Category Archives: Sức Khỏe Và Đời Sống

Chuyển tiếp: Bí Rợ

Quả bí rợ (bí đỏ) thuộc nhóm rau quả rất giàu dinh dưỡng. Chỉ cần ăn một chén bí đỏ, bạn đã làm xong một chuyện tử tế với sức khỏe của mình
Bí rợ (bí đỏ – pumpkin) là một thành viên trong đại gia tộc bầu bí (curcubitaceae), có nguồn gốc từ châu Mỹ và được thổ dân xem như là thần dược để chữa trị nhiều bệnh tật và bồi bổ cơ thể. Pumpkin có nguồn gốc từ tiếng Latin, có nghĩa là “quả dưa lớn”.
 Thổ dân châu Mỹ xem bí đỏ như thần dược:  Quà tặng của thiên nhiên
Chỉ cần thưởng thức một chén bí đỏ, chúng ta đã làm xong một chuyện tử tế cho sức khỏe của chính mình. Bí rợ thuộc nhóm rau quả rất giàu dinh dưỡng, là “doanh trại” của những “chiến sĩ” chống ôxy hóa (antioxidants) xả thân chiến đấu chống lại các gốc tự do (free radicals).
Màu vàng tươi của bí rợ là do sự hiện hữu của beta-carotenes. Đây là những chất chống ôxy hóa khét tiếng do được chuyển hóa thành vitamin A khi vào cơ thể. Vitamin A có nhiệm vụ quan trọng là hỗ trợ hệ miễn dịch, do đó có chức năng tăng cường “hàng phòng thủ” của cơ thể, đồng thời giúp cơ thể “nâng cấp” lại những tế bào bị tổn hại vì gốc tự do.
Nhiều nghiên cứu khoa học đã chứng minh rằng những người tiêu thụ thực phẩm giàu beta-carotenes sẽ có tần suất thấp nguy cơ bị một số bệnh ung thư. Cùng với beta-carotenes, thịt bí rợ cũng chứa alpha-carotenes có tác dụng ngăn chặn những căn bệnh thoái hóa như đục thủy tinh thể.
Bí rợ chứa nhiều vitamin C, chất xơ nên kiêm luôn tác dụng điều hòa huyết áp. Do chứa một hàm lượng kẽm đáng kể nên ngoài việc hỗ trợ hệ miễn dịch, bí rợ còn có tác dụng hỗ trợ những trường hợp loãng xương. Ngoài những dưỡng chất trên, bí rợ còn chứa nhiều calcium, carbohydrates, folate, sắt, magnesium, vitamin B3, protein, vitamin E…
Giá trị chữa bệnh cao
Quả và hạt bí rợ là những người bảo vệ cho “túi tiền” của nam giới. Những hóa chất có trong quả và hạt bí rợ gọi là phytosterols, vốn có thể làm gọn lại những tiền liệt tuyến bị phì đại.
Một nghiên cứu được thực hiện tại Budapest – Hungary cho thấy đàn ông bị phì đại tiền liệt tuyến lành tính (benign enlarged prostate) nếu điều trị bằng hạt bí rợ thì bệnh trạng sẽ được cải thiện một cách đáng kể. Sự cải thiện này nhờ vào “song cước”. Một là củng cố dòng nước tiểu, giảm số lần đi tiểu đêm; hai là ức chế sự sản sinh loại hormone sinh dục nam – testosterone, vốn được xem là “đồng phạm” gây phì đại tiền liệt tuyến.
Hạt bí rợ còn là một chất kháng viêm hữu hiệu, có tác dụng tốt trong những trường hợp viêm khớp. Tác dụng kháng viêm của hạt bí rợ đã qua mặt một loại thuốc trị viêm khớp đình đám là Indomethacin vì không gây ra những tác dụng phụ.
Ăn bí rợ còn giúp cơ thể “hóa giải” sự hình thành sỏi calcium oxalate ở thận. Quả bí rợ chứa nhiều L-trytophan nên được xem là một loại thực phẩm bổ não, đồng thời giúp cơ thể đương đầu với stress.
Y học dân gian (cả đông y và tây y) dùng hạt bí rợ để trị giun. Cọng bí rợ còn là bạn tốt của phụ nữ. Lấy cọng bí rợ đem nấu nước uống sẽ giúp phụ nữ vơi đi nỗi đau trong những ngày “đèn đ”.
 
Hạt bí rợ có tác dụng chữa bệnh phì tuyến tiền liệt rất hữu hiệu, kháng viêm rất tốt trong trường hợp viêm khớp.
                                                                                                                                                                                     DS NGUYỄN BÁ HUY CƯỜNG
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Huyền Thoại Về Muối

(Hình minh họa: Getty Images / via nguoi-viet.com)

Có một lần nọ, ăn sáng chung ở bệnh viện với một ông bác sĩ người Mỹ chuyên về bệnh tim mạch, khi thấy tôi rắc muối lên những múi bưởi, ông ta trố mắt: “Anh không sợ bị cao huyết áp ư?”

Nhìn ánh mắt của người đồng nghiệp, tôi nghĩ lý do cao huyết áp không phải là quan tâm chính, mà là chuyện ăn bưởi với muối! Người Mỹ thường trộn đường vào trái cây chứ không phải muối, nhất là muối ớt. Tôi dụ ông ta thử, “chàng” gật gù khen ngon, vì muối bưởi dường như ngọt hơn, bớt chua và bớt đắng.

Trong gần 50 năm qua, các bác sĩ thường khuyên chúng ta không nên ăn mặn, trong khi đó, các cụ từ ngàn xưa lại nói, ăn mặn cho chắc da, chắc thịt. Thuở bé, tôi vẫn còn nhớ những nồi cá hay nồi thịt kho mặn đắng dành cho các sản phụ nhà hàng xóm, sau khi sanh.

Những nghiên cứu cũ, hơn 100 năm trước, suy diễn, biện luận một chiều, dựa trên những quan sát không đầy đủ, cho rằng ăn mặn có hại đến sức khoẻ tim mạch, thật ra không đúng hẳn. Theo các nghiên cứu gần đây, ăn nhiều muối cũng không đến nỗi tệ như người ta hằng nghĩ.

Hiện nay, chúng ta được khuyên, nên giới hạn lượng muối tiêu thụ ở mức 6 gram mỗi ngày, tức là 2.4 gram chất sodium (natri), vào khoảng độ một muỗng cà phê muối. Nếu bệnh nhân có bệnh cao huyết áp, bác sĩ thường khuyên nên giảm muối xuống còn 2/3 muỗng cà phê mỗi ngày. So với chế độ ẩm thực của người Việt, và ngay cả những thức ăn của các chủng tộc khác, giới hạn về muối nầy là chuyện nói cho vui, vì nó đi ngược lại bản năng sinh tồn của con người nói chung.

Từ thời cổ đại, nhất là ở những vùng đất xa biển, muối là một loại nhu cầu quý hiếm, người ta tôn thờ nó, giết nhau cũng vì nó. Muối rất quan trọng cho sự sống, không riêng gì cho con người mà cho cả những loài động vật. Ở xứ Keyna, quê hương thuỷ tổ của ông Obama, những con voi thèm muối, đang đêm, lặn lội vào hang sâu, để liếm những tinh thể muối tích tụ trên vách đá. Rồi những con khỉ đười ươi gorillas, theo vết, ăn phân của các cô chú voi, cũng vì muối. Ngay đến những chú khỉ nhỏ, ngồi bắt chí bắt rận cho nhau, chỉ để liếm vào da nhau, hưởng thừa chút muối tiết ra từ mồ hôi.

Con người chúng ta, thực tế, là một bịch muối biết đi, với những tế bào ngâm trong nước muối. Chúng ta khóc ra muối, đổ mồ hôi ra muối, khi thiếu nguồn muối bổ sung là đời tàn. Nghiên cứu gần đây cho thấy, khi thiếu muối, sự ham muốn về dục tính sẽ giảm đi, đàn ông dễ bị yếu sinh lý, mệt mỏi và… xụi. Phụ nữ thiếu muối cũng giảm bớt khả năng sinh sản và ảnh hưởng đến cân lượng của em bé.

Thiếu muối còn làm cho nhịp tim tăng, làm cho thận suy, làm cho tuyến giáp suy nhược, làm tăng độ vô cảm với chất insulin, và làm tăng cholesterol. Như thế, trên lý thuyết làm hại đến hệ thống tuần hoàn, tăng nguy cơ bị bệnh tim mạch.

Chất sodium là thành phần chính trong máu và tất cả dịch thủy trong cơ thể, vừa giữ thể tích cho máu, bảo đảm áp suất cho hệ thống tuần hoàn, vừa duy trì các phản ứng sinh hoá cho các tế bào. Mất muối, hệ thống tuần hoàn bị rối loạn. Riêng với hệ thần kinh, sự thay đổi nồng độ sodium qua những cái bơm nhỏ ở tế bào thần kinh, tạo ra những tín hiệu truyền dẫn trong mạng lưới thần kinh. Thiếu muối, hệ thống thần kinh bị tê iệt, não bộ sẽ bị sưng lên, gây hôn mê. Trong trường hợp bị mất máu vì thương tích hay bị phỏng nặng, chúng ta mất nước và mất muối, làm cho các cơ phận có nguy cơ sụp đổ, ngừng hoạt động. Vì thế, khi vào nhà thương, truyền nước biển là chuyện đầu tiên.

Vậy thì, tại sao hầu hết các bác sĩ lại khuyên ta nên cử muối?

Lý do vì những suy luận cổ điển dựa trên những quan sát hạn hẹp, một chiều, cho rằng ăn nhiều muối sẽ làm tăng huyết áp. Đã thế, để chứng minh cho những tiền đề không đúng, những nghiên cứu lệch lạc đua nhau tìm cách chứng minh cho một tiền đề nông cạn về cơ bản. Một vòng lẩn quẩn!

Này nhé, người ta suy luận rằng, khi chúng ta ăn nhiều muối sẽ bị khát nước, vì thế sẽ uống nhiều nước. Nồng độ sodium từ muối tăng cao làm cho cơ thể giữ nước lại để pha loãng bớt độ mặn của máu, do đó thể tích máu tăng. Một khi thể tích máu tăng, sẽ làm tăng áp suất máu, đưa đến bệnh tim mạch, tai biến não, và các nguy cơ khác.

Lý thuyết trên đây, chính tôi, cũng như hầu hết các bác sĩ đều được dạy như thế trong những năm đầu của trường thuốc. Thoạt nghe thì rất ư là “logic”, nhưng dần dà những sự thật quan sát được lại không chứng minh được cho lý thuyết nầy.

Huyết áp của con người được kiểm soát bởi nhiều động cơ mà trong đó nồng độ sodium và thể tích máu chỉ là một. Kế đến nguy cơ bị bệnh tim mạch, truỵ tim, tai biến não lại là hệ quả của nhiều lý do khác nhau, trong đó cao hyết áp chỉ là một trong những lý do ấy. Theo quan sát, 80% người có áp suất bình thường, khi ăn nhiều muối, không bị tăng huyết áp. Ngay cả những người đã bị cao huyết áp, khoảng 60% không bị ảnh hưởng vì muối.

Ở đây, nồng độ của muối, của chất sodium, cũng như huyết áp được điều chỉnh bới trái thận. Những hormone từ tuyến thượng thận aldosterone, angiotensin từ lá gan, và renin từ trái thận, tạo thành một hệ thống gọi là renin–angiotensin–aldosterone system (RAAS), làm việc với nhau để kiểm soát nồng độ muối, thể tích máu cũng như áp suất máu. Như thế người có lá gan khoẻ, trái thận tốt, đa số sẽ đáp ứng rất nhạy bén cho nồng độ muối trong máu. Cao huyết áp không đơn thuần vì ăn nhiều muối, mà vì hệ thống RAAS không làm việc hữu hiệu. Lá gan yếu, thận hư thật ra lại do những lý do khác, về nếp sống, về ẩm thực như ăn nhiều đường và tinh bột chẳng hạn.

Nói như trên đây, cũng không có nghĩa là chúng ta có thể ăn mặn càng nhiều càng tốt, nhưng người bình thường lâu lâu lỡ ăn mặn tí xíu thì cũng không hại gì, trừ trường hợp những người thuộc vào diện cao huyết áp vì “nhạy cảm với muối”, phải cử muối vì trái thận hay trái tim đã suy. Trung bình, chúng ta có thể tiêu thụ muối vừa phải, khoảng độ từ 1.5 đến 3.5 muỗng cà phê muối là vừa. Nếu thấy khát nước là đã ăn quá mặn, không tốt cho trái thận, nên bớt ăn mặn cho lần sau. Không nên để “đời cha ăn mặn” để đến “đời con khát nước” mới cử muối thì hơi trễ!

BS Hồ Ngọc Minh

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Những điều có thể Bạn chưa biết?


http://c1.f24.img.vnecdn.net/2015/06/24/anti-age-1435140218.jpg
 
Tất nhiên thôi!
Tui …thông minh nhưng chữ tui vẫn …đẹp và chân phương thì…trái qqui luật ấy à? Ngụy biện cho mấy anh …chữ bác sĩ chứ giề ?
Ai cân? Lấy cái gì làm chuẩn nếu không có chính “trọng lực”( sức hút ) của chính …trái đất?
Bỏ vào nồi…áp suất thì chỉ cần…1 tiếng thui bạn à!
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Cao tuổi ăn gì

“Cao tuổi” ngày nay rất khó phân biệt ranh giới. Ngày xưa trên 50 đã gọi là “cụ”, thế mới có câu “ngũ thập tri thiên mệnh”. Ngày nay, 60 tuổi được cho là còn trẻ. Mức độ già cỗi thay đổi theo mỗi cá nhân tùy theo điều kiện sống, môi trường, và yếu tố di truyền, có thể nói “cao tuổi” hay không là tùy theo mỗi người. Chúng ta được dạy phải ăn nhiều rau cải, nhiều trái cây, giữ cân bằng trong tất cả các loại thực phẩm và nhất là không quên uống nước. Tuy nhiên, đối với người cao tuổi, chế độ dinh dưỡng cần phải thay đổi. Người cao tuổi có khi cần nhiều thành phần thức ăn hơn, thí dụ như chất vôi calcium, và cần ít số lượng calo hơn. Sự thay đổi tùy theo mỗi cá nhân và tình trạng sức khỏe của mỗi người.

Một cách tổng quát, người cao tuổi nên:

– Ăn nhiều trái cây, tương đương khoảng 2 hay 3 nắm tay trái cây đủ loại mỗi ngày. Ăn khoảng 2 hay 3 nắm tay rau tươi mỗi ngày.

– Tiêu thụ khoảng 1.200 mg calcium mỗi ngày. Nguồn calcium nên là từ sữa tươi hay nước cốt xương. Nghiên cứu mới cho biết uống thuốc bổ xương không có lợi mà có thể làm tăng nguy cơ bị đau tim.

– Ăn tối thiểu là 1 gam protein cho mỗi kilôgam sức nặng. Nguồn protein từ sữa, thịt cá, trứng gà, các loại đậu… Trung bình một con cá thu nhỏ bằng cổ tay đã có đủ 80 gam protein, hay một lát thịt bằng nửa bàn tay có đủ 40 gam protein.

Ở đây cũng cần nêu lên một số quan niệm nhầm lẫn về ăn uống:

  1. Người trên 60 tuổi không cần nhiều chất bổ – SAI

Sự thật là nhu cầu calo khi lớn tuổi không nhiều so với thanh niên, nhưng ngược lại, người lớn tuổi cần nhiều chất bổ hơn vì khả năng hấp thụ từ đồ ăn kém đi, thí dụ như vitamin D và vitamin B12. Người lớn tuổi nên uống thuốc đa sinh tố multivitamin nhưng không nên uống những loại vitamin với nồng độ cao, có thể lại là độc cho cơ thể.

  1. Người lớn tuổi không lo sợ béo phì – SAI

Thừa cân hay béo phì là vấn nạn cho dân Mỹ, kể cả người Việt ở Mỹ. Đừng lầm tưởng là người Việt mình nhỏ con, không thấy béo. Thật ra có tình trạng gọi là “gầy mà béo”, có nghĩa là nhỏ con, nhẹ cân nhưng tỷ lệ mỡ so với thịt bắp rất cao, nhất là kích thước vòng bụng. Ai cũng biết, bị thừa cân, càng ít hoạt động, càng dễ bị bệnh tật kinh niên như bệnh tim mạch, tiểu đường, mất trí nhớ. Bởi vậy người cao tuổi lại càng nên bớt ngồi yên một chỗ.

  1. Người cao tuổi không cần ăn nhiều và nên nhịn đói – SAI

Tôi vẫn thường khuyên thỉnh thoảng nên nhịn đói. Tuy nhiên, người cao tuổi nên cẩn thận. Người già có thể biếng ăn vì ăn không thấy ngon miệng, nhưng không nên viện cớ này mà bỏ bữa. Càng thường xuyên bỏ ăn càng làm cho người cao tuổi thành thói quen biếng ăn, và ăn không đủ dinh dưỡng. Cho dù không ăn được nhiều cũng nên ráng ăn chút đỉnh cho mỗi bữa ăn.

  1. Người cao tuổi không cần uống nước nhiều, khi nào khát mới uống – SAI

Cảm nhận khát nước của người cao tuổi thường ít bén nhạy, vì thế khi biết khát thì có thể đã cạn khô. Khát nước còn gây ra bởi các loại thuốc men đang uống, và quả thận đã suy. Vì thế, nên uống nước thường xuyên, nước trà, nước lạnh, ít ít suốt ngày.

  1. Người già không cần ăn nhiều, uống thuốc bổ là đủ – SAI

Thuốc bổ không thể thay thế cho đồ ăn. Uống thuốc bổ nhiều chỉ là thuốc độc, có hại cho lá gan, quả thận, gây ra táo bón hay đi tiêu chảy bất thường. Bất kỳ ở lứa tuổi nào, chỉ có thức ăn thật mới cung cấp đủ chất bổ dinh dưỡng cho cơ thể.

  1. Người già cần phải kiêng cữ khắt khe – SAI

Cho dù đang có bệnh như cao huyết áp hay tiểu đường cũng không nên quá kiêng cữ. Theo ý tôi, nếu đã trên 70 tuổi thì càng không nên kiêng cữ một cách thái quá.

  1. Điều cuối cùng là người già không nên ăn một mình. Ăn uống phải có bạn, nên ăn chung với gia đình hay con cháu. Ngược lại con cháu cũng không nên để cho cha mẹ mình ăn uống trong cô đơn buồn tẻ. Khi ăn một mình, các cụ sẽ kém vui, và kém ăn đi, không tốt cho sức khoẻ. Sự cô đơn làm cho miếng ăn thêm cay đắng.

Một số bệnh nhân của tôi ở độ tuổi 30 đã bắt đầu xưng “con” với tôi. Hóa ra mình đã già rồi ư? Tôi than thở và được nhắc nhở: “Bộ bác sĩ không nghĩ là bác sĩ đã già rồi sao?”. Có lẽ tôi đang viết những lời khuyên cho chính mình?

BS Hồ Ngọc Minh

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Sự sống chỉ là sản phẩm của toán học?

Có một lập luận được đưa ra về Vũ trụ, theo đó Vũ trụ có vẻ như vận hành trên những đường toán học, giống như từ một chương trình máy tính.
Một số nhà vật lý học nói rằng cuối cùng thì thực tế có lẽ chẳng phải là gì hết ngoài toán học.
Max Tegmark từ Viện Công nghệ Massachusetts lập luận rằng đây chỉ là thứ mà chúng ta nhận được nếu như các định luật vật lý được dựa trên một thuật toán được điện toán hóa.
https://baomai.blogspot.com/
Tuy nhiên, lập luận đó có vẻ như loanh quanh.
Nếu như các trí tuệ siêu việt đang vận hành các môi trường giả lập của chính thế giới “thực sự” của họ, thì họ có thể phải dựa trên những nguyên tắc vật lý của chính vũ trụ mà họ đang tồn tại, giống như chúng ta phải tuân theo các nguyên tắc vật lý trong vũ trụ của chúng ta vậy.
Trong trường hợp đó, lý do khiến vũ trụ của chúng ta là dạng thế giới hình thành từ toán học sẽ không phải là vì nó được vận hành trên một máy tính, mà bởi thế giới “thực sự” cũng tồn tại như vậy.
Ngược lại, các môi trường giả lập không phải là được dựa trên các nguyên tắc toán học. Chẳng hạn như chúng có thể được dựng lên để hoạt động một cách ngẫu nhiên.
Điều đó dẫn đến những kết quả mạch lạc hay không là điều chưa rõ ràng, nhưng vấn đề ở đây là chúng ta không thể dùng bản chất toán học của Vũ trụ để suy diễn ra bất kỳ điều gì về “thực tế”.
https://baomai.blogspot.com/
Tuy nhiên, dựa trên nghiên cứu riêng của mình về vật lý cơ bản, James Gates từ Đại học Maryland cho rằng có một lý do cụ thể để nghi ngờ rằng các định luật vật lý được định ra bởi một máy tính giả lập.
Gates nghiên cứu vật chất ở mức các hạt hạ nguyên tử như quark, các cấu thành proton và neutron trong hạt nhân nguyên tử.
Ông nói các định luật kiểm soát cách phản ứng của các hạt này hóa ra có các đặc tính giống với các mã code chỉnh sửa lỗi trong máy tính. Vậy có lẽ những định luật này thực sự là các mã code máy tính chăng?
Có thể là vậy.
Mà cũng có thể là cách diễn giải theo đó cho rằng các định luật vật lý này chính là các mã code chỉnh sửa sai sót chỉ là một ví dụ mới nhất về cách thức chúng ta thường áp dụng để diễn giải tính tự nhiên của nền tảng các công nghệ tân tiến của chúng ta.
https://baomai.blogspot.com/
Xét về gốc rễ, rất có thể Vũ trụ chỉ là sản phẩm toán học
Đã từng có lúc các hệ thống cơ học theo lý thuyết của Newton dường như khiến cho Vũ trụ có thể được diễn giải là một cỗ máy cơ khí, và trong thuở bình minh của thời đại máy tính, di truyền học được coi là một dạng mã code kỹ thuật số với chức năng lưu trữ và thể hiện. Chúng ta có thể chỉ đơn thuần là đã lo lắng quá mức về các định luật vật lý mà thôi.
Có vẻ như sẽ vô cùng khó khăn, nếu không nói là không thể, trong việc tìm ra những bằng chứng thuyết phục cho thấy chúng ta đang sống trong một môi trường giả lập.
Lý do là bởi nếu môi trường giả lập mà chúng ta đang tồn tại ở trong là hoàn hảo, không phạm phải lỗi sai sót nào, thì ta khó lòng thực hiện được một thử nghiệm cho kết quả ngược lại.
https://baomai.blogspot.com/
Nhà vật lý thiên văn từng đoạt giải Nobel George Smoot cho rằng chúng ta có thể sẽ không bao giờ biết được điều đó, đơn giản là bởi tâm trí của chúng ta không sẵn sàng để thực hiện nhiệm vụ đó.
Sau hết, bạn thiết kế ra các mẫu trong một môi trường giả lập nhằm khiến nó hoạt động theo các quy tắc bạn đề ra chứ không phải để lật đổ bạn.
Điều này có thể là giới hạn mà chúng ta không thể nghĩ cách để vượt ra khỏi giới hạn đó được.
https://baomai.blogspot.com/
Tuy nhiên, có một lý do sâu sắc hơn về việc có lẽ vì sao mà chúng ta không nên lo lắng quá mức về ý nghĩ cho rằng chúng ta chỉ là những đối tượng bị điều khiển bởi một hệ thống máy tính khổng lồ. Bởi đó là điều mà một số nhà vật lý học tin rằng đó chính là cách mà thế giới ‘thật’ tồn tại.
Bản thân thuyết lượng tử đang ngày càng được diễn giải bằng các thuật ngữ tin học và máy tính. Một số nhà vật lý cảm giác rằng ở mức độ căn bản nhất thì thế giới tự nhiên không phải là thuần túy toán học mà là thuần túy thông tin: các bit, giống như các số 1 và số 0 của máy tính.
Theo quan điểm này, tất cả những gì xảy ra, từ các hoạt động tương tác của các hạt căn bản trở đi, đều là một dạng điện toán hóa.
https://baomai.blogspot.com/
“Vũ trụ có thể được coi như một máy tính lượng tử khổng lồ,” Seth Lloyd từ Viện Công nghệ Massachusetts nói. “Nếu nhìn vào ‘phần ruột’ của Vũ trụ – tức cấu trúc vật chất ở quy mô nhỏ nhất – thì phần này không có gì ngoài những bit [lượng tử] trong các hoạt động kỹ thuật số cục bộ.”
 
Đây chính là điểm trọng yếu. Nếu thực tế chỉ là thông tin, thì chúng ta không còn là ‘thực’ bất kể chúng ta có sống trong môi trường giả lập hay không. Bởi dù có thế nào đi chăng nữa thì rốt cuộc chúng ta cũng chỉ là những chuỗi thông tin.
Tiếp nữa, có gì khác nhau không giữa việc các thông tin được lập trình bởi thế giới tự nhiên hay bởi các đấng tạo hóa có trí tuệ siêu việt? Cũng thế thôi, chẳng có gì quan trọng nếu có sự khác biệt – ngoại trừ việc nếu không phải là chúng ta được thế giới tự nhiên sinh ra thì các đấng tạo hóa về mặt lý thuyết có thể can thiệp được vào môi trường giả định mà chúng ta đang tồn tại, thậm chí có thể ‘tắt’ nó đi. Chúng ta sẽ có cảm giác thế nào về chuyện đó? 
Hãy sống tốt
image
Tegmark, nhà vũ trụ học vô cùng quan tâm tới khả năng này, cho rằng chúng ta tốt hơn cả là hãy bước ra và làm những điều thú vị với cuộc sống của mình, để đề phòng khả năng các đấng tạo hóa nhìn vào và thấy chán về những điều buồn tẻ mà chúng ta làm.
Sau hết, rõ ràng là có những lý do để người ta muốn có cuộc sống thú vị hơn thay vì bị xóa sổ. Nhưng nó lại vô tình phản bội một số vấn đề của nguyên lý tổng thể.
 
Ý tưởng cho rằng các đấng tạo hóa siêu nhiên nói rằng “À kìa, thứ này hoạt động dở quá – thôi thì cho nó nghỉ luôn rồi làm cái mới” là câu đùa khôi hài trong thuyết hình người. Giống như bình luận của Kurzweil về một dự án học đường, chuyện hài này tưởng tượng ra các ‘đấng tạo hóa’ của chúng ta là những bạn trẻ tuổi teen bồng bột với các bộ Xbox trong tay.
https://baomai.blogspot.com/
Vũ trụ của chúng ta có thể giống như một cỗ máy tính lượng tử
 
Việc thảo luận về ba khả năng mà Bostrom nêu ra liên quan tới thứ tương tự như thuyết duy ngã. Đó là một nỗ lực nhằm nói một cách sâu sắc về Vũ trụ bằng cách ngoại suy từ những gì mà nhân loại trong thế kỷ 21 đã biết.
Lập luận được đưa ra là: “Chúng ta làm ra các trò chơi điện toán. Hẳn là các sức mạnh siêu nhiên cũng làm được, chỉ có điều họ làm ở mức tuyệt hảo.”
Trong nỗ lực tưởng tượng ra xem các trí tuệ siêu việt có thể làm gì, hay thậm chí các trí tuệ đó gồm những gì, chúng ta không có mấy lựa chọn ngoài việc phải bắt đầu từ chính chúng ta.
Rõ ràng là không có chuyện tình cờ khi nhiều người ủng hộ ý tưởng về ”vũ trụ giả lập” thừa nhận rằng họ khi còn trẻ là các fan cuồng nhiệt của khoa học viễn tưởng. Điều này tạo cảm hứng khiến họ bay bổng trí tưởng tượng để nhìn vũ trụ từ khung cửa sổ của tàu không gian trong phim viễn tưởng.
Elon Musk hầu như chắc chắn không tự nhủ với bản thân rằng những người mà ông nhìn thấy xung quanh, gồm cả bạn bè và gia đình ông, chỉ là do máy tính tạo nên bằng những dòng dữ liệu được nhập vào hệ thống.
https://baomai.blogspot.com/
Ông không làm vậy một phần bởi chuyện lưu giữ ý tưởng đó trong đầy một thời gian dài là điều không thể.
Quan trọng hơn nữa, chúng ta đều hiểu một cách sâu sắc rằng ý niệm về thực tế chỉ thực sự có giá trị khi đó là thực tế mà mà ta trải qua chứ không phải là thứ thế giới nào đó ‘đứng đằng sau’.
Tuy vậy, không có gì mới mẻ trong việc hỏi cái gì ‘đứng đằng sau’ vẻ bề ngoài và những cảm xúc mà chúng ta trải nghiệm. Các nhà triết học đã làm vậy trong hàng thế kỷ rồi.
Plato tự hỏi sẽ ra sao nếu thực tế mà chúng ta nhận được lại giống như bóng đen đổ lên những bức vách trong hang. Immanuel Kant khẳng định rằng trong lúc có thể có một số ‘thứ ở bên trong chính nó’ nằm dưới vẻ ngoài mà chúng ta nhìn thấy, nhưng chúng ta không bao giờ biết được thứ đó. René Descartes chấp nhận rằng ‘Tôi nghĩ, cho nên tôi tồn tại’, rằng khả năng suy nghĩ chính là tiêu chuẩn duy nhất để xác định việc chúng ta tồn tại.
https://baomai.blogspot.com/
Nhưng cho tới khi ta có thể chứng minh được rằng nêu ra được những khác biệt giữa những điều chúng ta trải nghiệm và những điều ‘thực tế’ dẫn đến sự khác biệt có thể thể hiện ra trong điều mà chúng ta có thể quan sát hoặc làm được, thì nó không làm thay đổi quan niệm của chúng ta về thực tế theo cách thức có ý nghĩa.
 
Philip Ball
https://baomai.blogspot.com/
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Chuyện kể về thuốc trụ sinh

Mùa phát giải thưởng Nobel đang xảy ra, ta hãy ôn lại một giải thưởng Nobel có tính cách lịch sử liên quan đến thuốc trụ sinh penicillin.

 

Bắt đầu vào khoảng cuối thế kỷ thứ 19, rất nhiều nhà khoa học và y sĩ đã quan sát và miêu tả tính chất diệt vi khuẩn của một số nấm và mốc, trong đó có cả loại nấm tên là Penicillium. Quan sát và miêu tả, nhưng hầu hết không đưa ra một lời giải thích nào thỏa đáng. Mãi cho tới năm 1928, khoa học gia người Tô Cách Lan, tên là Alexander Fleming, tình cờ nhận thấy trên đĩa cấy vi trùng Staphylococcus, một loại nấm màu xanh lá cây mọc lấn vào và ngăn chặn sự sinh sản của những con vi trùng Staphylococcus ấy. Tò mò, ông ta tiếp tục cấy riêng những nấm ấy, sau này có tên là Penicillium chrysogenum và lọc ra chất thuốc gọi là “penicillin”. Thoạt đầu ông ta chỉ muốn dùng “chất thuốc” lọc được để làm thuốc tẩy rửa, khử trùng bên ngoài mà thôi. Sau đó, một số bác sĩ đã thí nghiệm sử dụng thuốc penicillin vào việc chữa trị nhiều loại bệnh nhiễm trùng khác nhau. Do phát hiện thuốc trụ sinh penicillin, ông Alexander Fleming được giải thưởng Nobel vào năm 1945.

 

Sự khám phá ra thuốc trụ sinh penicillin được xem là một loại thuốc huyền diệu. Trước khi penicillin ra đời, một vài vết xướt hay vết trầy nhỏ cũng đủ bành trướng thành những u nhọt nhiễm trùng nặng, đưa đến việc cưa cắt tay chân. Thời đó, cứ 10 người bị sưng phổi có đến 4 người tử vong, và có khoảng 10 người trong 1,000 sản phụ sẽ mất mạng vì sanh nở. Con số thống kê nầy lấy được từ những bệnh viện “cao cấp”, trên thực tế, số tử vong còn cao hơn gấp bội. Chưa kể đến số lượng người bị điếc vì nhiễm trùng lỗ tai, bị mù vì bệnh giang mai hoa liễu, hoặc hàng trăm hàng ngàn binh lính tử vong vì thương tích ngoài mặt trận.

 

Sự thành công của penicillin đã khiến nhiều công ty dược phòng ráo riết đi tìm thêm những thuốc trụ sinh mới. Nhiều dược phòng đã yêu cầu các nhà truyền giáo ở khắp năm châu, hay những chiến sĩ đi hành quân xa gửi về những mẫu đất, những loại rêu, meo, mốc và nấm đủ loại để tìm tòi ra thuốc trụ sinh mới. Công ty Lederle đã xin những mẫu đất thu nhặt được trong khuôn viên trường Đại Học University of Missouri. Một trong những mẫu đất lấy được từ trong đống cỏ dại của khoa Nông Nghiệp, có chứa một loại vi khuẩn tiết ra một chất màu vàng kim loại. Chất thuốc nầy có khả năng tiêu diệt nhiều thứ vi trùng mà chính penicillin cũng chịu thua. Thuốc được đặt tên là Aureomycin (Aurum theo tiếng latin có nghĩa là kim loại vàng). Công thức hóa học của Aureomycin là chlortetracycline, chính là tiền thân của các loại thuốc tetracyclin hay doxycyclin ngày nay.

 

Cũng trong thời gian nầy, sau Thế Chiến Thứ 2, để cung ứng cho nhu cầu thực phẩm, những trại chăn nuôi gà theo kiểu công nghiệp bắt đầu phát triển mạnh mẽ. Người ta tìm mọi cách để thúc cho gà nuôi chóng lớn, tăng cân và đẻ nhiều trứng, nhưng không có kết quả hữu hiệu. Lại tình cờ, khi chữa bệnh cho gà, công ty Merck khám phá ra rằng thuốc trụ sinh streptomycin khi trộn với thức ăn cho gà, cho dù không cần tăng nguồn thức ăn, sẽ làm cho gà tăng cân mau chóng. Lý do, một sản phẩm phụ của thuốc streptomycin chính là vitamin B12.

 

Vì thuốc Aureomycin có cấu trúc tương tự như streptomycin, năm 1948, một khoa học gia tên Thomas Jukes, làm việc cho hãng Lederle, để cạnh tranh, tiến hành một cuộc thử nghiệm thuốc Aureomycin, cho trộn vào thức ăn của gà. Kết quả cho thấy những con gà được “cho ăn” thuốc trụ sinh tăng cân nhiều hơn. Những cuộc thí nghiệm tương tự trên các loại gia cầm khác cũng cho thấy kết quả tương tự.

 

Mặc dù thuốc Aureomycin được đăng ký là thuốc trụ sinh cho người, nhưng lại ghi là “thuốc bổ” cho gà và gia súc. Kể từ đó thuốc Aureomycin (chlortetracycline) được tiếp tục sử dụng rộng rãi trong công nghiệp nuôi súc vật để lấy thịt. Một phần làm cho thú vật chóng lớn, phần khác để phòng ngừa bệnh tật khi mà súc vật được nuôi chen chúc trong những chuồng trại chật hẹp.

 

Không riêng gì thú vật, khoảng giữa thập niên 1950’s người ta bắt đầu tiến hành những cuộc thí nghiệm “bán chính thức” trong con người, ở những nước nghèo như Guatemala và Kenya. Bằng cách cho trẻ em còm cõi “ ăn” thêm thuốc trụ sinh, người ta thấy hiện tượng tương tự, các trẻ con nầy tăng cân mau chóng. Thế là, người ta bắt đầu trộn, ngâm thuốc trụ sinh vào thịt cá được bày bán ở các siêu thị. Thuốc trụ sinh được bán không cần toa, trộn luôn vào kẹo chewing gum, kem đánh răng, nước súc miệng, thậm chí son môi thời ấy cũng có thuốc trụ sinh!

 

Ngày nay thuốc Aureomycin và nhiều loại trụ sinh khác vẫn được tiếp tục sử dụng trong “kỹ nghệ chăn nuôi”, kể cả hải sản tôm cá nuôi trong lồng. Bạn có thể Google tìm mua thuốc Aureomycin trên mạng internet với giả rẻ mạt, $15 dollar một pound. Đó là giá bán lẻ, còn giá bán sỉ cho trại chăn nuôi còn rẻ hơn bội phần.

 

Vấn đề là thuốc trụ sinh đi theo nguồn thức ăn thâm nhập vào cơ thể con người. Nghiên cứu cho thấy, thuốc trụ sinh vẫn còn tác dụng làm tăng cân, gây béo phì. Sử dụng thuốc trụ sinh lâu dài sẽ giết hại những con vi khuẩn tốt trong đường ruột. Có hàng nghìn tỉ vi khuẩn tốt sống ký túc trong ruột già của chúng ta. Những con vi khuẩn nầy giúp chống bệnh tật vì chúng cạnh tranh với những con vi trùng khác, giúp giảm nguy cơ bị bệnh tiểu đường và béo phì bằng cách giảm sự thẩm thấu của đường vào mạch máu, và nhiều hiệu ứng tốt khác. Một khi lượng vi khuẩn tốt bị giệt chủng, những con vi trùng độc sẽ bùng phát. Thí dụ như vi trùng C. difficile làm tiêu chảy kinh niên, mà cách chữa trị có khi phải cấy ghép phân của người mạnh khoẻ.

 

Có một điều khác mà người ta đã coi thường đó là sự lờn thuốc trụ sinh. Ngay từ thập niên 1940’s, chính ông Fleming, “cha đẻ” của thuốc trụ sinh cũng đã lên tiếng về khả năng bị lờn thuốc do sự lạm dụng.

 

Thuốc penicillin có tác dụng ngăn chận không cho vi trùng xây dựng được màng tế bào của chúng được vững chắc. Khi màng tế bào yếu, những vi trùng dễ bị vỡ và chết. Hiệu ứng này về lâu về dài, vi trùng tìm cách biến hoá để chống lại thuốc.

 

Trong nhiều năm qua, vi trùng đã lờn thuốc, rất nhiều loại thuốc đời con, đời cháu và đời chắt, bà con nội ngoại của thuốc penicillin đã lần lượt ra đời. Sớm nhất vào năm 1961 như Ampicillin, Amoxicillin, rồi Methicillin, Nafcillin, Oxacillin, Cloxacillin, Dicloxacillin, Flucloxacillin, đến Carbenicillin, Ticarcillin, Temocillin, và Mezlocillin. Cuối cùng là Piperacillin, Clavulanic acid, Sulbactam, Tazobactam… Ôi thôi đủ thứ!

 

Gần đây các cơ quan chức năng ý tế đã không ngừng lên tiếng cảnh báo về nguy cơ bị lờn thuốc. Sẽ có một ngày, không có thuốc kháng sinh nào trên trái đất nầy có thể diệt được vi khuẩn! Thế là hết thuốc chữa!

 

Một phần có thể vì không có biên giới giữa thuốc dùng cho súc vật và loài người, phần khác chính con người cũng lạm dụng thuốc bừa bãi. Ngày nay gần 70% vi trùng có thể ảnh hưởng đến cả người lẫn súc vật.

 

Hiện tại các bác sĩ cho người lẫn thú y đuợc khuyến cáo nên hạn chế sử dụng thuốc trụ sinh. Riêng về nghành chăn nuôi, các nghiên cứu được thúc đẩy để bớt sử dụng thuốc trụ sinh với mục tiêu thúc đẩy tăng cân.

 

Trở lại với cuối thập niên năm 1950’s ở tại một làng quê hẻo lánh miền Trung Việt Nam, có một em bé khoảng 5 tháng tuổi bị sốt hôn mê suốt hơn 10 ngày và thường bị làm kinh phong liên tục cho dù đã được “thầy lang” chữa trị bằng tàn nhang và nước lạnh có pha tro đốt từ bùa ngải. Không thể để mất con, mẹ của em bé bèn lặn lội đón tàu lửa, mang em vào Bệnh Viện Trung Ương Huế để được chữa trị. Một bác sĩ người Pháp đã chẩn bệnh cho bé là bị sưng màng óc (meningitis), và cho uống thuốc trụ sinh bột có màu vàng kim loại. Sau năm ngày thuốc, em bé tỉnh hẳn và được cho xuất viện. Những viên thuốc đã cứu sống đứa bé ấy có tên là Aureomycin, loại thuốc mà ngày nay được bán rất rẻ tiền để thúc cho gia súc mau lớn tăng cân. Còn đứa bé ấy, hôm nay, chính là người đang viết bài nầy, kể “chuyện cổ tích” về thuốc trụ sinh!

BS Hồ Ngọc Minh

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Chết ở miệng, bệnh tại chân’, xem xong bạn sẽ trẻ lại!

Một người nhất định nên bắt đầu từ khi còn trẻ để duy trì trọng lượng tiêu chuẩn. Một khi các chất béo đã tích tụ, bạn muốn loại bỏ nó không phải là một chuyện đơn giản. Tại sao vậy? Bởi vì cần kiểm soát được miệng, chân hoạt động nhiều hơn, con người vốn: “chết ở miệng, biếng ở chân.”
 
1. Về vấn đề sức khoẻ bản thân, bạn cần phải hiểu rõ những điều này
Ăn sáng thật ngon, ăn trưa thật no, ăn tối ăn ít. Nhưng người bây giờ người ta hầu như đều làm trái lại, buổi sáng thì ăn qua loa. Đến buổi trưa ăn để đối phó, buổi tối mới là bữa thịnh soạn, đây chính là gốc rễ của tất cả các bệnh tật.
Ăn sáng cũng giống như bạn uống thuốc bổ vậy, là bữa ăn quan trọng nhất. Vì vậy bữa sáng cần ăn những loại thức ăn bổ dưỡng nhất.
Bữa ăn chính nhất thiết cần phải có rau và trái cây. Nếu bữa ăn sáng dinh dưỡng không đủ tốt, cho dù bạn ăn bù lại buổi trưa và buổi tối cũng không thể bù lại nổi.
 
2. Thói quen xấu nhất trên thế giới này đó là hút thuốc lá
 
Những người hút thuốc thường bị mắc các bệnh như viêm phế quản, bệnh tim phổi.. và cuối cùng căn bệnh ung thư phổi. Kết quả chính là thần chết đang vẫy gọi…
 
3. Quá nhiều chất dinh dưỡng dẫn đến ngộ độc
Khi bạn nạp quá nhiều các chất dinh dưỡng vào cơ thể cũng có thể bị ngộ độc. Hãy cố gắng uống 8 ly nước mỗi ngày bởi vì nước chính là sự sống của con người.
Bây giờ nhiều người thậm chí còn không có thói quen uống nước, khát nước rồi mới uống. Như vậy tạo thành thói quen không tốt, do đó nhất định uống nước thường xuyên hơn.

Nếu uống trà hãy nhớ uống trà nhạt đừng nên uống trà đậm. Nên nhớ, nước cũng chính là nguồn sống.Vậy uống 8 tách trà có được không? Trà không được, ngay cả nước ngọt, cà phê, bia đều không thể thay thế cho nước tinh khiết.
 
4. Con người không phải chết vì tuổi già, không phải chết vì bị bệnh thì là chết vì tức khí.
Trong “Hoàng Đế Nội Kinh” đã giảng rất rõ về sự tức giận có thể mang lại những bất lợi gì cho cơ thể chúng ta.
Vì vậy con người nhất định phải làm chủ và kiểm soát được cảm xúc của mình, không nên bùng phát giận dữ vô cớ. Hãy nhớ rằng sự tức giận cũng giống như chiếc dùi cui, nó có thể làm tổn thương bạn và bất cứ ai xung quanh.

Nếu bạn không tập thể dục thì đó là một điều đáng lo ngại, nhưng tập thể dục quá mức cũng có thể làm giảm chức năng miễn dịch. Mỗi ngày cố gắng rèn luyện thân thể trong khoảng nửa giờ đến một giờ.
 
5. Đi bộ là bài tập rất tốt cho sức khoẻ
Nội dung luyện tập có thể sử dụng tới phương pháp đơn giản nhất, đó chính là đi bộ một nửa giờ đồng hồ. Đây chính là phương pháp đơn giản nhất, kinh tế nhất và hiệu quả nhất.
Nhưng đi bộ cũng cần phải đúng cách. Những người trẻ tuổi cần đi bộ nhanh, đi bộ nhanh dần, tiến đến mức độ nào? Một phút cần đạt được 130 bước.
Nhịp tim cần đạt được 120 lần/phút mới có thể đạt được mục đích luyện tập cho tim. Để đạt được 130 bước, 120 lần nhịp đập tất nhiên không phải làm một lần được luôn mà nó đòi hỏi phải có một quá trình dần dần thích ứng. Nếu bạn có thể kiên trì nửa năm, bạn có thể cải thiện chức năng tim và phổi của mình nhanh chóng!
Một người nhất định nên bắt đầu từ khi còn trẻ để duy trì trọng lượng tiêu chuẩn. Một khi các chất béo đã tích tụ, bạn muốn loại bỏ nó không phải là một chuyện đơn giản. Tại sao vậy? Bởi vì cần kiểm soát được miệng, chân hoạt động nhiều hơn, con người vốn: “chết ở miệng, biếng ở chân.”
 
6. Uống rượu say một lần, tương đương với căn bệnh viêm gan cấp 1
Người ta đã thống kê ra 6 phương thức sinh hoạt không lành mạnh nhất thế giới, đó là: thứ nhất chính là hút thuốc, thứ hai chính là lạm dụng rượu.
 
7. Gia đình bất hòa, con người sẽ càng dễ bị bệnh hơn.
Một số chuyên gia tin rằng 70% bệnh tình của một người đến từ gia đình của họ. 50% số người bị ung thư đến từ lý do gia đình, những trận cãi vã nhỏ thường xuyên xảy ra mỗi ngày, còn cãi vã lớn kéo dài tận 369 ngày “. Hay thậm chí không cần phải cãi nhau nhưng sự im lặng không nói chuyện với nhau, đến tận nửa tháng cũng không nói một lời, điều đó còn đáng sợ hơn nhiều.
Cô đơn còn đáng sợ hơn nhiều so với nghèo khó. Những cặp vợ chồng yêu thương nhau thường có tuổi thọ lâu hơn. Cô đơn thường rất dễ nảy sinh vấn đề, dễ dàng đoản mệnh, đó là quy luật phổ quát.
Nhưng làm thế nào để cho sự hòa hợp trong gia đình, đó chính là một loại học vấn. Chúng ta phải giải quyết 4 vấn đề:
Việc đầu tiên là cần tôn trọng người cao tuổi;
Thứ hai, cần giáo dục tốt con cái của mình;
Thứ ba, xử lý tốt mối quan hệ giữa mẹ chồng nàng dâu.
Thứ tư, điều này đặc biệt quan trọng, người chồng và vợ cần yêu thương lẫn nhau, đó chính là điều cốt lõi.
Làm thế nào để vợ chồng có thể yêu thương nhau? Có 8 nguyên tắc chung.
Tôn trọng lẫn nhau, yêu thương nhau, tin tưởng và giúp đỡ lẫn nhau, an ủi lẫn nhau, khuyến khích lẫn nhau, nhường nhịn nhau, thấu hiểu lẫn nhau.
Con người ai ai cũng đều có cá tính riêng của mình, đều có vấn đề riêng vì vậy cần luôn luôn nhắc nhở mình rằng:
Thôi đi, hãy nhường cô ấy (anh ấy), chỉ cần họ vui vẻ là được.
 
8. Nếu muốn cuộc sống mỗi ngày đều vui vẻ lành mạnh cần thực hiện 7 điều sau đây:
Đầu tiên, hãy chắc chắn ăn đủ 3 bữa ăn;
Thứ hai, hãy chắc chắn ngủ đủ 8 giờ ngày;
Thứ ba, kiên trì tập thể dục hàng ngày khoảng nửa giờ;
Thứ tư, cố gắng cười mỗi ngày để đạt được thể chất và tinh thần khoẻ mạnh.
Thứ năm, rất đặc thù, đó là mỗi ngày đều phải đi đại tiện.
Thứ sáu, nhất định phải chung sống hoà thuận trong gia đình
Thứ bảy, không hút thuốc, không uống rượu, mỗi ngày đều đi bộ.
Muốn có được sức khỏe tốt cần mỗi ngày bắt đầu và duy trì sự thường hằng, như vậy bạn sẽ có sức khoẻ suốt chặng đường còn lại của cuộc sống. Hãy luôn nhớ rằng: có thể ăn có thể uống vẫn không đủ lành mạnh, mà biết ăn biết uống như thế nào mới có thể giữ được sức khỏe.
Cần phải làm được: “bữa sáng giống cho Hoàng đế, bữa trưa ăn giống Đại thần, bữa tối thì giống như của kẻ ăn mày.”
 
9. Hãy nhớ một nguyên tắc, ăn 80% thực vật.
Những thức ăn có nguồn gốc từ động vật chỉ nên chiếm 20%. Nhưng con người ngày nay dường như ngược lại, do đó có rất nhiều bệnh tật xuất hiện. Ngay cả béo phì, bệnh tiểu đường hay bệnh gút cũng đều xuất hiện. Có rất nhiều người không có thói quen ăn hoa quả. Mọi người nên nhớ rằng, cố gắng mỗi ngày có thể ăn từ 2 đến 4 loại trái cây, 3 đến 5 loại rau khác nhau, như vậy chúng có thể mang lại tác dụng toàn diện chống ung thư, bảo vệ tim mạch, đây cũng chính là một chiến lược mới cho dinh dưỡng thế kỷ 21.
Đặc biệt bạn cũng cần bảo trì một tâm thái hoà ái, trái tim thiện lương từ bi, năng giúp đỡ mọi người, như vậy bạn mới có thể trị bệnh từ gốc mà ra.
Video: 6 lợi ích của việc ngồi thiền cho sức khỏe đã được chứng minh
ST
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

10 điều cấm kỵ khi ăn CUA

 

View Image   View Image

1. Kỵ ăn cua chết

Trong cơ thể cua có chứa nhiều thành phần hóa học mang tên histidine (có công thức phân tử C3H3N2CH2 (NH2)CO2H). 
Cua sau khi bị chết, các loại vi khuẩn liền phồn thực rất mạnh trong cơ thể cua, khiến histidine nhanh chóng chuyển hóa thành histamine (công thức phân tử C3H3N2H4 NH2) gây độc đối với cơ thể người.
Đặc biệt là cua chết càng lâu thì lượng histamine sinh ra càng nhiều, khi ta ăn vào càng dễ bị ngộ độc. Bởi vậy, một khi cua đã chết (dù là cua bể to rất đắt) phải kiên quyết loại bỏ, không tiếc rẻ!

2. Kỵ ăn cua đã luộc, nấu chín nhưng để đã lâu

Thịt cua để lâu rất dễ bị ôi thiu, ô nhiễm do vi khuẩn xâm nhập vì vậy, với cua nên chế biến đến đâu ăn hết đến đó. 
Nếu thực sự xài không hết, phần dư nên bảo quản trong tủ lạnh, hoặc để nơi thoáng đãng, sạch sẽ, và nên nhớ trước khi ăn phải đun nấu lại thật kỹ.

3. Kỵ ăn cua sống

Bởi trong thịt cua sống có chứa nang trùng “lungfluke” (trùng hút máu phổi, còn gọi là đỉa phổi), nếu không qua khử trùng tiêu độc ở nhiệt độ cao mà ăn sống ăn tái kiểu “gỏi cua” sẽ rất dễ mắc bệnh “đỉa phổi”. 
Loại lungfluke ký sinh trong phổi, không những kích thích hoặc phá hoại các tổ chức phổi, dẫn tới ho, khạc ra máu, mà còn có thể xâm nhập lên não, dẫn tới chứng co giật, thậm chí gây bại liệt. 
Nếu lungfluke xâm nhập các khí quan như mắt, thận, gan, tim, tủy sống vv…, còn dẫn tới các hậu quả nghiêm trọng hơn. Bởi vậy cua phải nấu thật chín mới được ăn, phải qua đun sôi tối thiểu 20-30 phút.

4. Không ăn “bọng hoi” (dạ dầy) của cua 
Bởi trong có chứa nhiều loài vi khuẩn gây bệnh và tạp chất có độc.

5. Người bị dị ứng phải hết sức cẩn trọng khi ăn cua

6. Tuyệt đối không ăn cua kèm quả hồng
Bởi chất tannin chứa trong quả hồng sẽ kết hợp với chất protein trong thịt cua, sẽ gây nên các triệu chứng như lợm giọng, nôn ói, đau bụng, tiêu chảy vv…

7. Người tỳ vị hư hàn không nên ăn cua
Cua tính hàn, dễ gây đau bụng, tiêu chảy. Bởi vậy, với người tỳ vị hư hàn không nên ăn nhiều cua, nếu ăn mà xuất hiện các triệu chứng trên, có thể dùng bài thuốc tía tô (15g) phối hợp với sinh khương (gừng tươi) 5-6 lát, đổ nước ninh kỹ, uống nóng ấm sẽ “cầm” ngay.

8. Với người đang mắc các chứng bệnh: như sỏi mật, viêm túi mật, viêm dạ dầy mạn tính, viêm loét hành tá tràng, viêm gan không nên ăn cua.

9. Với người bệnh tim (động mạch vành), cao huyết áp, xơ vữa động mạch, mỡ máu cao… kỵ ăn gạch cua, vì trong gạch cua có hàm lượng cholesterol cực cao, ăn vào sẽ làm bệnh càng trầm trọng.


10. Với người mắc chứng thương phong (cảm cúm), phát sốt, đau dạ dầy… cũng kiêng ăn cua.

ST

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Gây tê và gây mê trong giải phẫu

 

Khi còn là bác sĩ nội trú về Sản Phụ Khoa tại bệnh viện Parkland Memorial Hospital, Dallas, Texas, tôi được gửi qua huấn luyện bên chuyên khoa về gây tê và gây mê (anesthesiology). Thoạt đầu, tôi cho rằng đây là dịp được nghỉ xả hơi sau những tháng bận rộn bên khoa sản. Thế nhưng, trái với sự mong đợi, tôi không được “cưỡi ngựa xem hoa” mà do thiếu nhân lực, “thiếu lính”, tôi bị đẩy ngay xuống “giao thông hào” để làm việc như là một bác sĩ nội trú chuyên về khoa gây tê mê. Nghĩa là, tôi được phân công gây mê toàn phần cho các ca mổ, dưới sự hướng dẫn của một bác sĩ đàn anh và sự giám sát của một bác sĩ thầy.

Đứng bên nầy hàng rào, “trái tay nghề” vì phải “hành nghề tay trái”, tôi mới thông cảm cho các đồng nghiệp bác sĩ tê mê. Nói là hàng rào, nhưng chỉ là một tấm màn chắn ngăn đôi, từ phía vai trở lên là thuộc phận sự của bác sĩ gây mê, còn phía bên kia là trách nhiệm của bác sĩ mổ.

Một “surgical team” hay một “đội giải phẫu” trách nhiệm ca mổ, thường bao gồm một bác sĩ giải phẫu là đội trưởng, hay “thuyền trưởng”, một hay nhiều bác sĩ phụ mổ, một bác sĩ gây mê, một y tá hay kỹ thuật viên phụ mổ, và một y tá điều hợp. Để cho ca mổ được tiến triển tốt đẹp, đội giải phẫu phải làm việc với nhau thật nhịp nhàng, cụ thể là sự “ăn khớp” giữa bác sĩ gây mê và bác sĩ mổ.

Dĩ nhiên là ngoài việc gây mê toàn phần, tôi cũng được huấn luyện các phương cách gây tê khác như “gây tê tại chỗ” (local anesthesia), “gây tê vùng” (regional anesthesia), “gây tê ngoài màng cứng” (epidural anesthesia).

Gây tê và gây mê là các phương pháp áp dụng những loại thuốc tê mê để làm cho bạn dịu xuống, bớt căng thẳng, giảm hay ngăn chặn cảm giác đau, và trên nguyên tắc, “bất tỉnh nhân sự” không còn biết gì cả trong khi được giải phẫu.

Có bao nhiêu phương pháp gây tê và gây mê?

  1. Gây tê tại chỗ, làm tê một chỗ nhỏ trong thân thể như một vết thương nhỏ, ngoài da, vết thương ở da đầu, vết thương ngón tay, ngón chân,… Gây tê tại chỗ áp dụng cho những vùng phẫu thuật nhỏ. Thí dụ, bạn sẽ được tiêm thuốc tê vào ngay chỗ cần được may hay mổ, và, bạn vẫn còn tỉnh táo.
  2. Gây tê vùng, là làm tê một vùng rộng hơn. Thuốc tê tiêm vào để ngăn chận cảm giác đau được chi phối bởi một sợi dây thần kinh hay một nhóm dây thân kinh, thí dụ như cánh tay từ bả vai xuống, bàn tay, bàn chân, cẳng chân, hay khuôn mặt…
  3. Gây tê ngoài màng cứng xảy ra khi thuốc tê được tiêm vào bên trong cột sống. Cảm giác đau bị khống chế từ đoạn cột sống trở xuống, thí dụ như bụng, hông, đôi chân. Phương pháp nầy thường được dùng cho sản phụ trong khi lâm bồn để bớt đau và nếu cần trước khi sanh mổ.
  4. Gây mê toàn phần tác động đến não bộ làm mất tri gác, ngủ say mê, “bất tỉnh nhân sự,” mất hết cảm giác toàn thân thể.. Bệnh nhân có thể được tiêm thuốc mê vào trong tĩnh mạch, hay cho hít thở thuốc gây mê.

Trong khi được gây mê, bệnh nhân cần có sự giúp đỡ của máy trợ thở để cho phổi trao đổi oxygen với máu. Tim là cơ quan tự động nên dù mê, tim vẫn đập tự động nhưng cũng cần phải theo dõi qua máy đọc điện tâm đồ và máy đo huyết áp.

https://i0.wp.com/hellobacsi.com/wp-content/uploads/2017/03/ThinkstockPhotos-524582175.jpg?resize=671%2C447&ssl=1

Ở đây ,trách nhiệm của bác sĩ gây tê và gây mê rất quan trọng trong việc giúp kiểm soát nhịp thở, điều hòa lượng oxygen, áp suất máu, lưu lượng máu, và nhịp đập của con tim trong suốt ca mổ.

Thế thì, phương pháp nào thích hợp cho ca mổ?

Để lựa chọn một trong các phương pháp trên dùng cho cuộc giải phẫu, bác sĩ gây mê cần biết một số yếu tố như:

  1. Tình trạng sức khoẻ của bệnh nhân. Điều nầy bao gồm cả những cuộc giải phẫu từng có trước đây, nếu có các dị ứng với thuốc mê, và các bệnh đang có thí dụ như bệnh về tim mạch, bệnh tiểu đường, bệnh cường tuyến giáp…
  2. Loại giải phẫu, nặng hay nhẹ, sức chịu đựng của mỗi bệnh nhân. Có khi nếu bệnh dễ bị kinh hãi, phương pháp gây mê toàn phần có thể lựa chọn để bệnh nhân dễ chịu hơn.
  3. Tùy theo thử nghiệm máu và điện tâm đồ.

Những nguy cơ nào có thể xảy ra?

Bất cứ loại tê mê nào cũng đều có những nguy cơ có thể xảy ra, thí dụ như:

Sau khi gây mê, bị rối loạn tim mạch, áp suất bất thường, sưng phổi, đau cuống họng, nôn mữa.

Trong trường hợp gây tê tại chỗ hay gây tê vùng, thuốc tê có thể chạy vào mạch máu đi hết cơ thể và ảnh hưởng đến não bộ cũng như tim mạch.

Gây tê ngoài màng cứng có thể bị nhức đầu nếu “màng cứng” bao quanh cột sống bị thủng. Có khi bác sĩ phải “vá” chỗ thủng bằng cách tiêm máu của chính bệnh nhân vào chung quanh vết thủng, gọi là “blood patch.”

https://i1.wp.com/www.kidsplaza.vn/blog/wp-content/uploads/2016/06/de-khong-dau1.jpg

Gây tê ngoài màng cứngNhững nguy cơ nầy còn tùy thuộc vào phương pháp gây tê mê, tuổi tác của bệnh nhân, tình trạng sức khỏe, mức độ phản ứng thuốc. Nguy cơ có thể tăng nếu bị bệnh phổi, uống một số thuốc nào đó, hút thuốc lá, uống rượu, hay ghiền ma túy.

Thuốc tê, thuốc mê gồm những loại nào?

Thuốc tê tại chỗ, thuốc tê vùng, hay tê ngoài màng cứng gồm có: Lidocain (Xylocain®), bupivacain (Marcain®).

Thuốc mê tiêm vào tĩnh mạch gồm có Thiopental (Penthotal® ), Medizolam (Versed®), Propofol (Diprivan ), Fentanyl (Sublimaze®). Mở ngoặc, Thiopental và Medizolam còn được dùng cho các cuộc xử tử mà hiện nay các hãng thuốc đã từ chối cung cấp cho nhà tù. Propofol được ca nhạc sĩ Michael Jackson lạm dụng làm thuốc ngủ và ông đã ngủ yên!

Thuốc mê cho qua ống thở gồm có: Isoflurane, Sevoflurane và Nitrous oxide.

Một số thuốc giảm cơ, thuốc an thần, thuốc chống ói…

Cần chuẩn bị gì trước ca mổ gây mê?

  1. Không được ăn hay uống tối thiểu là 8 giờ trước khi mổ. Trung bình đồ ăn tốn khoảng 8 tiếng để đi suốt chiều dài của đường ruột. Lý do vì trong khi mổ, đồ ăn hay nước dịch từ bao tử có thể chạy ngược ống thực quản và lọt vào phổi. Chất acid có thể đốt cháy phổi và gây ra sưng phổi trầm trọng làm chết người. Chuyện có thật, tôi có một bệnh nhân đến phòng mổ với một ly cà phê Starbucks trong tay, vì bác sĩ chỉ dặn… không được uống nước!
  2. Trước khi mổ có thể bị lo lắng, bồn chồn. Thư giãn tinh thần sẽ giúp bệnh nhân giảm bớt lo lắng.
  3. Sau khi mổ cần có người đón về, không được tự lái xe ra về. Một số hiệu ứng của gây mê có thể kéo dài hàng giờ sau mổ, có khi đến 24 tiếng sau.

Sau khi gây mê, bạn có thể bị tê hay mất cảm giác một phần hay toàn thân nếu được gây tê tại chỗ hay gây tê vùng. Sự điều khiển các cơ và sự phối hợp cử động bi ảnh hưởng, không được bình thường.. Bạn có thể bị ói mữa do ảnh hưởng của thuốc mê. Bạn có thể bị lạnh cóng khi mới tỉnh dậy.

Mỗi năm ở nước Mỹ có khoảng 40 triệu ca mổ lớn nhỏ, cần đến gây tê hay gây mê. Mặc dù tỉ số nguy cơ rất thấp, có lẽ thấp hơn nguy cơ bị rớt máy bay rất nhiều. Tử vong hay tổn thương nặng vì gây mê thường hiếm có và thường liên quan đến những biến chứng của phẫu thuật nhiều hơn. Tử vong có thể xảy ra trong 1/250.000 trường hợp với gây mê toàn phần. Tất nhiên tỉ lệ nguy cơ sẽ cao hơn với những người có tình trạng sức khỏe kém hay bệnh nghiêm trọng. Vì thế, giữ gìn sức khỏe là điều quan trọng để trước nhất, tránh khỏi bị mổ và phải gây tê hay mê. Cho dù trong trường hợp phải bị gây tê hay gây mê, nguy cơ sẽ giảm nhiều nếu tình trạng sức khỏe tốt.

BS Hồ Ngọc Minh

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Trả lời một số câu hỏi về mắt người già

Mắt tôi vẫn thấy rõ, tại sao phải đi khám mắt định kỳ?

 

Hàn Lâm Viện Nhãn Khoa khuyên bịnh nhận 40-65 tuổi nên đi khám mắt ở bác sĩ chuyên môn (ophthalmologist) cứ 2 đến 4 năm một lần dù không có bịnh, trên  65 tuổi nên khám một lần mỗi năm là ít nhất, có thể thường hơn.
Lý do :
Những thay đổi mắt ở người già xảy ra rất chậm, từ từ, làm bịnh nhân thích ứng với hoàn cảnh mà không để ý, không biết rằng mắt mình mờ hơn trước, hoặc thị trường (visual field) của mình bị thu hẹp lại, mình không còn thấy rõ những gì xảy ra ở ngoại biên tầm mắt mình, màu sắc các sự vật mình thấy không trung thực (ví dụ màu trắng mình tưởng là vàng), đêm tối lái xe, đèn phía trước chiếu vào mắt mình lóa không thấy rõ . Bác sĩ chuyên khoa mắt sẽ khám thấy những thay đổi đó và sẽ có những biện pháp thích hợp để chữa trị (như cho đeo kính để điều chỉnh khúc xạ mắt (refraction correction) , giải phẫu hay cho thuốc trị chứng cườm nước làm cao áp suất trong mắt, ngăn chặn những tổn thương có thể xảy tới cho mắt, giải phẩu lấy cườm và thay thế bằng thấu kính nhân tạo/artificial lens, giúp tránh tai nạn cho người lái xe) 
Tôi bị bịnh tiểu đường, mắt tôi không sao cả, tại sao bác sĩ bắt tôi đi khám mắt?
Bịnh tiểu đường, còn gọi là bịnh Đái tháo đường (diabetes mellitus) không phải chỉ có chứng đường  được thải ra nước tiểu mà còn ảnh hưởng đến hầu hết các bộ phận trong cơ thể người bịnh. Mắt là bộ phận bị ảnh hưởng nặng do bịnh đái đường.
Bịnh võng mạc do tiểu đường (diabetic retinopathy), làm hư hại võng mạc (là cái màng phía sau tròng mắt, nơi nhận hình ảnh do ánh sáng từ ngoài mắt chiếu vào), là lý do hàng đầu gây ra bịnh mù ở người lớn. Bịnh nhân cần được bác sĩ mắt nhõ thuốc làm nở con ngươi và khám võng mạc kỷ lưỡng (annual dilated fundoscopic  examination). và chữa trị, theo dõi kỹ lưỡng nếu bất bình thường. Ngoài ra, mổ cườm khô cho người tiểu đường dễ có biến chứng hơn ở người không tiểu đường.
Người bị tiểu đường cũng dễ bị cườm nước (glaucoma) hơn.
 
Mắt tôi bị cườm khô (cataract), muốn mổ  nhưng nhiều người bạn  nói mổ xong vẫn thấy mờ, mà vẫn mang kính mà không rỏ. Vậy có cần mổ không?
Cataract, hoặc cườm khô, là trường hợp thấu kính (lens) của mắt bị vẫn đục, cản trở ánh sáng từ ngoài vào rọi trên đáy mắt (retina). Muốn  thị giác toàn hão, ngoài việc thấu kính phải thông suốt, cần phải có một võng mạc (đáy mắt, retina) làm việc tốt (ví dụ không bị hư hoặc kém đi do đã bị thoái hóa vì tuổi già, hoặc hư vì bịnh tiểu đường như nói ở câu trả lời trên), và luôn những khâu khác của hệ thần kinh phải nguyên vẹn.. Cho nên, mổ mắt lấy cườm sẽ làm thị giác tốt hơn trước, thấy rõ hơn trước khi mổ, nhưng không nhất thiết là sẽ 20/20 (tối hảo) vì còn tùy thuộc các yếu tố khác của mắt và hệ thần kinh người bịnh.
Ngoài ra, nếu bị cườm khô (cataract), bác sĩ mắt không nhìn thấy rõ phần sau của mắt nên không theo dõi và chữa trị được những bịnh của võng mạc (retinopathy).Lấy cườm khô ra giúp cho công việc chăm sóc của mắt dễ dàng và tốt hơn.
 
Thế tại sao mổ cườm khô rồi mà vẫn mang kính (mang gương)?
Ở người trẻ bình thường, không cần mang kính cũng thấy rõ vật ở thật xa (vô tận, infinity) cũng như vật ở gần (đọc sách chữ nhỏ. Sở dĩ được như vậy vì thấu kính (lens) trong mắt người trẻ có khả năng thích ứng (accommodation), thay đổi tính khúc xạ của nó (tựa như máy hình hiện đại có thể tự động zoom xa và gần).
Thấu kính nhân tạo (thế thấu kính bịnh đã đục) không có khả năng thích ứng theo nhu cầu nhìn xa nhìn gần này, nên phải lựa chọn giữa một loại thấu kính nhìn gần và một loại thấu kính nhìn xa. Thường thì , khi mổ mắt cườm khô, một bên mắt thì bác sĩ gắn thấu kính nhìn gần, mắt kia thì bác sĩ gắn thấu kính nhìn xa để  bịnh nhân có thể sinh hoạt bình thường mà không cần đeo kính (mang gương). Tuy nhiên, những trường hợp như đọc sách chữ nhỏ, kéo dài, bịnh nhân cũng cần mang kính để mắt đỡ mệt và thấy rõ hơn.
Những tiến bộ trong vòng chừng mười năm nay của  khoa giải phẩu chữa bịnh khúc xạ (refraction surgery) dùng laser để trị chứng cận thị , hay dùng thấu kính nhân tạo trong mắt (intraocular lens) để trị chứng viễn thị nặng  giúp cho một số người cận thị (thấy gần mà không thấy xa) và viễn thị (thấy xa mà không thấy gần)  khỏi cần mang kính nữa. Những tiến bộ này được áp dụng cho những người mổ mắt vì cườm khô cũng được hưởng những lợi ích đó, là thêm vào việc mắt họ sáng ra (vì hết bị đục), mắt họ còn được chữa các vấn đề khúc xạ (refraction errors), giúp cho họ khỏi nhờ cậy đến các kính dày cộm sau khi mổ, nhưng có thể cần mang kính một đôi khi.  
 
Mắt tôi hay bị “chèm nhem”, bác sĩ cho nhỏ thuốc là nước mắt nhân tạo, tôi nhỏ vài hôm thì khỏi, sau bây giờ vẫn bị lại như cũ?
Sở dĩ mắt chúng ta luôn luôn trong sáng vì nước mắt được tiết ra liên tục, giữ cho mắt ướt và có tác dụng ngăn chặn nhiễm trùng, đồng thời hệ thống ống dẫn thải nước mắt (tear duct) dư đi vào mũi ở phía dưới. Người gìà, tuyến nước mắt làm việc kém đi, nhất là nếu mắc những bịnh làm giảm sút cơ năng hạch nước mắt , vì vậy mắt bị khô, nhất là lúc xem TV chăm chú , đọc sách lâu mà ít chớp mắt (“nhìn không chớp”). Do đó, mắt bị xốn, do phản xạ, nước mắt lại sản xuất tăng lên, chảy đi không kịp làm nhòa, nhòe mắt. Dùng nước mắt nhân tạo có ích cho trường hợp này nhưng phải dùng thường xuyên, không phải bớt triệu chứng rồi ngưng. Ngoài ra, nêu nhớ chớp mắt thường xuyên lúc đọc sách, xem phim, mang kính mát hoặc tránh chỗ gió nhiều làm khô mắt nhanh hơn.
Một số trường hợp, bác sĩ chuyên khoa mắt có thể gắn một nút (plug) bằng plastic vào kênh dẫn nước mắt để giữ nước mắt lại cho mắt đở khô.
Một số người già mí mắt bật ra ngoài (ectropion) nên không giữ được nước mắt, phải chảy ra ngoài. Có thể giải phẫu nếu cần.
Bác sĩ Nguyễn Quỳnh Anh
Bác sĩ Hồ Văn Hiền 
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Chuyện Cảm Cúm

Hỏi:

-Trị cảm và cúm khác nhau ra sao? Cách phòng cảm và cúm khác nhau thế nào?

 

-Có phải ai cũng cần phải chích ngừa cúm không? Và nên chích khi nào?

-Tôi nghe nói bị dị ứng với trứng thì không nên chích ngừa cúm. Có đúng không? Và nếu vậy thì nên làm gì để ngừa cúm?

-Nếu bị cúm thì có cần dùng trụ sinh không? Khi nào thì mới cần đi gặp bác sĩ?

-Bị cúm mà vẫn còn có thể đi làm được thì có nên đi làm không?

Ðáp:

Cách điều trị cúm

Trong cả hai bệnh cảm và cúm, nâng đỡ sức đề kháng của cơ thể và trị triệu chứng đều là điều rất quan trọng.

Chính sức đề kháng của cơ thể là thành phần chính chống chọi với vi rút cảm và cúm. Do đó, ta cần chú ý nâng đỡ sức đề kháng của mình bằng cách:

– Uống đủ nước

– Nghỉ ngơi đầy đủ

– Ăn uống dễ tiêu và cung cấp đủ năng lượng cho cơ thể bằng cách nấu thức dễ tiêu hóa, bổ dưỡng, ăn mỗi lần một ít nhưng ăn nhiều lần hơn.

Ngoài ra, ta có thể trị triệu chứng bằng cách:

– Súc miệng và họng bằng nước muối ấm và loãng. Cần chú ý là nên pha nước muối chỉ lạt. như nước mắt của ta, nếu mặn quá sẽ làm khó chịu, kích thích niêm mạc cổ họng, có thể làm ho nhiều hơn.

– Uống thuốc giảm đau, giảm sốt (nhớ tránh aspirin ở trẻ em).

– Thuốc uống khô mũi, thuốc ho.

– Xông mũi bằng nước ấm

Cần chú ý là trái với nhiều người tin tưởng, rất nhiều nghiên cứu cho thấy thuốc trụ sinh và vitamin C không giúp làm cho cảm và cúm mau hết hơn. Ngay cả, nếu nước mũi đổi màu, đó cũng không phải là dấu hiệu cho thấy ta cần trụ sinh.

Ta nên đi thăm bác sĩ nếu có sốt cao, đau vùng xoang, khó thở, đau nhức mình mẩy quá nhiều.

Nên đi sớm, vì nếu đó là cúm, tốt nhất là bắt đầu thuốc trị cúm trong vòng 48 tiếng đồng hồ đầu tiên, (dù rằng bắt đầu trễ hơn cũng có tác dụng, dù là kém hơn), nhất là ở những người già yếu.

Thuốc chống virus cúm có thể làm nhẹ và giảm bớt thời gian bị cúm khoảng 2 ngày. Có ba thuốc chống virus cúm được CDC khuyến cáo dùng (khi cần), cập nhật lần cuối hồi tháng Hai 2017, là Tamiflu® (generic name oseltamivir) and Relenza® (generic name zanamivir), và Rapivab® (peramivir – chỉ dùng qua đường tĩnh mạch). Cả ba đều cần bác sĩ khám và kê toa..

Làm sao để phòng cúm?

Cúm lây sang người khác thường nhất bằng các tiếp xúc trực tiếp với các chất tiết (như nước mũi) của người bệnh, có thể là từ tay người này sang tay người khác, hoặc qua trung gian như nắm cửa… Vi rút có thể tồn tại trong môi trường đến ba tiếng đồng hồ. Khi tay ta tiếp xúc với các chất tiết này, rồi dụi vào mắt mũi của mình, ta sẽ bị lây bệnh.

Do đó, điều quan trọng đầu tiên để phòng cúm là:

– Tránh tiếp xúc gần với người bệnh.

– Khi mình đã bị bệnh, thì tránh tiếp xúc với người khác để khỏi lây cho họ.

– Nếu có triệu chứng cúm, CDC khuyến cáo là bệnh nhân nên nghỉ ở nhà cho đến khi hết sốt ít nhất 24 tiếng đồng hồ mà không cần dùng thuốc hạ sốt.

– Nên rửa tay thường xuyên. Tốt nhất là rửa với xà bông và nước ấm, khoảng 20 đến 30 giây. Hai mươi đến ba mươi giây là khoảng thời gian mà ta hát bài “Happy birthday to you, happy birthday to you, happy birthday, happy birthday, happy birthday to you” khoảng hai lần. Nếu nước và xà bông có sẵn, thì có thể dùng loại dung dịch chà tay có alcohol.

– Không vứt bỏ khăn chùi mũi bừa bãi.

– Khi ho hay ách xì, nên che miệng bằng cánh tay, chứ không phải bằng bàn tay, để giảm bớt các chất tiết dính vào bàn tay rồi qua các vật dụng hoặc bàn tay người khác.

– Tránh sờ, móc tay, ngón tay vào mắt, mũi.

– Lau chùi các bề mặt có thể dính virus truyền bệnh cảm cúm (như nắm cửa, đồ chơi trẻ em…) với chất sát trùng.

Dù nằm trong các hạt li ti trong không khí sau khi người bệnh ho hay ách xì ra, vi rút lại không có trong nước bọt của người bệnh trong 90 phần trăm các trường hợp. Do đó, điều lý thú là bị (hay được) người bệnh hôn, thường không khiến ta bị lây bệnh.

Nhiều người vẫn tưởng là lạnh là một nguyên nhân gây ra cảm hay cúm. Thật ra, nhiều nghiên cứu cho thấy khí hậu lạnh không phải là nguyên nhân của cảm hay cúm. Lạnh có thể gây ra viêm mũi do co giãn mạch máu trong mũi (vasomotor rhinitis), có triệu chứng giống như cảm, nhưng đó không phải là cảm, và không lây. Tuy nhiên, dù sao, giữ cơ thể đủ ấm vẫn là điều tốt và cần thiết.

Bên cạnh các phương pháp phòng ngừa rất quan trọng kể trên, áp dụng cho cả cảm và cúm. Ta còn có thể để phòng cúm bằng cách dùng thuốc ngừa.

Thuốc ngừa cúm gồm có vắc xin, và thuốc trị cúm cũng có thể dùng để ngừa cúm.

Vắc xin ngừa cúm thường dùng nhất là loại thuốc chích, ra hàng năm. Thuốc phải thay đổi hàng năm vì như đã nói, vi rút cúm rất mau thay đổi cấu trúc di truyền, và mỗi năm người ta đều phải chế ra thuốc ngừa cho năm đó. Năm nay 2017, thuốc chích ngừa cúm đã sẵn sàng từ hồi giữa Tháng Tám 2017, ở hầu hết các phòng mạch bác sĩ.

Hiện nay (được cập nhật lần cuối hôm 15 Tháng Tám năm 2017), CDC khuyên tất cả mọi người từ 6 tháng tuổi trở lên đều nên chích ngừa cúm.

Những người có nguy cơ cao bị bệnh, và nếu bị thì dễ bị nặng, và bị biến chứng, cần chú ý để chủng ngừa hơn:

– Tất cả trẻ em từ 6 tháng đến 4 tuổi.

– Tất cả phụ nữ sẽ có thai.

– Người lớn từ 50 tuổi trở lên.

– Những người ở bất cứ tuổi nào có các bệnh kinh niên.

– Những người bị suy giảm miễn dịch (do thuốc, hay do bị nhiễm HIV)

– Những người từ 6 tháng đến 18 tuổi và đang phải uống aspirin kéo dài (sẽ có thể bị hội chứng Reye sau khi bị cúm).

– Những người ở trong nursing home hoặc những chỗ chăm sóc, nuôi dưỡng bệnh nhân khác.

– Những người bị béo phì nặng (BMI – cân nặng tính bằng kg chia bình phương của chiều cao tính bằng mét – từ 40 trở lên).

– Những người tiếp xúc với những người kể trên.

– Những người tiếp xúc và chăm sóc cho trẻ em dưới 5 tuổi và người lớn từ 50 tuổi trở lên

– Nhân viên y tế.

Theo khuyến cáo được cập nhật lần cuối hồi Tháng Hai năm 2017 của CDC, những người bị dị ứng không trầm trọng, với trứng, vẫn có thể được chích người cúm với những thuốc ngừa thích hợp với tuổi của họ, và không cần phải được theo dõi 30 phút sau khi được chủng ngừa.

Còn những người bị dị ứng trầm trọng với trứng, nếu chích ngừa, thì cần phải được theo dõi bởi những nhân viên y tế có khả năng chẩn đoán và điều trị các phản ứng dị ứng nặng.

Ngoài thuốc chủng ngừa, một số thuốc dùng để trị cúm (như Tamiflu) cũng có thể được dùng để ngừa cúm. Giống như trong việc điều trị, thuốc cần phải được bắt đầu trong vòng 48 tiếng từ khi tiếp xúc với người bệnh, phải có toa bác sĩ mới mua được thuốc này, và phải dùng ít nhất là bảy ngày. Liều ngừa bệnh khác với liều trị bệnh.

Tóm tắt

Cúm thường nặng hơn cảm, thường có sốt cao, rét, đau rêm mình mẩy.

Nếu nghĩ là cúm, hoặc nếu nghi là có các biến chứng nên đi bác sĩ sớm để được chẩn đoán và chữa sớm và thích hợp.

Nâng cao sức đề kháng bằng ăn, uống, nghỉ ngơi đầy đủ và trị triệu chứng là điều cần làm trong việc điều trị cả hai bệnh cảm và cúm.

Thuốc trị và ngừa cúm cần phải được dùng trong vòng 48 tiếng đống hồ đầu tiên mới mang lại hiệu quả tốt nhất.

Rửa tay với nước và xà bông khoảng 20-30 giây – bằng thời gian hát “Happy birthday to you” hai lần là điều đơn giản, không tốn kém, nhưng lại rất cần thiết và hiệu quả trong việc phòng cúm.

Tất cả mọi người từ 6 tháng tuổi trở lên, đều nên chích ngừa cúm. Những người có nguy cơ cao cần chích ngừa cúm càng sớm (hoặc càng ít trễ) càng tốt.

Thân mến

Bác Sĩ Nguyễn Trần Hoàng

www.nguyentranhoang.com
(714) 531-7930

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

SỨC KHỎE tuổi già​

Thưa quý thân hữu.

Trước hết, tôi rất  vui được biết Bs. Trần Mgộn Lâm được 
mạnh khoẻ, và gởi cho bài viết về  đề tài ĂN rất  hửu  ích 
cho tuổi thọ.
Nay, tôi còn 6 Tháng nữa sẽ  được 95 tuổi.
Lấy kinh nghiệm bản thân, tôi xin góp  ý thêm vào 4
bí quyết sống lâu của nguời dân OKINAWA như sau :
 
Tôi không ĂN theo tiêu chuẩn của nguời OKINAWA, 
mà tôi còn khoẻ về vật chất, cũng như tinh thần(xem hinh) chắc là nhờ:
1)-VÂT CHẤt:
a)-Khôg hút thuốc.
b)-Uống ruợu điều độ  (1 ly wine mỗi bữa ăn tối).
c)-Vận  động thể thao (chơi Tennis 80 năm. Hiện nay bớt      Tennis, nhưng mổi ngày tập 30 phút ơ phòng GYM            nhà già nơi tôi đang ở)
2)-TIN THẦN:
a)- không lo nghĩ chuyện gia đình (con cái thành đạt,             hiếu thảo).
b)- Vui tính , có nhiều bạn trong nhiều giới (thể thao,văn       thơ v..v…)
Tôi nghĩ rằng , nếu thiếu những yếu tố trên đây, thì dù cho
ĂN  đúng tiêu chuẩn OKINAWA, cũng không sống lâu được.
 
Tuy nói vậy , nhưng tôi tin rằng tuổi thọ của mỗi người đều 
do ông Nam-Tào giử  sổ  biết mà thôi.
 
Trân Công (Lão Mã Sơn)
 
TB-Hai ông bạn già trong số người nhận, ĐĐ HV Kỳ Thoại,
     và Bs Công Lê, là nhân chứng nhữg gì tôi nói bên trên.
    -Xin tặng quý  vị 2 bài thơ liên hệ ,đọc cho vui.
 
Thân chúc quý vị sống hơn 100 tuổi .Inline imageInline imageInline image
 
CT
Ăn.
Bài viết này, tôi xin bắt chước ông Song Thao để chỉ dùng một chữ ăn làm tựa đề. Tôi nói về một vấn đề mà ai cũng làm, ai cũng cần, đó là việc nhét thực phẩm vào bụng. Lẽ ra, tôi phải viết là nhét thực phẩm vào dạ, vì nhà văn Trà Lũ đã phân biệt rõ sau khi tra cứu sách vở là : dạ là phần trên rốn, còn bụng là phần dưới rốn. Thực phẩm trước khi xuống tới bụng, phải qua dạ trước đã. Xin cám ơn cụ Trà Lũ đã mở mang trí tuệ cho kẻ hèn này.Nhờ cụ Trà Lũ, mà tôi hiểu rõ tại sao người mình nói : Bụng cả hơn Dạ.
Tôi ít khi viết về bệnh tật, vì  chuyện bệnh tật không gây cảm hứng cho tôi nhưng mới đây một độc giả gửi email về cho tôi hỏi muốn ít bệnh tật khi về già, thì phải làm sao để được khoẻ mạnh, sống lâu, nên để khỏi phụ lòng ông bạn, tôi viết bài này.Coi như phá lệ, làm những chuyện mà tôi không muốn làm, không thuộc về những lãnh vực mà tôi thích thú.
Trước đây, khi còn nhỏ, mỗi khi tôi không ăn hết đồ ăn, địa phương tôi người ta gọi là bỏ mứa, thì mẹ tôi luôn luôn dây tôi rằng : Nhiều người không có cái gì ăn, con đừng bỏ mứa, phải tội. Lời dậy này đến nay tôi vẫn không quên tuy mẹ tôi qua đời đã lâu. Sau này, khi lập gia đình, gập khi tôi không ăn hết tô bún bò tổ chảng, thì luôn luân bị trách : Có vậy mà cũng không ăn hết. Hôm nay, tuy rất nhớ ơn mẹ, nhưng với tư cách người lo về sức khoẻ con người, tôi khẳng định một điều là : Nếu không còn đói nữa, thì nên buông đũa. Dĩ nhiên đó là một hành động xấu, phí phạm thức ăn, nhưng tôi có lý do của tôi, là vì tôi thấy không dễ chịu một chút nào khi ăn no quá, vậy tại sao lại tự mình làm khổ mình ?? Cái đói, tôi đã biết, trong khoảng thời gian từ tháng tư năm 1975 đến tháng tư năm 1977, khi tôi bị bọn mắc dịch bắt vào tù, nhưng từ khi sang Canada, tôi trở lại với tật xấu cũ là khi nào hết thích ăn, là ngưng, mặc ai nói ngả nói nghiêng..
Nguyên tắc này người Nhật gọi là HARA HACHI BU, nghĩa là muốn mạnh khỏe, phải ngưng ăn khi dạ dầy đầy đến 80%. Sau khi ăn uống xong, người Mỹ hay nói : I am full (tôi đầy ứ), trong khi một người Nhật ở tại OKINAWA lại nói : I am no longer hungry (tôi không còn đói nữa). Tại sao nói tới OKINAWA ?? Lý do là OKINAWA là nơi có nhiều người sống trên 100 tuổi, gấp 3 lần các nơi khác. Ông Dan Buettner, tác giả cuốn sách bán chạy hàng đấu THE BLUE ZONESdậy cách sống lâu, đã đến tận OKINAWA để xem người dân ở đây làm cách nào mà sống lâu như vậy.Ông đã cộng tác với National Geographic và nghiên cứu về đề tài Secrets of Long Life. Ngoài OKINAWA, ông còn đến nhiều nơi trên thế giới để nghiên cứu các nơi có người dân sống dai như các cụ Bành Tổ, thí dụ như đảo SARDINIA. Tuy nhiên,  OKINAWA đứng đầu trên thế giới. Tại OKINAWA, tác giả đã gặp một cụ bà tên Oshi Okushima, sống tại một cái làng mang tên Ogimi, bà ta trên 100 tuổi . Ông rất ngưỡng mộ cách sống của người phụ nữ này. Cũng tại OKINAWA, Dan đã có cơ hội gặp Craig Willcox và người anh song sinh của ông này là bác sỹ Bradley Willcox, tác giả của một nghiên cứu về cách ăn uống của đại học University of Toronto . Sau đó cả 3 người đến gập lão ông Toku Oyakawa 105 tuổi . Cụ này ăn cá mỗi ngày và có vợ lúc đó cũng đã được 92 tuổi. Tóm lại, tại OKINAWA, có rất nhiều cụ ông, cụ bà sống trên 100 tuổi. Tuy vậy giới trẻ tại Okinawa không khác gì những giới trẻ tại Mỹ hay tại các thành phố khác tại Nhật ngày nay, kể từ khi OKINAWA bị âu mỹ hóa, với Gà Kentucky và Mac Monald’s. Những người già trên 100 tuổi của OKINAWA khác với thế hệ sau của thành phố này ở chỗ : Họ chỉ ăn thịt vào những ngày lễ lớn như Lể Tân Niên (Lunar New Year) mà thôi, ngoài ra nguồn chất đạm của các cụ này đến tư cá và đậu nành. Cụ bà Kamanda Nakazato , 102 tuổi, sống tại bán đảo Motubu với hai người con đều trên 70 nhưng rất khỏe mạnh. Cụ cho biết trước thế chiến thứ hai, dân làng ăn uống rất đạm bạc, chỉ có lúa gạo, rau và một loại khoai ngọt mà dân ở đây gọi là IMO. Mỗi ngày, cụ dây sớm lúc 6 giờ sang, uống trà jasmin và cháo miso soup rồi làm việc, vậy mà rất khỏe. Hỏi đến thịt thì cụ cho biết chỉ ăn thịt vào lể đầu năm âm lịch. Hỏi đế hamburger và Coca Cola thì cho biết trong đời cụ chưa một lần uống Coca Cola còn hamburger thì nhiều năm về trước, cụ mới ăn lần đầu. Thế hệ cụ Kamanda, trước mỗi bữa ăn, thay vì nguyện cầu, cám ơn thương đế, thì người dân ở đây dành một vài phút và nói to : HARA HACHI BU, nghĩa là chúng ta hãy ăn vừa no nhé.Người dân OKINAWA, thuở xưa,trước đệ nhị Thế Chiến, mỗi khi gặp nhau, thay vì chào hỏi, họ nói : NMU KAMATOIN, nghĩa là anh hay chị đã ăn  khoai ngọt chưa ??
Tóm lại, theo Dan Buetter, thì bí quyết của người OKINAWA để sống lâu là :
1)      ặn chỉ vừa đủ để  làm đầy  80% dạ dầy mà thôi.
2)      ặn ít thịt động vật.
3)       ặn cá, thực vật, nhất là rau, đậu, Tofu, Tương, Chao
4)       Luôn luôn lạc quan, chú ý giúp đỡ tha nhân, có nhiều bạn bè, và có nụ cười .
Trong căn nhà Kamanda ở, nhất là trong bếp, các đồ nhà bếp rất nhỏ bé, không có kẹo, bánh gì hết.Tại chương số 9 của cuốn sách, tác giả The Blue Zones tóm tắt 7 yếu tố làm con người sống lâu, đó là cách ăn uống, bạn bè (đời sống xã hội), nghỉ ngơi, trà (herbal teas), rượu (nhưng vừa phải : 2 ly nhỏ rượu vang một ngày), Tôn giáo (niềm tin) và ít lo lắng (stress).
 Rất nhiều yếu tố khiến người ta ăn nhiều: vui với bạn bè, cách trình bầy bánh kẹo của các nhà sản xuất đẹp quá, hấp dẫn quá,mùi vị hấp dẫn quá, tiện trong tầm tay với…v..v Những điều đó là những cái bẫy, chúng ta phải tháo gỡ. Phải biết rằng mỗi con người đều có một cái mức về calaries, ta tạm gọi là caloric set point. Quá cái mức đó, ta sẽ bị mập. Mập phì đem đến nhiều bệnh tật như Huyết ấp cao, Tiểu đường, suy thận….v..v
Khi tôi còn đi học, trong lớp tôi có nhiều bạn to khoẻ, đẹp trai, phương phi béo tốt, da trắng nõn, các cô thiếu nữ chạy theo ầm ầm. Nay tôi đã trên 75 tuổi, tính toán lại, thấy phần lớn các bạn to khỏe đẹp trai đó chết họặc bệnh nặng, đi đứng phải chống gậy hay marchette, còn lại mấy thằng gầy gò, nhỏ bé, giống như tôi, thì lại khá hơn nhiều, dĩ nhiên có kém đi. tuổi già, ai mà chống lại được với thời gian !!!
Hải Thượng Lãn Ông có lý khi nói rằng : Bệnh do Khẩu Nhập-Họa do Khẩu Xuất.
Cẩn thận miếng ăn, lời nói, sẽ làm chúng ta bớt các vấn đề về sức khỏe.
Không có một nghiên cứu thống kê nào rõ rang về vấn đề nêu trên, nhưng kinh nghiệm cá nhân cho thấy những gì Dan Buettner viết ra trong cuốn sách The Blue Zones rất chính xác. Tôi chỉ viết lại một phần rất nhỏ, cần phải đọc cả cuốn sách thì mới thấy tại sao nó là một New York Bestsellers. Trong Internet, tìm đánh chữ Vitality Compass, sẽ thấy những câu hỏi. Trả lời những câu hỏi này, bạn sẽ có một ý niệm về quỹ thời gian còn lại của bản thân mình. Chắc không chính xác như máy tính, nhưng cũng vui vui.
 
Trần Mộng Lâm
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Thiếu chất này tăng nguy cơ bệnh tiểu đường, tim mạch

Sự thiếu hụt vitamin D có liên quan đến hàng loạt các vấn đề sức khỏe như tăng nguy cơ mắc bệnh Alzheimer, tiểu đường, loãng xương và bệnh tim mạch, thậm chí là ung thư.

 

Theo báo cáo của Nutrition Research, khoảng 42% người trưởng thành ở Mỹ thiếu chất vitamin D, trong khi một số nghiên cứu khác báo cáo con số này lên tới 75%.

Vitamin D rất quan trọng đối với cơ thể con người, nó đóng vai trò chính trong việc bảo đảm hoạt động của cơ bắp, tim, phổi và chức năng hoạt động của não. 

Sự thiếu hụt vitamin D có liên quan đến hàng loạt các vấn đề sức khỏe như tăng nguy cơ mắc bệnh Alzheimer, tiểu đường, loãng xương và bệnh tim mạch, thậm chí là ung thư. Thêm vào đó, nếu bạn được chẩn đoán mắc ung thư vú hoặc ung thư tuyến tiền liệt, cơ hội sống sót của bạn sẽ thấp hơn nếu cơ thể thiếu vitamin D.

Mặc dù số liệu thống kê này gióng lên hồi chuông báo động về tình trạng thiếu chất dinh dưỡng, tuy nhiên, hầu hết mọi người thường không để ý đến điều này. Vitamin D là vi chất đặc biệt không có quá nhiều trong các loại thức ăn hàng ngày (trừ cá hồi, sữa chua và sữa).

Thiếu chất này tăng nguy cơ bệnh tiểu đường, tim mạch: Bạn có thuộc nhóm người đang thiếu? - Ảnh 1.

(Ảnh minh họa)

Cách duy nhất để cơ thể nhận được dưỡng chất này nhiều là tiếp xúc với ánh nắng mặt trời buổi sáng, trong khi đó hầu hết những người làm công việc văn phòng không thể làm được việc này.

Giám đốc của GrassrootsHealth – tôt chức phi lợi nhuận với mục đích làm tăng nhận thức về tầm quan trọng của vitamin D cho biết, kiểm tra máu là cách tốt nhất để tìm hiểu bạn có thiếu chất dinh dưỡng này hay không.

Dưới đây là danh sách 10 nhóm người có nguy cơ thiếu vitamin D cao nhất:

1. Nhóm người trên 55 tuổi

Khi chúng ta già đi, nhiều người có xu hướng ít vận động hơn, thời gian ở bên ngoài trời cũng ít hơn, cơ thể cũng yếu đi, từ đó, việc cơ thể thu nhận vitamin D cũng ít hơn. Đây là lý do vì sao hầu hết người già đều bị loãng xương.

Bên cạnh đó, da lão hóa cũng hạn chế việc tổng hợp vitamin D hiệu quả, theo một nghiên cứu của Canada năm 2007. Thực tế, theo báo cáo có khoảng 50% người cao tuổi ở Mỹ bị gãy xương hông do nồng độ vitamin D thấp trong máu.

2. Nhân viên văn phòng

Thiếu chất này tăng nguy cơ bệnh tiểu đường, tim mạch: Bạn có thuộc nhóm người đang thiếu? - Ảnh 2.

(Ảnh minh họa)

Nếu bạn làm việc trong văn phòng từ 9h sáng đến 17h chiều, xin chia buồn bởi bạn đã nằm trong nhóm người thiếu vitamin D trầm trọng. Theo Viện Y tế Quốc gia Mỹ (NIH), những người có nghề nghiệp hạn chế tiếp xúc với ánh sáng mặt trời dường như cơ thể không đủ vitamin D. Dù vậy, bạn vẫn có thể bổ sung chất này thông qua chế độ ăn uống thông minh để giữ sức khỏe.

3. Nhóm người có làn da sẫm màu

Nhiều báo cáo khác nhau cho thấy, ở những người có da sẫm màu (Da đen) thường có mức vitamin D thấp hơn ở những người da trắng hoặc da vàng. Nguyên nhân là bởi, người da sẫm màu có nhiều melanin hơn trong lớp biểu bì – lớp ngoài cùng của da, điều này ngăn ngừa cơ thể tổng hợp vitamin D từ ánh sáng mặt trời.

Do vậy, nếu bạn có làn da sẫm màu, tốt nhất bạn nên tổng hợp vitamin D từ chế độ ăn nhiều hơn.

4. Bệnh nhân viêm đại tràng

Vitamin D là vitamin có khả năng hòa tan trong chất béo, điều đó có nghĩa là sự hấp thụ của chất này phụ thuộc vào lượng mỡ trong ruột. Trên thực tế, có đến 70% người mắc bệnh viêm ruột (bệnh Crohn và viêm loét đại tràng) không đủ vitamin D. Do vậy, nếu bạn mắc chứng bệnh này, nên tham khảo ý kiến bác sĩ và chuyên gia dinh dưỡng để bổ sung vitamin D.

Thiếu chất này tăng nguy cơ bệnh tiểu đường, tim mạch: Bạn có thuộc nhóm người đang thiếu? - Ảnh 3.

(Ảnh minh họa)

5. Nhóm người ăn chay

Hầu hết các thực phẩm chứa vitamin D đều có nguồn gốc từ động vật như cá hồi, lòng đỏ trứng. Một số thực phẩm khác cũng có chất dinh dưỡng này là sữa và các chế phẩm từ sữa, những người ăn chay thường thiếu vi chất dinh dưỡng quan trọng này.

Tuy nhiên, các chuyên gia dinh dưỡng cho biết, những người ăn chay có thể bổ sung vitamin D thông qua các sản phẩm từ đầu nành, bột yến mạch và nấm, mặc dù những thực phẩm này không chứa nhiều vitamin D như nguồn thực phẩm động vật.

6. Những người có tỷ lệ % mỡ trong cơ thể cao

Nếu bạn có chỉ số khối cơ thể (BMI) trên 30 hoặc tỷ lệ % mỡ trong cơ thể cao thì vitamin D sẽ ít hơn người bình thường.

7. Nhóm người uống thuốc kê toa

 

Các loại thuốc chứa corticosteroid như prednisone, thuốc giảm cân như orlistat, và cholestyramine giảm cholesterol có thể làm giảm sự tổng hợp vitamin D.

8. Nhóm người bị đau khớp và đau cơ thường xuyên

Nếu thời gian gần đây bạn được chẩn đoán viêm khớp hoặc đau xơ cơ, đây có thể là dấu hiệu của cơ thể thiếu vitamin D.

Thiếu chất này tăng nguy cơ bệnh tiểu đường, tim mạch: Bạn có thuộc nhóm người đang thiếu? - Ảnh 4.

(Ảnh minh họa)

9. Những người bị trầm cảm

Theo một nghiên cứu của Tạp chí Nghiên cứu Tâm thần học Anh trên 31.000 người, những người có mức vitamin D thấp trong máu có thể dễ bị chẩn đoán mắc bệnh trầm cảm cao gấp 2 lần so với những người có mức độ vitamin D cao hơn. Các chuyên gia y tế cho rằng, vitamin D có thể làm thay đổi hormone và các vùng não ảnh hưởng đến việc điều chỉnh tâm trạng.

10. Nhóm người bị đau đầu mãn tính

Theo nghiên cứu năm 2017 trên 2.600 người đàn ông, nếu bạn bị nhức đầu thường xuyên, lượng vitamin D trong máu thấp có thể là nguyên nhân. Theo đó, những người tham gia nghiên cứu mức vitamin D thấp có thể tăng gấp 2 lần nguy cơ nhức đầu kinh niên.

Mặc dù mối liên hệ giữa nhức đầu và vitamin D vẫn còn chưa rõ ràng, nhưng các nhà nghiên cứu cho rằng, bổ sung vitamin D có thể giúp chống lại chứng viêm gây ra đau nửa đầu và nhức đầu.

*Theo Prevention

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

TS Mỹ chỉ rõ 6 dấu hiệu cơ thể nhiễm độc kim loại nặng và cách thải độc hiệu quả

TS Mỹ chỉ rõ 6 dấu hiệu cơ thể nhiễm độc kim loại nặng và cách thải độc hiệu quả

TS Mỹ Josh Axe cho biết, việc cơ thể bị phơi nhiễm kim loại nặng lâu dài có thể dẫn đến thoái hóa cơ thể, cơ bắp và thần kinh.

 

Các kim loại nặng như nhôm, asen, thiếc, cadmium, thủy ngân và chì… tích tụ trong cơ thể có thể gây ra nhiều bất lợi cho chức năng ti thể.

Khi cơ thể bị nhiễm độc kim loại nặng, bạn có xu hướng thu hút các điện từ trường có hại vào cơ thể. Điện từ trường lần lượt ảnh hưởng đến sự trao đổi chất của cơ thể cũng như khả năng loại bỏ các kim loại nặng này ra khỏi cơ thể.

Theo TS Mỹ Joseph Michael Mercola, các khoáng chất như magie, kẽm, selen, kali và iot là các chất hỗ trợ cơ thể giải độc các kim loại nặng rất tốt. 

TS Mỹ chỉ rõ 6 dấu hiệu cơ thể nhiễm độc kim loại nặng và cách thải độc hiệu quả - Ảnh 1.

TS Mỹ Joseph Michael Mercola

TS Mercola cho biết, thải độc là là một trong những phương pháp bảo vệ sức khỏe tối ưu. Các kim loại độc tích tụ trong cơ thể có thể dẫn đến mệt mỏi mãn tính. 

Chuyên gia dinh dưỡng Wendy Myers – người sáng lập LiveTo110.com cho biết, các kim loại nặng tích tụ trong cơ thể có thể gây bất lợi cho chức năng ty lạp thể bao gồm:

1. Nhôm. Đây là một kim loại phổ biến trong môi trường, chúng xuất hiện trong không khí chúng ta hít thở. Nhôm cũng được tìm thấy trong nhiều loại vắc xin. 

Loại kim loại này cũng được sử dụng trong các nhà máy xử lý nước để tách các trầm tích. Ngoài ra, kim loại này còn có trong thuốc khử mùi, lon nước, giấy bạc, dụng cụ nấu ăn và các nguồn tiếp xúc hàng ngày khác.

Nhôm tích tụ trong cơ thể quá nhiều có thể cản trở các enzyme vân chuyển chất dinh dưỡng vào ty thể, ngăn cản khả năng sản xuất năng lượng cho cơ thể. Chuyên gia dinh dưỡng Myers cho biết: “Loại bỏ nhôm và các chất độc khác ra khỏi cơ thể, chúng ta sẽ cảm thấy mức năng lượng phục hồi nhanh chóng, ngay cả ở những người bị mệt mỏi kinh niên”.

TS Mỹ chỉ rõ 6 dấu hiệu cơ thể nhiễm độc kim loại nặng và cách thải độc hiệu quả - Ảnh 2.

2. Arsenic. Kim loại này được tìm thấy trong thuốc kháng sinh dùng cho gà nuôi đẻ trứng. Để tránh arsenic, tốt nhất bạn nên chọn ăn trứng hữu cơ. Bên cạnh đó, kim loại này còn được tìm thấy trong gạo và một số thực phẩm khác như rượu vang, nước uống và nước táo đóng chai.

3. Thiếc. Kim loại này có thể ảnh hưởng đến chức năng ty thể trong cơ thể bạn.

4. Thallium. Đây là thành phần phụ gia trong xăng, là chất gây ô nhiễm không khí thải ra từ khói bụi và khói xe. Rất ít người biết rằng, kim loại này tích tụ trong cơ thể có thể gây ra sự mệt mỏi mãn tính.

Chuyên gia dinh dưỡng Myers cho biết, chúng ta nên coi việc thải độc như một thói quen lành mạnh nên làm định kỳ hàng tháng, 6 tháng hay 1 năm.

TS Mỹ Josh Axe cho biết, việc cơ thể bị phơi nhiễm kim loại nặng lâu dài có thể dẫn đến thoái hóa cơ thể, cơ bắp và thần kinh.

Dấu hiệu phổ biến cảnh báo cơ thể đang bị tích tụ kim loại nặng

– Mệt mỏi

– Bệnh tự miễn

– Rối loạn thần kinh

– Trầm cảm, lo âu

– Đãng trí

– Mất ngủ

TS Mỹ chỉ rõ 6 dấu hiệu cơ thể nhiễm độc kim loại nặng và cách thải độc hiệu quả - Ảnh 3.

Một trong những triệu chứng của cơ thể bị tích tụ kim loại nặng.

 Thực phẩm thải độc kim loại nặng

Theo TS Josh Axe, các thực phẩm này có tác dụng thải độc cơ thể rất hiệu quả:

– Thực phẩm giàu vitamin C: Trái cây và rau quả giàu vitamin C có thể làm giảm tổn thương do độc tính kim loại nặng bởi hoạt chất chống oxy hóa dồi dào.

– Rau lá xanh: Các loại rau lá xanh như cải xoăn, rau bina và rau mùi tây có tác dụng khử độc, giảm sự tích tụ của các loại kim loại nặng như thủy ngân trong cơ thể.

 

– Tỏi và hành tây: loại gia vị này có chứa lưu huỳnh giúp gan giải độc các kim loại nặng như chì và asen.

– Nước: Uống 2 lít nước (tổng lượng nước) để giúp cơ thể tiêu độc.

– Hạt lanh và chia: Chất béo omega 3 và chất xơ trong 2 loại hạt này giúp giải độc ruột kết và giảm viêm.

Thực phẩm cần tránh

Các loại cá nuôi có chứa kim loại nặng, dioxin và PCB có độc tính cao

– Chất gây dị ứng thức ăn: Nếu cơ thể bạn phản ứng với các chất gây dị ứng thông thường, cơ thể sẽ không thể tự giải độc sau khi bị nhiễm độc kim loại nặng.

– Thức ăn không hữu cơ: Những loại thực phẩm này làm tăng sự phơi nhiễm của cơ thể với các hóa chất, khiến cho các triệu chứng tồi tệ hơn.

– Thực phẩm có chứa phụ gia: Các chất phụ gia có thể làm trầm trọng thêm các triệu chứng nhiễm độc, làm giảm khả năng thải độ của cơ thể.

– Rượu: Rượu bia có thể khiến gan khó xử lý các chất độc khác, gây hiện tượng chất độc tích tụ lại trong cơ thể.

*Theo Mercola/Dr

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Tìm Thấy Hoạt Chất Khiến Tế Bào Ung Thư “tự Sát” Trong 30 Phút

Cả Thế Giới Ăn Mừng Nào: Tìm Thấy Hoạt Chất Khiến Tế Bào Ung Thư “tự Sát” Trong 30 Phút   

Bởi Lê Quang  -11/07/2017

Theo kết quả nghiên cứu do nhóm các nhà khoa học của trường Đại học Rutgers và Hunter (Mỹ) thì các nhà khoa học Mỹ đã phát hiện ra mlột hoạt chất trong dầu ô liu có thể khiến các tế bào ung thư “tự sát” trong 30 phút.
https://tokhoe.com/wp-content/uploads/2017/07/ca-gioi1.jpg
Ảnh Internet
Theo kết quả nghiên cứu do nhóm các nhà khoa học của trường Đại học Rutgers và Hunter (Mỹ) công bố trên Tạp chí Phân tử & Tế bào ung thư, hoạt chất oleocanthal trong dầu ô liu có thể tiêu diệt được tế bào ung thư có tên lysosome.
Cần phải hiểu oleocanthal có trong dầu olive extra-virgin thu được sau lần ép đầu tiên. Đây là loại dầu oliu tốt nhất được sản xuất bằng phương pháp ép lạnh giữ được nguyên mùi vị, không có chất bảo quản hay thêm bất cứ phụ gia nào.
Cụ thể, sau khi áp dụng xử lý oleocanthal lên các tế bào ung thư, các nhà khoa học thấy rằng các tế bào ung thư chết rất nhanh trong chưa đến 30 phút. Trong khi đó, chết tế bào theo chương trình cần khoảng 16-24 giờ.
Bộ 3 nhà nghiên cứu ung thư Paul Breslin của Đại học Rutgers và David Foster và Onica Legendre của Trường Đại học Hunter đã phát hiện ra rằng các tế bào ung thư bị tiêu diệt bởi chính enzyme trong nó.
Chất oleocanthal đã phá vỡ các túi bào lysosome bên trong tế bào ung thư, nơi chứa các chất thải của tế bào. Về cơ bản, các nhà khoa học cho rằng các tế bào tự sát.
Ngoài ra, hợp chất này không gây tổn hại đến các tế bào khỏe mạnh, chúng chỉ tạm thời dừng chu kỳ sống của chúng, hay nói cách khác là “đưa chúng vào trạng thái ngủ”. Sau một ngày, các tế bào khỏe mạnh sẽ tiếp tục chu kỳ sống của mình.
“Sau một ngày, các tế bào khỏe mạnh phục hồi được chu kỳ. Tuy các tế bào ung thư có kích thước lớn hơn và nhiều lysosomes hoạt động tích cực hơn nhưng thực tế cho thấy các tế bào này bị tổn thương và yếu đi so với các tế bào khỏe mạnh.
Và chúng tôi vẫn chưa lý giải được điều này”, giáo sư Breslin nhận định.
https://tokhoe.com/wp-content/uploads/2017/07/ca-gioi2.jpg
Ảnh Internet
Được biết, các thử nghiệm trên mới chỉ được thực hiện trong điều kiện phòng thí nghiệm, do đó, bước tiếp theo cần chứng minh được tác dụng của hoạt chất oleocanthal có trong dầu ô liu khi áp dụng trên cơ thể sống.
“Chúng tôi cần phải hiểu tại sao các tế bào ung thư lại trở nên nhạy cảm với chất oleocanthal hơn so với các tế bào khỏe mạnh khác”, David Foster, đồng tác giả nghiên cứu trên cho biết.
Theo báo cáo Ung thư công bố vào năm 2014 của Tổ chức Y tế thế giới WHO, trong năm 2012 có hơn 14 triệu ca mắc ung thư mới và hơn 8 triệu người tử vong vì căn bệnh này.
Vì vậy, phát hiên này được xem là một hy vọng mới trong việc tìm ra phương pháp chữa căn bệnh ung thư thành công.
Tác dụng phòng ngừa ung thư của dầu ô liu
Trong khi thử nghiệm hoạt chất trong dầu ô liu “tiêu diệt” tế bào ung thư trong vòng 30 phút vẫn đang còn nằm trong phạm vi phòng thí nghiệm thì tác dụng phòng ngừa ung thư của dầu ô liu lại được chứng minh bằng thực tiễn.
Các nhà khoa học của Trường Đại học Harvard (Mỹ) đã thực hiện một nghiên cứu với 26.000 người tham gia trong 8 năm.
Họ phát hiện ra những người ăn nhiều chất béo có lợi cho sức khỏe như dầu ôliu có thể giảm nguy cơ mắc bệnh ung thư lên đến 9%.
Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng chế độ ăn của người Địa Trung Hải có thể giảm nguy cơ bị ung thư, bệnh tim, bệnh tiểu đường, bệnh cao huyết áp và bệnh Alzheimer.
Mà thành phần quan trọng nhất trong các bữa ăn hàng ngày của người bản địa là dầu ô liu. Đây cũng được xem là yếu tố làm tăng sức khỏe và tuổi thọ của con người nơi đây.
https://tokhoe.com/wp-content/uploads/2017/07/ca-gioi3.jpg
Ảnh Internet
Các món ăn của người dân vùng Địa Trung Hải đều chứa dầu ô liu.
Còn các nhà nghiên cứu thuộc Đại học Navarra (Tây Ban Nha) đã tiến hành cuộc khảo sát với 4.282 phụ nữ nước này.
Sau gần 5 năm theo dõi, họ rút ra kết luận những người thường xuyên dùng dầu ô liu nguyên chất trong bữa ăn thì giảm 62% nguy cơ mắc ung thư vú.
Dầu ô liu có chứa axit oleic, vốn tác động trực tiếp đến các tế bào ung thư gây đột biến gen và chất squalene giúp chống ôxy hóa.

Tác dụng khác của dầu ô liu
– Tốt cho tim: Dầu ô liu tự nhiên chứa 70 % axit béo không bão hòa đơn, từ đó giúp làm giảm sự tích tụ cholesterol trong máu và làm giảm vấn đề liên quan tới tim mạch.
– Tốt cho tiêu hóa: Dầu ô liu được sử dụng như một loại bài thuốc thải độc cho cơ thể, cải thiện đường tiêu hóa. Bạn có thể uống 1-2 thìa dầu ô liu trước bữa sáng để tránh tình trạng táo bón.
– Chống viêm và kháng khuẩn: Các phenol có trong dầu ô liu có đặc tính kháng viêm.
https://tokhoe.com/wp-content/uploads/2017/07/ca-gioi4.jpg
Ảnh Internet
– Tốt cho xương khớp: Dầu ôliu nhờ chứa vitamin D và canxi giúp tăng cường chức năng đổi mới trong xương, thúc đẩy hệ xương phát triển, duy trì mật độ cho xương, giảm nguy cơ loãng xương.
– Giảm nguy cơ mắc đái đường: Dầu ô liu có tác dụng giảm nguy cơ mắc đái đường. Các chất dinh dưỡng giúp cải thiện sự đề kháng insulin và thúc đẩy điều hòa đường máu.
– Tốt cho gan và túi mật: Nếu sử dụng dầu ô liu hàng ngày, bạn sẽ giảm nguy cơ bị gan nhiễm mỡ và các rối loạn chức năng gan khác.
– Giảm cân: Dầu ô liu là một trong những nguồn thực phẩm tốt cho những người muốn giảm cân hoặc kiểm soát cân nặng.
– Ngăn ngừa thiếu máu: Quả ô liu giàu chất sắt, đây là một thành phần quan trọng giúp sản sinh ra hemoglobin, hoạt chất đóng vai trò vận chuyển oxy từ phổi đi khắp cơ thể.
– Làm đẹp: Dầu ô liu giúp cải thiện làn da, dưỡng tóc, dưỡng tay, chân …
Thân chuyển – Tài liệu sưu tầm – Tuỳ Nghi
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin