Category Archives: VĂN

Văn Quang – Nhà Văn của Chân Trời Tím

Vũ Tam Thừa

Nhìn ngắm tấm ảnh hoàng hôn tím của Mario Đàm chụp nơi trời Âu – Tiệp Khắc, điều đầu tiên mà tôi nghĩ đến là nhà văn Văn Quang tác giả  Chân Trời Tím. Quyển tiểu thuyết ra đời hơn 50 năm (1964). Lúc ấy tôi chỉ là một cậu học trò tiểu học. Mãi đến hè năm 1972, tức 8 năm sau, sau khi thi xong tú tài I, tôi mới có thì giờ mộng mơ một chút. Lúc đó nhà nghèo làm gì có tiền mua,tôi đến mượn sách ở thư viện Quốc Gia. Vậy là tôi lạc vào thế giới của người lớn, thế giới của những người lính Việt Nam Cộng Hòa, những cô ca sĩ phòng trà, gái bán bar, những cô nữ sinh thành phố; những tình yêu vội vã đến vội vã đi. Dĩ nhiên tất cả những điều mà cậu học sinh 18 tuổi chưa hề trải qua. Tấm ảnh “Chiều Tím” của Mario Đàm thật sự đã đưa tôi trở ngược lại 50 năm về trước, thời của Sài Gòn xưa, của tuổi  học trò hoa mộng.

Thỉnh thoảng trên Thời Báo tôi có đọc bài viết của Văn Quang. Lần đầu đọc bài của ông tôi thắc mắc, chẳng lẽ là Văn Quang của Chân Trời Tím ngày xưa. Chẳng lẽ cụ già 83 tuổi mà còn gân vậy sao? Tuổi già nhưng văn không già, tâm hồn ông vẫn còn trẻ trung lắm, có phần an lạc, hạnh phúc hơn khi xưa. Văn của ông đã nói lên điều đó. Giờ ông sống rất thành thật với mình, sẵn sàng nói lên những gì cần nói.

Hôm nay xin giới thiệu với các bạn một trích đoạn về cuộc phỏng vấn của nhà văn Lê Thị Huệ về ông được đăng trên mạng

Lê Thị Huệ: Ông bị đi tù một thời gian dài sau 1975. Ông có thể nói gì về điều này ở đây và bây giờ chăng ?

Văn Quang: Có rất nhiều điều đáng nói về những ngày tháng trong nhà tù. Và cũng đã có rất nhiều những cuốn sách viết về chuyện này rồi. Nhiều chi tiết đã được trình bày cụ thể. Vì thế, lúc này tôi nghĩ ở vào vị trí của tôi, nên chuyên tâm về những vấn đề xã hội hiện tại mà tôi đang có điều kiện tìm hiểu tường tận hơn các bạn khác. Tôi chỉ có thể nói là nhà tù vẫn là nhà tù, không có chuyện cải tạo gì ở đây. Điều này tôi cũng đã viết trong “ngã tư hoàng hôn”. Một lúc nào đó, nếu còn thì giờ, có thể tôi sẽ viết lại toàn bộ những sự thật mà tôi đã được chứng kiến.

Lê Thị Huệ: Ông từng là nhà văn quân đội ở Miền Nam, ông có so sánh nào cho nền văn chương quân đội của hai miền Nam Bắc trong thời chiến?

Văn Quang: Nói về văn chương quân đội giữa hai miền Nam Bắc có lẽ hơi quá tổng quát. Nhưng sự khác biệt căn bản vẫn là mang tính văn học nói chung. Một bên, dù anh là thành phần nào khi hoạt động văn hóa đều phải đi theo một đường lối chung, không thể khác được. Do đó người viết dù ở trong hay ngoài quân đội cũng thế thôi. Họ quan niệm văn hóa là tuyên truyền giáo dục quần chúng nhân dân (trong đó có cả quân đội) thực hiện một chủ trương chính sách trong một giai đoạn nào đó. Còn ở miền Nam thì những nhà văn quân đội không bị lệ thuộc bởi bất cứ điều gì. Tôi làm ở Tổng cục chiến tranh chính trị rất lâu, nhưng chưa hề thấy một “chỉ thị” nào cho những quân nhân viết văn. Họ được tự do sáng tác theo cảm hứng của mình về mọi mặt trong đời sống. Những nhà văn xuất thân từ quân đội hay hơn nữa là từ những chiến trường như Nguyễn Đạt Thịnh, Phan Nhật Nam, Huy Phương, Thế Hoài, Phạm Huấn… viết những gì họ đã trải qua. Hoặc như Mai Trung Tĩnh, Vương Đức Lệ, Tô Thùy Yên, Cung Trầm Tưởng cứ việc làm thơ tình, lãng mạn, không cần Tây Tiến hay Nam Tiến. Cho nên so sánh hai nền văn hóa quân đội giữa hai miền như thế tôi cho là khập khiễng, nên tôi không thể so sánh được.

Lê Thị Huệ: Ông đã từng tiểu thuyết hoá dày cộm những người lính thành phố Sài Gòn trước 1975. Bây giờ nhìn lại ông có thấy là trật búa hay OK ?

Văn Quang: Tiểu thuyết hóa những người lính không phải là “thần thánh hóa” những người lính. Chị đọc lại “Chân trời tím” và “Người yêu của lính” sẽ thấy tôi tiểu thuyết hoá đời thường của họ. Người lính không đi tu, không là “người con trai khác với những người con trai không đi lính”. Ngoài cuộc sống chiến đấu, ngoài tình đồng đội, họ có cuộc sống của mình. Cũng yêu thương, ghen hờn, lãng mạn như những ghệ sĩ chính hiệu. Nói cách khác, tôi diễn tả rõ hơn, tỉ mỉ hơn về cuộc đời quân ngũ. Không phải tất cả đều tình nguyện đi lính, có những người “bị động viên” hoặc được đồng hóa. Nhưng tình đồng đội đã làm họ thay đổi quan niệm, ý chí chiến đấu đã tô đậm lý tưởng yêu nước của họ. Vì thế họ trở thành một khối vững chắc cho đến tận ngày nay. Tại sao tôi lại thấy “trật búa” được? Tôi vẫn cho là tôi đã làm đúng, làm được những gì tôi cần làm. Một điều cần nhấn mạnh, đó là xuất phát từ những rung động chân thành của tôi sau những ngày tháng làm phóng viên thời kỳ chiến tranh ác liệt đầu tiên, qua một số chiến trường thời đó, không vì một chỉ thị nào, một lý do chính trị nào.

Lê Thị Huệ: Nếu cuộc đời biến thành những chương tiểu thuyết. Hãy thử nói về cuộc đời như là những chương tiểu thuyết. Cái chết nào cũng là một cái chết. Cái chết của Miền Nam là một cái chết tức tưởi nhưng nó có cái đẹp tuyệt vời của một cái chết tức tưởi. Ông nghĩ đấy là một bất hạnh hay là một may mắn

Văn Quang: Cái chết của miền Nam, như chị nói, tôi đã có nhiều thời gian gậm nhấm nó trong tù và ngoài đời, sau khi ở nhà tù ra. Tôi thường nghĩ, chẳng ai muốn tự tử cả. Cái chết bất đắc dĩ được báo trước đó không do miền Nam tạo ra. Người bạn “đồng minh thân thiết” của chúng tôi bỏ bạn, trong khi đối phương có tới 6 nước vẫn trung thành tiếp súng đạn thì “sáu thằng đánh một chẳng chột cũng què”. Và những “panic” từ Huế đến Pleiku, Đà Nẵng, Nha Trang, Bình thuận vào đến TP. Sài Gòn đều do người bạn đồng minh của chúng tôi tạo ra. Gây hoảng loạn khắp nơi để tẩu thoát như một ván cờ thua. Điều đó rõ như ban ngày. Tôi so sánh với cuộc rút lui của quân đội Pháp sau khi ký hiệp định Geneve, dù sao thì mọi tổ chức cũng chu đáo hơn, có tình có lý hơn, nhân đạo hơn. Nếu người Mỹ vẫn tuyên truyền rằng “cộng sản chiếm được miền Nam thì Sài Gòn sẽ là một biển máu”. Vậy mà họ đã để lại chúng tôi bơi trong cái biển máu ấy, sau khi bí mật bắt tay đối phương. Có thể coi họ là đồng minh được không?

Vậy thì cái chết của miền Nam chỉ có thể coi là bất hạnh. Một kinh nghiệm cho những ai còn nuôi mộng lãnh đạo đất nước này.

Lê Thị Huệ: So sánh đời sống của ông bây giờ với đời sống trước năm 1975, ông phát biểu như thế nào. Tôi hỏi ông câu này với một thái độ rất trân trọng, vì ông là một tác giả hiếm hoi, ông sống sót và sống qua những giai đoạn khốc liệt ấy, mà vẫn viết với cái tên Văn Quang. Một Văn Quang lừng lững không thoả hiệp. Hình như ông là 1 tác giả độc nhất vô nhị viết và viết được trong cái thế sống vô cùng chênh vênh ấy

Văn Quang: Thật ra ngay từ đầu, khi trả lời lá thư của Gio-O tôi đã thành thật thưa rằng “không thích nói về mình”. Nếu cần nói thì có rất nhiều điều phải nói, phải trả lời. Một người cầm bút nên để độc giả phán xét về mình hơn là những gì mình tự nói hoặc bị kẻ thù xuyên tạc.

Xin cảm ơn về những nhận xét của Gio-O dành cho riêng tôi. Vâng, tôi sống như vậy đấy. Chẳng có gì phải che giấu, chẳng có gì phải khiếp sợ nữa. Còn gì nữa đâu mà khiếp sợ và tôi không làm điếu gì xấu, không “phá hoại”… thì cứ lừng lững mà làm. “Danh chính ngôn thuận” và “đường ta ta cứ đi”. Cái gì có thật thì tôi viết. Không bới móc lung tung, không phao tin đồn nhảm. Quyền phê phán là của người dân. Quyền bất bình cũng là của người dân về những điều có thật đã và đang xảy ra.

Cũng có một số người viết như tôi đang có mặt ở miền Nam như Nguyễn Thụy Long, Đoàn Dự, Hàm Anh… và một số người không ký tên rõ rệt như người Tân Định, Người Sài Gòn… Và còn cả những người viết không thường xuyên, thỉnh thoảng mới có một vài bài. Những anh em đó cũng là những cây bút hoàn toàn độc lập. Mỗi người có một cách viết, cách lựa chọn đền tài và mức độ khác nhau. Chúng tôi có gặp nhau như những người bạn bình thường, nhưng không thảo luận về những gì mình sẽ viết. Do đó đôi khi có những đề tài trùng hợp, song mỗi người nhìn theo quan điểm của riêng mình. Được độc giả đón nhận như thế nào lại là chuyện khác. Có cố gắng tìm cách “ngoi lên” cũng chẳng được. Cách tốt hơn hết là cứ thành thật với chính mình, cứ thảnh thơi mà làm được việc mình muốn làm. Như tôi đã nói ở trên, sẵn sàng chấp nhận điều “rủi ro” sẽ đến vào bất kỳ lúc nào. Chấp nhận cả đòn hiểm của kẻ thù, của những kẻ đố kỵ, ghen ghét sảng. Cứ lo nghĩ đến nó thì thà xếp quách computer lại hoặc chỉ để ngồi chơi games, chơi “meo” cho xong. Xin tiền con hay đi đánh vi tính, làm lay-out thuê cũng đủ sống.

Có thể nói tôi đã tập được thói quen, không còn ngồi đó tiếc nuối dĩ vãng. Thời gian không bao giờ trở lại được. Tôi bằng lòng và thích ứng với những gì tôi đang có. Trước kia sống sung sướng hay bây giờ, tôi cũng chẳng biết nữa. Một điều đáng nói là không thể quên những người bạn cũ, dù còn sống ở bên kia hay đã mất. Đôi lúc ngơ ngẩn chỉ vì những thứ đó thôi.

Lê Thị Huệ: Một cách công bằng, ông có nhận xét gì về nền sáng tác Miền Nam 1955-1975.

Văn Quang: Về những sáng tác từ ở miền Nam từ 55-đến 75, tôi cho đó là thời kỳ sung sức nhất của những sáng tác của văn học Việt Nam từ trước tới nay. Kể cả về số chất lượng cũng như chất lượng, những vị đàn anh lớn tuổi cũng như những nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ, ca sĩ… mới xuất hiện. Một số tác phẩm văn học khổng lồ đã được trình diện, một số báo chí về mọi mặt từ trình độ cao đến bình dân đua nhau tự do cạnh tranh. Một số ca khúc trở thành “bất tử” dù cho nó đã bị khai tử nhiều lần. Cho đến bây giờ ở Việt Nam, rất nhiều tác phẩm từ thời đó vẫn còn nguyên giá trị, nó xuyên suốt qua mọi thời đại. Độc giả, khán thính giả từ thành thị tới thôn quê vẫn thưởng thức những món ăn tinh thần đó, chẳng cần ai khuyến khích, khuyến mãi.

Cách công bằng nhất để nhận định thì nhãy nhìn vào thị trường, nhìn vào sự trân trọng của người dân.

Mặt khác, việc xuất bản những tác phẩm văn học nghệ thuật hồi đó hình thành một trật tự hơn bây giờ. Kể cả sách xuất bản ở nước ngoài cũng như ở trong nước. Hầu như bây giờ, một số tác phẩm không còn mang đúng giá trị đúng như văn học định nghĩa. Nó là sách lam nham, ai có tiền thì cứ in. Vàng thau lẫn lộn, trong đó có những cuốn không đáng gọi là sách, có những bài không đáng gọi là bài. Điều này rất có hại cho những người trẻ tuổi, nhất là lớp mới lớn ở nước ngoài. Nếu đọc một cuốn sách lem nhem như thế họ sẽ nghĩ gì về những tác phẩm khác của ông cha, của những người đi trước?

Vì thế nên tôi vẫn cho rằng 20 năm văn học miền Nam 55-75 có nhiều tác phẩm giá trị hơn, dù cho có những tác phẩm chỉ có giá trị trong từng thời kỳ.

Lê Thị Huệ: Nhà văn Văn Quang, Giám đốc đài phát thanh Quân Đội, viết tiểu thuyết Chân Trời Tím, đi cải tạo mút mùa lệ thủy, không đi Mỹ theo diện HO (mà những người như Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên còn không cưỡng lại sự tự do ở chân trời kia), còn Văn Quang không đi. Ở lại Việt Nam. Văn Quang là ai thế?

Văn Quang: Tôi vẫn cho rằng những người bạn tôi đi định cư hầu hết vì lo cho tương lai của con cái, cho cuộc sống gia đình hơn lo cho chính bản thân mình. Họ có lý do chính đáng để ra đi. Còn tôi, hầu như chẳng có lý do gì cả. Khi tôi ở trại tù ra, các con tôi đều đã định cư ở Mỹ, đi theo “diện vượt biên” và đi học ở Mỹ trước năm 75. Chỉ còn lại mình tôi. Đời sống kinh tế cũng lại bắt đầu ổn định, bằng việc học computer rồi ra “hành nghề” đánh vi tính thuê và làm lay-out cho các tiệm sách báo. Những nhà xuất bản tư nhân, những nhà làm quảng cáo chuyên nghiệp và cả những ông làm “báo lẻ” như Thanh Thương Hoàng, Thái Phương cũng đều thuê “công ty gia đình” của tôi làm hết. Hồi đó Sài Gòn chỉ có rất ít computer và người làm được công việc này càng hiếm. Cái may mắn của tôi là ngay khi ở trại tù ra, tôi đã tò mò đi học khóa computer đầu tiên vào những năm1989-90-91. Kể về chuyện đi học computer của tôi chẳng qua cũng là chuyện “bất đắc dĩ” và khá dài dòng, cười ra nước mắt. Tôi sẽ kể lại vào một dịp khác. Sau khi học xong vài khóa, tôi đã được các cháu ở Mỹ yểm trợ cho mấy cái computer và máy in laser để hành nghề. Công việc kiếm ăn khá phát đạt. Vì thế tôi thấy không cần phải đi đâu nữa cả. Hơn thế, bà xã của tôi và các cháu cũng đã “yên bề gia thất” nên tôi không muốn khuấy động cuộc sống của gia đình mình, gây thêm những thắc mắc vướng bận cho những người thân.

Ở đây cũng còn một số anh em sĩ quan cũ, sau khi ở tù ra rồi, cũng không đi theo diện HO. Dường như vấn đề kinh tế quyết định tất cả. Hầu hết những người ở lại đều có một cuộc sống tương đối ổn định hoặc có những trở ngại về gia đình, như con cái có vợ có chồng rồi không được đi theo… Mỗi người một hoàn cảnh.

Mặt khác, tôi nghĩ anh em ra đi nhiều rồi, tôi muốn ở lại để chứng kiến cho hết, cho đầy đủ những đổi thay. Đời sống lúc đó ở đây bấp bênh, rồi chao đảo vì Liên Xô tan rã, vì Đông Âu lập lờ… Cuộc sống “lên voi, xuống chó” quay quắt, nếu nhìn như một kẻ ngoài cuộc, nó sinh động hơn một sân khấu với đầy đủ bi hài kịch thú vị. Có quá nhiều đề tài mới lạ cho mình ghi nhận. Làm một nhân chứng sống có lẽ hay hơn. Và cũng vì sự “gậm nhấm” của tôi về “người bạn đồng minh” nên tôi quyết định ở lại.

Mãi tới sau này, một số không ít những người bạn tôi cho rằng tôi đã lựa chọn đúng. Riêng tôi, cho là một điều may mắn chứ chẳng ai tiên đoán trước được điều gì sẽ xảy ra. Nhưng nếu có sai, có bất cứ điều gì xảy ra, tôi không ân hận. Tôi hoàn toàn bằng lòng vì sự lựa chọn của mình. Và, tôi cũng vẫn cứ tiếp tục sống và viết như từ bao năm nay. Sẽ mãi mãi như thế cho đến khi bạn về đây sẽ gặp tên tôi với hai chữ “chi mộ”.

Xin cảm ơn bạn đọc đã đọc những hàng này. Đây cũng là dịp tôi có cơ hội được tâm sự với bạn đọc. Tôi cũng xin nói thêm là một tờ báo của người bạn tôi, sau khi đã có bài phỏng vấn tôi, đã gửi thêm một số câu hỏi khác đến, nhưng tôi chưa trả lời được. Tôi không viết hồi ký như một số bạn tôi thúc giục, trong một ngày gần đây, tôi sẽ dành cho tờ báo của người bạn tôi những chi tiết khác trong cuộc sống của tôi, thay cho cuốn hồi ký.

Cám ơn nhà văn Văn Quang

Lê Thị Huệ

Photo Minh họa: Mario Đàm

Hits: 173

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Tâm Sự Người Phụ Nữ Bất Hạnh

TÂM SỰ CỦA MỘT PHỤ NỮ ĐÃ VỀ HƯU RẤT ĐAU KHỔ :

Vợ chồng tôi định cư ở Mỹ vừa đúng 30 năm. Chúng tôi rất ít về Việt Nam vì bà con chẳng còn mấy người. Nhưng đột nhiên khoảng hơn 2 năm trở lại đây, chồng tôi bỗng thường xuyên đi về Việt Nam đầy khó hiểu, lần gần nhất đã ở lại hơn 2 tháng. Hỏi thì ông ấy bảo, về để tìm cơ hội làm ăn mà chẳng nói làm ăn cái gì, nhưng lần nào đi cũng mang nhiều tiền theo mà khi về thì hết sạch. Thời gian ở nhà, ông thường lên mạng ngồi chat rất khuya và có nhiều cuộc điện thoại rất lâu, ông thường lén ra vườn ngồi nghe một mình làm tôi hết sức nghi ngờ.
  Sự nghi ngờ càng tăng khi ông nhạt hẳn chuyện gối chăn cùng vợ, cái nhạt nhẽo này rất khác thường so với trước, vì chúng tôi mới hơn 60 tuổi.
  Tôi điện thoại về Việt Nam dò hỏi nhiều người quen thì được biết, ông cặp bồ với một phụ nữ không còn trẻ nhưng đẹp.
  Tôi vội vã lấy vé bay về Việt Nam thì cũng là lúc chồng tôi trên đường về Mỹ.
  Tôi ở lại Việt Nam gần một tháng lân la dò hỏi thì được biết người phụ nữ kia ở trong: “Nhóm câu Sài gòn”, tức là câu người trên mạng.


  Tôi đã mất rất nhiều công sức và tiền bạc mới biết được nhóm này có khoảng 10 người, chuyên lên mạng sưu tầm các hình ảnh độc đáo, và những thông tin nóng mà nhiều người nước ngoài quan tâm rồi post lên mạng và các diễn đàn. Từ đó nhóm này có vô số người quen khắp nơi thế giới. Mỗi người trong nhóm luôn có hàng ngàn địa chỉ để giao lưu quan hệ.
  Tôi giấu không cho biết tôi từ Mỹ về, thật may mắn, tôi được giới thiệu và kết thân với 1 người trong nhóm. Lân la mãi, tôi được cô này cho xem cả xấp hình, trong đó có hình chồng tôi đi câu cá ở Bình Chánh, rồi tắm biển Nha Trang chung với cả nhóm. Nhờ thế, tôi biết rõ mặt người phụ nữ kia khi đang ôm chồng tôi. Cố dằn lòng, tôi vẫn tỉnh bơ như không quen biết ai trong những tấm hình trước mắt.
  Khi hết sức thân, cô gái kia mới dốc bầu tâm sự. Đại khái cô cho biết, chúng em là những người tử tế, có ăn học và có nhà cửa đàng hoàng, chỉ tội nghèo. Cô rất tự hào về chuyện “câu” của mình. Cao hứng cô bóc trần mọi thứ:
  “Chị tưởng ai cũng có thời gian suốt ngày trên Internet ư? Chị tưởng ai cũng đủ trình độ để sưu tầm những hình ảnh độc đáo và các tin tức nóng hay sao? Những email em gửi là các mồi câu. Cả ngàn mail gửi đi, bèo nhất cũng có vài chục phản hồi, bao nhiêu năm như thế chúng em có vô số bạn hữu, từ thân ít đến thân nhiều và rất thân.
  Trong đám cá đó em sẽ lựa ra, con nào hám của lạ (nhiều lắm) đủ mọi thành phần. Và em thường dành ưu tiên cho cá nước ngoài (vì dễ dãi bạc tiền). Em cũng luôn đặc biệt quan tâm đến loại vợ chết và nhất là loại cá già, cá càng già càng tốt vì càng dễ câu. Nhưng thú vị nhất là loại vợ chết.
  Đầu tiên là chat, kế tiếp là điện thoại và sau đó là hẹn gặp tại Việt Nam, em luôn thòng rằng: ‘Xin làm hướng dẫn viên miễn phí, mọi nơi mọi lúc’. Ít khi em chủ động gọi điện thoại lắm, vì tốn tiền, chỉ cần nhá máy, ‘cá’ sẽ gọi lại ngay.
  Em siêng chat lắm, có lần cùng một lúc phải chat với 4 – 5 cá, nhưng vẫn khỏe re”.
  Cô hào hứng huỵch toẹt:
  “Em đang là em tinh thần, là em kết nghĩa, là cháu dễ thương… của rất nhiều cá nước ngoài. Cả là ‘người thương yêu dấu’ hoặc là ‘cục cưng rất nhớ’ của nhiều con cá lờ đờ đó chị ạ.
  Mỗi kỳ lễ, Tết hoặc Sinh nhật em đều có quà của cá từ các nơi, cá luôn hào phóng và rộng tay với bọn em. Cá về, em đón. Cá đi em tiễn. Nhưng ngại nhất là vào tháng Tết này, nhiều cá về lắm, em rất lúng túng khi xếp lịch vì sợ cá đụng đầu, do đó, mỗi đứa bọn em luôn có ít nhất là 4 hoặc 5 số điện thoại. Sợ cá ghen khi thấy máy bận.
  Bọn em có đứa đã mua được nhà, đã mua được xe xịn, còn đi du lịch đó đây thì là chuyện vặt”.
  “Bọn em đứa lớn nhất cũng trên 50 rồi, trong đó mấy đứa đã vướng HIV vì cá nước ngoài chẳng ai chịu dùng bao cao su (cô chỉ ngay người phụ nữ trong hình đã cặp bồ với chồng tôi 2 năm nay).
  Mấy đứa này vừa đang uống thuốc vừa đang “trả thù đời”, chúng ngủ với bất cứ ai muốn chúng và nhất định không cho dùng bao. ‘Nhóm câu Sài Gòn’ là tên kín đáo bọn em tự gọi cho vui, ít người biết lắm”.


  Tôi tối sầm cả mặt, ù hết cả tai khi nghĩ đến chồng tôi, không còn hơi sức đâu nghe tiếp phải lảo đảo đứng lên ra về.
  Tôi trở lại Mỹ mà lòng tan nát. Ba ngày không nói với chồng một câu. Cuối cùng, chẳng thể mãi thinh lặng, tôi kể hết với ông những chuyện tôi biết về “Nhóm câu SG” và yêu cầu ông đi xét nghiệm máu. Mới đầu ông nổi giận ghê gớm và quát nạt kinh khủng. Quá chán nản, tôi chẳng nói lại nửa lời. Sau đó, tôi lẳng lặng thu xếp áo quần về ở với con trai lớn hơn 1 tháng trời.
  Trong thời gian này, ở nhà ông ấy đi xét nghiệm máu: Kết quả DƯƠNG TÍNH HIV.
  Dù đã đoán trước nhưng tôi vẫn bàng hoàng đổ sụp và nghĩ đến bản thân mình. Ba tháng sau mới lấy lại được thăng bằng, tôi đi xét nghiệm, kết quả cũng như chồng tôi DƯƠNG TÍNH HIV.
  Tôi có 2 trai và 2 gái đều trưởng thành. Tôi không biết vi tính, không có nickname, phải nhờ con gái viết lại chuyện buồn của mình gửi các diễn đàn, chỉ với mong ước các diễn đàn tiếp tục phổ biến, đến càng nhiều càng tốt, sao cho mọi người cảnh tỉnh, đừng để ai vướng phải bất hạnh như gia đình tôi.
  Đó là tâm nguyện của tôi, xin các diễn đàn giúp tôi chia sẻ hoàn thành tâm nguyện cuối đời của mình.
 
  Tâm sự Người phụ nữ bất hạnh.

Hits: 59

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Người vợ mù

Trong một chương trình radio mang tên “Nẻo về của trái tim”, một cô gái mù đã gửi cho những người làm chương trình câu chuyện của mình. 

Mong muốn của cô là được chia sẻ niềm hạnh phúc mà mình đang có và gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới một người.
—-
Tôi là một kiến trúc sư vui vẻ, hoạt bát. Cách đây một năm, tôi là người vợ hạnh phúc nhất. Khi thức dậy cùng người mình yêu vào mỗi sáng, chúng tôi thường cùng nhau thưởng thức một tách trà trong không gian yên tĩnh đầu ngày. Chúng tôi xây dựng cho mình một thói quen: sẽ luôn cố gắng chia sẻ với nhau những suy tư và cảm nhận chân thật nhất của mỗi người để gìn giữ hạnh phúc.

Cuộc sống của chúng tôi êm đềm trôi qua cho tới một ngày. Trên đường từ bến xe buýt vào tới công ty, tôi thấy mọi thứ như nhòa đi trước mắt, chỉ còn lại những tiếng còi xe inh ỏi. Rồi tôi lập tức được đưa vào bệnh viện. Ngày hôm đó, tôi vẫn còn nhớ rất rõ ràng cảm giác khi nghe câu kết luận của bác sĩ: 

“Đây là một căn bệnh thoái hóa nên chúng tôi cũng không thể giúp được gì”. 

Bác sĩ còn giải thích rất nhiều điều nữa, nhưng trong đầu tôi chỉ còn đọng lại duy nhất câu nói: “Cô sẽ sớm bị mù”.

Tôi không biết các bạn sẽ cảm thấy ra sao khi đối diện với sự thật này. Còn tôi, tôi đã đầu hàng một cách hèn nhát. Tôi khóc, tôi cáu bẳn thậm chí nhiều lần gắt gỏng, đặc biệt khi chỉ có tôi và anh, trong căn nhà hạnh phúc của chúng tôi. Tôi đã rất sợ, sợ bị rơi vào bóng tối, sợ phải làm một người mù và sợ nhất rằng tình yêu của anh dành cho tôi cũng sẽ không còn. Tôi không còn dùng trà vào mỗi buổi sáng với chồng nữa. Bởi tôi muốn tất cả phải chịu trách nhiệm về căn bệnh của mình, đặc biệt là chồng tôi. Trước sự thay đổi chóng mặt của vợ, chồng tôi không nói gì, anh chỉ lẳng lặng quan sát và chịu đựng những cơn nóng giận vô cớ. Hơn thế anh giúp tôi làm mọi công việc nhà bất chấp sự phản đổi đầy ngang bướng của tôi. 

Thời gian đó, ông chủ vẫn sắp xếp cho tôi một công việc nhỏ trong văn phòng. Nhờ đó, tôi có thể được ra ngoài vào mỗi sáng. Được đi làm đã trở thành niềm hạnh phúc nhất của tôi khi ấy. Công việc cho tôi cảm giác tôi không phải là người thừa, tôi được chứng minh sự mạnh mẽ của mình và thỏa mãn cái tôi đang bị tổn thương ghê gớm. Tôi quyết định vẫn đi xe buýt tới công ty như tôi luôn làm trước đây. Tôi biết mình đã rất quen với con đường và tôi cũng đã dần thành thục việc sử dụng cây gậy cho người mù.  

Chồng tôi đề nghị, hãy để anh đưa tôi đi làm mỗi sáng và trở về đón tôi mỗi buổi chiều. Nhưng tôi từ chối, tôi không muốn anh phải vất vả như vậy, bởi nơi chúng tôi làm việc cách nhau rất xa. Chồng tôi không phản đối, anh chỉ nói: “Hãy cẩn thận khi qua đường nhé, ngã ba đó khiến anh lo lắng hơn cả”. Tôi giữ im lặng trước lời dặn dò của anh.

Mọi chuyện sau đó diễn ra suôn sẻ ngoài mong đợi của tôi. Có lẽ sự lo lắng của tôi và chồng đều là thái quá. Khi dừng đèn đỏ ở ngã ba đầu tiên, tôi nhớ lại lời của chồng và bắt đầu cảm thấy sợ. Ngay lúc ấy có một giọng nói nhỏ nhẹ vang lên:

“Cô ơi, cô có thể dẫn cháu qua đường không?” 

Tôi quá đỗi ngạc nhiên với câu hỏi của cậu bé, hình như cậu bé không biết tôi bị mù. 

“Cháu à, cô xin lỗi, nhưng cô sẽ không bảo đảm an toàn được cho cháu vì cô không nhìn thấy…” Tôi chưa kịp nói hết câu thì cậu bé chen vào:

“Cháu biết cô bị mù, cháu xin lỗi ý cháu là cô không nhìn thấy, nhưng không sao. Cô là người cao lớn, những người lái xe sẽ nhìn thấy cô, họ sẽ tránh chúng ta. Còn cháu sẽ dắt cô qua đường, cháu sẽ làm đôi mắt cho cô ở ngã ba này nhé.”

Trước lời nói ngây thơ của cậu bé, tôi thấy mũi mình cay cay. Chuyển gậy dò đường sang tay phải, tôi chìa bàn tay còn lại để nắm lấy bàn tay nhỏ bé đó. Cậu bé nắm tay tôi thật chặt. Cái siết tay của cậu khiến tôi có thêm rất nhiều tự tin. 

Hóa ra tôi vẫn còn có ích, vẫn có thể giúp đỡ một ai đó chứ không hoàn toàn là “đồ vô dụng” như tôi luôn nghĩ về mình sau khi không còn nhìn thấy. Bên trong tôi bất giác thấy lại được niềm vui.

Cậu bé quả là một người dẫn đường tài tình, chúng tôi đã qua đường an toàn và dường như không làm một người lái xe nào nổi giận. Khi chia tay ở ngã ba, cậu bé nói:

“Cháu hy vọng mai cô sẽ lại ở đây nữa, vì sáng nào cháu cũng phải đi qua ngã ba này để đến trường. Cảm ơn cô nhiều nhé. Giờ cháu đi học đây.”

Cậu bé chào tôi và chạy đi nhanh như một cơn gió. Trước khi đi, cậu bé quay lại, nói thật to: 
“Hẹn cô ngày mai nhé, cháu sẽ chờ cô đấy”. Cậu bé khiến nụ cười trở về trên môi tôi, đôi má tôi cũng ửng hồng. 

Một cảm giác ấm áp khiến những căng thẳng bao ngày qua tan mất. Có lẽ ai đó nhìn thấy tôi lúc ấy sẽ phải thắc mắc: Cô gái mù ấy sao lại cười rạng rỡ thế?

Không để tôi thất vọng, ngày hôm sau và ngày hôm sau nữa, cậu bé vẫn xuất hiện và chúng tôi đã trở thành đôi bạn “chinh phục ngã ba” từ đó. Đôi lúc chúng tôi còn nán lại nói chuyện với nhau. Tôi đã biết cậu bé thiên thần ấy (chí ít là với tôi) tên là Jimmy. Jimmy nhỏ người, mặt nhiều tàn nhang, tóc màu hung và có một cái mũi hơi kì lạ. Đó là dáng vẻ mà cậu bé tả về mình cho tôi nghe.

Nhờ Jimmy bé nhỏ, tôi dần lấy lại niềm vui trong cuộc sống của mình. Tôi cũng đã có thể đối đãi dịu dàng trở lại với chồng, không còn nặng nề với anh nữa. Nhưng cảm giác muốn mở lòng để chia sẻ với chồng vẫn chưa trở về.

Niềm vui của tôi chỉ kéo dài được một tháng. Sáng hôm đó, khi ở ngã ba tôi không thấy Jimmy, cậu bé đến muộn chăng? Tôi chợt hiểu ra rằng hình như những đứa trẻ đã kết thúc năm học và Jimmy sẽ không đến trường ngày hôm nay. Tôi chưa biết làm thế nào để qua đường khi không có người hoa tiêu nhỏ bé, tiếng lanh lảnh quen thuộc vang lên: “Cô James chờ cháu.”

“Cháu đấy à, cô mừng quá, cô cứ nghĩ là cháu sẽ không đến”.

“Cháu không thể để cô một mình qua đường được. Đó là lời hứa danh dự. Nhưng cháu sắp theo bố mẹ về quê với ông bà rồi. Cô biết mà, trường học đã nghỉ hè và hôm nay là ngày cuối cùng cháu ở đây”.

Tôi cảm thấy lo lắng và hơi buồn, nhưng cố trấn tĩnh. Tôi hỏi Jimmy về “lời hứa danh dự” của cậu bé, điều khiến tôi cảm thấy rất tò mò.

“Cháu đã hứa với một người. Nhưng chú ấy không cho cháu nói điều này với cô.” Chúng tôi cùng nhau băng qua đường trong im lặng. Nhưng khi tới nơi, cậu bé níu tay tôi lại, hỏi rằng tôi có thể đi với cậu bé một chút không? Tôi đồng ý và chúng tôi thả bộ cùng nhau trong một công viên gần đó. Hóa ra cậu bé muốn kể cho tôi nghe về lời hứa danh dự của mình.

Ngày đầu tiên chúng tôi gặp nhau, đã có một người đàn ông nhờ cậu bé dắt một phụ nữ xinh đẹp nhưng bị mù qua đường. Người đàn ông ấy giải thích với cậu bé rằng, đó là vợ chú. Cô ấy vừa bị mất đi đôi mắt và chú không thể yên tâm để cô ấy một mình đi qua con phố đông đúc này. Nhưng chú cũng không thể tự tay dắt cô sang đường, vì cô đang đóng cửa tâm hồn mình với chú.

Nước mắt tôi bắt đầu rơi. Cậu bé tiếp tục kể. Cậu bé đã đồng ý giúp người đàn ông lạ mặt đó. “Không chỉ một lần, cháu không biết tại sao nhưng khi nghe chú ấy kể về cô, cháu nhớ đến cách bố cháu nói về mẹ, đầy yêu thương. Vì thế, cháu đã hỏi chú ấy có cần cháu giúp những ngày tiếp theo không. Đôi mắt của chú ấy lúc đấy rạng rỡ như mắt cháu lúc được đi chơi hay ăn kem vậy”.

“Đó là lý do vì sao sáng nào cháu cũng ở đây chờ cô?”

“Vâng, nhưng không chỉ chờ cô, cháu chờ cả chú ấy nữa. Chú ấy ngày nào cũng đi qua đường với chúng ta mà. Chú chỉ lặng lẽ đi cạnh cô, cách cô một đoạn để cô không cảm thấy sự có mặt của chú ấy. Chỉ khi cô cháu mình sang đường an toàn chú ấy mới đi làm”. “Thật vậy sao?” Tôi không còn biết nói gì hơn. “Cháu không định nói chuyện này cho cô nghe. Nhưng ngày mai cháu đi rồi. Cháu sợ cô sẽ thấy hoang mang vì không có cháu. Thêm nữa cháu sợ cô vẫn giận chú”. “Vậy hôm nay chú ấy có đi cùng chúng ta không, Jimmy?” 

Chồng tôi đã đứng đó từ bao giờ. Anh đã lắng nghe câu chuyện của cô cháu tôi. Tôi không biết khuôn mặt anh lúc ấy như thế nào. Chỉ biết có một bàn tay to lớn, ấm áp và rất quen thuộc nắm lấy bàn tay tôi, nhẹ nhàng dắt tôi đi hết quãng đường từ công viên tới văn phòng.

Sau ngày hôm ấy, tôi đồng ý để chồng chở đi làm, và buổi chiều tôi đi xe buýt về, anh đã nhờ được một người bạn trong công ty đưa tôi ra bến xe. Tôi còn được biết, công việc mà ông chủ sắp xếp cho tôi chính là nhờ anh đã tới gặp và thuyết phục ông.

Đó là câu chuyện tình yêu mà tôi muốn chia sẻ với các bạn. Những ngày tháng vừa qua đã khiến tôi nhận ra rằng: Trong cuộc sống nhiều đau khổ này, tình yêu thực sự hiện hữu, và nó mang một sức mạnh chữa lành thật to lớn. Khi nghĩ về sự nhẫn nại của anh suốt thời gian cùng tôi và Jimmy sang đường, khi cảm nhận được rằng trái tim chan chứa thiện niệm của anh luôn nghĩ cho cảm giác của tôi, nghĩ đến việc làm thế nào để tôi an toàn và hạnh phúc nhất, tôi mới hiểu ra thế nào là thực sự yêu một ai đó.

Chia sẻ câu chuyện này cũng là cách tôi muốn anh biết: Từ tận đáy lòng, tôi biết ơn tình thương và những điều anh đã dành cho tôi. Và hơn thế, anh và Jimmy bé nhỏ đã cho tôi hiểu và học được rằng yêu thương một người là dành cho người đó sự bao dung, nhẫn nại và những điều thiện lành nhất mỗi ngày.  

ST 

Hits: 50

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

GIÁNG SINH TRONG TÙ-Nam Lộc

Trong lúc hàng triệu người Việt ở trong nước, cũng như tại hải ngoại. Không phân biệt tôn giáo, hầu như mọi người đều tưng bừng, nô nức chào đón Giáng Sinh 2018. Nhưng ít ai ngờ được rằng hàng trăm tù nhân lương tâm vẫn kiên trì cầm hơi, chịu đựng tại các trại giam ở trong nước. Họ là những người đi tù vì quê hương! Trong khi đó, tại hải ngoại, cũng có hàng trăm người Việt tỵ nạn đang âm thầm bị giam giữ trong các trại tù di trú ở Thái Lan. Họ là những người đi tù vì hai chữ tự do.

 Theo như báo cáo của các thiện nguyện viên tại Bangkok thì hiện có khoảng gần 130 người tỵ nạn đang bị bắt giữ trong trại giam của sở di trú Thái Lan, Immigration Detention Center (IDC), gồm có cả người Việt lẫn đồng bào thiểu số. Dù nhiều người trong đó cũng đã được Cao Ủy LHQ cấp cho quy chế “tỵ nạn”. Họ đang sống trong lo âu và vô vọng. Không biết khi nào sẽ được thả và cũng chẳng biết niềm hy vọng mong manh, một ngày nào đó được định cư ở đất nước tự do có đến với họ hay không? Nhưng trước mắt hiện nay là phải đối diện với thiếu thốn, khổ đau và chia cách! Chính phủ Thái Lan giam giữ họ riêng biệt, và Giáng Sinh năm nay là một Giáng Sinh buồn. Chồng ở một nơi, vợ một nẻo và các con thì bị nhốt tại một địa điểm khác.

Mặc dù 2018 là một trong những năm mà người Việt tại hải ngoại rất quan tâm, cũng như để ý đến hoàn cảnh của hơn một ngàn người Việt tỵ nạn đang sống vất vưởng ở Thái Lan. Nhiều buổi nhạc hội gây quỹ trợ giúp đã được tổ chức tại nhiều nơi và gần đây nhất, vào những ngày cuối năm. Theo sau ba buổi “Chợ Đêm” của cộng đồng người Việt tại Houston, Texas, thì anh chị em trong nhóm Hoài Việt cùng đồng hương chúng ta tại Philadelphia cũng như Cộng Đoàn Thánh Tâm và đồng bào VN ở thành phố Dayton, Ohio cũng đã tự nguyện thực hiện các buổi quyên góp giúp người tỵ nạn. Nhưng tất cả đều tập trung vào quỹ định cư theo điều kiện mà chính phủ Canada đòi hỏi qua chương trình “Private Sponsorship” mà tổ chức VOICE tại Canada đang nỗ lực tiến hành với dự trù là sẽ phải có khoảng $700 ngàn dollars, để giúp cho 50 đồng bào trong danh sách đầu tiên được đến bến bờ tự do.

Cũng chính vì thế mà Giáng Sinh năm nay dường như ít có tổ chức nào để ý đến hoàn cảnh của hàng trăm trẻ em tỵ nạn cùng những người đang sống tại các trại giam di trú. Theo danh sách mà chúng tôi nhận được thì hiện có 65 người đàn ông, 23 phụ nữ và 44 trẻ em tỵ nạn đang bị giam giữ tại IDC. Còn ở bên ngoài thì hiện có khoảng gần 500 trẻ em, gồm cả người Việt gốc H’Mong, Khmer cũng như người Việt thuần túy sống tản mác ở nhiều nơi. Cô Grace B., một thiện nguyện viên từ Mỹ đến giúp đỡ thì đang lo cho khoảng 135 em, đa số là người gốc Thượng. Còn về phía quý vị lãnh đạo tinh thần như mục sư Hòa, mục sư Pá, mục sư Thạch Sinh v..v.. thì đang giúp cho gần 300 em. Riêng phía cựu thuyền nhân tỵ nạn còn xót lại thì đa số tập trung về khu vực giáo phận do linh mục Peter Namwong cai quản và được cha tiếp tục giúp đỡ dù ngài rất thiếu thốn nhiều phương tiện.

 

Thôi thì của ít lòng nhiều, tôi đã cố gắng quyên góp trong phạm vi gia đình, anh chị em và một vài thân hữu để gởi chút quà cho những người thiếu may mắn hơn mình. Đặc biệt là hai cháu vừa ra trường và bắt đầu có việc làm. Tôi cũng muốn nhân dịp này để các cháu được chia sẻ những đồng tiền đầu tiên kiếm được trong đời cho các trẻ em bất hạnh hơn mình.

 

Đêm Giáng Sinh, trong không khí đoàn tụ gia đình, tôi bất ngờ nhận được hai cú điện thoại từ trong trại giam di trú ở Bangkok, Thái Lan. Một của các tù nhân tỵ nạn trong khu phụ nữ, và một từ những người đàn ông gọi để cám ơn vài món quà khiêm nhượng mà gia đình và bạn hữu chúng tôi gởi đến cho họ hầu tìm một chút ấm áp trong ngày Chúa ra đời. Tôi cũng buồn theo họ vì sự mất mát, chia lìa cùng nỗi lo lắng vì phải xa cách nhau trong một đêm mà cả thế gian đang quây quần, hạnh phúc bên gia đình. Lại càng buồn hơn khi qua video phone, tôi phải chứng kiến những giọt lệ tràn lên đôi mắt của những bà mẹ phải sống xa các con! Và có lẽ buồn nhất khi được biết tin anh Ngô Văn Bé, người Thương Phế Binh xấu số, bị giam lâu năm đã vừa qua đời trong trại tù di trú, không kịp nhận món quà nhỏ bé của những người tri ân gởi đến!

blank

Di ảnh TPB Ngô Văn Bé!

Tưởng cũng nên nhắc lại, trước đây cũng bị giam tại IDC còn có một TPB khác là anh Bùi Văn Quý, nhưng anh đã bị chính quyền Thái trả về VN vào tháng Bẩy năm 2018, riêng chị Quý thì vẫn trốn ở lại Thái Lan.

Hàng chục ngàn đồng hương ở Houston tham dự đêm gây quỹ định cư đồng bào tỵ nạn VN đang sống tại Thái Lan.

Tôi không biết mình sẽ phải làm gì để an ủi được họ trong lúc này? Có lẽ điều thực tế nhất là chuyển đến họ những lời thăm hỏi từ các đồng hương từ Hoa Kỳ, từ Canada, từ Úc hay các nước ở Âu Châu, chỗ nào cũng có người quan tâm đến họ và mong mỏi được hỗ trợ cũng như đón tiếp đồng bào ruột thịt của mình có cơ hội được định cư tại các đất nước tự do.

Nam Lộc 

Hits: 109

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

NGƯỜI HÁT RONG TRONG HẦM XE ĐIỆN NGẦM

Con tàu TGV nối liền thành-phố Dijon-Paris ngùng tại điểm đến ga Lyon. Phú xuống xe, kéo va-li đi dọc theo hành lang ga, xuống hầm xe điện ngầm để đón xe về khách-sạn. Chiều thứ, sáu,đang là giờ cao-điểm cuối tuần nên hành khách đi lại rất đông. Phú chen đi trong dòng người vội vã, vừa ra khỏi cầu thang cuốn, anh thoáng nghe có tiếng đàn guita hòa lẫn giọng ca nam nhẹ vang lên trong góc hầm,giọng ca tiếng Việt buồn não, lời bài ca đã lâu lắm anh mới có dip nghe  lại:

Trời đêm dần tàn, em đến sân ga để tiễn người trai lính về ngàn.
Cầm chắc đôi tay, ghi vào đời tâm-tư ngày nay.
Gió khuya ôi lạnh sao, vấn nhẹ đôi tà áo.
Tàu xa dần rồi, thôi tiếc thương chi khi biết người ra đi vì đời
Trở gót bâng-khuâng em hỏi lòng đêm nay buồn không.
Chuyến xe đêm lạnh không để người yêu vừa lòng ?
Ngày tháng đợi chờ, em đến sân ga nơi tiễn người trai lính ngày nào
Tàu cũ năm xưa, mang người tình biên khu về chưa.
Trắng đêm em chờ nghe tiếng tàu đêm tìm về….

Lời ca đến đây chấm dứt, giọng ca lại tiếp tục vang lên lời ca nhạc Pháp. Ngạc nhiên và tò mò Phú tiến lần đến nơi phát ra tiếng hát. Một nhóm khách hiếu kỳ đang đứng vây quanh một người đàn ông Á-châu nhỏ con, tuổi không quá ba mươi, đôi mắt to sáng, để râu mép… nhìn chung người đàn ông không có gì cá biệt về hình dáng so với những đàn ông Châu-Á khác.. Anh đang vừa đàn vừa hát: những người khách vây quanh thích thú vỗ tay khi anh ngừng hát và lần lượt vài người bỏ tiền vào cái hộp giấy anh để dưới đất.

Phú nhìn người hát rong, anh đứng im lặng, tuy người hát rong đã đổi sang hai bài ca bằng tiếng Pháp khá lâu nhưng dường như anh vẫn còn đang nghe lời ca tiếng Việt của bài ‘Tàu đêm năm cũ’ đang thấm vào tim, vào máu, vào hơi thở của anh. Anh rẽ đám đông, tiến vào phía trong bỏ tiền vào hộp…người hát rong nhìn anh nói “Merci” như nói “Merci” với những du khách cho tiền khác. Anh nhìn thẳng vào người hát rong gật đầu, mỉm cười chào. Người hát rong mỉm cười gật đầu đáp trả. Nhìn nét vui vẻ của người hát rong, Phú hỏi ngay bằng tiếng Việt: – Anh là người Việt-nam ?
Người hát rong gật đầu, ngừng một chốc rồi lắc đầu, trả lời bằng tiếng Pháp:
– Tôi là người Việt-nam nhưng tôi không nói được tiếng Việt.

Nói xong,người hát rong cầm hộp tiền, ôm đàn chào mọi người rồi dời đi nơi khác….Phú đi theo sau  anh ta một đoạn hầm ngắn, anh định hỏi người hát rong:”Anh không nói được tiếng Việt, nhưng ai dạy anh hát tiếng Việt quá hay ?” Vửa lúc đó người hát rong ngồi xuống nơi góc ngay một ngă rẽ của đường hầm, bắt đầu đàn rồi cất cao giọng :
Trời đêm dần tàn,em đến sân ga tiễn người trai lính về ngàn…..

Mọi người dừng lại nghe hát. Phú cũng đứng lại nghe hát….lời ca làm anh như say, quyến luyến lạ thường, đưa anh trở về với kỹ niệm của một thời vang bóng của tuổi học đường, của hình ảnh bạn bè nơi thành phố thân yêu anh được sinh ra và lớn lên…rồi những ngày sống cuộc đời chiến-đấu gian nguy, chết chóc trong quân đội….cho đến những ngày bị đày đọa trong ngục tù Cộng-sản sau cuộc chiến bại trong việc giữ nước.

Tàu cũ năm xưa mang người tình biên khu về chưa ?
Trắng đêm em chờ nghe tiếng tàu đêm tìm về…

Tiếng vỗ tay của người nghe đánh thức Phú trở về thực tại. Anh góp vỗ tay cùng những nguời khác. Anh tự hỏi không biết những người nước ngoài nầy có hiểu được lời ca Việt nầy không mà họ vỗ tay rất nhiệt tình. Vì lịch-sự chăng ? Anh nghĩ chắc không phải vì lịch-sự, cứ nhìn nét mặt của họ diễn biến theo lời ca, tuy họ không hiểu lời nhưng âm điệu diễn đạt lời ca hòa cùng tiếng đàn điêu luyện của người nghệ sĩ hát rong đã đi vào nơi thâm sâu, nơi trái tim đầy xúc cảm của họ. Cái ý định theo người hát rong để hỏi một điều gì đó đến đây vẫn chưa định hình được. Phú không muốn quấy rầy người này trong giây phút thuận tiện cho cuộc mưu sinh của họ. Phú vẫy tay chào người hát rong rồi trôi theo giòng người trong hầm xe điện.

**********
Nhận phòng khách-sạn xong, Phú điện thoại ngay cho Thuyên để báo anh đã lên đến Paris. Anh quen biết Thuyên từ những ngày đầu tiên đến Pháp gần hai mươi lăm năm. Thuyên đến từ trại tỵ-nạn Hông-kong, anh đến từ trại tỵ-nạn Galang thuộc Indonésie.

Thuyên đến Pháp cùng vợ trước Phú vài ngày. Anh đến một mình. Anh, vợ chồng Thuyên và một số thuyền nhân tỵ-nạn khác đến từ Mã-Lai, Phi-luật-Tân,Thái-Lan được chính phủ Pháp nhận cho định cư. Trạm dừng chân đầu tiên khi họ đến Pháp đều được tiếp đón tại trung tâm Terre d’asiles ở Créteil, ngoại ô Paris, nơi lập thủ tục giấy tờ cá-nhân cũng như khám sức khỏe trước khi được phân phối định cư trên toàn nước Pháp. Anh được dưa định-cư ở thành phố Dijon,miền trung nước Pháp, Thuyên và vợ được gia-đình người anh ruột đón nhận về chung sống tại Paris.

Sau khi sắp xếp giờ giấc buổi hẹn là gặp ngày thứ hai đầu tuần tới tại công-ty buôn bán nhà đất do Thuyên quản lý để anh được Thuyên giới thiệu mua nhà, Anh theo lời Thuyên mời dùng cơm tối hôm đó tại nhà. Năm nay hai con của Phú đã hoàn tất đại-học và muốn sống tại Paris để tìm việc làm dễ dàng hơn nèn vợ chồng anh đã quyết định tìm mua nhà ở Paris cho hai con có cơ hội tiến thân. Việc tìm nhà theo tiêu chuẩn của gia-đình anh đã được anh nhờ Thuyên giúp. Chuyến đi Paris này do Thuyên mời anh lên xem nhà theo tiêu chuẩn đã yêu cầu.

Buổi cơm tối gia-đình diễn ra vui vẻ và ấm cúng, ngoài gồm vợ chồng Thuyên, còn có hai nguời con trai và con gái đầu lòng có mặt. Gần cuối bữa cơm Phú kể chuyện nghe người hát rong Việt-nam hát trong hành lang xe điện ngầm vào buổi chiều. Đứa con trai út của Thuyên có vẽ ngạc nhiên hỏi:
–  Bác chưa hề gặp ông nầy lần nào sao? Ở Paris nầy ai xử dụng métro thường xuyên ít nhất cũng có gặp ông ấy và nghe ông ấy hát một lần. Cháu biết ông ấy lâu rồi, từ khi cháu bắt đầu lên trung-học và xử dụng métro để đi học”. Ngừng một lát, cậu nói tiếp:
–  Ít nhất là trên năm năm rồi từ khi cháu gặp ông ấy.”

Con gái lớn của Thuyên xen vào: –  Ông ấy là giáo-sư toán năm đầu tiên bậc trung học của cháu…thầy Kévin…Thẳy là người Việt-nam nhưng không nói được tiếng Việt mà lại hát được tiếng Việt. Thầy cũng hát tiêng Pháp rất hay. Thầy hay đi hát trong hầm xe điện ngầm những ngày cuối tuần và ngày lễ, hoặc cả những ngày nghỉ hè mà thầy không có chương trình đi chơi.
– Bác có biết thầy Kévin đi hát để làm gì không?”

Phú lắc đầu. Con gái Thuyên dửng một một chút rồi nói tiếp :
– để có tiền giúp trẻ em mồ côi bên Việt-nam ! Thầy đã có vợ nhưng chưa có con,
Vợ thầy Kévin là giáo sư âm nhạc, dạy nhạc ở nhạc viện địa-phương. hai vợ chồng thầy sống chung với cha mẹ người Pháp, dường như cha mẹ của thầy đều làm việc cho một công-ty máy bay nào đó…bạn thân của cháu là em gái của vợ thầy, chúng cháu thân nhau từ nhỏ. 

 

Con nhỏ cũng sống chung một nhà với thầy Kévin, nên thỉnh-thoảng cháu ghé nhà thăm bạn, đôi khi cháu gặp thầy Kévin. Bạn cháu nói thầy Kévin đi hát rong để lấy tiền giúp trẻ mồ côi bên Việt-nam nên cháu mới biết. Có dịp đi Metro, cháu ghé nghe thầy hát và góp tiền. Cháu nghe hoài thành ra gần như thuộc lòng bài hát tiêng Việt mà thầy ấy hát”

Nói đến đây con gái Thuyên đọc lên lời ca:” Tàu cũ năm xưa, mang người tình biên khu về chưa”, cô ngừng vài giây rồi nói như xúc-động: – Lời ca buồn quá phải không bác? Phú im lặng, trả lời bằng đầu cách gật đầu. Vợ Thuyên bỗng góp lời:
– Lần đầu tiên, tình cờ tôi nghe cháu nghêu ngao mấy câu hát bài nầy, tôi ngạc-nhiên hỏi cháu ai dạy mà con biết hát, thì cháu kể đã nghe một người Việt-nam hát trong hầm xe điện, người nầy là thầy giáo cũ của cháu. Cháu lại nhờ tôi giải thích hai chữ “biên-khu” là gì ?” Một phút yên lặng rơi xuống bàn ăn…Phú góp lời:
– Ngày xưa nghe ca-sĩ Thanh-Thúy hát bài nầy buồn thúi ruột !”

Chuyện thầy giáo Kévin gốc Việt, không nói được ngôn ngữ Việt của mình mà hát một bản nhạc bằng tiếng Việt trong hầm xe điện ngầm để có tiền giúp trẻ mồ côi tại quê nhà ám ảnh Phú suốt buổi ăn tối hôm đó. Cái ý-tưởng muốn gặp người đó để tỏ lòng mến phục một cách tự-nhiên giữa hai nguời còn xa lạ làm anh suy nghĩ, nhưng anh còn ngần ngại chưa nghĩ ra phương cách thích hơp.


Và dường như đọc được ý-nghĩ của anh, con gái Thuyên đem tách trà đến mời và ngồi xuống gần anh:” – Bao lâu  nay cháu muốn hỏi thầy Kévin, thầy hát nhạc lời Pháp, lời Mỹ và đôi khi lời Ý, nhiều tên bản nhạc khác nhau, nhưng tại sao duy nhất chỉ có một bản nhạc lời Việt; cháu thấy ngại khi muốn mở lời, cháu sợ có sự bí mật riêng tư nào đó sẽ làm tổn thương thầy. Ngày mai chúa-nhật, cháu mời bác, ba mẹ cháu và hai em cháu cùng bạn trai của cháu đi uống cà-phê ở Montmartre, chúng ta sẽ đi métro. Trên đường đi, chúng ta sẽ ngừng lại nghe thầy Kévin hát, cháu sẽ giới thiệu bác và ba mẹ cháu với thầy Kévin, mọi người đồng-ý không ?
Phú chưa kịp trả lời thì Thuyên đã lên tiếng :
– Đồng ý ! Ba mẹ đồng ý đề nghị của con gái, ba mẹ sẽ có dịp biết anh chàng hát rong nầy. Bác Phú nên nhận đề nghị của cháu cho cháu vui” Phú vui vẻ nhận lời. Anh vỗ nhẹ vai cô con gái Thuyên:
– Cháu mời nhưng bác trả tiền được không?”.
– Không được đâu, bác có biết bên Tây nầy tội hối lộ bị phạt nặng lắm không ?”.
Tất cả mọi người đều cười.

******
Ba tháng sau Phú đưa gia-đình từ thành phố Dijon về căn nhà mới mua ở ngoại-ô Paris, nhờ Thuyên môi giới và hướng dẫn thủ tục nên anh mới có được căn nhà theo ý muốn. Anh lại may mắn đuợc tiếp-tục làm việc cho công-ty phụ của đại công-ty chính ở,Dijon chuyên về xuất nhập trái cây khô của Thổ-nhĩ-Kỳ. Hôm khai trương nhà mới, ngoài gia-đình Thuyên, Phú còn mời vợ chồng Kévin và bà mẹ nuôi của Kevin.

Anh nhớ hôm đi uống cà-phê do con gái lớn của Thuyên mời, trên đường về, tất cả mọi người dừng chân trong góc xe điện ngầm để nghe Kévin hát. Đang hát, có lẽ nhận ra con gái và con trai của Thuyên nên Kévin mỉm cười gật đầu chào và tiếp tục hát một bài ca lời Pháp. Lời ca vừa dứt, mọi người vỗ tay, Phú và vài người tiến đến bỏ tiền vào hộp quyên gỏp. Khi Kévin nhìn đồng hồ tay, như biết thói quen của người hát rong, con gái Thuyên tiến bên cạnh nói:
– Thầy khoan đi qua địa điểm khác hoặc nghỉ hát, hôm nay thầy phá lệ được không,?
Nói xong, con gái Thuyên quay nguời lại đưa tay chỉ về những thành viên trong gia-đình cô: – Ba mẹ tôi lần đầu tiên muốn nghe anh hát bài ca tiếng-Việt, và người Bác tôi cũng muốn nghe lần thứ hai anh hát bài ca đó, xin anh vui lòng, nếu không có gì trở ngại ?”

Phú nghe Kévin trả lời:
– Thường tôi chỉ hát bài ca lời Việt chỉ một lần khi bắt đầu buổi hát tại một địa điểm khi mới đến. Hôm nay đã chấm dứt buổi hát trong ngày, nhưng để làm vui lòng cô học trò cũ, tôi sẽ hát”. Dứt lời, Kévin đập nhẹ vài tiếng vào thùng đàn, dạo nhạc và lên tiếng hát: Trời đêm dần tàn, em đến sân ga để tiễn người trai lính về ngàn…
Giọng hát khàn, đục âm điệu buồn lắng đọng trong tim. Chuyện tình của một đôi trai gái trong cuộc chiến tranh giữ nước của một giai-đoạn lịch sử. Lời ca buồn, giọng ca buồn, đôi mắt và khuôn mặt buồn của người hát rong như tan ra hòa lẫn vào hơi thở và mạch máu của Phú.


Khi giọng hát và tiếng đàn ngừng, một sự yên lặng phủ trùm không gian của góc đường hầm làm Phú trở về thực tại. Anh đã đến đứng kế bên cạnh người hát rong tự bao giờ như một người mộng-du và anh đã cùng hát…cùng diễn đạt tâm-tư của nhân vật trong câu chuyện tình như anh đã sống trong giai đoạn đó…Mọi người bắt tay nhau. Lời cám ơn nhẹ nhàng đượm buồn. Từ đó, những ngày cuối tuần khi Phú trở lên Paris gặp Thuyên, anh có dịp ghẻ thăm Kévin ở hầm xe điện. Tình cảm giữa hai người trở nên quyến luyến hơn.
Qua bữa ăn mừng nhà mới., Phú biết được một chút về gia cảnh Kévin. Khi vợ Thuyên hỏi bà mẹ Pháp của Kévin có mấy con ngoài đứa con Á-châu nầy, Bà đưa mắt hướng về phía Kévin đang đứng hút thuốc ngoài hành lang, hạ thấp giọng
“- Vợ chồng tôi cưới nhau hơn mười năm mà không có con. Nhân một chuyến du-lịch Thái-Lan, chúng tôi vào thăm một cô-nhi viện của một làng chài nhỏ, thấy thằng nhỏ kháu-khỉnh, ông chồng tôi nhìn thấy thuơng nên xin nhận làm con nuôi.


” Người ta cho biết một tàu hàng nhỏ chuyên chở ven bờ Thái Lan đã tim thấy thằng nhỏ cùng với hơn mười trẻ khác gồm trai và gái nằm đói lã trên một chiếc tàu có quốc-tịch Việt-nam trôi giạt trên biển, nên đã kéo tàu đó về làng nầy. Trên tàu không có người lớn, người ta nói có thể đoán tàu bị cướp biển tấn công nên người lớn có thể đã bị giết hay bị bắt đi. Khi lớn lên, đôi lúc cháu hỏi vợ chồng tôi về nguồn gốc cha mẹ cháu, vợ chồng tôi không biết gì hơn ngoài chuyện như tôi vừa mới kể.”
******
Mối giao tình giữa gia-đình Phú và Kévin theo thời gian trở nên thân thiết. Hai con của anh và vợ chồng Kévin rất quyến luyến nhau. Mùa nghỉ hè đầu tiên từ khi quen biết, Kévin đã dành trọn hai tuần nghỉ cùng gia-đình anh đi nghỉ hè chung với nhau. Dịp nầy Phú đề nghị giúp Kévin tập hát thêm một vài bài nhạc tiếng Việt để Kévin có thể hát với những nhạc phẩm khác trong hầm xe điện nhưng bị từ chối, không giải thích lý do.

Một buổi chiều, trời đang hanh nắng chợt một cơn mưa giông ập đến. Những giọt mưa lớn rơi lộp bộp trên mái nhà trại hè, mọi người chán nản vì không đi ra ngoài tắm biển được. Mong rằng sẽ xua bớt đi sự chán nản của mọi người, Phú dùng hai tay đập vào đùi của anh theo nhịp tiếng mưa hát:


Chiều một mình qua phố, âm thầm nhớ đến tên em
Có khi nắng kia chưa lên mà một loài hoa chợt tím
Chiều một mình qua phố, âm thầm nhớ nhớ tên em
Gót chân đôi khi đă mềm, gọi buồn cho mình nhớ tên
Phú ngừng đập nhịp, ngừng hát, Kévin nhìn anh như dò hỏi, như yêu cầu Phú hát tiếp. Phú lắc đầu:
–  Mấy chục năm rồi bác không có dịp hát chung vui với bạn bè nên bác không còn nhớ những câu chót”.Khi Phú bắt đầu hát anh đã nhìn thấy khuôn mặt Kévin như bị khích động, đôi mày nhíu lại, đôi môi như mấp máy, nhịp thở như ngừng lại. Đến khi anh ngừng hát, tiếng thở dài của Kévin buông ra thật mạnh, mặt trở nên buồn, như tiếc nuối chuyện gì.  Kévin nói với anh như năn nỉ:

–  Bác hát lần nữa cho cháu nghe, cháu nhớ cháu có nghe bài hát nầy rồi, cháu rất thích
– Vậy thì bác hát lại cho cháu nghe nhé; bác sẽ tìm và ghi lại bài hát nầy qua máy vi-tính cho đầy đủ, hai bác cháu mình tập cho thuộc, biết đâu mai mốt, bác cháu mình sẽ cùng hát trong hầm xe điện.
Chiều một mình qua phố……
Gót chân đôi khi đã mềm, gọi buồn cho mình nhớ tên…

Phú vừa dứt lời ca…tai anh nghe có tiếng gõ nhịp vào thành bàn, một giọng hát nhỏ nhẹ ngập ngừng thoát ra từ chàng trai ngồi cạnh anh:

Chiều qua bao nhiêu lần môi cười cho mình còn nhớ nhau,
Chiều qua bao nhiêu lần tay rời nghe buồn ghé môi sầu
Ngày nào đời còn có nhau, xin cho dài lâu.
Ngày nào đời thôi có nhau xin người biết đau.
 

Giọng ca như nghẹn lại, ngừng hẳn cùng tiếng đập nhịp vào bàn. Mọi người trong nhà ồ lên cùng lúc, cùng tiến đến bên cạnh Kévin, đưa mắt nhìn nhau ngơ ngác. Kévin đang gục đầu xuống bàn, hai vai run rẫy. Kévin đang khóc.Tất cả mọi người yên lặng, nghe được hơi thở của nhau. Vợ Kévin ôm đầu chồng trong vòng tay, đưa mắt nhìn mọi người như hỏi chuyện gì đang xẩy ra ?

******
Cơn mưa đã tạnh, mọi người đều đi ra ngoài bãi biển để tận hưởng những tia nắng còn sót lại trong ngày. Phú đi cùng Kévin sau hàng dương cách biệt bãi tắm không xa tới một khu yên tĩnh. Phú nhớ lại chuyện vừa xẩy ra trong nhà trọ, anh ái-ngại nhìn Kévin rồi nói:
– Bác xin lỗi cháu chuyện vừa rồi, bài hát đã làm xúc-động cháu. Thời tuổi bác như cháu bây giờ, bài hát nầy rất phổ thông với mọi người…!

Kévin dừng bước, mời Phú cùng ngồi vào chiếc ghế dài nhìn ra biển, lấy thuốc lá ra châm lửa. Sau khi thổi một hơi khói thuốc dài, Kévin chậm rãi nói:
– Bản nhạc bác hát hôm nay làm cháu buồn và nhớ đến mẹ cháu nhiều. Cháu nhớ không rõ lắm, có một buổi sáng, mẹ cháu đánh thức cháu thật sớm, còn đang thèm ngủ cháu khóc đòi ngủ tiếp. Mẹ cháu dỗ: “con của mẹ ngoan, dậy để mẹ thay áo quần sạch sẽ, ăn chút cháo, mẹ đưa con đến nhà trẻ để mẹ đi làm nuôi con. Ở nhà trẻ con ngủ tiếp nghe.” 

 
Nghe mẹ nói, nhìn thấy hai mắt mẹ đầy nước mắt, cháu nghe theo lời mẹ. Đến nhà trẻ, mẹ để cháu chờ ngoài sân, mẹ vào nói chuyện với cô giữ nhà trẻ. Không biết mẹ nói gì với cô ấy, cháu chỉ thấy cô ấy lắc đầu nhiều lần, rồi mẹ quay ra sân, mặt thật buồn, mẹ lặng lẽ nắm tay cháu dắt trở về nhà. Vừa vào nhà, mẹ cháu ngồi xuống nền nhà rồi ôm cháu vào lòng than :
– Nguoi ta nói con là con của ngụy quân, nhà trẻ không thể nhận.
Mẹ cháu thở dài nói tiếp:
– Mẹ sẽ nói chuyện với bà Mười hàng xóm, bắt đầu ngày mai mẹ gởi con qua đó…mẹ phải đi phụ hồ cho người ta để có tiền đong gạo, mẹ hết tiền rồi;…nhà không còn gì để bán.”
 

Rồi cả ngày hôm đó mẹ dắt cháu đi ra đường. Mẹ dẫn cháu  đi mãi, hết đường nầy qua đường khác, đến khi cháu mỏi chân, cháu khóc không chịu đi nữa, mẹ cõng cháu sau lưng, tiếp tục đi. Chiều tối, đèn hai bên đường được thắp sáng ,cháu đói bụng đòi ăn,mẹ dừng chân mua bánh mì xịt nước tương cho cháu. Về đến nhà,hai mẹ con cháu  nằm dài trên giường, mẹ ôm cháu, nghe mẹ hát:

Chiều một mình qua phố,nâm thầm nhớ đến tên anh
Có khi nắng kia chưa lên mà một loài hoa chợt tím
Chiều một mình qua phố,nâm thầm nhớ nhớ tên anh
Gót chân đôi khi dã mềm, gọi buồn cho mình nhớ tên

Từ đó chiều nào cũng vậy, mẹ cháu đi làm về đều có bánh mì xịt nước tương cho cháu? Ăn xong  mẹ cháu tắm rửa thay áo quần cho cháu, dẫn cháu ra đường đi lang thang cho đến tối mới dẫn cháu về nhà. Có hôm bà Mười hàng xóm đứng bên nhà bà hỏi mẹ cháu khi hai mẹ con cháu vừa về đến nhà:;” Mẹ con cô hai mấy lúc sau nầy hay đi dạo buổi chiều, về tối quá !” Cháu nghe  mẹ cháu trả lời như có gì nghẹn trong cổ:
– Dạ, đi dạo cho quên đói dì ơi, chờ cuối tháng mới lãnh tiền công mua gạo. Cháu nghe tiếng bà Mười:
– Trời đất, sao cô không nói ! Thời buổi nầy ai cũng thiếu hụt cái ăn cái mặc hết. Có ai đủ đâu. Hôm rồi, có đứa cháu dưới vườn lên, nó lén lút đem lên cho được mấy kí bo bo và mấy kí bột bắp, mai cô hai qua lấy một ít về ăn; lúc nào mua được thì trả lại tui, cô hai đừng ngại, chỗ bà con chòm xóm với nhau thương nhau không hết.”

Mẹ nói: ” – Cám ơn dì Mười, rồi đi vào nhà, nằm lên giường. Cháu nghe tiếng mẹ thở dài. Cháu nằm xuống bên cạnh, mẹ ôm cháu hồi lâu, cháu nghe mẹ hát vào tai cháu âm thanh thật nhẹ như ru cháu ngủ:
Chiều qua bao nhiêu lần môi cười cho mình còn nhớ nhau.

Chiều qua bao nhiêu lần tay rời nghe buồn ghé môi sầu
Ngày nào đời còn có nhau xin cho dài lâu
Ngày nào đời thôi có nhau xin người biết đau..
 

Hôm đó cháu hỏi mẹ tại sao cháu không ba, Mẹ không trả lời. Cháu đã nhiều lần hỏi trước đó nhưng chưa bao giờ nghe  mẹ trả lời. Mẹ chỉ im lặng thở dài. Tưởng như bao lần trước mẹ không trả lời. Cháu ngồi dậy, tính ra khỏi giường thì mẹ kéo cháu nằm xuống. Mẹ bấm lóng tay rồi xoa đầu cháu:
“- Này, con của mẹ được bốn tuổi tám tháng..con người ta tuổi nầy thân xác đã lớn trội, còn con sao còi cụt như thế nầy..giá như có ba con thì mẹ con mình đâu đến nổi khổ.”
Mẹ cầm bàn tay cháu áp lên má của mẹ nói tiếp:
“- Ba con là lính Việt-nam Cộng-hòa, làm sĩ quan Thủy quân lục-chiến. Cưới mẹ xong, chỉ sống bên mẹ chưa hết phép mười lăm ngày phép thì phải đi đánh giặc ngoài Quảng-tri, cho đến nay không biết ba con chết hay sống. Thời đó chiến tranh dữ dội lắm. Mẹ sinh con năm 1974, vài tháng sau thì Việt-cộng họ chiếm hết đất nước.

..mà thôi, con còn nhỏ không nên nghe, không nên biết nhiều chuyện chiến tranh, chuyện người lớn”.
Mẹ ngồi dậy lấy khăn ướt lau mặt cho cháu:
“-  Tới giờ đi ngũ rồi” Mẹ lại nằm bên cạnh cháu, mẹ hát:
Trời đêm dần tàn, em đến sân ga để đòn người trai lính trở về….
Lời của mẹ thật êm, thật nhẹ, thật buồn ru cháu ngủ hằng đêm. Mẹ chỉ hát duy nhất một bài hát, bài này đã đi vào trong tâm khãm cháu. Còn bài hát kia, có lời:
Ngày nào đời thôi có nhau xin người biết đau….

” Bài ca nầy mẹ ít hát kể; từ khi mẹ đi làm về trễ, không còn thời gian để đưa cháu đi dạo bên ngoài, nên cháu quên. Nay có bác hát nên cháu mới nhớ lại…Mẹ cháu bán nhà, hai mẹ con cháu qua sống chung với dì Mười. Dì Mười sống một mình. Mẹ cháu kể:
” – Chồng và hai con trai của dì đều chết trận, dì không còn ai thân thuộc gần gũi, chỉ có bà con xa ở dưới quê. Rồi một hôm, mẹ cháu chào dì Mười, nói đưa cháu về thăm bà ngoại. Mẹ cháu cùng cháu đi xe đò đến chiều tối, đến một nơi nào đó cháu không biết. Hai mẹ con cháu ngồi chờ trong một quán bên đường, có một người đến đưa hai mẹ con cháu xuống một chiếc ghe lớn, trên đó có rất nhiều người. Ghe chạy, mọi người ngồi sát vào nhau, không ai nói chuyện. 

 

Thỉnh thoảng mọi người được cho ăn cơm vắt và uống nước lạnh…rồi trong đêm tối, bỗng cháu nghe mọi người la  khóc, hoảng hốt, xô đẩy trong ghe, có tiếng la “cướp….. cướp”, mọi người đạp lên cháu và cháu không biết gì nữa…cho đến lúc cháu được đưa vào ở trong trại mồ côi. Cháu mất mẹ từ ngày ấy.”

–  Cháu có thể kể cho bác biết lý do nào cháu đi hát trong hầm xe điện để có tiền giúp trẻ em mồ côi ở Việt-nam?
– Năm đầu tiên cháu vào đại học, cháu làm thiện nguyện cho hội chữ thập đỏ của Pháp, nhân đó theo đoàn công tác đi Viêt-nam. Một buổi sáng ăn điểm tâm tại một nhà hàng Việt-nam, cháu vừa ăn xong, thì một vài em nhỏ, các em sống ngoài đuờng, xông nhào vào dành những thức ăn còn thừa, hình ảnh đó khiến nhóm bạn của cháu lập ra tổ chức “trẻ bụi đời”.

 

Tiền chúng cháu góp lại bằng mọi hình thức khác nhau theo khả năng..làm các công việc phụ cuối tuần cho các cá nhân cần như: giữ trẻ, dạy kèm, phụ bán hàng….riêng cháu,cháu đã chọn công việc hát rong như bác đã biết. Cháu đã chọn bài hát lời Việt vì cháu chỉ nhớ và thuộc bài nầy, vì đây là bài mẹ cháu hay ru cháu ngủ. Cháu hát để nhớ mẹ cháu..cháu nghĩ mẹ cháu còn sống ở một nơi nào đó. Biết đâu một ngày nào đó mẹ cháu đến Paris…và nghe tiếng hát của cháu trong khi tình cờ đi xe điện ngầm…

Kévin ngừng kể. Biển ngoài xa mờ dần trong trong sương. Lòng Phú tràn ngập nỗi buồn cảm thuơng hoàn cảnh của nguời thanh niên trẻ. Phú nghe lòng anh xao xuyến..chợt hoài niệm về những ngày tháng cũ .Từ nhỏ, anh được người cậu nuôi sau khi cha mẹ anh chết trên chuyến xe đò chạy trúng mìn. Khi anh đậu xong tú tài toàn phần thì cậu anh chết vì bạo bịnh. Anh không có bà con thân thích nên ghi danh văo trường Võ-bị quốc-gia Đà-lạt. Ra trường, anh vào binh chủng Thủy-quân lục- chiến. Trong một cuộc hành quân tiếp cứu một đơn vị bạn, đơn vị anh bị phục-kích, anh bị thương phải lẫn trốn trong nhà dân, chờ được tải thương. Anh gặp Thư, chủ nhân của căn nhà.

Cuộc giao tranh hai bên vẫn khốc liệt. Hai ngày sau trực-thăng cứu thương mới hạ cánh đón anh. Để bảo toàn tính mạng cho Thư, anh đề nghị toán cứu thương cho Thư rời khỏi vùng đang giao tranh, vì sợ sau nầy khi lính quốc-gia rút đi, dân cộng sản nằm vùng sẽ hại Thư vì đã che chở cho ngụy quân. Khi vết thương của Phú ổn-định, anh tìm đến trại tạm cư thăm Thư. 

 

Được biết gia-đình gồm cha mẹ và hai người em của Thư đã chết bị đạn pháo kích cách đó vài tháng, anh đưa Thư về thành phố, lấy căn nhà của người cậu bỏ trống trước đây cho Thư tạm trú. Rồi tình cảm nẩy sinh giữa hai người  trong những ngày về phép gặp nhau. Không có những hẹn hò thơ mộng không có những lãng mạng của yêu đương bồng bột.Cả hai cùng cô đơn..cô-đơn không gia-đình. Cô đơn giữa chiến tranh, cả hai muốn san lấp nỗi cô đơn của thân phận mình. Anh và Thư bàn tính chuyện tiến đến hôn nhân… ngày nghỉ phép cưới vợ rồi cũng đến…nhưng chỉ đuợc một nửa. Chiến trường đã gọi anh về trình diện gấp gáp, lấy đi những ngày phép nghỉ phép cưới còn lại…

Thành phố Buôn-mê-Thuộc bị cộng quân chiếm, anh bị bắt làm tù-binh…Miền Nam thay chủ. Năm 1981, sau hơn năm năm bị giam, Phú được trả về từ trại tù Tiên-Phước tỉnh Quảng-nam. Nhà cũ của anh ở khu Bàn cờ Sài-gòn bị giải tỏa. Toàn khu không còn ai quen biết để tìm hỏi  tin-túc vợ. Những ngày lang-thang tìm vợ, tìm nơi cư trú, một người lính cũ cùng đại đội tình cờ anh gặp đang làm nghề vá và sửa xe hai bánh bên lề đường, cho anh tạm trú tại nhà. Hàng ngày anh cùng người đồng đội cũ sửa xe tạm kiếm sống. 

 
Dịp may nữa lại đến với Phú, một bạn học  cũ ngày xưa từ Nha-trang vào Sài-gòn học năm cuối trung học để thi tú tài hai, nhà nghèo đã được cậu anh cho ở miễn phí, tình cờ người bạn dừng lại nhờ vá lốp xe bị xì hơi. Hai bên nhận ra nhau, vui mừng bỡ ngỡ. Người bạn rủ anh về Nha-trang làm cho hợp tác xã đánh cá gia-đình.đã ..tạo dịp cho anh và gia-đình người bạn vượt biển không lâu sau đó.

Khi ghe dần dần xa bờ biển  Việt Nam, Phú bùi ngùi nghĩ đến đến người vợ trẻ vừa mới cưới nhau đã xa nhau. Phú đã  cố công sức tìm kiếm Thư nhưng Thư vẫn biệt tăm.Thư đã chết hay Thư vẫn còn sống một nơi trên quê hương Việt-nam hay một đất nước xa lạ nào đó. Anh thầm xin lỗi Thư trong niềm đau khi lập gia-đình với nguời mới nơi quê người. Phú thẫn thờ kéo tay Kévin đi về hướng khu nhà nghỉ. Kévin còn đang nhớ về mẹ. Anh cũng đang nhớ về người vợ ngày xưa. Mỗi trái tim mang một niềm đau riêng!
***********
Hai năm sau. Sau một thời gian dài điều trị chứng suy tim, nhân mùa nghỉ hè, Phú được các con tổ chức đi nghỉ bên Thái-lan. Dịp nầy Kévin muốn cùng đi chung. Trước khi chết, bà mẹ nuôi nhiều lần đề nghi Kévin khi có điều kiện nên đến Thái-lan thăm trại mồ côi ngày xưa. Bà có để lại một số tiền nhỏ để giúp trại mồ côi nầy,
Khách-sạn nằm ẩn mình sau một làng chài nhỏ có nhà cửa khang trang dược xây lên trong một vịnh nhỏ nằm tận cùng phía Tây-nam vịnh Thái-lan. Một buổi chiều, như thường lệ, sau bửa cơm, Kévin cùng vợ ra ngồi ngoài bãi cát trước khách-sạn, Kévin vừa đánh đàn, vừa hát:
Trời đêm dần tàn em đến sân ga để tiển người trai lính về ngàn.
Cầm chắc đôi tay, ghi vào đời tâm tư ngày nay…..

Kévin say sưa hát, âm thanh tan theo trong ánh sáng cuối ngày đang chìm dần ngoài biển xa. Kévin ru hồn trong cơn buồn ngủ chợt đến…anh như thấy mình đang cùng mẹ lang thang trên những con đường thuở ấu thời…anh mơ thấy mẹ ôm trong lòng để ru anh ngủ khi tay còn cầm miếng bánh mì khô cứng loang lỗ nước tương đen chưa ăn hết…anh nghe có giọng hát từ đâu đó vang lên như hơi thở, chuyền tải hơi ấm ôm phủ lấy cơ thể anh trong con gió biển se lạnh …
Anh choàng tỉnh, tiếng hát đàn bà từ đâu đó vẫn văng vẳng vang lên:
Tàu cũ năm xưa mang người tình biên khu về chưa ?
Trắng đêm em chờ nghe tiếng tàu đêm tìm về
Rồi tiếng hát bỗng chuyển lời:
Chiều một mình qua phố, âm thầm nhớ nhớ tên anh
Gót chân đôi khi đã mềm, gọi buồn cho mình nhớ tên……
Giọng hát thật là quen thuộc. Lời ca thật là quen thuộc. Cả hai đều xoáy vào tâm thức anh.

Theo bản năng của con thú lạc mẹ, lạc bầy, anh chạy về hướng phát ra âm thanh quen thuộc đó. Kévin đi nhanh theo hướng về xóm ghe và tiếng hát càng rõ thêm. Vợ anh chạy theo sau, đầy vẻ ngạc nhiên. Phú đang ở trong hàng hiên khách sạn, anh cũng đã nghe tiêng hát Việt-nam, giong nữ vọng lên từ xóm ghe, anh càng ngạc nhiên vì giữa một khu ghe thuyền trên xứ Thái lại có một giọng ca Viêt. Tình cảm thiêng-liêng dân tộc cùng lòng tò mò khích động, anh cũng đi nhanh về hướng có tiếng hát phát ra.

Ánh sáng của buổi chiều tàn đủ rọi lên trên mũi của một chiếc ghe lớn, một người đàn bà ngồi ôm một đứa nhỏ vừa ru vừa hát, xung quanh có vài đứa nhỏ khác ngồi đứng rải rác trên mui ghe. Người đàn bà chợt ngừng hát vì thấy có người đứng trên bờ nhìn chăm chú vào ghe bà. Bà đi vào phía trong ghe rồi trở ra cùng với một người đàn ông trẻ, đứa bé không còn bồng trên tay. Đèn trên ghe được thắp sáng. Người đàn ông trẻ vẻ do dự một chút rồi hướng về phìa Phú và vợ chồng Kévin nói gì đó bằng tiếng Thái.. Cả ba lắc đầu không hiểu. Người đàn ông trẻ hỏi rất chậm bàng tiếng Anh: – Mấy người muốn tìm gì trên ghe chúng tôi ? Phú trả lời: – Chúng tôi nghe trên ghe của ông có người hát tiếng Việt rất hay. Chúng tôi là du-khách Viêt-nam, đang ở khách sạn gần đây, tò mò muốn biết sao người Thái-lan mà hát tiếng Việt hay quá chừng, chúng tôi muốn khen thôi”. Người đàn ông trẻ và người đàn bà nói gì với nhau, rồi người đàn ông nói vọng xuống:”
–  Mẹ tôi là người Viêt-nam”.
Người đàn bà tiếp lời bằng tiếng Việt :
– Vậy xin mời ba người lên ghe uống nước”.
Người đàn ông trẻ đẩy tấm ván từ ghe lên bờ làm cầu. Người đàn bà mặc y phục Thái cúi chào Phú và vợ chồng Kévin. Phú chào người đàn bà rồi tự giới thiệu:

– Tôi là Phú đến từ nước Pháp. Đây là Kévin đồng hương, lớn lên tại Pháp nên quên tiếng Việt,còn đây là vợ của Kévin..Vừa nghe dứt lời giới thiệu, người đàn bà lùi lại một bước, chăm chăm nhìn Phú…cái tên “Phú”  đánh thúc vùng tăm tối trong đầu bà bừng sáng…Phú của bà đây sao? Người trung-úy Thủy-quân lục chiến oai phong của bà ngày xưa, nay thân thể héo gầy như vậy sao? Nụ cười rạng rỡ thu hút người nhìn, nay nhạt nhẽo không hồn như vậy sao? Phú của bà…
– Trời ! anh Phú..anh còn sống ..trời ơi, anh còn sống, anh không nhận ra em sao.?
–  Em là Thư, vợ của anh. Giọng của Thư thổn thức, nghẹn ngào:
– Trời cao cay nghiệt quá.. em là Thư, vợ của anh.


Phú đứng sững-sờ, người đàn bà trước mặt anh toàn thân đang run rẫy, tóc bạc trắng là Thư, vợ của anh? Cái giọng nói miền Trung quê mùa chất phát khơi nhớ lại quá khứ, đúng là Thư,vợ của anh. Cả Phú và người đàn bà cùng tiến đến cùng nắm tay nhau, hai đầu tựa vào vai nhau trong một vòng tay yêu thuơng như có chút vụng về, ngượng ngập. 
 
Tiếng thổn thức vọng ra trong khoang ghe nhỏ hẹp. Rồi sự yên tĩnh trở lại. Kévin nhích lại gần Phú, Thư nhìn Kévin qua vai Phú, một mãng tóc lộ màu trắng bằng lóng tay út thoáng hiện trên đỉnh đầu Kévin. Đây là dấu tích duy nhất của đứa con trai của Thư hơn ba mươi năm trước.Thư đẩy nhẹ Phú qua một bên, cố nén xúc động tràn ngập trong tim, bước nhanh về hướng Kévin gọi lớn:
– Cu Bi.. Cu Bi phải không?”
Hai tiếng “Cu Bi” từ bao năm đã biến đi không còn trong đầu Kévin bất chợt nay được gọi lên, được nhắc tới như làn hơi ấm thổi đến phủ cơ thể. “Cu Bi” tiếng của mẹ gọi ngày xưa. Kévin rúng động, nhìn sững nguời đàn bà không tin nỗi tai mình, miệng mở ra như đủ cho tiếng “Dạ” thầm lặng xác nhận.Thư lao mình tới ôm Kévin như sợ Kévin tan biến vào hư không. Kévin sững sờ dang hai tay ôm lấy mẹ: –  Mẹ”.. – Con của tôi”…Những tiếng nấc xé lòng thốt ra. Thư nói với Phú nghẹn ngào:  – Anh Phú, đây là con của chúng ta.

Phú ôm Kévin trong niềm vui chen lẫn đớn đau. Anh đã có một đứa con…qua bao năm sống gần nhau, nay mới biết là con của mình. Cảm xúc dâng tràn…Phú cảm thấy trái tim đau nhói…toàn thân anh khuỵu xuống sàn ghe.
********
Ba hôm sau, sức khỏe Phú ổn định, bác sĩ Thái cho xuất viện.Thư có đến thăm anh vài lần ở bịnh viện. Buổi chiều sau ngày xuất viện, Kévin đưa anh ra bến ghe tìm Thư, chiếc ghe không còn neo tại bến. Hai người đang tính hỏi thăm những người có ghe đang đậu ở bến để hỏi thăm chiếc ghe của Thư thì một người trong tiệm tạp hóa bước ra trao cho Phú một lá thư, nói vài câu bằng tiếng Thái rôi quay lưng đi. Phư cùng Kévin ngồi xuống bờ thềm trước quán, anh thẩn thờ mở thư ra đọc:

“Anh Phú của em và con trai Cu BI của mẹ,
Buổi sáng hôm thăm anh trước khi anh được cho xuất viện, em có gặp bác-sĩ điều trị, Ông cho biết bịnh tim của anh tái phát vì bị xúc động mạnh, anh cần tỉnh-dưỡng mới trở lại bình-thường.
Em rất mừng khi được biết tin nầy, em quyết định và có thư nầy cho anh và con trai:

Anh Phú,
” Sau ngày anh cưới em một tuần anh ra mặt trận, rồi từ đó em không còn tin túc của anh. Em không biết anh chết hay sống. Rồi đất nước thay đổi chủ mới, em càng vô vọng tin tức về anh. Em đã có với anh một đứa con, tên của nó là Cu Bi. Với bao nổi khổ đau của cuộc sống bị đổi chủ, em  đã không làm nỗi cho con của chúng ta một tờ khai sanh…đồng thời em cũng mong chờ thời gian sẽ gặp lại anh và chúng ta sẽ tìm đặt cho con một cái tên mà cả hai ta cùng muốn .  

 
Cu Bi chỉ là cái tên gọi tạm thời để khỏi lẫn lộn với những trẻ khác trong một xã hội thu hẹp. Không  tìm được anh,và để tránh cho con của chúng ta bị lăng mạ là con của ngụy quân, bị sự phân biệt đối xử, tìm cuộc sống ngày mai cho con của chúng ta nên em đã đưa con vượt biển. Định mệnh đã đưa đẩy con tàu vào tay cướp biển Thái-Lan. Con tàu bị cướp tràn ngập…em bị cướp bắt.

” Em bị xa con.Toán cướp đưa em đến một đảo nhỏ không người ở.Vài ngày sau,toán cướp rời đảo, bọn chúng mang theo những người đàn bà khác, em bị để lại đảo.Tên cướp đã hãm hại đời em đã để lại lương thục cho em. Có lẽ nó muốn giừ em ở đây, rồi có ngày quay lại. Ngày sau một cơn bão, một tàu buôn bán nhỏ ven bỡ của Thái-lan tạt vào đảo trú ẩn. Người chủ con tàu đã cứu em. Ông là cựu binh-sĩ Thái đã từng tham chiến ở Việtnam. Ông nói tiếng Anh lõm bõm cũng như em, ở mức độ chỉ có thể hiểu nhau đơn giản. òng kể ,khi quân đội rời khỏi Việt-nam để về nước,ông xin giải ngũ, lập gia-đình. 
 
Theo truyền thống gia-đình, ông là thành viên trên con tàu buôn bán ven bờ vùng vịnh Thái-lan. Vợ ông qua đời vì tai nạn lưu thông chỉ sau nửa năm chung sống với ông. Ông hứa ông sẽ đưa em về Bangkok giao cho Phủ cao-ủy Tỵ-nạn. Sau gần hai tháng ngược xuội ven biển, khi con thuyền trên đường về Bangkok thì ông ngỏ lời thương em và đề nghị em chấp thuận làm vợ ông.

” Cuộc sống của em đã quá tận cùng của sự nghiệt ngã. Anh ở đâu và con ở đâu? Chiếc phao nầy em không nắm lấy thì tương lai có chiếc phao nào khác sẽ đến không? Cuộc đời em có còn gì nữa đâu, đã mất hết rồi! Thôi em nhận lời để buông theo số phận.Em xin nhận lỗi cùng anh. Em đã có với người chồng Thái,  một con trai và có bốn đứa cháu như anh đã gặp tại ghe. Người chồng Thái của em đã ra đi vì bịnh đã hơn một năm.

” Được biết anh đã có vợ, có con, có sự nghiệp.. nay lại tìm được đứa con của hai chúng ta,  thật không có gì hạnh-phúc cho bằng cho anh và cho em trong hiện tai. Em cảm ơn trời đất đã thưởng đền cho những khổ đau của chúng ta đã gánh chịu bao lâu nay. Cuộc sống thương hồ của em không thể đậu bến mãi. Mong anh hãy an vui trong hạnh-phúc đang có và mãi mãi.

Cu Bi của mẹ,
” Từ cái đêm mẹ bị cướp bắt đi, mẹ bị mất con. Đời trôi giạt đau thương của mẹ, biết tìm con ở đâu? Đau đớn trong lòng mẹ kể sao cho xiết? Hai tiếng “Cu Bi”” và hình ảnh ngây thơ của con là dòng suối mát trong lòng mẹ mỗi lúc nhớ con trong cùng khổ. Nói làm sao cho hết yêu thương của mẹ khi nghĩ về con ! Mẹ xin lỗi con vì đã không bao-vệ được con lúc con lâm hoạn nạn. Con hãy tha thứ cho mẹ những tháng năm mẹ không hoàn thành trách nhiêm ở cùng bên con khi con khôn lớn, trưởng thành.

” Trời đã thương nỗi đau của mẹ nên ban cho mẹ đặc ân gặp lại con ngày nay. Con khôn lớn, hạnh phúc bên vợ và nay con lại được thêm hạnh-phúc gặp lai ba con…nhớ đền ngày nào con hay hỏi mẹ “ba con đâu?” thì bây giờ ba con đang ở bên cạnh con rồi đó.! Con hãy săn sóc cho ba con thay mẹ. Mẹ cám ơn con nhiều lắm. Con bảo trọng sức khỏe. “Trưa hôm nay thuyền buôn của mẹ sẽ rời bến theo lộ trình đã định. Nếu bão táp phong ba của biển không làm đắm con thuyền buôn của mẹ thì những tháng năm sau nầy, biết đâu mẹ con ta cũng có ngày hội ngộ?”
**********
Trước ngày rời Thái-lan, Phú và con trai đến gặp người chủ quán tạp hoa trên bến tàu gởi lá thơ nhờ chuyển lại cho Thư nếu một ngày nào đó thuyền buôn của Thư ghé bến. Phú viết thay lời con trai : “Đây là nhà con ở tại Pháp. Hy vọng một ngày không xa mẹ sẽ đến với con. Con trông chờ mẹ. Con Cu Bi của mẹ”.
Thời gian sau nầy, khách xử dụng xe điện ngầm trong thành phố Paris được nghe người hát rong hát bài ca lời Việt, âm điệu vẫn như cũ nhưng lời có thay đổi:
Trời đêm dần tàn, con đến sân ga để đón mẹ yêu quý trở về.
Tàu cũ năm nao chưa mang về trả cho tôi mẹ xưa
Tháng năm con chờ đây, mong tàu đem người về
………………
Tháng năm con chờ đây, mong tàu đem mẹ về.

Nguyễn-đại-Thuật
02/12/2018

Hits: 98

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Thuật Ngữ Văn Chương

Các Thuật Ngữ Văn Chương và Một Số Kinh Nghiệm 
Viết Văn
 
I – CÁC THUẬT NGỮ VĂN CHƯƠNG (*)
Am tường những thuật ngữ của văn chương tức là hiểu được những yếu tính của văn chương để rồi từ đó ứng dụng vào tác phẩm của mình hầu làm cho tác phẩm trở nên hay- đẹp, đúng ý mong muốn.
Chúng ta phải công nhận rằng về bộ môn này, Tây Phương đã phát triển lên tới đỉnh cao cho nên không có điều chi xấu hổ nếu chúng ta phải học hỏi nơi họ. Có thể những tác phẩm hay của tổ tiên chúng ta cũng đạt tới đỉnh cao này nhưng vì tổ tiên chúng ta không chịu phân tích, không hệ thống hóa mà chỉ ngầm hiểu hoặc hiểu theo linh tính cho nên con cháu đời sau muốn tìm hiểu những thành tố của văn chương không biết nương tựa vào đâu. Trong khi đó, vì chuộng tinh thần khoa học cho nên Tây Phương đã phân tích và liệt kê ra. Sau đây là một số những thuật ngữ văn chương – giống như những dụng cụ quý báu trợ lực cho người làm thơ, viết văn:
 
Alliteration: Lập lại phụ âm đầu.
Thí dụ: Ðó là anh chàng ngờ nghệchngốc nghếch.
             Cô ta vừa dịu dàng vừa duyên dáng.
AllusionNói bóng nói gió, ám chỉ.
Chẳng hạn người con trai muốn cưới người con gái khâu giúp mình cái áo trong bài ca dao “Tát Nước Đầu Đình” nhưng lại nói bóng nói gió như sau:
Mai mốt lấy chồng anh sẽ giúp cho.
Giúp  em một thúng xôi vò.
Một con lợn béo một vò rượu tăm.
Giúp em đôi chiếu em nằm.”
Anecdote: Giai thoại
Là một đoạn văn ngắn được chen vào để mua vui hoặc phóng phú hóa câu chuyện.
Aphorism: Cách ngôn
Là câu nói dường như có giá trị muôn đòi. Thí dụ: Ăn quả nhớ kẻ trồng cây. Ăn mặn khát nước v.v..
Characterization: Xây dựng nhân vật (sao cho độc đáo)
Climax: Cực điểm của câu truyện, là chỗ phăng ra manh mối và từ đó căng thẳng giảm dần và câu truyện đi vào kết thúc.
Conflict: Xung đột, mâu thuẫn (để đẩy truyện đi tới)
Connotation/denotation: Nghĩa rộng, sự bao hàm
Description: Sự mô tả, miêu tả
Đó là cách mà người viết văn vẽ nên một hình ảnh, một khủng cảnh, một con người, một biến cố, một tình huống qua việc chọn chữ, nhất là các tính từ (adjectives) phải hết sức cẩn thận. Mọi sự cường điệu, làm dáng, buông thả sẽ làm hư tác phẩm.
Dramatic irony: Tình huống trớ trêu. Một thí dụ của tình hưống trớ trêu là khi Romeo tưởng Juliet đã chết cho nên lấy dao tự sát trong khi khán giả hay người đọc biết chắc rằng Juliet vẫn còn sống.
Event: Diễn biến của câu truyện.
Exposition: Sự phơi bày
Là đoạn văn quan trọng trong bố cục để giới thiệu bối cảnh, nhân vật cốt lõi của câu chuyện. Thí dụ, tác giả có thể mở đầu câu chuyện “Sơn Tinh, Thủy Tinh” như sau, “Cuộc chiến giữa Sơn Tinh và Thủy Tinh là cuộc tranh giành Công Chúa Mỵ Nương con Hùng Vương, kéo dài đã hơn 5000 năm nay.”
Falling action: Xung đột / căng thẳng giảm dần (sau cực điểm của câu truyện).
Figurative language: Dùng ngôn ngữ bóng bẩy.
Thiếu ngôn ngữ bóng bẩy thì không phải là tác phẩm văn chương. Sau đây là một đoạn văn sử dụng ngôn ngữ vừa hiện thực vừa bóng bẩy của Margaret Mitchell khi  mô tả Scarlett trong tác phẩm “Cuốn Theo Chiều Gió” ( Gone With The Wind)
 “Vào buổi chiều rực nắng của Tháng Tư năm 1861, tại đồn điền của cha nàng, Scarlett nổi bật như một bức tranh tuyệt đẹp khi nàng ngồi ở dưới hàng lan can dâm mát cùng với Stuart Tarleton và Brent Tarleton. Chiếc váy màu xanh trang điểm hoa hồi trải dài mười một bộ trên chiếc giá đỡ thật hợp với đôi dép da dê mà cha nàng mới mua cho nàng ở Atlanta. Chiếc váy làm tăng thêm vẻ tuyệt mỹ của chiếc eo thon nhỏ và bộ ngực nảy nở của lứa tuổi mười sáu được nâng bởi chiếc nịt bó sát lấy thân hìnhCho dù dưới chiếc váy trải dài nề nếp, mái tóc được búi trong lưới, đôi bàn tay trắng nhỏ để yên trên lòng, nàng vẫn không thể nào giấu được con người thực của nàng. Trên khuôn mặt khả ái, đôi mắt ấy thật hiếu động, phá phách và tràn đầy nhựa sống, hoàn toàn khác hẳn với vóc dáng đoan trang, thùy mị của nàng. Phong thái đó là do mẹ nàng đặt để lên nàng bằng những lời khuyên răn nhẹ nhàng và bằng kỷ luật khắt khe của bà vú – nhưng còn đôi mắt thì kia thì là cái gì riêng tư của nàng.” (Bản dịch của tác giả)
Flashback: Hồi tưởng, hồi ức
Thí dụ, nhà văn có thể đang đi trên con đường ngày hôm nay nhưng nhớ lại những kỷ niệm đã có trên con đường này thuở ấu thơ.
Foil: Nhân vật tương phản, phản diện, cũng còn gọi là antagonist
Foreshadowing: Báo hiệu, báo trước, điềm báo trước (để dẫn dắt độc giả)
Chẳng hạn đôi tình nhân đang đứng tâm sự bên cầu, người con gái khẽ thở dài, vân vê tà áo nói, “ Em không biết cuộc tình chúng mình rồi đây sẽ ra sao! ” Câu văn này chính là điềm báo trước cho một cơn dông bão sẽ xảy đến. Nhưng nếu sau này chẳng có biến cố gì xảy ra cả thì đoạn văn trên là một đoạn văn thừa. Chẳng hạn đoạn Kiều nghe Vương Quan kể chuyện Ðạm Tiên “ Thoắt nghe Kiều đã đầm đầm châu sa “ rồi sau đó nàng thắp hương khấn vái, rút trâm trên đầu, vạch da cây mà “Vịnh bốn câu ba vần “ rồi “Lại càng mê mẩn tâm thần” chính là điềm báo trước cuộc đời cô sau này cũng sẽ “đoạn trường” như Ðạm Tiên.
Hyperbole: Ngoa ngôn, cường điệu (để nhấn mạnh và gây ấn tượng)
Thí dụ: Tây Thi mất vía Hằng Nga giật mình.
            Chìm đáy nước cá lờ đờ lặn.
             Ngửng da trời nhạn ngẩn ngơ sa (Nguyễn Gia Thiều)
            Thân hình bà ấy to như cái bồ sứt cạp.
             Lưng bà ấy rộng như cái cánh phản cho nên
 thiên hạ gọi bà ấy là Bà Phán Cảnh.
Imagery: Giàu hình ảnh/ tượng hình. Một tác phẩm giàu hình ảnh sau này quay thành phim sẽ hấp dẫn khán giả.
Inference: Ðể người đọc có thể suy luận, suy diễn ra
Inversion: Sự đảo ngược thứ tự của chữ trong một câu để tạo nên chất thơ:
Thí dụ: Hai câu sau đây nếu để nguyên thì không giầu chất thơ:
Em đến chơi chiều thu
Lá vàng rơi lác đác
Nhưng nếu đảo ngược thì lại có nhiều chất thơ:
Chiều thu em đến chơi
Lác đác lá vàng rơi
Và ta có thể thêm hai câu nữa để kết thúc bài  thơ này:
Mắt em chìm trong mộng
Tình anh đã chín rồi.
Irony:  Mỉa mai, cay đắng.
Main character: Nhân vật chính là nhân vật được nhắc nhở nhiều nhất và sẽ xuất hiện từ đầu tới cuối, qua đó nhà văn xây dựng đề tài của mình. Mọi diễn tiến, mọi tình huống phải xoay quanh nhân vật chính. Tôi đã đọc một “truyện ngắn” đăng trên một nhật báo lớn nhất ở San Jose năm 1995 với đoạn nhập đề như sau: “Hôm đó Nga tình tờ gặp Trí. Trí có người chị tên Bích và Bích có người anh rể tên Hoàng ..” Ngay phần nhập đề, tác giả đã “quay” độc giả chóng cả mặt bằng cách giới thiệu một lúc bốn nhân vật mà không biết ai là nhân vật chính ! Có lẽ học trò Lớp Năm ngày xưa cũng không viết một đoạn văn kỳ lạ đến như vậy. Rất may cho chúng ta là tác giả không viết tiếp:“Hoàng có đứa con gái tên Lisa Nguyễn và bạn nó là Catherin Lê mới vừa thi hoa hậu áo dài và nó có thằng bồ tên Tony. ” Ðọc một đoạn văn dẫn nhập như thế chắc độc giả sẽ ngã ra bất tỉnh nhân sự ! Thế nhưng khuyết điểm này tôi thường gặp ở khắp mọi nơi nhất là trong thể loại truyện ngắn hiện đang có khuynh hướng phổ biến ở hải ngoại.
Main idea: Ý chính
 Ý chính đây là ý chính của một đoạn văn. Một truyện được nối kết bằng nhiều đoạn văn. Mỗi đoạn văn có một ý chính. Nếu đọc một đoạn văn mà độc giả hoặc nhà phê bình không thể đúc kết được ý chính thì đoạn văn đó trở nên vô giá trị dù tác giả có trổ hết tài văn chương như thế nào đi nữa. Như chúng ta đã biết một tác phẩm hay sau này có thể được viết rút gọn lại để cho phù hợp với nhiều trình độ khác nhau. Nếu các nhà biên soạn không sao hiểu được ý chính của một đoạn văn chắc chắn họ sẽ xếp tác phẩm ấy sang một bên. Sự kết thúc ý chính của một đoạn văn thường được nhận thấy bằng dấu chấm xuống hàng và thụt lui đầu dòng..
Metaphor: Phép ẩn dụ, so sánh gián tiếp hai vật khác nhau nhưng lại có những nét chung.
Thí dụ:
            Sao là những ngọn nến lung linh trên trời.
            Mẹ già như chuối ba hương
           Như sôi nếp một như đường mía lau  (Ca Dao)
            Em là dòng dõi Nàng Tô Thị (Cung Trầm Tưởng)
Mood: Tâm trạng tức trạng thái tâm lý do tác giả tạo ra trong truyện.
Motif: Yếu tố chủ yếu, mấu chốt trong chuyện. Chẳng hạn cô gái kết hôn với hoàng tử  trong các câu truyện thần tiên. Cô gái hóa thành chồn tinh trong truyện Liêu Trai Chí Dị.
Motivation: Ðộng lực, lý do thầm kín.
OnomatopoeticXử dụng những chữ tượng thanh.
Thí dụ: Ðì đẹt ngoài sân tràng pháo chuột
            Om sòm bên vách bức tranh gà
            Chí cha chí chát khua giày dép                                                    (Trần Tế Xương )
            Tiếng suối chảy róc rách.
            Súng nổ ầm ầm.
            Tiếng pháo nổ đì đùng
            Tiếng trẻ nhỏ nói bí bô.
            Ông Tây xí xô xí xào.
            Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa (Kiều)
            Tiếng lá rơi xào xạc.
            Những chiếc lá khô khốc lăn lông lốc trên đường.
Personification: Nhân cách hóa
Gán cho đồ vật, con vật một ý nghĩ, cảm xúc như  con người.
Thí dụ:
Chiếc xe lửa nặng nề, mệt nhọc, thở dài một tiếng rồi dừng lại trên sân ga.
– Từng đợt sóng vỗ bờ rì rào thong thả chạy vào bờ, trào bọt trắng như muốn vỗ về xóm chài nhỏ bé       đang chìm đắm trong giấc ngủ về đêm.(Trích truyện dài Chọn Lựa)    
          –  Giấc mơ đó cứ thì thầm bên gối nàng biết bao đêm như vậy.
Plot: Bố cục
Cách sắp xếp các diễn biến sao cho hợp lý, hấp dẫn.
Point of view: Quan điểm của tác giả.
Pun: Lối chơi chữ
Với mục đích khôi hài, mỉa mai, châm biếm. Điều này có thể thấy rất nhiều trong văn chương bình dân Việt Nam, chẳng hạn như “lớn lại” là “lái lợn”, “tượng lo” là “lọ tương”.
Realism: Hiện thực – tức mô tả sự kiện đúng như trong cuộc sống, không lý tưởng hóa, lãng mạn hóa hoặc cường điệu.
Resolusion: Kết cuộc, kết thúc.
Rhyme and Rhythm: Xử dụng vần điệu, nhạc điệu của ngôn ngữ để tạo tính trầm bổng cho bài văn, bài thơ.
Thí dụ: Trong Quê Mẹ của Thanh Tịnh, đoạn văn sau đây rất trầm bổng và đầy nhạc điệu:
 “Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều, trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức, hoang mang của buổi tựu trường. Buổi mai hôm ấy, buổi mai đầy sương thu và đầy giá lạnh…”
Rising action: Xung đột mỗi lúc mỗi trở nên căng thẳng.
Satire: Tính trào phúng, tính trào lộng.
Setting: Bối cảnh, khung cảnh mà câu truyện xảy ra thường bao gồm thời gian và không gian/địa điểm. Nếu không nói rõ không gian và thời gian, sau này các nhà đạo diễn sẽ vô cùng bối rối nếu tác phẩm được quay thành phim.
Simile: Ví von
Dùng những chữ như: Như thể, giống như, chẳng khác nào.
Thí dụ:
– Sương như búa bổ mòn gốc liễu. (Cung Oán Ngâm Khúc)
– Nàng vũ nữ có thân hình uyển chuyển như  một con mèo.
– Nó nói dối như cuội.
Stereotype: Rập lại khuôn mẫu có giá trị bất di bất dịch. Thí dụ:
            – Mai cốt cách, tuyết tinh thần. (Kiều)
(Tuyết tượng trưng cho sự trong trắng, Mai tượng trưng cho sự thanh cao)
– Chẳng hạn như bà mẹ ghẻ trong các câu truyện thần tiên (Tấm Cám, Cinderella, Cô Bé  Lọ Lem)
    – Gian ngoan như Tào Tháo
Style: Lối hành văn – chẳng hạn như Hemingway nổi tiếng vì đã dùng  những câu văn ngắn gọn và dễ hiểu.
Supporting details: Những chi tiết, tình tiết để dẫn chứng cho một hình ảnh mà tác giả đưa ra. Chẳng hạn khi tác giả nói hắn là một gã lưu manh thì phải có những chi tiết dẫn chứng xem gã lưu manh như thế nào.
Symbol: Tượng trưng, tiêu biểu
Theme: Chủ đề (tình yêu, chiến tranh, xã hội, tù đày…)
Tone: Văn phong
Văn phong là nét độc đáo của từng tác giả. Có tác giả thích lối văn cầu kỳ, có tác giả thích lối văn châm biếm cay độc hoặc hài hước hoặc lãng mạn, bình dị.
Voice: Tính độc đáo – Không thể tìm thấy nơi tác giả khác. Nếu nhà văn không tạo được tính độc đáo thì tác phẩm của mình sẽ chết trong đám loạn quân..
 
II- CÁC THỂ LOẠI VĂN CHƯƠNG (*)
Nền văn chương của Tây Phương đã phát triển tới đỉnh cao cho nên hết sức đa dạng và phong phú. Sau đây là một số thể loại văn chương:
–        Truyện Ngụ Ngôn ( Allegory)
–        Tự Truyện (Autobiography) viết về cuộc đời của mình
–        Tiểu Sử ( Biography) viết về cuộc đời của người khác
–        Thơ Trào Phúng (Burlesque)
–        Bình luận (Criticism)
–        Truyện Trinh Thám (Detective Story)
–        Nhật Ký (Diary)
–        Kịch (Drama)
–        Thiên Sử Thi, Thiên Anh Hùng Ca (Epic)
–        Thơ viết dưới dạng thư gửi cho ai (Epistle)
–        Tiểu Luận ( Essay)
–        Truyện Cổ Tích (Fable)
–        Truyện Quái Ðản, Hoang Ðường (Fantasy) chẳng           hạn trong đó có những con thú, cái máy biết nói tiếng người. Tây Du Ký thuộc thể loại vừa Dã  Sử , Huyền Thoại (Legend) vừa hoang đường (Fantasy).
–        Tiểu Thuyết (Fiction)
–        Truyện Dân Gian (Folklore)
–        Truyện Ma (Ghost Story)
–        Huyền Thoại, Dã Sử (Legend) truyện thêm thắt dựa vào một nhân vật lịch sử có thật.
–        Truyện Thiếu Nhi (Literature for Children)
–        Bài Hát Ru Con (Nursery Rhyme)
–        Thơ Nhại (Parody) nhại một bài thơ khác
–        Thơ (Poetry)
–        Tiểu Thuyết Diễm Tình (Romance)
–        Trường Thiên Tiểu Thuyết (Saga)
–        Hài Kịch (Satire)
–        Truyện Ngắn (Short Story)
–        Truyện Kinh Dị (Suspense Story) không phải truyện ma, trong đó tạo ra những tình huống kinh hoàng khi
          con người phải đối đầu với cái chết. Tây Phương phát triển rộng rãi bộ môn này và lan qua kịch kinh dị,
         phim kinh dị “toát mồ hôi lạnh”như loại phim Hitchkok cuối thập niên 1960. Còn văn chương Việt Nam
        ít thấy truyện kinh dị, có lẽ do tâm tính, văn hóa và ảnh hưởng tôn giáo chăng?
–       Truyện Phóng Ðại (Tall Tell) như đấm một cái chết con voi, búng một cái chết con cọp, nhảy một cái qua ngọn núi.
II- MỘT SỐ KINH NGHIỆM VIẾT VĂN
Tôi nghĩ rằng bất cứ nhà văn nào sau một thời gian cũng sẽ rút ra được một số kinh nghiệm. Ðối với tôi, giai đoạn từ 1986 tới 1995 là giai đoạn say sưa viết và chưa rút ra kinh nghiệm hoặc chỉ kinh nghiệm chút ít. Dĩ nhiên kinh nghiệm của mỗi nhà văn đều khác nhau nhưng cùng chung một mục đích sao cho tác phẩm hoàn thiện, tránh những khuyết điểm nhỏ nhặt đáng tiếc làm hư tác phẩm.
Thứ nhất: Phải viết bằng cả khối chân tình và rung động. Không ai buộc nhà văn phải trải qua những tình huống đề cập trong truyện bởi không một ai có thể có đủ mọi thứ kinh nghiệm trên cõi đời. Do đó nhà văn có thể tưởng tượng hoặc hư cấu. Nhưng dù hư cấu, tưởng tượng như thế nào đi nữa, nhà văn phải rung động hoặc thích thú với những gì mình viết ra. Bất kỳ một sự làm dáng, cường điệu nào cũng sẽ làm hỏng tác phẩm. Ngoài ra, viết theo mệnh lệnh, viết theo thiên kiến, viết theo thị hiếu của quần chúng, xu thời cũng sẽ hỏng tác phẩm.
Thứ hai: Không có một luật lệ nào buộc nhà văn phải viết thế này, phải viết thế kia. Trong khi viết văn, nhà văn là Ông Trời. Ông ta có thể cho người chết đã ngàn năm, sống dậy và nói chuyện khơi khơi với chúng ta. Ông ta cũng có thể cho một cô công chúa cành vàng lá ngọc lấy một tên vô loại xấu xa. Ông ta có thể cho một bà mệnh phụ lấy ngay người đầy tớ của mình. Nhưng cho dù hư cấu như thế nào đi nữa nhà văn vẫn phải thuyết phục được độc giả chấp nhận câu chuyện mà ông ta bịa đặt, rồi vui buồn, phẫn nộ, thống khoái, kinh hoàng với những gì ông ta viết. Ðó chính là thiên tài của nhà văn làm cho câu truyện sống động, hợp lý.
Thứ ba: Nhà văn không phải đơn thuần diễn tả sự kiện vì tác phẩm còn bao gồm tư tưởng và xúc cảm do chứng kiến, do hồi ức hay do tưởng tượng. Nếu muốn tìm hiểu sự kiện không thôi thì nên đọc báo. Nhà văn có thể dùng ngôn ngữ rất bóng bẩy hoặc lối văn hàm ngụ hoặc ẩn dụ cho nên một đoạn văn có thể tối nghĩa với người này nhưng lại gây thích thú cho người khác. Do đó muốn thưởng thức văn chương cũng cần phải làm quen với văn chương, phải đọc nhiều, phải suy nghĩ nhiều. Người đọc không cần phải từng trải việc đời nhưng cần có đầu óc bén nhạy để hiểu được và cảm được những gì người khác đã trải, đã cảm nghiệm, đã suy nghĩ.
Nói vậy không có nghĩa nhà văn muốn viết thế nào thì viết. Dù dùng nhiều ẩn dụ, dù dùng ngôn ngữ bóng bẩy, dù dùng lối văn hàm ngụ – vẫn có một giới hạn – đó là người đọc phải hiểu nhà văn viết cái gì. Muốn người đọc hiểu mình viết gì, nhà văn phải dùng những câu văn trong sáng. Có điều luẩn quẩn là, muốn tạo một đoạn văn trong sáng chỉ cần tránh một đoạn văn tối nghĩa. Ðoạn văn tối nghĩa là đoạn văn mà người đọc không hiểu tác giả muốn nói gì. Khi chính nhà văn còn chưa rõ ý nghĩa của câu văn mình viết ra thì nên bỏ câu văn hoặc đoạn văn đó, đừng tiếc. Muốn có một đoạn văn trong sáng thì nhà văn phải dùng chữ cho chính xác. Một đoạn văn dùng chữ không chính xác có khi chưa hẳn là đoạn văn tối nghĩa nhưng khiến người đọc hiểu lầm ý của mình. Sau đây là một vài thí dụ về cách xử dụng chữ cho chính xác:
1.     Dù quen nhau đã lâu mà chàng không dám tâm sự cùng nàng.
2.     Dù quen nhau đã lâu mà chàng không dám ngỏ ý cùng nàng.
Câu 1: Chàng không dám tâm tình với nàng chuyện gì đó.
Câu 2: Chàng không dám nói rằng (ngỏ ý rằng) chàng đã yêu nàng.
3.     Chàng ta hùng hổ tiến tới.
4.     Chàng ta hùng dũng tiến tới.
Câu 3: Chàng ta tiến tới với thái độ gây hấn.
Câu 4: Chàng ta tiến tới với thái độ tự tin.
Nói tóm lại, phải chọn chữ và câu văn thích hợp để trình bày, diễn tả một không khí thống nhất, thích hợp với một tình thế nào đó. Chẳng hạn không thể có một chữ, một câu văn bỡn cợt trong đoạn văn đang mô tả một không khí trang nghiêm – nếu không phải là truyện hài hước. Tôi còn nhớ kỷ niệm “tập làm văn” năm 1955 khi còn học Đệ Thất (Lớp 6 bây giờ). Trong một bài luận văn, để diễn tả nỗi vui của trẻ thơ, học sinh tôi đã dùng danh từ “khoái tỉ “. Sau khi chấm bài xong, giáo sư gọi tôi lên nói “Chữ “khoái tỉ” không được đứng đắn em không nên dùng trong văn chương.” Nghe thầy dạy thế, tôi hiểu ngay. Hai chữ “khóa tỉ” tức vui sướng- là ngôn ngữ đường phố của bọn trẻ con chúng tôi. Trải qua 57 năm tức hơn nửa thế kỷ mà tôi vẫn còn nhớ bài học văn chương quý giá này. Ngoài ra, chúng ta phải chọn chữ thật dịu dàng, dễ thương, thật nhẹ và thật thơ mộng để mô tả buổi gặp gỡ đầu tiên của mối tình đầu. Chúng ta hãy đọc một đoạn văn mô tả một cảnh vượt thác dưới đây để xem khả năng chọn chữ của tác giả: “ Chiếc phao nổi chở bốn người chồm lênnhảy xuống theo dòng nước cuộn chảy.. Nước từ trên cao đổ xuống ầm ầm làm cho người ta có cảm tưởng họ đang vật lộn với con thủy quái hung dữ đang vùng vẫylàm bắn tung bọt nước trắng xóa.” (Trích trong Reading Literature của nxb McDougal, Littell)
Thứ tư: Phải tránh những đoạn văn thừa thãi. Ðoạn văn thừa thãi làm sự tập trung của độc giả bị gián đoạn và đôi khi gây phản ứng bực bội. Mỗi câu văn viết ra đều có ý tứ, không ngoài mục đích dẫn dắt độc giả đi tới. Do đọc nhiều, tôi nhận thấy những đoạn văn thừa thãi phát xuất từ tính dễ dãi của người viết hoặc người viết muốn khoe kiến thức của mình. Do có những đoạn văn thừa thãi mà tác phẩm trở nên nhạt nhẽo khiến không hấp dẫn người đọc.
Chúng ta nên nhớ rằng một tác phẩm văn chương không phải là một tài liệu phô diễn kiến thức. Muốn tìm hiểu kiến thức người ta sẽ không tìm đến sách văn chương. Khi nhà văn đang mô tả đôi tình nhân trong một quán nhỏ ngồi bên nhau với ly ruợu, má người đàn bà ửng hồng vì men rượu song cũng vì men tình mà tác giả lại chuyển sang bàn về hằng trăm thứ rượu chát (rượu vang) có trên cõi đời này để khoe kiến thức thì đúng là tiểu thuyết kiếm hiệp câu giờ của Kim Dung. Những chi tiết thừa thãi này sẽ làm hỏng tác phẩm.
Một tác phẩm có giá trị là một tác phẩm cô đọng. Cô đọng không có nghĩa là thiếu, nhưng chắc chắn không thừa. Sau hai mươi năm viết văn, giả thử bây giờ cho tôi viết lại tất cả các tác phẩm mà tôi đã xuất bản, thì tất cả những tác phẩm đó chỉ còn lại hai phần ba số trang là cùng.. Nói khác đi, mới khởi đầu viết người ta có khuynh hướng viết cho thật nhiều, viết tràng giang đại hải. Nhưng khi đã viết nhiều rồi thì lại muốn viết ngắn, viết cô đọng. Cái khác biệt giữa nhà văn mới vào nghề và nhà văn trưởng thành ở chỗ đó.
Thứ năm: Thời gian và không gian của tác phẩm cần phải nêu rõ và chính xác. Không nên viết về những gì mà mình không chắc chắn. Những gì không chắc chắn nên coi lại các tài liệu lưu trữ. Cách trang phục, ăn nói của mỗi thời đại, mỗi nơi đều khác nhau. Trí nhớ và đầu óc tưởng tượng của con người dù sao cũng có giới hạn. Ngoài ra nhiều hình ảnh cũng đã phai mờ theo thời gian và lầm lẫn niên hiệu, ngày, tháng. Leon Tolstoi khi viết bộ Chiến Tranh và Hoà Bình đã phải đi đến tận nơi quan sát địa thế để viết về những trận đánh. Khi viết truyện ngắn “Songkhla Dậy Sóng” tôi đã phải mở sách tham khảo để nghiên cứu về Thái Lan, Thị Trấn Songklha cùng một số bờ biển Thái Lan cũng như các tên gọi như Surat, Thom, U Thai, Khamphaeng đều lấy ra từ những tài liệu này. Nhờ đã từng đi qua các nơi như Phan Thiết, Vũng Tàu và một vài bến cảng ở Hoa Kỳ cùng đọc những truyện về cướp biển– chính những kinh nghiệm đó đã giúp tôi tìm ra được những cái tên như Quán Biển Xanh, Quán Giang Hồ, Con Tàu Lươn Biển, Con Tàu Sóng Thần làm cho câu truyện vừa thơ mộng, vừa có tính trinh thám. 
Thứ sáu: Nên viết truyện ngay trên máy điện tử. Trước đây ở vào những năm đầu của thập niên 1990 khi máy điện tử đã trở nên cực kỳ phổ thông và giá đã hạ, một số người khuyên tôi nên dùng máy điện tử để viết văn, tôi một mực từ chối. Lý do thứ nhất là viết văn trên máy điện tử đòi hỏi phải học đánh máy là điều tôi ghét thậm vì khó và phải đánh máy cả mười ngón tay. Thứ hai viết văn bằng máy điện tử làm mất cả hứng. Nhà văn với cây bút đã trở thành thói quen cả mấy trăm năm nay rồi. Nay buộc ngồi trước chiếc máy điện tử coi bộ gò bó quá. Nhà văn cần phải lang thang vớ vẩn, có khi phải nằm dài ra để suy nghĩ, có khi phải nhâm nhi cà-phê, phì phèo thuốc lá. Cho nên tôi nhất định không chịu viết văn trên máy điện tử. Thế nhưng do nhu cầu đọc và viết điện thư cho nên dù muốn dù không tôi cũng phải ngồi trước chiếc máy điện tử đánh máy lai rai. Lâu rồi cũng thành thói quen và từ năm 1997 đến nay tôi đã chính thức viết văn bằng máy điện tử mà không thấy trở ngại và cũng chẳng thấy gì gọi là mất hứng. Ðiều này giúp tôi giải quyết một vấn nạn đã làm tôi khổ tâm trong bao năm nay là phải chép lại vài trăm trang của bản thảo – một công tác mà tôi coi như lao động khổ sai.  Dĩ nhiên khi đi xa không thể đem theo máy điện tử, tôi có thói quen đem theo một xấp giấy bỏ trước túi áo. Tưởng tượng ra điều gì hoặc sáng tác được bài thơ nào tôi ghi ra ngay và khi về thì đánh máy lại. Viết văn bằng máy điện tử quen rồi cũng thấy thú vị và trở nên ghiền và nhất là tiết kiệm được vài trăm đô-la nếu sau này chúng ta có ý định xuất bản tác phẩm. Ngoài ra lại còn tránh được tai nạn hỏi – ngã đang là một vấn nạn lớn ở hải ngoại bây giờ. Nếu mình nhờ người ta đáng máy, phần lớn những người đánh máy thuê ăn tiền trình độ học vấn thấp cho nên thường lẫn lộn giữa dấu hỏi và dấu ngã làm cho người đọc hết sức bực mình và làm giảm giá trị của bài văn, bài thơ, và có thể di hại đến nhiều thế hệ sau này nhất là thế hệ trẻ ở hải ngoại không được học cũng như không được dạy Việt Ngữ đúng mức.
Vào ngày 11 Tháng 9, năm 2001 khi khủng bố tấn công vào Trung Tâm Thương Mại Thế Giới ở New York và Hoa Kỳ đã mở cuộc tấn công vào hang ổ của nhóm khủng bố Taliban và từ đó cái tên A Phú Hãn xuất hiện trên mặt báo chí không thiếu một ngày nào. Thế nhưng ở San Jose và Westminster không thiếu gì những tờ báo lớn đã nhiều lần đi những hàng chữ lớn A Phú Hản (dấu hỏi) thay vì A Phú Hãn (dấu ngã). Nếu sai sót này cứ kéo dài mãi thì chẳng bao lâu nữa sẽ xuất hiện một thứ “Việt Ngữ “ quái đản ở hải ngoại với Hoàng Xuân Hãn, Trần Nguyên Hãn sẽ biến thành Hoàng Xuân Hản và Trần Nguyên Hản  và những câu thơ trác tuyệt trong Kiều hay Chinh Phụ Ngâm hoặc Cung Oán Ngâm Khúc cũng sẽ lộn tùng phèo như sau:
Dưới cầu nước chãy trong veo
Bên cầu tơ liểu bóng chiều thướt tha (Kiều)
 
Lò cừ nung nấu sự đời
Bức tranh vân cẫu vẻ người tang thương (Cung Oán)
 
Vầng trăng ai xẽ làm đôi
Nữa in gối chiếc nữa soi dặm trường ( Chinh Phụ Ngâm)
        Không phải chỉ hải ngoại mới có “thảm họa hỏi- ngã “ mà ngay trong nước cũng vậy. Tình cờ vào một siêu thị tôi thấy trên chai nước chấm sản xuất ở Việt Nam ghi Nước Mắm Pha Sẳn thay vì phải ghi Nước Mắm Pha Sẵn.
Sau hết, viết văn trên máy điện tử dù tiện lợi song có điều ai cũng phải công nhận là đối với những nhà văn có tài, người đời sau muốn mua lại các bản thảo thì đành chịu thua. Viết văn trên máy điện tử người ta có khuynh hướng sửa chữa ngay cho nên không thể nào có bản thảo – ngoại trừ các tác phẩm viết dở dang đã được lưu trữ vào đĩa và có thể coi đó như bản thảo.
Đào Văn Bình
(Trích sách 20 Năm Viết Văn xb năm2004)

Hits: 66

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Dưa Gang và Mướp Đắng

QUẢ DƯA GANG TRONG VÀNG NGOÀI TRẮNG
QUẢ MƯỚP ĐẮNG TRONG TRẮNG NGOÀI XANH…
(Ca Dao Việt Nam)

Vợ tưới bón bụi thanh long thế nào không biết mà bỗng dưng từ gốc thanh long mọc lên một dây leo. Cái dây leo thân thì khẳng khiu mà lá lại toả rộng rất tươi mát. Trông nó yếu ớt thế mà một ngày kia tôi khám phá ra nó không những leo gần kín bụi thanh long mà còn leo đầy cánh cổng vườn khiến cổng không mở được. Hơn thế nữa, nó lại tìm cách chui qua một cái khe tường rất hẹp để phát triển thành một dây nữa phía bên kia tường, cũng xanh tươi không kém cái thân chính bên ngoài.

Hai vợ chồng bàn cãi xem đây là cây gì. Chồng bảo đây là cây dại. Vợ cãi: “Dại gì mà dại! Nó tinh khôn như thế mà bảo là dại à?” Chồng bảo: “Vậy chắc nó là cây mướp.” Vợ lại cãi: “Mướp gì mà mướp! Cái lá nó bé tí hĩn thế này thì làm sao mà mướp được!” Chồng thua, ngồi im. Vợ mơ màng: “Đây là một thứ cây đặc biệt, Trời cho. Chắc là sẽ ra quả quý, trần gian ít thấy!” Chồng để yên cho vợ tha hồ mà mơ tưởng… hão.

Chẳng bao lâu, dây leo nở hoa vàng. Rồi cũng chẳng bao lâu sau đó, hoa kết thành quả; mà là quả mướp đắng, bà con miền Nam kêu là trái khổ qua! Quả mướp đắng phát triển thần tốc, đến một ngày chồng ra thăm nó, thấy nó to tướng, mới kêu “ối” lên một tiếng. Vợ tưởng chồng gặp tai nạn gì, thí dụ như bị sâu rụng xuống đầu hay kiến cắn ngón chân (chồng nhát như cáy) bèn chạy ù ra cứu, hoá ra là quả mướp đắng, liền nguýt chồng một cái rồi trịnh trọng rước mướp đắng vào nhà. Vợ thấy cái quả này to quá, mới lấy thước ra đo. Chồng giằng ngay lấy quả mướp đắng, đem so nó với chai rượu, thấy nó dài và to hơn cả chai rượu. Khiếp! Dài gì mà dài thế! To gì mà to thế!

Ai trong chúng ta cũng biết: mướp đắng là khổ qua. “Khổ” có nghĩa là “đắng.” Còn “qua” có nghĩa là “quả dưa.” Bởi thế “mướp đắng” mới được gọi là “khổ qua.” Người xưa dạy rằng, xét về vị thì có bốn vị chính, là “tân, toan, cam, khổ.” Tân là cay. Toan là chua. Cam là ngọt. Khổ là đắng. “Tân toan cam khổ” là “cay chua ngọt đắng.” Đó là vị thức ăn mà cũng là hương vị cuộc đời. Xem vậy thì đời người ta ba phần đau thương, chỉ có một phần hạnh phúc, chứ không phải “một chiều khổ cực bốn chiều say” như Hoàng Cầm viết trong “Huyền Sử – Hội Yếm Bay.”

Với ai thì không biết, nhưng “ba phần đau thương, một phần hạnh phúc” xem ra rất đúng với cuộc đời Mẹ tôi. Cả một đời bà hy sinh cho chồng con. Một tay bà chôn không biết bao nhiêu người nằm xuống, cả bên nhà mình lẫn bên nhà chồng. Thế mà lúc nào bà cũng tươi cười, lúc nào cũng mở rộng bàn tay chia sẻ. Bà chia sẻ cho đến giây phút cuối, tươi cười cho đến giây phút cuối, khi Chúa gọi bà về năm bà 103 tuổi.

Mẹ tôi, người nhỏ bé, vậy mà ý chí và sức mạnh nội tâm của bà thật phi thường. “Quả mướp đắng trong trắng ngoài xanh,” câu ca dao này có hai hướng cắt nghĩa khác nhau, hướng tích cực và hướng tiêu cực. Với Mẹ tôi, câu này được cắt nghĩa theo hướng tích cực: đừng nghĩ người bà bỏ bé thì nghị lực bà yếu đuối, cũng như đừng nghĩ bên ngoài quả khổ qua màu xanh thì ruột nó cũng xanh. Bố tôi mất sớm, một tay Mẹ tôi nuôi dạy chúng tôi, như dây khổ qua nuôi quả khổ qua. Quả càng lớn thì dây càng héo hắt. Khi tất cả quả đã to lớn đẫy đà thì cũng là lúc dây khổ qua tàn héo. Mẹ tôi và các bà mẹ Việt Nam đều là dây khổ qua cả.

Chiều hôm nay vợ tôi nấu canh khổ qua nhồi thịt. Khi bổ trái khổ qua “lớn hơn chai rượu” ra thì chúng tôi mới biết nó đã bắt đầu già. Ruột khổ qua trắng, nhưng khi già nó chuyển sang màu đỏ. Các bà mẹ Việt Nam càng già thì lòng càng son càng thắm.

Vợ chồng chúng tôi ăn canh khổ qua mà thổn thức nghĩ đến Mẹ chúng tôi.

Quyên Di

 

Hits: 96

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Chiếc vòng của Mẹ

Tại một ngôi trường tiểu học trong một thị trấn nhỏ ở Hoa Kỳ hôm nay là ngày đầu tiên khai giảng cho năm học mới. Cô Thompson là giáo viên phụ trách dạy lớp Năm. Cô giáo đứng trước các học sinh trong lớp học của mình và tương tự như các giáo viên khác, cô cũng nhìn khắp lượt vào các em học sinh và nói là cô sẽ thương yêu tất cả các học trò của cô như nhau, không có sự phân biệt nào cả. Cô đã nói với các đứa trẻ này điều đó, một điều mà cô tự biết là không thật lòng và cô biết là mình sẽ không thực hiện được.

     Lý do không thể thực hiện đươc bởi vì cô đã nhìn thấy ngồi lù lù ngay dãy bàn học ở hàng đầu trong lớp là cậu Teddy Stoddard. Năm ngoái cô đã từng lưu ý tới cậu học trò nhỏ này và nhận thấy cậu ta thường chơi với đám bạn cùng lớp không được đàng hoàng. Teddy có vẻ không được ai ưa thích cả. Đã thế ăn mặc áo quần thì luộm thuộm lại thêm thân người không được sạch sẽ có lẽ vì lười biếng trong chuyện tắm rửa. Trong hồ sơ học bạ của Teddy vào năm ngoái cô Thompson còn ghi chú bằng bút đỏ, viết một chữ thập X rõ đậm nét vào đó. Rồi cô còn ghi thêm một chữ thật lớn nữa là F, hạng kém ngay phần phía trên đầu tờ giấy.

     Ở trường tiểu học của cô Thompson ở thị trấn này thì theo thông lệ vào mỗi đầu năm học các giáo viên đều phải xem lại quá trình học tập của từng học sinh trong những năm trước đó. Cô giáo Thompson đã nhét hồ sơ của Teddy xuống cuối cùng mới mở ra xem. Tuy thế khi đọc hồ sơ xong thì cô lại tỏ ra rất là ngạc nhiên.

     Trong hồ sơ, cô giáo dạy lớp Một đã đưa ra nhận xét rằng “Teddy là một học sinh thông minh và cười luôn miệng. Học giỏi và tính tình dễ thương… thường đem lại nguồn vui cho mọi người xung quanh”.

     Cô giáo dạy lớp Hai thời ghi rằng: “Teddy là một học sinh xuất sắc. Được cảm tình của các bạn bè học cùng lớp. Em đang lo âu vì bà mẹ bị đau ốm nặng sắp chết và cuộc sống gia đình của em thật sự quả là một sự phấn đấu”.

     Cô giáo phụ trách lớp Ba thì lại viết rằng: “Cái chết của mẹ Teddy đã gây ra khó khăn cho em. Tuy em đã cố gắng học hành, nhưng Bố em thì lại tỏ ra không quan tâm. Nếu em không được trợ giúp thì đời sống gia đình sẽ sớm ảnh hưởng đến em”.

     Cô giáo lớp Tư ghi: “Teddy tỏ ra lơ đãng, thiếu quan tâm, không hăng hái trong việc học tập. Cũng không có nhiều bạn bè. Thỉnh thoảng em còn ngủ gục trong lớp”.

     Cô giáo viên Thompson của lớp Năm đọc hồ sơ đến đây thì cô bỗng như nhận thức được ra vấn đề và cô cảm thấy tự hổ thẹn cho chính bản thân mình.

     Trong mùa Giáng Sinh giáo viên Thompson được đám học trò trong lớp đưa tặng quà. Những món quà này đều được bọc lại bằng giấy đủ màu sắc và có gắn thêm nơ thật đẹp. Cô rất áy náy khi nhận món quà của Teddy vì món quà của em thì lại gói vụng về bằng loại giấy màu nâu thường được dùng để gói thực phẩm. Khi mở gói quà của Teddy ra cùng lúc với các món quà khác thời cô cảm thấy đau trong lòng. Cô giơ lên cho các học sinh thấy món quà là một chiếc vòng đeo tay đã cũ có gắn kim cương giả, đã rơi mất vài hột và một lọ nước hoa nhỏ chỉ còn lại khoảng một phần tư.

     Có tiếng cười có vẻ chế giễu của vài học sinh trong lớp nhưng những tiếng cười đó đã bị dập tắt luôn khi cô giáo lớn tiếng khen chiếc vòng đeo tay là đẹp và sau đó đeo ngay cái vòng đó vào tay đồng thời lại còn lấy một chút nước hoa trong lọ và bôi lên cổ tay nữa.

     Bữa đó sau giờ tan học, cậu bé Teddy đã ở nán lại một lúc. Cậu lên cạnh bàn cô giáo và khẽ thưa rằng: “Thưa cô, hôm nay con thấy cô cũng thơm y như Mẹ con thời trước vậy đó!”

     Lúc các học sinh ra khỏi lớp và đã đi về hết, cô giáo viên Thompson ngồi lại một mình, khóc gần cả tiếng đồng hồ. Từ dạo ấy, cô giáo không còn đơn thuần chỉ dạy các môn Toán, dạy Văn và dạy viết lách cho đám học sinh, mà cô còn bắt đầu lưu tâm tới việc “giáo dục” lũ trẻ nữa. Cô khởi sự giảng giải cho các em về cuộc sống. Cô dạy dỗ bọn trẻ. Cô đã không giảng những bài như thường lệ trước kia nữa. Cô bỏ qua những bài tập viết và cả môn số học.

     Từ dạo đó, cậu Teddy như đuợc hồi sinh. Em càng ngày càng học giỏi hơn thêm. Và chẳng mấy chốc em đã trở thành một trong những học sinh xuất sắc của lớp vào cuối năm học đó. Cũng chính ngay từ hôm đó, ngoài việc dạy học cô giáo Thompson còn đặc biệt lưu tâm chăm sóc cho Teddy. Mỗi khi được cô giáo chỉ dẫn thêm hình như em lại càng lên tinh thần. Cô giáo càng khuyến khích, em càng tiến bộ nhanh lên thêm nữa.

     Kết quả là vào cuối năm học, Teddy đã trở thành một trong những học sinh xuất sắc nhất lớp. Và quả đúng như trái ngược với lời nói không chân thật của cô lúc đầu năm học là cô sẽ yêu thương mọi em học sinh như nhau, Teddy giờ đây đã trở thành một trong những học trò được cô giáo cưng nhất.

     Một năm trôi qua. Cô giáo nhận được một mẩu giấy của Teddy nhét dưới khe cửa. Trong giấy em thưa với cô rằng: “Cô là cô giáo tuyệt vời nhất trong suốt cuộc đời của em”.

     Sáu năm trời trôi qua sau đó. Cô giáo lại nhận được một bức thư ngắn của Teddy gửi tới. Trong thư em cho biết là em đã học xong bậc trung học và đuợc xếp hạng đứng thứ ba trong lớp. Em viết rằng: “Cô vẫn là cô giáo tuyệt vời nhất trong suốt cuộc đời của em.”

     Bốn năm trời nữa lại trôi qua. Cô giáo lại nhận được thêm một lá thư khác của Teddy. Thư nói rằng dù hoàn cảnh nhiều khi gặp trở ngai, đôi lúc tưởng chừng như bế tắc, em vẫn quyết tâm theo học tới cùng, quyết chí mong sao sớm tốt nghiệp được bậc đại học với thứ hạng xuất sắc nhất. Em viết rằng: “Cô vẫn còn là cô giáo tuyệt vời nhất và là người thầy mà em yêu quý nhất trong suốt cả cuộc đời”.

     Rồi thêm bốn năm sau nữa lại trôi qua. Cô giáo vẫn nhận được thư gửi tới. Trong lá thư lần này Teddy báo tin cho cô biết là cậu đã đậu xong văn bằng Cử Nhân. Cậu đang học thêm lên bậc cao nữa. Thư vẫn ghi rằng: “Thưa cô, cô vẫn là người thầy tuyệt vời và trân quý nhất của cuộc đời em!”. Nhưng giờ đây tên của cậu đã dài hơn một chút rồi vì cuối bức thư ký tên là: “Theodore F. Stoddard, bác sỹ”.

     Câu chuyện tới đây vẫn chưa tới hồi kết thúc. Vẫn lại còn một bức thư nữa được gửi đến cho bà giáo Thompson. Trong thư bác sỹ Teddy thưa là anh đã gặp gỡ một cô bạn gái, đôi bên tâm đầu ý hợp và anh chuẩn bị làm đám cưới với cô ta. Anh cho biết Mẹ anh thì qua đời đã lâu, còn ông Bố lại mới vừa chết cách đây mấy năm nên anh thiết tha mong bà giáo Thompson sẽ nhận lời đến tham dự lễ cưới của anh và sẽ ngồi ở vị trí danh dự vốn thường hay được dành riêng cho Mẹ chú rể.

     Tất nhiên là bà giáo Thompson chấp thuận đề nghị này. Ngày cưới hôm đó bà giáo đeo chiếc vòng kim cương giả, cái vòng đã bị rớt mất vài hột mà ngày xưa cậu học trò nhỏ đã biếu làm quà tặng. Hơn nữa bà giáo còn cố tình bôi thêm một chút nước hoa trong cái lọ nhỏ, cũng vẫn là quà tặng thuở xa xưa. Cái loại nước hoa này tỏa mùi thơm thoang thoảng mà Teddy nói là Mẹ cậu đã bôi vào lễ Giáng Sinh cuối cùng của hai mẹ con trước khi Mẹ từ giã cõi đời.

     Anh bác sỹ trẻ và bà giáo Thompson ôm nhau mừng rỡ. Bác sỹ Stoddard khẽ nói thầm vào tai bà Thompson: “Cám ơn cô Thompson đã có lòng tin tưởng vào nơi em. Cám ơn cô rất nhiều vì cô đã làm cho em cảm thấy mình quan trọng. Chính nhờ cô mà em có niềm tự tin rằng bản thân mình sẽ có thể đổi khác. Chính niềm tin đó đã tạo ra sự khác biệt lớn lao giúp em thay đổi cả cuộc đờinhư ngày nay.”  

     Bà Thompson vừa đầm đìa giọt lệ vừa nói nhỏ với chú rể:“Teddy, em lầm rồi. Chính em mới là người đã dạy cho tôi biết rằng tôi đã có thể đổi khác đi. Tôi đã không biết cách dạy học cho tới khi được gặp em đó. Chính nhờ gặp em, tôi mới biết thế nào là “giáo dục”.

(Tâm Minh Ngô Tằng Giao phóng tác)

Hits: 69

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Kim Thúy với Cuốn Tiểu Thuyết “RU”

Tiểu thuyết của nữ nhà văn gốc Việt khiến người Canada tìm đọc

Dân trí: Cuốn tiểu thuyết “Ru” của nữ nhà văn người Canada gốc Việt – Kim Thúy – đã trở thành cuốn sách để mọi người dân Canada tìm đọc. “Ru” chứa đựng niềm cảm hứng mạnh mẽ về đất nước Việt Nam.

Nữ nhà văn người Canada gốc Việt – Kim Thúy – vừa giành giải “Canada Reads” – một giải thưởng văn học do đài truyền hình quốc gia Canada – CBC – đứng ra tổ chức. Tác phẩm giúp Kim Thúy giành giải chính là “Ru” (2009) – cuốn tiểu thuyết đầu tay của Kim Thúy, chứa đựng niềm cảm hứng mạnh mẽ về đất nước Việt Nam.

Trước đây, “Ru” đã từng giành được nhiều giải thưởng văn học uy tín của Canada, cho đến giờ, “Ru” vẫn tiếp tục là một hiện tượng của văn đàn Canada. Tiểu thuyết kể về quá trình thích nghi với cuộc sống mới ở tỉnh Quebec của một cô bé người Việt đến từ Sài Gòn, đi di cư cùng với gia đình.

Tiểu thuyết của nữ nhà văn gốc Việt khiến người Canada tìm đọc
Nữ nhà văn người Canada gốc Việt – Kim Thúy (sinh năm 1968). Cô được biết tới nhiều nhất với cuốn tiểu thuyết “Ru”.

“Canada Reads” là một giải thưởng thường niên, được phát trên sóng truyền hình của đài CBC. Giải được chia làm hai hạng mục quan trọng – văn học tiếng Anh và văn học tiếng Pháp.

Tại giải “Canada Read”, 5 nhân vật đại diện cho 5 cuốn sách đang gây tiếng vang sẽ cùng chỉ ra cái hay, cái đẹp trong tác phẩm mà mình đại diện.

Những “cuộc chiến ngôn từ” sẽ được truyền hình đến khán giả qua 5 buổi phát sóng. Ở cuối mỗi buổi, một cuốn sẽ bị loại ra, cho tới khi chỉ còn một cuốn ở lại. Cuốn này sẽ giành giải “Canada Reads” – cuốn sách mà tất cả mọi người dân Canada đều nên tìm đọc.

Năm nay, ông Cameron Bailey – giám đốc nghệ thuật của Liên hoan phim Quốc tế Toronto – là người đứng ra bình cuốn sách “Ru” của nữ tác giả Kim Thúy. Chủ đề của giải “Canada Reads” năm nay là “Một cuốn sách phá vỡ mọi rào cản”.

Cuốn “Ru” đã từng tranh giải “Canada Reads” ở hạng mục văn học tiếng Pháp năm 2014 nhưng không giành giải. Năm 2015, “Ru”, đã được dịch sang tiếng Anh, tiếp tục tranh giải ở hạng mục văn học tiếng Anh và vừa giành giải cao nhất.

Tiểu thuyết của nữ nhà văn gốc Việt khiến người Canada tìm đọc
Giải thưởng “Canada Reads” thu hút rất đông sự quan tâm của người dân Canada, tác giả và tác phẩm nhận được giải thưởng này sẽ nhanh chóng trở nên nổi tiếng.

“Ru” là một tựa sách đa nghĩa, trong tiếng Việt, “Ru” là một việc làm đầy dịu dàng, âu yếm; trong tiếng Pháp, “Ru” có nghĩa là dòng suối nhỏ. Hiện tại, “Ru” đã được xuất bản ở 20 quốc gia.

“Ru” kể về dòng chảy cuộc đời, có lúc cuộn trào đầy bất an như những cơn thuỷ triều lên xuống, nhưng rồi cuối cùng sẽ trở lại là vùng nước yên bình như “lời ru” của mẹ.

Nhân vật chính trong “Ru” từ một cô gái hiền hoà đã trở thành một người mẹ cứng cỏi, cô liên tiếp hồi tưởng về quá khứ rồi lại quay trở về hiện tại. Dòng thời gian đan xen trong “Ru” với những ký ức yêu thương, hờn giận, buồn bã, vui tươi… cứ trở đi trở lại, đầy day dứt, ám ảnh.

Khi “Ru” giành giải “Canada Reads”, Kim Thúy đã rất kinh ngạc. Cô cho biết mình không bao giờ có thể ngờ cuốn tiểu thuyết lấy cảm hứng từ chính cuộc sống của mình lại giành được giải thưởng ý nghĩa này.

Qua những lời bình luận của Cameron Bailey, “Ru” có thể không phải một tác phẩm trực tiếp gọi tên những rào cản, nhân vật nữ chính của “Ru” cũng không luôn luôn chiến đấu với những rào cản, nhưng thực tế, cô gái ấy đã “ngó lơ” mọi rào cản để sống tốt.

Tiểu thuyết của nữ nhà văn gốc Việt khiến người Canada tìm đọc
Giữa Kim Thúy và Cameron Bailey có một điểm chung, họ đều là những người nhập cư. “Ru” đã vừa an ủi, vừa gây chấn động đối với Bailey.

Nhà văn Kim Thúy, tên thật là Nguyễn An Tịnh, sinh năm 1968 tại Sài Gòn. Năm lên 10 tuổi, cô cùng gia đình sang định cư ở Canada. Kim Thúy đã tốt nghiệp khoa luật, khoa ngôn ngữ và dịch thuật tại Đại học Montreal.

Cô từng làm nhiều nghề, như thợ may, phiên dịch, luật sư, chủ nhà hàng, đầu bếp… Hiện giờ, cô dành trọn thời gian để viết văn. Cuốn tiểu thuyết mới nhất của cô – “Mãn” cũng vừa được xuất bản.

“Mãn” theo chủ nghĩa hiện thực huyền ảo, được mở đầu bằng những câu chữ đầy bí ẩn: “Maman và tôi trông không giống những người khác… Bà ấy có một lỗ hổng ở bắp chân và tôi có một lỗ hổng ở trái tim”.

Maman là người mẹ thứ 3 của Mãn – nhân vật nữ chính của tác phẩm, một cô gái Việt Nam. Người mẹ đầu tiên của Mãn là người đã sinh ra cô – một phụ nữ trẻ, chưa chồng với “một lỗ hổng trong đầu”. Người mẹ thứ hai là người đã chăm sóc cô – một bà xơ với “một lỗ hổng trong đức tin”. Maman – người mẹ thứ 3 – là người đã thực lòng yêu thương, chăm sóc Mãn.

Tiểu thuyết “Mãn” vẫn là cuộc hành trình từ Việt Nam đến Canada, khi Mãn được hứa gả cho một người đàn ông ở “trời Tây”. Mãn mang dáng dấp của Kim Thúy, cô cũng yêu nấu ăn và trở thành nữ đầu bếp để giới thiệu những món ăn quê nhà với thực khách nơi xứ lạ. Thế rồi, cuộc sống của Mãn bắt đầu trở nên kịch tính khi một người đàn ông xuất hiện.

Tiểu thuyết của nữ nhà văn gốc Việt khiến người Canada tìm đọc

Trong “Mãn”, người ta bắt gặp những câu thơ trong “Truyện Kiều” và Mãn đã nói rằng “chừng nào Truyện Kiều còn, thì không cuộc chiến tranh nào có đủ sức hủy diệt Việt Nam”.

Bích Ngọc
Tổng hợp

Hits: 77

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

CHUYỆN THẰNG ĂN CƯỚP!

Vú của vợ thằng bạn tôi đột nhiên xuất hiện rất nhiều những nốt đỏ li ti. Tuy không đau và không mưng mủ, nhưng những vết đỏ ấy cứ ngày một lan rộng ra nhiều hơn khiến tôi và vợ thằng bạn tôi rất hoang mang. Khi được tôi thông tin về bệnh tình của vợ mình thì thằng bạn tôi cũng tỏ ra lo lắng không kém, và nó quyết định đưa vợ đi khám.
 
Khám cho vợ nó là một cậu bác sĩ – nghe nói học rất giỏi và đã từng giành được học bổng toàn phân, à nhầm, toàn phần của trường đại học y – người có công nghiên cứu và phát triển phương pháp mổ đẻ nội soi đang được các bà bầu cũng như các chị em trong độ tuổi sinh nở khắp nơi rất quan tâm.
 
Sau khi soi mói, vày vò kỹ lưỡng và đầy trách nhiệm bộ phận phát bệnh của bệnh nhân, thì cậu bác sĩ mới lắc đầu, bảo rằng vợ thằng bạn tôi bị rối loạn nội tiết tố vú, phải cắt vú càng sớm càng tốt. Nếu để nó lan ra tay thì sẽ phải cắt tay, để lan ra cổ thì sẽ phải cắt cổ.
 
Một bác sĩ hàng đầu đã nói vậy thì đương nhiên vợ chồng thằng bạn tôi phải nghe lời. Nhưng ở đời,  mấy ai học được chữ ngờ – ngờ ở đây là ngờ u ngu: Sau khi cắt xong, mất cặp vú, và mất cả mớ tiền, thì vợ thằng bạn tôi mới phát hiện ra rằng: mấy cái vết đỏ ấy chả phải bởi rối loạn nội tiết tố gì, mà là vì cái xu-chiêng màu đỏ mà vợ thằng bạn tôi mua ở cái shop con kưng hay con kẹc gì đó. Tiên sư bố nhà nó: tưởng là hàng có thương hiệu, ngờ đâu lại là hàng Tàu, mặc vào phai màu làm người ta bị cắt vú. 
Vợ chồng thằng bạn tôi lập tức đến bệnh viện tìm cậu bác sĩ kia để bắt đền, nhưng cậu ta đã lặn mất tăm. Không còn cách nào khác, vợ chồng thằng bạn tôi đành phải lên phường báo công an.
 
Người tiếp nhận và chịu trách nhiệm xử lý vụ việc của vợ chồng thằng bạn tôi là một cán bộ điều tra còn rất trẻ – nghe nói học cũng rất giỏi, là người có công nghiên cứu và phát triển phương pháp tra tấn tội phạm online đang được các phạm nhân và các thanh niên có tiền án tiền sự trong độ tuổi trộm cắp ở khắp nơi rất quan tâm.
 
Đọc xong đơn của vợ chồng thằng bạn tôi, anh cán bộ điều tra lắc đầu, bảo là đơn này chưa được, cần phải có chữ ký của trưởng thôn xác nhận là vú của vợ thằng bạn tôi to bao nhiêu, nặng thế nào. Bởi kích thước và khối lượng của vú sẽ là cơ sở để định tội thằng bác sĩ: vú càng to, tội thằng bác sĩ càng nặng; vú nhỏ, tội thằng bác sĩ sẽ nhẹ hơn; không có vú, thì thằng bác sĩ sẽ vô tội.
 
Vật vã cả tuần trời, vợ chồng thằng bạn tôi đã xin được xác nhận của thôn. Nhưng khi mang xác nhận ra phường nộp thì lại không thấy anh cán bộ điều tra đâu cả. Hỏi thì người ta bảo là hôm khác quay lại, vì nay anh cán bộ điều tra phải về quê thăm người yêu cũ đẻ. Hôm sau quay lại vẫn không gặp, người ta lại bảo là hôm sau quay lại, vì nay anh cán bộ điều tra về quê bốc mộ cụ… Năm lần bảy lượt sau đó, vợ chồng thằng bạn tôi đến cũng vẫn không thể gặp, hỏi thì đều nhận được câu trả lời tương tự, với những lí do cũng sêm sêm như thế.
 
Tôi nghe vợ chồng thằng  bạn kể lại sự tình thì sốt ruột quá, bảo: “Được rồi! Mai tôi sẽ đi cùng vợ chồng bạn. Sẽ bằng mọi cách tìm gặp anh cán bộ điều tra. Không thể cho người ta lấy vú của vợ bạn ra làm trò đùa như vậy được!”. 
 
Hôm sau, 3 chúng tôi cùng lên phường tìm gặp anh cán bộ điều tra. Tất nhiên, anh cán bộ điều tra không ở đó, hỏi thì họ bảo hôm sau quay lại, vì nay anh cán bộ điều tra đi họp lớp cấp 3. Do đã đặt quyết tâm là phải gặp bằng được, nên chúng tôi đã xin địa chỉ nơi anh cán bộ điều tra đang họp lớp để đến tận nơi tìm. 
 
Đó là một nhà hàng sang trọng. Sau khi chúng tôi hỏi thăm, nhân viên nhà hàng dẫn chúng tôi vào một phòng vip – nơi anh cán bộ điều tra cùng các bạn cấp 3 của anh đang “Hai ba zô! Hai ba uống!”.
 
Cửa phòng mở, chúng tôi bước vào và cả bàn nhậu quay ra. Chúng tôi còn chưa kịp nói gì thì một cậu ngồi ngay đầu bàn – khi vừa nhìn thấy tôi – đã chợt reo lên đầy mừng vui: “Ơ kìa thầy! Em chào thầy ạ! Thầy không nhận ra em à? Em là thằng đã được thầy sửa điểm để đỗ thủ khoa kì thi tốt nghiệp cấp ba năm xưa đây mà”. Tôi ậm ờ, vì thú thật là tôi đã sửa điểm cho biết bao thế hệ học sinh thân yêu rồi, làm sao tôi nhớ nổi, nhưng rồi tôi vẫn phải giả vờ: “À… Ờ… Thầy nhớ chứ! Thế năm đó, em nộp hồ sơ xét tuyển vào trường nào?”. “Dạ, em nộp vào đại học an ninh! Cũng thủ khoa luôn thầy ạ!”. 
 
Đúng lúc này, thằng bạn kéo áo, ghé tai tôi thì thào: “Đây chính là anh cán bộ điều tra chúng ta đang tìm đó!”. Tôi sững sờ, chưa kịp phản ứng gì thì lại một cậu khác ngồi phía cuối bàn đứng dậy bảo: “Thầy ơi, vậy thầy có nhận ra em không? Em cũng được thầy sửa điểm cùng năm đó đấy ạ! Nhờ vậy, em đã đỗ vào trường y, và giờ đang làm bác sĩ ngon lành rồi ạ!”. 
 
Tới lượt vợ thằng bạn tôi kéo áo, ghé tai tôi, bảo: “Đây chính là thằng bác sĩ đã cắt vú em đó anh!”. Tôi ngỡ ngàng, chưa kịp nói được gì thì lại thấy một cậu nữa ngồi chỗ góc bàn đứng dậy nói: “Thầy ơi, thế thầy có nhận ra em không? Em cũng được thầy sửa điểm năm ấy đấy. Nhờ vậy, em đã đỗ vào đại học ngoại thương, giờ, em là chủ của chuỗi các shop con kẹc, chuyên kinh doanh xu-chiêng hàng hiệu ạ”. 
 
Tôi lại thấy hai vợ chồng thằng bạn tôi kéo áo, định ghé tai tôi thì thào gì đó, nhưng tôi đã kịp xua tay gạt đi, bởi tôi biết thừa vợ chồng nó định nói gì rồi, và tôi còn biết là vợ chồng chúng nó đang rất muốn lao vào mà chửi bới, sỉ vả cái lũ mất dạy đã làm vợ chồng chúng nó khốn khổ, nhưng lại một lần nữa, tôi phải ngăn chúng lại bằng giọng van nài: “Thôi, đừng chửi chúng nó! Chửi tao đây này! Tao mới chính là thủ phạm gây ra những chuyện này! Tao mới chính là kẻ phải chịu trách nhiệm về cặp vú của vợ mày!”. 
 
Tưởng mọi chuyện thế là xong, nhưng chưa: trên đường về, vợ chồng thằng bạn tôi lại bị một thằng cướp phóng từ phía sau lên giật mất điện thoại và túi xách. Vợ chồng thằng bạn lại định đi báo công an, nhưng tôi lại gạt đi, bảo: “Thôi, đừng báo! Tao đây mới chính là người phải chịu trách nhiệm cho vụ cướp vừa rồi!”. Vợ chồng thằng bạn sửng sốt nhìn tôi, hỏi: “Mày cũng sửa điểm cho cái thằng cướp đó luôn hả?”. Tôi lắc đầu: “Không! Thằng cướp đó trước đây học rất khá! Đúng ra, nó đã đỗ đại học nếu như tao không sửa điểm cho mấy thằng kia. Vì bị trượt đại học oan uổng, nên nó đâm ra bất mãn, chán đời, lêu lổng chơi bời, để rồi giờ… nó trở thành thằng ăn cướp!”. 
 
Tác giả: Võ Tòng Đánh Mèo.

Hits: 19

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Vu Lan Và Nỗi Nhớ

Mấy hôm rồi những cơn mưa phùn cứ lất phất bay bay, bầu trời xám xịt, thỉnh thoảng vài cơn gió rít lên từng hồi như than vãn một thời hoàng kim đã mất. Tháng Bảy đất trời chuyển biến kỳ lạ, mưa phùn dai dẳng sụt sùi, trời âm u và thật thấp, tưởng như những linh hồn oan, uổng tử còn vất vưởng đâu đây…
Tháng Bảy cúng cô hồn và cũng là mùa báo hiếu. Vu Lan đến gợi nỗi ngậm ngùi thương Cha, nhớ Mẹ, nước mắt rơi rơi. Nỗi nhớ êm đềm da diết như cơn mưa chiều tháng Bảy sụt sùi, mưa của đất trời hay mưa trong lòng con trẻ tha thiết nhớ Song Đường khôn nguôi!
Người ta bảo thời gian là liều thuốc tốt nhất để quên, nhưng làm sao tôi quên được những ngày cuối cùng Mẹ tôi đã ra đi? Mẹ ra đi hơn 8 năm rồi nhưng hình ảnh của người lúc nào cũng trong Tâm tôi. Những ngày cuối cùng nằm trên giường bệnh Mẹ thật tội nghiệp, lòng tôi đau như dao cắt, Mẹ chỉ còn là một nắm xương tàn tạ, thịt đâu mất tiêu rồi chỉ còn da bọc xương? Mẹ ơi ngày Mẹ ra đi con không về được để tiễn Mẹ lần cuối cùng bỡi chúng con còn lưu lạc trên xứ người, nơi cách xa hơn nửa vòng trái đất. Cả một đời Mẹ đã hy sinh quá nhiều cho chồng, con, quên đi bản thân của mình:
Con cò lặn lội bờ sông
Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non… (CD)
Cuộc đời của Mẹ là như thế, làm sao kể xiết ân nghĩa nầy Mẹ ơi…
Cứ mỗi độ Vu Lan về lòng con lại thổn thức, thương công Cha dưỡng dục, nhớ nghĩa Mẹ sinh thành :
Mẹ ta tro bụi trên sông,
Xuôi chèo qua nẻo hư không mẹ về.
Chiều hoa trắng rụng bốn bề,
Trần gian thêm một kẻ về mồ côi.
Từ đây chỗ mẹ ta ngồi,
Mây như tóc trắng rối bời mây qua.”

( Đỗ Trung Quân) “
Mẹ ơi, giờ Mẹ ở nơi đâu, con cô đơn, lạc lõng và nhớ thương Mẹ quá đổi, có còn kiếp nào để Mẹ con mình gặp lại nữa hay không? Chiều nay tháng Bảy, trời chớm Thu se lạnh, mưa phùn giăng khắp nẻo nhớ Mẹ lệ sa từng dòng:

Vi vu hiu hắt thu phong,
Chạnh niềm hiếu đạo trong lòng xót xa.
Công cha nghĩa mẹ đậm đà,
Mảy may chưa đáp lệ sa đôi hàng.” (ST)

Đời người qua mau, nhưng lại thích quay cuồng chạy theo danh vọng, vật chất, đè đạp lên nhau để sống; thương hận, đố kỵ, hờn ghen… và cuối cùng được gì, cũng chỉ là nắm tro tàn mà thôi! Buồn thay con người vì vô mình che đậy nên không nhìn thấy…
Ngày Ba tôi ra đi cũng là ngày đất trời nghiêng ngả trong tôi. Ông nằm trên giường bệnh vừa đúng một tháng, buổi sáng hôm đó tôi đi làm ông vẫn còn ngủ, đến 2 giờ chiều về, vừa bước vào nhà em trai nói Ba đã đi rồi, em bảo tôi “ đừng khóc “ thật ra không phải tôi khóc, trong lòng tôi đã gào lên thảm thiết, hai đấng sinh thành thân yêu nhất, hai chỗ nương tựa tinh thần của chúng tôi đã vĩnh viễn rời xa, bỏ lại chúng tôi những đứa con vừa mới trưởng thành đã lạc lõng nơi xứ lạ quê người… Chiều hôm ấy, một buổi chiều mưa mù, trời xám xịt lòng tôi tan nát, chúng tôi tiễn Ba tôi đi trong lặng lẽ, một đời làm quan, làm tướng thế mà ngày đi chỉ duy nhất một tấm nềm quấn lại tấm thân khô! Nước mắt rơi…
Ngay lúc nầy tôi mới ngộ, tôi thật sự hiểu kiếp người quá buồn và chua chát. Sự phi lý của một kiếp người, sinh lão, bệnh, tử. Bỗng dưng sinh ra, lớn lên, làm cật lực để nuôi bản thân, gia đình, rồi già, rồi bệnh, rồi chết, rồi chấm hết!!!
Vu Lan nầy là 8 mùa Vu Lan con đã cài hoa trắng, hình bóng Song Đường mãi mãi xa tít mù khơi, nhưng trong sâu thẳm đáy lòng cha Mẹ muôn đời vẫn là ánh sáng soi đường ấm áp trong những ngày còn lại của chúng con. 
Cám ơn ân Cha, nghĩa Mẹ muôn đời hẹn lại kiếp sau…
Trần gian mắc đọa nợ trần
Mai sau hóa kiếp bụi trần tìm vui
**
Đường về khép bóng trần gian
Lợi danh gói một hành trang vô thường (ST)

Mùa Vu Lan 2018 (Mười ba tháng bảy âm lịch)
CD

Hits: 19

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Nữ giám đốc mất việc chỉ bởi một câu nói của “ông lão quét rác”

Một người phụ nữ hơn 40 tuổi sang trọng quý phái dẫn theo đứa con trai đi đến hoa viên ở lầu dưới một cao ốc, vốn là tổng bộ xí nghiệp nổi tiếng tại Thượng Hải, ngồi xuống một chiếc ghế dài ăn đồ.

Một lúc sau, người phụ nữ vứt một mẩu giấy vụn xuống đất, cách đó không xa có một ông lão đang quét rác, ông không nói lời nào, đi đến lượm mẩu giấy đó lên, và bỏ nó vào trong thùng rác bên cạnh.

Lại qua một lúc nữa, người phụ nữ lại vứt một mẩu giấy nữa. Ông lão một lần nữa lại đi đến nhặt mẩu giấy đó lên bỏ vào trong thùng rác. Cứ như vậy, ông lão đã lượm ba lần liên tục.

Người phụ nữ chỉ vào ông lão, và nói với cậu con trai mình rằng: “Đã nhìn thấy chưa, con bây giờ nếu không cố gắng học hành, tương lai sẽ giống như ông ta, chẳng có tiền đồ gì cả, mà chỉ có thể làm cái công việc thấp kém này thôi!”.

Ông lão nghe xong liền buông cây chổi xuống, đi đến nói: “Chào cô, nơi đây là hoa viên tư gia của tập đoàn này, cô đã vào đây như thế nào vậy?”.

Người phụ nữ trung niên cao ngạo nói: “Tôi là giám đốc bộ môn vừa mới được tuyển vào đây”.

Lúc này, một người đàn ông vội vàng đi đến, rất mực cung kính đứng trước mặt ông lão. Nói với ông lão rằng: “Tổng giám đốc, hội nghị sắp bắt đầu rồi!”.

Ông lão nói: “Tôi đề nghị hãy cách chức người đàn bà này ngay lập tức!”.

Người đó luôn miệng nói: “Vâng, tôi sẽ lập tức làm theo chỉ thị của ngài!”.

Ông lão dặn dò xong, liền đi thẳng đến chỗ cậu bé, ông đưa tay sờ sờ đầu của cậu, nói một cách ngụ ý sâu xa rằng:BcKCN8

“Ông mong cháu hiểu rằng, điều quan trong nhất trên đời này là cần phải học biết tôn trọng mỗi người và thành quả lao động của họ”.

Người phụ nữ trung niên sang trọng đó kinh ngạc đến ngây người trước sự việc diễn ra trước mắt.

Một lúc sau bà vẫn ngồi liệt trên chiếc ghế dài, nếu như biết đó là tổng giám đốc thì nhất định bà sẽ không có cái thái độ vô lễ đến như vậy.

Nhưng bà đã làm rồi, hơn nữa còn làm trước mặt của tổng giám đốc đang trong thân phận một người làm vườn. Tại sao vậy? Lẽ nào là bởi sự sang hèn của thân phận chăng?

Tôn trọng mỗi một người, chớ lấy thân phận mà phân biệt, đây là thói quen của bạn, vốn là điều không thể giả được, nó sẽ luôn để lộ ra một mặt chân thật trong nhân cách của bạn.

Tài sản là thứ không vững bền, học được cách tôn trọng mới là tài sản của một đời vậy. Đó mới là cảnh giới cao nhất của đời người.

Tiểu Thiện, dịch từ Cmoney.tw
Nguồn: Sưu tầm

Hits: 34

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Một Cơn Giận

Một buổi tối mùa đông, chúng tôi ngồi trước lò sưởi, trong một căn buồng ấm áp. Tự nhiên trong câu chuyện, một người nói đến những cơn giận tự nhiên đến tràn ngập cả tâm hồn ta và có khi gây nên nhiều cái kết quả không hay. Rồi mỗi người đều bày tỏ ý kiến riêng của mình.

Anh Thanh, từ nãy đến giờ vẫn lặng yên có vẻ trầm ngâm, cất tiếng nói:
– Sự giận dữ có thể sai khiến ta làm những việc nhỏ nhen không ai ngờ. Tôi biết hơn ai hết, vì chính tôi đã trải qua sự đó. Tôi sẽ kể các anh nghe một câu chuyện mà cái kỷ niệm còn in sâu trong trí nhớ tôi.
Cũng một buổi chiều mùa đông như hôm nay, tôi ở tòa báo ra về, trong lòng chán nản và buồn bực. Có những ngày mà tự nhiên không hiểu tại sao, ta thấy khó chịu, và hay gắt gỏng, không muốn làm việc gì. Tôi đang ở vào một ngày như thế mà chiều trời hôm ấy lại ảm đạm và rét mướt càng khiến cho cảm giác đó rõ rệt hơn.
Tôi đi vài bước trên con đường phố vắng người. Một cái xe tay đằng xa đi lại, anh phu xe co ro vì rét, hai tay giấu dưới manh áo tơi tàn. Theo lệ như mọi khi, tôi mặc cả:
– Xe đi không? Bốn xu về gần nhà bò Yên Phụ.
– Thầy cho sáu xu.
– Không, bốn xu là đúng giá rồi.

Tôi vừa nói vừa bước đi. Người phu xe đã có tuổi, cứ kéo cái xe theo sau tôi mà lẩm bẩm: “Bốn đồng xu từ đây về nhà bò”. Cái tiếng nhà bò anh ta nhắc đi nhắc lại làm cho tôi khó chịu. Tôi biết đó là một cách của các phu xe cứ đi theo sau khách để làm cho người ta bực tức, tôi lại càng ghét và quay lại gắt:
– Có đi hay không thì thôi! Đừng có theo sau người ta mà lải nhải.
Thấy tôi gắt, người phu xe đứng lại, không dám theo nữa. Nhưng để tôi đi một quãng xa, anh ta ới gọi:
– Lại đây đi mà.
Rồi anh ta hạ càng xe xuống, cứ đứng yên chỗ ấy đợi chứ không kéo lại phía tôi. Cái cử chỉ ấy làm tôi sinh ghét thêm, đã toan không đi, nhưng lúc ấy không có cái xe nào khác. Tôi giận dữ bước mạnh lên xe, vừa mắng:
– Anh thật là lắm chuyện, không đi ngay lai còn vẽ.
Anh xe cãi lại:
– Từ đây về đấy thầy cho được bốn đồng xu thật rẻ quá!
– Thì ai bảo anh đi? Không có tôi đã gọi xe khác.
Người phu xe khẽ thở dài, yên lặng nhấc xe lên. Lúc bấy giờ tôi mới ngả mình ra phía sau, nhưng thấy cái đệm cứng như gỗ đập vào lưng, tôi cúi xuống bên nhìn cái tay xe.
Tôi đoán không sai, chính là một cái xe hiệu “con lợn” cái tên hiệu cũng xứng đáng một hạng xe tàng ở ngoại ô mà tôi vẫn phải đi. Anh xe này đã vào đây kéo trộm, vì xe ngoại ô không được phép vào thành phố đón khách, nếu không tuân lệnh thì bị phạt từ ba đến bốn đồng bạc. Sự tồi tàn của cái xe làm tôi càng ghét anh xe nữa.
– Xe khổ thế này mà anh lại còn đòi cao giá.
– Xe thế mà thầy chê thì còn thế nào nữa!
Anh xe bướng bỉnh cũng không chịu kém. Tôi nói câu gì là anh ta đối lại liền. Sau cùng, giận quá, tôi dẫm mạnh chân xuống sàn xe, gắt:
– Thôi, câm họng đi, đừng lải nhải nữa.

Sự giận dữ làm cho tôi quên rằng anh xe cũng chỉ có trả lời những câu mắng của tôi mà thôi, và chính tại tôi gắt với anh ta nhiều quá. Nhưng lúc bấy giờ tôi chỉ thấy tức người xe ấy đến cực điểm, vì hắn dám cãi lại tôi mà không sợ.
Xe đi khỏi nhà máy nước thì gặp một người đội xếp tây đi xe đạp lại, theo sau một người đội xếp ta. Tôi nhận thấy anh xe kéo tôi có ý luống cuống và sợ hãi. Có lẽ vì thế mà người cảnh sát để ý, đi giáp vào cái xe kéo để xem dấu hiệu.
– Ê! Đứng lại!
Người kéo xe dừng chân… Anh ta quay lại tôi hớt hải van xin:
– Lạy thầy… thầy nói giúp con… thầy làm ơn…
Dưới ánh đèn tôi thấy mặt anh xe tái mét. Những vết răn in sâu xuống trên mặt già nua hốc hác, chân tay người khốn nạn ấy run bật lên và tôi thấy cái rung động chuyển cả vào chiếc thân xe.
Người cảnh sát tây đến, nói bằng tiếng ta hơi sõi:
– Mày chết nhé! Mày sẽ bị phạt!
Người phu xe ấp úng nói thì ông ta khoát tay bảo im, rồi quay lại tôi hỏi, lần này bằng tiếng Pháp.
– Người này kéo ông từ trong phố ra hay ông đi khứ hồi?
Tôi liếc mắt nhìn anh kéo xe. Trong bóng tối của vành nón qua ngang mặt, tôi thấy hai mắt anh ta long lanh nhìn tôi, như khẩn cầu van xin yên lặng. Tôi biết lời nói của tôi sẽ làm anh ta bị bắt hay không. Những khi nói chuyện với các phu xe khác, tôi được biết rằng nếu người khách nói là đi khứ hồi từ ngoại ô, thì người xe không việc gì. Nhưng lúc ấy, lời van xin của anh xe kia không làm cho tôi động lòng, mà lại làm cho tôi ghét anh thêm. Tôi trả lời người đội xếp:
– Tôi đi từ phố hàng Bún.
– Vậy phiền ông xuống xe.

Rồi anh ta nhìn anh phu xe, cười một cách tinh quái:
– Allez! Đi về bót!
Khi anh phu xe run sợ và hai người cảnh sát đã khuất đầu phố, tôi mới quay đi thong thả trên bờ hè. Cơn giận của tôi đã hết rồi. Sự hối hận dần thấm thía vào lòng tôi, tôi thấy một cái chán nản bực tức rung động trong người.
Tôi rung mình nghĩ đến số phận của anh xe khốn nạn. Ba đồng bạc phạt! Anh ta phải vay cai xe để nộp phạt; nhưng ba đồng bạc nợ ấy, bao giờ anh ta trả xong, sau những ngày nhịn đói, bị cai xe hành hạ, đánh đập vì thù hằn?
Tôi càng nghĩ đến bao nhiêu lại càng khinh bỉ tôi bấy nhiêu. Qua ô Yên Phụ, nhìn thấy những thợ thuyền tấp nập làm việc dưới ánh đèn trong những căn nhà lá lụp xụp, tôi rảo bước đi mau, hình như trông thấy tôi họ sẽ biết cái hành vi khốn nạn và nhỏ nhen đáng bỉ của tôi ban nãy.
Những ngày hôm sau thực là những ngày khổ cho tôi. Lòng hối hận không để tôi yên. Hình như có một cái gì nặng nề đè nén trên ngực làm cho tôi khó thở, và lúc nào hình ảnh anh phu xe cũng hiển hiện ra trước mắt.
Tôi nhất đinh đem tiền đến cho người xe kia để chuộc tội lỗi của mình. Đến phố hàng Bột hỏi dò những người chung quanh xưởng xe, tôi biết được anh xe bị phạt đêm hôm ấy là tên Dư, và ở trong một dãy nhà quá ngã tư Khâm Thiên.
Lần ấy là lần đầu tôi bước vào một chỗ nghèo nàn, khổ sở như thế. Các anh thử tưởng tượng một dãy nhà lụp xụp và thấp lè tè, xiêu vẹo trên bờ một cái đầm mà nước đen và hôi hám tràn cả vào đến thềm nhà. Trong cái hang tối tăm bẩn thỉu ấy, sống một đời khốn nạn những người gầy gò, rách rưới như những người trong một cơn mê.

Người phu xe Dư ở trong ấy. Một bà cụ già gầy giơ xương ngồi cắn chấy ở vệ hè chỉ cho tôi một cái cửa thấp bé ở đầu nhà. Tôi cúi mình bước vào, chỉ thấy tối như bưng lấy mắt và thấy hơi ẩm lạnh thấm vào tận trong mình. Có tiếng người đàn bà khẽ hỏi:
– Bẩm thầy muốn gì?
Khi mắt mắt đã quen tối, tôi nhận thấy người đàn bà vừa hỏi, một bà già ở mép một chiếc giường tre mục nát kê ở sát tường. Sau lưng bà này, một người đàn bà nữa ngồi ôm trong lòng một vật gì hơi động đậy. Cả hai cùng ngước mắt lên nhìn tôi một cách ngạc nhiên và đầu họ chạm vào mái nhà thấp, đầy những mảng giẻ rách nát vắt trên xà.
– Bác Dư có nhà không?
– Bẩm, chú nó đi về quê vắng từ hôm nọ.
Một vẻ sợ hãi thoáng qua trên mặt đủ tỏ cho tôi biết họ không nói thật, tôi giảng giải:
– Không, cụ cứ nói thật cho tôi biết. Tôi đến để giúp bác ta chứ không có ý gì khác.
Bà cụ nhìn tôi nghĩ ngợi một lát rồi nói:
– Thế thầy đã biết việc chú nó bị bắt xe hôm nọ?
Tôi gật đầu ra hiệu cho bà cụ cứ nói:
– Hôm ấy cai nó phải đem tiền lên nộp phạt để chuộc xe về. Chú nó đã xin khất với cai để rồi trả dần số tiền đó. Nhưng nó nhất định không nghe, bắt phải trả một nửa ngay. Khốn nạn, thì lấy đâu ra mà trả. Thế là bị nó lột quần áo đánh một trận thừa sống thiếu chết thầy ạ. Khi về đây lê đi không đuợc nữa. Thế mà nó còn bắt mai phải trả ngay.
Người đàn bà ngồi trong cất tiếng ốm yếu nói theo:
– Nó còn bảo hễ không trả nó sẽ bắt lấy thẻ.
– Thế bây giờ bác ta đâu?
Bà cụ trả lời:
– Đi ngay từ hôm ấy, mà không biết đi đâu. Đã ba hôm nay chúng tôi dò mà không thấy. Chắc là sợ cai không dám về nữa, dù có về mà không có tiền cũng chết với nó. Thật cũng là cái vạ, nghe đâu chú nó nói hôm ấy tại người khách đi xe không biết nói với người đội xếp thế nào mới bị bắt, chứ không cũng chẳng việc gì.
Tôi yên lặng, trong lòng náo nức.
Bà cụ chép miệng, chỉ người đàn bà ngồi sau:
– Tội cho vợ con chú đây, ốm đã mấy ngày hôm nay không có thuốc. Đứa cháu không biết có qua khỏi được không?
Tôi đứng lại gần xem. Trên cánh tay người mẹ, chỉ còn là một dúm thịt con đã nhăn nheo: đứa bé há hốc miệng thở ra, măt xám nhợt. Người mẹ thỉnh thỏang lấy cái lông gà dúng vào chén mật ong để bên cạnh, phết lên lưỡi của đứa bé.
– Cháu nó sài đã hơn một tháng nay. Hôm nọ đã đỡ. Mấy hôm nay vì không có tiền mua thuốc lại tăng. Ông lang bảo cháu khó qua khỏi được.
Người mẹ nói xong nấc lên một tiếng rồi nức nở khóc. Bà cụ già lê nhích lại gần, cúi xuống khe khẽ kéo lại những cái tã rách như xơ mướp.

Cái cảnh đau thương ấy làm tôi rơm rướm nước mắt. Một cảm giác nghẹn ngào đưa lên chẹn lấy cổ. Tôi lấy tờ giấy bạc năm đồng đưa cho người mẹ, rồi vội vàng bước ra cửa, để mặc hai người nhìn theo ngờ vực.
Qua ngưỡng cửa, tôi va phải một người đàn ông ốm yếu tay cắp một cái áo quan con bằng gỗ mới. Đến bên đường, tôi nghe thấy trong căn nhà lụp xụp đưa ra tiếng khóc của hai người đàn bà.

Đứa bé con đã chết.

Anh Thanh lặng yên một lát như nghĩ ngợi, rồi nói tiếp:
– Cái kỷ niệm buồn rầu ấy cứ theo đuổi tôi mãi mãi đến bây giờ, rõ rệt như các việc mới xảy ra hôm qua. Sự đó nhắc cho tôi nhớ rằng người ta có thể tàn ác một cách dễ dàng. Và mỗi lần tôi nghĩ đến anh phu xe ngoại ô kia, lại thấy đau đớn trong lòng, như có một vết thương chưa khỏi.

Thạch Lam

__._,_.___

Hits: 16

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Chiếc vòng của Mẹ

Tại một ngôi trường tiểu học trong một thị trấn nhỏ ở Hoa Kỳ hôm nay là ngày đầu tiên khai giảng cho năm học mới. Cô Thompson là giáo viên phụ trách dạy lớp Năm. Cô giáo đứng trước các học sinh trong lớp học của mình và tương tự như các giáo viên khác, cô cũng nhìn khắp lượt vào các em học sinh và nói là cô sẽ thương yêu tất cả các học trò của cô như nhau, không có sự phân biệt nào cả. Cô đã nói với các đứa trẻ này điều đó, một điều mà cô tự biết là không thật lòng và cô biết là mình sẽ không thực hiện được.

     Lý do không thể thực hiện đươc bởi vì cô đã nhìn thấy ngồi lù lù ngay dãy bàn học ở hàng đầu trong lớp là cậu Teddy Stoddard. Năm ngoái cô đã từng lưu ý tới cậu học trò nhỏ này và nhận thấy cậu ta thường chơi với đám bạn cùng lớp không được đàng hoàng. Teddy có vẻ không được ai ưa thích cả. Đã thế ăn mặc áo quần thì luộm thuộm lại thêm thân người không được sạch sẽ có lẽ vì lười biếng trong chuyện tắm rửa. Trong hồ sơ học bạ của Teddy vào năm ngoái cô Thompson còn ghi chú bằng bút đỏ, viết một chữ thập X rõ đậm nét vào đó. Rồi cô còn ghi thêm một chữ thật lớn nữa là F, hạng kém ngay phần phía trên đầu tờ giấy.

 

     Ở trường tiểu học của cô Thompson ở thị trấn này thì theo thông lệ vào mỗi đầu năm học các giáo viên đều phải xem lại quá trình học tập của từng học sinh trong những năm trước đó. Cô giáo Thompson đã nhét hồ sơ của Teddy xuống cuối cùng mới mở ra xem. Tuy thế khi đọc hồ sơ xong thì cô lại tỏ ra rất là ngạc nhiên.

     Trong hồ sơ, cô giáo dạy lớp Một đã đưa ra nhận xét rằng “Teddy là một học sinh thông minh và cười luôn miệng. Học giỏi và tính tình dễ thương… thường đem lại nguồn vui cho mọi người xung quanh”.

     Cô giáo dạy lớp Hai thời ghi rằng: “Teddy là một học sinh xuất sắc. Được cảm tình của các bạn bè học cùng lớp. Em đang lo âu vì bà mẹ bị đau ốm nặng sắp chết và cuộc sống gia đình của em thật sự quả là một sự phấn đấu”.

     Cô giáo phụ trách lớp Ba thì lại viết rằng: “Cái chết của mẹ Teddy đã gây ra khó khăn cho em. Tuy em đã cố gắng học hành, nhưng Bố em thì lại tỏ ra không quan tâm. Nếu em không được trợ giúp thì đời sống gia đình sẽ sớm ảnh hưởng đến em”.

     Cô giáo lớp Tư ghi: “Teddy tỏ ra lơ đãng, thiếu quan tâm, không hăng hái trong việc học tập. Cũng không có nhiều bạn bè. Thỉnh thoảng em còn ngủ gục trong lớp”.

     Cô giáo viên Thompson của lớp Năm đọc hồ sơ đến đây thì cô bỗng như nhận thức được ra vấn đề và cô cảm thấy tự hổ thẹn cho chính bản thân mình.

     Trong mùa Giáng Sinh giáo viên Thompson được đám học trò trong lớp đưa tặng quà. Những món quà này đều được bọc lại bằng giấy đủ màu sắc và có gắn thêm nơ thật đẹp. Cô rất áy náy khi nhận món quà của Teddy vì món quà của em thì lại gói vụng về bằng loại giấy màu nâu thường được dùng để gói thực phẩm. Khi mở gói quà của Teddy ra cùng lúc với các món quà khác thời cô cảm thấy đau trong lòng. Cô giơ lên cho các học sinh thấy món quà là một chiếc vòng đeo tay đã cũ có gắn kim cương giả, đã rơi mất vài hột và một lọ nước hoa nhỏ chỉ còn lại khoảng một phần tư.

     Có tiếng cười có vẻ chế giễu của vài học sinh trong lớp nhưng những tiếng cười đó đã bị dập tắt luôn khi cô giáo lớn tiếng khen chiếc vòng đeo tay là đẹp và sau đó đeo ngay cái vòng đó vào tay đồng thời lại còn lấy một chút nước hoa trong lọ và bôi lên cổ tay nữa.

     Bữa đó sau giờ tan học, cậu bé Teddy đã ở nán lại một lúc. Cậu lên cạnh bàn cô giáo và khẽ thưa rằng: “Thưa cô, hôm nay con thấy cô cũng thơm y như Mẹ con thời trước vậy đó!”

     Lúc các học sinh ra khỏi lớp và đã đi về hết, cô giáo viên Thompson ngồi lại một mình, khóc gần cả tiếng đồng hồ. Từ dạo ấy, cô giáo không còn đơn thuần chỉ dạy các môn Toán, dạy Văn và dạy viết lách cho đám học sinh, mà cô còn bắt đầu lưu tâm tới việc “giáo dục” lũ trẻ nữa. Cô khởi sự giảng giải cho các em về cuộc sống. Cô dạy dỗ bọn trẻ. Cô đã không giảng những bài như thường lệ trước kia nữa. Cô bỏ qua những bài tập viết và cả môn số học.

     Từ dạo đó, cậu Teddy như đuợc hồi sinh. Em càng ngày càng học giỏi hơn thêm. Và chẳng mấy chốc em đã trở thành một trong những học sinh xuất sắc của lớp vào cuối năm học đó. Cũng chính ngay từ hôm đó, ngoài việc dạy học cô giáo Thompson còn đặc biệt lưu tâm chăm sóc cho Teddy. Mỗi khi được cô giáo chỉ dẫn thêm hình như em lại càng lên tinh thần. Cô giáo càng khuyến khích, em càng tiến bộ nhanh lên thêm nữa.

     Kết quả là vào cuối năm học, Teddy đã trở thành một trong những học sinh xuất sắc nhất lớp. Và quả đúng như trái ngược với lời nói không chân thật của cô lúc đầu năm học là cô sẽ yêu thương mọi em học sinh như nhau, Teddy giờ đây đã trở thành một trong những học trò được cô giáo cưng nhất.

     Một năm trôi qua. Cô giáo nhận được một mẩu giấy của Teddy nhét dưới khe cửa. Trong giấy em thưa với cô rằng: “Cô là cô giáo tuyệt vời nhất trong suốt cuộc đời của em”.

     Sáu năm trời trôi qua sau đó. Cô giáo lại nhận được một bức thư ngắn của Teddy gửi tới. Trong thư em cho biết là em đã học xong bậc trung học và đuợc xếp hạng đứng thứ ba trong lớp. Em viết rằng: “Cô vẫn là cô giáo tuyệt vời nhất trong suốt cuộc đời của em.”

     Bốn năm trời nữa lại trôi qua. Cô giáo lại nhận được thêm một lá thư khác của Teddy. Thư nói rằng dù hoàn cảnh nhiều khi gặp trở ngai, đôi lúc tưởng chừng như bế tắc, em vẫn quyết tâm theo học tới cùng, quyết chí mong sao sớm tốt nghiệp được bậc đại học với thứ hạng xuất sắc nhất. Em viết rằng: “Cô vẫn còn là cô giáo tuyệt vời nhất và là người thầy mà em yêu quý nhất trong suốt cả cuộc đời”.

     Rồi thêm bốn năm sau nữa lại trôi qua. Cô giáo vẫn nhận được thư gửi tới. Trong lá thư lần này Teddy báo tin cho cô biết là cậu đã đậu xong văn bằng Cử Nhân. Cậu đang học thêm lên bậc cao nữa. Thư vẫn ghi rằng: “Thưa cô, cô vẫn là người thầy tuyệt vời và trân quý nhất của cuộc đời em!”. Nhưng giờ đây tên của cậu đã dài hơn một chút rồi vì cuối bức thư ký tên là: “Theodore F. Stoddard, bác sỹ”.

     Câu chuyện tới đây vẫn chưa tới hồi kết thúc. Vẫn lại còn một bức thư nữa được gửi đến cho bà giáo Thompson. Trong thư bác sỹ Teddy thưa là anh đã gặp gỡ một cô bạn gái, đôi bên tâm đầu ý hợp và anh chuẩn bị làm đám cưới với cô ta. Anh cho biết Mẹ anh thì qua đời đã lâu, còn ông Bố lại mới vừa chết cách đây mấy năm nên anh thiết tha mong bà giáo Thompson sẽ nhận lời đến tham dự lễ cưới của anh và sẽ ngồi ở vị trí danh dự vốn thường hay được dành riêng cho Mẹ chú rể.

 

     Tất nhiên là bà giáo Thompson chấp thuận đề nghị này. Ngày cưới hôm đó bà giáo đeo chiếc vòng kim cương giả, cái vòng đã bị rớt mất vài hột mà ngày xưa cậu học trò nhỏ đã biếu làm quà tặng. Hơn nữa bà giáo còn cố tình bôi thêm một chút nước hoa trong cái lọ nhỏ, cũng vẫn là quà tặng thuở xa xưa. Cái loại nước hoa này tỏa mùi thơm thoang thoảng mà Teddy nói là Mẹ cậu đã bôi vào lễ Giáng Sinh cuối cùng của hai mẹ con trước khi Mẹ từ giã cõi đời.

 

     Anh bác sỹ trẻ và bà giáo Thompson ôm nhau mừng rỡ. Bác sỹ Stoddard khẽ nói thầm vào tai bà Thompson: “Cám ơn cô Thompson đã có lòng tin tưởng vào nơi em. Cám ơn cô rất nhiều vì cô đã làm cho em cảm thấy mình quan trọng. Chính nhờ cô mà em có niềm tự tin rằng bản thân mình sẽ có thể đổi khác. Chính niềm tin đó đã tạo ra sự khác biệt lớn lao giúp em thay đổi cả cuộc đờinhư ngày nay.”  

     Bà Thompson vừa đầm đìa giọt lệ vừa nói nhỏ với chú rể:“Teddy, em lầm rồi. Chính em mới là người đã dạy cho tôi biết rằng tôi đã có thể đổi khác đi. Tôi đã không biết cách dạy học cho tới khi được gặp em đó. Chính nhờ gặp em, tôi mới biết thế nào là “giáo dục”.

 

(Tâm Minh Ngô Tằng Giao phóng tác)

Hits: 47

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Con Gái của Người Ta

Với bài viết tựa đề “Viện Dưỡng lão và Viện Mồ Côi”, Trần Thiện Phi Hùng có tên trong danh sách nhận giải đặc biệt Viết Về Nước Mỹ 2013. Tác giả cho biết ông nguyên là lính Hải Quân VNCH; 12 năm 4 tháng đúng, tính đến ngày 30 tháng Tư 75, tự lái tầu vượt biển năm 1982, hiện định cư tại Úc. Bài mơi nhất của ông, vẫn với chi tiết về nhà hộ sinh và viện dưỡng lão như từng kể, nhưng gần như quay một vòng 360 độ, biến thành một câu chuyện khác hẳn.
* * *

Tiệc rửa lon trung úy của tôi chung với tiệc đầy tháng của con gái tôi và “con gái của người ta”.

Con gái của người ta sau 24 giờ sinh ra đã trở thành con gái của tôi và chỉ sinh sau con gái của tôi có 4 giờ tại Bảo Sinh Viện Quân Đội Thành phố Nha Trang năm 1972. Mẹ của nó còn trẻ lắm nhưng lanh lợi sành đời. Cô ta sinh xong mạnh khỏe đi đứng bình thường chứ không nằm liệt như bà vợ tôi. Cô ta nói với vợ tôi cô ta là vợ của một Trung úy Biệt Kích. Anh ta ít khi về nhà và công tác ở đâu không bao giờ nói. Cô ta đi làm sỡ Mỹ ở Chu Lai vì sinh kế sao đó nên nhảy dù với Mỹ. Tai nạn có thai ngoài ý muốn nhưng không biết con của Chồng hay của Mỹ nên cứ sinh xong rồi tính. Con chồng thì để nuôi; con Mỹ thì cho.

Nghe vợ nói lại, tôi sang phòng cô ta gõ cửa xin vào xem đứa nhỏ ra sao. Trong bóng đèn mờ của căn phòng, con bé nằm bó mình trong khăn lông; chỉ lòi cái mặt da trắng đỏ và cái miệng nhỏ xíu hai môi như chu ra làm tôi nghĩ ngay con bé nầy chắc sau nầy hỗn lắm! Tôi không nói gì với cô ta mà về phòng bảo bà vợ tôi:

– Mình xin Con Bé nuôi luôn nhen Em ?

– Làm sau đũ sữa cho 2 đứa? Thiên hạ nói bậy bạ làm sau chịu nổi?

– Cho uống sữa bò; Anh mướn thêm người giúp việc nửa cho em.

– Tùy anh.

Thế là thủ tục Xin của Tôi và đồng ý cho con do cô ta viết được đưa cho Cô Mụ; nhưng sáng hôm sau thì cô ta đã rời khỏi bệnh viện, bỏ con lại mà thủ tục chưa hoàn tất. Ban Xã hội Quân đội cũng dễ dàng hoàn tất nốt thủ tục nhận con nuôi mà làm khai sinh giống như thủ tục khai sinh của con gái của tôi. Đây có lẽ là trường hợp hy hữu một đứa trẽ Lai Mỹ mà khai sinh do hai vợ chồng là người miền Đông và Tây Nam Việt Nam coi như sinh ra. (rất tiếc trong cơn biến loạn di tản năm 75 tất cả hình ảnh đều mất hết. Trong tiệc đầy tháng; 2 đứa bé như cặp song sinh; nhưng một Việt một Mỹ đẹp như thiên thần!); nhưng mà khổ cho thân tôi! Hai đứa trẻ đứa nào cũng đòi bồng một lúc. Đứa trên lưng thì đứa kia phải bế trên tay. Lưng Tôi bị thoái hóa cột sống năm 2000 có lẽ cũng vì hai đứa con ngày một lớn dần mà cứ phải thay đổi đứa trên lưng đứa trên tay mấy năm.

Tháng Tư đen 1975, tôi bị rã ngũ. Tôi không thể về quê ngoại như ước muốn sống ở Rừng Dừa năm xưa vì nay B52 cày nát thành bình địa. Tôi muốn phá hoang trồng lại; nhưng phải trình diện vào tù cải tạo. Một tháng trôi qua, rồi một năm, rồi năm nữa..! Vợ không thấy đi thăm mà con cũng không bao giờ được gặp mặt. Mỗi tháng chỉ có Mẹ tôi được 15 phút thăm nuôi. Hỏi gì mẹ tôi cũng nói tất cả bình an; các con ngoan và khỏe mạnh. Tôi lúc nào cũng nhờ Mẹ lưu tâm cho Thùy An, tên đứa Con Lai Mỹ. Chắc là Nó bị kỳ thị ở trường học và sống với mọi người sẽ rất khó khăn! Mẹ tôi nói con khỏi lo. Nó sống rất tốt học rất giỏi nên được Thầy Cô và bạn bè quí mến. Mẹ tôi lúc nào cũng né tránh khi tôi hỏi đến vợ và con gái của tôi, Thanh An. Tôi đoán có lẽ chuyện gì không tốt đã xảy ra nhưng đành bó tay không biết hỏi ai!

Bốn năm sau tôi được ra tù. Con gái mang 2 dòng máu ôm tôi khóc như mưa; nhưng con gái và vợ tôi thì không thấy đâu nữa. Tôi đoán biết chuyện không hay nên cũng không hỏi mẹ. Cơm chiều xong, con gái xin tôi:

– Ba cho con ngủ chung với Ba đêm nay?

– Ngày thường con ngủ một mình?

– Không Con ngủ với Bà Nội.

– Ừ! nếu con muốn.

Con bé thỏ thẻ kể hết cho tôi nghe. Ba đi rồi mấy tháng sau má dẫn Chị Hai đi với Má về thăm Ngọai mà không cho con đi và từ đó không về nữa. Con hỏi Nội Má con chừng nào về? Nội nói Nội không biết.

Một năm trôi qua; tính ra tôi đi làm “lao động xã hội chủ nghĩa” có nghĩa “ăn cơm nhà làm lao động nặng không công” khoảng hơn 3 tháng. Đào kinh, đắp đường, gánh lúa thuê…v.v.. Cạnh đó là làm thuê, làm mướn đi lao động thay cho người trả tiền để khỏi đi. Tôi hết thời gian quản chế một năm, làm phó thường dân, rồi được đề cử làm Đại Đội trưởng Lao động; chuyên đi kêu người đi lao đông. Ai thấy mặt tôi đến thăm là biết phải cơm gạo nhà đem đi làm không công mấy ngày hay nửa tháng.

Thời chinh chiến; tiền lương của 3 đứa con cho Mẹ, mẹ tôi xài tiện tặn có dư, hễ đủ 1 chỉ thì mua 1 chỉ vàng y; đủ 10 chỉ thì đổi thành 1 lượng. nhét kẹt giường, đào nền nhà, tủ làm 2 nóc để cất vàng. Con thất thế sa cơ Mẹ bán vàng nuôi con. Mẹ cho con vàng để vượt biên.

Năm 1982, tôi và em gái tôi vượt biên. Con gái của tôi nhứt định Ba đâu con ở đó; Con không sợ chết. Con chỉ sợ phải xa Ba! Tôi lái tàu ra khơi lần cuối cùng để một là chết, hai là được thật sự tự do. Tôi thành công sang bến bờ tự do. Con gái tôi bắt đầu vào Trung học; có lẽ nhờ cái máu Mỹ của nó hay sao mà chỉ mấy tháng thì nó nói tiếng Mỹ như súng liên thanh; cứ có dịp là đeo bên tay Cha khi đi chợ hay đi ăn nhà hàng hay có đám tiệc…. Hình ảnh một ông già Việt Nam có một cô gái hoàn toàn Mỹ không thấy có gì lai đeo theo một bên và nhõng nhẽo thì chắc chưa có ai bằng. Tối ngày gặp mặt gọi Daddy; không thấy mặt thì daddy, Ba đâu rồi. Tôi vui với con gái của người ta và là nguồn an ủi cho tôi vui sống. Tôi làm công nhân cho hãng làm phụ tùng xe hơi, lương cũng dư sức nuôi con lên đại học và mua nhà trả góp. Phải mất 5 năm tôi mới trả hết nợ nhà. Năm 1995 con gái tôi thành y sĩ nhãn khoa và có việc làm ngay. Ngày làm lễ Mãn khóa; cầm mảnh bằng trên tay, con gái ôm tôi khóc như chưa bao giờ khóc như thế. Tôi bảo:

– Con vui mừng sao lại khóc dữ thế?

– Cám ơn; Con cám ơn Daddy nhiều lắm; Con đang nghĩ không biết có bao nhiêu ngàn hay chục ngàn đứa trẻ bị cha mẹ bỏ rơi mà có bằng Đại học như con. Con thương Daddy nhiều lắm.

– Daddy cũng cám ơn Con; nhờ có con mà cuộc sống của Ba mới có ý nghĩa mà vui sống tiếp bấy lâu nay.

Hai Cha Con dị chủng ôm nhau cùng khóc.

Bạn bè của con biết thì không có gì lạ về sự khắng khích của Hai Cha Con Việt Mỹ nầy; nhưng những người xa lạ thì hiếu kỳ nghĩ suy lung tung nhưng không thể nào ra được đáp án. Cha Việt sao con Mỹ mà không có chút gì là dáng vẻ Việt Nam.

Tôi đi làm đem cơm theo ăn nay làm thêm phần cho con gái. Lương của con gái đưa hết cho tôi và chỉ lấy 100 bạc để đổ xăng và ăn quà vặt. Khi cần mua sắm gì thì nói xin. Tôi từ chối cách nào cũng không được nên mỡ một sổ bank riêng bỏ hết tiền của con gái đưa để khi nó cần đưa lại cho nó. Hai năm sau, em Gái của tôi bán 2 cái nhà cũ để mua cái nhà lớn hơn, tôi bảo con gái vay tiền ngân hàng mua cả 2 cái. Vì không vay được một lúc gần nửa triệu bạc nên tôi dùng cái nhà tôi để thế chấp vay mua 2 cái nhà cho con gái đứng tên và cho mướn.

20 năm trôi qua nhanh. Lưng của tôi bị thoái hóa cột sống nên đau càng ngày càng nhiều. Chân tôi bắt đầu bị tê. Lái xe lúc nào chân cũng phải nhịp nhịp thử coi còn hoạt động được hay không; nhỡ bị tê khi cần thắng mà không xử dụng được thì nguy to. Tinh thần tôi bị hoảng loạn khi nghĩ đến lúc không cữ động được tay chân bởi dây thần kinh bị gai xương sống ép nên không hoạt động được. Mổ xương sống thì xác xuất rủi ro khá cao; nên khi còn gượng đi đừng được tôi không chịu mổ để cắt gai cột sống. Con gái thì đeo theo một bên ít đi chơi ít giao thiệp với bạn bè. Đi làm về là quanh quẩn bên Cha làm tôi thêm lo lắng.

– Sao Con không có bạn trai? Con lập gia đình cho ba yên tâm!

– Ai bảo Ba con không có bạn trai. Bạn trai của con đang ghi tên học tiếng Việt; bao giờ nói được tiếng Việt con sẽ đem về ra mắt Ba. Anh ta người Đức nhưng sinh trưởng ở đây và chịu điều kiện phải sống chung với Ba suốt đời; nhưng con thêm điều kiện phải nói được những câu thông dụng tiếng Việt Nam.

– Ba nói tiếng Anh cũng tạm hiểu được mà Con.

Nhưng con muốn con của con sau nầy phải nói được tiếng Việt, nên anh ta ghi tên học một năm tiếng Việt ở Đại học Victoria.

Tuổi 60 cũng đúng lúc tôi được phép về hưu vì là cựu quân nhân nên sớm hơn dân sự 5 năm. Con Gái thì hối thúc Ba nghỉ việc đi; tiền hưu Ba đủ sức tiêu dùng; nếu có cần mua gì hay đi đâu con lo cho ba được.

Tôi xin nghỉ việc về hưu. Sáng nào 5.30AM cũng đi bơi để chữa trị bệnh đau lưng. Con gái cũng đi theo. Sáng nào hai cha con xe ai nấy lái đến hồ bơi. Con tập Gym, cha thì Bơi. Con gái đem quần áo uniform thay đi làm luôn.

Một hôm con gái tôi nói:

– Ngày mai con không đi làm; Ba có muốn con chở Ba đi thăm Bác Hoàn không? Con nghe con gái của Bác nói Bác đã bị đưa vào Viện Dưỡng lão tuần rồi.

– Sau con lại dùng chữ “bị”? Chẵng lẽ Bác Hoàn không muốn vào Nursing home mà bị bắt buộc vào hay sao?

– Bác Hoàn bị stroke té; xe cấp cứu đem vào nhà thương; Bác bị méo mặt và miệng không nói được nên các con của Bác xin Bác sĩ cho vào Viện Dưỡng lão; vì nếu về nhà sau nầy xin vào thì Bộ Y tế sẽ check sức khỏe và trí nhớ khó khăn lắm mới được chấp nhận nên để nhà Thương quyết định thì khỏi phải check gì hết!

– Bác chỉ hơn Ba có 2 tuổi và trí nhớ còn tốt lắm mà! Ừ! Ba với con đi thăm Bác kẻo tội nghiệp; hơn nữa mai mốt Ba có vào sẽ có người thăm lại ba.

– Không bao giờ có chuyện đó Ba đừng mơ; Con không bao giờ gởi Ba vô Viện Dưỡng Lão đâu. Con tập Gym để đủ sức bồng Ba khi Ba cần đến; Con cũng chọn chồng lớn con để phụ với Con. Ba xài Computer và Internet thường xuyên, trí nhớ của ba sẽ không bị Dementia hay Alzheimer.

– Cám ơn con; nhưng con còn công việc và cuộc sống của riêng con.

– Viện Mồ Côi không dành cho con thì Viện Dưỡng Lão cũng không dành cho ba.

– Con nhớ mua trái cây biếu Bác; nhớ đừng mua bánh ngọt vì Bác ấy cử ăn đường.

Hai cha con tôi vào Viện Dưỡng Lão Cửu Long vừa sau giờ ăn sáng; nên gặp Bác Hoàn ngay phòng ăn. Mặt và miệng của Bác Hoàn trở lại gần bình thường và giọng nói tuy có biến giọng nhưng vẫn còn nghe rõ lắm. Bác bắt tay tôi coi vẻ mừng và cảm động lắm nhưng hai mắt lệ ứ tròng. Con gái tôi lúc nào đi với tôi đều là mục tiêu để nhiều người chú ý và tò mò muốn biết về Cha Con Viêt Mỹ nầy. Hơn nữa vẻ trìu mến và lúc nào cũng như nhõng nhẽo với cha từ lúc còn bé thành thói quen làm mọi người càng chú ý hơn. Thăm Bác Hoàn khoảng một tiếng sau hai cha con xin phép ra về. Con gái tôi lái xe ghé Chợ và nói:

– Con đãi ba ăn bún bò Huế.

– Ừ! ăn thì ăn.

Con gái mở cửa cho tôi và kéo ghế cho tôi ngồi; gần như ai cũng quay ngó chúng tôi. Cô bé chạy bàn thì quen quá với cha con tôi vì nhiều lần ăn ở quán nầy.

– 2 tô bún bò Huế phải không Chú?

– Ờ! Cháu cho Chú 2 tô.

Con gái mở cái xách tay của nó ra; mà nó đổi cái xách tay lớn hơn hồi nào tôi không để ý. Nó kéo ra một bịch nylon và kéo Rau kinh giới ra. Nó để rau kinh giới tím qua một bên và nói:

– Cái nầy của Daddy.

Rồi kéo mớ khác là kinh giới xanh và nói:

– Cái nầy của con.

Ông ngồi bàn gần kế bên quay sang

– Cô Tây nầy sau nói tiếng Việt rành quá và rành ăn bún bò Huế hơn cả người Việt Nam!

– Nó là người Việt Nam chứ không phải Tây. Nó chê rau kinh giới tím ăn nồng quá mà tôi thì thích kinh giới tím hơn nên nó hái riêng hai loại cho cha con chúng tôi.

– Cô ta là Dâu của Anh?

– Không. Nó là con gái của tôi.

– Hai tô bún bò Huế được bưng ra; cuộc đàm thoại ngưng tại đây và có lẽ ai cũng liếc mắt xem khi cô Tây 100% vắt chanh và ngắt từng cọng rau bỏ vào tô cho cha. Tôi hãnh diện là đã không lầm khi bỏ công bao năm cơ cực nuôi “con của người ta.”

Về tới nhà chưa kịp thay quần áo thì điện thoại reo. Bạn Hoàn, người tôi vừa đi thăm, phone cho tôi từ Viện Dưỡng Lão.

– Anh mới về tới nhà phải không? Hồi nãy tôi gọi không ai bốc phone. Sau khi Anh về rồi có một Bà trong Viện dưỡng lão này hỏi anh có phải Hải Quân hay không và đứa con gái Mỹ đi theo Anh là con của Anh? Bà ta nói là người quen của Anh ở Nha Trang khi xưa; muốn xin số phone của Anh, nên tôi hỏi Anh trước. Có phải nhân tình cũ ngày xưa hay không? Nếu phải thì vào gặp gấp đi; dễ gì xa xứ gặp cố tri!

– Ừ! Thì Anh cứ cho; có sao đâu. Bốn mươi mấy năm rồi làm sao ai còn nhớ được ai!

Một ý nghĩ thoáng qua trong óc tôi: Không lẽ là Mẹ ruột của con gái của tôi? Chứ nếu bà ta là người vợ bỏ tôi ngày nào thì chắc chúng tôi phải nhìn nhau, chứ chẳng lẽ tình chồng vợ sống với nhau 5 năm mà nhìn nhau không ra! Nhưng nếu là mẹ ruột của con gái của tôi, tôi phải làm sao đây, vì dù sao cũng là… “Con gái của người ta”.

Trần Thiện Phi Hùng

Hits: 74

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin