Category Archives: TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM

VĂN NGHIỆP và CUỘC ĐỜI MINH ĐỨC HOÀI TRINH“ của Nguyễn Quang

Khác với những vùng khác, xứ Huế luôn luôn được xem là một vùng đất đặc biệt. Một trong những đóng góp để tạo nên cái „đặc biệt“ kể trên là… chất Huế. Một cái “Chất” mà ít nơi nào có được. Đó là cái chất vừa khó nhưng lại vừa dễ. Khó vì sự khắc khe của xứ Huế cổ kính và dễ là vì cái dễ thương của Huế. Huế đúng là vừa dễ thương lại vừa dễ ghét, nên nó được nói đến như là cái xứ “đi để mà nhớ chứ không phải ở để mà thương” chung quy cũng bởi cái Chất Huế mà ra.

Một trong những cái chất Huế này phải kể đến chất,,, phụ nữ Huế. Đây là cái chất làm người phụ nữ bước chân không quá tà áo dài, ăn không hở miệng, nói không hở môi.

Đố ai thấy được một người phụ nữ thuộc loại Huế phong cách cười đùa, đôi co to tiếng ngoài đường. Càng “Cành Vàng Lá Ngọc” chừng nào thì càng bị cái chất Huế bám chặt. Nhỏ nhẹ bên trong, kín đáo bên ngoài làm tăng vẻ quý phái của người phụ nữ đất Thần Kinh.

Vậy mà Chất Huế đó lại không ngăn cản được hoài bảo vươn cao, bước ra với thế giới bên ngoài của một người con gái Huế, cháu nội của một vị quan Thượng Thư và là con gái của một quan Tổng Đốc Thượng Thư thuộc triều Nguyễn: Cô Võ Thị Hoài Trinh. Năm 17 tuổi cô đã tạm “quên” cái chất Huế đang bám trên người, để rời bỏ “Hương Trang” nơi mà một tên tướng Nhật đã rút kiếm hỏi thẳng Cụ Nội của cô là “Giữa quân đội Hoàng gia Nhật Bản và chính phủ Pháp Cụ thương ai ?” Ông Cụ đã trả lời :”Tôi thương cho số phận của người dân Việt Nam chúng tôi, tám mươi năm nô lệ”, để đi tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp, rồi về sau lại từ bỏ để sang Pháp học ngành báo chí, một ngành học mà nam giới vào thuở đó còn chưa dám nghĩ đến chứ đừng nói đến người con gái con nhà quan đài các, kiêu sa như cô.

Sau khi tốt nghiệp, cô được nhận làm phóng viên cho đài truyền hình Pháp ORTF. Là một nữ phóng viên đã hiện diện khắp chiến trường đẫm máu tại Algérie và sau này, trên khắp chiến trường miền Nam Việt Nam. Cô được quốc tế và người dân Việt Nam ngưỡng mộ qua bút hiệu Minh Đức Hoài Trinh.  

Minh Đức Hoài Trinh là một trong số rất ít những ký giả tài năng, kể chung cả nam lẫn nữ của miền Nam Việt Nam. Bà vừa là phóng viên chiến trường làm việc cho các hãng thông tấn ngoại quốc vừa viết cho vô số báo chí tại Paris và tại Sài Gòn. Bà lại còn dạy đại học, viết văn, rồi lại còn làm thơ mà lại là thơ hay xuất sắc. Thơ của bà không ít đã được các nhạc sĩ danh tiếng phổ nhạc, trong đó có Phạm Duy với “Kiếp Nào Có Yêu Nhau” hoặc “Đừng Bỏ Em Một Mình” v.v… Đối với giới văn chương quốc tế bà Minh Đức Hoài Trinh đã nổi bật qua bài thơ “Em Mười Sáu Tuổi” được chuyển sang Anh ngữ:

Em mới mười sáu tuổi!

Sao bắt em ra chiến trường?

Để em chết trần truồng phơi gan phổi!

Nhìn xác em, ai không giận, không thương?

Ai bày ra chiến tranh?

Ai buôn chi gươm súng?

Để máu người hôi tanh!

Oán thù lên từng vũng!

 

Tên của bà cũng đã gắn liền với Trung Tâm Văn Bút Việt Nam một thời và điểm đặc biệt mà giới làm báo viết văn tại Hải Ngoại phải nhớ đến bà, không thể nào quên được vì chính bà là người đã âm thầm tranh đấu với Văn Bút Quốc Tế thành lập nên Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại.

Cuộc đời trong sáng, sinh hoạt việc làm sôi nỗi của Võ Thị Hoài Trinh- Minh Đức Hoài Trinh nay đã được Nguyễn Quang, phu quân của bà, gom góp dữ liệu viết thành cuốn “VĂN NGHIỆP và CUỘC ĐỜI MINH ĐỨC HOÀI TRINH”.

Đây không phải là hình thức của một cuốn hồi ký mà Nguyễn Quang chỉ cho ta thấy vô số hình ảnh và sự kiện lịch sử mà Minh Đức Hoài Trinh đã sống và làm việc. Từ những chuyến viếng thăm Hạm đội USS Enterprise, công tác báo chí tại Cam bốt, hoặc những bước chân đầu tiên vào ngày giải tỏa thành phố Huế trong trận Mậu Thân, phóng viên thường trực tại Hội Nghị Hòa Đàm Paris 1973 cho đến những hình ảnh bà tranh đấu tại các Đại hội Văn bút Quốc tế tại Thụy Điển, Ba Tây…với những dữ liệu chính xác lôi cuốn qua hai ngôn ngữ Việt – Anh.

Nếu nói rằng “Hàng trăm câu văn cũng không bằng một tấm hình” thì “VĂN NGHIỆP và CUỘC ĐỜI MINH ĐỨC HOÀI TRINH” của Nguyễn Quang đã thành công khi giúp cho những người yêu mến văn tài của bà và những thế hệ sau có được những tư liệu hình ảnh đánh dấu một giai đọan khó khăn của lịch sử, của một trong những người phụ nữ tiền phong. Minh Đức Hòai Trinh, người phụ nữ đượm đầy “chất Huế”, xuất thân qúy phái kiêu sa đã vượt thóat cái e ấp khép kín của một người thiếu nữ Huế, dấn thân và thành đạt với những thành quả và đóng góp cho đất nước Việt Nam, rất đáng kính phục. Bà là người của buổi giao thời đã có can đảm sống một cuộc sống tự lập của người phụ nữ Âu Mỹ thời đại hiện thực.

Minh Đức Hòai Trinh, con người tài hoa đã với  tư tưởng mạnh mẽ vạch cho mình một hướng đi và đạt được cuộc sống giá trị phong phú lợi lạc cho đời. Hình ảnh của một người thiếu nữ khuê các đã kiên cường chọn đời sống tự lập, tháo vác, năng động, là kết quả của những hoạt động gian nan, sôi nỗi nhưng đầy thành công của Bà. Xin trân trọng giới thiệu đến bạn đọc xa gần “VĂN NGHIỆP và CUỘC ĐỜI MINH ĐỨC HOÀI TRINH” của Nguyễn Quang.

Phương Tôn

Tháng 10.2007 – 6.2017

Viết, bổ sung thêm sau khi nghe tin Nữ Sĩ Minh Đức Hoài Trinh vừa qua đời vào ngày 09.06.2017

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Anh Ra Đi Tháng Năm

Vũ Tiết Hùng tức nhạc sĩ Vũ Hàn Giang vừa qua đời sáng hôm 19 tháng Năm tại Ottawa, Ontario, Canada vì căn bịnh ung thư. Ông đã để lại cho chúng ta hơn 100 sáng tác Việt, Anh, Pháp. Ông được cộng đồng Việt Nam và dân chúng Canada biết đến qua các bài hát sau:

Thank You Merci Canada

Cancer, Cancer, Cancer

Cảm Ơn Anh Thương Phế Binh VNCH

Quý vị có thể click vào đây để nghe các bài hát khác của Vũ Hàn Giang trên youtube.  

Vũ Hàn Giang

Là một nhạc sĩ đa năng. đa dạng, đa tài, ông đã để lại cho chúng ta một gia tài âm nhạc quý giá, những bản tình ca thật đẹp và lãng mạn. Ông đã tạo được một ấn tượng tốt đẹp về cộng đồng Việt Nam trong lòng dân chúng và chính phủ Canada.

KMVN xin dâng tặng ông bài thơ Anh Ra Đi Tháng Năm để ghi nhớ những sáng tác của ông.

 

Anh ra đi tháng Năm
Trời cao mây xanh ngắt
Cành non lá đâm chồi
Hoa nở rộ khắp nơi

Anh ra đi tháng Năm
Ottawa còn nhớ
Mùa hội hoa Tu-líp
Vẫn nhắc nhở Tình Em

Anh ra đi tháng Năm
Em Về trong Gió Lộng
Cung đàn vương nốt nhạc
Dở dang trên phím đàn

Anh ra đi tháng Năm
Buồn còn Vương Theo Nắng
Áo Tím xưa ngày đó
Qua rồi dòng Hàn Giang

Anh ra đi tháng Năm
Bốn Mùa Không Thay Đổi
Phủi Đôi Bàn Tay Trắng
Thôi Chìm Theo Giấc Mơ…

Sáu Không

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Những câu chuyện Di Tản của nhà văn Tiểu Tử

Hành trình vượt biên được nói nhiều, viết nhiều bởi những ngòi bút hải ngoại, nhưng bên cạnh cuộc vượt biên vĩ đại đó, những hình ảnh của cuộc di tản cũng không kém phần đau thương của người dân Việt Nam hầu như bị bỏ quên.
Tường An
Nhà văn Tiểu Tử
Nhà văn Tiểu Tử

Photo by Tường AnNhà văn Tiểu Tử – hiện đang định cư tại Pháp – là một trong số rất ít những nhà văn đã ghi lại những hình ảnh này để nhớ lại một giai đoạn bi thảm trong hành trình tìm tự do. Thông tín viên Tường An trò chuyện với nhà văn Tiểu Tử và giới thiệu một vài đoản văn của ông về cuộc di tản trước ngày 30 tháng 4 năm 1975. Mời quý vị cùng nghe:

Với lối hành văn mộc mạc của người Nam Bộ, những truyện ngắn của nhà văn Tiểu Tử luôn luôn gây xúc động cho người đọc bằng những hình ảnh rất đơn giản trong cuộc sống hàng ngày: một chiếc nón lá, một tô cháo huyết, một cái quần rách, một bản vọng cổ. Những hình ảnh rất đời thường đó, qua giọng văn của ông đã biến thành những âm điệu quê hương khơi dậy nhiều dòng nước mắt.

Cuộc di tản kinh hoàng

black-april-30-250.jpg
Dân chúng quá sợ cộng sản qua sự kiện Tết Mậu Thân đã bỏ chạy khi thấy các đơn vị quân đội rút khỏi Huế. Photo by Trần Khiêm. Photo: RFA

Trong tâm tư người Việt hải ngoại, cuộc vượt biên đánh dấu một đoạn đời không thể quên, tuy nhiên nhà văn Tiểu Tử muốn nhắc cho mọi người nhớ lại một một cuộc hành trình khác không kém phần bi thảm đã xảy ra trên chính quê hương của mình trước ngày 30 tháng 4 năm 75. Đó là cuộc di tản từ miền Trung vào miền Nam, từ làng này sang làng khác của người dân để trốn chiến tranh. Ông cho biết lý do ông chọn đề tài này:
“Mỗi một hình ảnh có một cái đau thương riêng của nó. Hình ảnh di tản là cái đầu tiên hết mà mình thấy, thành ra nó gây xúc động mạnh hơn cái hình ảnh của cuộc hành trình tị nạn. Mặc dù rằng hành trình tị nạn có nhiều cái ví dụ như chết ở dưới biển, bị Thái lan nó hãm hiếp rồi nó chặt đầu….này kia…Cái đó là cái mình thấy sau này. Tức là không phải cũng một lúc mà mình có ngần đấy hành trình tị nạn, nghĩa là, nó rời rạc.

Trong lúc đó, thì cuộc di tản nó ồ ạt, nó nhiều, nó đông và cùng một lúc. Thành ra những cái đau thương của cuộc di tản bị cái ồ ạt đó che lấp đi mình không thấy. Nếu mà mình thấy được, viết ra được tất cả những cái đau thương khổ cực trong lúc di tản. Mình sẽ thấy có nhiều hơn nhiều lắm. Bởi vì, nó đông, cái số người đi di tản cũng một lúc, đông lắm.”

Nếu mà mình thấy được, viết ra được tất cả những cái đau thương khổ cực trong lúc di tản. Mình sẽ thấy có nhiều hơn nhiều lắm.

Nhà văn Tiểu Tử

Xin mời quý thính giả cùng nghe 1 đoạn tả lại một hình ảnh trong cuộc di tản:

Giữa cầu thang, một bà già, bà mặc quần đen áo túi trắng đầu cột khăn rằn, bà đang bò nặng nhọc lên từng nấc thang. Bà không dáo dác nhìn trước ngó sau hay có cử chỉ tìm kiếm ai, có nghĩa là bà già đó đi một mình. Phía sau bà thiên hạ dồn lên, bị cản trở nên la ó! Thấy vậy, một thanh niên tự động lòn lưng dưới người bà già cõng bà lên, xóc vài cái cho thăng bằng rồi trèo tiếp.

Chuyện chỉ có vậy, nhưng hình ảnh đó đã đeo theo nhà văn Tiểu Tử từ bao nhiêu năm, ông thắc mắc:

“Bà già đó sợ gì mà phải đi di tản? Con cháu bà đâu mà để bà đi một mình? Rồi cuộc đời của bà trong chuỗi ngày còn lại trên xứ định cư ra sao? Còn cậu thanh niên đã làm một cử chỉ đẹp – quá đẹp – bây giờ ở đâu?… Tôi muốn gởi đến người đó lời cám ơn chân thành của tôi, anh ta đã cho tôi thấy cái tình người trên quê hương tôi nó vẫn là như vậy đó, cho dù ở trong một hoàn cảnh xô bồ hỗn tạp như những ngày cuối cùng của tháng tư 1975…

Những bàn tay nhân ái

di-tan-75-250.jpg
Quá sợ cảnh tàn sát của cộng sản trong trận Tết Mậu Thân, người dân bỏ nhà cửa, ruộng đất gồng gánh theo đoàn quân di tản. Photo by Trần Khiêm.Photo: RFA

Đàn bà, trẻ con luôn luôn là những mảnh đời lau sậy, yếu đuối  trong cơn lốc của chiến tranh, truyện của Tiểu Tử hầu như luôn có những bàn tay nhân ái đưa ra gánh vác những mảnh đời lau sậy này:
Trong luồng người đi như chạy, một người đàn bà còn trẻ mang hai cái xắc trên vai, tay bồng một đứa nhỏ. Chắc đuối sức nên cô ta quị xuống. Đứa nhỏ trong tay cô ta ốm nhom, đang lả người về một bên, tay chân xụi lơ. Người mẹ – chắc là người mẹ, bởi vì chỉ có người mẹ mới ôm đứa con quặt quẹo xấu xí như vậy để cùng đi di tản, và chỉ có người mẹ mới bất chấp cái nhìn bàng quan của thiên hạ mà khóc than thống thiết như vậy – người mẹ tiếp tục van lạy cầu khẩn.

Bỗng, có hai thanh niên mang ba lô đi tới, một anh rờ đầu rờ tay vạch mắt đứa nhỏ. Anh nầy bồng đứa nhỏ úp vào ngực mình rồi vén áo đưa lưng đứa nhỏ cho anh kia xem. Thằng nhỏ ốm đến nỗi cái xương sống lồi lên một đường dài…

Bỗng, có hai thanh niên mang ba lô đi tới, một anh rờ đầu rờ tay vạch mắt đứa nhỏ. Anh nầy bồng đứa nhỏ úp vào ngực mình rồi vén áo đưa lưng đứa nhỏ cho anh kia xem.

Nhà văn Tiểu Tử

Anh thứ hai đã lấy trong túi ra chai dầu,  rồi cạo gió bằng miếng thẻ bài của quân đội. Họ bồng đứa nhỏ, vừa chạy về phía cầu thang vừa cạo gió! Người mẹ cố sức đứng lên, xiêu xiêu muốn quị xuống, vừa khóc vừa đưa tay vẫy về hướng đứa con. Một anh lính Mỹ chợt đi qua, vội vã chạy lại đỡ người mẹ, bồng xốc lên đi nhanh nhanh theo hai chàng thanh niên, cây súng anh mang chéo trên lưng lắc la lắc lư theo từng nhịp bước….

Hình ảnh người Mẹ lúp xúp chạy theo đứa con sắp chết của mình trong tay một người xa lạ, Hình ảnh ấy, mặc dù đã hơn ba mươi năm, nhưng khi viết lại câu chuyện này, nhà văn Tiểu Tử vẫn:

“Cầu nguyện cho mẹ con thằng nhỏ được tai qua nạn khỏi, cầu nguyện cho hai anh thanh niên có một cuộc sống an vui tương xứng với nghĩa cử cao đẹp mà hai anh đã làm. Bây giờ, tôi nhìn mấy anh lính Mỹ với cái nhìn có thiện cảm!

Quê hương xa rồi

black-april25-250.jpg
Mọi người đổ xô ra biển để theo tàu vào Đà Nẵng. Photo by Trần Khiêm. Photo: RFA

Cái nón lá, hình ảnh mộc mạc, thân quen đến độ người ta không còn nhớ đến nó, không để ý đến nó. Nhưng trong giờ phút chia lìa, nó bỗng trở thành một cái gì gắn bó, một cái gì thân thuộc mà nếu rời xa, người ta tưởng chừng như xa cả quê hương:
Cũng trên chiếc cầu thang dẫn lên tàu, một người đàn ông tay ôm bao đồ to trước ngực, cõng một bà già tóc bạc phếu lất phất bay theo từng cơn gió sông. Bà già ốm nhom, mặc quần đen áo bà ba màu cốt trầu, tay trái ôm cổ người đàn ông, tay mặt cầm cái nón lá. Bà nép má trái lên vai người đàn ông, nét mặt rất bình thản của bà, trái ngược hẳn với sự thất thanh sợ hãi ở chung quanh!

Lên gần đến bong tàu, bỗng bà già vuột tay làm rơi cái nón lá. Bà chồm người ra, hốt hoảng nhìn theo cái nón đang lộn qua chao lại trước khi mất hút về phía dưới. Rồi bà bật khóc thảm thiết…

Bà già đó chắc đã quyết định bỏ hết để ra đi. Yên chí ra đi, vì bà mang theo một vật mà bà xem là quí giá nhứt, bởi nó quá gần gũi với cuộc đời của bà:

“Đó là cái nón lá! Đến khi mất nó, có lẽ bà mới cảm nhận được rằng bà thật sự mất tất cả. Cái nón lá đã chứa đựng cả bầu trời quê hương của bà, hỏi sao bà không xót xa đau khổ? Tôi hy vọng, về sau trên xứ sở tạm dung, bà mua được một cái nón lá để mỗi lần đội lên bà sống lại với vài ba kỷ niệm nào đó, ở một góc trời nào đó của quê hương…

Những cuộc chia tay xé lòng

di-tan-75-1-250.jpg
Dân chúng quá sợ cộng sản qua sự kiện Tết Mậu Thân đã bỏ chạy khi thấy các đơn vị quân đội rút khỏi Huế. Photo by Trần Khiêm. Photo: RFA

Ngòi bút của ông trải dài qua nhiều đoạn đời bi thảm của cuộc di tản, nhưng hình ảnh thương tâm nhất đã ở lại mãi trong tâm hồn ông là cảnh chia tay xé lòng của hai cha con trên một bến tàu, cuộc chia tay không có tiếng còi tàu hú dài, cũng không có cả một lời từ biệt mà cả cha lẫn con đều biết là sẽ không có ngày gặp lại, nhà văn Tiểu Tử chia sẻ:
“Cái hình ảnh làm tôi xúc động nhất có lẽ là cái hình ảnh mà thằng nhỏ mà Cha nó dẫn đi ra bến tàu. Cầu tàu kéo lên rồi Cha nó lạy lục những người trên tàu. Những người trên tàu thòng xuống cái sợi dây. Người Cha nắm được cái sợi dây cột ngang eo ếch của thằng con, rồi ra dấu cho ở trên kéo thằng con lên.

Thằng con không khóc, không giãy dụa. Nó nghiêng người nhìn xuống cái người đứng ở dưới, lúc đó tôi mới đoán ra cái người đứng ở dưới là Cha của nó. Người đứng ở dưới ra dấu “đi đi, đi đi”. Rồi tự nhiên tôi thấy ông già đó úp mặt vô hai tay khóc nức nở, tôi thấy tôi cũng ứa nước mắt.

Rồi, mặt ông bỗng nhăn nhúm lại, ông úp mặt vào hai tay khóc ngất! Không có tiếng còi tàu hụ buồn thê thiết khi lìa bến, nhưng sao tôi cũng nghe ứa nước mắt!

Nhà văn Tiểu Tử

Bên cạnh ông là một thằng nhỏ cỡ chín mười tuổi, nép vào chân của ông, mặt mày ngơ ngác. Người đàn ông chắp tay hướng lên trên xá xá nhiều lần như van lạy người trên tàu. Bỗng trên tàu thòng xuống một sợi thừng, đầu dây đong đưa. Mấy người bên dưới tranh nhau chụp. Người đàn ông nắm được, vội vã cột ngang eo ếch thằng nhỏ. Thằng nhỏ được từ từ kéo lên, tòn teng dọc theo hông tàu, hai tay nắm chặt sợi dây, ráng nghiêng người qua một bên để cúi đầu nhìn xuống. Người đàn ông ngước nhìn theo, đưa tay ra dấu như muốn nói: “Đi, đi! Đi, đi!”. Rồi, mặt ông bỗng nhăn nhúm lại, ông úp mặt vào hai tay khóc ngất! Không có tiếng còi tàu hụ buồn thê thiết khi lìa bến, nhưng sao tôi cũng nghe ứa nước mắt!

Không biết thằng nhỏ đó –bây giờ cũng đã trên bốn mươi tuổi — ở đâu? Cha con nó có gặp lại nhau không? Nếu nó còn mạnh giỏi, tôi xin Ơn Trên xui khiến cho nó đọc được mấy dòng nầy.

Bên cạnh nghề chính là một kỷ sư hóa học. Nhà văn Tiểu Tử, với trên dưới 30 truyện ngắn ở hải ngoại đã cùng với Lê Xuyên, Bình Nguyên Lộc, Nguyễn Ngọc Tư  đưa văn học miền Nam đến với người đọc bằng ngôn ngữ bình dị mà thắm thiết, lắt léo mà bao dung, đơn sơ nhưng chan hòa tình cảm.

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Văn Hóa phỏng vấn Nhà văn Nhật Tiến


Nhật báo Văn Hóa

Kính gửi văn /thi hữu Việt Nam hải ngoại

Gần đây, ông Hữu Thỉnh Chủ tịch Hội Nhà Văn VN có ngỏ lời mời các nhà văn hải ngoại, kể cả những người đã cầm bút phục vụ chế độ cũ, về nước tham dự ‘Hội nghị hòa hợp dân tộc’ nhân dịp giỗ tổ Hùng Vương 10 tháng 3 Âm lịch sắp tới.”.
Là một nhà văn/nhà thơ hải ngoại cùng có chung một Tổ Hùng Vương, và cũng là một dịp để văn giới hải ngoại lên tiếng về một vấn đề văn hóa do Hội Nhà Văn trong nước nêu ra, xin anh/chị cho biết ý kiến về việc này:

– Có về tham dự hay không?

– Xin giải thích lý do ?

Trong cuộc phỏng vấn này của nhật báo Văn Hóa, nhà văn Nhật Tiến đả trả lời trong số báo ra ngày Thư Tư 15 tháng 2, 2017.

Trân trọng




Nhà văn Nhật Tiến, sinh ngày 24-8-1936 tại Hà Nội; di cư vào Nam năm 1954; viết truyện ngắn, truỵện dài trên các tạp chí: Văn Hóa Ngày Nay, Tân Phong, Đông Phương, Bách Khoa, Văn, Văn Học… chủ trương nhà xuất bản Huyền Trân (từ năm 1959), chủ biên tuần báo Thiếu Nhi (1971-1975); năm 1979 vượt biển qua Thái Lan rồi định cư tại Hoa Kỳ từ năm 1980.


Ông viết nhiều thể loại, truyện dài, truyện ngắn, kịch. Ông đã xuất bản trên 20 tác phẩm trong đó nổi tiếng nhất là những cuốn Chim Hót Trong Lồng, Thềm Hoang, Người Kéo Màn, Giấc Ngủ Chập Chờn”. Tác phẩm mới nhất in năm 2016 là cuốn biên khảo “Từ Nhóm Bút Việt đến Trung Tâm Văn Bút vn 1957-1975. Ông nguyên là Phó Chủ tịch Trung tâm Văn Bút Việt Nam (trước 1975), Nguyên Hội viên Hội Đồng Văn Hóa Giáo Dục Việt Nam Cộng Hòa (nhiệm kỳ II, 1974),- Nguyên Ủy Viên Báo Chí Hội Cựu Giáo Chức Việt Nam Hải Ngoại (1982-1985), Nguyên Chủ tịch Ban Chấp Hành Lâm Thời Văn Bút Việt Nam Hải ngoại Nam California (1988), Chủ biên cơ sở xuất bản Huyền Trân (từ năm 1959 cho đến nay).


Hôm thứ Bẩy 11 tháng 2, 2017, chúng tôi gặp Nhà văn Nhật Tiến cùng một số văn nghệ sĩ hải ngoại đến dự lễ Cầu Siêu cho nhà văn Quân đội Vũ Huy Quang tại chùa Liên Hoa ở Nam California. Trong lúc Hòa thượng Chơn Thành cử hành lễ cùng với gia đình Nhà văn Vũ Huy Quang, thì nhóm anh chị em văn nghệ sĩ chúng tôi tụ tập ngoài sân chùa. Bổn báo Văn Hóa có gợi ý mở một cuộc phỏng vấn về một bài viết của ông Phạm Chí Dũng, một nhà báo độc lập trong nước đăng trên VOA ngày 01 tháng 2, 2017. (1)



Từ trái: Nhà báo Lý Kiến Trúc, Nhà văn Nhật Tiến, Nhà thơ Nguyễn Hải Hà , Nhà văn Phạm Quốc Bảo. 
Ảnh VH

Báo Văn Hóa Online – California trích lại bài viết của ông Phạm Chí Dũng với tựa đề: 

“Chuyện gì vào dịp Giỗ Tổ Hùng Vương: Mời hết thảy nhà văn nhà thơ Việt hải ngoại về nước bàn chuyện?”

Bài viết mở đầu có đoạn chú thích trên bức ảnh ông Hữu Thành đương kim Chủ tịch Hội nhà văn Việt Nam:

” Chủ tịch Hội nhà văn Việt Nam Hữu Thỉnh đột ngột thông báo sẽ ‘Mời tất cả các nhà văn hải ngoại, kể cả những người đã cầm bút phục vụ chế độ cũ, về dự ‘Hội nghị hòa hợp dân tộc’ dịp giỗ tổ Hùng Vương”.

Một video đã tường thuật nguyên văn phát biểu của ông Hữu Thỉnh về “hội nghị hòa hợp dân tộc về văn học”: 

“Đây là một sự kiện chưa từng có, Tổng Bí thư có hỏi tôi rằng: Có phải đây là lần đầu tiên tổ chức hội nghị này không? Tôi trả lời: Đây là lần đầu tiên chúng ta sẽ tổ chức vào dịp Giỗ tổ Hùng Vương 10/3 (âm lịch) 2017…”.

Khi chúng tôi trao đổi với Nhà văn Nhật Tiến về sự kiện trên, ông đồng ý báo Văn Hóa nên mở rộng cuộc thăm dò đến với các nhà văn nhà thơ, văn nghệ sĩ hải ngoại. Kính mời quý thân hữu văn nghệ sĩ vui lòng đóng góp.


Ý kiến đầu tiên là Nhà văn Nhật Tiến.
VĂN HÓA: 

– Qua việc ông Hữu Thỉnh Chủ tịch Hội nhà văn Việt Nam công khai tuyên bố “mời tất cả các nhà văn hải ngoại, kể cả những người đã cầm bút phục vụ chế độ cũ, về dự ‘Hội nghị hòa hợp dân tộc’ nhân dịp giỗ tổ Hùng Vương’ sắp diễn ra vào ngày 10 tháng Ba âm lịch 2017. Dưới con mắt của một nhà văn hải ngoại, ý kiến của ông có nên tham gia hay từ chối, xin ông cho biết lý do?


Nhà văn Nhật Tiến:

– Tôi nghĩ là ông Hữu Thỉnh có đầu óc hơi hoang tưởng hoặc ông chủ quan chẳng đếm xỉa gì đến những nhận thức của hầu hết văn giới hải ngoại nên mới đưa ra một lời mời như thế. Bởi vì trong khi mà Bá quyền phương Bắc ngang nhiên lấn chiếm biển Đông, những người ở trong nước đấu tranh cho sự toàn vẹn lãnh thổ hoặc quyền tự do, dân chủ vẫn tiếp tục bị đàn áp, cầm tù thì Hội Nhà Văn của ông ta im thin thít, không dám ứng xử quyền tự do cầm bút của mình để lên tiếng bênh vực những người công chính. Thế thì Hội Nhà Văn VN đâu còn tư cách gì để mà đứng ra tổ chức một cuộc hop mặt đông đủ văn nghệ sĩ trong ngoài nước như thế. Mặt khác, cái mà ông Hữu Thỉnh gọi là ‘Hội nghị hòa hợp dân tộc’ có đúng là như thế không hay cái hội nghị này chỉ là một hình thức choàng vòng hoa cho một chế độ đã bộc lộ hết bản chất xấu xa của nó.

Về phần tôi, một khi đất nước không còn chế độ độc tôn và thực sự có tự do, dân chủ thì chẳng cần ai đứng ra mời, tôi cũng sẽ sẵn lòng trở về tham dự./


***
(1) Bài viết của Nhà báo độc lập Phạm Chí Dũng đăng ở mục DIỄN ĐÀN VĂN HÓA.

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Nguyễn Thị Hoàng, tuyển truyện 12 tác giả, Viên Linh

Nhà văn Nguyễn Thị Hoàng.
 

1-Trong số năm nhà văn nữ trẻ của miền Nam khoảng 1954-1975, phong cách Nguyễn Thị Hoàng tác giả Vòng Tay Học Trò khác biệt hẳn mấy người kia. Còn nhớ lần đầu gặp bà trên đường Phạm Ngũ Lão là khoảng 1961-63, lúc ấy cả bà lẫn tôi chưa ai có tác phẩm in thành sách, nhà văn nữ đang là một cô giáo, còn tôi là biên tập viên tuần báo Kịch Ảnh, một trong ba tờ báo chuyên về phim ảnh lúc ấy, hai tờ kia là Điện Ảnh và Màn Ảnh. Tòa soạn tờ Điện Ảnh của anh em ông Nguyễn Ngọc Linh ở gần khu Chợ Cũ, hai tờ còn lại ở trên đường Phạm Ngũ Lão, con đường báo chí của Sài Gòn.

 

Như thường lệ khi có bạn tới tòa báo thăm, người ta rủ nhau ra quán, để được riêng tư chuyện trò cũng có, nhưng thực sự là báo quán Sài Gòn thường thường chỉ là một căn phố nhỏ, không có phòng khách riêng, ra quán bên cạnh là chuyện thông thường. Riêng lúc Nguyễn Thị Hoàng đến là khoảng gần trưa, lần đầu gặp nhau, tôi mời cô bạn văn đi ăn cơm Bắc ở tiệm Quốc Hương đường Trần Hưng Đạo. Từ tòa báo ở góc Phạm Ngũ Lão-Đề Thám, đi bộ trên hè đường Đề Thám khoảng 10 phút là tới quán ăn, góc Đề Thám Trần Hưng Đạo, chỉ đi trên hè phố, không phải qua đường.

 
 

Tôi không nhớ những chuyện trong quán ăn, hẳn chỉ là những chuyện bình thường. Còn nhớ là một tà áo dài, nàng mặc quốc phục. Nhớ lắm thì cũng chỉ còn một đôi mắt quan sát. Bữa ăn trưa ấy đã được nhà văn nữ lưu tâm, viết lại vài dòng vào một truyện ngắn. Tôi chỉ thấy vui vui trước khi rời quán ăn Quốc Hương – vừa cầm bút ghi sổ, vừa liếc nhìn người bạn văn. Nhà văn nữ dòng dõi đất Thần Kinh làm như đang ngước nhìn đâu đó ra ngoài khung cửa. Có thể có một tiếng chim sẻ ngoài cửa kêu chăng? Ấy Nguyễn Thị Hoàng luôn luôn lịch sự, một chút khoảng cách, một chút phong lưu thanh nhã. Tôi không nhớ gì hết về bữa ăn đó mãi sau mới có một người bạn tương đối thân nào đó hỏi, đại ý “sao không có tiền còn mời người đẹp đi ăn, ăn xong lại ghi sổ, để nàng đem viết vào truyện ngắn đăng báo.” Mãi sau nữa tôi mới tình cờ thấy cái truyện ngắn ấy của Nguyễn Thị Hoàng, đăng trên báo Văn sau khi tờ tạp chí ấy xuất bản được khoảng nửa năm. Các quán ăn bên cạnh một tờ báo ở Sài Gòn quán nào cũng có một cuốn sổ giao lưu, vì nhà báo ra vào luôn luôn, thường khi uống dở chai bia, vào tòa soạn có việc, như nghe điện thoại, rồi trở ra ngay, hay khi vào bạn bè còn ngồi uống tiếp, uống chai nào ghi một gạch, một số tiền năm ba đồng, người này gọi người kia gọi, cuối bữa mới kết toán: bàn VL bao nhiêu chai bia, mấy cái cà phê, v.v…Cuối tuần hay cuối tháng mới tính sổ.

 

Khoảng một năm trước 1975 nhà văn Nguyễn Thị Hoàng có ghé toà soạn tạp chí Thời Tập mà tôi làm chủ nhiệm chủ bút, đặt trong nhà in Phúc Hưng của anh em chúng tôi tại đường Nguyễn Trãi, Chợ Lớn, ngay góc chợ Nancy. Năm trước tôi có xin chị một truyện ngắn, đăng trong số Xuân Giáp Dần 1974, đó là truyện Nến Hồng. Lần đến thăm này thấy chị bất an, dường như chuyện gia đình đã khiến phong cách nhà văn nữ có điều không như ý, gầy hơn, khắc khổ và không còn vẻ thanh thản ngày nào, nhất là những ngày chị mang đôi găng tay trắng, ngồi xe hơi có tài xế mặc đồng phục, đội mũ cát-két lái. Không hiểu sao mỗi khi nhắc đến chuyện năm bà ra chợ, tôi vẫn thấy tác giả truyện ngắn “Đêm tàn oanh trảo” một mình một chợ, xa hơn, lặng lẽ hơn, và quí hơn, dù không gặp quá hai ba lần. Chút suy nghĩ có lan man, nỗi lan man khúc mắc của âm thanh thành phố đảo, Nha Trang, với màu đỏ thẫm của những cành lụu khô, gió thổi xào xạc, con người thao thức lẻ bạn vẫn quày quả đi tìm bóng hình xa khuất. Truyện ngắn đó hơi lạ vì nhân vật xưng tôi là đàn ông, xục xạo đi tìm một người nữ là Mimi, ngược lại với truyện Nến Hồng, trong đó Chi Lan người nữ đi tìm một bóng ma. Chi Lan là ai, chúng ta có thể đoán, điều không đoán được là thời gian: nàng mới 21 tuổi. Thế mà nàng đã rất già: “Đời này hay một đời nào khác, xa xôi, cũng chỉ còn là một, là cõi vắng vẻ không cùng của quên lãng và lẻ loi.” (Nến hồng).

 

Chi Lan có chìa khóa của một ngôi nhà cổ kính, sang trọng, không phải của nàng, một đêm cuối năm nàng bị ý muốn chinh phục, lặng lẽ và táo tợn, tới ngôi nhà hoang, với một ngọn nến hồng, âm thầm tới mở cửa ngôi nhà mênh mông hoang vắng đó.

 

“Tôi đã nhìn thấy tôi trong gương trước khi ra ngoài. Không son phấn, không nước hoa, cũng chẳng cần bận tâm chọn lựa màu áo, kiểu giầy như mọi lần, đi tới phía đám đông để lạc loài trong thiên hạ.”

 

Rồi nàng đã ở trong ngôi nhà mà nàng – một người nữ 20 tuổi – đã từng tưởng tượng với hờn ghen: “Vài ba bước về phía trước kia là cầu thang láng bóng lên lầu… thế giới lạ lùng chưa bao giờ biêt tới. Thế giới của những chiếc khăn tắm dài lộng lẫy, những loạt lọ nước hoa kế sát tấm gương sát tường, những gối chăn tình tự nào, những bóng dáng vào ra trang điểm gọi mời nào chỉ nhìn thấy trong tưởng tượng hờn ghen. (Nến hồng, Thời Tập số 2, trang 76).

 

2-Nhà văn Nguyễn Thị Hoàng sinh ngày 11 Tháng Mười Hai, 1939 tại Huế, dạy học trước khi bước vào làng văn qua tạp chí Bách Khoa với truyện từng kỳ sau được xuất bản thành sách là:

 

-1966: Vòng Tay Học Trò, tác phẩm đầu tay.

 

-1967: Trên thiên đường ký ức, Tuổi Sài Gòn, Vào nơi gió cát.

 

-1968: Cho những mùa xuân phai, Mảnh trời cuối cùng, Ngày qua bóng tối, Về trong sương mù.

 

-1969: Đất hứa, Một ngày rồi thôi, Vực nước mắt, Tiếng chuông gọi người tình trở về.

 

-1970: Vết sương trên ghế đá hồng…

Nguyễn Thị Hoàng, tuyển truyện 12 tác giả
Bìa tuyển truyện 12 tác giả. (Hình: Viên Linh cung cấp)

Từ Nguyễn Thị Hoàng đến Hoàng Đông Phương

 

Một trong những tác phẩm khác của nhà văn nữ này là cuốn sách chị thực hiện với tư cách giám đốc  nhà xuất bản Hoàng Đông Phương,  đó là cuốn “Tuyển Truyện ” [12 nhà văn]. Có sách trong tay mà chúng tôi không thể biết đích xác năm sách ra đời, vì ấn bản hải ngoại chỉ đề giá bán, mà không in phần lý lịch sách, không có khoản nào ghi ngày tháng sách được giấy phép xuất bản, in ở nhà in nào, in bao nhiêu bản, chỉ có ba dòng ở bìa sau cho biết tên nhà xuất bản và tên địa chỉ người chủ trương: “Thư từ bản thảo gởi về: Nguyễn Thị Hoàng, hộp thơ 339, Sài Gòn.”

 

Chúng tôi dự đoán cuốn sách ra đời khoảng 1965-67,  khoảng đó chúng tôi có ghé thăm nhà văn nữ tác giả cuốn “Vòng Tay Học Trò” tại một căn nhà trong hẻm dốc cầu Lê Văn Duyệt Gia Định, quen gọi khu Cầu Bông. Đó là khoảng bà viết nhiều, và xuất bản sách cho các đồng nghiệp, trong có tôi với cuốn “Cuối cùng em đã đến.”

 

“Tuyển truyện” gồm  mười hai nhà văn, nhưng chỉ có mười một truyện ngắn và một vở kịch được in thứ tự như sau:

 

-Thanh Tâm Tuyền: Màu trời

 

-Mai Thảo: Cửa sau

 

-Nhã Ca:Như giọt nắng vàng

 

-Viên Linh: Nơi em sẽ đến

 

-Cung Tích Biền: Trên ngọn lửa

 

-Nguyễn Quang Hiện: Những luống cải hoa vàng

 

-Huỳnh Phan Anh: Những cái bóng

 

-Nghiêu Đề: Vực hồng

 

-Sơ Dạ Hương: Những ngày ở Sài gòn

 

-Nguyễn Thị Hoàng: Đêm tàn oanh trảo

 

-Doãn Quốc Sỹ: Truyện con tinh đời Trần phế đế

 

[Chúng tôi không nói đến vở kịch vì ở ngoài chủ đề truyện ngắn. Nhan đề tập sách là Tuyển Truyện mà đưa vào một vở kịch, đây chắc chắn là chuyện chẳng đặng đừng của nhà xuất bản. Chẳng hạn tác giả đã cầm nhuận bút tiêu trước, đến hạn chót không có truyện nộp trả nợ nhà xuất bản, đành thế bằng một vở kịch].

 

Tuyển tập này không có lời nói đầu, không một lên tiếng về lý do tập hợp các tác giả ra sao, tuy nhiên hầu  hết các tác giả có mặt đã có tên tuổi, đã sinh hoạt nhiều năm trong ngành viết, riêng Nghiêu Đề nổi tiếng là họa sĩ, Sơ Dạ Hương hay viết những bài tiểu luận nhỏ, hay những bài điểm sách khoảng hai ba trang, ít khi dài hơn. Huỳnh Phan Anh thuộc nhóm “Đêm Trắng,” một cái tên gợi nhớ đên nhà xuất bản Minuit của nhóm Alain Robbe-Grillet, viết truyện ngắn và tiểu luận văn triết, gây một sắc thái sinh động  trong cách viết trên một số tạp chí ở miến Nam. Sơ Dạ Hương còn ký tên thật Nguyễn Quốc Trụ, có thể kể cũng trong nhóm này. Nhưng nếu hỏi có một truyện ngắn nào của ta được kể là tân kỳ trong sáng tạo thuộc nhóm này không thì e rằng ta không tìm thấy câu trả lời.

 

Vậy cuốn Tuyển Truyện của nhà xuất bản Hoàng Đông Phương, 250 trang và 11 truyện ngắn, cũng góp phần xây dựng văn vẻ vào sự phong phú của truyện ngắn miền Nam trong gian đoạn 1954-1975, và ra sớm sủa vào hang thứ ba.

 

Thơ Nguyễn Thị Hoàng

 

TRONG CƠN CHĂN GỐI

 

Trong cơn chăn gối rã rời
Im nghe từng chuyến xe đời đi qua
Và từng chân bước dần xa
Tưởng như mình đã bao giờ vùi chân. 

 

Ung thư lở lói tâm hồn
Niềm đau thân thế rã mòn suy tư
Vườn đời đã nhuốm màu thu
Chim thanh thôi hót trong mù sớm nay. 

 

Thuyền neo mãi bến sông này
Không ai về giữa vòng tay mỏi mòn
Chiều xa gõ nhịp vào hồn
Rạc rời vó ngựa nẻo mòn hoang vu 

 

Vang vang tiếng hát giã từ
Thiên đường địa ngục tôi giờ đi đâu?

 

(Sau phút đam mê, 1963)

__._,_.___
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

GIÁO SƯ JOHN VŨ – NGUYÊN PHONG

 

john-vu-nguyen-phong JohnVu Nguyen PhongGiáo sư John Vũ – Nguyên Phong, là một nhà khoa học nổi tiếng ở Mỹ, đứng trong Top 10 người sáng tạo nhất thế giới (mà đứng đầu là Bill Gates và Steve Jobs). Ông chính là người dịch tác phẩm nổi tiếng Hành trình về Phương Đông, một trong những tác phẩm hay nhất về phương Đông từ trước đến nay. Giáo sư John Vũ cũng là một người rất quan tâm đến khoa học công nghệ, với trên 10.000 bài viết đã được đăng trên blog Science-Tecnology.  Giáo sư John Vũ là một người Mỹ gốc Việt có những đóng góp rất lớn về nghiên cứu khoa học kỹ thuật, đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo đối với thế hệ trẻ. Giáo sư John Vũ – Nguyên Phong là một nhà khoa học nổi tiếng ở nước Mỹ đứng trong Top 10 những người sáng tạo nhất thế giới, đứng đầu là Bill Gates và Steve Jobs. Hiện nay, Giáo sư John Vũ – Nguyên Phong kiêm Viện Trưởng Viện nghiên cứu phần mềm của Đại học Carnegie Mellon, và là Nghiên cứu viên kĩ thuật và Kĩ sư trưởng Công nghệ Thông tin tại Boeing. Trước khi công tác tại Tập đoàn Boeing, ông John Vũ – Nguyên Phong làm việc tại Teradyne Semiconductor; Hewlett Packard, Litton Industries, Motorola và GTE. Ông có giữ nhiều chức vụ quan trọng và công trình lớn. Trong 15 năm làm việc ở Boeing, ông đã từng tham gia vào chương trình phần mềm hỗ trợ cho máy bay Boeing 777 và là nhà vô địch về cải tiến qui trình ở Boeing với những kết quả có ý nghĩa. Ông đã đào tạo hơn 10 000 kĩ sư phần mềm; tiến hành trên 100 cuộc thẩm định. Ông từng giữ vị trí Phó Chủ Tịch – Vice President phụ trách tất cả vấn đề về kỹ thuật của tập đoàn Boeing (CMM/CMMI). Ông cũng là sáng lập viên của SPIN Seatle và quản lý tổ chức này từ 1996 tới 2003. Ông đã từ chối nhận nhiều giải thưởng rất uy tín của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ và từ chối các cuộc phỏng vấn của các hãng thông tấn uy tín. Gần đây Giáo sư John Vũ – Nguyên Phong từ chối gặp Tổng thống Obama khi ông Obama đến thăm Đại học Carnegie Mellon. Giáo sư John Vũ – Nguyên Phong cũng được biết đến như một nhà khoa học, kỹ sư phần mềm có nhiều đóng góp đến lĩnh vực Công nghệ Thông tin. Ông John Vũ là một nhà khoa học cố vấn tại Viện Kỹ sư Phần mềm (Software Engineering Institute – SEI). SEI là nơi ông John Vũ đã tập trung phát triển một số mô hình đánh giá năng lực sản xuất phần mềm (Capability Maturity Model – CMM) đang được áp dụng rộng rãi trong ngành CNTT hiện nay như SW-CMM, CMMI, People-CMM, Acquisition-CMM và e-Business CMM. Ngoài ra, ông được ngành công nghiệp phần mềm thế giới thừa nhận với việc đóng góp thiết lập các trung tâm chất lượng phần mềm ở Ấn Độ, Trung Quốc, Nga, Nam Triều Tiên, Nhật Bản và nhiều nước khác trên thế giới. Đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, Giáo sư John Vũ – Nguyên Phong luôn quan tâm đến thế hệ trẻ – nguồn nhân lực chủ chốt về việc chọn lựa nghề nghiệp và hướng đến những ngành tiềm năng. Giáo sư John Vũ – Nguyên Phong đã viết trên bốn mươi bài báo và xuất bản ba tập sách về phần mềm và các hệ thống thông tin nhằm cung cấp thông tin mới và hướng thế hệ trẻ tiếp cận những công nghệ hiện đại mới nhất. Quyển sách mới nhất của ông về công nghệ phần mềm đã được dịch sang tiếng Trung, tiếng Hàn và hiện đang được sử dụng như sách giáo khoa của một số trường địa học tại đó. Giáo sư John Vũ – Nguyên Phong cũng đặc biệt quan tâm đến những ngành như Hệ thống Thông tin Quản lý và trong đó có chuyên mục chuyên sâu gồm 87 bài viết vô cùng hữu ích cho sinh viên Việt Nam được đưa lên website của ông. Trang Web tập hợp các thắc mắc của sinh viên cũng như cập nhật những vấn đề, thực trạng về chuyên ngành Hệ thống Thông tin Quản lý. Sau khi đọc những bài viết bổ ích của giáo sư John Vũ, các bạn sẽ được tháo gỡ những vướng mắc về chuyên ngành đang học cũng như có cái nhìn khái quát về ngành Hệ thống Thông tin Quản lý qua góc nhìn đa dạng, nhiều chiều của giáo sư John Vũ. Và ông cũng là dịch giả khá nổi tiếng, với một số tác phẩm  như: Hành trình về phương đôngHành trình về phương đông  Hành Trình Về Phương Đông – Các Tác Giả Khác – THƯ VIỆN … thuvienhoasen.org HÀNH TRÌNH VỀ PHƯƠNG ĐÔNG (Life and Teaching of the Masters of the Far East) Tác giả: Blair T. Spalding – Dịch giả: Nguyên Phong   “Hành trình về phương Đông” kể về những trải nghiệm của một đoàn khoa học gồm các chuyên gia hàng đầu của Hội Khoa Học Hoàng Gia Anh được cử sang Ấn Độ nghiên cứu về huyền học và những khả năng siêu nhiên của con người. Suốt hai năm trời rong ruổi khắp các đền chùa Ấn Độ, diện kiến nhiều pháp thuật, nhiều cảnh mê tín dị đoan, thậm chí lừa đảo…của nhiều pháp sư, đạo sĩ…họ được tiếp xúc với những vị chân tu thông thái sống ẩn dật ở thị trấn hay trên rặng Tuyết Sơn. Nhờ thế, họ được chứng kiến, trải nghiệm, hiểu biết sâu sắc về các khoa học cổ xưa và bí truyền của văn hóa Ấn Độ như yoga, thiền định, thuật chiêm tin, các phép dưỡng sinh và chữa bệnh, những kiến thức về nhân duyên, nghiệp báo, luật nhân quả, cõi sống và cõi chết… Bên rặng tuyết sơn Bên rặng tuyết sơn Khơi nguồn từ vùng núi Himalaya xa xôi và vùng đồng bằng Ấn Độ, Bên Rặng Tuyết Sơn mang đến cho bạn đọc những sự thật vĩ đại về tâm linh và vai trò của việc làm chủ tâm linh cũng như làm chủ số phận. Tác phẩm còn khơi dậy những giá trị cao đẹp như: Tính trung thực, trái tim bao dung, lòng trắc ẩn, sự thông thái, lòng tín ngưỡng và tình yêu bao la. Đường mây qua xứ tuyết Đường mây qua xứ tuyết“Tại Nyang To Kyi Phug, các căn phòng nhập thất được xây cất kín đáo nhưng nó không hoàn toàn thiếu ánh sáng như nhiều người vẫn nghĩ. Trên nóc nhà có một lỗ hổng đục ra để ánh sáng có thể lọt vào bên trong, một bàn thờ nhỏ được đặt trong góc phòng và đặc biệt hơn nữa là một chiếc tủ khá lớn đựng kinh điển cho các tu sĩ nhập thất đọc tụng. Vị Lạt Ma trụ trì cho biết những căn phòng này không phải nơi để trừng phạt hay giam hãm ai, mà là chỗ để các tu sĩ có thể thiền định trong yên lặng tuyệt đối. Căn phòng khá rộng đủ chỗ cho vị tu sĩ đi đứng hoặc cử động cho dãn gân cốt. Mặc dù việc tập khinh công chú trọng vào quyền năng ý chí nhưng nó không có nghĩa là tu sĩ có thể chểnh mảng việc gìn giữ thân thể cho khỏe mạnh…” Minh triết trong đời sốngMinh triết trong đời sống Từ những kinh nghiệm của các bậc thầy tâm linh thế giới và trải nghiệm của bản thân, tác giả – diễn giả nổi tiếng Darshani Deane sẽ giải đáp những trăn trở ấy và rất nhiều vướng mắc khác qua 58 chủ điểm trong quyển sách này. Tác phẩm nổi tiếng Minh triết trong đời sống sẽ khơi mở tâm trí, giúp chúng ta con đường vượt khỏi những vướng mắc trói buộc tâm tưởng để đạt đến cảm giác an nhiên trong đời sống. Ngọc sáng trong hoa senNgọc sáng trong hoa sen Ngọc sáng trong hoa sen (Tựa tiếng Anh: The Wheel of Life) là cuốn sách nói về cuộc du hành của ông tại châu Á. Xuất bản năm 1959, quyển sách được sự đón nhận nhiệt thành của độc giả với số bán kỷ lục trên một triệu bản ngay trong năm đầu tiên ra mắt. Cho đến nay, dù thời gian trôi qua, nhiều sự kiện đã thay đổi nhưng Ngọc sáng trong hoa sen vẫn là một trong những cuốn sách giá trị về phương Đông và thường được dùng làm tài liệu tham khảo trong các trường đại học. Khởi hành Khởi hành là cuốn sách được hình thành từ những bài viết hướng dẫn cho sinh viên trên trang blog của giáo sư John Vu (science-technology.vn). Giáo sư hiện đang giảng dạy tại Đại học Carnegie Mellon, Mỹ. Quyển sách ra đời với mong muốn giới thiệu những phương pháp học tiến bộ, cách tư duy khoa học, cũng như các kỹ năng cần thiết cho sinh viên trong quá trình học tập, từ lúc chuẩn bị vào đại học cho đến lúc ra trường tìm việc làm một cách thuận lợi. Khởi hànhQuyển sách bao gồm: • Phần I: Tốt nghiệp trung học xong, ta nên làm gì? Được viết dành cho các bạn học sinh cấp 3, hoặc cuối cấp 3 đang băn khoăn với con đường học đại học phía trước. • Phần II: Vào đại học rồi, ta phải làm gì? dành cho các bạn sinh viên. Với các bài viết về phương pháp học tập như Học có mục đích, Học để lấy kỹ năng, Phương pháp học tích cực và Lời khuyên dành cho người sắp tốt nghiệp. • Phần phụ lục với các bài viết về giáo dục như: Giáo dục: hôm nay và ngày mai, Gian lận trong trường học, Lập kế hoạch nghề nghiệp: Đam mê và Thực tế, Việc làm tốt trong ngành toán học và Cơ hội vô tận.  nguyen phong tac pham

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

THANH TÂM TỈNH BÌNH DƯƠNG VÀ NHỮNG NGÀY

Võ Kỳ Điền


Thanh Tâm Tuyền – Tranh Tạ Tỵ 1966


Bất ngờ tôi được tin buồn thi sĩ Thanh Tâm Tuyền vừa từ trần lúc 11 giờ 30 sáng ngày 22 tháng 3 năm 2006 vì bị ung thư phổi, tại tiểu bang Minesota. Thời gian vừa qua một bạn thân, anh Nguyễn Hữu Chung (Montréal) cũng mất vì chứng bịnh nầy, mặc dù anh không bao giờ hút thuốc và rất kỵ những người hút thuốc ở gần. Hai người mà tôi quí mến, một là thầy, một là bạn cùng mất vì một chứng bịnh, nhưng với thầy Thanh Tâm Tuyền, thì tôi không ngạc nhiên bởi vì thi sĩ có thói quen hút thuốc lá loại nặng và thường xuyên từ lúc còn trẻ, dù vậy vẫn khiến tôi xúc động.Thanh Tâm Tuyền được coi như là người khởi đầu cho thơ tự do, để lại nhiều dấu ấn trong dòng sinh hoạt văn học miền Nam Việt Nam trước năm 1975. Thơ lẫn văn của ông lạ kỳ, bí hiểm, khó hiểu, đặc biệt được viết bằng một bút pháp lạ lùng, ngang tàng. Thơ thì không phải thơ (thường), văn thì không phải văn (thường), không được phổ biến rộng rãi, độc giả phải thuộc giới kén chọn. Tập thơ đầu tay Tôi Không Còn Cô Độc của thi sĩ nổi tiếng như vậy mà phải bị nằm ngoài lề đường dầm mưa dãi nắng, để bán với giá rẻ 5 đồng bạc.., mà cũng ít người mua. Thời đó Văn Nghệ Tiền Phong với loạt bài châm biếm, gọi đó là lối thơ hủ nút với hình vẽ thi sĩ với mái tóc hớt cua, trêu chọc…

Một hiện tượng nghịch lý kỳ lạ là với lối viết khó hiểu nhưng đa số văn nghệ sĩ, những người sinh hoạt trong giới văn học nghệ thuật đều công nhận Thanh Tâm Tuyền là người có tài năng thực sự, một bản lãnh thực sự và là một cây bút lãnh đạo hàng đầu của nền Văn Học Việt Nam Cộng Hòa. Ông viết tương đối không nhiều (3 tập thơ và 7 tập truyện) nhưng ảnh hưởng của ông cực kỳ sâu sắc và lâu bền. Theo tác giả Trần Khải của Việt Báo thì chính những dòng chữ của Thanh Tâm Tuyền đã thúc đẩy hay xô tới để văn học Việt Nam thêm một đà phóng tới…. Thanh Tâm Tuyền đã viết những dòng chữ lạ thường giữa một thời đại cũng hết sức lạ thường của dân tộc Việt Nam.

Khi thi sĩ nằm xuống, nhiều nơi ở hải ngoại, những người sinh hoạt trong giới văn học nghệ thuật làm lễ tưởng niệm nhà thơ như là một cảm mến, thương nhớ, cám ơn và từ biệt. Thanh Tâm Tuyền được coi như là nhà thơ, nhà văn, người lính, người tù cải tạo…

Nhưng đối với riêng tôi, mãi mãi, Thanh Tâm Tuyền là một thầy giáo phẩm hạnh được học trò thương yêu và kính mến. Thầy cực kỳ thông minh, nhiều tài năng, kiến thức sâu rộng, tận tụy, tư cách xứng đáng và nhứt là tình cảm thương mến đối với học trò… Tôi xin trích dẫn một đoạn văn tôi đã viết từ lâu (1985) để nhớ tới người Thầy cũ, đồng thời cũng đăng một bức thư của Thầy viết riêng cho tôi (1992), nhắc lại những ngày dạy học ở trường Nguyễn Trãi (Bình Dương) như là một kỷ niệm quí báu, để chúng ta cùng thấy được tấm lòng thương mến học trò của thầy Tuyền.

(trích một đoạn trong lời tựa tập truyện KẺ ĐƯA ĐƯỜNG của Võ Kỳ Điền, viết mùa Giáng Sinh 1985)



… Lúc còn nhỏ bắt đầu lên trung học, tôi vẫn còn phải theo học một trường tư thục nhỏ bé ở tỉnh nhà. Ba má tôi vì thương con nên không muốn cho anh em tụi tôi đi học ở Sài gòn. Tuy Sài Gòn chỉ cách Bình Dương vỏn vẹn có ba mươi cây số. Đến bây giờ,ø nhiều khi hồi tưởng lại không biết đó là rủi hay may.

Thời đó (1952 -1956…) Bình Dương chưa có trung học công lập. Trường Nguyễn Trãi là trung học tư thục duy nhứt. Ông hiệu trưởng cùng các giáo sư đa số là người địa phương. Như thầy Châu, chủ một sạp bán tạp hoá ở nhà lồng chợ, thầy Hoàng chủ nhà máy xay lúa, thầy Phổ thì làm việc ở tiểu khu chuyên thông dịch cho quân đội Pháp. Giữa năm đệ nhứt niên, trường có mời một giáo sư Sử Địa mới. Cả lớp xôn xao bàn tán vì thầy Ngô Đình Hộ là nhạc sĩ Lê Thương. Rồi vài tháng sau trường có thêm thầy Phạm Duy Nhượng. Tụi học trò lại có dịp điều tra lý lịch. Ông Nhượng là em ruột thạc sĩ Phạm Duy Khiêm và là anh của nhạc sĩ Phạm Duy.

Lúc đó tôi cảm thấy cả cái xứ Việt Nam nầy chỉ có trường tôi là hạng nhứt. Làm sao các trường khác, dầu là các trường lớn ở Sài Gòn có được những vị giáo sư giỏi giắn như vậy. Vào những dịp nghỉ hè hoặc lễ tất niên, nhìn thầy Nhượng, người ốm ốm, cao cao, vóc dáng thanh tú, ôm đàn lục huyền, búng các ngón tay thon dài vào sáu dây thánh thót, tôi nhìn say mê ngây ngất. Tự dưng tôi muốn học đờn để thành nhạc sĩ. Nhưng đến năm sau, rồi năm sau nữa, trường có thêm các giáo sư ngoài Bắc mới di cư vô. Thầy Lê Xuân Khoa hết sức đẹp trai, nói năng thiệt duyên dáng, cả lớp như bị thôi miên. Thầy Ngọc Dũng dạy vẽ, thường mặc áo xăn tay, giọng nói hơi cà lăm.

Nhưng người mà chúng tôi chú ý, bàn tán nhiều nhứt là thầy Dư văn Tâm, có bút hiệu Thanh Tâm Tuyền. Thầy Tuyền người tầm thước, lưng hơi khòm, da đen ngâm ngâm, mặt to vuông, càm bạnh, miệng kín mà rộng, da mặt đầy mụn. Đặc biệt tóc hớt ngắn, thật sát như ở quân trường giống hình móng ngựa. Bàn tay mềm và đẹp với các ngón đều đặn hình mũi viết. Quyển Bếp Lửa rồi tới tập thơ Tôi Không Còn Cô Độc được lần lượt xuất bản. Vừa tung ra thị trường nó gặp nhiều phản ứng, chống đối kịch liệt. Càng bị đả kích, tên tuổi Thanh Tâm Tuyền càng sáng chói. Thầy giảng bài say mê. Nhiều khi đã hết giờ, thầy vẫn còn nán lại, chưa muốn chấm dứt bài giảng. Nhờ thầy Tuyền mà tôi biết mê cái thế giới văn chương với những nhận xét, độc đáo, kỳ lạ. Nhìn chung thì thầy Tuyền hơi xấu trai. Nhưng điều đó có gì quan trọng. Những lúc thầy giảng bài, cả lớp ở dưới trông lên không nháy mắt. Tôi nhìn bằng cả một cõi lòng say mê, kính phục. Càng ngắm, tôi càng thấy thầy đẹp trai hẳn ra. Cái tóc cũng đẹp, cái miệng thật có duyên, cái lưng khòm khòm, nghệ sĩ hết chỗ nói.

Mà đâu phải chỉ có mình tôi thấy như vậy. Hình như các chị ở trong trường, ai cũng đều ái mộ thầy hết. Người nào cũng kè kè cuốn Tôi Không Còn Cô Độctrong cặp sách. Lúc nầy tôi thôi muốn làm nhạc sĩ mà lại ước ao mai sau vừa được làm thầy giáo, vừa viết văn làm thơ.

Mười năm sau trở về trường cũ, nhìn cái sân lởm chởm đá đỏ, cái vườn có cây cau cây dừa, có con rạch cùng cạn nước, tôi bước vào lớp, đứng trên bục giảng ngày xưa, bùi ngùi nhớ lại giấc mơ thời mới lớn. Tôi, tài hèn sức mọn, chỉ thực hiện được có phân nửa điều mình ước ao. Cố gắng hết sức chỉ làm được tới thầy giáo. Một thầy giáo ở tỉnh nhỏ, tầm thường, an phận, không dám mơ ước điều gì cao xa. Đôi khi nổi hứng làm thử vài bài thơ, viết một hai truyện ngắn. Hôm sau, đọc lại thấy hơi kỳ cục, không dám gởi cho các báo. Đường vào làng văn khó hơn đường vô xứ Thục. Thôi, không thèm nghĩ đến, văn nghiệp chỉ dành riêng cho người có duyên. Mãi như vậy mà tôi lui cui đi dạy học cho tới ngày mất nước.

 

(Thư của thi sĩ Thanh Tâm Tuyền gởi người học trò cũ)
 

St-Paul 18-1-92
Anh Võ Kỳ Điền,

Thư và sách anh gửi tặng đã đưa tôi trở lại Thủ Dầu Một, nhắc lại cho tôi những mảnh tình bị bỏ lạc đâu đó bằng cái ký ức bị nhồi nhét chật chội xô bồ. Tôi đã mất cả một ngày mới nhớ ra tên cụ Pháp, người đã xuống tận nhà tôi để đón mời tôi lên dạy vào mỗi cuối tuần (chiều thứ sáu, sáng thứ bảy?), giúp cho tôi có quyết định dứt khoát; bỏ trường công ra dạy trường tư – mặc dầu phải đi xa hơn. Tôi nhớ bấy giờ tôi vừa được gọi cho vào dạy tại trường Nguyễn Trãi (SàiGòn) được nửa tháng và tôi đã trốn không tham dự việc phải hướng dẫn học sinh tham dự cuộc biểu tình trong ngày tuyên bố “Hiến Ước Tạm Thời” của ông Ngô Đình Diệm sau khi đã truất phế ông Bảo Đại (ngày 23 -10 -1955) .

Lúc bấy giờ trường Nguyễn Trãi (Thủ Dầu Một) chưa xây cất thêm, lớp đệ tam có khoảng hơn 10 học sinh đặt trong ngăn phía sau ngôi nhà chính – mái ngói, sàn gạch tàu, vách ván; chỗ ở của ông bà cụ Pháp và 2 cô cháu gái mồ côi (?) – còn hai lớp đệ tứ, đệ ngũ đông hơn chiếm hai phòng lớn trong nếp nhà gạch cất kế sát bên trái nhà chính gồm ba phòng (phòng nhỏ ở đầu dãy dùng làm văn phòng) Giờ nghỉ các giáo sư thường ngồi ở bộ “sa lông” mộc kê ở gian giữa nhà chính trước trang thờ cao rộng trông ra khoảng sân trước nơi học sinh qua lại để đến lớp, hai gian bên kê mấy bộ ngựa rộng mát nơi nghỉ ngơi buổi tối của các giáo sư ở Sài Gòn – Lái Thiêu lên.

Ở đây tôi gặp thầy Nhượng, thầy Lân, thầy Hoanh, thầy Thành, thầy Châu. Bà cụ Pháp nấu cơm cho chúng tôi ăn – tôi và thầy Lân (cùng ở Gia Định với tôi), thầy Hoanh (ở Lái Thiêu, tôi đã một lần vào thăm nhà thầy ờ đấy), thầy Thành (cũng dạy chung với tôi ở Nguyễn Bá Tòng Sài Gòn) – để chúng tôi đỡ mất công ra chợ. Tôi cũng nhớ lại những buổi tối ở lại đấy, cụ Pháp đưa tôi đi dạo chơi quanh phố chợ hoặc ghé chơi nhà thầy Châu, thầy Nhượng, – nhà thầy Nhượng ở trên lầu của một tiệm nước trông sang nhà lồng chợ.

Tôi rất thích con đường bờ sông vắng vẻ với bên một là khu tòa tỉnh cây cối um tùm, một bên là mặt nước trải phẳng, xa xôi và hiền lành; ngồi ở ngôi nhà thủy tạ bên bờ sông có thể trông xa tới tận ngôi trường Công Binh nằm phía bên kia cây cầu xi măng ngắn nơi ngăn cách con đường tráng nhựa của thị xã và con đường đất bụi của vùng ngoại vi. Nhiều buổi tối, tuy là còn sớm, nhưng cái bầu không khí u tịch của vườn tược, mương lạch bao quanh nhà làm ra như đã muộn khuya, bà cụ Pháp ngồi trên một bộ ngựa – luôn luôn là bộ ngựa bên gian phải – bỏm bẻm ăn trầu và trò chuyện với tôi một lúc, trước khi rút vào trong để nghe lén đài HàNội -đó là cách bà cụ tìm gặp mấy người con xa vắng… Còn tôi nằm trên bộ ngựa kê phía ngoài gian trái những lúc ấy tôi lắng nghe gì thì đến nay quã thật tôi mù tịt…

Đầu những năm 70 khi tránh Sài Gòn xin đổi lên Đà Lạt, làm việc tại trường Võ Bị, tôi có nhận được một xấp giấy quay ronéo thông báo về việc thành lập hội ái hữu cựu học sinh Nguyễn Trãi (Bình Dương), trong ấy thấy có tên mình được ghi vào ban Cố Vấn của hội, tôi đã nói riêng với mình : A, thế nầy là khi “hồi hưu” mình có chốn để trở về đây. Thủ Dầu Một cũng có một vài chỗ hao hao giống như Đà Lạt – như chỗ trước nhà thờ chẳng hạn – tôi thích gọi tên Thủ Dầu Một hơn là Bình Dương (có lẽ vì Bình Dương bị gắn liền với ” Người Đẹp Bình Dương” và “Người Đẹp Bình Dương” thì bị gắn liền với cô T T Hằng ). Bây giờ cái giấc mộng nhỏ nhoi, gần gũi ngày nào đã trở nên cái gì thật là xa vời, cách trở. Cho cả tôi lẫn anh: chúng ta đang được ướp trong tuyết giá, đang là những con người tuyết – nói ngoa hơn là những xác ướp. Có phải thế không?

Lúc ra đến Lào Kay, tôi có gặp được anh Võ Tấn Vinh. Anh nhìn ra tôi, chứ tôi không thể nhìn ra anh. Bởi ở hai khu cách biệt, chúng tôi chỉ gặp nhau được đôi ba lần, nói với nhau vài câu ngắn ngủi, không có dịp nào trò chuyện. Xuống đến Vĩnh Phú, tôi cũng có gặp được anh Nguyễn Văn Chi (trí nhớ tôi giờ quá tệ, mấy ngày nay rồi mà lục tìm không ra tên) học cùng lớp với Charles Boyer, quê anh ở Bù Đốp, lúc học ở Nguyễn Trãi anh ấy phải xuống ở nhờ trong chùa, anh đã ở cùng, ăn cùng với tôi suốt cả năm trước khi tôi được thả (anh về sau tôi khoảng hơn một năm) Lúc làm thủ tục để rời Sài Gòn, tôi có gặp anh Nguyễn Thành Nhơn, cùng lớp với anh Vinh. Chúng tôi cùng bị khám lại phổi, tôi may mắn không bị bắt uống thuốc, còn anh Nhơn phải uống thuốc trong 3 tháng : tội nghiệp cho anh, nghèo, nhà ở tận Biên Hoà, mỗi ngày phải đi xe đò xuống Sài Gòn rồi vào Chợ Lớn để lãnh thuốc uống tại chỗ. Tôi không hiểu anh Vinh, anh Nhơn đã sang được chưa. Anh có liên lạc với các anh đó không ?

Tôi thật không ngờ đã viết nổi một bức thư dài đến chừng nầy. Từ ngày sang đây, tôi thật ngại cầm đến bút, kể cả khi cần viết thư về nhà. Điều nầy chứng tỏ, ít nhứt riêng với tôi, quyển sách anh viết đã thành công . “Chữ đã đẻ ra chữ, nó đã không đẻ ra được cơm gạo cho người ta qua cơn đói lòng nhưng nó cũng không đẻ ra những phù chú, pháp thuật nhằm “mà” mắt người hòng thủ lợi (ở đây cũng như ở kia). Người ta đã không thể “nhá chữ” mà sống thì người ta cũng không thể “nuốt chữ ” để say sưa quên đời và chết một cách ngu xuẩn. Chữ chỉ dùng để đọc thôi.

Chúc anh luôn mạnh khoẻ, vui vẻ, luôn có hứng thú tuôn thành chữ để cho những ai thích đọc anh, được đọc chữ nghĩa của riêng anh.

Thân,
TAM

 

Ghi chú của Võ Kỳ Điền : Vừa mới di cư vào, thi sĩ Thanh Tâm Tuyền, cùng với họa sĩ Ngọc Dũng dạy học ở tư thục Nguyễn Trãi (Bình Dương). Trường được xây cất trong một khu vườn đầy cây trái cách chợ Bình Dương chừng vài trăm thước.

– Khung cảnh nhà trường nầy thường được mô tả tỉ mỉ trong quyển Cát Lầy và trong các truyện ngắn đăng trên Sáng Tạo. Chiều chiều, thầy Tuyền thường mặc bộ đồ bà ba trắng ngà mang guốc vông, cùng các giáo sư và ông hiệu trưởng Pháp (ông rất khó tánh nên học sinh đặt biệt danh là ông già chuồng) đi dạo mát dọc bờ sông và các con đường đẹp đẽ trong tỉnh lỵ. Thầy hút thuốc lá loại nặng liên tục, đến đổi vàng ố cả ngón tay.

* Các giáo sư được nhắc trong thư là các thầy: Phạm Duy Nhượng, Cổ Thượng Lân, Phạm Văn Thành, Nguyễn Văn Hoanh, Nguyễn Ngọc Châu. Còn lại là tên những học sinh Đệ Tứ, Đệ Tam giỏi của những năm 1955, 1956, Thầy Thanh Tâm Tuyền phụ trách môn Quốc Văn. Sau năm 1975 thầy trò lại gặp gỡ nhau trong trại học tập cải tạo ở đất Bắc, sau khi miền Nam thua trận.

* Thầy Lê Thương vào Nam từ thập niên 40 nên giọng và tiếng nói mang nhiều nét đặc biệt của miền Nam là điều dễ hiểu. Thầy Thanh Tâm Tuyền chỉ mới di cư vào Nam năm 1954 và chừng năm ba tháng sau thầy dạy học ở Bình Dương, vậy mà thầy lại rất ưa dùng tiếng miền Nam một cách kỳ lạ (�bộ ngựa, như bộ mặt chầm dầm).

* Trong bài “Bao giờ” có câu :
…vườn măng rừng tháng sáu đêm sâu,
muốn làm người học trò mười bảy tuổi,
đạp xe trên đường đồng,….


Đó là vườn măng cụt ở Búng, cây măng cụt to và khi đi vào vườn có cảm giác như đêm sâu.

* Nhà văn Kiệt Tấn cho tôi biết Thanh Tâm Tuyền cưới vợ là người đẹp Bình Dương, ở miệt Búng, tôi chưa hề nghe ai nói về việc nầy. Tôi hoàn toàn không biết gì về Cô. Nếu thật Cô là người ở Búng thì thi sĩ Thanh Tâm Tuyền và đất Bình Dương quả thật có duyên nợ, ân tình.

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Thưởng Lảm Tranh

       Mời thưởng lãm tranh của họa sĩ 

        Đặng Văn Can , sinh năm 1957  tại An   Đức , quận Long Hồ tỉnh Vĩnh Long ,   tài liệu của L.Koledova (Jun,14,2016)

     Thân ái .

      Nguyễn Tấn Thuận.

 Dang Can, 1957 | Landscape/Figurative painter

 

The Vietnamese painter Dang Van Can was born in 1957 in An Duc commune, Long Ho District, Vinh Long Province, the place is located along riverside of Mekong river in Vietnam. He showed an early talent in drawing and painting. He commenced to art works since 1976 with main job as a illustrator for local newspaper and magazine.
Dang Can is a member of Vietnam Fine Arts Association.
He has many paintings in Private Collection in many countries.

 

 

 

 

 

For that, step by step, it has brought him to the public who like to take the delight in art.

His style of painting is not only very soft, deep but also very attractive in the peacefulness of Mekong Delta. His paintings bring a full and semplice dream, to be imbrued with poetry, high-faluting but also reality. The main subject throughout his works are the landscapes in peaceful countryside of Mekong delta, the school girl in Aodai, the daily changing of local residents. It’s really simple but also very lovely.

 

 

 

 

 

Beside painting, he is also a composer/ designer in art of ceramics. He used to take part time job for Art Ceramic Workshop in Vinh Long where the art ceramic products are famous for exporting to many countries in the world.

Looking Can’s art works, we couldn’t stand taking emotionless or nonchalant because he took us to the natural living in the lower section of Mekong river. He wants to show us the human conditions, the sublimates of daily living as well as the lovely sceneries and the reform of our country day by day.

Time to time he will show us more beautiful paintings and he is also a great artist in the Mekong Delta area.

 

 

 

 

Exhibitions and Awards

1996: Local Exh. held in Vinh Long – Art work: The building worker – Enc. award
1998: Zone No. 8th Mekong delta  – National Exh. – Art work: The green cages – Enc. Award
2001: Zone No.8th Mekong delta – National Exh. Art work: The green dream – A Prize; 
2003: Zone No.8th Mekong delta – National Exh. Art work: The rest of donor – C Prize; 
2004: Zone No.8th Mekong delta – National Ext.Art; 
2006: Zone No. 8th Mekong delta – National Exh. Art work: Closing mud.- C Prize; 
2006: National exhibition of period 5 year 2001-2006 held at HCM Fine Arts Museum; 
2007: Zone No. 8th Mekong delta – National Exh. Art work: a Green message.- 2nd Prize; 
2007: Group exhibition – October – “Echo of time” with artist Le Trieu Dien at Phuong Mai Galerry, HCM city; 
2008: Zone No.8th Mekong delta – National Exh. Art work: Waiting – B Prize – Collected by Vietnam Fine Arts Museum, Hanoi; 
2009, June: Group exhibition “A moment of Mekong Delta” with artist Chieu Dong at Phuong Mai Gallery, HCMCity.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Du Lotus Au Sapin

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

TƯỞNG NIỆM HOẠ SĨ ĐINH CƯỜNG

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Nhớ Họa Sĩ Đinh Cường. Nụ cười phúc hậu giữa thu vàng

     (Nguyên tác : La tenerezza di un sorriso nell’oro dell’autunno)

                                                                      Bản dịch của Trương Văn Dân

Giọt, từng giọt chậm rãi và lặng lẽ chảy… giọt này nối tiếp giọt kia..

       Tôi nghĩ đến những giây phút bên nhau. Những mảnh quá khứ như đang trở về từ ký ức với một niềm nhớ khôn nguôi.

Khi chúng tôi gặp và biết nhau ở Đà Lạt trời cũng se lạnh, nhưng không có những màu sắc rực rỡ của mùa thu như ở Washington: Giữa tán lá màu xanh sẫm của các cây tùng, cây bách, những chiếc lá phong và những loại dây leo đặc biệt của vùng bắc Mỹ nổi lên một màu đỏ rực. Một thế giới màu sắc từ vàng đến tím, với những cơn gió làm tung bay những chiếc lá khô rụng xuống, lìa cành, xa gốc. 

Những “gamme” màu ấm của mùa thu ngọt ngào làm tôi nhớ đến cái vòng ôm nồng ấm trong niềm vui được gặp lại nhau.

Tôi vừa trải qua một chuyến đi dài, lần đầu đến Mỹ, nhưng điều quan trọng nhất là gặp lại một người bạn vô cùng thân thiết.

Và như thế là ước muốn của tôi đã được thỏa khi bước chân lên thềm nhà của hoạ sĩ Đinh Cường. Một vòng ôm, nhìn thấy nhau thay đổi theo thời gian, duy có nụ cười phúc hậu trên môi anh là không thay đổi; hay đúng hơn, còn nồng ấm hơn vì niềm vui gặp gỡ.

06223456_hinh 2

Đinh Cường – Elena   Ảnh PCH – Virginia, 21.10.2015

Thăm hỏi nhau một lát rồi anh dẫn chúng tôi đi vào phòng tranh. Tôi có cảm giác là mình vừa bước vào bên trong một chiếc hộp kỳ bí: những khung vải  với vài nét vẽ khởi đầu đặt bên những bức tranh vừa hoàn chỉnh, như bức tranh còn đặt trên giá gỗ, cạnh những cây cọ và những hộp sơn. Có những nét vẽ lạnh, màu trắng, xám trộn lẫn với màu xanh dương nhưng cũng có bức vẽ bằng  màu nóng, như đỏ, nâu và vàng. Đó chính là màu của những chiếc lá nhìn qua cửa kính từ mái hiên mở ra khu rừng phía bên ngoài. Trong một thoáng, tôi có cảm giác là mình vừa bước vào một ngôi đền, hay đúng hơn, một ngôi chùa trong đó có vị thiền sư đang diễn tả ơn gọi của mình qua những bức tranh.

Làm bạn với anh là những pho tượng Phật đang nhập định, những quyển sách mà anh đã viết về văn học và nghệ thuật, vài tác phẩm của thiền sư Thích Nhất Hạnh, và nhiều quyển sách dày nói về các danh họa như  Modigliani, Van Gogh. Tôi còn nhìn thấy một bản “Le Petit Prince” của Saint-Exupery  bằng tiếng Pháp.

Những đồ vật chung quanh thường thầm lặng nói về ta, từ sự riêng tư hay hiểu biết sâu sắc về hội họa, về giá trị của lòng tôn kính hay về những mối quan hệ bạn bè thân thiết.. và đó là điều mà tôi cảm nhận rõ ràng khi bước vào phòng tranh của anh. Có những bức hình của những người thân, mẹ anh hay các cháu đang nô đùa. Những bức hình khác là những nụ cười hiền hòa của anh bên cạnh vài người bạn thân thiết trong đời, như cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn với điếu thuốc không thể thiếu giữa hai kẽ tay, Bùi Giáng với đôi mắt tinh anh và sống động đặt bên cạnh khuôn mặt trầm tư của danh họa Picasso.      

Tôi nhìn những khuôn mặt đó và  khám phá ra tất cả đều có nét vui tươi. Đó là những nụ cười thân thiện, hiền hòa và đầy sức sống. Cũng giống như nụ cười phúc hậu mà Đinh Cường đã chào đón tôi và các bạn từ phương xa vừa đến thăm anh.

Elena – Đinh Cường  – Nguyên Minh – Trương Văn Dân

Studio Đinh Cường – Ảnh PCH – Virginia 21.10.2015

06223508_hinh 3

Giọt từng giọt… những giọt nước mắt lặng lẽ chảy dài trên má tôi dù đã cố sức ngăn lại khi nhớ đến hình ảnh cánh tay anh đưa lên vẫy chào để từ giã chúng tôi. Tôi nhìn thấy anh cô độc, đứng một mình ở một góc vắng của trung tâm thương mại; dù thấy anh mỉm cười từ biệt, nhưng tôi chắc là trong tim của tất cả chúng tôi  một nỗi buồn đau về sự chia lìa, ý thức rằng còn rất nhiều thời gian nữa mói có thể gặp lại nhau.

Thời gian xa cách, ngắn hay dài gì đều là một nỗi đau. Nhất là  giữa những con người có một tình thương chân thật.

       Tôi nhớ những câu nói của anh trước khi từ giã. Một đôi câu để cố gượng tìm vui. “Hẹn gặp lại ở Việt Nam sau tết ” nhưng sau đó cũng có câu buồn hơn vài giây trước: “Sáng mai tôi phải đi bệnh viện để làm chemo (hoá trị) và sau đó người mệt mỏi và khó chịu lắm… cần phải nghỉ ngơi một ngày. Còn các bạn lại khởi hành vào ngày mốt nên chắc mình không thể gặp nữa”. Câu này được nói ra vẫn với nụ cười trên môi, nhưng có lẽ hơi gượng gạo và có pha chút buồn đau. Sau đó thì anh mở túi xách và trao cho chúng tôi mấy món quà tiễn hành. Anh lúc nào cũng ân cần và nghĩ đến các bạn, nhưng điều làm tôi xúc động nhất là với tình trạng sức khỏe không tốt lắm mà anh vẫn dành thời gian cho chúng tôi, khi trong lòng anh chắc còn nhiều ưu tư và lo lắng.

Giọt, từng giọt… liều thuốc hóa trị đang nóng bỏng nhỏ vào tĩnh mạch của anh,… rồi những giọt nước mắt liên tục từ hai mắt tôi chảy xuống, lòng còn xúc động hơn khi nhìn thấy những đôi mắt đẫm nước của các bạn đồng hành.

Tôi mong ước làm sao là những giọt nước mắt của chúng tôi bỗng chốc biến thành một thứ nước cam lồ có thể chữa lành để người bạn thiết Đinh Cường có thể tìm lại sự thanh thản và bình an.

Từng giọt, từng giọt nước mắt lăn dài và tôi bám chặt bằng tất cả sức mạnh của mình vào câu nói “ Chúng ta sẽ sớm gặp lại, sau Tết” rồi muốn bước xuống xe, ôm chặt lấy anh thêm một lần nữa, trước khi chiếc xe của nhà báo Nguyễn Minh Nữu mang chúng tôi rời xa anh.

Tôi và các bạn đồng hành sắp xếp hành trang trong niềm u uất. Rất nhiều lần tôi nhớ đến bàn tay của anh Đinh Cường vẫy chào dưới mái hiên của trung tâm thương mại. Đối với tôi, Trương Văn Dân và anh Nguyên Minh thì Tết hãy còn lâu, xa quá!

 Tất cả đã sẵn sàng, chúng tôi dùng cơm trưa ở nhà nhà thơ Phạm Cao Hoàng để có thể từ biệt anh và gia đình, thăm chị Cúc Hoa vợ anh và cháu Thiên Kim. Chỉ còn hơn vài giờ nữa là chúng tôi phải lên phi trường.

       Bất thình lình có một cú điện thoại của bạn Nguyễn Quang:

–       Các anh chờ tôi nhé. Tôi đang đến,

Chúng tôi vui và bất ngờ. Nhưng còn bất ngờ hơn khi Quang nói tiếp:

–       Anh Đinh Cường cũng đang đến nữa!

Thật vô cùng kinh ngạc. Xúc động và vui mừng. Vì chỉ sau một lát anh Đinh Cường đẩy cửa bước vào với nụ cười rạng rỡ. Khuôn mặt anh hơi tái vì gió lạnh.

Sau một vòng ôm thật nhiệt tình, anh đưa cho tôi một chiếc túi giấy:

–       Cái này cho các bạn. Lúc nãy trên đường đến tôi ghé lại Starbucks và có mua một ít bánh mì để các bạn ăn trên máy bay.

Vẫn luôn nghĩ đến chúng tôi, bao nhiêu thương mến anh dành cho Nguyên Minh người bạn từ thuở nào và cho vợ chồng tôi, những người mới quen, nhưng không vì thế mà thiếu thân thiết.

Và chính nhờ cuộc gặp bất ngờ này mà sự chia xa của chúng tôi bớt đi  phần nào buồn bã.

Thêm một vòng ôm nữa, rồi trong chuyến bay đêm, giữa những hàng nước mắt, tôi luôn nhớ đến nụ cười phúc hậu của anh đã làm tôi thật ấm lòng giữa mùa thu lá vàng.

     Với lòng thương yêu lẫn kính trọng, cảm ơn anh Đinh Cường đã luôn giữ chúng tôi trong trái tim nhạy cảm và bao dung của mình.

Elena Pucillo Truong

Sài Gòn, Thang11. 2015

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Nhạc sĩ Anh Bằng

Trong số tất cả những nhạc sĩ Việt Nam thế kỷ 20 và 21 thì nhạc sĩ Anh Bằng có một ảnh hưởng to lớn lên nền âm nhạc Việt Nam. Nhạc của ông gồm nhiều bài phổ thơ các thi sĩ cũng như nhiều bài do chính ông viết lời và bài nào cũng để lại những dấu ấn sâu sắc trong lòng người nghe .

Trong kho tàng đồ sộ các nhạc bản của ông tôi thích nhất là bài Nỗi Lòng Người Đi . Và bài tôi thích thứ nhì là bài Khúc Thuỵ Du . Nhạc sĩ Anh Bằng (1926-12/11/2015) là người đã sáng lập Trung tâm Asia vào năm 1981.

Nhạc sĩ Anh Bằng tên thật Trần An Bường, sinh năm 1926 tại thị tứ Điền Hộ, nay thuộc xã Nga Điền, huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa giáp giới tỉnh Ninh Bình, cách Hà Nội khoảng 100 cây số về phía Nam. Năm 1935 ông xa gia đình để học Tiểu chủng viện Ba Làng tại huyện Tĩnh Gia thuộc tỉnh Thanh Hóa, sau đó ông lại tiếp tục theo học trung học ở Hà Nội. Vì gia đình anh em ông chống Việt Minh, vào thời kỳ Kháng Pháp, ông bị Việt Minh bắt giam ở trại Lý Bá Sơ. Các anh em ông bị tuyên án tử hình nhưng sau được thả, riêng người anh Trần An Lạc bị Việt Minh thủ tiêu. Ông theo gia đình di cư vào Nam năm 1954 và sinh sống ở khu Bà Chiểu, Sài Gòn cho đến năm 1975.

Trong thời kỳ 1954 – 1975, nhạc sĩ Anh Bằng rất nổi tiếng với nhiều tác phẩm sáng tác và phổ nhạc. Các tác phẩm như “Nỗi lòng người đi” (đanh dấu cuộc di cư vào Nam), “Nếu vắng anh” (phổ từ bài thơ “Cần thiết” của nhà thơ Nguyên Sa), “Hoa học trò (Bây giờ còn nhớ hay không)”, “Người thợ săn và đàn chim nhỏ”… đã được các ca sĩ Tuấn Ngọc, Ngọc Lan, Khánh Ly thể hiện rất thành công.

Ông gia nhập Quân lực Việt Nam Cộng hòa năm 1957 ngành Công binh sau chuyển sang Nha Chiến tranh Tâm lý trong Đại đội 2 Văn nghệ đến năm 1962 thì giải ngũ.

Cũng trong thời gian trong quân đội, ông là đạo diễn cùng là diễn viên trong ban kịch Liên đoàn Công binh lưu diễn từ Quảng Trị vào Bình Định. Anh Bằng sáng tác vở kịch Đứa con nuôi. Tác phẩm này đoạt “Giải Văn học Nghệ thuật Toàn quốc” thời Đệ nhất Cộng hòa. Những vở kịch khác do ông soạn tiếp theo nhau ra đời là Hoa Tàn Trên Đất Địch, Lẽ Sống và Nát Tan. Sau khi giải ngũ ông tiếp tục hoạt động trên đài truyền thanh VTVN, phụ trách ban Sóng Mới.

Cũng vào thời gian ở Sài Gòn, ông hợp tác trong nhóm Lê Minh Bằng quản lý nhà xuất bản và hãng đĩa Sóng Nhạc. Quán cà phê Làng Văn nổi tiếng một thời ở Sài Gòn cũng do ông kinh doanh.

Trần Minh Hiền

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Tản Đà và Bài Thơ Vịnh Bức Dư Đồ Rách

NHỚ BÀI THƠ VỊNH BỨC DƯ ĐỒ RÁCH

Tản Đà : tên thật Nguyn Khắc Hiếu, là một nhà thơ, nhà văn và nhà viết kịch nổi tiếng của Việt Nam.  Bút danh Tản Đà của ông là tên ghép giữa núi Tản Viên và sông Đà, quê hương ông.
 

Trong văn đàn Việt Nam đầu thế kỹ 20, Tản Đà nổi lên như một ngôi sao sáng, vừa độc đáo, vừa dồi dào năng lực sáng tác. Ông là một cây bút phóng khoáng, xông xáo trên nhiều lĩnh vực. Đi khắp miền đất nước, ông đã để lại nhiều tác phẩm với nhiều thể loại. Ông đã từng làm chủ bút tạp chí Hữu Thanh, An Nam tạp chí. Với những dòng thơ lãng mạn và ý tưởng ngông nghênh, đậm cá tính, ông được đánh giá là người chuẩn bị cho sự ra đời của thơ mới trong nền văn học Việt Nam, là “gạch nối giữa hai thời kỳ văn học cổ điển và hiện đại”.

Ngoài sáng tác thơ, Tản Đà còn giỏi trong việc dịch thơ Đường thành thơ lục bát và được biết đến như một người dịch thơ Đường ra ngôn ngữ Việt hay nhất.

Sau khi đánh chiếm Hà thành, Tổng Đốc Hoàng Diệu tuẫn tiết, thực dân Pháp bắt đầu thực hiện chính sách chia để trị: Chia Việt Nam thành 3 Kỳ: Bắc Kỳ – Trung Kỳ và Nam Kỳ.
Bắc và Trung Kỳ được giao cho triều đình nhà Nguyễn quản lý, thực chất Pháp gían tiếp cai quản, vua nào lên, vua nào phế đều do Pháp quyết định.
Còn Nam Kỳ, Pháp thiết lập chế độ thuộc địa, Toàn quyền Đông Dương trực tiếp cai trị.
Tấm bản đồ (dư đồ), thể hiện chủ quyền lãnh thổ của mỗi quốc gia, của Việt Nam lúc này chỉ còn tượng trưng vì còn trên thực tế đã “rách’’ . Thực dân Pháp câu kết cùng phong kiến tạo cát cứ tựng vùng, vơ vét tài vật, chiếm hữu ruộng vươn, đè đầu cưỡi cổ dân đen…

Cám cảnh, Tản Đà làm bài thơ diễn tả tâm trạng mình :

Vịnh Bức Dư Đồ Rách
Nọ bức dư đồ thử đứng coi,
Sông sông núi núi khéo bia cười.
Biết bao lúc mới công vờn vẽ,
Sao đến bây giờ rách tả tơi.
Ấy trước ông cha mua để lại,
Mà sau con cháu lấy làm chơi.
Thôi thôi có trách chi đàn trẻ,
Thôi để rồi ta sẽ liệu bồi.

Sau này, cảm khái hồn thơ, nhiều thi sĩ đã họa lại

Thôi để rồi ta sẽ liệu bồi
Ta bồi cho chúng chị em coi
Giận cho con chắu đà hư thế
Nghĩ đến ông cha dám bỏ hoài.
Còn núi còn sông: Nhìn vẫn rõ
Có hồ có giấy dễ mà chơi.
Bởi chưng hồ giấy ta chưa có
Đành chịu ngồi trông rách tả tơi.

Đành chịu ngồi trông rách tả tơi
Buồn chăng? Hỡi các chị em ơi!
Nghĩ cho lúc trước thương người vẽ
Ngó lại xung quanh hiếm kẻ bồi
Hồ giấy bây giờ mua kiếm khó
Non sông ai hỡi đợi chờ ai?
Còn núi còn sông còn ta đó
Có lúc ta bồi chúng bạn coi.

Có lúc ta bồi chúng bạn coi
Chị em nay hãy tạm tin lời
Dẫu cho tài có cao là thánh
Chưa dễ tay không vá nổi trời
Hồ giấy muốn mua, tiền chẳng sẵn
Non sông đứng ngắm lệ nhường rơi
Việc nhà chung cả ai ai đó
Ai có cùng ta sẽ liệu bồi?

Và gần đây có Bùi Minh Quốc và NTD

Dư đồ mục nát nghĩ mà đau
Biển thắm rừng xanh đã nhạt màu
Giấy rã khung sờn tuôn lệ thảm
Ranh dời đảo mất hận lòng sâu
Còn chưa giữ được trời Đông, Bắc
Sẽ chẳng nhìn ra nước Việt, Tàu
Tất cả không còn do lũ mọt
Dư đồ mục nát nghĩ mà đau
NTD

Tái thế nay ngồi núi Tản coi
Nước non thành cỗ chúng say cười
Quốc doanh đầy tớ chen nhau cuốc
Sưu dịch chủ làm chủ áo tơi
Ải Bắc lìa đau hồn tổ phụ
Biển Đông cắt nhẹm cháu con chơi
Ứa gan mà ngó bao hèn sĩ
Nhắm mắt đang đua múa bút bồi .
Bùi Minh Quốc

Sáu Không Sưu Tầm

 

 

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Vũ Hoàng Chương: Từ Cảm Thức Khổ Lụy Đến Mộng Tưởng Niết Bàn Trong Bài Thơ “Nguyện Cầu”

KMVN: Hôm nay,  6 tháng 9 2015, là ngày giỗ của cố thi sĩ Vũ Hoàng Chương. KMVN xin trân trọng giới thiệu đến các bạn một bài viết rất hay của Đào Ngọc Phong về bài thơ “Nguyện Cầu” một tuyệt tác của người. Xin mời các bạn thưởng thức nhé.

“Nguyện Cầu” thơ Vũ Hoàng Chương, phổ nhạc Vũ Hoàng Tuân & Trần Hoàng, ca sĩ Bích Hiền

VHC
Chân dung Vũ Hoàng Chương do Tạ Tỵ vẽ.

“Ta còn để lại gì không?”

Khi thi sĩ dùng chữ “ta” mà không dùng chữ “tôi” thì đã hàm ý tôi và mọi người khác có chung cảm nghĩ: chúng ta sở hữu cái gì trong đời? một thân thể, một linh hồn, một gia đình, một tài sản, một danh tiếng, một tổ quốc? cái “ta” hẳn phải là một cái gì khác vật chất, là một chủ thể đối diện và đối nghịch với khách thể, cái “không ta”. Cái khách thể đó còn hay mất đều tác động đến tâm của ta.

Ta hãnh diện, kiêu ngạo vui sướng vì sở hữu được nó, ta đau buồn, thất vọng, uất ức,xấu hổ vì mất nó. Một người yêu phản bội, một đứa con bỏ nhà đi, một tài sản bị tịch thâu, một danh tiếng bị bôi bẩn, một tổ quốc bị xâm lăng…. Đúng là cả đời sống của ta lệ thuộc vào cái ta sở hữu. Nhiều trường hợp cái ta chủ thể trở thành nô lệ cho cái vật ta sở hữu, như một người thấy căn nhà mình cháy lao vào biển lửa chỉ để tìm cho được túi vàng cất trong tủ khóa kỹ, chưa lấy được vàng thì thân mình đã bị thiêu thành tro.

Nhà Phật dùng từ ngữ “Ngã, Ngã sở” để diễn tả cái ta và cái “ta có” gắn liền với nhau không rời. Một đời lao khổ, ta đã có được cái gì, đã mất mát cái gì, đã mất bao nhiêu lần cái ta sở hữu? Câu hỏi của thi sĩ tự đặt cho chính mình, và cho chúng ta.

“Kìa non đá lở này sông cát bồi”

Cái ta có hôm nay giờ phút này thì mai đã mất: tình yêu, danh vọng, của cải, may là còn thân ta để mà phiền não, rên siết, oán trách. Thái độ thường là tiêu cực: chửi đời, oán người, trách trời mà ít khi thấy tự trách mình. Nhà Phật dùng từ ngữ “vô thường” để diễn tả cảnh bể dâu biến đổi.

“Lang thang từ độ luân hồi”

Thi sĩ nhìn bằng tâm trí để thấy hành trình của cái “ta từ thuở vô thủy vô chung nào mang nhiều tướng khác nhau. Nhà Phật gọi những tướng hay những thân khác nhau mà ta khoác vào là những dạng chúng sinh ở vào những cảnh giới khác nhau xoay vần mãi không thoát ra được. Lang thang, vì không có nhà nhất định để cư ngụ lâu dài, vì trải qua những kiếp súc sinh, những kiếp người mà muôn người muôn phận khác nhau. Cụm từ “từ độ luân hồi” bao hàm ý trước độ luân hồi thì ta không lang thang, nghĩa là ta an trụ ở một tâm cảnh lặng lẽ sáng suốt bình yên.

“U minh nẻo trước, xa xôi dặm về”

Ta giống như kẻ lạc đường, giữa hai ngả không biết đi ngả nào. Nhìn phía tây thì tối đen, nhìn phía đông thì heo hút. Thi sĩ dùng chữ “dặm về” để tượng trưng cho cái gì? Về quê, về nhà mình xưa kia, hay về quán trọ? Tâm ta tan nát là hiện trạng của cảnh đời, ước mong tìm lại cái tâm an bình hồn nhiên. Nhà Phật dùng từ ngữ “vọng tưởng” và “chân tâm” để chỉ hai ngả đường mà ta phải quyết định lựa chọn. Kinh Thủ Lăng Nghiêm mô tả cái thế lưỡng nan của con người có ý thức về thân phận mình. Tâm ta mà để cho “phan duyên”, tức là rong ruổi đuổi theo sáu trần cảnh sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp thì càng đuổi theo càng lạc, càng xa dặm về tính giác bản nhiên, thế mà đời sống thực sự là phải xoay mình theo sáu trần để sống còn.

“Trông ra bến hoặc bờ mê”

Nhà Phật cho nhận thức của con người về ngoại giới qua năm căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân là thức sai lầm, kinh điển gọi là kiến hoặc, bởi vì cấu tạo mắt của con người chẳng hạn khác với mắt của loài cú, loài cá, loài rắn nên cùng một đối tượng mà mỗi loài nhận thức khác; mỗi loài tùy chánh báo của thân xác mình mà tranh đấu sinh tồn trong y báo là hoàn cảnh sống. Như cấu tạo mắt của con người cần có ánh sáng mặt trời hay đèn đuốc thì mới nhìn thấy sự vật, nhưng mắt con cú không cần ánh sáng vẫn thấy rõ sự vật.

Còn nội giới là tâm cảnh tạo thành bởi những ảnh tượng ký ức, những kinh nghiệm sống tích lũy. Nội giới đó trôi chảy miên man không lúc nào dừng tạo thành những cảm nghĩ triền miên không lấy đâu làm bến bờ chân thực, nhà Phật gọi là tư hoặc.

Thi sĩ đã phản tỉnh về bờ mê bến hoặc mà tâm con người chìm đắm, không biết đâu là đường giải thoát.

“Nghìn thu nửa chớp bốn bề một phương”

Không đến một, mà chỉ nửa cái chớp mắt thì một ngàn năm đã qua đi, huống hồ 80 năm đời người. Đó là chiều thời gian. Còn không gian thì sao? Tưởng như đông, tây, nam,bắc mà hầu như chỉ có một vị trí là cái thân trơ trọi giữa cái bao la của trời đất. Câu thơ này làm toát lên cái heo hút mỏng manh cô quạnh của thân phận con người.

“Ta van cát bụi bên đường
Dù nhơ dù sạch đừng vương gót này”

Gót chân thi sĩ đã nhuốm bao nhiêu cát bụi đường đời, nhưng hai câu thơ này hàm ý cái tâm của ta vốn dĩ là lặng lẽ nhưng đã trở nên náo động, vốn dĩ là sáng suốt nhưng đã trở nên mờ tối, vốn dĩ là vô tận vô biên mà đã trở nên hạn hẹp, vốn dĩ là sáng tạo mà đã trở nên cùn nhụt, vốn dĩ là từ bi hỷ xả mà đã trở nên hung ác, ti tiện, chấp nhất. Vì bụi gì bám vào? bụi nghiệp, bụi niệm, bụi vô minh. Nhà Phật thường nói “Một niệm bất giác..ô trược nổi lên”. Kinh Thủ Lăng Nghiêm nói về ngũ trược làm mờ đục chân tâm.

Thi sĩ đã mường tượng thấy cái nghiệp dù thiện hay bất thiện đều làm tâm tính bản nhiên mờ tối. Thi sĩ đã cảm thấy cái ta cần vượt qua thiện ác mới trở về được tính giác uyên nguyên.

“Để ta tròn một kiếp say
Cao xanh liều một cánh tay níu trời”

Nhưng thi sĩ cảm thấy bất lực nên mới “van xin” cái xấu đừng xẩy ra. Thi sĩ lâm vào một tâm thức đau khổ (unhappy consciousness) vì thấy mình treo lơ lửng giữa ý hướng vươn tới cái vô hạn và cái thực tế kiếp mệnh hữu hạn, giữa ước vọng giải thoát và thực tế đắm chìm trong luân hồi. Cảm thức bất lực vì khổ lụy nặng nề khiến thi sĩ muốn tìm quên trong men rượu, vì chỉ trong lúc say mới dám liều nhảy ra khỏi vòng vây của trùng trùng duyên nghiệp bao đời bao kiếp.

“Nói chi thua được với đời
Sá chi những tiếng ma cười đêm sâu”

Cái ngã ẻo lả của thi nhân làm sao chống chọi được những cái ngã hung bạo chung quanh? Cuộc tranh đua chủ-nô sinh tử giữa chợ đời đẩy thi nhân vào men say, vào thơ ca vô vọng.

Nhưng loài ma ti tiện cười trên sự im lặng của thi nhân. Nếu làm ngơ coi như không có thì giống ma ganh ghét tỵ hiềm lại càng dồn thi nhân vào chỗ bế tắc, là nhà tù, là cái chết. Mỉa mai thay, giống ma này lại hiện thân cũng là những “nhà thơ” tự nguyện trở thành những đao phủ.

“Tâm hương đốt nén linh sầu”

Nhà Phật nói đến năm thứ tâm hương mà người tu theo Phật cần “thắp” từng giây từng phút: giới hương, định hương, tuệ hương, giải thoát hương, giải thoát tri kiến hương. Vậy là trái hẳn với những bó nhang làm bằng bột gỗ mà người ta đốt nghi ngút trong chùa để cầu danh cầu lợi, cầu phước. Thi nhân hiểu đạo Phật sâu xa nên dùng từ ngữ “tâm hương”. Tuy nhiên đã đốt tâm hương thì sao còn có sầu muộn trong đó được, dù tình sầu của thi sĩ có cao quý linh thiêng thế nào đi nữa.

Hay có lẽ thi sĩ thấy mối “linh sầu” trong thâm tâm mình bí nhiệm quá vượt qua những sầu muộn đời thường. Có lẽ mối linh sầu chỉ nảy sinh vào lúc “: một niệm bất giác làm cái tròn đầy nguyên thủy bắt đầu rạn nứt thành hai”, cái giây phút “thái cực sinh lưỡng nghi”, cái giây phút rạn nứt “cái bất nhị” mở đầu cho kiếp trược kéo theo một chuỗi luân hồi đầy ắp phiền não. Cảm thức của thi sĩ thâm trầm cao viễn quá.

“Nhớ quê dằng dặc ta cầu đó thôi”

Thi nhân mơ hồ nhìn thấy một quê hương để người giang hồ lữ thứ nhớ nhung và tìm đường về. Đó không phải là quê hương “địa lý” như trong ca khúc “Hương Xưa” của nhạc sĩ Cung Tiến. Đây là quê hương tâm linh tức là tính giác thường trụ sáng suốt lặng yên đối với cái tâm tan nát phân tán thành sáu thức bị sáu cảnh trần lôi kéo. Giống như mặt trăng trong thau nước lặng yên thì tròn đầy sáng láng lặng yên. Khi quậy thau nước thì mặt trăng tan nát loạn động, vỡ ra trăm nghìn mảnh sáng lăng quăng. Từ nỗi buồn ta mơ về niềm vui, từ niềm vui trần thế mau tàn ta mơ về niềm vui vĩnh cửu, từ cái vui trong náo động ta mơ về cảnh vui trong yên lặng. Cảnh vui giữa bàn tiệc rượu, giữa tiếng nhạc kích động của vũ trường không thể so sánh được với cảnh vui trong thiền định.

“Đêm nào ta trở về ngôi”

Nhà Phật nói về ba ngôi tam bảo Phật Pháp Tăng, là Tính Giác uyên nguyên diệu minh nằm ngay trong mổi con người, là Trí Bát Nhã phá những tà kiến, là thân tâm trong sạch mà mỗi chúng sinh cần tu luyện để “trở về nương tựa”. Sự trở về đâu phải chỉ vào ban đêm? Nhưng thi nhân vẫn còn trong mơ mộng nên coi ban đêm là thời điểm thich hợp cho tâm quay về hơn là ban ngày. Có thể thi sĩ dùng chữ “đêm” để ngụ ý sự tĩnh mịch là thuận duyên cho tâm giác ngộ.

“Hồn thơ sẽ hết luân hồi thế gian”

Khi đã nhập vào ngôi Tam Bảo thì hồn thơ sẽ không còn vướng lụy vào những cảnh đời ô trược, những vũ trường điên đảo bóng giai nhân, những biến động lịch sử xã hội làm đổ vỡ những gia đình, những cuộc chiến tranh làm tan nát tình yêu, làm thui chột tuổi thanh xuân.

“Một khi đã nín cung đàn”
Nghĩ chi còn mất hơi tàn âm thanh”

Tay ta không bấm dây đàn thì âm thanh làm sao nổi lên được. Câu thơ này là biểu tượng thật sâu của Phật pháp. Nếu tâm ta không phan duyên vướng vào sáu trần cảnh: sắc, thanh, hương, vị xúc, pháp thì tâm làm sao có thể lạc vào sai lầm được. Chính sáu căn mắt, tai, mũi lưỡi, thân, ý duyên theo sáu trần mà ta đánh mất chân tâm hay, nói theo Kinh Thủ Lăng Nghiêm, sáu căn làm mai mối cho giặc vào cướp mất của báu trong nhà là tâm tính bản nguyên thường trụ, yên lặng, sáng suốt, tức là tính vô lượng quang, vô lượng thọ của chân tâm.

Mười tám câu thơ của thi sĩ Vũ Hoàng Chương quyện lại chỉ còn một ý, là bi kịch của con người đứng giữa hai ngã: khổ lụy trần ai với đầy cám dỗ của trần cảnh và ước mơ Niết bàn giải thoát, bi kịch của người bị lún vào vũng bùn, càng cố nhoi lên thì càng bị níu xuống.

Nhưng ý thức về bi kịch là mở đầu cho bước trở về.

Thử đối chiếu câu thơ “Nhớ quê dằng dặc ta cầu đó thôi” với bài kệ trích trong tác phẩm “Khóa Hư Lục” của Vua Trần Thái Tông (1218-1277):

Lưỡi vướng vị ngon, tai vướng tiếng
Mắt theo hình sắc, mũi theo hương
Lênh đênh làm khách phong trần mãi
Ngày hết quê xa vạn dặm đường

Tâm cứ phan duyên vào trần cảnh mãi không dừng thì càng xa tính giác uyên nguyên lặng lẽ, thường còn, sáng láng đối nghịch với cái náo động, tàn lụi, tối tăm của vọng tâm.

Trong tác phẩm “Việt Nam Phật Giáo Sử Luận”, trong mục “Nhu Yếu Tỉnh Thức của Chương X viết về Vua Trần Thái Tông, tác giả Nguyễn Lang đã viết về tư tuỏng nhà vua như sau: “Toàn bộ sáng tác của Thái Tông mang tính chất nhu yếu của một tâm hồn muốn luôn luôn tự đánh thức mình dậy trong cuộc đời, không để rơi vào tình trạng sống say chêt mộng… Vua muốn vươn tới và tự nhủ đang tự đánh mất mình trong những thế giới hình sắc, thanh âm, hương vị và cảm xúc của hưởng thụ”

Nhưng tính giác đó ở ngay trong tâm mình thì sao gọi là “xa dằng dặc”, “xa vạn dặm”?

Bởi vì từ vọng tâm đến chân tâm có tới mười đại dương ngăn trở mà Kinh Thủ Lăng Nghiêm gọi là Mười Tập Nhân hay Mười Thói Quen kết thành khối từ bao kiếp. Đó là thói quen dâm dục, thói quen tham lam, thói quen ngã mạn, thói quen nóng gận, thói quen giả dối, thói quen lừa gạt, thói quen thù oán, thói quen ác kiến hay tranh cãi, thói quen vu vạ, thói quen kiện thưa. Mười tập nhân đó là mười đại dương phải bơi qua, mười dãy núi phải trèo qua, mười bãi sa mạc phải băng qua.

Thi sĩ mất ngày mùng 6 tháng 9 năm 1976, đến nay là giỗ thứ 39 của ông. Chúng tôi mạo muội viết vài trang, tưởng như đang “đốt nén linh sầu” để tưởng niệm thi sĩ. Về mặt tuổi đời, thi sĩ ngang tuổi với thân phụ của chúng tôi; về mặt học hành, thi sĩ ngang với các vị thầy của chúng tôi thời trung học như thầy Vũ Khăc Khoan. Thi sĩ đã từng dậy Ban C Văn Chương ở trường trung học Chu Văn An Sài Gòn những năm 1957-1960. Nếu có những điều gì trong bài viết không đúng với ý thầy mà thầy muốn gởi gấm qua bài thơ “Nguyện Cầu”, thì xin thầy cứ coi đây là một bài tập làm văn của học trò.

Đào Ngọc Phong

Westminster, CA mùng 6 tháng 9 năm 2015

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin