Category Archives: Văn Học Nghệ Thuật

Chữ quốc ngữ: từ kể chuyện đến văn chương

Tình hình nước ta từ cuối đời Thiệu Trị (1841-1847) sang đời Tự Đức (1847-1883) diễn ra lắm nỗi bi ai. Nhìn chung, đất nước quá lạc hậu về nhiều mặt so với nhiều nơi khác trong vùng Đông Nam Á như Tân gia ba, Vọng các, Nam dương, Hương cảngTonQuynhVinh_w_500Một kẻ sĩ của thế kỷ XIX là Cao Bá Quát, vào 1843, khi tháp tùng phái bộ sang Tân gia ba được chứng kiến văn minh tiến bộ xứ người, đã nhận ra cái học “tầm chương trích cú” của thế hệ mình, chủ trương “bế quan tỏa cảng” của triều đình nhà Nguyễn đã giam giữ dân tộc trong vòng chậm tiến:

 Tân gia từ vượt con tàu,

Mới hay vũ trụ một bầu bao la.

Giật mình khi ở xó nhà

Văn chương chữ nghĩa khéo là trò chơi

Không đi khắp bốn phương trời

Vùi đầu án sách uổng đời làm trai

(bản dịch của Trúc Khê)

Tình trạng hủ bại ở Việt Nam kéo dài suốt hậu bán thế kỷ XIX dẫn tới đất nước rơi vào tay thực dân: sáu tỉnh miền Nam (từ 1862 tới 1867), hai lần Hà nội thất thủ (1873-1882) và cuối cùng là thỏa ước Patenotre ra đời, đất nước rơi vào vòng ngoại thuộc.

Đất nước từ đó chia làm ba khu vực chính trị. Miền nam là thuộc địa, miền Bắc theo chế độ bảo hộ và miền Trung còn chút ảnh hưởng của triều đình Huế nên tạm gọi là tự trị. Sự phân chia này dẫn tới tình trạng xã hội ở các miền bày ra sắc thái đối nghịch. Miền Nam sớm tiếp xúc với văn minh Âu Tây nên tiến bộ hơn miền Trung và miền Bắc.

Trong khi phía bắc đất nước còn ở trong vòng “bát cổ văn chương túy mộng trung” (tám vế văn chương giấc mộng nồng -Thơ Phan Chu Trinh) thì miền Nam đã phát sinh phong trào báo chí đề cao cải cách văn học qua việc phát triển chữ quốc ngữ.

Lịch sử ghi lại, miền Trung và miền Bắc cho tới 1915 mới bãi bỏ thi hương và 1918 là khoa thi hội cuối. Chữ quốc ngữ chỉ được đưa vào kỳ thi hương từ 1897 và chỉ buộc sĩ tử biết đánh vần, ghép chữ sau bốn kỳ quy định mà thôi như nhà thơ Trần Tế Xương (1870-1907) biếm họa:

Bốn kỳ trọn vẹn thêm kỳ nữa,

Á, ớ, u, ơ ngọn bút chì.

Nhà Nho thời ấy ở cái nôi văn học Bắc hà chỉ sáng tác văn chương bằng chữ Hán và chữ Nôm và coi chữ Quốc ngữ như một văn tự xa lạ, ngoại nhập do kẻ thù mang lại. Vì thế có lúc nhà thơ non Côi sông Vị đã mỉa mai:

Hán tự chẳng biết Hán

Tây tự chẳng biết Tây

Quốc ngữ cũng tịt mít

Thôi đi về đi cày!

Ngược lại với miền Bắc, cũng khi ấy Lục tỉnh Nam kỳ đã có nhiều trí thức thức thời, biết được vai trò quan trọng của truyền thông trong việc xây dựng văn hóa mới. Những năm cuối của thế kỷ XIX sang đầu thế kỷ XX báo chí ở Nam Kỳ đã xuất hiện khá dồi dào, lôi cuốn được nhiều độc giả nhờ chữ quốc ngữ đã được sử dụng ở phạm vi rộng vượt dần khỏi nhu cầu cai trị và chữ Hán như: Gia định báo(1865), Phan yên báo (1868), Thông loại khóa trình (1888), Nam kỳ địa phận (1908), Nông cổ mín đàm(1901), Nhật báo tỉnh (1905) Lục tỉnh tân văn (1907)…

Báo chí không còn hoàn toàn là công báo như tờ Gia định mà có nhiều tờ do tư nhân chủ trương (có tờ do người Pháp như Paul Canavaggio đỡ đầu), và các cây viết có tinh thần dân tộc rõ rệt như Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Diệp Văn Cương, Trần Chánh Chiếu, Lê Hoằng Mưu, Nguyễn Chánh Sắt… xuất hiện. Tất cả ra công xây dựng cho nền tảng chữ quốc ngữ và văn học chữ quốc ngữ.

Để dấy lên phong trào học chữ quốc ngữ và dùng chữ quốc ngữ, đồng thời thực hiện nhiệt tâm xây dựng tiền đồ văn hóa, quảng bá học thuật mới, các cây viết tiền phong đã tìm cách thu hút sự ủng hộ của quần chúng. Bằng cách nào?

– Biên soạn tự điển chữ quốc ngữ như Huỳnh Tịnh CủaTrương Vĩnh Ký đã làm.

– Bảo tồn tác phẩm quốc âm và khai thác thuật kể chuyện và thể văn vần để lôi cuốn người đọc vốn ham đạo lý cổ truyền qua nhưng câu chuyện đời xưa, chuyện giải buồn và chuyện khôi hài.

– Chuyển truyện Tàu sang chữ quốc ngữ. Do đó, Huỳnh Tịnh Của viết Chuyện giải buồn, Quan âm diễn ca, Trần sanh diễn ca, Chiêu quân cống hồ truyện, Bạch viên tôn các truyện, Văn doanh diễn ca, Thoại khanh, Châu tuấn truyện, Tống tử vưu truyện. Còn Trương Vĩnh Ký dùng Thông loại khóa trình để giảng giải đạo lý, ghi truyện Nôm ra chữ Quốc ngữ như Truyện Kiều, Lục súc tranh công, Đại nam quốc sử diễn ca… để cung cấp cho độc giả bài học lịch sử và những áng văn chương mẫu mực, hoặc viếtChuyện đời xưa, Chuyện khôi hài, và du ký để giải trí và tài bồi khả năng thưởng thức văn học cho người đọc. Ông cũng còn viết sách văn phạm tiếng Việt đầu tiên (Abrégé de grammaire annamite -Tóm lược ngữ pháp An Nam, Cours de langue annamite -Bài giảng ngôn ngữ An Nam) để biến thứ văn tự mới thành một ngôn ngữ khoa học và dễ phổ quát.

Một học giả khác là Trương Minh Ký (1855-1900) cũng với mục đích truyền bá văn chương Âu Tây và gây hứng thú cho người học chữ quốc ngữ, đã dịch Fables de la Fontaine. Truyện Phansa diễn ra quốc ngữ (S.: Guilland et Martinon, 1884) và Riche et Pauvre. Phú bần truyện diễn ca (S.: Guilland et Martinon, 1885).

Riêng Nguyễn Chánh Sắt (1869-1947)đã dịch khá nhiều chuyện xưa ra chữ quốc ngữ như Tây Hớn (Hán), Đông Hớn, Chung Vô Diệm, Tam quốc chí, Ngũ hổ bình tây, Nhạc phi, Thập nhị quả phụ chinh tây, Càn Long du Giang nam, Anh hùng náo tam môn nhai, Tái sinh duyên

Dùng các loại văn vần, những bài giáo huấn tới các câu chuyện mua vui cho độc giả, hoặc đăng báo, in thành sách hoặc đăng trên các tờ quảng cáo cho các dược phòng, các nhà văn buổi đầu ở Nam Kỳđã dấy lên làn sóng học thứ tân văn tự và dần dần phát huy tinh thần sáng tạo và dùng chữ quốc ngữ để viết tiểu thuyết, làm thơ, viết nghị luận. Có thể tóm tắt bước phát triển của văn quốc ngữ như sau:

Trên báo chí ->Trong tác phẩm kể chyện cổ, dịch phẩm -> Trong tiểu thuyết, thi ca, nghị luận.

Cũng vì thế Thiếu sơn Lê sĩ Quý (1908-1978), một nhà phê bình văn học tiền chiến trong một bài diễn thuyết vào năm 1933 tại Sài gòn, đã có ý kiến xác đáng: “Ở các nước văn minh tiên tiến thì văn học đều có trước báo chí, mà ở nước ta thì chính lại nhờ báo chí xây dựng văn học.”

Tóm lại, lịch trình diễn biến của câu văn quốc ngữ rất tự nhiên theo nhịp tiến của chữ quốc ngữ, từ lối kể chuyện mộc mạc, ngắn gọn tiến dần sang ngôn ngữ chải chuốt, có vần có điệu. Tuy nhiên, lối văn khuôn khổ, ước lệ cổ kính lần lần bớt hoa dạng với tác phẩm của các nhóm nhà văn trong Đông dương tạp chíNam phong tạp chí.

Chúng ta thử đọc lại một chuyện kể trong tập Chuyện giải buồn của Huỳnh Tịnh Của để thấy câu văn quốc ngữ cách đây hơn một thế kỷ ra sao.

Cũng nên biết Chuyện giải buồn của Huỳnh Tịnh Của gồm 2 tập, 112 truyện (in năm 1880 và 1885).

Quân tử khả khi dĩ kỳ phương

Thầy Tử Sản là người nước Trịnh, cũng là môn đệ đức Phu Tử.

Ngày kia thầy Tử Sản phát tiền cho đầu bếp đi chợ. Tên đầu bếp đem tiền đi chợ, gặp chúng bạn rủ, đánh lú thua hết. Trở về tay không thì sợ thầy quở, nó bèn kiếm chước nói dối thầy mà rằng: “Bữa nay tôi ra chợ, tôi thấy họ bán một con cá lớn đại, mập núc mà tròn quay; tôi hỏi giá, họ nói có một quan tiền, chớ mọi lần họ bán cho tới hai ba quan. Tôi nghĩ không mấy khi gặp cá ngon bán rẻ, dốc lòng tìm miếng ngon cho thầy, tôi bèn mua trụm cả quan tiền. Tôi lấy dây xỏ mang con cá mà xách về, gần tới nửa đàng, chẳng dè nó cứng đờ không cục cựa, tôi sực nhớ lời người ta nói: “Cá lên khỏi nước cá khô”. May vừa đi ngang qua hồ, tôi lật đật đem bỏ con cá xuống nước, họa là nó lấy hơi nước mà sống lại chăng. Hồi tôi mới thả, nó nằm trơ, không máy động, vừa giập bã trầu, nó quay và ngáp gió, giây phút nó vùng một cái. Tôi vừa thò tay mà bắt lại, nó đã quạt đuôi lội đi mất. Ấy là tại tôi dại, xin thú thật cùng thầy”.

Thầy Tử Sản nghe nói bèn vỗ tay mà rằng: “Đắc kỳ sở tai! Đắc kỳ sở tai!” (Chỉ nghĩa là chim trời cá nước, được thế nó thay! Được thế nó thay!)

Thằng đầu bếp ra ngoài cười thầm, học cùng chúng bạn rằng: Ai gọi thầy Tử Sản là trí! Tiền chợ thầy đưa, tao thua hết, tao kiếm điều nói láo, mà thầy cũng tin ngay. Ai gọi thầy Tử Sản là trí!

Thầy Mạnh Tử giải rằng: quân tử khả khi dĩ lý chi sở hữu, nhi bất khả khi dĩ lý chi sở vô. Nghĩa là lấy việc có lý mà dối người quân tử cũng được; chí như việc không có lý thì chẳng lẽ dối đặng.

         Hoàng Yên Lưu

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 37

Đi Tìm Một Thể Thơ Mới

Nhật có Haiku, Tàu có Thất Ngôn Bát Cú, Thất Ngôn Tứ Tuyệt, Việt Nam có lục bát. Nhưng ngoài lục bát ra chúng ta có thể thơ nào khác không? Có bạn sẽ trả lời: Song Thất Lục Bát. Thật ra đó là thể thơ lai Tàu. Mình thử đi tìm một thể thơ mới cho Việt Nam nhé bạn. Nếu chưa có thì mình sáng tạo ra. Hàng quốc nội “trội” hơn hàng ngoại. Ta cần có tinh thần đó để thay đổi lối tư duy, suy nghĩ vọng ngoại: “Của người thì tốt của ta thì xấu”. Ta “dở” mà ba lần thắng quân Nguyên? Dở mà chỉ hai tuần đuổi sạch giặc Thanh ra khỏi nước? Dở mà Tàu phải huy động một lực lượng thầy địa lý để truy tìm long mạch và tìm mọi cách để trấn yểm? Dở mà 4000 năm nay còn tồn tại trước kẻ láng giềng lớn gấp trăm lần, tham tàn, hung bạo, lúc nào cũng đầy mưu toan thôn tính?

Người ta nói “Siêu Việt” chứ không ai nói “Siêu Tàu”, “Siêu Nhật”, bạn đồng ý không? Như đã vậy rõ ràng, Thượng Đế dành chữ “Siêu” cho dân Việt.

Thơ là tinh chất của ngôn ngữ, nên thơ càng ngắn gọn, đơn giản, lại càng chuyên chở ý tưởng đến đọc giả tốt hơn.
Một vài đề nghị:

Thể thơ: 3 3 6 8 Ba, Ba, Sáu, Tám
(Style Du Tử Lê)

Ơn ngực ngãi
Ơn môi trầm
Cỏ thơm tươi mát trăm lần
Lá ngoan mơn mỡn, ăn dần đời sau

Thể thơ: 4 4 4 2 Bốn, bốn, bốn, bốn, hai
(Style Vũ Tam Thừa)

Này cô em nhỏ
Tình sao mắc mỏ
Tình anh xu đỏ
Nên đời bỏ xó
Làm ngơ

Này cô em nhỏ
Đêm nay trăng tỏ
Hẹn hò ai đó
Khi lòng không có
Tình yêu

Thể thơ: 5 5 5 5 Năm, năm, năm, năm
(Style Vũ Tam Thừa)

Sáng đưa con đi học
Chiều đón con học về
Việc đơn giản như thế
Mà hạnh phúc tràn trề

(Style Pháp Cú)
Hãy xem bong bóng đẹp,
Chỗ chất chứa vết thương,
Bệnh hoạn nhiều suy tư,
Thật không gì trường cửu.

Trăm năm sau thân này
Sẽ nằm dài trên đất
Như khúc cây gổ mục
Chẳng dùng được chuyện chi

Thể thơ đếm: 1 2 3 4

Anh
Đi dâu
Em nhắn hoài
Không thấy trả lời

Anh
Đâu biết
Mãi đi chơi
Quên hết chuyện đời

Thể thơ: 2 2 2 2 2 2

Thân ta
Xương khô
Môt hai
Hai một
Chỉ là
Trăm năm

Người Viết: Vô Danh

Xem tiếp kỳ sau: Thơ “Anh Hai ” một tương lai mới cho thi ca Việt

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 108

Cụ Vũ Khiêu “Khiêu Vũ” với “nàng thơ” và “em Ấn”

Cụ Vũ Khiêu “Khiêu Vũ” với “nàng thơ” và “em Ấn”

Gần đây thiên hạ đồn đãi nhiều về Vũ Khiêu, một cụ già đã 100 tuổi mà làm nhiều điều thiên hạ xầm xì, dân mạng ném đá

Thứ nhất là chuyện ông ôm hôn hoa hậu Kỳ Duyên
Thứ hai là chuyện ông đạo thơ để tặng người đẹp
Thứ ba là chuyện câu đối nhà thờ tổ họ Vũ
Thứ tư là chuyện chọn quốc hoa
Thứ năm là chuyện quốc ấn đền Trần

Bạn ngạc nhiên. Ủa, chuyện đâu có gì mà ầm ỉ? Già gần đất xa trời rồi, ổng muốn làm gì thì làm chứ. Mà nhiều khi muốn mà có làm được đâu!
Làm ơn kính lão đắc thọ nhe quý vị. Cho ổng enjoy life một chút đi!

Vũ Khiêu là ai? Sao thiên hạ thích xía vào chuyện của ông già. Ngày xưa Nguyễn Công Trứ còn lấy vợ bé trẻ măng mới 18 tuổi. Đến nỗi đêm tân hôn cô dâu hỏi -Anh bao nhiêu tuổi. Chú rể ỡm ờ ‘Ngũ thập niên tiền nhị thập tam. 50 mươi năm trước anh mới hăm ba hà”. Bất quá bây giờ nếu cụ có tán tỉnh người đẹp Kỳ Duyên 19 tuổi thì Vũ Khiêu vẫn có thể bắt chước các cụ xưa mà nói “Bát thập niên tiền ngã…hai mươi” hay “Năm anh tám mươi, em mới sinh ra đời!”. Nhưng câu chuyện không đơn giản như vậy.

Thưa các bạn, vấn đề ở đây là cụ Vũ Khiêu trước giờ được xem là một biểu tượng văn hóa cho cả nước Việt Nam. Cụ không phải là một ông già bình thường, cụ đại diện cho văn hóa Việt Nam, cụ được xem là quốc sư, một người của công chúng. Do đó cụ không thể muốn làm gì thì làm. Cụ cần có trách nhiệm về việc mình làm, xem việc đó có đúng không, có gây ảnh hưởng gì cho công chúng, cho quốc gia không.

Chúng ta thử xem qua lý lịch của ông một chút nhé:
-Nhà văn hóa lớn đã từng đi du học ở Hungary, Bắc Kinh.
-Nhà nghiên cứu về văn hóa Việt Nam, Viện trưởng đầu tiên của Viện Xã hội học Việt Nam.
-Từng giữ các chức vụ Phó Giám đốc Thông tấn xã Việt Nam và Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Xã hội (nay là Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam).
-Từng được nhà nước Việt Nam phong danh hiệu Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới vào năm 2000.
-Tác giả của nhiều công trình nghiên cứu, “Cao Bá Quát” (1970), “Ngô Thì Nhậm” (1976), “Nguyễn Trãi” (1980),
“Nguyễn Đình Chiểu” (1980), “Bàn về văn hiến Việt Nam” (2000).
-Năm 1996, được nhà nước Việt Nam trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I ngày 10 tháng 9.

Té ngữa chưa! Xem qua mà dễ sợ. Cái resume này gởi đi xin việc về văn hóa là là chớp được cái job thơm của chính phủ liền à!
Nhưng bạn ơi, ở đời coi vậy mà không phải vậy. Thực sự thì…nói ra hơi bất kính, cụ …chẳng biết gì nhiều!

Chi tiết của chuyện thứ nhất là như vầy. Hôm tết vừa rồi, người đẹp hoa hậu Kỳ Duyên có đến chúc tết cụ
Cụ làm tặng cho người đẹp hai câu đối nghe rôm rã lắm.vukhieuvakyduyen

“Trí như bạch tuyết tâm như ngọc
Vân tưởng y thường hoa tưởng dung”

Với mấy người “Háng” hẹp, nghe không hiểu gì hết, thì rất thán phục cụ. Nhưng ai có chút kiến thức về thơ Đường thì biết ngay câu dưới là của nhà thơ Lý Thái Bạch trong bài Thanh Bình điệu nổi danh đời nhà Đường, viết khi tả Dương Quý Phi. Đại khái Lý Bạch khen Dương Quý Phi “Mây đẹp như áo nàng, Hoa đẹp như mặt nàng”
Rõ ràng cụ “chôm” thơ của Lý Thái Bạch, mà “chôm” không đúng câu, dùng không đúng chổ. Thanh Bình điệu là bài thơ thuộc loại “erotic – gợi tình” nhắc cảnh mây mưa của Đường Minh Hoàng và Dương Quý Phi, mà ông lại tặng cho một cô gái 19 tuổi còn trinh nguyên, độc thân chưa lập gia đình thì tội nghiệp cho cô hoa hậu Kỳ Duyên quá!

Nhất chi hồng diệm lộ ngưng hương
Vân vũ Vu Sơn uổng đoạn trường

Trần Trọng San dịch

Một nhánh hồng tươi, móc đọng sương,
Mây mưa Vu giúp uổng sầu thương.

Nếu các bạn muốn xem cả bài thơ và bản dịch sang tiếng Việt thì có ngay.
Còn các bạn muốn biết rõ hơn bài Thanh Bình điệu Lý Thái Bạch làm trong trường hợp nào thì bấm vào đây
Thanh Bình điệu

duongquyphi

Dưới đây là nguyên bản Thanh Bình điệu

Thanh bình điệu (khúc 1)

Vân tưởng y thường hoa tưởng dung,
Xuân phong phất hạm lộ hoa nùng.
Nhược phi Quần Ngọc sơn đầu kiến,
Hội hướng Dao Đài nguyệt hạ phùng.

Bản dịch của Trần Trọng San

Mặt tưởng là hoa, áo ngỡ mây,
Hiên sương phơ phất gió xuân bay.
Nếu không gặp gỡ trên Quần Ngọc,
Dưới nguyệt Dao Đài sẽ gặp ai.

Ngoài chuyện đạo thơ, câu trên, vế một viết “Trí như bạch tuyết tâm như ngọc” nghe là lạ. Đâu ai ví “Trí” như tuyết trắng. Nếu ngu thì người ta nói “Đầu mày toàn đậu hủ!” Tức là nhìn giống óc mà không phải là óc. Như vậy ở đây, cụ Vũ Khiêu khen hay chê hoa hậu Kỳ Duyên? Có lẽ là chê, vì tuyết màu trắng giống óc mà không phải là óc. Hay là cụ cũng chẳng “care” câu mình viết có ý nghĩa hay không, chỉ cần đọc lên nghe “nổ rôm rã” là đạt rồi
Chưa hết, khi tặng thơ cụ ôm và hôn hít lên má hoa hậu Kỳ Duyên. Cái hôn không có vẽ gì là “cụ ôm cháu” mà rõ ràng là cụ “gở gạc chút đỉnh”. “‘Anh’ hôn em vì em trẻ đẹp và thơm như múi mít”. Tấm ảnh này đã gây nên nhiều tranh cãi trong dư luận và cộng đồng mạng. Người miền Nam trước cảnh này họ sẽ gọi cụ là “Thằng cha già dzịch!’
Mà “dê” thì thằng đàn ông nào chả dê. Trẻ dê theo trẻ, già dê theo già mà. Cái này chuyện nhỏ! Bỏ qua được.

Sang chuyện thứ ba. Câu đối nhà thờ tổ họ Vũ
Ở đình làng An Trì, Hải Phòng, ngôi đình thờ Ngô Quyền được xây dựng từ đầu thế kỷ 19, có hai câu đối.

(Bản gốc)
“Vạn cổ càn khôn hưng tái tạo.
Cửu vân nhật nguyệt ánh trùng quang”

Nhà quốc sư “chôm” và sửa chút xíu thành

(Bản chôm và sửa lại)
“Vạn cổ càn khôn hưng tái tạo.
Cửu tiêu nhật nguyệt phúc trùng quang”

Đó là câu đối của ông Vũ Khiêu dâng vào Miếu Thần tổ Vũ Hồn ở Mộ Trạch, Hải Dương.
Ông sửa chữ “vân” thành chữ “tiêu” chũ “ánh” thành chữ “phúc” .

Nhật, Nguyệt tức mặt trời, mặt trăng. Hai vật chiếu sáng thì dùng chữ “ánh” trong câu hay quá, đẹp quá.
Nguyên câu ngon lành của người ta, cụ moi chữ “ánh” ra, bỏ vào chữ “phúc” vào, thấy khập khiểng quá.
Giống người đang mặc áo bộ đồ com-lê mà thay cái quần dài ra, mặc chỉ cái quần đùi thôi.
Hay như chú ba Tàu nói tiếng ta về cái quần rách. “Cái quần lị pể dzồi!”

motrach

Cụ tặng 2 câu đối như vậy mà bao nhiêu con cháu họ Vũ ở Mộ Trạch có hay biết gì đâu. Hay nhiều khi có người biết mà vẫn tủm tỉm mỉm cười. Dại gì chọc đến ông. Nói ông dốt, ông sai, trong khi ông là quốc sư của nhà nước khác gì bảo đảng dốt, đảng sai. Thôi cứ xem như mình không biết gì cho xong chuyện. Ách giửa đàng dại gì quàng vào cổ.

Hoa Mào Gà
Hoa Mào Gà

Đến chuyện thứ tư. Chọn quốc hoa.
Quốc hoa là loại hoa được chọn làm hoa tiêu biểu cho nước đó. Thí dụ hoa anh đào thì ai cũng biết là quốc hoa của Nhật. Singapore hoa Lan, Lào hoa Đại, Philippines với hoa nhài, Malaysia với hoa râm bụt. Các bạn ngạc nhiên chưa? Hoa sen đẹp vậy mà chẳng ai chọn. Trời Phật để dành cho nước mình mà. Các bạn muốn biêt thêm chi tiết quốc hoa của các nước Đông Nam Á thi click vào đây

Quốc hoa của 10 nước Đông Nam Á.

hoa-sen
Hình Hoa Sen

 

Hoa sen tượng trưng cho sự thanh cao, bất khuất của con người trước mọi nghịch cảnh. Hoa sen quen thuộc với người Việt như vậy thế mà khi hỏi cụ Vũ Khiêu rằng cụ chọn hoa gì làm quốc hoa thì cụ đáp: Hoa Mào Gà. Mào Gà là tên một bịnh hoa liễu do chơi bời, phóng đảng, quan hệ nam nữ bừa bãi, cụ Vũ Khiêu ơi!

Sau này bị phản đối quá cụ mới nói chữa đi “Đó là trước đây, giờ số đông nhân dân chọn hoa sen, tôi cũng đồng tình. Chọn Quốc hoa phải dựa trên ý kiến của đa số.”

Chuyện thứ năm. Chuyện Quốc Ấn Đền Trần.

andentran
Xếp Hàng Rồng Rắn Để Xin Ấn Đền Trần 

Hàng năm vào trung tuần tháng giêng dân ở các nơi đổ dồn về đền Trần ở Hưng Hà, Thái Bình xếp hàng rồng rắn để xin cho được “Ấn Đền Trần”. Người dân tin là sẽ mang về tài lộc, bình an cho bản thân và gia đình. Nếu quả thật như vậy thì mình mua mang về Mỹ bán $1000 đô một tờ chắc sẽ có người mua!
Người ta đồn đó là ấn của vua Nhà Trần. Trên đó có khắc bốn chữ Tàu viết theo lối Tiểu Triện, một cách viết khác của tiếng Tàu. Sở dĩ người dân tin là ấn vua Trần thật vì Ông Vũ Đức Thơm, Giám đốc Bảo tàng tỉnh Thái Bình, đã đến hỏi quốc sư Vũ Khiêu. Cụ nói bốn chữ đó là “Quốc vương thiên nhân”, ấn của vua Trần.
Thật sự bốn chữ đó là “Thượng nguyên Chu thị” , nghĩa là “Tiết Thượng nguyên nhà họ Chu”, nói gọn lại đó là Ấn của dòng họ Chu. Như vậy đâu phải ấn của vua Trần.  Họ Chu ghi rõ rành rành ra đó mà. Báo Tiền Phong Online nói “Ấn Đền Trần ở Hưng Hà, Thái Bình không phải là ấn của Vua Trần. Đó chỉ là một phiên bản ông chằng bà chuộc, có khả năng phát xuất tận xứ Tàu!”

andentran4
Ấn Đền Trần sao chữ là “Thượng Nguyên Chu Thị”? 

Trời ơi, đất hỡi! Cái ấn vớ vẫn của Tàu mà cụ nói là của vua Trần để dân chúng xếp hàng trong gió mưa vất vả để lấy tờ giấy thổ tã đó về cầu xin bình an, tài lộc.
Ông trời ơi, ngó xuống mà xem! Con cháu Lạc Hồng ngày nay sao đến nỗi thế này! Cụ Vũ Khiêu ơi, cụ làm như thế mà cụ không biết xấu hổ sao cụ? Cụ cần lên tiếng ngay. “Thưa đồng bào, tôi quen tật nỗ nên không biết mà vẫn nói bừa. Thật sự tôi cũng không rõ bốn chữ đó là chữ gì, xin đồng bào tha lỗi cho tôi!”
Vậy là xong rồi đó cụ!  Lương tâm cụ giờ thảnh thơi. Cụ có thể an hưởng tuổi già theo chân Phật Đà, tu tâm dưỡng tính thì cái phúc đức của đất trời lại quay về với cụ.

andentran3
Dân chúng tin tờ Ấn Đền Trần này sẽ mang đến tài lộc

Qua câu chuyện của cụ Vũ Khiêu, chúng ta phải cám ơn cụ. Họa trung hữu phúc mà. Nhờ cụ mà chúng ta học được bài học quý giá. Dân tộc Việt, cần phải học, học nhiều, học để biết nhiều, để thấy đâu là đúng, đâu là sai. Nếu không cả nước sẽ xuống hố, cả dân tộc sẽ thống khổ muôn năm. Khi viết đến đây SG chợt liên tưởng đến xã hội Việt Nam thời Tư Lực Văn Đoàn. Kẻ có lòng, có tri thức thí ít; kẻ mê muội, ít học thì nhiều. Hay có học mà là cái học “dõm”, học để có tấm bằng để thăng quan tiến chức, để “nổ” lấy le mà không có cái thực tài.

Để tóm tắt và để kết thúc bài viết này, SK xin tặng quý vị bài thơ sau đây. SK xin các bạn thứ lỗi nếu có lời lẽ đùa giỡn quá đáng, xúc phạm đến quý vi.

Cụ xa tăm tắp miếng trầu
Vũ lộ một chút dãi dầu có sao
Khiêu ngồi khua mõ trên cao
Khiêu vo ve bậc tiêu tao ốc nhồi
Vũ cành thông muộn mất rồi
Với hư không thế này thôi hãy còn
Nàng cười nước nước non non
Thơ lưng túi đá mấy hòn túi lưng
Và lần ấy khách cả mừng
Em nằm sóng lớp phế hưng áo chầu
Chữ vô tâm cái dao bầu
Ấn phường lòi tói nọ đau quỉ thần

Cụ đi đâu đó vuông tròn
Vũ xuân chăng tái cửa son đù đờ
Khiêu vũ lõm bõm phất phơ
Khiêu khom khom cật ngẩn ngơ vãi lần
Vũ cay đắng kiếp phong trần
Với hư không đã mặc quần con cua
Nàng e ấp chả ăn thua
Thơ ngây thiếp nhớ già nua lặng tờ
Và đôi khi biết bao giờ
Em còn nhớ cách ngâm thơ giữa dòng
Chữ duyên phì phạch trong lòng
Ấn năm canh dưới nương long thương chàng

 

Bạn đọc xong than phiền “hiểu được chết liền!” .
Không hiểu thì mang đến cụ Vũ Khiêu! Lần này cụ sẽ nói dễ thương lắm “Cụ cũng chẳng biết. Nó làm thơ máy, chữ nghĩa lung tung, ai mà hiểu được!”

giao-su-Vu-Khieu
Mừng Thọ cụ Vũ Khiêu

Wow! Lời nói chân thật dễ thương chưa! Cảm ơn cụ Vũ Khiêu. Nhờ cụ mà cháu có cảm hứng để viết bài này. Thú thật cháu cũng họ Vũ. Chắc cũng là bà con xa với cụ.
Thế đấy, cụ bây giờ đâu còn là “Ông già dịch nửa”. Cụ giờ là một “Tiên ông”. Các hoa hậu sẽ rần rần đến thăm cụ. Cụ chẳng cần ôm hôn đâu. Các cô ấy sẽ ôm hôn cụ.
Cụ dễ thương, đánh kính, đáng mến quá mà. Lúc đó cụ sẽ cảm được cái tình cảm tự nhiên thanh khiết và một ánh hào quang chợt lóe lên nơi tâm hồn cụ. Cụ chợt ngộ ra cái “Đạo Làm Người”. Cụ sẽ gọi phone nói với nói với dân chúng đến xin ấn đền Trần lời xin lỗi. “Tin gì ba cái nhảm nhí ấy! Phật ở Tâm. Nhọc Chi Kiếm Tầm. Cứ đưa tay sờ ngực. Ấn đền Trần nằm nơi đấy”

Cụ làm thơ tặng Kỳ Duyên, nay cháu cũng xin làm thơ tặng cụ

Đẹp người, đẹp lão, đẹp tâm
Sống chân, sống thật khó tầm Vũ Khiêu

Cụ giờ là hàng hiếm đấy, cháu muốn ôm hôn cụ nhưng sợ “nhà dzăng” Trần Mạnh Hảo ném đá cho cháu là bê-đê thì tiêu đời.
Thôi, xin bắt tay cụ nhé. Nếu có duyên, sẽ có ngày bác cháu mình gặp nhau!.

Sáu Không

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 242

Người Phụ Nữ Việt Nam Qua Thơ Hồ Dzếnh

Cô gái Việt Nam ơi!
Nếu chữ “hy sinh” có ở đời
Tôi muốn nạm vàng muôn cực khổ
Cho lòng cô gái Việt Nam tươi

Trong các tài danh của phong trào Thơ Mới như Thế Lữ, Lưu Trọng Lư; Hồ Dzếnh là một tên tuổi lớn. Độc giả nhớ đến ông ngoài việc ông có một bút danh đặc biệt, ngộ nghĩnh, không giống ai; ông còn là thi sĩ có nhiều bài thơ tuyệt đẹp viết về phụ nữ. Người phụ nữ của ông không phải lúc nào cũng là người tình, người con gái ông yêu như đa số các nhà thơ khác. Người phụ nữ đó có thể là người chị, người mẹ hay một hình tượng tiêu biểu chung – người con gái Việt Nam.

Ảnh hưởng của người mẹ trên thi ca của ông rất rõ nét. Có lẽ vì vậy mà ông đã xuất bản hai tập thơ về Quê Ngoại mà Quê Nội thì không có tập nào. Nếu Quê Ngoại I xuất bản tại Hà-nội năm 1943 thì Quê Ngoại II đến 1993 mới xuất bản tại Hoa Kỳ. 50 năm trời vẫn là Quê Ngoại. Rõ ràng Quê Ngoại mới thật là Quê Nhà. Còn Quê Nội không thấy ông nhắc đến. Như vậy ông khẳng định ông là người Việt Nam một trăm phần trăm, trong cũng như ngoài, dù cha ông là người Minh Hương, tức gốc gác Trung Hoa.

Ngay cái tên Hồ Dzếnh của ông cũng là đề tài để bạn bè trêu chọc. Bạn đổi tên ông là Hồ Dính rồi ngâm nga “Hồ Dính, dính Hồ, Hồ chẳng dính”
Ông là một tài hoa sớm nở… lâu tàn, nhưng cuộc đời lại dỡ dỡ, dang dang. Sống qua bao khổ lụy nên thơ ông mỗi dòng là một giọt máu. Ông đã dùng chữ “máu thơ” để nói về thơ của mình. Nhưng suốt 50 năm từ 1943 đến 1993 cái tài hoa đó bị “frozen” trong tủ lạnh, không chết cũng không sống. Năm mươi năm sau cái hồn thơ ấy được mang ra khỏi tủ lạnh thì nó thành thơ “Vũ Như Cẩn” nghĩa là vẫn như cũ! Nét thơ trong Quê Ngoại II và Quê Ngoại I không khác gì nhau dù 50 năm biết bao vật đổi sao dời.

So với những nhà thơ nổi danh mà sau này thành những tay “mõ làng” thì ông hơn họ nhiều, nhiều lắm. Ông để cho chúng ta những câu thơ để đời, một brand name rất đẹp mà người phụ nữ không cần đến nước hoa xịn, bóp đầm sang trọng, quần áo đắt tiền mà vẫn hãnh diện như mình là một hoa hậu mới đăng quang. Và cái brand name đó chính là “Phụ Nữ Việt Nam”
Thứ hàng hiệu của nhà “thiết kế” Hồ Dzếnh giờ đang là hàng hiếm. Đi tìm từ Nam ra Bắc người ta thấy đầy rẫy hiệu “Chân Dài” mà không dễ gì tìm thấy hiệu “Hy Sinh”.

Để minh chứng cho điều đó, KNVN xin gởi đến các bạn hình ảnh về người con gái, người chị, người mẹ và người phụ nữ Việt Nam qua những bài thơ của thi sĩ Hồ Dzếnh dưới đây.
Xin trân trọng kính mời các bạn thưởng thức.ngocsuong

Giản Dị

Em ăn, em nói, em cười,
Kiếp này không có hai người như em.
Kinh thành: quần nhiễu, hàng len,
Em tôi: aó trắng, quần đen sơ sàị

Ai mà để ý vào ai,
Quần đen lẫn bóng, áo gai lẫn mầu.

Trên đời hai đứa yêu nhau
Quần đen hóa đẹp, áo sầu hóa vui.

Tình là hạnh phúc chia đôi,
Hương lan kẽ đá, trăng soi dậm trường…

Đừng mong ước cả Thiên Đường,
Hãy xin lấy nửa tấc vườn vắng hoa.

Tình người bướm lại, ong qua,
Tình tôi con nước, canh gà hắt hiu.

Sầu tôi bờ bến bao nhiêu,
Nếu đời em để sắc điều gây nên…catlua5

Bài Thơ Tặng Vợ

Mình vừa là chị là em
Tấm lòng người mẹ, trái tim bạn đời
Mai này tới phút chia đôi
Hai ta ai sẽ là người tiễn nhau?
Xót mình đã lắm thương đau
Tôi xin làm kẻ đi sau đỡ mình
Cuộc đời đâu phải phù sinh
Nước non chan chứa nghĩa tình, mình ơi!

nguyencau
Rằm Tháng Giêng

Ngày xưa còn nhỏ ngày xưa
Tôi đeo khánh bạc lên chùa dâng nhang
Lòng vui quần áo xêng xang
Tay cầm hương nến đình vàng mới mua
Chị tôi vào lễ trong chùa
Hai chàng trai trẻ khấn đùa hai bên
“Lòng thành lễ vật đầu niên
Cầu cho tiểu được ngoài Giêng đắt chồng”
Chị tôi hai má đỏ hồng
Vùng vằng súyt nữa quên bồng cả tôi
Tam quan, ngoài mái chị ngồi
Chị nghe đoán quẻ Chị cười luôn luôn
Quẻ Thần thánh mách mà khôn
Số này chồng đắt mà con cũng nhiều
Chị tôi nay đã xế chiều
Chắc còn nhớ mãi những điều chị mơ
Hằng năm tôi đi lễ chùa
Chuông vàng khánh ngọc ngày xưa vẫn còn
Chị ơi thấy vắng trong hồn
Ít nhiều hưng phấn khi còn thơ ngây
Chân đi đếm tiếng chuông chùa
Tôi ngờ năm tháng ngày xưa trở về

Huyền Trân Công Chúa
Huyền Trân Công Chúa

Cảm Xúc

cô gái Việt Nam ơi!
Từ thuở sơ sinh lận đận rồi
Tôi biết tình cô u uất lắm
Xa nhau đành chỉ nhớ nhau thôi

Cô chẳng bao giờ biết bướm hoa
Má hồng mỗi tiết mỗi phôi pha
Khi cô vui thú là khi đã
Bồng bế con thơ đón tuổi già

Cô gái Việt Nam ơi!
Ngọn gió thời gian đổi hướng rồi
Thế hệ huy hoàng không đủ xóa
Nghìn năm vằng vặc ánh trắng soi

Tôi đến đây tìm lại bóng cô
Trở về đường cũ hái mơ xưa
Rau sam vẫn mọc chân rào trước
Son sắc lòng cô vẫn đợi chờ

Đèo con, cắt lúa
Đèo con, cắt lúa

Dãi lúa cô trồng nay đã tươi
Gió xuân ý nhị vít bông cười
Ai hay lòng kẻ từng chăm lúa
Trong một làng con đã héo rồi

Cô gái Việt Nam ơi!
Nếu chữ “hy sinh” có ở đời
Tôi muốn nạm vàng muôn cực khổ
Cho lòng cô gái Việt Nam tươi

HỒ DZẾNH

Vũ Tam Thừa

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 1394

ĐẤT VUI, CHIM HÓT

Lần này Sáu Không xin mạn phép được “chôm” bài viết đã đăng trên mạng của nhà văn Song Thao ở Montréal về một tác phẩm của nhà văn Trà Lũ để đưa lên KMVN. 

Trong tất cả bài viết của nhà văn Trà Lũ, bài nào cũng nhắc đến ít nhất một món ăn ngon. Phải chăng được ăn những món ăn tuyệt vời của quê nhà cũng là một hạnh phúc? Đất lành chim đậu. Ở đất lành mà lại được ăn đồ ngon của quê nhà thì còn gì hạnh phúc bằng. Chẳng trách giọng văn của Trà Lũ lúc nào cũng dí dõm, tiếu lâm, cứ tủm tỉm cười Thì ra là … Đất Vui, Chim Hót. Xin mời các bạn thưởng thức.

ĐỌC “ĐẤT THIÊN THAI” CỦA TRÀ LŨ

Anh Trà Lũ và tôi thỉnh thoảng lại điện thoại cho nhau. Người ở Montreal, người ở Toronto, xa mặt nhưng không cách lòng. Chuyện mưa nắng, chuyện văn nghệ văn gừng, chuyện sinh hoạt nơi chúng tôi đang sống. Cũng là những chuyện vui thôi. Duy có một chuyện chúng tôi chia nhau đứng thành hai phe riêng rẽ, chưa bao giờ đồng ý với nhau. Đó là chuyện già. Anh Trà Lũ thì lúc nào cũng than thở mình già, còn tôi nhất định không cho mình là già, chỉ nhiều tuổi! Vậy mà khi cho xuất bản hai cuốn “400 Chuyện Cười” và “Đất Thiên Thai”, anh gửi lên Montreal biếu một người có cái tên là “Cụ Song Thao”! Tôi bèn phôn xuống Toronto tức thời. Đại ý tôi nói là trên Montreal không có ai là “cụ Song Thao” cả và tôi đã định không nhận! Anh Trà Lũ cười xòa. Anh đánh trống lảng không nói chi nhưng tôi biết anh ấy nhất định giữ lập trường…già như thường lệ.

Cầm hai cuốn sách trên tay tôi mới chợt nghĩ ra. À! Hóa ra ông này giả bộ. Cứ than van già mà ra một lúc tới hai cuốn sách: cuốn 350 trang, cuốn 400 trang. Viết như vậy thì già chi được! Cả hai cuốn đều không phải là văn phong của người già.

Cuốn “400 chuyện cười” thì làm sao mà già. Già thì phải nghiêm trang, ai hỏi thì cứ ậm ừ làm oai, chờ cho tới khi người ta mỏi miệng mới…phán! Chứ cười toét ra tới 400 lần thì trẻ đứt đuôi chứ già chi. Già chăng là ở cái phúc. Tên cuốn sách là “400 chuyện cười” nhưng thực sự trong sách có tới 440 chuyện tất cả. Già nên rộng lượng bonus thêm cho người đọc tới 10%! Đọc cuốn này thì chỉ có cười. Chọc cho người ta cười là khó. Chứ chọc cho người ta khóc như cô đào Kim Cương ngày xưa thì dễ ẹc. Nước mắt thường rẻ hơn tiếng cười vì nước mắt làm cho cuộc đời thêm bi lụy. Đó là mảng tối của cuộc sống. Ngược lại, tiếng cười là khúc nhạc xuân làm rạng rỡ cuộc sống. Tạo ra tiếng cười thì xuân hết sức xuân. Vậy mà ông Trà Lũ cứ nhất định mình già. Tin sao nổi.

“Đất Thiên Thai” là cuốn thứ 11 của nhà văn…đất này. Nào đất hạnh phúc, đất mới, đất hứa, đất thiên đường, đất yêu thương, đất tình nồng, đất quê ngoại, đất anh em, đất nhà, đất an lạc và đất thiên thai. Tất cả những thứ đất thân thương này là chỉ đất nước Canada, đất nước chúng ta đang sống và nhận làm quê hương thứ hai của mình. Tất cả chúng ta đều tri ân mảnh đất đã cưu mang chúng ta, yêu mến sông biển núi rừng của mảnh đất tạm dung này, nhưng bày tỏ lòng yêu mến một cách khỏe khoắn và rốt ráo như nhà văn Trà Lũ thì chúng ta chưa đạt tới được. Nghĩ vậy nên tôi cứ thắc mắc là tại sao đến bây giờ mà vị Toàn Quyền Canada chưa gắn cho nhà văn của chúng ta một mảnh huy chương nào. Đó là một thiếu sót.

Canada của ông Trà Lũ kinh lắm! Ông tìm tòi, nặn ra những thứ mà Canada là nhất. Như cây mù tạc. Đó là thứ chúng ta thường dùng với thịt bò bí tết. Cây mù tạc đã có mặt trên đất nước Canada từ 5 ngàn năm trước. Đó là thứ cây…Canada vì hiện nay Canada sản xuất 90% tổng số mù tạc trên thế giới. Mù tạc đi với bí tết thì rượu cũng đi với bí tết. Nói tới rượu người ta nghĩ tới nước Pháp và các nước ôn đới ở châu Âu. Rượu Pháp là số một trên thế giới. Nhưng ông Trà Lũ lại tìm tòi và chứng minh rượu Canada mới là số dách! Chuyện xảy ra vào đúng ngày 29 tháng 8 năm 2006. Cũng mới đây thôi. Ngày đó ông sâu rượu người Canada Marc Chapleau đã mời một số những người sành rượu trên khắp thế giới về đất Quebec chúng ta để nếm rượu của khắp năm châu gửi về dự thi. Dĩ nhiên cũng như chúng ta thi cử ngày xưa dùng phách để giữ kín tên thí sinh cho khỏi thiên vị, các giám khảo rượu cũng chỉ được biết những con số chứ không biết đó là chai rượu nào, của nước nào. Ai cũng đinh ninh rượu Pháp sẽ ăn trùm thiên hạ. Vậy mà rượu Canada lại đoạt giải nhất, Đó là chai rượu “Le Clos Jordanne Claystone Terrace 2005” được sản xuất tại Niagara. Cuộc đăng quang của rượu Canada làm chấn động giới nhậu nhẹt quốc tế.

Canada của Trà Lũ còn nhiều cái nhất khác: xứ sở đa văn hóa thành công nhất, cảnh trí xinh đẹp và hùng vĩ nhất, lá vàng mùa thu rực rỡ nhất, có tự do nhất, có nền y tế miễn phí đại chúng tốt nhất, là cha đẻ của môn thể thao hockey, có trữ lượng nước ngọt lớn nhất và cuối cùng là có cà phê Tim Hortons! Đúng là…đất thiên thai.

Từ mảnh đất thiên thai này đã có 103 người Canada tử trận trên chiến trường Việt Nam. Chắc quý vị cũng như tôi đều ngạc nhiên vì con số thương vong này. Bởi vì Canada làm gì có binh sĩ tác chiến tại Việt Nam mà chỉ có những quân nhân trong Ủy Ban Quốc Tế Giám Sát Đình Chiến. Có ai dám đụng tới lông chân của các vị giám sát này đâu. Sự thực là từ thời thập niên 1960 đã có tới 20 ngàn thanh niên Canada qua Mỹ nhập ngũ và sang chiến đấu tại Việt Nam trong các binh chủng của quân đội Hoa Kỳ. Con số 103 người nằm xuống trên đất nước chúng ta là hình hài Canada nhưng được phủ quốc kỳ Mỹ.

Như vậy mảnh đất thiên đàng này có liên hệ tới mảnh đất quê hương của chúng ta. Nhà văn Trà Lũ rất khoái chuyện kết nối giữa quê nội và quê ngoại này. Bởi vì ông tin là người da đỏ tại Canada chính là hậu duệ của năm chục người con theo cha xuống biển của truyền thuyết một mẹ trăm con từ ngày lập quốc của Việt Nam. Chuyện này có lẽ là chuyện ông Trà Lũ thích thú nhất trong cuốn “Đất Thiên Thai”. Ông viết: “Các cụ có biết sắc dân đầu tiên đến Canada là sắc dân nào không? Thưa, đó là sắc dân Da Đỏ đến từ Á Châu. Các cụ cứ quan sát hình người da đỏ mà coi. Họ da vàng rõ ràng nhưng không biết tại sao người Việt Nam mình lại gọi họ là da đỏ. Nét mặt của họ hoàn toàn Á Đông nhưng đoàn thám hiểm da trắng đầu tiên gặp họ ở trên đất nước này đã gọi họ là Indian vì nghĩ rằng mình đã tới xứ Ấn Độ. Theo nhân chủng học thì đoàn người Da Đỏ đầu tiên đã tới xứ này cách đây mấy chục ngàn năm. Họ khởi hành từ Á châu, men theo eo biển Bering miền cực bắc, rồi tỏa xuống phía nam, định cư ở miền đất thiên đàng Canada hiện nay, và một số đã xuống tới Hoa Kỳ. Hình như ngày xưa triết gia Kim Định đã cho rằng tổ tiên người da đỏ có gốc Việt Nam và phát xuất từ miền Bắc Việt Nam. Ông căn cứ vào lịch sử: mẹ Âu Cơ đã dẫn một đoàn con lên miền núi phía bắc, còn cha Lạc Long dẫn một đoàn con xuống miền biển phía nam. Đoàn người da đỏ tiên khởi tới Canada rồi tỏa đi khắp nơi, chia ra nhiều bộ tộc, nói nhiều ngôn ngữ khác nhau”.

Chưa hết. Nhà văn Trà Lũ còn xác nhận chủ quyền của Việt Nam chúng ta trên mảnh đất thiên thai này bằng ngữ học. Cái tên Canada của đất nước này chính là tiếng Việt! Khi ông Jacques Cartier và các nhà thám hiểm da trắng tới mảnh đất này vào năm 1533, họ hỏi người da đỏ tên mảnh đất họ đặt chân tới này tên là chi. Vì bất đồng ngôn ngữ nên mấy ông Việt Nam cổ này lại tưởng họ hỏi là nhà mấy ông ở đâu nên chỉ về mấy túp lều và nói “Kanata”. Tai ông Jacques Cartier là tai tây nên nghe ra  là “Canada”. Vậy là tên đất nước này dính chết với sự nghễnh ngãng của mấy ông tây đi thám hiểm. Nhưng Kanata là cái chi? Đó chính là câu tiếng Việt “Cái nhà ta”. Tiếng Việt rõ ràng!

Ông Trà Lũ khoái truyền thuyết này. Tôi cũng khoái. Và tôi nghĩ chúng ta ai cũng khoái hết. Nếu bây giờ chúng ta cứ truy theo sự kiện này mà đòi làm người da đỏ thì chúng ta có rất nhiều quyền lợi. Ít nhất các ông nghiện thổi khói thuốc cũng được hút thuốc lá với giá rẻ không thuế!

Đất nước ta, theo suy luận của nhà yêu nước Trà Lũ, trải dài từ Á châu qua Mỹ châu. Đúng là rừng vàng biển bạc. Người Việt Nam, vẫn theo nhà yêu nước Trà Lũ, là thứ người dễ thương nhất thế giới. Chả thế mà đến tiên cũng phải yêu người Việt chúng ta. Trên thế giới có rất nhiều chuyện kể về tiên hiện xuống cứu người hoạn nạn nhưng toàn là những bà tiên già khằng, chỉ có chuyện tiên ở Việt Nam mới có các nàng tiên trẻ măng xuống trần kết duyên với trai Việt. Như nàng tiên Giáng Kiều bước ra từ bức tranh để kết duyên với chàng trai Tú Uyên trong chuyện Bích Câu Kỳ Ngộ. Như chuyện nàng tiên Giáng Hương yêu quan huyện Từ Thức ở Thanh Hóa rồi dẫn ông nhập thiên thai. Như chuyện nàng tiên Chức Nữ hiện xuống kết duyên với Ngưu Lang bị cha gọi về trời khóc hết nước mắt làm mưa ngâu rả rích vào tháng 7 mỗi năm. Tại sao chỉ có ở Việt Nam tiên mới hiện ra thành những thiếu nữ xinh đẹp và kết duyên với thanh niên đất Việt. Theo ông Trà Lũ thì tại vì thanh niên Việt đẹp trai và dễ thương! Các bà có điều chi khiếu nại thì xin tìm gặp ông Trà Lũ ở…đất thiên thai.

Yêu đất Việt, yêu người Việt đến mức thiên vị, nhà văn Trà Lũ còn yêu món ăn Việt Nam. Điều này không có chi lạ. Ai trong chúng ta chẳng có cái miệng thưởng thức món ăn quê hương. Nhưng ông Trà Lũ có những điều mà riêng tôi không bao giờ có được. Chuyện bếp núc của tôi chỉ tới mức nấu mì gói. Tôi nghĩ có lẽ tôi là người Việt Nam giản dị nhất. Bởi vậy nên khi ông Trà Lũ trổ tài bếp núc, tôi phục sát đất. Cuốn “Đất Thiên Thai” gồm có ba chục bài, mỗi bài hầu như đều nói về cách nấu nướng một hoặc nhiều món ăn Việt Nam. Nếu kể hết ra đây thì tốn rất nhiều nước miếng nên tôi xin mạn phép thiên vị chỉ nhắc lại những món của ông Trà Lũ mà tôi thích.

Trước hết là món cá bống trứng kho tiêu, Chúng ta thử bước theo tài ẩm thực của ông Trà Lũ. “Đây là những con cá nhỏ bằng ngón tay út, chúng bám vào đám rễ lục bình trôi trên sông, chúng sống bằng bọt bèo lục bình nên trong ruột không có chất dơ. Dân Đồng Tháp chỉ cần quơ lưới dưới bè lục bình là bắt được chúng dễ dàng. Vì trong bụng không có chất dơ nên không cần mổ bụng cá, ta chỉ cần rửa cá sơ sơ rồi xóc muối, cho vào tã đất, thêm nước mầu, thêm chút dầu, lửa liu riu. Khi cá chín lúc đó mới cho tiêu…Hạt tiêu nấu ở nhiệt độ cao sẽ mất hết mùi thơm. Đây là bí quyết làm món cá thơm nhức mũi”.

Món hẩu sực thứ hai của tôi là món thịt heo nấu giả cầy. Lại theo ngòi bút của ông “nội trợ” Trà Lũ. “Chân giò heo đem về, đem nướng trên lửa hồng cho vàng, rồi ngâm nước, rồi cạo sạch, rồi chà với chanh cho hết mùi khét, rồi ướp với riềng, mắm tôm, đường, me chua, rồi xào cho thơm, rồi thêm nước luộc xương heo đã làm từ trước. Khi nồi thịt đã sột sệt thì cho rượu vang vào, chờ cho sôi là bắc ra ngay. Món này xơi nóng với bún. Nếu cụ ăn được ớt, xin cụ thỉnh thoảng cắn một chút ớt cay, và nhấp một chút whisky hay vodka. Ngon vô cùng!”

Món thứ ba cũng là một món ăn miền Bắc như món giả cầy. Đó là món bún chả Hà Nội. “Tôi cứ nghĩ miếng thịt heo nào cũng có thể làm bún chả miễn là mình nấu khéo. Thế mà không phải, các cụ ạ. Theo đầu bếp B.95 thì miếng thịt phải là thịt ba chỉ ở vai, chỗ này da mỏng, mỡ mỏng, mới ngon. Món bún chả Hà Nội gồm chả nướng và chả viên. Cái việc quan trọng nhất là ướp thịt. Xưa nay nói tới ướp thì ai cũng chỉ nghĩ tới hành tiêu tỏi nước mắm. Không đơn sơ thế đâu. Gia vị ướp món này cầu kỳ hơn nhiều và bí quyết nằm ở phân lượng các gia vị. Nào hành hương, hành trắng, nào tỏi, nào đường, nào mật ong, nào muối, nào nước mắm, nào dầu olive, nào rượu vang, nào hạt tiêu. Rồi ướp thịt. Năm phần thì bốn phần làm thịt nướng và một phần làm chả viên. Công phu nhất là cách nướng thịt. Cụ B.95 xiên thịt vào que tre, và nướng trên than hồng. Quạt nhẹ tay. Lửa xèo xèo. Thơm điếc mũi. Xâu thịt vừa cháy xém phía ngoài là được. Rồi thịt nướng được trút vào chén nước mắm cùng với chả viên nướng trong lò bỏ ra. Chén nước mắm này giữ phần quan trọng đây. Nó gần giống như nước mắm pha để ăn chả giò, nhưng nhiều tỏi hơn, nhiều ớt hơn, nhiều chanh hơn, lại thêm đồ chua cà rốt, đu đủ và củ cải ngâm dấm đường. Nào, mới các cụ xơi. Cụ gắp bún bỏ vào chén nước mắm, thêm chút rau xà lát, đặc biệt thêm lá kinh giới, một chút đậu phọng rang đập dập, và một chút lá hành phi thái nhỏ. Húng thì cụ cầm tay, ăn đến đâu thì cắn đến đó. Kinh giới và húng thì xin cụ chớ rửa và ngâm nước lâu giờ, chúng sẽ bay hết mùi thơm. Chỉ rửa chúng mấy phút trước khi ăn. Món bún chả này phải ăn nóng nha. Nên ăn cay một chút, vừa ăn vừa hít hà, vừa xuýt xoa mới ngon”.

Chuyện ăn uống có lẽ tới đây nên ngừng lại vì chẳng nên tốn nước miếng một cách phí phạm quá đáng tuy nấu ăn hình như là nghề của ông Trà Lũ. Nhưng sao trong đoạn trích trên lại có cụ B.95 len lỏi vào? Cụ là ai? Nếu đọc Trà Lũ nhiều chắc ai trong chúng ta cũng biết là ông Trà Lũ chỉ là người tường trình lại cho chúng ta những gì xảy ra trong làng của ông. Đó là làng An Lạc. Làng này gồm toàn các công dân ưu tú. Như ông ODP, ông HO, cụ Từ Hòe. Lại có cặp vợ chồng John và Ba Biên Hòa. Anh John người Canada nhưng rất thông thạo tiếng Việt, biết được cả những cái lắt léo trong ngôn ngữ của chúng ta. Còn chị Ba Biên Hòa thì khỏi phải giới thiệu vì cái tên đã nói lên hết rồi. Phía trưởng thượng có Cụ Chánh và cha Paolo. Hai cô tiểu thư xứ Huế là các cô Cao Xuân và Tôn Nữ. Cuối cùng là nhân vật tác giả của cách làm bún chả Hà Nội tên là cụ B.95, người qua Canada từ miền Bắc Việt Nam.

Làng An Lạc này có lẽ là làng…thống nhất vì có đủ nhân vật Nam, Trung, Bắc. Lại có cả người Canada. Thành phần còn gồm đủ các loại di dân Việt tiêu biểu qua đất thiên thai như ODP, HO. Mỗi bài viết của Trà Lũ là một buổi họp làng. Thực đơn của một buổi họp gồm những câu chuyện về lịch sử, văn chương, ngôn ngữ, lại có tin cập nhật về tình hình thế giới và Canada, chuyện tiếu lâm khi mặn khi nhạt, khi bỗ bã khi chay tịnh, và đặc biệt nhất bao giờ cũng có chuyện ăn uống được đề cập tới một cách tỉ mỉ. Nếu gọi đây là một làng chỉ khoái ăn nhậu thì có vẻ hơi quá lời nhưng người đọc có lẽ mặn mà nhất với tiết mục ăn uống này. Ít nhất tôi đã cảm nhận như vậy.

Vì ông Trà Lũ chỉ đóng vai người tường thuật lại những buổi họp làng mà buổi họp nào cũng có những tiết mục y chang như nhau nên ai cũng nghĩ là dễ nhàm chán. Vậy mà không. Mỗi bài vẫn có cái hấp dẫn lôi cuốn riêng. Những thành viên trong làng tung hứng những chuyện lan man một cách thú vị làm người đọc cảm được cái không khí vừa sôi nổi vừa vui tươi của mỗi buổi họp làng trong từng bài viết của ông Trà Lũ. Ông quả là người có tài.

Nhưng cái làng lý tưởng An Lạc có thật không?  Biết tôi có mối thâm tình với ông nhà văn rề rà kể chuyện một cách duyên dáng này nên nhiều người đã tò mò hỏi tôi làng An Lạc có thật không? Tôi thiệt tình chẳng biết trả lời ra sao. Có thật hay ông nhà văn này hư cấu ra? Đã bao lần, trong lúc thân tình, tôi đã suýt buột miệng hỏi dùm bạn đọc nhưng may quá tôi đã giữ được mồm miệng. Tôi không muốn ông bạn chân chất rất sùng đạo của tôi phạm tội nói dối!

Song Thao

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 114

Sáu Bài Thơ Về Hạnh Phúc

Đề tài hạnh phúc được hai bạn Vạn Toàn và Carolyn Đỗ khơi lên làm cho Sáu Không cũng thấy hứng khởi.
Để đóng góp cho đề tài nóng bỏng này, xin gởi đến các bạn sáu bài thơ về Hạnh Phúc đã đăng trên các trang mạng để mình hiểu thêm hạnh phúc là gì? Ở đâu? Làm sao có được?

Có những cái không thể phân tích, suy đoán bằng lý luận, lý trí mà chỉ có thể cảm nhận được qua cái tâm, cái tình hay nói “nổ” một chút là “bất khả tư nghì”, “không thể luận bàn”. He he he!

Đọc qua những bài thơ này Sáu Không chợt nhớ tới bài quê hương của Đổ Trung Quân trong đó có câu
“Quê Hương là gì hở mẹ?” “Quê hương là chùm khế ngọt…”, “Quê hương là con diều nhỏ…”
Tìm cái cụ thể, gần gủi để giảng giải cho một khái niệm trừu tượng, mờ hồ, có lẽ là cách hay nhất, dễ hiểu nhất.

Hạnh phút là cái nắm tay,
Nụ hôn, nheo mắt, hương bay, vai choàng

Thôi nhé! Thay vì bàn luận và suy nghĩ xin mời các bạn hãy đọc 6 bài thơ dưới đây nói về Hạnh Phúc. Hy vọng các bạn cảm nhận được nó là gì.

“Hạnh phúc ở trong những điều giản dị”

Hạnh Phúc
Tác giả: Thanh Huyền

Đừng nói cuộc đời mình tẻ nhạt nhé em
hạnh phúc ở trong những điều giản dị
trong ngày, trong đêm
đừng than phiền cuộc sống nhé em
hạnh phúc ngay cả khi em khóc
bởi trái tim buồn là trái tim vui
hạnh phúc bình thường và giản dị lắm
là tiếng xe về mỗi chiều của bố
cả nhà quây quần trong căn phòng nhỏ
chị xới cơm đầy bắt phải ăn no
hạnh phúc là khi đêm về không có tiếng mẹ ho
là ngọn đèn soi tương lai em sáng
là điểm mười mỗi khi lên bảng
là ánh mắt một người lạ như quen
hạnh phúc là khi mình có một cái tên
vậy đừng nói cuộc đời tẻ nhạt nhé em
tuổi mười tám còn khờ khạo lắm
đừng tô vẽ một chân trời xa toàn màu hồng thắm
hạnh phúc vẹn nguyên giữa cuộc đời thường

“Hạnh phúc gần sao qúa đỗi gần.
Chỉ cần nheo nhẹ mắt tình nhân.”

Hạnh Phúc
Tác giả: Lê Đình Viễn Lan

Hạnh phúc gần sao qúa đỗi gần.
Chỉ cần nheo nhẹ mắt tình nhân.
Nụ hôn gửi vội nhau theo gió.
Hạnh phúc rơi đầy lá dưới chân.

Hạnh phúc đôi bàn tay vẫy nhau.
Đường lên quanh dốc pula màu.
Sân ga Chủ Nhật ngu ngơ đợi.
Hạnh phúc choàng vai sánh bước mau.

Hạnh phúc dài theo lối cỏ hoa.
Theo nhau khe khẽ hát tình ca.
Trăng sao trong mắt cười ươm nắng.
Hạnh phúc hồn nhiên rất thật thà.

Hạnh phúc cài lên tóc nụ hồng.
Thơm mùi hò hẹn thuở chờ mong.
Bàn tay thương nhớ bàn tay ấy.
Dìu dắt nhau chiều mưa phố đông.

Lê Đình Viễn Lan.

“Hạnh Phúc là nụ hôn”

Hạnh Phúc
Tác giả: Hướng Dương

Bố hôn em trên trán
Mẹ hôn em trên má
Anh hôn em trên môi
Ghi dấu tích cuộc đời

Một nụ hôn của Trời
Một nụ hôn của Đất
Một nụ hôn duy nhất
Tỏa tình yêu sáng ngời

Em lớn trong vòng tay
Hương bay theo tháng ngày
Mùa xuân về khe khẻ
Ru giấc nồng em say

Nụ hôn như chiếc lá
Dễ bay theo thời gian
Bàn tay làm sao giữ
Những ngày thơ thiên đường

“Một vòng tay, một vuốt tóc, một bài thơ”

Hạnh Phúc
Tác giả: Nguyên Đỗ

Hạnh phúc là gì? Em bất ngờ đã hỏi
Ngắn ngủi ghê, đố ai dám trả lời mau
Một nụ cười, một ánh mắt mến trao nhau
Cũng hạnh phúc có khi là mấy tháng
Một nắm tay, một nụ hôn dù chớp nhoáng
Một vòng tay, một vuốt tóc, một bài thơ
Cũng ngọt ngào êm ái mấy năm cơ
Cũng có thể kéo dài hạnh phúc mãi
Hạnh phúc là gì, sao Người tìm kiếm mãi
Trong tầm tay, trong trí óc ta thôi
Quá khứ qua nếu đẹp cũng đủ rồi
Kỷ niệm cũ khơi hồn lên nhung nhớ
Tìm tuyệt đối, hạnh phúc nào cho đủ
Tình bạn thơ, tình cảm tuổi đôi mươi
Tình dịu dàng còn đọng đó cả đời
Một phút nhớ cũng thấy quên buồn chán
Hạnh phúc thay nếu gặp một người bạn
Hiểu hồn ta tri kỷ sẻ san chung
Những ưu tư cuộc sống chốn vô cùng
Dù chẳng gặp hằng ngày như mong ước
Hạnh phúc thay nếu mỗi người đều có được
Một người yêu chia sẻ những yêu thương
Trong Tình Yêu, có chút cảnh thiên đường
Hãy giữ mãi tình thủy chung hạnh phúc
Nguyên Đỗ

“Hạnh phúc quanh ta hẳn vô vàn”

Hạnh Phúc
Tác giả: Huỳnh Nhật Hà

Hạnh phúc quanh ta hẳn vô vàn
Xa gần đâu đấy ở nhân gian
Người thân được sống trong an phúc
Hạnh phúc đong đầy khắp ruột gan.

Hạnh phúc tự ta kiếm cả đời
Của mình thì chỉ của mình thôi
Sao còn gieo rắc thêm vương vấn
Hạnh phúc giật mình dễ đánh rơi.

Hạnh phúc không ai phải ôm sầu
Đơn sơ, dung dị mới bền lâu
Cùng nhau vun vén niềm vui ấy
Hạnh phúc không hề chút lo âu.

“Cứ mỉm cười lặng lẽ chỉ thế thôi.”
Hạnh Phúc
Tác giả: Đặng Ngọc Ngận

Hạnh phúc nào nơi tâm chộn rộn
Làm việc gì cũng mãi sợ lo
Hạnh phúc nào chẳng biết đủ cho
Toàn tìm kiếm những thứ không đáng kiếm
Hạnh phúc nào bằng trong tâm mình thánh thiện
Cứ mỉm cười lặng lẽ chỉ thế thôi.

Sáu Không

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 22735

Tháng Tư Làm Gì?

Tháng tư 1975, ai mà không nhớ. Tháng của đau thương. Tháng đổi thay vận nước. Tháng của nổi trôi. Tháng của sự mất mát, chia ly: vợ xa chồng, con xa cha mẹ; bỏ nhà, bỏ quê hương, bỏ tất cả sau lưng để ra đi về một nơi vô định.

Thấm thoát mà đã 40 năm.Thời gian dần trôi qua, những nhân chứng của lịch sử rồi cũng lần lượt ra đi sang thế giới khác. Nếu không ghi chép, kể lại, con cháu chúng ta sau này sẽ không biết chuyện gì thật sư đã đã xãy ra. Tại sao ông bà chúng lại đến nơi đây? Đến để làm gì? Chúng sẽ tìm hiểu và cái biết của chúng có thể sai lầm qua những thông tin được đưa ra bởi một nhóm người cố tình thay đổi lịch sử để phục vụ cho lợi ích riêng của họ. Nói thẳng ra là “bóp méo lịch sử.”

Bóp méo lịch sử là chuyện xảy ra rất nhiều. Nhất là thời xưa chưa có các phương tiện thông tin tiên tiến như internet, google search, iphone, ipad, wifi… Dân nghe nói sao, đọc biết sao, thì đa số tin vậy.

Trong lớp trung niên và lão niên chúng ta, gần như 100 người thì hơn 99 đã tin, vì được giáo dục qua sách giáo khoa chính thức dùng trong nhà trường, rằng vua Lê Long Đĩnh hay Lê Ngọa Triều là một vì vua ăn chơi sa đọa, dâm dục, tàn ác, mất hết nhân tính.
Nhà vua sai quân hầu róc mía trên đầu các nhà sư và khi lỡ tay làm đầu chảy máu, gây đau đớn cho các vị tu hành thì lấy đó làm điều vui thích.

Học giả Trần Trọng Kim đã đúc kết toàn bộ sự nghiệp của ông vua cuối cùng nhà tiền Lê – Lê Long Đĩnh bằng một đoạn sau đây trong Việt Nam sử lược:
“Long Đĩnh là người bạo – ngược, tính hay chém giết, ác bằng Kiệt, Trụ ngày xưa.”

Các nhà nghiên cứu sử học Việt Nam gần đây đã cho rằng đó là điều “láo khoét” . Những chi tiết rải rác đó đây trong sử ký của Ngô Sĩ Liên, trong các văn thư còn lưu giử bên ta, bên Tàu đã giúp các nhà sử học và những nhà nghiên cứu phanh phui ra sự thật.

Các bạn có thể vào google tự tìm kiếm thêm các thông tin chi tiết hơn. Điều mình muốn nói ở đây là mình tin Lê Long Đĩnh không phải là một người như vậy. Một vị vua mới 24 tuổi đầu đã thân chinh cầm quân dẹp loạn suốt bốn năm trời. Vị vua biết cho người qua Tàu thỉnh những bộ sách quý về cho dân nước mình học hỏi. Vị vua biết mời nhà sư Vạn Hạnh thiền sư đến cố vấn và phụ giúp trong việc trị nước an dân thì làm sao lại là người bạc đãi, tàn ác với những nhà sư?

Mời các bạn đọc một đoạn trong Wikipedia

Theo “Ngọc phả các vua triều Lê” ở các di tích cố đô Hoa Lư – Ninh Bình, Lý Công Uẩn hàng năm theo thiền sư Lý Vạn Hạnh vào hầu vua Lê ở thành Hoa Lư, Công Uẩn được vua yêu, cho ở lại kinh thành học tập quân sự. Vua lại gả con gái cả là Lê Thị. sinh ra Lý Phật Mã và đặc phong cho Công Uẩn làm Điện tiền cận vệ ở thành Hoa Lư. Dần dần, Công Uẩn thăng lên chức Điện tiền chỉ huy sứ. Chức ấy chỉ dành cho hoàng tộc hoặc quốc thích mới được trao. Chính nhờ vậy mà về sau, Lý Công Uẩn đã đem ngôi vua về cho họ Lý.

Phải chăng Lý Công Uẩn vì muốn “justify” cho hành động chiếm đoạt ngôi vua từ họ nhà Lê mà phải chụp cho Lê Long Đỉnh một cái mũ thật là xấu: bất tài, bất lực, tàn ác và dâm dục.
Thời đó kẻ chiếm đoạt ngôi vua là kẻ không trọng đạo nghĩa và sẽ bị thần dân khinh chê. Nên viêc “chụp cái mũ đen” lên vua Lê Long Đĩnh để binh vực cho hành động truất ấu chúa, mà mình biết rõ là rất sai trái, để rồi thong dong lên làm vua mà thần dân vẫn phục, là việc cần làm để “danh chính ngôn thuận”. Nếu ấu chúa còn nhỏ thì phò ấu chúa và huấn luyện dạy dỗ cho đến khi ấu chúa trưởng thành. Tại sao lại phải truất đi?

“Bậu gieo tiếng xấu cho rồi bậu ra”

Ngày nay hơn một ngàn năm sau con cháu đang đi tìm lại sự thật việc để biết việc gì đã xảy ra khi nhà Lý chiếm đoạt ngôi nhà Lê.

Qua kinh nghiệm về câu chuyện vua Lê Long Đĩnh, ngày tháng Tư, chúng ta những người tỵ nạn ở nước ngoài, dù là vì ly do kinh tế hay chính trị, cần ghi chép lại, bằng cách nay hay cách khác, những gì thật sự xảy ra cho đất nước Việt Nam nói chung và cho gia đình, bản thân ta nói riêng. Đó là những chứng cớ hùng hồn để minh xác cho lịch sử nếu có ai nhẫn tâm bóp méo nó. Để mười, hai mươi, năm mươi…và hàng trăm năm sau, con cháu chúng ta hiểu tại sao cha ông chúng thời đó lại đùng đùng bỏ nước ra đi sinh sống khắp nơi trên thế giới.

Đây không phải là chuyện nên làm mà là chuyện phải làm.

Vô Danh

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 90

Ông Trùm Thơ Máy?

Tình cờ vào mạng,Sáu Không tôi tìm thấy bài viết về HUỲNH UY DŨNG, người chủ nhân của khu du lịch Đại Nam. Ông được mệnh danh là một trong những người giàu nhất Việt Nam.

Chưa học hết lớp 12, ông nhập ngũ và tham gia Chiến tranh biên giới Tây Nam, phục vụ công tác hậu cần, làm nhiệm vụ tiếp tế cho bộ đội ngoài chiến trường. Sau đó, ông được chuyển về công tác ở phòng Hậu cần Thị xã Thủ Dầu Một, tỉnh Sông Bé. Thời điểm đó, do cuộc sống quá kham khổ, ông bỏ việc, chuyển sang làm lò vôi, sản xuất các loại vôi quét tường, vôi bột công nghiệp. Cái tên “Dũng lò vôi” bắt đầu từ khi đó. Xí nghiệp “lò vôi” làm ăn rất phát đạt.
Sau ông bán “lò vôi” để về làm Giám đốc Công ty sơn mài Thành Lễ.

Những năm 1990 – 1993, ông Dũng đã làm dự án và xin được thực hiện thí điểm xây dựng Khu công nghiệp Bình Dương.

Điều SK muốn nói ở đây không phải là thành tích sự nghiệp của ông. SK chỉ ngạc nhiên tại sao một người có trình độ văn hóa như vậy lại có thể làm vô số thơ (hơn 4000 câu), viết vô số sách. Ông vừa hoàn thành cuốn sách: “Đại Nam Văn Hiến Sử Thi” từ thời dựng nước đến cuối triều Nguyễn, năm 1945. Ngoài ra, ông còn sáng tác tập sách Đại Nam Tâm Kinh, các bản Trường ca các bản dân ca ca ngợi non song, đất nước, hướng về cội nguồn dân tộc”
Dưới đây là một bài viết về ông trên mạng. Tại sao “đùng một cái” ông lại trở thành một nhà văn, nhà thơ với sức sáng tác kinh hồn? Phải chăng ông dùng thơ máy???. Mời các bạn xem qua và tìm hiểu

Đại gia Bình Định: HUỲNH UY DŨNG, vốn trước đây có tên là HUỲNH PHI DŨNG, một người mà “Trong làm ăn kinh tế, luôn là người đi tắt và đón đầu”,… “giản dị như mọi nhân viên đang làm việc tại khu du lịch Đại Nam”,… “Mỗi ngày, ăn chưa tới… 50.000 đồng, một tháng ăn chay 4 ngày”, … “là tác giả của hàng chục tác phẩm thơ với hàng nghìn câu thơ mang đậm chất giáo lý Phật học, chạm đến chất sử thi hùng tráng của dân tộc 4000 năm dựng nước và giữ nước”.

Nhưng cũng có người cho rằng đó là “văn hóa … nhà giàu!”, với nội dung như sau:
Ngộ độc… chữ nghĩa

Đến Khu du lịch Đại Nam (Bình Dương) khách du lịch, sau phút hoan hỉ, sẽ thấy ngỡ ngàng, thấy ngợp trước một “biển thơ”, “biển chữ nghĩa”, đâu đâu cũng thơ, văn, câu đối. Nếu không có thời gian để đọc, để hiểu kỹ thì có thể mua về “nghiên cứu” vì thơ, văn… ở đây đã được in thành sách, chép ra đĩa. Nhưng đọc kỹ, người ta mới tá hỏa vì nhiều câu không chỉ sai cơ bản về gieo vần, thanh điệu, rỗng tuếch về nội dung mà còn hỏng về mặt kiến thức một cách nghiêm trọng.
Vậy mà tác giả của nó lại tỏ ra rất uyên bác, làm thơ nói về tất cả các vấn đề tự cổ chí kim… rồi đem trưng bày, quảng bá khắp nơi.
Bước vào cổng của Đại Nam đã thấy thơ, câu đối khắc đầy trên các cổng chào. Nhiều nhất là ở khu thờ tự. Hễ mảng tường nào còn trống là có thơ, câu đối. Hầu hết đều ghi tên 2 tác giả là Huỳnh Ngu Công và Huỳnh Uy Dũng.

Được biết, Huỳnh Uy Dũng là tên được đổi lại sau của ông chủ khu du lịch này (trước đây là Huỳnh Phi Dũng), còn Huỳnh Ngu Công là ai nhiều người vẫn đang đặt câu hỏi. Có phải là một người họ Huỳnh lấy “bút danh” theo tích “Ngu Công di sơn” ở Trung Quốc?
Nhưng điều quan trọng là chữ nghĩa, thơ văn của ông ta như thế nào mà lại được chạm trổ, sơn son thếp vàng, khắc lên các bức tường của một “công trình văn hóa” cho thiên hạ chiêm ngưỡng?
Đọc những bài thơ này thì mọi người mới hỡi ơi thất vọng vì “chỉ tổ hại não”.

Khu du lịch Đại Nam

Chưa nói về nội dung, chỉ xét về cấu trúc, từ ngữ thì cũng đã mệt với cách làm thơ, làm câu đối của Huỳnh Ngu Công và Huỳnh Uy Dũng. Các tác giả viết hoa lung tung, rồi chữ Hán, chữ Việt lẫn lộn. Đến những chuyên gia về Hán Nôm cũng đau đầu nhức óc vì không biết tác giả viết bài thơ có nội dung gì? Giảng viên Bộ môn Hán nôm, Đại học KHXH&NV TP HCM, Thạc sĩ Nguyễn Văn Hoài nhận xét về một số bài thơ, câu đối ở Đại Nam như sau:
Bài thơ ký tên Huỳnh Ngu Công:

“Đại địa phương liên khai trí tuệ
Nam thiên hồng nhật chiếu quang minh
Văn kinh rạng rỡ phô hằng nguyệt
Hiến điểm huy hoàng tỏ đế minh”

Đang là bài thơ chữ Hán – Việt lại xen vô những từ thuần Việt là “tỏ, rạng rỡ”
Bài thơ “Kính dâng anh linh mười tám đời Vua Hùng” (Huỳnh Uy Dũng) lại là một sự so sánh khập khiễng. 18 đời Vua Hùng lại được so sánh giống như chiếc quạt của Tiên Dung?

“Mười tám đời vua một chữ Hùng
Y như chiếc quạt phất Tiên Dung”

Hoặc những câu như:

“Về thăm văn hiến Hàn Thuyên
Câu thơ lục bát điệu huyền Nam Ai
Về thăm văn hiến Như Lai
Khi về chở cả trúc mai Việt Thường”.
(Huỳnh Ngu Công)

Cả bài thơ đang nói về văn hóa Việt Nam đột nhiên lại xen “Như Lai” vào, không ăn nhập gì với những câu khác…
Những câu đối được in trên cột ở cổng chào cũng rất lung tung. Cụ thể như câu: “Đại hải thiên tâm phô nguyệt điện/ Nam thiên nhất trụ trổ liên đài”. Cả câu đối là từ Hán- Việt lại xen vào từ “trổ” là từ thuần Việt làm hỏng nguyên cả câu đối. Hay một câu khác tương tự là: “Văn tư bút thái kinh long phụng/ Hiến ý chương tình đẹp trúc mai”. Cũng đang là từ Hán – Việt lại xen vào chữ “đẹp” là thuần Việt.
Tiếp tục câu đối: “Tâm đài nhật nguyệt ân quang chiếu/ Linh địa giang sơn hỷ khí lâm”. Vì không có nguyên tác chữ Hán nên không biết từ “lâm” có nghĩa là gì. Nếu “hỷ khí lâm” có nghĩa là “rừng không khí vui vẻ” thì chữ “lâm” là rừng không đối được với chữ “chiếu”, vì “lâm” là danh từ còn “chiếu” là động từ. Còn câu: “Đại Việt tứ phương tôn chính khí/ Nam Bang vạn đại niệm công thần”. Ở câu này phải đối là “thần công” thì đúng hơn vì “công thần” theo câu đối trên là kết cấu từ vựng tiếng Việt không phải là kết cấu từ Hán – Việt.

Nhiều bài thơ có lỗi nghiêm trọng về kiến thức. Hậu sinh mà cứ dựa vào đây để học thì không biết sẽ tai hại đến mức nào. Đơn cử trong bài “Tam” của Huỳnh Uy Dũng có đoạn viết:

“Tam hữu tuế hàn”: Tùng, Cúc, Mai
Ba cây chịu lạnh giữa đêm dài
Kết duyên bầu bạn tam quân tử
Phản nại sương lăng tuyết ngạo hoài”

Tùng, trúc, mai là 3 loài hoa mộc được mệnh danh là “Tuế hàn tam hữu” (Ba bạn hữu trong gió rét). Là một cách biểu thị tình cảm của người Trung Quốc. Vì ở Trung Quốc trong gió bắc lạnh thấu xương, chỉ có 3 loại này vẫn tươi tốt, nó tượng trưng cho đức tính của người quân tử vượt lên trên nghịch cảnh.

Trong thơ của Huỳnh Uy Dũng “Tuế hàn tam hữu” được đổi lại là “Tam hữu tuế hàn” cho nhất quán với cách viết của bài thơ “Tam” mà mở đầu mỗi đoạn thơ đều bắt đầu bằng chữ tam. Nhưng không hiểu vì sao qua thơ của ông Huỳnh Uy Dũng “Tuế hàn tam hữu” lại bị đổi thành 3 loại cây là: Tùng, cúc, mai? Ngoài ra, đây cũng là những câu thơ rất lung tung đang từ Hán chuyển sang Việt rồi từ Việt lại đột ngột chuyển sang chữ Hán.
Có lẽ đồng cảm với Đại thi hào Nguyễn Du nên ông Huỳnh Uy Dũng làm 2 tập thơ lục bát cả ngàn câu có tựa đề “Những bước về Tâm” và “Những bước về Linh”. Nói vậy, bởi trong ngàn câu thơ đó, có rất nhiều câu trong Truyện Kiều được lấy lại như: “Trăm năm trong cõi người ta – Chữ Trung chữ hiếu ấy là đạo nhân” hay “Một khi lẽ đạo tỏ tường – Tâm linh Việt vượt Đoạn trường Tân Thanh”, “Trăm năm trong cõi người ta – Mua vui cũng được một vài trống canh”…

Nhưng đọc 2 tập thơ của ông Huỳnh Uy Dũng thì dám chắc rằng bất cứ ai đã đọc, đều khó chấp nhận được kiểu làm thơ như: “Cây kia ăn quả ai trồng/ Sông kia uống nước hỏi dòng từ đâu”, “Đâm đầu vào lỗ Châu Mai!”, “Thằng Bờm có cái quạt mo/ Chín trâu không đổi mười bò không trao”, “Sơn Tinh đáng mặt đàn anh/ Nước bao cao, núi dướn mình cao hơn”. “Truyện trầu cau một tấm lòng/ Hai anh em nọ yêu chung một nàng/ Người anh cưới được hồng nhan/ Người em buồn bã đi lang thang đời”, “Vó ngựa Mông Cổ tới đâu/ Nơi ấy chỉ còn đầu lâu hoang tàn”…
Ngoài ra, trong 2 tập thơ trên còn trích ca dao và thơ của nhiều tác giả một cách rất tùy tiện chẳng hiểu nhằm mục đích gì và để thể hiện được nội dung gì như: “Nhiễu điều phủ lấy giá gương/ Quê ta lấy chữ quê hương làm đầu”,”Chở bao nhiêu Đạo con đò/ Một kho gió biếc, một kho trăng vàng/ Ơi cô tát nước bên đàng/ Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi?”…
Những câu thơ chẳng có liên kết gì về nội dung, hết sức vô nghĩa. Chưa kể hàng loạt câu rất lủng củng, chẳng biết phải xếp vào thơ, văn hay thứ gì khác, giống như chỉ đếm cho đủ câu 6, câu 8 như:

“Mà văn hóa dựng kỳ công
Với những nét đặc thù không tiệp màu
…Vì trong Văn hóa diệu kỳ
Luôn có những bước chân đi tới hoài”

Kể ra chắc hết giấy cũng chưa nói hết được cái hỗn độn, bát nháo của thơ, văn ở Đại Nam Văn Hiến.
Người đọc chỉ có một cảm giác bị ngộ độc…chữ nghĩa.

Tiền không lấp được lỗ hổng văn hóa

Tiến sĩ Nguyễn Nhã phải thốt lên “ông này chẳng hiểu gì về văn hóa Việt Nam” khi đọc những câu thơ của ông Huỳnh Uy Dũng nói về nước Việt như sau: “Dù không thừa điệu cầm ca/ Dù không dư những tháp ngà văn chương/ Dù chưa lập thuyết, lập ngôn/ Dù nghèo lăng tẩm miếu đường uy nghi…”. Mặc dù, những câu sau là khen nhưng những câu “mào đầu” như vậy không đúng với văn hóa Việt Nam.
Giáo sư Ngô Văn Lệ cũng bức xúc: Không biết sao thơ như thế mà được xuất bản? Thơ hay hay không là tùy vào khả năng của mỗi người cũng không ai trách, nhưng đưa vào trong thơ những điều không chính xác là rất nguy hiểm, vì thơ thường nằm lòng, tốc độ truyền bá rất nhanh, do đó phải rất thận trọng. Khi truyền tải một nội dung liên quan đến văn hóa, lịch sử đã quá rõ ràng thì không được làm sai.

Thạc sĩ Nguyễn Văn Hoài nhận xét: Đọc những bài thơ, câu đối ở Đại Nam thấy “lung ta lung tung” đủ thứ tư tưởng, ca ngợi đất nước, Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo đều có… Giống như cứ nghĩ gì thì bỏ vào mà không cần biết có quan hệ logic nội tại gì. Đây là những thứ thơ phổ thông thứ cấp không có giá trị về nghệ thuật. Mà thơ không đạt nghệ thuật thì chỉ như những câu vè thông tục. Dạng thơ kiểu này thì làm một lúc được cả đống. Thơ như vậy thì nên để trong nhà xem cho vui chứ đem ra cho thiên hạ xem chỉ tổ người ta cười cho.

Thạc sĩ Nguyễn Ngọc Bảo Trâm, giảng viên Khoa Văn học và Ngôn ngữ Trường ĐH KHXH&NV TP HCM cũng bức xúc: “Tôi thấy Khu du lịch Đại Nam chán lắm. Nó tầm thường và không có gì nổi bật, chỉ được mỗi cái to, nhưng rỗng tuếch. Mớ câu đối, câu thơ được sơn son thếp vàng lộng lẫy in khắc trên các cột và bức tường thì gọi là thơ mà không phải là thơ. Gieo vần, thanh điệu còn sai chứ đừng nói là nội dung. Không có ý nghĩa, không có giá trị. Còn tệ hơn những bài thơ… con cóc”.

Ở đây, hình như có mốt của những người giàu thích khoe chữ. Và có lẽ, ông chủ khu du lịch này cũng đang muốn khẳng định mình “có tài” về văn chương, am hiểu văn hóa Đông Tây kim cổ; để được mọi người nhìn nhận không chỉ là một đại gia mà còn là một người uyên bác. Nhưng có tiền là một chuyện còn văn hóa, học vấn lại là chuyện hoàn toàn khác, mà chưa hẳn cứ có nhiều tiền thì lấp được cái lỗ hổng ấy.
Nhưng dường như cái dụng ý của ông Huỳnh Uy Dũng cũng phần nào đạt được hiệu quả khi gần đây có nhiều bài báo ca ngợi ông không chỉ là một doanh nhân thành đạt mà còn là “tác giả của hàng nghìn câu thơ mang đậm chất giáo lý Phật học, chạm đến chất sử thi oai hùng của dân tộc 4.000 năm dựng nước và giữ nước” làm cho nhiều bạn đọc “phục sát đất”…

Sáu Không
Nguồn: Internet

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 83

Phạm Duy Tốn và Truyện Tiếu Lâm

Hoàng Yên Lưu

Thơ trào phúng của ta là những điểm son trong văn học cũ cũng như nền tân văn học xây dựng bằng chữ quốc ngữ. Nhưng truyện khôi hài của ta gần như vắng bóng trong văn học cổ điển mà chỉ đua nở trong văn học dân gian. Chỉ khi có làn sóng canh tân văn học học và văn tự ra đời, kẻ sĩ chịu ảnh hưởng Âu học mới có hứng biên tập Chuyện khôi hài (Trương Vĩnh Ký) và Tiếu Lâm An Nam (Phạm Duy Tốn.)

Trước khi giới thiệu Tiếu Lâm An Nam, chúng ta hãy tìm hiểu sơ qua những “từ” chỉ loại chuyện giải trí mà Trương Vĩnh Ký gọi là “passe temps.”

Để giải thích từ, chúng ta có thể căn cứ vào bộ Hán Việt Từ Điển nổi tiếng của học giả Đào Duy Anh mà phần đông chúng ta có trong tay. Ông Đào cắt nghĩa:

Trào phúng: Trào là cười, phúng là nói ví để cảm người ta-Nói ví để cười nhạo (satyre)

Đào Duy Anh còn định nghĩa các từ Hán Việt có liên quan tới chữ Trào như Trào cơ (trào là cười nhạo, cơ là nói khích);Trào hước (nói đùa, nói cợt-satyre); Trào lộng ( cười nhạo cợt chơi-se moquer), Trào mạ ( cười nhau và chưởi nhau); Trào sán ( cười nhạo) và Trào tiếu (cười nhạo-railler).

Còn thế nào là khôi hài?

Khôi là đùa cợt, nhạo báng. Khôi hài là lời nói hoạt kê (đùa cợt) có thú vị.

Tiếu Lâm nghĩa ra sao?

Tiếu lâm là rừng cười, chỉ tuyển tập truyện cười. Tiếu lâm: tên bộ sách chép rành những chuyện cười.

Đi sâu hơn về nguồn gốc Tiếu lâm, quý vị có thể tham khảo những bài khảo về Tiểu thuyết Trung hoa của học giả Lỗ Tấn (1881-1936). Theo Lỗ Tấn thì bộ Tiếu Lâm có tên là Tiếu Lâm quảng ký, gồm ba cuốn tác giả là Hàm đan Thuần, người vùng Dĩnh xuyên Hà nam (đời Tam quốc). Thuần là người bác học đa tài được cha con Tào Tháo (đời Ngụy 220-265 TL) mến trọng. Tác phẩm gồm những truyện vui kèm tranh minh họa nhưng vào đời Tống đã thất lạc chỉ còn một cuốn. Nội dung là châm biếm hành vi ngu xuẩn, cười cợt thế tục, mỉa mai nhân tình thế thái và nhạo báng kẻ đạo đức giả…

Tại sao văn học cũ của ta lại có ít tác giả kể truyện tiếu lâm?

Như đã nói trên, truyện cười của ta thường gặp trong văn chương bình dân vì nho gia vốn coi trọng chính thư là kinh-sử-tử -tập để mở mang kiến thức và tài bồi đạo đức, còn ngoại thư như truyện phiếm, truyện vui chỉ để “mua vui cũng được một vài trống canh.”

Thái độ trên dễ hiểu vì nhà nho chủ trương tu thân, giữ mức trung hòa, không thái quá trong lãnh vực tình cảm: “Hỷ nộ ai lạc chi vị phát vị chi trung, phát nhi giai trúng tiết vị chi hòa” (mừng, giận, buồn, vui chưa phát thì giữ mức trung, còn khi biểu lộ ra bên ngoài thì phải giữ cho bình hòa.) Điều này có nghĩa, nho gia luôn luôn tiết chế tình cảm. Lời đùa cợt quá mức, quá sỗ sàng không được tán thưởng và chỉ có thể dùng trong lúc trà dư tửu hậu mà thôi. Vì thế trong dân gian những mẩu chuyện về Trạng Quỳnh, Ba Giai- Tú Xuất được phổ biến rộng, còn trong truyện cổ của ta ngày nay còn giữ được như Tang thương ngẫu lục, Lĩnh nam chích quái, Vũ trung tùy bút, Nam ông mộng lục, Lan trì kiến văn lục… thỉnh thoảng mới bắt gặp nụ cườii phúng thế của các tác giả. Ngược lại, trong thơ ca thì chất trào phúng lại bàng bạc trong nhiều tác phẩm của Hồ Xuân Hương, Trần Tế Xương, Học Lạc và Nguyễn Khuyến. Những thi gia này dùng nụ cười để châm biếm thói đời từ hạng ngụy quân tử, quan lại tham ô tới hạng khoe danh hám lợi… và chia sẻ nỗi cơ hàn, khốn khổ với thành phần thấp cổ bé miệng trong xã hội. Nhờ tài hoa của thi nhân, thơ ca trào phúng của ta dù đôi khi hàm chứa sự chỉ trích rất gay gắt nhưng biểu lộ bằng nụ cười rất sâu sắc, tròn trặn, bằng lời tuy ý tục mà thanh nên trở thành những tác phẩm bất hủ.

Bước sang giai đoạn cuối thế kỷ 19 sang đầu thế kỷ 20, Văn học chữ quốc ngữ như triều dâng cuồn cuộn và nhà văn đầu tiên đã tập hợp truyện cười phổ biến trong dân gian chính là Trương Vĩnh Ký với tác phẩm Chuyện khôi hài. Tác phẩm này ra đời năm 1882 và tới 1884 đã tái bản ba lần đủ thấy độc giả đón nhận thể loại này nồng nhiệt như thế nào. Nhà văn tiếp theo biên tập truyện cười là Phạm Duy Tốn. Phạm Duy Tốn đã soạn bộ Tiếu lâm An Nam (xuất bản vào năm 1924.) Theo Phạm Duy, con trai của Phạm Duy Tốn khi thu thập tác phẩm của phụ thân kể lại thì:

tieu_lam_an_nam_20130725_1109509242

Cuốn Tiếu lâm An Nam mà quý bạn đang đọc đây là những cuốn sao chép từ bộ sách do Hiệu Ích Ký, 58 Phố Hàng Giấy Hà Nội ấn hành nhiều lần (lần thứ ba là vào năm 1924). Về sau, sách được tái bản bởi một nhà xuất bản khác là Hiệu Quảng Thịnh ở Phố Hàng Gai và vì không muốn dùng danh từ “an nam” nữa cho nên sách được đặt tên là Tiếu lâm Quảng Ký (Tiếu lâm là rừng cười – Quảng là rộng rãi – ký là ghi chép). Cái tên Quảng Ký đã khiến cho tôi đoán rằng: có lẽ đây là sự hợp tác của hai nhà Quảng Thịnh và Ích Ký trong việc ấn loát và phát hành 108 truyện vui cười do bố tôi đã ghi chép từ dân gian này.”

Tiện đây cũng nên ghi thêm, nhạc sĩ họ Phạm đã sai lầm khi giải thích chữ “quảng ký” là do tên hai nhà in ghép lại. Sự thực Quảng ký là tên đã dùng cho bộ tiếu lâm cổ nhất xuất hiện ở TQ từ thế kỷ thứ hai tây lịch.

Tại sao Phạm Duy Tốn lại kể truyện Tiếu lâm?

Trong phần mở đầu viết vào năm nhâm tý (1912) Phạm Duy Tốn, bút hiệu Thọ An đã giải thích lý do ông sưu tầm tiếu lâm như sau:

“Nay nhân thong thả, góp nhặt mấy câu chuyện khôi hài, chép ra để anh em cùng xem cho vui. Những chuyện này cũng có nhiều câu lý thú, nhưng mà lời lẽ thường không được thanh nhã lắm; bởi vì rặt là chuyện góp: khi năm ba anh em vui chơi, hoặc thấy lắm sự buồn cười, hoặc thấy nhiều điều trái dở, cho nên đặt ra chuyện để mà bài bác, không giữ gìn lời lẽ. Tuy rằng suồng sã, song vẫn là câu nói thường; ý tứ không cao xa, nhưng mà chính là sự thực. Chuyện là chuyện từng người một đặt ra bốn phương góp lại, cho nên là tinh thần chung cả một dân, chứ không phải tư tưởng riêng của một người nào. Vả chăng thường có nhiều chuyện hay mà không mấy người biết. Vì thế chúng tôi nhặt nhạnh mỗi nơi một ít, in ra, để lúc nào anh em hứng vui, sẵn có mà xem cho giải trí; trước là mua được trận cười, sau nữa ghi để những tinh thần của người nước mình đã phát hiện ra ở những chuyện ấy. Ấy cũng là một ngành văn chương nên giữ lấy. Kìa như các nước Thái Tây, những đấng văn nhân cũng còn dụng công ghi chép những chuyện vui cười, làm ra thành sách; huống chi là nước ta, nhờ có chữ quốc ngữ, chắc hẳn mai sau văn chương mình cũng có thể phát đạt, thì những chuyện này rồi ra cũng là một cái di tích đáng quý, sao lại nỡ bỏ? Buổi đầu mới mẻ, lời lẽ chưa được chải chuốt, lắm câu hãy còn non nớt, xin miễn thứ và dong dự cho kẻ mới tập tành.”90637

Sau đây xin trích một số truyện tiếu lâm do Phạm Duy Tốnkể lại bằng giọng duyên dáng và hy vọng chúng có thể giải buồn cho độc giả trong thời đại nhiễu nhương, bạo Tần lấn áp lân bang, kinh tế thoái trào, nhân tình “bạc quá vôi mà mỏng quá mây” . Cũng mong rằng khi đọc truyện Tiếu lâm đừng ai cho là nhảm nhí mà tìm được điều mà Boileau của Pháp đã viết:

Le comique ennemi des soupirs et des pleurs

N’admet point en ses vers de tragiques douleurs

(Loại khôi hài lẻ kẻ thù của tiếng thở dài và những giọt lệ. Thơ trào phúng không chấp nhận những khổ đau bi thiết.)

Càng hy vọng quý vị thưởng thức ngòi bút của Phạm Duy Tốn sẽ ha hả cất tiếng cười mà bồi bổ kiện khang:

1-Tưởng là gì

Có hai bác tính hay sợ vợ, cùng ở láng giềng với nhau.

Một hôm, bác nọ, vợ đi vắng; ở nhà trời mưa, có váy vợ phơi quên không cất vào, để mưa ướt cả. Khi vợ về, nó chửi cho một trận đê nhục; chán rồi, nó đánh cu cậu tối tăm cả mắt mũi lại.

Bác bên cạnh thấy bác kia vợ đánh chửi tệ như vậy, mới lẩm bẩm rằng:

– Đ… mẹ kiếp! Chẳng phải tay ông!…

Vợ nghe thấy, trợn mắt lên, hỏi dồn rằng:

– Phải tay ông, thì ông làm gì, hử? Ông làm cái gì?
– Phải tay ông, thì ông… cất trước lúc trời mưa, chứ gì !…
2. Thầy đồ nói liều

Một thầy đồ ngồi dạy học ở nhà bà lão già. Bà ấy có người con gái; đêm đến, mẹ con cùng ngủ với nhau ở dưới bếp, để riêng nhà trên cho thầy đồ và con trai nằm. Thầy đồ bụng muốn tòm tem. Một đêm, lò dò xuống bếp. Bà lão thấy động, lên tiếng hỏi:

– Ai?

– Thưa, tôi.

– Tôi là ai?

– Tôi là thầy đồ.

– Chứ đêm hôm ông xuống bếp làm gì?

– Thưa… tôi… xuống… lấy vài cái rế để đựng sách!
Nào có thế mà thôi đâu! Cách mấy tối, thầy đồ ta lại lò dò trèo lên mái nhà bếp; đương dỡ rơm để trụt xuống, bỗng thấy bà lão lại hỏi rằng:

– Ai ở trên kia?

– Thưa, tôi đây ạ.

– Tôi là ai?

– Tôi là thầy đồ.

– Chứ ông làm gì ở trên ấy thế?

– Thưa,… tôi… hỏi thế này thì khí không phải: đường này có lên trời được không?…

3. Túng thế, nói liều

Một anh đã phải vợ có máu hay ghen lại còn đi rước một cô vợ lẽ về nhà; để đến nỗi vợ cả sinh chuyện lôi thôi, đêm đêm mang nhốt vợ lẽ vào trong buồng, bắc chõng nằm ngang cửa, canh giữ, không cho anh chồng bén mảng đến.
Anh ta tức quá, chẳng biết làm thế nào mà vào lọt được.
Một đêm, tưởng chừng vợ cả nó ngủ đã say, mới thừa cơ chui qua chõng lẻn vào, thầm thì với vợ lẽ.
Vợ cả thấy động, giở dậy, đốt đèn đi soi. Anh nọ vội vàng chui ngay xuống gầm giường, ngồi ẩn. Chẳng may nó soi thấy cậu; nó mới hỏi ngồi làm gì chồm chỗm ở đấy.
Cậu ta túng thế quá, nói liều rằng:
– Ngồi ỉa, chứ ngồi làm gì!

– Ỉa thì cứt đâu?

– Cứt ăn mất rồi, chứ đâu!…

4. Làm nũng chồng

Có một chị hay làm nũng chồng. Một hôm, chồng đi chơi về khuya; chị ta giả tảng sốt, làm bộ nằm trong màn không dậy. Chồng không thấy vợ, mới hỏi vú già rằng:

– Chứ cô mày đâu?

– Thưa thầy, cô tôi trở trời, nằm ở trong màn ấy ạ.

Anh chồng vội vàng chạy đến, vạch cửa màn, hỏi vợ:

– Mình làm sao đấy?

Chị vợ lẳng lặng, không nói gì cả.

– Mình đau đâu?

Cũng cứ im.

Anh ta quay đầu ra, hỏi vú già:

– Cô trở trời thế nào? Có ăn uống gì không hử vú?
– Thưa thầy, cô tôi kêu sốt, nhức đầu, chóng mặt. Từ chiều đến giờ, chẳng ăn một hột cơm nào cả. Tôi dỗ dành làm sao, cũng không chịu ăn.

Chồng mới lấy tay rờ trán vợ mà nói rằng:

– Mình mệt đấy ư? Xem đầu có nóng lắm không nào! Tội nghiệp chửa! Thế mà tôi đi vắng, không biết!
Chị nọ hắt tay chồng ra, gắt rằng:

– Bỏ tay ra! mặc tôi!

Rồi quay mặt vào tường, không nói năng gì nữa.
Chồng lại lấy tay rờ bụng vợ mà phàn nàn rằng:
– Khốn nạn! bụng lép xẹp đây mà! mình có muốn ăn gì không, để bảo nó đi mua? Ai lại nhịn đói thế có nhọc không!
Chị ta bấy giờ mới nhè nhè cái mồm ra, nói rằng:

– Không ăn gì cả.

– Mình có ăn cháo không? Tôi bảo vú già nấu quáng vài bát để mình ăn nhé!

– Không ăn.

– Hay là mình ăn mì để tôi bảo nó đi mua?

– Không ăn.

– Thế thì ăn gì?

– Đã bảo không ăn gì rốt! Cứ lôi thôi mãi! Có cho người ta nằm yên không?

Anh chồng tức mình quá:

-Ông lại gì cho một cái bây giờ chứ.
Chị kia ngoảnh ngay cổ ra, mà gion giỏn rằng:
– Ai bảo đừng!

5. Nói một đường, nghe ra một nẻo

Có hai vợ chồng, tối hôm ba mươi tết nấu bánh chưng, cắt nhau coi nồi bánh: chồng thì canh từ chập tối cho đến nửa đêm, mà vợ thì từ nửa đêm cho đến sáng.
Khi chồng đã canh hết lượt mình rồi, vào đánh thức vợ dậy thay canh để mình đi ngủ.

Vợ, bất đắc dĩ, phải trở dậy, ra ngồi cạnh bếp lửa coi nồi bánh. Ngồi một mình, nghĩ gần nghĩ xa, tê mê tẩn mẩn thế nào, lại gọi chồng:

– Còn thức đấy hay là đã ngủ rồi?

Chồng thức khuya, quá giấc, chập chà chập chờn, cho nên cũng chưa ngủ đựơc. Thấy vợ gọi, mới thưa ngay:
– Còn thức, gọi gì?

-Dậy làm một cái sốt sột đi!

Chồng mơ mơ màng màng, tưởng vợ hỏi mình có muốn ăn một cái bánh chưng sốt sột chăng, mới nói rằng:
– Ấy chết! dại dột! Cái sốt sột để mai cúng ông vải chứ!
Vợ thấy chồng nghe không ra, lại nói:
– Không, cái méo mó kia mà!

Chồng vẫn yên trí là nói bánh chưng, lại gạt đi rằng:
– Ấy đừng, phải tội! Cái méo mó để thành kính cúng ông Thổ công đấy!

6. Ăn quen, bén mùi

Có một ông lão già, đã ngoài bảy mươi.
Một hôm, nắng nực, nằm nghỉ trưa; chợt có chị con gái, trạc mười lăm, mười sáu tuổi, ở bên láng giềng qua xin lửa.
Ông ta chẳng buồn trở dậy, bảo chị kia rằng:
– Lửa ở bếp, cứ lại mà thổi lấy.

Chẳng may bếp nguội, thổi mãi không được; chị ấy mới chổng mông, ghé mồm, lấy hơi, phồng má, thổi một cái rõ mạnh. Không ngờ vãi ngay ra một cái “bủm”. Ông lão giật mình, ngồi nhỏm dậy, nhìn cô ả, rồi thở giọng vòi rằng:
– Thôi! Chị làm bạt mất vía ông Thổ công nhà tôi rồi! Tôi bắt đền chị đấy!

Chị con gái kia thẹn, đỏ mặt chín nhừ: thấy ông lão nói bắt đền, thì sợ quá, mới chắp tay van rằng:
– Tôi lạy ông, tôi trót lỡ, ông tha cho tôi.
– Tha thế nào! Vía ông Thổ công nhà tôi có phải là chuyện chơi đâu? Tôi phải đi trình làng mới được. Chị đi xuống ngay ông lý với tôi.

Nói rồi, liền đứng dậy, ra bộ đi thật. Chị con gái thấy thế, sợ cuống, vội vàng chạy lại nắm áo ông lão mà kêu xin rằng:
– Tôi lạy ông vạn lạy, ông đừng làm thế, mà người ta cười tôi chết!… Ông bảo tôi thế nào, tôi cũng xin vâng…
Ông lão không nghe, cứ làm già; chị kia thì năn nỉ, van lạy mãi.
Ông lão mới bảo rằng:

– Thế thì chị phải nằm xuống để tôi thu vía ông Thổ công nhà tôi lại.

Chị con gái túng thế, phải chịu.

Thu một hồi lâu, tha cho cô ả về; còn ông cụ thì nhọc lử cò bợ; nằm thẳng cẳng như người chết rồi.

Cô ả quen mui, trưa hôm sau lại dẫn đến nhà ông lão, te tái gọi ông lão mà nói rằng:

– Ông ơi, ông, tôi lại đánh rắm!

Nhưng mà ông lão mệt quá, thở không ra hơi; nằm từ hôm qua, cũng chưa lại hồn. Cho nên lắc đầu mà nói rằng:
– Mày ỉa ra đấy, ông cũng chịu thôi!

7. Khóc mẹ chồng

Có một chị, mẹ chồng chết, khóc mãi đến nỗi khô cả cổ.
Đương khóc, trông lên mâm ngũ quả ở trên giường thờ, thấy có mấy quả quít, mới giơ tay với trộm lấy một quả. Chẳng may với hụt, quả quít rơi xuống đất. Chị ta lấy chân khều; càng khều, quả quít lại càng lăn xa mãi ra.
Cho nên mới khóc rằng:

« Ới mẹ ơi, là mẹ ơi! Từ giờ một ngày một xa, con biết làm sao cho được? Mẹ ơi là mẹ ơi!… »

8. Ông rậm râu

Có một ông râu rậm che kín cả miệng. Một hôm, đương đi ở ngoài đường, chợt có đứa bé con trông thấy; nó mới gọi mẹ nó mà bảo rằng:

– Mẹ ơi, ra mau mà xem người không có mồm! Rồi nó cứ vỗ tay, chạy theo mà reo lên rằng:

– A! a! a! Ông này không có mồm!

Ông rậm râu tức quá, quay mặt lại, vạch râu chửi, nó rằng:
– Chẳng mồm là l… mẹ mầy đây à!

9. Cả làng sợ vợ

Có một làng, từ ông thủ chỉ cho đến anh cùng đinh, ai ai cũng sợ vợ cả. Một hôm, họp nhau bàn soạn: có một người đứng lên nói rằng:

– Bởi chưng một mình lẻ loi, cho nên nó bắt nạt được. Giá mà ta họp nhau lại, như đũa cả nắm, khó bẻ, thì nó không làm gì nổi. Phải đừng có ai bỏ ai mới được.
Mọi người đều vỗ tay khen phải. Tức thì lập thành hội, chọn ngày sửa lễ tế thần, ăn mừng.

Đến hôm được ngày, không dám ở trong làng, sợ lộ chuyện, mới đem nhau ra tế lễ ở ngoài đồng xa xa. Cắt ba ông sợ vợ nhất, một ông vào mạnh bái, hai ông vào bồi tế. Xong đâu đấy cả rồi, nổi trống, đốt pháo, các quan viên aó mũ vào tế.

Tế được một tuần, đến lúc xướng: “Giai quị!” Ba ông kia cùng quì cả xuống.

Ngay bấy giờ có mấy bà đi chợ về qua thấy tế lễ linh đình, rủ nhau đến xem.

Các ông thấy bóng các bà, vội vàng sấp ngửa, ù té chạy cả. Duy chỉ có ba ông nọ còn đương quì, cho nên không chạy kịp.
Bọn kia chạy chừng một quãng, ngoảnh lại trông, thấy ba ông ấy vẫn cứ quì ở giữa chiếu. Mới lao xao bảo nhau mà khen rằng: “Ừ, thế chứ lại! Chúng mình cắt những tay thật là xứng đáng cả!” Bèn rủ nhau trở lại.

Ai ngờ đến gần, thì thấy ba ông đã chết cứng cả tự bao giờ rồi!

10. Thầy đồ mắc lỡm

Có một thầy đồ ngồi dạy học ở một nhà giàu. Nhà ấy nuôi nhiều chó dữ lắm. Một đêm, thầy đồ muốn đi đồng, nhưng mà tính nhát; phần thì sợ ma, phần thì sợ chó, cho nên không không dám mở cửa ra. Đến sau mót quá, không thể nào nhịn được nữa, mới đào một cái hố ở ngay kẽ vách, rồi ngồi ỉa phứa vào đấy. Sáng mai, thầy đồ ta gọi chủ nhà lại, trỏ cái hố mà bảo rằng:

– Đêm hôm qua, trộm nó đào ngạch nhà ta. Tôi biết. Tôi mới đợi lúc nó thò đầu vào, tôi ỉa lên đầu nó một bãi. Nó sợ chạy mất.

Chủ nhà vốn đã biết tính thầy nhát và hay nói khoác, đã ỉa ra nhà nó, mà lại còn trực thuật nó! Nó mới gọi cả nhà đến đông đủ mà bảo rằng:

– Nhà ta nuôi một đàn chó, rặt là đồ ăn hại cả. Đêm hôm qua có trộm đào ngạch, thế mà chó không con nào biết gì sốt! May có ông đồ, không thì khốn! Thôi đem mà đánh chết cả mấy con chó đi! Từ rày đã có ông đồ giữ nhà hộ.

Theo ThoiBao

 

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 268

Mộng Tuyết Đến Với Nam Phong

Hoàng Yên Lưu

Vào những năm đầu của thập niên 1930 khi Nam Phong sắp cáo chung sau trên 15 năm hoạt động trên văn đàn, tạp chí này giới thiệu thêm một cây viết miền Nam, sau này trở thành một thi sĩ của phong trào Thơ mới.

Nhân vật nữ giới này là Mộng Tuyết. Mộng Tuyết tên thật Thái Thị Úc sinh ngày 9 tháng 1 năm 1914 ở làng Mỹ Đức, Hà Tiên. Các bút hiệu khác của bà là: Hà Tiên cô, Nàng Út, Bách Thảo Sương, Bân Bân nữ sĩ, Thất Tiểu Muội. Năm 12 tuổi, Mộng Tuyết bắt đầu theo học tiếng Việt ở Trí Đức Học Xá của thi sĩ Đông Hồ. Các sáng tác trong thời kỳ này, sau được tập hợp với nhan đề Bông Hoa Đua Nở đăng trên Nam Phong năm 1930. Sau khi Nam phong đóng cửa (1934), Mộng Tuyết quay sang sáng tác thi ca và góp mặt trên nhiều tờ báo ở Hà nội như Hà nội báo, Tiểu thuyết thứ năm… Năm 1939, Mộng Tuyết được một giải thưởng khuyến khích về thơ của Tự lực văn đoàn với thi phẩm Phấn hương rừng và bắt đầu nổi tiếng từ đó. Năm 1943, bà góp mặt trong tuyển tập thơ Hương xuân. Đây là tuyển tập thơ nữ đầu tiên ở Việt Nam với các nữ thi sĩ như Anh thơ, Vân đài và Hằng phương. Sau 1945, Mộng Tuyết cùng chồng là thi sĩ Đông Hồ lên Sài Gòn mở nhà sách, nhà xuất bản Bốn Phương, Yiễm Yiễm thư trang ở Tân định. Năm 1969, thi sĩ Đông Hồ qua đời, Mộng Tuyết rút lui khỏi làng văn mặc. Vãn niên, bà viết hồi ký rồi lui về sống ở quê nhà là thị xã Hà Tiên và qua đời năm 2007 tại bệnh viện Rạch Giá.
Tác phẩm của Mộng Tuyết được biết gồm: Phấn hương rừng (1939, được tặng giải “Khen tặng” của Tự Lực văn đoàn

Đường vào Hà Tiên (tùy bút, 1960)

Nàng Ái Cơ trong chậu úp (tiểu thuyết lịch sử, 1961)

Truyện cổ Đông Tây (1969)

Dưới mái trăng non (thơ, 1969)

Núi mộng gương hồ (hồi ký ba tập, NXB Trẻ, 1998)SoldMongTuyet

Thơ, tùy bút, truyện ngắn của bà thường đăng trên các báo: Tiểu thuyết Thứ Năm, Hà Nội Báo, Con Ong, Đông Tây, Trung Bắc Chủ Nhật, Tri Tân, Gió Mùa, ánh Sáng, Nhân Loại. Sau đây là phần trích từ thiên du ký Chơi Phú quốc của Mộng Tuyết đăng trên Nam phong từ số 198 tới số 200 năm 1934, khi tác giả ở tuổi 20. Qua đó có thể thấy con người đa cảm của tác giả đã bộc lộ khá rõ khi tiếp xúc với thiên nhiên. Phú Quốc 80 năm trước (1934-2014) được vẽ lại bằng rung cảm của một cô gái phòng khuê mới lớn, bằng những nét đan thanh giản dị và bằng ngôn ngữ giàu chất thơ, có thể giúp quý vị so sánh với Phú Quốc nhiều tục lụy và vật- chất-hóa ngày nay và không khỏi chau mày ngâm lại hai câu thơ cũ:

Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt

Nước còn cau mặt với tang thương.
Người xưa đã đến với cảnh sắc chung quanh bằng tâm hồn một thi sĩ hơn là một nhiếp ảnh gia hay một nhà khảo cứu về phong tục. Đây chính là nguồn lãng mạn cần thiết để Mộng Tuyết dễ hòa nhập vào phong trào thơ mới của thế hệ 32-45. Cũng vì thế trong hồi ký về Văn thi sĩ tiền chiến, nhà thơ Nguyễn Vỹ đã nhận xét xác đáng sau đây về Mộng Tuyết: “Nhất là văn xuôi, Mộng Tuyết viết rất ngọt ngào, chải chuốt, ảnh hưởng nhiều bởi những chuyện Tàu…Thơ của Mộng Tuyết cũng khác thơ Đông Hồ, nó gói ghém nhiều thi tứ hơn, ý nhị hơn.”Smong_tuyet_dong_ho

Chơi Phú Quốc Con tàu từ từ rẽ sóng…tiến lên. Đã ba tiếng đồng hồ rồi, chúng tôi lênh đênh ở giữa biển khơi bát ngát. Trông ra quanh mình toàn một màu xanh nhạt, mặt nước liền chân mây. Thỉnh thoảng một vài cù lao loáng thoáng ở chỗ mênh mông trời nước. Về phía tây rặng núi Tà lơn bệ vệ nằm dài trong mây khói. Đảo Phú quốc! Một vệt xanh xanh to lớn nằm chắn ngang phía trước, mây tỏa lờ mờ, như dán dính với da trời…Đảo Phú quốc! Cảnh bấy lâu trong mộng tưởng thì kìa đã hiện ra trước mắt. Con tàu từ từ rẽ sóng…tiến lên. Tiếng sóng vỗ vào be tàu nghe như một khúc nhạc hùng hồn oanh liệt. Chúng tôi cảm thấy lòng sung sướng, mạnh mẽ. Tựa vào be tàu, đăm đăm tôi ngó về phía trước: Nước biển một màu xanh bóng như dầu lụt chân mây. Hôm nay trời râm mát, mấy đám mây đen lơ lửng bóng tối, tưởng tượng như con chim đại bàng to lớn xòe đôi cánh bay lướt qua biển Nam Minh. Con tàu từ từ rẽ sóng…tiến lên. Cảnh mờ mờ dần xô lùi lại. Bấy giờ đã thấy rõ ràng màu cây lá xanh biếc gần với màu nước biển xanh dờn, một vệt cát trắng chạy dài ở giữa. Hàm Ninh đã ở trước mặt. Tàu không áp bờ được vì ở đây bãi cạn xa. Tàu đỗ tận ngoài khơi rồi có ca nô đưa vô bờ.

Quận lý Phú quốc ở Dương đông. Dương đông ở về phía bên tây đảo. Về mùa nam này, sóng to gió lớn, tàu thuyền vô cửa bất tiện nên phải đỗ ở đây rồi đáp ô tô qua Dương đông. Ngồi trên ca nô dòm xuống. Nước trong như lọc thấy tận đáy, những con chang chang sứa biển ngo ngoe đang bò, chúng nó sinh hoạt trong cái thế giới thủy tinh. Gần mé bãi, trên dàn cây của người thuyền chài cắm để phơi lưới, một đàn chim nhạn đậu ríu rít rỉa lông, nghe tiếng chèo bơi bì bõm, giật mình cất cánh một loạt bay vù. Đến bờ đã có ô tô đón sẵn. Chúng tôi đáp xe qua Dương đông. Con đường quan lộ tuy chẳng được khang trang rộng rãi lắm, nhưng được cái sạch sẽ sáng sủa. Xe chạy độ non một tiếng đồng hồ thì đến Dương đông. Tính ra cuộc hành trình vừa mất sáu tiếng đồng hồ chẵn. Sáu giờ sáng khởi hành từ Hà Tiên, 12 giờ trưa đã ở Dương đông rồi! Nhớ lại những chuyện nguy hiểm khó khăn của người đi biển bằng thuyền buồm nói lại mà chúng tôi lấy làm sung sướng quá. Trong sáu tiếng đồng hồ đi một cách bình yên mà được trải qua cái cảnh bồng bềnh trên mặt biển, được hít thở cái không khí thanh tân man mác chốn biển khơi, và được thấy bao cảnh vật thanh kỳ ở chốn trời nước gió mây thần tiên xa lạ, đối với cái đời êm lặng kín đáo của người con gái buồng khuê, thật là một dịp may đặc biệt. Dương đông ở về phía tây đảo Phú quốc, một dải đất màu mỡ cây cỏ xanh tươi, nhà cửa ở chen chúc nhau, một con sông xinh xinh chắn đôi, mơn man chảy trong lòng cát trắng. Cơm nước nghỉ ngơi xong, chiều lại rủ nhau đi tắm biển. Bãi cát trắng phau, chạy dài hàng mấy nghìn thước. Ngoài khơi xa, lác đác mấy chiếc thuyền đánh cá, cánh buồm trắng in vào đám mây hồng. Bên rặng núi mờ xanh, nhởn nhơ đàn nhạn lạc, tạo thành một bức tranh ảnh khổng lồ tuyệt đẹp. Chúng tôi nô giỡn với làn sóng bạc trong khoảng trời nước mông mênh thỏa thích. Bỗng một đám mây đen kéo đến phá cuộc vui chơi. Sắp có mưa. Cả bọn cùng dắt nhau về. Đến nhà thì trời mưa lấm tấm đổ hạt. Trời tối, mưa vừa ngớt hạt chúng tôi lại ra đi. Chúng tôi đi trong các ngõ đường để xem cảnh đêm nơi hòn bãi. Trăng mười một. Đêm mờ sương lạnh, ở đây thật có cái vẻ tĩnh mịch vô cùng. Trên mặt biển, lác đác những thuyền con đi “thẻ” mực, ánh đèn soi xuống đáy nước, xa trông lấp lánh như gương…

Trời sáng…sau khi điểm tâm xong chúng tôi khởi hành. Suối Đá ở trên con đường Hàm ninh-Dương đông. Con đường này hôm qua đã có đi rồi nhưng ngồi xe nên không xem ngắm được phong cảnh hai bên. Con đường này hôm qua thì cây cỏ như vô tình, nhưng cảnh vật hôm nay như hữu ý đón chào. Đi bộ hơn cây số thì đến Giếng Tiên. Giếng Tiên huyền diệu lạ lùng như cái tên của nó, là một vũng nước nhỏ cạn ở kề liền bờ sông nước mặn, mà nước vẫn ngon ngọt và đầy tràn luôn…tính cách thần tiên huyền diệu như thế, nên gọi là Giếng Tiên vậy. Từ Giếng Tiên đến Suối Đá còn hơn ba cây số nữa, hai bên toàn là rừng sim cả. Chúng tôi từng được nghe nói lại cái thú mùa sim đi hái trái: cái thú vui vẻ nên thơ lắm, trên cành nặng chĩu trái chín, điểm có mấy chùm hoa nở muộn trắng trắng hồng hồng. Đây một cô bé xinh xinh mang giỏ tay hái trái, nét mặt ngây thơ hớn hở. Kia một người thiếu phụ luẩn quẩn dưới gốc cây, nét mặt vô tư lự ở giữa chốn bông trái đầy rẫy nhẹ nhàng uốn éo, rồi cất tiếng hát ca véo von êm ả. Giờ phút ấy tưởng như đã lạc vào chốn rừng tiên cảnh lạ. Nghe nói mà thích quá, những ao ước được một dịp đi hái sim. Nhưng nay đến đây, mùa này, chỉ có cành không trơ trọi thổi qua một ngọn gió vô tình. Chúng tôi bồi hồi đứng tiếc. Gần đến Suối Đá, xa xa đã nghe nước chảy rào rào. Một cái cầu ván bác ngang suối để nối cho con đường quan lộ chạy ngang. Suối rộng độ bốn năm thước, còn nguồn suối không biết từ đâu chảy lại…Đứng trước đây nhớ công “công mẹ như nước trong nguồn chảy ra”, thực là có ý nghĩa và có vị quá. Lòng suối toàn là đá từng khối nằm liền nhau chỗ cao chỗ thấp, nước từ trên cao đổ xuống róc rách, bọt nước trắng phau… Chiều đi chơi chùa Quảng Tế. Chùa này là một nơi ưu thắng ở Dương đông. Chùa cất trên một ngọn đồi cao ở bên mặt biển… Đứng trước chùa trông xuống là xóm rẫy. Thỉnh thoảng một túp nhà lá ẩn trong đám cây xanh. Rẫy ở đây phần nhiều trồng cau và dừa; thân cây cao vút trên ngọn tỏa ra một chùm lá dài tha thướt xây tròn buông rủ xuống. Đứng trên cao xa trông xuống nó có một vẻ đẹp là lạ. Đàng xa tít một rặng núi màu xanh nhạt… Phía sau chùa là mặt biển. Chiều, mặt trời sắp lặn. Ánh nắng phản chiếu đỏ rực một góc trời , mấy đám mây sáng rực rỡ lửng lơ trên lưng chừng trời trông như những hòn núi cẩm thạch. Chúng tôi từ trên đồi vừa ngắm cảnh vừa đi xuống bãi cát. Từ trên đồi đi xuống bãi phải đi qua một đám cỏ, thỉnh thoảng có mấy cụm hoa nhỏ và mấy bụi tranh. Cụm hoa bụi tranh ấy khi ở xa trông như mặt biển có điểm mấy cù lao chíu chít. Trong những “cù lao nhỏ” ấy là chỗ trú của giống chim cút. Tiếng người bước sột soạt, vài con ở gần cất cánh bay vù ra rồi xao xác tìm bụi khác chui vào. Thích quá chúng tôi chạy đến mấy bụi khác đuổi phá. Chim lại bay vù rồi xáo xác tìm bụi khác chúi vào. Mải đùa giỡn như thế mà khi đến bãi biển mặt trời đã xuống kề mặt nước. Bấy giờ không còn tia chói nữa, thấy rõ ràng một vầng tròn đầy đặn như mảnh trăng rằm mà có cái màu tươi đỏ hơn, nằm kề tấm gương to, lấp lánh ánh sáng nhạt của bóng chiều tà. Thoạt đầu còn là mảnh trăng rằm tròn vành vạnh, thoáng một cái, còn là hình bán nguyệt, rồi dần dần núp mình khuất bóng sau mảnh gương mờ. Trời đất đi dần vào cõi tối… Đêm nay trăng tốt quá, giờ phút thần tiên dễ bỏ hoài, chúng tôi liền giở cuộc thưởng trăng chơi phiếm trên sông. Cơm tối xong chúng tôi xuống chiếc thuyền con. Con sông quanh co, chiếc thuyền từ từ thả theo dòng nước. Bốn bề yên lặng. chỉ nghe tiếng nhịp nhàng của mái chèo khua nước và tiếng nói chuyện của chúng tôi. Thỉnh thoảng một cơn gió biển thổi qua ấm áp, mát mẻ đến tâm hồn, mặt sông lay động. Đằng sau, bóng trăng dưới nước chập chờn từ từ trôi theo con thuyền, “thuyền đi dắt theo cô hằng”lúc bấy giờ tôi thấy rõ cái cảnh tượng ấy. Chúng tôi sung sướng ở giữa khoảng đêm thanh tĩnh trăng soi gió thoảng như vậy. Chúng tôi mơ màng phảng phất như đang phiếm du trên Hương giang…Cũng trăng, cũng gió, cũng nước, cũng trời, cũng gió đưa cành trúc, cũng tiếng gà vẳng xa, cũng tiếng chuông ngân nga vang động. Bấy giờ thuyền đi đã xa chợ, đến chỗ rẽ của con sông, chúng tôi cho thuyền rẽ ngang qua một cánh đồng toàn cây xanh ngắt. Đom đóm từng đàn trong đám cây bay ra ánh sáng rọi xuống mặt nước im lặng không tí sóng, trông như muôn nghìn ngôi sao lấp lánh. Đêm đã khuya chúng tôi quay thuyền ra về. Các nhà ở hai bên bờ sông đều ngủ yên cả, chỉ còn loáng thoáng mấy ngọn đèn của người đi soi cua, soi ghẹ dọc theo mé sông leo lét trong khoảng đêm trường.”
Hoàng Yên Lưu

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 61

“Con đường sáng” của Hoàng Đạo

“Con đường sáng” của Hoàng Đạo

                                                                              

Con đường sáng là truyện dài duy nhất của nhà văn Hoàng Đạo trong Tự lực văn đoàn. Tác phẩm này được đăng từng kỳ trên báo Ngày nay trong năm 1938 và được nhà Đời nay xuất bản vào năm 1940. Câu chuyện kể lại biến chuyển tâm lý tạo chuyển biến cuộc đời của một thanh niên trí thức ở Hà Nộitrước 1945.Hoangdao

Chàng tên Duy có học thức, gia đình giàu có. Ngày nhỏ Duy có những năm tháng trưởng thành nơi thôn quê, nên tâm hồn mang bản chất trong sạch và mộc mạc, nhưng lớn lên ở giữa thị thành, có tiền bạc trong tay, có trí thức trong đầu, Duy cũng như đa số thanh niên cùng thế hệ sống trong hoàn cảnh đất nước dưới ách đô hộ của thực dân, chán nản nên buông trôi vào trụy lạc. Nhưng Duy có điểm khác với phần lớn những người chung quanh là chàng có nhiều lúc “khi tỉnh rượu lúc tàn canh, giật mình mình lại thương mình xót xa” và tuyệt vọng muốn tự tử. Cứ thế Duy mãi vùng vẫy muốn ra khỏi cái lưới vô hình bao vây quanh mình: “Duy nghĩ đến bao nhiêu bạn của chàng quằn quại ở trong vòng trụy lạc không ra thoát, khác nào như những thiêu thân sa vào màng nhện, càng giãy giụa cánh càng xơ xác và vướng chặt thêm”.

Rồi Duy dần dần tìm ra con đường cứu mình. Con đường này trước tiên là tìm môi trường sống mới, không thể quẩn quanh trong lòng đô thị sa hoa đầy cám dỗ, tiếp đến là tìm sinh hoạt mới, một cuộc sống dấn thân với những người lao động trong bùn lầy nước đọng đang cần cù xây dựng cuộc đời mà xưa nay chàng cho là thấp hèn hơn chàng và cuối cùng là tạo một cuộc đời có ích, đóng góp xây dựng cuộc sống mới cho quảng đại quần chúng đang luẩn quẩn trong vòng nghèo túng và tối tăm. Hạnh phúc của bản thân sẽ ở đấy và “con đường sáng” cũng khởi ở đấy.

Quan điểm “tạo hạnh phúc cho ta bằng cách vun đắp hạnh phúc cho người” hay so sánh như Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại khi ông xếp Hoàng Đạo vào khuynh hướng viết tiểu thuyết luận đề bên cạnh Nhất Linh: “Cái lý tưởng mà tác giả dùng làm luận đề là lý tưởng của nhà Phật: ‘Tự giác, giác tha’, làm sáng cho mình, rồi làm sáng cho người”.

Sau nhiều suy nghĩ chín chắn và quay về dĩ vãng, nhớ lại chuỗi ngày mà chàng cho rằng “thơ ngây và trong sạch”, Duy trở về quê xưa vì ở đó chàng hy vọng tìm được môi trường không vẩn bụi phồn hoa và cũng ở đó có Thơ, một cô gái quê, bạn chàng hồi để chỏm, một hình ảnh chất phác, thánh thiện như ngọn hải đăng dẫn lối cuộc sống đang bấp bênh của chàng.

Quả nhiên, Duy cảm thấy tìm ra hạnh phúc trong việc lập ấp, dựng đồn điền nghĩa là tìm ra con đường sáng cho mình. Việc chuyển biến tâm lý diễn ra từ từ, từ ý hướng vượt khỏi vòng vây trụy lạc, chống lại cám dỗ, ý muốn tự tử, vì chán ngấy cảnh phồn hoa, và rồi ánh sáng đổi mới lóe lên trong tâm tư vào một đêm nhìn nông dân lao động dưới ánh trăng:

Duy nhìn cái cảnh tượng náo nhiệt trước mắt, trong lòng vui sướng. Chàng chợt nảy ra một ý muốn náo nức, cái ý muốn cởi bỏ ngay bộ quần áo tây chật chội và xa hoa, ăn mặc như lực điền để nhập vào bọn thợ, đập lúa ném thi và cười nói với họ, để được hưởng hết cả sự vui vẻ, sung sướng của họ lúc làm việc mệt mỏi. Chàng cảm thấy cái vui trong công việc nặng nhọc ngày mùa, cái vui trong sạch nó đợi chàng từ lâu, như cánh hoa lan ép trong sách chàng đã quên đi, nay ngẫu nhiên giở ra, vẫn thấy y nguyên, còn thoang thoảng hương thơm của một quãng đời chàng tưởng không bao giờ trở lại”.

Diễn tiến tâm lý rất tự nhiên vì trước đây Duy từng có cảm giác này vì có thời gian gắn liền với sinh hoạt nông thôn, nhưng cảm giác đó mong manh chợt hiện chợt biến, nhưng lần này nó ăn sâu vào tâm trí:

Lần này, Duy không thấy lo phấp phỏng nỗi vui nhóm lên trong lòng chàng thấy mạnh mẽ và bền chặt, tưởng chừng mỗi giây phút đến lại nuôi cho mạnh mẽ và bền chặt thêm lên. Duy nhớ đến những lần trước, chàng vui vẻ nhận ra rằng những cảm giác mạnh mẽ dồn dập đến trong lòng mấy hôm nay lần lần gột rửa những tro bụi bám bẩn lên tâm hồn chàng trong năm sáu năm trụy lạc, khiến mỗi lúc một trong sạch hơn. Duy suy nghĩ về cuộc đời trụy lạc kia, không thấy tâm trí bứt rứt nữa, chàng cảm thấy chàng đã thành một con người khác, không rụt rè sợ hãi, cũng không nghiêm khắc với những điều lầm lỗi của mình nữa.

Từ đó, con đường giải phóng cho mình và cho người đồng thời xuất hiện trong tâm trí chàng trai:

Chàng tự bảo thầm: ‘Trong lòng người ta vui sướng, thì người ta sẵn lòng khoan dung với cả mọi người nghĩa là cả với ta nữa’.

Duy nhớ mang máng đọc một câu tương tự như thế ở đâu rồi, nhưng bây giờ chàng mới thấy ý tưởng đó rõ rệt và hiển nhiên như một chân lý. Duy thấy mình trở nên dễ dãi, khoan dung với mình, yêu mến tất cả những người chung quanh, cả những người thợ mạnh khỏe kia đã vô tình đem lại cho chàng một lối sống mới, một con đường đi đến hạnh phúc. Chàng còn mơ màng chưa biết rõ lối sống ấy sẽ phải thế nào, nhưng chàng đã tìm thấy một vài ý tưởng chính soi sáng con đường chàng sẽ đi. Duy thấy làm việc trong sự trong sạch của linh hồn và thể phách là cần thiết cho cuộc đời mới của chàng và vui vẻ để ý nghĩ đi sâu mãi vào con đường sáng ấy.

Duy nhận ra rằng trước kia chàng chỉ nghĩ đến chính thân mình, hôm nay tình yêu của chàng đối với Thơ khiến chàng bỗng nhiên đặt hạnh phúc của Thơ lên trên hạnh phúc của mình, bây giờ tình yêu ấy đã lan rộng ra, trùm lên cả những người thợ mà hôm qua chàng còn coi như không có liên hệ gì với chàng, cách biệt như người ở thế giới khác.

Duy nhìn những người thợ tươi cười hớn hở tự nhủ thầm: Làm cho người ta vui là lòng mình cũng vui theo.

Hoàng Đạo không phải là người theo chủ nghĩa không tưởng, để trí tưởng tượng tạo ra một con đường sáng không bao giờ có, với chủ trương viển vông của cây viết lãng mạn, mà bản thân ông là một trong những người trong Tự lực văn đoàn đã vừa hô hào đổi mới vừa hành động để thực hiện sự canh tân xã hội. Ông tham gia Hội Ánh sáng, Nhà Ánh sáng và là chánh thủ quỹ của chi đoàn Ánh sáng Hà Nội.Đoàn Ánh sáng có mục đích gì? Trong diễn văn của Nguyễn Xuân Đào, một đại diện đoàn Ánh sáng, đọc tại rạp Olympic, Hà Nội cũ, ngày 18/12/1938, đã nhấn mạnh chương trình của đoàn: “Các bạn sẽ thấy cái mộng của đời mình biến thành sự thực, các bạn sẽ thấy vui, thấy Hội Ánh sáng đem ánh sáng chiếu rọi vào tận các làng xa, xóm hẻm và cái xã hội thảm đạm của ta đây nhờ đó không lâu sẽ biến thành một xã hội tốt đẹp, vui tươi, một xã hội ánh sáng”.

Sau năm 1945, các nhà phê bình giáo điều như Hà Minh Đức, Phan Cự Đệ, Vũ Đức Phúc… đều chê Tự lực văn đoàn khởi xướng phong trào cải cách là “đường lối cải lương” và “ngây thơ” (chữ Phong Lê chê Khái Hưng và Nhất Linh khi viết về Ngọc Giao). Chẳng hạn trong Con đường sáng, Hoàng Đạo cho biếtDuy từng nản lòng khi nhìn dân quê làng xã: “Xung quanh thành kiến mạnh mẽ và kiên cố quá, sự ngu độn dày đặc quá. Duy có cái cảm tưởng mình chỉ là một con ruồi mắc trong một cái màng nhện, vùng vẫy mãi không sao ra thoát được”, thì cải cách kiểu “tiểu tư sản” có công dụng gì!

Và các tay giáo điều hoài nghi đều đặt câu hỏi, chỉ dùng luận đề tiểu thuyết, thứ văn chương lãng mạn của Tự lực văn đoàn thì làm sao cách tân được xã hội? Làm sao tìm ra “con đường sáng”? Đặt câu hỏi loại này phản ảnh thiên kiến, thành kiến và thiển kiến trong phê bình và cố tình quên mất một sự thực: các nhà văn trong văn đoàn như Nhất Linh, Khái Hưng Hoàng Đạo đã có sẵn câu trả lời bằng hành động dấn thân, can đảm và hy sinh, bất chấp lao tù của thực dân để giải phóng dân tộc ngay vào lúc văn đoàn lên tới đỉnh cao của thịnh vượng và lời hô hào cải cách của họ như một thứ tuyên ngôn cách mạng đã có tiếng vang tới hàng triệu độc giả.

Hoàng Yên Lưu

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 77

Chân Dung Khái Hưng- Nhất Linh

Chân dung Khái Hưng-Nhất Linh

KhaiHungKhái Hưng sinh 1896, Nhất Linh ra đời muộn hơn gần 10 năm (1906) nhưng họ là đôi bạn thân thiết nổi tiếng trong Văn học Việt Nam hiện đại. Cả hai trong thời kỳ xây dựng nền văn học mới của ta, đã sáng lập Tự lực văn đoàn, điều khiển hai tờ Phong hóa và Ngày nay cũng như nhà xuất bản Đời nay tới thành công mỹ mãn. Đặc biệt hơn nữa, họ đã sáng chung nhiều truyện dài và truyện ngắn như Anh phải sống, Gánh hàng hoa và Đời mưa gió, những tiểu thuyết được khuyên son và được nhiều thế hệ trân trọng đốt lò hương cũ.
Trong các tác phẩm viết chung thường ghi rõ dấu ấn của từng tác giả. Trong các tiểu thuyết võ hiệp hiện đại, Kim Dung được coi là cây viết tài ba, kế đến là Lương Vũ Sinh. Hai nhà văn này đã từng có cơ hội hợp tác viết Thiên long bát bộ đăng từng kỳ trên Minh báo (Hồng Kông) vì có lúc Kim Dung bận việc để Lương Vũ Sinh viết thế vài chương. Người đọc có thể thấy ngay bút pháp của họ Lương ở những chương nói về Thiên sơn đồng mỗ, Nam viện đại vương vì cây bút này ưa những chi tiết ly kỳ và trọng việc mô tả võ nghệ, trong khi Kim Dung lại thích chữ “hiệp” và chữ “tình”.

Qua Gánh hàng hoa và Đời mưa gió khó tìm ra đâu là phần đóng góp của Khái Hưng và nơi nào là bút pháp của Nhất Linh. Hai cây bút của ta có quá nhiều điểm tương đồng và phần nổi bật nhất là cá tính hai nhà văn có nhiều điểm chung và sự cảm thông giữa họ vô cùng khắng khít.
Buffon (1707-1788) của Tây phương có nói “văn tức là người”. Còn Bồ Tùng Linh (1640-1715) của Đông phương trong Liêu trai chí dị có truyện Tư văn lang cũng cùng ý đó (nhân vật nhà sư mù trong truyện chỉ cần bảo người ta đốt bài văn và ngửi mùi khói là biết văn của ai, thấp hay cao hay hoặc dở, và cốt cách của người viết ra sao là quân tử hay tiểu nhân).
Ta thử đọc lại những tác phẩm của hai cây bút chủ lực trong Tự lực văn đoàn xem sao. Rõ ràng qua tác phẩm của họ, người đọc tưởng tượng tác giả phải là người phóng khoáng về tư tưởng, có lý tưởng cải tạo xã hội, đa cảm trước việc đời, trước con người xấu số và cảnh sắc quê hương muôn vẻ. Họ phải là kẻ sĩ tâm huyết, nghệ sĩ tài hoa và trí thức dấn thân. Văn thì vậy, còn con người thực thì sao? Tống Chi Vấn đời Đường nổi tiếng học giỏi và thơ hay nhưng con người lại rất tồi bại, dù gần trọn cuộc đời vì danh vọng nên bất chấp thủ đoạn kể cả hại bạn bè và thân thích, và cúc cung tận tụy với Võ Tắc Thiên nhưng cuối cùng cũng bị Võ hậu giết và ô danh ngàn đời.

Muốn biết chân dung bề trong Khái Hưng và Nhất Linh phải để người trong cuộc, nhưng từng chống đối họ, nhận xét mới khách quan. Nhân vật này là nhà thơ Huy Cận. Huy Cận (1919-2005) ở tuổi hai mươi được Nhất Linh thưởng thức tài năng và nâng đỡ trên đường sự nghiệp thơ văn. Sau này Huy Cận rẽ sang lãnh vực chính trị và cũng như Xuân Diệu, Thế Lữ vì “gặp thời thế, thế thời phải thế” có lúc chỉ trích Nhất Linh, Khái Hưng một cách tệ hại. Nhưng về già, khi đã mòn chân mỏi gối vì danh lợi, tác giả Lửa thiêng mới nhớ lại ân tình của những kẻ từng đỡ đầu mình, đã giúp mình tạo được thành tựu về văn chương, thứ sự nghiệp chân chính và vĩnh cửu, nên đã có những nhận xét sau đây khởi từ đáy lòng chứ không bắt nguồn từ ngụy tín:
“Lần đầu tiên tôi gặp Nhất Linh là vào dịp Tết Mậu Dần (1938), lúc bài thơ Chiều xưa của tôi được đăng trên báo Ngày nay số Tết; và Tết đó tôi từ Huế ra chơi Hà Nội cùng anh Xuân Diệu. Anh Xuân Diệu giới thiệu tôi với Nhất Linh. Nhất Linh đọc ngay câu thơ đầu của bài Chiều xưa “Buồn gieo theo gió veo hồ – Đèo cao quán chật, bến đò lau thưa”. Thì ra Nhất Linh đã chú ý bài thơ của tôi đăng số Tết vừa phát hành. Rồi anh nói: “Hồn xưa trong một câu thơ lục bát rất mới! Chắc anh đã làm nhiều thơ? Về Huế anh nhớ gởi đều thơ ra báo chúng tôi”. Xong rồi Nhất Linh nói sang chuyện khác, chuyện chợ Tết, chuyện đi mua hoa, chuyện làng quê còn giữ được không khí Tết ngày xưa như hồi anh ấy còn đi học. Anh có mời tôi trở lại nhà báo chơi trước khi tôi trở về Huế tiếp tục học ban tú tài. Tôi đã trở lại tờNhat_Linh báo Ngày nay ở số 80 đường Quan Thánh Hà Nội, thăm Nhất Linh và Khái Hưng trước khi đáp tàu hỏa về Huế. Câu chuyện thân mật, thân tình không có gì là khách sáo, không có gì là “hàn lâm”. Tôi có nhắc qua những truyện tôi đã được đọc của các anh, tôi có nói qua phong trào Thơ mới, nói sự hâm mộ của thanh niên học sinh ở Huế, ở trường Quốc học đối với báo Ngày nay và sách của nhà xuất bản Đời nay. Nhất Linh và Khái Hưng không nhấn mạnh vào sự hâm mộ và hoan nghênh ấy của công chúng độc giả. Hai người nói nhiều với tôi về truyền thống nghìn năm văn vật của đất Thăng Long, của thành Hà Nội. Qua câu chuyện tôi cảm thấy những tình cảm của quê hương đất nước mà các anh đã diễn tả một cách kín đáo trong các truyện, các bài văn là một tình cảm sâu sắc, nung nấu trong lòng qua nhiều năm tháng. Trong câu chuyện cả Nhất Linh và Khái Hưng đều xen những câu hóm hỉnh, một thứ hu-mua rất Việt Nam, nhưng ở Nhất Linh thì kín đáo và đượm chút trữ tình, còn ở Khái Hưng thì bộc lộ thoải mái và điểm những tiếng cười, y như các cụ ta ngày xưa khi bàn chuyện tâm đắc với nhau.
Nhất Linh vẽ rất khéo, đặc biệt là vẽ những côn trùng, những con vật để minh họa những câu chuyện nửa văn chương, nửa khoa học của anh đăng trên báo Phong hóa. Anh cũng đã minh họa tiểu thuyết Hồn bướm mơ tiên của Khái Hưng bằng những nét vẽ rất gợi cảm; những tháng anh đã học trường mỹ thuật trước kia không phải là vô ích. Học khoa học nhưng về nước thì anh cùng Khái Hưng lo xây dựng sự nghiệp văn chương, hơn là đi dạy học như đa số những bạn du học như anh. Nhất Linh lại có một hồi mê học nhạc, đặc biệt là mê thổi kèn Clarinét; thường tôi đến tòa soạn báo Ngày nay hay gặp anh thổi những bài nhạc theo những điệu hát trong các phim nổi tiếng hồi bấy giờ là bài Horsay, Nàng Bạch Tuyết và bảy chàng lùn… Thỉnh thoảng anh cũng thổi một vài bản nhạc cổ điển Âu Tây ngắn như bài Sêrênát của Sube, bài Ánh trăng của Bitôven… Lúc Nhất Linh chúm môi thổi Clarinét thì vẻ mặt anh trầm lắng, hai mắt say sưa, thật dễ gây cảm tình.
Về Khái Hưng tôi cũng ghi sau đây một vài kỷ niệm. Lần đầu tiên tôi gặp Khái Hưng cũng là những ngày Tết Mậu Dần (đầu năm 1938). Khái Hưng hơn Nhất Linh mười tuổi, người mảnh khảnh, nước da mai mái, mắt hơi mài mại. Dáng dấp của Khái Hưng rất nhẹ nhõm, chân đi không nghe tiếng, người ta bảo đó là tướng mèo, có thể là biểu hiện một sự thư thái, thoải mái trong tâm hồn, mà cũng có thể là biểu hiện một sự rụt rè, thiếu tự tin. Đó là cách nói của các thầy tướng, còn tôi thì tôi thấy Khái Hưng rất hoạt bát, rất cởi mở, gần như có lúc bộp chộp nữa. Khái Hưng cũng có cái cười hồn nhiên, chào đón, môi cười mà hình như mắt cũng cười theo. Khái Hưng ngồi làm việc, nghĩa là ngồi viết suốt ngày ở cái bàn to của phòng họp tòa báo giữa một đống báo ngổn ngang, bên cạnh luôn luôn có một cái kính lúp để thỉnh thoảng anh lại dùng để đọc những chữ quá nhỏ hoặc quá khó đọc trên một trang báo hay trong một quyển tự vị. Khái Hưng viết truyện dài đăng trên báo Ngày nay, thường là viết hằng tuần một, theo nhịp độ in tờ báo. Đó cũng là cách làm anh phải viết nhanh, viết kịp thời, những điều đó cũng ảnh hưởng đến sự trau chuốt câu văn, và ít nhiều cũng ảnh hưởng đến sự bố cục tình huống. Nói vậy thôi, chứ Khái Hưng viết truyện đã có dàn bài trước, tính cách nhân vật đã được nghiên cứu tương đối kỹ khi đặt bút viết, tất nhiên nhiều tình tiết sẽ được sáng tạo trong quá trình viết, trong quá trình văn đưa lên in trang báo. Còn văn của Khái Hưng thường thì trong sáng, trong trẻo nữa, và có những đoạn mang tính chất thơ như trong Hồn bướm mơ tiên, trong một số tập truyện ngắn của tập Dọc đường gió bụi. Văn của Khái Hưng còn một ưu điểm nữa là rất Việt Nam, một thứ văn Việt Nam mới, hiện đại nhưng tính dân tộc trong câu văn rất rõ. Khái Hưng đọc nhiều tiểu thuyết của phương Tây, và theo tôi biết anh đặc biệt thích đọc các tiểu thuyết của Somerset Maugham và của Dickens. Anh cũng đọc Stendhal, Flaubert và Balzac. Điều mà tôi quí nơi anh là anh còn ham đọc những sách chữ Hán, chữ Nôm của ông cha để lại (Khái Hưng hồi nhỏ đã học chữ Hán đến 12 tuổi rồi mới học chữ quốc ngữ và chữ Pháp). Khái Hưng trong lúc làm việc thích uống cà phê và nhờ bà vợ hoặc người nhà ra mua cà phê ở quán Joseph ở bên kia đường Quan Thánh, trước mặt tòa báo. Cũng có mấy lần anh mời tôi đi uống cà phê ở quán này, và tất nhiên là ăn bánh ngọt nữa. Ông chủ quán quen thân với nhà văn, biệt tính nhà văn uống cà phê đậm nên bao giờ cũng cho lượng bột cà phê gấp rưỡi hoặc gấp đôi vào cái phin. Đối với các bài thơ của tôi đăng đều trên báo Ngày nay anh đều xem kỹ và mau thuộc. Rất nhiều lần tôi đến tòa báo gặp anh thì anh đọc một loạt mấy câu thơ trong những bài đã đăng trước đây, tỏ ra thích thú và có khi bình luận lý thú. Anh cứ ngạc nhiên tại sao tôi là một người học mới, không biết chữ Nho, mà hồn nhiều bài thơ của tôi lại có phong cách dân tộc đậm đà như vậy và cũng có những bài phảng phất hồn thơ Đường mặc dù không phải là bắt chước thơ Đường, và cấu trúc bài thơ, và cũng như cấu tứ bài thơ lại hiện đại. Đến lúc tập thơ Lửa thiêng của tôi sắp in anh tha thiết muốn tôi đề tặng bài Buồn đêm mưa, sau đó lại tiếc bài Tràng giang và lại đề nghị tôi cho anh bài thơ đó. Thành thử một bài đề tặng Khái Hưng và một bài đề tặng Trần Khánh Giư là tên khai sanh của anh. Để đáp lại tình cảm, duyên văn tự ấy, anh đã tặng tôi bản thảo viết tay bằng mực màu đen nhánh một truyện vừa anh đã biết lúc mới vào đời văn. Bản thảo này tôi để trong một cái rương đã bị cháy ở Hương Khê lúc đầu kháng chiến chống Pháp, cháy cùng một số bản thảo và mấy bản Lửa thiêng giấy đẹp của tôi. Khái Hưng những ngày chủ nhật và những dịp lễ dài ngày thường rủ bạn bè đi thăm danh lam thắng cảnh, đặc biệt anh thích đi vãn cảnh chùa vùng Bắc Ninh Bắc Giang, là nơi nhiều chùa chiền đẹp xây dựng từ đời Lý đời Trần. Cũng trong một chuyến đi thăm chùa Tiêu Sơn ở Bắc Ninh mà anh đã nảy ra cái ý viết quyển tiểu thuyết Tiêu sơn tráng sĩ. Cảnh chùa Tiêu Sơn gợi cảm, đã thúc giục anh viết nhanh, viết hào hứng quyển truyện gọi là lịch sử, nhưng có tính chất kiếm hiệp này. Anh cũng thường giao du với một số vị sư mà anh quen biết trong cuộc đời nay đây mai đó trước đây của anh, lúc anh còn là một nhà buôn tài tử, trước khi về sống ổn định ở Hà Nội đi dạy học ở trường Thăng Long. Chính anh và Nhất Ling đã mời tôi đi xem chùa Thầy và cảnh núi Sài Sơn ở huyện Quốc Oai, Sơn Tây vào một ngày hè năm 1940. Anh rất thạo về đạo Phật và thuyết minh cặn kẽ cho tôi hiểu về ngôi chùa, về Từ Đạo Hạnh, về các vị La hán thờ trong hậu tự, về kiến trúc cổ kính của ngôi chùa. Lên thăm cảnh chợ trời trên núi Sài Sơn, chúng tôi lại cùng nhau ngâm lại những câu thơ phóng khoáng, đầy gợi cảm của Hồ Xuân Hương:
Buổi sớm gió đưa, trưa nắng đứng
Ban chiều mây họp, tối trăng chơi…
Khái Hưng mang cốt cách một người tài tử, thích ngao du nay đây mai đó, du sơn du thủy như một cụ nhà Nho ngày xưa. Những cảnh cật vùng trung du mà anh thường hay tả trong các truyện của anh (vùng Phú Thọ, vùng Bắc Ninh, Bắc Giang, vùng Sơn Tây, Hòa Bình…) chính là những cảnh anh đã sống, đã thân thuộc, đã yêu mến với tấm lòng “lãng tử” của anh. Chính vì vậy mà thứ tình quê hương nhẹ nhàng nhưng thấm thía mà anh đã gợi lên trong văn của anh có sức hấp dẫn, có sức thuyết phục. Lần đầu tiên trong văn học Việt Nam, cảnh đồng quê, cả ở vùng trung du và vùng đồng bằng được gợi lên một cách đẹp đẽ và dễ cảm tình như vậy, khác hẳn với những cái cảnh “cổ điền” được ghép lại bằng những hình tượng vay mượn trong sách xưa của ta hay của Tàu. Nhưng thôi, lúc khác tôi sẽ bình luận về văn và truyện của Khái Hưng. Trong Tự lực văn đoàn, Nhất Linh là người chỉ đạo, nhưng Khái Hưng là lực lượng có thể nói là nền móng. Sức sáng tác dồi dào của anh, sự hoan nghênh của công chúng lúc bấy giờ đối với những tác phẩm của anh là chỗ dựa chính cho sự tồn tại của tờ báo Ngày nay và của nhà xuất bản Đời nay.” (Huy cận -Hồi ký song đôi)

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 61

VÉ VÀO THIÊN ĐÀNG

KMVN: Nói đến nhà văn Trà Lũ, ở Toronto ai cũng biết. Đó là một cụ già tóc bạc phơ, dáng cao dong dõng, nói chuyện rất có duyên. Ông đã cho ra đời biết bao quyển sách mà đặc biệt những quyển sách đó đều “mang họ Đất” . Từ “Đất Lạnh Tình Nồng”, “Đất Hạnh Phúc”, “Đất Nhà”… đến “Đất Thiên Đường”. Ông có nhiều đứa con tinh thần mang tên Đất, nên chúng tôi gọi đùa ông là Bố Đất.

Nhân dịp xuân về, KMVN xin giới thiệu đến các bạn bài VÉ VÀO THIÊN ĐÀNG, một bài viết tuyệt vời của Bố Đất về mùa xuân Canada.

Tác Giả: Trà Lũ

Lá Thư Canada: VÉ VÀO THIÊN ĐÀNG
Canada đã vào xuân, một mùa xuân đến sớm. Dân chúng biết trước việc này, không phải do Nha Khí Tượng nhưng do Chú Wiarton Willie báo tin. Các cụ còn nhớ Willie không? Thưa đó là chú chuột đất groundhog. Chú chuột này nổi tiếng về thiên văn. Hằng năm, cứ ngày mồng 2 tháng Hai người ta đem chú ra ngoài nắng. Nếu chú thấy bóng của chú trên mặt đất thì đó là dấu chỉ mùa đông còn dài, nhưng nếu chú không thấy bóng của mình soi trên đất thì có nghĩa là mùa xuân đang tới trong khoảng 5 tuần lễ nữa. Năm nay chú không thấy bóng của chú, thiên hạ vỗ tay quá xá. Và quả đúng như vậy, ngay cuối tháng Hai trời bắt đầu tan hết tuyết, và ngay đầu tháng Ba trời bắt đầu nắng ấm. Cụm hoa lưu niên lilly sau nhà tôi đã chui khỏi mặt đất, đã trổ lá xanh và đã nở hoa. Bụi hoa tulip trồng trước nhà cũng đã chồi lên và cũng đã trổ bông. Ôi những búp hoa tulip mới nõn nà và dễ thương làm sao! Nằng vàng đã chan hòa khắp nơi. Không biết có phải tôi gìà và mắt già mà tôi thấy nắng buổi mai ở Canada mầu vàng rực rỡ, đẹp hết sức vậy đó..

Cứ mỗi lần nhìn thấy hoa tulip là tôi nghĩ tới nước Hòa Lan. Các cụ còn nhớ chuyện công chúa Julia của Hòa Lan sinh tại Canada năm 1945 chứ. Tôi yêu câu chuyện này qúa và yêu cái tâm của nước Canada này qúa. Hồi đó cả triều đình Hòa Lan chạy sang Canada lánh nạn Đức Quốc Xã. Hoàng hậu Hòa Lan sinh công chúa Julia ở bệnh viện thủ đô Ottawa. Theo luật quốc tế thì ai sinh ở đâu thì mang quốc tịch nơi đó. Chính quyền Canada biết cái bối rối này của Hòa Lan nên Canada đã tuyên bố bệnh viện Ottawa ở trên đất quốc tế, cho nên công chúa Julia vẫn được mang quốc tịch Hòa Lan. Sau 1945 khi hết chiến tranh, triều đình Hòa Lan hồi hương. Để tỏ lòng biết ơn Canada, từ 1946 đến nay, mổi năm Hoà Lan đều gủi hàng tấn củ tulip sang biếu Canada. Canada đã nhận và trồng thành những công viên tulip muôn mầu. Cứ đến tháng Tư thì thủ đô Ottawa biến thành một rừng hoa tulip. Các cụ ở xa, sau khi ngắm hoa anh đào ở thủ đô Hoa Thịnh Đốn, xin mời sang hội hoa tulip ở Canada nha. Đẹp dễ sợ luôn.

Nhân nói tới thông lệ đẻ đâu mang quốc tịch đó, Canada đang soạn thảo luật ngăn các bà ngoại quốc có bầu từ 7 tháng trở lên không được vào Canada dù có đủ giấy tờ hợp pháp. Lý do là để tránh việc các bà bầu này đẻ con ở Canada, rồi vì cớ con đẻ ở Canada mang quốc tịch Canada, các bà mẹ sẽ lấy cớ này xin ở lại Canada để nuôi con. Theo tài liệu của sở di trú Canada thì phụ nữ Tàu thích đến đẻ con ở Canada lắm. Nghe nói hiện nay ở Tàu đang có một phong trào dụ các bà Tàu sang đẻ con ở Canada, vì đây là đất thiên thai, đất thiên đàng.

Mà có lẽ đúng vậy, ai đến sinh sống ở Canada thì đều thành công hết, có khi thành công tột đỉnh. Chả cần phải tìm chứng cớ đâu xa, ngay trong tháng Ba vừa qua, báo chí Canada đã làm rầm lên hai tin rất tốt đẹp về người dân gốc Việt Nam.

Người thứ nhất là Giáo Sư Bùi Tiến Rũng. Ông Rũng du học ở Pháp và năm 1953 ông đậu bằng kỹ sư về cơ khí. Đậu xong ông về nước phục vụ. Rồi ông được chính phủ Ngô Đình Diệm cấp học bổng du học Hoa Kỳ, năm 1964 ông đậu bằng Tiến Sĩ chuyên về sản xuất kim loại. Về nước, ông làm giám đốc Trường Kỹ sư Công Nghệ và Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật kiêm đại diện VN tại Viễn Á Kinh Uỷ Hội ECAFE. Sau năm 1975, ông tới Canada. Trong 3 thập niên qua ông là giáo sư ưu hạng về ngành khoa học ứng dụng tại trường Đại Học Québec, UQUAC. Ông đã hợp tác với 28 chương trình kỹ nghệ lớn của nhiều nước như Anh, Pháp, Mỹ và Đông Âu. Cuối tháng Hai vừa qua, Tiến sĩ Rũng đã được Toàn Quyền Canada trao bằng khen danh dự về các công trình nghiên cứu xuất sắc và một giải thưởng hiện kim 200.000 đôla.

Báo chí Canada đã đăng những trang lớn tuyên dương sự thông thái ưu việt của một người tỵ nạn VN. Vui chưa và mừng chưa, bà con.

Đó là ngôi sao thứ nhất.

Ngôi sao VN thứ hai cũng vừa xuất hiện và được báo chí Canada dành những trang lớn ca ngợi. Đó là Nhà Văn Kim Thúy với tác phẩm RU. Tiêu đề là RU, Ru là tiếng Việt, ru la hát ru, lullaby. Tác phẩm viết bằng tiếng Pháp. Nhà văn Kim Thuý năm nay mới 43 tuổi. Bà theo cha mẹ chạy trốn VC năm 1979, bà là thuyền nhân VN được Canada nhận vào cõi thiên thai này. Bà đi học và đậu luật sư. Trong lúc nhàn rỗi bà đã viết một tập hồi ký nói về cuộc đời thời tuổi thơ, từ những ngày sống ở miền Nam, đến những ngày vượt biên sống ở trại tỵ nạn, đến ngày được vào Canada, được Canada cho ăn học nên người. Bà bảo bà không phải là nhà văn. Bà viết cuốn hồi ký này rất tình cờ. Không ngờ cuốn này lọt vào mắt xanh một nhà biên tập lớn và có tài. Ông đã giúp bà sắp xếp lại các chương mục, rồi ông giúp in thành sách và phát hành. Không ngờ sách đã thành công vĩ đại. RU đã thành một hiện tượng văn học ở thế giới nói tiếng Pháp, hiện nay RU đã được dịch sang tiếng Anh tiếng Ý và nhiều thứ tiếng khác ở 20 quốc gia, Bà Kim Thuý viết sách bằng tiếng Pháp và sinh sống ở Montréal miền nói tiếng Pháp, thế mà ngày 11 tháng Ba vừa qua, nhật báo Toronto Star, một tờ báo uy tín ở Toronto miền nói tiếng Anh đã dành hẳn một trang lớn viết về bà, in hình bà. Kim Thuý với tác phẩm RU cũng đã được giải thưởng văn chương của Toàn Quyền Canada và nhiều giải văn học của nhiều nước khác. Viết văn tình cờ và thành công bất ngờ, mà thành công lớn mới hay chứ.

Các cụ phương xa đã thấy Canada là đất vàng chưa? Canada đã biến ngòi bút Kim Thuý thành ngòi bút vàng, Canada đã biến tâm trí của Tiến Sĩ Bùi Tiến Rũng thành những kho vàng.

Tôi xin nói thêm chút nữa về nhà văn Kim Thuý. Bà này đúng là thiên tài. Bà viết cuốn RU là viết tài tử. Bà vẫn cho mình không phải là nhà văn. Bà không hành nghề viết văn. Bà là luật sư nhưng cũng không hành nghề luật sư. Các cụ có đoán hiện nay bà Kim Thuý ở đất Canada đang làm nghề gì không cơ. Thưa lạ và buồn cười lắm. Bà đang làm nghề dạy nấu ăn trên đài truyền hình. Bà dạy nấu các món VN. Và chương trình này rất nổi tiếng. Làng An Lạc của chúng tôi đang định ghi danh theo học để cải tiến cái bếp. Từ một em bé nhà nghèo thuyền nhân tỵ nạn biến thành một luật sư, một nhà văn và nay đang trở thành giáo sư dạy nấu ăn. Cái đất Canada này qủa là đất có thần, phải không các cụ.

Trên đây là chuyện thời sự văn học, bây giờ tôi xin trình các cụ chuyện thời sự xã hội. Chuyện đầu tiên là từ đầu tháng Ba, Liên Hội Người Việt Canada theo gương nhạc sĩ Trúc Hồ và Tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng bên Hoa Kỳ, đã phát động phong trào ký thỉnh nguyện thư gủi quốc hội để yêu cầu quốc hội Canada cảnh cáo CSVN về những vi phạm nhân quyền đang diễn ra tại VN. Cảnh cáo bằng cách xét lại việc viện trợ kinh tế cho VC. Đồng bào VN ở đây cũng đang hồ hợi ký tên. Hôm qua tôi nhận được một bài báo từ máy điện toán bàn về việc này. Tôi quên mất tên tác giả. Xin thành thực nhận lỗi, xin lỗi và xám hối. Đại ý tác giả nói rằng cộng đồng VN chúng ta đang làm một việc buồn cười : Một mặt yêu cầu chính quyền Canada cũng như Hoa Kỳ xét lại việc hỗ trợ về kinh tế cho VC, nóí dễ hiểu là trừng phạt VN, nhưng mặt khác thì chính chúng ta đang làm cái việc hỗ trợ kinh tế ấy cho VC. Theo thống kê thì hàng năm hơn hai triệu người Việt hải ngoại đã gửi về nước bao nhiêu tỷ đô la. Những tỷ này đã chạy vào túi bọn chóp bu VC. Chúng nhận đô la thứ thiệt nhưng in ra và phát ra tiền Hồ, tiền lèo. Bài báo kết luận là chúng ta nên xét lại việc này. Miệng ta thì bảo Hoa Kỳ và Canada hãy phạt VC còn tay ta thì cứ dúi đô la vào túi chúng nó. Ai đúng ai sai đây? Các cụ nghĩ sao cơ ?

Xin tạm ngưng chuyện nhức đầu này để bàn sang những chuyện vui. Anh John được Cụ B.95 chiếu tướng ngay. Bà cụ bảo lần họp tháng trước làng đang bàn dở chuyện tình yêu qua ngôn ngữ 3 miền. Cụ xin anh hãy nói một câu theo giọng cả 3 miền coi.

Hình như anh John đã có sẵn câu trả lời thì phải. Đươc cụ hỏi thì anh nói ngay :

– Cháu lấy vợ người Nam, nên ngôn ngữ của cháu là ngôn ngữ Nam Kỳ rặt, giọng Biên Hòa rặt, nhưng từ ngày vào làng, cháu học được tiếng Bắc, và gần đây học được tiếng Huế.

Chẳng hạn câu này là tiếng Bắc Kỳ : Đi đâu mà nhanh thế?

Đây là tiếng Huế : Đi mô mà mau rứa?

Và đây là tiếng Nam Kỳ : Đi đâu mà lẹ dzậy?

Còn đây là tiếng Việt Cộng : Đi đâu mà khẩn trương thế ?

Các cụ đã thấy cái anh John này giỏi chưa! Đáng phục quá chứ.

Cụ B.85 thì cười ngất, miệng lớn tiếng : Phục anh quá!

Rồi ông ODP xin góp ý :

Hai tiếng Việt Cộng anh John vừa nói tới làm tôi nhớ ngay tới mối giận đằng đằng đang đè nặng trong tim. Xin cho tôi chia sẻ với các bạn. Xin tạm ngưng các câu chuyện vui để tôi được nói về cái họa mất nước đang diển ra. Báo chí lâu nay nói tới việc Tàu với VN tranh chấp Biển Đông, lấn biển lấn rừng lấn biên giới. Tất cả chúng nó đều đang đóng kịch. Mọi việc đã xong hết rồi. Theo như tài liệu mà Wikileaks vừa tiết lộ thì triều đình Hà Nội đã dâng nước VN cho Tàu lâu rồi, vấn đề còn lại chỉ là vấn đề thời gian mà thôi, và một chút xiú cần bàn nữa thôi là VN sẽ ở dưới hình thức nào, một tỉnh hay một khu tự trị. Xưa nay các tài liệu của Wikileaks đều đúng. Tôi vừa được một người bạn thân gủi cho mấy trang dịch những lời phát biểu của Giang Trạch Dân tổng bí thư đảng CS Tàu và Lý Bằng thủ tướng Tàu Cộng nói trong một phiên họp tối mật với Nguyễn Văn Linh tổng bí thư đảng CS VN và Đỗ Mười thủ tướng Việt Cộng. Nghe mà sợ hãi hết sức. Vua Tàu nói thế này với bày tôi VC :

… Việc VN trở về với tổ quốc Trung Hoa vĩ đại là việc trước sau sẽ phải đến. Trong lịch sử, VN từng là quận huyện của Trung Quốc, là một nhánh của cây đại thụ Trung Hoa. Trung Quốc và VN là một. Đó là chân lý đời đời. Các đồng chí VN tỏ ra đã có sự lựa chọn đúng. Ngày nay Trung Quốc vĩ đại phải dành lại vị trí đã có của mình. Có VN nhập vào, Trung Quốc đã vĩ đại lại càng vĩ đại thêm. Thế giới hôm nay chỉ còn hai siêu cường, đó là Hoa Kỳ và Trung Quốc. Thưa các đồng chí, chỉ còn lại việc cuối cùng là chọn mô hình quản trị, tỉnh hay khu tự trị. Chỉ xin đừng bàn tới việc lập liên bang vì nếu lập liên bang thì thống nhất thế nào được với bọn Tây tạng, Nội Mông, Mãn Châu, Hồi Bột…

Không biết nhà văn Dương Thu Hương ở Paris đã nghe được cuộn băng này chưa mà thấy bà lo sợ y như tôi khi bà trả lời cuộc phỏng vấn của nhà báo Đinh Quang Anh Thái ở Cali hồi tháng Tám năm 2010. Bà nói thế này :

…Sự kiện thì nhiếu lắm, ai theo dõi tình hình VN cũng có thể biết. Về mặt đại cuộc, tôi thấy trong toàn thể lịch sử nước Việt, có lẽ cái triều đình cộng sản hiện nay là cái triều đình hèn hạ và khốn nạn hơn tất cả những triều đình bán nước trước kia mà tiêu biểu là Lê Chiêu Thống. Lê Chiêu Thống có cầu cứu Tàu nhưng chưa bán một mảnh đất, chưa ký một hợp đồng chui, không hèn đến múc độ dám phạm luật của tổ tiên là nhượng đất cho giặc…

Chưa bao giờ làng tôi im lặng và chú tâm nghe ông ODP nói như bữa nay. Qủa là son hà nguy biến. Việc dâng đất đã xong từ lâu, nay VC đang thi hành từng bước. Việc lá cờ 6 sao mới xuất hiện gần đây là việc có thật và cố ý chứ không phải vô tình do sơ sót. Ông ODP còn nói thêm chi tiết : VC đã công khai trương cờ 6 sao không phải một lần mà đã 3 lần. Lần đầu xuất hiện là ngày Đại Hội Ẩm Thực ở Vũng Tàu năm 2010, lần thứ hai là dịp Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng sang thăm Trung Quốc dịp tháng 10 năm qua, và lần thứ ba là dịp tiếp đón Phó chủ tịch Tập Cận Bình ở Hà Nội ngày 21.12 2011 vừa xong. Rõ ràng VN công khai xưng mình là một ngôi sao nhỏ trên lá cờ Đại Hán xưa nay vốn chỉ có 5 sao.

Đây là những bước thăm dò của CSVN. Cờ 6 sao xuất hiện đã 3 lần mà phản ứng của đồng bào cả trong nước cả ngoài nước không mạnh bao nhiêu nên CSVN đang định làm tới. Đó là việc CSVN đang cho viết lại sách giáo khoa về Sử Việt. Bao nhiêu đoạn xưa nay có viết rõ ràng trong sách để dạy học sinh về việc quân ta đánh đuổi giặc Tàu xâm lăng, như Hội Nghị Diên Hồng, Lam Sơn Khởi Nghĩa, Vua Quang Trung chuẩn bị đánh Tàu để đòi lại Quảng Đông Quảng Tây… tất cả những đoạn này sẽ bị cắt bỏ hết. Việc tiếp theo, đó là việc bắt các học sinh phải học tiếng Tàu từ cấp tiểu học trở lên… May thay, việc bắt học tiếng Tàu này đã gặp phản ứng dữ dội từ quần chúng nên CSVN phải lên tiếng cải chính, họ nói rằng việc dạy tiếng Tàu này là dành cho các học sinh Việt gốc Hoa mà thôi.

Ở trong nước đã nổi lên bao nhiêu sự phản đối nhưng CSVN đã ra tay đàn áp. Trong cuốn băng Wikileaks mà tôi trích dẫn trên đây có lời vua Tàu dạy lãnh tụ CSVN bài học Thiên An Môn. Theo Tầu Cộng thì việc tàn sát dân Tàu ở Thiên An Môn là việc chính đáng để bảo vệ chế độ. Các bạn VN hãy làm y như vậy. Bọn nào nghi ngoe là phải giết ngay. CSVN đang làm như thế với chính đồng bào mình. Những vu Thái Hà, Đoàn Văn Vươn, Bùi Minh Hằng, Cù Huy Hà Vũ là những vụ bọn họ đàn áp không nổi nên mới lọt tin ra ngoài. Hai bài hát của Việt Khang là hai ngọn lửa nhỏ mong rằng sẽ làm cháy lên những bó đuốc lớn:

… Giờ đây Việt nam còn hay mất mà giặc Tàu ngang tàng trên quê hương ta? Hoàng Trường Sa đã bao người dân vô tội chết ngậm ngùi vì tay súng giặc Tàu. Việt Nam tôi đâu?

… Xin hỏi anh là ai, sao bắt tôi, tôi làm điều gì sai? Sao đánh tôi chẳng một chút nương tay. Dân tộc anh ở đâu, sao đang tâm làm tay sai cho Tàu. Tôi không thể ngồi yên khi thế giới này không còn Việt nam. Anh là ai?

Nói đến đây xong thì ông ODP mở máy cho chúng tôi nghe toàn bài hai bản nhạc này. Ôi những ca sĩ hát lời Việt Khang, ôi những bài lời hát bằng Pháp văn bằng Anh Văn nghe động lòng làm sao.

Thấy dân làng đã nghe những chuyện nhức đầu trên đây đủ rồi, ông ODP liền xin chấm dứt. Ông xin cả làng tạm quên chuyện Tầu Cộng và Việt Cộng. để vào bàn ăn cơm tối. Bữa nay làng tôi ăn toàn món nhà quê rất đỗi Bắc Kỳ : Cơm gạo mới Nàng Hương ăn với tôm kho, cá kho, dưa chua, cà ghém chấm mắm tôm, và canh rau đay nấu cua. Ôi ngon làm sao!

Ngay lúc đầu họp làng có người đã đề nghị bữa nay làng nên đi ăn tiệm, nhưng ý này đã bị đa số dân làng bác bỏ ngay. Người lắc đầu mạnh mẽ nhất là anh H.O. Anh bảo:

– Lần trước tôi theo làng đi ăn buffet, cái lối ‘phủ phê’ ấy mà, bữa đó tôi trông thấy mấy cảnh chướng mắt qúa, trong lòng khó chịu vô cùng mà chẳng biết làm sao. Tôi đã nén nó trong lòng, hôm nay xin được đem ra giãi bày với làng. Này nha, ăn ở nhà hàng buffet thì bạn muốn ăn gì cứ việc lấy. bạn muốn ăn bao nhiêu cứ việc gắp . Tôi thấy mấy gia đình VN dắt con nít theo. Cả cha cả mẹ cả con nít ai cũng lấy những đĩa thức ăn đầy ú. Tôi theo dõi quan sát thì mấy người này về bàn ngồi ăn mà đâu có ăn hết. Họ chỉ ăn độ một phần rồi bỏ, đứng lên đi lấy đĩa khác. Con nít cũng vậy. Trông thấy họ đổ đĩa ăn còn đầy mà lòng buồn man mác. Thật là phí phạm của trời. Tại sao họ không lấy thử vài miếng ăn trước, nếu thích thì mới lấy nhiều lần sau. Bữa đó tôi thấy mấy gia đình VN đều vậy. Rôi khi món tôm hùm và món cua mang ra, họ bảo nhau nối đuôi lấy thật nhiều, không còn muốn để phần cho người đứng sau.Tôi mắc cỡ hết sức.

Tôi thấy lời ông H.O. đúng qúa, phải không các cụ. Chắc chúng ta phải bảo nhau cải thiện việc này.

Ông bồ chữ ODP thấy dân làng nghe chuyện ông kể về việc VC dâng nước VN cho Tầu, ai cũng buồn, nét mặt ai cũng đăm chiêu. Ông thấy có bổn phận phải làm cho bữa ăn có không khí vui. Ông lôi anh John vào cuộc. Ông hỏi anh loại thơ VN nào làm cho anh cười nhiều. Anh John đáp ngay : Tôi thích nhất cái kiểu thơ mới xuất hiện gần đây, hình như kiểu Bút Tre, là vui nhất vì nó tinh quái nhất. Nó vui là vì nó gây sự bất ngờ trong việc ngắt chữ. Đáng lẽ lời thơ phải đi liền nhau thì ông Bút Tre cắt nó ra, cắt một cách tầm bậy, như :

Anh đi công tác Ban Mê,

Thuột xong một cái là về với em

Gần đây tôi thấy có mấy câu loại này, xin trình làng :

– Đây là lời cô gái khen anh bạn trai gửi điện thư email cho cô mà lời thư hay quá :

Điện thư anh viết thật bay

bướm em mong đợi từng ngày từng đêm!

– Còn đây là chuyện nói về anh Nguyễn Trùng Dương là vô địch về môn đô vật ở tỉnh Bắc Ninh :

Bắc Ninh có cậu Nguyễn Trùng

Dương vật rất khoẻ cả vùng thất kinh!

Dân làng nghe xong thì ai cũng cười như nắc nẻ.

Anh John chưa chịu hết chuyện. Cái anh John này cũng đáo để lắm, Mọi khi thì Cụ B.95 ưa bắt anh kể chuyện vui, và chỉ có cụ mới bắt được anh làm chuyện này. Hôm nay anh John đổi chiến lược. Anh quay vào nói với cụ B.95 :

– Xưa nay cụ toàn bắt cháu kể chuyện Canada, cháu bao giờ cũng phãi nghĩ sẵn trong đầu để khi cụ hỏi là cháu kể liền. Hôm nay cháu đã làm xong bổn phận. Bây giờ đến lượt cháu, cháu xin Cụ kể cho cháu và cả làng nghe chuyện của cụ, chuyện ở Hà Nội ngày xưa, chuyện trước khi cụ bỏ Hà Nội để sang Canada này đoàn tụ.

Việc này quả là bất ngờ cho cụ B.95. Cụ bèn cười rồi nói :

– Chuyện ngoài Bắc của tôi thì toàn những chuyện buồn, chả có chuyện nào làm cho các bác cười được. Như khi vừa sang Canada năm 1995 tôi được ăn cơm gạo trắng, cơm không độn bo bo, cơm thổi bằng gạo mới chứ không phải gạo mốc, đó là nỗi sung sướng vô cùng của tôi. Đi chợ không phải mang sổ gạo, không phải xếp hàng rồng rắn mà chờ. Ở đây lại được tắm bằng xà bông thơm. Đó là những nỗi vui to lớn của tôi. À, để tôi kể thêm chuyện này : Nhân nhắc tới việc đi chợ ở Hà Nội thời tem phiếu, tôi sợ nhất là cô bán hàng. Người ta gọi cô là ‘ mậu dịch viên’. Cái cô này đúng là vua. Cô ghét ai thì khi đến lượt bán thì cô trả lới tỉnh bơ ‘ hết hàng’. Thế là rồi đời. Cái cô này chỉ nể có ông thợ điện. Ông thợ điện đi chợ thì mua cái gì cũng có. Ai cũng phải chiều ông. Lý do là ở Hà Nội, dây điện chằng chịt, mình đang thồi cơm, nấu bếp, nghe radio, vặn quạt mà mất điện thì coi như cả nhà xuống hỏa ngục. Chỉ có ông thợ điện là có phép thần, ông mới biết cách chữa… Đó ngày xưa ở Hà Nội của tôi khổ thế đó cho nên tôi vẫn bảo với con cháu rẳng tôi được sống ở Canad hạnh phúc như thế này là đang được ở trên thiên đàng. Bà cụ định thôi kể nhưng rồi mắt cụ sáng lên. À, cụ chợt nhớ ra chuyện ông giáo sư nuôi lợn. Hồi cả nước bị cấm vận, ai trong chúng cư cũng nuôi thêm gia súc để thêm miếng ăn. Nói là chúng cư chứ nó có rộng như chúng cư Canada đâu. Một căn đã nhỏ lại chia ra làm mấy hộ. Có ông giáo sư kia kê cao cái giường lên rồi ở dưới nuôi con lợn. Gặp tôi hỏi thăm thì ông ta miệng cười như méo : Không phải tôi nuôi lợn mà con lợn nó nuôi tôi. Đó, các ông các bà nghe có thảm không! Công ơn của Bác với Đảng đấy!

Nghe chuyện mà xót xa qúa, phải không các cụ?

Anh H.O. cũng xin góp vui bằng một bài thơ tả cảnh nghèo ở VN năm xưa. Bài thơ nói về cái cảnh luẩn quẩn vì nghèo :

Nghèo thì phải ăn khoai
Ăn khoai thì mất ngủ
Mất ngủ thì đông con
Đông con nên lại nghèo
Nghèo thì lại ăn khoai…

Chị Ba Biên Hòa lúc này mới góp chuyện : Sao tôi thấy chuyện gì dính tới VN cũng đều buồn hết. Tuần vừa qua tôi được bà bạn kể cho nghe một chuyện đứt ruột. Bà bạn bảo tháng trước có một bà sơ ở Đồng Hới tỉnh Quảng Bình sang Canada xin giúp đỡ cho viện mồ côi và trẻ khuyết tật. Bà bạn nghe thấy bà sơ nói thảm qúa bèn mủi lòng giúp đỡ và đã ghi địa chỉ. Nhân chuyền về VN thì bà bạn đã ra Quảng Bình thăm bà sơ và tiện thể xem viện mồ côi khuyết tật có đúng như lời bà sơ kể không. Bà bạn đã đến đúng nơi và gặp đúng người. Bà bạn bảo lời bà sơ tả chỉ mới đúng 50%. Thực trạng trông thảm thiết hơn nhiều. Có nhiều em bé thiếu chân thiếu tay. Có em bé méo mồm méo mắt. Đa số các em bé đều do cha mẹ vất vào thùng rác rồi các sơ nhặt về nuôi. Các em thèm khát tình thương tình yêu vô cùng. Em bé nào mà được tôi bồng lên ẵm vào ngực thì mặt mũi nó sáng lên, nó tỏ ra hạnh phúc vô cùng. Các sơ là những người tắm rửa thay quần áo và cho chúng ăn, chúng mặc. Đặc biệt trong góc nhà bà thấy một cô bé gầy còm nằm dưới đất. Bà sơ kể : Đây là một chuyện thương tâm hết sức mà chúng tôi không biết làm gì hơn. Cô này trông nhỏ con như vậy nhưng đã hơn 30 tuổi. Năm xưa mấy người vào rừng kiếm củi thấy một cái cũi sắt có con bé nằm trong. Nó trần như nhộng. Nó tru lên như con vật. Thì ra có bọn bất lương làm cái cũi sắt nhốt con bé này vào trong để làm mồi bắt cọp. Chắc việc nằm trong bẫy sắt này đã xảy ra lâu vì con bé không biết nói, không biết mặc quần áo, nó rống lên như con heo. Mấy người kiếm củi đã đến phá cũi và đem nó về chợ. Họ đặt con bé ở chợ 3 ngày để cầu may hy vọng tìm được bố mẹ hay tung tích của nó. Sau ba ngày, không ai nhận, mấy bà sơ động lòng thương đã đem nó về nuôi. Con bé được mấy sơ chăm sóc nhưng nó quen sống như con vật. Không biết mặc quần áo, không biết cầm đũa bát. Thức ăn phải đổ xuống đất rồi nó bốc tay ăn. Nó không chịu nằm giường, bao nhiêu giường chiếu nó đều đập phá hết. Nó không biết nói. Ban đêm nó tru lên từng cơn. Các sơ đặt tên cho cô bé là Kim Chi.

Cụ nào có về VN, muốn chứng kiến tận mắt và muốn giúp đỡ con người hóa con vật này, xin đến gặp Sơ Trần Thị Lan, Nhà Dòng Mến Thánh Giá Hướng Phương, xã Quảng Phương, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình, điên thoại : 84-523-512-074.

Các cụ ạ, tôi tin rằng tiền giúp người nghèo khổ sẽ mua được vé vào thiên đàng và Niết bàn. Các cụ có tin như tôi không ?

Toronto đầu mùa xuân 2012

TRÀ LŨ (Nguồn: Internet)

 

 

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 236

NỖI LÒNG HUYỀN TRÂN CÔNG CHÚA (Kỳ 2)

T.G: Trang Uyên Đỗ Xuân Quang

NỖI LÒNG HUYỀN TRÂN CÔNG CHÚA

Kinh kỳ nhà cửa phố phường
Bức tranh quen thuộc luyến thương xa dần
Thuyền trôi trôi dạt Sở, Tần
Sóng đưa đưa đẩy xót thân lưu đày
Trông trời phủ áng mây dày
Dõi trăng thầm trách phận này hẩm hiu
Tơ Nguyệt lão khéo se chiều
Buộc thân liễu yếu nhận điều đắng cay
Tuổi thơ đâu đã nợ vay
Thế mà sớm chịu đọa đầy trái ngang
Nghĩ mình nào phải Chiêu Quân(4)
Dở đời cung nữ hiến thân rợ Hồ
Hay là gái giặt lụa thô
Trữ-la bến nọ bước vô bệ rồng(5)
Nhởn nhơ một mảnh má hồng
Cứu nguy Câu-Tiễn đẹp long Phù-Sai
Việt vương Hán đế cả hai(6)
Lâm vòng chiến bại chịu bài thiệt thua
Sự nay khác hẳn tích xưa
Nước nhà thịnh trị thế cờ thượng phong
Cớ sao chịu ép vào tròng
Để cho thiên hạ ví-von luận bàn(7)
 
Tiếc thay lá ngọc cành vàng
Chỉ vì lời nói dã tràng chui hang(8)
Bẽ bàng bao phận hồng nhan
Thảo ngay hiếu nghĩa chu toàn đạo con
Giờ đăy biệt xứ nườc non
Ruột gan quặn thắt héo hon mõi mòn
Xác còn thần trí đâu còn
Ngỗn ngang trăm mối lòng son rạt rào
Lần hồi ngày tháng tiêu hao
Sống trong cung cấm ra vào cô đơn
Biết ai bày tỏ thiệt hơn
Biết ai chia xẻ nổi buồn cách ly
Ước mơ thửa gái xuân thì
Lý, Trần kết nghĩa đẹp vì lứa đôi(9)
Ngày xưa Cao Tổ chọn ngôi
Viết trang tình sử sáng ngời vẻ vang
Sánh cùng Lộng-Ngọc Tiêu-Lang(10)
Nội tông ngoại tổ cũng hàng thần tiên
Buồn thay đến thế hệ mình
Xác thân cam chịu cực hình rủi ro
Nực cười đói cũng thấy no
Sống như chết dở dày vò ưu tư

(Xem tiếp kỳ sau)

Chú Thích

(4) Đời vua Hiến Nguyên Đế nhà Tiền Hán bị bại bịnh phải dâng cung phi Chiêu Quân cho chúa Hung Nô.

(5) Gái đẹp nước Việt tên Tây Thi lúc hàn vi hành nghề giặt lụa ở Trữ La thôn được tuyển vào hàng cung nữ. Vì vua Câu Tiển nước Việt bị vua Phù Sai nước Ngô đánh bại nên phải cống hiến Tây Thi cho Phù Sai.

(6) Vua nước Việt là Câu Tiễn bị vua nước Ngô là Phù Sai đánh bại. Vua Hiến Nguyên Đế nhà Tiền Hán bị rợ Hung Nô đánh bại.

(7) Được tin Công Chúa Huyền Trân bị ép gả cho vua Chiêm. Lúc bấy giờ thần dân cũng như giới sĩ phu trong nước không bằng lòng nên có những câu ca dao mỉa mai cho cuộc nhân duyên bất xứng này:

Tiếc thay cây quế giữ rung
Để cho thằng Mán thằng Mường nó leo
– – –
Tiếc thay hột gạo trắng ngần
Đã vo nước đục lại vần lữa rơm

(8) Sử gia Ngô Sĩ Liên trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư cũng đề cập tới cuộc nhân duyên này: “Xưa, vua Cao Tổ nhà Tiền Hán muốn an lòng chúa Hung Nô, mới đem cống một mỹ nữ giả dạng là Công Chúa. Đến đời vua Hiến Nguyên Đế nhà Tiền Hán, vua Hung Nô xin cưới một giai nhân Trung Quốc, nhà vua thuận gả Chiêu Quân để mưu cầu hoà bình, như vậy còn có lý do về việc nước. Đằng này tại sao vua Trần Nhân Tông lại đem gả con gái cho một người Hời khác giống và xa xăm như vậy? Chẳng qua chỉ để giử lời hứa của Thượng Hoàng mà thôi.”

 

 
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 56

Bà Trưng quê ở Châu Phong

 Tác Giả Hoàng Yên Lưu.

Theo truyền thuyết của đền thờ Hát môn tại Mê linh, đền thờ chính thờ hai vị nữ anh thư trong lịch sử nòi Việt,   Hai bà Trưng đã dựng đàn tế thiên địa trước khi “phất cờ nương tử thay quyền tướng quân” để “đuổi ngay Tô Định dẹp yên biên thành”. Bước lên đàn cao, trước mặt ba quân và dân chúng, Trưng Trắc đã thề nguyện bốn điều được coi như kim chỉ nam cho cuộc khởi nghĩa. Bốn lời thề thiêng liêng đã được Thiên nam ngữ lục ghi lại như sau:

Một xin rửa sạch nước thù
Hai xin đem lại nghiệp xưa họ Hùng
Ba kẻo oan ức lòng chồng
Bốn xin vẹn vẹn sở công lênh này

Lời nguyền sau đó đã thực hiện, dưới sự chỉ huy của hai bà Trưng, 65 thành trì của ta lại thuộc về ta khi giặc thù bị diệt, tàn quân phải lui về bên kia dãy Ngũ lĩnh. Năm Canh Tý (40 CN), Hai bà Trưng đã mở ra một giai đoạn mới trong lịch sử dân tộc: thời kỳ độc lập:

Đô kỳ đóng cõi Mê linh
Lĩnh man riêng một triều đình nước ta
Ba thu gánh vác sơn hà
Một là báo phục hai là bá vương.
                                                                                  .
 Hai vị nữ vương “Ba thu gánh vác sơn hà” (40-43 CN), khiến cho Bắc phương rung động và Hán Quang Vũ vào năm Quý Mão (43 CN) sai Phục ba tướng quân Mã Viện cùng Phiêu kỵ tướng quân, đặc phong Lâu thuyền tướng quân Đoàn Chí, mang hai đạo thủy lục gồm nhiều chục ngàn binh sĩ tinh nhuệ sang đàn áp nghĩa quân.

Cuộc kháng chiến chống thù của Hai Bà kéo dài không lâu vì binh lực nam phương mới thành lập, lòng người chưa ổn định nên chưa đủ sức chống lại quân phương Bắc đông về quân số và thiện chiến. Quân ta đánh nhiều trận oanh liệt khiến cho phương Bắc có lúc xuống tinh thần, và chính tướng giặc là Mã Viện phải nhìn nhận Giao châuQuỷ môn quan:

Quỷ môn quan! Quỷ môn quan!
Thập nhân khứ nhất nhân hoàn
(Quỷ môn quan, quỷ môn quan
Mười người qua đó, chỉ còn một thôi!)
                                                                                    .
Nhưng cuối cùng áp lực của địch quá mạnh nên Hai Bà Trưng phải rút quân về Cấm Khê. Trong tận thư hùng cuối cùng, Nhị nữ vương bị giặc vây hãm, bị thương cùng mình và theo truyền thuyết họ không để giặc bắt, đã tự trầm ở Hát giang. Đền thờ ở Hát Môn ghi hai bà hy sinh vào ngày tám tháng ba âm lịch. Còn đền thờ ở Đồng nhân, Hà nội lại ghi ngày tuẫn tiết của Trưng nữ vương là ngày 06 tháng hai.

Là bậc nữ lưu phi thường, với cái chết oanh liệt vì giống nòi, Hai Bà Trưng đã được muôn đời ngưỡng mộ và ca ngợi.

Thơ vịnh sử về hai vị nữ anh thư có khá nhiều và tại đền thờ ở Hát Môn cũng ở Đồng nhân còn bút tích, câu đối và thơ ca của nhiều danh sĩ, ca tụng chiến công của Trưng Trắc-Trưng Nhị.

Tuy nhiên, các bài thơ hay câu đối trên thường có nội dung giống nhau, đều là loại vịnh sử, ca tụng chiến công hiển hách của nhị vị nữ vương, đồng thời châm biếm Mã Viện tàn bạo và tham ô chẳng hạn những câu sau đây:

Quắc thước khoe chi mình tóc trắng
Cân đai đọ với khách quần hồng
Gièm chê luống những đầy xe ngọc
Công cán ra chi dựng tượng đồng.

 

Hay bài một khuyết danh khác:
Một bụng em cùng chị
Hai vai nước với nhà
Thành Mê khi đế bá
Sông Cấm lúc phong ba
Ngựa sắt mờ non Vệ
Cờ lau mở động Hoa
Ngàn năm bia đá tạc
Công đức nhớ hai bà

 

Bài thơ ca tụng hai bậc anh thư tuẫn quốc, đã nối truyền thống của Thánh Gióng cỡi ngựa sắt phá quân thù và mở đường cho Đinh Bộ Lĩnh dẹp yên các sứ quân dựng nền độc lập cho phương Nam. Công đức ngất trời ấy không những được tạc vào bia đá mà còn được khắc sâu và bất diệt trong lòng người Việt.

Các nhà thơ mới ít làm thơ vịnh sử nhưng nói như thế không có nghĩa là trước 45 với nguồn cảm hứng mới, bút pháp mới của phong trào thơ mới, vốn có khuynh hướng tách xa nguồn cổ điển, khó tìm ra những bài thơ gợi nguồn cảm hứng từ thiên bi hùng ca của hai vị nữ lưu anh kiệt. Nhiều nhà thơ mới mượn đề tài lịch sử để làm thơ như Phạm huy Thông (Giấc mộng Lê Hoàn, Huyền trân công chúa), Nguyễn Nhược Pháp (Mỵ Châu, Mỵ Ê) nhưng họ chỉ ghi lại cảm xúc của mình trước cuộc đời nhân vật hơn là làm việc phê phán nhân vật lịch sử để trình bày quan điểm riêng tư như trong thơ Vịnh Sử.

Theo chiều hướng này, một bài thơ mới đăng trên tờ Tri Tân vào năm 1942 có tên là Hát giang trường lệ trong đó tác giả trình bày cảm xúc của trăm họ Giao châu khi hai bà tuẫn tiết. Bài thơ không thuộc loại vịnh sử mà là một bài có dạng anh hùng ca. Ở đó vai trò trí tưởng tượng và cảm xúc của tác giả, dù pha trộn với yếu tố lịch sử, vẫn chiếm ưu thế.

Thơ mới tính chất tình cảm nổi bật, còn vịnh sử theo phương châm “văn dĩ tải đạo” nghĩa là dùng văn để tài bồi đạo đức nên ngôn ngữ và tư tưởng phải mực thước. Xin trích một đoạn Hát giang trường lệ để thấy Thơ mới và Thơ cũ dù cùng một đề tài vẫn khác nhau rõ ràng về cả hình thức lẫn nội dung

HÁT GIANG TRƯỜNG LỆ

(Sau trận đại bại của Hai Bà Trưng)

 Thảm thiết đêm ngày sông Hát khóc:
Ôi Hai Bà! Ngơ ngác tàn quân!
Thảm thiết đêm ngày sông Hát khóc:
Ôi Hai Bà! Thổn thức nhân dân!
Mã Viện tung hoành trong đất nước;
Mê Linh khói tỏa khét mùi thiêu;
Hồng Hà một dải, đầu lâu bước;
Lãng Bạc, thây người, tiếng quạ kêu
Trời mây u ám màu tang tóc;
Cây cỏ đầm đìa giọt lệ xuân,
Rừng thú, điên cuồng cơn gió lốc,
Lá lăn đường thảm, héo hon dần.
Đâu hai Bà! Sóng chiều rên rỉ!
Tà huy mò xác đáy trường giang!
Đâu chốn bùn đen vùi ngọc thể,
Long bào máu nhuộm, mảnh gươm vàng?
Toàn cõi Giao Châu lên tiếng khóc,
Đêm trường, giăng hụp… bóng sao mờ.
Già, trẻ ôm nhau lòng uất ức,
Miệng phun huyết nóng, ngậm u hu,
Tưởng chừng: vũ trụ tan thành lệ,
Mắt nhòa, hoen đỏ, nứt con ngươi,
Sấm động, tai ù, tiêu tán chí,
Chết cứng chân tay, ngã rụng rời…
.

Viết về Hai bà Trưng và khác với quan niệm cũ “nợ nước phải coi trọng hơn tình nhà, nghĩa chung phải trọng hơn tình riêng,” chúng ta nên đọc bài Trưng Nữ Vương sau đây của nhà thơ Ngân Giang:

TRƯNG NỮ VƯƠNG

Thù hận đôi lần chau khóe hạnh,
Một trời loáng thoáng bóng sao rơi
Dồn sương vó ngựa xa non thẳm
Gạt gió chim bằng vượt dặm khơi
 
Ngang dọc non sông đường kiếm mã
Huy hoàng cung điện nếp cân đai
Bốn phương gió bão dồn chân ngựa
Tám nẻo mưa ngàn táp đóa mai

 

Máu đỏ cốt xương thù vạn cổ
Ngai vàng đâu tính chuyện tương lai
Hồn người chín suối cười an ủi
Lệ nến năm canh rỏ ngậm ngùi
 
Lạc tướng quên đâu lời tuyết hận
Non Hồng quét sạch bụi trần ai
Cờ tang điểm tướng nghiêm hàng trận
Gót ngọc gieo hoa ngất mấy trời

 

Ải Bắc quân thù kinh vó ngựa
Giáp vàng khăn trổ lạnh đầu voi
Chàng ơi điện ngọc bơ vơ quá
Trăng chếch ngôi trời bóng lẽ loi
                                                                   .

Ngân Giang, tên thực là Đỗ thị Quế,   là một nhà thơ nữ trên thi đàn trước 1945 cùng nổi tiếng với Hằng Phương, Vân Đài Anh thơ… Bà sinh ở Hà nội năm 1916 và làm thơ từ những năm 1930, đã từng in các tập thơ như Giọt lệ xuân (1931), Tiếng vọng Sông Ngân (1944). Nhưng điều đặc biệt nhất ở Ngân Giang là thường làm thơ ca tụng nơi chôn rau, cắt rốn. Muốn tìm thơ về Hà nội có thể đọc Ngân Giang vì dễ dàng tìm thấy nhưng lời gấm vóc ca tụng cảnh sắc và phong tục nơi từng được coi là ngàn năm văn vật. Bài Trưng Nữ Vương sáng tác năm 1941 cũng là một cảm xúc khởi từ Hà nội ngày xưa. Phải chăng vì đền thờ hai bà, đền Đồng nhân ở ngay lòng Hà nội nên từ thuở ấu thơ không ít lần Ngân giang đã có cơ hội dự hội Kỷ niệm hai bà mở ra vào ngày mồng sáu tháng 02 âm lịch mỗi năm. Bài thơ trên có lẽ ra đời vào lúc nữ thi nhân xúc động trước cuộc đời bi hùng của Trưng Nữ Vương.

Có hiểu như thế mới thấy nhà thơ nhìn thần tượng của mình qua lăng kính tình cảm và chỉ chú trọng tới tâm trạng của nữ anh thư sau khi hoàn thành công nghiệp đế bá một phương.

Ngân giang đã nhấn mạnh tới yếu tố tình cảm của Trưng Nữ Vương như động lực chính thúc đẩy cuộc khởi nghĩa. Phân tích tình cảm một nhân vật từng trải bi kịch trong đời như Trưng nữ vương, có lẽ một cây viết nữ như Ngân giang thích hợp nhất. Nhà thơ bắc nhịp cầu cảm thông với nhân vật và tin rằng dù đã đạt vinh quang tột đỉnh, thù chồng đã trả, nợ nước đã đền nhưng Trưng nữ vương vẫn đau đớn trong lòng

Nhà thơ nhấn mạnh tới thù hận như một trong những động cơ chính khơi dậy chí chim bằng ở người phụ nữ tài ba và giục người rời khuê phòng lên mình ngựa dấn thân vào cuộc chinh chiến:

Thù hận đôi lần chau khóe hạnh,
Một trời loáng thoáng bóng sao rơi
Dồn sương vó ngựa xa non thẳm
Gạt gió chim bằng vượt dặm khơi

 

Người phụ nữ phi thường đó đã lập chiến công hiển hách, tung hoành bốn phương, đối phó với thử thách từ tám hướng dồn lại và thành công lên ngai vàng trở thành Trưng Nữ Vương

Ngang dọc non sông đường kiếm mã
Huy hoàng cung điện nếp cân đai
Bốn phương gió bão dồn chân ngựa
Tám nẻo mưa ngàn táp đóa mai
.

Nhưng khi bóng thù đã quét sạch toàn cõi Giao châu, Trưng Nữ Vương phải đối phó với bi kịch trong lòng, ngai vàng không phải là mục tiêu báo thù, nên chẳng thể làm nguôi quên nỗi đau đớn của người phụ nữ vì tình thâm nên hận sâu và vì hận sâu nên vùng dậy tuyết hận:

 Máu đỏ cốt xương thù vạn cổ
Ngai vàng đâu tính chuyện tương lai
Hồn người chín suối cười an ủi
Lệ nến năm canh rỏ ngậm ngùi

 
Không phải Trưng Nữ Vương chỉ nặng tình nhà mà nhẹ nợ nước. Nhưng tình nhà là động cơ đầu tiên và từ cái đau riêng cá nhân dẫn tới xót xa, cảm thông cái đau chung của cả dân tộc, như thế tình nhà thúc đẩy cho nợ nước thêm mạnh và nợ nước khiến cho tình riêng thêm sâu.

Lạc tướng quên đâu lời tuyết hận
Non Hồng quét sạch bụi trần ai
Cờ tang điểm tướng nghiêm hàng trận
Gót ngọc gieo hoa ngất mấy trời

 

Tất cả tạo thành sức mạnh khiến cho xâm lăng tan vỡ, chủ quyền của dân tộc được giành lại. Nhưng dù cho thành công cách mấy chăng nữa thì cũng chẳng bao giờ lấp đầy cái hố cô đơn của một tâm hồn mẫn cảm và chung thủy! Dù sóng gió thử thách, dù quyền uy trong tay, hai chữ sắt son với người cũ vẫn thắm đượm vĩnh viễn và vết thương lòng vì thế không bao giờ nguôi:

 Ải Bắc quân thù kinh vó ngựa
Giáp vàng khăn trổ lạnh đầu voi
Chàng ơi điện ngọc bơ vơ quá
Trăng chếch ngôi trời bóng lẽ loi
.

Nhà thơ không buộc phải là người giáo huấn hay một nhà đạo dức mà là kẻ dùng thơ để bày tỏ tình cảm riêng tư. Vũ Hoàng Chương nhắc lại chuyện Kinh Kha, khác với người trước thường lên tiếng chê Kinh Kha làm hỏng việc lớn của Thái tử Yên Đan, tác giả Thơ Say chỉ nói lên cái đẹp của Kinh Kha khi vung đao hành thích Tần đế:

 Một nhát dao bay ngàn thuở đẹp
Dù sai hay trúng cũng là dư! 
.

Ngân giang trong Trưng Nữ Vương cũng thế, chỉ trình bày cảm xúc của mình trước một bi kịch tình ái của một phụ nữ phi thường chứ không nhằm làm thơ vịnh Trưng Nữ Vương. Cảm xúc trung thực, tưởng tượng đầy sáng tạo, đó là các điểm thành công của tác phẩm Trưng Nữ Vương.

 Tác Giả Hoàng Yên Lưu.

 

 

 

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 763