Category Archives: Sức Khỏe Và Đời Sống

Trả lời một số câu hỏi về mắt người già

Mắt tôi vẫn thấy rõ, tại sao phải đi khám mắt định kỳ?

 

Hàn Lâm Viện Nhãn Khoa khuyên bịnh nhận 40-65 tuổi nên đi khám mắt ở bác sĩ chuyên môn (ophthalmologist) cứ 2 đến 4 năm một lần dù không có bịnh, trên  65 tuổi nên khám một lần mỗi năm là ít nhất, có thể thường hơn.
Lý do :
Những thay đổi mắt ở người già xảy ra rất chậm, từ từ, làm bịnh nhân thích ứng với hoàn cảnh mà không để ý, không biết rằng mắt mình mờ hơn trước, hoặc thị trường (visual field) của mình bị thu hẹp lại, mình không còn thấy rõ những gì xảy ra ở ngoại biên tầm mắt mình, màu sắc các sự vật mình thấy không trung thực (ví dụ màu trắng mình tưởng là vàng), đêm tối lái xe, đèn phía trước chiếu vào mắt mình lóa không thấy rõ . Bác sĩ chuyên khoa mắt sẽ khám thấy những thay đổi đó và sẽ có những biện pháp thích hợp để chữa trị (như cho đeo kính để điều chỉnh khúc xạ mắt (refraction correction) , giải phẫu hay cho thuốc trị chứng cườm nước làm cao áp suất trong mắt, ngăn chặn những tổn thương có thể xảy tới cho mắt, giải phẩu lấy cườm và thay thế bằng thấu kính nhân tạo/artificial lens, giúp tránh tai nạn cho người lái xe) 
Tôi bị bịnh tiểu đường, mắt tôi không sao cả, tại sao bác sĩ bắt tôi đi khám mắt?
Bịnh tiểu đường, còn gọi là bịnh Đái tháo đường (diabetes mellitus) không phải chỉ có chứng đường  được thải ra nước tiểu mà còn ảnh hưởng đến hầu hết các bộ phận trong cơ thể người bịnh. Mắt là bộ phận bị ảnh hưởng nặng do bịnh đái đường.
Bịnh võng mạc do tiểu đường (diabetic retinopathy), làm hư hại võng mạc (là cái màng phía sau tròng mắt, nơi nhận hình ảnh do ánh sáng từ ngoài mắt chiếu vào), là lý do hàng đầu gây ra bịnh mù ở người lớn. Bịnh nhân cần được bác sĩ mắt nhõ thuốc làm nở con ngươi và khám võng mạc kỷ lưỡng (annual dilated fundoscopic  examination). và chữa trị, theo dõi kỹ lưỡng nếu bất bình thường. Ngoài ra, mổ cườm khô cho người tiểu đường dễ có biến chứng hơn ở người không tiểu đường.
Người bị tiểu đường cũng dễ bị cườm nước (glaucoma) hơn.
 
Mắt tôi bị cườm khô (cataract), muốn mổ  nhưng nhiều người bạn  nói mổ xong vẫn thấy mờ, mà vẫn mang kính mà không rỏ. Vậy có cần mổ không?
Cataract, hoặc cườm khô, là trường hợp thấu kính (lens) của mắt bị vẫn đục, cản trở ánh sáng từ ngoài vào rọi trên đáy mắt (retina). Muốn  thị giác toàn hão, ngoài việc thấu kính phải thông suốt, cần phải có một võng mạc (đáy mắt, retina) làm việc tốt (ví dụ không bị hư hoặc kém đi do đã bị thoái hóa vì tuổi già, hoặc hư vì bịnh tiểu đường như nói ở câu trả lời trên), và luôn những khâu khác của hệ thần kinh phải nguyên vẹn.. Cho nên, mổ mắt lấy cườm sẽ làm thị giác tốt hơn trước, thấy rõ hơn trước khi mổ, nhưng không nhất thiết là sẽ 20/20 (tối hảo) vì còn tùy thuộc các yếu tố khác của mắt và hệ thần kinh người bịnh.
Ngoài ra, nếu bị cườm khô (cataract), bác sĩ mắt không nhìn thấy rõ phần sau của mắt nên không theo dõi và chữa trị được những bịnh của võng mạc (retinopathy).Lấy cườm khô ra giúp cho công việc chăm sóc của mắt dễ dàng và tốt hơn.
 
Thế tại sao mổ cườm khô rồi mà vẫn mang kính (mang gương)?
Ở người trẻ bình thường, không cần mang kính cũng thấy rõ vật ở thật xa (vô tận, infinity) cũng như vật ở gần (đọc sách chữ nhỏ. Sở dĩ được như vậy vì thấu kính (lens) trong mắt người trẻ có khả năng thích ứng (accommodation), thay đổi tính khúc xạ của nó (tựa như máy hình hiện đại có thể tự động zoom xa và gần).
Thấu kính nhân tạo (thế thấu kính bịnh đã đục) không có khả năng thích ứng theo nhu cầu nhìn xa nhìn gần này, nên phải lựa chọn giữa một loại thấu kính nhìn gần và một loại thấu kính nhìn xa. Thường thì , khi mổ mắt cườm khô, một bên mắt thì bác sĩ gắn thấu kính nhìn gần, mắt kia thì bác sĩ gắn thấu kính nhìn xa để  bịnh nhân có thể sinh hoạt bình thường mà không cần đeo kính (mang gương). Tuy nhiên, những trường hợp như đọc sách chữ nhỏ, kéo dài, bịnh nhân cũng cần mang kính để mắt đỡ mệt và thấy rõ hơn.
Những tiến bộ trong vòng chừng mười năm nay của  khoa giải phẩu chữa bịnh khúc xạ (refraction surgery) dùng laser để trị chứng cận thị , hay dùng thấu kính nhân tạo trong mắt (intraocular lens) để trị chứng viễn thị nặng  giúp cho một số người cận thị (thấy gần mà không thấy xa) và viễn thị (thấy xa mà không thấy gần)  khỏi cần mang kính nữa. Những tiến bộ này được áp dụng cho những người mổ mắt vì cườm khô cũng được hưởng những lợi ích đó, là thêm vào việc mắt họ sáng ra (vì hết bị đục), mắt họ còn được chữa các vấn đề khúc xạ (refraction errors), giúp cho họ khỏi nhờ cậy đến các kính dày cộm sau khi mổ, nhưng có thể cần mang kính một đôi khi.  
 
Mắt tôi hay bị “chèm nhem”, bác sĩ cho nhỏ thuốc là nước mắt nhân tạo, tôi nhỏ vài hôm thì khỏi, sau bây giờ vẫn bị lại như cũ?
Sở dĩ mắt chúng ta luôn luôn trong sáng vì nước mắt được tiết ra liên tục, giữ cho mắt ướt và có tác dụng ngăn chặn nhiễm trùng, đồng thời hệ thống ống dẫn thải nước mắt (tear duct) dư đi vào mũi ở phía dưới. Người gìà, tuyến nước mắt làm việc kém đi, nhất là nếu mắc những bịnh làm giảm sút cơ năng hạch nước mắt , vì vậy mắt bị khô, nhất là lúc xem TV chăm chú , đọc sách lâu mà ít chớp mắt (“nhìn không chớp”). Do đó, mắt bị xốn, do phản xạ, nước mắt lại sản xuất tăng lên, chảy đi không kịp làm nhòa, nhòe mắt. Dùng nước mắt nhân tạo có ích cho trường hợp này nhưng phải dùng thường xuyên, không phải bớt triệu chứng rồi ngưng. Ngoài ra, nêu nhớ chớp mắt thường xuyên lúc đọc sách, xem phim, mang kính mát hoặc tránh chỗ gió nhiều làm khô mắt nhanh hơn.
Một số trường hợp, bác sĩ chuyên khoa mắt có thể gắn một nút (plug) bằng plastic vào kênh dẫn nước mắt để giữ nước mắt lại cho mắt đở khô.
Một số người già mí mắt bật ra ngoài (ectropion) nên không giữ được nước mắt, phải chảy ra ngoài. Có thể giải phẫu nếu cần.
Bác sĩ Nguyễn Quỳnh Anh
Bác sĩ Hồ Văn Hiền 
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Chuyện Cảm Cúm

Hỏi:

-Trị cảm và cúm khác nhau ra sao? Cách phòng cảm và cúm khác nhau thế nào?

 

-Có phải ai cũng cần phải chích ngừa cúm không? Và nên chích khi nào?

-Tôi nghe nói bị dị ứng với trứng thì không nên chích ngừa cúm. Có đúng không? Và nếu vậy thì nên làm gì để ngừa cúm?

-Nếu bị cúm thì có cần dùng trụ sinh không? Khi nào thì mới cần đi gặp bác sĩ?

-Bị cúm mà vẫn còn có thể đi làm được thì có nên đi làm không?

Ðáp:

Cách điều trị cúm

Trong cả hai bệnh cảm và cúm, nâng đỡ sức đề kháng của cơ thể và trị triệu chứng đều là điều rất quan trọng.

Chính sức đề kháng của cơ thể là thành phần chính chống chọi với vi rút cảm và cúm. Do đó, ta cần chú ý nâng đỡ sức đề kháng của mình bằng cách:

– Uống đủ nước

– Nghỉ ngơi đầy đủ

– Ăn uống dễ tiêu và cung cấp đủ năng lượng cho cơ thể bằng cách nấu thức dễ tiêu hóa, bổ dưỡng, ăn mỗi lần một ít nhưng ăn nhiều lần hơn.

Ngoài ra, ta có thể trị triệu chứng bằng cách:

– Súc miệng và họng bằng nước muối ấm và loãng. Cần chú ý là nên pha nước muối chỉ lạt. như nước mắt của ta, nếu mặn quá sẽ làm khó chịu, kích thích niêm mạc cổ họng, có thể làm ho nhiều hơn.

– Uống thuốc giảm đau, giảm sốt (nhớ tránh aspirin ở trẻ em).

– Thuốc uống khô mũi, thuốc ho.

– Xông mũi bằng nước ấm

Cần chú ý là trái với nhiều người tin tưởng, rất nhiều nghiên cứu cho thấy thuốc trụ sinh và vitamin C không giúp làm cho cảm và cúm mau hết hơn. Ngay cả, nếu nước mũi đổi màu, đó cũng không phải là dấu hiệu cho thấy ta cần trụ sinh.

Ta nên đi thăm bác sĩ nếu có sốt cao, đau vùng xoang, khó thở, đau nhức mình mẩy quá nhiều.

Nên đi sớm, vì nếu đó là cúm, tốt nhất là bắt đầu thuốc trị cúm trong vòng 48 tiếng đồng hồ đầu tiên, (dù rằng bắt đầu trễ hơn cũng có tác dụng, dù là kém hơn), nhất là ở những người già yếu.

Thuốc chống virus cúm có thể làm nhẹ và giảm bớt thời gian bị cúm khoảng 2 ngày. Có ba thuốc chống virus cúm được CDC khuyến cáo dùng (khi cần), cập nhật lần cuối hồi tháng Hai 2017, là Tamiflu® (generic name oseltamivir) and Relenza® (generic name zanamivir), và Rapivab® (peramivir – chỉ dùng qua đường tĩnh mạch). Cả ba đều cần bác sĩ khám và kê toa..

Làm sao để phòng cúm?

Cúm lây sang người khác thường nhất bằng các tiếp xúc trực tiếp với các chất tiết (như nước mũi) của người bệnh, có thể là từ tay người này sang tay người khác, hoặc qua trung gian như nắm cửa… Vi rút có thể tồn tại trong môi trường đến ba tiếng đồng hồ. Khi tay ta tiếp xúc với các chất tiết này, rồi dụi vào mắt mũi của mình, ta sẽ bị lây bệnh.

Do đó, điều quan trọng đầu tiên để phòng cúm là:

– Tránh tiếp xúc gần với người bệnh.

– Khi mình đã bị bệnh, thì tránh tiếp xúc với người khác để khỏi lây cho họ.

– Nếu có triệu chứng cúm, CDC khuyến cáo là bệnh nhân nên nghỉ ở nhà cho đến khi hết sốt ít nhất 24 tiếng đồng hồ mà không cần dùng thuốc hạ sốt.

– Nên rửa tay thường xuyên. Tốt nhất là rửa với xà bông và nước ấm, khoảng 20 đến 30 giây. Hai mươi đến ba mươi giây là khoảng thời gian mà ta hát bài “Happy birthday to you, happy birthday to you, happy birthday, happy birthday, happy birthday to you” khoảng hai lần. Nếu nước và xà bông có sẵn, thì có thể dùng loại dung dịch chà tay có alcohol.

– Không vứt bỏ khăn chùi mũi bừa bãi.

– Khi ho hay ách xì, nên che miệng bằng cánh tay, chứ không phải bằng bàn tay, để giảm bớt các chất tiết dính vào bàn tay rồi qua các vật dụng hoặc bàn tay người khác.

– Tránh sờ, móc tay, ngón tay vào mắt, mũi.

– Lau chùi các bề mặt có thể dính virus truyền bệnh cảm cúm (như nắm cửa, đồ chơi trẻ em…) với chất sát trùng.

Dù nằm trong các hạt li ti trong không khí sau khi người bệnh ho hay ách xì ra, vi rút lại không có trong nước bọt của người bệnh trong 90 phần trăm các trường hợp. Do đó, điều lý thú là bị (hay được) người bệnh hôn, thường không khiến ta bị lây bệnh.

Nhiều người vẫn tưởng là lạnh là một nguyên nhân gây ra cảm hay cúm. Thật ra, nhiều nghiên cứu cho thấy khí hậu lạnh không phải là nguyên nhân của cảm hay cúm. Lạnh có thể gây ra viêm mũi do co giãn mạch máu trong mũi (vasomotor rhinitis), có triệu chứng giống như cảm, nhưng đó không phải là cảm, và không lây. Tuy nhiên, dù sao, giữ cơ thể đủ ấm vẫn là điều tốt và cần thiết.

Bên cạnh các phương pháp phòng ngừa rất quan trọng kể trên, áp dụng cho cả cảm và cúm. Ta còn có thể để phòng cúm bằng cách dùng thuốc ngừa.

Thuốc ngừa cúm gồm có vắc xin, và thuốc trị cúm cũng có thể dùng để ngừa cúm.

Vắc xin ngừa cúm thường dùng nhất là loại thuốc chích, ra hàng năm. Thuốc phải thay đổi hàng năm vì như đã nói, vi rút cúm rất mau thay đổi cấu trúc di truyền, và mỗi năm người ta đều phải chế ra thuốc ngừa cho năm đó. Năm nay 2017, thuốc chích ngừa cúm đã sẵn sàng từ hồi giữa Tháng Tám 2017, ở hầu hết các phòng mạch bác sĩ.

Hiện nay (được cập nhật lần cuối hôm 15 Tháng Tám năm 2017), CDC khuyên tất cả mọi người từ 6 tháng tuổi trở lên đều nên chích ngừa cúm.

Những người có nguy cơ cao bị bệnh, và nếu bị thì dễ bị nặng, và bị biến chứng, cần chú ý để chủng ngừa hơn:

– Tất cả trẻ em từ 6 tháng đến 4 tuổi.

– Tất cả phụ nữ sẽ có thai.

– Người lớn từ 50 tuổi trở lên.

– Những người ở bất cứ tuổi nào có các bệnh kinh niên.

– Những người bị suy giảm miễn dịch (do thuốc, hay do bị nhiễm HIV)

– Những người từ 6 tháng đến 18 tuổi và đang phải uống aspirin kéo dài (sẽ có thể bị hội chứng Reye sau khi bị cúm).

– Những người ở trong nursing home hoặc những chỗ chăm sóc, nuôi dưỡng bệnh nhân khác.

– Những người bị béo phì nặng (BMI – cân nặng tính bằng kg chia bình phương của chiều cao tính bằng mét – từ 40 trở lên).

– Những người tiếp xúc với những người kể trên.

– Những người tiếp xúc và chăm sóc cho trẻ em dưới 5 tuổi và người lớn từ 50 tuổi trở lên

– Nhân viên y tế.

Theo khuyến cáo được cập nhật lần cuối hồi Tháng Hai năm 2017 của CDC, những người bị dị ứng không trầm trọng, với trứng, vẫn có thể được chích người cúm với những thuốc ngừa thích hợp với tuổi của họ, và không cần phải được theo dõi 30 phút sau khi được chủng ngừa.

Còn những người bị dị ứng trầm trọng với trứng, nếu chích ngừa, thì cần phải được theo dõi bởi những nhân viên y tế có khả năng chẩn đoán và điều trị các phản ứng dị ứng nặng.

Ngoài thuốc chủng ngừa, một số thuốc dùng để trị cúm (như Tamiflu) cũng có thể được dùng để ngừa cúm. Giống như trong việc điều trị, thuốc cần phải được bắt đầu trong vòng 48 tiếng từ khi tiếp xúc với người bệnh, phải có toa bác sĩ mới mua được thuốc này, và phải dùng ít nhất là bảy ngày. Liều ngừa bệnh khác với liều trị bệnh.

Tóm tắt

Cúm thường nặng hơn cảm, thường có sốt cao, rét, đau rêm mình mẩy.

Nếu nghĩ là cúm, hoặc nếu nghi là có các biến chứng nên đi bác sĩ sớm để được chẩn đoán và chữa sớm và thích hợp.

Nâng cao sức đề kháng bằng ăn, uống, nghỉ ngơi đầy đủ và trị triệu chứng là điều cần làm trong việc điều trị cả hai bệnh cảm và cúm.

Thuốc trị và ngừa cúm cần phải được dùng trong vòng 48 tiếng đống hồ đầu tiên mới mang lại hiệu quả tốt nhất.

Rửa tay với nước và xà bông khoảng 20-30 giây – bằng thời gian hát “Happy birthday to you” hai lần là điều đơn giản, không tốn kém, nhưng lại rất cần thiết và hiệu quả trong việc phòng cúm.

Tất cả mọi người từ 6 tháng tuổi trở lên, đều nên chích ngừa cúm. Những người có nguy cơ cao cần chích ngừa cúm càng sớm (hoặc càng ít trễ) càng tốt.

Thân mến

Bác Sĩ Nguyễn Trần Hoàng

www.nguyentranhoang.com
(714) 531-7930

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

SỨC KHỎE tuổi già​

Thưa quý thân hữu.

Trước hết, tôi rất  vui được biết Bs. Trần Mgộn Lâm được 
mạnh khoẻ, và gởi cho bài viết về  đề tài ĂN rất  hửu  ích 
cho tuổi thọ.
Nay, tôi còn 6 Tháng nữa sẽ  được 95 tuổi.
Lấy kinh nghiệm bản thân, tôi xin góp  ý thêm vào 4
bí quyết sống lâu của nguời dân OKINAWA như sau :
 
Tôi không ĂN theo tiêu chuẩn của nguời OKINAWA, 
mà tôi còn khoẻ về vật chất, cũng như tinh thần(xem hinh) chắc là nhờ:
1)-VÂT CHẤt:
a)-Khôg hút thuốc.
b)-Uống ruợu điều độ  (1 ly wine mỗi bữa ăn tối).
c)-Vận  động thể thao (chơi Tennis 80 năm. Hiện nay bớt      Tennis, nhưng mổi ngày tập 30 phút ơ phòng GYM            nhà già nơi tôi đang ở)
2)-TIN THẦN:
a)- không lo nghĩ chuyện gia đình (con cái thành đạt,             hiếu thảo).
b)- Vui tính , có nhiều bạn trong nhiều giới (thể thao,văn       thơ v..v…)
Tôi nghĩ rằng , nếu thiếu những yếu tố trên đây, thì dù cho
ĂN  đúng tiêu chuẩn OKINAWA, cũng không sống lâu được.
 
Tuy nói vậy , nhưng tôi tin rằng tuổi thọ của mỗi người đều 
do ông Nam-Tào giử  sổ  biết mà thôi.
 
Trân Công (Lão Mã Sơn)
 
TB-Hai ông bạn già trong số người nhận, ĐĐ HV Kỳ Thoại,
     và Bs Công Lê, là nhân chứng nhữg gì tôi nói bên trên.
    -Xin tặng quý  vị 2 bài thơ liên hệ ,đọc cho vui.
 
Thân chúc quý vị sống hơn 100 tuổi .Inline imageInline imageInline image
 
CT
Ăn.
Bài viết này, tôi xin bắt chước ông Song Thao để chỉ dùng một chữ ăn làm tựa đề. Tôi nói về một vấn đề mà ai cũng làm, ai cũng cần, đó là việc nhét thực phẩm vào bụng. Lẽ ra, tôi phải viết là nhét thực phẩm vào dạ, vì nhà văn Trà Lũ đã phân biệt rõ sau khi tra cứu sách vở là : dạ là phần trên rốn, còn bụng là phần dưới rốn. Thực phẩm trước khi xuống tới bụng, phải qua dạ trước đã. Xin cám ơn cụ Trà Lũ đã mở mang trí tuệ cho kẻ hèn này.Nhờ cụ Trà Lũ, mà tôi hiểu rõ tại sao người mình nói : Bụng cả hơn Dạ.
Tôi ít khi viết về bệnh tật, vì  chuyện bệnh tật không gây cảm hứng cho tôi nhưng mới đây một độc giả gửi email về cho tôi hỏi muốn ít bệnh tật khi về già, thì phải làm sao để được khoẻ mạnh, sống lâu, nên để khỏi phụ lòng ông bạn, tôi viết bài này.Coi như phá lệ, làm những chuyện mà tôi không muốn làm, không thuộc về những lãnh vực mà tôi thích thú.
Trước đây, khi còn nhỏ, mỗi khi tôi không ăn hết đồ ăn, địa phương tôi người ta gọi là bỏ mứa, thì mẹ tôi luôn luôn dây tôi rằng : Nhiều người không có cái gì ăn, con đừng bỏ mứa, phải tội. Lời dậy này đến nay tôi vẫn không quên tuy mẹ tôi qua đời đã lâu. Sau này, khi lập gia đình, gập khi tôi không ăn hết tô bún bò tổ chảng, thì luôn luân bị trách : Có vậy mà cũng không ăn hết. Hôm nay, tuy rất nhớ ơn mẹ, nhưng với tư cách người lo về sức khoẻ con người, tôi khẳng định một điều là : Nếu không còn đói nữa, thì nên buông đũa. Dĩ nhiên đó là một hành động xấu, phí phạm thức ăn, nhưng tôi có lý do của tôi, là vì tôi thấy không dễ chịu một chút nào khi ăn no quá, vậy tại sao lại tự mình làm khổ mình ?? Cái đói, tôi đã biết, trong khoảng thời gian từ tháng tư năm 1975 đến tháng tư năm 1977, khi tôi bị bọn mắc dịch bắt vào tù, nhưng từ khi sang Canada, tôi trở lại với tật xấu cũ là khi nào hết thích ăn, là ngưng, mặc ai nói ngả nói nghiêng..
Nguyên tắc này người Nhật gọi là HARA HACHI BU, nghĩa là muốn mạnh khỏe, phải ngưng ăn khi dạ dầy đầy đến 80%. Sau khi ăn uống xong, người Mỹ hay nói : I am full (tôi đầy ứ), trong khi một người Nhật ở tại OKINAWA lại nói : I am no longer hungry (tôi không còn đói nữa). Tại sao nói tới OKINAWA ?? Lý do là OKINAWA là nơi có nhiều người sống trên 100 tuổi, gấp 3 lần các nơi khác. Ông Dan Buettner, tác giả cuốn sách bán chạy hàng đấu THE BLUE ZONESdậy cách sống lâu, đã đến tận OKINAWA để xem người dân ở đây làm cách nào mà sống lâu như vậy.Ông đã cộng tác với National Geographic và nghiên cứu về đề tài Secrets of Long Life. Ngoài OKINAWA, ông còn đến nhiều nơi trên thế giới để nghiên cứu các nơi có người dân sống dai như các cụ Bành Tổ, thí dụ như đảo SARDINIA. Tuy nhiên,  OKINAWA đứng đầu trên thế giới. Tại OKINAWA, tác giả đã gặp một cụ bà tên Oshi Okushima, sống tại một cái làng mang tên Ogimi, bà ta trên 100 tuổi . Ông rất ngưỡng mộ cách sống của người phụ nữ này. Cũng tại OKINAWA, Dan đã có cơ hội gặp Craig Willcox và người anh song sinh của ông này là bác sỹ Bradley Willcox, tác giả của một nghiên cứu về cách ăn uống của đại học University of Toronto . Sau đó cả 3 người đến gập lão ông Toku Oyakawa 105 tuổi . Cụ này ăn cá mỗi ngày và có vợ lúc đó cũng đã được 92 tuổi. Tóm lại, tại OKINAWA, có rất nhiều cụ ông, cụ bà sống trên 100 tuổi. Tuy vậy giới trẻ tại Okinawa không khác gì những giới trẻ tại Mỹ hay tại các thành phố khác tại Nhật ngày nay, kể từ khi OKINAWA bị âu mỹ hóa, với Gà Kentucky và Mac Monald’s. Những người già trên 100 tuổi của OKINAWA khác với thế hệ sau của thành phố này ở chỗ : Họ chỉ ăn thịt vào những ngày lễ lớn như Lể Tân Niên (Lunar New Year) mà thôi, ngoài ra nguồn chất đạm của các cụ này đến tư cá và đậu nành. Cụ bà Kamanda Nakazato , 102 tuổi, sống tại bán đảo Motubu với hai người con đều trên 70 nhưng rất khỏe mạnh. Cụ cho biết trước thế chiến thứ hai, dân làng ăn uống rất đạm bạc, chỉ có lúa gạo, rau và một loại khoai ngọt mà dân ở đây gọi là IMO. Mỗi ngày, cụ dây sớm lúc 6 giờ sang, uống trà jasmin và cháo miso soup rồi làm việc, vậy mà rất khỏe. Hỏi đến thịt thì cụ cho biết chỉ ăn thịt vào lể đầu năm âm lịch. Hỏi đế hamburger và Coca Cola thì cho biết trong đời cụ chưa một lần uống Coca Cola còn hamburger thì nhiều năm về trước, cụ mới ăn lần đầu. Thế hệ cụ Kamanda, trước mỗi bữa ăn, thay vì nguyện cầu, cám ơn thương đế, thì người dân ở đây dành một vài phút và nói to : HARA HACHI BU, nghĩa là chúng ta hãy ăn vừa no nhé.Người dân OKINAWA, thuở xưa,trước đệ nhị Thế Chiến, mỗi khi gặp nhau, thay vì chào hỏi, họ nói : NMU KAMATOIN, nghĩa là anh hay chị đã ăn  khoai ngọt chưa ??
Tóm lại, theo Dan Buetter, thì bí quyết của người OKINAWA để sống lâu là :
1)      ặn chỉ vừa đủ để  làm đầy  80% dạ dầy mà thôi.
2)      ặn ít thịt động vật.
3)       ặn cá, thực vật, nhất là rau, đậu, Tofu, Tương, Chao
4)       Luôn luôn lạc quan, chú ý giúp đỡ tha nhân, có nhiều bạn bè, và có nụ cười .
Trong căn nhà Kamanda ở, nhất là trong bếp, các đồ nhà bếp rất nhỏ bé, không có kẹo, bánh gì hết.Tại chương số 9 của cuốn sách, tác giả The Blue Zones tóm tắt 7 yếu tố làm con người sống lâu, đó là cách ăn uống, bạn bè (đời sống xã hội), nghỉ ngơi, trà (herbal teas), rượu (nhưng vừa phải : 2 ly nhỏ rượu vang một ngày), Tôn giáo (niềm tin) và ít lo lắng (stress).
 Rất nhiều yếu tố khiến người ta ăn nhiều: vui với bạn bè, cách trình bầy bánh kẹo của các nhà sản xuất đẹp quá, hấp dẫn quá,mùi vị hấp dẫn quá, tiện trong tầm tay với…v..v Những điều đó là những cái bẫy, chúng ta phải tháo gỡ. Phải biết rằng mỗi con người đều có một cái mức về calaries, ta tạm gọi là caloric set point. Quá cái mức đó, ta sẽ bị mập. Mập phì đem đến nhiều bệnh tật như Huyết ấp cao, Tiểu đường, suy thận….v..v
Khi tôi còn đi học, trong lớp tôi có nhiều bạn to khoẻ, đẹp trai, phương phi béo tốt, da trắng nõn, các cô thiếu nữ chạy theo ầm ầm. Nay tôi đã trên 75 tuổi, tính toán lại, thấy phần lớn các bạn to khỏe đẹp trai đó chết họặc bệnh nặng, đi đứng phải chống gậy hay marchette, còn lại mấy thằng gầy gò, nhỏ bé, giống như tôi, thì lại khá hơn nhiều, dĩ nhiên có kém đi. tuổi già, ai mà chống lại được với thời gian !!!
Hải Thượng Lãn Ông có lý khi nói rằng : Bệnh do Khẩu Nhập-Họa do Khẩu Xuất.
Cẩn thận miếng ăn, lời nói, sẽ làm chúng ta bớt các vấn đề về sức khỏe.
Không có một nghiên cứu thống kê nào rõ rang về vấn đề nêu trên, nhưng kinh nghiệm cá nhân cho thấy những gì Dan Buettner viết ra trong cuốn sách The Blue Zones rất chính xác. Tôi chỉ viết lại một phần rất nhỏ, cần phải đọc cả cuốn sách thì mới thấy tại sao nó là một New York Bestsellers. Trong Internet, tìm đánh chữ Vitality Compass, sẽ thấy những câu hỏi. Trả lời những câu hỏi này, bạn sẽ có một ý niệm về quỹ thời gian còn lại của bản thân mình. Chắc không chính xác như máy tính, nhưng cũng vui vui.
 
Trần Mộng Lâm
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Thiếu chất này tăng nguy cơ bệnh tiểu đường, tim mạch

Sự thiếu hụt vitamin D có liên quan đến hàng loạt các vấn đề sức khỏe như tăng nguy cơ mắc bệnh Alzheimer, tiểu đường, loãng xương và bệnh tim mạch, thậm chí là ung thư.

 

Theo báo cáo của Nutrition Research, khoảng 42% người trưởng thành ở Mỹ thiếu chất vitamin D, trong khi một số nghiên cứu khác báo cáo con số này lên tới 75%.

Vitamin D rất quan trọng đối với cơ thể con người, nó đóng vai trò chính trong việc bảo đảm hoạt động của cơ bắp, tim, phổi và chức năng hoạt động của não. 

Sự thiếu hụt vitamin D có liên quan đến hàng loạt các vấn đề sức khỏe như tăng nguy cơ mắc bệnh Alzheimer, tiểu đường, loãng xương và bệnh tim mạch, thậm chí là ung thư. Thêm vào đó, nếu bạn được chẩn đoán mắc ung thư vú hoặc ung thư tuyến tiền liệt, cơ hội sống sót của bạn sẽ thấp hơn nếu cơ thể thiếu vitamin D.

Mặc dù số liệu thống kê này gióng lên hồi chuông báo động về tình trạng thiếu chất dinh dưỡng, tuy nhiên, hầu hết mọi người thường không để ý đến điều này. Vitamin D là vi chất đặc biệt không có quá nhiều trong các loại thức ăn hàng ngày (trừ cá hồi, sữa chua và sữa).

Thiếu chất này tăng nguy cơ bệnh tiểu đường, tim mạch: Bạn có thuộc nhóm người đang thiếu? - Ảnh 1.

(Ảnh minh họa)

Cách duy nhất để cơ thể nhận được dưỡng chất này nhiều là tiếp xúc với ánh nắng mặt trời buổi sáng, trong khi đó hầu hết những người làm công việc văn phòng không thể làm được việc này.

Giám đốc của GrassrootsHealth – tôt chức phi lợi nhuận với mục đích làm tăng nhận thức về tầm quan trọng của vitamin D cho biết, kiểm tra máu là cách tốt nhất để tìm hiểu bạn có thiếu chất dinh dưỡng này hay không.

Dưới đây là danh sách 10 nhóm người có nguy cơ thiếu vitamin D cao nhất:

1. Nhóm người trên 55 tuổi

Khi chúng ta già đi, nhiều người có xu hướng ít vận động hơn, thời gian ở bên ngoài trời cũng ít hơn, cơ thể cũng yếu đi, từ đó, việc cơ thể thu nhận vitamin D cũng ít hơn. Đây là lý do vì sao hầu hết người già đều bị loãng xương.

Bên cạnh đó, da lão hóa cũng hạn chế việc tổng hợp vitamin D hiệu quả, theo một nghiên cứu của Canada năm 2007. Thực tế, theo báo cáo có khoảng 50% người cao tuổi ở Mỹ bị gãy xương hông do nồng độ vitamin D thấp trong máu.

2. Nhân viên văn phòng

Thiếu chất này tăng nguy cơ bệnh tiểu đường, tim mạch: Bạn có thuộc nhóm người đang thiếu? - Ảnh 2.

(Ảnh minh họa)

Nếu bạn làm việc trong văn phòng từ 9h sáng đến 17h chiều, xin chia buồn bởi bạn đã nằm trong nhóm người thiếu vitamin D trầm trọng. Theo Viện Y tế Quốc gia Mỹ (NIH), những người có nghề nghiệp hạn chế tiếp xúc với ánh sáng mặt trời dường như cơ thể không đủ vitamin D. Dù vậy, bạn vẫn có thể bổ sung chất này thông qua chế độ ăn uống thông minh để giữ sức khỏe.

3. Nhóm người có làn da sẫm màu

Nhiều báo cáo khác nhau cho thấy, ở những người có da sẫm màu (Da đen) thường có mức vitamin D thấp hơn ở những người da trắng hoặc da vàng. Nguyên nhân là bởi, người da sẫm màu có nhiều melanin hơn trong lớp biểu bì – lớp ngoài cùng của da, điều này ngăn ngừa cơ thể tổng hợp vitamin D từ ánh sáng mặt trời.

Do vậy, nếu bạn có làn da sẫm màu, tốt nhất bạn nên tổng hợp vitamin D từ chế độ ăn nhiều hơn.

4. Bệnh nhân viêm đại tràng

Vitamin D là vitamin có khả năng hòa tan trong chất béo, điều đó có nghĩa là sự hấp thụ của chất này phụ thuộc vào lượng mỡ trong ruột. Trên thực tế, có đến 70% người mắc bệnh viêm ruột (bệnh Crohn và viêm loét đại tràng) không đủ vitamin D. Do vậy, nếu bạn mắc chứng bệnh này, nên tham khảo ý kiến bác sĩ và chuyên gia dinh dưỡng để bổ sung vitamin D.

Thiếu chất này tăng nguy cơ bệnh tiểu đường, tim mạch: Bạn có thuộc nhóm người đang thiếu? - Ảnh 3.

(Ảnh minh họa)

5. Nhóm người ăn chay

Hầu hết các thực phẩm chứa vitamin D đều có nguồn gốc từ động vật như cá hồi, lòng đỏ trứng. Một số thực phẩm khác cũng có chất dinh dưỡng này là sữa và các chế phẩm từ sữa, những người ăn chay thường thiếu vi chất dinh dưỡng quan trọng này.

Tuy nhiên, các chuyên gia dinh dưỡng cho biết, những người ăn chay có thể bổ sung vitamin D thông qua các sản phẩm từ đầu nành, bột yến mạch và nấm, mặc dù những thực phẩm này không chứa nhiều vitamin D như nguồn thực phẩm động vật.

6. Những người có tỷ lệ % mỡ trong cơ thể cao

Nếu bạn có chỉ số khối cơ thể (BMI) trên 30 hoặc tỷ lệ % mỡ trong cơ thể cao thì vitamin D sẽ ít hơn người bình thường.

7. Nhóm người uống thuốc kê toa

 

Các loại thuốc chứa corticosteroid như prednisone, thuốc giảm cân như orlistat, và cholestyramine giảm cholesterol có thể làm giảm sự tổng hợp vitamin D.

8. Nhóm người bị đau khớp và đau cơ thường xuyên

Nếu thời gian gần đây bạn được chẩn đoán viêm khớp hoặc đau xơ cơ, đây có thể là dấu hiệu của cơ thể thiếu vitamin D.

Thiếu chất này tăng nguy cơ bệnh tiểu đường, tim mạch: Bạn có thuộc nhóm người đang thiếu? - Ảnh 4.

(Ảnh minh họa)

9. Những người bị trầm cảm

Theo một nghiên cứu của Tạp chí Nghiên cứu Tâm thần học Anh trên 31.000 người, những người có mức vitamin D thấp trong máu có thể dễ bị chẩn đoán mắc bệnh trầm cảm cao gấp 2 lần so với những người có mức độ vitamin D cao hơn. Các chuyên gia y tế cho rằng, vitamin D có thể làm thay đổi hormone và các vùng não ảnh hưởng đến việc điều chỉnh tâm trạng.

10. Nhóm người bị đau đầu mãn tính

Theo nghiên cứu năm 2017 trên 2.600 người đàn ông, nếu bạn bị nhức đầu thường xuyên, lượng vitamin D trong máu thấp có thể là nguyên nhân. Theo đó, những người tham gia nghiên cứu mức vitamin D thấp có thể tăng gấp 2 lần nguy cơ nhức đầu kinh niên.

Mặc dù mối liên hệ giữa nhức đầu và vitamin D vẫn còn chưa rõ ràng, nhưng các nhà nghiên cứu cho rằng, bổ sung vitamin D có thể giúp chống lại chứng viêm gây ra đau nửa đầu và nhức đầu.

*Theo Prevention

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

TS Mỹ chỉ rõ 6 dấu hiệu cơ thể nhiễm độc kim loại nặng và cách thải độc hiệu quả

TS Mỹ chỉ rõ 6 dấu hiệu cơ thể nhiễm độc kim loại nặng và cách thải độc hiệu quả

TS Mỹ Josh Axe cho biết, việc cơ thể bị phơi nhiễm kim loại nặng lâu dài có thể dẫn đến thoái hóa cơ thể, cơ bắp và thần kinh.

 

Các kim loại nặng như nhôm, asen, thiếc, cadmium, thủy ngân và chì… tích tụ trong cơ thể có thể gây ra nhiều bất lợi cho chức năng ti thể.

Khi cơ thể bị nhiễm độc kim loại nặng, bạn có xu hướng thu hút các điện từ trường có hại vào cơ thể. Điện từ trường lần lượt ảnh hưởng đến sự trao đổi chất của cơ thể cũng như khả năng loại bỏ các kim loại nặng này ra khỏi cơ thể.

Theo TS Mỹ Joseph Michael Mercola, các khoáng chất như magie, kẽm, selen, kali và iot là các chất hỗ trợ cơ thể giải độc các kim loại nặng rất tốt. 

TS Mỹ chỉ rõ 6 dấu hiệu cơ thể nhiễm độc kim loại nặng và cách thải độc hiệu quả - Ảnh 1.

TS Mỹ Joseph Michael Mercola

TS Mercola cho biết, thải độc là là một trong những phương pháp bảo vệ sức khỏe tối ưu. Các kim loại độc tích tụ trong cơ thể có thể dẫn đến mệt mỏi mãn tính. 

Chuyên gia dinh dưỡng Wendy Myers – người sáng lập LiveTo110.com cho biết, các kim loại nặng tích tụ trong cơ thể có thể gây bất lợi cho chức năng ty lạp thể bao gồm:

1. Nhôm. Đây là một kim loại phổ biến trong môi trường, chúng xuất hiện trong không khí chúng ta hít thở. Nhôm cũng được tìm thấy trong nhiều loại vắc xin. 

Loại kim loại này cũng được sử dụng trong các nhà máy xử lý nước để tách các trầm tích. Ngoài ra, kim loại này còn có trong thuốc khử mùi, lon nước, giấy bạc, dụng cụ nấu ăn và các nguồn tiếp xúc hàng ngày khác.

Nhôm tích tụ trong cơ thể quá nhiều có thể cản trở các enzyme vân chuyển chất dinh dưỡng vào ty thể, ngăn cản khả năng sản xuất năng lượng cho cơ thể. Chuyên gia dinh dưỡng Myers cho biết: “Loại bỏ nhôm và các chất độc khác ra khỏi cơ thể, chúng ta sẽ cảm thấy mức năng lượng phục hồi nhanh chóng, ngay cả ở những người bị mệt mỏi kinh niên”.

TS Mỹ chỉ rõ 6 dấu hiệu cơ thể nhiễm độc kim loại nặng và cách thải độc hiệu quả - Ảnh 2.

2. Arsenic. Kim loại này được tìm thấy trong thuốc kháng sinh dùng cho gà nuôi đẻ trứng. Để tránh arsenic, tốt nhất bạn nên chọn ăn trứng hữu cơ. Bên cạnh đó, kim loại này còn được tìm thấy trong gạo và một số thực phẩm khác như rượu vang, nước uống và nước táo đóng chai.

3. Thiếc. Kim loại này có thể ảnh hưởng đến chức năng ty thể trong cơ thể bạn.

4. Thallium. Đây là thành phần phụ gia trong xăng, là chất gây ô nhiễm không khí thải ra từ khói bụi và khói xe. Rất ít người biết rằng, kim loại này tích tụ trong cơ thể có thể gây ra sự mệt mỏi mãn tính.

Chuyên gia dinh dưỡng Myers cho biết, chúng ta nên coi việc thải độc như một thói quen lành mạnh nên làm định kỳ hàng tháng, 6 tháng hay 1 năm.

TS Mỹ Josh Axe cho biết, việc cơ thể bị phơi nhiễm kim loại nặng lâu dài có thể dẫn đến thoái hóa cơ thể, cơ bắp và thần kinh.

Dấu hiệu phổ biến cảnh báo cơ thể đang bị tích tụ kim loại nặng

– Mệt mỏi

– Bệnh tự miễn

– Rối loạn thần kinh

– Trầm cảm, lo âu

– Đãng trí

– Mất ngủ

TS Mỹ chỉ rõ 6 dấu hiệu cơ thể nhiễm độc kim loại nặng và cách thải độc hiệu quả - Ảnh 3.

Một trong những triệu chứng của cơ thể bị tích tụ kim loại nặng.

 Thực phẩm thải độc kim loại nặng

Theo TS Josh Axe, các thực phẩm này có tác dụng thải độc cơ thể rất hiệu quả:

– Thực phẩm giàu vitamin C: Trái cây và rau quả giàu vitamin C có thể làm giảm tổn thương do độc tính kim loại nặng bởi hoạt chất chống oxy hóa dồi dào.

– Rau lá xanh: Các loại rau lá xanh như cải xoăn, rau bina và rau mùi tây có tác dụng khử độc, giảm sự tích tụ của các loại kim loại nặng như thủy ngân trong cơ thể.

 

– Tỏi và hành tây: loại gia vị này có chứa lưu huỳnh giúp gan giải độc các kim loại nặng như chì và asen.

– Nước: Uống 2 lít nước (tổng lượng nước) để giúp cơ thể tiêu độc.

– Hạt lanh và chia: Chất béo omega 3 và chất xơ trong 2 loại hạt này giúp giải độc ruột kết và giảm viêm.

Thực phẩm cần tránh

Các loại cá nuôi có chứa kim loại nặng, dioxin và PCB có độc tính cao

– Chất gây dị ứng thức ăn: Nếu cơ thể bạn phản ứng với các chất gây dị ứng thông thường, cơ thể sẽ không thể tự giải độc sau khi bị nhiễm độc kim loại nặng.

– Thức ăn không hữu cơ: Những loại thực phẩm này làm tăng sự phơi nhiễm của cơ thể với các hóa chất, khiến cho các triệu chứng tồi tệ hơn.

– Thực phẩm có chứa phụ gia: Các chất phụ gia có thể làm trầm trọng thêm các triệu chứng nhiễm độc, làm giảm khả năng thải độ của cơ thể.

– Rượu: Rượu bia có thể khiến gan khó xử lý các chất độc khác, gây hiện tượng chất độc tích tụ lại trong cơ thể.

*Theo Mercola/Dr

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Tìm Thấy Hoạt Chất Khiến Tế Bào Ung Thư “tự Sát” Trong 30 Phút

Cả Thế Giới Ăn Mừng Nào: Tìm Thấy Hoạt Chất Khiến Tế Bào Ung Thư “tự Sát” Trong 30 Phút   

Bởi Lê Quang  -11/07/2017

Theo kết quả nghiên cứu do nhóm các nhà khoa học của trường Đại học Rutgers và Hunter (Mỹ) thì các nhà khoa học Mỹ đã phát hiện ra mlột hoạt chất trong dầu ô liu có thể khiến các tế bào ung thư “tự sát” trong 30 phút.
https://tokhoe.com/wp-content/uploads/2017/07/ca-gioi1.jpg
Ảnh Internet
Theo kết quả nghiên cứu do nhóm các nhà khoa học của trường Đại học Rutgers và Hunter (Mỹ) công bố trên Tạp chí Phân tử & Tế bào ung thư, hoạt chất oleocanthal trong dầu ô liu có thể tiêu diệt được tế bào ung thư có tên lysosome.
Cần phải hiểu oleocanthal có trong dầu olive extra-virgin thu được sau lần ép đầu tiên. Đây là loại dầu oliu tốt nhất được sản xuất bằng phương pháp ép lạnh giữ được nguyên mùi vị, không có chất bảo quản hay thêm bất cứ phụ gia nào.
Cụ thể, sau khi áp dụng xử lý oleocanthal lên các tế bào ung thư, các nhà khoa học thấy rằng các tế bào ung thư chết rất nhanh trong chưa đến 30 phút. Trong khi đó, chết tế bào theo chương trình cần khoảng 16-24 giờ.
Bộ 3 nhà nghiên cứu ung thư Paul Breslin của Đại học Rutgers và David Foster và Onica Legendre của Trường Đại học Hunter đã phát hiện ra rằng các tế bào ung thư bị tiêu diệt bởi chính enzyme trong nó.
Chất oleocanthal đã phá vỡ các túi bào lysosome bên trong tế bào ung thư, nơi chứa các chất thải của tế bào. Về cơ bản, các nhà khoa học cho rằng các tế bào tự sát.
Ngoài ra, hợp chất này không gây tổn hại đến các tế bào khỏe mạnh, chúng chỉ tạm thời dừng chu kỳ sống của chúng, hay nói cách khác là “đưa chúng vào trạng thái ngủ”. Sau một ngày, các tế bào khỏe mạnh sẽ tiếp tục chu kỳ sống của mình.
“Sau một ngày, các tế bào khỏe mạnh phục hồi được chu kỳ. Tuy các tế bào ung thư có kích thước lớn hơn và nhiều lysosomes hoạt động tích cực hơn nhưng thực tế cho thấy các tế bào này bị tổn thương và yếu đi so với các tế bào khỏe mạnh.
Và chúng tôi vẫn chưa lý giải được điều này”, giáo sư Breslin nhận định.
https://tokhoe.com/wp-content/uploads/2017/07/ca-gioi2.jpg
Ảnh Internet
Được biết, các thử nghiệm trên mới chỉ được thực hiện trong điều kiện phòng thí nghiệm, do đó, bước tiếp theo cần chứng minh được tác dụng của hoạt chất oleocanthal có trong dầu ô liu khi áp dụng trên cơ thể sống.
“Chúng tôi cần phải hiểu tại sao các tế bào ung thư lại trở nên nhạy cảm với chất oleocanthal hơn so với các tế bào khỏe mạnh khác”, David Foster, đồng tác giả nghiên cứu trên cho biết.
Theo báo cáo Ung thư công bố vào năm 2014 của Tổ chức Y tế thế giới WHO, trong năm 2012 có hơn 14 triệu ca mắc ung thư mới và hơn 8 triệu người tử vong vì căn bệnh này.
Vì vậy, phát hiên này được xem là một hy vọng mới trong việc tìm ra phương pháp chữa căn bệnh ung thư thành công.
Tác dụng phòng ngừa ung thư của dầu ô liu
Trong khi thử nghiệm hoạt chất trong dầu ô liu “tiêu diệt” tế bào ung thư trong vòng 30 phút vẫn đang còn nằm trong phạm vi phòng thí nghiệm thì tác dụng phòng ngừa ung thư của dầu ô liu lại được chứng minh bằng thực tiễn.
Các nhà khoa học của Trường Đại học Harvard (Mỹ) đã thực hiện một nghiên cứu với 26.000 người tham gia trong 8 năm.
Họ phát hiện ra những người ăn nhiều chất béo có lợi cho sức khỏe như dầu ôliu có thể giảm nguy cơ mắc bệnh ung thư lên đến 9%.
Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng chế độ ăn của người Địa Trung Hải có thể giảm nguy cơ bị ung thư, bệnh tim, bệnh tiểu đường, bệnh cao huyết áp và bệnh Alzheimer.
Mà thành phần quan trọng nhất trong các bữa ăn hàng ngày của người bản địa là dầu ô liu. Đây cũng được xem là yếu tố làm tăng sức khỏe và tuổi thọ của con người nơi đây.
https://tokhoe.com/wp-content/uploads/2017/07/ca-gioi3.jpg
Ảnh Internet
Các món ăn của người dân vùng Địa Trung Hải đều chứa dầu ô liu.
Còn các nhà nghiên cứu thuộc Đại học Navarra (Tây Ban Nha) đã tiến hành cuộc khảo sát với 4.282 phụ nữ nước này.
Sau gần 5 năm theo dõi, họ rút ra kết luận những người thường xuyên dùng dầu ô liu nguyên chất trong bữa ăn thì giảm 62% nguy cơ mắc ung thư vú.
Dầu ô liu có chứa axit oleic, vốn tác động trực tiếp đến các tế bào ung thư gây đột biến gen và chất squalene giúp chống ôxy hóa.

Tác dụng khác của dầu ô liu
– Tốt cho tim: Dầu ô liu tự nhiên chứa 70 % axit béo không bão hòa đơn, từ đó giúp làm giảm sự tích tụ cholesterol trong máu và làm giảm vấn đề liên quan tới tim mạch.
– Tốt cho tiêu hóa: Dầu ô liu được sử dụng như một loại bài thuốc thải độc cho cơ thể, cải thiện đường tiêu hóa. Bạn có thể uống 1-2 thìa dầu ô liu trước bữa sáng để tránh tình trạng táo bón.
– Chống viêm và kháng khuẩn: Các phenol có trong dầu ô liu có đặc tính kháng viêm.
https://tokhoe.com/wp-content/uploads/2017/07/ca-gioi4.jpg
Ảnh Internet
– Tốt cho xương khớp: Dầu ôliu nhờ chứa vitamin D và canxi giúp tăng cường chức năng đổi mới trong xương, thúc đẩy hệ xương phát triển, duy trì mật độ cho xương, giảm nguy cơ loãng xương.
– Giảm nguy cơ mắc đái đường: Dầu ô liu có tác dụng giảm nguy cơ mắc đái đường. Các chất dinh dưỡng giúp cải thiện sự đề kháng insulin và thúc đẩy điều hòa đường máu.
– Tốt cho gan và túi mật: Nếu sử dụng dầu ô liu hàng ngày, bạn sẽ giảm nguy cơ bị gan nhiễm mỡ và các rối loạn chức năng gan khác.
– Giảm cân: Dầu ô liu là một trong những nguồn thực phẩm tốt cho những người muốn giảm cân hoặc kiểm soát cân nặng.
– Ngăn ngừa thiếu máu: Quả ô liu giàu chất sắt, đây là một thành phần quan trọng giúp sản sinh ra hemoglobin, hoạt chất đóng vai trò vận chuyển oxy từ phổi đi khắp cơ thể.
– Làm đẹp: Dầu ô liu giúp cải thiện làn da, dưỡng tóc, dưỡng tay, chân …
Thân chuyển – Tài liệu sưu tầm – Tuỳ Nghi
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Tai biến mạch máu não và sự phục hồi .

Một Tài Liệu rất hữu ích để tham khảo! 
  
Gửi cho quý vị cùng xem bài dịch tiếng Việt cuốn sách của JILL TAYLOR nói về TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO VÀ SỰ PHỤC HỒi.
Tôi đặc biệt chú ý đến phần bà nói về hoạt động của ÓC TRÁI &    TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO VÀ SỰ PHỤC HỒI, rất chi tiết. Thưa quý vị, 
Tôi rất cám ơn tất cả những vị đã dịch và chuyển đến tay tôi bài viết của bà bác sĩ thần kinh não bộ Jill Taylor, người bị tai biến mạch máu não (stroke hay AVC) năm 1996 và nay đã bình phục. 
Tôi cũng đã là một nạn nhân của stroke cách đây 7 năm, nhưng ở trong số 83% (stroke ischemic, mạch máu não bị tắc), không như bà Jill Taylor trong số 17% (stroke hemorragic, mạch máo não bị vỡ). 
Bài viết của bà BS Taylor đã hết sức đầy đủ cả về phương diện khoa học, lý trí đến phương diện tâm tâm lý, tâm linh. Tôi không thấy, và không dám, viết gì thêm về chuyện này. Tuy nhiên, có một số diểm, tôi không thấy nhắc đến trong chuyện này. Bởi vậy, tôi muốn trình bầy lại dưới đây để quý vị tùy nghi thẩm định: 
1. Năm 1996 người ta chưa biết đến một phương thuốc mới trị stroke. Sau 2000, người ta đã tìm ra một phương thuốc để trị stroke, gọi là tPA, hay là tissue Plasmimogen Activator. Thuốc này chỉ hiệu nghiệm nếu bệnh nhân bị stroke được chữa trị trong vòng 3 hay 3 tiếng rưỡi đồng hồ mà thôi. Gần như khỏi hẳn. Sau đó, trễ hơn, vô phương cứu chữa. 
Hồi tôi bị stroke, được con cháu mang vào một nhà thương có tiếng vùng tôi ở. Nhưng tại đó, sau khi tìm ra chắc chắn là tôi bị stroke (mất khá nhiều thì giờ), họ phải chuyên chở đến một nhà thương khác. Đến nơi thì đã quá trễ. Tôi đã bị stroke với tất cả những hậu quả của stroke, gần giống như những gì tả trong bài viết của BS Taylor. 
Kết luận: Những ai thấy mình có thể bị stroke, xin hãy vào ngay bệnh viện thật sớm để được chữa trị ngay trong vòng ba bốn tiếng đồng hồ bằng tPA. 
2. Stroke là một bệnh có tính cách di truyền. Trong gia đình nếu thấy có người bị stroke rồi thì anh em, hoặc con cái (như gia đình tôi) rất có thể cũng sẽ bị stroke. 
Kết luận: Trong trường hợp này, phải hết sức cẩn thận, trong việc ăn uống thuốc men, mục đích để giảm thiểu cholesterol, áp huyết cao, tiểu đường nay tiền-tiểu đường.., kể cả trong việc giữ gìn sức khỏe (tập thể dục, đi bộ mỗi ngày…) 
3. Tôi tin rằng vận động thân thể cũng như luyện tập trí óc là một phần không thể thiếu trong việc phòng ngừa bị stroke cũng như sớm hồi phục sau khi bị stroke. Tôi có một ông anh rể, bác sĩ về thần kinh não bộ như bà Jill Taylor, năm nay đã 80 tuổi, vẫn chạy marathon, mỗi lần đến chơi, tôi thấy cầm một cuốn sách Hán Văn Tự Học, đôi khi lại đem một phương trình Vi phân và Tích phân (calcul differentiel et integral) ra hỏi chúng tôi. Anh tôi nói rằng, tuy đã có tuổi, mình vẫn phải học, học đi học lại cho trí óc dược minh mẫn khỏi bị cùn lụt đi, vẫn phải tập thể dục mỗi ngày. Thấy tôi hàng ngày lên mạng, viết “blog”, anh tôi cho rằng đó là một việt rất nên làm mặc dầu bị bà xã (em gái ông ta) quở trách. 
Đó là một vài lời thô thiển để góp ý với tất cả mọi người, với lòng tri ân đến tất cả những vị đã dịch và chuyển đến tay tôi bài viết của bà bác sĩ thần kinh não bộ Jill Taylor.
P.
 
Xin chuyển tiếp để tham khảo kinh nghiệm được ghi lại của môt người bị TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO VÀ SỰ PHỤC HỒI, rất chi tiết. 
Minhha 
<image003.png>
 Gởi bạn cùng tham khảo.
 
TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO VÀ SỰ PHỤC HỒI
 
Tác Giả : TS Jill Bolte Taylor
Dịch Giả : TS Minh Tâm
 
Đôi Giòng Tâm Sự 
Mỗi bộ óc con người đều có một câu chuyện và sau đây là câu chuyện của bộ óc tôi…Hơn mười năm trước đây, tôi là giáo sư Đại học Y Khoa Harvard, chuyên nghiên cứu và giảng dạy cho sinh viên về bộ óc của con người. Nhưng vào ngày 10 tháng 12 năm 1996, tôi đã học được bài học về não bộ từ chính bộ óc của mình.
    Sáng hôm ấy, bản thân tôi đã trãi qua một dạng “đứt mạch máu não” rất ít khi có,từ bán cầu Trái của não bộ. Sự xuất huyết trầm trọng này là do một mạch máu não bất thưòng từ lúc sơ sinh đã không được khám nghiệm và cắt bỏ, nay thình lình vỡ ra. Trong bốn tiếng đồng hồ ngắn ngủi, với đôi mắt kinh nghiệm của một nhà nghiên cứu tế bào não bộ học, tôi đã chứng kiến bộ óc tôi từ từ băng hoại đến độ hoàn toàn tê liệt trong khả năng phân định các sự kiện diễn biến chung quanh. Đến cuối sáng hôm đó, tôi đã không còn có thể đi đứng, ăn nói, đọc viết hoặc nhớ lại những gì đã xảy ra từ trước trong đời. Nằm vo tròn như một thai nhi trong bụng mẹ, tôi cảm giác mình sắp chết, không còn chút hỉ vọng nào có thể sống sót để kể lại câu chuyện này cho bất kỳ ai.
Những điều cần biết về Tai biến mạch máu não là một tài liệu khoa học được ghi lại theo thứ tự thòi gian. Và cũng theo đó, từ vực thẳm vô hình của một đầu óc hoàn toàn rỗng lặng, tôi đã khám phá ra sự an tĩnh của nội tâm mà những nhà khoa học não bộ như tôi không mấy khi có dịp trãi nghiệm. Như tôi được biết, đây là tài liệu lần đầu tiên được ghi lại từ một nhà Tế bào thần kinh học, qua kinh nghiệm
bản thân mình, sau khi đã phục hồi vì một cơn xuất huyết não trầm trọng. Tôi rất vui mừng vì tập tài liệu này cuối cùng đã được in ra và phổ biến khắp thế giới để mọi người có thể biết mà chạy chữa đúng lúc và đúng cách. 
Hơn tất cả mọi thứ trên đời, tôi rất biết ơn Thượng đế đã cho tôi cơ hội sống còn và ca ngợi sư hiện hữu hôm nav. Ban đầu, tôi được khuyến khích để vượt qua bạo bệnh và phục hồi là nhờ vào những người có lòng gửi cho các lá thư tràn đầy tình yêu thương vô bờ bến. Rồi qua nhiều năm, tôi vẫn kiên trì trong nỗ lực phục hồi, do vì biết bao câu hỏ gửi đến chưa được trả lời. Như một phụ nữ trẻ đã gửi
thư hỏ tôi rằng: Tại sao bà mẹ của cô khi bị tai biến mạch máu não mà không thể tự mình gọi điện thoại cấp cứu, nên đã Phải chết? (Người Mỹ không có thói quen khỉ con cái đã trưỏng thành mà còn ỏ chung nhà với cha mẹ.), hay một người đàn ông lớn tuổi khác, vẫn còn mãi đau buồn về cái chết của bà vợ, đã hỏi:Vì sao tai biến mạch máu não đã làm bà phai nằm mê man bất động cho đến khi qua đời?
Rồi thư của những người chăm sóc bệnh nhân tai biến não hỏ tôi về đưòng hướng và hi vọng trong sự điều trị. Cho nên tôi đã quyết tâm hoàn tất tập tài liệu này cho 700 ngàn người bị tai biến não hằng năm trong xã hội ta. Chỉ cần một người đọc chương “Buổi sáng ngày bị tai biến” để nhận diện được triệu chứng nguy cấp, rồi gọi ngay cấp cứu – gọi liền chứ không nên trễ, để cứu một mạng người – thì
những công sức tôi đã bỏ ra để viết quyển sách này kể như đã được đền bù xứng đáng.
 
Quyển sách này đươc chia ra làm bốn Phần
I. Phần một nói về cuộc đời tôi trước khi Xuất huyết não xảy ra. Bạn sẽ biết tại sao tôi lớn lên và quyết định thành một nhà khoa học về não bộ với tràn đầy nghị lực và lý tưỏng.
Tôi rất tích cực hoạt động trong lãnh vực này. Tôi là một giáo sư khoa Não bộ học của Đại học Harvard và là thành viên trẻ tuổi nhất trong Ủy ban nghiên cứu về các bệnh thần kinh. Tôi đi khắp nước diễn thuyết về căn bệnh và cách trị liệu và kêu gọi những người bệnh khỉ qua đời thì thân nhân họ nên hiến bộ óc cho viện đại học để nghiên cứu.
II. Nếu bạn hiếu kỳ muốn biết thế nào là bị Tai biến mạch máu não thì Phần hai, “Buổi sáng ngày bị Tai biến”, là chương bạn nẽn đọc. Trong phần này, tôi sẽ dẫn bạn qua một hành trình lạ thường để bạn thấy được những suy sụp từ từ về khả năng hiểu biết – cái biết hiện tại về sự vật chung quanh và cái biết về những điều đã học hỏi trong quá khứ – của người bị Tai biến, dưới cái nhìn của một nhà khoa
học.  Khi não của tôi bị xuất huyết càng lúc càng nhiều thì tôi biết rằng đấy là sự mất mát và suy sụp của trí tuệ về phương diện Sinh học. Còn về phương diện Tế bào thần kỉnh học, Phải thú nhận rằng tôi đã học được rất nhiều về não bộ và sự vận hành của nó trong buổi sáng xuất huyết này, nhiều như tôi đã học hỏi trong bao năm khoa bảng. Đến cuối buổi sáng hôm ấy, ý thức của não bộ còn lại – não bộ Phải – đã đưa tôi sang một vùng nhận thức mới: tôi đã trỏ thành một với vũ trụ. Từ đó tôi mới hiểu
được rằng tại sao với bộ óc vật chất này, người ta có thể đạt đến sự hiểu biết về những điều “thần bí” và “siêu hình”.
III. Nếu như bạn muốn giúp một người đã bị Tai biến não hay do một tai nạn mà bị chấn thương ỏ não bộ, thì những chương về sự phục hồi là rất cần thiết và hữu ích – trong đó có hơn 50 lời gợi ý về những điều nên và không nên làm cho ngưòi bệnh. Tôi hi vọng bạn sẽ chia sẻ kiến thức này cho mọi người chung quanh khỉ họ cần đến.
IV. Phần cuối, quyển sách cho thấy cơn Xuất huyết này đã dạy tôi những điều mới lạ về bộ óc, bạn sẽ thấy rằng quyển sách này không hoàn toàn viết về Tai biến mạch máu não. Nói cho chính xác hơn, Tai biến não chỉ là một chấn thương khiến cho những hiểu biết mới về não bộ xuất hiện. 
Quyển sách này cho thấy những nét đẹp và khả năng phục hồi của não bộ con  người, do khả năng nội tại của nó không ngừng thay đổi và luôn thích ứng để tồn tại. Sau rốt cuốn sách cho thấy hành trình của nhận thức thuộc bán cầu Phải của não bộ khỉ nó dẫn tôi vào cảnh giới An lành của vùng Tâm thức sâu thẳm. Tôi đã phục hồi Ý thức luận lý của bán cầu não Trái để trình bày và giúp cho người đọc
đạt đến Cảnh gioi An lành của vùng Tâm thức thâm sâu mà không cần Phải trải qua một cơn xuất huyết não như tôi. Hy vọng độc giả sẽ hài lòng trong cuộc du hành trí thức này.
 
CHƯƠNG 1
ĐỜI SỐNG CỦA TÁC GIẢ TRUÓC KHI TAI BIẾN NÃO
Tôi là nhà nghiên cứu tế bào não bộ, đã được huấn luyện, thực tập và đã xuất bản nhiều công trình nghiên cứu. Tôi sinh trưỏng ỏ thành phố Terre Haute thuộc tiểu bang Indiana. Một người anh của tôi, chỉ lớn hơn tôi 18 tháng tuổi, mắc bệnh Tâm thần Phân liệt. Anh được chính thức chẩn đoán là mắc bệnh này ỏ tuổi 31, nhưng thực ra anh đã có triệu chúng của bệnh từ nhiều năm trước. Từ thời thơ ấu, anh đã tỏ ra khác hơn tôi về cách nhìn thực tại và cách đối xử với mọi người. Do vậy, tôi rất có hứng thú tìm hiểu về bộ óc con người từ lúc còn bé. Tôi đã thường tự hỏi, vì  sao mà hai anh em cùng quan sát một sự việc vừa mới xảy ra, tại có thể đi dến hai lời giải thích khác nhau. Sự khác biệt về nhận thức, về cách tiếp thu và phân tích dữ kiện giữa hai anh em tôi, đã thúc đẩy tôi trỏ thành một nhà khoa học về não bộ.
Tôi bắt đầu 4 năm đại học từ cuối thập niên 1970 ỏ đại học Indiana, thành phố Bloomington. Do sự giao tiếp với người anh của tôi mà tôi rất muốn biết thế nào là một con người “bình thường” trên bình diện trí óc. Lúc bấy giò, Khoa tế bào não bộ học hãy còn phôi thai và chưa được giảng dạy ỏ đại học như một phân khoa riêng biệt. Nhưng nhờ môn Cơ thể học và Sinh học mà tôi được biết ít nhiều về bộ óc con người.
 Công việc đầu tiên tôi nhận được sau 4 năm tốt nghiệp không ngờ là một ân phước lớn trong đời học hỏi. Tôi được tuyển làm Cán sự ỏ phòng thí nghiệm của Viện đại học, mà thời gian được phân chia làm hai phần: một là nghiên cứu về giải phẩu Nhân thể học và hai là giải phẩu Tế bào thần kỉnh. Trong suốt hai năm, tôi say mê trong lãnh vực y học này dưới sự hướng dẫn của giáo sư Tiến sĩ Robert C. Murphy, và tôi thích mổ xẻ cơ thể con ngưòi để tìm hiểu và học hỏi.  Bỏ qua việc lấy bằng Thạc sĩ, sáu năm kế tiếp tôi đã ghi danh học chương trình  Tiến sĩ trong phân khoa Sinh học. Năm đầu tôi học phần lớn các lớp của Y khoa, và công trình nghiên cứu của tôi lại chuyên về Giải phẩu Tế bào Thàn kinh não dưới sự hướng dẫn của giáo sư Tiến sĩ William J. Anderson. Tôi tốt nghiệp Tiến sĩ năm 1991, và cảm thấy đủ tự tin để giảng dạy các môn Giải phẩu Nhân thể, Giải phẩu Tế bào não và Sinh học cho sinh viên ỏ Đại học Y Khoa.
Trỏ lại thời điểm 1988, khi tôi đang làm công việc cán sự ỏ phòng thí nghiệm nghiên cứu về não bộ, thì anh tôi chính thức được giới y học xác định mắc Phải chứng bệnh Tâm thần Phân liệt. Về phương diện Sinh học thì anh em tôi là hai hiện hữu gần giống nhau nhất trên thế gian này. Nên tôi muốn tìm hiểu tại sao tôi đã có thể đem ước mơ gắn liền với thực tế và biến chúng thành hiện thực, còn bộ óc của anh tôi thay vì làm việc đó thì lại chỉ phát sinh ra hoang tưỏng? Vì vậy, tôi rất hăm hỏ theo đuổi việc nghiên cứu bệnh Tâm thần Phân liệt này. Tiếp theo lễ tốt nghiệp Tiến sĩ ỏ Đại học Indiana, tôi được mời làm việc trong chương trình nghiên cứu hậu đại học của trường Đại học Y Khoa Harvard, phân khoa Thần kinh. Tôi đã nghiên cứu trong 2 năm, dưới sự hướng dẫn của giáo sư Tiến sĩ Roger Tootell, trên bộ phận vỏ não liên quan đến thị giác. Tôi rất hứng thú trong công cuộc nghiên cứu này vì đa số những người mắc bệnh tâm thần phân liệt thường cho thấy họ có cái nhìn rất bất thường khi quan sát những vật chuyễn động.
Sau đó, tôi đã xin chuyễn qua nghiên cứu ỏ phân khoa Tâm thần. Mục đích của tôi là được nghiên cứu dưới sự chỉ dẫn của giáo sư Tiến sĩ Francine M. Benes trong bệnh viện McLean. Tiến sĩ Benes là chuyên gia nổi tiếng về việc giải phẩu não bộ những người bệnh tâm thần phân liệt sau khi chết, để tìm hiểu và giải thích tại sao họ đã bệnh như vậy. Tôi tin tưỏng công trình nghiên cứu này sẽ giúp tôi chữa trị được những người đã mắc chứng bệnh rối loạn não bộ như ông anh của tôi.
Một tuần trước khi sang nhận công việc nghiên cứu mới ỏ bệnh viện McLean,tôi được mời dự buổi điều trần hằng năm – năm ấy là 1993 – của “Hội bạn người bệnh Tâm thần toàn quốc” ỏ Miami, Florida. Lúc đó, Hội có khoảng 40 ngàn hội viên có người nhà mắc bệnh tâm thần. Hiện nay, 2009, con số đó đã tăng lên đến khoảng 220 ngàn. Chuyến đi này làm thay đổi hẳn đời tôi. Ở cuộc điều trần, tôi đã hiểu được nỗi đau của 40 ngàn gia đinh có thân nhân bị bệnh, cũng như gia đình tôi, mà chưa tìm ra được nguyên nhân và cách cứu chữa. Hội họp ỏ đây là để báo động cho chính quyền và những người có trách nhiệm trong giới y học Phải quan tâm giải quyết, vì đó là sự đòi hỏi của người dân về Công Bằng Xã Hội.
Khi trỏ về lại bệnh viện McLean để bắt tay vào việc nghiên cứu bệnh, tôi rất hăm hỏ và đầy nhiệt tình. Không những tôi muốn cứu anh tôi, mà tôi còn muốn cứu cả mấy mươi ngàn người qua cuộc điều trần ỏ Miami. Với nhiệt tình tuổi trẻ, với sự thông cảm nỗi đau của gia đình có người bệnh và với kiến thức của một nhà khoa học về bệnh tâm thần, năm sau – 1994 – tôi được đề cử vào ủy ban điều hành của Hội. Thật là một vinh dự và cũng là trách nhiệm rất lớn lao với một người trẻ tuổi như tôi – mới có 35 tuổi, trong khi tuổi trung bình trong ủy ban là 67. Hằng năm tôi đều tham dự các cuộc họp tổ chức khắp toàn quốc để tường trình những tiến bộ trong việc nghiên cứu của chúng tôi.
Bấy giờ tôi lại được cho biết rằng phòng thí nghiệm ỏ bệnh viện McLean thật sự cần thêm não bộ của người bệnh đã chết để nghiên cứu. Một năm phòng thí nghiệm chỉ nhận được có vài ba bộ não của người chết gửi tặng thì không đủ vào đâu. Khi tôi đi tham dự các phiên họp, tôi đã kêu gọi sự đóng góp, thì số não bộ hiến tặng đã tăng lên được 35. Nhưng hằng năm Ngân hàng não Phải có trên 100
bộ não thì mới đủ cho công cuộc nghiên cứu. Qua sự nghiên cứu, chúng tôi đã tìm thấy có ba hệ thống hóa chất khác nhau làm công việc tiếp nối sự “truyền tin” trong mỗi bộ óc. Nhờ những hóa chất này, như dopamine là một, mà các tế bào thần kinh có thể chuyển tin tức cho nhau. Nếu chúng tôi nhận biết được các hóa chất này, sự vận hành vi tế giữa các mạch tế bào não, biết được liều lượng hóa chất cần thiết của não bộ từng người bệnh, chúng tôi có thể điều trị những chứng bệnh này bằng những loại thuốc với liều lượng hiệu quả hơn.
Công trình nghiên cứu của tôi đã được đăng trên báo y học “BỉoTechniques Journal” đầu Xuân 1995; và đến năm 1996, tôi được giải thưỏng của Đại học Y Khoa Harvard, phân khoa Tâm thần về kết quả nghiên cứu này. Tôi thật lạc quan và yêu đời. Nhưng rồi một sự kiện không thể ngờ xảy ra. Tôi đang ỏ giữa độ tuổi ba mươi. Con đường sự nghiệp đang đi lên. Thì bỗng nhiên trong chớp mắt, màu hồng tươi thắm của cuộc đời và những viễn cảnh đẹp đẽ của tương lai đã tan thành mây khói. Tôi thức dậy buổi sáng ngày 10 tháng 12 năm 1996 để khám phá ra rằng não bộ của chính tôi cũng đã mang bệnh. Tôi đang bị Xuất huyết não! Trong vòng 4 tiếng đồng hồ ngắn ngủi, tôi theo dõi và thấy tâm trí tôi từ từ hũy hoại trong khả năng phân tích sự vật xung quanh qua các giác quan của tôi. Một hình thức xuất huyết não hiếm hoi xảy ra đã làm cho cơ thể tôi hoàn toàn tê liệt, từ khả năng đi đứng, nói năng, đọc viết, hoặc hồi tưỏng lại mọi việc trong đời.
Tới đây, tôi nghĩ rằng độc giả muốn biết ngay những gì đã xảy ra cho tôi trong buổi sáng xuất huyết não ấy. Nhưng hãy khoan. Để quý vị có thể hiểu được những gì đã xảy ra trong não bộ khi nó bị xuất huyết, tôi xin trình bày trong chương 2 và 3 sau dây vài điều cơ bản về khoa não bộ học.
 
CHƯƠNG 2
MỘT MÔN KHOA HỌC ĐƠN GIẢN
Thông thường, để cho hai người chúng ta có thể trao đổi với nhau về một vấn đề gì, trước hết chúng ta Phai có một số ý niệm chung về thực trạng của vấn đề đó. Hơn nữa, hệ thống thần kinh của chúng ta cũng Phai tương đương trong khả năng nhận xét và hiểu biết các dữ kiện từ ngoại cảnh, phân tích và kết nạp dữ liệu đó vào bộ óc, rồi cũng Phải tương đồng trong cách biến hiểu biết đó ra thành ý nghĩ,
lời nói, hay việc làm. Những cảnh “ông nói gà, bà hiểu vịt” không Phải là không thường xảy ra.
Việc ra đời của Sự Sống là một biến cố đáng kể nhất. Từ sự xuất hiện một đơn bào sinh vật, một giai đoạn mới về cấu trúc sinh thể ỏ lĩnh vực tế bào đã xuất hiện. Những nguyên tử và phân tử trong tế bào kết tập nhau thành DNA và RNA có thứ lớp và không thể nhầm lẫn. Các tế bào này quần tụ với nhau và phát triển qua thời gian để sản sinh ra bạn và tôi và tất cả mọi loài. Ở mức độ cấu trúc DNA, chúng ta
được cấu tạo tương tợ như loài chim, loài bò sát, loài lưỡng thê, loài động vật có vú, và ngay cả loài thực vật. Nhưng đứng về mặt sinh học, cơ thể chúng ta mặc dù đã được cấu tạo rất phức tạp, vẫn chưa Phải là hoàn hảo và cố định, mà là còn đang trên đà phát triển.
Chẳng hạn như não bộ đã và đang thay đổi không ngừng. Não bộ của tổ tiên ta từ bốn ngàn năm trước không giống như não bộ của con người ngày nay. Chỉ riêng sự phát triển về ngôn ngữ đã làm thay đổi từ hình thể đến cấu trúc hệ thống tế bào não bộ. Hầu hết những nhóm tế bào khác nhau của cơ thể đều sinh ra và chết đi trong vài tuần hoặc vài tháng, rồi được thay thế bằng những tế bào mới, các tế bào não lại không như thế, kể từ khi chúng được sinh ra. Có nghĩa là các tế bào não của bạn ngày nay cũng “già đi” theo số tuổi của bạn. Sự sống không bao giò chết của tế bào não cắt nghĩa phần nào cái cảm gỉác của ban: dù đã 50 hav 70 tuổi, bạn vẫn ngỡ mình đang là 15 hay 20!
Số lượng tế bào thần kinh trong bộ óc con người không thay đổi, nhưng sự “tiếp xúc” giữa các tế bào thì thay đổi, tùy theo sự học hỏi và kinh nghiệm sống của mỗi cá nhân. Hệ thống tế bào thần kinh của con người thật năng động và tuyệt vời, với con số tế bào ước khoảng một ngàn tỉ. Để có ý niệm một ngàn tỉ tế bào óc là bao nhiêu, thì hãy nhớ rằng dân số toàn thế giới hiện nay là 6 tỉ. Nhân con số 6 tỉ dân này lên 166 lần, thì bạn có được con số một ngàn tỉ tế bào đang chen chúc trong cái sọ bé nhỏ của mỗi con người chúng ta, với trọng lượng trung bình của não bộ không hơn 1,5 kg. Dĩ nhiên con người chúng ta không Phải chỉ có não bộ. Còn có thân thể nữa. Trung bình, cơ thể một người trưỏng thành gồm chứa khoảng 50 ngàn tỉ tế bào. Có nghĩa là số tế bào trong một cơ thể gấp 8.333 làn tổng dân số trên toàn thế giới. Thật là kỳ diệu: những tế bào xương, tế bào thịt, tế bào tạng phủ…, làm sao chúng
có thể điều phối và hoạt động nhịp nhàng với nhau để tạo thành một cơ thể hoàn toàn khỏe mạnh và không bao giò bệnh tật? Cho nên nếu bạn có mang bệnh, đừng lấy làm lạ! Sự tiến hóa về phương diện sinh học thường bắt đầu từ thô sơ lên đến phức tạp. Để bảo đảm sự tiến tạo các sinh vật được hữu hiệu, Tạo hóa luôn theo một khuôn mẫu nhất định. Như con ong hút mật, con chim làm tổ, quả tim bơm máu, tuyến mồ hôi điều hòa thân nhiệt…; mỗi mỗi được tạo tác theo những “mã số“ riêng không hề bị xáo trộn. Do đó, qua hàng triệu triệu năm, mọi loài chỉ tiến hóa và phát triển trên “căn bản” của mình để tiến đến mức độ phức tạp hơn. Chẳng hạn như con người và loài dã nhân. Con người có đến 99,4% DNA cấu tạo tương tự như dã nhân. Nhưng như vậy không có nghĩa dã nhân là thủy tổ của
loài người; chúng chỉ có trí thông minh xấp xỉ như con ngưòi mà thôi. Điều đó chứng minh sự kỳ diệu của bàn tay tạo hóa: chỉ thay đổi một chút xíu các mã số DNA mà đã tạo ra các loài sinh vật khác nhau. Còn giữa loài người với nhau, bạn và tôi có cùng loại DNA, nhưng chỉ khác nhau có 0,01% (1/100 của 1%) trên cách cấu trúc. Vỉ vậy, mắt mũi, màu da, cao thấp, mập ốm, dáng vẻ… không giống nhau.
Và con người khác với những loài có vú khác là ỏ bộ não: con người có lớp vỏ não dợn sóng và uốn khúc một cách phức tạp. Mặc dù não bộ loài có vú đều có vỏ não bao bọc bên ngoài, nhưng vỏ não con người lại dày hơn gấp đôi và vì vậy các chức năng sinh hoạt cũng gấp đôi. Hơn nữa, vỏ não con người còn chia não bộ ra làm 2 bán càu riêng biệt mà chức năng sinh hoạt mỗi bán cầu lại bổ túc cho nhau.
Nhờ bổ túc cho nhau mà mỗi người chúng ta có một nhận thức nhất định và độc nhất – không ai giống ai – về thế giới bên ngoài. Lớp vỏ não trên cùng mới được “thêm vào” cho não bộ con người gần đây thôi (vài ngàn năm) đã làm cho con ngưòi khác hẳn các loài có vú khác, Nhờ những mạch thần kinh ỏ đây mà con người có được tri thức về những vật chất “cụ thể“ (nhà cửa, vật dụng) và những ý niệm “trừu tượng” (ngôn ngữ, nghệ thuật…). Còn những lớp sâu hơn của vỏ não thì chức năng sinh hoạt giữa người và vật đều giống nhau.
Bán cầu não bộ cũng cần mạch máu mang dưỡng khí lên nuôi sống. Các mạch máu này được phân nhiệm vụ riêng biệt, như mạch máu thuộc phần cử động tứ chi, phần tạo tác ngôn ngữ, phần hiểu biết ngôn ngữ, phần thuộc thị giác, phần phân biệt vật thể. Mạch máu nào bị hư hỏng thì phần liên hệ đó của thân thể không còn hoạt động được. Và cũng như các bộ phận khác của cơ thể là thường  hay bị bệnh, các mạch má ỏ bán cầu não bộ cũng hay bị ‘tai biến”. Những tai biến  này chia làm 2 loại thường làm chết người hoặc biến con bệnh thành phế nhân.
Tai biến thông thường nhất, lên đến 83% trường hợp, là “nghẽn” mạch máu. 
Tai biến hiếm hoi, chỉ có khoảng 17%, nhưng nặng nề nhất, là “vỡ“ mạch máu.
Nghẽn mạch máu là khỉ mỡ cholesterol đóng theo thành mạch máu làm trỏ ngại máu không thể lưu thông trên vỏ não. Không dưỡng chất, tế bào thần kinh ỏ vùng này Phải tê liệt. Thường thì tế bào thần kinh tê liệt sẽ không được thay thế. Các sinh hoạt của thân thể liên hệ tới vùng thần kinh này sẽ bị đình chỉ vĩnh viễn, trừ phi có những tế bào thần kinh khác học hỏ vai trò của những thần kỉnh đã tê liệt
qua một thời gian, gọi là phục hồi chức năng. Bỏi vì mỗi người có sự nối kết các đường dây thần kinh não bộ một cách khác nhau, nên khả năng phục hồi cũng khác nhau.
Vỡ mạch máu là khi mạch máu não có chỗ cấu tạo bất thường – thành mạch máu quá mỏng – bị vỡ ra, lớp vỏ não bị ngập lụt trong máu và tế bào não ỏ vùng đó không còn hoạt động được; vì máu là độc tố của tế bào thần kỉnh, không thể được tiếp xúc trực tiếp. Đôi khi vỡ mạch máu là do áp suất huyết quá cao, các vi huyết quản nốỉ liền động mạch và tĩnh mạch chịu đựng không nổi áp lực. Đây là những tai biến chết người.
Những Dấu Hiệu của Tai Bién Mạch Máu Não:
· Tự nhiên nói không ra tiếng.
· Tay chân bị tê hay bắp thịt bị cứng.
· Tự nhiên quên hết mọi sự một cách bất thường.
· Tự nhiên đi đứng mất thăng bằng.
· Bị nhức đầu dữ dội khác với bình thường.
· Bỗng nhiên mắt mờ, không còn thấy gì hết.
Tai biến Mạch máu Não là vấn đề Sống Chết. Hãy đưa đi cấp cứu lập tức.
 
CHƯƠNG 3
SỰ KHÁC BIỆT GIỮA HAI BÁN CẦU NÃO
Từ hơn 200 năm nay, các nhà khoa học đã nghiên cứu về sự khác biệt giữa hai bán cầu não bộ con người. Người đầu tiên là DuPuis. Vào năm 1780, DuPuis đã tuyên bố là con người có bộ óc đôi, vì có hai bán cầu. Gần một thế kỷ sau, Arthur L. Wigan đã chứng kiến cuộc giảo nghiệm một người đã chết mà não bộ chỉ có một bán cầu. Người này lúc sống cũng đi, đúng, nói năng, và có ý thức như một người
bình thường. Vì vậy Wigan rất hào hứng đưa ra thuyết “Con người có nhị trùng tâm”. Thuyết này gây nhiều hứng khỏi cho các nhà khoa học Hoa Kỳ. Cho tới thập niên 1970, tiến sĩ Roger W. Sperry nhờ giải phẫu cắt rời hai bán cầu não để chữa bệnh “kinh phong”, đã khám phá ra vài điều mới mẻ. Trong bài diễn văn lãnh giải Nobel Y học năm 1981, tiến sĩ Sperry nhận định: “Khi hai bán cầu não bộ bị cắt
rời, đương sự sẽ hành xử khác nhau như hai con người khác nhau, tùy theo bán cầu não Trái hay Phải được sử dụng”.
Những nghiên cứu và quan sát tiếp theo các bệnh nhân bị tách não làm đôi (để trị bịnh kỉnh phong) cho các nhà khoa học kết luận rằng: Khi 2 bán cầu não còn dính với nhau thì hoạt động “bổ túc” cho nhau; còn khi bị mổ tách rời thì sẽ hoạt động như 2 bộ não “độc lập”, riêng biệt. (Tiến sĩ Jekyll).
Nhờ hai bán cầu não Trái và Phải hoạt động bổ túc cho nhau nên chúng ta mới có những nhận xét, hiểu biết về nhân sinh và vũ trụ một cách rất độc đáo mà các loài sinh vật khác không thể có được. Sự bổ túc này rất hài hòa đến nỗi chúng ta không thể phân biệt khi nào chúng ta sử dụng bán cầu não Trái và khi nào là bán cầu não Phải. Tuy nhiên, ỏ một mức độ nào đó, chúng ta có thể biết.
Nhưng trước hết, điều quan trọng là Phải biết phân biệt người thuận tay Phải hay tay Trái với người thiên về bán cầu não Phải hay Trái. Bán cầu não Phải điều khiển nửa phần thân thể bên tav Trái, và bán cầu não Trái điều khiển nửa phần thân thể bên tay Phải. Còn người thuận sử dụng bán cầu não Phải hay Trái thì lại khác.  Muốn biết một người thiên về sử dụng bán cầu Phải hay Trái thì hãy quan sát cách họ “nói năng” (sử dụng ngôn ngữ) và cách họ “nghe” và “hiểu“ lời nói (tiếp nhận và giải mã ngôn ngữ) của người khác. Nói chung, gần như 85% dân số thuận tay Phải và thiên về sử dụng bán cầu não Trái. Và khoảng 60% người thuận tay Trái cũng thiên về sử dụng bán cầu não Trái. Như vậy số người thuận sử dụng bán cầu não Phải không nhiều.
Khi các dữ kiện (ánh sáng, âm thanh, mùi, vị, cảm giác, ý tưỏng) hằng ngày không ngớt tràn ngập não bộ con người qua các giác quan, thì bán cầu não Phải tiếp nhận các dữ kiện này bằng hình ảnh như hình chụp của máy ảnh, được rửa ra và được dán chồng lên nhau. Thí dụ: Mắt “thấy“ cô gái này đẹp thì trong não bộ Phải có nguyên hình cô gái với toàn cảnh, thí dụ cô gái ấy ỏ một tiệc cưới, ỏ quán kem, ỏ nhà một người bạn… Tai “nghe” tiếng giảng đạo của một linh mục thì có hình ảnh của vị linh mục đó tại nhà thờ…“Nỗi buồn” hay sự “thất vọng” cũng được não Phải lưu giữ bằng hình ảnh trong một bối cảnh nào đó. Những hình ảnh này được lưu giữ cho dù sự kiện đã xảy ra cách nhiều năm, khi hồi tưỏng lại ta cũng như đang “thấy” trước mắt, nhất là khi hình ảnh đó ngày xưa đã gây quá nhiều ấn tượng.
Với não bộ Phải, sự ghi nhận không có thời gian. Chỉ là “hình ảnh” được ghi lại “bây giò“ và “nơi đây” với đầy đủ cảm giác rất sống động. Não bộ Phải không bị gò ép Phải “suy tưỏng” theo một nguyên tắc hay khuôn khổ lề luật nào, và đó là não bộ của các nghệ sĩ, tu sĩ, nhà đạo đức, các nhà khoa học lo cho tương lai nhân loại, chuyên nghĩ đến những việc mà người “bình thường” không hề nghĩ đến.
Não bộ Phải, phần trước trán, cũng làm cho chúng ta nghĩ đến tình nhân loại, nghĩa đồng bào, cùng sống trong một dãi đất, trên một tỉnh cầu, biết thương yêu nhau, giúp đỡ, nhường nhịn, sống chung hay chết chung với nhau.
Não bộ Trái thì ngược lại trong việc ghi nhận các dữ kiện. Tiếp nhận những sự kiện từ não bộ Phải như là hình ảnh của một tổng thể, não bộ Trái đem ra phân tích, phê phán và sắp xếp theo hình dáng, màu sắc, âm thanh, mùi vị, thời gian (quá khứ, hiện tại, vị lai), tình cảm (thương ghét, vui buồn), khối lượng (nặng nhẹ, lớn nhỏ)… Nói chung là não bộ Phải nhìn mọi sự dưới dạng toàn cảnh và tổng thể; còn não bộ Trái thì dùng ngôn ngữ để mô tả từng chi tiết, theo thứ tự thời gian, theo phân biệt tình cảm. Thí dụ: Não bộ Phải khi gặp một người thì ghi nhận ngay hình ảnh người ấy gặp trong một khung cảnh nào đó. Não Trái sẽ ghi chi tiết: nam nữ, chủng tộc, cách ăn mặc, nói năng, học vấn, cá tính… (Ỏ điểm này, ta gọi là óc nhận xét). Hay nhìn một đóa hoa. Não bộ Phải chỉ ghi nhận: đóa hoa và bất cứ hoa gì thì cũng thấy đẹp. Còn não Trái sẽ ghi hoa gì, màu gì, mùi gì, cánh hoa, đài hoa, cuống hoa, xấu, đẹp như thế nào.
Nhờ thu nhận hình ảnh ngưòi, vật, cảnh nên não bộ Phải nhìn đâu cũng đẹp, dễ thương, độc đáo, biết tôn trọng vật hay người đã nhìn thấy, và thấy cá nhân mình chỉ là một phần trong toàn phần, không có sự kỳ thị, phân biệt hơn kém, thương ghét. Trái lại, với chức năng phân biệt, phê phán theo giá trị, xếp loại theo hạng mục, não bộ Trái tạo ra nhiều dễ dàng trong đời sống, nhưng cũng từ đó làm cho đời
sống thêm phức tạp hơn lên. Thí dụ: mục đích của thức ăn là để no bụng. Nhưng có ngưòi đói thấy thức ăn, thì ăn. Có người đói lại không ăn, vì thức ăn bị chê là không ngon, hay bày biện không hợp… lễ. (Còn con vật hễ đói, thấy đồ ăn thì…ăn, không cần ngon dỏ hay lễ nghĩa gì cả).
Thêm nữa, não bộ Trái có khả năng ngôn ngữ nên biết diễn tả mọi sự mọi vật thật chi tiết, rõ nét, dễ hiểu, làm cho sự hiểu biết của loài người được tích lũy và lưu truyền càng ngày thêm phong phú, khiến cho con người càng ngày một thông minh, tiến bộ qua quá trình tiếp thu kiến thức hàng ngàn năm. Với những kiến thức được phân loại theo hạng mục, con người cũng tiên đoán được những gì sắp xảy ra, tránh được phần nào tai họa (thòi tiết, giông bão, động đất, sóng thần…). Nhưng cũng chính với những khả năng đặc biệt của não bộ Trái, con người, và chỉ có loài người mà thôi, đã tạo ra biết bao khốn khổ cho chính mình và người chung quanh. Nhờ khả năng ngôn ngữ, con người biết tự đặt câu hỏi “TÔI LÀ…AI?” Bản Ngã từ đó sinh ra. Cái Tôi, cái Ngã càng được trau chuốt, quan trọng hóa, thì khốn khổ tự thân của con người cũng dồn dập.Khi bán cầu não Trái bị thương tật, người bệnh sẽ mất khả năng nói và hiểu lờinói của kẻ khác. Nhưng nhờ bán cầu não Phải, họ sẽ cảm nhận được là người đối diện đang nói thật hay nói dối qua sự nhận xét cách nói, giọng nói, vẻ mặt, và điệu bộ. Bán cầu não Phải vì vậy có khả năng bổ túc cho bán cầu não Trái về moi lĩnh vực sinh hoạt trong đời sống hằng ngày, khi não Trái bị tai biến hay thương tật.
Loại tai biến mà tôi trải nghiệm là sự Xuất huyết trầm trọng bên bán cầu não Trái. Sau khi đã được mổ sọ để lấy khối máu khô ra, tôi đã Phải mất 8 năm mới hoàn toàn hồi phục thể lực và trí lực. Các chương tiếp theo sẽ kể tiếp cho bạn biết những gì đã xảy ra.
Tôi cũng nhiệt tình khuyến khích các bạn hãy tìm đọc thêm những tài liệu về khả năng của bộ óc, về sự sinh hoạt của hai bán cầu trong một con người bình thường, để bạn có thể giúp những người bị Tai biến mạch máu não phục hồi một cách hữu hiệu, và giúp cho chính bạn sống cuộc đời mình tốt đẹp hơn.
 
CHƯƠNG 4
BUỔI SÁNG NGÀY BỊ TAI BIẾN
Lúc ấy là 7 giờ sáng ngày 10 tháng 12 năm 1996. Tôi thức dậy theo tiếng báo thức của đồng hồ reo bên giường. Với tay bấm tắt tiếng reo, hình như tôi vẫn còn chập chờn trong trạng thái nửa thức nửa ngủ. Nhưng tinh thần tôi đã sảng khóaí, sẵn sàng cho một ngày bình thường. Tôi biết tôi Phải thức dậy đi làm việc. Đang trỏ mình lăn ra khỏi giường, bỗng tôi cảm thấy đau nhói bên phía trong đầu sau mắt Trái, một cơn đau chưa từng có. Chẳng mấy khi bệnh hoạn, tôi lấy làm lạ về một cơn đau khỉ mới vừa thức giấc. Tôi đưa tay Trái lên kéo đóng tấm mành che bớt ánh sáng mặt tròi chói chang đã làm mắt tôỉ khó chịu, và đưa tay Phải lên che con mắt đau lại. Tôi cảm thấy bối rối tự hỏi tại sao mới sáng mà lại
đau thế này? Con mắt Trái cứ tiếp tục đau giật tê buốt từng cơn, tê buốt như cắn Phải cục nước đá. Tôi rời giường, khập khểnh leo lên chiếc máy tập thể dục như một người lính bị thương, hy vọng sự vận động cơ thể, máu huyết lưu thông sẽ làm giảm cơn đau. Sau vài động tác, tôi thấy cơ thể như rã rời, tay chân như không còn là của tôi nữa, mặc dù tôi vẫn tỉnh táo. Hay đúng hơn, cơ thể như không còn theo mệnh lệnh của bộ óc tôi.
Tôi như một người khác đang quan sát cử động của chính mình. Tôi đưa hai tay nắm lấy tay nắm của máy tập thể dục, mà vụng về như hai tay của người tiền sử. Đầu vẫn tiếp tục đau điếng từng cơn. Tôi có cảm giác lạ kỳ: Ý thức tôi đã tản mạn đâu mất và thân thể tôi như đang lơ lửng giữa thực tại và một cõi mông lung nào.  Nhận thấy sự vận động của thể dục không giúp ích gì cho cơn đau, tôi rời máy
và hướng vào nhà tắm. Tôi để ý thấy tôi bước đi không còn tự nhiên, mà cà thọt như một tên hề. Và không thể bước đi một cách thăng bằng, tôi Phải cố gắng hết sức mới không Phải té. Để bước chân vào bồn tắm, tôi Phải vịn vào vách, và cố gắng lắm thì hai chân mới đứng vững được cho khỏi ngã. Tôi lấy làm ngạc nhiên là sao hôm nay tôi không thể điều khiển được cái khối 50 ngàn tỉ tế bào theo ý muốn
và tự hỏi không biết bộ óc kỳ diệu của tôi sao hôm nay lại bất thường?
Tôi biết rằng sỏ đĩ con người có thể đi đứng một cách thăng bằng và nghe được, thỏ được là nhờ phần não bộ nối dài với tủy sống. Như vậy là tôi có thể bị rối rắm với các tế bào não bộ ỏ phần này, và có thể nguy hiểm chết người. Trong khi tôi cố tìm ra lòi giải đáp bằng kiến thức của một nhà khoa học não bộ, tôi bỗng nhiên nhận ra mình đang ỏ vào một tình trạng thật là kỳ lạ: Thông thường não bộ Trái hay “nói” cho tôi biết những gì đang xảy ra, nhưng bây giờ thì im lặng, hoặc nói vài điều không mạch lạc, không liên hệ, không nghĩa lý gì với nhau. Hơn nữa, thính giác của tôi thường rất nhạy bén, nhưng bây giờ tôi không còn nghe được cả tiếng ồn ào thường lệ của xe cộ bên ngoài. Hoang mang, tôi lục lọi ký ức xem tình trạng này có bao giờ xảy ra chưa. Hiện tượng giống như bị nhức đầu dữ dội. Tôi càng cố tập trung ý tưỏng, thì trí óc và sự suy nghĩ của tôi càng như tan biến vào nơi đâu. Bộ phận não Amygdala có bổn phận thông báo về những tai họa, những điều đáng sợ, Phải có phản ứng thế nào
cho thích hợp, đã không thấy hoạt động vào lúc này. Và thay vào sự lo lắng về “chuyện gì đã xảy ra trong bộ óc tôi”, tôi bỗng nhiên cảm thấy “bình an” thật lạ. Cả đời mấy mươi năm, lúc nào tôi cũng nghe não bộ Trái của tôi “báo cáo” từng chi tiết về đủ thứ chuyện: Nào là chuyện nghiên cứu, chuyện dạy học, kế hoạch này, chương trình kia Phải hoàn tất kịp thời. Thì nay, những việc làm bận rộn đó đã biến đâu mất. Tôi chỉ còn một cảm giác thanh tịnh, hạnh phúc và cực kỳ an lạc. Và vì Trung tâm Ngôn ngữ ỏ bán cầu não Trái đã bị tê liệt, tôi không còn liên lạc được với mọi ký ức trong đời.  Tôỉ không còn biết “tôi là ai”. Tôi như hòa làm một với vũ trụ, và cảm giác đó làm tôi thích thú vô cùng. Tới đây thì gần như tôi không còn ý niệm về không gian ba chiều vật chất ỏ quanh tôi. Tôi đứng trong bồn tắm, lung tựa vào vách, nhung không còn khả năng phân biệt thân thể và tay chân tôi có giới hạn tới đâu. Tôi có cảm giác toàn thân tôi là một khối chất lỏng hòa tan với mọi vật thể chung quanh. Khối lỏng của cơ thể tôi trỏ nên nặng nề, và năng lượng trong người dường như tan biến mất. Tôi nghĩ: “Ủa, mình thật là lạ. Mình là một sinh vật kỳ lạ vô cùng. Mình là môt túi nước lớn bao bọc bên ngoài bằng một lớp màng nhầy. Mình là đời sống! Với hình thức này mình là một “ý thức sống trong bọc nước” và đó là mình! Mình là hàng ngàn tỉ tế bào có chung một tri thức. Mình ỏ đây, bây giò và hăm hỏ sống đời! Coi kìa, thật là một khái niệm kỳ diệu và không thể hiểu thấu được! Mình là một tế bào đời sống, ủa, mà không Phải, mình là một phân bào đòi sống, có cả sách hướng dẫn cách phát triển rõ rệt, và là phân bào có trí hỉểu biết!” Với sự thay đổi tình trạng của hiện hữu, tâm trí tôi không còn vướng bận với hàng ngàn chi tiết mà bộ óc hướng dẫn tôi trong đời sống hàng ngày, cả những suy nghĩ mà bán càu óc Trái “nói” với tôi mỗi ngày cũng hoàn toàn im lặng. Và với yên lặng này, tôi không còn ký ức về quá khứ, cũng không suy nghĩ đến tương lai.
Tôi lại nghĩ rằng bán cầu não tráỉ đang bị thương hóa ra rất dễ chịu. Tôi hăm hỏ quay ra chú tâm tới hàng ngàn tỉ tế bào thông minh đang hoạt động hài hòa để giữ cho cơ thể tôi được sống. Và trong khi máu càng lúc càng chảy nhiều hơn trong đàu tôi, ý thức về ngoại cảnh của tôi nhạt nhòa dàn. Tôi chỉ còn cảm giác hạnh phúc và sung sướng rằng các tế bào li ti trong cơ thể vẫn còn hoạt động liên tục
không ngừng nghỉ để cho tấm thân vật chất của tôi được tồn tại. Đây là lần đầu tiên trong đời, tôi thật sự cảm thấy mình là “một” với sự sống. Và tôi vui mà thấy đời sống là một tập hợp những tê’ bào thông minh quanh một phân bào thiên tài tuyệt vòi. Tôi cảm giác mình như là khối hơi trong vũ trụ, dù cơn đau từng chập trong đầu vẫn còn rõ nét nhưng không Phải là không chịu nổi. Cơn đau lan xuống tới ngực và chạy ngược lên tận cổ, kéo tôi về với thực tại. Tôi nhận ra ngay mình đang lâm tình trạng cực kỳ nguy hiểm. Nhất định Phải biết cái gì đã xảy ra, tôi cố lục soát phần hiểu biết còn lại trong ý thức để tự chẩn bệnh mình: “Cái gì đang xảy ra trong cơ thể? Bộ óc đã như thế nào rồi?”. Mặc dù ý thức tôi bị đứt quãng và mơ hồ, tôi cũng cố gắng giữ thăng bằng cơ thể. Bước ra khỏ bồn tắm, tôi như người say rượu. Thân nghiêng ngửa, chân nặng nề, bước chậm chạp. Câu hỏi trong đầu: ‘Tôi đang muốn làm gì bây giờ? Thay đồ. Thay đồ để đi làm”. Tôi vất vả lựa quần áo. Lúc đó đã 8:15 sáng, và tôi sẩn sàng
lái xe ra đi. Tôi nghĩ: “Được rồi, tôi đi làm đây. Tôi đi làm đây. Mà tôi có biết làm sao đến sở làm không? Tôi có thể lái được xe không?”. Trong khỉ tôi đang nghĩ đến con đường Phải lái xe từ nhà đến bệnh viện
McLean nơi tôi làm việc, tôi tự nhiên mất thăng bằng vì cánh tay Phải bị xụi thình lình một bên. Lúc đó, tôi mới hiểu ra: “Trời ơi! Tôi bị xuất huyết não! Tôi bị xuất huyết não!” Phút tiếp theo đó, một ý tưỏng thoáng chớp lên trong đầu: “Ô! Cái xuất huyết não này mới dễ thương làm sao!”. Tôi như bị rơi từ vùng ảo giác hạnh phúc, an lạc trỏ về thực trạng nguy hiểm của não bộ. Dù vậy, tôi vẫn luôn nghĩ: “ồ kìa, có bao nhiêu nhà khoa học được dịp may mắn quan sát sự vận hành và suy thoái của chính bộ óc mình từ trong ra ngoài?” Tôi đã để cả đòi tìm hiểu: Làm sao mà bộ óc con người tạo ra được sự hiểu biết cho chúng ta về những thực tại chung quanh? Và bây giờ, tôi được dịp trải nghiệm sự vận hành của Não bộ từ chính bộ óc của mình qua cơn Xuát huyết não.
Khi cánh tay Phải trỏ thành bại xụi, tôi có cảm tưỏng như sức sống của nó nổ tung ra. Nó nằm im xuôỉ xuống một bên vai mà tưỏng như đã bị chặt đút đâu mất. Về não bộ học, tôi biết rằng phần vỏ não về động tác tay chân đã bị ảnh hưỏng, và tôi may mắn là cánh tay chỉ chết trong vài phút rồi hơi cử động lại được, với sự đau tê dữ dội. Tôi như người bị thương. Cánh tay Phải như mất hết sức lực, tựa như khúc cây. Tôi tự hỏi không biết có bao giờ cánh tay sẽ trỏ lại bình thường. Ngó qua thấy cái giường ngủ ấm áp, nhất là vào buổi sáng mùa Đông lạnh lẽo ỏ vùng này, tôi muốn nằm. “ổi, tôi mệt quá rồi. Tôi đau quá rồi. Tôi muốn nghỉ ngơi. Tôi muốn nằm và ngủ một chút”. Nhưng tự trong thâm tâm tôi, một giọng nói như ra lệnh: “Không được nằm! Nếu ngươi nằm, ngươi sẽ chết!”. Kinh ngạc vì tiếng đe dọa, tôi thử phán định tình hình bấy giò. Nghịch lý thay, mặc dù tôi thực tế đang ỏ trong tình trạng khẩn cấp thúc giục tôi Phải gọi ngay cấp cứu đưa vào bệnh viện, một phần khác trong tôi vẫn cảm thấy thú vị vì đang sống trong cảm giác An vui và Thanh tịnh. Tôi bước ra khỏi ngạch cửa phòng ngủ, ngang qua tấm gương. Nhìn vào đôi mắt tôi phản chiếu trong đó, tôi ngừng lại một chút để tìm vài chỉ dẫn hiển lộ trong
ánh mắt của mình. Trong cái sáng suốt còn sót lại của một não bộ đã bị thương, tôi chợt hiểu ra là, qua thiết kế sinh học tuyệt vời của tạo hóa, cơ thể con người là một món quà quí giá và rất mong manh. Đối với tôi, cái thân thể này vận hành như một cánh cửa lớn qua đó năng lượng của cái ‘lôi” được chiếu rọi vào một khoảng trống gọi là không gian ba chiều.
Khối lượng tế bào của thân thể này cung cấp cho tôi cái gọi là “nhà” tạm thời nhưng rất hoành tráng. Và với bộ óc kỳ diệu, có khả năng kết nạp thực sự hàng tỉ của hàng ngàn tỉ dữ kiện mỗi phút, đã tạo cho tôi cảm tưỏng rằng có một không gian ba chiều không những là có thực mà còn là an toàn để sống trong đó. Trong cái ảo giác đó, tôi đã bị thôi miên vì khối lượng sinh học đã tạo ra hình dáng tôi,và kinh ngạc với sự vận hành vừa đơn giản vừa phức tạp của nó. Tôi đã nhận ra tôi chỉ là sự kết hợp của một hệ thống phức tạp và sống động, một tổng thể những tế bào có khả năng tập kết dữ kiện của thế giới bên ngoài qua những bộ phận nối kết nhau gọi là giác quan. Và khi hệ thống này vận hành thích hợp, nó sản sinh ra một ý thức có khả năng phân biệt ý nghĩa mọi thực trạng chung quanh. Tôi ngạc nhiên
tự hỏ tôi đã sống trong cái thân thể này đã nhiều năm, vói hình thức một nhà nữ bác học như vầy, mà sao đã không thực sự nhận ra rằng mình chỉ là ngưòi khách lạ từ nơi khác đến đây thăm viếng?
Ngay cả trong tình trạng như thế này, cái ngã ỏ bán cầu não Trái của tôi vẫn ương ngạnh giữ niềm tin rằng, mặc dù tôi đang bị bệnh ỏ não bộ nghiêm trong, tôi vẫn không sao! Cho nên, trong lúc lạc quan, tôi cũng tin sẽ hoàn toàn bình phục. RỒI hơi bực bội vì bệnh làm hỏng thòi khóa biểu làm việc sáng nay, tôi pha trò một mình: “Được rồi, tôi bị xuất huyết não! Phải rồi, tôl đang bị xuất huyết não!
Nhưng tôi là ngưòỉ bận rộn với công việc. Bỏi vì tôi không thể làm cho sự xuất huyết ngưng lại, tôi sẽ nghỉ một tuân. Tôi sẽ tìm hiểu xem làm sao mà bộ óc tôi có thể tạo ra ảo giác tôi là người rất bận rộn. Sau đó, tôi sẽ làm việc trỏ lại đúng như thời khóa biểu đã định. Bây giờ tôi Phải làm gì? Gọi cấp cứu. Phải gọi cấp cứu ngay tức khắc”.
 
CHƯƠNG 4
KHÓ KHĂN KHI TỰ MINH GỌI CẤP CỨU
Tôi không biết chính xác là tôi bị vỡ mạch máu loại nào, nhưng chỉ biết là mạch máu đang vỡ từ bán cầu não Trái và máu đang đổ ra từng khối lượng lớn. Khỉ máu tràn ngập qua vùng suy nghĩ những vấn đề phức tạp ỏ vỏ não Trái, tôi bắt đầu mất khả năng nhận thức về các sự kiện này. Tôi chỉ còn có thể nhớ được một điều là lúc bấy gio Phải làm sao đến bệnh viện càng sớm càng tốt. Nhưng gọi cấp cứu để được đưa đến bệnh viện là cả một vấn đề. Bỏỉ vì tôi không còn khả năng tập trung  ý thức vào công việc nào được nữa. Cái ý nghi “Phải gọi bệnh viện cấp cứu” cứ  nhảy ra nhảy vô, lúc biến lúc hiện trong đầu tôi, khiến tôi không biết đó có Phải  là “mệnh lệnh” nên làm hay không. Hai bán cầu não làm việc chung nhau bấy lâu nay như một dàn nhạc hợp tấu rất hài hòa, khiến tôi có thể sinh hoạt bình thường 
trong thế giới này. Nhưng bây giờ, do vì sự khác biệt phần hành giữa hai bán càu, tôi cảm thấy khả năng ngôn ngữ và tính toán của bán càu Trái không còn nữa. Tôi không còn biết số nào là số điện thoại để gọi và gọi thì sẽ nói gì. Thay vào đó, tôi lại có cảm giác “an lành” len lỏi khắp người tôi, phát sinh từ bán cầu Phải.
Không còn cái biết “theo đường thẳng” (đã qua, bây giờ, sắp tới) và sự chỉ dẫn của bán cầu não Trái, tôi như Phải vật lộn để tìm hiểu thế giới bên ngoài. Tôi không còn phân biệt điều gì là quá khứ, hiện tại hay vị lai, mà chỉ thấy tất cả là những sự kiện riêng lẻ, biệt lập trong hiện tại, chẳng dính dáng gì đến nhau. Tôi cố gắng trong tuyệt vọng để lập lại sự hiểu biết thường ngày, để nối kết những sự kiện rời rạc thành một chuỗi tiến trình có ý nghĩa. Trong đầu lúc này tôi chỉ còn lặp đi lặp lại ý nghĩ: ‘Tôi đang cố gắng làm gì đây? Gọi cấp cứu! Tôi đang thảo một phương án gọi cấp cứu! Tôi đang làm gì đây? Tôi Phải soạn cho được một kế hoạch gọi cấp cứu. Được rồi. Tôi Phải gọi cấp cứu”. Trước buôi sáng bị xuất
huyết não này, bộ óc tôi biết phân loại, sắp xếp các dữ kiện đưa vào từ bên ngoài như sau: Tưỏng tượng như tôi đang ngồi giữa bộ óc với những tủ đựng “hồ sơ” xếp thành hàng dài. Khi tôi muốn tìm một ý nghĩ, ý tưỏng, hay một điều gì trong quá khứ, tôi sẽ nhìn qua các tủ “hò sơ” xem nó nằm ngăn nào. Khi đã tìm đúng tủ rồi, thì tôi biết tất cả “dữ kiện“ đều nằm trong đó và mỏ ra sử dụng. Nếu nhìn lần đầu mà không thấy ngăn tủ muốn tìm, tôi sẽ lặp lại lần nữa cho đến khỉ có mới thôi.
Nhưng buổi sáng này thì khác. Các ngăn đựng “hồ sơ” như bị đóng chặt và bị đẩy xa ra khỏ sự kiểm soát của tầm tay tôi. Tôi biết tất cả kiến thức của tôi nằm trong đó, nhưng không phân biệt được chúng đang ỏ ngăn nào. Tôi không biết làm sao nối kết lại với khả năng ngôn ngữ, kiến thức về đời sống, về những năm dài học hỏi. Tự nhiên tôi hơi buồn vì không biết mình có thể trỏ lại bình thường đượckhông.
Không còn khả năng ngôn ngữ và sự phân định thời gian, tôi như bị tách ròi khỏ cuộc sống và mọi sinh hoạt bình thường. Không còn ký ức, không còn khả năng phân tích và phê phán của não thùy Trái, tôi như người mà đầu óc bị che phủ bỏi một màn đen lớn, không biết mình là ai và có mặt trong đời này để làm gì!
Trong khi đó, nhịp máu đập ỏ đầu vẫn tiếp tục như búa bổ.
Và bây giờ, khi không còn liên hệ được với mọi vật quanh mình nữa, tôi có cảm tưỏng thân xác tôi đã tan chảy ra như chất loảng và hòa vào vũ trụ mênh mông.
Khi sự xuất huyết càng lúc càng trầm trọng thì sinh hoạt của não thùy Trái cũng ngừng bặt. Tôi không còn nhận thức gì được về các chi tiết và sự phân loại dữ kiện bên ngoài. Bán cầu não Phải giò không còn bị bán cầu não Trái chi phối nữa, nên đã tự do hoạt động. Như được giải thoát khỏi những lo âu, toan tính, phân tích, phê phán hằng ngày, bán cầu não Phải đã đưa nhận thức tôi đến một vùng trời kỳ
diệu của làn sóng ngắn “theta”, và tôi cảm thấy an lạc vô cùng. Tôi không Phải là Phật tử và cũng không biết gì về Phật pháp, nhưng tôi có cảm tưỏng là tôi đã đạt tới cảnh giới mà người Phật giáo gọi là Niết Bàn, nơi mà tâm ý không còn bận rộn và mơ ước một điều gì nữa. Nơi đây, cảm giác của tôi là không còn toan tính, tranh đua, hơn thiệt; mà chỉ thấy thật thanh tịnh, bình an, đủ đầy phước báu và hòa làm một với vạn vật. Và hiển nhiên, một phần của con người tôi đang thích thú với cảm giác này. Nhưng còn phần khác trong tâm thức vẫn thúc giục tôi Phải kêu gọi cấp cứu vì cảm giác đau nhức ỏ đầu vẫn còn dữ dội. Nhờ sự thôi thúc không ngừng này mà cuối cùng tôi đã được giải cứu.
Tại sao tôi không nhấc điện thoại lên và gọi số cấp cứu 9-1-1 ? Vì phần não Trái liên hệ tới những con số đã bị máu tràn ngập. Các tế bào ỏ đây đã bị ngập máu nên ý niệm về con số đã không còn hiện hữu. Tại sao tôi không khập khểnh bước ra đường, ngoắc một người lạ và nhờ họ gọi cấp cứu ? Ý tưỏng này không thể có được vì não thùy Trái đã bị tê liệt. Trong tình trạng bất lực này, tôi chỉ còn một ý tưỏng mơ hồ là Phải làm sao để gọi cấp cứu! Những gì tôi có thể làm bấy giò là ngồi đó và đợi, ngồi kiên nhẫn với cái điện thoại bên cạnh và kiên nhẵn trong im lặng. Tôi ngồi đó một mình cô đơn trong ngôi nhà rộng với những ý tưỏng lạ lùng xâm chiếm tôi. Chúng thoắt hiện thoắt biến như trêu chọc. Tôi ngồi đó đợi chờ một giây phút tâm trí trỏ lại rõ ràng hơn, để tôi có thể nối kết hai ý nghĩ thành ý tưỏng cụ thể để có thể thực hiện kế hoạch cấp cứu. Tôi vẫn tiếp tục im lặng và tự hỏi “Tôi đang làm gì? Gọi cấp cứu. Gọi cấp cứu. Tôi đang cố gắng gọi cấp cứu đây!
Trong hi vọng đợi chờ phút “tâm trí rõ ràng” sẽ đến, tôi để cái điện thoại trên bàn viết trước mặt và chăm chăm nqó vào các con số. Ránn nhớ lại xem Phải gọi những số nào. Tôi cảm thấy não Trái tôi trống không và trên đầu rất đau khỉ tôi chăm chú muốn tìm cách nhớ lại. Mạch máu bên đầu gỉụt liên hồi… “Chúa ơi! Con đau đầu quá!”.
Thình lình, một số điện thoại loáng hiện lên. Đó là số của Mẹ tôi. Tôi mừng run vì đã có thể nhớ được số của bà. Thật là tuyệt diệu vì trí tôi đã có thể nhớ được số điện thoại, mà còn biết là của ai nữa. Nhưng cũng thật là vô dụng trong tình trạng khẩn cấp này. Nhà mẹ tôi cách đây mấy tiểu bang và xa hơn ngàn dặm; gọi bà vào lúc này và nói rằng tôi bị xuất huyết não, thì chắc bà Phải ngã ra bất tỉnh. ‘Tôi Phải tìm ra một kế hoạch nào khác!”. Rồi tôi nhớ đến văn phòng tôi ỏ trường Harvard. Phải rồi, tôi đã làm việc ỏ
phòng Nghiên cúu Não bộ của Đại học Harvard từ nhiều năm. Những khỉ đi khắp các tiểu bang diễn thuyết và kêu gọi mọi người hãy đóng góp bộ óc người chết cho Ngân hàng Não ỏ đây để dùng vào việc nghiên cứu, thì tôi bảo họ cứ gọi số miễn phí 1-800-… của trường. Nhưng buổi sáng này tôi không thể nhớ được gì rõ ràng cả! Tôi chỉ mơ hồ biết tôi là ai và đang muốn làm gì. Một màn sương phủ kín trí óc
tôi. Tôi cố gắng nhớ số điện thoại văn phòng. “Tôi Phải gọi bạn ỏ văn phòng.
Nhưng… số mấy?”.
Nơi làm việc, muốn liên lạc với nhau không bao giờ Phải gọi nguyên số. Chỉ càn bấm 4 con số chót. Thành ra trong bộ nhớ của óc tôi không bao giờ có nguyên số điện thoại của bất kỳ đồng nghiệp nào. Bỗng tôi nhận ra các danh thiếp để trên bàn. Ò, đây là danh thiếp của trường Harvard, vì nó có dấu hiệu đặc biệt. Cầm lên, tôi biết là danh thiếp của người bạn mà văn phòng sát bên tôi. Nhưng tôi không đọc được số điện thoại. Các con số bây giò, dưới mắt tôi, chỉ là những vệt đen vô nghĩa. Tên của người bạn, giáo sư tiến sĩ Stephen Vincent, cũng vậy. Tôi không còn khả năng nhận diện chữ nghĩa nữa.
Cuối cùng, sau gần một tiếng đồng hồ cố gắng trong mệt mỏi và đau nhức, với những chớp lóe sáng ngắn ngủi trong đàu, tôi đã bấm được mấy số trên điện thoại mà có hình dạng giống như số trên danh thiếp. Cầm ống nghe lên tai, tiếng nói quen thuộc của Vincent – đồng nghiệp ngồi sát văn phòng tôi – sao nghe như tiếng của một con dã nhân, tôi không hiểu gì cả. Và tôi cũng lên tiếng, nhưng không ra
tiếng. Tôi cố dùng hết hơi sức từ trong buồng phổi hét lớn: “Tôi là Jillẽ Tôi cần giúp đỡ”, Về sau, Vincent kể lại là anh ta cũng chẳng nghe tôi nói được gì, chỉ nghe tiếng “gầm gừ‘ của dã thú; nhưng Vincent nhận ra giọng của tôi và thấy tôi trể hơn nửa giờ rồi, biết là tôi có chuyện nên đã vội mang xe đến đón. Thì ra tôi đã không còn khả năng ngôn ngữ đọc, viết, nói… gì nữa, sau khi các tế bào não Trái
bị tràn ngập trong vũng máu. Nhờ vào não bộ Phải, tuy tôi không hiểu Vincent nói gì, nhưng nghe ra “cách nói” nhẹ nhàng và quan tâm của anh, tôi yên trí anh hiểu tôi nói gì và sẽ đến giúp. Cho nên lúc ấy tôi thấy an tâm. Tôi đã làm hết sức mình một công tác thật “khó khăn” và tôi đả thành công.
 
CHƯƠNG 5
KHI BÁN CẦU NÃO TRÁI NGỪNG HOẠT ĐỘNG
Trong lúc ngồi chờ bạn đồng nghiệp đến chỏ đỉ bệnh viện, tôi chợt nhớ là Phải gọi bác sĩ gia đình. Tôi ít khi đi bác sĩ vì tình trạng sức khỏe-quá tốt và cũng vì tôi rất bận rộn. Bây giờ Phải báo cho bác sĩ của tôi biết là tôi Phải vào “cấp cứu”. Tôi mới đi bác sĩ cách đây 6 tháng, nên danh thiếp vẫn còn trong xấp trên bàn viết và vì cái dấu hiệu Harvard rất dễ nhớ.  Dễ nhớ, nhưng không Phải dễ tìm. Tôi quên là tôi không còn khả năng phân biệt chữ nghĩa hoặc con số. Tôi nhìn mãi các danh thiếp nhưng không thể chọn ra tấm nào là của bác sĩ tôi. Tất cả chữ nghĩa và con số trên danh thiếp chỉ còn là những chấm đen dưới mắt tôi bấy giờ. Chán nản lẫn hãi hùng, tôi nhận ra là khả năng tiếp xúc với ngoại vật của tôi đã tồi tệ hơn tôi tưỏng. Mắt tôi không còn phân biệt được hình dáng và màu sắc của mọi vật thể xung quanh. Ngay cả thân thể tôi, tôi cũng không phân biệt nó là thể đặc hay thể lỏng, nên không còn dám di động từ chỗ này sang chỗ khác. Và trí nhớ dài hạn hay ngắn hạn cũng không còn. Thật là một công việc đáng sợ khi Phải chỉ ngồi yên đó với một đầu óc im vắng, trống không như lặng chết, trong tay cầm một xấp danh thiếp và cố gắng nhớ xem mình Phải làm gì! “Tôi là ai? Tôi đang làm gì đây?” là câu hỏ không có
câu trả lời, bỏi đầu óc không còn hiểu được thực trạng của ngoại cảnh. Và tôi cũng mất đi cảm giác Phải gấp rút tới bệnh viện. Nhưng cũng kỳ lạ thay, phần tiền đình của não bộ Trái vẫn còn giữ được ý tưỏng là tôi Phải đến bệnh viện. Cơn đau nhói trẻn đầu thỉnh thoảng đưa lại những giây phút “sáng suốt” khiến tôi nối kết được với thực tại, biết Phải làm gì và làm thế nào. Cuối cùng, tôi đã lựa ra được tấm danh thiếp của bác sĩ riêng nhờ vào dấu hiệu trường Harvard ỉn trên góc Trái. Ở thời điểm này, cái ý nghĩ “nói chuyện qua điện thoại” cho tôi cảm giác thật là kỳ lạ. Sao mà khó hiểu quá vậy? Làm sao mà chỉ bấm vào mấv con số. mà môt người ngồi ỏ đâv lai có thể nói chuyện với một người ỏ xa trong một không gian  khác biệt? Và người này nói mà người kia nghe và hiểu?
Vi tôi sợ sẽ mất sự chú ý về công việc đang làm, tôi đẩy xấp danh thiếp qua một bên. Não bộ tôi đang đi dần vào sự phân hóa trầm trọng, sự hiện hữu của các con số trước mắt tôi dàn trỏ nên kỳ lạ như chưa tùng thấy bao giờ. Tôi ngồi đó, im lặng, thần trí như tỉnh như mê. Tôi nhìn nhũng con số lạ lùng trên danh thiếp và trên điện thoại, rồi cố gắng bấm đều đặn từng con số ngoằn ngoèo trên danh thiếp
giống với con số ngoằn ngoèo trên điện thoại. Tôi Phải lấy ngón tay trỏ của bàn tay Trái che lại những số vừa bấm xong, để ngón tay trỏ của bàn tay xụi bên Phải không lẫn lộn. Tôi Phải làm như vậy vì không còn nhớ được cái gì mới vừa làm. Cảm giác mệt mỏi vì đã làm một việc quá sức khó, tôi còn lo âu là tôi sẽ quên mát mình đang muốn làm gì. Tôi Phải lặp đi lặp lại trong đầu: “Đây là Jill Taylor. Tôi đang bị xuất huyết não. Đây là Jill Taylor. Tôi đang bị xuất huyết não”. Nhưng khi điện thoại đàu kia reo và tôi cố gắng lên tiếng, tôi chết điếng cả ngưòỉ khi khám phá ra tôi không còn nói được. Tôi vẫn nghe được câu tôi muốn nói vang lên trong đàu, nhưng thực tế âm thanh không phát ra ỏ miệng vì thanh quản đã không còn làm việc. Ngay cả tiếng ồ ồ như dã nhân mà tôi đã gọi bạn đồng nghiệp mới đây, cũng không còn. “Chúa ơi! Con không thể nói. Con không thể nói nữa”. Sợ đầu dây kia nghĩ rằng đây là có người gọi “phá đám” và họ sẽ gác  máy, tôi vội cố hết sức bình sinh từ buồng phổi, hét lên: “Đừng gác máy; xin đừng  gác máy”. Thì tôi chỉ nghe được: “Uhhhh, ahhh, thhhhhhh, thhhhììzzzzăa…”. 
Nhưng rồi điện thoại cũng được chuyển cho bác sĩ. Cũng may, bác sĩ của tôi mới  vào tới văn phòng. Nghe một hồi, bà cũng đoán được tình trạng của tôi, nên đã bảo  tôi đi đến bệnh viện Mount Auburn. Nhưng tôi nghe mà không hiểu được gì. Bà Phải ôn tồn kiên nhẫn lặp lại thật chậm mấy lần, tôi mới hiểu. Thì ra, khi nghe tiếng nói của ngưòi khác, tôi không còn khả năng phân biệt được âm thanh và nghĩa lý của âm thanh. Tôi có cảm giác càng lúc tôi càng không thể liên lạc được với thế giới bên ngoài. Lần đầu tiên, tôi nhận ra mình không Phải là không thể bệnh, là “bất tử’. Không Phải như cái máy vi tính bị “yếu” hay “chậm” thì tắt nó đi, rồi “mỏ”trỏ lại thì nó sẽ mạnh và nhanh hơn. Tôi nhận ra con người sống không Phải chỉ nhờ các tế bào cơ thể khỏe mạnh, mà còn Phải có bộ óc với các tế bào thần kinh
liên lạc với nhau một cách thích hợp và hữu hiệu.
Bây giờ thì tôi cảm thấy cái chết đã gần kề. Mặc dầu não bộ bên Phải cho tôi cảm giác an lành vô hạn, tôi thực sự chưa muốn chết. Tôi vẫn cố gắng trong tuyệt vọng nắm giữ những gì còn cung cấp được cho tôi từ não thùy Trái. Tôi biết hiện trạng đã làm tôi không còn là người bình thường. Ý thức của tôi đã trỏ nên mơ hồ, không còn khả năng phân biệt, phân tích và phán đoán những dữ kiện xảy ra
chung quanh. Không còn sự vận hành của não thùy Trái để nhận biết ra tôi là một cá nhân với hệ thống sinh học đặc biệt gồm những cơ phận riêng lẻ kết hợp, não thùy Phải đã tự do đưa tôi vào một vùng tâm thức “bình an và vui tươi” chưa bao giò được biết.
Trong khi ngồi im lặng nghĩ đến cái chết trong an lạc, tôi tự hỏ mình có thể trỏ nên bất lực đến mức độ nào khi bộ óc Trái bị hư hại đến không thể cứu vãn được. Tôi thử ước đoán có bao nhiêu mạch thần kỉnh đã bị hư hỏng, ảnh hưỏng đến phần trí tuệ cấp “cao” và liệu có hi vọng gì thiết lập chúng lại. Tôi không muốn bao năm đã bỏ công ra ăn học đến trình độ này, rồi bỗng dưng Phải chết ỏ cái tuổi đời
rất trẻ, hoặc bị liệt bại trí năng thành người vô dụng. Nghĩ đến đây, tôi gục đầu vào tay và bật khóc. Rồi tôi cầu nguyện thầm thì trong tâm, “Lạy Chúa, đừng bắt con chết; đừng để con chết!…”. Trong sự ỉm vắng vô cùng đó, tôi nghe văng vẳng lời khuyên, “Hãy bình tĩnh; yên lặng, và chờ đợi…”. Tôi thấy an ổn trong tâm hơn.
Ngồi trong phòng khách chò bạn đến cứu mà tôi tưỏng như vô tận. Nhưng rồi anh bạn cũng đến. Tôi không nói được gì, chỉ dùng tay Trái đưa ra tấm danh thiếp bác sĩ gia đinh. Anh gọi ngay bác sĩ để hiểu rõ lời chỉ dẳn, rồi chỏ tôi gấp tới bệnh viện Mount Auburn.
Sau một hồi chậm chạp để điền giấy tò theo thủ tục, tôi được đưa di chụp hình bộ óc. Bấy giờ tôi vẫn còn tỉnh đôi chút để nghe được kết quả đúng như tôi đã tự chẩn đoán lúc ỏ nhà, là tôi đã bị một loại tai biến đứt mạch máu rất ít khi xảy ra, ỏ não thùy Trái, khiến não thùy này hiện đang bị tràn ngập trong vũng máu. Tôi được cho uống sơ khởi một thứ thuốc cầm máu và chống sưng, rồi được bỏ lên xe cấp cứu đưa sang bệnh viện lớn chuyên khoa gần bên. Tôi còn nhớ được người y tá theo xe lo cho tôi rất tận tình với tấm lòng của người lương y. Anh ta sửa lại chiếc mền đắp cho tôi ấm và che bớt ánh sáng cho tôi không bị nhức mắt. Anh lại vỗ nhẹ vai tôi và an ủi, “Cô không sao, không sao đâu!”. Những cử chỉ này thật quý giá đối với bệnh nhân trong tình trạng nguy cấp.
Sau đó, hình như tôi đã mê man. Tôi đã thoát khỏ mọi lo âu, phiền muộn.
Chuyên chết sống bây giò là chuyện của bệnh viện và các bác sĩ chuyên khoa ỏ đó. Tôi đã làm hết mọi sự tôi có thể làm. Tôi chỉ biết rằng suốt buổi sáng này tôi đã chứng kiến từng giai đoạn suy thoái của cơ thể và các mạch thần kinh ỏ não bộ Trái của tôi.
Trong suốt 37 năm nay, lúc nào tôi cũng vui vẻ và hãnh diện vì các DNA của tôi đã tinh vi sắp xếp cho tôi có một cơ thể khỏe mạnh, lỉnh hoạt và đầy sức sống. Nhưng giờ thì hình như các mạch năng lực của khối tế bào cơ thể đang sắp dừng hoạt động. Sáng hôm nay, trước trưa ngày 10 tháng 12 năm 1996, các dòng điện trong cơ thể tôi như tắt dàn. Khi cảm thấy năng lượng thoát ra từng khối lớn khỏi cơ thể, thì ý thức của tôi cũng dần dần không còn điều động hay liên hệ gì được với các giác quan và tứ chi. Tôi biết tôi không còn là người đạo diễn của cái thân thể này nữa. Chung quanh tôi bây giò trỏ nên thật im lặng. Trong cái vắng bặt của hình ảnh, âm thanh, mùi vị và cảm giác, tôi không còn chút gì lo sợ và đau đớn nữa. Và cũng như phần lớn mọi người sắp chết, tôi ước ao được tỉnh táo trỏ lại để được chứng kiến mình về đâu trong sự chuyển tiếp trọng đại này.
 
CHƯƠNG 6
CHỈ CÒN NÃO TRÁI HOẠT ĐỘNG
Đến bệnh viện chuyên khoa, tôi được đưa vào trung tâm cấp cứu mà nơi đó ồn ào như một tổ ong khổng lo. Thân thể tôi đã trỏ nên nặng nề và bất động. Nó đã mất hết tất cả nội lực, giống như cái bong bóng xì hơi và xẹp hẳn. Nhân viên bệnh viện bu quanh tôi. Ánh đèn chói chang và âm thanh ồn ào đã làm cho thân tôi đau đớn như bị một đám côn đồ hành hạ. Tôi như đã gần chết mà họ cứ hỏi những câu tôi không hơi sức đâu để trả lời. Mà ví tôi có muốn trả lời, họ cũng không thể nghe và hiểu được.
‘Điền những câu trả lời vào bản này; cầm và bóp Trái banh này; ký tên vào đây…”. Họ bảo với tôi như vậy khi tôi đang nửa tỉnh nửa mê. Và tôi đã nghĩ, “Thật là vô lý. Các người không thấy tôi đang gần chết rồi đây hay sao? Hãy chậm chậm với tôi và hãy kiên nhẫn một chút. Các người làm đau tôi quá”. Họ càng cố mạnh tay để làm cho tôi tỉnh lại thì tôi càng ráng trốn sâu vào nội tâm để tránh sự thô bạo của họ. Tôi cảm giác như bị họ nắn bóp, đâm, chém, và đau đớn như một con đĩa bị rắc vôi. Tôi muốn la lên, “Hãy để tôi yên!” nhưng tiếng la không thoát được ra khỏi cửa miệng. Rồi tôi bất tỉnh, như một con vật bị thương đã tuyệt vọng thoát ra khỏi những bàn tay đang cấu xé nó.
Khi tôi tỉnh dậy một lúc sau bữa trưa hôm đó, tôi rất ngạc nhiên thấy mình vẫn còn sống. (Tôi cảm thấy vô cùng biết ơn các bác sĩ và y tá đã hết sức cứu tôi sống lại, mặc dù không ai biết làm sao tôi có thể hồi phục và hồi phục tới mức độ nào.) Tôi đang mặc áo của nhà thương và nằm ỏ phòng riêng. Vì không còn chút hơi sức nào, tôi nằm như một đống sắt vụn nặng nề không thể nhúc nhích. Tôi không
cảm nhận được thân thể tôi dài ngắn tới đâu. Vì không còn ý niệm về không gian ba chiều, tôi tưỏng như tôi bao trùm cả vũ trụ. Nhịp máu trên đầu vẫn còn làm tôi  đau như búa bổ. Mỗi hơi thỏ hít vào như cực hình ỏ be sườn. Còn ánh đèn chói vào mắt thì như lửa đốt trong bộ óc. Không thể kêu với ai, vì không nói được, để tắt bớt ánh sáng, tôi trỏ mình một cách khó khăn úp mặt vào tấm trải giường. Tôi không nghe được gì ngoài nhíp tim đều đặn. Những nhịp tim này mạnh và lớn đến nỗi làm bộ xương rung động theo và nhức nhối các thớ thịt. Tôi muốn oà khóc như một đứa bé sơ sinh thình lình Phải tiếp xúc với một môi trường hỗn tạp. Không còn khả năng nhận biết mình là ai, quá khứ đã làm gì và hiện tại ra sao, tôi như đứa trẻ trong cơ thể một người lớn. Chỉ vì não thùy Trái của tôi không còn hoạt động!
Rồi có hai chuyên viên bước vào phòng. Họ xì xào những gì thì tôi không thể hiểu. Nhưng nhìn cách họ nói với các điệu bộ thì tôi biết tình hình của tôi thật nghiêm trọng. Vói những tấm ảnh chụp não bộ của tôi có cái lổ hổng trắng khổng lồ ỏ giữa não, không cần Phải là một tiến sĩ chuyên môn về giải phẩu não bộ cũng biết rằng lổ hổng kia không nên có ỏ vị trí đó. Bộ óc Trái của tôi như vậy là đã bị máu tràn ngập và nguyên cả não bộ sưng lên vì đã bị thương. Trong ỉm lặng, tôi cầu nguyện: “Tôi không nên ỏ lại đây lâu hơn nữa! Tôi buông bỏ tất cả! Sức sống của tôi không còn và sự sống của tôi cũng đã ra đi. Thật là không Phải khi tôi còn quyến luyến ỏ lại đây. Lạy Chúa toàn năng, con bây giò đã là Một cùng với vũ trụ. Con đã hòa đồng với dòng sông Vĩnh cữu tới mức độ không thể trỏ lại đòi sống này được nữa. Vậy mà con hãy còn bị ràng buộc ỏ đây. Bộ óc mong manh của cái thùng chứa sinh học này đã hư hỏng và không còn thích hợp cho một cá thể thông minh nữa! Con không còn thích hợp ỏ lạỉ đây!”.
Không còn bị ràng buộc tình cảm vói bất cứ người nào và vật gì xung quanh, tiềm thức của tôi đã tự do trôi theo dòng sông An lạc. “Thả tôi ra. Để tôi đi. Tôi buông bỏ tất cả!”. Tôi muốn chạy trốn khỏ cái thân xác đau đón và rối loạn vận hành này. Trong một thóang, tôi cảm thấy hết sức tuyệt vọng rằng mình đã còn sống sót. Toàn thân tôi bây giờ lạnh ngắt, nặng nề và đau đớn vô cùng. Những mệnh lệnh
từ bộ óc đến thân thể đã không còn hữu hiệu đến nỗi tôi không còn nhận ra hình thể vật chất của tôi. Tôi có cảm giác tôi là một sinh vật bằng điện mà có một bộ phận bị chạm mạch nên bốc khói và tan chảy. Tôi trỏ thành vật phế thải, bị bỏ qua một bên. Nhưng tôi vẵn còn ý thức. Ý thức này khác với cái ý thức tôi biết trước kla. Bỏi vì cái ý thức trước kia giúp tôi biết được thế giới bên ngoài. Những chi tiết này được sắp xếp và cất giữ trong các mạch điện của não bộ. Bây giờ các mạch điện đó ngừng hoạt động, tôi trỏ nên bất động và vụng v’ê với cái ý thức mới. Làm sao tôi có thể là tiến sĩ Jill Taylor khi tôi không biết cô ta là ai, đã làm gì, kiến thức ra sao và ưa thích những gì trong cuộc sống này?
Tôi còn nhớ ngày đầu tiên bị xuất huyết não với nỗi hãi hùng cay đắng nhưng ngọt ngào. Khi não thùy Trái không còn hoạt động bình thường được nữa, tôi mất đi ý thức về giới hạn của thân thể vật chất. Tôi cảm thấy mình như vị thân trong cổ tích, bị nhốt ngàn năm trong lọ nhỏ, vừa thoát ra khỏi lọ và lớn trùm trong không gian. Năng lượng tỉnh thàn thoát ra khỏi thân xác, ò ạt như con cá voi khổng lồ đang lướt nhanh trên mặt đại dương với sức sống mãnh liệt. Khi cơ thể vật chất không còn giới hạn, tôi cảm thấy một niềm an vui trùm khắp mà tôi chưa từng thấy trong đòi. Và với tâm thức đang cuồn cuộn trong dòng chảy an lành và thanh tịnh đó, tôi thấy rõ ràng là không làm sao tôi có thể bắt ép cái khối năng lượng lớn lao này quay trỏ lại vào tấm thân nhỏ bé của tôi. Được vào cảnh giới Cực Lạc là một sự trốn chạy tuyệt vời của tôi khi não Trái bị tàn phá. Tôi như đang hiện hữu ỏ một vùng trời thật xa lạ – xa lạ hẳn vói những thông tin mà tôi được biết lâu nay. Một điều rất rõ ràng là trong thế giới này, cái
“Tôi” không còn nữa! Cái “Tôi” mà tôi được dạy dỗ Phải giữ gìn và trau chuốt từ bé đến lớn, đã không còn sống sót sau tai họa xuất huyết. Tôi cũng biết là tiến sĩ Jill Taylor đã chết vào buổi sáng xuất huyết não này rồi. Vậy ai còn sống sót?
Không còn cái Trung tâm ngôn ngữ ỏ bán cầu Trái bảo “Tôi là tiến sĩ Taylor, là nhà nghiên cứu tế bào não bộ; tôi ỏ địa chỉ này và có thể liên lạc bằng số điện thoại này…”, tôi thấy mình không có bổn phận đóng vai cô ta nữa. Điều này cũng thật kỳ lạ về mặt cảm giác; nhưng bỏi vì không còn mạch thần kinh nào nói cho tôi biết cô ấy tính tình thế nào, ưa gì, ghét gì, cái Ngã của cô ra sao, có hay chỉ trích, phê bình người khác không? Tôi thật không có chút ý niệm gì về cô ấy cả!  Lại thêm, trên thực tế, với những thiệt hại lớn lao về mặt sinh học – một nửa bộ óc đã không còn hoạt động- tôi càng không nên bắt chước giữ vai trò cô ta. Cô tiến sĩ Jill Taylor thực sự không còn hiện hữu. Tôi đã không biết gì về cuộc đòi cô,những liên hệ bạn bè, việc làm, thành công, thất bại của cô thì làm sao tôi đóng vai cô được?
Mặc dù tôi buồn rầu về cái chết của não thùy Trái và về cô gái đó, hiện tại tôi cảm thấy được giải thoát và rất nhẹ lòng. Được biết cô tiến sĩ Taylor đã lớn lên trong nhiều phiền muộn, sân hận và cả một đời mang theo những mối hỉ nộ mà chắc cô phải tốn kém rất nhiều năng lượng để nuôi dưỡng chúng! Cô đã nhiệt tình trong công việc, với lý tưỏng và rất năng động. Nhưng dù cô có dễ thương hay đáng kính, trong cái hình hài hiện tại của tôi, tôi không thể tiếp tục cuộc sống như cô.
Tôi đã không còn nhớ đến người anh bệnh hoạn, đến cha mẹ tôi đã ly dị từ lâu và những công việc làm đã mang lại cho tôi rất nhiều ưu tư và áp lực. Tóm lại là tôi không còn chút trí nhó nào về quá khứ. Tôi cảm thấy vừa giải thoát, vừa an lạc.
Trong suốt cuộc đời 37 năm qua, hình như lúc nào tôi cũng nhiệt tình lo làm đủ mọi thứ việc, mà thứ nào cũng phải hoàn tất theo hạn kỳ. Trong ngày đặc biệt hôm nay, lần đầu tiên tôi học được ý nghĩa của bài học về sự sống: Chỉ là đơn giản… sống!
Khi não thùy Trái không còn làm việc và trung tâm ngôn ngữ đã đóng, đồng hồ sinh học trong tôi cũng ngừng. Thời gian không còn được phân chia ra từng giờ phút ngắn ngủi nữa. Thòi gian với tôi bây giờ là thời gian “mỏ“, không có kỳ hạn; nên tôi không còn phải gấp gáp cho việc gì cả. Tương tự như dạo chơi trên bãi biển hay chỉ thơ thẩn ngoài vườn hoa, tôi bây giờ đổi từ ý thức phải làm đúng giờ theo thời biểu đã định của não thùy Trái, thành ý thức chỉ “là” sống, “là” hiện hữu của não thùy Phải. Tôi siêu việt chính mình từ cảm thấy nhỏ nhoi và biệt lập sang vĩ đại và hòa đồng với vũ trụ. Tôi không còn suy nghĩ bằng ngôn ngữ, lo lắng về quá khứ hay tương lai; mà chỉ còn khả năng hiểu biết bằng hình ảnh trong hiện tại, ỏ đây và bây giờ. Và cái hiện tại, ỏ đây và bây giò… luôn luôn đẹp vô cùng!
Khi tôi không còn thấy mình là một vật thể cứng rắn, có hình dáng cô’ định, một đơn vị sinh học riêng biệt với các hữu thể chung quanh, thì tất cả ý niệm về cái “Tôi” cũng hoàn toàn biến mất. Về phương diện sinh học, ỏ trình độ hiểu biết sơ đẳng nhất, con người chỉ là một hiện hữu có dạng chất lỏng. Thật vậy, tôi là một chất lỏng! Mọi thứ chung quanh chúng ta, giữa chúng ta, trong chúng ta, về chúng ta, hay chính bản thân ta đi nữa…đều chỉ là những nguyên tử và phân tử của những chát lỏng đang rung động trong không gian. Vậy thì cái “Tôi”, cái “Ngã” của chúng ta nằm ỏ chỗ nào? Mặc dù trung tâm ngôn ngữ ỏ não thùy Trái thích định nghĩa “ngã” là TỒI, một cá nhân riêng biệt, một khối đặc và cụ thể, nhưng người có học nào cũng biết chúng ta đều được hình thành như nhau bằng hàng ngàn tỉ li tỉ tế bào với nước trong đó và tất cả chúng ta đang “là” trong sự rung động không ngừng với tần số cực kỳ nhanh.
Não bộ Trái của tôi đã được huấn luyện từ bao nhiêu năm để sản sinh ra một nhận thức rằng tôi là một cá thể cứng rắn, độc nhất và khác biệt với mọi người. Bây giờ, bỏ đi sự kiểm soát của các mạch thần kinh ỏ não bộ Trái, não bộ Phải được tự do sinh hoạt theo cách nhìn của chân lý vĩnh cữu. Tôi nhận ra mình không phải là một sinh vật nhỏ bé, riêng biệt và cô độc. Tôi không phải hiện hữu độc lập mà là “liên lập” với mọi người. Tâm hồn tôi mỏ lớn ra cùng vũ trụ và bay lượn vui tươi trong khắp biển tròi tự do. Đối với nhiều người, cái ý tưỏng cá nhân chúng ta chỉ là hợp chất lỏng, bỏ vào bình chứa hình gì sẽ ra dạng đó và tâm hồn chúng ta rộng lớn như vũ trụ… làm cho cảm thấy không được “yên ổn”. Chỉ vì ý thức từ não bộ Trái và giáo dục sai lầm đã tạo ra. Nhưng rõ ràng khoa học đã chứng minh rằng mỗi con người chúng ta là do tỉ tỉ nguyên tử vật chát hợp lại và nhẹ nhàng rung động. Chúng ta được kết hợp
bằng hàng tỉ túi nhỏ đầy chất lỏng trong một thế giới chất lỏng và ỏ đó tất cả đều hiện hữu trong sự rung động. Các hiện hữu có khác nhau chỉ do mật độ tập hợp  phân bào khác nhau. Nhưng nói chung thì tất cả đều là tập hợp của âm điện tử, dương điện tử, trung hòa tử… hài hòa trong một vũ điệu tuyệt vời. Giữa bạn và tôi, và cả khoảng cách không gian nữa, dù là một phần nhỏ đến đâu, cũng chỉ là
nguyên tử vật chất và năng lượng mà thôi. Tan ra là năng lượng, hợp lại là nguyên tử vật chất.
Thật sự mắt tôi không còn “thấy” các sự vật rời rạc nữa, mà là thấy năng lượng của các vật thể quyện lẫn vào nhau, tương tự như những tranh vẽ của trường phái Ấn Tượng. Tâm thức tôi lúc này thật tỉnh táo và tôl nhìn thấy mọi hiện hữu đều có năng lượng quyện lấy nhau, di động cùng nhau như cùng chảy trong một dòng sông. Tôi không còn nhận ra vật thể có ba chiều trong không gian và cũng không phân biệt màu sắc nữa. Ngay cả khi nhìn con người, tôi chỉ thấy họ là những khối năng lượng di động không màu sắc, dù họ có mặc y phục nhiều màu.
Những ngày trước kia, trước buổi sáng này, khỉ tôi còn hiểu con người là một vật thể rần, tôi có khả năng cảm thấy đau buồn vì mất mát, hoặc về thể chát – chết hay bị thương, hoặc về tình cảm – thiệt thòi hay mất mát. Bây giờ chỉ còn não thùy Phải hoạt động, tôi không còn thấy đau buồn hay mất mát gì cả. Mà thấy tất cả chỉ là sự chuyển đổi từ vật chất ra năng lượng, chứ nào có mất mát đi đâu. Cho nên hiện tại dù bị thương nặng ỏ đầu, một cảm giác không thể quên được đã xâm chiếm hồn tôi là sự bình an cùng cực. Vì vậy, tôi rất yên tâm.
Nhưng rồi tôi lại nghĩ ra như vậy tôi là người “bất thường”. Làm sao tôi giải thích cho mọi người hiểu được rằng những điều tôi nói trên là sự thật? Làm sao mọi người chấp nhận được nhận thức “Ta là một thành phần của toàn thể và mỗi chúng ta đều có năng lực vô biên của vũ trụ?”. Nói theo mọi người, tôi là một người bị thương nặng ỏ bộ óc. Nhưng những điều tôi vừa trình bày được chứng nghiệm một cách khoa học từ sự quan sát trực tiếp của một nhà khoa học về não bộ. Những điều chúng ta biết và tưỏng” là thật về thế giới bên ngoài thật ra chỉ là sản phẩm của mấy mạch thần kinh ỏ não bộ Trái mà thôi. Thành ra trong những năm qua, cái “biết” của tôi chỉ là cái biết “không có thật” do não bộ Trái tưỏng
tượng ra như thật!
Hiện giờ, tôi thật sự nghĩ rằng não thùy Trái của tôi không thể nào lành lặn lại được. Bỏi vì các tế bào thần kinh ỏ đó đã hoàn toàn tê liệt rồi. Nhưng dù tôi không còn có thể đi đứng, nói năng, hiểu biết ngôn ngữ, hay đọc, viết, và ngay cả không làm sao trỏ mình được trên giường bệnh, tôi vẫn cảm thấy mình thật ’’bình yên”! Sự mất khả năng của não thùy Trái đã làm cho não thùy Phải có cơ hội độc lập và
phát huy những nhận thức thâm sâu từ bản thể rằng tôi có năng lực mầu nhiệm đối với đời sống. Tôi biết tôi bây giờ khác trước – vì chỉ còn nửa bộ óc – nhưng tôi không thấy mình kém giá trị hơn trước. Vì không còn bộ óc Trái để khen chê, phân biệt, tôi thấy mình vẫn hoàn hảo, bình thường và vẫn xinh đẹp như thuỏ nào! (Nhưng về sau các bạn kể lại rằng, ngày hôm đó ỏ bệnh viện tôi trông “bê bối” lắm!)
Có lẽ bạn đọc sẽ thắc mắc rằng sao tôi bị xuất huyết não mà còn ý thức được mọi việc như đã trình bày. Thật ra, lúc đó tôi mới có bị tê liệt não thùy Trái, chưa phải là bất tỉnh. Ý thức của tôi vẫn còn hoạt động. Tương tự như máy vi tính, ý thức của chúng ta có nhiều lập trình mà khi cái này tắt không dùng tới, thì cái kia sẽ dễ dàng hiện lên. Nhiều lập trình khác nhau giúp chúng ta nhạy bén hơn trong ứng xử với thế giới không gian ba chiều. Mặc dù phần ý thức về cái tôi và nhận thức tôi-là-một-hữu-thể-cá-bỉệt đã mất vì bán cầu não Trái đã chết, phần ý thức của não thùy Phải và của các tế bào cơ thể vẫn còn. Cả hai lập trình này được tự do chạy những thông tin đã thu nhận được, mà không bị kiểm duyệt bỏi não thùy Trái! Với sự thay đổi ý thức này, tôi phát hiện được những nhận thức mới về con người và vũ trụ, rất bí nhiệm nhưng lại khế hợp với Khoa học ngày nay.
 
CHƯƠNG 7
PHÒNG TRỊ LIỆU THẦN KINH
Khỉ các bác sĩ hài lòng về công việc cứu sống tôi đã xong, họ cho lệnh chuyển tôi   sang khu điều trị Thần kinh. Ỏ đây, tôi nhìn mọi người có mặt như những khối năng lượng di động. Bác sĩ, y tá đến và đi như những luồng ánh sáng chói chang. Ai cũng vội vã và họ không biết làm sao để “trao đổi” với tôi. Bỏi vì tôi không nói được và cũng không hiểu họ nói gì. Tôi thật là mệt mỏi và mất nhiều năng lực khỉ phải tiếp xúc với họ trong 48 tiếng đồng hồ đầu: Họ muốn thử xem các tế bào thần  kinh của tôi đã thiệt hại đến đâu. Lẽ ra họ chỉ cần làm một cuộc thử nghiệm, rồi chia sẻ dữ kiện với nhau thì tôi đỡ mệt biết bao. Đằng này,ai cũng muốn có kết quả thử nghiệm của mình một cách riêng lẻ. Tôi tuy không hiểu họ nói gì, nhưng cũng đoán được bằng cách nhìn vẻ mặt và cử chỉ của họ. Có người quan tâm tới an nguy 
của bệnh nhân khiến tôi thấy dễ chịu với họ. Họ như mang lại cho tôi niềm tin và nhiều năng lượng. Cũng có người rất lơ là, làm việc lấy lệ khiến tôi không an tâm và tôi như bị cướp bớt năng lượng đi. Như một y tá mang một khay thức ăn sáng, để “kịch” lên bàn trước mặt tôi, rồi quay đi vội vã. Tôi muốn uống nước mà không biết làm sao mỏ hộp với chỉ có một tay. Tôi phải nhấn chuông gọi người khác vào giúp.Tinh trạng của tôi bây giờ có khá hơn ỏ vài lĩnh vực: máu không còn chảy, đầu không còn đau, một vài nơi của não bộ Trái vẫn chưa bị tàn phá; nhưng sự phục hồi không phải là đơn giản. Điều đáng lo nhất là, mặc dù sự xuất huyết đã cầm, bán cầu não Trái vẫn còn im lặng. Điều đó không có nghĩa là tôi không suy nghĩ được, nhưng là suy nghĩ khác với bình thường, không còn theo đường thẳng (quá khứ, hiện tại, vị lai) và chỉ bằng hình ảnh. Nghĩa là chỉ còn có não bộ Phải làm việc.
Chẳng hạn, một bác sĩ trắc nghiệm tôi bằng câu hỏi,“Ai là Tổng thống của nước Mỹ?”. Để cho tôi chú ý, trước hết ông ta phải làm cho tôi biết đó là câu hỏi dành cho tôi. Khi tôi đã chú ý và nhận biết mình bị hỏi, người hỏi phải lặp lại để tôi chú ý đến những âm thanh đã phát ra và nhìn đôi môi xem họ đã nhóp nhép như thế nào. Nếu có ngưòi khác đang nói ồn ào, tôi không thể nghe được. Điều này cũng tương tự như bạn nói chuyện qua điện thoại di động mà gặp phải tiếng ồn kế bên. Cho nên người nói phải nói thật chậm và phát âm thật rõ ràng. Sau khi nhận diện được câu hỏ rồi, vì não bộ Trái đã bị thương, não bộ Phải mới làm việc và đi tìm trong bộ nhớ xem hình ảnh một ‘Tổng thống” là như thế nào. Biết được ý niệm đó rồi, đi tìm tiếp theo hình ảnh “nước Mỹ“ ra làm sao. Rồi, mới sang tìm hiểu cách hỏi. Cách hỏi đây ỏ thì “hiện tại“, vậy người hỏ muốn hỏi về ông tổng thống hiện tại, không Phải ông nào khác. Xong, mới tới phàn trả lời. Lại phải đi tìm hình ảnh của ông tổng thống đương nhiệm. Như vậy, tất cả nghĩa lý của câu hỏi và câu trả lời, tôi chỉ tìm bằng hình ảnh, không Phải bằng chữ nghĩa. Thành ra kết quả rất lâu và rất mệt mỏi cho tôi. Mọi người cho rằng tôi trả lời câu hỏi quá chậm, chậm hơn thời gian quy định. Thế là tôi “thất bại” trong cuộc thử nghiệm. Vì chỉ có não bộ Phải làm việc và chỉ cung cấp “hình ảnh”, nên sự tìm kiếm hình ảnh trong não thùy Phải rất là chậm chạp. Tôi rất lấy làm tiếc là những ngưòi trong giới Y học chưa hề biết điều này. Nên họ đã không đủ hiểu biết và kiên nhẫn để xử sự thích hợp với những trường hợp bệnh nhân như tôi. Tai biến mạch máu não là nguyên nhân hàng đầu làm con người trỏ nên bất lực trong sự vận hành cơ thể. Và trong số người bị tai biến, có gấp 4 lần tai biến xảy ra ỏ não bộ Trái khiến khả năng ngôn ngữ của họ bị tê liệt và không còn nói năng hay đọc viết được.Những người bị tai biến mà sống sót, vì vậy nên chia sẻ kinh ngiệm với nhau để biết bộ óc của mình đã phục hồi đến đâu và cách nào.
Nếu các bác sĩ biết để ý hơn trong sự trị liệu ỏ những giờ phút đầu thì sẽ giúp ích cho bệnh nhân phục hồi nhiều hơn. Tôi muốn các bác sĩ phải chú ý xem xét bộ óc của bệnh nhân còn đang hoạt động như thế nào, chứ không phải xem bộ óc có hoạt động hay không, thì mới giúp ích bệnh nhân phục hồi được. Mỗi bệnh nhân một khác. Bác sĩ không nên dùng một tiêu chuẩn chung để phán định mọi người. Như
trường hợp tôi, kiến thức của tôi rất mênh mông sau những năm dài học hỏi và nghiên cứu -nhưng không làm sao “lấy ra” được từ bộ óc tê liệt. Nói cách khác, tôi không phải là người dốt hay ngu; tôi chỉ là người “bệnh”.
Hãy tưỏng tượng, bỗng nhiên bạn bị mất dần các khả năng tiếp nhận và phản ứng với ngoại cảnh của mình. Trước hết, bạn không còn phân biệt nghĩa lý của âm thanh đến tai bạn. Bạn không phải điếc, nhưng bạn chỉ nghe tiếng người nói với bạn như tiếng ồn ào, không nghĩa lý gì. Bạn muốn nói, lại nói không ra tiếng; hoặc ra tiếng mà không ai hiểu được; hoặc nói ý này mà ra lời kia. Rồi, bạn không còn
thấy được hình dáng của mọi vật chung quanh. Bạn không phải đui, nhưng chỉ vì không còn ý thức về không gian ba chiều và các màu sắc. Bạn không còn khả năng phận biệt sự di chuyển của các vật, cũng như hình vóc giới hạn lớn nhỏ của chúng.
Cũng không phân biệt được các mùi thơm thúi, hôi tanh xung quanh; chỉ biết cái khí quyển bao trùm đó làm bạn ngộp thỏ. Rồi ánh sáng mọi loại, từ ánh sáng đèn đến ánh sáng mặt trời, cho bạn cảm giác như chúng là những mũi dao bén đâm vào óc bạn, đau nhức không thể chịu nổi. Đó mới là một vài mô tả về tình trạng người bị tai biến não! 
Cả buổi chiều hôm đó, tôi trốn vào giấc ngủ. Chỉ có giấc ngủ mới làm ý thức của tôi khép lại trước thế giới bên ngoài. Mới không còn bị các y tá, bác sĩ quấy rầy làm tiêu tan hết những năng lượng rất ít còn sót lại trong tôi. Thật tình nếu tôi còn ỏ bệnh viện lâu hơn sự cần thiết, tôi đã không bao giờ hoàn toàn hồi phục. Vậy mà, vì tình trạng quá nặng, tôi cũng đã mất 8 năm, trong kiên trì và cương quyết để phục hồi.
 
CHƯƠNG 8
NGÀY THỨ HAI SÁNG HÔM SAU
Tôi giật mình thức giấc thật sớm sáng hôm sau chỉ vì một sinh viên y khoa chạy vội vào phòng để lấy lịch sử bệnh lý. Tôi nghĩ thật là vô lý, vì cô sinh viên này không hề biết tôi là một bệnh nhân sống sót sau trận xuất huyết não; tức là tôi không còn khả năng nghe, hiểu và nói được điều gì. Tôi nghĩ nhiệm vụ hàng đầu của bệnh viện là phải làm cho bệnh nhân cảm thấy an tâm để phục hồi năng lực.
Cô bé sinh viên này không khác nào con dơi Dracula bay đi hút sinh lực của người bệnh. Cô ta muốn mọi thứ từ tôi, mặc dù tình trạng tôi rất mong manh; nhưng không chia sẻ với tôi được điều gì Cô ta đang chạy đua với đòng hồ, vì sợ trễ thì bị giáo sư khiển trách, nhưng rõ ràng cô ta đã thất bại. Trong hối hả, cô rất thô lỗ trong cung cách đối xử vớí bệnh nhân. Cô ta nói nhanh với tốc đô một trăm dặm một phút và hét to với tôi như tôỉ là người lảng tai! Rốt cuộc cô không lấy được tin tức nào từ tôi, vì tôi phải nhắm mắt lại để bảo vệ số năng lượng còn ít ỏi trong người. Bài học lớn nhất tôi học được vào ngày hôm đó là tôi phải là người điều khiển công cuộc phục hồi của tôi; không nên để tùy thuộc vào bác sĩ, y tá hay chuyên viên nào hết. Chữa trị Tai biến mạch máu não ỏ bệnh viện chỉ là: 
1- Nếu xuất huyết, thì cho thuốc cầm máu và thuốc chống sưng; 
2- Nếu nghẽn mạch máu, thì cho uống thuốc loãng máu và thông động mạch. 
Thế là bác sĩ đã xong nhiệm vụ.
Còn lại việc lớn lao và lâu dài là phục hồi các chức năng của cơ thể: như tai nghe, mắt thấy, miệng nói, tay chân cử động… là việc của chính bệnh nhân và người trong gia đình. Việc quan trọng nhất của người bệnh là… Ngủ! Ngoài việc vận động tay chân và bắp thịt, bệnh nhân Phải ngủ cho đủ giờ, ngủ bất cứ khỉ nào cảm thấy mệt; ngủ càng nhiều càng tốt, vì giấc ngủ giúp cho não bộ có thời giờ phục
hồi các chức năng.
Đối với mọi người, sự phục hồi lại chức năng để trỏ lại bình thưònq là vấn đề ý muốn và ý chí. Phần tôi, đây là một sự lựa chọn khó khăn, phức tạp của một người trí thức. Một đằng thì, sau khỉ bệnh ỏ bán cầu não Trái, tôi được sống trong tâm trạng vô cùng an vui và hạnh phúc, không còn lo lắng, buòn phiền hay bị áp lực của công việc. Ỏ đó, mọi sự mọi vật đều tốt đẹp. Tinh thần tôi lúc nào cũng tự do
và bay bổng trong an lành. Trong niềm an lạc vô bờ đó, tôi tự hỏi biết bao nhiêu lần rằng mình hồi phục để làm chi? Mặc dù, nếu có được bộ óc Trái vận hành trỏ lại, thì nó sẽ trả lại tôi những tài năng vốn có từ bao năm để thi thố với đời. Nhưng trong tình trạng bất lực của tôi, tôi quan sát hiện tại ỏ bệnh viện và nhận thấy mọi người, từ bác sĩ đến y tá, lao công, đều là những người đầy mệt mỏi và khổ sỏ vì
áp lực công việc. Thì thử hỏi tôi có nên trỏ lại đời sống bình thường như họ để mà tiếp tục chịu khổ sỏ hay không? Có một người nổi danh nào đó đã viết rằng: “Có nên tham gia cuộc chạy đua của bầy chuột, bằng cách trỏ thành con chuột?”.
Thành thật mà nói, những cảm nhận về một đời sống an lạc như tôi vừa trải nghiệm trong mấy hôm nay làm tôi quá đổi yêu thích, hơn là trỏ lại cuộc sống đầy áp lực của mấy mươi năm qua. Tôi nhất quyết không từ bỏ cuộc sống mới này chỉ vì nhân danh hồi phục. Tôi rất thích được biết rằng mình chỉ là chất loãng, biết tâm mình là một với vũ trụ và sống hòa điệu với mọi vật chung quanh. Tôi thấy
mình bị mê hoặc với cách sống không cần những ngôn ngữ giả dối và sai lệch, mà chỉ cần nhìn vào điệu bộ là đã hiểu nhau với tất cả chân tình. Mà trên hết là tôi say mê cái cảm giác an lành từ trong sâu thẳm của tâm hồn lúc nào cũng tràn ngập cả người tôi.
Đến chiều cùng ngày, người bạn vào cho hay ngày mai mẹ tôi sẽ đến bằng máy bay và ỏ lại lo cho tôi. Mới đầu, tôi không hiểu ý niệm “mẹ” là gì. Tôi đã mất hẳn ý niệm này và Phải lục lọi, tìm kiếm trong đầu cả buổi cho tới trước khi đi ngủ. “Mẹ, mẹ… Mẹ là gì?” Tôi cứ lặp đi lặp lại mãi như người lục kiếm tài liệu trong mấy ngăn kéo đựng hồ sơ. Sau cùng tôi hiểu ra, biết Mẹ là ai, và mừng rỏ biết ngày mai bà sẽ đến. Tôi mang cả niềm vui vào giấc ngủ an lành.
 
CHƯƠNG 9 
NGAY THU BA, ME TU XA DEN GIUP
Vào buổi sáng ngày thứ ba, tôi được đưa sang phòng khác và nằm chung với một bệnh nhân khá đặc biệt. Ngưòi này bị chứng “phong giật” (kinh phong) nên cả đầu được quấn khăn trắng với các điện cực chung quanh để theo dõi phản ứng của các mạch thần kinh. Bà ta trông rất khỏe về thể chất. Có lẽ quá buồn chán vì bị bắt nằm ỏ đây, bà tìm cách bắt chuyện với bất cứ ai bước vào phòng thăm tôi. Phần tôi
thì chỉ muốn im lặng để được yên nghỉ. Ngoài những chuyện phiếm của bà, tiếng máy truyền hình ồn ào do bà mỏ cũng làm tôi tiêu tán hết năng lực. Tôi nghĩ bệnh viện chẳng hề quan tâm tới sự hồi phục của tôi, mới đưa tôi vào chung phòng với bệnh nhân này. Bỏi không nói được, tôi không có lời phản đối nào cả với ban giám đốc.
Hôm nay, các giáo sư về não bộ – bạn của tôi và các bác sĩ của bệnh viện đã họp mặt trong phòng tôi, nghiêm trọng bàn về kế hoạch chữa trị sắp tới. Vừa lúc ấy thì mẹ tôi bước vào. Sau khi lên tiếng chào mọi người, bà đến bên giường nhìn thẳng vào tôi như ước định bệnh tình, rồi bà dỡ chăn êm đềm nằm sát xuống bên tôi, choàng tay ôm chặt lấy như che chỏ tôi những ngày còn bé. Trong mắt ngưòi mẹ,
tôi không còn là một giáo sư tiến sĩ của đại học nổi tiếng Harvard nữa, chỉ là đứa con gái bé bỏng của mẹ đang bệnh nặng và cần được mẹ chăm sóc, dỗ dành. Tôi chui rúc vào lòng êm ấm của bà với tất cả sự biết ơn. Tôi có cảm giác được mẹ tôi sinh ra lần thứ hai. Bấy lâu nay tôi vẫn nghĩ mình đã trưỏng thành và có thể sống đời độc lập. Giờ mới biết trong hoàn cảnh này, tình mẹ quý báu biết là dường nào!
Các bác sĩ bệnh viện và các bạn chuyên môn của tôi, căn cứ trên đồ hình đã chụp được, quyết định rằng tôi phải được mổ sọ ra để lấy đi khối máu khô lớn bằng trái banh golf và cắt bỏ mạch máu dị hình đã tạo ra cơn xuất huyết vừa rồi. Nếu không làm vậy, tôi sẽ có cơ nguy bị vỡ mạch máu lần thứ hai. Họ còn nói thêm rằng trước kia tôi hay bị nhức đầu nhưng uống thuốc không bao glờ hiệu quả.
Đó là vì, như đồ hình cho thấy, tôi đã có những lần bị xuất huyết nhỏ và máu tự đông đặc nên không có chuyện gì xảy ra. Cho nên, mẹ tôi đồng ý với quyết định của mọi người. Nhưng tôi lắc đầu phản đối. Mổ sọ ra là chuyện tối nguy hiểm đối với bất kỳ nhà thần kinh não bộ học nào. Mẹ tôi cảm nhận được ỏ tôi nỗi bất an trong đôi mắt, nên nói: “Không sao đâu con! Con không phải giải phẩu gì cả. Mẹ sẽ bảo vệ
con và chống lại sự quyết định của mọi người. Bất cứ điều gì sẽ xảy ra, mẹ sẽ chăm sóc con. Nhưng mà, nếu con không lấy mạch máu hư hỏng trong đầu ra, rồi bị xuất huyết não lần nữa, mẹ sẽ mang con về ỏ chung với mẹ và lo lắng cho con suốt đời!”. Mặc dù tôi rất yêu mẹ và biết bà là người mẹ tuyệt vời, cái ý nghĩ phải ỏ chung với mẹ cả đời làm tôi “hết hồn”! Con cái trưỏng thành không bao giò ỏ chung và
phụ thuộc vào cha mẹ trong văn hóa Mỹ; nhất là đối với người có ăn hoc như tôi. Cho nên hai ngày sau, tôi đồng ý cuộc giải phẩu. Bây giờ, bổn phận của tôi là phải làm sao cho sức khỏe khá hơn để đủ sức trãi qua cuộc mổ xẻ này. Điều quan trọng cần biết là : Bệnh nhân sống sót sau cơn tai biến Phải biết bổn phận là tự mình tập vận động để phục hồi các chức năng của cơ thể, đừng đợi chờ lệnh của bác sĩ. Phải tập vận động ngay sau khi đã được cấp cứu. Tức là ngay sau khi bác sĩ đã giúp cho thoát khỏ tử thần. Đừng có mãi nằm một chỗ dù mệt đến đâu. Cố gắng ngồi dậy cử động, đi đứng; càng ráng sức chừng nào, càng tốt cho sự hồi phục. Tôi bắt đầu vận động bằng cách lúc lắc mình như người khỏe
ngồi ghế xích đu. Nằm thẳng trên giường, không còn hơi sức, mà ráng lúc lắc rướn mình lên thì thật khó lắm. Lúc lắc độ mươi phút thì đã thấy mệt, nghỉ hoặc ngủ một chút rồi tiếp tục. Phải kiên nhẫn và có ý chí. Rướn mình lên như muốn ngồi dậy là để tập bắp thịt hông mạnh lên và vận động trỏ lại. Tập như vậy đôi ba ngày thì đã tự mình ngồi dậy được khi đang nằm trên giường. Thành ra phải tập với sự hăm hỏ và quyết tâm! Đứa trẻ sơ sinh tập lật, tập ngồi, trườn, bò, đứng chựng, đi lẩm đẩm… như thế nào và mất mấy năm thời gian, thì người sống sót sau tai biến mạch máu não cũng phải làm gần như vậy. Tùy theo bệnh nặng nhẹ mà kết quả mau hay chậm. Người nuôi bệnh phải biết rằng người bệnh là một đứa
bé trong thân thể người lớn. Đối xử với đứa bé như thế nào. thì đối với người  bệnh thế ấy. Không được nặng lời, to tiếng hay chẽ bai. Phải vui vẻ, bày tỏ sự thương yêu, dịu dàng, kính trọng và không tiếc lời ngợi khen khỉ người bệnh thành công trong việc tập ngồi, tập đứng, tập đi, tập nói, tập viết…
Vận động một lúc cảm thấy mệt, tức là đã hết năng lực. Người bệnh này không có năng lực nhiều nên luôn luôn cảm thấy mỏi mệt. Cách bồi bổ năng lực là… ngủ. Vừa thoát chết thì phải ngủ nhiều lần trong một ngày. Tôi hay thưỏng cho tôi sau mỗi lần vận động là nằm nhắm mắt ngủ. Đó là cách để bộ óc sắp xếp lại các mạch tế bào thần kinh, giúp cho ta có thêm năng lực hơn. Cũng như văn phòng làm việc
ngổn ngang giấy tờ. Ngưng làm việc một lúc, lo sắp xếp trật tự trỏ lại thì việc làm có hiệu quả hơn. Phải ngủ bao nhiêu giờ một ngày đêm tùy theo lệnh của bộ óc, không phải lệnh của bác sĩ hoặc bất kỳ ai. Ngủ một đêm 9 giờ hoặc 11 giờ cũng không sao, mỉễn thấy trong người khỏe khoắn khỉ tỉnh giấc. Và ngủ thêm giấc trưa vài ba giờ nữa. Đó là cách để cho năng lực phục hồi mau chóng.
 
CHƯƠNG 10
CHUẨN BỊ CUỘC GIẢI PHẪU
Năm ngày sau, tôi đã được về nhà để dưỡng sức hai tuần, rồi trỏ lại bệnh viện để mổ sọ lấy khối máu đông và mạch máu hư ra. Bây giờ tôi phải tập tành và học hỏimọi thứ lại từ đầu như đứa trẻ thơ. Về phương diện thể chất: tập ăn nói, đi đứng.Về phương diện trí tuệ: tập đọc, viết, suy luận. Tôi phải cố gắng vượt qua mọi khó khăn. Vì nếu không cố gắng thử làm; sai, thử lại cho đến khỉ thành công thì sẽ
không thể hồi phục được. Cho nên nhiều bệnh nhân sống sót tai biến não đã nằm yên trên giường chờ chết, bỏi không ai phụ giúp để biết phục hồi từ đâu.Tôi cảm thấy được ân sủng của thượng đế khi có mẹ đến ỏ săn sóc. Bà lúc nào cũng khiêm tốn nói với mọi người là bà không biết làm gì cho tôi. Bà chỉ theo dõi ủng hộ tinh thần, khuyến khích tôi trong mọi việc tôi cố gắng tập làm, với tình thương vô bờ của người mẹ như ngày xưa tôi mới chập chửng biết đi. Mọi thứ tôi Phải bắt đầu từng bước. Như muốn ngồi dậy từ trên giường nằm thì tôi Phải tập nhấc nửa thân mình lên mấy trăm lần trong một vài ngày cho hai bắp thịt hông khỏe mạnh rồi mới ngồi lên được. Những lúc đó mẹ tôi khen ngợi khuyến khích
không tiếc lời và tôi như đứa trẻ thơ, rất phấn khỏi khi được khen. Điều quan trọng là tôi biết cố gắng. Tôi luôn luôn tự kỷ ám thị bộ óc mình bằng cách nói với nó: “Nè, tôi cảm ơn và đánh giá cao việc nối kết các mạch thần kinh này và muốn những cố gắng khác cũng được như vậy”. Có những thực tập tôi phải lặp đi lặp lại cả ngàn lần mới được như ý. Nhưng nếu tôi không cố gắng, không có gì tốt đẹp sẽ xảy ra. Mẹ tôi tập tôi đi bằng cách vịn cho tôi từ giường ngủ tới phòng tắm, cách chừng 10 thước. (Lúc bấy giờ chưa có walker – kiểu xe tập đi của trẻ con). Mà tôi phải đi tới đi lui mấy ngày mới chập chửng đi được một mình. Mệt quá thì tôi lăn ra giường mà ngủ! Rồi từ giường ngủ tập đi tới phòng khách.
Công việc thực tập nào cũng mất rất nhiều năng lượng và tôi mệt mỏi vô cùng. Nhưng ngủ một giấc độ 2, 3 tiếng thì khỏe lại; và tôi tiếp tục nữa. Cứ vậy mà tôi bận rộn tập suốt ngày. Rồi tháng này qua năm khác không chút xao lảng. Mục tiêu đã đề ra, nhất định phải đạt được. Nếu tôi không cố gắng, ai có thể phục hồi giùm tôi?
Một trong nhũng lý do cho sự thành công của tôi, là mẹ tôi lúc nào cũng kiên nhẫn và dịu dàng. Không bao giò bà tỏ ra mệt mỏi hoặc cáu kỉnh vì sự lặp đi lặp lại chẳng nên thân của tôi. Khỉ tôi vụng về nhiều lần trong thực tập, bà luôn miệng khuyến khích, “Đáng lý còn tệ hơn nữa; con như vậy là giỏi rồi!”. Và bà khen lấy khen để những khi tôi thành công. Thái độ từ ái của mẹ làm tôi vô cùng cảm động và phấn khỏi. Tôi đạt kết quả khả quan trên đường phục hồi, phần lớn nhờ sự kiên nhẫn của mẹ. Bà lúc nào cũng cho thấy tôi giỏi vì hôm nay đã làm được việc mà hôm qua chưa. Bà biết lựa những việc dễ, cần ít năng lực cho tôi thực tập trước, rồi sau đó tới việc khó hơn, như ông thầy biết phuơng pháp Sư phạm. Mà thật vậy, mẹ tôi là một cô giáo dạy Toán! Và hai mẹ con luôn luôn ăn mừng những thành tựu tôi đạt
được. Có nhiều người sống sót sau Tai biến não than thở là họ không có khả năng phục hồi và bỏ cuộc. Tôi nghĩ một là vì họ không kiên nhẫn và không có người giúp họ một cách kiên nhẫn. Hai là họ không có mục tiêu rõ rệt, không biết phải chọn làm cái nào trước, cái nào sau. Nên khỉ “học” làm một việc mà thất bại, họ nghĩ tại họ không có khả năng để phục hồi.
Trong tuần lễ đầu tôi đã có thể đi lại từ phòng ngủ sang phòng tắm và ra tới phòng khách tương đối dễ dàng. Rồi mẹ hướng dẫn tôi đi vòng khắp nhà. Sang phòng vẽ với nhiều tranh ảnh, mẹ bảo đó là những tác phẩm của tôi. Sang phòng nhạc, tôi thấy mấy loại đàn, từ piano tới guitar và mấy thứ khác nữa. Mẹ nói thứ nào tôi chơi cũng giỏi. Những phát hiện này làm tôi vô cùng thích thú. Rồi mẹ còn bảo tôi là nhà Khoa học Não bộ nổi tiếng, muốn đem kiến thức của mình phục vụ con người. Nghe kể về cuộc đời tôi sao nhiều màu sắc và dễ thương quá, tôi càng quyết tâm nỗ lực phục hồi nhanh chóng để sống lại cuộc đời đầy ý vị của chính tôi.
Mỗi ngày tôi nhận được rất nhiều thư và thiệp gỏi từ khắp nơi trong nước. Tuy tôi chưa đọc được,nhưng mẹ tôi đọc giùm. Hầu hết họ chúc tôi mau lành bệnh để trỏ lại làm việc. Có người viết: ‘Tiến sĩ Jỉll, Tuy cô không biết tôi là ai, nhưng tôi biết khỉ cô diễn thuyết ỏ thành phố Phoenix. Xin hãy mau hết bệnh để trỏ lại với chúng tôi. Chúng tôi yêu quý cô. Công việc của cô rất cần và quan trọng đối với chúng tôi lắm!”. Tôi treo các thiệp chúc lành này lên tường khắp nhà. Tôi nhìn đâu cũng cũng thấy tình yêu thương của mọi người tỏa sáng quanh tôi. Điều này cũng là động lực giúp tôi phải nhanh chóng phục hồi. Rồi tôi học về màu sắc, phân biệt hình ảnh trong không gian ba chiều, trả lời câu hỏi có tính cách suy luận, diễn dịch hoặc loại suy. Mục đích của những thực tập này là để kích động lại sự nối kết các mạch thần kinh bị tê liệt. Tôi biết tất cả kiến thức của tôi nằm trong não thùy Trái, nhưng tôi chưa mỏ được những ngăn tủ chứa đựng các kiến thức này. Tôi chưa biết được các mạch thần kinh nào đã tê liệt
và hư hại tới đâu.
Rồi tôi học đọc. Đây là một công việc hết sức khó khăn. Làm sao mà những nét vẽ ngoằn ngoèo (chữ) li ti lại có thể đọc ra thành tiếng được? Trước hết, nhận diện và phát âm các mẫu tự. Xong rồi ráp vần. Những âm kép, âm đầu và âm cuối. Thật là rắc rối; thật là kỳ lạ. Chữ lại có thể phát ra thanh! Đôi khi có những chữ khó phát âm quá, vì đã tập mãi mà không xong, tôi cãi lại mẹ: “Không phải đâu mẹ; chữ nàv không thể phát ra âm thanh được!”. Mẹ tôi chỉ mỉm cười, trìu mến lặp lại mấy lần đến khi tôi nhìn miệng mẹ và nghe cách phát âm thật rõ, rồi lặp lại đúng hệt. Mẹ tôi reo lên và khen tôi “giỏi quá”!
Tiếp theo phần phát âm, tôi học về nghĩa lý của chữ. Làm sao nhớ hết mỗi chữ có một nghĩa khác nhau? Và nhiều chữ có cùng một âm mà nghĩa lại khác? Rồi những chữ chỉ vật cụ thể còn dễ nhớ; những chữ chỉ các ý niệm trừu tượng thật là nhức đầu. Trung tâm ngôn ngữ của não bộ Trái đã đóng kín, nên kho “ngữ vựng” của tôi không mỏ ra được. Thật là thiên nan vạn nan. Tôi rất mệt mỏi và mất nhiều năng lực cho việc thực tập này.
Tôi mất vài tháng để thực tập đọc và hiểu khá thông suốt, vì những mạch thần kinh ỏ phần này được nối kết lại và sau cùng “kho” ngữ vựng được mỏ ra. Tôi như người đã tìm được “chìa khóa” mỏ kho, tôi đã có thể đọc tất cả các sách báo một cách tự nhiên.
Mẹ lại dẫn tôi ra đường học “đi bộ”. Thế nào là đi trên lề đường, tránh dẫm lên sân cỏ. Thế nào là mặt đường cao thấp, Phải bước cẩn thận. Thế nào là đi trên tuyết, dễ trơn trợt; Phải cẩn thận hơn. Thế nào là dấu hiệu đèn xanh đỏ khi băng qua đường. Xem ra tôi học lần này nhanh. Chứng tỏ các mạch thần kinh ỏ đây không bị thiệt hại lắm.
Rồi mẹ dẫn đi chợ học mua sắm. Thật là khổ sỏ và mệt mỏi khi phải tiếp xúc với người lạ. Ánh sáng và âm thanh trong chợ làm tôi khó chịu. Con người lại đối xử với nhau không phải lúc nào cũng dễ thương. Phần lớn họ phân biệt trong đối xử. Họ nhìn cung cách ngơ ngác của tôi thì biết là tôi bất thường. Có người tỏ ra hiểu biết, nhưng cũng có người chen lấn không nhường nhịn. Họ không biết tôi bệnh và đang học hỏi. Họ nghĩ là tôi ra đường làm cản trở sinh hoạt của họ.
Tới phần học trả tiền, tôi lại gặp khó khăn không ít. Tôi nhìn tiền của nước mình mà như một ngưòỉ ngoại quốc, không biết giá trị chúng như thế nào. Lại không biết cộng trừ ra sao. Cuối cùng, với các bài tập “đếm số” xuôi và ngược, tôi nhận ra mạng thần kinh về ‘Toán học” đã bị thiệt hại nặng. Phải mất mấy năm, bộ phận này mới phục hồi.

CHƯƠNG 11
GIẢI PHẪU SỌ
Khoảng 6 giờ sáng ngày 27 tháng 12 năm 1996, tôi lại vào bệnh viện với mẹ để mổ sọ, lấy ra khối máu khô bằng trái banh golf trong đầu và cắt bỏ mạch máu đã hư. Mỗi khi nói về lòng can đảm, tôi không thể không nhắc đến tâm trạng tôi buổi sáng đi mổ sọ này. Bỏi vì tôi biết trước rằng, nếu bác sĩ thận trong và khéo tay, mọi việc sẽ êm xuôi và tôi sẽ thấy đầu tôi trở lại nhẹ nhàng và tinh thần sảng khoái. Còn bác sĩ chỉ vụng về và sơ hở một chút, tôi sẽ trở thành người bại xuội và vĩnh viễn không bao giờ nói được. Nhưng tôi không còn chọn lựa. Dù sao, họ cũng là những bác sĩ tài giỏi nhất của Hoa Kỳ.
Khi bác sĩ chuẩn bị gây mê, để tự trấn an, tôi khôi hài: “Nầy bác sĩ, tôi là nhà khoa học 37 tuổi, còn độc thân. Tôi để tóc dài từ nhỏ. Xin đừng cạo trọc đầu tôi coi xấu tội nghiệp”. Nói tới đó thì tôi đã thiếp đi. Mẹ tôi sốt ruột ngồi đợi bên ngoài cả ngày. Đến mãi xế chiều, các bác sĩ mới tươi cười xuất hiện báo với mẹ tôi ca mổ đã thành công và tôi đang nằm ở phòng hồi sức.
Khi tỉnh lại, tôi cảm thấy khác hẳn trong người. Đầu nhẹ nhàng, tâm hồn êm ả, vui tươi. Tôi thấy lạc quan, yêu đời. Sờ lên đầu phía trái, mới hay phần tóc ỏ đây đã bị cạo sạch. Một vết mổ hình chữ U vuông vức, cạnh khoảng 5 phân, đã được vá lại trông khá xấu xí nhưng rất gọn gàng và sạch sẽ. Với lại, phần tóc nửa đầu bên kia vẫn được chừa nguyên, nên trông không đến nỗi tệ lắm!
Mẹ tôi vừa đến bên giường ở phòng hồi sức, đã hỏi liền: “Hãy nói với mẹ vài tiếng”. Điều bà sợ nhất là nếu bác sĩ chạm tới thần kinh ở Trung tâm ngôn ngữ và phải cắt bỏ đi một phần, thì tôi sẽ không còn nói được suốt đời. Tôi đã trả lời bà được vài tiếng rất nhỏ. cả hai đều mừng đến rơi nước mắt. Vậy là ca mổ đã quá thành công. Tôi phải ỏ lại 5 đêm để bác sĩ yên tâm là vết mổ hoàn toàn không phản ứng. Tuy nhiên trong 48 tiếng đồng hồ đầu, lúc nào tôi cũng yêu cầu y tá cho mấy túi nước đá áp vào vết mổ thì đầu mới yên; nếu không, bên trong đầu như bị lửa đốt!
Đêm cuối cùng tôi ỏ lại bệnh viện là Giao thừa năm1996 bước sang 1997. Ngồi một mình bên cửa sổ giữa khuya, nhìn ánh đèn rực rỡ của thành phố Boston đang đón mừng Năm mói, tôi ngẫm nghĩ không biết năm mới sẽ mang lại cho tôi điều gì. Chỉ mỉa mai và nực cười cho tôi là: một nhà khoa học chuyên về não bộ mà lại bị Tai biến xuất huyết mạch máu não! Nhưng tôi cũng tự chúc mừng niềm An lạc tôi đã tìm được, và bài học quý báu học được về sự vận hành của não bộ. Tôi cũng bàng hoàng trước một thực tế hãi hùng: tôi là người sống sót sau cơn xuất huyết não!
 
CHƯƠNG 12
NGƯỜI BỆNH CẦN BIẾT
Phục hồi bình thường trỏ lại là điều mà tôỉ nghĩ đi nghĩ lại nhiều lần hằng ngày. Có đáng công sức bỏ ra để phục hồi và sống lại cuộc đời trước kia không? Với nhận thức mới về đời sống trong những ngày xuất huyết não, tôi có sẩn sàng từ bỏ niềm an vui vô tận để trỏ lại cuộc sống đầy đau khổ và phiền muộn hay không? Trong tình trạng não bộ Trái còn yếu thế và bị não bộ Phải chi phối, tôi vẵn còn phân biệt thế nào là hạnh phúc và thế nào là khổ đau. Sống trong nhận thức của não bộ Phải, con người sẽ cảm thấy hạnh phúc và an lạc. Sống theo nhận thức của não bộ Trái, con người phải hứng chịu đau khổ và ưu phiền. Mọi sự chỉ là do Ý thức mà ra! Mà muôn được hồi phục, điều quan trọng là tôi cần cỏ những người săn sóc có khả năng bên cạnh trợ giúp.
Nhưng tại sao tôi phải phục hồi để trở lại đời sống hỗn tạp và đầy đau khổ, trong khi tôi đã có thể sống an bình và thanh tịnh với niềm vui mầu nhiệm của đất trời mà tôi đã tìm được, khỉ vắng mặt sự phê phán, tranh chấp, ngã mạn của não bộ Trái? Hay đặt câu hỏ cho rõ hơn: Tại sao tôi bị Xuất huyết não, làm chấm dứt nhận thức sai lầm trong mấy mươi năm và tại sao tôi có thể khám phá ra một thế giới an bình và thanh tịnh với nhận thức mới của não bộ Phải?
Tôi bỗng trực nhận rằng Thượng đế đã ban cho tôi cơ hội trãi nghiệm thế giới an lành từ trong nội tâm sâu thẳm – mà ai cũng có thể đạt được bất cứ lúc nào. Và tôi tin rằng bất cứ ai cũng có thể chứng nghiệm hiện trạng thế giới Cực Lạc này từ nhận thức của mình qua não bộ Phải. Với hiểu biết đó, tôi rất hào hứng mà nghĩ rằng, sự phục hồi của tôi sẽ giúp mọi người nhìn lại mình cho đúng đắn để đón
nhận một quan niệm sống tốt đẹp hơn – không những cho người bị tai biến não hồi phục, mà cho bất kỳ ai còn có bộ óc! Lúc ấy, thế giới sẽ là nơi thanh bình, hạnh phúc cho mọi người và mọi loài.
Thành ra qua cơn Xuất huyết Não của tôi, quyển sách này chỉ để khẳng định rằng: Sống trong An lạc và Hạnh phúc không Phải là điều xa vời, không tưỏng như các nhà Tôn giáo cố gắng truyền rao. Đó là một thực tế có từ trong não của bạn.
Muốn có được, hãy làm cho não Trái ỉm đi ảnh hưỏng của nó và hãy bước qua não Phải. Khi mỗi người đều tìm được bình an và hạnh phúc cho chính mình thì thế giới này mới có thể là nơi thanh bình và trật tự cho mọi người.
Còn việc phục hồi, bạn Phải có mục tiêu rõ rệt, có ý chí và lòng tự tin và Phải có ngưòỉ giúp bạn một cách tận tâm và tận tình. Việc phục hồi có thể kéo dài vài tháng đến vài năm; 10 năm, 20 năm hay suốt đòi, tùy theo sự nặng nhẹ của Tai biến. Tôi đã từng nghe nhiều bác sĩ bảo: “Nếu bạn không thể phục hồi trong 6 tháng sau tai biến, thì không thể phục hồi”. Điều đó hoàn toàn sai. Chính tôi, một nhà khoa học não bộ, biết đúng cách để phục hồi cho chính mình, cũng đã Phải mất 8 năm trời! Bỏi vì tế bào não không bao giờ chết, trừ phi chúng bị bỏ quên. Chúng thực sự chỉ bị tê liệt. Khả năng thay đổi để thích ứng của tế bào bộ óc con người thật là kỳ diệu. Tế bào thần kỉnh của tôi đã tự chữa lành và vận hành trỏ lại theo sự thực tập kiên trì ngày qua ngày. Và nhất là số lượng giờ ngủ Phải thích đáng theo nhu cầu bộ óc – đừng quá ít. Chính những giấc ngủ đã giúp bộ óc hồi phục. Các nhà khoa học ngày nay đều nhận biết rõ ràng rằng não bộ có khả năng thay đổl tuyệt vời trong sự nối kết các tế bào thần kinh qua những kích thích từ bên ngoài. Tính chất này đã giúp cho não bộ tái lập những chức năng đã mất.
Kiên nhẫn, quyết tâm, có người chăm nuôi tận tình, ngủ nhiều giờ cho đủ sức là những điều kiện tối cần để phục hồi. Người bệnh cũng cần không gian yên tĩnh để bảo trì năng lượng. Sự ồn ào của chỗ ỏ, của người tò mò đi thăm viếng vừa làm cản trỏ người bệnh Phải tập luyện, vừa phí phạm năng lượng vốn ít ỏi của người bệnh khỉ Phải tiếp khách. Năng lượng (sức khỏe) của người bệnh rất giới hạn, khiến cho rất mau mệt. Sự ồn ào chung quanh làm mất năng lượng nhiều nhất. Sự tập luyện cũng tốn nhiều năng lượng, nên Phải tập từ dễ tới khó. Như vậy bệnh nhân mới phấn khỏ vì thấy mình thành công.
Thêm nữa, để cho sự phục hồi tiến triển và đạt kết quả, chỉ nên chú ý đến những điều bệnh nhân hoàn thành, đừng chú tâm đến những thất bại. Bộ óc biết điều chỉnh nên bệnh nhân sẽ làm được về sau. Bệnh nhân, thật sự là một đứa bé trong thân xác người trưỏng thành, nên rất cần được thương yêu, khen ngợi, quan tâm và khích lệ của mọi người trong gia đinh. Bất cứ học hỏi điều gì, Phải xem người
bệnh như chưa biết gì hết, và Phải chỉ dẫn thật cặn kẻ, tỉ mỉ. Phải chia những công việc “lớn”, phức tạp ra từng phần “nhỏ”, đơn giản. Như vậy mới thấy được sự thành công dễ dàng và làm cho người bệnh phấn khỏi- đó là điều rất cần thiết.
Đừng nên bỏn xẻn về lời khen ngợi sự thành công, tiến bộ trong việc học hỏi của người bệnh và Phải chúc mừng từng mỗi giai đoạn đã hoàn thành.
Ngưòỉ lãnh phần chăm sóc trong giai đoạn phục hồi này Phải thật có lòng yêu thương và kiên nhẫn. Không bao giờ được tỏ vẻ chán nản hay cao giọng gắt gỏng, dù người bệnh có chậm chạp hay vụng về trong việc học hỏi đến đâu. Nên có nhiều người thay phiên để tránh tình trạng mệt mỏi này, để bệnh nhân không mất lòng tin và bỏ cuộc. Nên nhớ rằng, người bệnh không phải “ngu” hay “chậm chạp”, mà là “bệnh”. Khi người bệnh chưa có thể nói và nghe, người chăm sóc muốn nói gì phải kê sát gần nói nhỏ nhẹ vừa đủ nghe, chớ không nói nhanh và hét lớn. Người bệnh chỉ nghe và nói chưa được, không phải điếc và câm.
Trên đường dài phục hồi, tôi có dịp quan sát những cảm giác của mình. Thật thú vị khi cảm thấy được những sự vui, buồn, mừng, giận từ bên ngoài xảy đến trong tôi, rồi đi. Có khi cái “giận” đến làm cho cả cơ thể run lên, rồi thoát ra ngoài.
Càng thú vị hơn khi tôi thấy mình làm chủ được những tình cảm đó, bằng cách dang tay đón nhận hay cấm cửa không cho vào, hoặc không cho trỏ lại. Nhất là những tình cảm như giận dữ, bất mãn, khinh ghét, thù hận. Cho nên khi Trung tâm ngôn ngữ của tôi được tái lập, tôi thường dùng nó để ra lệnh cho não bộ Trái là tôi không muốn những tình cảm tiêu cực này xuất hiện hay tái xuất trong mạch thần
kinh của tôi, vì chúng nó tiêu hao rất nhiều năng lượng một cách vô bổ.
Chúng ta thông thường không để ý đến điều này, nên hay “đổ thừa” cho người khác, hoặc hoàn cảnh đã làm cho ta giận, buồn, khổ. Trong 8 năm dài phục hồi, tôi đã quan sát và thấy rằng mình làm chủ được những tình cảm tiêu cực và không để chúng xảy ra. Tất cả chỉ là những dữ kiện không tốt chạy quanh trong mạch thần kỉnh mà ta có thể loại trừ khỏ não bộ dễ dàng và không để xuất hiện trỏ lại. Thí dụ người nào xuyên tạc điều gì về bạn, khiến bạn giận run lên. Nếu bạn không làm chủ được mình thì bạn sẽ ôm mãi cơn giận, đến có thể mất ăn mất ngủ. Bỏi vì cái “giận” vẫn còn lưu thông trong mạch thần kinh ỏ não Trái. Bạn phải ra lệnh “bỏ”, rồi nghĩ đến việc gì khác vui hơn, thì cơn giận sẽ biến mất.
Khi bạn nghĩ đến chuyện vui, bạn thấy vui. Còn nghĩ đến chuyện buồn, sẽ buồn. Vậy tại sao không nghĩ đến chuyện vui mà thôi, để cuộc đời tươi đẹp hơn lên? Cái gì cũng phải tập luyện mới có kết quả. Như người vô giáo dục thì hay ăn nói càn rỡ, còn người có giáo dục mở miệng ra đã thấy đứng đắn. Bỏi vì người có giáo dục được huấn luyện chỉ ăn nói đứng đắn mà thôi.
Cho nên, không ai có quyền làm chủ cuộc đời mình, trừ chính mình và bộ óc. Nên không thể trách người khác. Không ngoại cảnh nào có thể làm mình mất đi sự an tĩnh của tâm hồn, nếu mình biết tự làm chủ. Như một thuyền trưỏng lái tàu giữa biển khơi, tôi không thể hoàn toàn làm chủ vận mệnh trước phong ba, bão tố; nhưng chắc chắn tôi có toàn quyền định đoạt về cách tiếp nhận những biến cố đó mà vui hay buồn, xem như tháchh đố hay thất bại !

CHƯƠNG 13
CON ĐƯỜNG DÀI PHỤC HỒI
Tôi thường được hỏi nhiều nhất là: “Phải mất bao lâu cô mới được hồi phục?”. Và tôi vui vẻ đùa lại: “Hồi phục cái gì?”. Nếu hồi phục là trở lại con người như xưa thì chưa, mà tôi cũng không muốn. Tôi không muốn trở lại như xưa với tánh tình nóng nảy, hay phê bình chỉ trích, thiếu lòng từ ái với mọi người. Đó vốn là sản phẩm của não bộ Trái. Từ lúc não bộ Trái tê liệt vì trận Xuất huyết, tôi được diễm phúc học thêm điều mới từ ý thức của não bộ Phải: là không nên nghe nhiều, thấy nhiều những chuyện thị phi, và phải có lòng nhân với mọi tầng lớp người. Thêm vào đó, trong lòng tôi lúc nào cũng yên tĩnh với niềm vui vô hạn. Phục hồi thể chất, nghĩa là làm cho tay chân cử động, đi đứng được…, chỉ là chuyện nhỏ. Phục hồi tinh thần với nhận thức mới từ ý thức của não bộ Phải, mới là việc quan trọng cho đời người, theo ý nghĩ của tôi. Vết mổ trên đầu lành mau chóng vì mẹ tôi săn sóc rất sạch sẽ và kỹ lưỡng, không để bị nhiễm trùng làm độc. Chỉ có vết sẹo là như bị tê suốt 5 năm trời, và 3 lổ khoan cần thiết cho cuộc giải phẩu thì tới năm thứ 6 mới lành hẳn.
Giữa tháng hai, sau ngày bị tai biến, thì tôi đã thử đi một mình ra đường trong một thời gian ngắn. Ngôn ngữ lúc bấy giờ cũng đã tạm đủ cho những chào hỏi bình thường. Tôi thấy tự tin và muốn có thêm thử thách mớỉ.
Bây giờ, mẹ mới dạy tôi tập lại lái xe. Điều khiển một cái thùng kim loại lớn và chạy trên bốn bánh với tốc độ khá nhanh với một đám người khác chung quanh cũng làm như vậy, trong khi họ còn ăn, uống, hút thuốc, và… nói chuyện bằng điện thoại di động; làm cho tôi thấy sinh mạng tôi quá mong manh và đời sống là món quà quý giá vô cùng! Lại nữa, tôi nói chuyện với mọi người thì được, nhưng đọc chữ trên đường thì hãy còn khó khăn vì bộ óc chưa giải mã kịp chữ nghĩa trên các bảng đường khỉ xe chạy với tốc độ nhanh. Thành ra khỉ tôi hiểu kịp nghĩa chữ thì xe đã chạy qua khỏ chỗ tôi muốn quẹo.
Đến giữa tháng ba, mẹ tôi thấy tôi đủ khả năng để đi lại một mình, dù hãy còn hơi yếu. Nhưng dù sao tôi cũng có bạn bè tới lui gúp đỡ. Bà quyết định rời tôi để về lo cho người anh vốn đã bị chứng Tâm thần phân liệt từ nhiều năm qua. Trước khi đi, bà an ủi tôi: “Con hãy an lòng. Khỉ con cần mẹ, chỉ một cú điện thoại, là mẹ sẽ đến ngay với con bằng chuyến phi cơ đầu tiên!”. Nghe đến đây, một phần
trong tôi cảm tháy tự hào vì được thêm tự do; nhưng phần lớn còn lại là tôi… sợ muốn chết!
Mấy tuần kế tiếp, cuộc trắc nghiệm lớn đầu tiên xem tôi đủ khả năng trở lại với đời sống thường nhật chưa, là buổi diễn thuyết ngắn mà tôi được mời từ trước khi bị bệnh. Tôi phải xem đi xem lại các DVD mà chính tôi đã diễn thuyết từ trước, xem tôi đã ăn nói thế nào và điệu bộ ra làm sao. Việc này tập tôi chú tâm nhiều hơn trong buổi trình diễn. Một người bạn đã lái xe đưa tôi đến hội trường diễn thuyết. Mọi sự đã diễn ra trong tốt đẹp. Não bộ Trái của tôi như vậy là đã khá phục hồi. Rồi tôi bắt đàu làm việc trên máy vi tính vài giờ một ngày. Rồi trỏ lại chỗ làm, làm việc tạm thời hai ngày một tuần. Công việc nghiên cứu của tôi không có gì khó.Cái khó là việc lái xe ngày hai buổi đi về, giữa đám đông xe bất cẩn.
Đi bộ hằng ngày để các bắp thịt có cơ hội vận động, là một bắt buộc. Đi bộ làm cho tôi cảm thấy có sức mạnh trở lại. Tôi cố gắng tạo thói quen trong những năm đầu là đi bộ mỗi ngày 5 km, và bảy ngày một tuần. Tôi vừa đi vừa quay vòng tròn hai tay để bắp thịt vai và cánh tay làm việc. Khi mà mắt còn thấy cơ thể là một chất lỏng, thì sự đi bộ hằng ngày giúp cho mắt và não bộ nhận diện lại các vật hiện hữu trong không gian ba chiều.
Đến tháng thứ tám, tôi đã có thể đi làm việc bình thường suốt tuần. Nhưng thật cũng không có nhiều hăm hở và nhiệt tình như ngày xưa. Cái mệt mỏi vẫn còn đeo đuổi bên mình không sao hết được. Sau cơn xuất huyết, tôi cảm thấy tôi không còn nhiều thời gian trên Trái đất này. Tôi muốn về làm việc nơi sinh trưỏng để gần gũi cha mẹ, nhất là khi hai người đã ly hôn. Thế là vào cuối năm, tôi trỏ về ỏ gần Đại học tiểu bang nhà, Indiana, nơi tôỉ đã tốt nghiệp Tiến sĩ. Tôi giúp trường soạn thảo một lịch trình cho những người sống sót sau Tai biến biết cách phục hồi năng lực. Dần dần, óc Trái tôi đã mở được ngăn tủ kiến thức khổng lồ và cũng đồng thời tiếp nhận được dữ kiện mới với khối lượng lớn cùng lúc. Năm sau, tức năm thứ hai sau ngày sống sót, tôi đã đi dạy các lóp Giải phẩu tế bào não bộ cho sinh viên Y khoa ỏ đại học Indiana. Tôi cũng quân bình giấc ngủ và giờ làm việc cho thích hợp. Từ ngủ 11 giờ một đêm, tôi rút xuống còn 9 giờ rưỡi, cộng với vài giờ ngủ trưa. Không ngủ đủ như vậy, não bộ không đủ thời gian để điều dưỡng và hồi phục các mạch tế bào.
Sang năm thứ tư thì tôi mới có khả năng làm nhiều việc cùng một lúc. Chẳng hạn, vừa làm bếp vừa trả lời điện thoại về những công việc ỏ trường. Trước đó, muốn làm gì tôi chỉ có thể chăm chú vào một việc mà thôi. Chỉ có một lĩnh vực mà bộ óc tôi gặp khó khăn khỉ phục hồi: đó là toán học. Phải tới năm thứ tư, bộ óc mới biết lại được toán cộng. Nửa năm kế mới biết thêm toán trừ và nhân. Và đến năm thứ năm mới biết làm toán chia, dù rằng tất cả làm bằng máy tính!
Tôi tập thói quen không bao giờ than thở về sự mất mát khả năng của mình. Trái lại, mỗi ngày tôi cảm ơn hàng trăm lần về sức phục hồi và sự kỳ diệu của bộ óc. Tôi cũng cảm ơn não bộ Phải đã cho tôi ý thức mới về sự an lành và thanh tịnh của tâm hồn sau cơn biến động khủng khiếp vừa qua.
Đến năm thứ tám, tôi đã trở lại bình thường. Nhận thức về không gian ba chiều đã  lập lại. Tôi không còn cảm thấy tôi là chất loãng nữa, mà là khối rắn và riêng biệt. 
Tôi thường chơi trượt nước trên mặt hồ va vượt qua nhiều chướng ngại. Trò thể  thao này giúp cho nhãn quan và não bộ phản ứng đồng nhịp với thân thể khi gặp Phải khó khăn.
Hiện nay, tôi đã trỏ lại cuộc sống bình thường, nhưng hoàn hảo hơn trước. Tôi vẫn làm việc cho đại học Harvard và đi diễn thuyết khắp nước, kêu gọi mọi người đóng góp thêm não bộ cho việc nghiên cứu và trị liệu các bệnh tâm thần. Tôi dạy lớp cho sinh viên Y khoa ỏ đại học Indiana. Tôi làm cố vấn về thần kinh não bộ cho Viện Trị liệu Ung thư Não. Tôi nói chuyện trên Truyền hình, ỏ các buổi Hội thảo khoa
học, trả lời các buổi phỏng vấn trên Tạp chí về sự kỳ diệu của bộ óc. Và quan trọng nhất là chương trình giúp mọi ngưòi tìm lại Hạnh phúc và niềm An lạc của đời mình qua sự hiểu biết về não bộ Phải, như tôi.
 
CHƯƠNG 14 
PHAT HIEN MOI QUA CON XUAT HUYET NAO 
Trãi qua cuộc hành trình bất ngờ vào trong chiều sâu của não bộ qua cơn Xuất huyết, tôi cảm tạ Đất Tròi đã cho tôi phục hồi toàn bộ từ thể lực, trí năng, tình cảm và tinh thần. Thật ra, trong thời gian 8 năm để phục hồi, tôi đã trãi nghiệm một thách thức tâm lý lớn lao bỏi nhiều lý do.
Khi tôi mất khả năng sinh hoạt của bán cầu não Trái, tôi mất luôn cả cá tính mà rõ ràng là liên hệ mật thiết với não cầu này. Mà cá tính này có rất nhiều nét tiêu cực, không mấy tốt đẹp cho mình lẫn cho người, như: nóng giận, hay cãi lẫy, tự cho mình luôn luôn đúng, cái gì của mình là hơn hết! Phục hồi sinh hoạt bán cầu não Trái có nghĩa là phục hồi cả các nét cá tính tiêu cực đó. Ngày xưa tôi không
biết thì thôi. Nhưng nay, sau cơn Xuất huyết não, tôi đã ý thức được những phẩm tính tốt đẹp biểu lộ từ bán cầu Phải, thì các cá tính tiêu cực trên không thể chấp nhận được. Nhưng Phải làm sao? Cũng như bạn thích chiếc áo, thích kiểu may, nhưng không ưa màu sắc của nó. Hoặc mua, hoặc không. Nhưng còn não cầu của bạn?
Làm sao tôi có thể cầu tiến cố gắng ăn học giỏi để có địa vị cao sang trong xã hội, mà không coi thường người dốt nát với số phận thấp hèn chung quanh? Làm sao tôi biết quý giá trị đồng tiền, biết dành dụm không phí phạm để trỏ thành dư giả, giàu có mà không sanh tánh muốn có thêm, tham lam và keo kiệt? Làm sao tự cho cái Tôi, cái Ngã của mình là nhất thiên hạ mà lại có thể đem lòng thương yêu,
chia sẻ, cảm thông và bình đẳng với mọi người? Và quan trọng nhất là cái ý thức con người là Một với vũ trụ.
Tôi tự hỏi không biết phần ý thức nào của bán cầu Phải sẽ bị mất đi khỉ bán cầu Trái hoàn toàn hồi phục. Nhưng tôi không muốn mất ý thức con người với vũ trụ là một. Tôi không muốn bộ óc chạy quá nhanh theo danh lợi của cuộc đời khiến tôi Phải đánh mất mình. Tôi không muốn thấy rằng mình là một cá nhân độc lập với toàn thể. Tôi cũng không muốn từ bỏ cái ý thức rằng cuộc đời là nơi thanh tịnh, an vui cho mọi người và mọi loài. Và như vậy, bán cầu Phải của tôi Phải làm sao để mọi người nhìn tôi mà không cho tôi là người bất thường?
Các nhà khoa học não bộ ngày nay đều đồng ý sự vận hành khác biệt của tế bào hai não bộ là điều đĩ nhiên. Nhưng sự khác biệt về cá tính và tâm lý từ hai bán cầu thì ít khi được bàn thảo đến. Thông thường, các nhà khoa học đều chế giễu não bộ Phải coi như là đồ bỏ, không đáng để ý chỉ vì nó không biết nói (không có Trung tâm ngôn ngữ) và không biết về luận lý thẳng hàng (quá khứ, hiện tại, vị lai).
Những nghiên cứu gần đây của Tiến sĩ Jekill và người phụ tá, còn mô tả bán cầu Phải như là bộ phận không thể kiểm soát được, có khuynh hướng bạo động, một bộ phận dốt nát, ngu xuẩn, vô ý thức; bộ phận mà nếu người ta không có thì tốt hơn. Còn với sự ngược lại lớn lao, não bộ Trái được ca tụng là nhà ngữ học, có thể biết đủ mọi thứ ngôn ngữ, nhà toán học; lại biết phân biệt thời gian, biết phương pháp học, biết luận lý học, rất thông minh và là trung tâm ý thức của con người.
Trước khỉ bị Tai biến, não bộ Trái độc quyền điều khiển ý thúc của tôi từ nhân sinh quan đến vũ trụ quan, lấn át cả não bộ Phải. Đến khi bệnh, não bộ Trái không còn khả năng áp đặt nữa, não bộ Phải mới được tự do biểu lộ phần ý thức của mình Nhờ vào tai nạn chết người này, mà tôi, một nhà não bộ học, được trãi nghiệm và khám phá những điều mới lạ kỳ thú về não bộ Phải, mà các nhà khoa
học não bộ không hề biết và cũng không “may mắn” bị Xuất huyết não để được biết! Hai bán cấu não trong cùng một bộ óc không những vận hành khác nhau về phương diện thông tin trong kỉnh mạch tế bào, mà còn rất khác nhau trong sự tiếp nhận và giải thể các dữ kiện nhận được, khiến cho cách nhìn nhân sinh và vũ trụ hoàn toàn khác nhau.
Tai biến não của tôi đã cho thấy trong tận cùng ý thức của não bộ Phải là bản thể của con người, lúc nào cũng thanh tịnh và an vui. Cái ý thức trong tận cùng sâu thẳm này – mà Phật giáo gọi là “bản ngã” – lúc nào cũng tỏa ra sự bình yên, an lạc và tình yêu thương cho mọi người và mọi loài.
Nói như vậy, dĩ nhiên không có nghĩa là tôi bị mắc chứng thần kinh nhiễu loạn vói nhiều cá tính khác nhau, khi vầy khi khác. Vấn đề không chỉ đơn giản như vậy. Xưa nay chúng ta không thể nhận biết vì chúng ta tin tưỏng rằng mình chỉ có một nhận thức, một ý thức trong cái sọ này. Không khỉ nào ngờ rằng chúng ta có hai bán cầu não với hai cá tính hoàn toàn khác biệt trong cùng một bộ óc đang
tranh cãi nhau. Chỉ cần một chút hướng dẫn là bạn có thể nhận ra dễ dàng.
Phần lớn chúng ta, ai cũng có lúc thấy: lý trí muốn làm thế này (não Trái) mà trong tâm hay trong bụng (não Phải) muốn làm thế khác. Có người thì: tôi nghĩ (não Trái) như vầy mà tôi cảm thấy (não Phải) như kia. Còn ngưòi thì bảo: anh/chị sao mà dương tính quá (não Trái), hãy âm (não Phải) chút xíu đi! Còn nếu bạn là học trò của trường phái Karl Jung thì sẽ thấy “suy luận” (não Trái) đối nghịch với
“trực giác” (não Phải). Mà các Triết gia và Khoa học gia đều đồng ý là trực giác lúc nào cũng đúng! Mục đích của tôi là giúp bạn biết rõ bạn sử dụng não bộ nào nhiều; để biết mà quân bình, không còn quá khích, hoặc biết khi nào nên thiên về Trái hay Phải.
Tôi nhận thấy hoạt động căn bản của não bộ Phải là tỏa chiếu sự an vui, thanh tịnh và lòng yêu thương. Nếu chúng ta dùng nhiều thời gian trong đời mình để sử dụng mạch thần kỉnh này ỏ não bộ Phải, thì An vui, Thanh tịnh và Tinh yêu thương sẽ lan tỏa khắp mọi người, kể cả chúng ta; và cuối cùng, ta sẽ có An vui, Thanh tịnh và Tinh yêu thương trên Mặt đất này. Và đó là Niết Bàn, hay Cực Lạc mà Phật giáo nói đến. Cho nên khi ta biết rõ phần não bộ nào đang được sử dụng để xử lý các dữ kiện thu nhập từ bên ngoài, ta có nhiều chọn lựa để biết nghĩ, biết cảm, biết hành xử sao cho thích hợp với hoàn cảnh cá nhân và với cộng đồng nhân loại.
Từ quan điểm của Tế bào thần kinh học, tôi đã vào được cảnh giới An lạc trong tận cùng thâm sâu của ý thức não bộ Phải như đã trình bày, khi não bộ Trái đã hoàn toàn bất động. Hai Tiến sĩ Andrew Newberg và Eugene D’Aquily, nổi tiếng từ đầu thập niên này về nghiên cứu não bộ, đã giúp tôi xác định những gì tôi nhận biết xảy ra trong bộ óc tôi. Dùng kỹ thuật chụp ảnh SPECT (Phóng xạ Trung hòa đơn tử chiếu rọi ra màn hình), các nhà khoa học này nhận diện được những tế bào thần kinh nào đang trong tình trạng trãi nghiệm về tôn giáo hay tâm linh. Họ đã biết rõ vùng nào ỏ não bộ đã giúp tôi đạt đến ý thức mà tôi cho là Một với vũ trụ (Thượng đế, Niết Bàn, Cực Lạc).
Một cuộc thí nghiệm khác cũng được thực hiện với các nhà sư Tây Tạng và các nữ tu khổ hạnh dòng Francisco. Những vị này được mời thiền định hay cầu nguyện trong máy SPECT. Thí nghiệm cho thấy khỉ các vị này thiền định tói mức độ cảm thấy sống trong Cực Lạc, hoặc cầu nguyện tới mức độ thấy mình là một với Thượng đế, thì tế bào thần kỉnh của họ chuyển hoạt động sang một vùng đặc biệt của não bộ Phải. Trước đó, hoạt động của Trung tâm ngôn ngữ ỏ não bộ Trái ngưng hoạt động. Rồi đến vùng não Trái nhận diện vật thể, không gian ba chiều và thời gian thứ tự cũng tắt theo. Điều này cũng cắt nghĩa vì sao khi bị xuất huyết não, bán cầu Trái chìm trong biển máu và ngưng hoạt động, thì tôi chỉ cảm giác tôi là chất loãng và hòa mình làm một với Vũ Trụ.
 
CHƯƠNG 15
SỨC MẠNH TINH THẦN CỦA MỖI NGƯỜI
Tôi định nghĩa “trách nhiệm” là khả năng chọn lựa cách ứng phó trong một hoàn cảnh nhất định đối với những dữ kiện bên ngoài, thu nhận được qua các giác quan.
Những dữ kiện này có thể kích động nhanh và tạo ra phản ứng hóa học trong cơ thể con người qua hệ thống Limbỉc và các “lập trình” ỏ não bộ. Những độc tố tạo ra từ các phản ứng này xuất hiện và kéo dài chỉ trong vòng 90 giây, rồi bị đẩy ra khỏ não bộ qua hệ thống tuần hoàn máu. Nên ta có thể kiểm soát bằng cách dứt bỏ chúng được, thì tâm thần ta an vui và cơ thể ít bệnh hoạn hơn.
Thí dụ: tức giận. Do các điều kiện bên ngoài, “lập trình” tức giận tự động nổi lên một cách máy móc trong thần kỉnh não bộ. Không đầy 90 giây, các độc tố hóa học tiết ra từ cơn giận tiêu tan vào hệ thống tuần hoàn máu và bị loại khỏ cơ thể và phản ứng tự động “tức giận” ỏ hệ thống Limbic cũng chấm dứt. Nhưng nếu có người vẫn còn giận dữ, là vì họ muốn làm như vậy, như là một đặc trưng của cá
tánh họ. Họ giữ cho cảm giác tức giận vẫn còn “chạy vòng vòng” trong mạch thần kinh liên hệ ỏ não thùy Trái, làm hại cho chính họ và khổ cho mọi người xung quanh. Tương tự như vậy đối với các tình cảm vui, buồn khác trong thất tình lục dục.
Cho nên bạn có thể kiểm soát và sửa mình để nhìn đời lạc quan, vui vẻ hơn; với cái nhìn “ô, ly nước còn đầy tới nửa ly”, chứ không Phải “ôi, ly nước đã cạn hết phân nửa rồi!”. Nếu bạn đến với người khác bằng sự giận dữ, thì bạn có thể bị phản ứng lại bằng giận dữ và gây ra cuộc tranh cải hoặc ấu đả (do não thùy Trái).
Hoặc người ta thấy buồn cười vì bạn quá trẻ con và họ cảm thương mà tha thứ cho bạn (từ não thùy Phải). Khổ nỗi là phần lớn chúng ta chỉ phản ứng theo bản năng, không biết mình có “sức mạnh tinh thần”, có khả năng chọn lựa nên ứng xử thế nào trước mọi hoàn cảnh, làm sao vừa nhẹ lòng mình vừa vui dạ người. Bỏi vì hệ thống Limbic trong não chúng ta có từ thòi tiền sử. Thời đó người tiền sử đã sử dụng nó để “chạy trốn” cho nhanh trước sức mạnh của thú dữ, của thiên tai; hoặc đứng lại mà đương đầu bằng sức mạnh thể chất của mình. Ngày nay, đã khác. Ta bị thượng cấp đối xử oan ức, làm hệ thống Limbic khỏ lên ‘tức giận”; nhưng ta không thể chạy trốn hay dùng sức mạnh chống lại. Các hóa chất độc hại của cơn giận tiết ra không tiêu tán được trong hệ thống tuần hoàn máu, trỏ lại hại cơ thể ta.
Ngày nay với sự hiểu biết, ta không hoàn toàn xử sự theo bản năng của hệ thống Limbic (não bộ Trái), mà là theo hiểu biết rằng mình có quyền chọn lựa, có sức mạnh tỉnh thần để chọn lựa (não bộ Phải). Về lâu về dài, bạn sẽ thấy cuộc đời của bạn vui hay buồn, sướng hay khổ, thành công hay thất bại đều là kết quả của sự bạn chọn lựa. 
Sau cơn bệnh, tôi thường để nhiều thì giờ suy nghĩ, nhận xét về bộ óc con người và ngạc nhiên nhận ra nó thật kỳ diệu. Như Socrates đã nói: “Cuộc đời không quán chiếu là cuộc đời không đáng sống”, tôi thấy không còn sức mạnh nào đáng kể hơn khi biết mình có quyền năng chọn lựa sống đời hạnh phúc,
không khổ đau. Chỉ là vấn đề “Nước đầy tới nửa ly”; hay “Nước cạn chỉ còn phân nửa” và biết khi nào Phải dùng não bộ Phải!
Con người, ai không gặp những hồi thất bại, nhũng lúc khổ đau? Nhưng từ đó hãy rút ra bài học, rồi để chúng qua đi (ý thức của não bộ Phải). Đừng giữ chúng chạy tới chạy lui trong mạch thần kinh não, như một đoạn phim quay đi quay lại (ý thức của não bộ Trái). Cũng đừng tự mãi trách mình “Phải chỉ…Có lẽ…”. Giống như đi nhầm đường mà ỏ đó lẩn quẩn và buồn phiền. Dù biết vậy, thỉnh thoảng tôi cũng cho phép não bộ Trái nghênh ngang, hống hách, tự cho mình khác biệt và tài giỏi hơn người, hăm hỏ tranh luận giành phần thắng. Nhưng rồi phần lớn trường hợp, tôi tự thấy mình khôi hài, lố bịch, nên tự
động kiếm cách giảng hòa, rút lui. Kinh như một nhà tư tưỏng Đông phương có nói: “Thắng người Phải có sức mạnh thể chất. Thắng mình là nhờ sức mạnh tinh thần”. Câu nói này rất đúng với khoa học não bộ ngày nay.
Với tôi, có lẽ vì là phụ nữ, rất dễ dàng khi hành xử “dễ thương” với mọi người. Chứ thực tình thì khi sinh ra, không có ai mang theo sách chỉ dẫn (như khi mua chiếc xe mói) để biết phản ứng với cuộc đời sao cho Phải cách. Chúng ta chỉ là sản phẩm của cha mẹ và của hoàn cảnh. Nhờ ăn học và cơn bệnh sống chết của não bộ vừa qua, tôi chọn con đường tương thân tương ái của não bộ Phải từ đây; vì biết rằng ai trong chúng ta cũng trên vai mang nặng những túi tình cảm tranh chấp, âu lo, hận thù, ganh tị, ích kỷ, hẹp hòi di truyền sinh học từ thuỏ lọt lòng.
Tôi biết rằng tôi cũng có khỉ lầm lỗi, nhưng tôi không nhất thiết tự mình mang mặc cảm là một kẻ tội đồ; và tôi cũng không coi những lỗi lầm của bạn là vì cố ý nhắm vào tôi. Khuyết điểm của bạn, khuyết điểm của tôi, mỗi người tự sửa lấy. Điều quan trọng là giữ tâm an vui và tốt bụng với mọi người. Tha thứ cho người và tha thứ cho mình là điều nên làm cho được. Nhìn đời phút giây nào cũng là phút giây
hoàn hảo là ta đang sống ỏ Niết Bàn, Cực Lạc rồi đây!
 
CHƯƠNG 16
SỰ AN LẠC TRONG TÂM HỒN
 
… Ưóc đến tương lai; để rồi cảm thấy khổ sỏ vô cùng vì không làm sao có được những điều mong muốn đó.  Chừng nào chúng ta ý thức được thực tế là nên sống  trong hiện tại, chúng ta s dễ dàng hơn đi vào mạch thần kinh não bộ Phải, với lòng  nhường nhịn, chia sẻ, thương yêu – tự xem mình là một phần trong toàn phần, là những dương điện tử, âm điện tử và trung hòa tử đang nhảy múa trong cùng 
một vũ điệu siêu tuyệt – ta sẽ nhận chân được Hạnh phúc và An lạc trên đời. 
Xã hội Tây phương đã gặp Phải khó khăn trong sự đi tìm chân hạnh phúc, vì từ  nhỏ đến lớn con người chỉ được huấn luyện sử dụng bộ óc Trái. Phải biết bặt thiệp, biết tính toán, biết tổ chức, biết kế hoạch, biết hơn chứ không được thua, biết cái Tôi là hơn hết. Nếu đạt được những thành tích này, họ sẽ được tưỏng thưỏng, được ca tụng; nhưng họ không bao giò cảm thấy được hạnh phúc.
Người Đông phương trong thế kỷ qua cũng vậy. Một số chạy theo nếp sống Tây phương, bị Tây phương hóa nên cũng rất khổ sỏ; vì tuy có đầy đủ của cải vật chất, nhưng không có hạnh phúc. Một người bạn thân của tôi, tiến sĩ Kat Domingo đã có lần nói: “Giác ngộ không Phải là nhờ học thêm điều gì mới lạ, mà là biết bỏ hết đi những gì đã học sai lầm!”.
Thật ra, trỏ về với não bộ Phải không Phải là vấn đề khó khăn. Bỏi vì chúng ta thường sử dụng cả hai bán cầu não cùng một lúc để tiếp nhận và phân phối dữ kiện qua năm giác quan vào từ bên ngoài từng giây từng phút; có nghĩa là lúc nào ta cũng tiếp xúc với não bộ Phải. Miễn là bạn Phải học để ý đến những cảm giác vi tế đã xảy ra trong tâm thức hay cơ thể của bạn, thì bạn có thể lập lại mạch vận hành
của thần kinh đó khi bạn muốn.
Phần tôi, bài học đầu tiên khiến tôi nhận biết An lạc ỏ trong tâm là ngay từ buổi đầu bị xuất huyết. Tôi nhận ra mình là một phần trong đại thể của vũ trụ – nơi đó nguồn năng lực miên viễn chảy vào các phân tử tế bào ỏ thân thể. Biết được như vậy, tôi thấy mình thật an ổn. Làm sao tôi có thể “chết” được khi tôi là một thành phần của cái toàn phần? Trong khi não bộ Trái cứ cho biết rằng tôi là một cá nhân
riêng biệt, mong manh và dễ “vỡ”, não bộ Phải cho thấy rằng, từ bản thể, tôl vốn “tồn tại” mãi với thời gian!
Và như vậy, mặc dù tôi đã mất đi một số tế bào của cơ thể và khả năng nhìn thế giới bên ngoài như là không gian ba chiều, phần năng lượng đó của cơ thể tôi không mất mà chỉ là trỏ về hợp lại với biển thanh tịnh và an vui của vũ trụ. Nhận thức này làm cho tôi vô cùng biết ơn sự hiện diện ỏ cõi đòi với phần tế bào còn khỏe mạnh trong tôi.
Muốn có được phút giây hiện tại, bạn Phải tập chậm lại đầu óc suy nghĩ của mình. Đầu óc con người lúc nào cũng suy nghĩ, không thể trống không. Hết nghĩ chuyện nọ, đến chuyện kia. Hết chuyện đã qua, đến chuyện sắp tới. Chuyện làm được và chuyện không chắc có thể làm được. Cứ như vậy mà bực bội, gắt gỏng, thất vọng, chán nản. Năng lực tiêu tán, tâm tình khổ sỏ, thần sắc bệnh hoạn.
Bộ óc Trái làm việc như vậy đó. Bạn hãy tập nói chuyện và ra lệnh với nó. Có khi bạn nên cảm ơn nó với nụ cười: Cảm ơn kế hoạch này tốt; chuyện này làm Phải. Có khi bạn Phải nghiêm khắc, chau mày với nó, như với đứa trẻ ngỗ nghịch: tôi không thích nghe hay thấy chuyện này xảy ra đâu; đừng bàn tới nữa. Và cho nó 90 giây để ngừng. Nói rõ hơn, khi tức giận ai, cơn tức giận chỉ có trong 90 giây, rồi chuyễn sang đề tài khác hoặc bỏ đi chỗ khác thì sẽ không còn nữa.
Ngay bây giò khi bạn đang đoc sách này, để ý xem óc Trái bạn còn dang có lệnh gì. Vợ dặn đi chợ, con đòi đi chơi, bạn bè rủ đi giải trí? Vậy là bạn đã không sống trong hiện tại. Kết quả là đọc sách chẳng ra đọc sách. Không chuyện gì ra chuyện gì. Không đọc sách thì không có thêm hiểu biết; không nhớ lời vợ thì gia đạo bất hòa; không chơi với con thì khó mà dạy dỗ chúng; không giao tiếp bạn thì cuộc sống hạn hẹp. Nhưng việc nào Phải có thì giờ của việc ấy. Sống trong hiện tại là biết làm chủ cuộc đời mình, làm cho nó thành đơn giản, có ý nghĩa và nhờ đó mà tâm được an lạc.
Ăn, uống, làm vệ sinh, hít thỏ trong ngày, họp mặt buổi tối với gia đinh… là một vài ví dụ giúp bạn trỏ về sống trong hiện tại. Khi ăn, chỉ biết có ăn; không suy nghĩ chuyện gì khác. Nếu khi ăn ỏ nhà, nghĩ đến công ơn vợ đã bỏ ra nấu miếng ăn cho vừa khẩu vị chồng, thì đã thấy hạnh phúc. Còn ăn ỏ tiệm thì nghĩ tới công ơn của bao nhiêu ngưòi đã làm ra món ăn và biết bao nhiêu tỉ người trên thê’ giới giờ này
không được miếng ăn no bụng, mà cảm thấy mình hạnh phúc biết bao nhiêu. Đó là ví dụ bạn dùng não bộ Phải.
 
CHƯƠNG 17
CHĂM SÓC NGÔI VƯỜN TÂM
Tôi học được rất nhiều từ trận Xuất huyết não đến nổi tôi cảm thấy đã vô cùng may mắn trãi qua Tai biến này. Nhờ đó, tôi đã được dịp chứng kiến những hiểu biết mới mẽ từ não bộ của tôi; mà nếu không, tôi không bao giờ tưỏng tượng được rằng những điều này là sự thực. Tôi rất biết ơn Thượng đế về những soi sáng này.
Và những hiểu biết này không Phải ích lợi riêng cho tôi, mà tôi còn hỉ vọng nó sẽ ích lợi cho mọi người, nếu ai cũng biết làm chủ và chỉ đạo bộ óc của mình, để được sống An vui và Hạnh phúc.
Tôi cũng cảm ơn bạn đã kiên nhẵn theo dõi cuộc hành trình gian nan của tôi qua sách này. Tôi thành thật hy vọng bất cứ hoàn cảnh nào đưa đẩy bạn tới việc đọc quyển sách này, sẽ giúp bạn hiểu hơn sinh hoạt của não bộ mình và người khác.Và tôi tin rằng não bộ Phải của bạn sẽ giúp quyển sách này được chuyền tay sang người khác để họ cùng có được ích lợi.
Einstein ngày xưa đã nói: “Tôi Phải cố gắng bỏ cái tôi là, để trỏ thành cái tôi sẽ nên”. Tôi đã Phải học một cách vất vả mới hiểu được rằng giá trị thật của con người tôi như thế nào là tùy thuộc vào sự trong sáng của mấy mạch thần kinh não bộ. Ý thức tôi có được là do những tế bào li tỉ mầu nhiệm hợp lại mà thành. Nhờ sự mềm dẽo và dễ uốn nắn của tế bào não bộ, mà chúng có thể thay đổi các cực tiếp xúc tạo thành các mạch thần kinh mới, khiến cho tôi và bạn có thể thay đổi tánh tình bằng sự thay đổi cách suy nghĩ và chọn lựa nên sống với cách thế ra sao trên quả đất này. Và may mắn thay, chúng ta chọn cách sống thế nào hôm nay, ngày hôm qua chúng ta chưa tiên đoán được. Vì vậy mà chúng ta luôn cần đọc sách và suy nghĩ.
Tôi xem Tâm của tôi là mảnh vườn thiêng liêng mà đất trời đã tin tưỏng và ban cho. Tôi có nhiệm vụ Phải chăm sóc nó thật chu đáo. Chỉ có tôi với những DNA riêng biệt và hoàn cảnh sống cá nhân tô điểm mảnh vườn Tâm này. Mọi người cũng vậy. Nó có thể là mảnh vườn hoang dại, hay đầy hoa thơm cỏ lạ.
Trong mấy mươi năm đầu, tôi không có gì hay để tô điểm cho mảnh vườn, không có gì hay lắm đối với các mạch thần kinh vận hành trong bộ óc, bỏi vì tôi chỉ là mảnh đất hoang với hạt giống của người đi trước. Nhưng nhờ vào phước báu, di truyền DNA đã không còn làm chủ và độc đoán chỉ huy. Và nhờ sự uyển chuyển của các tế bào não bộ, sức mạnh của ý chí và sự tiến bộ thần kỳ của Y học đã làm thay đổi hẳn hiểu biết và đời sống con người.
Bất kể mảnh vườn tôi thừa kế như thế nào, khỉ mà tôi đã ý thức rằng tôi có trách nhiệm Phải chăm sóc và có sức mạnh Tinh thần để chọn lựa, thì tôi sẽ chọn và nuôi dưỡng những hoa cỏ nào tôi muốn trồng, những mạch thần kinh nào tôi muốn dưỡng; và loại bỏ hoàn toàn những thứ không cần thiết và vô ích. Biết rằng những cỏ dại mới lên mầm thì dễ nhổ bỏ, nhưng dầu là những dây leo quấn quít chằn chịt lâu ngày mà nếu chúng ta không vun phân tưới nước, chúng sẽ tàn rụi theo thời gian.
Xã hội có lành mạnh hay không là do những bộ óc tạo thành xã hội ấy có lành mạnh hay không. Cứ nhìn một cộng đồng mà các bộ óc chỉ ưa thích ma túy, rượu mạnh và sắc đẹp, thì đủ biết cộng đồng đó sẽ đi đến đâu và như thế nào.
Gandhi có nói một câu thật đúng: “Chúng ta Phải là chất men để thay đổi một xã hội khi chúng ta muốn xã hội đó thay đổi”. Tôi nhận thấy ý thức của não bộ Phải của tôi rất muốn cho tất cả chúng ta có một bước nhảy vọt bằng cách chỉ bước qua bên Phải, để tinh cầu này biến thành nơi của yêu thương và an bình như mọi người hằng mơ ước.
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Bài thuốc trị tiểu đường thần kỳ dễ nấu ai cũng có thể tự làm

 

Chia sẻ:

Bệnh tiểu đường hiện nay vẫn là một trong những căn bệnh được liệt vào dạng khó chữa. Chính vì vậy, người bệnh cần phát hiện sớm để kịp thời chữa trị. 

Trong số này, nữ lương y Lê Thị Hoàng Diệp (37 tuổi, Chủ tịch Hội Đông y phường An Tây, TP. Huế) sẽ chia sẻ với bạn đọc quan tâm đến căn bệnh tiểu đường một bài thuốc tự chữa bệnh hết sức đơn giản, dễ kiếm, dễ dùng nhưng mang lại hiệu quả tích cực. Bài thuốc được chế biến dưới dạng một món canh, người bệnh có thể tự tìm nguyên liệu và chế biến theo công thức mà lương y Diệp hướng dẫn.
 
Cẩn trọng với “căn bệnh thời đại”
 
Lương y Diệp đang thăm khám và bốc thuốc cho bệnh nhân.
Lương y Diệp đang thăm khám và bốc thuốc cho bệnh nhân.
Lương y Diệp có cha là thầy thuốc nổi tiếng xứ Huế. Từ nhỏ chị đã thường xuyên phụ giúp cha bốc thuốc chữa bệnh. Gia đình có 5 anh chị nhưng chỉ có chị có năng khiếu về nghề y nên được cha truyền nghề từ khi 15 tuổi. Trong khoảng thời gian học nghề, lương y Diệp luôn nỗ lực học hỏi những kiến thức và kinh nghiệm mà cha truyền dạy. “Ghi nhớ từng vị thuốc và công dụng của chúng là điều hết sức quan trọng. Đặc biệt, Đông y có tới hàng trăm loại dược liệu khác nhau, sự kết hợp của chúng thành một phương thuốc trị bệnh cũng đa dạng không kém. Có những loại dược liệu rất độc, nếu không biết cách kết hợp và sử dụng đúng liều lượng sẽ gây hại nghiêm trọng đến sức khỏe của bệnh nhân, thậm chí còn đe dọa đến tính mạng. Từ nhỏ, tôi đã thấm nhuần lời cha dạy nên rất chú ý đến các loại dược liệu có tính độc. Là thầy thuốc, phải quý trọng tính mạng bệnh nhân như tính mạng của mình vậy”, lương y Diệp tâm sự.
Sau khi tốt nghiệp THPT, lương y Diệp nộp hồ sơ vào học lớp Trung cấp Y học cổ truyền. Không ngừng học hỏi, vừa thu nạp kiến thức trên lớp, chị vừa tận dụng tối đa để học hỏi kinh nghiệm chữa bệnh từ những bậc tiền bối. Bao năm nay, không chỉ được nhiều người biết đến là vị thầy thuốc giỏi, lương y Diệp còn được đánh giá cao bởi lòng nhân ái. Nữ lương y cho biết, chồng chị công tác ở Trung tâm bảo tồn di tích Cố Đô, hai con học giỏi, ngoan ngoãn. Kinh tế gia đình ổn định nên bản thân chị không quá đặt nặng vấn đề tiền bạc. Chị chia sẻ: “Hành nghề y cốt ở cái tâm, giúp được gì cứ giúp chứ đừng nên tính toán thiệt hơn làm gì. Tiền bạc sao có thể so sánh được với sức khỏe”. Cũng nhờ uy tín, lòng nhiệt tình mà lương y Diệp được bầu làm Chủ tịch hội Đông y của phường An Tây. Với kinh nghiệm nhiều năm trong nghề cộng thêm sự học hỏi không ngừng từ các cuốn sách về y thuật dân gian cũng như những bậc tiền bối đi trước, lương y Diệp đã nghiên cứu ra được nhiều bài thuốc hay, mang lại hiệu quả điều trị cao. Trong đó phải kể đến bài thuốc trị tiểu đường, u nang buồng trứng… Chia sẻ về sự nghiệp của mình, chị cho biết: “Tôi vẫn sẽ tiếp tục dành thời gian để học thêm, bồi dưỡng thêm những kiến thức còn thiếu”.
Lương y Diệp cho biết, những người mới mắc bệnh tiểu đường thường có những biểu hiện khác thường như: mệt mỏi, tiểu nhiều, khát nhiều, nhanh đói, giảm cân không kiểm soát, vết thương lâu lành, mắc các bệnh về da, mờ mắt, nhiễm nấm, dễ bị lạnh và cảm cúm, ngứa ran hoặc đau ở bàn chân, bàn tay… Tuy nhiên đa số những người có triệu chứng ban đầu như vậy lại bỏ qua hoặc nhầm lẫn với căn bệnh khác. Từ đó không có phương pháp điều trị kịp thời hoặc điều trị sai hướng khiến bệnh ngày càng trầm trọng hơn. “Bệnh tiểu đường hiện nay vẫn là một trong những căn bệnh được liệt vào dạng khó chữa. Chính vì vậy, người bệnh cần phát hiện sớm để kịp thời chữa trị. Những ai có các biểu hiện nêu trên nên lập tức đi khám và làm các xét nghiệm đường huyết. Người bệnh nên xét nghiệm vào buổi sáng khi chưa ăn gì để có một kết quả chính xác. Nếu đường máu vượt quá 126 mg/dL trong 2 lần, nghĩa là bạn đã mắc bệnh tiểu đường. Nếu đường máu từ 100 đến 125 mg/dL thì đây là biểu hiện của tiền tiểu đường. Nhỏ hơn 99mg/dL là bình thường”, lương y Diệp trình bày.
 
Về món canh trị tiểu đường của lương y Diệp, lương y Vũ Quốc Trung cho biết: “Theo Đông y, bí đao có vị ngọt, tính hơi hàn, không độc, quy kinh tỳ, vị. Tác dụng thanh nhiệt, lợi thấp, giải độc, sinh tân, chỉ khát, lợi niệu, tiêu phù. Chủ trị các chứng tiêu khát, thủy thũng, mụn nhọt, sang lở, ban chẩn, làm tươi nhuận bì phu, giữ nhan sắc.
Để trị bệnh tiểu đường, có thể hàng ngày dùng bí đao nhục (phần thịt quả) dưới dạng nấu canh, nấu cháo ăn hoặc ép lấy nước uống. Ngoài ra cũng có thể sử dụng bí đao phối hợp với các vị thuốc khác.
Món canh bí đao nấu lá lách lợn cũng là một món canh dưỡng sinh giúp người bệnh tiểu đường giảm lượng đường huyết. Lá lách lợn (trư tỳ) vị ngọt, tính bình, có tác dụng kiện tỳ, thoát chướng, nhuận sắc, bổ tụy. Người bệnh tiểu đường tuyến tụy thường hoạt động kém nên các món ăn bổ tụy rất có ích.
Ngoài món canh trên người ta còn nấu lá lách với hải sâm hoặc râu ngô để giảm đường huyết cho bệnh nhân đái tháo đường. Tuy nhiên không nên sử dụng các món canh này trong thời gian quá dài, người bệnh phải thường xuyên kiểm tra lượng đường trong cơ thể, nếu thấy xuống mức trung bình thì phải ngừng ăn để cân bằng lượng đường”.
 

Lương y Diệp cho biết thêm việc phát hiện sớm vẫn yếu tố quan trọng nhất để trị lành bệnh tiểu đường. Quan trọng hơn, người mắc bệnh nhưng không có cách điều trị phù hợp cũng rất nguy hiểm. Bệnh không những không khỏi được mà còn dẫn đến những biến chứng khác khiến cơ thể người bệnh ngày một suy mòn, thậm chí có những biến chứng gây tử vong. Nữ lương y cho biết: “Có thể kể đến những biến chứng thường thấy mà bệnh tiểu đường gây ra như: Tổn thương dây thần kinh ngoại vi (là biến chứng thường gặp nhất, biểu hiện da khô, nứt nẻ, chân chai, lở loét, sưng phù và không điều trị khỏi, có khi còn phải cắt cả chân để bảo toàn tính mạng); các bệnh về mắt (giảm thị lực, đục thủy tinh thể, quáng ga, mù lòa…); người tuổi cao có nguy cơ mắc bệnh về tim, đột quỵ, dễ gây tử vong. Bệnh nhân bị mắc tiểu đường còn rất dễ bị nhiễm trùng bất cứ bộ phận nào trên cơ thể và một trong những hậu quả nghiêm trọng là phải tháo khớp (hiện tượng đoản chi)”.

 
Hiệu quả thần kỳ
Theo lương y Diệp, giữ lượng đường trong máu ở mức ổn định được xem là yếu tố quan trọng trong để người bệnh giảm nguy cơ bị các biến chứng. Người mắc tiểu đường phải dùng thuốc suốt đời nên việc dùng thuốc nào an toàn khi dùng dài ngày rất được quan tâm. Từ thực tế này, hiện nay người bệnh có xu hướng tìm đến những loại thuốc từ tự nhiên vừa hiệu quả vừa không gây tác dụng phụ khi dùng trong thời gian dài. Theo xu hướng trên, lương y Diệp đã tìm ra một phương pháp điều trị tiểu đường từ các loại thực phẩm sẵn có trong tự nhiên. Bài thuốc này giúp giữ được lượng đường ổn định. Những người có lượng đường cao khi dùng cũng sẽ giảm rõ rệt.
Bài thuốc của lương y Diệp khá đơn giản, ai cũng có thể tự làm được với những nguyên liệu rẻ tiền, dễ kiếm. Đó là món canh bí đao kết hợp với lá lách của heo. Cách làm cũng không hề khó. Theo đó, lá lách lợn tươi mua về bóc bỏ lớp màng mỏng bên ngoài, rửa thật sạch (dùng nguyên 1 cái). Tiếp đến lấy khoảng 25g bí đao bỏ vỏ rửa sạch đem nấu chín kỹ với lá lách trên và ăn cả cái lẫn nước. Mỗi ngày ăn 1 lần, kiên trì ăn trong vòng một tháng sẽ giảm được lượng đường trong máu. Lương y Diệp căn dặn thêm, khi ăn món canh này, trong một tháng tiếp sau đó người bệnh phải thường xuyên kiểm tra. Khi nhận thấy lượng đường xuống quá thấp thì ngừng ăn nhằm đảm bảo sức khỏe. Giải thích về món canh này, lương y Diệp cho biết: “Khi người bị mắc bệnh tiểu đường thì khả năng làm việc của tuyến tụy yếu đi. Trong khi đó, lá lách heo lại có tác dụng bổ tuyến tụy. Phương pháp này trong y học cổ truyền gọi là “tạn khí liệu pháp””.
Ngoài món canh bí đao với lá lách lợn trên, lương y Diệp khuyên người bệnh nên kết hợp uống củ sinh địa với liều lượng 40g/ ngày. Cách làm như sau: Củ sinh địa đem rửa sạch rồi nấu nước uống hàng ngày như uống trà. “Khi mua củ sinh địa nên chọn những củ mập, vỏ mỏng, mềm và cắt ngang có màu đen nhánh. Loại củ này có tác dụng bổ thanh âm đồng thời mát huyết, thanh nhiệt. Việc kết hợp giữa ăn và uống như trên sẽ giúp bệnh nhân nhanh chóng hạ lượng đường trong cơ thể. Đây là cách làm giúp tuyến tụy nghỉ ngơi, tẩm bổ. Chú ý người bệnh nên cung cấp năng lượng vừa đủ, tránh dư thừa, đặc biệt là phải luyện tập thể dục điều độ”, lương y căn dặn thêm.
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Uống Thuốc Vừa Đủ

Có những người rất sợ uống thuốc, trong đầu óc của họ, “thuốc men” gần như đồng nghĩa với thuốc độc. Ngược lại, cũng có người dường như phải uống nhều thứ thuốc khác nhau mới gọi là đủ, nhất là vô số thuốc bổ. Và, cũng có không ít người, uống thuốc của bác sĩ kê toa một cách tuỳ hứng, nhớ thì uống, quên thì ngày hôm sau uống bù gấp đôi gấp ba cho đủ dose!
 
Người ta nói, “đói ăn rau, đau uống thuốc”. Ngày nay ta không phải đợi tới lúc đói mới ăn rau, thế thì uống thuốc khi nào và uống bao nhiêu thì đủ? Bài viết nầy sẽ khai triển thêm về chủ đề “Lạm Dụng Thuốc Men” của một bài viết trước đây.
Kỳ trước, chúng ta đã bàn về ba thứ thuốc bị lạm dụng nhiều nhất gồm có thuốc bổ, thuốc giảm đau và thuốc trụ sinh.
Tóm tắt, hầu hết thuốc bổ thật ra không cần thiết, ngoại trừ một số trường hợp đặc biệt như suy dinh dưỡng hay sản phụ đang mang thai. Uống nhiều thuốc bổ chỉ thêm phản ứng phụ không cần thiết, có khi còn tăng nguy cơ bị ung thư. Còn thuốc giảm đau, uống nhiều có thể bị bệnh tim mạch chưa kể đến phản úng phụ như bị loét bao tử, hoặc bị ghiền, hay ngộ độc nếu là thuốc có chất ma tuý. Riêng thuốc trụ sinh, dùng nhiều có thể bị lờn thuốc vì những con vi trùng càng ngày càng khó trị.
Tình trạng bị lạm dụng thuốc men là do lỗi của cả bệnh nhân lẫn bác sĩ. Ngay chính trong giới bác sĩ, hiện nay cũng được khuyến cáo để góp phần giảm bớt vấn nạn bị lạm dụng thuốc men.
Về thuốc trụ sinh và thuốc giảm đau, nghiên cứu cho biết, hầu hết những toa thuốc trụ sinh và thuốc giảm đau có chất á phiện không bao giờ được uống hết như lời dặn của bác sĩ. Thuốc dư thì bỏ thùng rác, nằm lây lất đâu đó trong tủ thuốc, hoặc cho bạn bè uống ké. Gần đây, trong ngành Sản Phụ Khoa, Hội Đồng Giám Định American Board of OB/GYN đã đề xuất một số định chuẩn mới trong việc kê toa thuốc trụ sinh. Một số ca mổ nhẹ như nội soi, bây giờ không cần cho thuốc trụ sinh trước và sau khi mổ. Nếu có phải cho thuốc trụ sinh, bác sĩ được khuyên nên dùng những loại thuốc trụ sinh vừa phải và cho uống dose ít lại. Ví dụ, chỉ một viên thuốc trụ sinh Doxycyclin 100 mg trước khi mổ đã đủ phòng ngừa trên 99% bệnh nhiễm trùng có thể xảy ra.
Đầu năm nay, Viện Hàn Lâm American College of Physicians đã ra lời khuyên mới về việc chữa trị bệnh cao huyết áp cho người trên 60 tuổi. Bệnh nhân không cần phải uống thuốc trị cao huyết áp trừ khi áp suất máu cao hơn 150 mm thuỷ ngân, tuy rằng Hội Tim Mạch Hoa Kỳ vẫn giữ mức giới hạn là 140. Về bệnh cao cholesterol, cơ quan phòng chống bệnh U.S. Preventive Services Task Force có vẻ như khuyên mọi người, mọi công dân, nên uống thuốc statins!
Uống quá nhiều thuốc khi không cần thiết sẽ gây ra nhiều khó khăn hơn do phản ứng phụ. Ví dụ như phản ứng phụ của các thuốc trị cao huyết áp bao gồm ho khan kinh niên, tiêu chảy, nôn mữa và chóng mặt. Còn thuốc statins trị cao cholesterol có thể làm đau và làm yếu bắp thịt, hư hoại thận, và gây ra bệnh tiểu đường loại 2.
Mặc dù cao huyết áp và cao cholesterol có hại đến sức khoẻ, nhưng vẫn còn tuỳ vào các yếu tố khác như tuổi tác, giới tính, chủng tộc, và có thêm bệnh tiểu đường hay có hút thuốc lá hay không.
Để biết được có cần phải uống thuốc statins hay không, ta cần biết chỉ số nguy cơ trong 10 năm kế tiếp, bằng cách tham khảo website,http://tools.acc.org/ASCVD-Ris k-Estimator/.
Tuy bản tính nầy có khuynh hướng khuyên mọi người nên uống thuốc statins, nhưng theo nhiều bác sĩ chuyên khoa, nếu chỉ số nguy cơ dưới 7.5 thì không cần uống thuốc. Nếu chỉ số từ 7.5 đến 10 thì chỉ cần thay đổi nếp sống như ăn uống điều độ, tăng cường vận động, thể dục thể thao, trước khi phải uống thuốc statins. Nguyên tắc nầy cũng áp dụng cho bệnh cao huyết áp. Chỉ cần thay đổi lề lối sống, có thể giảm nguy cơ tử vong vì bệnh tim mạch mà không cần phải uống thuốc. Cụ thể, nếu huyết áp trên 140-150 thì nên thử điều chỉnh lề lối sống, trước khi uống thuốc.
Cho dù phải dùng thuốc, chỉ khi nào bệnh nhân đã từng bị nhồi máu cơ tim hay tai biến não thì mới uống thuốc statins với liều lượng cao, ngoài ra có thể chỉ bắt đầu bằng liều lượng thấp nhất. Trong trường hợp cao huyết áp, khuynh hướng bây giờ lại trở lại với những loại thuốc xưa nhất như thuốc lợi tiểu, chlorthalidone hay hydrochlorothiazide, trước khi dùng những loại thuốc khác như ACE inhibitor, calcium channel blocker…
Khi một loại loại thuốc được bán ra thị trường, các nhà sản xuất thuốc thường “đề nghị” một dose thuốc, liều lượng và thời lượng hiệu nghiệm cho trên 95% người dùng (dựa trên biểu đồ Bell của thống kê). Tuy nhiên, trên lý thuyết, mỗi bệnh nhân, thực ra có một dose thuốc thích hợp khác nhau tuỳ theo mỗi cơ thể. Các bác sĩ đều biết rõ điều này, nhưng để trừ hao và “cho chắc”, hầu hết các bác sĩ đều cho một toa giống nhau với liều lượng và thời lượng cao nhất.
Ví dụ trong ngành chữa trị hiếm muộn, một số bác sĩ cho thuốc theo một “công thức” cố định cho tiện công việc. Những nghiên cứu mới cho thấy có khi dùng thuốc ít lại hiệu nghiệm hơn. Cá nhân tôi, khi kích thích trứng lớn, sử dụng thuốc tuỳ theo chiều cao, sức nặng , tuổi tác, và số lượng trứng “tồn kho” của mỗi bệnh nhân, và tuỳ theo tốc độ phát triển của trứng mà thay đổi liều lượng.
Mới đây, các công ty như Apple, Amazon và Google đã tiến vào lãnh vực lưu trữ hồ sơ bệnh lý của bệnh nhân. Bệnh sử của bệnh nhân được tập trung vào một kho chứa dữ kiện, dễ cho bác sĩ tham khảo. Thuốc men được ghi rõ để bác sĩ khỏi kê toa trùng. Trong tương lai gần, theo đà phát triển nghiên cứu về sự chi phối của của các gene ảnh hưởng đến bệnh lý, mỗi bệnh nhân sẽ có một loại thuốc chữa trị thích hợp riêng với liều lượng riêng.
Một ngày không xa, toàn bộ hồ sơ bệnh lý cũng như những dữ kiện cơ bản về áp suất máu, nhịp tim, nồng độ oxygen, biểu đồ tim EKG, lượng đường trong máu sẽ có sẵn trong chiếc đồng hồ đeo tay hay trong điện thoại di động. Trong khi chờ đợi, để sử dụng thuốc cho đúng liều lượng, hữu hiệu và tránh phản ứng phụ, bệnh nhân cần phải tham khảo với bác sĩ về chế độ thuốc men của mình.
 

B.S Hồ Ngọc Minh

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

5 món ăn chứa nhiều ký-sinh trùng đáng sợ nhất!

 Chúng ta thường nói “khuất mắt trông coi” sau mỗi lần ăn thực-phẩm thiếu an-toàn! Đây là 5 món ăn chứa nhiều ký sinh-trùng nhất bạn nên “coi” trước khi ăn để tránh mang bệnh!!! 

ký sinh trùng, sán 

   Chúng ta thường xem tin tức về những bệnh nhân có hàng ngàn ký sinh trùng tồn tại trên cơ thể và cảm thấy vô cùng sợ hãi! Nhưng lại nghĩ rằng đó là những trường hợp cá biệt!!!

   Theo các bác sĩ thì việc ký sinh trùng “sống chung”trong cơ thể người không phải là bệnh hiếm gặp, chỉ là mắt thường ít nhìn thấy hoặc bệnh chưa nặng đến mức bạn phải vào viện mà thôi!

   Việc ăn chín uống sôi tưởng chừng như là điều bình thường, ai cũng biết! Thế nhưng thói quen ăn sống, ăn tái! Đặc biệt là đối với những món thịt vẫn diễn ra phổ biến và hầu như ít người quan tâm đến tác hại!

   Theo các chuyên gia dinh dưỡng và sức khỏe, sau đây là 5 món ăn có chứa nhiều ký sinh trùng nhất! Khuyến cáo chúng ta nên đặc biệt cẩn thận khi ăn!!! Nếu không để ý, mỗi bữa ăn của bạn có thể trực tiếp đưa vào cơ thể hàng ngàn ký sinh trùng!!!

 

1. Thịt bò tái, bít-tết 

ký sinh trùng, sán  

   Thịt bò là món ăn bổ dưỡng và chúng ta thường ăn hàng ngày. Nhưng cách mà chúng ta đang ăn món bò tái, bít tết khiến cho các bác sĩ lo lắng!

   Món thịt bò khi đưa lên miệng, bên trong vẫn còn nguyên màu máu đỏ, đặc biệt là món bít-tết với khối thịt dày mà chỉ nướng sơ qua!

  Ai cũng biết rằng, nếu thịt bò nấu chín sẽ dễ bị dai và mất đi hương vị thơm ngọt! Vì thế đa phần sẽ chọn cách chế biến thịt bò tái!!!

  Theo các chuyên-gia sức-khỏe, ăn bò tái là cách nhanh nhất đưa ký- sinh trùng vào cơthể một cách nghiêm-trọng!!! 

ký sinh trùng, sán   

Sán dây trong thịt bò sống! (Ảnh minh-họa phóng to) 

   Thịt bò thông thường có chứa ký sinh trùng sán dây, màu trắng đục, thân dẹt phẳng, có nhiều đốt, có chiều dài từ 4-8 mét. Loại ký sinh trùng này gây hại không lường hết cho sức khỏe của người bệnh!

   Để đảm bảo an toàn và sức khỏe, các chuyêngia khuyên bạn nên nấu chín thịt bò trước khi ăn!!!

 

2. Gỏi cá

   Người “sành điệu” trong ăn uống, thường thích ăn món gỏi cá, hay còn gọi là sashimi, sushi theo cách ăn của người Nhật! Càng ngày càng có nhiều người có sở thích ăn cá sống theo cách này!!!  

ký sinh trùng, sán��  

 

   Do món cá sống có hương vị đặc biệt, tươi ngon! Nên nhiều thực khách dù biết có thể có ký sinh trùng nhưng vẫn không cưỡng lại được sự hấp dẫn của nó!!!

   Cá sống chứa nhiều ký sinh trùng sán lá gan và các ký sinh trùng khác! Loài ký sinh này khi xâm nhập vào cơ thể sẽ nhanh chóng đi vào gan và túi mật, làm hỏng gan nhanh chóng!!! 

ký sinh trùng, sán   

Ký-sinh trùng sán lá gan trong món cá sống!  (Ảnh minh-họa phóng to) 

   Khi phát bệnh, cơ thể bắt đầu có dấu hiệu đau nhức, đầy hơi kèm theo đau b��ng.! Nếu kiểm tra sẽ thấy chức năng gan hoạt động bất thường!!!

 

3. Lươn

   Lươn là món ăn bổ dưỡng! Tuy nhiên, nếu bạn không nấu chín kỹ (chẳnghạn như ăn lẩu, chỉ nhúng sơ qua) thì đây chính là món ăn gây ra nhiều ký sinh trùng vào cơ thể!!!  

ký sinh trùng, sán   

Món lươn nếu ăn lẩu cần phải nấu chín kỹ! (Ảnh minh-họa)  

   Do đặc điểm môi trường sống trong vùng nước đọng lâu ngày là điều kiện thuận lợi khiến cho lươn bị nhiễm ký sinh trùng!

   Khi vào thời điểm mùa sinh của ký sinh trùng, tỉ lệ nhiễm trùng của lươn có thể lên tới hơn 50%. Lươn được xem là loài có tỉ lệ nhiễm ký sinh trùng cao! Đặc biệt là ấu trùng giun tròn!!!  

ký sinh trùng, sán   

Ký-sinh trùng trong lươn sống! (Ảnh minh-họa) 

   Khi ấu trùng này xâm nhập vào cơ thể, nó sẽ nhanh chóng tấn công lên vùng mắt, gây ra mù lòa!

   Lưu ý khi nấu món này phải thật chín kỹ, nhiệt độ đủ làm cho nước nóng sôi và tối thiểu phải đun sôi từ 4-5 phút mới có thể ăn!!!

 

4. Tôm hùm

   Nhiều người thường ăn món tôm hùm hấp vào bữa tối cùng với chút bia. Đây được xem là cách thưởng thức món ăn tao nhã và vui vẻ! 

ký sinh trùng, sán   

Tôm hùm sống trong vùng nước ô-nhiễm! (Ảnh minh họa) 

   Trên thực tế, vùng nước nuôi tôm hùm bây giờ không còn sạch sẽ như trước, chất lượng nước nhiễm bẩn tạo môi trường cho ký sinh trùng phát triển mạnh, chúng bám vào bên trong vỏ tôm và sống “yên-bình” ở đó!

   Khi chúng ta ăn tôm chưa được nấu chín kỹ, ký sinh trùng đi theo món ăn nhanh chóng vào cơ thể! Đặc biệt là loài sán lá phổi!!! 

ký sinh trùng, sán    

Sán lá phổi ký-sinh trong tôm hùm  ( Ảnh minh-họa phóng to)

   Khi ăn món tôm hấp hoặc nướng chưa đủ chín, sán lá phổi sẽ tiếp cận nhanh vào phổi và ký sinh trong đó khiến người nhiễm bệnh gặp bất lợi lớn về sức khỏe!

   Bệnh nhân có thể có những biểu hiện như ho, đau ngực, ho ra máu, nghiêm trọng hơn có thể gây chảy máu vùng phổi! Hãy nhớ rằng phải chế biến tôm hùm thật chín kỹ, không ăn vùng vỏ ngoài!!!

 

5. Ốc

   Ốc là món ăn phải ăn khi còn tươi song! Nghĩa là khi ốc bị chết thì không ăn được nữa!!! Tuy nhiên, ốc đang sống mà luộc không chín sẽ tạo điều kiện cho ký sinh trùng tấn công vào cơ thể người! 

ký sinh trùng, sán    

Ốc sống trong môi-trường ô-nhiễm có thể chứa rất nhiều ký-sinh trùng! (Ảnh minh-họa)  

   Đa phần khi ăn ốc đều luộc sơ qua rồi ăn ngay khi vừa trên bếp đưa xuống, ký sinh trùng giun ống tròn (tên khoa học là Angiostrongylus cantonensis) sẽ xâm nhập vào cơ thể!

   Sau khi bị nhiễm, ký sinh trùng giun ống tròn này có thể xâm nhập vào não, gây ra bệnh viêm màng não!!!

   Ốc đồng sống trong môi trường ao hồ đầm lầy nước đọng, dễ bị ô nhiễm; nên không chỉ có ký sinh trùng giun ống mà còn có rất nhiều loại ký sinh trùng khác!

   Ghê sợ hơn, mỗi con ốc có thể chứa tới từ 3000-6000 ký sinh trùng giun ống! Vì thế, các chuyên gia khuyến cáo: Nếu ăn ốc, bạn phải nấu thật chín.! Tuyệt-đối không nên ăn ốc chín tái!!! 

ký sinh trùng, sán   

Giun ống ký-sinh trùng trong ốc (Ảnh minh họa phóng to) 

   Các chuyên gia cho rằng, việc cảnh báo về tác hại của ký sinh trùng trong các thực phẩm s��ng là việc họ cần phải làm! Thay vì cho rằng họ nói ra điều đó gây hoang mang cho thực khách “mê” những món tươi sống và món tái!!!

   Việc lựa chọn món ăn và cách ăn như thế nào là quyền của từng cá nhân! Các chuyên-gia chỉ khuyến-cáo bạn dưới góc độ nghề-nghiệp, để bạn có đủ thông-tin cần-thiết! Giúp cho việc phòng-bệnh hiệu-quả trước khi quá muộn!!!

 

 

​3-Chuyen bên Mỹ-

Nhà hàng chỉ có một bàn khiến các tỷ phú công nghệ mê mệt

Nhà hàng Hiroshi ở California (Mỹ) chỉ có chỗ cho 8 người, không thực đơn, không cửa sổ. Đây là nơi được các tỷ phú công nghệ như Steve Job và Mark Zuckerberg yêu thích.

Nằm ở Los Altos, California, Mỹ, nhà hàng Hiroshi đã và đang đón tiếp những vị khách nổi tiếng như Sergey Brin, Steve Jobs và Mark Zuckerberg. Bên ngoài nhà hàng có vẻ rất bình thường.
Cửa không có giờ mở mà chỉ có tấm biển “Chỉ mở cửa theo lịch hẹn”.
Khu vực ăn uống được thắp đèn vàng ấm áp. Cả nhà hàng chỉ có một chiếc bàn làm từ thân cây keyaki 800 tuổi của Nhật Bản. Để đưa bàn vào nhà hàng, họ cần tới 10 người và một cần cẩu nhỏ. 
Chủ nhân và cũng là đầu bếp chính ở đây là ông Hiroshi Kimura. 
Ông Kimura muốn tạo ra nơi dùng bữa cao cấp cho các VIP công nghệ. Các chi tiết của nhà hàng, từ cửa sổ kín tới lối vào bí mật đằng sau đều để đáp ứng nhu cầu của họ. Hiroshi chỉ đón tiếp 8 khách mỗi tối. Nếu nhóm chỉ có 6 người, họ vẫn phải mua chỗ cả bàn.
Bữa tối có giá khoảng 395 USD một người, có thể lên tới 500-600 USD nếu tính thêm tiền đồ uống và thuế. Thực khách được thưởng thức thực đơn 10 món thay đổi hàng ngày. Món bánh mì kẹp tonkatsu này gồm thịt lợn tẩm bánh mì rán giòn ướp sốt nâu kiểu Pháp.
Mọi món ăn ở Hiroshi – như mì somen với trứng cá muối chẳng hạn – đều được trình bày đơn giản nhưng nghệ thuật.
Món ăn nổi tiếng nhất ở đây là thịt bò wagyu nướng. Ông Kimura nhập thịt hàng tuần từ Nhật Bản. 
Thịt bò được nướng trên hibachi – một bếp lò đun than hoa truyền thống của Nhật Bản.
Thịt bò wagyu được rắc vàng lá, ăn kèm măng tây trắng và sốt ponzu. 
Mỗi khách có một lò hibachi cỡ nhỏ để làm thịt bò chín thêm hoặc đun nóng lại theo ý thích.
Nhà hàng đã tiếp đón nhiều nhân vật tầm cỡ trong giới công nghệ, thuộc các tập đoàn lớn như Google, Apple hay Oracle.
Phía sau bức tranh rừng Hawaii là một màn hình để thực khách chiếu PowerPoint thuyết trình trong bữa tối.
Mọi chi tiết của bữa tiệc đều thể hiện đẳng cấp sang trọng, như những chiếc cốc pha lê thủ công này.
Thực khách dùng iPad để xem các loại rượu, trong đó có sake được nhập từ Nhật Bản cùng các loại rượu đắt tiền khác.
Ngay cả nhà vệ sinh cũng được thiết kế như spa cao cấp.
Cuối bữa ăn, thực khách có thể đem về phần thịt chưa dùng hết.

Một vị khách bình luận rằng giá nhà hàng khá cao, nhưng rất đáng thử một lần nếu có thể.

__._,_.___
 ST
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Muối IOD – những điều nên biết về muối iod

Vũ Thế Thành

alt
Đa số đều nghĩ thiếu iod gây ra bướu cổ. Thực ra, thiếu iod còn gây lắm chuyện hơn thế nữa. Iod là thành phần tạo ra hormon của tuyến giáp, giúp cho sự phát triển của trí não của trẻ. Ngay cả khi các bà bầu thiếu iod, cũng ảnh hưởng đến sự phát triển não của thai nhi. Người ta phải bổ sung iod vào muối là vì thế.
Không phải thực phẩm nào cũng có iod
Iod có nhiều ở đại dương, vùng duyên hải. Tôm cua cá mực bạch tuộc, và các loại rong biển, nói chung là hải sản có nhiều iod. Muối biển cũng có iod, nhưng rất ít.
Iod dễ bay hơi, nên iod cũng có trong không khí ở vùng duyên hải. Xa biển, hay nhất là vùng cao nguyên thường thiếu iod.
Thiếu iod thì sinh lắm bệnh, mà sợ nhất là đần độn, thiểu năng, chậm phát triển tâm thần ở trẻ em, nghe nói, suy nghĩ đều lệch lạc. Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), hiện có ít nhất 40 triệu trẻ em thiếu iod, đa số là các nước nghèo. Người lớn bị rối loạn do thiếu iod, nhất là phụ nữ, thì từ tinh thần đến thể xác đều mệt mỏi, làm việc uể oải..
Cơ thể không tạo ra iod được, nên phải lấy từ nguồn thực phẩm. Nhưng không phải ai cũng diễm phúc sống ở vùng biển, và có máu mê ăn hải sản để có thể đáp ứng nhu cầu iod một cách tự nhiên được. Vả lại, không phải thực phẩm nào cũng có iod, nên phải bổ sung iod từ nguồn… “nhân tạo”.
Vì sao lại là muối iod?
Nhu cầu iod hàng ngày rất ít, chỉ khoảng 0,15 mg, nhỏ chưa bằng một hạt muối. Trẻ cần ít hơn, bà bầu nhiều hơn.
Nhu cầu tí tẹo như thế thì biết trộn vào đồ ăn nào để bổ sung iod. Sao không chọn cơm gạo, bột mì, đường sữa,…mà lại chọn muối để bổ sung iod?
Đơn giản. Muối không bị hư thiu. Muối lại là thứ ai cũng ít nhiều phải dùng, mà cũng chỉ dùng có hạn, nên dễ kiểm soát được mức iod bổ sung. Mỗi ngày tối đa 5 gr muối là mức khuyến cáo của Tổ chức WHO, có ăn mặn cũng chỉ cỡ 10 gr. Do đó muối còn được dùng để bổ sung sắt, và các chất vi khoáng khác, tùy theo chính sách y tế của mỗi nước.
Vì iod rất dễ thăng hoa, nên người ta thường dùng iod ở dạng muối để bổ sung. Dùng phổ biến nhất là muối potassium iodate (KIO3) vì dễ sử dụng.
Khoảng 57 gr muối iodate được hòa tan thành dung dịch, rồi phun vào 1 tấn muối ăn. Con số 57 gr được tính toán dựa trên nhu cầu về iod và mức tiêu thụ muối mỗi ngày, cộng thêm 30% iod thất thoát do bay hơi, trong quá trình sản xuất lẫn khi sử dụng ở nhà. Ăn mặn, ăn nhạt cũng đều nằm trong dung sai tính toán này.
Vấn đề là truyền thông muối iod tới người dùng

alt
Iod giúp cho sự phát triển của trí não của trẻ. Ngay cả khi các bà bầu thiếu iod, cũng ảnh hưởng đến sự phát triển não của thai nhi.
Muối (bổ sung) iod ở nước ngoài thường là muối mỏ, làm tinh lại rồi phun iod vào, có trộn thêm cả chất chống vón, nên hạt muối nhỏ đều, rời rạc trông đẹp mắt. Còn muối iod ta bán ở các siêu thị trong nước làm từ muối biển, độ hạt lớn hơn so với muối tây, ẩm độ cao hơn, màu sắc không trắng tinh như muối tây.
Vì iod trong muối rất dễ thất thoát do bay hơi, nên chỉ nên nêm nếm sau khi đã nấu chín. Lọ muối cần được đậy kín, để nơi mát, tránh nắng, cách xa nguồn nhiệt, để tránh oxýt hóa.
Tuy nhiên, muối iod, trong vài trường hợp, lại gây trở ngại cho thực phẩm công nghiệp, vì iod có thể bị thực phẩm oxid hóa, làm xẫm màu thực phẩm. Sự biến màu này không có hại cho sức khỏe, nhưng về ngoại quan của sản phẩm không đạt.
Ở các siêu thị nước ngoài, ngoài muối iod gia dụng, còn bày bán cả bán loại muối để các bà nội trợ muối dưa cải, dưa leo, cà rốt,… gọi là pickling salt. Muối pickling salt là muối tinh thuần túy, không có iod và chất chống vón. Vì iod và chất chống vón có thể làm rau quả muối bị xẫm màu hoặc lợn cợn kết tủa dưới đáy.
Việc bổ sung iod vào muối theo chính sách quốc gia là điều cần thiết cho sức khỏe cộng đồng, không có gì bàn cãi. Nhưng ở Việt Nam, Bộ Y tế buộc các nhà chế biến phải dùng muối iod trong chế biến thực phẩm công nghiệp gây khó khăn cho sản xuất. Vấn đề là tuyên truyền làm sao để người dân nhận thức được tầm quan trọng của việc bổ sung iod vào muối, chứ không phải là mệnh lệnh.
Chính các bà nội trợ mới là người quyết định dùng muối nào. Con họ có thể bị đần độn, thiểu năng, chậm phát triển là biết sợ ngay. Nhưng bao nhiêu phần trăm phụ nữ biết điều này để chủ động dùng muối iod trong bếp núc ?
Vũ Thế Thành (vuthethanh202@gmail.com)
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Suy thận cướp đi tính mạng của nhiều người

  Chúng ta bị cuốn vào cuộc sống hàng ngày mà quên đi hoặc cố tình chủ quan

     với những biểu hiện nguy hiểm của sức khỏe và chỉ phát hiện khi bệnh đã trở
      nặng, khó cứu chữa.

Suy thận là một trong những bệnh như vậy và không có nhiều người để ý tới biểu hiện của nó. Dưới đây là những dấu hiệu cảnh báo suy thận mà bạn nhất định không nên bỏ qua.

1. Mệt mỏi và thiếu năng lượng

Nếu bạn luôn mệt mỏi và cảm thấy thiếu năng lượng, đã đến lúc kiểm tra lại thận của mình. Suy thận tức là các độc tố và tạp chất bị tích tụ trong máu, đôi khi nó cũng có thể dẫn đến thiếu máu và gây ra tình trạng thiếu năng lượng.

2. Phát ban ở da

Khi chất độc tích tụ trong cơ thể, nó sẽ làm thay đổi làn da của bạn. Da sẽ trở nên khô hơn và các vết mẩn ngứa bắt đầu nổi lên, gây ngứa ngáy, khó chịu.

3. Buồn nôn và nôn

Việc có nhiều chất độc trong máu có thể khiến bạn cảm thấy buồn nôn. Điều này làm cho bạn muốn thải các chất độc ra ngoài và gây nên hiện tượng nôn. Khi này, bệnh suy thận đã tiến triển xấu.

4. Đi tiểu thường xuyên

Bạn có cảm giác đi tiểu nhiều hơn bình thường, đặc biệt là ban đêm. Đâu là dấu hiệu của bệnh đau thận hoặc suy thận. 5. Có máu trong nước tiểuThông thường, thận lọc máu và tạp chất khỏi cơ thể. Nhưng khi thật không hoạt động đúng cách, các tế bào máu chảy vào trong nước tiểu, gây ra hiện tượng tiểu ra máu. Đây là một trong những triệu chứng hàng đầu của suy thận.

6. Sưng mắt

Một trong những biểu hiện của suy thận chính là sự hiện diện của protein có trong nước tiểu. Càng nhiều chất đạm thoát ra ngoài từ cơ thể của bạn vào nước tiểu thì mắt của bạn càng bị sưng lên.

7. Nước tiểu nổi bong bóng

Bong bóng xuất hiện khi đi tiểu là một dấu hiệu có quá nhiều chất đạm trong đó. Và đây chính là biểu hiện của bệnh thận.

8. Bàn tay và chân sưng phù

Khi thận bắt đầu bị đau, nhiều natri sẽ được giữ lại trong cơ thể và do đó, dẫn đến sưng phù bàn tay và bàn chân.

9. Chán ăn

Sự tích tụ chất độc trong cơ thể là lý do tại sao bạn ăn không còn ngon miệng. Vì thận không thể hoạt động bình thường, chất độc sẽ không được thải ra đúng cách và gây nên hiện tượng mệt mỏi, chán ăn.

10. Chuột rút cơ bắp

Chất độc trong cơ thể tăng lên sẽ làm mất sự cân bằng điện và gây ra hiện tượng chuột rút cơ bắp. Điều này cũng sẽ xảy ra nếu lượng canxi và phốt pho trong cơ thể thấp đi. Nếu bạn thấy mình có những dấu hiệu trên, hãy đi khám bác sĩ ngay, không nên để lâu bệnh sẽ tiến triển nguy hiểm, khó điều trị.

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Bệnh viêm tai ngoài

Hè nóng là mùa của mồ hôi, của thú vui bơi lội, lặn ngụp trong làn nước trong xanh. Hè là mùa của bệnh viêm tai ngoài (external otitis, còn gọi otitis externa, swimmer’s ear).

Ai cũng có thể bị viêm tai ngoài, nhưng bệnh xảy ra nhiều nhất trong khoảng tuổi 5-19.

Tai có 3 ngăn: ngoài, giữa, và trong. Tai ngoài và tai giữa cách nhau bởi màng nhĩ (eardrum, tympanic membrane). Tai ngoài có ống tai (ear canal), lòng lót bởi một lớp da mỏng.

Cấu trúc của ống tai ở tai ngoài khiến viêm tai ngoài hay xảy ra. Nó tối, ấm, dễ ẩm ướt, nên là môi trường tốt để vi trùng (bacteria) và nấm (fungus) sinh sôi nảy nở. Da lót lòng ống tai lại rất mỏng và dễ tổn thương. Thêm vào đó, ống tai có một chỗ hơi cong, chỗ cong này khiến các mảnh ráy trong lòng ống tai khó di chuyển ra ngoài, dễ bị kẹt lại trong ống tai. Lông trong lòng ống tai – dày hơn khi ta có tuổi – cũng phần nào cản trở sự di chuyển của ráy trong lòng ống tai.

May mắn, ống tai của tai ngoài ta cũng có cách để cố tự bảo vệ nó. Các ráy trong ống tai tạo một môi trường acid, ngăn sự sinh sôi nảy nở của vi trùng và nấm.

Ngoài ra, ráy tai còn có tính kỵ nước (hydrophobic), nên cũng cản nước từ ngoài khỏi thấm vào làm ẩm tai ta. Như vậy, không có ráy tai, tai ta dễ nhiễm trùng.

Song ngược lại, nhiều ráy tai quá, hoặc ráy dẻo đặc quá cũng khổ, dễ bít chặt lòng ống tai, giữ nước và các chất bẩn, đưa đến nhiễm trùng. Đời là trung dung, không nên nghiêng quá về phía bên nào. Ống tai còn được bảo vệ bởi một cơ chế khác nữa: lớp trên cùng của da lót lòng ống, có những chuyển động từ trong ra ngoài, giúp quét đẩy các chất bẩn trong ống tai ra ngoài.

Vi trùng và nấm sinh sống ở khắp mọi nơi, kể cả trong ống tai ngoài. Chúng nằm yên đấy khi các cơ chế đề kháng chống lại chúng của ta tốt, hữu hiệu. Song khi cơ chế đề kháng kém đi, hoặc khi lớp da phủ ống tai tổn thương, các vi trùng thừa cơ nổi lên làm loạn, nhất là hai con P. aeruginosa, S. aureus, và viêm tai ngoài xảy ra. Rất nhiều yếu tố có thể khiến sức đề kháng của ống tai ngoài kém đi, hoặc lớp da lót lòng ống tai thương tổn:

– Tai ẩm ướt: do bơi lội, chảy mồ hôi, độ ẩm môi trường chung quanh cao

– Nước bẩn chứa nhiều vi trùng

– Trời nóng quá

– Ráy tai bị lấy hết, không còn chút nào trong ống tai

– Ống tai tổn thương do ngoáy tai bằng cây quấn bông, móng tay, hoặc do mang dụng cụ trợ thính (hearing aids), đồ bịt tai (ear plugs)

– Bất cứ nguyên nhân nào khác có thể gây tổn thương cho ống tai

– Bệnh da kinh niên: eczema, psoriasis, seborrheic dermatitis, acne.

Trong các yếu tố kể trên, quan trọng nhất vẫn là sự ẩm ướt và không còn ráy trong ống tai. Ráy tai có nhiệm vụ bảo vệ, bị lấy hết, ống tai sẽ dễ thấm nước và nhiễm trùng. Hóa ra, trong tai, có chút ráy, trông ngứa mắt song lại tốt, chúng ta chớ tìm cách móc, xeo, nậy, kéo hết chúng ra cho bằng được.

Triệu chứng

Đa số các trường hợp viêm tai ngoài gây do vi trùng (bacteria). Các triệu chứng điển hình của viêm tai ngoài do vi trùng là đau tai, ngứa, chảy nước, tai nghe kém đi.

Đau có thể ít hay nhiều, đau hơn khi ta lay kéo tai. Lòng ống tai hay sưng lên, hẹp lại, khiến tai thấy đầy đầy (fullness) và nghe kém đi. Trong ống tai có thể có nước màu trắng hoặc vàng, nếu nhiều, chảy cả ra ngoài. Phía trước tai đôi khi nổi hạch. Những trường hợp nặng, vành tai và da chung quanh tai sưng lên, nóng, đỏ và đau. Nóng sốt nếu có, nhẹ thôi, thường không quá 101.0 độ F (38.3 độ C). Nếu sốt cao hơn 101.0 độ F, ta nên để ý kỹ, xem ngoài chuyện viêm tai ngoài, có vấn đề gì khác hệ trọng hơn hay không.

https://i2.wp.com/smartypance.com/wp-content/uploads/2015/09/Otitis-Externa.jpg?ssl=1

10% các trường hợp viêm tai ngoài gây do nấm (fungus). Nhiều nhất là nấm Aspergillus, rồi đến nấm Candida. Vi trùng và nấm sống chung hòa bình trong ống tai, con nọ canh chừng con kia. Nhiều vị dùng thuốc nhỏ tai có chất trụ sinh để diệt vi trùng lâu quá, lượng vi trùng trong ống tai đâm ít đi, thoát vòng kềm chế của các vi trùng, nấm nổi dậy gây loạn. Cũng có trường hợp nấm tự nó gây viêm tai ngoài, nhất là khi trời nóng và ẩm. Thường, viêm tai ngoài do nấm không gây triệu chứng gì cả, bác sĩ tình cờ khám thấy trong tai người bệnh có chất tiết trông giống như bông màu trắng, có khi màu đen, xám, xanh đen hay vàng, hoặc điểm những đốm đen. Nếu gây triệu chứng, nó khiến người bệnh thấy ngứa trong tai, đồng thời có cảm giác tai đầy đầy khó chịu. Ngứa có thể dữ lắm, khiến người bệnh móc gãi, và làm tổn thương thêm lòng ống tai. Tai có thể chảy nước và ù (tinnitus).

Biến chứng

Ở đời lắm khi việc nhỏ lại gây biến cố lớn. Đa số những trường hợp viêm tai ngoài sẽ thuyên giảm với chữa trị, thỉnh thoảng có trường hợp bệnh nặng hơn, gây biến chứng khiến da chung quanh tai cũng bị nhiễm trùng lây (periauricular cellulitis), hoặc gây viêm tai ngoài ác tính (necrotizing or malignant otitis externa).

Viêm tai ngoài ác tính là một tình trạng nguy hiểm, đe dọa mạng sống, do nhiễm trùng từ tai lan ra xương “mastoid” đằng sau tai, xương “temporal” phía trước, hoặc xương sàn sọ bên trong. Viêm tai ngoài ác tính hay do vi trùng P. aeruginosa, thường tấn công những vị cao tuổi mang bệnh tiểu đường, và người có sức đề kháng cơ thể suy giảm vì bệnh (như bệnh AIDS) hoặc thuốc dùng (thuốc Prednisone, thuốc chống ung thư, …).

Viêm tai ngoài ác tính khó chữa, gây tử vong cao. Ta nên nghi ngờ tình trạng này khi đã dùng thuốc nhỏ tai đúng để chữa, tai vẫn đau dữ quá và tiếp tục chảy mủ, lúc khám thì lại không thấy trong tai có gì nặng cho lắm, hoặc khám thấy có mô hạt (granulation tissue) xuất hiện trong lòng ống tai. Phim CAT scan hay phim MRI có thể giúp ta xác định người bệnh đúng bị viêm tai ngoài ác tính. Nghi người bệnh bị viêm tai ngoài ác tính, bác sĩ chính (primary care physician) sẽ gửi người bệnh đến bác sĩ chuyên khoa Tai-Mũi-Họng (otolaryngologist) để xin ý kiến.

Chữa trị

  1. Bệnh do vi trùng:

Các thuốc nhỏ tai chứa chất trụ sinh hoặc chất acid rất hữu hiệu trong việc chữa trị.

Bạn nằm nghiêng một bên, tai đau ở phía trên, nhỏ thuốc thẳng vào ống tai, thường là 3-4 giọt ngày 2 đến 4 lần tùy loại thuốc. Nên dùng thuốc thêm khoảng 3 ngày sau khi triệu chứng đã thuyên giảm. Nói chung, chúng ta dùng thuốc 7 ngày, tuy nhiên, những trường hợp nặng, chúng ta cần dùng thuốc đến 10-14 ngày.

Nhỏ thuốc xong, bạn nằm nghiêng như vậy 20 phút cho thuốc ngấm, còn nếu không thể nằm lâu đủ chờ thuốc ngấm, bạn dùng một miếng bông nhỏ nhét vào tai, để 20 phút, giữ thuốc trong ống tai khỏi chảy ra ngoài. Lay đẩy chỗ sụn ngay phía ngoài ống tai cũng giúp thuốc tráng đều và dễ ngấm vào ống tai hơn.

Trường hợp ống tai nhiều ráy và mủ quá, ống tai cần được bác sĩ làm sạch trước khi nhỏ thuốc. Cũng có trường hợp ống tai nhiễm trùng sưng nhiều và hẹp lại, thuốc không vô được, ta đặt một dụng cụ dẫn thuốc (wick) vào ống tai, rồi qua đó, nhỏ thuốc mỗi 3-4 tiếng lúc thức. Cứ 2-5 ngày, tai được khám lại, cho đến khi ống tai không còn thấy sưng nữa, ta sẽ lấy dụng cụ dẫn thuốc đặt vào tai ra.

https://i1.wp.com/media.australiandoctor.com.au/AD_Media_Library/AD_WEB_IMAGES/Print_Issue/2013/March_2013/15_March/AD15March13_TU.jpg?resize=300%2C300&ssl=1

Đa số những trường hợp viêm tai ngoài nhẹ do vi trùng, dùng thuốc nhỏ tai chứa chất acid (Vosol, Vosol HC, Otic Demeboro) hoặc chất trụ sinh (các thuốc Cortisporin, Coly-mycin S, Otobiotic, Floxin Otic, Cipro HC Otic, Garamycin, Tobrex, …) là đủ, không cần đến trụ sinh uống. (Viêm tai giữa, ngược lại, chữa bằng trụ sinh uống, không dùng thuốc nhỏ tai). Nhưng nếu dùng thuốc nhỏ tai, viêm tai ngoài không thấy thuyên giảm, hoặc khi tai giữa cùng bị viêm (otitis media), hoặc nhiễm trùng ngay lúc đầu đã có vẻ lan rộng (sốt trên 101.0 độ F – tức 38.3 độ C -, đau dữ quá, nổi hạch quanh tai), thuốc nhỏ tai không đủ, phải dùng thêm thuốc trụ sinh uống mới xong. Ta nên nghi ngờ viêm tai giữa khi người bệnh mới bị cảm, cúm thời gian gần đây, hoặc khi viêm tai xảy ra cho trẻ dưới 2 tuổi, vì trẻ dưới 2 tuổi hay bị viêm tai giữa, hiếm khi viêm tai ngoài. Cũng nên nghĩ đến việc dùng trụ sinh uống sớm cho những vị có sức đề kháng cơ thể suy giảm, chẳng hạn vì mang bệnh tiểu đường, đang dùng thuốc steroids, hoặc mang bệnh viêm da kinh niên (underlying chronic dermatitis). Những trường hợp nặng, trụ sinh uống cũng không ăn thua, ta dùng trụ sinh chích hoặc truyền tĩnh mạch.

Bệnh nặng, phải cầu cứu đến trụ sinh uống hay chích, ta nên sử dụng loại có thể trị được hai con vi trùng P. aeruginosa và S. aureus như Cipro, Ofloxacin (Ampicillin, Amoxil – những trụ sinh hay bị lạm dụng, nhiều vi trùng đã kháng – không hữu hiệu).

Nếu cần, chúng ta dùng các thuốc chống viêm không có chất steroid, như ibuprofen, để giúp giảm đau.

Thường, với chữa trị, chúng ta sẽ thấy triệu chứng bắt đầu thuyên giảm trong vòng 36-48 tiếng, và khoảng 6 ngày sau, tai không còn đau, chảy nước nữa. Nếu triệu chứng không thuyên giảm trong vòng 3 ngày, chúng ta sẽ cấy trùng mủ trong tai và nghĩ đến chuyện nhờ bác sĩ chuyên khoa Tai Mũi Họng giúp.

Trong lúc chữa trị, chúng ta tránh để nước vào tai, ngưng bơi trong vòng 7-10 ngày (các lực sĩ đang bận thi tài có thể bơi lại sớm hơn, sau hai ba ngày trị liệu, đã hết đau). Khi tắm, nên nhét vào ống tai một miếng bông có tẩm petroleum jelly để ngừa nước vào tai. Cũng nên tránh dùng dụng cụ trợ thính hay điện thoại gắn vào tai cho đến khi triệu chứng thuyên giảm.

  1. Bệnh do nấm:

– Viêm tai ngoài do nấm

Bệnh nấm trong ống tai có thể tự nó xảy ra, hoặc xảy ra sau khi ta dùng thuốc nhỏ trụ sinh khiến vi trùng chết, nấm nổi dậy hoành hành. (Đời là sự cân bằng, ghìm giữ lẫn nhau, vì thế nhiều trường hợp chúng ta dùng trụ sinh để chữa bệnh, các vi trùng bạn cũng bị diệt luôn, không còn ai canh chừng nấm. Trụ sinh không nên sử dụng bừa bãi.)

Làm sạch ống tai bằng cách hút ra hết những chất tiết dơ bẩn là căn bản của sự chữa trị. Sau đó, dùng thuốc nhỏ tai chứa chất trị nấm như Lotrimin (clotrimazole 1% solution), 3-4 giọt ngày 2 lần trong 7 ngày, thường giúp ta giải quyết vấn đề.

Những trường hợp nấm trong tai khó, chúng ta nhờ đến sự giúp đỡ của bác sĩ chuyên khoa Tai Mũi Họng.

Phòng ngừa

Viêm tai ngoài, xảy ra một lần đã khổ, nếu cứ tái phát, thực phiền vô cùng, có khi còn nguy hiểm. Việc phòng ngừa để tránh tái phát rất cần thiết cho những người có ráy tai dẻo đặc, có ống tai nhỏ hẹp, nhất là ở những vị có sức đề kháng cơ thể suy giảm. Phòng ngừa cũng quan trọng cho người chảy mồ hôi nhiều, hoặc lấy bơi lội làm thú vui, lẽ sống.

Khi bơi, bạn dùng dụng cụ nhét vào tai để bảo vệ tai (ear plugs). Sau khi tắm hoặc bơi, bạn rũ, lắc tai cho khô và dùng máy giúp khô tóc (hair dryer) thổi nhẹ để làm nước vào tai, nếu có, mau khô (dùng độ thổi nhẹ nhất của máy, để xa tai chừng 12 inches). Các thuốc nhỏ vào tai chứa chất rượu (alcohol) và acetic acid, như Star-Otic, giúp ống tai mau khô.

Bạn tránh dùng que đầu quấn bông gòn (Q-tip) cố ngoáy lau ống tai; làm vậy dễ gây tổn thương cho lòng ống tai, đồng thời đẩy sâu vào trong các mảnh ráy đang di chuyển dần từ trong ra ngoài, theo lộ trình bình thường của chúng để được tống xuất khỏi tai. Bạn cũng đừng dùng móng tay móc gãi, “đã” thực đấy, song có thể làm trầy lòng ống tai, đưa đến hậu quả nhiễm trùng.

Thỉnh thoảng, nếu cần (ráy tai đóng chặt khiến bạn không nghe biết việc đời), bác sĩ xúc rửa ống tai và lấy ráy ra giúp bạn. Trước lúc xúc rửa, nhắm thấy ráy có vẻ khô đặc, khó lấy, ta dùng thuốc tan ráy (ceruminolytic agent) như Cerumenex, hoặc nước baking soda 4% cũng được, nhỏ vào tai, giúp ráy mềm đi dễ lấy.

Vui hưởng hè vàng, chúng ta cẩn thận đừng để nước đọng trong tai, đưa đến viêm tai ngoài. Lỡ nó có đến, ta chữa nó đúng cách, vừa mau bớt đau, vừa tránh các biến chứng nguy hiểm.

Bs Nguyễn Văn Đức

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Cẩn thận…. Các Bạn Già Nên Đọc Bài Nầy

Bác sĩ Bùi Văn Rậu

Các bạn thân mến, trước hết tôi xin cám ơn tất cả các bạn bè xa gần đã lo lắng, thăm hỏi qua điện thoại, e mail , thăm viếng cùng chúc lành cho tôi trong những ngày qua.
Có lẽ một số các anh chị đã thắc mắc chuyện gì đã xảy đến cho tôi vậy, tôi xin tóm lược diễn tiến sau đây.
Số là vợ chồng chúng tôi đã cùng một số bạn rủ nhau đi du lịch Nhật Bản bằng tàu. Vào ngày thứ hai của chuyến đi, chúng tôi đến cư ngụ tại một khách sạn nằm dưới chân núi Phú Sĩ ,chờ sáng hôm sau lên thăm núi. Tối hôm đó từ phòng tắm đi ra, vì phải bước qua cái ngạch cửa hơi cao tôi bị trượt chân nên ngã bật ngửa ra sau, đầu đập vào ngạch cửa. Tôi nằm im cố kiểm soát ngũ quan, tứ chi xem có bị gì không thì bà xã tôi thấy động vào nâng tôi dậy, thấy máu chảy lênh láng trên sàn, vội dùng khăn băng đầu tôi lại để cầm máu rồi nhờ một anh bạn cùng đoàn sang khám cho tôi, anh bạn này là chuyên khoa cấp cứu của các nhà thương ở California. Sau khi khám xong thấy tôi không có triệu chứng gì, chỉ bị nứt da sau ót thôi, nên anh an ủi bà xã tôi và dặn chỉ canh chừng tôi mà thôi, sau đó tôi hoạt động như thường, vẫn theo đoàn đi tiếp,. Sáng hôm sau chúng tôi lên núi Phú Sĩ …Sau đó chúng tôi lên tàu đi Osaka và Kobe…Rời Kobe tàu ghé Nagasaki…Rời Nagasaki tàu chúng tôi ghé Shanghai…Chúng tôi rời Okinawa để đến Taipei….Sau hai ngày ở Taipei tàu ghé Hong kong là trạm chót của chuyến hảihành. Tại Hong kong….Chúng tôi rời Hong Kong bay tới Tokyo đổi máy bay để về thẳng Mỹ. Về đến San Jose, tôi đã trở lại công việc thường ngày, đi làm như thường, vẫn không có triệu chứng gì , không thấy nhức đầu, chóng mặt, nôn mửa . cho đến chủ nhật 23 tháng 11tức là 4 tuần sau ngày xảy ra tai nạn, tôi bắt đầu thấy hơi bị chúi về phía trước mỗi khi di chuyển, qua thứ hai tôi gọi cho bác sĩ gia đình xin đi chụp CT scan đầu, tuy nhiên cơ quan Xrays hẹn vào chiều hôm sau vì không có chỗ, buổi chiều hôm ấy trên đường về nhà thấy tôi đi hơi loạng quạng bà xã tôi đã nhất định chở tôi đến phòng cấp cứu mặc cho tôi nói rằng hãy chờ đến ngay mai chụp hình xong mới tính. Tại phòng cấp cứu sau khi khám và chụp hình bác sĩ cho biết là có máu trong đầu , bác sĩ liền cho nhập viện và sắp xếp cho giải phấu vào sáng hôm sau.Cuộc giải phẫu kéo dài khoảng hơn hai tiếng đồng hồ, lúc tỉnh dậy bác sĩ giải phẫu cho biết là ông đã khoan hai lỗ trên đầu của tôi và đã hút được hơn 200 ml máu. Ông đã đặt hai ống để rút máu bầm ra. Sau khi mổ , tôi cả thấy nhẹ nhõm, không còn thấy chóng mặt , nhức đầu gì cả , nói tóm lại là cuộc mổ thành công. Sau ba đêm nằm bệnh viện, hai ống hút trên đầu được tháo ra và tôi đã được cho xuất viện vào ngày lễ tạ ơn.
Tới đây thì có lẽ nhiều bạn đã thắc mắc tại sao tôi không đi chụp hình ngay sau khi bị tai nạn. Xin thưa với các bạn là trong cơ thể học, não bộ chúng ta được bao bọc bởi màng óc và được bảo bọc bằng hộp xương sọ. Khi lớn tuổi thì não bộ của chúng ta bị teo nhỏ lại, do đó được treo lơ lửng bằng những mạch máu nhỏ, khi bị chấn động mạnh như bị đánh vào đầu, hay té ngã , não bộ bị giao động và vì thế có thể một hay vài mạch bị đứt , máu bị chảy ra tuy nhiên vì mạch quá nhỏ nên máu chảy rất chậm, rất ít, chỉ vào khoảng gần 1 /12 tới 2 ml mỗi giờ , lúc này nếu làm CT scan cũng không thấy gì cả; chỉ khi nào lượng máu đủ đế ép vào não bộ thì lúc đó triệu chứng mới xảy ra, chuyện này thường xảy ra khỏang từ 4 tới 12 tuần sau khi bị chấn động như trong trường hợp của tôi. Bác sĩ cho biết với số lượng máu nhiều như thế, người trẻ tuổi có lẽ đã bị hôn mê, não bộ đã bị thương tổn rồi, thật là may mắn cho tôi, đã được bình phục hoàn toàn , không hề có dư chứng gì cả.
Qua kinh nghiệm bản thân, tôi khuyên các bạn là ở vào tuổi của chúng ta, nên cố gắng tránh tối đa các tai nạn tuy nhiên nếu có tai nạn xảy ra nên cho người thân biết để theo dõi, người có khả năng nhất là người bạn đời của ta, không ai săn sóc ta, hiểu ta hơn chính ta bằng bà xã của ta, câu này rất đúng với trường hợp của tôi. Xin được cám ơn em, người bạn đời, nếu không có em chưa chắc tôi có thể viết được những dòng chữ này.

BVR
 
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

​1-​TÌM HIỂU VỀ THUỐC GIẢM ĐAU

Cảm giác đau đớn là điều không ai muốn cả. Thật ra, cảm giác đau có tác dụng bảo vệ cho chính chúng ta. Cũng vì sợ đau nên ta không dám liều lĩnh, và cũng vì đau nên những thói quen về hành động cũng như suy nghĩ phải thay đổi theo phản xạ, theo thời gian.
Cho đến nay, người ta cũng không hiểu tại sao não bộ lại biết đau, với nhiều giả thuyết dẫn giải về những “đường lối” (pathways) đưa đến cảm nhận đau. Một thí dụ đơn giản, khi ta bị thương tích chẳng hạn, những dây thần kinh cảm giác bị khuấy động và dẫn về não bộ, qua nhiều “cửa ngõ” (gates) khác nhau. Những tín hiệu đau nầy cũng được khuếch đại bởi các “chất làm cho biết đau” gọi là prostaglandins được tiết ra khi cơ thể bị thương tích, bị viêm sưng (inflamation). Cũng các chất prostaglandins nầy lại dính dáng chuyện cơ thể tăng thân nhiệt làm cho ta bị sốt.
Chất prostaglandins được đặt tên theo tuyến tiền liệt, tức là nhiếp hộ tuyến, prostate gland. Năm 1935, nhà khoa học người Thụy Điển, Ulf von Euler, khám phá ra chất nầy trong tinh dịch của người đàn ông. Sau đó người ta biết thêm, proataglandins gồm có nhiều chủng loại và được sản xuất ra ở nhiều nơi khác nhau trong cơ thể, cũng như có nhiều phận sự hay tác dụng tùy theo trường hợp.
Chất prostagladins được sản xuất ra từ chất béo, mỡ đặc, do chi phối của hai chất xúc tác, enzymes gọi là cyclooxygenases (COX-1 và COX-2).Prostaglandins làm cho mạch máu giãn nở hay co thắt, làm cho máu đông đặc hay ngược lại, làm điều hoà mức độ vị viêm sưng khi bị thương tích, làm cho tử cung co thắt khi sanh nở, cũng như ảnh hưởng đến cơ chế điều hoà thân nhiệt, gây sốt, bảo vệ cho bao tử không bị thương tích và nhiều tác dụng khác…
Năm 1971, người ta khám phá ra rằng aspirin và các loại thuốc tương tự trong nhóm gọi là NSAIDs (Nonsteroidal anti-inflammatory drugs) có tác dụng giảm sự sản xuất ra chất prostagladins bằng cách khống chế các chất xúc tác cyclooxygenases (COX-1 và COX-2). Vì thế các loại thuốc nầy đều có những hiệu ứng giảm đau, chống sốt…
Ngoài aspirin, trong nhóm NSAIDs nầy gồm có các loại thuốc tiêu biểu như ibuprofen (Motrin), naproxen (Aleve), và diclofenac (Voltaren).
Thuốc Tylenol (acetaminophen) tuy có những công hiệu tương tự nhưng lại thuộc vào một diện khác, hoàn toàn độc lập. Cho đến nay người ta cũng không hiểu làm thế nào thuốc Tylenol (acetaminophen) lại giảm đau, chống sốt. Khác với các thuốc trong nhóm NSAIDs kể trên, thuốc Tylenol(acetaminophen) chỉ có tác dụng giảm bớt hiệu năng của chất xúc tác COX ở trong hệ thần kinh trung ương, não bộ mà thôi. Vì thế, khác với ibuprofen(Motrin), naproxen (Aleve), và diclofenac (Voltaren), Tylenol có tác dụng giảm sốt và chống nhức đầu nhiều hơn là giảm đau bắp thịt, đau xương, hay chống sưng do thương tích.
Người ta cũng cho rằng thuốc Tylenol có những tác dụng trên hệ thống cảm nhận đau ở não bộ, gọi là endocannabinoid system (ECS). Hệ thống ECS, nầy cũng chịu ảnh hưởng bởi các chất thuốc phiện, cần sa. Cũng vì lý do đó mà Tylenol cũng được dùng chung với các loại thuốc giảm đau có nguồn gốc thuốc phiện như Codeine, tạo thành thuốc Tyenol #3 chẳng hạn.
Trước khi bàn về thuốc giảm đau có nguồn gốc thuốc phiện, opioids, ta hãy phân biệt sự khác biệt về tác dụng của các loại thuốc giảm đau đã nêu trên.
Như đã đề cập, thuốc Tylenol có tác dụng giảm sốt, chống nhức đầu hơn là giảm đau ngoài não bộ nói chung, vì thế thuốc nầy dùng thích hợp nhất khi bị cảm cúm. So với các loại NSAIDs, thuốc có ưu điểm là không gây ra tác dụng phụ như loét bao tử, tăng nguy cơ bị bệnh tim mạch, hay làm cho máu loãng không đông. Tuy nhiên, ngộ độc thuốc Tylenol có thể làm hư gan cấp tính. Thuốc ibuprofen (Motrin) có tác dụng giảm đau bắp thịt nhiều hơn là giảm nhức đầu hay giảm sốt. Thuốc ibuprofen (Motrin) dùng thích hợp cho các trường hợp bị viêm sưng như té ngã, đau khi có kinh nguyệt chảng hạn. Trong khi đó, thuốc naproxen (Aleve), và diclofenac (Voltaren) có lợi thế chống đau nhức khớp xương nhiều hơn là giảm sốt, giảm đau bắp thịt, thí dụ như đau phong thấp, đau lưng, cột sống.Tuy nhiên trong mọi trường hợp đau nhẹ, sốt nhẹ, thời gian ngắn hạn, loại thuốc nào trên đây cũng uống được. Nếu bị đau nhức kinh niên, để giảm tác dụng phụ, phải uống đúng loại thuốc cho đúng loại đau nhức.
Thuốc có nguồn gốc hay hiệu ứng thuốc phiện, opioids, là các chất kích hoạt lên các hệ thống thần kinh trung ương làm giảm cảm nhận đau hay tăng cảm giác biết sung sướng gọi là opioid receptors. Các loại thuốc như thuốc phiện, bạch phiến (heroin), morphine và một số thuốc tổng hợp như hydrocodone, oxycodone (Oxycontin) and fentanyl đều tác dụng trên các opipoids receptors này.
Thuốc opioids trước đây chỉ được dùng cho những trường hợp đau đớn trầm trọng. Hiện nay nguy cơ của nạn ghiền thuốc tăng vọt lên tình trạng báo động khẩn cấp. Một phần do các bác sĩ kê toa thiếu trách nhiệm. Năm 2012, có khoảng 260 triệu toa thuốc opioids được viết ra, đổ đồng một lọ thuốc 30 viên cho mỗi đầu người trên toàn dân số nước Mỹ! Phần khác do người tiêu thụ lạm dụng thuốc. Trong năm 2013, có khoảng 40 triệu người dùng thuốc opiods một cách bừa bãi, trẻ nhất chỉ 12 tuổi! Trong số những người dùng thuốc, 25% bị nghiện, chưa kể những trường hợp dùng thuốc “không chính thức” như là ma tuý. Cũng trong năm 2015, có khoảng 60,000 người tử vong vì ngộ độc thuốc opioids, nhiều hơn số lính Mỹ chết trận trong toàn bộ chiến tranh Việt Nam !
Không riêng gì thuốc có nguồn gốc hay hiệu ứng thuốc phiện, các loại thuốc như Tylenol, ibuprofen (Motrin), naproxen (Aleve), và diclofenac (Voltaren)cũng gây ra tình trạng nghiện ngập và ngộ độc. Riêng thuốc ibuprofen(Motrin), gần đây được chứng minh có thể làm tăng nguy cơ bị bệnh tim mạch.
Khả năng chịu đau có thể thay đổi tùy người và tùy theo chủng tộc cũng như tùy theo nền văn hoá. Có lẽ sự khác biệt là do sự truyền dẫn tín hiệu đau đến hệ thần kinh trung ương đi theo nhiều đường (pathways), nhiều cửa (gates)khác nhau tùy theo mỗi cá nhân, mỗi trường hợp.
Tóm lại, không ai muốn đau cả. Tuy nhiên nên kiên nhẫn và tránh lạm dụng thuốc giảm đau nói chung không riêng gì thuốc phiện. Kiên nhẫn ở đây có nghĩa là khi dùng thuốc phải cho thời gian để thuốc có hiệu ứng. Tránh lạm dụng là chỉ nên dùng thuốc khi cần, dùng ít thuốc, và dùng đúng loại thuốc tùy theo loại đau nhức. Cá nhân tôi hiện nay, khi bị đau, lại quay về dùng thuốc aspirin, là loại thuốc xưa nhất, ít nguy hiểm và lại có những tác dụng phụ tốt như giảm nguy cơ bị ung thư, bệnh tim mạch.
 
BS Hồ Ngọc Minh
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin