồ Ly phải nhịn đói lại 3 ngày, 3 đêm mới chui ra được.

Ngẫm việc đời, con người lúc đến trần trụi, lúc ra đi cũng trụi trần. Cứ mãi quẩn quanh, quanh quẩn, rồi cuối cùng cũng phải Buông bỏ rồi đi…. Sống là một nghệ thuật, tự mình làm an lạc chính mình…

 

 

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 51