Category Archives: Văn Học Nghệ Thuật

Quê hương VN qua ống kính của Hoàng Thạch Vân

Chụp ảnh Với Hoàng Thạch Vân không chỉ là đam mê, nó hình như là sức mạnh để anh sống. Đi chụp ảnh với anh, thấy nơi anh là cả một khối lửa hăng say với chụp ảnh. Nơi một con người ngoài ngũ thập, anh đi và chụp không ngưng nghỉ. Nơi anh có cái gì đó mãnh liệt, có sức tác động và nó thể hiện ngay trong ảnh của anh. Bên trong khối lửa mãnh liệt đam mê đó, lại là một tâm hồn khiêm tốn bình dị, đơn thành, chân thật với anh em, mọi người.

Hoàng Thạch Vân sống ở Sài Gòn, tham gia nhiếp ảnh bắt đầu từ CLB Nhiếp ảnh Gia Định và từ đó anh có hướng đi và khẳng định nghiệp nhiếp ảnh của bản thân. Bộ ảnh của anh được chụp ở nhiều vùng miền khác nhau.


1 – Băng đồng


2. Bóng chiều


3. Bức tranh quê


4. Cất vó


5. Chăn vịt


6. Chiều về


7. Chợ nổi Phong Điền


8. Chợ sớm


9. Chùa Xiêm Cang


10. Cuối thu


11. Đám cưới nhà quê


12. Dáng quê


13. Đối mặt


14. Đồng điệu


15. Đồng muối


16. Được mùa


17. Đường tự


18. Góc phố


19. Hoa đồng nội


20. Hương đồng


21. Khói lam chiều


22. Lớp học Chăm


23. Lưới


24. Mưa đồng bằng


25. Mùa lũ


26. Mùa vàng


27. Mục đồng


28. Nắng sớm Hồ Lak


29. Ngày hè


30. Ngày mới


31. Ngày mùa


32. Ngoại tôi


33. Nhộn nhịp chợ nổi


34. Phơi lúa


35. Phút quyết liệt


36. Rừng thay lá


37. Sức ống


38. Thác Bản Giốc


39. Thanh bình


40. Thích thú


41. Thiếu nữ Chăm


42. Thu hoạch


43. Thu hoạch


44. Trong nắng mai


45. Tương phản


46. Về đích


47. Vó lưới


48. Vũ điệu trên sông


49. Về đích

Sưu tầm online
 
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Lý do ‘Bản tình ca mùa đông’ mê hoặc khán giả 15 năm qua

Dàn diễn viên trẻ đẹp, kịch bản chắc tay và 19 bản nhạc nền da diết giúp bộ phim Hàn trở thành tác phẩm nổi tiếng châu Á.
"Bản tình ca mùa đông" là một trong những phim được tìm kiếm và xem lại nhiều nhất 15 năm qua. “Bản tình ca mùa đông” là một trong những phim được tìm kiếm và xem lại nhiều nhất 15 năm qua.
Bản tình ca mùa đông (“Winter Sonata”) là tác phẩm xuất sắc thuộc dòng phim bốn mùa, đánh dấu thời hoàng kim của phim truyền hình Hàn Quốc. Lên sóng KBS2 hồi năm 2002, phim lập tức gây sốt và được yêu mến khắp châu Á. Khi được công chiếu tại Nhật Bản vào năm 2003, series được chọn là mốc ghi dấu Làn sóng Hàn (Hallyu) du nhập vào nước này.
Theo Naver – cổng thông tin truyền thông số một Hàn Quốc, dù 15 năm trôi qua, tác phẩm vẫn được tìm kiếm và xem lại nhiều nhất trong loạt phim vang bóng một thời.
Nội dung nhân văn, kịch bản chắc tay
Lấy chủ đề tình yêu bị chia cắt, phim xoay quanh cuộc tình lãng mạn, cảm động của Kang Joon Sang (Bae Yong Joon đóng) và Yu Jin (Choi Ji Woo). Phim khiến người xem thổn thức trước những rung động đầu đời, tình yêu trong sáng thời đi học, sự chia ly rồi hội ngộ sau nhiều năm của cặp diễn viên chính. 
Lý do 'Bản tình ca mùa đông' mê hoặc khán giả 15 năm qua ảnh 1 Kang Joon Sang chuyển về học trường cấp ba cùng Yu Jin. Sự hồn nhiên, chân thành của Yu Jin cảm hóa sự lạnh lùng, thờ ơ ở Joon Sang. Hai người trở thành bạn bè, sau đó là mối tình đầu của nhau.

10 năm sau ngày Kang Joon Sang ra đi vì tai nạn giao thông, Yu Jin vẫn không nguôi nỗi đau đầu đời. Chỉ cần bắt gặp hình ảnh thoáng giống anh trên phố, cô lại mải miết đuổi theo và ôm sự tuyệt vọng giữa dòng người đông đúc của thủ đô Seoul (Hàn Quốc).

Trải qua bao thăng trầm, tưởng đã mất nhau rồi có lại, tình yêu của chàng giám đốc điển trai Joon Sang và nữ kiến trúc sư Yu Jin đẹp như một bản tình ca, sưởi ấm giá băng giữa mùa đông tuyết phủ. Tác phẩm chứa đựng thông điệp nhân văn, đề cao những cảm xúc chân thành, tinh tế khi yêu.
Ra đời trong thời kỳ phát triển mạnh mẽ của dòng phim bi, Bản tình ca mùa đông được đánh giá có kịch bản chắc tay, cách xây dựng tình huống cuốn hút, dễ lấy nước mắt của người xem dù vẫn sử dụng các môtíp như xa cách, mất trí nhớ, nam chính bị mù… Tác phẩm khai thác triệt để từng chi tiết và lột tả chân thật diễn biến tâm lý nhân vật.
Nhiều khán giả trẻ hiện nay đánh giá mạch phim Bản tình ca mùa đông chậm, sướt mướt và gây nhàm chán. Tuy nhiên, tác phẩm lại phù hợp với thị hiếu của phần đông người yêu phim Hàn thời điểm 15 năm trước. 
 
Lý do 'Bản tình ca mùa đông' mê hoặc khán giả 15 năm qua ảnh 2 Nhờ tình tiết chậm, người xem dễ dàng nắm bắt tâm lý nhân vật, hiểu trọn vẹn từng chi tiết và góc quay của đạo diễn.

Dàn diễn viên trẻ đẹp, tài năng

Bản tình ca mùa đông được xem là tác phẩm sinh ra loạt ngôi sao thế hệ vàng của Hallyu.
Phim có sự góp mặt của Bae Yong Joon – ngôi sao nổi tiếng nhất của điện ảnh Hàn mọi thời đại. Anh thủ vai nam chính Kang Joon Sang (sau này là Lee Min Hyung) – hình tượng chàng trai trong mơ của nhiều thiếu nữ trẻ. Khi nhận vai này, Bae Yong Joon đã bước qua tuổi 30.
Nhờ tài diễn xuất đa dạng, anh thành công khi hóa thân thành cậu học trò điển trai, lạnh lùng, nhiều tâm sự thời đi học và chàng trai trưởng thành, ấm áp khi đi làm. Trước đó, tài tử từng ghi dấu ấn trong loạt phim Mối tình đầu (1996), Thành thật với tình yêu (1999) và Người quản lý khách sạn(2001).
Lý do 'Bản tình ca mùa đông' mê hoặc khán giả 15 năm qua ảnh 3 Từ trái qua: Park Sol Mi, Park Yong Ha, Bae Yong Joon và Choi Ji Woo.

Nhân vật Yu Jin do “Nữ hoàng nước mắt” – Choi Ji Woo thủ diễn. Vẻ dịu dàng, thanh tao giúp cô trở thành gương mặt ăn khách. Những cảnh khóc xuất thần, đòi hỏi chiều sâu tâm lý của Choi Ji Woo khiến người xem đau cùng nỗi đau của nhân vật.

Ngoài ra, hai vai phụ là Kim Sang Hyuk – do Park Yong Ha đóng – và Oh Chae Rin – được thể hiện bởi kiều nữ Park Sol Mi – giúp phim đa dạng về màu sắc nhân vật. Điểm chung của đôi bạn cùng lớp này là đều gặp thất bại trong tình yêu.
Lý do 'Bản tình ca mùa đông' mê hoặc khán giả 15 năm qua ảnh 4 Cảnh hẹn hò lãng mạn bằng xe đạp của cặp tình nhân màn ảnh một thời – Bae Yong Joon và Choi Ji Woo.

Ngoài đời, Park Yong Ha là ca sĩ, diễn viên tài hoa, sở hữu lượng fan đông đảo. Tuy nhiên, khi thấy cuộc đời không còn ý nghĩa, anh chọn cách ra đi mãi mãi vào sáng ngày 30/6/2010. Ở Nhật Bản, tài tử được yêu mến không kém gì Bae Yong Joon. Trong tang lễ của anh, có đến 300 người hâm mộ từ Nhật bay sang Hàn để tham dự. 

Khung cảnh thiên nhiên lãng mạn
Bối cảnh phim diễn ra vào giữa mùa đông. Phần lớn cảnh quay được thực hiện tại đảo Nami, tỉnh Chuncheon – cách Seoul hơn một giờ hành trình. 
Tác phẩm mê hoặc người xem bằng khung cảnh thiên nhiên thơ mộng, đẹp như tranh vẽ. Xuyên suốt loạt phim là hình ảnh hàng cây lá vàng nằm dọc hai bên đường vào mùa thu và vùng đồi phủ đầy tuyết khi mùa đông tới. Giữa cảnh sắc ngập tuyết, tình yêu của cặp nhân vật chính thăng hoa, gây ấn tượng mạnh.
Về sau, đảo Nami trở thành một trong những điểm du lịch lãng mạn, nổi tiếng, thu hút nhiều du khách tại Hàn Quốc.
Nhạc nền da diết, gợi nhớ thương 
Tác phẩm có tới 19 bản nhạc nền với giai điệu và ca từ sâu lắng, hầu hết đều do ca sĩ ballad tài năng – Ryu thể hiện. Trong khung cảnh thiên nhiên lãng mạn, giọng ca của Ryu nhẹ nhàng đi vào lòng người, truyền tải thông điệp tình yêu sâu sắcĐặc biệt, ca khúc My Memory và From the Beginning until now được bình chọn là hai trong 100 bản nhạc phim hay nhất mọi thời đại của Hàn Quốc 
Theo Vnexpress
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Ngày Xuân Nói Chuyện Kiều

Hoàng Yên Lưu

Những câu thơ viết bằng chữ Việt thời cổ tức chữ Nôm, trích trong truyện Kiều, tả cảnh hội Đạp thanh với những nét chấm phá về mùa xuân gợi nhớ tới bức tranh cổ Thanh minh thượng hà đồ của Trương Trạch Đoan nhưng lại có nét gần với cảnh sắc quê hương ta ở miền thượng du Bắc Việt nơi tác giả có nhiều năm bôn ba vào buổi Lê mạt-Nguyễn sơ:

Ngày xuân con én đưa thoi,
Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi.
Cỏ non xanh tận chân trời,
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.
Thanh minh trong tiết tháng ba,
Lễ là tảo mộ, hội là đạp Thanh.
Gần xa nô nức yến anh,
Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân.
Dập dìu tài tử, giai nhân,
Ngựa xe như nước áo quần như nêm.

Tác giả những vần hoa mỹ trên là nhà thơ Nguyễn Du, một thi nhân có cảm xúc tế nhị, tình cảm đậm đà, lại nửa đời lang bạt đất Bắc rồi về Trung sau khi mưu việc phù Lê không thành. Sang triều Gia Long, ông lại đi sứ Trung hoa… nếm trải nhiều bước đoạn trường, thưởng thức nhiều cảnh sắc thiên nhiên nên kiến thức càng phong phú, tình càng sâu, ý càng lắng đọng.
Nhờ có cơ hội tiếp xúc với thiên nhiên và con người, chứng kiến cuộc bể dâu trong vòng trên dưới ba chục năm trải ba triều đại (Lê mạt-Tây sơn-Nguyễn sơ) nên tác phẩm của ông khắc họa cả một xã hội, đủ hạng người, đủ tình đời. Do đó, trong Truyện Kiều có đủ thứ cảm xúc sinh động: vui, buồn, chán, ghét, gồm cả bi, hoan, ly, hợp… Nhờ thế, ngưởi đọc có thể tìm thấy hình bóng mình, cảnh ngộ và tâm nguyện của mình trong kiệt tác và khi rảnh rỗi hay lúc có tâm sự ta có thể vừa giải trí vừa tìm cố vấn nếu có Truyện Kiều trong tay.
Gần hai trăm năm lưu hành, không phải tác phẩm chỉ được giới trí thức hân thưởng mà người bình dân cũng dùng Kiều trong lúc cảm xúc dâng cao.
Nam thanh nữ tú ngày xưa ngẫu hứng ngâm Kiều, đố Kiều.
Muốn ngỏ ý kín đáo với người mình yêu, khi có dịp gặp gỡ chàng trai có thể mượn câu Kiều:

Tiện đây xin một đôi điều
Đài gương soi thấu dấu bèo cho chăng?
Muốn dặn dò khi từ biệt, chàng trai có thể nhắn nhủ bóng bẩy người yêu trọn đạo thủy chung:
Gìn vàng giữ ngọc cho hay
Cho đành lòng kẻ chân mây cuối trời.

Nhớ quê người ta ngâm Kiều:

Đoái trông muôn dặm tử phần,
Hồn quê theo ngọn mây Tần xa xa!

Nhớ mẹ, lữ khách mượn Kiều bày tỏ tấc lòng:

Tiếc người tựa cửa hôm mai
Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ?

Mọi người đều công nhận Truyện Kiều là một đại tác phẩm trong văn học của ta. Ngoài giá trị văn chương đã làm thỏa mãn biết bao nhà phê bình trong nước và ngoài nước, người tìm nó thưởng thức văn chương cũng nhiều mà kẻ ngâm nga lúc xúc cảnh sinh tính cũng không ít. Nó cũng là sách giáo khoa giúp người muốn viết văn, làm thơ. Học nó là bảo tồn tiếng Việt và như một học giả từng nói “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn.”

Mùa xuân nói về khía cạnh giải trí của Truyện Kiều thích hợp hơn cả. Giá trị “mua vui cũng được một vài trống canh” của Truyện Kiều đã được ca tụng từ lâu, ngay từ những thập niên đầu thế kỷ 19 khi tác phẩm xuất hiện cho tới ngày nay.

Đố Kiều
Lúc trai gái hội họp hoặc mượn câu Kiều để tỏ tình hoặc mượn Kiều để đố vui thăm dò đối tượng xem có phải người thanh lịch văn vẻ và hiểu biết hay không. Vì thế lối đố kiều rất được dân gian ưa chuộng. Cô gái có thể hỏi chàng trai, người tự hào là đã biết thưởng thức những vần thơ của Nguyễn Du:

Truyện Kiều anh học đã lầu
Đố anh kể được một câu năm người

Nếu là trai thanh, có thể đáp ngay gái lịch:
Này chồng, này mẹ, này cha
Này là em ruột, này là em dâu

Câu hỏi có thể oái oăm hơn:
Truyện Kiều anh đã thuộc nhiều
Đố anh kể được truyện Kiều nghìn năm

Chàng trai “hay chữ” tính toán rất nhanh, biết rằng trong Truyện Kiều có đúng mười lần chữ Trăm năm nên không ngần ngại khéo cắt xén thành 22 câu nối vần được với nhau, cộng lại đủ 1000 năm như sau :
“Trăm năm” trong cõi người ta
Thúy Kiều là chị em là Thúy Vân
Đã nguyền hai chữ đồng tâm
“Trăm năm” thề chẳng ôm cầm thuyền ai
Trót vì cầm đã bén dây
Chẳng “Trăm năm” cũng một ngày nước non
“Trăm năm” tính cuộc vuông tròn
Phải dò cho đến ngọn nguồn lạch sông
Tóc tơ căn vặn tấc lòng
“Trăm năm” tạc một chữ đồng mới hay
Ngẫm duyên kỳ ngộ xưa nay
Tiết “Trăm năm” nỡ một ngày bỏ đi
Chở che đùm bọc thiếu gì
“Trăm năm” danh tiết cũng vì đêm nay
Rằng “Trăm năm” cũng từ đây
Của tin gọi một chút này làm ghi
Người đâu gặp gỡ làm chi
“Trăm năm” biết có duyên gì hay không
Lỡ làng nước đục bụi trong
“Trăm năm” giữ một tấm lòng với ai
Một nhà phúc lộc gồm hai
Nghìn năm dằng dặc quan giai lần lần

Đố chữ, đố nghĩa, còn có lối “đố vui để chọc”. Có anh thư sinh tự hào thuộc làu Kiều từ câu đầu tới câu chót, gặp hai chị em cô gái tinh nghịch. Cô chị làm bộ ít học hỏi chàng rằng:
– Này anh ơi, anh học nhiều hiểu rộng… Cô Kiều của chúng ta, trong 15 năm luân lạc có lúc nào mang bầu hay không?
Thư sinh nghiêm mặt:
– Nói bậy, nàng Kiều dù bị đày đọa “thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần” nhưng Nguyễn Du chẳng bao giờ tả những chi tiết bất nhã đó trong một tác phẩm văn chương cao nhã!
Cô em cười thành tiếng rồi nói:
– Thế…Thế anh giảng giùm em câu này:

Thất kinh nàng chửa biết là làm sao

Cụ Tố Như đã nói rõ Kiều “thất kinh” và “chửa” nên hoảng hốt hỏi “biết là làm sao… bây giờ?” sao anh bảo cụ tránh né?  (Xem tiếp kỳ sau)

Hoàng Yên Lưu

 

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Bình Định – Sa Long Cương

ST Truong Thanh Dang_Phuong-Hoang Quyen RL26
Võ sư Trương Thanh Đăng với Phượng Hoàng Quyền

Sa Long Cương “Rồng Nằm Trên Đồi Cát” đó là biệt danh của Trương Thanh Đăng (1895–1985) một võ sư quê Bình Thuận, là người đã sáng lập ra võ đường Bình Định – Sa Long Cương năm 1964 tại Sài Gòn khi ông đã 70 tuổi. Võ cổ truyền Việt Nam Bình Định – Sa Long Cương là môn võ trận, dùng khi lâm trận, đánh đuổi giặc ngoại xâm, bảo vệ đất nước. Vì thế võ môn này không chú trọng đến sự biểu diễn màu mè. Võ trận ra đòn thần tốc và dứt khoát không nhân nhượng với kẻ thù. Kỹ thuật của môn phái là sự kết hợp của các đòn thế quyền cước từ võ Bình Định và võ Thiếu Lâm. Nội quy võ đường rất nghiêm ngặt với tinh thần: Tiên học lễ, hậu học võ. Người môn sinh của võ đường luôn được nhắc nhở: Học võ nhưng phải biết lấy lễ làm đầu trong mọi việc, hòa nhã, khiêm tốn trong mọi cư xử ở đời chứ đừng bao giờ ỷ sức, cậy tài, ngông cuồng, hống hách. Các môn sinh không được thách đấu và nhận lời thách đấu của bất cứ ai và trong bất cứ trường hợp nào.

Võ sư Trương Thanh Đăng

Đặc điểm của võ Bình Định – Sa Long Cương là lấy nhu thắng cương, các chiêu thức biến hóa khôn lường, không bó buộc cứng nhắc trong một bài quyền hay trong một chiêu thức. Khi đã tập luyện thuần thục, võ sinh có thể kết hợp chiêu thức của các bài quyền khác nhau để tạo ra chiêu thức mới, khắc phục nhược điểm và phát huy ưu thế của chiêu thức cũ. Vì thế môn võ Bình Định – Sa Long Cương ngày càng hoàn thiện hơn, mới hơn, phù hợp với thời đại hơn.
Vua Quang Trung là một trong những ông tổ của võ Bình Định mà sau này Trương Thanh Đăng phát huy thêm thành môn phái Bình Định – Sa Long Cương. Cậu thiếu niên 14 tuổi Trương Thanh Đăng với niềm say mê võ nghệ đã về tận làng An Vinh, An Thái, cái nôi của võ Bình Định. Suốt 15 năm trời ông học hỏi, thu thập các tinh hoa của môn võ cổ truyền này. Sau đó ông có duyên được các cao thủ phái Thiếu Lâm truyền dạy. Một trong các cao thủ đó là võ sư Vĩnh Phúc, người miền Bắc Việt Nam, môn đệ của chùa Thiếu Lâm. Ông học ròng rã trong 7 năm với vị võ sư này.

dongda

Võ thuật cổ truyền Việt Nam là tinh hoa văn hóa dân tộc, là những kinh-nghiệm chiến đấu bằng xương máu của tổ tiên, trãi dài hơn 4 ngàn năm dựng nước và giử nước. Học hỏi và tập luyện võ-thuật cổ truyền Việt-Nam, trước là kế thừa và gìn giử tinh hoa của dân tộc, sau là phát triển sức khỏe cá nhân và hộ thân khi cần thiết trong cuộc sống xã hội. Võ thuật cổ truyền Việt Nam là một thể hiện cho ý chí sắt đá, xã thân, vì nước quên mình của dân quân đất Việt. Cuộc kháng chiến hào hùng của dân quân nước Việt nhỏ bé từ ngàn xưa trước một đối phương phương Bắc to lớn chứng minh một sự thực oanh liệt, những trang sử hào hùng của dân tộc

” Nực cười châu chấu đá xe”
” Tưởng rằng chấu ngã, ai ngờ xe nghiêng”

Hiện thực đó chỉ có thể có được với một tinh thần thượng võ cao độ, đầy sức thuyết phục:

“Đem đại nghĩa để thắng hung tàn,
Lấy trí nhân mà thay cường bạo.”
(Bình Ngô Ðại Cáo – Nguyễn Trãi.)

Và một truyền thống bất khuất, sắt đá:

“Tôi muốn cỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở biển khơi, đánh đuổi quân Ngô giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ, chứ tôi không chịu khom lưng làm tỳ hiếp người”
(Nữ Tướng Triệu Trinh Nương.)

Chấp nhận thử thách, đương đầu với gian khổ, mất mát đau thương. Người dân Việt đã chấp nhận hy sinh tất cả để giành lấy quyền sống tự do, độc lập cho đất nước:

“Ta thà làm quỷ nước Nam,
Còn hơn làm vương đất Bắc.”
(Tướng Trần Bình Trọng)

SLCItaly
Sa Long Cương tại Ý (Italy)

Tất cả là thể hiện một đặc thù nổi bật nhất về ý chí quên mình, xã thân cho đại nghĩa dân tộc của Võ thuật Cổ truyền Việt Nam hình thànn trong quá trình dựng nước và giử nước.

Do tâm huyết chân thành và bản lảnh đích thực từ công phu khổ luyện của vị Sư Trưởng, chỉ trong một thời gian ngắn Võ đường Bình Ðịnh Sa long Cương đã có một chổ đứng đường hoàng, chững chạc trong làng võ thuật VIệt Nam. Và 21 năm sau ngày hoạt động chính thức, thừa kế và truyền bá di sản võ thuật truyền thống bất khuất của dân tộc, vị Chưởng môn sáng lập Hệ phái Bình-Ðịnh Sa-Long-Cương đã qua đời vào ngày 17 tháng 9 năm 1985 ( tức ngày mùng 3 tháng 8 năm Ất Sữu ) hưởng thọ 91 tuổi, để lại bao thương tiếc cho gia-đình, môn sinh và thân hữu trong làng võ thuật.

Sa Long Cuong Marseille, Pháp, tháng Ba 2004 Trái qua phải : Võ sư Richard Bay, võ sư Trân Trong Hiêu, võ sư Lương Hữu Hạnh, Đại võ sư Lương Trọng Mỹ, võ sư Trinh Quang Thắng và võ sư Lương Trọng Thuật.

Trưởng Nam của Sư Trưởng là Sư Phó Trương bá Ðương cùng với Võ Sư Trưởng Tràng Lê văn Vân, tiếp nối công việc điều hành và phát triển môn phái. Hiện nay, hệ phái Bình-Ðịnh Sa-Long-Cương đã được phát triển tại nhiều nơi với các chi nhánh ở trong và ngoài nước như : Vũng Tàu, Biên Hòa … và tại các nước Pháp, Canada, Hoa Kỳ và Ý. Và cho dù sinh hoạt ở bất cứ nơi nào, bản sắc dân tộc Việt Nam vẫn luôn tiềm tàng trong từng đường quyền, ngọn roi, mũi kiếm, đường đao … bản lãnh đích thực của võ phái vẫn luôn luôn được thể hiện trọn vẹn.

VoThuat_2011_Den_0525
Lớp võ thuật 2011 tại võ đường Sa Long Cương Montreal, Quebec, Canada

Tại Canada có một võ đường Sa Long Cương tại Montréal Québec. Hy vọng các võ đường Bình Định Sa Long Cương sẽ được mau chóng phát triển ở nơi có nhiều người Việt sinh sống như Toronto, Ontario, Canada; Little Saigon, California; khu Đông Bắc Hoa Kỳ Philadelphia, Virginia, New Jersey và Washington.

Trọng trách tạo lại niềm tự hào về truyền thống hào hùng bất khuất của dân tộc Việt Nam cho giới trẻ trong nước cũng như hải ngoại là điều vô cùng cần thiết trong lúc này.

Vô Danh sưu khảo
Nguồn: Internet

Sa Long Cương Canada
Sa Long Cương Pháp
Sa Long Cương Việt Nam
Quyền An Vinh
Võ Học Bình Định – Bài viết của Đào Đức Chương
 

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

“Triết học nhẹ nhàng” của Trịnh Công Sơn

“Triết học nhẹ nhàng” của Trịnh Công Sơn

LTS: Đạo Phật với Trịnh Công Sơn là hơi thở, là triết học làm cho con người yêu đời hơn chứ không phải là lãng quên sự sống. Đạo Phật đến với ông  qua nếp sống gia đình, và rồi đi vào âm nhạc của ông ngày càng sâu sắc hơn qua sự trải nghiệm thăng trầm giữa cuộc đời này. Âm nhạc Trịnh Công Sơn được nhìn qua nhiều góc độ. Trong dịp kỷ niệm ngày mất của ông, VHPG giới thiệu đến độc giả một bài viết về Trịnh Công Sơn của Giáo sư John C. Schafer, một người Mỹ, qua con đường nghiên cứu và tiếp xúc văn hóa đã trở về với đạo Phật, với văn hóa Việt, như thể kiếp trước là người Việt. Bài viết được ông chuyển trực tiếp cho tòa soạn Văn Hóa Phật Giáo. BBT xin cảm ơn tác giả về mối duyên tốt đẹp này.
Đã có rất nhiều sách viết về Trịnh Công Sơn là hơi thở là triết học làm cho con người yêu đời hơn chứ không phải là lãng quên sự sống nhưng có một đề tài mà theo tôi đã không được đề cập đến nhiều, đó là triết lý của Trịnh Công Sơn. Trịnh Công Sơn có viết: “Tôi vốn thích triết học và vì thế tôi muốn đưa triết học vào những ca khúc của mình. Một thứ triết học nhẹ nhàng mà ai ai cũng có thể hiểu được”. Bài này sẽ trình bày rằng thứ “triết học nhẹ nhàng” này chính là triết học Phật giáo.
Trong Tứ Diệu Đế của đạo Phật, chân lý đầu tiên là khổ đế. Khổ đế là một đề tài rất phổ thông trong nhạc Trịnh Công Sơn: “Tin buồn từ ngày mẹ cho mang nặng kiếp người”, ông đã hát trong Gọi tên bốn mùa. Cuộc đời đầy khổ và buồn vì không có gì trường cửu cả. Theo Kinh Kim Cương, Tất cả các pháp hữu vi là “như sương mai, như ánh chớp”. Đây là một ý niệm mà Trịnh Công Sơn đã nhắc đi, nhắc lại trong nhiều lời ca của mình. Giống như “con chim ở đậu cành tre” và một “con cá . . . trong khe nước nguồn”, không ai trong chúng ta là những người định cư vĩnh viễn, tất cả đều là những người ở trọ trần gian này. Trong khi tạm cư ở chốn trần gian này chúng ta tìm chỗ ẩn náu trong tình yêu, nhưng rồi tình yêu cũng mất đi. Tình yêu như tất cả mọi sự khác đều vô thường như Trịnh Công Sơn đã viết trong bài Đóa hoa vô thường và nhiều bài ca khác. Các bài tình khúc của Trịnh Công Sơn là những lời tuyên bố siêu hình rằng những đổ vỡ tình yêu không phải là những chông gai nho nhỏ trên con đường đời đẹp đẽ vô song. Các bài tình khúc của Trịnh Công Sơn, như Hoàng Phủ Ngọc Tường nói, là những “bài kinh cầu bên vực thẳm”. Các bài ca này là những lời nhắc nhở cho chúng ta về lẽ vô thường.
Một đề tài Phật giáo khác trong nhạc Trịnh Công Sơn là thuyết luân hồi. “Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi / Để một mai tôi về làm cát bụi”, ông hát trong Cát bụi. Hay “Ta thấy em trong tiền kiếp với cọng buồn cỏ khô”, trong Rừng xưa đã khép. Trong các ca khúc của mình Trịnh Công Sơn có vẻ đồng ý với đạo Phật rằng “Hiện tại là hình bóng của quá khứ và tương lai là hình bóng của hiện tại”. Trịnh Công Sơn cũng tỏ ra chấp nhận thuyết luân hồi của nhà Phật trong những câu mà Trịnh Công Sơn đã làm nhòa nhạt biên giới giữa đi và về, như trong bài Phôi pha: “Có những ai xa đời quay về lại / Về lại nơi cuối trời”. Nếu chết là để đi đến tái sinh thì khi ta ra đi nghĩa là ta trở lại. Nhìn sống và chết cũng như nhìn nước chảy trên sông và tự hỏi nước đang ra đi hay nước đang trở về. Đó là ý của Trịnh Công Sơn trong Gần như niềm tuyệt vọng: “Những ngàn xưa trôi đến bây giờ / Sông ra đi hay mới bước về”. Theo đạo Phật không có cái ta trường cửu nhưng mà có một chút gì trong cái ta đã mất được tiếp nối trong cái ta tái sinh. Quá trình này thường được so sánh như khi ta thắp một cây nến từ một cây nến khác, có cái ra đi và cũng có cái trở lại, một cõi đi về như Trịnh Công Sơn đã viết trong bài ca cùng nhan đề.

triet-hoc-nhe-nhang
Một ảnh hưởng khác của Phật giáo trong ca khúc của Trịnh Công Sơn là sự mập mờ và siêu lý luận của các câu văn. Nhạc, lẽ dĩ nhiên là tiếng nói của con tim không phải là của lý trí nhưng sự xác định này cũng chưa đủ dể giải thích tại sao Trịnh Công Sơn có vẻ như không muốn làm cho lời ca rõ ràng. Tôi nghĩ rằng đây là ảnh hưởng của Phật giáo, rằng người ta không thể chỉ ngồi mà lý luận để đi đến một sự bình an cho tâm hồn, rằng ý niệm giác ngộ vượt qua biên giới của ngôn ngữ và lý luận.
Cái mập mờ danh tiếng của Trịnh Công Sơn là do sự phá bỏ biên giới giữa các điều mà chúng ta thường xem là khác biệt, một phương pháp mà Cao Huy Thuần gọi là “đối hợp”. Trịnh Công Sơn hay dùng lối văn đối nghịch, một nghệ thuật ngôn ngữ hay dùng để nhấn mạnh sự khác nhau của hai điều, nhưng ngược lại, Trịnh Công Sơn hay đem đối nghịch làm trùng hợp như trong các câu này: “Tình không xa nhưng không thật gần”; “Không xa đời và cũng không xa một người”; “Một phố hồng một phố hư không”. Trịnh Công Sơn giống như một nhà thiền sư phủ nhận rằng tuyết thì trắng, quạ thì đen, với mục đích nói lên rằng muốn giác ngộ thì phải tránh xa cái đối lập giữa “có” và “không” để thành một tổng thể hài hòa. Lời ca của Trịnh Công Sơn giống như các công án trong Phật giáo, chẳng hạn như công án nổi tiếng nói về lắng nghe tiếng vỗ của một bàn tay, và cũng giống như công án, bài hát của Trịnh Công Sơn không thể giải thích được bằng đầu óc.
Khi nói về triết lý trong nhạc Trịnh Công Sơn chúng ta cũng cần nói tới ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh nữa. Các bạn thân của Trịnh Công Sơn xác nhận rằng, ông cũng như một số đông các nhà trí thức miền Nam vào cuối thập niên năm mươi và đầu thập niên sáu mươi, rất bị lôi cuốn bởi chủ nghĩa hiện sinh. Thái Kim Lan bảo rằng: ở Huế hồi đó nhiều người nói về lo âu (angst), hư vô (nothingness), nôn mửa (nausea) và nỗi hoài công phi lý của Sisyphus. Nguyễn Văn Trung hồi đó mới từ Bỉ về, theo Bửu Ý là “nòng cốt” của các cuộc tranh luận về triết lý tại Huế. Nguyễn Văn Trung viết nhiều bài về hiện sinh và đăng trong tạp chí Đại Học, do ông làm chủ nhiệm. Các bạn của Trịnh Công Sơn bảo rằng ông rất ham đọc sách của Camus về huyền thoại Sisyphus. Các bạn này cũng bảo Trịnh Công Sơn rất thích các phim trong đó có tài tử James Dean đóng vai của một người lưu lạc cô đơn. Chúng ta thấy hình ảnh chàng cô đơn này trong nhiều bài của Trịnh Công Sơn trong đó có bài Dã tràng ca. Trong bài này Trịnh Công Sơn muốn so sánh mình với Sisyphus, qua một hình ảnh đã được Việt Nam hóa là con dã tràng suốt ngày “xe cát biển đông” trong Nghe thân lưu đày.
Trong cuốn Huyền thoại Sisyphus, Camus nói: trong cái thế giới phi lý này, chúng ta thường hay bị quyến rũ bởi hai cách trốn thoát: một là tự vấn thân xác, hai là tự vẩn triết lý, tức là nuôi dưỡng niềm hy vọng rằng mình sau này khi chết đi sẽ được lên chốn thiên đàng vĩnh cửu. Theo Camus, chúng ta phải từ chối hai con đường giải thoát này và phải chọn một con đường khác: con đường chống đối thế giới phi lý này giống như nhân vật Sisyphus trong huyền thoại vậy. Ông Nguyễn Văn Trung đã giải thích thuyết của Camus theo một cách khác. Ông viết về tự vẫn triết học như thế này: “Hy vọng một đời khác, hoài niệm một quê nhà sau tù đầy là một cách phủ nhận tình trạng phi lý khác, mà không chấm dứt được phi lý. Camus gọi những giải pháp thoát ly đó là một tự vẫn triết lý (Suicide philosophique)”. Nguyễn Văn Trung cho rằng, theo Camus, chúng ta phải chấp nhận rằng “Tù đày chính là quê nhà”.
Rất có thể Trịnh Công Sơn đã bị ảnh hưởng của Camus qua cách giải thích của Nguyễn Văn Trung. Giáo sư Trung đã Việt Nam hóa lý thuyết về lưu đày và thiên đàng vĩnh cửu của Camus. Lời giải thích của Nguyễn Văn Trung đã làm lẫn lộn hoài vọng về một cõi thiên đàng trong kiếp sau với hoài vọng về quê nhà. Trịnh Công Sơn quả thật đã bị lôi kéo từ hai dòng lực tù đày và quê nhà. “Nhiều đêm muốn đi về con phố xa / Nhiều đêm muốn quay về ngồi yên dưới mái nhà”, ông đã hát trong Lời thiên thu gọi. Nhưng vì đã được uốn nắn trong một nền văn hóa mà trong đó tình yêu quê nhà đóng một vai trò rất mạnh, Trịnh Công Sơn đã không do dự chọn quê nhà. Ông đã hát “Chân đi xa trái tim bên nhà”, trong Có nghe đời nghiêng và “Tìm thấy nỗi nhớ từ mỗi chiếc lá / Góc phố nào cũng thấy quê nhà” trong Tình yêu tìm thấy. Do đó ta thấy Trịnh Công Sơn không chấp nhận sự nổi loạn chống lại thế giới phi lý như Camus đã cổ võ. Trịnh Công Sơn không thể nào chọn lưu đày làm nơi quê nhà. Tù đày theo Trịnh Công Sơn không phải là sự nổi loạn hiện sinh mà là sự nhìn nhận của một người con Phật trước nỗi khổ và tính cách tạm bợ của cuộc đời: “Còn bao lâu cho thân thôi lưu đày chốn đây” Trịnh Công Sơn hỏi trong Phúc âm buồn. “Còn bao lâu cho thiên thu xuống trên thân này”.
Hiện sinh khuyến khích cá nhân đứng lên một mình để chống lại xã hội và văn hóa. Phật giáo, ngược lại, dạy thuyết vô ngã, dạy rằng không có gì khác biệt giữa ta và tha nhân, rằng mọi sự mọi việc trên đời đều hỗ tương ảnh hưởng vào nhau. Tôi tin rằng Trịnh Công Sơn có ý nói đến thuyết vô ngã trong các bài ca của ông. Ông có nói đến “phụ người” như trong bàiRu em nhưng cái buồn của ông thật ra cũng là cái buồn của nhân thế. ‘Yêu em yêu thêm tình phụ / Yêu em lòng chợt từ bi bất ngờ” (Ru em). “Từ bi” có nghĩa là tâm từ (maitri) và tâm bi (karuna), hai đức hạnh mà theo Phật giáo mình nên tu dưỡng.
Lúc mới bắt đầu sự nghiệp, Trịnh Công Sơn cũng như nhiều thanh niên trí thức khác tại miền Nam, thích bàn luận về thuyết hiện sinh. Triết lý nói chung và thuyết hiện sinh nói riêng hồi đó là một đề tài rất phổ thông trong giới trẻ. Các bài hát đầu của Trịnh Công Sơn đã đáp ứng được nguyên vọng này của giới trí thức miền Nam. Phật giáo và hiện sinh quả thật có gần nhau ở một vài điểm. Cả hai đều tin rằng con người phải đối diện với cái chết và với ý niệm hư vô trước khi có thể thực sự sống một đời sống đích thực. Trịnh Công Sơn lúc mới vào nghề nổi tiếng vì đã “chịu chơi” với thuyết hiện sinh nhưng theo tôi Trịnh Công Sơn đã sáng tác nhạc của mình dựa trên các đề tài của Phật giáo. Nếu hồi đó ít ai để ý tới cái tính cách Phật giáo trong các bài của ông, có thể là vì Phật giáo và hiện sinh gặp nhau ở một vài điểm và người ta chỉ để ý đến khía cạnh hiện sinh mà thôi. Tuy nhiên lý do chính vì sao Trịnh Công Sơn vẫn tiếp tục thành công trong một thời rất dài là vì những ưu tư có tính cách rất Phật  Trịnh Công Sơn đã gởi gắm trong lời ca của mình.
Nghe nhạc Trịnh Công Sơn đối với nhiều người Việt cũng gần giống như nghe một câu kinh. Nhạc Trịnh Công Sơn khó hiểu nhưng lời ca của ông có khả năng xoa dịu những tâm hồn bị dao động.■
(Tạp Chí Văn Hóa Phật Giáo)

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hoàng Xuân Hãn Bàn Chuyện Đi Sứ

Hoàng Xuân Hãn bàn chuyện đi sứ
Hoàng Yên Lưu

Bắc đình thời nào cũng vậy từ Tần Thủy Hoàng, Hán Quang Vũ, Đường Thái Tông, Tống Thần Tông, Nguyên Thế Tổ, Minh Thành Tổ, Thanh Càn Long cho tới Mao Trạch Đông… đều lăm le xâm lăng Nam quốc nếu có cơ hội và khả năng. Lòng tham không đáy, thủ đoạn dã man của rợ Hồ (như cách nói của Trần Quang Khải: “cầm hồ Hàm tử quan”) đã khiến dân Việt lúc nào cũng phải cảnh tỉnh và mài sẵn long tuyền (như Đặng Dung từng nói: “Kỷ độ long tuyền đới nguyệt ma”) để trảm xâm lăng bảo vệ giang sơn Hồng Lạc.
Đối với cường địch, dân Nam vốn kiên cường và dũng cảm nhưng “bất đắc dĩ dụng quyền”. Lại vì hiếu hòa, trọng nhân ái như Nguyễn Trãi từng viết trong Bình Ngô đại cáo: “Lấy đại nghĩa để thắng hung tàn. Đem chí nhân để thay cường bạo”, nên trước lúc giao tranh và sau khi thắng trận, ta vẫn thường sử dụng “lễ”, nghĩa là ngoại giao để thức tỉnh kẻ thù rằng nên sớm tỉnh ngộ, tránh thảm bại nếu xâm phạm đất của “nam đế” như Tướng quân Lý‎ Th‎ờng Kiệt từng khuyến cáo bọn đồ tể từ Biện Kinh kéo sang ta: “nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”.

Hoàng Xuân Hãn
Hoàng Xuân Hãn

“Tiên lễ hậu binh”nên trong ngoại giao cần nhất vai trò của sứ giả. Hoàng Xuân Hãn trong tác phẩm Lý‎ Thư‎ờng Kiệt kể chuyện sứ giả đại diện cho vua Lý‎ Đào Tông Nguyên theo lệnh vua nước ta, vào năm 1078 sang sứ Tống, mượn cớ cống voi nhưng chủ tâm đòi lại châu Quảng Nguyên, vốn đất ta mà bọn Quách Quỳ chiếm đoạt. Ta lấy lại được Quảng Nguyên nhờ có vua hiền, tôi giỏi, lại thêm sứ giả tài ba nên Tống Thần Tông biết khó nuốt châu quận của đất Việt phải cắn răng trả Quảng Nguyên cho phương Nam. Người sau mai mỉa vua tôi nhà Tống trong sự kiện ngoại giao này:

Nhân tham Giao chỉ tượng
Khước thất Quảng nguyên kim.
(Vì tham voi giao chỉ nên mất vàng Quảng Nguyên)

Le-Hoan
Lê Hoàn

Hoàng Xuân Hãn luôn luôn ca tụng chính sách ngoại giao và bảo vệ giang sơn của tổ tiên chúng ta:
“Nếu ai xét lịch sử Nam tiến của dân tộc Trung Quốc, thì không thể không ngạc nhiên trước sự ngày nay còn có nước Việt Nam tự chủ trong khi các bộ lạc “Man-di”đã bị thôn tính từ triền sông Dương Tử đến sơn tuyến từ Ấn Độ sang Đông Hải nước ta. Các nước ở phương Nam đã không bị quận huyện, chính nhờ sơn tuyến ấy, chỉ trừ đất Lạc Việt thì có năm đường thủy lục từ biên giới Bắc, châu vào trung nguyên triền sông Nhị, lớn chỉ bằng một phủ của Trung Quốc mà thôi. Sự tồn tại ấy đã nhờ vào các đức tính thông minh, bền bỉ, tự hào của con cháu Lạc dân; biết học tập văn hóa người mà không để thâu hóa; biết lợi dụng hình thế, thời tiết, khí hậu nước mình; biết thừa cơ thế yếu tạm thời của Trung Quốc mà giải phóng nước mình; biết khống chế Nam thùy không để Trung Quốc lừa gạt liên minh để phân tán thế lực ta; biết thâu hóa những dân tộc hoặc cá nhân dị chủng, kể cả những người đến đô hộ mình; và biết nhún nhường, hòa hảo đối với Trung Quốc khi họ không tỏ ý xâm lăng”.

Trong lãnh vực quân sự và chính trị ta đã có Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi và Quang Trung. Còn bảng vàng ngoại giao đời sau kể tới Đào Tông Nguyên, Mạc Đĩnh Chi, nhất là Nguyễn Biểu và Lê Quý‎ Đôn.
Sứ giả không những phải học rộng tài cao, có thể dùng học vấn và ngôn ngữ để khuất phục kẻ thù, khiến đối phương ở nơi tự hào là nguồn cội Khổng-Mạnh, nơi sản xuất Kinh Thi và Sở Từ cũng phải tâm phục khẩu phục. Vì phục sứ giả nên vua quan phương Bắc không thể coi phương Nam là man di mọi rợ được. Đó là Lê Quý Đôn ở tuổi ba mươi đã khiến kẻ sĩ Bắc đình nghiêng mình kính trọng.

Hoàng Xuân Hãn trong bài Lê Quý Đôn đi sứ Thanh đã cho chúng ta biết: “Trong bài Đề Từ sách Bắc Sứ Thông Lục, ông kể chuyện rằng: “Khi ta mới tám chín tuổi, học sách Luận Ngữ (Khổng Tử) với cha, đến câu “Làm việc biết điều đáng thẹn, đi sứ bốn phương mà không làm nhục mệnh Vua, như thế có thể gọi là kẻ Sĩ”, cha tôi hỏi: “Mày có thể làm như vậy không?”Tôi đáp: “Chỉ biết thẹn là khó mà thôi. Còn đi sứ làm vẻ vang Nước nhà, làm trọng mệnh Vua, thì có khó gì?”Cha tôi cười mà bảo: “Thằng bé này có hào khí!”và dạy rằng: “Ý khí thì cố nhiên nên hào, nhưng không nên quá. Nên không nhún, không rời phẩm cách, nhưng phải nhã nhẵn, nhẹ nhàng, đừng để lộ ra một chút thô suất”. Tôi thưa: “vâng”.”

Sử gia nhắc lại:
“Gần cuối triều Lê, đời Cảnh Hưng, hai lễ tuế cống năm 1756 và 1759 cử hành từ kinh đô Thăng Long vào đầu năm 1760. Vả chăng ở nước ta, trước đó 20 năm, đã có chuyện đổi vua mà giấu ‘Thiên Triều’. Nguyên là, năm 1735, khi vua Long Đức (Thuần Tông) mất, chúa Trịnh Giang lập em vua lên ngôi với niên hiệu Vĩnh Hựu. Vua Thanh cũng chịu sắc phong. Nhưng đến năm 1740, có phe đảng lập kế truất Trịnh Giang để lập Trịnh Doanh và nhân đó bỏ vua Vĩnh Hựu mà lập con vua trước, với niên hiệu Cảnh Hưng. Việc này tất nhiên không để vua Thanh biết. Vậy thì vua Cảnh Hưng ở ngôi trong 20 năm mà không có sắc phong của vua Thanh. Đối với Thanh, ta vẫn phải lấy tên vua Vĩnh Hựu để giao thiệp, và đối nội thì vua này được tôn làm Thái Thượng Hoàng. Trong khi đang sửa soạn việc tuế cống này, Thái Thượng Hoàng mất (8-6 Kỷ Mão 1759). Triều đình ta nhân dịp, xin phó thêm sứ vụ: việc cáo ai và cầu phong.
Sứ bộ gồm: chánh sứ Trần Huy Mật 45 tuổi, người huyện Đông Sơn xứ Thanh Hóa, đậu tiến sĩ năm 1736; giáp phó sứ (phó sứ số 1) Lê Quý Đôn 33 tuổi, người huyện Diên Hà xứ Hải Dương, đậu bảng nhãn khoa 1752; và ất phó sứ (phó sứ số 2) là Trịnh Xuân Chú 55 tuổi, người huyện Đông Ngạn xứ Kinh Bắc, đậu tiến sĩ khoa 1748. Công chức phụ tá gọi là hành nhân, có 9 người, 3 thông sự (phiên dịch), 2 trung thư (thư kí), 2 y viện (y sĩ) và 2 người thường vụ. Các sứ lại được chọn một số tùy nhân để giúp việc riêng, số là 11 người; và có thể đem theo một người bà con thân cận gọi là môn tử. Lần này với 2 môn tử, sứ bộ gồm tất cả 25 người.
“Vì còn ít tuổi, chức tước chưa cao, cho nên ông chỉ được sung phó sứ số một, nhưng kì thật thì trong các cuộc ứng đối, ông đứng hàng đầu. Trong phần nhỏ sách ký sự của ông còn lại, ta cũng thấy người Trung Quốc để ý đến ông hơn chánh sứ nhiều. Lời ông viết nối trong Đề Từ: “Từ trước đến nay, văn thần được tuyển đi sứ là trên dưới 50 tuổi. Mà tôi vâng mệnh đi lần này, tuổi mới hơn 30, bề ngoài còn hăng hái sỗ sàng. Tự vui thích chơi bời bay nhảy, cảm tình với xưa, tò mò với nay. Đến đâu cũng đề vịnh (xướng họa với chánh sứ đến vài trăm bài). Đến những chỗ công sảnh, nhà quan, hễ thấy đối liễn, thơ đề trên quạt, ta đều nhẩm ghi để khi về thuyền sao lại. Ta lại được các bậc cao sĩ phu Trung Châu đem thi từ thân tặng. Cho nên trong lúc này có ghi nhiều văn từ thấy ở các công thự, ở phong cảnh núi sông, những lời hỏi đáp với các quan liêu”.

Sự thành tựu của sứ vụ, thì ông tự phê bình trong Đề Từ:
“Ta vừa qua Nam Quan, liền gặp quan Tuần Kiểm họ Tra đưa thơ thách họa. Dọc đường gặp các quan liêu, bậc cả, sĩ phu đặt những câu hỏi hóc búa, họ bắt bẻ tranh luận như là kẻ địch. Lại có sứ Triều Tiên, quan Khâm Sai bạn tống đều là những bậc văn hào. Họ đã không coi mình là người nước ngoài mà khinh, đã tiếp chuyện nhiều lần. Tôi may nhờ hồng phúc, dùng văn tự nói chuyện, may khỏi bị khinh khi, mà còn được tán khen. Các sách Quần Thư Khảo Biện và Thánh Mô Hiền Phạm Lục là những sách tôi soạn trước 30 tuổi, được các người thích và giữ như của quí. Vậy mới biết lòng người không khác nhau. Lấy lòng thành thật chính trực đãi nhau, lấy văn tự làm quen nhau thì người bốn bể đều là anh em cả … Vả chăng nếu mình rụt rè, tự coi mình là người nơi xa vắng, ít giao tiếp, ít nói năng thì bị người ta khinh bạc, mà dùng tiếng Di Ngôn Di Sứ (lời mọi, sứ mọi) mà chỉ chúng ta”.

Trí thức phương Trung nguyên đã bị Lê Quý Đôn chinh phục qua những lời hỏi đáp. Chẳng hạn khi một danh Nho nhà Thanh là Chu Bội Liên đặt một câu hỏi chê nước ta không có thành quách nguy nga, lập tức nhận được câu trả lời ngầm nhấn mạnh “chỉ vì họa ngoại xâm từ phương Bắc rình rập nên phải có kế hoạch phòng vệ thích nghi”.

“Chu nói: “Quí quốc có nhiều người tài nghệ như thế, mà tôi nghe rằng hiện nay, các trị sở tại trấn, phủ, huyện đều không có thành quách, là tại sao?”
Lê Quý Đôn đáp: “Sách Hán chí chép: Giao chỉ có hơn 60 thành. Gần đây, trong khoảng triều Minh cai trị, cũng đắp hơn 20 thành. Không phải rằng nước tôi không biết giữ nếp cũ, nhưng ban đầu, khi quốc triều (Lê) mới lập, đã san bằng hết. Chỉ ở trấn thị, đắp lũy đất mà thôi. Tôi trộm nghĩ rằng đó bởi có thâm ý…”
Chu hỏi: “Tại sao?”
Đáp: “Nước nhỏ tôi và nước lớn Ngài, sự thể không giống nhau. Nay may được Thánh triều ôm ấp vỗ về, hai nước thành một nhà, không phải trở lại lo nữa. Nhưng trong buổi đầu triều Nguyên và triều Minh, bị tụi biên thần tham công mà sinh sự với nước tôi. Chúng tôi sợ bị đột nhập. Nếu tụ nhau ở trong một thành, ngồi để chịu vây đánh, thì chẳng là kế hay. Dân chúng là lính, làng mạc là của. Nếu ở linh tinh phân tán, thì muốn đánh cũng không chỗ nào mà đánh, muốn cướp cũng không thấy đâu mà cướp. Trái lại, nhân chỗ họ mà phá rối, đặt phục mà cản đường. Làm như vậy mới có thể giữ nước”.
Những câu trả lời trên thật là lý thú. Một mặt, nhờ Lê Quý Đôn nhắc lại, chúng ta được biết cái cửa Thiên An Môn cùng 8 cửa khác của thành Bắc Kinh là công trình của người nước ta, cũng như doanh thự trong thành. Việc nầy người Trung Quốc đời nay vẫn biết. Một mặt khác, ông đã giải thích một cách chí lý chiến lược “của không nhà trống”, phân tán du kích, để cảnh giác người Thanh. Chu Bội Liên phải khen rằng: “Sứ quân biện cực tài! Nhưng cuối cùng, tôi cho rằng như thế không bằng xây thành quách làm hiểm trở mà tự thủ…!”
Rồi sau khi Lê Quý Đôn lý luận bác thuyết Việt Thường hiến bạch trị cho Chu Vương và Chu Vương cho xe chỉ nam, Bội Liên mừng rỡ mà khen: “Bàn luận thật là khoái, khiến người thán phục và kính trọng!”.
Và ngày nay, đọc đến đây, cũng phải thán phục một người trẻ tuổi, học tiếng nước ngoài, phải theo đòi cử nghiệp, mà đã kiến thức mông mênh, lý luận chắc chắn, ứng đối mẫn tiệp như Lê Quý Đôn. Thật ông đã làm đúng như lời hứa với cha khi tám chín tuổi: làm vẻ vang Nước nhà”.

Trong bản dịch Nghĩa sĩ truyện của Hoàng Trừng, kể lại chuyện vị đại anh hùng thời Trần mạt là Nguyễn Biểu, Hoàng Xuân Hãn lại có cơ hội nói về một đại sứ giả của nước ta khi vận nước chông chênh trước giặc Minh tàn bạo:

“Đức Nguyễn-Biểu, người huyện Chi-la, làng Bình-hồ. Đậu Thái-học-sinh. Về đời Trần Trùng-quang làm quan đến chức Điện-tiền-thị-ngự-sử. Tính Ngài rất cương trực, gặp việc gì thì quả-quyết nói ngay. Trước hồi bấy giờ, giặc Minh sai Trương-Phụ đắp thành trên núi Nghĩa-liệt. Vua Trùng-quang đắp thành ở Chi-la về phía nam sông, cùng giặc đối lũy.
Sau vua vào Hóa-châu. Trong khoảng đời vua Minh Thành-tổ hiệu Vĩnh-lạc có xuống chiếu tìm con cháu nhà Trần. Vua bèn sai Ngài sung chức đi cầu phong. Ngài bèn lạy trước bệ vua để lĩnh mệnh; tiện đường qua thăm nhà, yết tổ-tiên và sắm sửa đồ lề, rồi mới ra đi. Khi tới trước tướng giặc Trương-Phụ, bọn giặc bảo Ngài lạy. Ngài đứng trơ không nhúc-nhích. Nhân thế, giặc đặt tiệc thết, nấu một đầu người mà mời, cốt để dò cho rõ ý Ngài. Ngài tức thì lấy đũa, khoét hai mắt, hòa với giấm mà nuốt (trong bản chép có chua thêm rằng: Lúc tiệc bày ra, Ngài cười mà nói: đã mấy lúc mà người Nam được ăn đầu người Bắc).
Trương-Phụ than rằng: “Thực là một tráng-sĩ, thấy thế mà không kinh sợ”. Giặc biết Ngài không chịu khuất, lấy lễ phép mà mời Ngài về.
Ngài về tới cầu Lam. Có tên Phan-Liêu là con Phan Quý-Hựu, người làng Bàn-thạch, huyện Thạch-hà, trước đã hàng với giặc, được làm tri-châu Nghệ-an và hay cùng giặc vào ra bàn-bạc. Nhân đó, Trương-Phụ hỏi Liêu rằng Ngài là người thế nào? Liêu vốn cùng Ngài không thích-hợp, nên nói rằng: “Người ấy là một người hào-kiệt nước An-nam. Nếu Ngài muốn lấy nước An-nam mà lại thả người ấy ra thì việc làm sao xong được”. Trương-Phụ cho là phải, tức thì sai người đuổi bắt trở lại. Ngài tự đoán chắc là phải giết, bèn lấy tay đề vào cột cầu Lam rằng: “Thất nguyệt sơ nhất nhật Nguyễn-Biểu tử” nghĩa là “ngày mồng một tháng bảy Nguyễn-Biểu mất”.
Ngài bèn trở lại. Trương-Phụ trách Ngài vô-lễ, người hầu bắt Ngài lạy. Ngài càng không chịu khuất, và nghiêm sắc mặt mà mắng Trương-Phụ rằng: “Bề trong thì lấy kế để mưu đánh lấy, bề ngoài thì phao rằng đem quân sang để làm việc nhân-nghĩa. Đã hứa lập con cháu nhà Trần, mà lại đặt bày ra quận huyện để cai-trị. Không những cướp của-cải quý báu, mà lại còn giết hại sinh-dân. Bay thực là tụi giặc làm càn!”
Trương-Phụ giận lắm, trói Ngài vào dưới cầu Lam, trước chùa Yên-quốc, rồi đánh chết (bản chép có chua thêm: lúc ấy, ba ngày nước thủy-triều không lên đến đó. Ngài vẫn mắng Phụ không dứt tiếng. Phụ cho là có thần giúp, bèn cởi trói và đem trói trước cửa chùa Yên-quốc rồi đánh chết). Sau lúc Ngài mất (bản chữ Hán có chép thêm rằng: Phụ vì nghĩa mà lấy hậu-lễ đem táng Ngài ở làng Bình-hồ. Bây giờ trước miếu là lăng đó). Vua nghe tin lấy làm đau-đớn và than-tiếc.
Vua Lê Thái-tổ khởi nghĩa ở núi Lam-sơn, cùng quân Minh đánh nhau ở chùa Bình-than. Ngài báo mộng rằng sẽ đến giúp. Quả thực, quân Minh thua to. Sau lúc đã đại-định rồi, vua hạ chiếu lập đền thờ ở làng cũ, sắc phong làm Nghĩa-sĩ đại-vương, sai quan mỗi năm về tế: cho cắt một người trong con cháu làm chức phúng lễ, hai người phụ-tế, sáu tên hầu rượu để thờ Ngài.
Về sau, con cháu Ngài, đời đời quý hiển người ta cho là vì lòng trung-nghĩa của Ngài mà giời báo đáp.
Ôi! lúc thời mạt, cúi đầu mà theo, bỗng nhiên không kẻ vì vua can-gián; khi gặp nạn, tiết-tháo thay đổi, ai là tôi giỏi, vì nghĩa chết trung. Chỉ có Ngài, gặp thời vận hết, nước nhà nghiêng đổ lìa tan mà hay vì nước hết lòng trung, bỏ thân giữ nghĩa. Làm như vậy, nghìn năm sau, nghe tiếng Ngài, người ta vẫn tưởng rằng sinh-khí Ngài còn rõ-ràng trước mắt. Hoặc là cuộc đời thay đổi, kẻ đã hàng giặc, thấy đó mà không thẹn lắm ru!”

Đi sứ như Lê Quý Đôn và Nguyễn Biểu mới không làm nhục dân tộc, không tủi hổ là con Rồng cháu Tiên. Còn học thói Trần Di Ái đi sứ Nguyên, dù là chú vua Trần nhưng chỉ vì danh lợi và hèn nhát nên đã cam tâm làm tôi tớ Bắc đình bán rẻ quốc gia hay như Trương Quyền là sứ giả của Lưu Chương, chúa Tây Thục, vì lợi riêng mà mang bản đồ quê hương hết dâng cho Tào Tháo không xong lại mang hiến cho Lưu Bị thì tránh sao không bị muôn đời mai mỉa và thóa mạ.

Hoàng Yên Lưu
—————–———
Tài liệu tham khảo:
– Lê Quý Đôn đi sứ nước Thanh -Hoàng Xuân Hãn- Giai Phẩm Đoàn Kết Xuân 80
– Nguyễn Biểu, một gương nghĩa liệt -Tuyển tập La sơn Yên hồ q.2, do nhóm Hữu Ngọc soạn 1998

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Tam Thừa Đi Thỉnh Kinh

T.T đáp xe đò Megabus chuyến duy nhất khởi hành 9:50 tối từ Toronto đến Philadelphia. Đi ban đên nên qua biên giới cũng nhanh hơn ban ngay. Hải quan Mỹ hỏi qua loa vài câu như thông lệ rồi mình bỏ hành lý lên máy dò (scan) là xong. Đến trạm ở Buffalo lúc đó đã 12:10 AM , tài xế dặn dò: Quý vị đi có tiêu tiểu, ăn uống thì rán trong vòng 20 phút. Sau đó xe chạy một mạch 6 tiếng mới ghé trạm nghỉ. Lên xe đúng giờ đi ngủ nên ai cũng làm một giấc no nê đến sáng. Tỉnh dậy thì đã đến trạm nghỉ 20 phút. Tài xế mới thay cho tài xế cũ lái đêm 6 tiếng đã mỏi mệt. Mua ly cà-phê uống, duỗi chân, duỗi tay rồi lên xe tiếp tục trực chỉ Phila. 9:20 sáng xe đã đến nơi.

Thực sự là chuyến đi chơi nhưng duyên may đưa đến. Cậu em khoe cuốn sách mới lấy về ở chợ Việt Nam hôm qua: Ultimate Healing The Power of Compassion – Điều Trị Bịnh Tận Gốc Bằng Năng Lực Của Tâm Bi Mẫn. Thật là buồn ngủ gặp chiếu manh. T.T đang tìm hiểu về vấn đề này. Thời nay ai cũng nói đến vấn đề sức khỏe. Những người Tây Tạng ở trên núi cao, ăn uống thiếu thốn tại sao họ rất khỏe mạnh, sức đề kháng cơ thể lại rất tốt. Rõ ràng yếu tố tâm linh, tinh thần đóng vai trò quan trọng đến sức khỏe con người.

Trong xã hội văn minh Âu Mỹ, các nhà tài phiệt nghĩ nhiều đến lợi nhuận nên dân chúng càng bị bịnh nhiều thì họ càng mừng, thuốc Tây bán được, nhà thương, bác sĩ, dược sĩ, y tá, y công có job làm. Tất cả những dịch vụ liên hệ có thể làm giàu. Ngoài ra còn bảo hiểm y tế. Nếu ai cũng có thể tự giúp mình khỏe mạnh mà không tốn kém gì thì chắc cả một hệ thống y tế Âu Mỹ sẽ sụp đổ. Lương y Võ Hoàng Yến khi qua California chữa lành có nói đùa khi hỏi bệnh nhân chi phí chửa bịnh ở các bệnh viện Mỹ. Dân chúng ai cũng than: “Mấy chục ngàn trở lên đó thầy ơi!” Ông Yến cười: “Vậy mấy hôm nay tôi kiếm được bạc triệu rồi.”

Trở lại việc kinh sách. Khi biết được chổ “thỉnh kinh”, T.T. ghé đến thì là ở ngay bên cạnh chợ Việt Nam Hùng Vương. Trong một góc nơi bầy bàn tủ thờ là hai cái kệ để đầy những kinh sách của các nhà hảo tâm. Điều ngạc nhiên là chẳng ai để ý. Sách kinh, DVD để đầy nhưng người qua lại không ai buồn để mắt tới. T.T và bạn tha hồ chọn lựa và thỉnh được cả thùng kinh và một bịch DVD các bài giảng. Trong số sách đó T.T ưng ý cuốn The Healing Power of Mind – Năng Lực Chữa Lành của Tâm và quyển sách nhỏ “423 Lời Vàng Của Phật”, tức là Kinh Pháp Cú. Trên đường về T.T kéo một va-li đầy kinh. Đến biên giới hải quan Canada hỏi ông có mua gì không? T.T cười “Chỉ xin, không mua gì hết”. Cái khó bây giờ không phải là việc thỉnh kinh mà là hiểu kinh và ứng dụng vào đời sống. Xã hội đẩy mình vào trong vòng danh lợi. Nhu tên nô lệ cứ phải gồng sức, gồng mình đẩy cái “máy xay bột” vòng vòng cho đến khi hết hơi kiệt sức mới thôi.

Ngày xưa Tam Tạng Tây Du thỉnh kinh vất vã khổ sở đến chừng nào. Mất bao năm vượt qua bao gian khổ. Về nước thì đã 16 năm trời. Tam Tạng mặc dù bị hoàng đế ra lệnh cấm đi du hành qua Ấn Độ, năm 629 Sư liều mình ra đi để hành hương chiêm bái quê hương Đức Phật, hi vọng sẽ tìm kiếm và nghiên cứu kinh điển mà hồi đó Trung Quốc chưa biết tới. Tập ký sự du hành của Sư sau khi Sư vinh quang trở về năm 645, có tên là Đại Đường Tây Vực Ký, để lại cho hậu thế một nguồn tài liệu vô song về địa lý, xã hội và tập quán của miền Trung Á và Ấn Độ trong thế kỷ thứ bảy. Nhiều miêu tả của Sư về các vùng đất đó đã đạt tới độ chính xác mà trong thế kỷ 19, 20, nhiều nhà du khảo phương Tây đã tham khảo tập ký sự đó như một tập sách hướng dẫn nhằm tìm lại và xác định những vị trí đã được tìm ra và rồi bị lãng quên trong nhiều thế kỷ.

Ngay nay mình qua Mỹ ngồi xe đò nhắm mắt ngủ một giấc đã đến nơi. Thời gian ngồi xe đò, đi và về mất 23 tiếng, tiền vé tổng cộng $80, không cần Tôn Ngộ Không và Trư Bát Giới theo hộ tống. Trời ơi khỏe gì đâu! Chuyến đi của Tam Tạng làm chuyển biến cã một xã hội Trung Hoa từ tôn giáo, tư tưởng và cũng gây ảnh hưởng lên nền nghệ thuật và kiến trúc Trung Quốc bằng những vật dụng và thiết kế do Sư mang về. Còn chuyến đi của mình mang một đống kinh về nhà còn nằm đó chưa có thì giờ mở ra xem. Biết có mang được ích lợi gì không? Quả là tiền nào của đó.

Đang nghỉ vẫn vơ thì màn hình computer hiện lên cái quảng cáo “How to Make One Million in One Week” . Trời! Có lẽ đây là quyển kinh của thời đại mới chăng? Kinh thì nói lời chân thật còn mấy quảng cáo lường gạt này thì cũng là kinh nhưng là kinh … hoàng.

Vũ Tam Thừa

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Tu-líp Tạ Tình

Tu-líp Tạ Tình
Mỗi năm tại Ottawa, thủ đô của Miền Đất Thiên Đàng, khách du xuân lại tụ về đây để tham dự hội hoa tu-líp.

DSCF5428
Hoa tu-líp trồng nhiều nơi trên nước Canada, bên Âu Châu và khắp thế giới; nhưng hoa tu-líp trồng ở Ottawa mang một ý nghĩa đặc biệt.
Nguồn gốc của ngày lễ hội hoa tu-lip cũng mang một ý nghĩa sâu xa, thắm thiết của lòng biết ơn của nước Hà Lan (Netherland) với Canada từ hồi Đệ Nhị Thế Chiến.DSCF5448
Khi Âu Châu bị Đức Quốc Xã xâm chiếm, Hoàng Gia Dutch (Hà Lan) đã phải trốn chạy bọn Phát-xít. Họ đã tìm mọi cách để đào thoát khỏi bọn quỷ dữ Nazi, và Canada chính là miền đất bao dung đã ân cần tiếp đón họ.DSCF5464
Vì vậy năm 1945 ngay sau Đệ Nhị Thế Chiến Hoàng Gia đã gởi 100,000 củ  tu-líp đến Ottawa để cảm ơn dân Canada đã cho Công Chúa Juliana và con gái của người được trú ẩn trong thời gian người Dutch bị bọn Đức Quốc Xã Nazi xâm chiếm.
Điều đặc biệt đáng ghi nhớ nhất là Công Nương Margriet con gái của công chúa  Juliana đã được hạ sinh tại nhà thương Ottawa Civic Hospital. Cô bé Juliana được mang quốc tịch Dutch (người Hà Lan) vì khu hộ sinh của nhà thương được xem như thuộc vùng đất quốc tế, không thuộc quốc gia nào.DSCF5500
Cứ thế mỗi năm, Juliana gởi tặng thủ đô Canada là Ottawa 10,000 củ hoa  tu-líp. Ottawa dần dần trở nên nỗi tiếng về hoa  tu-líp. Mãi cho đến năm 1953 Ban Thương Mại Ottawa và nhà nhiếp ảnh Malak Karsh đã tổ chức hội hoa  tu-líp đầu tiên của Canada.
Năm 2002 công nương Margriet trở lại Ottawa để kỷ niệm 50 năm ngày hội hoa  tu-líp.DSCF5470
Trong hội hoa  tu-líp ở Ottawa, du khách sẽ thấy những hoa  tu-líp rất đặc biệt không có trồng ở những nơi khác. Những hoa  tu-líp màu nhung tím, màu ca phê sửa, màu sen hồng, và những hoa  tu-líp hồng có viền màu trắng như tuyết.DSCF5446
Tạ tình bằng hoa, nhất là hoa  tu-líp, là một nghĩa cử văn hóa cao thượng và tao nhã. Như những nhà thơ, nhạc sĩ, họa sĩ tặng nhau những món quà văn nghệ. Chẳng ai tặng nhau mấy cây vàng!DSCF5451
Giây phút cuối cùng ra đi, vàng bạc của cải chẳng có ý nghĩa gì nhưng những món quà văn nghệ sẽ còn lưu trong tâm thức.DSCF5497
Hoàng Gia Dutch đã chọn cách nói lên sự biết ơn của mình bằng một ngôn ngữ vừa là họa, vừa là thơ, vừa là nhạc…không lời. Truyền thống tốt đẹp đó còn tiếp tục đến ngày hôm nay.
KMVN vừa ghé thăm hội hoa tu-líp tại Ottawa tuần rồi May 15, xin gởi đến các bạn một ít hình ảnh về ngày hội hoa nhé.

Vũ Tam Thừa

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Nguyễn Hữu Tiến và Việc Bảo Tồn Văn Hóa Cổ

 

Trong nhóm Nam Phong, Đông châu Nguyễn Hữu Tiến được coi là cây viết uy tín và nhiệt tâm, bền lòng dùng ngòi bút bảo tồn tinh hoa văn học và văn hóa cũ trước trào lưu văn hóa Tây phương du nhập ào ạt vào đất nước ta những năm đầu thế kỷ XX.

Nguyễn Hữu Tiến sinh năm 1875 quán làng Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, tỉnh Hà đông, nay thuộc Hà nội, tạ thế 1941 tại quê hương.Ông thi hương đậu tú tài nhưng không theo hoạn lộ mà chuyển sang con đường báo chí và biên khảo.Khi Nam Phong ra đời, ông đã được mời cộng tác và đã hỗ trợ chủ bút Phạm Quỳnh, một cây bút tân học để tăng thêm giá trị cho một tờ báo chủ trương dung hòa Đông Tây.Gia nhập làng báo, Nguyễn Hữu Tiến đóng góp đều bài vở, vừa biên khảo vừa dịch thuật và sáng tác, cho tờ Nam Phong trong hơn 17 năm trời.
Điều hậu thế không bao giờ quên, Nguyễn Hữu Tiến đã dành trọn cuộc đời, nhiệt tình trong việc xây dựng chữ quốc ngữ và nền văn học chữ quốc ngữ, đồng thời bảo tồn tinh hoa văn hóa cũ xây dựng trên học thuyết Khổng Mạnh.Ông đã cùng Nguyễn Đôn Phục dịch hai bộ Luận ngữ và Mạnh Tử ra quốc âm. Ông đã dịch những tác phẩm liên quan đến văn hóa Trung hoa của những tác giả tân học như Trung quốc luân lý học sử, Văn học sử nước Tàu, Trung quốc phong tục sử.Đối với văn hóa và văn học nước nhà, Đông châu Nguyễn Hữu Tiến cũng dành nhiều trang báo để biên khảo và nghiên cứu.Năm 1915, ông đã xuất bản tập biên khảo nổi tiếng về nữ sĩ Hồ Xuân Hương với cái tên Giai nhân di mặc (Nét mực giai nhân để lại).Trong Giai nhân di mặc, Nguyễn Hữu Tiến giới thiệu gần như đầy đủ tác phẩm của “bà chúa thơ nôm” mà ông sưu tầm được và kể lại nhiều sự tích về nữ sĩ này. Tiếc thay, nhiều điều ông khẳng định về nhà thơ nữ tài danh này lại không dẫn nguồn tư liệu chuẩn mực nào, nên tác phẩm của ông chỉ được coi như một truyện ký hơn là một biên khảo có giá trị.Một tác phẩm quan trọng khác của Nguyễn Hữu Tiến là Cổ xúy nguyên âm (1917). Tác phẩm này gồm những bài giảng về các thể loại văn học cũ và tuyển tập thi ca cổ chọn lọc từ văn học cổ điển Việt Nam.Trên Nam Phong, ông giữ mục thi ca bình chú Nam âm thi ca khảo biện và giới thiệu nhiều thi nhân từ Ôn như hầu, Nguyễn Hữu Chỉnh tới Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến, và Dương Khuê.Trong Cổ xúy nguyên âm ông viết: “Văn chương là một bức gấm đại hồng, thêu dệt các giọng thanh âm trong một nước cho nên văn nên vẻ, mà lại là một bức tranh tả chân vẽ vời tính tình con người ta ra cho như thực như in”.Tác giả kỳ vọng: “May ra trong đám ca đàn thi xã các bậc thiếu niên sau này có thể nhân đó mà thêu dệt, mà vẽ vời làm cho văn chương tổ quốc ta có ngày thắm như gấm, tươi như hoa, mới là bức tranh truyền thần! Mới là bức thêu tuyệt diệu”.Quả như tấm lòng mong mỏi của bậc tiền bối, các nhà thơ lớp sau trong Phong trào thơ mới (1932-1945) đã xây dựng cho thi đàn Việt Nam một vườn thượng uyển đầy hoa thơm cỏ lạ với những tác phẩm “thắm như gấm, tươi như hoa” cho đến nay còn chinh phục bao nhiêu thế hệ sau.Năm 1927, cũng trên Nam Phong, Nguyễn Hữu Tiến dịch Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ và Lĩnh Nam dật sử, tác giả là một người Mán ở Đà Giang đã được Trần Nhật Duật (danh tướng đời Trần) dịch ra chữ Hán. Dịch phẩm này giúp ích các nhà nghiên cứu sử Việt giai đoạn bang giao giữa nước ta (thời Lý Nhân Tông) và nhà Tống (thời Tống Thần Tông) có thêm tài liệu quý.Nhận định về Nguyễn Hữu Tiến, đối với việc dịch thuật tác phẩm liên quan đến Trung quốc, nhà phê bình Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại đã viết những dòng chân xác sau đây:“Ông là một nhà văn cho chúng ta biết về học thuật tư tưởng nước Tàu nhiều hơn cả các nhà văn lớp cũ. Những bài khảo cứu biên tập và dịch thuật của ông đăng rất đều trong tạp chí Nam Phong đều là những bài về lịch sử, về phong tục, về văn minh và luân lý và tôn giáo, văn chương nước Tàu; ông lại nghiên cứu và dịch thuật rất công phu riêng về học thuyết Khổng Mạnh và các bực danh nho Trung hoa trong những tác phẩm Mạnh tử quốc văn giải thích, Lịch sử sự nghiệp Tư Mã Quang, Gương đức dục của Lương Khải Siêu…”
Trong Mục lục phân tích Nam Phong, học giả Nguyễn Khắc Xuyên cũng có cùng nhận xét vai trò quan trọng của Nguyễn Hữu Tiến: “Như các nhà khảo cứu văn học Việt Nam đã nhận xét về Đông châu, nếu với nền Pháp văn thịnh hành ở nước ta, người ta ít chú trọng tới những bài giới thiệu thái tây của Phạm Quỳnh, thì với nền Hán học suy vong, người ta càng cần đến những bài dịch thuật và khảo cứu về học thuật và tư tưởng nước Tàu. Phải chăng đó là khía cạnh có thể trường tồn được của Nguyễn Hữu Tiến?”Nguyễn Hữu Tiến trong vai nhà báo, tỏ ra quan tâm tới những gì nóng bỏng xảy ra quanh mình. Ông từng viết trên Nam Phong đề cập tới thắc mắc chung của độc giả về văn học và xã hội như những bài: Thơ mới và thơ cũ (NP số 193), Một đạo luật bảo vệ tầm tơ (NP số 200), Tình trạng sinh hoạt dân quê hiện nay (NP số 209).Có điều ít người để ý là Nguyễn Hữu Tiến là nhà nho có khuynh hướng nghệ sĩ. Ông là tác giả một vở tuồng ca tụng tình yêu lý tưởng xây dựng trên luân lý cũ. Đó là bộ Đông A Song Phụng (1916). Hai chữ “Đông” “A” ghép lại là chữ “Trần”, trong vở tuồng này tác giả kể lại hai cuộc tình dưới thời nhà Trần (vì thế mới có tên là song phụng):Câu chuyện xoay quanh một sự kiện dã sử ghi lại: Hưng đạo vương gả con gái nuôi là Nguyên quận chúa cho danh tướng Phạm Ngũ Lão và đưa Trinh quận chúa vào cung để vua Trần Nhân Tông lập làm hoàng hậu (tức là Khâm từ hoàng hậu).Vở tuồng cổ chia làm hai đoạn sáu cảnh, nhưng đã vượt ra được cái hình thức quá cũ, quá gò bó của sân khấu xưa nên lời lẽ sáng sủa và bóng bảy hơn những vở trước đó.Học giả Phan Kế Bính trên Đông dương tạp chí số 96, đã xem diễn tuồng này và nhận xét: “Tuy trong các câu ngâm, câu vãn còn có nhiều câu chưa hợp điệu, làm con hát khi cất tiếng khó bắt giọng. Nhưng cái mục đích cốt yếu nhất của tác giả là diễn một đoạn tình duyên của Phạm Ngũ Lão và Nguyên quận chúa (con Trần Hưng Đạo). Diễn sự tích đó tất phải truy nguyên đến Hưng đạo vương và phải đem Trần triều chư tướng vào bàng thấn, mà rút đến thành thân là hết chuyện”.Khi Nam Phong đóng cửa, không phải Nguyễn Tiến Lãng (1909-1979) (thay Phạm Quỳnh làm chủ bút Nam Phong. Ông Lãng sau này làm con rể PQ) viết lời từ biệt độc giả mà chính Nguyễn Hữu Tiến làm việc này. Ông viết nhiều hàng cảm động, và sau đây trích một số dòng cuối cùng của bài NP cáo biệt:“Mười tám năm…thực đã hiến cho văn đàn người Nam một cái sự nghiệp thật khai mạc đáng ghi nhớ, là cái sự nghiệp làm tăng tiến cho tiếng mẹ đẻ. Sự nghiệp Nam Phong cống hiến cho quốc dân trong mười tám năm trời, nay tóm lại không ngoài hai cái tính cách: một là bắt đầu làm cho tăng tiến trình độ tiếng Nam, hai là duy trì chủ nghĩa quốc gia cho dân tộc.Nay đến lúc chia tay, cái hôn vĩnh biệt nồng nàn, Nam Phong xin chỉ vào tập sách 210 số có tên bản chí mà dặn cùng các bạn yêu văn, bạn học và bạn tri âm một lời rằng:
Bàn văn luận đạo bấy nay
Bạn cùng tri kỷ còn đây là tình.”
(Tổng thuật sự nghiệp Nam Phong -NP số 210, 16-12-1934)Tổng luận về vai trò Nguyễn Hữu Tiến trong văn học đầu thế kỷ XX, không ý kiến nào có giá trị bằng những dòng sau đây của Vũ Ngọc Phan viết cách đây gần một thế kỷ trong Nhà văn hiện đại vào một năm cuối của thập niên 1930 sang đầu thập niên 1940:“Những bài biên tập và dịch thuật của Nguyễn Hữu Tiến thật rất nhiều và rất công phu; nếu những bài ấy thu góp lại, sẽ là những bộ sách giáo khoa có giá trị về văn minh học thuật Đông phương. Trong lúc Hán học tàn cục này, những sách của ông lại càng quý lắm, vì chỉ trong vài mươi năm nữa là không có người làm nổi được những việc ông đã làm.Không nói đến những người bình thường, một nhà văn Việt Nam nếu muốn cho những văn phẩm của mình có những điều đặc biệt của Đông phương thì không thể nào không biết đến học thuật tư tưởng Tàu được. Những học thuật tư tưởng ấy đã làm nền móng cho cái học cũ của ta hàng mấy nghìn năm nay, tuy ngày nay chúng ta đã theo đòi học mới, nhưng ảnh hưởng cũ chưa chắc đã tiêu tan được, vì nó đã ăn sâu vào phong tục tập quán của chúng ta, làm cho chúng ta không còn phân biệt là của mình hay của người khác nữa.Những học thuyết tư tưởng cùng lịch sử nước Tàu, về đường văn học và chính trị mà Nguyễn Hữu Tiến đã biên dịch chính là những điều rất quý để người tân học hiểu biết cái học căn bản của nước ta, cái học mà người Đông phương không thể nào sao lãng được”. 
Hoàng Yên Lưu
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Tôn Giáo Tốt Nhất ?

Nhà thần học giải phóng nổi tiếng Leonardo Boff người Ba Tây. Ông đã phỏng vấn Đức Đạt Lai Lạt Ma về đề tài tôn giáo. Bài trả lời của Ngài thật tuyệt vời. Nó đã làm thay đổi hẳn nhãn quan về tôn giáo của ông. Ông kể: Tôi hỏi ngài mà trong bụng cũng có gian ý gài bẫy:

Theo Ngài, tôn giáo nào hiện nay là tôn giáo tốt nhất ?
Trong bụng tôi thầm nghĩ chắc ngài sẽ đáp Phật Giáo Tây Tạng, hay những tôn giáo Phương Đông lâu đời hơn Thiên Chúa Giáo là tôn giáo tốt nhất. Nhưng tôi đã lầm. Đức Đạt Lai Lạt Ma chắc biết cái ý của tôi nên đã mỉm cười rồi nhìn vào mắt tôi và từ tốn đáp:

– Tôn giáo tốt nhất là tôn giáo đưa ta tới gần Thượng Đế, và làm cho ta trở thành con người tốt hơn.

Để cho bớt lúng túng , tôi hỏi tiếp :

Cái gì làm cho tôi trở nên tốt hơn?
Ngài đáp:

– Bất cứ cái gì làm cho bạn biết thương xót, bao dung, xả thân, yêu thương, nhân đạo, trách nhiệm, đạo đức, thì những cái đó thuộc về tôn giáo tốt nhất.

– Tôi không cần biết bạn có theo tôn giáo nào hay không, điều quan trọng là thái độ của bạn với tha nhân, với bằng hữu, với gia đình, với nơi làm việc, với công đồng, với thế giới.

– Hạnh phúc không phải là định mệnh, mà là vấn đề chọn lựa.

– Bạn hãy thận trọng về các tư tưởng, vì tư tưởng sẽ sinh ra lời nói,

– Bạn hãy thận trọng về lời nói vì lời nói dẫn đến việc làm

– Bạn hãy thận trọng về việc làm, vì việc làm dẫn đến thói quen

– Bạn hãy thận trọng về thói quen vì thói quen làm thành tính nết

– Bạn hãy thận trọng về tính nết vì tính nết đưa tới số mạng

– Mà số mạng chính là đời của bạn.

Và Đức Đạt Lai Lạt Ma kết luận : Đó là sự thực. Không có tôn giáo nào cao hơn Sự Thực.

Nguồn: net

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Miền Đất Gấm Hoa

KMVN: Trà Lũ bao lâu nay vẫn thu hút độc giả Việt khắp nơi trên thế giới qua những bài viết rất dí dỏm,  vui tươi. Văn của ông phóng khoáng, trôi chảy. Ông viết dễ như chơi. Ta có cảm tưởng khi ông cầm bút là ý tuôn trào ra không cần đắn đo suy nghĩ. Bài viết của ông là một tổng hợp, vừa là một bản tin thời sự tóm tắt, vừa là câu chuyện cười, vừa là một bài giảng về đạo đức, triết lý nhân sinh và vừa làm công tác tiếp thị (marketing) cho các việc từ thiện, ích nước, lợi dân, cho ngành du lịch, cho chính phủ Canada.

Nói gọn lại ông là người có cái Tâm rất tốt, một Bồ Tát theo nhà Phật hay vị Thánh theo Công Giáo. Nói vậy không phải là nói quá. Suốt hai mươi năm nay ông đã không ngừng nghỉ cám ơn, khen ngợi,  ca tụng nước Canada một cách nhiệt thành không ai sánh kip. Nhìn vào số sách ông viết về Canada thì đủ biết. Nào là:

Miền Đất Hạnh Phúc (1989), Đất Mới (1991), Miền Đất Hứa (1993), Đất Thiêng Đàng (1995), Đất Yêu Thương (1997), Đất Lạnh Tình Nồng (1999), Đất Quê Ngoại (2001), Đất Anh Em (2003), Đất Quê Hương II(2014) v.v….

Nếu vợ chồng nhạc sĩ Vũ Tiết Hùng và Tôn Nữ Thùy Lan được chính Thủ Tướng Canada Stephen Harper và Thượng Nghị Sĩ  Ngô Thanh Hải khen ngợi nhờ viết bài hát Thank You, Merci Canada; thì nhà văn Trà Lũ càng xứng đáng được Thủ Tướng ca ngợi hơn, trong đóng góp của ông qua việc quảng bá đất nước Canada giàu đẹp này.

Nhà văn Song Thao ở Montréal khi khen ngợi Trà Lũ , ông viết

“Nghĩ vậy nên tôi cứ thắc mắc là tại sao đến bây giờ mà vị Toàn Quyền Canada chưa gắn cho nhà văn của chúng ta một mảnh huy chương nào. Đó là một thiếu sót.”

Đúng vậy. Một thiếu sót lớn! Bạn nào có quen biết hay gặp Thương Nghi Sĩ Ngô Thanh Hải thì cho ông ta hay nhé. Còn Thủ Tướng Stephen Harper có đọc được tiếng Việt đâu mà biết công sức của Trà Lũ?  Phải có một người Việt như TNS họ Ngô thì Canada mới biết nhiều về Trà Lũ. Chỉ mỗi chuyện hai mươi cặm cụi viết sách về Canada cũng đủ nói lên nhiều lắm rồi. Theo KNVN thì mỗi quyển sách của ông thì đáng thưởng một huy chương.

Chẳng đúng à ? Ông phát thuốc miễn phí (free) cho mọi người, những liều thuốc không tác dụng phụ (side effect). Tiết kiệm cho Bộ Y Tế bao nhiêu là tiền! Phải thêm một cái huy chương của  Bộ Y Tế nữa  mới đúng.

Khen người không bằng nghe người kể, đọc văn người. Mời các bạn thưởng thức tài nói, tài văn của Trà Lũ nhé.

Miền đất gấm hoa
Trà Lũ (April 20, 2015 Thời Báo)


Chưa năm nào làng An Lạc chúng tôi mừng Lễ Phục Sinh vui đến thế. Các cụ có biết tại sao không? Thưa, vì vị tiên chỉ làng tôi, Cụ Chánh, nhập đạo Công Giáo. Trong lễ đêm Thứ Bảy trước Chủ Nhật Phục Sinh, Cụ Chánh và Cụ B.95 đã được Cha Paolo làm lễ Thánh Tẩy. Mỗi Cụ được choàng một tấm khăn trắng lớn và tay cầm một cây nến cháy sáng tượng trưng cuộc đời mới, sức sống mới. Chưa bao giờ cộng đoàn nhà thờ vỗ tay chào mừng hai cụ to đến thế. Giáo dân ở đây đã quen Cụ lâu rồi, vì mỗi ngày lễ Tạ Ơn hằng năm, Cụ đều đến dự và lặp lại lời cám ơn giáo xứ đã bảo lãnh Cụ từ trại tỵ nạn Thái Lan khi xưa. Lần này Cụ cũng làm cả nhà thờ cảm động. Cụ nói: Năm 1981, khi đón chúng tôi tại phi trường, Cha Paolo bảo: Chúng tôi biết Cụ theo đạo Ông Bà ở Việt Nam từ bé, xin Cụ cứ tiếp tục sống theo đạo của Cụ. Đời sống, lời nói và việc làm của Cha đã làm tôi thao thức bao nhiêu năm. Tôi và bà bạn già của tôi đây thấy mình hạnh phúc vô cùng vì chúng tôi vẫn còn được thờ ông bà tổ tiên như xưa, chỉ thờ thêm Thiên Chúa ở bên trên. Từ nay, trong thánh lễ chúng tôi có thể cầm tay mọi người và cùng đọc chung lời kinh kêu Thiên Chúa là Cha, Lạy Cha chúng con ở trên trời…

Nói đến đây rồi Cụ Chánh nghẹn ngào, Cụ B.95 cũng khóc theo. Ai trong nhà thờ cũng cảm động. Cha Paolo chủ lễ liền ôm lấy hai Cụ. Cha Paolo lên tiếng trong cơn xúc động: Lời Cụ vừa nói hay hơn bài giảng của tôi.
Trong lễ rửa tội này, Anh John là người đỡ đầu cho Cụ Chánh, và Chị Ba Biên Hòa đỡ đầu cho Cụ B.95. Bây giờ là thời đại điện tử, trong túi ai cũng có iPad. Bao nhiêu người trong nhà thờ đã đưa máy iPad lên để chụp những giây phút đáng ghi nhớ này.

Chiều Chủ nhật Phục Sinh là một đại tiệc tại nhà Cụ Chánh. Đầu bếp là Chị Ba Biên Hòa. Người khách danh dự là Cha Paolo. Trong buổi tiệc chúng tôi đã nói bao nhiêu chuyện, nhưng câu chuyện làm tôi cảm động và nhớ nhất là chuyện Cụ Chánh kể. Rằng một lần kia vào mùa xuân Cha đến thăm chúng tôi bất chợt, ngay đầu bữa ăn. Tôi mời Cha ăn cơm với chúng tôi, Cha đã vui vẻ ngồi ngay xuống và ăn rất vui vẻ thân tình. Cuối bữa ăn, lúc uống trà, tôi hỏi Cha rằng: Ông bà chúng con ở trên bàn thờ kia, chúng con nhìn thấy ông bà hằng ngày, thế còn Thiên Chúa của Cha thì Ngài ở đâu, ở trên trời hay ở trong nhà thờ? Cha đã trả lời tôi ngay: Thiên Chúa ở ngay đây, rồi Cha chỉ tay ra mảnh vườn trước cửa kia, Cha nói: Vườn bây giờ đầy hoa vàng hoa đỏ, đầy rau xanh tươi thơm ngát. Khi Cụ trồng hoa và trồng rau, Cụ có thấy màu vàng màu đỏ ở trong đất không, Cụ có thấy mùi hoa ngạt ngào ở trong đất không? Chắc chắn là Cụ không thấy gì. Thế cái màu vàng màu đỏ, cái mùi hương thơm ngát kia từ đâu ra? Đó, Cụ ơi, Thiên Chúa đó. Câu này làm tôi nhớ đời. Cái vườn nhỏ trước cửa sổ phòng ăn đã làm tôi thấy Thiên Chúa. Bây giờ mỗi lần tôi cầu xin với ông bà tổ tiên thì tôi cầu với Thiên Chúa trước vì Thiên Chúa là đấng đẻ ra ông bà tổ tiên…
Người vui thứ hai trong bữa tiệc này là Anh John và Chị Ba Biên Hòa.

Anh John nói trước mặt Cha Paolo: Chúa đã nhận lời chúng con hằng cầu xin. Từ bữa nay trở đi, mỗi sáng chủ nhật vợ chồng con sẽ lái xe đến rước hai Cụ cùng đi lễ nhà thờ với gia đìng chúng con. Nào, còn niềm hạnh phúc và niềm vui gì lớn hơn!

Sau bữa tiệc thì Cha Paolo ra về vì ngài còn bao nhiêu việc ở nhà thờ. Dân làng An Lạc chúng tôi thì ở lại rất lâu, vì còn bao nhiêu chuyện vui vẻ để kể cho nhau nghe.

Cụ Chánh tâm sự đầu tiên: Xưa nay lão hằng kính phục hai người, đó là Đức Lạt Ma và Đức Giáo Hoàng đương kim Phanxicô. Câu Cha Paolo nói với lão ở phi trường ngày xưa đúng y chang lời Đức Lạt Ma nói với một anh Do Thái. Anh này không thích đạo Do Thái nên đã nhập đạo Công Giáo. Theo đạo ít lâu, anh chán và đi sang gặp Đức Lạt Ma để xin theo đạo của Ngài. Đức Lạt Ma đã vỗ vai anh mà nói: xin bạn cứ giữ đạo của bạn hiện nay, hãy sống vui vẻ hết mình theo lời Chúa dạy, yêu tha nhân như chính mình. Như vậy cũng là đạt đạo của tôi. Còn Đức Phanxicô thì hôm Thứ Năm Tuần Thánh vừa qua, ngài đã làm tôi cảm động quá. Các bạn biết gì không, Thứ Năm trước Lễ Phục Sinh thì các nhà thờ có nghi lễ Rửa Chân cho 12 người được kén chọn trong cộng đoàn tượng trưng 12 môn đệ khi xưa. Vị chủ tế đến quỳ xuống trước mặt họ rồi rửa chân cho từng người. Năm nay, tại Roma, Đức Phanxicô đã không làm lễ rửa chân cho 12 người vị vọng ở đại giáo đường, mà ngài đã vào trong nhà tù rửa chân cho 12 tù nhân, 6 tù nam và 6 tù nữ. Cử chỉ và nét mặt của ngài rất chân thành, ngài quỳ xuống, rồi đổ nước rửa chân, rồi lau chân cho từng người, lau xong ngài còn hôn vào chân họ. Tôi thấy 3 tù nhân đã khóc. Có một nữ tù nhân ôm đứa con hai tuổi trên tay, ngài đã rửa chân và hôn chân cả hai mẹ con. Đây là một vị đại thánh.

Tuần trước, có ông bạn già bên Âu Châu đã viết thư sang chúc mừng lão nhập đạo Công Giáo. Ông ta cho biết là ông ta rất vui mừng vì lão đã đi cùng con đường với Cựu Hoàng Bảo Đại, GS Vũ Quốc Thúc, GS Nguyên Sa Trần Bích Lan, Thi Sĩ Hà Thượng Nhân, Thi sĩ Nguyễn Chí Thiện. Lão giật mình. À, thế ra vào cuối đời các vị này cũng nhìn thấy Thiên Chúa như mình.

Cụ Chánh vừa ngưng thì Anh John tiếp lời ngay. Anh bảo: Hôm nay là ngày vui lớn, ngày hạnh phúc của hai Cụ. Chắc ai cũng muốn phát biểu, cháu sợ mất phần nói nên xin cho cháu nói liền bây giờ. Bữa nay cháu không cần Cụ B.95 yêu cầu, không cần vợ nhắc, cháu xin kể chuyện thời sự ngay. Tháng Tư này nhiều chuyện lắm.

Thứ nhất là chuyện 2 con cá. Sáng sớm ngày mồng một vừa qua, cô Tôn Nữ gọi điện thoại. Ở Canada này, thường không ai gọi điện thoại trước 8 giờ cả. Điện thoại mà reng trước 8 giờ sáng là chắc có việc khẩn cấp. Cô Tôn Nữ gọi lúc 7 giờ, giọng đầy hốt hoảng: Anh Chị John ơi, CSVN tan rồi. Em vừa đọc email trên mạng rằng tứ trụ Sang Trọng Hùng Dũng tuyên bố giải thể Đảng CSVN như ông Gorbachev ở Liên Xô ngày xưa. Anh Chị mở máy ra coi ngay đi.
Bà Cụ B.95 lên tiếng hỏi: Đó là tin đảng CSVN đổ mà sao vừa rồi anh bảo là tin mua cá? Anh John cười ha ha một chập rồi nói: Ở Canada có thói quen là ngày đầu tháng Tư bạn có thể nói phịa ra nhiều tin, càng phịa giỏi càng lừa được nhiều người thì càng vui, và việc bịp và đánh lừa này không ai bắt lỗi cả. Dân Canada gọi việc này là ‘Cá Tháng Tư, Poisson d’avril, April Fool’.
Đó là con cá của Cô Tôn Nữ. Còn một con cá thứ hai là của báo chí. Cũng sáng sớm ngày mồng một tháng Tư, tờ nhật trình ‘24’ ở Toronto đã đăng một tin lớn, kèm với một họa đồ chi tiết. Bài báo đưa tin chính quyền Canada thấy dân chúng càng ngày càng hay xuống tắm biển ở miền Trung Mỹ, nhất là mùa đông, nên chính quyền đã quyết định dùng ngân sách thặng dư và các khả năng về khoa học kỹ thuật, sẽ xây một cái đảo nổi rộng 10 cây số vuông, ở gần xứ Jamaica và Haiti. Trên đảo sẽ trồng rất nhiều cây phong và các vườn cây ăn trái, với những nhà nghỉ mát, quanh đảo là những bãi tắm rộng mênh mang. Tất cả đều miễn phí cho công dân Canada xuống đây tắm nắng…
Chị Ba Biên Hòa thấy Cô Tôn Nữ mắc cỡ đỏ mặt, chị liền giơ tay ngăn chồng không cho anh kể chuyện cá tháng Tư nữa. Anh John thấy dân làng cười vui đủ rồi anh mới kể sang chuyện khác. Anh bảo: Xin hết chuyện cá nha, sau đây là chuyện thời sự có thiệt:

– Một di dân gốc Việt Nam định cư tại Montreal miền nói tiếng Pháp ở Canada đã đoạt giải nhất về văn chương, giải mang tên ‘Canada Reads 2015’. Giải này do thông tấn xã CBC đề xuất, đã được tổ chức trong 14 năm qua. Mục đích là tuyển chọn những tác phẩm có thể làm thay đổi nhãn quan và vượt qua mọi định kiến để soi sáng một vấn đề.
Người đoạt giải toàn quốc năm nay là nhà văn Kim Thúy với tác phẩm RU viết bằng Pháp văn.
RU là câu chuyện một em bé rời Saigon khi mới 10 tuổi, theo gia đình vượt biên, tỵ nạn ở Mã Lai, được Canada nhận và cho định cư tại Montreal. Trong tác phẩm RU, Kim Thúy viết về chính đời mình.

Ông Camaron Bailey, Giám đốc nghệ thuật tại Đại Hội Phim quốc tế ở Toronto, đã nhận định trên đài CBC: Đây là một trong hàng triệu câu chuyện về những người nhập cư Canada. Một phụ nữ tỵ nạn gốc Việt viết chuyện về đời mình, câu chuyện thật đau lòng, nhưng đẹp, được thể hiện với một bút pháp tài tình. Tôi đọc RU bằng lý trí rồi trí tôi được nối với con tim. RU đã mở rộng lòng nhân đạo và nhãn quan của người Canada.
Nhà văn Kim Thúy năm nay 46 tuổi. Tác phẩm RU đã đoạt 2 giải văn chương khác vào năm 2010 và 2012. Đã có ấn bản bằng Anh văn. Thật là một niềm hãnh diện lớn không chỉ riêng cho nhà văn Kim Thúy mà cho cả cộng đồng người Việt, trong đó có vợ tôi, và cả tôi nữa, ha ha.
Tin thời sự tiếp theo là tin Rước Đuốc cho Thế Vận PAN AM. Đây là thế vận hội của Liên Mỹ Châu, năm nay được tổ chức tại Toronto vào tháng Bảy sắp tới. Còn hơn hai tháng nữa mới bắt đầu, nhưng cuộc rước đuốc cho lễ khai mạc đã khởi sự. Khởi điểm là thành phố Teotihuacan ở Mexico, sẽ di chuyển qua 130 vùng, bó đuốc sẽ được 3.000 lực sĩ chuyền tay nhau, theo hướng bắc tiến, qua các phương tiện xe hơi, máy bay, xe lửa và tàu biển. Thế vận hội Liên Mỹ Châu này có 41 quốc gia tham dự với 6.600 lực sĩ thi tài trong 16 ngày.
Thời sự tiếp theo là tin những quả bom trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại liên hệ tới tên gọi ngày đau thương 30 tháng Tư. Ngày này nên mang tên gì? Tôi thấy nhiều tên lắm: Tháng Tư Đen, Ngày Quốc Hận, Ngày Tranh đấu cho Tự Do, Hành Trình tìm Tự Do… Chỉ vì cái tên mà nhiều người chống nhau, chống một cách dữ tợn, chống mạnh hơn cả chống VC.
Về việc cãi nhau này tôi thấy nhà văn Mặc Giao đã viết một bài rất hay, đăng trên DienDanCongLuan ngày cuối tháng Ba vừa qua và trên nhiều cơ quan ngôn luận khác. Tôi thích bài này. Xin trích vài dòng của Mặc Giao:
… Việc đầu tiên khối người Việt chúng ta phải làm là đừng tấn công nhau nặng hơn đánh cộng sản, đừng rút giây chặt cầu để khi cần nhau còn có thể nhìn mặt nhau không ngượng. Bốn mươi năm rồi, chúng ta không học được bài học này sao? Miền Nam Việt Nam mất vào tay CS cách đây 40 năm. Phe thắng cuộc gọi ngày 30/4 là ngày chiến thắng, ngày giải phóng Miền Nam. Phe thua cuộc gọi đó là ngày quốc hận, ngày mất nước, tháng Tư đen. Ai muốn gọi gì thì gọi, muốn kỷ niệm kiểu gì tùy ‎‎ ý theo lập trường của mình. Chẳng ai áp đặt được ai. Bốn mươi năm qua vẫn vậy.
… Năm nay chuyện tranh cãi về tên gọi ngày 30/4 trở nên sôi nổi. L‎‎‎ do xuất phát từ Canada do việc ông Nghị sĩ gốc Việt Ngô Thanh Hải đệ nạp Dự luật S-219 ‘Hành Trình Đến Tự Do’ (Journey to Freedom) tại Thượng Nghị Viện Canada. Nội dung ghi nhớ ngày mất Saigon mở đầu cho phong trào bỏ nước đi tìm tự do của hàng triệu người Việt Nam, trong đó có khoảng 300.000 người hiện sinh sống ở Canada. Dự luật đã được Thượng Viện chấp thuận ngày 8/12/2014 và đã chuyển sang Hạ Viện ngày 10/12/2014… Ngay khi dự luật được phổ biến, nhiều cuộc tranh cãi đã xảy ra xoay quanh cái tên và tác giả…

Việc tranh cãi đang đi vào gay cấn. Nhiều mũ VC đã được đem ra… Cụ Chánh làng tôi lên tiếng: Giá mà chúng ta biết tương kính, bất đồng nhưng không bất hòa, thì tốt đẹp biết bao. Các bạn có nghe thấy tiếng cười và vỗ tay của CSVN không? Canada quá tốt với người Việt tỵ nạn chúng ta chứ. Cách đây 20 năm, Canada cho chúng ta dựng đài kỷ niệm thuyền nhân ở thủ đô Ottawa, và 20 năm sau lại cho dựng đài tưởng niệm các nạn nhân CS cũng tại thủ đô Ottawa, và sắp ban hành luật S-219 ghi nhớ ngày các thuyền nhân tỵ nạn bỏ nước đến đây tìm Tự Do. Chúng ta còn muốn gì nữa?

Cộng sản Việt Nam đã phản ứng mạnh mẽ chống dự luật này, từ Nguyễn Tấn Dũng đến Bộ Ngoại Giao. Một số người Việt xưa nay chống CS cũng lớn tiếng chống đối dự luật, thậm chí còn mạ lỵ Thượng Nghị Sĩ Ngô Thanh hải, kết tội ông là Việt gian. Những người này làm như vậy thì có khác gì về cùng phe với CS để vô hiệu hóa một cơ hội hiếm có chưa từng xảy ra trong Thế Giới Tự Do. Nào có nước nào tốt với người Việt tỵ nạn chúng ta bằng nước Canada không?
Ông ODP gật gù hoan hô ý kiến chúng ta phải biết ơn nước Canada. Ông nhiệt liệt tán dương bài ca của hai vợ chồng nhạc sĩ Vũ Tiết Hùng và Tôn Nữ Thùy Lan ở Ottawa. Bài ca rất hay, cả nhạc cả lời. Mấy dòng cuối bài làm ai cũng cảm động:

… Oh Canada! Oh Canada! Forty years ago I was lost and stateless,
Then Canada adopted me, let me stay, and gave me a new homeland
Thank you Canada! Merci Canada!

Canada ơi! Canada ơi! Bốn mươi năm xưa tôi là người mất nước và vô tổ quốc.
Canda đã nhận tôi, cho tôi ở lại, và còn cho tôi một mái ấm gia đình.
Xin cám ơn Canada, xin ghi ơn Canada!

K‎‎‎ giả Robert Bosteller của báo Ottawa Citizen đã viết bài giới thiệu bài hát và hết lời khen ngợi trên trang nhất.
Rất nhiều dân biểu Canada đã ủng hộ dự luật S-219 mang tên ‘Hành Trình tìm Tự Do’. Đặc biệt ông Peter Kent, cựu bộ trưởng, hiện là dân biểu vùng Thornhill, Ontario, đã ca ngợi dự luật này rất dài, phần cuối bài phát biểu, ông kết luận:

… Dự luật tưởng niệm ‘Hành Trình tìm Tự Do’ mang 3 ‎‎‎ nghĩa này:
– nó đánh dấu sự kiện bi thảm Saigon thất thủ 30/4/1975
– nó vinh danh những người Canada đã bảo trợ và đón nhận những người tỵ nạn Việt Nam
– nó tán dương những đóng góp phi thường của những người tỵ nạn Việt Nam cho đất nước gấm hoa này của chúng ta.

Ông ODP giơ tay xin phát biểu: chưa biết việc một số đồng hương đang đánh nhau này sẽ đi tới đâu. Gần đây tôi đọc được câu chuyện tiếu lâm, nó diễn tả y boong việc phe ta đánh phe mình hiện nay. Chuyện kể 2 ông đi câu cua, họ ngồi bên nhau. Một ông Mỹ một ông Việt. Ông Mỹ câu được con cua nào thỉ bỏ vào giỏ rồi đậy nắp rất cẩn thận, trong khi đó ông Việt câu được con nào thì cũng bỏ vào giỏ nhưng không hề đậy nắp. Ông Mỹ thấy lạ mới hỏi ông Việt về việc này. Ông Việt cười tỉnh bơ:
– Con cua bạn câu được là cua Mỹ. Bạn phải đậy nắp giỏ vì các con cua công kênh nhau bò lên, con này giúp con kia cùng thoát hiểm. Còn con cua Việt của tôi, không con nào bò lên được cả, con nào mà mon men bò lên cao một tí là những con cua khác kéo nó xuống liền…
Làng tôi nghe xong thì ai cũng gật gù rồi nói: Quả đúng vậy.
Ông ODP thấy dân làng còn muốn ông nói nữa nên ông kể tiếp. Rằng ông cũng mới đọc được câu chuyện về sự thành công của một người Việt ở Hawaii, do nhật báo Người Việt ở Cali phổ biến nhân dịp 30 tháng Tư. Đó là triệu phú Lâm Quốc Thanh, chủ nhân hệ thống bánh ngọt nổi tiếng La Tour Bakehouse. Lò bánh của ông làm không kịp bán. Ông cung cấp bánh cho nhiều hãng máy bay quốc tế, nhiều khách sạn nổi tiếng, nhiều hệ thống siêu thị. Sau 1975 ở Việt Nam ông làm nghề bán vé số, rồi nhờ vượt biên thành công, ông được tới Mỹ. Ông làm đủ nghề để sinh sống. Nghề cuối cùng là làm cho Bánh Mì Ba Lẹ. Từ nghề này, ông tìm hiểu và học hỏi về làm bánh, rồi từ đó ông tiến lên thành triệu phú. Mỗi năm số doanh thu của ông hơn 20 triệu Mỹ kim. K‎‎‎ý giả Thiên An thuộc báo Người Việt đã đến phỏng vấn và hỏi ông về những bí quyết đã giúp ông thành công như hiện nay, ‘Ông Thanh Ba Lẹ’ đã vui vẻ trả lời: Tôi thường khuyên con tôi những điều này:
– không cờ bạc hút sách
– phải thành thật, thành thật và thành thật
– không kiêu ngạo và ức hiếp người nghèo
– cố học lên cao, càng cao càng tốt
– lễ phép với mọi người. Ai khen con tôi thông minh thì tôi không thích bằng khen nó lễ phép
– đặt nhân viên lên hàng đầu, mình tốt với nhân viên thì nhân viên sẽ hết lòng với mình
– đọc sách Học Làm Người. Cuốn sách Đắc Nhân Tâm nổi tiếng của Dale Carnegie là sách gối đầu giường của cha con chúng tôi. Đọc, suy ngẫm rồi thực hành.
Cả làng vỗ tay khen bài học qu‎‎‎ của triệu phú Lâm Quốc Thanh trên đây.
Anh John lại giơ tay xin nói tin thời sự chót: Làng ta nhớ đi coi suất hát Exodus Saigon vào ngày 2 tháng Năm của đạo diễn Hoàng Hùng nha. Nghe nói quá nửa tài tử là những thiên tài người Canada. Canada hát về Việt Nam…
Chị Ba Biên Hòa nhân danh chủ bếp bữa tiệc mừng, đã hỏi Cụ Chánh: Trên đây là kinh nghiệm của người ở xa. Thế còn Cụ Tiên chỉ ở ngay đây, nhân đại lễ hôm nay xin Cụ đôi điều với dân làng.
Cụ Chánh giọng đầy cảm động: Tôi được sống tự do và ấm no như thế này, luôn có bạn vàng vây quanh như thế này, luôn sống trong không khí đầy tiếng cười như thế này, tôi thấy mình hạnh phúc vô cùng. Xin tạ ơn Thiên Chúa, xin tạ ơn đất nước gấm hoa thiên đàng này.

Trà Lũ  (Thời báo Toronto)

KNVM giới thiệu

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Văn Quang – Nhà Văn của Chân Trời Tím

Vũ Tam Thừa

Nhìn ngắm tấm ảnh hoàng hôn tím của Mario Đàm chụp nơi trời Âu – Tiệp Khắc, điều đầu tiên mà tôi nghĩ đến là nhà văn Văn Quang tác giả  Chân Trời Tím. Quyển tiểu thuyết ra đời hơn 50 năm (1964). Lúc ấy tôi chỉ là một cậu học trò tiểu học. Mãi đến hè năm 1972, tức 8 năm sau, sau khi thi xong tú tài I, tôi mới có thì giờ mộng mơ một chút. Lúc đó nhà nghèo làm gì có tiền mua,tôi đến mượn sách ở thư viện Quốc Gia. Vậy là tôi lạc vào thế giới của người lớn, thế giới của những người lính Việt Nam Cộng Hòa, những cô ca sĩ phòng trà, gái bán bar, những cô nữ sinh thành phố; những tình yêu vội vã đến vội vã đi. Dĩ nhiên tất cả những điều mà cậu học sinh 18 tuổi chưa hề trải qua. Tấm ảnh “Chiều Tím” của Mario Đàm thật sự đã đưa tôi trở ngược lại 50 năm về trước, thời của Sài Gòn xưa, của tuổi  học trò hoa mộng.

Thỉnh thoảng trên Thời Báo tôi có đọc bài viết của Văn Quang. Lần đầu đọc bài của ông tôi thắc mắc, chẳng lẽ là Văn Quang của Chân Trời Tím ngày xưa. Chẳng lẽ cụ già 83 tuổi mà còn gân vậy sao? Tuổi già nhưng văn không già, tâm hồn ông vẫn còn trẻ trung lắm, có phần an lạc, hạnh phúc hơn khi xưa. Văn của ông đã nói lên điều đó. Giờ ông sống rất thành thật với mình, sẵn sàng nói lên những gì cần nói.

Hôm nay xin giới thiệu với các bạn một trích đoạn về cuộc phỏng vấn của nhà văn Lê Thị Huệ về ông được đăng trên mạng

Lê Thị Huệ: Ông bị đi tù một thời gian dài sau 1975. Ông có thể nói gì về điều này ở đây và bây giờ chăng ?

Văn Quang: Có rất nhiều điều đáng nói về những ngày tháng trong nhà tù. Và cũng đã có rất nhiều những cuốn sách viết về chuyện này rồi. Nhiều chi tiết đã được trình bày cụ thể. Vì thế, lúc này tôi nghĩ ở vào vị trí của tôi, nên chuyên tâm về những vấn đề xã hội hiện tại mà tôi đang có điều kiện tìm hiểu tường tận hơn các bạn khác. Tôi chỉ có thể nói là nhà tù vẫn là nhà tù, không có chuyện cải tạo gì ở đây. Điều này tôi cũng đã viết trong “ngã tư hoàng hôn”. Một lúc nào đó, nếu còn thì giờ, có thể tôi sẽ viết lại toàn bộ những sự thật mà tôi đã được chứng kiến.

Lê Thị Huệ: Ông từng là nhà văn quân đội ở Miền Nam, ông có so sánh nào cho nền văn chương quân đội của hai miền Nam Bắc trong thời chiến?

Văn Quang: Nói về văn chương quân đội giữa hai miền Nam Bắc có lẽ hơi quá tổng quát. Nhưng sự khác biệt căn bản vẫn là mang tính văn học nói chung. Một bên, dù anh là thành phần nào khi hoạt động văn hóa đều phải đi theo một đường lối chung, không thể khác được. Do đó người viết dù ở trong hay ngoài quân đội cũng thế thôi. Họ quan niệm văn hóa là tuyên truyền giáo dục quần chúng nhân dân (trong đó có cả quân đội) thực hiện một chủ trương chính sách trong một giai đoạn nào đó. Còn ở miền Nam thì những nhà văn quân đội không bị lệ thuộc bởi bất cứ điều gì. Tôi làm ở Tổng cục chiến tranh chính trị rất lâu, nhưng chưa hề thấy một “chỉ thị” nào cho những quân nhân viết văn. Họ được tự do sáng tác theo cảm hứng của mình về mọi mặt trong đời sống. Những nhà văn xuất thân từ quân đội hay hơn nữa là từ những chiến trường như Nguyễn Đạt Thịnh, Phan Nhật Nam, Huy Phương, Thế Hoài, Phạm Huấn… viết những gì họ đã trải qua. Hoặc như Mai Trung Tĩnh, Vương Đức Lệ, Tô Thùy Yên, Cung Trầm Tưởng cứ việc làm thơ tình, lãng mạn, không cần Tây Tiến hay Nam Tiến. Cho nên so sánh hai nền văn hóa quân đội giữa hai miền như thế tôi cho là khập khiễng, nên tôi không thể so sánh được.

Lê Thị Huệ: Ông đã từng tiểu thuyết hoá dày cộm những người lính thành phố Sài Gòn trước 1975. Bây giờ nhìn lại ông có thấy là trật búa hay OK ?

Văn Quang: Tiểu thuyết hóa những người lính không phải là “thần thánh hóa” những người lính. Chị đọc lại “Chân trời tím” và “Người yêu của lính” sẽ thấy tôi tiểu thuyết hoá đời thường của họ. Người lính không đi tu, không là “người con trai khác với những người con trai không đi lính”. Ngoài cuộc sống chiến đấu, ngoài tình đồng đội, họ có cuộc sống của mình. Cũng yêu thương, ghen hờn, lãng mạn như những ghệ sĩ chính hiệu. Nói cách khác, tôi diễn tả rõ hơn, tỉ mỉ hơn về cuộc đời quân ngũ. Không phải tất cả đều tình nguyện đi lính, có những người “bị động viên” hoặc được đồng hóa. Nhưng tình đồng đội đã làm họ thay đổi quan niệm, ý chí chiến đấu đã tô đậm lý tưởng yêu nước của họ. Vì thế họ trở thành một khối vững chắc cho đến tận ngày nay. Tại sao tôi lại thấy “trật búa” được? Tôi vẫn cho là tôi đã làm đúng, làm được những gì tôi cần làm. Một điều cần nhấn mạnh, đó là xuất phát từ những rung động chân thành của tôi sau những ngày tháng làm phóng viên thời kỳ chiến tranh ác liệt đầu tiên, qua một số chiến trường thời đó, không vì một chỉ thị nào, một lý do chính trị nào.

Lê Thị Huệ: Nếu cuộc đời biến thành những chương tiểu thuyết. Hãy thử nói về cuộc đời như là những chương tiểu thuyết. Cái chết nào cũng là một cái chết. Cái chết của Miền Nam là một cái chết tức tưởi nhưng nó có cái đẹp tuyệt vời của một cái chết tức tưởi. Ông nghĩ đấy là một bất hạnh hay là một may mắn

Văn Quang: Cái chết của miền Nam, như chị nói, tôi đã có nhiều thời gian gậm nhấm nó trong tù và ngoài đời, sau khi ở nhà tù ra. Tôi thường nghĩ, chẳng ai muốn tự tử cả. Cái chết bất đắc dĩ được báo trước đó không do miền Nam tạo ra. Người bạn “đồng minh thân thiết” của chúng tôi bỏ bạn, trong khi đối phương có tới 6 nước vẫn trung thành tiếp súng đạn thì “sáu thằng đánh một chẳng chột cũng què”. Và những “panic” từ Huế đến Pleiku, Đà Nẵng, Nha Trang, Bình thuận vào đến TP. Sài Gòn đều do người bạn đồng minh của chúng tôi tạo ra. Gây hoảng loạn khắp nơi để tẩu thoát như một ván cờ thua. Điều đó rõ như ban ngày. Tôi so sánh với cuộc rút lui của quân đội Pháp sau khi ký hiệp định Geneve, dù sao thì mọi tổ chức cũng chu đáo hơn, có tình có lý hơn, nhân đạo hơn. Nếu người Mỹ vẫn tuyên truyền rằng “cộng sản chiếm được miền Nam thì Sài Gòn sẽ là một biển máu”. Vậy mà họ đã để lại chúng tôi bơi trong cái biển máu ấy, sau khi bí mật bắt tay đối phương. Có thể coi họ là đồng minh được không?

Vậy thì cái chết của miền Nam chỉ có thể coi là bất hạnh. Một kinh nghiệm cho những ai còn nuôi mộng lãnh đạo đất nước này.

Lê Thị Huệ: So sánh đời sống của ông bây giờ với đời sống trước năm 1975, ông phát biểu như thế nào. Tôi hỏi ông câu này với một thái độ rất trân trọng, vì ông là một tác giả hiếm hoi, ông sống sót và sống qua những giai đoạn khốc liệt ấy, mà vẫn viết với cái tên Văn Quang. Một Văn Quang lừng lững không thoả hiệp. Hình như ông là 1 tác giả độc nhất vô nhị viết và viết được trong cái thế sống vô cùng chênh vênh ấy

Văn Quang: Thật ra ngay từ đầu, khi trả lời lá thư của Gio-O tôi đã thành thật thưa rằng “không thích nói về mình”. Nếu cần nói thì có rất nhiều điều phải nói, phải trả lời. Một người cầm bút nên để độc giả phán xét về mình hơn là những gì mình tự nói hoặc bị kẻ thù xuyên tạc.

Xin cảm ơn về những nhận xét của Gio-O dành cho riêng tôi. Vâng, tôi sống như vậy đấy. Chẳng có gì phải che giấu, chẳng có gì phải khiếp sợ nữa. Còn gì nữa đâu mà khiếp sợ và tôi không làm điếu gì xấu, không “phá hoại”… thì cứ lừng lững mà làm. “Danh chính ngôn thuận” và “đường ta ta cứ đi”. Cái gì có thật thì tôi viết. Không bới móc lung tung, không phao tin đồn nhảm. Quyền phê phán là của người dân. Quyền bất bình cũng là của người dân về những điều có thật đã và đang xảy ra.

Cũng có một số người viết như tôi đang có mặt ở miền Nam như Nguyễn Thụy Long, Đoàn Dự, Hàm Anh… và một số người không ký tên rõ rệt như người Tân Định, Người Sài Gòn… Và còn cả những người viết không thường xuyên, thỉnh thoảng mới có một vài bài. Những anh em đó cũng là những cây bút hoàn toàn độc lập. Mỗi người có một cách viết, cách lựa chọn đền tài và mức độ khác nhau. Chúng tôi có gặp nhau như những người bạn bình thường, nhưng không thảo luận về những gì mình sẽ viết. Do đó đôi khi có những đề tài trùng hợp, song mỗi người nhìn theo quan điểm của riêng mình. Được độc giả đón nhận như thế nào lại là chuyện khác. Có cố gắng tìm cách “ngoi lên” cũng chẳng được. Cách tốt hơn hết là cứ thành thật với chính mình, cứ thảnh thơi mà làm được việc mình muốn làm. Như tôi đã nói ở trên, sẵn sàng chấp nhận điều “rủi ro” sẽ đến vào bất kỳ lúc nào. Chấp nhận cả đòn hiểm của kẻ thù, của những kẻ đố kỵ, ghen ghét sảng. Cứ lo nghĩ đến nó thì thà xếp quách computer lại hoặc chỉ để ngồi chơi games, chơi “meo” cho xong. Xin tiền con hay đi đánh vi tính, làm lay-out thuê cũng đủ sống.

Có thể nói tôi đã tập được thói quen, không còn ngồi đó tiếc nuối dĩ vãng. Thời gian không bao giờ trở lại được. Tôi bằng lòng và thích ứng với những gì tôi đang có. Trước kia sống sung sướng hay bây giờ, tôi cũng chẳng biết nữa. Một điều đáng nói là không thể quên những người bạn cũ, dù còn sống ở bên kia hay đã mất. Đôi lúc ngơ ngẩn chỉ vì những thứ đó thôi.

Lê Thị Huệ: Một cách công bằng, ông có nhận xét gì về nền sáng tác Miền Nam 1955-1975.

Văn Quang: Về những sáng tác từ ở miền Nam từ 55-đến 75, tôi cho đó là thời kỳ sung sức nhất của những sáng tác của văn học Việt Nam từ trước tới nay. Kể cả về số chất lượng cũng như chất lượng, những vị đàn anh lớn tuổi cũng như những nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ, ca sĩ… mới xuất hiện. Một số tác phẩm văn học khổng lồ đã được trình diện, một số báo chí về mọi mặt từ trình độ cao đến bình dân đua nhau tự do cạnh tranh. Một số ca khúc trở thành “bất tử” dù cho nó đã bị khai tử nhiều lần. Cho đến bây giờ ở Việt Nam, rất nhiều tác phẩm từ thời đó vẫn còn nguyên giá trị, nó xuyên suốt qua mọi thời đại. Độc giả, khán thính giả từ thành thị tới thôn quê vẫn thưởng thức những món ăn tinh thần đó, chẳng cần ai khuyến khích, khuyến mãi.

Cách công bằng nhất để nhận định thì nhãy nhìn vào thị trường, nhìn vào sự trân trọng của người dân.

Mặt khác, việc xuất bản những tác phẩm văn học nghệ thuật hồi đó hình thành một trật tự hơn bây giờ. Kể cả sách xuất bản ở nước ngoài cũng như ở trong nước. Hầu như bây giờ, một số tác phẩm không còn mang đúng giá trị đúng như văn học định nghĩa. Nó là sách lam nham, ai có tiền thì cứ in. Vàng thau lẫn lộn, trong đó có những cuốn không đáng gọi là sách, có những bài không đáng gọi là bài. Điều này rất có hại cho những người trẻ tuổi, nhất là lớp mới lớn ở nước ngoài. Nếu đọc một cuốn sách lem nhem như thế họ sẽ nghĩ gì về những tác phẩm khác của ông cha, của những người đi trước?

Vì thế nên tôi vẫn cho rằng 20 năm văn học miền Nam 55-75 có nhiều tác phẩm giá trị hơn, dù cho có những tác phẩm chỉ có giá trị trong từng thời kỳ.

Lê Thị Huệ: Nhà văn Văn Quang, Giám đốc đài phát thanh Quân Đội, viết tiểu thuyết Chân Trời Tím, đi cải tạo mút mùa lệ thủy, không đi Mỹ theo diện HO (mà những người như Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên còn không cưỡng lại sự tự do ở chân trời kia), còn Văn Quang không đi. Ở lại Việt Nam. Văn Quang là ai thế?

Văn Quang: Tôi vẫn cho rằng những người bạn tôi đi định cư hầu hết vì lo cho tương lai của con cái, cho cuộc sống gia đình hơn lo cho chính bản thân mình. Họ có lý do chính đáng để ra đi. Còn tôi, hầu như chẳng có lý do gì cả. Khi tôi ở trại tù ra, các con tôi đều đã định cư ở Mỹ, đi theo “diện vượt biên” và đi học ở Mỹ trước năm 75. Chỉ còn lại mình tôi. Đời sống kinh tế cũng lại bắt đầu ổn định, bằng việc học computer rồi ra “hành nghề” đánh vi tính thuê và làm lay-out cho các tiệm sách báo. Những nhà xuất bản tư nhân, những nhà làm quảng cáo chuyên nghiệp và cả những ông làm “báo lẻ” như Thanh Thương Hoàng, Thái Phương cũng đều thuê “công ty gia đình” của tôi làm hết. Hồi đó Sài Gòn chỉ có rất ít computer và người làm được công việc này càng hiếm. Cái may mắn của tôi là ngay khi ở trại tù ra, tôi đã tò mò đi học khóa computer đầu tiên vào những năm1989-90-91. Kể về chuyện đi học computer của tôi chẳng qua cũng là chuyện “bất đắc dĩ” và khá dài dòng, cười ra nước mắt. Tôi sẽ kể lại vào một dịp khác. Sau khi học xong vài khóa, tôi đã được các cháu ở Mỹ yểm trợ cho mấy cái computer và máy in laser để hành nghề. Công việc kiếm ăn khá phát đạt. Vì thế tôi thấy không cần phải đi đâu nữa cả. Hơn thế, bà xã của tôi và các cháu cũng đã “yên bề gia thất” nên tôi không muốn khuấy động cuộc sống của gia đình mình, gây thêm những thắc mắc vướng bận cho những người thân.

Ở đây cũng còn một số anh em sĩ quan cũ, sau khi ở tù ra rồi, cũng không đi theo diện HO. Dường như vấn đề kinh tế quyết định tất cả. Hầu hết những người ở lại đều có một cuộc sống tương đối ổn định hoặc có những trở ngại về gia đình, như con cái có vợ có chồng rồi không được đi theo… Mỗi người một hoàn cảnh.

Mặt khác, tôi nghĩ anh em ra đi nhiều rồi, tôi muốn ở lại để chứng kiến cho hết, cho đầy đủ những đổi thay. Đời sống lúc đó ở đây bấp bênh, rồi chao đảo vì Liên Xô tan rã, vì Đông Âu lập lờ… Cuộc sống “lên voi, xuống chó” quay quắt, nếu nhìn như một kẻ ngoài cuộc, nó sinh động hơn một sân khấu với đầy đủ bi hài kịch thú vị. Có quá nhiều đề tài mới lạ cho mình ghi nhận. Làm một nhân chứng sống có lẽ hay hơn. Và cũng vì sự “gậm nhấm” của tôi về “người bạn đồng minh” nên tôi quyết định ở lại.

Mãi tới sau này, một số không ít những người bạn tôi cho rằng tôi đã lựa chọn đúng. Riêng tôi, cho là một điều may mắn chứ chẳng ai tiên đoán trước được điều gì sẽ xảy ra. Nhưng nếu có sai, có bất cứ điều gì xảy ra, tôi không ân hận. Tôi hoàn toàn bằng lòng vì sự lựa chọn của mình. Và, tôi cũng vẫn cứ tiếp tục sống và viết như từ bao năm nay. Sẽ mãi mãi như thế cho đến khi bạn về đây sẽ gặp tên tôi với hai chữ “chi mộ”.

Xin cảm ơn bạn đọc đã đọc những hàng này. Đây cũng là dịp tôi có cơ hội được tâm sự với bạn đọc. Tôi cũng xin nói thêm là một tờ báo của người bạn tôi, sau khi đã có bài phỏng vấn tôi, đã gửi thêm một số câu hỏi khác đến, nhưng tôi chưa trả lời được. Tôi không viết hồi ký như một số bạn tôi thúc giục, trong một ngày gần đây, tôi sẽ dành cho tờ báo của người bạn tôi những chi tiết khác trong cuộc sống của tôi, thay cho cuốn hồi ký.

Cám ơn nhà văn Văn Quang

Lê Thị Huệ

Photo Minh họa: Mario Đàm

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

“U Mặc” – Khối U Lạ

Khối U lạ trong văn hóa Việt

U mặc là gì? Nếu bạn hỏi 100 người Việt hải ngoại thì may ra có vài người biết mặc dầu họ đã sống hơn nửa đời người, trong nước cũng như ngoài nước. Như vậy “U mặc” là một từ mới được đưa vào Văn hóa Việt Nam bởi một người không phải là người Việt. Vì nếu bạn là người Việt, bạn sẽ dùng một từ đơn giản, dễ hiểu hơn mà bạn đã nghe, nói, đọc từ nhỏ cho tới lớn. Từ đó là: hài hước, khôi hài, tiếu lâm.

Nếu vào google tìm kiến bạn sẽ thấy nhiều bài viết, tài liêu dùng chữ “U Mặc” này. Chắc chắn người viết những quyển sách này không thể là người Việt, hay người Việt thuần túy!

Chữ “U Mặc” đã tố cáo cái nhản hiệu “Made in China” của những cuốn sách, tài liêu ta thấy khắp nơi. Chúng ta nên tránh dùng, tránh vô tình tiếp tay với bọn Tàu trong việc tấn công Việt Nam trên mặt trận Văn Hóa.

KNVN sẽ có bài viết về âm mưu và thủ đoạn vô cùng đê hèn và bẩn thỉu của Trung Cộng trong việc tấn công Việt Nam ở mặt trận này. Một trong những thủ đoạn đó là đưa vào đền thờ, đền miếu lăng tẩm, những nơi thờ cúng những bia, bảng, bình sứ, chai lọ ghi những câu viết “tầm bậy, tầm bạ” bằng tiếng Tàu, hoàn toàn không thích hợp với nơi thờ cúng trang nghiêm.

Lợi dụng sự ngu dốt, không biết tiếng Tàu, của người quản lý các nơi này;  bọn chúng qua việc cúng tặng đã đưa vào biết bao con “virus” văn hóa với mục tiêu cuối cùng là hủy diệt nền văn hóa Việt Nam và thôn tính nước Việt. Đó là chưa kể đến chuyện trấn yểm, cài đặt các thiết bị nghe ngóng. Chính quyền Việt Nam ngây thơ hay cố tình để cho chúng tùy ý làm, sau khi đã nhận một số tiền mua chuộc?

Dưới đây là lời cảnh báo của PGS-TS Tống Trung Tín, Chủ tịch Hội Khảo cổ VN.
“Đưa bừa đồ lạ vào di tích thì nhiều lắm. Có cái ảnh hưởng nhè nhẹ như bộ tam sự, đèn nến. Có cái thì nguy hiểm như tượng Quan Âm bạch y, tượng sư tử… Những thứ này đưa vào bừa bãi làm chật chội, sai lạc hết cả phật điện, tín ngưỡng ngàn đời của dân tộc.”

Ngoài ra Trung Quốc còn cho rãi những bình sứ Giang Tây, trên đó viết bài thơ sex của Lý Bạch, tại những đền đài, văn miếu, những nơi thờ cúng thiêng liêng.

“Một là nơi thờ Trần Nhân Tông sao lại ca ngợi Dương Quý Phi. Chưa kể, nếu về nghĩa thì không phù hợp với bối cảnh chùa chiền vì nó có nói chuyện ân ái. Nhanh và luôn là như thế”, một nhà nghiên cứu Hán Nôm khác nói.

Ông Phạm Xuân Phúc, Phó chánh thanh tra Bộ Văn hóa – Thể thao – Du lịch, cho biết: “Số lọ xuất hiện rất nhiều. Chúng tôi đi thanh tra có di tích có đến hai chục cái lọ như thế. Chúng đều do người dân cúng tiến. Không phải lọ nào cũng có chữ, nhưng nếu có chữ nhiều khi người cúng tiến cũng không biết chữ đó nghĩa là gì”.

Hơn lúc nào hết người Việt khắp nơi cần đề cao cảnh giác trước trò khốn nạn này của tên láng giềng vô cùng xấu xa và đầy trò hèn hạ!

Mời các bạn nhấn vào link dưới đây để biết thêm

Vật Lạ Ở Đền Thờ Thánh Gióng

Di Dời Tượng Ngựa Ở Đền Thờ Thánh Gióng
KMVN

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Chữ quốc ngữ: từ kể chuyện đến văn chương

Tình hình nước ta từ cuối đời Thiệu Trị (1841-1847) sang đời Tự Đức (1847-1883) diễn ra lắm nỗi bi ai. Nhìn chung, đất nước quá lạc hậu về nhiều mặt so với nhiều nơi khác trong vùng Đông Nam Á như Tân gia ba, Vọng các, Nam dương, Hương cảngTonQuynhVinh_w_500Một kẻ sĩ của thế kỷ XIX là Cao Bá Quát, vào 1843, khi tháp tùng phái bộ sang Tân gia ba được chứng kiến văn minh tiến bộ xứ người, đã nhận ra cái học “tầm chương trích cú” của thế hệ mình, chủ trương “bế quan tỏa cảng” của triều đình nhà Nguyễn đã giam giữ dân tộc trong vòng chậm tiến:

 Tân gia từ vượt con tàu,

Mới hay vũ trụ một bầu bao la.

Giật mình khi ở xó nhà

Văn chương chữ nghĩa khéo là trò chơi

Không đi khắp bốn phương trời

Vùi đầu án sách uổng đời làm trai

(bản dịch của Trúc Khê)

Tình trạng hủ bại ở Việt Nam kéo dài suốt hậu bán thế kỷ XIX dẫn tới đất nước rơi vào tay thực dân: sáu tỉnh miền Nam (từ 1862 tới 1867), hai lần Hà nội thất thủ (1873-1882) và cuối cùng là thỏa ước Patenotre ra đời, đất nước rơi vào vòng ngoại thuộc.

Đất nước từ đó chia làm ba khu vực chính trị. Miền nam là thuộc địa, miền Bắc theo chế độ bảo hộ và miền Trung còn chút ảnh hưởng của triều đình Huế nên tạm gọi là tự trị. Sự phân chia này dẫn tới tình trạng xã hội ở các miền bày ra sắc thái đối nghịch. Miền Nam sớm tiếp xúc với văn minh Âu Tây nên tiến bộ hơn miền Trung và miền Bắc.

Trong khi phía bắc đất nước còn ở trong vòng “bát cổ văn chương túy mộng trung” (tám vế văn chương giấc mộng nồng -Thơ Phan Chu Trinh) thì miền Nam đã phát sinh phong trào báo chí đề cao cải cách văn học qua việc phát triển chữ quốc ngữ.

Lịch sử ghi lại, miền Trung và miền Bắc cho tới 1915 mới bãi bỏ thi hương và 1918 là khoa thi hội cuối. Chữ quốc ngữ chỉ được đưa vào kỳ thi hương từ 1897 và chỉ buộc sĩ tử biết đánh vần, ghép chữ sau bốn kỳ quy định mà thôi như nhà thơ Trần Tế Xương (1870-1907) biếm họa:

Bốn kỳ trọn vẹn thêm kỳ nữa,

Á, ớ, u, ơ ngọn bút chì.

Nhà Nho thời ấy ở cái nôi văn học Bắc hà chỉ sáng tác văn chương bằng chữ Hán và chữ Nôm và coi chữ Quốc ngữ như một văn tự xa lạ, ngoại nhập do kẻ thù mang lại. Vì thế có lúc nhà thơ non Côi sông Vị đã mỉa mai:

Hán tự chẳng biết Hán

Tây tự chẳng biết Tây

Quốc ngữ cũng tịt mít

Thôi đi về đi cày!

Ngược lại với miền Bắc, cũng khi ấy Lục tỉnh Nam kỳ đã có nhiều trí thức thức thời, biết được vai trò quan trọng của truyền thông trong việc xây dựng văn hóa mới. Những năm cuối của thế kỷ XIX sang đầu thế kỷ XX báo chí ở Nam Kỳ đã xuất hiện khá dồi dào, lôi cuốn được nhiều độc giả nhờ chữ quốc ngữ đã được sử dụng ở phạm vi rộng vượt dần khỏi nhu cầu cai trị và chữ Hán như: Gia định báo(1865), Phan yên báo (1868), Thông loại khóa trình (1888), Nam kỳ địa phận (1908), Nông cổ mín đàm(1901), Nhật báo tỉnh (1905) Lục tỉnh tân văn (1907)…

Báo chí không còn hoàn toàn là công báo như tờ Gia định mà có nhiều tờ do tư nhân chủ trương (có tờ do người Pháp như Paul Canavaggio đỡ đầu), và các cây viết có tinh thần dân tộc rõ rệt như Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Diệp Văn Cương, Trần Chánh Chiếu, Lê Hoằng Mưu, Nguyễn Chánh Sắt… xuất hiện. Tất cả ra công xây dựng cho nền tảng chữ quốc ngữ và văn học chữ quốc ngữ.

Để dấy lên phong trào học chữ quốc ngữ và dùng chữ quốc ngữ, đồng thời thực hiện nhiệt tâm xây dựng tiền đồ văn hóa, quảng bá học thuật mới, các cây viết tiền phong đã tìm cách thu hút sự ủng hộ của quần chúng. Bằng cách nào?

– Biên soạn tự điển chữ quốc ngữ như Huỳnh Tịnh CủaTrương Vĩnh Ký đã làm.

– Bảo tồn tác phẩm quốc âm và khai thác thuật kể chuyện và thể văn vần để lôi cuốn người đọc vốn ham đạo lý cổ truyền qua nhưng câu chuyện đời xưa, chuyện giải buồn và chuyện khôi hài.

– Chuyển truyện Tàu sang chữ quốc ngữ. Do đó, Huỳnh Tịnh Của viết Chuyện giải buồn, Quan âm diễn ca, Trần sanh diễn ca, Chiêu quân cống hồ truyện, Bạch viên tôn các truyện, Văn doanh diễn ca, Thoại khanh, Châu tuấn truyện, Tống tử vưu truyện. Còn Trương Vĩnh Ký dùng Thông loại khóa trình để giảng giải đạo lý, ghi truyện Nôm ra chữ Quốc ngữ như Truyện Kiều, Lục súc tranh công, Đại nam quốc sử diễn ca… để cung cấp cho độc giả bài học lịch sử và những áng văn chương mẫu mực, hoặc viếtChuyện đời xưa, Chuyện khôi hài, và du ký để giải trí và tài bồi khả năng thưởng thức văn học cho người đọc. Ông cũng còn viết sách văn phạm tiếng Việt đầu tiên (Abrégé de grammaire annamite -Tóm lược ngữ pháp An Nam, Cours de langue annamite -Bài giảng ngôn ngữ An Nam) để biến thứ văn tự mới thành một ngôn ngữ khoa học và dễ phổ quát.

Một học giả khác là Trương Minh Ký (1855-1900) cũng với mục đích truyền bá văn chương Âu Tây và gây hứng thú cho người học chữ quốc ngữ, đã dịch Fables de la Fontaine. Truyện Phansa diễn ra quốc ngữ (S.: Guilland et Martinon, 1884) và Riche et Pauvre. Phú bần truyện diễn ca (S.: Guilland et Martinon, 1885).

Riêng Nguyễn Chánh Sắt (1869-1947)đã dịch khá nhiều chuyện xưa ra chữ quốc ngữ như Tây Hớn (Hán), Đông Hớn, Chung Vô Diệm, Tam quốc chí, Ngũ hổ bình tây, Nhạc phi, Thập nhị quả phụ chinh tây, Càn Long du Giang nam, Anh hùng náo tam môn nhai, Tái sinh duyên

Dùng các loại văn vần, những bài giáo huấn tới các câu chuyện mua vui cho độc giả, hoặc đăng báo, in thành sách hoặc đăng trên các tờ quảng cáo cho các dược phòng, các nhà văn buổi đầu ở Nam Kỳđã dấy lên làn sóng học thứ tân văn tự và dần dần phát huy tinh thần sáng tạo và dùng chữ quốc ngữ để viết tiểu thuyết, làm thơ, viết nghị luận. Có thể tóm tắt bước phát triển của văn quốc ngữ như sau:

Trên báo chí ->Trong tác phẩm kể chyện cổ, dịch phẩm -> Trong tiểu thuyết, thi ca, nghị luận.

Cũng vì thế Thiếu sơn Lê sĩ Quý (1908-1978), một nhà phê bình văn học tiền chiến trong một bài diễn thuyết vào năm 1933 tại Sài gòn, đã có ý kiến xác đáng: “Ở các nước văn minh tiên tiến thì văn học đều có trước báo chí, mà ở nước ta thì chính lại nhờ báo chí xây dựng văn học.”

Tóm lại, lịch trình diễn biến của câu văn quốc ngữ rất tự nhiên theo nhịp tiến của chữ quốc ngữ, từ lối kể chuyện mộc mạc, ngắn gọn tiến dần sang ngôn ngữ chải chuốt, có vần có điệu. Tuy nhiên, lối văn khuôn khổ, ước lệ cổ kính lần lần bớt hoa dạng với tác phẩm của các nhóm nhà văn trong Đông dương tạp chíNam phong tạp chí.

Chúng ta thử đọc lại một chuyện kể trong tập Chuyện giải buồn của Huỳnh Tịnh Của để thấy câu văn quốc ngữ cách đây hơn một thế kỷ ra sao.

Cũng nên biết Chuyện giải buồn của Huỳnh Tịnh Của gồm 2 tập, 112 truyện (in năm 1880 và 1885).

Quân tử khả khi dĩ kỳ phương

Thầy Tử Sản là người nước Trịnh, cũng là môn đệ đức Phu Tử.

Ngày kia thầy Tử Sản phát tiền cho đầu bếp đi chợ. Tên đầu bếp đem tiền đi chợ, gặp chúng bạn rủ, đánh lú thua hết. Trở về tay không thì sợ thầy quở, nó bèn kiếm chước nói dối thầy mà rằng: “Bữa nay tôi ra chợ, tôi thấy họ bán một con cá lớn đại, mập núc mà tròn quay; tôi hỏi giá, họ nói có một quan tiền, chớ mọi lần họ bán cho tới hai ba quan. Tôi nghĩ không mấy khi gặp cá ngon bán rẻ, dốc lòng tìm miếng ngon cho thầy, tôi bèn mua trụm cả quan tiền. Tôi lấy dây xỏ mang con cá mà xách về, gần tới nửa đàng, chẳng dè nó cứng đờ không cục cựa, tôi sực nhớ lời người ta nói: “Cá lên khỏi nước cá khô”. May vừa đi ngang qua hồ, tôi lật đật đem bỏ con cá xuống nước, họa là nó lấy hơi nước mà sống lại chăng. Hồi tôi mới thả, nó nằm trơ, không máy động, vừa giập bã trầu, nó quay và ngáp gió, giây phút nó vùng một cái. Tôi vừa thò tay mà bắt lại, nó đã quạt đuôi lội đi mất. Ấy là tại tôi dại, xin thú thật cùng thầy”.

Thầy Tử Sản nghe nói bèn vỗ tay mà rằng: “Đắc kỳ sở tai! Đắc kỳ sở tai!” (Chỉ nghĩa là chim trời cá nước, được thế nó thay! Được thế nó thay!)

Thằng đầu bếp ra ngoài cười thầm, học cùng chúng bạn rằng: Ai gọi thầy Tử Sản là trí! Tiền chợ thầy đưa, tao thua hết, tao kiếm điều nói láo, mà thầy cũng tin ngay. Ai gọi thầy Tử Sản là trí!

Thầy Mạnh Tử giải rằng: quân tử khả khi dĩ lý chi sở hữu, nhi bất khả khi dĩ lý chi sở vô. Nghĩa là lấy việc có lý mà dối người quân tử cũng được; chí như việc không có lý thì chẳng lẽ dối đặng.

         Hoàng Yên Lưu

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

KHUÔN MẶT VĂN NGHỆ MỚI