Category Archives: TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM

Vũ Hoàng Chương: Từ Cảm Thức Khổ Lụy Đến Mộng Tưởng Niết Bàn Trong Bài Thơ “Nguyện Cầu”

KMVN: Hôm nay,  6 tháng 9 2015, là ngày giỗ của cố thi sĩ Vũ Hoàng Chương. KMVN xin trân trọng giới thiệu đến các bạn một bài viết rất hay của Đào Ngọc Phong về bài thơ “Nguyện Cầu” một tuyệt tác của người. Xin mời các bạn thưởng thức nhé.

“Nguyện Cầu” thơ Vũ Hoàng Chương, phổ nhạc Vũ Hoàng Tuân & Trần Hoàng, ca sĩ Bích Hiền

VHC
Chân dung Vũ Hoàng Chương do Tạ Tỵ vẽ.

“Ta còn để lại gì không?”

Khi thi sĩ dùng chữ “ta” mà không dùng chữ “tôi” thì đã hàm ý tôi và mọi người khác có chung cảm nghĩ: chúng ta sở hữu cái gì trong đời? một thân thể, một linh hồn, một gia đình, một tài sản, một danh tiếng, một tổ quốc? cái “ta” hẳn phải là một cái gì khác vật chất, là một chủ thể đối diện và đối nghịch với khách thể, cái “không ta”. Cái khách thể đó còn hay mất đều tác động đến tâm của ta.

Ta hãnh diện, kiêu ngạo vui sướng vì sở hữu được nó, ta đau buồn, thất vọng, uất ức,xấu hổ vì mất nó. Một người yêu phản bội, một đứa con bỏ nhà đi, một tài sản bị tịch thâu, một danh tiếng bị bôi bẩn, một tổ quốc bị xâm lăng…. Đúng là cả đời sống của ta lệ thuộc vào cái ta sở hữu. Nhiều trường hợp cái ta chủ thể trở thành nô lệ cho cái vật ta sở hữu, như một người thấy căn nhà mình cháy lao vào biển lửa chỉ để tìm cho được túi vàng cất trong tủ khóa kỹ, chưa lấy được vàng thì thân mình đã bị thiêu thành tro.

Nhà Phật dùng từ ngữ “Ngã, Ngã sở” để diễn tả cái ta và cái “ta có” gắn liền với nhau không rời. Một đời lao khổ, ta đã có được cái gì, đã mất mát cái gì, đã mất bao nhiêu lần cái ta sở hữu? Câu hỏi của thi sĩ tự đặt cho chính mình, và cho chúng ta.

“Kìa non đá lở này sông cát bồi”

Cái ta có hôm nay giờ phút này thì mai đã mất: tình yêu, danh vọng, của cải, may là còn thân ta để mà phiền não, rên siết, oán trách. Thái độ thường là tiêu cực: chửi đời, oán người, trách trời mà ít khi thấy tự trách mình. Nhà Phật dùng từ ngữ “vô thường” để diễn tả cảnh bể dâu biến đổi.

“Lang thang từ độ luân hồi”

Thi sĩ nhìn bằng tâm trí để thấy hành trình của cái “ta từ thuở vô thủy vô chung nào mang nhiều tướng khác nhau. Nhà Phật gọi những tướng hay những thân khác nhau mà ta khoác vào là những dạng chúng sinh ở vào những cảnh giới khác nhau xoay vần mãi không thoát ra được. Lang thang, vì không có nhà nhất định để cư ngụ lâu dài, vì trải qua những kiếp súc sinh, những kiếp người mà muôn người muôn phận khác nhau. Cụm từ “từ độ luân hồi” bao hàm ý trước độ luân hồi thì ta không lang thang, nghĩa là ta an trụ ở một tâm cảnh lặng lẽ sáng suốt bình yên.

“U minh nẻo trước, xa xôi dặm về”

Ta giống như kẻ lạc đường, giữa hai ngả không biết đi ngả nào. Nhìn phía tây thì tối đen, nhìn phía đông thì heo hút. Thi sĩ dùng chữ “dặm về” để tượng trưng cho cái gì? Về quê, về nhà mình xưa kia, hay về quán trọ? Tâm ta tan nát là hiện trạng của cảnh đời, ước mong tìm lại cái tâm an bình hồn nhiên. Nhà Phật dùng từ ngữ “vọng tưởng” và “chân tâm” để chỉ hai ngả đường mà ta phải quyết định lựa chọn. Kinh Thủ Lăng Nghiêm mô tả cái thế lưỡng nan của con người có ý thức về thân phận mình. Tâm ta mà để cho “phan duyên”, tức là rong ruổi đuổi theo sáu trần cảnh sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp thì càng đuổi theo càng lạc, càng xa dặm về tính giác bản nhiên, thế mà đời sống thực sự là phải xoay mình theo sáu trần để sống còn.

“Trông ra bến hoặc bờ mê”

Nhà Phật cho nhận thức của con người về ngoại giới qua năm căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân là thức sai lầm, kinh điển gọi là kiến hoặc, bởi vì cấu tạo mắt của con người chẳng hạn khác với mắt của loài cú, loài cá, loài rắn nên cùng một đối tượng mà mỗi loài nhận thức khác; mỗi loài tùy chánh báo của thân xác mình mà tranh đấu sinh tồn trong y báo là hoàn cảnh sống. Như cấu tạo mắt của con người cần có ánh sáng mặt trời hay đèn đuốc thì mới nhìn thấy sự vật, nhưng mắt con cú không cần ánh sáng vẫn thấy rõ sự vật.

Còn nội giới là tâm cảnh tạo thành bởi những ảnh tượng ký ức, những kinh nghiệm sống tích lũy. Nội giới đó trôi chảy miên man không lúc nào dừng tạo thành những cảm nghĩ triền miên không lấy đâu làm bến bờ chân thực, nhà Phật gọi là tư hoặc.

Thi sĩ đã phản tỉnh về bờ mê bến hoặc mà tâm con người chìm đắm, không biết đâu là đường giải thoát.

“Nghìn thu nửa chớp bốn bề một phương”

Không đến một, mà chỉ nửa cái chớp mắt thì một ngàn năm đã qua đi, huống hồ 80 năm đời người. Đó là chiều thời gian. Còn không gian thì sao? Tưởng như đông, tây, nam,bắc mà hầu như chỉ có một vị trí là cái thân trơ trọi giữa cái bao la của trời đất. Câu thơ này làm toát lên cái heo hút mỏng manh cô quạnh của thân phận con người.

“Ta van cát bụi bên đường
Dù nhơ dù sạch đừng vương gót này”

Gót chân thi sĩ đã nhuốm bao nhiêu cát bụi đường đời, nhưng hai câu thơ này hàm ý cái tâm của ta vốn dĩ là lặng lẽ nhưng đã trở nên náo động, vốn dĩ là sáng suốt nhưng đã trở nên mờ tối, vốn dĩ là vô tận vô biên mà đã trở nên hạn hẹp, vốn dĩ là sáng tạo mà đã trở nên cùn nhụt, vốn dĩ là từ bi hỷ xả mà đã trở nên hung ác, ti tiện, chấp nhất. Vì bụi gì bám vào? bụi nghiệp, bụi niệm, bụi vô minh. Nhà Phật thường nói “Một niệm bất giác..ô trược nổi lên”. Kinh Thủ Lăng Nghiêm nói về ngũ trược làm mờ đục chân tâm.

Thi sĩ đã mường tượng thấy cái nghiệp dù thiện hay bất thiện đều làm tâm tính bản nhiên mờ tối. Thi sĩ đã cảm thấy cái ta cần vượt qua thiện ác mới trở về được tính giác uyên nguyên.

“Để ta tròn một kiếp say
Cao xanh liều một cánh tay níu trời”

Nhưng thi sĩ cảm thấy bất lực nên mới “van xin” cái xấu đừng xẩy ra. Thi sĩ lâm vào một tâm thức đau khổ (unhappy consciousness) vì thấy mình treo lơ lửng giữa ý hướng vươn tới cái vô hạn và cái thực tế kiếp mệnh hữu hạn, giữa ước vọng giải thoát và thực tế đắm chìm trong luân hồi. Cảm thức bất lực vì khổ lụy nặng nề khiến thi sĩ muốn tìm quên trong men rượu, vì chỉ trong lúc say mới dám liều nhảy ra khỏi vòng vây của trùng trùng duyên nghiệp bao đời bao kiếp.

“Nói chi thua được với đời
Sá chi những tiếng ma cười đêm sâu”

Cái ngã ẻo lả của thi nhân làm sao chống chọi được những cái ngã hung bạo chung quanh? Cuộc tranh đua chủ-nô sinh tử giữa chợ đời đẩy thi nhân vào men say, vào thơ ca vô vọng.

Nhưng loài ma ti tiện cười trên sự im lặng của thi nhân. Nếu làm ngơ coi như không có thì giống ma ganh ghét tỵ hiềm lại càng dồn thi nhân vào chỗ bế tắc, là nhà tù, là cái chết. Mỉa mai thay, giống ma này lại hiện thân cũng là những “nhà thơ” tự nguyện trở thành những đao phủ.

“Tâm hương đốt nén linh sầu”

Nhà Phật nói đến năm thứ tâm hương mà người tu theo Phật cần “thắp” từng giây từng phút: giới hương, định hương, tuệ hương, giải thoát hương, giải thoát tri kiến hương. Vậy là trái hẳn với những bó nhang làm bằng bột gỗ mà người ta đốt nghi ngút trong chùa để cầu danh cầu lợi, cầu phước. Thi nhân hiểu đạo Phật sâu xa nên dùng từ ngữ “tâm hương”. Tuy nhiên đã đốt tâm hương thì sao còn có sầu muộn trong đó được, dù tình sầu của thi sĩ có cao quý linh thiêng thế nào đi nữa.

Hay có lẽ thi sĩ thấy mối “linh sầu” trong thâm tâm mình bí nhiệm quá vượt qua những sầu muộn đời thường. Có lẽ mối linh sầu chỉ nảy sinh vào lúc “: một niệm bất giác làm cái tròn đầy nguyên thủy bắt đầu rạn nứt thành hai”, cái giây phút “thái cực sinh lưỡng nghi”, cái giây phút rạn nứt “cái bất nhị” mở đầu cho kiếp trược kéo theo một chuỗi luân hồi đầy ắp phiền não. Cảm thức của thi sĩ thâm trầm cao viễn quá.

“Nhớ quê dằng dặc ta cầu đó thôi”

Thi nhân mơ hồ nhìn thấy một quê hương để người giang hồ lữ thứ nhớ nhung và tìm đường về. Đó không phải là quê hương “địa lý” như trong ca khúc “Hương Xưa” của nhạc sĩ Cung Tiến. Đây là quê hương tâm linh tức là tính giác thường trụ sáng suốt lặng yên đối với cái tâm tan nát phân tán thành sáu thức bị sáu cảnh trần lôi kéo. Giống như mặt trăng trong thau nước lặng yên thì tròn đầy sáng láng lặng yên. Khi quậy thau nước thì mặt trăng tan nát loạn động, vỡ ra trăm nghìn mảnh sáng lăng quăng. Từ nỗi buồn ta mơ về niềm vui, từ niềm vui trần thế mau tàn ta mơ về niềm vui vĩnh cửu, từ cái vui trong náo động ta mơ về cảnh vui trong yên lặng. Cảnh vui giữa bàn tiệc rượu, giữa tiếng nhạc kích động của vũ trường không thể so sánh được với cảnh vui trong thiền định.

“Đêm nào ta trở về ngôi”

Nhà Phật nói về ba ngôi tam bảo Phật Pháp Tăng, là Tính Giác uyên nguyên diệu minh nằm ngay trong mổi con người, là Trí Bát Nhã phá những tà kiến, là thân tâm trong sạch mà mỗi chúng sinh cần tu luyện để “trở về nương tựa”. Sự trở về đâu phải chỉ vào ban đêm? Nhưng thi nhân vẫn còn trong mơ mộng nên coi ban đêm là thời điểm thich hợp cho tâm quay về hơn là ban ngày. Có thể thi sĩ dùng chữ “đêm” để ngụ ý sự tĩnh mịch là thuận duyên cho tâm giác ngộ.

“Hồn thơ sẽ hết luân hồi thế gian”

Khi đã nhập vào ngôi Tam Bảo thì hồn thơ sẽ không còn vướng lụy vào những cảnh đời ô trược, những vũ trường điên đảo bóng giai nhân, những biến động lịch sử xã hội làm đổ vỡ những gia đình, những cuộc chiến tranh làm tan nát tình yêu, làm thui chột tuổi thanh xuân.

“Một khi đã nín cung đàn”
Nghĩ chi còn mất hơi tàn âm thanh”

Tay ta không bấm dây đàn thì âm thanh làm sao nổi lên được. Câu thơ này là biểu tượng thật sâu của Phật pháp. Nếu tâm ta không phan duyên vướng vào sáu trần cảnh: sắc, thanh, hương, vị xúc, pháp thì tâm làm sao có thể lạc vào sai lầm được. Chính sáu căn mắt, tai, mũi lưỡi, thân, ý duyên theo sáu trần mà ta đánh mất chân tâm hay, nói theo Kinh Thủ Lăng Nghiêm, sáu căn làm mai mối cho giặc vào cướp mất của báu trong nhà là tâm tính bản nguyên thường trụ, yên lặng, sáng suốt, tức là tính vô lượng quang, vô lượng thọ của chân tâm.

Mười tám câu thơ của thi sĩ Vũ Hoàng Chương quyện lại chỉ còn một ý, là bi kịch của con người đứng giữa hai ngã: khổ lụy trần ai với đầy cám dỗ của trần cảnh và ước mơ Niết bàn giải thoát, bi kịch của người bị lún vào vũng bùn, càng cố nhoi lên thì càng bị níu xuống.

Nhưng ý thức về bi kịch là mở đầu cho bước trở về.

Thử đối chiếu câu thơ “Nhớ quê dằng dặc ta cầu đó thôi” với bài kệ trích trong tác phẩm “Khóa Hư Lục” của Vua Trần Thái Tông (1218-1277):

Lưỡi vướng vị ngon, tai vướng tiếng
Mắt theo hình sắc, mũi theo hương
Lênh đênh làm khách phong trần mãi
Ngày hết quê xa vạn dặm đường

Tâm cứ phan duyên vào trần cảnh mãi không dừng thì càng xa tính giác uyên nguyên lặng lẽ, thường còn, sáng láng đối nghịch với cái náo động, tàn lụi, tối tăm của vọng tâm.

Trong tác phẩm “Việt Nam Phật Giáo Sử Luận”, trong mục “Nhu Yếu Tỉnh Thức của Chương X viết về Vua Trần Thái Tông, tác giả Nguyễn Lang đã viết về tư tuỏng nhà vua như sau: “Toàn bộ sáng tác của Thái Tông mang tính chất nhu yếu của một tâm hồn muốn luôn luôn tự đánh thức mình dậy trong cuộc đời, không để rơi vào tình trạng sống say chêt mộng… Vua muốn vươn tới và tự nhủ đang tự đánh mất mình trong những thế giới hình sắc, thanh âm, hương vị và cảm xúc của hưởng thụ”

Nhưng tính giác đó ở ngay trong tâm mình thì sao gọi là “xa dằng dặc”, “xa vạn dặm”?

Bởi vì từ vọng tâm đến chân tâm có tới mười đại dương ngăn trở mà Kinh Thủ Lăng Nghiêm gọi là Mười Tập Nhân hay Mười Thói Quen kết thành khối từ bao kiếp. Đó là thói quen dâm dục, thói quen tham lam, thói quen ngã mạn, thói quen nóng gận, thói quen giả dối, thói quen lừa gạt, thói quen thù oán, thói quen ác kiến hay tranh cãi, thói quen vu vạ, thói quen kiện thưa. Mười tập nhân đó là mười đại dương phải bơi qua, mười dãy núi phải trèo qua, mười bãi sa mạc phải băng qua.

Thi sĩ mất ngày mùng 6 tháng 9 năm 1976, đến nay là giỗ thứ 39 của ông. Chúng tôi mạo muội viết vài trang, tưởng như đang “đốt nén linh sầu” để tưởng niệm thi sĩ. Về mặt tuổi đời, thi sĩ ngang tuổi với thân phụ của chúng tôi; về mặt học hành, thi sĩ ngang với các vị thầy của chúng tôi thời trung học như thầy Vũ Khăc Khoan. Thi sĩ đã từng dậy Ban C Văn Chương ở trường trung học Chu Văn An Sài Gòn những năm 1957-1960. Nếu có những điều gì trong bài viết không đúng với ý thầy mà thầy muốn gởi gấm qua bài thơ “Nguyện Cầu”, thì xin thầy cứ coi đây là một bài tập làm văn của học trò.

Đào Ngọc Phong

Westminster, CA mùng 6 tháng 9 năm 2015

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 422

25 Years of Love – 25 Năm Tình Ta

doidep25 Năm Tình Ta là album nhạc Việt đầu tiên của nhạc sĩ Vũ Tiết Hùng và Thùy Lan. Cuốn Album này gồm những bài hát về tình yêu (tình nhân, tình vợ chồng, tình mẹ con, tình bạn v.v…) được tác giả sáng tác và gom góp lại suốt 25 năm trời. Album này vừa mới được phổ biến trên các nơi mua bán trên mạng ở Canada kể từ ngày July 10, 2015 và khắp thế giới ngày 27 tháng Bảy.
Cũng giống như các tác giả Canada và Mỹ,quyển album này được sáng tác, sắp xếp, thực hiện, trình diễn và ghi âm lại bởi chính tác giả nên rất đặc biệt và phản ảnh tình cảm của tác giả.1.

25 Năm Tình Ta by Vu Han Giang:

iTunes Canada: https://itun.es/ca/2qFF8
HMV: https://www.hmvdigital.ca/releases/4581612
Other online stores worldwide on July 27.

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 381

Nhà Văn Nữ Trí Hải


Có một điều gì đó ngoài ý muốn xảy ra mỗi khi người viết bài này sửa soạn viết về nhà văn nữ lớn nhất của Miền Nam những năm ’60-’70, dịch giả Phùng Khánh hay Sư Bà Thích Nữ Trí Hải. Có khi bỏ qua vì nghĩ rằng tài liệu thu góp chưa đủ, cách đây một tuần thì nghĩ rằng tài liệu đã kha khá, bèn bày cả lên bàn, rồi khi ngồi xuống giữa đêm khuya, tìm hơn ba tiếng đồng hồ, không thấy ba tài liệu cốt cán đâu mất.

Nhưng dù tìm không ra, cũng vẫn viết vậy, vì chỉ còn vài ba ngày nữa là đúng ngày 7 tháng 12, (14 tháng 11 năm Quí Mùi), tròn mười năm viên tịch của dịch giả mà tên tuổi vừa xuất hiện đã gắn liền với văn học, từ Câu Chuyện Dòng Sông tới Bắt Trẻ Ðồng Xanh, từ Herman Hesse tới J. D. Salinger.



Nhà văn dịch giả Thích Nữ Trí Hải (1938 – 7 tháng 12, 2003). (Hình: Viên Linh cung cấp)

Cách xưng hô trong bài này hơi phức tạp, vì từ những năm cuối thập niên ’60 chúng tôi quen gọi là cô Phùng Khánh, vì tới năm 1964 cô mới xuống tóc qui y. Bùi Giáng hay nhắc tới cô trong thơ, nhiều lần tới Viện Ðại Học Vạn Hạnh thăm Tuệ Sỹ, Chơn Pháp, dăm ba lần tôi thấy cô trong Thư Viện, không có dịp tiếp xúc. Lúc ấy em tôi là trưởng Ban Tu Thư của viện, có lần nói cho tôi hay cô Trí Hải hỏi “Viên Linh là em hay là anh của Chơn Pháp?” Tôi không ngạc nhiên vì câu hỏi ấy đã nghe nhiều người hỏi.

Trí Hải dịch nhiều hơn sáng tác, dịch giả đúng hơn là tác giả, nhưng văn xuôi của tác giả thì cuồn cuộn như thác nước, nhất là văn kể chuyện, và nhất là trong tập san văn hóa Tuệ Uyển do tác giả sáng lập điều hành từ 1994 ở Sài Gòn, ra tới năm thứ chín thì con thiên nga đầu đàn bay về cõi Niết Bàn. Có thể nói Tuệ Uyển là tập san mà chủ nhiệm chủ bút viết từ đầu tới cuối, từ “Lời Ðầu Quyển” cho tới “Kho Tàng Nguyên Thủy” (dịch kinh), “Phật Pháp Song Ngữ” và nhất là ký sự “Những Chuyến Ði,” đều do một người dịch, giảng, và kể. Trong bài “Ðàm Hoa Lạc Khứ,” Trí Hải đặc biệt viết về Huế, Huế của riêng mình, mà Huế là tất cả của Công Tằng Tôn Nữ Phùng Khánh:

“Mỗi lần đi Huế lòng tôi lại nôn nao khôn tả. Huế là đạo, là thơ, là nghĩa tình ý vị, là tinh hoa văn hóa của ba miền đất Việt, nhưng cũng là mảnh đất khô cằn của đói nghèo khốn khổ “mùa đông thiếu áo mùa hè thiếu cơm” đã hứng chịu nhiều thiên tai nhân họa… Tôi không thể nào quên được cái cảm giác lâng lâng khó tả khi viếng tháp tổ Liễu Quán. Phải đi một mình mới thấy được, nghe được tất cả cái linh thiêng. Mình như nghe được cả cái im lặng tĩnh mịch ở đấy, tiếng của vô thanh (la voix du silence) ngân vang trong hồn và khắp vũ trụ, và khi ấy dường như không còn cái gì gọi là “mình” được nữa vì mình đã tan loãng ra, hòa với thời không vô tận.” (Trí Hải, Ðàm Hoa Lạc Khứ, Tuệ Uyển 63). Tả về Huế nói về Huế thì có cả trăm bài, riêng bài của Trí Hải, lạ thay, không còn mình khi nói về Huế “dường như không còn cái gì gọi là ‘mình’ được nữa.” Nhưng ghê gớm thay, Trí Hải viết rõ ràng “yêu Huế là muốn chết với Huế: “và khi ấy mình đã tan loãng ra, hòa với thời không vô tận. Giá mà cái báo thân này được xả bỏ trong giây phút ấy thì rất tuyệt vời, như giọt nước tan hòa vào biển cả và thể nhập làm một với đại dương.”

Suy nghĩ sâu sắc, đọc càng sâu sắc, đúng hơn: đọc thơ văn người mà vừa đọc vừa sáng tác theo tư tưởng vận hành của mình. Hòa Thượng Thiện Siêu có một bài kệ cảm ứng trong mộng như sau:

Phật biết Phật không,
Tâm biết tâm không,
Khi Phật chuyển thân
Tâm biết Phật không.

Trí Hải viết: “Và khi nằm trên xe lửa về Huế lần này, tôi đã nghiệm ra ý nghĩa bài kệ ấy. Hai chữ Phật và Tâm trong bài kệ có thể thay bằng Sóng với Nước:

Sóng biết Sóng không
Nước biết Nước không
Khi Sóng chuyển thân
Nước biết Sóng không.

Hay Sắc với Không, Thân với Tâm:

Thân biết thân không
Tâm biết tâm không
Khi thân chuyển thân
Tâm biết thân không.

Trí Hải viết thêm nhiều giải thích khác như Tướng với Tánh, hoặc Hiện tượng với Bản thể, và giải thích: “Chữ Không trong bài kệ phải hiểu là ‘không có thực chất, chỉ tùy theo các duyên hay điều kiện mà có ra.’ Phật là Không, vì như Kinh Pháp Hoa dạy: chư Phật các đấng tôn quí trong loài hai chân – biết rằng các pháp vốn không có tính chất quyết định. Hạt giống là do các điều kiệt phát sinh, do vậy ta chỉ có một cỗ xe duy nhất là con đường thành Phật. Tâm như hồ lặng, Phật như vừng trăng phản chiếu trong gương nước. Khi Phật chuyển thân thì cũng như khi vừng trăng đã luồn qua một đám mây nên không còn in bóng trong gương hồ.” (nt)

Công Tằng Tôn Nữ Phùng Khánh, pháp hiệu Trí Hải, dòng dõi Tuy Lý Vương, sinh ngày 8 tháng 3, 1938 tại Vỹ Dạ, Huế, nguyên quán Gia Miêu Thanh Hóa, khi còn trong bụng mẹ đã được qui y tam bảo bởi Hòa Thượng Thích Tịnh Khiết, sau này là đệ nhất Tăng thống Phật Giáo Việt Nam. Cô đậu Tú tài năm 17 tuổi, tốt nghiệp Sư Phạm và dạy học tại trường Phan Chu Trinh, Ðà Nẵng. Du học Hoa Kỳ, đậu cao học ngành Thư Viện, về nước năm 1963. Quản thủ thư viện Viện Ðại Học Vạn Hạnh. Nam 1970 thọ Bồ Tát giới tại đại trai đàn Vinh Gia, sau đó giảng dạy tại các trường cao đẳng và đại học. Trong thời gian đó vừa tham gia các công tác cứu tế xã hội vừa dịch thuật, sáng tác, đã cho xuất bản các tác phẩm chính sau đây:

-Câu Chuyện Dòng Sông, dịch Herman Hesse, Lá Bối, 1965.
-Con Ðường Thoát Khổ, dịch W. Rahula, Ban Tu Thư Vạn Hạnh,1966.
-Huyền Trang, Nhà Chiêm Bái và Học giả, Vạn Hạnh, 1966.
-Bắt Trẻ Ðồng Xanh, dịch D. Salinger, Thanh Hiên 1967, Nhã Nam 2008.
-Ganhdhi Tự Truyện, dịch Ghandhi, Võ Tánh, 1971.
-Câu Chuyện Triết Học, dịch cùng Bửu Ðích, Will Durant, Viện Ðại Học Vạn Hạnh.
-Thanh Tịnh Ðạo, dịch B, Buddhaghosa.
-Tư Tưởng Phật Học, dịch W. Rahula, Vạn Hạnh, 1974.
-Giải Thoát Trong Lòng Tay, Thanh Văn xuất bản.
-Ðường Vào Nội Tâm, dịch, 1993.
-Tạng Thư Sống Chết, dịch The Tibetan Book of Living and Dying của S. Rinpoche, 1996.
-Ngọa Bệnh Ca, thơ, Tuệ Dung xuất bản, 2003.
-Tâm Bất Sinh, dịch Bankei, Hoa Ðàm, 2005.

[Mong quí trí giả, bằng hữu bạn đọc giúp bổ sung cho danh sách này, chắc hẳn còn thiếu sót, nhất là tập san Tuệ Uyển còn thiếu nhiều. <phamcongkh@yahoo.com>]

Người viết bài may mắn có một tập thơ nhan đề Ngọa Bệnh Ca do nhà văn Trí Hải sáng tác các tháng đầu năm 2003, khoảng 9 tháng trước khi xả thân trong một tai nạn lưu thông trên đường tự nguyện đi cứu tế xã hội, lúc từ Phan Thiết về Sài Gòn, ở thế 65 năm. Tập thơ do ni sư Tuệ Dung dàn trang và in ra bằng máy vi tính, dày 250 trang, với non 200 bài thơ ngắn dài. Xin trích dẫn vài bài, chúng ta cùng đọc để tưởng niệm một nhà văn nữ tài trí bao la của Văn học Việt Nam:

Sống Chết

Sống trong hơi thở vào
Chết cùng với hơi ra
Ngày đêm liên tục chuyển
Kiếp số như hằng sa.

Hít vào, ta còn đó
Thở ra, đã hết ta
Ta hòa cùng với gió
Thành vũ trụ bao la.

Ta như làn sóng nhỏ
Giữa đại dương cuộc đời
Sóng có khi còn mất
Biển cả không đầy vơi.
(Trí Hải, Ngọa Bệnh Ca, tr.23)

                                    Viên Linh

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 765