Category Archives: VĂN

Chiếc vòng của Mẹ

Tại một ngôi trường tiểu học trong một thị trấn nhỏ ở Hoa Kỳ hôm nay là ngày đầu tiên khai giảng cho năm học mới. Cô Thompson là giáo viên phụ trách dạy lớp Năm. Cô giáo đứng trước các học sinh trong lớp học của mình và tương tự như các giáo viên khác, cô cũng nhìn khắp lượt vào các em học sinh và nói là cô sẽ thương yêu tất cả các học trò của cô như nhau, không có sự phân biệt nào cả. Cô đã nói với các đứa trẻ này điều đó, một điều mà cô tự biết là không thật lòng và cô biết là mình sẽ không thực hiện được.

     Lý do không thể thực hiện đươc bởi vì cô đã nhìn thấy ngồi lù lù ngay dãy bàn học ở hàng đầu trong lớp là cậu Teddy Stoddard. Năm ngoái cô đã từng lưu ý tới cậu học trò nhỏ này và nhận thấy cậu ta thường chơi với đám bạn cùng lớp không được đàng hoàng. Teddy có vẻ không được ai ưa thích cả. Đã thế ăn mặc áo quần thì luộm thuộm lại thêm thân người không được sạch sẽ có lẽ vì lười biếng trong chuyện tắm rửa. Trong hồ sơ học bạ của Teddy vào năm ngoái cô Thompson còn ghi chú bằng bút đỏ, viết một chữ thập X rõ đậm nét vào đó. Rồi cô còn ghi thêm một chữ thật lớn nữa là F, hạng kém ngay phần phía trên đầu tờ giấy.

 

     Ở trường tiểu học của cô Thompson ở thị trấn này thì theo thông lệ vào mỗi đầu năm học các giáo viên đều phải xem lại quá trình học tập của từng học sinh trong những năm trước đó. Cô giáo Thompson đã nhét hồ sơ của Teddy xuống cuối cùng mới mở ra xem. Tuy thế khi đọc hồ sơ xong thì cô lại tỏ ra rất là ngạc nhiên.

     Trong hồ sơ, cô giáo dạy lớp Một đã đưa ra nhận xét rằng “Teddy là một học sinh thông minh và cười luôn miệng. Học giỏi và tính tình dễ thương… thường đem lại nguồn vui cho mọi người xung quanh”.

     Cô giáo dạy lớp Hai thời ghi rằng: “Teddy là một học sinh xuất sắc. Được cảm tình của các bạn bè học cùng lớp. Em đang lo âu vì bà mẹ bị đau ốm nặng sắp chết và cuộc sống gia đình của em thật sự quả là một sự phấn đấu”.

     Cô giáo phụ trách lớp Ba thì lại viết rằng: “Cái chết của mẹ Teddy đã gây ra khó khăn cho em. Tuy em đã cố gắng học hành, nhưng Bố em thì lại tỏ ra không quan tâm. Nếu em không được trợ giúp thì đời sống gia đình sẽ sớm ảnh hưởng đến em”.

     Cô giáo lớp Tư ghi: “Teddy tỏ ra lơ đãng, thiếu quan tâm, không hăng hái trong việc học tập. Cũng không có nhiều bạn bè. Thỉnh thoảng em còn ngủ gục trong lớp”.

     Cô giáo viên Thompson của lớp Năm đọc hồ sơ đến đây thì cô bỗng như nhận thức được ra vấn đề và cô cảm thấy tự hổ thẹn cho chính bản thân mình.

     Trong mùa Giáng Sinh giáo viên Thompson được đám học trò trong lớp đưa tặng quà. Những món quà này đều được bọc lại bằng giấy đủ màu sắc và có gắn thêm nơ thật đẹp. Cô rất áy náy khi nhận món quà của Teddy vì món quà của em thì lại gói vụng về bằng loại giấy màu nâu thường được dùng để gói thực phẩm. Khi mở gói quà của Teddy ra cùng lúc với các món quà khác thời cô cảm thấy đau trong lòng. Cô giơ lên cho các học sinh thấy món quà là một chiếc vòng đeo tay đã cũ có gắn kim cương giả, đã rơi mất vài hột và một lọ nước hoa nhỏ chỉ còn lại khoảng một phần tư.

     Có tiếng cười có vẻ chế giễu của vài học sinh trong lớp nhưng những tiếng cười đó đã bị dập tắt luôn khi cô giáo lớn tiếng khen chiếc vòng đeo tay là đẹp và sau đó đeo ngay cái vòng đó vào tay đồng thời lại còn lấy một chút nước hoa trong lọ và bôi lên cổ tay nữa.

     Bữa đó sau giờ tan học, cậu bé Teddy đã ở nán lại một lúc. Cậu lên cạnh bàn cô giáo và khẽ thưa rằng: “Thưa cô, hôm nay con thấy cô cũng thơm y như Mẹ con thời trước vậy đó!”

     Lúc các học sinh ra khỏi lớp và đã đi về hết, cô giáo viên Thompson ngồi lại một mình, khóc gần cả tiếng đồng hồ. Từ dạo ấy, cô giáo không còn đơn thuần chỉ dạy các môn Toán, dạy Văn và dạy viết lách cho đám học sinh, mà cô còn bắt đầu lưu tâm tới việc “giáo dục” lũ trẻ nữa. Cô khởi sự giảng giải cho các em về cuộc sống. Cô dạy dỗ bọn trẻ. Cô đã không giảng những bài như thường lệ trước kia nữa. Cô bỏ qua những bài tập viết và cả môn số học.

     Từ dạo đó, cậu Teddy như đuợc hồi sinh. Em càng ngày càng học giỏi hơn thêm. Và chẳng mấy chốc em đã trở thành một trong những học sinh xuất sắc của lớp vào cuối năm học đó. Cũng chính ngay từ hôm đó, ngoài việc dạy học cô giáo Thompson còn đặc biệt lưu tâm chăm sóc cho Teddy. Mỗi khi được cô giáo chỉ dẫn thêm hình như em lại càng lên tinh thần. Cô giáo càng khuyến khích, em càng tiến bộ nhanh lên thêm nữa.

     Kết quả là vào cuối năm học, Teddy đã trở thành một trong những học sinh xuất sắc nhất lớp. Và quả đúng như trái ngược với lời nói không chân thật của cô lúc đầu năm học là cô sẽ yêu thương mọi em học sinh như nhau, Teddy giờ đây đã trở thành một trong những học trò được cô giáo cưng nhất.

     Một năm trôi qua. Cô giáo nhận được một mẩu giấy của Teddy nhét dưới khe cửa. Trong giấy em thưa với cô rằng: “Cô là cô giáo tuyệt vời nhất trong suốt cuộc đời của em”.

     Sáu năm trời trôi qua sau đó. Cô giáo lại nhận được một bức thư ngắn của Teddy gửi tới. Trong thư em cho biết là em đã học xong bậc trung học và đuợc xếp hạng đứng thứ ba trong lớp. Em viết rằng: “Cô vẫn là cô giáo tuyệt vời nhất trong suốt cuộc đời của em.”

     Bốn năm trời nữa lại trôi qua. Cô giáo lại nhận được thêm một lá thư khác của Teddy. Thư nói rằng dù hoàn cảnh nhiều khi gặp trở ngai, đôi lúc tưởng chừng như bế tắc, em vẫn quyết tâm theo học tới cùng, quyết chí mong sao sớm tốt nghiệp được bậc đại học với thứ hạng xuất sắc nhất. Em viết rằng: “Cô vẫn còn là cô giáo tuyệt vời nhất và là người thầy mà em yêu quý nhất trong suốt cả cuộc đời”.

     Rồi thêm bốn năm sau nữa lại trôi qua. Cô giáo vẫn nhận được thư gửi tới. Trong lá thư lần này Teddy báo tin cho cô biết là cậu đã đậu xong văn bằng Cử Nhân. Cậu đang học thêm lên bậc cao nữa. Thư vẫn ghi rằng: “Thưa cô, cô vẫn là người thầy tuyệt vời và trân quý nhất của cuộc đời em!”. Nhưng giờ đây tên của cậu đã dài hơn một chút rồi vì cuối bức thư ký tên là: “Theodore F. Stoddard, bác sỹ”.

     Câu chuyện tới đây vẫn chưa tới hồi kết thúc. Vẫn lại còn một bức thư nữa được gửi đến cho bà giáo Thompson. Trong thư bác sỹ Teddy thưa là anh đã gặp gỡ một cô bạn gái, đôi bên tâm đầu ý hợp và anh chuẩn bị làm đám cưới với cô ta. Anh cho biết Mẹ anh thì qua đời đã lâu, còn ông Bố lại mới vừa chết cách đây mấy năm nên anh thiết tha mong bà giáo Thompson sẽ nhận lời đến tham dự lễ cưới của anh và sẽ ngồi ở vị trí danh dự vốn thường hay được dành riêng cho Mẹ chú rể.

 

     Tất nhiên là bà giáo Thompson chấp thuận đề nghị này. Ngày cưới hôm đó bà giáo đeo chiếc vòng kim cương giả, cái vòng đã bị rớt mất vài hột mà ngày xưa cậu học trò nhỏ đã biếu làm quà tặng. Hơn nữa bà giáo còn cố tình bôi thêm một chút nước hoa trong cái lọ nhỏ, cũng vẫn là quà tặng thuở xa xưa. Cái loại nước hoa này tỏa mùi thơm thoang thoảng mà Teddy nói là Mẹ cậu đã bôi vào lễ Giáng Sinh cuối cùng của hai mẹ con trước khi Mẹ từ giã cõi đời.

 

     Anh bác sỹ trẻ và bà giáo Thompson ôm nhau mừng rỡ. Bác sỹ Stoddard khẽ nói thầm vào tai bà Thompson: “Cám ơn cô Thompson đã có lòng tin tưởng vào nơi em. Cám ơn cô rất nhiều vì cô đã làm cho em cảm thấy mình quan trọng. Chính nhờ cô mà em có niềm tự tin rằng bản thân mình sẽ có thể đổi khác. Chính niềm tin đó đã tạo ra sự khác biệt lớn lao giúp em thay đổi cả cuộc đờinhư ngày nay.”  

     Bà Thompson vừa đầm đìa giọt lệ vừa nói nhỏ với chú rể:“Teddy, em lầm rồi. Chính em mới là người đã dạy cho tôi biết rằng tôi đã có thể đổi khác đi. Tôi đã không biết cách dạy học cho tới khi được gặp em đó. Chính nhờ gặp em, tôi mới biết thế nào là “giáo dục”.

 

(Tâm Minh Ngô Tằng Giao phóng tác)

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 5

Con Gái của Người Ta

Với bài viết tựa đề “Viện Dưỡng lão và Viện Mồ Côi”, Trần Thiện Phi Hùng có tên trong danh sách nhận giải đặc biệt Viết Về Nước Mỹ 2013. Tác giả cho biết ông nguyên là lính Hải Quân VNCH; 12 năm 4 tháng đúng, tính đến ngày 30 tháng Tư 75, tự lái tầu vượt biển năm 1982, hiện định cư tại Úc. Bài mơi nhất của ông, vẫn với chi tiết về nhà hộ sinh và viện dưỡng lão như từng kể, nhưng gần như quay một vòng 360 độ, biến thành một câu chuyện khác hẳn.
* * *

Tiệc rửa lon trung úy của tôi chung với tiệc đầy tháng của con gái tôi và “con gái của người ta”.

Con gái của người ta sau 24 giờ sinh ra đã trở thành con gái của tôi và chỉ sinh sau con gái của tôi có 4 giờ tại Bảo Sinh Viện Quân Đội Thành phố Nha Trang năm 1972. Mẹ của nó còn trẻ lắm nhưng lanh lợi sành đời. Cô ta sinh xong mạnh khỏe đi đứng bình thường chứ không nằm liệt như bà vợ tôi. Cô ta nói với vợ tôi cô ta là vợ của một Trung úy Biệt Kích. Anh ta ít khi về nhà và công tác ở đâu không bao giờ nói. Cô ta đi làm sỡ Mỹ ở Chu Lai vì sinh kế sao đó nên nhảy dù với Mỹ. Tai nạn có thai ngoài ý muốn nhưng không biết con của Chồng hay của Mỹ nên cứ sinh xong rồi tính. Con chồng thì để nuôi; con Mỹ thì cho.

Nghe vợ nói lại, tôi sang phòng cô ta gõ cửa xin vào xem đứa nhỏ ra sao. Trong bóng đèn mờ của căn phòng, con bé nằm bó mình trong khăn lông; chỉ lòi cái mặt da trắng đỏ và cái miệng nhỏ xíu hai môi như chu ra làm tôi nghĩ ngay con bé nầy chắc sau nầy hỗn lắm! Tôi không nói gì với cô ta mà về phòng bảo bà vợ tôi:

– Mình xin Con Bé nuôi luôn nhen Em ?

– Làm sau đũ sữa cho 2 đứa? Thiên hạ nói bậy bạ làm sau chịu nổi?

– Cho uống sữa bò; Anh mướn thêm người giúp việc nửa cho em.

– Tùy anh.

Thế là thủ tục Xin của Tôi và đồng ý cho con do cô ta viết được đưa cho Cô Mụ; nhưng sáng hôm sau thì cô ta đã rời khỏi bệnh viện, bỏ con lại mà thủ tục chưa hoàn tất. Ban Xã hội Quân đội cũng dễ dàng hoàn tất nốt thủ tục nhận con nuôi mà làm khai sinh giống như thủ tục khai sinh của con gái của tôi. Đây có lẽ là trường hợp hy hữu một đứa trẽ Lai Mỹ mà khai sinh do hai vợ chồng là người miền Đông và Tây Nam Việt Nam coi như sinh ra. (rất tiếc trong cơn biến loạn di tản năm 75 tất cả hình ảnh đều mất hết. Trong tiệc đầy tháng; 2 đứa bé như cặp song sinh; nhưng một Việt một Mỹ đẹp như thiên thần!); nhưng mà khổ cho thân tôi! Hai đứa trẻ đứa nào cũng đòi bồng một lúc. Đứa trên lưng thì đứa kia phải bế trên tay. Lưng Tôi bị thoái hóa cột sống năm 2000 có lẽ cũng vì hai đứa con ngày một lớn dần mà cứ phải thay đổi đứa trên lưng đứa trên tay mấy năm.

Tháng Tư đen 1975, tôi bị rã ngũ. Tôi không thể về quê ngoại như ước muốn sống ở Rừng Dừa năm xưa vì nay B52 cày nát thành bình địa. Tôi muốn phá hoang trồng lại; nhưng phải trình diện vào tù cải tạo. Một tháng trôi qua, rồi một năm, rồi năm nữa..! Vợ không thấy đi thăm mà con cũng không bao giờ được gặp mặt. Mỗi tháng chỉ có Mẹ tôi được 15 phút thăm nuôi. Hỏi gì mẹ tôi cũng nói tất cả bình an; các con ngoan và khỏe mạnh. Tôi lúc nào cũng nhờ Mẹ lưu tâm cho Thùy An, tên đứa Con Lai Mỹ. Chắc là Nó bị kỳ thị ở trường học và sống với mọi người sẽ rất khó khăn! Mẹ tôi nói con khỏi lo. Nó sống rất tốt học rất giỏi nên được Thầy Cô và bạn bè quí mến. Mẹ tôi lúc nào cũng né tránh khi tôi hỏi đến vợ và con gái của tôi, Thanh An. Tôi đoán có lẽ chuyện gì không tốt đã xảy ra nhưng đành bó tay không biết hỏi ai!

Bốn năm sau tôi được ra tù. Con gái mang 2 dòng máu ôm tôi khóc như mưa; nhưng con gái và vợ tôi thì không thấy đâu nữa. Tôi đoán biết chuyện không hay nên cũng không hỏi mẹ. Cơm chiều xong, con gái xin tôi:

– Ba cho con ngủ chung với Ba đêm nay?

– Ngày thường con ngủ một mình?

– Không Con ngủ với Bà Nội.

– Ừ! nếu con muốn.

Con bé thỏ thẻ kể hết cho tôi nghe. Ba đi rồi mấy tháng sau má dẫn Chị Hai đi với Má về thăm Ngọai mà không cho con đi và từ đó không về nữa. Con hỏi Nội Má con chừng nào về? Nội nói Nội không biết.

Một năm trôi qua; tính ra tôi đi làm “lao động xã hội chủ nghĩa” có nghĩa “ăn cơm nhà làm lao động nặng không công” khoảng hơn 3 tháng. Đào kinh, đắp đường, gánh lúa thuê…v.v.. Cạnh đó là làm thuê, làm mướn đi lao động thay cho người trả tiền để khỏi đi. Tôi hết thời gian quản chế một năm, làm phó thường dân, rồi được đề cử làm Đại Đội trưởng Lao động; chuyên đi kêu người đi lao đông. Ai thấy mặt tôi đến thăm là biết phải cơm gạo nhà đem đi làm không công mấy ngày hay nửa tháng.

Thời chinh chiến; tiền lương của 3 đứa con cho Mẹ, mẹ tôi xài tiện tặn có dư, hễ đủ 1 chỉ thì mua 1 chỉ vàng y; đủ 10 chỉ thì đổi thành 1 lượng. nhét kẹt giường, đào nền nhà, tủ làm 2 nóc để cất vàng. Con thất thế sa cơ Mẹ bán vàng nuôi con. Mẹ cho con vàng để vượt biên.

Năm 1982, tôi và em gái tôi vượt biên. Con gái của tôi nhứt định Ba đâu con ở đó; Con không sợ chết. Con chỉ sợ phải xa Ba! Tôi lái tàu ra khơi lần cuối cùng để một là chết, hai là được thật sự tự do. Tôi thành công sang bến bờ tự do. Con gái tôi bắt đầu vào Trung học; có lẽ nhờ cái máu Mỹ của nó hay sao mà chỉ mấy tháng thì nó nói tiếng Mỹ như súng liên thanh; cứ có dịp là đeo bên tay Cha khi đi chợ hay đi ăn nhà hàng hay có đám tiệc…. Hình ảnh một ông già Việt Nam có một cô gái hoàn toàn Mỹ không thấy có gì lai đeo theo một bên và nhõng nhẽo thì chắc chưa có ai bằng. Tối ngày gặp mặt gọi Daddy; không thấy mặt thì daddy, Ba đâu rồi. Tôi vui với con gái của người ta và là nguồn an ủi cho tôi vui sống. Tôi làm công nhân cho hãng làm phụ tùng xe hơi, lương cũng dư sức nuôi con lên đại học và mua nhà trả góp. Phải mất 5 năm tôi mới trả hết nợ nhà. Năm 1995 con gái tôi thành y sĩ nhãn khoa và có việc làm ngay. Ngày làm lễ Mãn khóa; cầm mảnh bằng trên tay, con gái ôm tôi khóc như chưa bao giờ khóc như thế. Tôi bảo:

– Con vui mừng sao lại khóc dữ thế?

– Cám ơn; Con cám ơn Daddy nhiều lắm; Con đang nghĩ không biết có bao nhiêu ngàn hay chục ngàn đứa trẻ bị cha mẹ bỏ rơi mà có bằng Đại học như con. Con thương Daddy nhiều lắm.

– Daddy cũng cám ơn Con; nhờ có con mà cuộc sống của Ba mới có ý nghĩa mà vui sống tiếp bấy lâu nay.

Hai Cha Con dị chủng ôm nhau cùng khóc.

Bạn bè của con biết thì không có gì lạ về sự khắng khích của Hai Cha Con Việt Mỹ nầy; nhưng những người xa lạ thì hiếu kỳ nghĩ suy lung tung nhưng không thể nào ra được đáp án. Cha Việt sao con Mỹ mà không có chút gì là dáng vẻ Việt Nam.

Tôi đi làm đem cơm theo ăn nay làm thêm phần cho con gái. Lương của con gái đưa hết cho tôi và chỉ lấy 100 bạc để đổ xăng và ăn quà vặt. Khi cần mua sắm gì thì nói xin. Tôi từ chối cách nào cũng không được nên mỡ một sổ bank riêng bỏ hết tiền của con gái đưa để khi nó cần đưa lại cho nó. Hai năm sau, em Gái của tôi bán 2 cái nhà cũ để mua cái nhà lớn hơn, tôi bảo con gái vay tiền ngân hàng mua cả 2 cái. Vì không vay được một lúc gần nửa triệu bạc nên tôi dùng cái nhà tôi để thế chấp vay mua 2 cái nhà cho con gái đứng tên và cho mướn.

20 năm trôi qua nhanh. Lưng của tôi bị thoái hóa cột sống nên đau càng ngày càng nhiều. Chân tôi bắt đầu bị tê. Lái xe lúc nào chân cũng phải nhịp nhịp thử coi còn hoạt động được hay không; nhỡ bị tê khi cần thắng mà không xử dụng được thì nguy to. Tinh thần tôi bị hoảng loạn khi nghĩ đến lúc không cữ động được tay chân bởi dây thần kinh bị gai xương sống ép nên không hoạt động được. Mổ xương sống thì xác xuất rủi ro khá cao; nên khi còn gượng đi đừng được tôi không chịu mổ để cắt gai cột sống. Con gái thì đeo theo một bên ít đi chơi ít giao thiệp với bạn bè. Đi làm về là quanh quẩn bên Cha làm tôi thêm lo lắng.

– Sao Con không có bạn trai? Con lập gia đình cho ba yên tâm!

– Ai bảo Ba con không có bạn trai. Bạn trai của con đang ghi tên học tiếng Việt; bao giờ nói được tiếng Việt con sẽ đem về ra mắt Ba. Anh ta người Đức nhưng sinh trưởng ở đây và chịu điều kiện phải sống chung với Ba suốt đời; nhưng con thêm điều kiện phải nói được những câu thông dụng tiếng Việt Nam.

– Ba nói tiếng Anh cũng tạm hiểu được mà Con.

Nhưng con muốn con của con sau nầy phải nói được tiếng Việt, nên anh ta ghi tên học một năm tiếng Việt ở Đại học Victoria.

Tuổi 60 cũng đúng lúc tôi được phép về hưu vì là cựu quân nhân nên sớm hơn dân sự 5 năm. Con Gái thì hối thúc Ba nghỉ việc đi; tiền hưu Ba đủ sức tiêu dùng; nếu có cần mua gì hay đi đâu con lo cho ba được.

Tôi xin nghỉ việc về hưu. Sáng nào 5.30AM cũng đi bơi để chữa trị bệnh đau lưng. Con gái cũng đi theo. Sáng nào hai cha con xe ai nấy lái đến hồ bơi. Con tập Gym, cha thì Bơi. Con gái đem quần áo uniform thay đi làm luôn.

Một hôm con gái tôi nói:

– Ngày mai con không đi làm; Ba có muốn con chở Ba đi thăm Bác Hoàn không? Con nghe con gái của Bác nói Bác đã bị đưa vào Viện Dưỡng lão tuần rồi.

– Sau con lại dùng chữ “bị”? Chẵng lẽ Bác Hoàn không muốn vào Nursing home mà bị bắt buộc vào hay sao?

– Bác Hoàn bị stroke té; xe cấp cứu đem vào nhà thương; Bác bị méo mặt và miệng không nói được nên các con của Bác xin Bác sĩ cho vào Viện Dưỡng lão; vì nếu về nhà sau nầy xin vào thì Bộ Y tế sẽ check sức khỏe và trí nhớ khó khăn lắm mới được chấp nhận nên để nhà Thương quyết định thì khỏi phải check gì hết!

– Bác chỉ hơn Ba có 2 tuổi và trí nhớ còn tốt lắm mà! Ừ! Ba với con đi thăm Bác kẻo tội nghiệp; hơn nữa mai mốt Ba có vào sẽ có người thăm lại ba.

– Không bao giờ có chuyện đó Ba đừng mơ; Con không bao giờ gởi Ba vô Viện Dưỡng Lão đâu. Con tập Gym để đủ sức bồng Ba khi Ba cần đến; Con cũng chọn chồng lớn con để phụ với Con. Ba xài Computer và Internet thường xuyên, trí nhớ của ba sẽ không bị Dementia hay Alzheimer.

– Cám ơn con; nhưng con còn công việc và cuộc sống của riêng con.

– Viện Mồ Côi không dành cho con thì Viện Dưỡng Lão cũng không dành cho ba.

– Con nhớ mua trái cây biếu Bác; nhớ đừng mua bánh ngọt vì Bác ấy cử ăn đường.

Hai cha con tôi vào Viện Dưỡng Lão Cửu Long vừa sau giờ ăn sáng; nên gặp Bác Hoàn ngay phòng ăn. Mặt và miệng của Bác Hoàn trở lại gần bình thường và giọng nói tuy có biến giọng nhưng vẫn còn nghe rõ lắm. Bác bắt tay tôi coi vẻ mừng và cảm động lắm nhưng hai mắt lệ ứ tròng. Con gái tôi lúc nào đi với tôi đều là mục tiêu để nhiều người chú ý và tò mò muốn biết về Cha Con Viêt Mỹ nầy. Hơn nữa vẻ trìu mến và lúc nào cũng như nhõng nhẽo với cha từ lúc còn bé thành thói quen làm mọi người càng chú ý hơn. Thăm Bác Hoàn khoảng một tiếng sau hai cha con xin phép ra về. Con gái tôi lái xe ghé Chợ và nói:

– Con đãi ba ăn bún bò Huế.

– Ừ! ăn thì ăn.

Con gái mở cửa cho tôi và kéo ghế cho tôi ngồi; gần như ai cũng quay ngó chúng tôi. Cô bé chạy bàn thì quen quá với cha con tôi vì nhiều lần ăn ở quán nầy.

– 2 tô bún bò Huế phải không Chú?

– Ờ! Cháu cho Chú 2 tô.

Con gái mở cái xách tay của nó ra; mà nó đổi cái xách tay lớn hơn hồi nào tôi không để ý. Nó kéo ra một bịch nylon và kéo Rau kinh giới ra. Nó để rau kinh giới tím qua một bên và nói:

– Cái nầy của Daddy.

Rồi kéo mớ khác là kinh giới xanh và nói:

– Cái nầy của con.

Ông ngồi bàn gần kế bên quay sang

– Cô Tây nầy sau nói tiếng Việt rành quá và rành ăn bún bò Huế hơn cả người Việt Nam!

– Nó là người Việt Nam chứ không phải Tây. Nó chê rau kinh giới tím ăn nồng quá mà tôi thì thích kinh giới tím hơn nên nó hái riêng hai loại cho cha con chúng tôi.

– Cô ta là Dâu của Anh?

– Không. Nó là con gái của tôi.

– Hai tô bún bò Huế được bưng ra; cuộc đàm thoại ngưng tại đây và có lẽ ai cũng liếc mắt xem khi cô Tây 100% vắt chanh và ngắt từng cọng rau bỏ vào tô cho cha. Tôi hãnh diện là đã không lầm khi bỏ công bao năm cơ cực nuôi “con của người ta.”

Về tới nhà chưa kịp thay quần áo thì điện thoại reo. Bạn Hoàn, người tôi vừa đi thăm, phone cho tôi từ Viện Dưỡng Lão.

– Anh mới về tới nhà phải không? Hồi nãy tôi gọi không ai bốc phone. Sau khi Anh về rồi có một Bà trong Viện dưỡng lão này hỏi anh có phải Hải Quân hay không và đứa con gái Mỹ đi theo Anh là con của Anh? Bà ta nói là người quen của Anh ở Nha Trang khi xưa; muốn xin số phone của Anh, nên tôi hỏi Anh trước. Có phải nhân tình cũ ngày xưa hay không? Nếu phải thì vào gặp gấp đi; dễ gì xa xứ gặp cố tri!

– Ừ! Thì Anh cứ cho; có sao đâu. Bốn mươi mấy năm rồi làm sao ai còn nhớ được ai!

Một ý nghĩ thoáng qua trong óc tôi: Không lẽ là Mẹ ruột của con gái của tôi? Chứ nếu bà ta là người vợ bỏ tôi ngày nào thì chắc chúng tôi phải nhìn nhau, chứ chẳng lẽ tình chồng vợ sống với nhau 5 năm mà nhìn nhau không ra! Nhưng nếu là mẹ ruột của con gái của tôi, tôi phải làm sao đây, vì dù sao cũng là… “Con gái của người ta”.

Trần Thiện Phi Hùng

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 33

Một câu chuyện buồn

Tôi nhớ rất rõ chuyện xẩy ra rất lâu khi tôi gần tròn bốn tuổi.

Hồi đó, gia-đình tôi sống gần một làng chài ở Mỹ-khê, Đông-Giang thuộc quận ba thành-phố Đà nẵng.
Ba tôi phục-vụ trong quân-đội VNCH, đơn-vị đóng ngoài Quảng-Trị, cấp bậc hạ-sĩ. Mẹ tôi bán cá ngoài chợ Sơn-trà. Mẹ tôi mua cá của những ghe chài cập bến vào sáng sớm, để đem ra chợ bán.
Một buổi trưa Chúa nhật, hai anh em tôi chơi banh ngoài sân cỏ bên cạnh nhà, chờ mẹ về cho ăn cơm. Anh tôi học lớp đệ thất trường Trung-học Đông-Giang, tôi học lớp mẫu-giáo của một trường tư trong phường. Đang chơi, vô tình trái banh do anh tôi đá quá mạnh, tôi đỡ không nổi nên bị trái banh trúng vào mặt. Đau quá tôi khóc ầm lên, anh tôi chạy đến dỗ dành tôi, lấy tay lau nước mắt cho tôi, xoa nhẹ vào má tôi, nơi bị đau.
Vừa lúc đó mẹ tôi từ chợ về.Thấy mẹ, tôi càng khóc lớn thêm.
Khi biết được sự việc, mẹ tôi quơ tay đập nhẹ mấy cái vào đầu anh tôi mắng: “Cha mi, làm em đau,” rồi vội dẫn tôi vào nhà, lấy khăn ướt lau mặt cho tôi, để tôi vào võng đưa qua đưa lại, dỗ dành: “Nín đi con, sau nầy đừng chơi banh nữa, tháng tới sinh nhật con, ba về mẹ nói ba mua cho con chiếc xe đạp nhỏ, con đạp đi học giống như anh Hai của con.” Nói xong, mẹ tôi đi vào bên trong nhà rồi trở ra, một lá thơ trên tay: “Đây là thơ của ba con gởi về hôm tháng rồi” mẹ tôi đọc:
– ‘Tháng tới, ngày 27 tháng 4 sinh-nhật của cu Tấn, anh sẽ xin phép về vài ngày. Em xem mấy cửa hàng bên chợ Hàn nơi nào bán xe đạp vừa tầm cỡ cu Tấn, anh về sẽ mua cho con một chiếc  ‘.
Nghe vậy, tôi ngừng khóc. Mẹ tôi ngồi vào võng, ôm tôi nằm sấp vào lòng, vừa đưa võng vừa nói, “Bữa ni mới 10 tây tháng hai, còn hơn hai tháng nữa ba mới về. Từ đây đến ngày đó, nếu con còn nhõng nhẽo không nghe lời của mẹ và anh hai thì mẹ nói ba không mua xe đạp cho con đâu.”

Tiếng mẹ tôi nghe nhỏ dần, trong mơ tôi nghe tiếng ba tôi khen “Cu Tấn đạp xe giỏi quá”, tiếng mẹ và anh hai: “Coi chừng té! coi chừng té”, và tiễng vỗ tay của ba người.
***********
Một buổi sáng, tôi đã thức dậy nhưng còn nằm nuớng trên giường với mẹ. Hôm đó biển động nên không có cá bán, mẹ ở nhà. Mẹ tôi ôm tôi: “Còn gần một tháng nữa, ba con về phép mua xe cho con, con lớn rồi, bốn tuổi đâu còn nhỏ nữa mà hở đâu khóc đó” Tôi mắc cở, dụi đầu vào lòng mẹ thì nghe có tiếng đập cửa rất mạnh.
Tiếng bác Hội hỏi lớn: “Thiếm Tiếng có nhà không? thiếm Tiếng có ở nhà không? “Mẹ tôi vùng ngồi dậy, trả lời:
–  Dạ, có tôi ở nhà, hôm nay biển động nên không có cá. Có chuyện gì không anh?
Mẹ tôi mở cửa. Tôi nghe tiếng  bác Hội:
– Tụi Việt-cộng đã tấn công vào Quảng-trị. Kỳ nầy nghe đâu bọn nó tấn công khắp nơi. Đơn vị của chồng thiếm bị tan hàng, một số bị bắt, một số bỏ chạy, một số bị thương trước đó, được đưa vào bịnh-viện Huế. Chú Tiếng, chồng thiếm nghe nói bị thương, đang nằm ở bịnh-viện Huế.Tin nầy do thằng Báu vừa chạy về cho biết. Hai đứa nó cùng đơn-vị.
 Mẹ tôi khóc. Tôi thấy mẹ tôi như tàu chuối héo, rũ người trên ghế.Tôi và anh hai tôi sợ sệt, vội chạy đến bên mẹ trố mắt nhìn mẹ, không biết nói gì. Nghe tiếng ồn ào, hàng xóm chạy qua, mỗi người một tiếng khuyên mẹ tôi bình-tĩnh nhưng mẹ tôi vẫn khóc.
 Hai ngày sau mẹ tôi đi Huế để tìm ba. Hai anh em tôi được mẹ nhờ bác Hội trông nom săn sóc. Mẹ tôi mua một bao gạo và kho sẵn mấy nồi cá dành cho hai anh em tôi ăn dần khi bà đi Huế.
Bác Hội là bạn cùng xóm với ba tôi. Nhà hai gia-đình sát vách nhau. Hai người chơi với nhau khi cả hai người còn nhỏ. Bác hơn ba tôi năm tuổi. Ba tôi rất thương bác Hội , ba là con duy nhất của ông bà nội. Bác cũng thương ba tôi như em. Sau nầy tôi được biết bác đã muốn gả em gái cho ba tôi, nhưng chuyện hôn nhân không thành.
Bác Hội thi tú tài không đậu nên bác tình nguyện xin đi học Trung-sĩ để khỏi bị bắt làm lính khi đến tuổi thi hành quân-dịch. Bác phục-vụ tại sư-đoàn 2 bộ-binh đóng tại Quảng- ngãi. Năm 1972, bác bị thương, mất một chân và được giải ngũ. Ngày bác cưới vợ, ba tôi dự tiệc, uống rượu rồi gây gổ ồn ào với một ông khách tham dự lễ cưới. Cảnh-sát quốc-gia can thiệp, bắt và chuyển ba qua Quân-cảnh tư pháp vì tội trốn quân dịch.
Ra tòa án quân-sự, ba tôi bị xử đi quân dịch. Ba tôi được đưa đi huấn-luyện  tại Trung tâm huấn luyện Hòa-Cầm ở quận Hiếu-Đức,Tỉnh Quảng- nam. Lúc đó ba tôi đã có vợ và anh Hai tôi độ chừng bảy tuổi. Ba tôi đóng quân tại tỉnh Quảng-trị và hai lần được thưởng Anh-dũng bội tinh tại mặt-trận.
Bác Hội thường nói với anh Hai tôi:”Ba mầy hiền lành như con gái nhưng ra ngoài mặt trận với địch quân, ba mầy gan dạ, không biết sợ chết là gì, được gắn huy chương, được  thăng cấp ngoài mặt trận, còn bác chẳng được gì ráo, lúc nào cũng chỉ mang lon trung-sĩ quèn”.
Mẹ tôi đi Huế tìm thăm ba đã hơn hai tuần mà chưa thấy về. Ba nồi cá kho ăn đã gần hết. Hai anh em tôi ngày nào cũng khóc vì nhớ mẹ. Buổi tối bác Hội thường qua nhà ngồi chơi, an ủi hai anh em tôi đến khuya với về lại nhà bác. Và từ đó hai anh em tôi không còn gặp lại ba và mẹ nữa.
 ********
Một hôm, trong xóm bỗng nhiên tiếng chó sủa vang, tiếng người gọi nhau inh-ỏi, tiếng súng nổ, lính tráng từ đâu đổ về đầy xóm, đầy bãi biển. Xe cộ nối đuôi nhau nằm ụ hai bên vệ đường. Người dân đủ cỡ, đàn bà con nít, ông già bà cả dìu dắt nhau đi, vừa hớt hãi chạy, vừa khóc, tất cả đều theo huớng ra bờ biển.
Trong xóm tôi, vài gia đình cũng bồng bế nhau chạy ra bãi biển. Vài người gọi với vào nhà tôi: “Chạy đi, cộng-sản sắp vào tới rồi!”. Hai anh em tôi đứng trong nhà nhìn đoàn người lũ lượt đi…và nhớ đến ba mẹ, chỉ biết khóc.Tôi nghe tiếng bác Hội nói với những người cùng xóm rủ bác đi lánh nạn: “Tôi chỉ còn có một chân mà chạy đi đâu? ” Tối hôm đó bác qua nhà tôi bảo anh Hai tôi hạ cây cờ vàng ba sọc đỏ xuống. Bác nói:
– Thằng Tấn anh, mày leo lên đem lá cờ xuống dấu kỹ một chỗ, sau nầy dùng lại; nếu không, lũ khốn-nạn đó vào mà thấy được, chúng sẽ không để yên cho sống đâu.
Anh hai tôi đem lá cờ xuống xếp nhỏ lại, rồi thoăn thoắt leo lên cột nhà để vào chỗ nứt của đầu kèo nhà, nơi mà anh tôi hay giấu những đồ chơi quý mà anh không muốn cho tôi phá vì sợ bị làm hư.
Rồi một ngày, đồng loạt tất cả nhà nhà trong xóm đều treo cờ đỏ sao vàng. Anh em tôi được phát mỗi đứa một  khăn quàng đỏ và ngày nào cũng đi sinh hoạt thiếu nhi, có ngày mệt quá hai đứa tôi không ăn uống gì hết, tối về đến nhà là lăn ra ngủ, quên cả khóc nhớ ba mẹ.
 Ông thợ may đầu xóm thành ông tổ trưởng dân phố. Mấy con ông, cả trai và gái đứa nào cũng có súng, đi lục soát từng nhà tìm bắt những người đã làm việc cho “ngụy”. Tôi nghe bác Hội gọi lén lũ nầy là bọn “ôn dịch”, “ăn cơm quốc gia thờ ma cộng-sản”. 
Cá kho hết, anh em tôi ăn cơm với nước mắm. Hết nước mắm, anh em tôi ăn cơm với muối. Đến khi hết gạo thì bác Hội cho tụi tôi ăn cơm độn khoai mì. Nhà bác Hội nghèo, có bác gái và hai đứa con nên phần cơm chia sẽ cho anh em tôi không đủ no bụng. Bác Hội giúp anh Hai tôi bán cái Radio, rồỉ đến chiếc xe đạp…rồi đến một ngày trong nhà không còn gì để bán. Nhà bác Hội cũng không còn gì để bán.
Bắt chước mấy người trong xóm, hai anh em tôi đi khắp nơi lượm bao nylon đem ra biển rửa sạch, phơi khô ,vài ba ngày gom lại đem bán lấy tiền mua gạo.Những lúc phơi bao nylon trên bãi biển,tôi phải ngồi canh chừng,nếu không kẻ khác lấy mất. Có lúc canh chừng mà tôi ngũ quên, kẻ gian lấy hết. Anh Hai tôi không nói gì, nhưng nhìn thấy mặt anh buồn thiu.
 ********
Bác Hội gái không còn đuợc cho đi dạy học. Bác chuyển sang mua cá ngoài bến ghe chài đem bán dạo trong xóm. Nhớ trước đây mẹ tôi bán cá trong chợ, tôi hỏi tại sao bác không bán trong chợ như mẹ tôi trước đây? Bác nói “Bác không vào hợp tác xã nên không bán ngoài chợ đươc.” Bác phải mua cá của những ghe chài bán lậu trước khi cập bến.
Để tránh sự dành  giật nhau khi mua cá lậu, bác rủ anh tôi cùng phụ bác đi mua bán cá. Khi ghe bán lậu cá còn xa bờ, anh hai tôi bơi ra ghe mua cá rồi đem vào. Cá được cho vào một sô nhựa, bác Hội gái và anh tôi thay nhau xách đi bán khắp nơi trong phường, khóm, có khi đi qua trung tâm thành phố. Công việc kéo dài được vài tháng thì bị công an phường cấm. Anh em tôi không còn gì để ăn, tôi hay đói nên lúc nào cũng đòi ăn. Hàng xóm thương tình, người cho củ khoai, người cho củ sắn nhưng không làm sao hết đói.
 Rồi một buổi sáng sớm, anh hai tôi dắt tôi đến bịnh-viện, anh tôi bảo tôi ngồi chờ anh trước cổng, anh đi vào bên trong.Tôi ngồi chờ lâu quá nên tựa lưng vào tường ngủ gật. Khi anh đánh thức tôi dậy thì mặt trời đã chiếu  ngay trên đầu. Anh kéo tôi đi nhanh khỏi bịnh viên, anh nói: “Tấn em chắc đói nhiều lắm rồi phải không?”.
 Tôi chưa kịp trả lời anh rằg “từ hôm qua đến giờ em có gì để ăn đâu! ” thì anh nói tiếp: “Anh cũng đói lắm, hai ngày ni anh cũng chẳng có gì để ăn hết….bây giờ anh em mình tìm gì để ăn.” Anh đi vào con hẻm bên kia đường.Tự nhiên tôi đứng lại không chịu đi theo anh. Kéo mạnh tay tôi, anh nói: “Vào đây anh em mình ăn bún.” Tôi lắc đầu: “Mình không có tiền mà!”. Anh khựng lại nhìn tôi, hai mắt anh sáng lên, giọng anh như reo vui: “Hôm nay anh có tiền!” Anh cho tay vào túi rút ra mấy tờ giấy bạc cho tôi thấy, lúc đó tôi mới chịu đi theo anh. Gánh bún bên lề đường đông người, hai anh em phải chờ khá lâu. Bụng tôi cứ vang lên tiêng rột…rột..nước miếng cứ chảy ra. Hôm đó anh mua ba tô bún, mỗi người một tô, tô thứ ba được chia làm hai, nhưng anh dồn hết phần thịt cho tôi, anh chỉ lấy phần bún.
 Ăn xong tôi theo anh vào chợ mua gạo khoai mì và nước mắm. Ngày hôm sau anh thức dậy sóm, nấu cơm ghế khoai mì. Hai anh em ăn cơm ghế khoai với nước mắm.
 Bắt đầu một ngày mới. Hai anh em tiếp tục đi nhặt bao nylon.
Hai tuần sau, anh lại đưa tôi đến trước bịnh-viện, tôi đứng chờ trước cổng, anh đi vào trong và khi anh trở ra anh lại đưa tôi đi ăn bún. Anh cũng mua ba tô, mỗi người một tô, tô thứ ba chia hai, anh chia hết phần thịt cho tôi.Từ hôm đó tôi cứ trông đến ngày anh hai tôi dẫn tôi đến trước bịnh-viện, tôi sẽ đứng bên ngoài chờ, anh đi vào bên trong, lúc trở ra anh lại đưa tôi đi ăn bún.
 Lần thứ ba, anh hai tôi dẫn tôi đến bịnh-viện, tôi cũng đứng trước cổng chờ. Lần này tôi nhìn thấy bác Hội từ bên trong bịnh-viện đi ra, cùng lúc ấy bác cũng nhìn thấy tôi, bác hỏi: “Tấn em làm gì đứng đó?”.Tôi trả lời: ” Con đợi anh hai con, anh ấy vào trong đó” tôi vừa nói, vừa chỉ tay vào bịnh viện. Bác nói: “Anh hai con vào trong đó làm gì vậy  kìa? Nó có nói với con không?”.Tôi lắc đầu. Bác đứng lại với tôi, lấy thuốc ra hút….Anh hai tôi từ trong bịnh-viện đi ra. Bỗng nhiên anh đứng khựng lai, vẻ mặt sợ hãi, có lẽ vì nhìn thấy bác Hội? Cùng lúc ấy, bác Hội hỏi:
“- Con vô đây làm chi rứa?”
 Anh hai tôi không trả lời, mặt nhìn xuống đất, tôi nhìn thấy trong mắt anh chớp chớp, như có những giọt nước. Bác Hội sẵng giọng:”Con vào đó bán máu phải không?”. Anh tôi không trả lời, hai vai anh run nhẹ, những tờ giấy bạc rơi lả tả xuống đất. Bác Hội lê bước tới nắm tay anh kéo đi.Tôi lượm lại mấy tờ giấy bạc chạy theo. Đến một khoảng vắng, bác vứt cây nạng gỗ xuống đất, bác kéo anh tôi vào lòng, bác khóc, anh hai tôi khóc và tôi cũng khóc.
 Về đến nhà, bác hỏi anh hai tôi ai chỉ vẽ cho anh đi bán máu, anh nói:”Trong xóm mình nhiều người đi bán máu lắm, họ rủ con đi”. Bác thở dài,   lẩm bẩm: “Khốn nạn cho cái xã-hội mới nầy”!
 *******
Một hôm trời mưa, hai anh em tôi không đi lượm bao nylon. Tôi qua chơi với hai đứa con của bác Hội. Buổi trưa về, vừa mở cửa vào phòng, tôi thấy tên công an Được đang ở trong nhà. Nó vứt mấy đồng bạc trên giường và nói: “Giữ lấy mà mua gạo ăn!”. Tôi nhìn anh tôi dò hỏi nhưng anh im lặng.
 Từ đó, anh tôi không còn vui cười, mặt lầm lì, hay tránh mặt tôi. Vài ngày sau, bác Hội đưa anh vào bịnh-viện vì anh bị đi cầu ra máu. Về nhà, bác lẩm bẩm suốt ngày: “Tên khốn khiếp! có súng, tau bắn nát đầu mầy”.
Bác Hội xin được cho anh hai tôi công việc gỡ lưới bắt cá trên một ghe chài của một người bà con bên vợ.
Hàng ngày tôi đi lượm bao nylon một mình. Buổi tối tôi ngủ một mình. Anh hai tôi theo ghe chài hai ngày mới về bến một lần. Tôi ăn uống bên nhà bác Lộc.
 Một đêm, tôi đang ngủ, có cảm giác như có ai ôm mình vào lòng. Tôi nghĩ chắc anh hai tôi đã đi biển về, tôi quay người lại nhưng cái cảm giác chạm vào da thịt của anh hai tôi không giống như thuờng ngày, tôi mở mắt, qua ánh sáng đèn từ ngoài đường chiếu vào, tên Được đang nằm bên tôi. Tôi hoảng sợ, dùng hết sức mạnh hai chân đạp vào bụng tên Được rồi nhảy xuống guờng chạy ra khỏi nhà. Tiếng tên Được gọi theo:” Đừng chạy, tau bắt đưa về công an phường bây giờ”. Nhưng tôi vẫn chạy, chạy qua bao nhiêu con hẽm trong xóm, chạy ra huớng biển và thẳng đến bến ghe chài.
 Tôi ngồi tựa lưng vào cái thúng chài trên bờ. Trước mặt tôi một màu đen mênh-mông, tiếng gió hòa cùng tiếng sóng biển tạo ra một âm thanh kỳ bí làm tôi sợ hãi. Tôi ngồi chờ anh hai tôi trở về bến. Tôi không dám quay trở về nhà, tôi phải trốn tên công-an Được.
Bỗng có tiếng chân người đi ven mé biển trước mặt tôi, càng lúc càng nhiều.Tiếng thì thầm thúc dục mà mang âm điệu sợ hãi. Tiếng trẻ con khóc, tiếng “xuỵt xuỵt ” bảo im lặng. Tiếng gọi tên nhau thì thầm. Tôi nghe tiếng máy nổ của một chiếc ghe từ xa càng lúc càng gần. Ở quanh tôi, đám đông đã đi lên hết trên cầu tàu.
 Chiếc ghe đã cập cầu bến cá. Mọi người lần lượt lên ghe…Tôi nghe tiếng một người đàn ông hỏi:
– Bà con lên hết chưa? Đếm xem đủ người của mình chưa? Nhanh lên! để ghe rời bến, nhanh lên! nhanh lên! công an nó đuổi tới nơi bây giờ!” Tôi bủn rũn khi nghe mấy tiếng “công-an đuổi đến bây giờ”, tôi nhớ đến lời của tên Được: “Tau bắt đưa về công-an phường bây giờ! “Sợ hãi, tôi leo nhanh lên cầu tàu. Một người chạy đến túm lấy tôi ném lên ghe: “Còn một đứa nhỏ, con ai đây? ..xong rồi! mở máy cho ghe chạy đi, trời bắt đầu sáng rồi.”
 Trong ghe tối đen, tôi không nhìn thấy ai là ai. Một người lay tôi dậy. Trời đã sáng. Mọi người ngồi ép vào nhau.Vài người lao nhao hỏi tôi: “Cháu là con ai vậy? Tên là gì? Đi với ai?. Tôi chỉ khóc, không biết trả lời như thế nào. Một bà dang tay ra ôm và an ủi tôi. Tôi nói với bà: “Con chờ anh con đi theo ghe đánh cá trở về..rồi một người nào đó ném con lên ghe này khi ghe bắt đầu chạy”.
 Buổi chiều hôm đó, mọi người được chủ ghe cho phép lần lượt ra khỏi lòng ghe để thở chút gió mát. Quanh tôi, biển mông mênh không thấy đâu là bờ.Tôi nhớ đến anh hai tôi, nhớ ba mẹ tôi, nhớ gia đình bác Hội, nhớ mọi người trong xóm.
Tôi nghe hai người đàn ông nói chuyện với nhau:
– Chuyến này như vậy là thành công, hai lần truớc bị bắt khi ghe vừa rời bến, nhưng lần nầy thì mình thoát, ghe đang chạy vào hải phận quốc tế rồi. ..”
 Hai ngày sau ghe bị đột ngột chết máy, phải thả bồng bềnh trên biển. Trong lúc nguy khổn, may sao ghe được một tàu hàng Do-Thái đi ngang cứu, và chúng tôi được đưa đến trại tỵ nạn cọng-sản ở đảo Galang của nước Nam-dương.
 *********
Tôi được một gia-đình người Pháp gốc Do-Thái nhận làm con nuôi, định-cư tại Tel-Aviv sau mấy tháng sống tại tỵ-nạn Galang.
Hôm xuống tàu để sang Singapour, những người tỵ-nạn còn đang bị tạm lưu lại đảo, tụ tập ngoài cầu tàu để tiễn những người được định cư, đi đến các nước đã nhận cưu mang họ. Con tàu xa dần bến, người đưa tiễn khuất dần trong tầm nhìn. Nỗi cô-đơn ngập trong tôi, tôi cảm nhận kể từ phút đó, tôi mất tất cả những gì gọi là hình bóng Viêt-Nam.Tôi gục đầu vào thành tàu, nghe những thổn thức tràn ngập trong lòng. Tôi khóc.
 *******
 Ba mẹ nuôi nguời Do-Thái của tôi không có con. Họ đã có hai người con nuôi trước khi nhận tôi. Ba nuôi tôi có một nông trại trồng cam còn mẹ nuôi tôi là một giáo sư ngôn ngữ học. Hai người anh của tôi là một người da màu, gốc Madagascar còn nguời anh kia gốc Ai-cập.Trong ba người, tôi nhỏ tuổi nhất, kém người anh cả tám tuổi, kém người thứ hai năm tuổi.
 Chúng tôi được nuôi ăn học đàng-hoàng, sống rất hòa thuận và đều theo Do-Thái giáo. Bà mẹ nuôi tôi hay than với tôi: “Đất nước của con sao mà nhiều thống khổ quá! chỉ tội cho người dân. Con cố học hành và đừng quên tiếng Việt, sẽ cần cho con sau nầy khi con muốn tìm về cội nguồn.”
 Khi tôi lên trung học, mẹ nuôi tôi bắt đầu dạy tôi học tiếng Việt. Trong những giờ dạy tiếng Việt, bà yêu cầu tôi kể những gì liên quan đến gia đình tôi mà tôi còn nhớ được.Tôi kể bằng tiếng Việt gia đình và về hoàn cảnh của tôi. Mẹ tôi đã ghi lại trên giấy và vào buổi cơm tối ngày hôm sau bà đọc lại cho mọi người trong gia-đình cùng nghe bằng tiếng Do-Thái. Sự việc nầy kéo dài hàng năm cho đến lúc tôi không còn nhớ gì thêm để kể lại. Sau này những lúc chỉ có hai người, mẹ nuôi tôi thường nói tiếng Việt với tôi. Bà bảo đã hai lần đi Việt-nam, tìm đến những nơi mà tôi đã kể cho bà nghe để tìm tin tức gia-đình tôi nhưng vô hiệu. Có lẽ trí nhớ và số tuổi nhỏ của tôi đã không kể lại đủ chuyện gia-đình cũng như nơi chốn  gia-đình tôi sinh sống trước đây cho bà nghe.
 Sau khi tốt nghiệp đại-học, tôi được học bổng của trường đại học Sorbonne Pháp để học tiếng Pháp tại Paris. Một hôm đang ăn trưa tại một tiệm phở thuộc khu phố người Việt quận 13, một bác phục vụ nhà hàng lại bàn nói chuyện với tôi.  Bác hỏi thăm và cho biết bác cũng là người gốc quận ba Đà-nẵng trước đây. Bác và gia-đình vượt biển sau khi thành-phố Đà-nẵng bị mất vào tay Cộng-sản. Bác khoe có trở về Đà-nẵng vài lần, nên bác cho biết các sự đổi thay và chỉ dẫn tôi cách tìm đường về nơi tôi đã đuợc sinh ra và lớn lên. Bác khuyên tôi nên về Đà-nẵng một chuyến để tìm lại gốc gác gia đình.
 ********
Tôi đi dạy được hai năm thì cưới vợ và rồi có hai con, một trai một gái. Khi đứa con trai đầu của tôi được tròn bốn tuổi, tôi mua cho nó một chiếc xe đạp nhân ngày sinh-nhật của nó. Khi đem chiếc xe về nhà, kỷ niệm của ngày xa xôi ở quê nhà trở về …tôi nằm trên võng nghe mẹ tôi đọc lá thơ của ba tôi viết từ chiến trường…ba hứa khi về nhà sẽ mua cho tôi chiếc xe đạp mừng sinh-nhật …nhưng rồi mơ uớc đó không bao giờ đến.
Nhìn con trai tập đạp xe, tôi ứa nước mắt, bùi ngùi nhớ lại tuổi thơ của mình, tội nghiệp cho thằng bé là mình hai chục năm trước. Tôi tự hỏi nếu ngày đó tôi có được chiếc xe, không biết tôi có những cử chỉ vụng về, loạng quạng khi tập đạp xe như con tôi bây giờ?
Tôi hay nói với vợ tôi,”Cho đến tuổi nầy, anh chưa bao giờ bước lên yên xe đạp”. Vợ tôi an ủi: “Anh lại trở về với quá khứ rồi, hãy quên đi!”
Tôi chỉ biết thở dài…Làm sao mà quên được!
 ********
Mùa hè năm 2010, mẹ nuôi tôi khuyên tôi nên trở về Đà nẵng tìm thăm tin-tức gia-đình. Nếu tôi tìm được, bà định sẽ đem hết đại gia đình cùng đi với tôi trong một chuyến đi sau.
 Tôi về đến Đà-nẵng. Theo lời hướng dẫn của cô tiếp-viên khách-sạn và những chi tiết bác đồng-hương tại một nhà hàng bên Pháp cho biết năm nào, tôi tìm đuờng ra bờ sông Hàn rồi tìm phà qua sông. Bến phà này mấy mươi năm trước anh hai đã đưa tôi qua lại mấy lần để đến bịnh-viện bán máu lấy tiền mua gạo. Mọi vật đã đổi thay, phà đã ngừng đưa khách, chiếc cầu mới đã được bắc ngang hai bờ sông. Bác xe ôm lớn tuổi chở tôi chạy vòng qua bao nhiêu khu phố mà ở cái tuổi tôi thời ấy chưa có, bây giờ các khu phố đã mọc lên che lấp những bờ dương và bãi cát cùng sóng biển.
Tôi ra đi ở cái tuổi lên năm, chưa có ý-niệm gì về tên làng, tên xóm, tên phường, tên con đường hẻm chạy qua trước nhà….nên bao nhiêu năm qua tôi không thể nào liên lạc đuợc về nhà cũ, quê hương dường như đã chết trong tôi.Tôi nhờ bác lái xe ôm hỏi thăm và đưa tôi đến nơi có bến ghe cá mấy mươi năm trước. Tôi hy vọng từ đó tôi sẽ tìm ra nhà cũ của ba mẹ tôi. Bác lái xe ôm đã đưa tôi đến bến ghe cá cũ, nhưng nay chỉ còn cái tên  của ngày trước vì bến đã dời đi nơi khác, thay vào đó là một khách-sạn đã được xây lên cùng những ngôi nhà cao tầng.Tôi hỏi thăm nhà ba mẹ tôi, hỏi thăm nhà bác Hội, hỏi thăm tên anh hai tôi, mọi người đều lắc đầu, trả lời với một giọng nói có âm sắc cao và sắc mà tôi chưa hề được nghe khi còn thuở thơ ấu.
 Lòng nặng chĩu và thấy lạc-lõng, tôi rưng rưng muốn khóc. Cả buổi trưa tôi lang-thang, từ khu nầy qua khu khác, áo đẫm mồ hôi, tôi đứng tựa vào một tường nhà có bóng mát tránh nắng.Tôi đã định quay trở về khách sạn nghỉ và sẽ tiếp tục trở lại khu nầy ngày hôm sau. Bỗng tôi nghe có tiếng ve sầu vang lên đâu đây nghe thật buồn não. Ngày xưa trong xóm chỉ có nhà tôi có cây phượng vĩ. Mùa hè hoa nở đỏ rực, lũ ve sầu từ đâu đến buông tiếng kêu râm ran và rầu rĩ, như ru tôi ngủ trong những buổi trưa hè nóng bức.
Khi có cơn gió mạnh, những cánh phượng rơi lả tả xuống sân nhà, mẹ tôi cầm chổi quét. Một lần tôi nghe mẹ tôi phàn nàn với ba tôi: “Anh ơi, hãy đốn cây phượng làm củi cho rồi. Ngày nào cũng quét hoa và lá rụng, mệt quá”.  Ba tôi cười trả lời: “Cây phượng nầy do ông nội trồng để tưởng nhớ bà nội sau khi bà nội chết, bà nội mấy đứa nhỏ tên Phượng, mình không đốn cây được đâu.” Tôi lần đi về hướng có tiếng ve rền-rĩ…màu đỏ của hoa phượng chan hòa trước mắt tôi: một cây phượng to lớn im lìm dưới nắng chói chang…Tôi dừng chân bên cây phượng được trồng ngay bên cổng vào một căn nhà…
 Tôi nhìn kỹ, hình ảnh ngôi nhà xa xưa của tôi hiện ra rõ ràng trong trí nhớ. Tôi đã tìm ra được nhà tôi. Hàng hiên không có gì đổi thay, tất cả còn nguyên như cũ.Tôi lặng nguời vì vui mừng. Lòng hồi hộp nhưng cố giữ bình -tĩnh, một lát sau, tôi gọi vọng vào bên trong:
– Có ai trong nhà không, cho tôi hỏi thăm? ”
Tôi gọi đến lần thứ ba thì cánh cửa nhà hé mở, một đứa bé trai bước ra nhìn tôi rồi vội quay vào đóng cửa lại.Tôi kiên nhẫn chờ. Cánh cửa lại mở, một người đàn ông râu tóc bạc phơ chống nạng bước ra. Tôi nhận ra ngay bác Hội ngày xưa của tôi. Bác già quá nhiều. Bác chống cây nạng gỗ mà người cứ run run. Bác lấy tay che trán nhìn tôi. Tôi bồi-hồi, xúc-động nói lớn:
– Bác Hội còn nhớ con không? Con là Tấn em đây. Bác đi khập khiễng ra cổng, giọng lắp bắp:
– Tấn em hả? con còn sống hả? Trời ơi! con còn sống hả?.. Vào đi, vào đi con.
Hai bác cháu loạng choạng ôm nhau, cả hai cùng khóc, khóc vì mừng gặp lại nhau và khóc cho thân phận của mỗi người và thân phận của nhau. Tôi theo bác vào nhà, đưa mắt nhìn quanh, vội hỏi bác:
– Ba mẹ cháu đâu? anh hai cháu đâu bác?” Bác khựng lại rồi nói:
– Chuyện còn dài, rồi bác sẽ kể lại cho con nghe. Con ngồi nghỉ cho khỏe đã!
 *********
Và bác kể:
“Ngày mẹ con đi Huế tìm thăm ba con bị thương ở Quảng-Trị và được đưa vào điều trị tại bịnh-viện Huế đến nay, bác chỉ nghe bạn đồng đội của ba con kể lại. Khi mẹ con ra đến bịnh viện thì ba con đã bị chính quyền mới của Cộng-sản đuổi ra khỏi bịnh viện cùng với các đồng đội khác cũng bị thương. Những người thương-binh và các nguời nuôi bệnh cùng cảnh này tụ-tập sống dưới chân cầu Tràng-tiền, nhờ vào sự giúp đỡ của dân chúng. Sau đó họ dìu dắt nhau theo quốc lộ 1 trở về Đà-nẵng, ngày xin ăn, tối ngủ bờ ngủ bụi.
Khi đến Cầu-Hai thì ba con kiệt sức vì vết thương làm độc nên chết tại đây. Sau khi được dân Cầu-Hai giúp chôn cất ba con xong thì ngày hôm sau mẹ con, lúc đó cũng đau yếu, thất thểu đi một mình trên đuờng vào Đà Nẵng. Rồi từ ngày ấy đến nay, không ai biết tăm tích của mẹ con ở đâu nữa. Chắc là chết ở đâu rồi, vì nếu còn sống mẹ con thế nào cũng tìm về nhà ở Đà nẵng với hai anh em con.”
 Tôi gục đầu xuống bàn, thổn thức. Giọng bác đều đều:
” Khi con mất tích, anh hai con, gia-đình bác cùng bà con lối xóm ngày đêm tìm kiếm hoài không ra. Anh hai con buồn lắm, sống như một cái bóng thui thủi trong căn nhà này – bác nhìn quanh nơi bác và tôi đang ngồi-. Ba năm sau, anh hai con đến tuổi “thi hành nghiã vụ quân sự” thì bị đưa qua chiến trường Campuchia. Chỉ sáu tháng sau, địa phương báo cho bác biết anh hai con đã tử thương. Người ta hứa sẽ đưa xác về, nhưng đó chỉ là lời hứa suông thôi, không bao giờ có xác về.
Bác đã lấy một mảnh đất sau vườn nhà con xây một ngôi mộ nhỏ, lập bia chung cho cả ba người, ba mẹ con và thằng Tấn anh của con.  Hằng ngày bác thắp nhang cho linh hồn ba mẹ con và anh hai  con khỏi lạnh lẽo. Còn riêng phần con, bác nghĩ là con không chết, có lẽ con đã đi lạc đến một nơi nào đó, có người đem về nuôi, một mai khôn lớn con sẽ tìm ra gốc gác gia đình để trở về.. Anh hai con cũng có ý nghĩ như bác nên trước ngày bị đưa đi Campuchia, anh con đã giao hết giấy tờ nhà đất cho bác giữ hộ và dặn:”Nếu con có mệnh hệ nào thì xin bác giao lại cho thằng Tấn em con.” Bác giữ đã lâu mà vẫn không có tin tức gì của con, bác sợ chính quyền sẽ tịch thu căn nhà nên bác đã xoay sở sang tên ngôi nhà cho bác, nhờ vậy, cái nhà vẫn còn. Nay con trở về, bác sẽ giao nhà lại cho con.
 Tôi theo bác ra sau vườn, ngôi mộ nằm bên một góc vườn. Mộ bằng xi-măng, sạch sẽ. Tôi đọc tên ba, mẹ và anh hai tôi ghi trên mộ bia. Tôi quỵ người xuống, gục đầu vào thành bia, nước mắt trào ra. Lòng tê tái, tôi đau đớn nghĩ đến cha mẹ, đến anh hai tôi và tự xót thuơng cho thân phận mình mồ côi, cô độc, tìm ra gốc gác gia đình chỉ để nhận thêm một sự thực rằng truớc sau gì tôi vẫn không còn cha mẹ, anh em, không có ai là người ruột thịt…đến lúc bác Hội nắm tay kéo tôi đứng lên, đèn trong nhà bác đã thắp sáng.
 Ngày hôm sau, tôi vẫn giữ căn phòng ở khách-sạn nhưng về sống với gia-đình bác Hội. Một hôm bác đưa tôi dạo quanh xóm cũ, phần lớn dân cư tù nơi khác đến.Tình cờ ngang qua một tiệm sửa xe, tôi gặp Hiền, người bạn cùng học lớp mẫu giáo với tôi ngày xưa. Hai đứa nhận ra nhau. Cả hai bồi hồi, xúc-động. Bằng tuổi tôi nhưng Hiền mang dáng dấp của một ông lão. Ba của Hiền, ngày xưa là Trung-úy của quân lực Việt Nam Cọng-hòa. bị chính-quyền mới bắt đi tù cải-tạo ở Trung–phước rồi chết tại đó.
Vì có lý-lịch con của “ngụy” nên Hiền không tìm được công ăn việc làm, nên đành lấy hiên nhà làm tiệm sửa xe từ mấy chục năm nay. Con cái học hành không tới đâu, nhà quá nghèo.Vợ cũng phải phụ chồng sửa xe. Bất chợt cơn mưa rào chợt đến. Hiền vội vã tìm thau và chậu để hứng nhưng cả tiệm sửa xe vẫn tràn đầy nước từ trên mái đổ xuống. Hiền nói: “Cái nhà đã ‘rệu’ từ chục năm nay, không tiền để sửa, bây giờ lo cái ăn cho gia-đình khỏi đói là đủ mệt rồi”.
Tôi nghe mà lòng bỗng dưng cồn-cào như bị cái đói ngày xưa hành hạ, cái đói mà anh Hai tôi phải bán máu, chất dinh dưỡng cơ thể để đổi lấy cái ăn mà sự dinh-dưỡng cơ thể đang cần…một cái vòng lẩn quẩn khốn-nạn của nhu cầu sinh tồn.
 Buổi chiều truớc ngày từ giã gia-đình bác Hội để về lại Do-Thái, bác cùng tôi ngồi tâm-sự trong phòng khách. Bác kể lại tình bạn giữa bác và ba tôi, kể đến đâu, bác thở dài đến đó, bác ngậm ngùi nhớ đến kỷ niệm của một thời đã qua.Tôi tựa đầu vào thành ghế, tai chăm chú nghe nhưng mắt lơ đãng nhìn lên trần nhà. Tôi hướng mắt về phía cái kèo nhà có cái khe nứt, sực nhớ lại chuyện ngày trước bác Hội đã thúc hối anh hai tôi tháo cờ ba sọc đỏ dấu đi….anh hai tôi đã leo cột nhà đem dấu vào chỗ khe nứt đó…bỗng nhiên tôi đứng lên đi vòng vòng trong phòng khách, mắt cứ nhìn chăm chăm vào khe nứt trên kèo nhà. Có lẽ bác Hội ngạc nhiên nên hỏi tôi:
– Con tìm cái chi rứa?
Tôi trả lời:
– Bác còn nhớ,ngày xưa khi cộng sản vào thành phố, bác thúc anh hai con đem cây cờ ba sọc đỏ giấu đi và anh Hai con đã đem lá cờ giấu vào cái lỗ đó”, tôi vừa nói vừa chỉ tay lên lỗ nứt trên kèo nhà. Bác Hội “ờ” lên một tiếng rồi nói “thằng ni nhớ dai ghê, như vậy thì nó còn ở đó; từ đó cho tới ni, chỗ đó không ai động đến, mà lâu quá không biết lá cờ có mục có nát không?”
Nói xong bác tiến đến cửa lớn nhìn ra ngoài và nói với vẻ thận trọng:
– Sắp nhỏ chạy chơi đâu hết rồi, con muốn xem cái đó thì leo lên xem thử.
Nói xong bác khép cửa lại, gài chốt ngang.Tôi đã định xin phép bác leo lên xem thử lá cờ còn đó không, thì nghe bác khuyến khích làm tôi vừa sung-sướng vừa hồi hộp. Tôi đang loay hoay tìm cách leo lên cây cột (nhà xây theo kiểu xưa, có nhiều cột) thì bác đẩy cái bàn đèn sát cây cột nhà rồi để thêm cái ghế lên trên bàn, bác nói:
– Làm như thế ni leo dễ hơn!
Tôi thận trọng bước lên bàn, bước lên ghế, dùng hai tay đu lên sà nhà. Tôi chợt nhớ đến anh hai tôi, hồi đó anh leo lên cột sao dễ dàng và nhanh nhẹn như sóc vậy.
Tôi thọc tay vào khe hở bên kèo nhà, tay chạm vào một vật mềm mềm, kéo ra, một cuộn vải màu vàng đã phai màu..Tôi nói với bác Hội:
– Nó còn đây bác ơi!. Tôi ném cuộn vải màu vàng xuống cho bác. Bác nhặt cuộn vải  lên, mở ra, tay giũ giũ mấy lần, lá cờ ba sọc đỏ hiện ra trước mắt tôi…tôi nghe bác nói:
– Còn nguyên si, chỉ bạc màu chút thôi. Tôi tuột xuống đứng bên bác. Bác trùm lá cờ lên đầu bác. Tôi nghe bác hít…mấy cái rồi bác lặng yên, chừng một phút sau bác lấy lá cờ ra khỏi đầu. Tôi nhìn thấy hai mắt bác đỏ và long lanh nước. Bác trao lá cờ cho tôi giữ và mở cửa đi ra ngoài rồi quay lại với một lọ thủy tinh trên tay, bác nói với tôi:
– Con cuộn lá cờ lại bỏ vào cái lọ ni, đem ra chôn bên mộ của ba con, ba con chết không có ai phủ cờ, mình nay đem chôn cạnh ba con như rứa ba con cũng ấm lòng.
Tôi cuộn lá cờ cho vào lọ, đậy nắp lại. Bác và tôi cùng đi ra ngôi mộ sau vườn. Bác dùng con dao chẻ củi đào một cái lỗ trên đầu mộ, tôi để cái lọ vào đó và bác lấp đất lại.Tôi nghe giọng bác thì thào như nguời tâm sự:
– Tổ quốc chưa kịp ghi ơn em thì Tổ quốc đã mất.Tổ quốc chỉ còn một chút nầy, em mang theo để sống với kỷ niệm của một giai đoạn lịch-sử…và biết đâu Tổ quốc sẽ sống lại với con cháu của chúng ta sau nầy.
Chiều hôm đó tôi từ giã gia-đình bác Hội.Trên đường đi từ trong nhà bác ra đường lớn đón xe để về khách-sạn, bác nhắc tôi:
– Con nhớ đừng quên giúp đỡ Hiền, thằng bạn của con. Nó cần sửa lại căn nhà dột nát của nó, không biết cả đời nó có tiền sửa được không. Tôi nói:
– Bác yên tâm, con sẽ giúp tận tình, con sẽ chuyển tiền về cho bác để bác đưa cho Hiền. Nếu không đủ con sẽ chuyển thêm cho đủ.
Tôi lại nói với bác:
– Dường như cả đời, bác đã lo hết cho gia đình ba mẹ con và anh em con, con nhớ ơn bác vô cùng. Nay bác có tuổi rồi,bác nên quan tâm cho sức khỏe bác nhiều hơn”.
Bác nắm chặt tay tôi hỏi:
– Còn ngôi nhà của ba mẹ con, con tính sao đây?  Nay con còn đó, bác tiếp tục giữ nhà thì lòng bác ngại quá..! Tôi trả lời trong nghẹn ngào:
– Tình cảm và công ơn bác dành cho gia-đình con như trời biển, có một trăm ngôi nhà như vậy cũng không thấm vào đâu đối với tấm lòng của bác… Con chưa bao giờ có một ý nghĩ nào về ngôi nhà đó là của ba mẹ con hay của con. Nó là của bác… nó là của bác. Bác nên lo cho Bác nhiều hơn! 
******* 
Thay vì đi máy bay từ Hà-nội thẳng về Do-thái, tôi đổi vé đi Paris. Nước Pháp có vài ngôi chùa Việt-nam còn bên Do-thái không có.
Tôi tìm đến một ngôi chùa ở ngoại ô Paris để xin lập bài-vị thờ ba mẹ và anh hai tôi theo như lời bác Hội khuyên.
Vị-sư trụ trì chùa tiếp tôi sau chánh điện, hỏi:
Anh cho biết tên thân-sinh của anh.
Tên cha?
Đoàn-minh-Tiếng.
Ngày và năm sinh?
Dạ, thưa thầy con không biết.
Ngày và năm chết?
Dạ, thưa thầy con không biết.
Pháp-danh?
Dạ, thưa thầy con không biết.
Vị sư trụ trì nhìn tôi với đôi mắt khác thường, rồi lắc đầu:
Ngày sinh, tháng đẻ của cha anh mà anh không biết, lạ thật!
Vậy tên của mẹ anh là gì?
Nguyễn-thị kim Ngân.
Ngày và năm sinh?
Dạ, thưa thầy con không biết.
Ngày và năm chết?
Dạ, thưa thầy con không biết.
Pháp-danh?
Dạ, thưa thầy con không biết.
Vị sư trụ trì đứng dậy đi tới đi lui rồi nhìn tôi với đôi mắt nheo lại như nghi ngờ tôi đang đùa với ông một cách không nghiêm chỉnh.
Sư lại ngồi xuống, hỏi tiếp:
Anh còn muốn lập bài vị cho ai nữa không?
Dạ, còn người anh.
Tên gì?
Đoàn-tấn Anh.
Ngày sinh và năm sinh?
Da, thưa thầy con không biết.
Ngày chết và năm chết?
Dạ, thưa thầy con không biết.
Pháp-danh?
Da, thưa thầy con không biết.
Thầy trụ trì ném cây bút xuống bàn rồi niệm Phật:
“Nam mô A-di-Đà-Phật”
Thầy thở dài hỏi tôi:
Anh muốn lập bài vị để thờ người thân trong chùa mà không nhớ ngày sinh tháng đẻ, ngày chết, Pháp-danh thì chùa làm sao cúng kiến cầu siêu được?
Dạ thưa thầy, con lạc gia-đình cha mẹ và anh con từ lúc năm tuổi nên con không biết ngày sinh tháng đẻ, ngày chết cũng như Pháp-danh của họ.
Sư trù-trì nhìn tôi, chấp hai tay lại niệm:
“Nam-mô A-di-Đà-Phật.”
Tôi gục đầu xuống bàn.
Một bàn tay của thầy để trên vai tôi.
Nguyễn đại Thuật
Viết trong tháng tư buồn.
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 16

Chiếc khăn mu-soa


“…Huê nói: “Khăn này cô thêu tặng cho ba của con, nhưng không có duyên nên khăn lại trở về. Bây giờ, cô tặng cho con để kỷ niệm ngày cô cháu mình gặp nhau.” …

chiec-khan-tay
 
Hôm đó, tôi nhận được một CD gởi từ Bruxelles, nước Bỉ, trên CD thấy đề: “À Monsieur Tiêu Tu ». Chữ viết bằng bút feutre rõ nét, nói lên người viết có trình độ. Tuy viết “Tiểu Tử » không có dấu, người gởi viết tên của mình lại có dấu đầy đủ: “Exp: Nguyễn Thị Sương”!

Vừa ngạc nhiên vừa thích thú, tôi vội vã đặt dĩa vào máy, nghe. Đó là giọng một người con gái miền Nam, trong trẻo, phát âm rõ ràng. Những gì cô ta nói đã làm tôi xúc động, có lúc tôi ứa nước mắt! Tôi đã nghe nhiều lần và cố gắng ghi chép lại đây. Dĩ nhiên là tôi đã viết để đọc cho suông sẻ chớ cô gái nói còn nhiều chỗ nghe sượng hay dùng chữ chưa chính xác…:

…Thưa ông,  Con tên Nguyễn Thị Sương, con của Nguyễn  Văn Cương, một trong những nhân vật trong truyện ngắn “Con Rạch Nhỏ Quê Mình » của ông.
Thưa ông. Con sanh ra và lớn lên ở Pháp, biết nói tiếng Việt nhưng đọc và viết tiếng Việt còn  rất yếu. Vì vậy, con phải dùng cách này để liên lạc với ông. Xin ông thông  cảm! 

Hôm chúa nhựt rồi, chị Loan bà con bạn dì của con ghé nhà nói: “Sương ơi! Người ta nói về ba của Sương ở trong truyện ngắn đăng trên internet cả tuần nay nè! Chị in ra đem qua đây đọc cho em nghe.” Rồi chỉ đọc. Đó là truyện “Con Rạch Nhỏ Quê Mình”

Thưa ông. Con chưa biết Việt Nam, nhưng những gì ông tả trong truyện làm như con đã thấy qua rồi! Bởi vì hồi con mới lớn ba con thường hay kể chuyện về cái làng Nhơn Hòa và con rạch Cồn Cỏ của ba con, về những người bạn của ba con hồi thời tuổi nhỏ, kể  tỉ mỉ đến nỗi con có cảm tưởng như ba con đang cầm tay con dẫn đi coi chỗ này  chỗ nọ (nói đến đây, giọng cô gái như  nghẹn lại vì xúc động. Ngừng mấy giây rồi mới nói tiếp… ) Mà ba cứ kể đi kể lại hoài làm như là những hình ảnh đó nó ám ảnh ba dữ lắm. Sau này thì con mới hiểu khi ba con nói: “Hồi đó, ba đi Pháp quá sớm, ở cái tuổi chưa biết gì nhiều.

Rồi qua đây, chóa mắt ngất ngây với những văn minh tiến bộ của xứ người làm ba quên đi cái làng nhà quê của ba. Điều ân hận lớn nhứt của ba là đã không viết  gởi về một chữ để hỏi thăm bạn bè hồi đó. Ba phải về thăm lại Nhơn Hòa Cồn Cỏ, con à!” Nói đến đó, ba ứa nước mắt nắm bàn tay con dặc dặc: “Mà con cũng phải về với ba nữa! Về để cho ba lên tinh thần! Về để thấy ba biết xin lỗi mọi người! Về để thấy ba biết nhìn lại cái quê hương của ba cho dầu nó có quê mùa xấu xí bao nhiêu đi nữa! Về để thấy ba chưa đến nỗi là thằng mất gốc!” (đến đây, không còn nghe gì nữa!) Xin lỗi ông! Con đã ngừng thâu để con khóc (rồi giọng cô lạc đi) Con thương ba con! (ngừng một lúc)

Thưa ông. Ba má con đều là giáo sư toán, dạy ở lycée. Má con mất hồi con mười tuổi. Bây giờ con làm chủ một tiệm sách ở Bruxelles, ba con dạy ở cách nhà không xa lắm.

Một hôm, ba nói: “Ba được một  thằng bạn học hồi ở đại học, người Phi Châu, mời qua xứ nó giúp tổ chức lại hệ  trung học. Ba đã OK”. Rồi ba đưa cho con một phong bì loại A4, nói: “Con rán  tìm cách về Nhơn Hòa Cồn Cỏ, trao cái này cho cô Hai Huê nói ba không quên ai hết! “Con nhìn thấy trên phong bì ba viết: “Mến trả lại Huê, kỷ vật của thời tuổi nhỏ. Cương.” Vậy rồi ba qua Phi Châu làm việc rồi mất ở bển trong mấy trận nội chiến (chắc ngừng thâu ở đây nên không nghe gì nữa).

Thưa ông. Nhờ nghe đọc “Con Rạch Nhỏ Quê Mình” mà con biết được mối  tình một chiều của cô Hai Huê, biết được cái khăn mu-soa mà cô Hai đã thêu tặng ba con thuở thiếu thời. Cái khăn đó, bây giờ thì con biết nó đang nằm trong phong bì A4 mà con đang giữ để trả lại cô Hai.

Và bây giờ thì con thấy thương cô Hai vô cùng và cũng thấy tội nghiệp ba con vô cùng (chỗ này giọng cô gái lệch đi, ngừng một  chút mới nói tiếp). Con nhờ ông giới thiệu con cho bác Sáu Lân, người đã kể chuyện để ông viết về Nhơn Hòa Cồn Cỏ. Con sẽ xin bác Sáu đưa con về đó để con làm theo lời dặn của ba con…

Địa chỉ và số phôn của con như sau:
Melle Nguyên
…… ……………………
Con cám ơn ông.
Con: Sương
*****
Nhớ lại, cách đây khá lâu, một thằng bạn ở Marseille, miền Nam nước Pháp, gọi điện thoại lên Paris cho tôi, nói: “Dưới này trời tốt, mầy xuống chơi,  đi câu với tao. Sẵn dịp, tao giới thiệu mầy cho một ông bạn mới từ Việt Nam qua  định cư ở đây. Tao có khoe với ổng là mầy viết lách khá lắm. Ổng nói ổng muốn  nhờ mầy viết một chuyện nhỏ ở dưới quê của ổng để ổng tìm một người bạn. Tao thấy coi bộ ngộ à! Xuống, đi!” Vậy rồi tôi đi Marseille. Sau đó, tôi viết “Con rạch nhỏ quê mình” với câu gởi gắm của ổng: “Tôi nhờ ông viết lại giùm. Biết đâu chừng thằng Cương sẽ đọc. Để nhắc nó đừng quên con rạch Cồn Cỏ, đừng quên thằng Đực Nhỏ, thằng Lân, con Huê…”

Sau khi nghe CD và ghi chép lại, tôi gọi điện thoại xuống Marseille thì thằng bạn tôi cho hay là ông Lân đã dọn về ở ngoại ô Paris, cách đây mấy  năm. Nó cho tôi địa chỉ và số điện thoại của ổng. Vậy rồi ổng và tôi gặp nhau. Tôi kể sơ câu chuyện và đưa cho ổng mượn cái CD. Tôi thấy ổng rơm rớm nước mắt  khi nghe tôi nói làm tôi cũng xúc động: người đàn ông hiên ngang, xông xáo trong  trận mạc, gan lỳ đến nỗi mang hỗn danh “thằng Lân ăn pháo”… vậy mà bây giờ cũng  biết ứa nước mắt khi nhận được tin thằng bạn không bao giờ gặp lại!
Khi chia tay, ổng nói: “Cám ơn ông! Nhờ có bài viết của ông mà hôm  nay tôi mới có tin của thằng Cương! Tôi sẽ thay nó, đưa con gái nó về thăm Cồn  Cỏ! Và thắp cho nó ba cây nhang ở đầu vàm để vong hồn nó nương theo đó mà tìm  lại con đường về…”
*****
Hơn một tháng sau, ông Lân gọi điện thoại cho tôi nói ổng vừa ở Việt  Nam về, muốn gặp tôi để trả cái CD và để ổng kể chuyến đi này của ổng. Vậy là chúng tôi đã gặp nhau và tôi đã ghi những lời ổng kể…
 … Nhờ cái CD ông cho tôi mượn mà tôi liên lạc được con Sương.
Tội  nghiệp! Biết được là tôi gọi, nó khóc ồ ồ ở đầu dây bên kia! Sau đó, nó kêu tôi  bằng “Bác Sáu “, ngọt như tôi là bác ruột của nó vậy! Thấy thương quá!
Vậy rồi hai bác cháu tôi bay về Việt Nam. Ở Sài Gòn chúng tôi mướn một chiếc xe hơi có tài xế để về Nhơn Hòa Cồn Cỏ. Trên xe, tôi nói với con  Sương: “Ở Cồn Cỏ, ba của con không còn bà con gì hết, họ đã dọn lên tỉnh ở mấy  chục năm nay. Bây giờ, ba con chỉ còn có một người bạn thân…” Con nhỏ nói: “Cô  Hai Huê!” Tôi gật đầu ờ. Nó nói tiếp: “Cô Hai là người ba nhắc thường nhứt và ba hay thở dài nói ba có lỗi với cô Hai nhiều lắm! Thấy ba con như vậy, con cũng  nghe đau lòng, bác Sáu à!”. Thấy thương quá, tôi cầm bàn tay nó bóp nhẹ. Con  Sương nhìn cảnh vật bên ngoài nhưng vẫn để bàn tay nó trong lòng bàn tay tôi.
Ông biết không? Tôi không có con, bây giờ, trong cái cầm tay này, tôi bỗng cảm  thấy như thằng Cương vừa đặt vào tay tôi một đứa con. Trời Đất! Sao tôi muốn nói: “Sương ơi! Từ nay, bác Sáu sẽ thay ba con mà lo lắng bảo vệ con như con là con của bác vậy!” Nhưng thấy có vẻ cải lương quá nên tôi làm thinh!
Xe ngừng ở chợ Cồn Cỏ. Bác cháu tôi vô chợ nhà lồng đến sạp vải của  con Huê thì thấy một cô gái lạ. Cổ nói cổ là cháu kêu con Huê bằng dì và đến đây phụ bán vải từ mấy năm nay. Cổ nói: “Dì Huê có ở nhà, ông bà vô chơi! “
Chúng tôi đi lần theo con đường nằm dọc bờ rạch. Đường này bây giờ  được tráng xi-măng sạch sẽ. Tôi nói: “Nhà cô Hai có cây mù u nằm trước nhà cạnh bờ rạch, dễ nhận ra lắm!” Đến nơi, thấy còn nguyên như cách đây mấy chục năm:  cũng hàng rào bông bụp thấp thấp, qua một cái sân nhỏ là ngôi nhà xưa ngói âm  dương, kèo cột gỗ, ba gian hai chái với hàng ba rộng, một bên hàng ba có một bộ  ván nhỏ… Tôi hơi xúc động vì bắt gặp lại những gì của thời cũ. Chỉ có bao nhiêu đó thôi – nhỏ xíu – vậy mà sao gợi lại được vô vàn kỷ niệm! Tôi gọi lớn: “Huê ơi  Huê! “. Trong nhà chạy ra một người đàn bà tóc bạc nhìn tôi rồi la lên: “Trời  Đất! Anh Lân!” Tuy cô ta đang nhăn mặt vì xúc động, tôi vẫn nhận ra là Huê! Không kềm được nữa, Huê và tôi cùng bước tới nắm tay nhau vừa dặc dặc vừa nói “Trời Đất! Trời Đất!” mà không cầm được nước mắt! Một phút sau, Huê buông tay tôi ra quay sang con Sương, hỏi: “Còn ai đây?” Tôi nói: “Con Sương! Con thằng Cương!” Nó hỏi: “Còn anh Cương đâu?”. Con Sương thả rơi ba-lô xuống đất, bước lại phía con Huê, nói: “Ba con chết rồi, cô Hai ơi!”. Con Huê chỉ nói được có một tiếng “Chết” rồi xiêu xiêu muốn quị xuống. 

Con Sương phóng tới đỡ con Huê, nói: “Cô Hai ơi!” Rồi hai cô cháu ôm nhau khóc nức nở. Tôi đứng tần ngần một lúc mới bước lại đặt tay lên vai Huê bóp nhẹ: “Tại cái số hết, Huê à! Thằng Cương đang dạy ở bên Bỉ, mắc gì mà qua Phi Châu làm việc để rồi chết mất xác trong chiến tranh ở bên đó. Tại cái số hết! Phải chịu vậy thôi!” Con Sương dìu Huê lại ngồi ở bực thềm, vói tay mở ba-lô lấy phong bì  A4, nói: “Ba con gởi cái này cho cô.” Huê cầm phong bì, nheo mắt đọc rồi lắc đầu  nhè nhẹ: “Chắc là cái khăn mu-soa!” Huê xé phong bì lấy khăn ra cầm hai góc khăn  đưa lên nhìn: khăn còn thẳng nếp, chưa có dấu hiệu sử dụng! Huê nhăn mặt, đưa khăn lau nước mắt của mình rồi sang qua lau nước mắt của con Sương làm nó cảm  động nấc lên khóc. Huê nói: “Khăn này cô thêu tặng cho ba của con, nhưng không có duyên nên khăn lại trở về. Bây giờ, cô tặng cho con để kỷ niệm ngày cô cháu mình gặp nhau.” Con Sương cầm lấy khăn rồi ngả đầu vào vai Huê, nói: “Con cám ơn  cô Hai.” Huê vừa gật đầu vừa choàng tay ôm con Sương lắc nhè nhẹ như vỗ về đứa con!
Tôi bước ra bờ rạch ngồi cạnh gốc cây mù u đốt thuốc hút. Tôi thấy trên thân cây có đóng một cây đinh dài đã rỉ sét đen thui, vắt lên cây đinh là một cuộn dây dừa cũ mèm như muốn mục. Tôi nghĩ chắc con Huê nó làm như vậy, nó vốn nhiều tình cảm và giàu tưởng tượng. Nó có ý nói con thuyền ngày xưa đã bỏ bờ đi mất, nếu một mai có trôi về được thì cũng có sẵn dây để cột con thuyền vào gốc cây mù u…
Tôi đốt thêm một điếu thuốc rồi đặt lên cuộn dây dừa, vái lâm râm: “Cương ơi! Mầy có linh thiêng thì về đây hút với tao một điếu thuốc!” Tự nhiên,  tôi ứa nước mắt! Khi tôi trở vô nhà thì cô cháu tụi nó ngồi cạnh nhau trên bộ ván, nói  chuyện coi bộ tương đắc! Thấy tôi, Huê nói để vô làm cơm cùng ăn. Tôi từ chối vì phải về trả xe. Huê xin cho con Sương ở lại chơi với nó mươi hôm, còn con Sương thì hớn hở: “Bác Sáu đừng lo! Con về một mình được!” Tôi bằng lòng nhưng  đề nghị cùng ra đầu vàm thắp ba cây nhang cho thằng Cương. Con Huê vô nhà lấy nhang và một tấm ni-lông để ra đó trải cho ba người ngồi. Khi đi ngang cây mù u, con Huê bước lại gốc cây lấy cuộn dây dừa liệng xuống rạch, rồi phủi tay, đi!

Sau khi cúng vái ở đầu vàm, cô cháu nó đưa tôi ra xe. Nhìn tụi nó cặp tay nhau mà thấy thương quá, ông ơi!
*****
… Bây giờ thì cô Sương đã đem cô Huê qua Bỉ ở với cổ. Nghe ông Lân  nói hai cô cháu rất “tâm đồng ý hợp.”
Còn chiếc khăn mu-soa thêu thì ông Lân nói cô Sương đã cho lộng vào một khuôn kiếng rất đẹp treo ở phòng khách, ở một vị trí mà ai bước vào cũng phải thấy!
Tiểu Tử
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 18

Cho Ngày Lễ Mẹ

Mẹ tôi ra đi đã hơn 8 năm rồi, nhưng hình dáng Mẹ lúc nào cũng trong tim tôi. Những ngày như ngày Lễ Mẹ và ngày lễ Vu Lan tim tôi càng thổn thức, tôi nhớ Mẹ vô cùng… Phải chi giờ nầy Mẹ còn tại thế để con được phụng dưỡng Mẹ Cha.
Ngày xưa lúc Cha Mẹ còn sống con phải lo đi làm kiếm miếng cơm manh áo, suốt ngày để Mẹ cô đơn một mình, chỉ có ngày cuối tuần con mới được ở nhà cùng Mẹ. Bây giờ con đã nghỉ hưu, thời gian nhàn rỗi trống rổng, ước gì có Mẹ để phụng dưỡng và hủ hỉ những lúc buồn vui…
Người ta bảo mất Mẹ thì cài hoa Hồng trắng, tại sao phải phân biệt như vậy? Chỉ cái thân xác vật lý bị hoại mà thôii, nhưng linh hồn Mẹ vẫn vĩnh viễn tồn tại trong con, dù luân hồi hay về cõi Niết Bàn cũng thế, Mẹ vẫn mãi mãi trong con…
Con sẽ không bao giờ cài hoa hồng trắng vì Mẹ vẫn vĩnh viễn sống mãi trong con. Mẹ là tất cả những loài hoa tinh khiết, đơn giản, không bao giờ phai nhạt trong con .
Mẹ! Ngôn từ Mẹ ôi thiêng liêng, êm đềm và hạnh phúc quá…

 

Con xin tặng Mẹ nụ Hồng
Từ vườn con đã vun trồng nhiều năm
Hôm nay lễ Mẹ tháng Năm
Mong Mẹ vui hưởng, bình an Niết Bàn…

CD May-13-2018- Toronto

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 61

Trong Đêm Khuya

 

Varlam Shalamov sinh vào khoảng năm 1907 và mất ngày 17 tháng 1 năm 1982. Tác giả thường viết những truyện ngắn mô tả về cuộc sống trong các trại tù. Truyện được bí mật lưu truyền ở Liên Bang Sô Viết và sau đó được phổ biến rộng rãi tại phương Tây. Truyện sau đây được chuyển ngữ từ bản dịch tiếng Anh của John Glad với nhan đề “In The Night”.

Truyện của: Varlam Shalamov
Chuyển ngữ: Tâm Minh Ngô Tằng Giao

Bữa ăn tối vừa xong. Glebov chậm rãi liếm sạch cái chén rồi vét những mẩu bánh vụn trên bàn vào trong lòng bàn tay trái một cách lành nghề. Hắn không nuốt ngay. Hắn ngậm những mẩu bánh nhỏ xíu đó trong miệng lẫn với bao nhiêu nước miếng để rồi cảm nhận bánh một cách thèm thuồng. Glebov cũng chẳng có thể nói là bánh ngon hay không nữa. Vị giác là cái quái gì, đâu đáng  được mang ra để mà so sánh với cái khoái cảm của hắn lúc này. Glebov không vội vã nuốt bánh xuống làm chi, để yên đấy, bánh sẽ chầm chậm tan dần trong miệng và lẹ làng biến mất đi mà!

Cặp mắt sâu  hoắm của Bagretsov sáng lên và nhìn trừng trừng mãi vào miệng Glebov. Chẳng anh chàng nào có đủ nghị lực quay đầu đi mà không ngó chằm chằm vào miệng bạn mình khi cái miệng đó đang ăn. Glebov nuốt nước miếng xuống và Bagretsov lúc đó mới chịu lập tức quay nhìn ra phía khác, ra phía chân trời nơi mặt trăng vàng lớn đang lừng lững mọc lên.

“Tới giờ rồi!”, Bagretsov nói. Họ chậm rãi đi dọc theo lối mòn dẫn tới một tảng đá lớn và trèo lên khoảng đất trống nhỏ ven đồi. Mặc dù mặt  trời vừa mới lặn đây thế mà  mấy tảng đá đã lạnh ngắt rồi, chính mấy cái tảng đá này ban ngày nóng bỏng đến cháy cả gót chân trơ trụi của họ đi trong đôi dép cao su. Glebov cài nút áo khoác dày. Đi như vậy mà người cũng chẳng ấm lên được. Hắn hỏi khẽ: “Còn xa nữa không?” “Chút nữa thôi!”, Bagretsov thì thào trả lời. Họ ngồi xuống nghỉ. Họ chẳng có chuyện quái gì để nói hay để suy nghĩ cả. Mọi việc đều đã rõ ràng và đơn giản. Trong một chỗ đất phẳng phiu ở cuối cái bãi trống này là những đống đá mà người ta đã đào từ dưới đất lên để lẫn với rêu đã tróc ra khô queo.

“Tớ làm chuyện này một mình cũng dư sức mà!”, Bagretsov nở một nụ cười nhăn nhúm. “Nhưng hai đứa mình cùng làm thì vui hơn. Hơn nữa tớ lúc nào cũng coi cậu là bồ tèo…” Cả hai anh chàng đồng hội đồng thuyền này cùng được chuyển vào nơi đây mới năm ngoái thôi.
  
Bagretsov ngừng lại: “Cúi xuống không tụi nó trông thấy chúng mình đấy!”. Họ nằm xuống và bắt đầu liệng những cục đá sang một bên. Chẳng có cục đá nào quá to để đến nỗi phải cần hai người xúm lại khiêng vì những kẻ chất đá sáng nay cũng không khỏe gì hơn Glebov.
  
Bagretsov khẽ chửi thề. Hắn bị đứt tay và chảy máu. Hắn đắp chút cát vào vết thương, xé một miếng giẻ trên áo khoác và buộc vào chỗ bị thương nhưng máu vẫn cứ rỉ ra. “Máu loãng, khó đông!”, Glebov nói tỉnh khô. “Này! Bồ là bác sỹ đấy à?” Bagretsov hỏi, miệng mút vết thương.
  
Glebov lặng thinh. Cái thời mà hắn còn làm bác sỹ có vẻ như xa xôi lắm rồi, dường như không phải là chuyện có thực nữa? Luôn cả cái thế giới ở phía bên kia núi đồi, bên kia biển cả hầu như cũng không có thực nữa, nó mờ mờ mịt mịt như trong giấc mộng vậy. Chỉ còn những ngày giờ, những giây phút từ lúc ngóc đầu dậy bởi tiếng kẻng báo thức buổi sáng cho tới khi hùng hục “lao động” xong công việc hàng ngày mới là có thực mà thôi. Hắn chẳng muốn nghĩ ngợi gì thêm, chẳng còn hơi sức đâu để nghĩ. Mà cũng chẳng còn ma nào muốn nghĩ ngợi gì thêm nữa.
  
Hắn không biết được quá khứ của những người xung quanh, mà cũng chẳng muốn biết làm gì! Bởi thế nếu ngày mai đây cái anh chàng Bagretsov này mà có tự tiết lộ rằng y là một ông tiến sỹ hay một ông tướng tàu bay gì đi nữa thì Glebov cũng tin ngay, chẳng cần suy nghĩ gì thêm. Chính Glebov có thực sự từng là thày thuốc không nhỉ? Chẳng phải hắn chỉ mất tiêu đi cái thói quen suy xét sự việc mà còn mất luôn ngay cả cái thói quen quan sát sự việc nữa. Glebov nhìn Bagretsov mút máu ở đầu ngón tay nhưng không nói gì. Mọi việc thoáng qua, hắn nhận thức thấy nhưng không thể tìm ra và cũng chẳng muốn tìm ra lời giải đáp. Cái ý  thức còn sót lại trong hắn – có lẽ không còn là cái ý thức của con người nữa – nó rất phiến diện và giờ đây chỉ nhắm vào một mục tiêu mà thôi, đó là làm sao khuân những tảng đá ra càng nhanh càng tốt.
  
“Có sâu không?”, Glebov hỏi khi họ tạm nghỉ tay. “Sâu thế quái nào được?” Bagretsov trả lời. Và Glebov nhận thấy câu hỏi của mình thật là vớ vẩn, cái hố này tất nhiên chẳng thể sâu được. “Nó đây rồi!”, Bagretsov nói. Y vươn tới và đụng vào một ngón chân người. Một ngón chân cái thòi ra từ phía dưới những tảng đá, nhìn rõ mồn một dưới ánh trăng. Cái ngón chân khác hẳn các ngón chân của Glebov và Bagretsov, không phải chỉ khác vì nó cứng ngắc và hết sinh khí; về cái khoản này thì ngón chân người chết cũng chẳng khác ngón chân người sống bao nhiêu. Nó khác vì móng chân của cái ngón chân người chết đó đã được cắt gọn ghẽ, và ngay chính cái ngón chân đó thì đầy đặn và mềm mại hơn ngón chân Glebov. Họ vội vã vứt những tảng đá còn chất đống ở trên xác chết qua một bên.
  
“Tên này còn trẻ mà!”, Bagretsov nói. Cả hai kéo lê cái xác chết ra khỏi huyệt. “Tên này to con và phốp pháp quá!”, Glebov vừa nói vừa thở hổn hển. “Nếu tên này không mập ú như vậy thì tụi nó đã chôn hắn theo cái kiểu tụi nó thường chôn anh em mình rồi và chúng mình đâu còn lý do gì mà tới đây hôm nay nữa”, Bagretsov nói.
  
Họ kéo cho cái xác chết nằm dài dưới đất rồi lột chiếc áo ra. “Bồ thấy không, cái quần đùi này gần như mới tinh đấy!”, Bagretsov nói một cách mãn nguyện. Glebov dấu cái quần lót vào trong áo khoác. “Tớ nghĩ bồ mặc nó vào thì hơn!”, Bagretsov nói. “Không! Tớ không thích mặc đâu!”, Glebov lầm bầm.
  
Họ khiêng cái xác chết đặt lại vào trong mộ huyệt và khuân đá chất kín lên trên. Mặt trăng đang mọc. Ánh trăng xanh tỏa sáng phủ lên những tảng đá và lên cả khu rừng thưa khiến đá và cây cối có một vẻ đặc biệt nhìn không giống lúc ban ngày. Mọi vật đều tỏ ra hiện hữu, có thật, nhưng khác  hẳn lúc ban ngày. Dường như vũ trụ đeo vào một bộ mặt thứ hai, một bộ mặt về đêm. Glebov cảm thấy cái quần lót của người chết nhét trong áo khoác của hắn giờ đây ấm áp, không còn lạ lẫm nữa.
    
“Tớ thèm rít tí khói quá!”, Glebov mơ màng nói. “Ngày mai sẽ hút!”. Bagretsov mỉm cười. Ngày mai họ sẽ bán cái quần lót đi, đổi lấy bánh, và có lẽ ngay cả kiếm được chút thuốc lá nữa không chừng…

Tâm Minh Ngô Tằng Giao

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 47

Một giai thoại nhỏ, một bài học lớn

 
Inline images 1
 
– Văn phòng giám đốc đại học Harvard, một ngày cuối thế kỷ 19. Một cặp vợ chồng rụt rè xin gặp ông giám đốc. 
 
Cô thư ký nhìn vẻ quê mùa của hai người khách, chiếc quần sờn gấu của ông và bộ quần áo bình dân của bà, trả lời: ông giám đốc rất bận, chỉ tiếp khách có hẹn. Đúng ra, ông chỉ quen tiếp những trí thức danh tiếng, những người gia thế, có vai vế trong xã hội.
 
Hai người khách nhất định xin được ở lại chờ, vì có chuyện muốn nói. Xế chiều, ông giám đốc Harvard mới hết khách, xách cặp ra về.. Cặp vợ chồng xin được thưa chuyện vài phút.
 
Ông bà cho hay người con trai duy nhất của họ, sinh viên năm đầu của trường, vừa chết vì bệnh thương hàn, và muốn dựng một cái gì để tưởng nhớ đứa con. 
 
Ông giám đốc thông cảm cái đau buồn của khách, nhưng trả lời: ông bà thử tưởng tượng, nếu mỗi gia đình có tang xây một mộ bia, bồn cỏ nhà trường sẽ thành một nghĩa trang.
 
Ông khách nói: chúng tôi không muốn xây mộ bia. Chúng tôi muốn nhân danh con, xây tặng một giảng đường, hay một nhà nội trú.
 
Ông giám đốc nhìn bộ quần áo bình dân, vẻ quê mùa của khách, mỉm cười: ông có biết xây một giảng đường tốn hàng trăm ngàn Mỹ kim?
 
Bà khách nhìn chồng, nhỏ nhẹ: Nếu chỉ có vậy, tại sao mình không dựng luôn một trường đại học?
 
Hai ông bà ra về. Ít lâu sau, trường đại học Stanford ra đời và trở thành một 3 đại học uy tín nhất thế giới. Ông giám đốc Harvard không biết mình vừa tiếp hai vợ chồng tỉ phú Stanford, vua xe lửa, sau này trở này trở thành Thống đốc California
 
Trả lại cho xã hội
 
Giai thoại trên đây về Leland và Jane Stanford được kể đi kể lại, nói lên nhân sinh quan đặc biệt của người Tây Phương, nhất là ở những xứ ảnh hưởng văn hóa Tin Lành (1), với phương châm được dạy dỗ và thấm nhuần từ nhỏ: trả lại cho xã hội những gì đã nhận được của xã hội.
 
Khía cạnh văn hóa đó giải thích tại sao ở Hoa Kỳ và Bắc Âu có những nhà tỷ phú như Bill Gates, Warren Buffett, Zuckerberg dành những ngân khoản khổng lồ làm việc từ thiện, tài trợ những dự án có công ích, trong khi ở những xã hội khác, những người giầu có, nhất là mới giầu, chỉ biết khoe của, phung phí một cách lố bịch, nham nhở. 
 
Những ông bà hoàng dầu lửa, keo kiệt, tàn nhẫn với gia nhân, nhất là di dân lao động, không biết dùng tiền bạc làm gì hơn là phòng tắm, cầu tiêu bằng vàng, xây cất những trường đua ngựa vĩ đại với bồn cỏ xanh giữa sa mạc, ở một xứ Hồi giáo cấm cờ bạc, cấm đánh độ.
 
Những tỷ phú Tàu xây lại lâu đài Versailles hàng trăm phòng cho hai vợ chồng với một cậu cả. 
 
Những ông trời con, những cô bồ nhí của quan lớn ở Việt Nam làm thang máy bằng vàng, xây dinh thự xanh đỏ, Tây không ra Tây, Tàu không ra Tàu, lấy tiền gấp tàu giấy cho con thả chơi. 
 
Những nhà độc tài Phi châu dựng lại nhà thờ Vatican giữa một biển nghèo đói, dùng máy bay riêng chở thợ may, thợ đóng giầy nổi tiếng từ Paris, từ Rome (Roma) tới may bộ quần áo giá cắt cổ thứ 200, hay áo lông (fourrure) cho các mệnh phụ sống ở những xứ nóng như lửa.
 
Hai tư duy khác nhau, đưa tới hai xã hội khác nhau: một bên thịnh vượng, tiến bộ, một bên nghèo đói, lạc hậu.
 
Từ kinh doanh tới việc nghĩa
 
Những nhà triệu phú Mỹ, khi kinh doanh, không ngần ngại dùng bất cứ thủ đoạn nào để thành công, kể cả đánh gục đối thủ cạnh tranh, để chiếm độc quyền. Đó cũng là một khía cạnh của văn hóa Tin lành: không có mặc cảm với tiền bạc, với thương mại.
 
Đó là một yếu tố văn hoá, nhưng nó giải thích phần nào cho sự thành công kinh tế của những nước như Hoa Kỳ, Bắc Âu. Văn hoá Tin Lành đã tạo ra những xứ tư bản Tây Phương. 
 
Người Tin lành không che dấu chuyện đã làm ra tiền, coi đó là dấu hiệu của thành công. Gặp người Mỹ, vài giờ sau biết họ lãnh bao nhiêu dollars mỗi năm, có bao nhiêu cái nhà, cái xe
 
Văn hoá Thiên Chúa giáo có mặc cảm với tiền bạc. Không bao giờ người Pháp nói về lương bổng của mình, ít khi phô trương, gần như muốn che dấu nếu thành công trong đời.
 
Người Mỹ áp dụng những phương pháp hữu hiệu để kinh doanh, để làm giầu, nhưng khi đã thành công rồi, nghĩ tới việc trả lại cho xã hội những gì đã nhận của xã hội. 
 
Khi Bill Gates trình bày với vợ, con về dự án dùng trên 40 tỷ dollars cho Foudation Bill & Melinda Gates, và quyết định chỉ để lại cho mỗi người con 10 triệu (ít quá, khó thành công; nhiều quá, chỉ làm hư con cái), cả bà vợ và các con đều vui vẻ chấp nhận. Bởi vì họ được dạy dỗ, thấm nhuần văn hoá đó từ nhỏ. 
 
Khi Bill Gates nói về dự án của mình, Warren Buffet đã hưởng ứng ngay, đóng góp phần lớn gia sản kếch sù cho Foudation Gates. Trên 50 tỷ phú, đa số là người Mỹ, đứng đầu là Zuckerberg, đã noi gương Bill Gates
 
Các trường đại học Mỹ hay Anh đều giầu có, với những ngân sách khổng lồ, ngang với ngân sách một quốc gia nhỏ, mà nhà nước không tốn một xu, bởi vì những cựu sinh viên khi đã thành công ngoài đời đều quay lại, tự nguyện đóng góp. Đối với họ, đó là một chuyện tự nhiên, khỏi cần ai kêu gọi. Không làm, mới là chuyện bất bình thường. 
 
Đơn giản như vậy, nhưng đem áp dụng ở những nước khác, rất khó. Phải bắt đầu bằng sự thay đổi văn hóa, thay đổi tư duy. Và văn hoá, không phải chuyện một sớm một chiều. Đó là chuyện của hàng thế hệ.
 
Tinh thần “trả lại cho xã hội” giải thích tại sao vai trò của xã hội dân sự cực kỳ quan trọng trong các xã hội Tây Phương. Nó nhân bản hóa các xã hội tư bản. 
 
Ở Hoa Kỳ chẳng hạn, tiêu biểu cho chế độ tư bản, nó xoa dịu những bất công của một xã hội cạnh tranh, mạnh được yếu thua. Đó là hai khuôn mặt mâu thuẫn của tư bản Tây Phương. Mâu thuẫn hay bổ túc lẫn nhau.
 
Những foundations tư nhân, nhan nhản khắp nơi, với những số tiền nhận được ở khắp nơi gởi giúp, trợ cấp học bổng, chữa bệnh, nghiên cứu khoa học, phát triển nghệ thuật văn hoá, giúp đỡ người nghèo, người sa cơ lỡ vận. 
 
Truyền thống bác ái
 
Tại Pháp, nơi người Tin Lành chỉ chiếm trên dưới 3 %, cái tinh thần “trả lại cho xã hội” không mạnh như ở Hoa Kỳ hay các nước có văn hoá Tin Lành ở Bắc Âu. Những trường đại học lớn, uy tín nhất của Pháp, những năm gần đây kêu gọi các cựu sinh viên đã thành đạt đóng góp cho trường, nhưng kết quả rất khiêm nhượng. 
 
Không phải một sớm một chiều người ta có thể tạo một truyền thống. 
 
Mặc dầu vậy, tinh thần bác ái ăn sâu tại các nước Thiên Chúa giáo như Pháp, Ý, Tây Ban Nha (Espagne, Spain) đã thúc đẩy các xã hội dân sự hoạt động tích cực. 
 
Tại Pháp chẳng hạn, tổ chức Resto du Cœur mỗi năm tặng thực phẩm, bữa ăn cho hàng triệu người. Emmaüs, một tổ chức thiện nguyện do linh mục Pierre lập ra không những giúp đỡ người nghèo, còn tạo công ăn việc làm cho hàng trăm người. Một trong những hoạt động của Emmaüs: nhận bàn ghế, TV, tủ lạnh, computers, quần áo cũ của thiên hạ gởi tặng, sửa lại, bán rẻ lấy tiền làm việc nghĩa. Nhân viên của Emmaüs đều là những người gọi là SDF (Sans Domicile Fixe, Không nhà không cửa, homeless), theo nguyên tắc dạy người ta câu cá hơn là cho tiền mua cá. Những người điều hành là những người có dư khả năng làm lương lớn trong các hãng tư, nhưng muốn làm việc công ích để đóng góp cho xã hội.
 
Từ gia đình tới xã hội
 
Người Tây Phương, có tinh thần cá nhân chủ nghĩa, nhưng không ích kỷ như chúng ta nghĩ. 
 
Rất nhiều người tích cực và nghĩ đến người khác, coi việc giúp đỡ người khác, cải thiện xã hội là một bổn phận. 
 
Người Việt hy sinh, nghĩ tới người khác nhiều hơn chính mình, nhưng “người khác” chỉ luẩn quẩn trong nhà, cha mẹ, vợ chồng, con cái, không ra khỏi ngưỡng cửa gia đình. Gia đình VN chặt chẽ, nhưng xã hội VN lỏng lẻo. Gia đình Tây Phương lỏng lẻo, nhưng xã hội của người ta chặt chẽ. Chữ liên đới, bác ái, huynh đệ không phải là những danh từ trống rỗng trên cửa miệng
 
Người Việt dành trọng tâm đời mình cho gia đình. Tai họa xẩy ra cho người thân làm tiêu tan luôn đời mình. Mất một người thân, cuộc đời kể như chấm dứt. Ngồi rầu rĩ thương thân, oán phận
 
Thái độ của người Tây Phương tích cực hơn. Họ nghĩ tới xã hội. Họ không bi quan yếm thế. Tại họa cá nhân không đánh gục họ, trái lại, trở thành một động lực khiến họ lao đầu vào việc cải tiến xã hội. 
 
“Our children”
 
Hai ông bà Stanford, khi cậu con cưng chết, quyết định: từ nay, tất cả những đứa con California sẽ là con mình. “The children of California shall be our children”.
 
Ở Pháp, những bà mẹ có con thơ ấu chết vì tai nạn xe hơi, thay vì ngồi than trời oán đất, hay oán thù người gây tai nạn, đã thành lập một hội rất thế lực, Ligue Contre La Violence Routière (Hội chống lại bạo lực lưu thông) hoạt động tích cực đòi quốc hội, chính phủ ban hành những luật lệ hạn chế vận tốc, kiểm soát, trừng phạt những người lái xe sau khi uống rượu, hút cần sa ma túy, mở những lớp về an ninh lưu thông, hỗ trợ các gia đình nạn nhân. 
 
Các nạn nhân khủng bố lập những hội tương trợ các nạn nhân như mình. Một phụ nữ Pháp, thoát chết trong cuộc khủng bố Hồi giáo ở Paris, nói: chưa bao giờ tôi hạnh phúc hơn, vì có một gia đình trên 200 người. 
 
Có người trong gia đình chết vì ung thư, họ lập những hội giúp bệnh nhân ung thư. 
 
Những người cựu SDF, khi có công ăn việc làm, mở hội giúp những người vô gia cư. 
 
Người có con chết vì ma túy, gia đình tan nát vì rượu chè, bỏ tiền bạc, giúp những người nghiện ngập. Họ làm việc đó tận tụy, âm thầm, coi như chuyện đương nhiên, ngạc nhiên khi có người ngạc nhiên trước các nghĩa cử đáng khâm phục đó
 
Những thí dụ đó nhan nhản, ở mỗi góc phố, đếm không xuể. 
 
Thí dụ điển hình nhất là tổ chức Téléthon. Một số gia đình có con bị các thứ bịnh hiếm, không có thuốc điều trị vì không có hãng bào chế thuốc nào bỏ ra những ngân khoản khổng lồ để tìm kiếm, sản xuất thuốc cho một số rất ít bệnh nhân, đã thành lập Téléthon, mỗi năm vận động quyên góp được hàng trăm triệu euros. Với số tiền đang kể đó, họ lập tuyển dụng các y sĩ, các chuyên viên y khoa nổi danh, mở những laboratoires tối tân để nghiên cứu phương pháp chữa trị, tìm tòi thuốc men. Tiền đóng góp từ khắp nơi gởi về, thường thường là của những người lợi tức thấp, nhưng sẵn sàng giúp người thiếu may mắn hơn mình. Và những người hoạt động tích cực nhất là những người có con cái đã chết vì bạo bệnh, hoạt động để tránh cho người khác thảm kịch của chính mình.
 
Không quay đầu về quá khứ, tiến về phía trước, nghĩ đến việc cải thiện xã hội, đó là những yếu tố khiến xã hội Tây phương thành công. Cả về kinh tế lẫn chính trị. Bởi vì dân chủ không phải chỉ xây dựng trên giấy tờ, qua hiến pháp, bầu cử, luật lệ. Nó phải được thực thi, bảo vệ, nuôi dưỡng bởi xã hội dân sự.
 
Cha chung không ai khóc
 
Người VN hy sinh cho gia đình, đó là một đức tính đáng cảm phục. Đó là một điều may, khiến xã hội VN không hoàn toàn băng hoại. Hay xã hội đã băng hoại, nhưng vẫn còn những ốc đảo là hàng triệu gia đình, đang âm thầm cố thủ.
 
Người Việt hết lòng với gia đình, nhưng hoàn toàn thờ ơ với xã hội. 
 
Phương châm của người Việt: vườn ai nấy rào. Người ta đốn cây, tôi mặc kệ, vì là cây ngoài đường. Người ta xẻ núi, phá rừng, xây chung cư, khách sạn, tôi ngoảnh mặt đi để tránh vạ lây. Hậu quả là VN được trời cho một giang sơn gấm vóc, ngày nay bị tàn phá một cách thô bạo. Nha Trang, Đà Lạt, Sapa…, những thắng cảnh tuyệt vời đang trở thành những đống xi măng, cốt sắt thô kệch, trước sự thờ ơ của mọi người. Cha chung không ai khóc.
 
Tại các nước Tây phương, các di tích lịch sử được bảo trì một phần lớn nhờ các foundations, các tư nhân. Ở VN, ngược lại, người ta biến của công thành của riêng, không nương tay tàn phá di sản của đất nước để làm giầu, để trục lợi.
 
Khi nào tình thương, sự liên đới, lòng bác ái, tinh thần trách nhiệm của người Việt ra khỏi ngưỡng cửa gia đình, lúc đó VN sẽ có một xã hội lành mạnh, lạc quan, tích cực. Đủ lành mạnh, lạc quan, tích cực, để xây dựng một chế độ dân chủ đích thực. Để xây dựng lại đất nước đang băng hoại.
 
(1) Bài này không có dụng ý ca ngợi đạo Tin Lành. Tôn giáo nào cũng có ưu và khuyết điểm, sẽ đề cập trong một bài tới
 
(Paris, tháng 1/2018)
 
Từ Thức
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 20

Một Thoáng Xuân

“Chiều nay có một loài hoa vỡ bên trời

Đợi mùa Xuân sang tô… màu nhớ”


Trong hai thập niên (1954-1975) nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông phục vụ trong QLVNCH đã nổi tiếng nhiều ca khúc trữ tình, đặc biệt với ảnh người lính giữa thời chinh chiến. Trải qua nhiều thập niên, những tình khúc của ông từ lúc sáng tác cho đến nay ở hải ngoại vẫn làm rung động trái tim khi thưởng thức.

Nguyễn Văn Đông là một nhạc sĩ thành danh của dòng nhạc tình ở Sài Gòn trước 1975, tác giả của nhiều ca khúc nổi tiếng. Ông còn một vài bút danh khác như Phượng Linh, Phương Hà, Đông Phương Tử, Vì Dân, Hoàng Long Nguyên…

Trong bài viết của Trường Kỳ “Nguyễn Văn Đông: Giữa Binh Nghiệp & Âm Nhạc” đề cập đến cuộc đời binh nghiệp:

“Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông sinh ngày 15 tháng 3 năm 1932 tại quận Nhất, Sài Gòn. Nguyên quán ông bà, cha mẹ ông ở huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh. Thuở nhỏ ông theo học trường Huỳnh Khương Ninh ở Đa Kao. Khi đất nước gặp phải những biến động lớn lao vào năm 1945, gia đình ông bị liệt vào thành phần địa chủ, cường hào nên lâm vào cảnh khuynh gia bại sản, gia đình ly tán. Do đo, tuổi thơ của ông là người con duy nhất trong gia đình cũng bị vùi dập để cuốn theo thời cuộc lúc bấy giờ.

Sau khi trường trung học Hùynh Khương Ninh đóng cửa, ông tự ý xin gia nhập trường Thiếu Sinh Quân Việt Nam. Đó cũng là nơi đào tạo nhiều vị tướng lãnh tài ba của Quân Đội VNCH. Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông đã trải qua 5 năm theo học ở ngôi trường này.. Và chính tại đó ông đã được học nhạc và văn hóa với những giáo sư người Pháp có thực tài. Đó là những giảng viên của Viện Âm Nhạc Quốc Gia Pháp được cử về trường Thiếu Sinh Quân giảng dạy. Trong thời gian ông theo học tại trường Thiếu Sinh Quân Việt Nam, Nguyễn Văn Đông là một thành viên của Ban Quân Nhạc Thiếu Niên, khi mói lên 15 tuổi: “Trường Thiếu Sinh Quân có riêng một đoàn quân nhạc trên 40 người có tầm vóc của người lớn, nhưng lại do chính những em Thiếu Sinh Qưân chưa quá 16 tuổi đời cử hành nhạc và do một giáo sư nhạc trưởng người Pháp chỉ huy. Đoàn quân nhạc của chúng tôi có những nhạc sĩ tí hon có mặt trong những buổi lễ duyệt binh, diễu hành quan trọng một cách đường hoàng như các đoàn quân nhạc chuyên nghiệp người lớn”.

Với đoàn quân nhạc tí hon này, ông sử dụng nhiều nhạc khí như: trompette, clairon, trống, chập chả, vv… Nhưng một cách chuyên nghiệp hơn là ông sử dụng đàn madoline và guitare Hawaiienne trong ban nhạc nhẹ của trường.

Nhờ sống trong một môi trường âm nhạc sôi động như vậy trong trường Thiếu Sinh Quân Việt Nam, Nguyễn Văn Đông đã có dịp học sáng tác từ những giáo sư người Pháp. Kết quả là ông đã viết được những ca khúc đầu tiên ở tuổi 16 như Thiếu Sinh Quân Hành Khúc, Tạm Biệt Mùa Hè…

Những nhạc phẩm này đã đuợc nhà trường chấp thưận cho phổ biến và được rất nhiều bạn bè ưa thích. Ông cho biết cho đến nay tuy đã gần 60 năm sau, nhưng khi ông gặp lại một số bạn bè, những người này vẫn còn thuộc nằm lòng những ca khúc này và hát lại cho nhau nghe như những kỷ niệm khó quên của thời niên thiếu.

Trong suốt 5 năm theo học ở trường Thiếu Sinh Quân, ông luôn luôn đoạt giải giọng ca hay nhất toàn trường…” (TK).

(Ghi chú thêm: Cuối năm 1951, sau khi ra trường Thiếu Sinh Quân, Nguyễn Văn Đông nhập ngũ vào Quân Đội Quốc Gia, mang số quân: 52/120.117, theo học khóa 4 trường Võ Bị Địa Phương Nam Việt Vũng Tàu (còn gọi là Trường Võ Bị Cap Saint Jacques). Tháng 10 năm 1952, mãn khóa tốt nghiệp thủ khoa với cấp bậc Thiếu Úy. Qua năm 1953, được cử đi học khóa huấn luyện Đại Đội Trưởng tại trường Võ Bị Đà Lạt. Cũng năm này, ông có chân trong ban giám khảo chấm thi khóa Võ Bị Đà Lạt 1953 do Quốc Trưởng Bảo Đại chủ tọa lễ bế giảng khóa.

Năm 1954, ông được gửi ra Hà Nội theo học khóa Tiểu Đoàn Trưởng tại Trung Tâm Chiến Thuật Hà Nội. Ra trường, ông được giữ chức vụ Tiểu Đoàn Trưởng TĐ Trọng pháo 553 và là Tiểu Đoàn Trưởng trẻ nhất của Quân Đội Quốc Gia khi mới 22 tuổi. Sau Hiệp định Genève 1954, di chuyển vào Nam, được thăng cấp Trung Úy, phục vụ tại Phân Khu Đồng Tháp Mười với chức vụ Trưởng Phòng Hành Quân, dưới quyền Đại Tá Nguyễn Văn Là.

Đầu tháng 11 năm 1955, ông chuyển biên chế sang Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa, được cử chức vụ Trưởng Phòng 3 của Phân Khu Đồng Tháp Mười. Năm 1956 ông tham gia Chiến Dịch Thoại Ngọc Hầu, hình ảnh ông được đăng trên bìa báo Chiến Sĩ Cộng Hòa. Cuối năm 1957, ông được cử đi du học khóa Chỉ Huy Tham Mưu tại tiểu bang Hawaii, Hoa Kỳ. Ngày Quốc khánh Đệ Nhất Cộng Hòa 26 tháng 10 năm 1959, ông được thăng cấp Đại Úy.

Sau ngày 1/11/1963, ông được thăng cấp Thiếu Tá và được chuyển về Bộ Tổng Tham Mưu phục vụ ở Khối Lãnh Thổ. Ngày Quân Lực 19 tháng 6 năm 1968, ông được thăng cấp Trung Tá phục vụ trong Khối Lãnh Thổ. Ngày Quốc Khánh Đệ Nhị Cộng Hòa 1 tháng 11 năm 1972, ông được thăng cấp Đại Tá làm Chánh Văn Phòng cho Tổng Tham Mưu Phó. Ông đã ở chức vụ này cho đến cuối tháng 4 năm 1975. (Trung Tướng Nguyễn Văn Là, Tổng Tham Mưu phó đặc trách Bình Định & Phát Triển kiêm Tư Lệnh Địa Phương Quân & Nghĩa Quân. Vì vậy Đại Tá NVĐ coi như người thân tín)

Ông từng được nhận huy chương cao quí nhất của Việt Nam Cộng Hòa là Bảo Quốc Huân Chương vào giữa thập niên 60…

Trong sinh hoạt văn nghệ, từ năm 1958, Nguyễn Văn Đông là trưởng ban ca nhạc Tiếng Thời Gian của Đài Phát Thanh Sài Gòn… Năm 1959, Nguyễn Văn Đông là trưởng ban tổ chức đại hội thi đua Văn Nghệ Toàn Quốc, đã quy tụ trên 40 đoàn văn nghệ đại diện cho cả miền Nam cùng tranh giải suốt 15 ngày đêm tại Sài Gòn. Ông cũng từng nhận giải âm nhạc quốc gia vào cuối thập niên 50.

Tuy phục vụ trong quân ngũ, Nguyễn Văn Đông còn là giám đốc hãng băng đĩa nhạc Continental và Sơn Ca nổi tiếng, cộng tác với những nhạc sĩ tên tuổi như Lê Văn Thiện, Văn Phụng, Nghiêm Phú Phi, Y Vân…. cho ra đời nhiều chương trình ca nhạc, các vở tuồng, cải lương. Chính Nguyễn Văn Đông là người đã tiên phong thực hiện album riêng cho từng ca sĩ mà trước đó chưa từng ai làm. Ông đã thực hiện loạt băng nhạc Sơn Ca nổi tiếng…

Là sĩ quan cao cấp trong Quân Lực Việt Nam Công Hòa với cấp bậc Đại Tá. Ông đã viết nhiều nhạc phẩm về người lính miền Nam khi đó như Chiều Mưa Biên Giới, Phiên Gác Đêm Xuân, Mấy Dặm Sơn Khê, Khúc Tình Ca Hàng Hàng Lớp Lớp, Lá Thư Người Lính…

Theo lời tác giả “Bản nhạc Chiều Mưa Biên Giới được viết vào năm 1956. Khi ấy tôi là Trung Úy trưởng phòng hành quân của chiến khu Đồng Tháp Mười là người có trách nhiệm đề ra những phương án tác chiến. Lần đó tôi dẫn đầu một nhóm biệt kích bí mật đi điều nghiên chiến trường dọc theo biên giới Miên-Việt và Đồng Tháp Mười. Trên đường về, anh em chúng tôi lâm vào cảnh trời chiều gió lộng, mưa gào như vuốt mặt. Giữa cánh đồng hoang vắng tiêu sơ, lối vào tiền đồn thì xa xôi, thoáng ẩn hiện những nóc tháp canh mờ nhạt ở cuối chân trời. Và từng chập gió buốt kéo về như muới sát vào thịt da. Từ trong cảnh ấy, tận đáy lòng mình đã nghe nẩy lên những cung bậc rung cảm, những trường canh đầu tiên buồn bã cho bài Chiều Mưa Biên Giới anh đi về đâu…”

Sau tháng Tư năm 1975, Nguyễn Văn Đông trải qua 10 năm lao tù và được trả về ngày 01 tháng Giêng, 1985 với lý do: “Đương sự bị bệnh sắp chết, nên cho phép gia đình đem về nhà chôn cất!”

Sau khi ra tù Nguyễn Văn Đông chia sẻ “Khi trở về nhà, tôi mang theo nhiều chứng bệnh trầm trọng, tinh thần và thể xác bị suy sụp…”. Và niềm an ủi khi lập gia đình với người bạn đời – chị Thu trước năm 1975 nhân viên của hãng đĩa Continental do ông làm giám đốc – có một cửa hàng bán bánh mì, thịt nguội với nhiều lọai kẹo bánh dưới tên Nhiên Hương ở Phú Nhuận, nguồn thu nhập của hai vợ chồng người nhạc sĩ suốt mấy thập niên qua. Năm 1990, diện H.O cho cựu Tù Nhân Chính Trị định cư tại Hoa Kỳ, Nguyễn Văn Đông không đi với suy nghĩ của ông “Do những căn bệnh ngặt nghèo tưởng như ‘hết thuốc chữa’ và do tinh thần suy sụp đến tột cùng, có lúc tôi đã nghĩ rằng mình không còn sống được bao lâu nữa nên chẳng còn thiết tha bất cứ chuyện gì, chỉ muốn từ bỏ tất cả để được thảnh thơi yên nghỉ ở cuối đời’’. Vẫn theo lời nhạc sĩ “Không hiểu do đâu, mà Trời Phật đã nhìn lại ông và, cho ông sống, dù là một đời sống ‘rất lê lết’ cho đến ngày hôm nay”.

*Ca Khúc Mùa Xuân

* Phiên Gác Đêm Xuân

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông ghi lại hồi ký thời điểm sáng tác ca khúc nầy:

“Vào năm 1956, đơn vị tôi đóng quân ở Chiến khu Đồng Tháp Mười, được xem là mặt trận tiền tiêu nóng bỏng vào thời bấy giờ. Khi ấy, tôi mang cấp bực Trung Úy, mới 24 tuổi đời, còn bạch diện thư sinh. Tuy hồn vẫn còn xanh nhưng tâm tình đã nung trong lửa chín ở quân trường. Chính tại Đồng Tháp Mười, vùng đất địa linh nhân kiệt, đã gợi hứng cho tôi sáng tác những bản hùng ca như Súng Đàn, Vui Ra Đi, một thuở được hát vang trong chiến dịch Thoại Ngọc Hầu. Rồi tiếp sau đó là các bản nhạc Phiên Gác Đêm Xuân, Chiều Mưa Biên Giới, Sắc Hoa Màu Nhớ được ra đời cũng tại vùng đất thiêng này. Khi đi vào vùng hỏa tuyến, là chàng trai trẻ độc thân, với một mối tình nho nhỏ thời học sinh mang theo trong ba-lô, tôi bước nhẹ tênh vào cuộc chiến đầu đời.

Ngày đó Đồng Tháp Mười còn là đồng không mông quạnh, lau sậy ngút ngàn, dân cư thưa thớt, sống co cụm trên những gò đất cao giữa vùng đồng lầy nước nổi quanh năm. Người ở hậu phương lúc bấy giờ nhìn về Đồng Tháp Mười như là vùng đất bí hiểm với những huyền thoại Lúa Ma nuôi quân đánh giặc, về Tổng Đốc Binh Kiều, Thiên Hộ Vương thời chống Pháp qua những trận đánh lẫy lừng ở Gãy Cờ Đen, Gò Tháp mà chiến tích được tạc vào bia đá ở Tháp Mười Tầng còn lưu lại đến ngày nay.

Mùa Xuân năm đó, đơn vị tôi đóng trên Gò Bắc Chiêng, có tên là Mộc Hoá, nằm sát biên giới Việt Nam – Campuchia, sau này là tỉnh lỵ Kiến Tường. Đơn vị của tôi đã có những cuộc giao tranh đẫm máu vào những ngày giáp tết trên những địa danh Ấp Bắc, Kinh 12 và tuyến lửa Thông Bình, Cái Cái, Tân Thành. Dù vậy, mùa xuân vẫn có cánh én bay về trên trận địa và hoa sen Tháp Mười vẫn đua nở trong đầm dù bị quần thảo bởi những trận đánh ác liệt. Cứ mỗi độ xuân về, sông Vàm Cỏ lại mang về từng đàn tôm cá từ biển hồ Tông Lê Sáp, vượt vũ môn theo đám lục bình trôi về vùng Tam Giác Sắt, như nhắc nhở Bộ Tư Lệnh Tiền Phương Đồng Tháp Mười lập danh sách cho những người được về quê ăn Tết.

Vì còn độc thân nên tên tôi được ưu tiên ghi vào Sổ Nhật Ký Hành Quân và ở lại đơn vị trong những ngày Tết. Dù không ai nghĩ có đánh nhau ngày đầu năm nhưng quân lệnh phải được tuân hành nghiêm chỉnh. Trước ba ngày Tết, tôi được lệnh lên chốt tiền tiêu, tăng cường cho cứ điểm, mang theo chiếc ba-lô với chút hành trang lương khô, cùng tấm ảnh của người em gái hậu phương, cũng là cơ duyên sau đó để tôi viết nên bài tình ca Sắc Hoa Màu Nhớ.

Tiền đồn cuối năm, đêm 30 Tết, trời tối đen như mực, phút giao thừa lạnh lẽo hắt hiu, không bánh chưng xanh, không hương khói gia đình. Tôi ngồi trên tháp canh quan sát qua đêm tối, chỉ thấy những bóng tháp canh mờ nhạt bao quanh khu yếu điểm như những mái nhà tranh, chập chờn dưới đóm sáng hỏa châu mà mơ màng về mái ấm gia đình đoàn tụ lúc xuân sang. Thay cho lời chúc Tết là tiếng kẻng đánh cầm canh và tiếng hô mật khẩu lên phiên gác.

Vào đúng thời điểm giao thừa, ngọn đèn bão dưới chiến hào thắp sáng lên như đón chào năm mới thì cũng là lúc những tràng súng liên thanh nổ rền từ chốt tiền tiêu. Khi ấy vào buổi tinh mơ của trời đất giao hòa, vạn vật như hòa quyện vào trong tôi, có hồn thiêng của sông núi, có khí phách của tiền nhân.

Tôi nghe tâm hồn nghệ sĩ của mình rộn lên những xúc cảm lạ thường, làm nảy lên những cung bậc đầu tiên của bài Phiên Gác Đêm Xuân:

“Đón giao thừa một phiên gác đêm

Chào Xuân đến súng xa vang rền.

Xác hoa tàn rơi trên báng súng

Ngở rằng pháo tung bay

Ngờ đâu hoa lá rơi…”

Rồi mơ ước rất đời thường:

PK: “Ngồi ngắm mấy nóc chòi canh

Mơ rằng đây mái nhà tranh

Mà ước chiếc bánh ngày xuân

Cùng hương khói vương niềm thương…

ĐK: Chốn biên thùy này xuân tới chi?

Tình lính chiến khác chi bao người 

Nếu Xuân về tang thương khắp lối

Thương này khó cho vơi, thì đừng đến Xuân ơi!”

Lúc đó Bộ Thông Tin cấm phát hành vì cho rằng lời ca mang tính tiêu cực như những dòng thơ của Chế Lan Viên thời tiền chiến trong bài thơ Chiều Xuân:

“Tôi có chờ đâu, có đợi đâu

Đem chi xuân lại gợi thêm sầu?

Với tôi, tất cả như vô nghĩa

Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau!”

Bài Phiên Gác Đêm Xuân được ra đời trong hoàn cảnh như thế…, đánh dấu một chuỗi sáng tác của tôi về đời lính như Chiều Mưa Biên Giới, Mấy Dặm Sơn Khê, Sắc Hoa Màu Nhớ, Khúc Tình Ca Hàng Hàng Lớp Lớp, Xin Đừng Trách Anh, Lá Thư Người Lính Chiến, Anh Trước Tôi Sau, Lời Giã Biệt…. Sau ngày 30 tháng Tư năm 75, các bản nhạc này cùng chung số phận tan tác như cuộc đời chìm nổi của tôi…”.

*

Nhớ Một Chiều Xuân

Ca khúc Nhớ Một Chiều Xuân, sáng tác để kỷ niệm chuyện tình lãng mạn với một thiếu nữ bản xứ khi đi tu nghiệp Khóa Chỉ Huy & Tham Mưu ở Hawaii năm 1957.

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông viết ca khúc nầy để nhớ một người con gái mang quốc tịch Áo.. Họ đã gặp và yêu nhau tại quần đảo Hawaii. Ngày chia tay để trở về Việt Nam, ông đã thề ước là sẽ trở lại và không phụ tình cô gái. Nhưng rồi chiến tranh liên miên, ngày càng thêm ác liệt, ông đã không thể thực hiện lời thề hẹn của mình. Cuộc tình ấy đã ly tan, với nỗi niềm:

“Chiều nay thấy hoa cười chợt nhớ một người

Chạnh lòng tôi khơi… bao niềm nhớ

Người nơi xa xăm phương trời ấy

Người còn buồn còn thương còn nhớ

Nắng phai rồi…. em ơi!

Chiều Xuân có một người ngơ ngác đi tìm

Một tình thương nơi… phương trời cũ

Chiều nay hoa Xuân bay nhiều quá

Chiều tàn dần phai trên ngàn lá

Tìm đâu bóng… hình ai?

ĐK

Người vê còn nhớ… khúc hát

Người yêu dấu bên bờ thành Vienne

Lòng này còn quyến… luyến mãi

Đêm Xuân dài mà đâu có hay

PK

Chiều nay có một loài hoa vỡ bên trời

Đợi mùa Xuân sang tô… màu nhớ

Dừng chân trông hoa Xuân hồng thắm

Buồn tìm về tình ai đằm thắm

Giờ vun vút trời mây!”

Trong ca khúc Mấy Dặm Sơn Khê mang hình ảnh nơi núi rừng Tây Nguyên với nỗi buồn:

“Bao ước mơ giữa khung trời phiêu lãng

Chờ mùa Xuân tươi sáng, nhưng mùa thắm chưa sang

Anh đến đây rồi anh như bóng mây 

Chốn phương trời ấm lạnh, hòa chung mái nhà tranh”

Cũng như ca khúc Chiều Mưa Biên Giới, Lá Thư Người Lính Chiến, ca khúc nầy mang hình ảnh nơi núi rừng cao nguyên với nỗi buồn nên một thời bị Bộ Thông Tin cấm vì quá ủy mị, có vẻ “phản chiến” làm nhụt nhuệ khí của tinh thần chiến sĩ.

“Bao ước mơ giữa khung trời phiêu lãng

Chờ mùa Xuân tươi sáng, nhưng mùa thắm chưa sang

Anh đến đây rồi anh như bóng mây 

Chốn phương trời ấm lạnh, hòa chung mái nhà tranh”

Nguyễn Văn Đông tâm sự: “Ông có những mùa Xuân buồn trong quãng đời thơ ấu, nhiều bất hạnh! Như gia đình lâm cảnh tang thương. Người thân yêu ly tán trong chiến tranh, ông mất mùa Xuân tuổi thơ khi cha mẹ bị tù đày. Lớn lên đi lính, ông lại thường bị ứng trực vào mùa Xuân ở các đơn vị hẻo lánh….”. Hầu hết các ca khúc về Xuân với niềm vui nhưng dĩ vãng đau buồn vẫn ám ảnh trong lòng tác giả nên trang trải qua từng ca khúc.

Gia tộc Nguyễn Văn Đông là điền chủ ở huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh. Nơi đó có mối thân tình xóm giềng với gia đình ông hương Cả. Năm 1945 “cách mạng mùa Thu” bùng nổ, ông Hương Cả bị đưa ra trước tòa án nhân dân; lãnh bản án “cường hào ác bá” rồi bị xử bắn. Xác thả trôi sông. Thuở bé Nguyễn Văn Đông học trường Huỳnh Khương Ninh, phường Đakao, Tân Định, Sài Gòn. Năm 1945, 1946 loạn lạc, trường Huỳnh Khương Ninh đóng cửa. Cha mẹ nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông từ Sài Gòn tản cư về cố hương, bị liệt vào hàng “địa chủ ác ôn”. Ông bà bị bắt làm tù lao công khổ sai. Tịch biên tài sản, sung vào quỹ kháng chiến. Gia đình ly tán. Cửa nhà tan nát. Ông Hương Cả có một cô con gái xinh đẹp. Hai bên gia đình cùng giao ước kết thông gia khi hai trẻ lớn lên. Khi ấy Nguyễn Văn Đông và cô bé kia còn vị thành niên nên tình cảm trai gái của “thuở ban đầu” ngây thơ… Đôi trẻ trôi giạt, mỗi người một phương. Họ bặt tin nhau!… (Trong ca khúc Về Mái Nhà Xưa, Nguyễn Văn Đông nói lên niềm đau khi trở lại chốn xưa). Nhờ Trường Thiếu Sinh Quân được coi như mái nhà nuôi dưỡng “đứa con lạc loài” để tạo dựng cuộc đời trong quân ngũ và sinh hoạt văn nghệ.

Trong bài viết của Lê Hữu thì: “Hình tượng người lính chiến, khắc họa qua dòng nhạc Nguyễn Văn Đông, như được ‘nâng’ lên ở tầm mức cao hơn và đẹp hơn. Lý tưởng của những người trai anh dũng hiến thân vì tổ quốc như được tô đậm hơn, chính nghĩa của cuộc chiến đấu gian khổ của quân dân miền Nam như được soi sáng hơn. Người đời, qua đó, thấy yêu mến và gần gũi hơn những người lính, thấy cảm kích và ngưỡng phục những hy sinh cao cả và thầm lặng của người chiến binh vì nước quên mình. Vậy thì không thể nào không cám ơn ông, cám ơn người nhạc sĩ đã gieo vào lòng người những mối cảm xúc sâu đậm, những ấn tượng đẹp và sắc nét về người lính và đời lính.

Chiến tranh đã đi qua, những bài nhạc lính như thế ngày nay ít còn được nghe hát, thế nhưng dư âm lời ca tiếng nhạc của một mùa chinh chiến ấy và hình tượng hào hùng của người lính chiến Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa vẫn còn đọng lại mãi trong tâm tưởng biết bao người, như câu nói bất hủ của một danh tướng Hoa Kỳ, Douglas MacArthur: ‘Những người lính già không bao giờ chết, họ chỉ nhạt mờ đi thôi’ (Old soldiers never die, they just fade away).

Sau bao mùa tang thương dâu bể, sau bao nhiêu giông tố dập vùi, ‘người lính già Nguyễn Văn Đông’, vẫn một niềm tin sắt son vào hồn thiêng sông

núi, vẫn chưa mất niềm tin vào vận mệnh đất nước, vẫn còn nguyên vẹn trái tim chàng lính trẻ Nguyễn Văn Đông nặng trĩu tình quê tình nước của những ngày đầu bước chân vào đời quân ngũ.

Non nước ơi, hồn thiêng của núi sông

Kết trong lòng thế hệ

Nghìn sau nối nghìn xưa…”

* Khúc Xuân Ca 

Khác với các ca khúc đề cập ở trên, Khúc Xuân Ca như lời tình tự với người yêu. Là nhạc sĩ tài hoa, sĩ quan cao cấp trong QLVNCH, không thể nào thiếu bóng hồng “đi qua đời ông” nhưng Nguyễn Văn Đông rất kín tiếng chuyện tình yêu. Nhiều nhạc sĩ khi sáng tác ca khúc trữ tình thường nói lên hình bóng nào đó làm nguồn cảm hứng nhưng Nguyễn Văn Đông thì ngược lại.

“PK: Em mùa Xuân hồng, gieo trên phím tơ đồng.

Cho đời mơ mộng, thả ý thơ chờ mong.

Em mùa trăng rằm, cho vương áng mây hồng.

Xin đừng thay lòng, nhạt màu ái ân.

ĐK: Mùa xuân thay áo, hồng trên má hoa đào.

Vườn xuân xôn xao, câu ái ân thầm trao.

Kìa trong ánh xuân tươi, nhịp chân bước đôi mươi..

Nàng Xuân hé môi cười, nhạc lòng nghe chơi vơi.

Em có hay chăng lòng anh, trọn đời yêu em mãi thôi.

PK: Em mùa Xuân hồng, cho anh vương tơ lòng.

Xin bờ môi hồng, ý thắm chuyện trăm năm.

Xuân mùa tâm đồng, cho đôi lứa yêu thầm.

Tay cầm tay mừng, mùa Xuân ái ân…

Nào dìu nhau đi, mùa xuân như ý”.

Khi nhạc sĩ “vương tơ lòng” để “trọn đời yêu em mãi mãi” cho đến bây giờ vẫn là hình ảnh bí ẩn.

Ca khúc Dáng Xuân Xưa cũng mang niềm tâm sự mối tình dang dở như bóng dáng mùa Xuân đã đi qua cuộc dời tác giả:

“ĐK: Xuân sang lả lơi chợt thấy hoa cười

Nối duyên chạnh nhớ một người

Từ mùa Xuân trước tới bây giờ còn mơ

Xuân nào sánh vai cùng ngắm hoa đào

Ái ân nào chẳng lúc tàn

Vườn em thơm ngát chờ anh bước sang

PK: Xuân nay mang về kỷ niệm ngày xưa thênh thang

Bâng khuâng thấy hoa mỉm cười chạnh nhớ tới người

Đầu cành oanh ăn nói hình dáng Xuân xưa

ĐK: Em ơi ước mơ thì cũng lỡ rồi

Trách nhau thì cũng xa rồi

Lòng ta lơ đãng mà Xuân vẫn sang…”

*

Tuy phục vụ trong quân đội, Nguyễn Văn Đông sáng tác một số ca khúc về người lính nhưng không mang màu sắc tuyên truyền như lối “phanh thây uống máu quân thù” mà chỉ tỏ bày niềm đau, nỗi buồn của người lính nơi tiền đồn, núi rừng… nhưng khi đổi đời “đứa con tinh thần” đó cũng bị hẩm hiu như cuộc đời tác giả. Nguyễn Văn Đông chia sẻ: “Rất tiếc một số bài hát tâm đắc không được nhà nước cho phép. Tôi hy vọng rồi đây theo thời gian mọi việc sẽ tốt đẹp hơn. Đặc biệt trong lãnh vực văn hoá, văn nghệ, tôi nghiệm rằng những gì có giá trị nghệ thuật, dù bị vùi dập vì sự ganh tỵ hay hiểu lầm, sẽ có ngày được mang trả lại vị trí đích thực của nó. Tôi chỉ tiếc đời người ngắn ngủi mà tôi đã phí phạm quãng thời gian dài 30 năm. Thật lấy làm tiếc!”.

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông, qua các bút hiệu khác đã sáng tác khoảng một trăm ca khúc từ tân nhạc đến tân cổ giao duyên. Trong phạm vi bài nầy chỉ đề cập vài ca khúc của ông liên quan đến hình ảnh mùa Xuân đã đi vào lòng người trải qua nhiều thập niên.

Vương Trùng Dương

Quận Cam 1, 2018

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 44

Năm 2018, người ta yêu nhau như thế nào ?

Ngày nay, nếu có người chịu mất thì giờ tìm «Thơ định nghĩa Tình yêu» chắc chắn sẽ có không dưới cả ngàn bài . Đủ thể loại . Nhưng ai cũng đều phải thừa nhận bài thơ định nghĩa Tình yêu của Xuân Diệu vẫn giử nguyên giá trị vượt thời gian . Đọc lên, người đọc, nhứt là lớp lão thành, sẽ khó tránh cái cảm xúc lâng lâng, man mác, như đang sống lại cái thuở đang yêu . Đang âm thầm yêu một bóng dáng nào đó :

 Làm sao cắt nghĩa được tình yêu!

  Có nghĩa gì đâu, một buổi chiều

   Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt,

    Bằng mây nhè nhẹ, gió hiu hiu.

     Rồi một ngày mai tôi sẽ đi. 
      
Vì sao, ai nỡ bỏ làm chi! 
      
Tôi khờ khạo lắm, ngu ngơ quá 
       
Chỉ biết yêu thôi, chẳng hiểu gì.

              (Vì sao – Xuân Diệu)

 Năm 2018, người ta vẫn yêu, nhưng chắc không «khờ khạo», cũng không «ngu ngơ», lại càng không «Chỉ biết yêu thôi, chẳng hiểu gì» như lớp tiền bối của hơn 70 năm về trước . Mà họ yêu nhau như thế nào ?Một đàn ông, một đàn bà, một cặp vợ chồng và sự thủy chung 

Trước đây, người ta nghĩ khi một nam, một nữ hay cả hai cùng nam, cùng nữ hợp nhau lại, đó là vợ chồng hay một cặp  (un couple – la-tinh là copula, nghĩa là quan hệ, liên hệ) .. Họ có thể sống chung với nhau dài hạn, suốt đời hay ngắn hạn, chỉ một đêm thôi . Nhưng đến nay, năm 2018, tình yêu bắt đầu thay đổi sâu sắc . Họ có nhiều cách yêu nhau, sống chung với nhau mà mới hôm qua, chưa ai nghĩ tới . Như «vợ chồng với chính mình», «cặp lưởng phân», «cùng yêu nhiều người», …

Khó nói sự thay đổi trong yêu đương hay trong việc kết hợp sống chung hiện nay là tốt hay xấu, tiến bộ hay thoái trào . Thực tế xã hội pháp, cũng như xã hội của nhiều nước khác, không khác nhau hơn từ nhiều năm nay : hôn nhơn tan vỡ vẫn chiếm một tỷ lệ cao, trong lúc đó, sự kết hôn ngày càng ít đi . Ở Pháp, từ năm 1980 tới năm 2016, mỗi năm số nam/nữ kết hôn kém đi 100 000 đám . Ly dị xảy ra hàng loạt : 9% vụ kết hôn trong năm 2000 gảy đổ trước năm thứ 5 sau đám cưới. Phải chăng vì vậy mà người ta bảo là ngày nay không còn hôn nhơn hay vợ chồng nữa bỡi trong thực tế, hai người đang sống chung với nhau, khi cảm thấy « kẻ kia » không đem lại hạnh phúc cho mình như mong đợi thì lập tức, chia tay nhau …

Theo kết quả điều tra (Ifop, 2017), có 1/3 phụ nữ và ½ đàn ông không thể giử thủy chung với nhau được …

Vậy làm thế nào giử đời sống lứa đôi hay yêu nhau bền bỉ ? Từ đây, một hình thức yêu nhau kiểu mới xuất hiện công khai ở Paris vào tháng 10/2017, dưới tên tạm gọi là « vợ chồng hay yêu nhau với chính mình » (sologamie) . Nhơn vật chánh trong đám cưới với chính mình hôm ấy là một phụ nữ, với trang phục lộng lẫy như trong đám cưới của cặp trai gái, với đầy đủ nữ trang, hoa cưới .

Theo các bà trong cuộc, tự cưới thật sự là một cách để nâng cao tinh thần của kẻ mà tình trạng sống độc thân đang đè nặng . Paris đang sôi nổi về hình thức tự cưới này nhưng vẫn chưa phải là nơi đầu tiên . Tháng 12/1993, một phụ nữ người Mỹ, bà Linda Baker, mới là người đầu tiên làm đám cưới với chính mình …

Hình thức tự cưới hay mình yêu chính mình cho tới nay được khá nhiều phụ nữ chọn vì theo các bà thì đây chính là bước đầu dẩn tới đời sống không còn mặc cảm đè nặng, mà thật sự hạnh phúc . Bởi còn gì bằng khi mình làm tình với chính người mình yêu ! Và yêu hết mình hơn bất kỳ ai khác .

Đã có đám tự cưới thì lập tức xuất hiện những cửa hàng chuyên lo tổ chức đám cưới, cũng với bánh cưới, âm nhạc, chứng từ hôn nhơn (cho đủ bộ), nhẫn cưới, …Tất cả để nhắc nhở đương sự quả thật mình đúng là một nhơn vật phi thường !

Nhựt bổn có tiếng là xứ nơi trai gái đầy rẩy « ế vợ, ế chồng » chắc chắn sẽ có nhiều cô cậu vui mùng lao mình theo con đường ái ân mới này . Nghe nói giá một đám cưới như vậy, ở Kyoto, không dưới 3000€ .

 

Cuộc bạo loạn tháng 5/68 do sinh viên khởi động ở Paris, rồi lan ra khắp nước Pháp, với sự nhập cuộc của thợ thuyền, kéo dài cả tháng, đã phá nát cái trật tự xã hội củ của Pháp . Ảnh hưởng biến loạn này, không ít người Pháp ngày nay chạy theo tôn thờ tự do cá nhơn, cả trong đời sống vợ chồng hay lứa đôi . Theo quan niệm này, sự tự túc là yếu tố giử quân bình cho đời sống hai người . Vợ chồng hay cặp đôi kết hợp theo quan niệm này được gọi là «vợ chồng hay cặp lưỡng phân» (un couple fissionnel – Serge Chaumier, sociologue), đối lập lại sự kết hợp theo truyền thống thừa hưởng từ thế kỷ XIX . Trong đời sống của cặp lưỡng phân, hai người vừa sống chung, mà cũng vừa hoàn toàn tự do tìm cho mình sự độc lập theo nhu cầu sinh lý riêng . Tuy nhiên không vì thế mà họ từ khước tình yêu nhau . Nếu nói đó là ngoại tình thì sự ngoại tình trong trường hợp này của hai người trở thành hiển nhiên . Một cách gọi khác, đó là «tình yêu mở»(amour open) vì nó không phụ thuộc vào một giới hạn thường tình nào cả . Sự thủy chung với nhau được tính ở thời gian, ở sự bền vững, chớ không căn cứ trên cơ sở người này là sở hữu riêng của người kia . Điều quan trọng là ở cặp lưỡng phân hoàn toàn không có sự thay thế người này bằng một người khác, mà chỉ có nhu cầu bổ sung cho nhau … Nên nhờ đó mà không có đổ vở hay xa nhau . Cách kết đôi này hiện nay hảy còn ít nhưng đang trên đà phát tiển nhanh chóng . Có những cặp có con với nhau, cùng nuôi con đàng hoàng nhưng vẫn giử sự độc lập để quan hệ bạn tình của mình .

Khi nói tình yêu lưỡng phân, không thể không đề cặp tới một thứ yêu đương hay sống chung khác nhưng rất tương cận . Đó là « tình với nhiều người » (polyamour) … Không phải đa tình . Hình thức liên hệ công khai này hiện nay rất phổ biến trong lớp tuổi ba mươi . Gọi « polyamour » do chữ « polyamory » và do một phụ nữ người Mỹ ở California,bà Diana Moore, lập ra vào thập niên 90 . Chủ thuyết rất đơn giản : để tìm hạnh phúc tuyệt vời của ái ân khi nhận thấy đời sống lứa đôi theo xưa, một vợ một chồng, không đem lại cho hai người sự thỏa mản . Họ tìm những quan hệ mới, mà không bị ràng buộc, và mọi người đều biết cách sống của họ như vậy. Trước đây, ở Paris, có lẽ cặp Jean-Paul Sartre và Simone de Beauvoir có thể là trường hợp điển hình .

Một bà 27 tuổi đang thật sự sống « tình với nhiều người », cảm thấy rất hạnh phúc nên đã reo lên « Ôi cách sống này đã làm cho tôi nhiều lúc phát điên lên được ! » . Bà đã kết hôn, giử một vợ một chồng được vài năm nhưng bà không chịu nổi . Bà bắt đầu cảm thấy tâm thần bấn loạn, cảm thấy như hình ảnh của bà bị phai nhạt . Một tâm trạng bất bình thường . Thế là bà tìm đường tự giải thoát mình . Bà quan tâm nghe kể chuyện về những kinh nghiệm quan hệ với nhiều người, mỗi trường hợp là một niềm sung sướng khác nhau . « Polyamour » hoàn toàn khác với những cặp ngoại tình vì nó xây dựng trên sự trong sáng, công khai, kính trọng những người bạn tình khác nhau nên không có tranh chấp hay xung đột vì ghen tương …

Ở Paris, nơi tìm bạn tình để sống «tình với nhiều người» là «Café Poly» mở cửa năm 2008 . Lúc đầu, khách hàng chỉ có mươi người tới để chia sẻ nhau những kinh nghiệm ái ân . Chỉ ít lâu sau, số người lui tới đây đã vọt lên hàng trăm . Họ gồm trí thức, da trắng, có kẻ ăn thuần chay (Végan) … Chắc chắn Cafe Poly sẽ bị tràn ngập trong những ngày tới vì mạng internet …

           

Và internet cũng giúp mở ra nhiều cánh cửa dẩn đến sự thỏa mản tình yêu . Người ta dùng một phương pháp toán học như chiếc đủa thần (algomatching) để tìm bạn tình …

Người ta khai triển những phép toán dựa trên những dử kiện cá nhơn, kết quả cho ra một danh sách nhiều người để chọn làm bạn tình cho một đêm hay dài hạn . Phép toán này biến những người muốn tìm tình yêu trở thành người tìm được tình yêu như ý muốn . Và tuyệt vời là nhờ nó mà những trái tim kết hợp với nhau …

Tuy nhiên cách tìm bạn tình theo phương pháp toán học, có đơn giản, nhưng không phải là thứ dành cho mọi người . Vả lại, gặp nhau, ưng ý nhau vẫn không phải là chuyện cố định để có thể xếp thành phương trình toán học . Nó còn là duyên với nhau .

 

Thử nghĩ trước hiện tượng xã hội mới này, tình yêu theo xưa trước đây sẽ biến mất chăng ? Gia đình sẽ không còn cần thiết như nền tảng xã hội nữa ? Nhưng nếu suy nghĩ của con người cũng nhanh chóng thay đổi theo đà diển biến xã hội thì mọi thay đổi sẽ trở thành bình thường . Như những điều hiện nay chúng ta cho là bình thường và đang giử nó như những giá trị qui chiếu .


Nguyễn thị Cỏ May
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 53

TIẾNG VĨ CẦM

  • Tôi trở về thăm quê hương sau ngót nửa thế kỷ xa cách. Quê tôi là một tỉnh lỵ nhỏ phía Nam Hà nội, có trường thi Hương cuối cùng của Nho học ở Bắc hà. Mục đích chính kỳ trở về này là thăm bà chị ruột và ông anh rể đã trên dưới tám mươi. Cả hai chị em đều lớn tuổi, khó mà biết được ai sẽ “ra đi” trước, nên tôi sợ nếu không về bây giờ, sẽ không có dịp nào nữa. Ngoài mục đích đó, tôi cũng muốn gặp lại một số bạn bè thân từ thuở còn thơ ấu mà chúng tôi phải chia tay kể từ khi cuộc chiến tranh Việt Pháp bùng nổ vào tháng 12 năm 1946. Mục đích phụ của tôi không đạt được trọn vẹn. Bạn bè tan tác mỗi người một phương trời, kẻ còn người mất. Những ai còn, phần lớn không trở về sinh sống tại quê nhà sau khi hòa bình được tái lập. Lác đác chỉ còn một vài người quen cũ, không thân thiết, ở đâu đó trong cái tỉnh lỵ nhỏ bé này mà tôi chưa hỏi được địa chỉ hiện tại của ho. Cái khó là người nào cũng đã lớn tuổi, đều trên cái mức “cổ lai hy” nên rất ít xuất hiện ngoài đường phố, nếu không có việc thật cần thiết. Còn con cháu họ thì tôi không biết một ai. Suốt ngày quanh quẩn với gia đình và con cháu của bà chị, tôi cũng bắt đầu thấy buồn. Trong khi đó, ngày trở lại Saigon để lên máy bay về Mỹ còn xa.
  •  
  •            Vào một buổi sáng, đang lang thang đi quanh những phố phường cũ chứa đầy kỷ niệm của thời thơ ấu, tôi tình cờ trông thấy một lão già tóc bạc phơ, dáng đi hơi khòm khòm. Nhưng sau những nét già nua của lão tôi nhận ra một gương mặt quen. Tôi nghĩ với tuổi của lão, có thể đó là một người bạn cũ lâu không gặp. Tôi đánh bạo bước đến bên lão, khẽ hỏi :”Xin lỗi…” Nhưng tôi chưa kịp nói thêm thì lão đã quay lại.. Tôi nhận ra ngay người bạn thân năm xưa. Đó là Phong mà hồi trẻ, tụi bạn tinh nghịch và tôi thường gọi đùa là “Phong violon”.
  •  
  • Phong nhìn tôi với một vẻ rất ngạc nhiên và hơi lúng túng. Tôi vội vã xưng tên và nói cả họ. Hắn nheo mắt nhìn tôi rồi chậm rãi hỏi :
  •  
  • “Về bao giờ ?”
  •  
  • “Mới về chưa được nửa tháng”, tôi đáp …
  •  
  • Hắn hỏi thêm :
  •  
  • “Về ở luôn hay lại còn ra đi ?”
  •  
  • “Việc về ở luôn còn phải tính toán kỹ lại. Vì thế, hai tuần nữa tôi sẽ lại ra đi.”
  •  
  •            Tôi nắm lấy hai bàn tay gầy guộc của người bạn cũ, nói sơ qua về tôi. Bấy giờ hắn mới tỏ ra vui vẻ một cách dè dặt, nói :
  •  
  •            “Hình như cậu còn bà chị ở đây.”
  •  
  •            “Đúng. Chính vì thế, tôi về thăm bà ấy. Nào, bây giờ cậu cho tôi biết nhà để đến thăm cậu.”
  •  
  •             Hắn có vẻ miễn cưỡng khi cho tôi biết địa chỉ. Tôi liền đòi hắn đưa về nhà. Hắn nhìn tôi đăm đăm rồi nhận xét  :
  •  
  •            “Cậu vẫn như ngày xưa.”
  •  
  •            Tôi bèn cãi :
  •  
  •            “Sao lại vẫn như ngày xưa được. Cậu không thấy tôi đã da mồi, tóc bạc sao ?”
  •  
  •            Phong lắc đầu :
  •  
  •            “Không, tôi không bảo cậu vẫn trẻ như ngày xưa. Nhưng tính cậu vẫn nóng nảy và độc đoán.”      
  •  
  •            Phong đưa tôi về nhà hắn. Đó là một căn nhà cũ kỹ, ọp ẹp, hai tầng ở Bên Đồng. Vào đầu thế kỷ 20, tỉnh lỵ này phát triển mạnh nên nhiều nơi đang là đồng ruộng biến thành phố xá. Dân trong tỉnh vẫn quen gọi khu mới này là Bên Đồng, dù đã có tên phố hẳn hoi. Cái địa danh “Bên Đồng” làm tôi nhớ đền bốn câu thơ của Cụ Tú Vị Xuyên. Đó là bốn câu thơ rất tình cảm, rất “hoài cổ”, chả có một chút trào phúng nào :
  •  
  •                                           “Sông kia rày đã nên đồng,
  •  
  •                                        “Nơi làm nhà cửa, nơi trồng ngô khoai.
  •  
  •                                            “Đêm nghe tiếng ếch bên tai,
  •  
  •                                        “Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò.”
  •  
  •            Tôi thầm tự hỏi tại sao căn nhà này có thể tồn tại sau kỳ “tiêu thổ kháng chiến” vào cuối năm 1946 và đầu năm 1947 và kỳ bom Mỹ năm 1972 ?  Phong cho biết mới dọn về lại tỉnh lỵ này ngót ba năm. Sau cuộc chiến tranh Việt Pháp, hắn đi học lại và làm nghề dạy học ở một tỉnh miền trung du Bắc Việt. Hắn về hưu đã ngót mười năm, nhưng còn quanh quẩn ở nơi dạy học cũ.. Khi tôi hỏi hắn tại sao không ở luôn trên đó thì hắn giữ im lặng, vẻ mặt bỗng trầm xuống. Tôi đoán hắn có một tâm sự buồn nên không hỏi thêm. Hắn loay hoay mở cửa cho tôi vào nhà. Phòng ngoài trống rỗng và tối om. Hắn đưa tôi vào phòng trong. Nhờ có cái sân lộ thiên, lót gạch Bát tràng vuông, to, căn phòng sáng sủa hơn. Phòng chỉ có một cái bàn và hai cái ghế gỗ. Trên bàn có một ấm tích nước và bốn cái chén trên một cái đĩa cổ. Tất cả đều cũ kỹ, nhưng rất sạch. Hắn cho biết nhà hắn chỉ có chè tươi, không có nước gì khác để đãi khách. Nếu tôi chịu, hắn sẽ xuống bếp đun nước để pha ấm chè mới. Gian bếp ở trong cùng, cách cái sân lộ thiên. Tôi gạt đi vì không muốn làm phiền hắn, dù tôi rất thích uống nước chè tươi nóng. Vì nhà trống trơn, không có đồ đạc gì ngoài cái bàn nước và hai cái ghế, tôi đoán hắn ở một mình, nhưng lại thắc mắc về vợ con hắn nên hỏi :
  •  
  •            “Bà xã và các cháu không ở đây với cậu ?”
  •  
  •            Hắn cười buồn, đáp :
  •  
  •            “Mình chưa hề có gia đình bao giờ.”
  •  
  • Tôi ngẩn người, đăm đăm nhìn hắn. Dĩ vãng của năm chục năm cũ bỗng
  •  
  • trở về. Tôi nhớ khi còn trẻ, Phong có yêu một cô gái tên Nga. Hồi đó
  •  
  • chúng tôi mới mười bảy, mười tám mà Nga còn kém chúng tôi ít ra ba, bốn tuổi. Nga ở bên kia đường, xế cửa hiệu buôn của bố mẹ tôi. Hàng ngày tôi vẫn thấy cô bé ngây thơ, nhí nhảnh chơi truyền, nhảy dây, chơi ô quan… với bạn gái cùng lứa. Tuy còn ít tuổi, Nga đã khá đẹp, được coi như đẹp nhất phố tôi.. Người đẹp, dù còn nhỏ, cũng đã có nhiều cậu ngấp nghé, trong đó có Phong. Hắn tìm cách làm quen với Nga mà chưa được, nhưng hỏi dò biết cô thích đàn vĩ cầm. Thế là hắn mua vĩ cầm về học. Bỗng thấy mất tăm hắn một thời gian khá lâu, mấy tên bạn và tôi mò đến nhà hắn.. Thì ra hắn đóng cửa để ở nhà cố tập luyện đàn vĩ cầm.  Hắn suốt ngày ôm cây đàn đến nỗi cổ và cằm hắn xưng húp. Chúng tôi ngạc nhiên nhưng cũng phục sự quyết tâm của hắn. Từ đó hắn được chúng tôi đặt tên là “Phong violon”. Rồi cho đến ngày chiến tranh bùng nổ, chúng tôi không rõ hắn có làm quen được với Nga không và đã trổ tài đàn cho cô bé thưởng thức chưa?  Chiến tranh làm chúng tôi xa cách nhau, mỗi người chạy một ngả. Mấy năm sau, khi chiến tranh lan rộng, tôi nghe tin Nga lấy chồng. Điều đáng buồn là chồng Nga không mang tên Phong. Dạo ấy, chúng tôi chỉ họa hoằn mới nghe tin tức của nhau, hầu như chả bao giờ được gặp nhau, vì sự liên lạc khó khăn và đường xá trắc trở. Những năm đầu kháng chiến, tôi đi theo một đơn vị bộ đội nên càng khó liên lạc với những người bạn cùng quê hương. Khi bỏ kháng chiến để trở về thành phố, nơi Pháp tạm chiếm, tôi ít có dịp trở lại quê cũ vì bận học ở Hà nội. Bạn bè thời thơ ấu hầu như chẳng có ai, đa số còn lạc lõng ngoài hậu phương. Khi có hiệp định Genève, hòa bình được tái lập, tôi vội vã di cư vào Nam. Bạn cũ nhiều người ở lại, do đó chúng tôi không có tin tức gì của nhau. Nhưng theo sự suy nghĩ thông thường thì tôi cho rằng bạn tôi, kể cả Phong, cũng sẽ có một cuộc sống như mọi người là tạo dựng một gia đình. Bây giờ, tôi mới biết Phong không nằm trong “sự thông thường” đó. Hắn sống độc thân suốt đời. Thì ra hắn đã yêu Nga đến độ không thể nghĩ đến người con gái nào khác.  
  •  
  • Tôi bảo hắn :
  •  
  •            “Mối tình cậu dành cho Nga là mối tình lớn, bất diệt. Có thể nói đó là mối tình rất hiếm có trên cái cõi đời luôn luôn thay đổi như chong chóng này.”
  •  
  •            Hắn lơ đãng nhìn ra ngoài sân, giữ im lặng. Rồi hắn bỗng đứng lên, ra hiệu cho tôi đi theo. Chúng tôi lên lầu.. Đó là phòng ngủ của hắn. Trong phòng có một chiếc giường gỗ nhỏ và ngay cạnh giường là một bàn thờ, rất sơ sài. Một tấm hình lồng trong một cái khung gỗ đánh véc ni đặt trên một cái hộp và trước hình là một bát hương bằng sứ. Khi đến sát bàn thờ tôi nhận ra ngay hình Nga thuở mới  mười bốn, mười lăm.  Còn cái hộp là hộp đàn vĩ cầm. Vì bị bất ngờ, tôi sững sờ đến không thốt được nửa lời. Hắn cho biết Nga mất đã gần ba năm.  Sau cái chết của người tình trong mộng, hắn mới quyết định dọn về quê cũ.
  •  
  • Cây đàn bây giờ đã trở thành cây đàn thờ nên tôi biết tôi không có hy vọng được nghe hắn đàn, nhưng cứ hỏi :
  •  
  • “Lúc nào cậu có thể cho tôi thưởng thức tài nghệ của cậu ?”
  •  
  • Hắn cười :
  •  
  • “Cậu ‘đao to búa lớn’ quá. Thưởng thức tài nghệ ! Cậu làm như tôi là một đại danh cầm ấy. Cậu muốn nghe tôi đàn thì…tôi sẽ đàn cho cậu nghe, chỉ sợ lúc đó lại chê là…kéo nhị thôi.”
  •  
  • Tôi mừng rỡ :
  •  
  • “Bao giờ ?  Ngay bây giờ có được không ?”
  •  
  • Lưỡng lự một vài giây, hắn hẹn :
  •  
  • “Một tuần nữa, cậu trở lại… Mỗi năm tôi chỉ đàn có một lần.”
  •  
  •     Tôi chờ đúng một tuần mới trở lại nhà Phong. Vì bà chị tôi đoán hôm ấy có thể là ngày giỗ của Nga, tôi đem theo hoa quả và một thẻ hương để cúng người đã khuất. Tôi phải đợi hơi lâu mới thấy Phong mở cửa. Hôm nay trông hắn có vẻ hơi khác la.. Buồn bã, phờ phạc, ngơ ngác, như mất ng, như  trong cơn mộng mị. Hắn lặng lẽ mở cửa cho tôi, rồi đứng tránh sang một bên nhường lối cho tôi bước vào nhà. Rồi chúng tôi vào phòng trong sau khi hắn khép cửa và cài then cẩn thận. Tôi để đồ cúng lên bàn nước rồi nói vắn tắt :
  •  
  •            “Để cúng Nga !”
  •  
  •            “Sao cậu biết hôm nay là ngày giỗ Nga ?” Hắn ngạc nhiên hỏi.
  •  
  •            Nhưng liền sau đó, không cần đợi tôi trả lời, hắn mang đồ cúng lên gác ngay. Tôi lên theo hắn. Bàn thờ Nga hôm nay hơi khác. Tấm ảnh của Nga không còn để trên hộp đàn nữa mà đặt trên một bệ gỗ phủ vải điều. Hai bên ảnh có hai cây nến đỏ chưa đốt. Cây đàn được dựng đứng cạnh cây nến bên tay phải. Bát hương có ba cây hương đang cháy. Hai bên có một đĩa gà luộc và một đĩa xôi đậu xanh. Hắn lấy thêm một đĩa lớn để bầy trái cây tôi mang tới. Có lẽ nhà không có bình nên hắn cắm hoa vào một cái ly thủy tinh. Nhờ bó hoa hồng, bàn thờ trở nên sáng sủa và trang nghiêm hơn. Nhìn bàn thờ có vẻ khác trước, hắn nói với một giọng vui vẻ, bằng lòng :
  •  
  •            “Ừ, cậu mua hoa khéo đấy…Năm ngoái, giỗ Nga, tôi chỉ đàn cho một mình Nga nghe thôi và định rằng cho đến ngày tôi chết, không ai được nghe tiếng đàn của tôi. Nhưng vì cậu không ở luôn đây và vài hôm nữa cậu lại ra đi, rồi chả bao giờ hai đứa mình có dịp gặp nhau, nên tôi đành chiều ý cậu.”
  •  
  •            Quả thật, tôi không tính trở về quê một lần nữa vì tuổi già, đi lại mệt mỏi, khó khăn. Bầy xong hoa và trái cây lên bàn thờ, hắn lại đưa tôi xuống dưới nhà. Lần này hắn mời tôi uống chè tươi nóng và ăn kẹo vừng. Chè tươi và kẹo vừng làm tôi nhớ lại những ngày thơ ấu xưa. Kẹo vừng, kẹo bột là món quà mà bọn “trẻ ranh” chúng tôi đều thích. Nơi chôn nhau cắt rốn của chúng tôi là một tỉnh lỵ quê mùa, nên quà bánh cũng đều là đặc sản mang phong vị quê hương. Sau này, khi sinh sống ở miền Nam, tôi ít có dịp được thưởng thức lại loại quà bánh đúng hương vị của thời thơ ấu. Đến quá trưa, tôi bắt đầu sốt ruột, không thấy Phong nhắc đến chuyện cúng giỗ. Nhưng vì lịch sự, tôi không dám hỏi han hoặc thúc giục, nghĩ rằng hắn phải có lý do  nên chưa bắt đầu. Chúng tôi uống hết một ấm chè tươi và ăn thêm đĩa kẹo vừng nữa. Tôi thực sự sốt ruột, lén nhìn đồng hồ tay nhiều lần. Khi thấy đã đúng 1 giờ, tôi toan lên tiếng thắc mắc thì Phong bỗng đứng lên, nói :
  •  
  • “Nào, mình lên cúng !”
  •  
  • Rồi hắn giải thích về sự chậm trễ :
  •  
  • “Nga mất lúc 1 giờ 7 phút.”
  •  
  • Tôi lẳng lặng đi theo hắn. Đứng trước bàn thờ Nga, hắn có một vẻ nghiêm trang khác thường. Hắn thay một tuần hương khác và đốt nến.. Ánh nến chập chờn trước ảnh Nga làm nàng như ẩn như hiện. Cái vẻ ngây thơ, nhí nhảnh dưới ánh nến lung linh trông càng quyến rũ hơn. Phong đứng thẳng người, chắp hai tay trước mặt, lẩm nhẩm khấn. Tôi đứng sau hắn, cách một khoảng ngắn, chắp tay trước ngực, nói nhỏ chỉ đủ tôi nghe :”Cô Nga, xin Cô về chứng giám cho mối tình chuyên nhất của Phong. Mối tình thầm lặng này không biết khi sống Cô có rõ không ?  Nhưng tôi tin rằng ở trên cõi đời này chỉ có Phong là người chung thủy như vậy…”
  •  
  • Tôi chưa khấn xong thì đã nghe tiếng đàn của Phong. Tiếng đàn thoạt tiên nhẹ nhàng, dìu dặt, dần dần trở nên réo rắt, dồn dập. Tôi cảm thấy như có một luồng sóng âm thanh tràn vào đầy ắp tâm hồn tôi. Rồi luồng sóng đó như có sức mạnh xô đẩy tôi rơi vào một khoảng mơ hồ, mộng ảo, dẫn tôi lạc tới một thời điểm rất xa xôi trong dĩ vãng. Tôi bỗng thấy Nga mặc áo dài nâu nhạt. Cô bé ít khi mặc áo dài, trừ hai trường hợp  :  đi học và đi lễ chùa với mẹ, bà Phán Định. Thường thường cô mặc áo ngắn để dễ chạy nhảy, vui đùa với bạn. Hôm ấy cô đi chùa. Màu nâu làm nổi bật nước da trắng hồng. Cô khoan thai đi bên cạnh mẹ. Bà Phán mặc áo dài màu đậm (tôi không nhớ rõ là màu gì). Bà cũng là một người đẹp của tỉnh tôi. Hai mẹ con đi thong thả trên hè phố, khiến nhiều người hai bên đường ngừng tay làm việc để nhìn theo, để trầm trồ khen ngợi. Quả thật mẹ cũng đẹp mà con cũng xinh. Dòng nhạc bỗng thay đổi, như cuồn cuộn, như ríu rít. Tôi bỗng nhớ tới một cô Nga bé nhỏ, tinh nghịch và duyên dáng. Nga chơi đùa với bạn gái cùng trang lứa một cách hồn nhiên, cười nói cởi mở, như không biết mình có một nhan sắc quyến rũ khiến nhiều cậu trai mơ tưởng. Những cô gái biết mình xinh đẹp thường làm ra vẻ yểu điệu, e thẹn. Hay Nga không biết mình đẹp, không biết mình quyến rũ ?  Nhưng chính cái vẻ tự nhiên của Nga càng làm cô xinh đẹp hơn. Tôi chỉ biết Nga khi cô mới mười bốn mười lăm, rồi chiến tranh làm chúng tôi tan tác mỗi người mỗi ngả. Sau này, khi trở thành một thiếu nữ xinh đẹp trong thời chiến, cô có thay đổi, có trở nên kênh kiệu không ?  Tôi đoán rằng tính hồn nhiên, vẻ giản dị vẫn là nét duyên dáng đặc biệt nơi cô, không thể thay đổi.
  •  
  • Tiếng đàn bỗng tắt. Dòng nhạc đang cuồn cuộn bỗng tắt ngấm. Một khoảng trống im lặng bao trùm cảnh vật chung quanh. Nhưng tôi có cảm giác mình vẫn đang bềnh bồng trôi trên một dòng nước êm đềm của dĩ vãng. Tôi vẫn nhìn thấy nụ cười tươi tắn của Nga, vẫn trông thấy đôi mắt sáng và tinh nghịch của cô bé. Cái khoảng im lặng ngắn ngủi ấy bỗng bị phá vỡ bởi một dòng nhạc mới  Tôi nhìn Phong, thấy hắn quỳ trước bàn thờ Nga. Tiếng đàn như nức nở, như than khóc. Tôi nghĩ tới một đám tang. Có những tiếng gào khóc ai oán xen với những tiếng thút thít, nghẹn ngào. Trước mắt tôi, nhiều bóng người qua lại như những bóng ma, vây quanh một chiếc quan tài chưa đậy ván thiên. Tôi không lại gần nên không biết người nằm trong đó già hay trẻ. Tôi mơ hồ đoán rằng đây là đám tang của Nga. Chính vì vậy tôi không dám lại gần áo quan vì tôi muốn giữ mãi hình ảnh một cô Nga bé nhỏ, hồn nhiên. Lòng tôi nao nao buồn, thổn thức. Tiếng vĩ cầm mỗi lúc một trầm xuống, ngân dài như một tiếng thở não nuột, như một tiếng rên khóc bi ai. Có lúc lại như những tiếng nấc đau đớn. Mắt tôi nóng ran và đẫm ướt. Hơi thở như  vướng lại trong lồng ngực, không sao thoát ra ngoài được. Lòng tôi thắt lại, tim tôi như ngừng đập. Đúng lúc đó một tiếng động lớn làm tôi giật mình. Tôi nhìn Phong thì thấy hắn đã nằm phục xuống sàn gác, cây đàn văng sang một bên, sát đầu hắn. Có thể khi cơn xúc động lên cao độ hắn buông rơi cây đàn. Hai vai hắn rung nhè nhẹ. Sự việc trước mắt làm tôi ngỡ ngàng. Tôi không ngờ hắn vẫn yêu Nga tha thiết như vậy, yêu đến khổ đau, đến dại khờ.
  •  
  •            Không muốn phá rối hắn trong cơn xúc động mạnh, tôi nhẹ nhàng bước xuống nhà dưới. Trong đời, tôi đã chứng kiến nhiều đổi thay, từ ngoại cảnh đến nội tâm, nên vẫn tin rằng chẳng có gì tồn tại vĩnh viễn dưới ánh mặt trời.. Nhưng hôm nay, niềm tin tưởng đó bị lung lay. Mối tình của Phong – một mối tình thầm lặng, đơn phương – không tàn phai theo năm tháng. Phong vẫn yêu, dù không được yêu lại. Tôi không rõ trước khi Nga lấy chồng, hắn đã tỏ tình chưa ?  Suốt quãng đời độc thân, lẻ loi, hắn vẫn ôm ấp hình ảnh một cô Nga bé nhỏ ngày nào. Tình yêu như thế có lẽ chỉ có một trên cõi đời vô thường này.
  •  
  •       
  •  
  •                                                                             
  •   TẠ QUANG KHÔI  (10-2000)
__._,_.___
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 28

Lửa Và Cuồng Nộ

The best- selling book- 2018
Đó là quyển: FIRE and Fury ( Lửa và Cuồng Nộ) đã được xuất bản vào ngày 5 tháng 1 năm 2018 bởi Henry Holt and Company, tác giả của Michael Wolff, đây là quyển sách xuất bản đầu tiên của tháng 01- 2018… Đã có ít nhất 48 ngàn quyển đã được đặt mua trên Amazon, ngoài ra chỉ mới vừa giữa khuya của ngày 5 tháng 01 rất nhiều người đã đội lạnh buốt của miền Đông Bắc sắp hàng để mua cuốn sách nầy, chưa kể những tiểu bang khác và trên toàn thế giới…
Có gì đặt biệt trong cuốn sách nầy nhỉ? Ồ có lẽ lại là một face news hay fake book nữa chứ gì?
Oh! thiên hạ lại thích chuyện nghe fake nhỉ? Cuộc đời nầy vốn dĩ là fake mà…
Nói đến “Cuồng Nộ” mình lại nhớ đến quyển : Âm Thanh Và Cuồng Nộ ( The Sound and The Fury ) của William Faulker xuất bản ngày 07-10-1929 . Quyển sách nầy ra đời cũng đã mang lại cho tác giả một danh tiếng lẫy lừng trong giới văn học và quần chúng… Chuyện kể: Câu chuyện là một thằng ngây khờ , ồn ào và điên giận, chẳng có ý nghĩa gì cả, một người đần độn bẩm sinh, gào khóc và phẫn nộ, với những ý nghĩ rời rạc, mù mờ, chắp nối hỗn độn, những hồi ức liên tưởng , lộn xộn, xuôi ngược trên dòng thời gian, lẫn lộn quá khứ, hiện tại , vị lai… William Faulkner cũng đã từng đoạt nhiều giải văn học trong đó có giải Nobel năm 1950..
Thế mới nói văn sĩ,thi sĩ, nhạc sĩ.v.v. là những người Tiên Tri, có những tác phẩm viết cả mấy chục ,trăm năm trước đến bây giờ vẫn thấy đúng và ứng nghiệm…
Đến nay Michael Wolff cũng có một: Lửa và Cuồng Nộ, nhưng không biết nhân vật chính trong sách nầy có phải là một tên khờ đần độn và cuồng nộ hay không? Sách cũng đang bán chạy như ” tôm tươi”, thế là tác giả khoái chí quá viết thư cám ơn nhân vật chính trong truyện, hãy chờ xem sự cam đảm của tác giả và nhân vật chính…
CD

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 50

Chiếc Ví Bị Đánh Rơi

Tình yêu như của cặp đôi dưới đây có đẹp không? , thưa các Bạn. Có lẽ nhiều bạn sẽ đồng ý với người dịch là tình yêu chân thật không có tuổi – trên cả tuyệt vời-  và tự hỏi bao nhiêu người sẽ bỏ công như chàng trai nhặt được chiếc ví tình yêu trong câu chuyện.

http://o.aolcdn.com/dims-shared/dims3/GLOB/crop/3427x1815+0+2665/resize/604x327!/format/jpg/quality/85/http://o.aolcdn.com/hss/storage/adam/18312f51b76afe9abbd59e049afcc204/92631243.jpg
 
Một ngày đông lạnh giá, trên đường  đi bộ về nhà tôi nhìn thấy một chiếc ví bị đánh rơi. Tôi nhặt lên và nhìn vào trong ví xem thử có thông tin gì để gọi cho chủ nhân của nó. Trong ví chỉ có 3 đô la và một phong thư nhàu nát như thể đã nằm trong ví nhiều năm rồi.
 
Chiếc phong bì cũ nát và hoen ố đến độ chỉ có thể đọc được địa chỉ người gửi. Tôi bắt đầu mở lá thư với hy vọng tìm được chút manh mối. Lá thư đề năm 1924, được viết gần 60 năm về trước.
 
Image result for The lost wallet, a great love story
 
Lá thư được viết bằng nét chữ đẹp mềm mại của phụ nữ trên phong bì màu xanh da trời nhạt có in bông hoa nhỏ ở đầu góc trái. Đó  là một lá thư chia tay gửi Michael với nội dung  cô gái sẽ không thể gặp gỡ chàng trai được nữa vì bị mẹ cấm đoán. Nhưng cho dù như vậy, cô nói rằng sẽ yêu chàng trọn đời.
Lá thư ký tên Hannah.
 
Đó là một lá thư  đầy cảm xúc, nhưng chẳng có cách nào tìm ra chủ nhân – người nhận lá thư ngoài cái tên Michael. Có lẽ nếu tôi gọi cho bộ phận giải đáp thông tin, biết đâu chừng nhân viên trực tổng đài điện thoại có thể tìm ra số điện thoại có đăng ký địa chỉ trên phong thư nằm trong chiếc ví này.
“ Chào cô, “ , tôi bắt đầu, “ tôi có việc đặc biệt này muốn nhờ cô.  Tôi đang cố gắng tìm chủ nhân của cái ví tôi lượm được. Có cách nào cô giúp tìm số điện thoại cho địa chỉ viết trên cái bì thư  ở trong ví không?
 
Cô nhân viên bảo tôi trao đổi với người phụ trách, người này ngần ngừ một lát rồi nói: “ Vâng, có một số điện thoại đăng ký với địa chỉ đó, nhưng tôi không thể cung cấp số điện thoại cho anh. Với vẻ lịch sự, bà ấy nói thêm rằng bà sẽ gọi đến số đó, giải thích về chiếc ví lượm được và hỏi xem họ có muốn liên lạc với tôi không.
 
Tôi đợi vài phút thì nghe tiếng cô ấy : “ Có người sẽ nói chuyện với anh đây.”
Tôi hỏi người phụ nữ bên kia đường dây xem bà có biết ai tên Hannah . Bà có vẻ kinh ngạc: “ Ồ! Chúng tôi mua ngôi nhà này từ một gia đình có  người con gái tên Hannah. Nhưng đó là  chuyện 30 năm về trước!”
“Vậy bà có biết bây giờ gia đình đó sống ở đâu không?”  Tôi hỏi
“ Tôi nhớ là Hannah phải đưa mẹ vào một nhà dưỡng lão cách đây vài năm, “ Bà nói tiếp: “ Có lẽ nếu cậu liên hệ với họ, họ sẽ giúp tìm được con gái của họ”
 
Tôi cảm ơn họ và gọi tiếp. Người phụ nữ trả lời điện thoại cho biết rằng chính Hannah cũng đang sống trong một nhà dưỡng lão.
 
Toàn bộ chuyện này thật ngớ ngẩn, tôi thầm nghĩ. Vì cớ gì tôi lại dính vào một chuyện phiền toái đi tim chủ nhân của chiêc ví  bên trong chỉ có 3 đô la và một lá thư viết gần 60 năm trước?
 
Tuy nhiên, tôi vẫn gọi đến nhà dưỡng lão nơi mà họ nói là Hannah đang sống. Người đàn ông nhận điện thoại cho tôi biết Hannah đang sống tại đó.
 
Mặc dù lúc đó đã 10 giờ đêm. Tôi hỏi xem có thể đến đó thăm bà ấy không. “ Vâng, “ ông ta nói với vẻ hơi ngần ngại, “ nếu  anh muốn, giờ này có thể bà ấy đang ở trong phòng ban ngày xem TV .
 
Tôi cảm ơn và lái xe đến nhà dưỡng lão. Người bảo vệ và cô y tá chào tôi ở cửa. Chúng tôi lên tầng 3 của tòa nhà lớn này. Trong căn phòng sinh hoạt ban ngày, cô y tá giới thiệu tôi với Hannah.
Đó là một bà lão tóc bạc trắng, đáng yêu với nụ cười ấm áp và đôi mắt còn tinh anh. Tôi kể cho bà về chiếc ví nhặt được và đưa cho bà lá thư. Giây phút vừa nhìn thấy phong thư màu xanh da trời nhạt có bông hoa trên goc trái, bà thở một hơi dài và nói, : “ Này cậu, lá thư này là liên lạc cuối cùng của ta với Michael.”
 
Bà nhìn ra ngoài xa vắng, chìm trong suy nghĩ một lát rồi nói nhỏ, “ Ta đã yêu ông ấy biết bao. Nhưng lúc đó ta mới 16 tuổi và mẹ bảo ta còn nhỏ quá. Ồ, chàng thật đẹp trai, giống tài tử Sean Connery.
“ Phải rồi, “ , bà tiếp tục, “Michael Goldstein là người tuyệt vời. Nếu cậu tim được ông ấy, xin nói rằng ta thường nhớ đến ông. Và , “ bà ngập ngừng cắn môi, “ nói với ông ấy rằng ta vẫn yêu ông. Cậu biết không, “ bà nở nụ cười qua hàng lệ tuôn tràn trên đôi mắt, “ Ta không lập gia đình. Ta nghĩ chẳng ai có thể xứng đáng như Michael…”
 
Tôi cảm ơn và từ biệt Hannah. Tôi đi thang máy xuống tầng dưới cùng và khi ra cửa, người bảo vệ hỏi, “ Bà lão co giúp gì được cho cậu không?”
 
Tôi nói rằng bà cụ đã cho tôi một chút thông tin. “ Ít nhất tôi đã có cả họ tên. Nhưng tôi sẽ phải tạm buông chuyện này. Tôi đã dành gần trọn ngày tìm chủ nhân của chiếc ví  này rồi.”
 
Tôi láy chiếc ví ra, chiếc ví da giản dị màu nâu viền đỏ. Khi người bảo vệ nhìn thấy, ông ta nói, “Khoan đã! Đó là ví của ông Goldstein. Tôi biết chắc nó với viền màu đỏ tươi. Ông ta cứ làm mất chiếc ví này hoài. Tôi chắc là đã tìm thấy chiếc ví của ông ta  ở hành lang 3, 4 lần rồi. “
“ Ông Goldstein là ai? “, tôi hỏi  mà bàn tay cầm chiếc ví bắt đầu run rẫy
“Đó là ông lão ở tầng 8. Chắc chắn là ví của Mike Goldstein. Hẳn là ông lão bị rơi ví trong một lần đi dạo. “ Tôi cảm ơn người bảo vệ và vội vã trở lại phòng y tá. Tôi thuật lại lời của người bảo vệ. Sau đó chúng tôi trở lại thang máy và lên tầng 8. Tôi cầu nguyện sao cho ông Goldstein vẫn còn thức.
Trên tầng 8, cô y tá trực ở đó nói, “ Tôi chắc ông lão vẫn còn ở phòng sinh hoạt ban ngày. Ông thích đọc sách ban đêm. Ông lão thật đáng yêu. “
 
Chúng tôi đến căn phòng duy nhất còn sáng đèn nơi có một ông lão đang ngồi đọc sách. Cô y tá đến chỗ ông và hỏi có phải ông làm mất vi không. Ông Goldstein nhìn lên ngạc nhiên và đưa tay ra túi quần sau và nói, “ Ò, ví mất rồi!”
“ Cậu thanh niên này đã tìm được chiếc ví này và chúng tôi  không  biết nó có phải là ví của ông?”
Tôi đưa chiếc ví cho ông lão và ngay khi nhìn thấy nó, ông mỉm cười nhẹ nhõm: “ Phải chính là ví của tôi! Chắc là tôi làm rớt nó từ túi quần trưa nay. Tôi muốn tặng câu một chút làm quà. “
Dạ khỏi, cám ơn ông, “ tôi đáp. “ Nhưng tôi phải thú thực với ông là tôi đã đọc lá thư  với hy vọng tìm ra chủ nhân của chiếc ví. “
 
Nụ cười  bỗng tắt ngay trên khuôn mặt ông lão. “ Cậu đã đọc lá thư  à?”
Không chỉ đọc thư, tôi còn biết Hannah đang ở đâu.”
 
Mặt ông chợt biến sắc, “Hannah à? Cậu biết  bà ấy ở đâu sao? Bà ấy có khỏe không? Bà ấy vẫn xinh đẹp như trước? Xin cậu, làm ơn nói cho tôi biết, “ ông nói với vẻ thiết tha.
Tôi nhẹ nhàng đáp lại ông, “ Bà ấy khỏe, vẫn xinh đẹp như hồi ông  mới quen bà.”
Ông lão mỉm cười với vẻ mong đợi và hỏi, “ Cậu cho tôi biết bà ấy đang ở đâu. Tôi muốn  gọi cho bà ấy ngày mai.” Ông chụp lấy tay tôi, “ Cậu có biết, tôi đã yêu cô gái ấy nhiều đến độ khi lá thư đến, cuộc đời tôi xem như đã hết. Tôi đã không lấy vợ. Tôi nghĩ tôi  vẫn mãi mãi yêu cô ấy.”
“Ông Goldstein, đi với cháu”, tôi nói
 
Chúng tôi đi thang máy xuống tầng 3. Hành lang tối chỉ có một hai ngọn đèn đêm rọi ánh sáng lờ mờ cho chúng tôi đến phòng sinh hoạt ban ngày, trong đó chỉ có một mình bà Hannah đang xem TV. Cô y tá đi về phía bà.
 
Cô nói, “Hannah, “vừa chỉ vào Michael, đang đứng với tôi ở ngưỡng cửa. “ Bà có biết ông này không?”
Bà kéo chiếc kính trên mắt lên nhìn một lúc mà không nói một lời nào. Michael nói khẽ, như thì thầm, “ Hannah, là Michael đây. Bà có nhớ ra tôi không?”
 
https://banmaihong.files.wordpress.com/2016/11/168fd-hnbkfu5xqfpregx5u9vut4xxxl4j3hpexhjnof_p3ymrypkwj94qgrtdb3sbc6ky.jpg?w=468
 
Bà thở mạnh, “ Michael, Ôi trời, không thể tin được, Michael. Chính là anh, Michael  của Em! Ông lão chậm bước về phía bà; họ ôm nhau. Cô y tá và tôi bước ra nước mắt lăn dài trên má chúng tôi.
“ Thấy chưa, Ông Trời có mắt! Trời đã định thì duyên vẫn còn.”
 
Khoảng 3 tuần sau tôi nhận được cuộc gọi của nhà dưỡng lão đến văn phòng của tôi. “ Anh có thể đến vào Chủ Nhật dự đám cưới không? Michael  và  Hannah sẽ kết hôn.
 
Đó là một đám cưới đẹp với tất cả những người  ở nhà dưỡng lão diện thật bảnh để dự lễ. Hannah mặc một chiếc áo cưới màu be sáng trông rất xinh đẹp. Michael khoác một bộ com lê xanh đen rất phong độ tự tin. Họ nhờ tôi làm phù rể.
 
Nhà dưỡng lão cho họ căn phòng riêng. Nếu bạn muốn chứng kiến cô dâu 76 và chú rể 79 cái xuân xanh giống như đôi trẻ, bạn phải đến gặp đôi vợ chồng này.
Một cái kết hoàn hảo cho một chuyện tình dài gần 60 năm.
 
Có đẹp không? Tình yêu như thế có đẹp không? , thưa các Bạn.
.

Huỳnh Huệ dịch

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 42

Một chút tản mạn mùa đông

Đêm qua chợt thức giấc nửa khuya, nghe cơn gió đập ào ào ngoài khung cửa, thổi thốc qua những tàng cây, sáng ra thấy lá rơi cành gãy. Chợt nhớ đến câu thơ của Tản Đà:

Trận gió thu phong rụng lá vàng…
Lá bên hàng xóm lá bay sang
 


Nhưng gió ở đây không còn là thu phong nữa, mà đã là cơn gió đông.
Thế nhưng nắng Cali mềm như lụa vẫn trải đều màu vàng óng . Trong mỗi khu vườn vẫn còn thấy những bông cúc vàng hé nở. Những đóa hoa nở muộn vẫn như níu kéo mùa thu ở lại. Và lòng người thoáng một chút bâng khuâng:

Một chút gió lập đông
Một bông cúc cuối mùa
Muộn màng hé nở
Tưởng chừng như…có ai lượm đầy thu trong hoa cúc
Giọt nắng vẫn pha màu
Còn sóng sánh hơi thu
 
Có một chút gì đó ấm áp, có một chút gì đó bâng khuâng đủ để nghĩ đến nhau dù mùa thu không còn nữa. 

Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi
***
Mùa đông ở Mỹ có nhiều nơi tuyết phủ ngập cả thành phố. Qua khung cửa kính ta thấy con đường trước mặt đã bị tuyết đóng băng. Cây cối phủ trùm một màu trắng xóa…
Trong tâm tưởng, ta chẳng khỏi ngậm ngùi nhớ đến hình ảnh Zivago đi dưới trời mưa tuyết của thành phố Moscova và trái tim giá buốt của ông luôn bật lên tiếng kêu thảng thốt “Lara, Lara! Em ở đâu?” Rồi Zivago ngã gục xuống …
Bóng dáng hạnh phúc vừa vụt mất.
Vâng, 
Hạnh phúc là như thế. Vẫn là hình ảnh thứ hai của nỗi bất hạnh. Dễ vỡ. Dễ lìa xa. 
Trong những nỗi buồn của con người có lẽ nỗi buồn yêu nhau mà phải xa nhau, không được sống gần nhau la đớn đau và sâu nặng nhất. Cho nên có ai đó đã chẳng ước mong:

Biệt ly dù ở ga nào
Cho tôi ngồi một toa tàu lãng quên 

Ngồi ở đây trong căn phòng ấm áp, giữa mùa đông xứ lạ mà sao lòng ta vẫn nghe rét buốt của tháng Chạp quê nhà.

Trên bầu trời xám xịt, đàn sếu uể oải qua sông.
Đã nghe rét mướt luồn trong gió
Đã vắng người sang những chuyến đò
Trong cái giá lạnh căm căm của gió bấc và mưa phùn, quá khứ vẫn âm thầm vọng về tiếng nói ưu phiền. Và trong cái hiu quạnh của mùa đông, ta vẫn còn nguyên nỗi ray rứt về một ánh mắt đã phai, về một tình yêu đã mỏi

Ngày đã tàn
Hoa đã tả tơi
Đời biết có dành cho chúng ta
Một ngày gặp gỡ
Hạnh phúc mong manh phải vây bọc bằng cách gọi tên, một cách nhắc nhở rằng :
Đó là những điều có thể biến mất. 
Hiện tại không đủ cho một người tình. Người ta nhân hạnh phúc lên gấp đôi và khổ đau thành một lũy thừa

Nếu cái mất trong tình cũng là hạnh phúc thì tại sao chúng ta lại ngờ vực cái còn. Những ngày chúng ta có nhau không phải là hạnh phúc hay sao?

Và nếu tất cả cái còn lẫn cái mất đều là hạnh phúc thì bất hạnh là gì đây, thưa các bạn?
Bích Huyền
 
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 105

Ba và tôi

Nếu bạn sống bên cạnh cha mẹ và có thể nhìn thấy những đổi thay từ từ của hai đấng sinh thành mỗi ngày thì chắc bạn cũng như tôi… ngậm ngùi nuối tiếc, ngay cả khi đang cùng Ba Mẹ ngồi ăn một bữa cơm tối.

Ba tôi đưa đũa gắp thức ăn cho vào chén, tôi giúp ông:

– Ba, để con gắp cho.

– Không, Ba tự làm được mà!

Đầu đủa của Ba cứ gắp gắp xuống mặt bàn…

– Ba để con gắp cho!

– Được mà!

Hai, rồi… ba lần. Ba chỉ gắp được một cọng hành trong đĩa thịt xào.

Miếng cơm trong miệng tôi bỗng đắng ngắt.

Một lần khác, Ba chan canh vào chén mà đổ tràn ra bàn, Ba đổ rác vô thùng mà tung tóe ra ngoài …

Nhìn bên ngoài, so với những ông cụ cùng lứa tuổi thì Ba tôi thật khỏe mạnh, nói chuyện giọng còn sang sảng… Ba lúc nào cũng là người đàn ông trong gia đình. Ba trông coi sân trước, vườn sau chu đáo; đóng cửa khoá phòng cẩn thận; tắt bếp tắt đèn trước khi đi ngủ; thu dọn rác rưởi sau những bữa tiệc; dành xách những túi đi chợ nặng nhất; bất cứ lúc nào, bất cứ việc gì…. không cần vợ con lên tiếng yêu cầu, Ba đều hăng hái chu toàn. Ba đúng là hình ảnh trụ cột của gia đình, gương mẫu và đầy vị tha.

Nhưng, tôi biết mỗi ngày qua là mắt Ba mờ hơn một chút, tai lãng hơn, tay chân lọng cọng và trí nhớ cũng dần mai một. Vậy mà khi tôi đưa Ba đi Bác sĩ khám tai để mua máy trợ thính thì ông la chói lói:

– Ba đâu có điếc mà đeo ba thứ đó.

Hoặc triết lý hơn một chút:

– Ôi, thôi, già rồi… bớt nghe một chút, không sao. Lỗ tai là cái gây nghiệp chướng nhiều nhất, bớt nghe bớt gây nghiệp!

Cho đến lần bạn già gọi điện thoại hỏi thăm, Ba khoát tay ra hiệu:

– Nói ổng… Ba ngủ rồi hoặc… Ba đi vắng!

Khi tôi cằn nhằn:

– Ba lạ ghê, không ai gọi thì trách mà có người gọi thăm thì không chịu nói chuyện.

Ba bỏ nhỏ:

– Tai Ba… không nghe rõ, kẻ hỏi gà, người trả lời vịt, phiền lắm, con!

Ba và mấy chị em tôi định cư ở USA tháng 7 năm 1994. Năm đó Ba tôi đã 64 tuổi, sau mười một năm trong trại cải tạo đã biến Ba tôi từ một người đàn ông trung niên đầy sức sống, đang thăng tiến về mọi mặt trong đời sống trở thành một ông già sáu mươi ốm yếu, bệnh hoạn. Tài sản trong nhà lần lượt ra đi vì vợ con không có cơ hội để kiếm được một công việc làm ổn định. Tôi, đứa con gái lớn của Ba, sau một cuộc tình duyên dang dở thì cũng đang vất vả nuôi một đứa con gái nhỏ không có quê nội để về..

Tôi vẫn còn nhớ ánh mắt của Ba nhìn tôi ngày tôi lên thăm Ba ở trại tù Tiên Lãnh- Quảng Nam. Ánh mắt ấy đã theo tôi suốt những tháng ngày còn lại trong đời. Vừa xót xa và tràn đầy thông cảm. Ba đã nói: “Con gái , khi chúng ta không thể nào thay đổi được hoàn cảnh thì nên vui vẻ chấp nhận nó, biết đâu… trong cái rủi còn có cái may, con à!”

Câu nói của Ba như một lời tiên tri. Cùng với nước mắt của hai mẹ con và lời khai theo sự hướng dẫn của Ba, tôi và đứa con gái nhỏ đã may mắn được sự chấp thuận của phái đoàn phỏng vấn cho đi định cư tại USA theo diện Nhân đạo (H.O) cùng với Ba và mấy người em. Lúc đó tình hình phỏng vấn rất căng thẳng cho con em của cựu tù nhân trên 21 tuôỉ. Năm đó tôi đã ba mươi sáu tuổi, trường hợp của hai mẹ con tôi được xem như là một kỳ tích. Tuy vậy, quyết định đưa đàn con đi định cư ở một đất nước xa xôi khiến Ba tôi ray rứt nhiều ngày tháng, sau khi đến Mỹ. Thực tế chẳng bao giờ giống như mình tưởng tượng. Những lá thư từ bạn bè, người thân gởi về trình bày hoàn cảnh nơi sống mới không chính xác, thật ra, họ cũng chẳng am tường gì cho lắm. Mấy cha con tôi lê thê lếch thếch ra đi, ra khỏi nước bằng máy bay hẳn hoi, không phải vượt rừng, vượt đại dương gì cho cam go.

Những tháng ngày đầu tiên trên đất Mỹ thật gian nan, Má tôi vì lý do sức khoẻ đã không cùng đi với gia đình vào năm đó. Dưới sự dìu dắt của Ba, tôi vừa làm chị vừa quán xuyến việc nhà thay cho mẹ. Tôi đã phải vật lộn với cơm áo và ngôn ngữ để vươn lên và tồn tại trong xã hội mới này. Mỗi ngày tôi đã phải làm việc 12 tiếng đồng hồ, lái xe đi và về gần 3 giờ. Ba tôi dù tuổi đã cao, cũng kiếm được một việc làm gần nhà.. Những lúc rảnh, Ba còn giúp tôi chăm sóc đứa cháu ngoại. Vốn thấm nhuần giáo lý nhà Phật, Ba dạy cho con gái tôi nên làm điều thiện, tránh điều ác; giảng cho cháu thế nào là nhân quả, luân hồi và lòng vị tha. Sau này, cả hai mẹ con tôi đều chịu ảnh hưởng quan niệm sống của Ba tôi rất sâu đậm.

Tôi nhớ rõ ràng, sáu người trong gia đình tôi đặt chân đến vùng đất tự do này với vỏn vẹn hai trăm đô la trong túi, không kể là biết bao nợ nần còn vương vấn nơi quê nhà. Vậy mà cái xách tay đựng tiền đó, tôi đành đoạn bỏ quên trên máy bay khi chuyển phi trường ở Los Angeles. Máy phóng thanh réo tên mình oang oang tôi cũng chẳng nghe được, đến khi có nhân viên của chương trình IOM đến giúp đỡ, tôi trình bày đúng những gì trong xách tay của mình và được hoàn lại nhanh chóng, dễ dàng. Buổi tối đặt chân lên đất Mỹ, tiếng Anh đầu tiên tôi xử dụng là lắp bắp hai chữ “Thank you” trong ràn rụa nước mắt.

Mấy cha con sau một đêm nghỉ lại ở một hotel sang trọng, món gà chiên cho buổi ăn tối đầu tiên nơi xứ người đã khiến chúng tôi muốn ói vì chưa quen với mùi bơ. Cả nhà ăn tạm bánh tráng, bánh in mang từ VN sang, trong ba lô. Sáng hôm sau, chúng tôi được lên máy bay qua Denver rồi về Georgia. Chỗ ở đầu tiên là căn nhà ngay trung tâm thành phố Atlanta.

Ngày ngày chúng tôi đón xe bus đi học tiếng Anh, học chữ và học cả cách giao tiếp. Mỗi học sinh có mặt trong buổi học trước khi ra về được cô giáo cho hai đồng token, là loại tiền để dùng trả cho xe bus hoặc tàu điện ngầm, đó là một cách khuyến khích những người di dân đến với lớp dạy tiếng Anh. Chúng tôi vừa học sinh ngữ vừa lo học lái xe, những tháng đầu, cuối tuần nào cũng có môt vài người Việt đến thăm và chở chúng tôi đi chợ mua thức ăn, có người mang gạo, nước mắm, bánh mì hay thịt hộp đến cho. Thỉnh thoảng có người từ các cơ quan từ thiện đến đưa chúng tôi đi nhận áo quần ở những nơi bán áo quần cũ. Mỗi người trong gia đình được phát một cái bao nylon loại lớn, đi vòng vòng trong tiệm tha hồ chọn những món mình ưa thích, miễn sao đầy bao là được. Chị em tôi tham lam chọn toàn là đồ vest, com lê dày cộm, cháu bé con gái tôi thì ôm vô số gấu nhồi bông, búp bê… Ai cũng mừng rỡ vì khỏi phải chi tiền ra mà có đồ dùng, tiết kiệm được những đồng tiền trợ cấp, ai cũng vui.

Tôi nhớ có lần tôi đi chợ, muốn mua một cái chổi quét nhà mà ngần ngừ mãi, giá một cái chổi là $7, tôi nhẩm tính ra tiền VN mà hoảng hồn, không dám mua. Vậy mà Ba tôi  một lần đi chợ, dám mua một bộ dao kéo, tông đơ điện để cắt tóc, tôi nhớ dạo đó chừng $19.99, thật là một khoản tiền khá lớn, Ba tôi giải thích: Nhà có hai người đàn ông, mỗi lần ra tiệm cắt tóc mất cũng hai ba chục rồi, chưa kể là phải nhờ người ta chở đi nữa. Mình cắt môt vài lần là lấy lại vốn. Sau khi Ba tôi nghiên cứu tập giấy kèm trong bộ đồ nghề về hướng dẫn cách xử dụng, ông đem tự điển Bách Khoa Toàn Thư ra tra tới, tra lui, thái độ rất tự tin, vui vẻ, yêu đời.

Thế là một ngày đẹp trời, Ba tôi hy sinh làm người mẫu cho chị em tôi luyện tay nghề. Đầu tiên là cô gái út, nổi tiếng khéo tay và từng là thợ cắt Âu phục bên VN. Không biết sao, mới cắm điện vào, đưa một phát, đầu tóc ba tôi bên phải trắng hếu. Con nhỏ hoảng hồn la lên:

– Chết, sao nó ủi nhanh quá vậy.

Con bé lấy cái kéo sửa tới sửa lui, nó lẩm bẩm, cắt bằng kéo coi bộ chắc ăn hơn. Hì hục cả buổi con nhỏ vẫn chưa dám đưa cái gương cho Ba tôi soi. Cô em kế ngồi nhìn em mình làm thợ cắt tóc, coi bộ không xong bèn làm khôn lên tiếng:

– Để tau, tông đơ bằng điện mà, mi giởn hoài.

Cô bé cẩn thận để cái lược lên rồi mới bấm tong đơ, vèo… liếm sát da đầu, trắng hếu nửa.

– Kỳ ghê ta!

Con nhỏ sửa tới sửa lui, chê:

– Ui, cái đầu Ba mình bị méo nên khó cắt cho đẹp.

Cậu em tôi chê hai con em gái không biết xử dụng đồ nghề bằng điện, nó cũng thử tay nghề, húi một phát, phía trước, mặt tiền của Ba tôi bị xẹt một phát, bên cao bên thấp. Đến phiên tôi ra tay nữa thì trời ơi, trông Ba tôi ngố như một người thường trú ở bệnh viện thần kinh đi lạc ra ngoài. Vậy mà Ba tôi soi gương, dòm khuôn mặt khùng khùng của mình rồi cười cười:

– Kệ, xấu mặt thì lâu, xấu đầu mấy lúc, mai mốt tóc dài ra mấy hồi.

Thằng em trai nhìn thấy mái tóc quái đản của Ba tôi thì e dè. Không dám chê, không dám phê bình, ngậm ngùi leo lên ghế ngồi đưa đầu tóc cho ba đứa tôi thực hành tiếp. Hắn khôn ngoan phán cho một câu:

Cắt tự do, đi ra ngoài… tui đội mũ lên là chắc ăn nhất.

Tôi thương cái tính của Ba tôi dễ dãi, hiền hòa, ông chẳng những không phàn nàn về mái tóc không giống ai của mình mà còn lạc quan kể về những ngày mới vào trại cải tạo. Trên đó cũng đâu có ai biết cắt tóc là gì. Có một chú vì quá ốm yếu, không đi ra ngoài lao động được nên khi cán bộ hỏi ai biết cắt tóc, chú giơ tay lên. Hy vọng làm chức thợ cạo này được nhàn nhã một chút. Đồ nghề giao cho chú chỉ là một cái kéo cùn. Ba tôi kể, khi chú nhắp nhắp, cắt tới cắt lui xong cái đầu tóc thì đúng là cha mẹ còn nhận không ra nữa, đừng nói gì chính đương sự.

Vậy đó nên khi được đám thợ không chuyên môn là bầy con của ông với dụng cụ cắt tóc bằng điện quá văn minh, ba tôi chấp nhận làm người mẫu cho chị em tôi dài dài suốt hơn hai mươi năm. Đến nay, em gái út tôi đã có bằng cắt tóc, con nhỏ chỉ cắt tóc cho người nhà. Ba vẫn là người mẫu trung thành, dễ dãi, dễ thương nhất trên đời.

Nhớ ngày ấy, nơi chúng tôi ở là vùng ít bóng dáng người Việt Nam. Hội Từ Thiện đã mướn cho gia đình tôi căn nhà nhỏ ở tạm, chắc là vì giá nhà quá rẻ. Mỗi ngày đón xe buýt đi học Anh Ngữ về, mấy chị em từ xe buýt nhảy xuống, lội bộ thêm chừng năm phút mới đến nhà. Quãng đường không xa nhưng đây là quãng đường thích thú của chúng tôi, vì khi đi bộ, thấy người ta có nhiều món đồ cũ đem ra để trước mặt nhà, có người dán tờ giấy “FREE”, nghĩa là…đồ cho không, biếu không! Ai cần thì cứ việc mang về xài. Ngày nào chúng tôi cũng lượm lặt đuợc vài món. Khi thì cái bàn nhỏ, lúc thì cái kệ để TV, vài cái đèn ngủ … Một hôm, đi ngang qua khu vườn của một người da màu, thoang thoảng nghe hương thơm dìu dịu của rau húng. Mấy chị em lục lọi trong đám cỏ vừa mới cắt, thì ra có vô số rau húng mọc lẫn trong cỏ. Mấy đứa nhìn nhau cười, nét hân hoan hiện rõ trên mặt như gặp người quen. Cái cảm giác mà văn thi sĩ gọi là “tha hương ngộ cố tri”.

Về nhà, tôi nói liền với Ba:

– Ba ơi, đất ở đây chắc dễ trồng trọt, con thấy có rau húng mọc hoang trong cỏ.

– Ôi cha, thôi con ơi, Ba làm gì cũng được nhưng miễn cái vụ trồng tỉa nghe.

Tôi tròn mắt:

– Răng rứa Ba?

– À, thì…hồi xưa tới giờ, mỗi lần bà Nội con giú chuối trong khạp cho chín, hễ Ba ngó tới là kể như nó héo hon, không chín được. Bà Nội nói Ba rắn mắt, không trồng cây, không làm dưa, không…

– Xời ơi, rứa mười mấy năm “cải tạo” Ba không trồng được rau, lấy chi mà ăn?

– Ba làm thợ đan giỏ, đan rổ tre, sau đó tụi nó đồn ba là “Kỹ Sư Đường” (Ba tôi xưa kia làm ở Ty Công Chánh thành phố Đà Nẵng) nên khi Trại có cái lò nấu đường bát, cán bộ bắt Ba qua nấu đường. Từ đường sá, cầu cống Ba qua làm ông thợ nấu mía thành đường ngon lành… Ba đổi đường lấy rau ăn, cần chi phải trồng với trọt?

Thế là sau đó Ba tôi say sưa ca đi ca lại bản nhạc “Hồi đó, trong trại “cải tạo….” Ba cứ khăng khăng là không có tay trồng trọt. Tôi không tin, phần thì ăn xà lách hoài cũng ngán, chúng tôi thèm những thứ rau có mùi, mang hương vị quê nhà. Thử tưởng tượng ăn thịt gà trộn muối tiêu mà không có rau răm, ăn bánh tráng cuốn thịt ba rọi cũng chỉ với xà lách. Hành ngò thì cũng có nhưng khá đắt, kể cả những thứ rau mùi cũng có bán ở chợ Việt Nam, chợ Thái Lan nhưng rất mắc và quan trọng là không có ai chở mình đi chợ. Tôi lải nhải nhắc Ba: “Không có việc gì khó, chỉ sợ mình… không trồng!”

Một hôm, có người quen biếu Ba mấy dây khổ qua con, Ba đem ra sau vườn cắm xuống đất một cách bất đắc dĩ, ngày ngày Ba ra tưới nước, thăm chừng một cách e dè, khổ sở. Dây khổ qua be bé như hiểu được nỗi khổ của Ba nên vươn vai lớn mạnh mẽ. Ba nhặt nhạnh mấy cành cây khô gác lên làm giàn. Cái giàn đơn sơ đón nhận những ngọn khổ qua với nhiều nụ vàng dễ thương. Đến khi mấy trái khổ qua nhỏ xíu, e ấp lẫn trong đám lá xanh mướt thì nụ cười của Ba như trọn vẹn hơn. Sau đó, mỗi khi “được” chở đi ăn phở, Ba len lén gói vài cọng rau quế vào trong giấy, về nhà tỉ mỉ đem ngâm vào ly nước cho tươi rồi trồng vào cái chậu nhỏ, Ba bón xác trà và tưới nước đều đặn, gặp ai cũng hỏi thăm mua phân bón ở đâu… Ba vì nhu cầu “ăn uống” của mấy đứa con mà hết lòng hết sức với mấy cây rau thơm, mấy cây ớt. Dần dà, vườn rau nhỏ của Ba với dây khổ qua, vài cây ớt, rau quế, rau húng…lại là niềm đam mê và tự hào của Ba.

Ba năm sau khi định cư ở quê hương mới này tôi đi mua căn nhà mới, chính là căn nhà tôi đang ở bây giờ. Hai cha con chọn nhà có sân sau bằng phẳng. Ba ra sức cuốc thêm ra phía sau, lấn vào bìa rừng để mở mang “bờ cõi”. Đất ở Georgia là vùng đồi núi nên toàn là đất đỏ lẫn với đá. Ba miệt mài “có công mài sắt, có ngày nên kim”.

Sân sau nhà tôi sau nhiều năm trồng trọt bây giờ là vườn rau với đấy đủ những thứ cần thiết. Nào là dưa leo, mướp, bí đỏ, bí đao, rau muống, rau lang, đậu bắp, rau thơm các loại, diếp cá, ớt, tía tô, khổ qua, đậu ve, rau mồng tơi, dền…là những thứ trồng vào mùa xuân, ăn suốt mùa hè mùa thu. Đầu mùa thu Ba còn tỉa được ngò rí và rau cải con, cải bẹ xanh để ăn bánh xèo. Những dịp này, buổi sáng ra vườn rau, hương của các loại rau thơm, ngò…tỏa lên ngan ngát, dịu dàng khiến tâm hồn khoan khoái thật dễ chịu. Ba còn ra công đào một rãnh nước song song theo những luống rau, dưới đó Ba thả vài nhánh ngò ôm tức là rau ngổ, bên cạnh là đám bạc hà, hai thứ để nấu canh chua.

Ba tận dụng mảnh đất sau nhà làm thành một vườn rau rất tươi tốt, ngăn nắp. Giàn khổ qua phải cách xa giàn mướp ngọt một khoảnh sân, vì ngọt đắng là hai vị khắc nhau; rau quế là thứ kén nhất nên ưu tiên được “ngồi” trong chậu. Dây bí đỏ không lên giàn mà được thả cho bò lên đồi, như vậy chịu được mấy chục quả bí nặng nề, chắc nụi. Rau thơm và diếp cá, rau răm được sắp xếp ở gần nhau trông rất đoàn kết. Ba nói, mỗi khi cần ăn rau sống, đem rổ ra cắt một loạt là có đủ các thứ rau thơm không cần đi đâu xa. Rau muống là thứ thích nước nên Ba trồng ô rau muống ở giữa hai rãnh nước, những cọng rau muống xanh mướt thấy mà ham!

Bao nhiêu tiền con cái cho Ba vào những dịp Lễ, Tết Ba đều để dành mua dụng cụ làm vườn, mua phân bón.

Cách đây cả chục năm, khi khu nhà này đang còn xây dựng Ba thường lang thang vào xóm trong, nhặt những mảnh gỗ, khúc cây… sau đó ra Home Depot mua thêm một ít ván, Ba chăm chỉ đẽo đục, đo đạc… cuối cùng dựng lên được một căn nhà nhỏ ở góc vườn. Căn nhà làm theo kiểu ông bà thuở xưa, có cột kèo làm bằng mộng, không phải đóng đinh, có hai mái, có cửa chính, cửa sổ. Bên trong có hai dãy kệ để Ba chứa đồ đạc làm vườn, phân bón, máy cắt cỏ, một kiểu như căn nhà kho của Ba. Bên ngoài ông còn làm cái khóa rất kiên cố.

Trải qua bao mùa mưa nắng, tuyết phủ, căn nhà nơi góc vườn của Ba tôi vẫn rất chắc chắn, hiên ngang chịu đựng. Đám con cháu khen ngợi, ông thường hãnh diện: “Nhà lầu mấy tầng, cầu treo qua núi ông Ngoại còn làm được, dễ như chơi, huống chi thứ nhà nhỏ này”. Hình như bao nhiêu kiến thức thời Ba học ở trường Công Chánh năm xưa nay được ông đem ra áp dụng, tuy thất cơ lỡ vận nhưng Ba tôi không thất chí nản lòng. Điều này thật đáng để chúng tôi ghi nhớ, noi gương và nhớ đến Ba với muôn vàn hãnh diện.

Vườn rau của Ba tôi mỗi năm thêm xanh tốt, mùa hè ông say sưa với mảnh đất nhỏ mà quên ăn quên ngủ, không ngại nắng mưa. Chúng tôi ủng hộ Ba bằng cách hăng hái chở Ba đi mua phân, mua đất xốp, thêm chuyện trả tiền nước hằng tháng không cằn nhằn. Má tôi thì khuyến khích bằng cách siêng năng đếm từng trái bí, trái mướp. Mỗi khi Ba cắt rau để đầy trong tủ lạnh, chia cho con cháu ăn không hết thì Má chịu khó bỏ vào bịch nylon, buổi sáng sau khi đi bộ về, Má rủ vài người bạn già ghé qua khoe vườn rau và chia phần. Vườn rau nhỏ mang lại niềm vui cho nhiều người.

Ba tôi thường ví von chăm sóc vườn rau như nuôi bầy con. Có đứa dễ nuôi, không chăm sóc nhiều cũng lớn vùn vụt, mạnh mẽ ra đời thành công; có đứa cần phải o bế tỉ mỉ mới lớn, cũng có đứa cưng chiều quá mức thì lại ốm o hư hỏng, đem lại cho mình nỗi buồn phiền. Rau quả ngoài vườn của Ba cũng vậy, có thứ thả lơ lửng vẫn tươi tốt cho ra hoa, ra quả ngon lành; có thứ được tưới nhiều nước, bón phân đều đặn lại èo uột, quắt queo. Ba tôi trồng rau với cả tấm lòng như thế. Dây bí đao mùa này yếu ớt, Ba tôi đâm lo như thấy đứa con bị bệnh, mỗi ngày tưới nước Ba đếm từng cái lá, hôm qua được mười bảy lá, hôm nay héo mất một lá rồi. Ba hỏi thăm người này người nọ lý do tại sao, Ba xem lịch VN coi có phải tại tiết trời quá độc, cây cỏ cũng hư hao, nhà nông gọi là mất mùa… Dây bí đao đã không phụ lòng Ba, dây bí nhỏ xíu mà cho ra quá nhiều trái, tròn trịa như một bầy heo con.

Ngày hè, chừng mười một giờ trưa là Ba ra nhà sau, lấy cạc tông che nắng cho đám rau, chiều về bớt nắng Ba dở ra, săm soi từng ngọn rau, từng cái lá. Mùa đông, Ba theo dõi dự báo thời tiết trên TV để thu hoạch hết ngoài vườn trước khi những đợt gió lạnh tràn về.. Có lần Ba tiếc mấy cây ớt còn đầy trái, bụi sả tốt tươi chưa muốn nhổ thì tuyết rơi, tuy không nhiều lắm nhưng cũng thừa sức làm đám rau của Ba héo hon ủ dột.. Đứng trong nhà nhìn qua khung cửa kính, Ba chép miệng liên tục, thương cho vườn rau bị nhiễm lạnh.

Ba tôi là thế, việc gì làm Ba cũng bỏ hết tâm trí vào, Ba nói có như thế mới đạt được kết quả, bằng ngược lại mình cũng không lấy làm buồn vì dù sao mình cũng đã hết lòng hết sức, coi như “mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên” là ý trời mà, buồn làm gì.

Ba tôi sống lạc quan, nhẹ nhàng theo quan niệm Phật Pháp. Luôn có ý thức về sự vô thường, ngắn ngủi của một kiếp người nên cách hành xử của Ba tôi cũng sâu sắc, luôn quí trọng những niềm vui hiện tại. Ba tôi chăm sóc vườn rau mà đặt cả tình cảm vào như đang nuôi đàn con.

Vườn rau là niềm vui tuổi già của Ba, không những đem lại lợi tức nho nhỏ hàng ngày, mà qua đó, những suy tư của Ba cũng triết lý theo từng mầm xanh đang nảy nở mỗi ngày, bao muộn phiền như tan biến. Tôi tự hào mình là người đã “khuyến khích” Ba bước vào con đường trồng trọt này. Nhìn dáng Ba cặm cụi bên những luống rau, dây bí, giàn mướp tôi ao ước cho Ba tôi mãi mãi có sức khỏe bên cạnh người bạn đời, ngoài niềm vui với gia đình con cháu còn vui với cả cỏ cây. Mong cho những ngày tuổi già của Ba được thanh thản, nhẹ nhàng như quan niệm sống đầy bao dung của Ba vậy.

Nhắc đến Ba má thì tôi không thể nào quên một câu chuyện, đó là một chiều cuối tuần đầu tháng Sáu, cách đây đã mười năm…

Chuông điện thoại reo.

– Con rảnh không, chở Ba má đi shopping?

Tôi giật mình, suýt làm rơi cái điện thoại xuống đất. Thường thì Ba Má tôi nhờ chở đi Chùa, đi chợ hoặc đi Bác sĩ. Tôi chưa bao giờ nghe Ba Má tôi muốn đi shopping. Tôi hỏi lại một lần nữa cho chắc ăn:

– Dạ, đi đâu Ba?

– Đi Mall.

Rồi không đợi tôi điều tra thêm, Ba tôi nhỏ nhẹ giải thích:

– Ba muốn đưa Má con đi Mall để mua tặng Má con món quà kỷ niệm năm mươi năm ngày cưới.

Ôi, đúng là Ba tôi, môt người đàn ông Việt Nam vô cùng lãng mạn, dù tuổi đời đã hơn tám mươi.

Thuở tôi còn bé và cả khi tôi đến tuổi cần để xây dựng hình tượng một người đàn ông cho đời mình, tôi vẫn mong ước đó sẽ là một người chồng, một người cha giống hệt Ba tôi vậy. Tôi nhớ những khi Ba Má tôi có chuyện cãi nhau, Má tôi lúc nào cũng nóng nảy hay hờn giận; trong khi Ba tôi lúc nào cũng nhỏ nhẹ “Mình ơi, mình hỡi” ngọt xớt. Ngày Ba Má tôi có cơ hội đoàn tụ thì tuổi đã cao, sức khỏe cũng theo thời gian mà giảm sút nhưng tình yêu của Ba dành cho Má vẫn tràn đầy, ấm áp. Tôi đã nhìn thấy ánh mắt long lanh niềm hạnh phúc của Má khi nhận món quà kỷ niệm ngày cưới từ người chồng năm mươi năm mà Má thường đánh giá là “xấu trai, con nhà nghèo nhưng… học giỏi”.. Cuộc hôn nhân kéo dài tính đến nay đã hơn sáu mươi năm với tám người con, bốn trai, bốn gái; Ba Má tôi và các con dĩ nhiên cũng trải qua những cơn sóng trong gia đình, cũng trải qua bao thăng trầm của thế cuộc nhưng dù bất cứ điều gì xảy ra, tận đáy lòng tôi, Ba vẫn là một người dàn ông mẫu mực tuyệt vời.

Đến năm 2012 thì cả nhà tôi các anh em, cháu nội ngoại được Ba tôi lần lượt bảo lãnh để đoàn tụ. Tuy hơi lâu vì ngày tuyên thệ nhập quốc tịch của Ba bị trì hoãn, lý do: ngón tay trỏ của Ba bị tai nạn lao động ở chỗ làm, cắt cụt mất một lóng nên khó khăn trong việc lấy dấu tay, phải làm tới làm lui mấy lần. Thời gian chờ đợi quả là thăm thẳm, mỗi khi có tin tức bên nhà lộn xộn là Ba má lo canh cánh. Tội nghiệp nhất là vào những kỳ mùa đông giá buốt, nếu Ba có cảm lạnh hay sốt, ho là Ba lo uống thuốc, chăm sóc bản thân, khi thắp hương trên bàn thờ Phật thì lẩm bẩm hoài:

– Cho tui mạnh giỏi để đón mấy đứa con đứa cháu qua sum họp, đừng kêu tui đi sớm nghe ông bà.

 Ôi nghe mà xót cả ruột!

Đợt cuối cùng đón người nhà từ VN qua, trong bữa cơm đoàn viên, Ba tôi thắp nhang ở bàn thờ Phật xong và nói trong nước mắt:

– Bây giờ Ba có chết cũng yên tâm, cả nhà mình ở đây hết rồi, cháu nội cháu ngoại đứa nào cũng có cơ hội học hành, làm ăn đàng hoàng. Ba hoàn thành tâm niệm rồi, cảm ơn Trời Phật!

Tôi không biết các anh, em tôi khi nghe câu nói này, cảm giác như thế nào chứ riêng tôi, thật là đứt ruột!

Năm này Ba tôi đã 88 tuổi, mắt mờ, tai nghễnh ngãng, thần thái không còn tươi. Ba mang đầy đủ các chứng bịnh của người già, ngủ li bì cả ngày. Sau một lần đi ra ngoài không nhớ đường về nhà thì Ba như rơi vào trạng thái trầm cảm, biếng ăn, lặng lẽ đến ngạc nhiên.

Mùa hè đang đến, những lúc nhìn ánh mắt mờ đục của Ba khi ngắm khu vườn sau nhà không còn xanh mướt nhiều loại cây quả nữa, tôi thật quá đau lòng.. Má tôi đi ngoại giao hàng xóm, xin về mấy gốc cây con Ba cũng không màng chăm bón. Những thú vui đọc sách, xem TV…ba cũng lơ là hẳn, không còn lạc quan thuởng thức cuộc sống như trước kia.

Còn đâu giọng nói sang sảng kể chuyện tù cải tạo, còn đâu hình ảnh Ba cặm cụi bên những luống rau, săm soi những búp non hay tỉ mỉ sửa sọan những quả mướp, quả khổ qua mơn mởn, lủng lẳng trên giàn. Ba giờ đây lúc nhớ, lúc quên, chẳng còn biết phân biệt thời gian. Suốt ngày Ba lục lọi, tìm kiếm; nếu hỏi: Ba kiếm gì vậy? Câu trả lời: Ờ, không biết Ba kiếm gì nữa! Khuôn mặt, ánh mắt Ba lúc ấy ngơ ngẩn như một đứa trẻ. Trông thật tội. Vậy mà con cháu mời ăn một món gì là ông cứ buột miệng hỏi: Má ăn chưa? Má đâu rồi? Một đời Ba tôi, lúc nào cũng nghĩ đến vợ con trước hết, quên cả thân mình.

Tôi không phải là một phụ nữ may mắn về đường tình duyên nhưng tôi cảm nhận mình là một người hạnh phúc. Và lẫn lộn trong vùng trời kỷ niệm của đời mình, tôi chợt nhận ra hình ảnh của Ba tôi lúc nào cũng hiện hữu bên cạnh tôi như một cái bóng khi vui khi buồn. Cùng tôi đi du lịch, cùng ngồi xem giải vô địch bóng tròn, cùng bàn luận chuyện nhân tình thế thái, chuyện thời sự đó đây… Ba tôi là thế, đơn giản mà gần gũi; chiếc bóng của Ba đã phủ trùm lên cuộc đời tôi mãi mãi và duy nhất, không có gì thay thế được. Tôi biết rằng không có ngôn từ nào có thể diễn tả đầy đủ về lòng biết ơn của con cái đối với bậc cha mẹ, không có tặng phẩm vật chất nào xứng đáng, có đủ ý nghĩa để tặng cha mẹ trong các ngày Lễ Trọng. Tôi cầu mong cho Ba Má tôi luôn khoẻ mạnh, vui vẻ thanh thản tâm hồn trong những tháng năm còn lại của cuộc đời, như quan niệm sống của Ba vậy.

Mỗi một ngày qua đi, bình minh rồi hòang hôn…tôi dành phần sâu thẳm trong trái tim tạ ơn đất nước đầy tình người và bao dung này đã cưu mang gia đình tôi.

Cám ơn Ba, cám ơn cuộc đời đã cho tôi một món quà vô giá mà không phải thế gian này ai ai cũng may mắn có được.

Atlanta,

Nguyễn Diệu Anh Trinh

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 47

​Hạnh phúc xót xa


Tôi vô cùng ngạc nhiên, khi nhận được một thiệp mời đám cưới gởi qua đường bưu điện, danh tánh nhà trai, nhà gái và cả cô dâu chú rể đều xa lạ. Gần nửa giờ ngồi “điểm danh” tất cả bà con, bè bạn xa gần, vợ chồng tôi và mấy đứa con cũng chẳng tìm ra “tông tích” họ là ai. Nghe bạn bè kể lại, một số không ít người Việt mình thích có nhiều thực khách tham dự tiệc cưới của con cháu. Khách càng đông càng chứng tỏ được thế giá của gia đình. Vì vậy có người chỉ gặp ai ở đâu đó một lần thoáng qua, cũng có thể trở thành “quan viên hai họ”. Hơn nữa, ở cái vương quốc nhỏ bé và hiền lành này, muốn tìm ai cứ việc mở cuốn điện thoại niên giám hoặc vào guleside gõ cái tên là có ngay số phone và địa chỉ. Cũng có thể là do một ông bà khách nào đó được mời nhưng hồi báo không thể tham dự được nên vợ chồng tôi được chọn để “điền vào chỗ trống cho có đầy đủ ý nghĩa”?

Địa điểm tổ chức tiệc cưới là một nhà hàng Tàu sang trọng nằm ngoại ô thành phố Oslo, không xa nơi tôi ở. Ngày đám cưới còn hơn một tháng, nhưng lại đúng vào ngày mà vợ chồng tôi phải sang London thăm vợ chồng cô con gái và mừng thôi nôi thằng cu cháu ngoại. Vé máy bay đã “búc” rồi. Vợ chồng cô con gái cũng đã lấy hè để đón chúng tôi. Nên dù có biết cha mẹ hay cô dâu chú rể có tên trong thiệp mời chăng nữa, chúng tôi cũng không thể tham dự được, huống hồ lại là một người nào đó không quen. Thấy tôi phân vân, bà xã cầm tấm thiệp màu hồng vất vào kệ sách, lắc đầu bảo “forget it!”

Sáng thứ Bảy, một tuần sau đó, khi đang sửa soạn hành lý, nghe điện thoại reo, tôi bốc máy lên nghe, nhưng không thể nhận ra người bên kia đầu dây. Một người đàn bà, tự giới thiệu tên Bích, rất lễ phép khi hỏi đúng cả tên lẫn họ của tôi.

– Vâng, đúng là tôi, nhưng chị có thể nói rõ hơn về chị không ạ, vì xin lỗi tôi không nhớ ra.

– Em là Bích Kiều đây, Lê Thị Bích Kiều, mà khi mới sang Na-uy, anh làm thông dịch giúp em đó. Tên em trong thiệp mời đám cưới là Yvonne Bich, chắc anh chị đã nhận được. Em đổi tên này sau khi có quốc tịch Na-uy.

Tôi giật mình nhớ ra ngay. Mặc dù trong thời gian làm thông dịch, giúp khá nhiều bà con người Việt mới đến định cư, có biết bao nhiêu cái tên làm sao nhớ hết. Hơn nữa cũng đã hơn 25 năm rồi còn gì. Nhưng đặc biệt, Lê Thị Bích Kiều thì tôi không thể nào quên.

Sau khi thăm hỏi, Bích Kiều xin được đến thăm vợ chồng tôi vào lúc bốn giờ chiều. Cô bảo, gặp nhau sẽ có biết bao nhiêu điều muốn nói.

Thời gian còn ở trại tỵ nạn Bataan bên Phi Luật Tân, tôi may mắn được chọn làm phụ giảng cho các lớp học tiếng Na-uy. Được thầy cô dạy kèm riêng, và nhờ phụ giúp mỗi ngày trong các lớp học cũng như làm thông dịch bất đắc dĩ cho những thuyền nhân mới đến đảo, nên tôi có một số vốn liếng tiếng Na-uy, một thứ ngôn ngữ hoàn toàn xa lạ với hầu hết người Việt nam lúc ấy. Và cũng nhờ cái vốn bì bõm này, khi sang định cư ở Na-uy, tôi được chọn làm thông dịch tạm thời cho Phòng Xã Hội và Sở Cảnh Sát thị xã, nơi gia đình tôi tạm cư. Thời gian này Na-uy nhận một số lượng khá đông thuyền nhân được tàu Na-uy vớt trên biển và một số trường hợp nhân đạo khác.

Nói là thông dịch chứ thực ra chỉ giúp bà con làm hồ sơ, khai lý lịch ở Sở Cảnh sát, xin trợ cấp ở Phòng Xã Hội, hoặc gặp bác sĩ, nha sĩ, hay vào bệnh viện khám và chữa bệnh. Cũng qua công việc này, tôi mới thấy rõ Na-uy là một quốc gia giàu lòng nhân đạo, mở rất rộng vòng tay, đối xử quá tốt với những người tỵ nạn mà họ cứu vớt, cưu mang. Công việc nhàn nhã mà lương bổng cũng khá, lại còn được cơ hội trau dồi ngôn ngữ mới, nên sau này, khi đã được chính thức nhận vào học và đi làm trong ngành ngân hàng bưu điện, tôi vẫn xin giữ cái “job” phụ này, nhưng chỉ làm thêm ngoài giờ hành chánh.

Tuy nhiên, bên cạnh những điều vui ấy, tôi cũng bị “tai nạn nghề nghiệp” không ít. Đặc biệt khi phải thông dịch cho những bà con mà tàu của họ bị bọn hải tặc tấn công. Nghe họ kể những cảnh nghiệt ngã, thương tâm trên biển, tôi vừa không nén được xúc động vừa ngại ngùng khi phải thông dịch lại bằng tiếng Na-uy. Hơn nữa lúc ấy tôi cũng chưa có đủ ngôn từ để diễn đạt những điều “tế nhị”. Ngày ấy có một Viện Tâm Thần dành riêng cho người tỵ nạn, nằm trong Viện Đại Học Oslo, do bác sĩ Hauff, cũng là một giáo sư tâm lý học, điều hành. Ông là vị bác sĩ có lòng nhân hậu và rất tận tâm với nghề nghiệp. Những người tỵ nạn gặp điều không may, bị hải tặc đánh đập hãm hiếp, hay bị mất người thân trên đường vượt biển, đều được ông tận tình thăm nom, chăm sóc cũng như can thiệp Cơ quan Di Trú cho ưu tiên bảo lãnh gia đình và Sở Xã Hội cấp thêm nhiều phương tiện sinh hoạt, giải trí. Tôi sợ nhất là những lúc phải làm thông dịch để ông tâm tình, khuyên giải, an ủi nạn nhân, mà thời gian có khi kéo dài cả một vài ngày. Bởi vốn liếng tiếng Na-uy còn quá nghèo nàn, làm sao tôi có thể truyền đạt được những gì ông muốn nói. Có lần nghe ông dặn dò:

– Đây không phải một cuộc nói chuyện bình thường mà là một ca điều trị. Có điều, những bệnh nhân này chúng ta không chữa bằng thuốc mà chữa bằng ngôn ngữ.

Mà ngôn ngữ của tôi thuộc loại ăn đong, thì làm sao giúp ông chữa loại bệnh đặc biệt trầm kha này. Nhiều lần tôi xin từ chối, nhận mình không đủ khả năng, nhưng Phòng Xã Hội không tìm được người thông dịch khác, và bác sĩ Hauff cứ gật đầu bảo là ông tin tưởng ở tôi. Cuối cùng tôi phải yêu cầu ông nói thật chậm và dùng những từ ngữ tương đối đơn giản để tôi hiểu rõ, và nhất là không hiểu lầm những gì ông nói.

Một hôm tôi được Văn Phòng Xã Hội cho biết, phải đi theo bà Kari Mette ra phi trường Fornebu đón một người tỵ nạn đặc biệt, được Na-uy nhận nhân đạo từ một trại tỵ nạn Thái Lan. Người này được đưa thẳng từ Thái Lan đến Na-uy, mà không qua trại tỵ nạn chuyển tiếp Bataan, như những người khác. Bà Kari Mette làm việc cho một nhà thờ công giáo, nhưng vì có nhiều khả năng và uy tín, nên được yêu cầu kiêm nhiệm đại diện cho Sở Tỵ Nạn trong khu vực thị xã.

Chúng tôi được vào tận cửa gate máy bay. Người mà chúng tôi đón hôm nay là một cô con gái trẻ, ngồi trên xe lăn, trên người choàng một tấm chăn mỏng, được một cô tiếp viên hàng không đẩy ra giao cho chúng tôi cùng túi hành lý nhỏ và một phong bì đựng hồ sơ có in huy hiệu (logo) Cao Ủy Tỵ Nạn LHQ. Trông cô ta tiều tụy, xanh xao. Tôi giới thiệu và dịch vài lời chào mừng của bà Kari Mette. Khi đưa tay nhận bó hoa hồng từ bà, cô gật đầu, lí nhí hai tiếng cám ơn. Theo sau bà Kari Mette, tôi đẩy cô gái theo một lối đi riêng, không phải qua kiểm soát. Một chiếc xe tản thương và cô ý tá chờ sẵn bên ngoài. Khi phụ dìu cô gái lên nằm trên một băng ca trong xe, tôi mới biết là cô ta đang mang bầu. Theo yêu cầu của cô ý tá, tôi ngồi luôn trên xe tản thương, tháp tùng về bệnh viện. Bà Kari Mette lái xe chạy theo sau.

Ở phòng nhận bệnh, khi nghe bà Kari Mette nói chuyện với vị bác sĩ, tôi mới biết cô gái này có tên Lê thị Bích Kiều, 21 tuổi, bị hải tặc giam giữ ở một hoang đảo ngoài khơi Thái Lan gần một năm, trước khi được một lực lượng tuần cảnh phối họp với hải quân Thái cứu thoát. Cô ta đang mang thai hơn năm tháng, sức khỏe rất yếu. Việc ưu tiên phải làm là giúp cô sớm hồi phục sức khỏe và bảo vệ thai nhi.

Khi trả lời một số câu hỏi của bác sĩ, cô luôn nhìn tôi bằng đôi mắt thật buồn và ái ngại, Một vài câu hỏi cô ngại ngần không muốn trả lời. Tôi từ tốn bảo cô cứ yên tâm, nếu điều nào chưa muốn nói ra, cô không cần thiết phải trả lời, tôi sẽ liệu cách để nói lại với bác sĩ. Nhưng sau đó, tôi mới hiểu ra, người cô ngại chính là tôi chứ không phải ông bác sĩ. Mặc dù trước khi bắt đầu làm việc, tôi đã nói với cô là những người làm thông dịch như tôi đều phải ký giấy cam kết taushetsplikt (bổn phận bảo mật). Cô được y tá đưa vào phòng tắm rửa và thay áo quần bệnh viện. Khi trở ra, cô tươi tỉnh hơn, bây giờ nhìn kỹ tôi thấy cô có khuôn mặt khá xinh, đôi mắt thật buồn. Theo y tá đưa cô lên một phòng riêng ở tầng ba, tôi bảo y tá bật cao đầu chiếc giường và đỡ cô ngồi dậy theo yêu cầu của cô, dịch cho cô nghe những điều dặn dò của bác sĩ, hỏi cô thích ăn uống những gì để tôi nói lại với cô y tá, rồi chào cô ra về, sau khi chúc cô ăn ngon và tối nay có một giấc ngủ thật bình yên. Cô nhìn tôi, nói cám ơn rồi vội vàng cúi xuống. Thoáng qua đôi mắt, tôi biết cô băn khoăn lo lắng, khi phải ở lại một mình. Tôi ghi số điện thoại trên mảnh giấy nhỏ đưa cô y tá. Bảo là trường hợp bệnh nhân hay y tá cần điều gì, cứ gọi cho tôi.

Kể từ hôm ấy, ngoài bổn phận thông dịch tôi còn là người thân quen duy nhất của cô. Hôm nào cô ngỏ ý thèm các thức ăn Việt nam, tôi bảo bà xã tôi làm rồi mang đến cho cô, cùng mấy tờ báo Văn Nghệ Tiền Phong, và tập truyện của ông Duyên Anh mà cô thích đọc.

Sau một tuần lễ, sức khỏe của cô khá hơn, nhưng y tá cho biết tâm trí chưa ổn định, cô thường giật mình thức giấc rồi la hét, khóc lóc lúc nửa đêm. Cứ vài ngày, bác sĩ Hauff từ Viện Tâm Thần đến thăm, cho cô quà, an ủi và khuyên cô hãy đọc sách, xem TV, cần nghĩ tới đứa bé sắp chào đời, dù gì nó cũng là giọt máu của mình. Có điều gì cần, hoặc cảm thấy nặng nề trong lòng, cô cứ nói ra mỗi lần ông đến thăm.

Cô không phải đến Sở Cảnh Sát để làm hồ sơ di trú như những người tị nạn khác, mà do yêu cầu của Sở Tỵ Nạn, vị trưởng phòng Cảnh sát ngoại kiều đã đích thân đến bệnh viện để gặp cô sáng hôm sau. Qua làm việc, tôi được biết cô gái sinh ra và lớn lên ở Đà Lạt. Trước 75, mẹ cô là cô giáo và cha là một sĩ quan cấp tá, bị mất tích tại Đà Nẵng khi Vùng 1 di tản. Vượt biên từ Rạch Giá cùng vị hôn phu. Anh là con trai lớn của một người bạn cùng khóa Võ Bị với cha cô. Chiếc thuyền nhỏ chở theo 47 người, ra khơi ba ngày thì gặp hai chiếc ghe đánh cá của Thái Lan chặn lại. Cả bọn gần 20 tên mang dao búa và cả súng nữa, xông lên thuyền uy hiếp. Anh tài công bị giết đầu tiên bằng búa đánh vào đầu, một vài thanh niên khỏe mạnh có ý chống cự, liền bị chém chết. Chúng chia nhau lục soát trên tàu và trên từng người để cướp vàng bạc, đồng hồ. Trước khi rời khỏi thuyền, chúng phá hỏng máy, và bắt theo khoảng mười cô gái. Khi hai tên trong bọn kéo Kiều đi, người vị hôn phu của Kiều xông đến định giật lại Kiều, bị chúng bắn bị thương rồi đạp xuống biển, trước tiếng la khóc thất thanh của Kiều cùng những cô gái khác

Vừa mới lên tàu, bọn hải tặc luân phiên hãm hiếp những cô gái bị chúng bắt theo. Tiếng van xin la khóc quyện vào âm thanh của những ngọn sóng dường như cũng đang thét gào phẫn nộ. Chỉ duy nhất có Kiều được thoát, không bị hiếp, nhưng bị cột cả hai tay vào phía sau phòng lái, và phải chứng kiến hành động dã man, bỉ ổi của bọn dã thú, cùng những khuôn mặt sợ hải đau đớn uất hận tột cùng của những cô gái nạn nhân.

– Tại sao cô lại được tha, không bị chúng hiếp? Anh cảnh sát ngạc nhiên hỏi.

– Làm sao được tha. Có lẽ thấy tôi có chút nhan sắc, nên tên thuyền trưởng dành riêng tôi cho hắn. Khi ấy hắn đang lái tàu! Cô gái sụt sùi.

Tối hôm ấy, cô đã bị cướp đi đời con gái. Qua một ngày kinh hãi, biết mình không thể chống cự, cô đã nằm im phó thác cho số phận. Trong khi thân xác bị dày vò, cô nghĩ đến cảnh người yêu vừa bị giết tức tưởi trưa nay, cắn chặt lưỡi giữa hai hàm răng ứa máu.

Tay thuyền trưởng hải tặc không đánh đập hành hạ cô như những cô gái khác. Hắn săn sóc, mang cho cô một tô cháo cá nóng, nhỏ nhẹ dỗ dành cô ăn, nhưng cô không thể nào nuốt nổi, dù bụng đang đói. Nằm thiếp đi cả một ngày trong phòng lái, khi nghe tiếng ồn ào gọi nhau của bọn hải tặc, giật mình thức dậy, cô thấy tàu cặp vào một hòn đảo.

Sau khi ra lệnh cho đám thuộc hạ quăng neo, tay thuyền trưởng cõng cô trên lưng, lội vào bờ. Cô ngạc nhiên rùng mình khi không thấy các cô gái khác. Số phận họ ra sao? Cô bịt kín hai tai, nhưng tiếng van xin kêu khóc hãi hùng của ngày hôm qua như muốn vỡ tung đầu óc. Cô tưởng tượng họ bị hiếp cho đến chết, rồi quăng xác xuống biển. Thật thảm thương tội nghiệp. Nhưng dù sao họ cũng không phải sống cả một đời thừa thải trong nỗi dày vò, mặc cảm và vô vọng như cô. Biển xanh sẽ ôm ấp vỗ về cả thân xác lẫn linh hồn họ. Là cánh hoa tả tơi duy nhất còn sót lại sau một ngày đêm dông bão, cô ví mình chẳng khác nào rác rưởi tắp vào một nơi hoang vắng. Cô tự hỏi, đó có phải là điều may mắn?

Anh cảnh sát ngồi bất động nghe cô kể, thỉnh thoảng ngước mặt lên trần nhà để giấu những giọt nước mắt. Tôi thầm tội nghiệp cho cô gái và cho cả anh ta, một người sinh ra và lớn lên trên một vương quốc an bình, giàu có, hà cớ gì phải khóc cho nỗi đau thương, bất hạnh của dân tộc tôi. Chúng tôi dừng lại khi thấy cô gái sụt sùi. Tôi đứng dậy đi lấy mấy tờ giấy soft cho cô lau nước mắt và mời cô một ly nước saft.

– Rồi đời sống của cô trên đảo ra sao trước khi cô được cứu thoát? Anh cảnh sát hỏi.

– Tôi được đưa vào một cái hang đá khá lớn, có sẵn một số thức ăn, nước uống và cả áo quần cùng nhiều vật dụng mà có lẽ bọn họ cướp được từ những lần trước.

Đó là một đảo hoang. Một trong những “hậu trạm”. Cứ bốn, năm hôm, có khi cả tuần lễ, bọn hải tặc trở về đây nghỉ ngơi đôi ngày, chia chác “chiến lợi phẩm”, rồi lại ra đi. Tiếp tục những chuyến làm ăn khác, hoặc vào bờ lấy thêm nhiên liệu, lương thực. Tay thuyền trưởng cao lớn, tóc phủ tới lưng, cả ngày chỉ mặc một cái quần short ố vàng, phơi tấm thân trần đen đúa với đầy những hình xâm. Không biết vì nghĩ là cô không hiểu tiếng Thái hay là bản tính ít nói, cả ngày hắn lầm lì, chỉ thỉnh thoảng mỉm cười. Hắn luộc tôm cá tươi ép cô ăn và bắt cô uống rượu. Miệng hắn lúc nào cũng nồng nặc mùi rượu. Đôi mắt đỏ ngầu. Rượu giúp hắn trở thành con hổ đói cuồng bạo trên tấm thân liễu yếu của cô. Hắn lột hết áo quần cô, làm nhiều cách hầu tạo kích thích, nhưng cả thân xác và tâm hồn cô đã trở thành gỗ đá, lạnh lùng, không còn cảm giác. Chỉ biết nhắm mắt chịu đựng đau đớn, để cho hắn ta mặc tình hành hạ.

Bọn họ ra đi từ lúc trời chưa sáng. Khi cô thức dậy chung quanh vắng lặng, ngoài tiếng sóng biển rì rào. Cảm giác da thịt rã rời. Phải ngồi khá lâu mới đứng dậy được. Cô chui ra khỏi hang, trèo xuống hốc núi tìm đường ra biển. Hôm nay trời nắng, biển êm. Nhìn biển mênh mông, trong gió nghe như có tiếng gọi tên mình, cô giật mình nghĩ tới người yêu và những cô gái đồng hành bất hạnh. Cô xăn quần lội xuống, vốc một vốc nước rửa mặt. Nước biển làm rát khóe mắt, nhưng giúp cô tỉnh táo. Bỗng cô nghĩ đến cái chết. Chỉ cần lội ra xa để cho sóng cuốn đi là cô sẽ gặp lại người tình ở đâu đó dưới đáy đại dương và sóng biển có thể rửa bớt phần nào nhơ nhớp trên tấm thân, mà bao nhiêu lần, mẹ đã ôm cô dặn dò phải cố giữ gìn, trước lúc từ biệt ra đi. Chợt nhớ tới mẹ, nhớ các em, cô đứng bất động nghe lòng dạ bồi hồi.

Gió từ biển khơi thổi tới như muốn an ủi vỗ về, giúp cô tìm lại một chút yên ả. Cô bước lên đi dọc theo bờ biển. Tiếp tục nghĩ đến mẹ và hai đứa em nhỏ dại. Giờ này không biết họ ra sao. Có biết mình đang lưu lạc trên một hoang đảo xa lạ giữa trời biển mênh mông với tấm thân hoen ố ê chề, hay là vẫn đang hy vọng đứa con gái, người chị của mình đã đến được một xứ thiên đường nào, để có thể cứu sống cả gia đình đang ở bước đường cùng. Bao nhiêu vốn liếng chắt chiu dành dụm được, kể cả chiếc nhẫn cưới và sợi dây chuyền vàng mà bà ngoại đã đeo lên cổ mẹ ngày vu quy, cũng chỉ đủ gom góp mua một cây vàng, và phải năn nỉ lắm mới được đóng trước một nửa cho chủ tàu, nửa còn lại khi nào đến nơi sẽ trả. Sau ngày cha cô vĩnh viễn không về, cùng nhiều đồng đội gởi xác thân ở một nơi vô danh nào đó, rồi cả miền Nam đang trù phú, hạnh phúc một thời, bỗng dưng trở nên đói nghèo, chia ly tan tác, cũng như những gia đình sĩ quan công chức khác, mẹ con cô đã trải qua bao tháng năm cùng cực. Cô đã phải bỏ học, phụ mẹ buôn tảo bán tần, mà cả nhà vẫn bữa đói bữa no. Nghĩ đến tương lai mịt mờ của mấy đứa con, mẹ bàn với cô, chỉ còn cách duy nhất, là cô phải ra đi. Bao lần tìm được mối, nhưng lo cho thân gái dặm trường, có biết bao điều bất trắc, cuối cùng bà rất vui mừng khi có người yêu của cô, cũng là con của một người bạn cùng khóa với chồng, cùng đi với con gái. Trước ngày đi, hai gia đình gặp nhau, tổ chức một lễ đính hôn rất vội vàng, đơn giản.

Cô bước đi những bước vô hồn trên những bọt sóng xô bờ, hình dung tới tuổi ấu thơ và cả một thời cùng gia đình sống trong hạnh phúc. Nhớ mấy năm cha cô được đổi về làm huấn luyện viên trường Võ Bị Đà Lạt, nơi ông đã gặp mẹ cô, khi còn là một sinh viên sĩ quan trai trẻ, từng đứng trên đỉnh Lâm Viên với hào khí ngút trời. Nơi ông cùng bè bạn đồng môn, đã quỳ xuống vũ đình trường trong ngày mãn khóa, giữa không khí uy linh, đưa tay thề quyết bảo vệ núi sông. Cô cũng nhớ tới đám bạn bè một thời nhỏ dại. Không biết những cánh chim non hồn nhiên ngày ấy, giờ tản mác trôi dạt về đâu sau cơn bão lửa. Cũng như cô, tất cả đã mất rồi, cả một bầu trời xanh bao la với bao nhiêu ước vọng thuở nào. Không bao giờ còn tìm lại được!

Đầu óc mơ hồ, tưởng mình đang đi tìm dấu vết tuổi thơ bên bờ hồ Xuân Hương thơ mộng. Khi nghiêng mình để tìm ngôi nhà Thủy Tạ, nơi lần đầu hò hẹn người yêu, cô bỗng giật mình nhận ra tảng đá trên hoang đảo, nơi cô bị giam lỏng từ mấy hôm nay. Giấc mơ xưa ngắn ngủi vỡ tan như bọt biển. Ngồi bệt xuống cát, thẫn thờ gọi mẹ, gọi em, và gọi tên người tình. Cô gọi đến khan cả cổ, để chỉ nghe tiếng mình dội lại từ đại dương mênh mông xa thẳm, không tìm thấy chân trời. Cô đã bật khóc.

Tôi định đưa tay bảo cô ngừng kể, để tôi kịp dịch lại cho anh cảnh sát, đang hồi hộp ngồi chờ, nhưng chợt thấy cô cũng đang khóc. Anh cảnh sát đứng lên nháy mắt, làm dấu cho tôi cùng bước ra ngoài để cho cô được tự nhiên. Khi trở vào, anh cảnh sát nhờ tôi hỏi, nếu cô muốn bảo lãnh cho mẹ và các em còn ở Việt Nam, anh sẽ trình lên Sở Ngoại Kiều, lập hồ sơ cho cô được ưu tiên. Có thể trong vòng từ sáu đến tám tháng, cô sẽ được đoàn tụ với gia đình. Suy nghĩ một chập, cô lắc đầu:

– Em chưa chuẩn bị được tâm lý, không muốn mẹ và các em sẽ đau buồn vì những gì em đã trải qua, và nhất là cái thai trong bụng, em vẫn còn đang giấu mẹ. Chờ sinh đẻ xong, em mới bình tĩnh mà quyết định được. Mặc dù em rất nhớ mẹ và các em.

Ngần ngừ một lúc cô ngõ ý muốn được Phòng Xã Hội cho mượn một số tiền để gởi về giúp gia đình, sau này đi làm cô sẽ trả. Anh cảnh sát gật đầu, hứa sẽ nói việc này với Phòng Xã Hội. Anh bắt tay cô, chúc sớm bình phục, gặp nhiều may mắn, và hẹn sẽ trở lại thăm cô để xin hỏi thêm cô ít điều bổ túc hồ sơ.

Hai hôm sau, qua điện thoại từ Phòng Xã Hội, tôi đến nhận số tiền 10.000 kroner (khoảng 1.200 USD), để giao lại cho cô và yêu cầu cô ký tên vào biên nhận.Tôi cũng mang đến biếu cô mấy trái xoài chua, lần trước cô bảo là cô rất thèm. Gặp lại tôi, cô tỏ ra mừng rỡ. Lần đầu tiên tôi thấy cô nhoẻn miệng cười. Cô bảo cô rất buồn và thấy cô đơn, vì không có tôi cô chẳng biết trò chuyện cùng ai. Cô ngạc nhiên và thoáng một chút xúc động khi tôi đưa cho cô số tiền của Phòng Xã Hội, và bảo đó là tiền cô được cấp, chứ không phải mượn. Tôi giải thích thêm về những trợ cấp khác dành cho người tỵ nạn lúc ban đầu và hằng tháng sau này, cũng như trợ cấp việc sinh đẻ và nuôi con. Tôi bảo cô yên tâm, đừng lo lắng gì về chuyện tiền bạc. Cô càng vui và tỏ ra thân thiện hơn khi nghe tôi bảo trước đây tôi cũng là lính, sau gần 8 năm tù trở về, vợ con cũng khốn cùng như gia đình cô. Tôi kể chuyện gia đình tôi vượt biên nhưng may mắn được tàu Na-uy vớt, mới đến Na-uy tám tháng, nhưng mọi việc tạm thời ổn định. Cô nhớ tới cha cô, đôi mắt sáng lên và say sưa kể cho tôi nghe những ngày cô theo cha ra đơn vị, hoặc cùng mẹ vào trường Võ Bị tham dự các buổi lễ ra trường. Khi tôi đứng dậy cáo từ, cô viết tên và địa chỉ của mẹ cô, nhờ tôi gởi hết số tiền còn nguyên trong bì thơ về cho mẹ. Trong mắt cô sáng lên niềm vui.

Một lần cô ngỏ ý muốn học tiếng Na-uy để giết thì giờ. Tôi bảo là ở Na-uy vừa mới có cuốn tự điển Nauy-Việt, tôi sẽ liên lạc Phòng Xã Hội để xin cho cô. Hai hôm sau, tôi mang cuốn tự điển đến, chỉ cho cô cách sử dụng, nói và viết vài câu đơn giản. Cô khá thông minh nên hiểu rất nhanh. Cô còn nhờ tôi viết cho cô vài câu tiếng Na-uy. Trong đó có một câu cô bảo là lời một bản nhạc nào đó mà cô rất thích: “Ngày mai, tôi muốn bỏ đi thật xa”.

Khi được biết là sẽ sinh con trai, cô vui lắm, nhưng ngay sau đó tôi thấy cô ngồi thẫn thờ, suy nghĩ mông lung. Gần tới ngày cô sinh, tôi xin phép cô cho bà xã tôi đến thăm, để hướng dẫn chỉ vẽ cho cô ít nhiều kinh nghiệm sinh đẻ mà vợ tôi đã trải qua. Hơn nữa, khi sinh đẻ, có một người đàn bà thân quen bên cạnh cũng an tâm. Biết cô ái ngại, nên tôi nói trước là vợ tôi hoàn toàn không biết gì về hoàn cảnh của cô, và tất nhiên tôi không hề tiết lộ điều gì. Tôi sẽ nói với vợ tôi là chồng cô còn ở trại tị nạn Thái Lan, sẽ được định cư sau. Ngần ngừ một lúc, cuối cùng cô gật đầu.

Cuối tuần, vợ chồng tôi đến thăm. Vợ tôi mang đến cho cô một it thức ăn Việt nam và mấy bộ áo quần con nít. Đàn bà dễ thông cảm với nhau, nhất là vợ tôi sinh mấy đứa con cũng không có mặt chồng, vì tôi bận tham dự hành quân, không về kịp. Tôi ra ngoài, để cho hai người đàn bà dễ nói chuyện sinh đẻ.

Cô sinh vào ban đêm, lúc trời đã vào đông. Tuyết rơi kín cả khung trời. Vợ chồng tôi đến phòng sinh lúc cô đau bụng. Vợ tôi ở bên cạnh cô, còn tôi ngồi ngoài phòng đợi. May mắn là cô sinh rất nhanh. Khoảng hơn 30 phút, tôi đã nghe tiếng con nít khóc. Khi mọi việc đã xong, nghe tiếng vợ gọi, tôi bước vào chúc mừng cô. Thằng bé đang nằm trên ngực mẹ. Tôi thấy cô khóc. Không biết đó là những giọt nước mắt xót xa hay hạnh phúc.

Sau một tuần ở bệnh viện, mẹ con cô chuyển đến một khách sạn, được phòng xã hội mướn cho cô tạm trú một thời gian, vì chưa tìm được căn nhà thích hợp cho cô. Khách sạn khá sang trọng, nằm không xa bệnh viện, để tiện cho các y tá đến thăm và chăm sóc mẹ con cô.

Mấy ngày sau, tôi đến khách sạn cô ở. Không phải để thăm cô mà để làm thông dịch cho bác sĩ Hauff và nhân viên phòng xã hội. Họ mang đến cho con cô nhiều quà tặng. Ai cũng ngạc nhiên và thích thú khi thấy cô biết nói vài câu ngắn bằng tiếng Na-uy. Bác sĩ Hauff hỏi là cô có cần ông giúp điều gì nữa không, cô bập bẹ trả lời: “tôi sẽ nói với ông sau”. Tuy không đúng hẳn, nhưng mọi người đều hiểu được.

Ngày đầy tháng, vợ tôi nhớ và nhắc tôi đến thăm mẹ con cô. Chúng tôi ghé siêu thị chọn mua một món quà mừng thằng bé. Bấm chuông phòng, cửa không mở. Gõ nhẹ cũng không thấy lên tiếng. Tôi đến văn phòng khách sạn hỏi. Họ cho biết là cô vừa mới chuyển đi. Tôi gọi hỏi Phòng Xã Hội, họ cho biết là cô đã chuyển đi một thành phố rất xa, và theo yêu cầu của cô, họ không tiết lộ địa chỉ mới cho bất cứ một ai. Sau một thoáng ngạc nhiên, tôi chợt nhớ đến lời một bài ca nào đó mà cô đã nhờ tôi viết ra bằng tiếng Na-uy và chỉ cho cô đọc đi đọc lại nhiều lần: “ngày mai, tôi muốn bỏ đi thật xa”. Trên đường về, bà xã tôi thắc mắc tại sao cô lại chuyển đi sớm và không cho chúng tôi hay. Tôi lắc đầu, mặc dù tôi đã vừa mới hiểu ra.

Từ hôm ấy, tôi không bao giờ gặp lại cô. Vài lần nhớ tới cô, tôi định hỏi thăm qua một số người quen ở các thành phố khác, hoặc gọi cho Sở Tỵ Nạn. Nhưng rồi tôi quyết định không tìm, vì có lẽ cô không muốn gặp lại tôi, một người biết quá nhiều về cô.

oOo

Bích Kiều đến đúng giờ hẹn. Khi thấy chiếc taxi đỗ ngay trước cổng nhà, vợ chồng tôi chạy ra đón. Tôi cũng nóng lòng muốn xem lại dung nhan của người con gái xinh đẹp nhưng găp phải điều bất hạnh của hai mươi lăm năm trước. Bây giờ chắc tuổi cũng đã 45,46. Vợ chồng tôi ngạc nhiên khi thấy Bích Kiều vẫn còn trẻ đẹp. Cặp kiếng cận làm tăng nét tao nhã quí phái. Cô ôm chầm chúng tôi, rồi lấy kiếng xuống để chùi nước mắt.

– Không ngờ Kiều bây giờ còn đẹp hơn hồi xưa nhiều lắm. Sao đi có một mình ên còn ảnh thì giấu kỹ ở đâu rồi không cho trình diện?

Câu nói đùa của bã xã tôi làm cô bớt xúc động, nở nụ cười sau một thoáng thẹn thùng:

– Em vẫn còn độc thân mà! Hôm nay xuống đây nhờ anh chị làm mai đây.

Chúng tôi đi quanh khu vườn sau nhà. Bà xã muốn khoe mấy cụm hồng vàng vừa mới nở hoa, trước khi dắt tay cô bước vào phòng khách. Tôi mang nước ra mời và ngồi nghe hai người đàn bà nói chuyện trang điểm phấn son xong mới lên tiếng:

– Vậy là Kiều đang ở Trondheim. Tôi thấy địa chỉ trong tấm thiệp cưới. Ngày ấy, tự dưng Kiều biến mất, làm bọn tôi cứ nghĩ là nàng trích tiên đã ngao ngán cảnh trần gian mà bay lại về trời rồi chứ.

Cô cười bẽn lẽn:

– Hôm nay đến cũng để xin lỗi anh chị đây. Ngày ấy lòng em còn đau xót lắm, nên muốn đi đến một nơi thật xa, không muốn gặp bất cứ người Việt nào và nhất là những ai đã biết về mình. Mặc dù em rất thương quí và mang ơn anh chị.

Tôi cười:

– Tôi biết, nên chỉ thương chứ có nỡ lòng nào mà trách. Chắc Kiều còn nhớ cái câu tiếng Na-uy “Ngày mai tôi muốn bỏ đi thật xa” mà Kiều nhờ tôi viết ra và chỉ cho Kiều đọc đi, đọc lại bao nhiêu lần. Khi ấy Kiều bảo rất thích câu ấy trong một bài hát mà Kiều hay hát? Nhờ đó mà tôi hiểu được, nên không có ý tìm Kiều.

Đúng là cô đã đi thật xa, một hòn đảo nhỏ nằm ngoài khơi thành phố Ålesund. Ở đó không có một người Việt nào sinh sống. Chính quyền và dân chúng rất tốt. Mẹ con cô được chăm sóc chu đáo. Một năm sau cô bảo lãnh mẹ và hai cậu em sang đoàn tụ. Gia đình sống trong hạnh phúc. Đứa bé lớn lên trong vòng tay yêu thương của mọi người. Cháu được đặt tên Trần huy Bách, và trong giấy khai sanh có cha là Trần Huy Trác. Tên người vị hôn phu của Kiều. Anh đã bị chính cha ruột của thằng bé giết chết thảm thương rồi vất xác xuống biển. Kiều giấu kín mẹ và các em điều đau thương này, nên đến lúc qua đời, mẹ cô vẫn tin đứa cháu ngoại duy nhất của mình là con của Trác. Bà mất đột ngột sau cơn bệnh tim, khi sang Na-uy được mười sáu năm.

Được chính phủ trợ cấp, cho học bổng, và nhờ mẹ giúp trông con cùng mọi việc trong nhà, nên Kiều và hai em được đi học. Cả ba chị em đều xong đại học. Hai cậu em đang là kỹ sư, còn cô làm y tá trong bệnh viện. Khi hai cậu em được nhận vào trường NTH , một đại học kỹ thuật bách khoa nổi tiếng tại thành phố Trondheim, miền trung Na-uy, cả nhà đã di chuyển về đây sau sáu năm ở Ålesund. Cháu Huy Bách, con của Kiều cũng vừa tốt nghiệp ở trường này mùa hè năm ngoái.

– Vợ chồng tôi mừng cho Kiều, cho sự thành công của mẹ con Kiều cùng hai cậu em, và cũng xin chia buồn về việc bà cụ đã ra đi. Tiếc là chúng tôi không có dịp được gặp bà.

Đang vui, bỗng Kiều xúc động:

– Tất cả đều nhờ mẹ em. Cả một đời thiệt thòi, chịu đựng vất vả với con cháu. Em vẫn ân hận là em đã phải nói dối với bà về chuyện của cháu Bách.

– Tôi nghĩ Kiều làm như thế là đúng. Ít nhất là không làm đau lòng thêm những người ruột thịt vốn đã chịu quá nhiều nhục nhằn, khốn khổ. Tôi tin là bác ra đi thanh thản, không có trách gì Kiều về sự việc ấy đâu. Tôi nói để an ủi .

Bà xã tôi nãy giờ không hiểu hết những gì chúng tôi trao đổi, hỏi Kiều:

– Sao cô lại không giữ tên Kiều mà lấy tên Bích. Tôi thấy tên Bích Kiều đẹp lắm. Ngày xưa gần nhà tôi ở Nha Trang cũng có tiệm uốn tóc Bích Kiều. Mấy cô con gái đều đẹp. Tôi quen cả hai chị em.

– Dạ, em thấy cuộc đời nàng Kiều của ông Nguyễn Du sao mà ba chìm bảy nổi quá, mà dường như cũng đã vận vào em, em sợ nên đổi tên Bích, cũng là chữ lót của em.

Tôi cười phụ họa:

– Nàng Kiều nào cũng đã chết rồi. Bây giờ, đang ngồi trước mặt tôi là Bích. Một cô Bích hoàn toàn khác. Chúng tôi rất mừng được như vậy. Xin lỗi, đáng lẽ ra không nên gọi cô là Kiều nữa. từ bây giờ chúng tôi gọi tên Bích nghe.

– Có sao đâu anh. Hai đứa em của em cũng gọi em là chị Kiều mà. Ngoài gia đình, chỉ có anh chị là biết cái tên này của em. Chuyện xưa cũng đã qua rồi. Em muốn anh chị cứ gọi em là Kiều như ngày trước. Hơn nữa, em biết, ngày ấy anh chị cũng thương yêu cô Kiều đó lắm , phải không?

Cả ba chúng tôi đều cười.

Kiều nhìn đồng hồ trên tường, khi nghe tiếng chuông báo giờ. Không biết vì không muốn nhắc lại chuyện cũ, hay là sợ không còn nhiều thời gian, cô bắt đầu một câu chuyện khác. Cô mở xách tay lấy ra mấy tấm ảnh đưa cho chúng tôi xem. Ảnh của Bách, con trai cô vừa chụp với cô vợ tương lai trong ngày lễ đính hôn hơn ba tháng trước. Một cô gái Việt nam. Cả hai cô cậu đều đẹp, mũi cao, đôi mắt to, vầng trán thoáng lên nét thông minh.

– Hai cháu rất xứng đôi vừa lứa! Vợ chồng tôi khen.

Cô cho biết cô dâu tương lai là một dược sĩ vừa mới tốt nghiệp, con gái út của vợ chồng một vị giáo sư trước 75, được con bảo lãnh sang Na-uy, và bây giờ lớn tuổi đã về hưu. Ông bà đang sống ở Oslo. Gia đình nề nếp, đạo đức, có năm người con, tất cả đều thành đạt. Cô nhờ vợ chồng tôi, tuổi tác ngang với cha mẹ cô dâu, đứng ra thay mặt nhà trai trong ngày đám cưới. Nhưng điều quan trọng hơn, theo cô, là để cho cháu Bách, và chính cô nữa, được tự tin, ấm áp hơn về phía gia đình mình. Bởi vợ tôi là người chứng kiến khi Bách ra đời, còn tôi là người đồng hương duy nhất biết rõ về Bách, về những tình huống để có Bách hiện diện trên thế gian này.

– Sự có mặt của anh chị trong ngày đám cưới cháu Bách, là một kỷ niệm thiêng liêng quý giá đối với mẹ con em. Bởi vì khi nhìn thấy anh chị, em sẽ có cảm giác như là đang có anh Trác bên cạnh. Xin lỗi anh chị, em cũng đã nói dối với cháu Bách, anh là người duy nhất ở Na-uy này biết chuyện Trác, và tội nghiệp, cháu Bách vẫn tin anh Trác là ba của nó. Em thường bắt gặp cháu đứng thật lâu trước tấm ảnh của anh Trác trên bàn thờ.

– Vậy nhỡ cháu Bách hỏi tôi về Trác, tôi biết nói gì với cháu?

Nghĩ ngợi một lúc, Kiều lên tiếng:

– Em chỉ nói với cháu Bách, là ngày xưa anh ở trong quân đội, nên biết ba của anh Trác là ông nội cháu, thế thôi. Chứ lúc ấy anh Trác còn nhỏ lắm. Em thiết tha mong anh chị giúp em. Vì trong lúc này, em cảm thấy thật lo sợ và cô đơn. Những hình ảnh hãi hùng ấy cứ tưởng đã quên được từ lâu rồi, vậy mà bây giờ nó lại hiện lên liên tục, ngay cả trong giấc ngủ của em. Thú thực, ban đầu em không có ý định gặp anh chị, nhưng càng gần ngày đám cưới cháu, em càng thấy lòng bất an. Cuối cùng bất ngờ em đã nghĩ đến anh chị, người đã biết tường tận hoàn cảnh của mẹ con em, bỗng dưng em thấy nhẹ nhàng, như vừa giải tỏa được những gì cứ phải chôn giấu, đè nặng mãi trong lòng.

Nhớ tới hai người em trai của cô, vợ tôi hỏi:

– Còn hai cậu em của cô bây giờ ra sao. Đã có gia đình riêng hay vẫn ở chung với cô?

– Cậu lớn sống chung với cô bạn gái người Na-uy hơn hai năm thì chia tay, còn cậu út vẫn chưa lập gia đình. Tuy nhiên, hai cậu đều ở riêng.

Cuối cùng, vợ chồng tôi quyết định hủy bỏ chuyến đi London. Phải gọi sang xin lỗi và giải thích cho vợ chồng cô con gái, bảo đây là một việc ba má cần làm để giúp cho những người bất hạnh có thể tìm lại ít nhiều hạnh phúc.

Lễ thành hôn được tổ chức buổi sáng thứ Bảy. Chúng tôi đến khách sạn Royal Christiania khi trời vừa mới trải qua một cơn mưa hạ. Ánh nắng bắt đầu chói chang rọi qua những tàn cây tạo thành những vệt lung linh trên các bãi cỏ xanh điểm những chấm vàng rực rỡ của hoa løvetann đang mùa nở rộ. Họ nhà trai dùng khách sạn này, nơi mẹ con Kiều và hai cậu em đang ở mấy hôm nay, làm “điểm xuất phát”. Từ Trondheim xuống, nên họ chỉ có bốn người. Thêm một cậu người Na-uy ở Oslo, bạn học của Bách làm phụ rể. Vợ chồng tôi đến với hai cô con gái và ba đứa cháu, để bưng các mâm lễ vật, theo yêu cầu của Kiều. Lần đầu tiên chúng tôi gặp Bách. Cậu bé ra đời vào một đêm đông tuyết giá, trong nỗi cô đơn và xót xa của mẹ, chỉ có vợ chồng tôi, hai người đồng hương xa lạ, có mặt và nghe tiếng khóc đầu đời, bây giờ là một thanh niên tuấn tú, có học, chân thật hiền lành. Điều làm chúng tôi ngạc nhiên là Bách nói tiếng Việt rất giỏi. Bất giác, tôi nhớ tới những điều Kiều kể với vị cảnh sát ngoại kiều trước kia trong bệnh viện. Đầu óc như mơ hồ có tiếng sóng biển thét gào phẫn nộ, và hình dung tới gã hải tặc Thái Lan có mái tóc phủ xuống lưng, trên người đầy những hình xâm với đôi mắt lúc nào cũng đỏ ngầu trong men rượu. Bỗng tôi giật mình, có cảm giác như vừa làm điều phạm tội. Cố gắng hướng tâm trí tới những điều thánh thiện, tốt đẹp khác để xua đuổi hết những hình ảnh đen tối ấy vào giờ phút mọi người đang cần có niềm vui và hạnh phúc.

Lễ thành hôn đã diễn ra tốt đẹp. Ông bà sui của Kiều đều là nhà giáo, hiểu biết và tôn trọng nề nếp cũ. Mọi nghi thức hôn lễ theo tập tục do ông bà hướng dẫn khá tỉ mỉ. Con cháu đều thành đạt, lễ phép. Tôi mừng cho Kiều, và nhất là cho cháu Bách đã may mắn là con rể của gia đình này. Có lẽ thấu hiểu hoàn cảnh của Kiều với lòng mến mộ, sau khi lạy ông bà trên bàn thờ gia tộc, ông giáo hướng dẫn cô dâu chú rể đến dâng rượu và xin lạy mẹ của Bách hai lạy. Ông giải thích, một lạy cảm tạ công ơn sinh thành dưỡng dục của mẹ, mất chồng từ khi còn rất trẻ, nhưng không bước thêm một bước nào nữa mà dành hết cuộc đời cho đứa con duy nhất của mình. Một lạy xin mẹ nhận thay cha, để hai con tưởng nhớ đến người cha bất hạnh, sớm lìa đời khi chưa thấy mặt con.

Khi vợ chồng cháu Bách mời rượu, nói những lời cám ơn thật cảm động, Kiều âu yếm nhìn hai con, định nói điều gì, nhưng rồi nghẹn ngào. Sau một lúc mới nở được nụ cười trong ràn rụa nước mắt. Tôi thấy lòng bâng khuâng. Thầm mong đó không phải là những giọt nước mắt xót xa mà là niềm vui của hạnh phúc.

Không khí bỗng lắng xuống. Mọi người đều xúc động. Kiều ngước lên, đúng vào lúc tôi quay mặt đi để giấu những giọt nước mắt của chính mình.

Phạm Tín An Ninh

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 18