Category Archives: VĂN

Chung Tình

Trong câu chuyện 35 năm nhìn lại, chúng tôi ghi được biết bao nhiêu sự kiện và nhân vật. Tài liệu thì nhiều, với một chút chủ quan và tình cảm riêng tư, chỉ có thể viết lại một số hết sức hạn chế. Tuy nhiên cũng đủ thể hiện được những câu chuyện tiêu biểu qua nhiều lãnh vực. Những sinh hoạt cộng đồng, gương hy sinh, những giây phút bên nhau trong tình quê hương, trong tình bằng hữu và tình nghĩa đấu tranh.
Nhưng xem đi xem lại, chúng tôi còn thiếu một đề tài rất quan trọng của cả một đoạn trường.  Một đề tài vượt thời gian, vượt không gian, vượt biên giới của thù nghịch, ra ngoài khuôn khổ của chính trị.  Đó là chuyện tình.
Vì vậy xin kể một chuyện tình rất bình dị, bắt đầu từ sân trường trung học Vũng Tàu qua đến đại học của một thành phố Sài Gòn đổi tên.  Chuyện vượt biên bất thành, rồi 10 năm đợi chờ ODP.  Câu chuyện một thanh niên xây dựng lại sự nghiệp bằng công việc bán vé số đầu đường ở Việt Nam cho đến lúc đi bỏ báo tại San Jose. Sau cùng, trở thành một chuyên gia có chút công danh và sự nghiệp trên quê hương mới.  Nhưng điều quan trọng nhất là trước sau anh chỉ có một mối tình.  Một gia đình biết bao nhiêu nghịch cảnh.  Một gia đình bất toàn vẫn còn mang nặng khó khăn có thể cho đến lúc mãn chiều xế bóng.  Một mối tình học trò đầy thử thách nhưng luôn luôn lạc quan và sau cùng phải được gọi là hết sức chung thủy. Phải chăng trong suốt cuộc chiến Việt Nam hơn 20 năm cộng với 30 năm hậu chiến tù đày, di tản, tỵ nạn, chúng ta thường quên trong văn tự Việt Nam vẫn còn hai chữ Chung tình.
Sau 35 nhìn lại, xin gởi đến quý vị câu chuyện tình:
Em còn nhớ hay em đã quên. Luôn luôn anh vẫn là kẻ chung tình.
blank Đôi mắt huyền diệu
Chuyện rất giản dị và gần gũi với cuộc sống của chúng ta.  Mở trang quảng cáo của một văn phòng nha sĩ trên Việt Tribune chúng ta thường thấy hình màu của một phụ nữ với hàm răng xinh đẹp.  Nhưng ai cũng cho rằng đôi mắt của cô mới thật huyền diệu.  Chính người chồng bác sĩ nha khoa đã đem hết tài nghề của một thời chụp hình dạo trên bãi biển Vũng Tàu để tô điểm bức hình quảng cáo cho văn phòng của mình.  Đôi mắt đẹp đẽ và huyền diệu của người vợ bây giờ thực sự chỉ nhìn thấy những hình ảnh rất mờ nhạt của cuộc đời.  Mãi mãi cô chỉ còn ghi nhận được chân dung lần cuối của người chồng vào đầu thập niên 90.
Suốt bao năm qua, từ lúc gia đình đến San Jose, cô chỉ còn nghe mỗi ngày tiếng nói của anh với hình ảnh của người yêu lờ mờ sương khói.  Cô không phải là người khiếm thị từ lúc sơ sinh.  Phải sau 2 năm đại học, sống với tình yêu rồi mắt cô mờ dần và trong tim không còn hình ảnh của ai khác nữa.  Chỉ còn hình ảnh một người.  Khi mới bước chân vào đại học, Mai đã cảm thấy đôi mắt mang mầm bệnh, nhưng vẫn còn hy vọng ở nền y khoa tiến bộ.  Vẫn cố gắng theo học đồng thời tìm hết cách chữa bệnh.  Cô sống trong hy vọng và sống với tình yêu.
Mối tình học trò, mối tình sinh viên
Sinh trưởng ở Vũng Tàu và cùng học một trường trung học, thời kỳ 60-70 lúc đó là trường công duy nhất. Công Huyền Tôn Nữ Quỳnh Mai là nữ sinh xuất sắc nhất trường.  Trong khi đó cậu Nguyễn Hoàng Tuấn, trong tuổi thiếu niên suốt ngày ham vui với biển xanh và sân cỏ nhưng vẫn nổi tiếng học giỏi trong phía nam sinh.blank
Khi lên lớp 10 cho đến lớp 12 thì nam nữ học chung.  Tuấn bắt đầu để ý đến Quỳnh Mai. Cô Mai có chiếc xe đạp để đi học.  Bài ca tình yêu học trò thường hát ngày nay đã rất hợp với câu chuyện tình ngày xưa.  Hoa Phượng nở đầy trời Vũng Tàu. “Chiếc giỏ xe chở đầy hoa Phượng, em chở mùa hè của tôi đi đâu”.  Một tấm hình cô học trò bé nhỏ dừng xe trò chuyện với bạn trai ốm yếu tong teo, ngày nay đã trở thành di sản quý báu của tình yêu.
Khi cả hai trưởng thành, qua thời trung học 75 là lúc miền Nam đổi đời.
Năm 1979 là khúc quanh của cuộc đời đôi bạn.  Con đường vào đại học Sài Gòn hết sức chông gai, cả miền Nam ai cũng biết câu chuyện học tài, thi lý lịch.  Quỳnh Mai thi vào đại học tổng hợp.  Tuấn thi vào y khoa.  Đối với Tuấn đây là kỳ thi sống chết, vì anh đã có giấy gọi đi nghĩa vụ.  Con đường khổ nạn qua Campuchia đã mở rộng.  Cả 2 gia đình đều không có liên hệ cách mạng nhưng cũng chỉ là thường dân nên lý lịch vẫn được coi là nhẹ.  Vấn đề là bài thi phải hết sức xuất sắc.  May mắn, cả hai đều được tuyển.
Trước ngày đôi trẻ lên đường vào đại học, anh Tuấn chính thức tỏ tình với Quỳnh Mai. Dưới mây trời Vũng Tàu 1979, lời hẹn ước đưa ra.  Đôi ta thề yêu nhau trọn đời. “Yêu ai, yêu cả một đời.”
Tiếp theo 2 năm đại học, so với tuổi trẻ khác cuộc sống của Quỳnh Mai và Tuấn vẫn còn có thể vượt qua những khó khăn về vật chất và tinh thần trong chế độ mới.  Tuy có vất vả nhưng vẫn chưa phải là nỗi đau thương chính của câu chuyện tình.
Khi đôi mắt của Quỳnh Mai cứ mờ dần và cô không còn khả năng học tiếp.  Mai không nhìn thấy chữ trên bảng và đi xe đạp thường bị tai nạn.  Cặp mắt trong sáng linh động, nhưng thực sự cô không còn nhìn thấy gì nữa, nhất là vào buổi tối.  Cuộc sống bắt đầu đi vào con đường chỉ thấy đêm dài một đời.
Cả nhà tìm hết cách chữa bệnh nhưng tại Việt Nam vào thời đó kết quả vô phương.  Sau cùng chỉ còn một con đường duy nhất.  Tuấn dẫn Quỳnh Mai bỏ học để vượt biên.  Mục đích thực sự của chuyến đi không phải là tìm tự do mà là đi tìm ánh sáng cho người yêu. Hy vọng vào nền y khoa tại Hoa Kỳ.
Chuyến vượt biên thất bại.  Tất cả đều bị bắt.  Quỳnh Mai vì khiếm thị nên được thả. Tuấn bị tù 6 tháng.  Cả hai chấm dứt cuộc đời sinh viên.  Đặc biệt đối với Tuấn, giấc mơ tốt nghiệp y khoa tan tành.  Hai người trở lại Vũng Tàu chật vật với cuộc sống ngày càng khó khăn. Quỳnh Mai cố gắng kèm trẻ học Anh văn với cặp mắt khi tỏ khi mờ.  Tuấn bắt đầu đi bán vé số qua ngày.
Mọi người vẫn còn nhớ năm 79 cả Vũng Tàu chỉ có hai người đậu vào y khoa Sài Gòn. Radio đọc tên cậu Tuấn khắp xóm, gia đình hết sức tự hào.  Vì vậy khi có tin Tuấn bị tù, gia đình và bạn bè ai cũng cho rằng bỏ trường y khoa đầy hứa hẹn để đưa người yêu khiếm thị vượt biên là một quyết định nhầm lẫn.
Nhưng làm sao cắt nghĩa được tình yêu.
 
Ông Trời ngó lại
Nhưng Tuấn không phải bán vé số suốt đời. Với số tiền dành dụm, anh mua chịu được 1 máy ảnh và trở thành anh chàng chụp hình dạo ở bãi biển cho các du khách bắt đầu trở lại Việt Nam.
Nghề lại dạy nghề, Tuấn tìm cách làm phòng tối rửa hình và cuộc sống vươn lên từ đó. Khi bắt đầu có đồng ra đồng vào, Tuấn vẫn còn nhớ đến lời hẹn ước với cô Quỳnh Mai và cả hai bắt đầu xây dựng gia đình.  Lễ hỏi và lễ cưới của anh chàng chụp hình với bộ hình kỷ niệm còn đầy đủ.  Rồi đứa con trai đầu tiên ra đời.  Cô vợ trẻ sống bên chồng, nương tựa vào anh đủ cả nghĩa đen và nghĩa bóng.
Vì quá thất vọng với chuyện vượt biên nên cả 2 phía gia đình đều trông cậy vào hồ sơ đoàn tụ do các anh chị bảo lãnh.  Sau 10 năm chờ đợi, 1990 anh thợ chụp hình Vũng Tàu đem vợ con qua Mỹ và định cư tại San Jose.  Bà con ODP ai mà chẳng biết, diện này là diện mồ côi, chính phủ dứt khoát bắt phải 5 năm tự túc.  Gia đình chỉ có thẻ Medicare, bông sữa và một phần Food stamp.
Anh chàng Tuấn lúc đó đã 30 tuổi, Anh ngữ vẫn ở trình độ ESL, giấc mơ học bác sĩ vẫn còn khi ẩn khi hiện.  Nhưng đối diện thực tế nên vẫn phải tìm đường lao động nuôi gia đình.  Một mặt vẫn tìm cách cho vợ đi chữa bệnh, mặt khác phải tìm cách sinh tồn.blank
Những ngày đầu tại Cali, Tuấn làm đủ mọi nghề, từ Taco Bell cho đến Assembly.  Có những buổi sáng sớm lại còn chạy thêm 1 “Rao” báo Mercury News.  Quỳnh Mai vẫn còn nhớ rằng nửa khuya Tuấn đi bỏ báo rồi về ngủ lại một lát, tiếp theo là một ngày dài vừa đi học, vừa đi làm.  Cô rất buồn là không giúp gì được cho chồng.
Đứa con gái thứ nhì ra đời, nhưng cháu lại có bệnh chậm phát triển, không được như đứa con trai đầu lòng, hết sức thông minh và chăm chỉ.  Với hoàn cảnh khó khăn đủ mọi bề, anh Tuấn cố chịu đựng để tìm đường vươn lên.  Sau những năm đầu vất vả, gia đình được chính phủ cho trợ cấp.  Các cán sự Việt Nam thông cảm, Nguyễn Hoàng Tuấn quyết tâm theo đuổi con đường đại học.  Nhưng biết giới hạn của cá nhân và gia đình, Tuấn theo học nha khoa dù sao cũng đỡ vất vả hơn ngành y.
Vào đại học là anh phải bỏ lại “Rao” báo, từ giã Taco Bell và rất hân hoan khi được tin bị lay off từ hãng điện.  Khó khăn mấy rồi cũng xong. Trong thời gian sinh viên, Tuấn vẫn còn sức sinh hoạt với cộng đồng.  Anh là chủ tịch hội sinh viên Việt Nam tại Mission nhiệm kỳ 92-94 và đồng chủ tịch sinh viên liên trường 1994.  Trong nhiệm vụ này anh đã phối hợp sinh viên tham gia Đi bộ cho thuyền nhân và gây quỹ cho trẻ em khuyết tật.  Tuấn rất quen thuộc với sinh hoạt của Liên hội người Việt tại San Jose.blank
Năm 2001 sinh viên Nguyễn Hoàng Tuấn tốt nghiệp nha khoa bác sĩ tại UCLA và bắt đầu đi tìm việc làm.  Xem lại cuộc đời của chàng trai Vũng Tàu, vất vả nhất là kỳ bán vé số ở Việt Nam cùng với những ngày mưa đi bỏ báo ở Hoa Kỳ.  Trong đời anh trải qua bao nhiêu dâu bể, nhưng người yêu mãi mãi vẫn tình xưa nghĩa cũ.
 
  Kẻ lông mày cho Triệu Minh
Thuở xưa, đọc chuyện Kim Dung nói đến tình yêu, bao nhiêu độc giả xúc động vì anh chàng Trương vô Kỵ nói rằng, phen nầy ta từ giã chốn giang hồ, về kẻ lông mày cho người yêu bé bỏng Triệu Minh.
Xem ra, đó chỉ là chuyện lãng mạn tô điểm cho tiểu thuyết thêm hương vị.  Nhưng ở đây, nha sĩ Tuấn từ lúc đưa vợ qua Mỹ, anh vẫn là người chọn áo cho vợ, và thực sự lo trang điểm cho đến ngày nay.  Không cần văn sĩ Kim Dung nhắc nhở, cậu Tuấn vẫn hằng ngày đóng vai Vô Kỵ để kẻ lông mày cho cô Triệu Minh gốc Huế, Công Huyền Tôn Nữ Quỳnh Mai. Sau khi y khoa Mỹ cũng bó tay không giúp được Quỳnh Mai, gia đình có cô con gái trưởng thành, xinh đẹp nhưng sao suốt ngày bi bô những trẻ thơ, người mẹ buồn cho phần số hẩm hiu nên thương khóc ngày đêm đã làm cho bệnh của đôi mắt càng thêm khép kín.
Đôi khi bà con ta gặp anh chị trong những lần hội họp, nhìn người vợ vẫn tưởng chị thấy được mọi chuyện tinh tường.  Nhưng sự thực thế giới đối với chị bây giờ luôn luôn mờ mờ nhân ảnh.  Người ngoài không biết, ngạc nhiên khi thấy anh chị luôn luôn cặp kè sát bên nhau.  Đâu biết rằng anh mãi mãi là đôi mắt của em.  Luôn phải bên nhau từng bước một.  Khi Quỳnh Mai mất thị giác, trí nhớ bắt đầu phát triển nên anh giúp cô tiếp tục sống cuộc đời hữu dụng.  Bằng một thái độ rất lạc quan, chấp nhận mọi nghịch cảnh, cùng với sự yểm trợ của đại gia đình, và tình sâu nghĩa nặng, Tuấn đã giúp Mai vượt qua mọi thử thách.  Cô lên Radio đóng vai quảng bá cho văn phòng nha sĩ.  Tiếng nói dịu dàng và thông quán các công việc của nha khoa đã lôi cuốn nhiều thính giả.  Tuy nhiên đôi khi cũng có người không biết thấy cô có vẻ lạnh lùng. Quỳnh Mai nói rằng, con có thấy gì đâu mà cười với người ta.
Câu chuyện tình thầm lặng ở San Jose nhưng đã bắt đầu từ sân trường trung học Vũng Tầu, khi đôi bạn cùng chung ban toán.  Anh làm lớp trưởng, em làm lớp phó.  Mắt em vẫn trong như hồ thu, ghi mãi hình ảnh anh Tuấn gầy gò ốm yếu.  Trong khi tâm sự chuyện gia đình, Tuấn luôn luôn nói rằng niềm hạnh phúc là lấy được Quỳnh Mai.  Vợ cháu đã giúp chồng vươn tới ý nghĩa Chân Thiện Mỹ của con Người.  Khổ hạnh bất toàn của một người là niềm đau chung của cả gia đình.  Gia đình phải trở thành một đơn vị để cùng đứng bên nhau trong mọi hoàn cảnh.
Tuy vậy, chính tinh thần lạc quan, pha với tính vui đùa nha sĩ Tuấn đã phàn nàn rằng: “ Bác thấy không, ngày nay con đã khác thuở xưa.  Không còn tang thương như lúc mới ở tù ra, đi bán vé số. Nhưng tiếc thay cô vợ không bao giờ thấy con đẹp trai.”
Bác xin nói với anh chị rằng.  Chị không cần nhìn thấy rõ cuộc đời.  Xin hãy giữ lại mãi mãi hình ảnh của tuổi 18 ở sân trường trung học.  Có cậu học trò tên Nguyễn Hoàng Tuấn, ngập ngừng tỏ mối tình đầu.  Trải qua bao nhiêu thăng trầm của cuộc sống, mối tình vẫn còn giữ mãi đến hôm nay.  Không có điều gì trên thế gian này có thể so sánh được.  Đẹp trai hay đẹp lão rồi cũng qua đi.  Danh vọng tiền tài cũng không phải là vĩnh cửu.  Tình nghĩa chung thủy sẽ ở lại muôn đời.Suốt 35 năm qua, cộng đồng của chúng ta đã có biết bao nhiêu danh từ đao to búa lớn đem ra sử dụng.  Nhưng có hai chữ chẳng ai đụng tới.  Bây giờ bác đem ra tặng hai cháu. Hai chữ  Chung Tình   
Giao Chỉ, Vũ Văn Lộc

 

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Cho Ngày ”Father’s Day”

Đường dài mang chữ Huyền Trân.
Tên nàng Công Chúa đổi thân ngọc ngà.
Mở mang bờ cõi sơn hà.
Sử xanh công đức vang ca muôn đời.
Trang Uyên- Đỗ Xuân Quang
” Nỗi Lòng Huyền Trân Công Chúa”  với tất cả là  646 câu thơ lục bát.  Ông đã ghi lại mỗi lần đi ngang qua con đường dài rợp bóng me mang tên Huyền Trân Công Chúa, ông thấy lòng ngậm ngùi tưởng nhớ đến bậc Ân Nhân Tiên Tổ đã vì đất nước quên mình, với cuộc hôn nhân Việt Chiêm để đổi lấy hai châu Ô, Lý ( hiện nay là Thừa Thiên, Huế)
 Đó là thi phẩm và cũng là đứa con tinh thần mà ông yêu quí nhất.  Thi phẩm nầy hoàn thành năm 1996 và được tái bản năm 2012, tập thơ nầy ông chỉ phổ biến trong gia đình và bạn bè mà thôi. Ngoài ra ông còn có hơn 100 bài thơ rời mà ngày ông còn sanh tiền tôi cũng định gom lại để in cho ông, nhưng chưa kịp thì ông đã bỏ các con để ra đi …
 Ba ra đi đã 3 năm rồi, ngày Ba đi mưa buồn rơi thay nước mắt của chúng con, những giọt lệ nầy đã rơi quá nhiều cho cuộc nhân sinh, cho cuộc bể dâu.  Giờ đây đã cạn, chỉ còn lại những giọt khô và con tim rạn nứt.
Được gì, mất gì trong cõi nhân sinh? Những tòa nhà cao ngất ngưởng, những danh vọng tột cùng, những tham vọng không bao giờ biết dừng lại, những ganh ghét, đố kỵ, tranh giành bất tận… Người ta đâu hiểu rằng chỉ một ngày đẹp trời ( hoàng đạo) bỗng nhiên ngồi trên xe lăn, hoặc bỗng nhiên nằm dưới 3 tất tất và còn tệ hơn là không còn đất để nằm, chỉ còn một nắm tro… Thế mà người ta vẫn cứ tranh nhau mà chạy… Cho dù người ta vẫn thấy điều đó xảy ra hàng ngày nhưng người ta vẫn chạy, vẫn cứ lao đầu, vẫn cứ mê…
Ba tôi cũng đã có những ngày tháng danh vọng, nhưng  cuối cùng ngày đi cũng chỉ còn hai bàn tay trắng.. Ngày Ba vĩnh viễn ra đi cũng chỉ với một tấm chăn bông… và trời mưa, 
Buổi chiều tiễn Ba đi chúng con lặng người… 
Một buổi nghìn thu vĩnh biệt, mãi mãi chỉ là hoài niệm…
Ba ơi! hai món đồ mà  Ba thương qúi  nhất là cái mũ nĩ và tập thơ Nỗi Lòng Huyền Trân Công Chúa con cũng bỏ vào áo quan  để cùng đi theo với Ba, không biết ở cõi xa xôi nào đó Ba có nhận được đứa con tinh thần yêu quí của Ba không? Cầu mong Ba an nghỉ, cầu mong cõi nào đó sẽ là cõi bình an không như cõi người khổ đau triền miên nầy nữa…Ba ơi.
Hôm nay ngày lễ Cha chúng con lại nhớ đến người… Phải chi bây giờ  chúng con còn có Ba Mẹ để phụng dưỡng, ngày Ba Mẹ còn sanh tiền thì  chúng con lại phải bôn ba kiếm miếng cơm manh áo, bây giờ nợ cơm áo đã xong muốn phụng dưỡng  Cha Mẹ thì than ôi Cha Mẹ đã qua đời rồi…


“Mộc dục tịnh, nhi phong bất định.
Tử dục dưỡng nhi thân bất tại “
Dịch
Cây muốn lặng nhưng mà gió không muốn ngừng
Con muốn nuôi Cha Mẹ mà Cha Mẹ không còn nữa
   Ngài  ” Tử Lộ “
Hạnh phúc thay cho những ai còn Cha Mẹ để phụng dưỡng, vì chữ ” hiếu” là một việc tối thượng, tối thiện  của đời người…
Carolyn Do
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Nàng- Chiều Vàng

Chiều xuống vàng cả một góc trời, những sợi nắng yếu ớt còn vương trên ngọn cây như nuối tiếc ngày  qua mau.
Nàng như sợi nắng cuối ngày buồn hiu hắt, mấy mươi năm qua rồi nàng đã sống nhưng không hiểu vì sao nàng sống? Những ngày còn thanh xuân nàng cũng đã thường có những tư tưởng mà người đời gọi là điên khùng ” tự tử” nhữnng tư tưởng đó cứ lớn dần như những tế bào bệnh hoạn, giờ lớn thêm một chút nữa, biết thêm một chút Phật Pháp nhưng nàng, đôi khi vẫn như người vất vưởng trên cành cây. Có những lúc nàng buồn đến vô cùng tận nhưng nàng không hiểu vì sao nàng buồn?  Giờ thì nàng đã có đủ những vật chất cần thiết cho cuộc sống, nàng tự động nghỉ hưu mặc dù nàng chưa đến tuổi về hưu, nàng dự định sẽ làm một chuyến đi đâu đó, vì biết đâu vô thường đến và ngày mai thức dậy mặt trời đã khuất bóng sau lưng. 

Nàng cũng có một tình yêu, hình như lâu lắm nhưng vẫn còn tồn tại có lẽ vì ngăn sông cách núi… Nàng thích như vậy, nàng chỉ sợ tình yêu kia rồi cũng sẽ như cánh bướm xa xa thấy muôn màu, muôn sắc…khi được rồi muôn màu, muôn sắc vỡ tan…

Và những gì đến rồi sẽ phải đến, rồi đi, đi rồi đến…Một chu kỳ hay một định mệnh, một duyên đến rồi một duyên đi nào ai biết được!

Nàng cứ tưởng thế giới đó sẽ cùng nàng đi hết đoạn đường còn lại trong tâm tưởng. Nàng đã cố tự nhủ mình ” sống buông” nhưng hằng ngày phải sống như vậy thì là “ép” chứ không phải ” buông”, lòng nàng đôi khi cũng chỉ là ” trần tục” dù nàng cố thoát nhưng đôi khi  bất lực… Từng ngày đối diện từng ngày, nàng mới thấy rằng thế giới của nàng và thế giới kia có quá nhiều khác biệt, mỗi ngày sự khác biệt càng tăng theo cấp số nhân…

Có phải thế giới nàng quá xa lạ, hay nàng đã nhìn thế giới xa xa kia bằng con mắt màu hồng, hay tất cả thế giới nầy đang mang mặt nạ và chờ một ngày rơi..? 

Một ngày sẽ rơi nhưng nàng không nghĩ lại rơi sớm thế…

Nàng đau, nỗi đau của thế giới loài người…

Hoàng Thi Khuê Vy

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Miền Đất Gấm Hoa

KMVN: Nhà văn “Đất Lạnh Tình Nồng” Trà Lũ phải lòng nước Canada nên liên tục viết bài khen ngợi. Lần này xin mời các bạn đọc một bài viết rất hay của ông về “Miền Đất Gấm Hoa” – Canada. Bài đã được đăng trên www.vietcatholic.com

Trà Lũ
Chưa năm nào làng An Lạc chúng tôi mừng Lễ Phục Sinh vui đến thế. Các cụ có biết tại sao không? Thưa, vì vị tiên chỉ làng tôi, Cụ Chánh, nhập đạo Công Giáo. Trong lễ đêm Thứ Bảy trước Chủ Nhật Phục Sinh, Cụ Chánh và Cụ B.95 đã được Cha Paolo làm lễ Thánh Tẩy. Mỗi Cụ được choàng một tấm khăn trắng lớn và tay cầm một cây nến cháy sáng tượng trưng cuộc đời mới, sức sống mới. Chưa bao giờ cộng đoàn nhà thờ vỗ tay chào mừng hai cụ to đến thế. Giáo dân ở đây đã quen Cụ lâu rồi, vì mỗi ngày lễ Tạ Ơn hằng năm, Cụ đều đến dự và lặp lại lời cám ơn giáo xứ đã bảo lãnh Cụ từ trại tỵ nạn Thái Lan khi xưa. Lần này Cụ cũng làm cả nhà thờ cảm động. Cụ nói: Năm 1981, khi đón chúng tôi tại phi trường, Cha Paolo bảo: Chúng tôi biết Cụ theo đạo Ông Bà ở Việt Nam từ bé, xin Cụ cứ tiếp tục sống theo đạo của Cụ. Đời sống, lời nói và việc làm của Cha đã làm tôi thao thức bao nhiêu năm. Tôi và bà bạn già của tôi đây thấy mình hạnh phúc vô cùng vì chúng tôi vẫn còn được thờ ông bà tổ tiên như xưa, chỉ thờ thêm Thiên Chúa ở bên trên. Từ nay, trong thánh lễ chúng tôi có thể cầm tay mọi người và cùng đọc chung lời kinh kêu Thiên Chúa là Cha, Lạy Cha chúng con ở trên trời…
Nói đến đây rồi Cụ Chánh nghẹn ngào, Cụ B.95 cũng khóc theo. Ai trong nhà thờ cũng cảm động. Cha Paolo chủ lễ liền ôm lấy hai Cụ. Cha Paolo lên tiếng trong cơn xúc động: Lời Cụ vừa nói hay hơn bài giảng của tôi.
Trong lễ rửa tội này, Anh John là người đỡ đầu cho Cụ Chánh, và Chị Ba Biên Hòa đỡ đầu cho Cụ B.95. Bây giờ là thời đại điện tử, trong túi ai cũng có iPad. Bao nhiêu người trong nhà thờ đã đưa máy iPad lên để chụp những giây phút đáng ghi nhớ này.
Chiều Chủ nhật Phục Sinh là một đại tiệc tại nhà Cụ Chánh. Đầu bếp là Chị Ba Biên Hòa. Người khách danh dự là Cha Paolo. Trong buổi tiệc chúng tôi đã nói bao nhiêu chuyện, nhưng câu chuyện làm tôi cảm động và nhớ nhất là chuyện Cụ Chánh kể. Rằng một lần kia vào mùa xuân Cha đến thăm chúng tôi bất chợt, ngay đầu bữa ăn. Tôi mời Cha ăn cơm với chúng tôi, Cha đã vui vẻ ngồi ngay xuống và ăn rất vui vẻ thân tình. Cuối bữa ăn, lúc uống trà, tôi hỏi Cha rằng: Ông bà chúng con ở trên bàn thờ kia, chúng con nhìn thấy ông bà hằng ngày, thế còn Thiên Chúa của Cha thì Ngài ở đâu, ở trên trời hay ở trong nhà thờ? Cha đã trả lời tôi ngay: Thiên Chúa ở ngay đây, rồi Cha chỉ tay ra mảnh vườn trước cửa kia, Cha nói: Vườn bây giờ đầy hoa vàng hoa đỏ, đầy rau xanh tươi thơm ngát. Khi Cụ trồng hoa và trồng rau, Cụ có thấy màu vàng màu đỏ ở trong đất không, Cụ có thấy mùi hoa ngạt ngào ở trong đất không? Chắc chắn là Cụ không thấy gì. Thế cái màu vàng màu đỏ, cái mùi hương thơm ngát kia từ đâu ra? Đó, Cụ ơi, Thiên Chúa đó. Câu này làm tôi nhớ đời. Cái vườn nhỏ trước cửa sổ phòng ăn đã làm tôi thấy Thiên Chúa. Bây giờ mỗi lần tôi cầu xin với ông bà tổ tiên thì tôi cầu với Thiên Chúa trước vì Thiên Chúa là đấng đẻ ra ông bà tổ tiên…
Người vui thứ hai trong bữa tiệc này là Anh John và Chị Ba Biên Hòa.
Anh John nói trước mặt Cha Paolo: Chúa đã nhận lời chúng con hằng cầu xin. Từ bữa nay trở đi, mỗi sáng chủ nhật vợ chồng con sẽ lái xe đến rước hai Cụ cùng đi lễ nhà thờ với gia đìng chúng con. Nào, còn niềm hạnh phúc và niềm vui gì lớn hơn!
Sau bữa tiệc thì Cha Paolo ra về vì ngài còn bao nhiêu việc ở nhà thờ. Dân làng An Lạc chúng tôi thì ở lại rất lâu, vì còn bao nhiêu chuyện vui vẻ để kể cho nhau nghe.
Cụ Chánh tâm sự đầu tiên: Xưa nay lão hằng kính phục hai người, đó là Đức Lạt Ma và Đức Giáo Hoàng đương kim Phanxicô. Câu Cha Paolo nói với lão ở phi trường ngày xưa đúng y chang lời Đức Lạt Ma nói với một anh Do Thái. Anh này không thích đạo Do Thái nên đã nhập đạo Công Giáo. Theo đạo ít lâu, anh chán và đi sang gặp Đức Lạt Ma để xin theo đạo của Ngài. Đức Lạt Ma đã vỗ vai anh mà nói: xin bạn cứ giữ đạo của bạn hiện nay, hãy sống vui vẻ hết mình theo lời Chúa dạy, yêu tha nhân như chính mình. Như vậy cũng là đạt đạo của tôi. Còn Đức Phanxicô thì hôm Thứ Năm Tuần Thánh vừa qua, ngài đã làm tôi cảm động quá. Các bạn biết gì không, Thứ Năm trước Lễ Phục Sinh thì các nhà thờ có nghi lễ Rửa Chân cho 12 người được kén chọn trong cộng đoàn tượng trưng 12 môn đệ khi xưa. Vị chủ tế đến quỳ xuống trước mặt họ rồi rửa chân cho từng người. Năm nay, tại Roma, Đức Phanxicô đã không làm lễ rửa chân cho 12 người vị vọng ở đại giáo đường, mà ngài đã vào trong nhà tù rửa chân cho 12 tù nhân, 6 tù nam và 6 tù nữ. Cử chỉ và nét mặt của ngài rất chân thành, ngài quỳ xuống, rồi đổ nước rửa chân, rồi lau chân cho từng người, lau xong ngài còn hôn vào chân họ. Tôi thấy 3 tù nhân đã khóc. Có một nữ tù nhân ôm đứa con hai tuổi trên tay, ngài đã rửa chân và hôn chân cả hai mẹ con. Đây là một vị đại thánh.
Tuần trước, có ông bạn già bên Âu Châu đã viết thư sang chúc mừng lão nhập đạo Công Giáo. Ông ta cho biết là ông ta rất vui mừng vì lão đã đi cùng con đường với Cựu Hoàng Bảo Đại, GS Vũ Quốc Thúc, GS Nguyên Sa Trần Bích Lan, Thi Sĩ Hà Thượng Nhân, Thi sĩ Nguyễn Chí Thiện. Lão giật mình. À, thế ra vào cuối đời các vị này cũng nhìn thấy Thiên Chúa như mình.
Cụ Chánh vừa ngưng thì Anh John tiếp lời ngay. Anh bảo: Hôm nay là ngày vui lớn, ngày hạnh phúc của hai Cụ. Chắc ai cũng muốn phát biểu, cháu sợ mất phần nói nên xin cho cháu nói liền bây giờ. Bữa nay cháu không cần Cụ B.95 yêu cầu, không cần vợ nhắc, cháu xin kể chuyện thời sự ngay. Tháng Tư này nhiều chuyện lắm.
Thứ nhất là chuyện 2 con cá. Sáng sớm ngày mồng một vừa qua, cô Tôn Nữ gọi điện thoại. Ở Canada này, thường không ai gọi điện thoại trước 8 giờ cả. Điện thoại mà reng trước 8 giờ sáng là chắc có việc khẩn cấp. Cô Tôn Nữ gọi lúc 7 giờ, giọng đầy hốt hoảng: Anh Chị John ơi, CSVN tan rồi. Em vừa đọc email trên mạng rằng tứ trụ Sang Trọng Hùng Dũng tuyên bố giải thể Đảng CSVN như ông Gorbachev ở Liên Xô ngày xưa. Anh Chị mở máy ra coi ngay đi.
Bà Cụ B.95 lên tiếng hỏi: Đó là tin đảng CSVN đổ mà sao vừa rồi anh bảo là tin mua cá? Anh John cười ha ha một chập rồi nói: Ở Canada có thói quen là ngày đầu tháng Tư bạn có thể nói phịa ra nhiều tin, càng phịa giỏi càng lừa được nhiều người thì càng vui, và việc bịp và đánh lừa này không ai bắt lỗi cả. Dân Canada gọi việc này là ‘Cá Tháng Tư, Poisson d’avril, April Fool’.
Đó là con cá của Cô Tôn Nữ. Còn một con cá thứ hai là của báo chí. Cũng sáng sớm ngày mồng một tháng Tư, tờ nhật trình ‘24’ ở Toronto đã đăng một tin lớn, kèm với một họa đồ chi tiết. Bài báo đưa tin chính quyền Canada thấy dân chúng càng ngày càng hay xuống tắm biển ở miền Trung Mỹ, nhất là mùa đông, nên chính quyền đã quyết định dùng ngân sách thặng dư và các khả năng về khoa học kỹ thuật, sẽ xây một cái đảo nổi rộng 10 cây số vuông, ở gần xứ Jamaica và Haiti. Trên đảo sẽ trồng rất nhiều cây phong và các vườn cây ăn trái, với những nhà nghỉ mát, quanh đảo là những bãi tắm rộng mênh mang. Tất cả đều miễn phí cho công dân Canada xuống đây tắm nắng…
Chị Ba Biên Hòa thấy Cô Tôn Nữ mắc cỡ đỏ mặt, chị liền giơ tay ngăn chồng không cho anh kể chuyện cá tháng Tư nữa. Anh John thấy dân làng cười vui đủ rồi anh mới kể sang chuyện khác. Anh bảo: Xin hết chuyện cá nha, sau đây là chuyện thời sự có thiệt:
– Một di dân gốc Việt Nam định cư tại Montreal miền nói tiếng Pháp ở Canada đã đoạt giải nhất về văn chương, giải mang tên ‘Canada Reads 2015’. Giải này do thông tấn xã CBC đề xuất, đã được tổ chức trong 14 năm qua. Mục đích là tuyển chọn những tác phẩm có thể làm thay đổi nhãn quan và vượt qua mọi định kiến để soi sáng một vấn đề.
Người đoạt giải toàn quốc năm nay là nhà văn Kim Thúy với tác phẩm RU viết bằng Pháp văn.
RU là câu chuyện một em bé rời Saigon khi mới 10 tuổi, theo gia đình vượt biên, tỵ nạn ở Mã Lai, được Canada nhận và cho định cư tại Montreal. Trong tác phẩm RU, Kim Thúy viết về chính đời mình.
Ông Camaron Bailey, Giám đốc nghệ thuật tại Đại Hội Phim quốc tế ở Toronto, đã nhận định trên đài CBC: Đây là một trong hàng triệu câu chuyện về những người nhập cư Canada. Một phụ nữ tỵ nạn gốc Việt viết chuyện về đời mình, câu chuyện thật đau lòng, nhưng đẹp, được thể hiện với một bút pháp tài tình. Tôi đọc RU bằng l‎‎‎ trם vא rồi trí tôi được nối với con tim. RU đã mở rộng lòng nhân đạo và nhãn quan của người Canada.
Nhà văn Kim Thúy năm nay 46 tuổi. Tác phẩm RU đã đoạt 2 giải văn chương khác vào năm 2010 và 2012. Đã có ấn bản bằng Anh văn. Thật là một niềm hãnh diện lớn không chỉ riêng cho nhà văn Kim Thúy mà cho cả cộng đồng người Việt, trong đó có vợ tôi, và cả tôi nữa, ha ha.
Tin thời sự tiếp theo là tin Rước Đuốc cho Thế Vận PAN AM. Đây là thế vận hội của Liên Mỹ Châu, năm nay được tổ chức tại Toronto vào tháng Bảy sắp tới. Còn hơn hai tháng nữa mới bắt đầu, nhưng cuộc rước đuốc cho lễ khai mạc đã khởi sự. Khởi điểm là thành phố Teotihuacan ở Mexico, sẽ di chuyển qua 130 vùng, bó đuốc sẽ được 3.000 lực sĩ chuyền tay nhau, theo hướng bắc tiến, qua các phương tiện xe hơi, máy bay, xe lửa và tàu biển. Thế vận hội Liên Mỹ Châu này có 41 quốc gia tham dự với 6.600 lực sĩ thi tài trong 16 ngày.
Thời sự tiếp theo là tin những quả bom trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại liên hệ tới tên gọi ngày đau thương 30 tháng Tư. Ngày này nên mang tên gì? Tôi thấy nhiều tên lắm: Tháng Tư Đen, Ngày Quốc Hận, Ngày Tranh đấu cho Tự Do, Hành Trình tìm Tự Do… Chỉ vì cái tên mà nhiều người chống nhau, chống một cách dữ tợn, chống mạnh hơn cả chống VC.
Về việc cãi nhau này tôi thấy nhà văn Mặc Giao đã viết một bài rất hay, đăng trên DienDanCongLuan ngày cuối tháng Ba vừa qua và trên nhiều cơ quan ngôn luận khác. Tôi thích bài này. Xin trích vài dòng của Mặc Giao:
… Việc đầu tiên khối người Việt chúng ta phải làm là đừng tấn công nhau nặng hơn đánh cộng sản, đừng rút giây chặt cầu để khi cần nhau còn có thể nhìn mặt nhau không ngượng. Bốn mươi năm rồi, chúng ta không học được bài học này sao? Miền Nam Việt Nam mất vào tay CS cách đây 40 năm. Phe thắng cuộc gọi ngày 30/4 là ngày chiến thắng, ngày giải phóng Miền Nam. Phe thua cuộc gọi đó là ngày quốc hận, ngày mất nước, tháng Tư đen. Ai muốn gọi gì thì gọi, muốn kỷ niệm kiểu gì tùy ‎‎ vא tשy theo lập trường của mình. Chẳng ai áp đặt được ai. Bốn mươi năm qua vẫn vậy.
… Năm nay chuyện tranh cãi về tên gọi ngày 30/4 trở nên sôi nổi. L‎‎‎ do xuất phבt từ Canada do việc װng Nghị sĩ gốc Việt Ngפ Thanh Hải đệ nạp Dự luật S-219 ‘Hành Trình Đến Tự Do’ (Journey to Freedom) tại Thượng Nghị Viện Canada. Nội dung ghi nhớ ngày mất Saigon mở đầu cho phong trào bỏ nước đi tìm tự do của hàng triệu người Việt Nam, trong đó có khoảng 300.000 người hiện sinh sống ở Canada. Dự luật đã được Thượng Viện chấp thuận ngày 8/12/2014 và đã chuyển sang Hạ Viện ngày 10/12/2014… Ngay khi dự luật được phổ biến, nhiều cuộc tranh cãi đã xảy ra xoay quanh cái tên và tác giả…
Việc tranh cãi đang đi vào gay cấn. Nhiều mũ VC đã được đem ra… Cụ Chánh làng tôi lên tiếng: Giá mà chúng ta biết tương kính, bất đồng nhưng không bất hòa, thì tốt đẹp biết bao. Các bạn có nghe thấy tiếng cười và vỗ tay của CSVN không? Canada quá tốt với người Việt tỵ nạn chúng ta chứ. Cách đây 20 năm, Canada cho chúng ta dựng đài kỷ niệm thuyền nhân ở thủ đô Ottawa, và 20 năm sau lại cho dựng đài tưởng niệm các nạn nhân CS cũng tại thủ đô Ottawa, và sắp ban hành luật S-219 ghi nhớ ngày các thuyền nhân tỵ nạn bỏ nước đến đây tìm Tự Do. Chúng ta còn muốn gì nữa?
Cộng sản Việt Nam đã phản ứng mạnh mẽ chống dự luật này, từ Nguyễn Tấn Dũng đến Bộ Ngoại Giao. Một số người Việt xưa nay chống CS cũng lớn tiếng chống đối dự luật, thậm chí còn mạ lỵ Thượng Nghị Sĩ Ngô Thanh hải, kết tội ông là Việt gian. Những người này làm như vậy thì có khác gì về cùng phe với CS để vô hiệu hóa một cơ hội hiếm có chưa từng xảy ra trong Thế Giới Tự Do. Nào có nước nào tốt với người Việt tỵ nạn chúng ta bằng nước Canada không?
Ông ODP gật gù hoan hô ý kiến chúng ta phải biết ơn nước Canada. Ông nhiệt liệt tán dương bài ca của hai vợ chồng nhạc sĩ Vũ Tiết Hùng và Tôn Nữ Thùy Lan ở Ottawa. Bài ca rất hay, cả nhạc cả lời. Mấy dòng cuối bài làm ai cũng cảm động:
… Oh Canada! Oh Canada! Forty years ago I was lost and stateless,
Then Canada adopted me, let me stay, and gave me a new homeland
Thank you Canada! Merci Canada!
Canada ơi! Canada ơi! Bốn mươi năm xưa tôi là người mất nước và vô tổ quốc.
Canda đã nhận tôi, cho tôi ở lại, và còn cho tôi một mái ấm gia đình.
Xin cám ơn Canada, xin ghi ơn Canada!
Ký‎‎‎ giả Robert Bosteller của báo Ottawa Citizen đã viết bài giới thiệu bài hát và hết lời khen ngợi trên trang nhất.
Rất nhiều dân biểu Canada đã ủng hộ dự luật S-219 mang tên ‘Hành Trình tìm Tự Do’. Đặc biệt ông Peter Kent, cựu bộ trưởng, hiện là dân biểu vùng Thornhill, Ontario, đã ca ngợi dự luật này rất dài, phần cuối bài phát biểu, ông kết luận:
… Dự luật tưởng niệm ‘Hành Trình tìm Tự Do’ mang 3 ‎‎‎ nghĩa này:
– nó đánh dấu sự kiện bi thảm Saigon thất thủ 30/4/1975
– nó vinh danh những người Canada đã bảo trợ và đón nhận những người tỵ nạn Việt Nam
– nó tán dương những đóng góp phi thường của những người tỵ nạn Việt Nam cho đất nước gấm hoa này của chúng ta.
Ông ODP giơ tay xin phát biểu: chưa biết việc một số đồng hương đang đánh nhau này sẽ đi tới đâu. Gần đây tôi đọc được câu chuyện tiếu lâm, nó diễn tả y boong việc phe ta đánh phe mình hiện nay. Chuyện kể 2 ông đi câu cua, họ ngồi bên nhau. Một ông Mỹ một ông Việt. Ông Mỹ câu được con cua nào thỉ bỏ vào giỏ rồi đậy nắp rất cẩn thận, trong khi đó ông Việt câu được con nào thì cũng bỏ vào giỏ nhưng không hề đậy nắp. Ông Mỹ thấy lạ mới hỏi ông Việt về việc này. Ông Việt cười tỉnh bơ:
– Con cua bạn câu được là cua Mỹ. Bạn phải đậy nắp giỏ vì các con cua công kênh nhau bò lên, con này giúp con kia cùng thoát hiểm. Còn con cua Việt của tôi, không con nào bò lên được cả, con nào mà mon men bò lên cao một tí là những con cua khác kéo nó xuống liền…
Làng tôi nghe xong thì ai cũng gật gù rồi nói: Quả đúng vậy.
Ông ODP thấy dân làng còn muốn ông nói nữa nên ông kể tiếp. Rằng ông cũng mới đọc được câu chuyện về sự thành công của một người Việt ở Hawaii, do nhật báo Người Việt ở Cali phổ biến nhân dịp 30 tháng Tư. Đó là triệu phú Lâm Quốc Thanh, chủ nhân hệ thống bánh ngọt nổi tiếng La Tour Bakehouse. Lò bánh của ông làm không kịp bán. Ông cung cấp bánh cho nhiều hãng máy bay quốc tế, nhiều khách sạn nổi tiếng, nhiều hệ thống siêu thị. Sau 1975 ở Việt Nam ông làm nghề bán vé số, rồi nhờ vượt biên thành công, ông được tới Mỹ. Ông làm đủ nghề để sinh sống. Nghề cuối cùng là làm cho Bánh Mì Ba Lẹ. Từ nghề này, ông tìm hiểu và học hỏi về làm bánh, rồi từ đó ông tiến lên thành triệu phú. Mỗi năm số doanh thu của ông hơn 20 triệu Mỹ kim. K‎‎‎ý giả Thiên An thuộc báo Người Việt đã đến phỏng vấn và hỏi ông về những bí quyết đã giúp ông thành công như hiện nay, ‘Ông Thanh Ba Lẹ’ đã vui vẻ trả lời: Tôi thường khuyên con tôi những điều này:
– không cờ bạc hút sách
– phải thành thật, thành thật và thành thật
– không kiêu ngạo và ức hiếp người nghèo
– cố học lên cao, càng cao càng tốt
– lễ phép với mọi người. Ai khen con tôi thông minh thì tôi không thích bằng khen nó lễ phép
– đặt nhân viên lên hàng đầu, mình tốt với nhân viên thì nhân viên sẽ hết lòng với mình
– đọc sách Học Làm Người. Cuốn sách Đắc Nhân Tâm nổi tiếng của Dale Carnegie là sách gối đầu giường của cha con chúng tôi. Đọc, suy ngẫm rồi thực hành.
Cả làng vỗ tay khen bài học qu‎‎‎ý giá của triệu phú Lâm Quốc Thanh trên đây.
Anh John lại giơ tay xin nói tin thời sự chót: Làng ta nhớ đi coi suất hát Exodus Saigon vào ngày 2 tháng Năm của đạo diễn Hoàng Hùng nha. Nghe nói quá nửa tài tử là những thiên tài người Canada. Canada hát về Việt Nam…
Chị Ba Biên Hòa nhân danh chủ bếp bữa tiệc mừng, đã hỏi Cụ Chánh: Trên đây là kinh nghiệm của người ở xa. Thế còn Cụ Tiên chỉ ở ngay đây, nhân đại lễ hôm nay xin Cụ đôi điều với dân làng.
Cụ Chánh giọng đầy cảm động: Tôi được sống tự do và ấm no như thế này, luôn có bạn vàng vây quanh như thế này, luôn sống trong không khí đầy tiếng cười như thế này, tôi thấy mình hạnh phúc vô cùng. Xin tạ ơn Thiên Chúa, xin tạ ơn đất nước gấm hoa thiên đàng này.

Trà Lũ

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Nha Trang – thời tôi mới lớn

Nha Trang lúc nào cũng đẹp, nhưng với tôi Nha Trang đẹp nhất ở vào cái thời tôi mới lớn. Dường như lúc ấy biển xanh hơn, bầu trời trong và bao la hơn, đã cho tôi nhiều mộng mơ hơn. Lúc ấy tôi chưa biết yêu để hiểu được cái nghĩa thất tình nó ra sao, cái cảm giác “chết trong lòng một ít” nó đau đớn đến dường nào; cũng chưa bước chân lên bến đời để thấy cuộc đời này không phải chỉ toàn màu xanh của biển và bầu trời trên đầu lại có quá nhiều những đám mây đen.

 

Ngày ấy, cũng đã có chiến tranh (quê hương tôi thì lúc nào lại không có chiến tranh), nhưng dường như còn ở đâu đó, xa lắm. Tôi chỉ biết người lính qua mấy anh SVSQ  Hải Quân, Không Quân oai phong tuấn tú trong những bộ quân phục đẹp, mới toanh, thẳng nếp, dạo phố với tình nhân vào những ngày cuối tuần. Đâu có biết người lính gian khổ, hiểm nguy và chết chóc ra sao.Khi ấy, Trịnh Công Sơn cũng chỉ mới viết được đôi ba bài tình ca, chưa có bản nhạc phản chiến nào, Những bản nhạc viết về lính lúc ấy cũng dễ thương, hiền lành và lãng mạn lắm, chưa hề nghe Kỹ Vật Cho Em. Ngày Mai Đi Nhận Xác Chồng, Anh Không Chết Đâu Anh, Người Ở Lại Charlie…, nên cũng chưa biết tiếng khóc não nùng của những người góa phụ.

 

Những chuyện xảy ra trong thành phố thời ấy hấp dẫn tôi và đám bạn bè hơn. Chuyện bà (vợ ông) bác sĩ, một mệnh phụ gốc Hà thành nhan sắc mà mỗi lần trông thấy bà ngoài phố, chúng tôi đứng lại tròn mắt trầm trồ như đang được chiêm ngưỡng một pho tượng đẹp trong viện bảo tàng. Chuyện của một bà dược sĩ, có tình nhân là một ông đại úy phi công rất bô trai. Mặc dù bà có chiếc xe hơi thể thao “trọc mui” duy nhất ở thành phố biển này, nhưng bọn tôi thường thấy ông phi công đèo bà sau chiếc Vespa chạy lòng vòng  trên đường Duy Tân, Độc Lập. Cuộc tình lãng mạn ấy rồi cũng đi vào ngõ rẽ. Bà dược sĩ trở thành phu nhân của một ông tướng nổi danh, còn chàng phi công hào hoa thì rước về dinh một cô ca sĩ chuyên hát những bản nhạc buồn… vào hồn không tên… nào đó. Và “đình đám” nhất là chuyện tình của thầy tôi và một cô học trò. Ông thầy mà bọn tôi thường gọi là “thầy của những ông thầy khác” và rất mê nghe ông đọc những bài thơ tình lãng mạn của mấy ông Alphonse de Lamartine, Charles Beaudelaire, Jacques Préver trong giờ Văn học sử Pháp. Còn cô học trò cũng rất tài ba, từng có bài luận văn dài gần 20 trang giấy được giáo sư nổi danh Thạch Trung Giã cho điểm tối đa và đọc cho cả mấy lớp cùng nghe. Không biết có phải nhờ vòng tay ông thầy của tôi mà sau này cô trở thành nhà văn nổi tiếng với tác phẩm cũng bắt đầu bằng hai chữ Vòng Tay… Một ông thầy khác mê đến si tình cô học trò “hoa khôi” Võ Tánh, đóng vai Trưng Trắc trong  buổi lễ Hai Bà Trưng. Những nữ sinh được chọn đóng vai Trưng Trắc, Trưng Nhị thời ấy đều là những mỹ nhân “vang bóng một thời”.

 

Thời ấy dường như chiến tranh còn ở đâu đó, chưa tới Nha Trang, nhưng Nha Trang lại là nơi có ba quân trường nổi tiếng. Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân đã đào tạo hầu hết những sĩ quan Hải quân ưu tú. Trong số ấy có rất nhiều đồng môn của bọn tôi ở Trường Võ Tánh, một số đàn anh trở thành những hạm trưởng: Trần Đức Cử, Phạm Đình San, Võ Quang Thủ, Phan Hữu Niệm, Võ Văn Bảy… Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân đào tạo hầu hết những phi công tài hoa của đất nước, trong số này cũng có rất nhiều cựu học sinh Võ Tánh. Sau này có người lên đến cấp tướng. Trường Đồng Đế, đào tạo hầu hết các hạ sĩ quan cho Quân Lực và những khóa sĩ quan hiện dịch, mà một người sĩ quan tốt nghiệp Khóa 2 đã trở thành một vị anh hùng trong lòng bao người dân Việt tha phương: Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn. (Xa hơn một chút là Huấn Khu Dục Mỹ, với các quân trường nổi danh không kém, được thành lập từ năm 1960. Trường Pháo Binh chuyên đào tạo cá sĩ quan có khả năng toán học, làm “đề lô” và sau này trở thành các cấp chỉ huy của binh chủng “nòng dài”, tạo sấm sét lam khiếp vía quân thù. Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân, được những người lính gọi là “Lò Luyện Thép”. Có người còn gọi đùa là “Trung Tâm Tàn Phá Sắc Đẹp.” Một nơi huấn luyện cho người lính chịu đựng gian khổ nhất, có khả năng vượt qua mọi chướng ngại, để có thể chiến đấu trong những điều kiện khó khăn nguy hiểm nhất để đánh thắng quân thù. Ngoài việc đào tạo các chiến sĩ Mũ Nâu hào hùng, còn có các Khóa Rừng Núi Sình Lấy, Viễn Thám cho tất cả các quân binh chủng thiện chiến khác.)

 

Về văn chương, ngoài một số nhà văn kỳ cựu như Quách Tấn, Cung Giũ Nguyên, Thạch Trung Giã, Võ Hồng, lúc ấy có nhiều nhà văn nhà thơ nổi tiếng sớm từ đám học trò: Nguyễn Xuân Hoàng, Sao Trên Rừng (Nguyễn Đức Sơn), Thanh Nhung (Tôn Nữ Nha Trang), Duy Năng (Nguyễn Hữu Trí)…Nếu tính cả những người từ các tỉnh lân cận đến học ở Nha Trang thì còn có Nguyễn Mộng Giác, Nguyễn Thị Hoàng, Cao Hoành Nhân, Từ Thế Mộng, Trần Hoài Thư, Sương Biên Thùy (Lê Mai Lĩnh sau này)…

 

Thời đó, Nha Trang có cô ca sĩ Thúy Vân, tuổi khoảng 14, 15, có ông bố phục vụ trong Lực lượng Bảo An Đoàn, có tay trống Minh Châu số 1 của Ban Văn Nghệ Ty Thông Tin , sau này cũng gia nhập Bảo An, làm sĩ quan Tâm Lý Chiến. Bọn tôi thường được tham dự những đêm văn nghệ do Ty Thông Tin tổ chức, nghe ca sĩ Bích Sơn hát bài  Cô Gái Xuân và đóng kịch “Ông Ninh Ông Nang” với anh hề Ngọc Trai. Được xem phim Chúng Tôi Muốn Sống , mê ông Lê Quỳnh đẹp trai và bà Mai Trâm với má lúm đồng tiền và hai lọn tóc thắt “con rít” thả xuống bờ vai.

 

Thời ấy cũng có rất nhiều cái tên “mỹ nhân” truyền tai nhau trong đám học trò:  Cẩm Vân, Bạch Yến. Như Bá, Bích Tùng, Mỵ Cơ, Xuân Thùy, Hồng Nữ, Xuân Hoa, Bích Khuê, Như Ý, Hồng Huê, Lệ Son, Mỵ Hảo… Và ngay trong lớp tôi cũng có những giai nhân đã làm khuấy động trái tim của biết bao ông thầy và cả học trò, mà đến hôm nay vẫn còn được bàn cãi rất sôi nổi mỗi lần bọn tôi có dịp gặp nhau kể lại chuyện xưa: Thúy Liệu, Minh Châu, Kim Anh, Kim Thoa, Túy Ngọc, Như Bá… Đám bọn tôi cũng biết danh ông Lê Bá Chẩn, không phải vì ông là phó tỉnh mà vì ông bà có mấy cô con gái đẹp, từng đóng vai Trưng Trắc, Trưng Nhị. Và có lẽ không ai mà không biết hiệu Đông Quang nằm bên tiệm chụp ảnh Mai Ngôn trên đường phố Phan Bội Châu, bởi mỗi lần đi qua nhìn thấy chị Thuần Hậu, sắc nước hương trời, ngồi bên một cái giá dựng đủ các thứ gươm đao thời Tam Quốc (?)

 

Thời đó Nha Trang có khá nhiều nhà sách, nhưng bọn tôi thường lui tới Nguyễn Lê và Vĩnh An Thành, nơi nào cũng có cô con gái đẹp. Riêng Nguyễn Lê thỉnh thoảng có mấy cô bán sách cũng làm điêu đứng đám học trò mới lớn.

 

Nha Trang lúc ấy có khá nhiều rạp ciné. Rạp Moderne của ông Bác Ái không hiểu vì sao đóng cửa sớm. Rạp Tân Tiến thường chiếu phim Ấn Độ. Rạp Minh Châu thì thường có những đoàn hát cải lương – Dạ Lý Hương, Kim Chung, Thanh Minh Thanh Nga. Rạp Thạnh Xương thì chuyên hát bội. Chỉ có rạp Tân Tân và Tân Quang thường chiếu những phim hay: Cuốn Theo Chiều Gió, Gió Đồng Nội, Vũ Điệu Trong Bóng Mờ, Mặt Trời Vẫn Mọc, Lưới Tình Khó Thoát, Ben- Hur, The Vikings…Thời nổi danh của các cô đào Vivien Leigh, Marylin Monroe, Brigitte Bardot, Sophia Loren, Audrey Hepburn, Elizabeth Taylor, Gina Lolobrigida…

 

Thỉnh thoảng có các đoàn mô tô bay trình diễn trong Sân Vận Động. Tôi không còn nhớ là trong số người đẹp biểu diễn ấy có cô Bạch Yến, sau này trở thành ca sĩ, nổi tiếng với nhạc phẩm Đêm Đông, theo chồng là ông nhạc sĩ Trần Quang Hải sang Pháp, để cho ông nhạc sĩ Lam Phương sáng tác bài Phút Cuối.

Chỉ còn gần em một giây phút thôi.
Một giây nữa thôi là xa nhau rồi.
Người theo cánh chim về vui với đời
Để lại thương nhớ cho kiếp đơn côi

Những giờ nghỉ học, bọn tôi đạp xe thơ thần trên con đường Duy Tân, con đường đẹp nhất của Nha Trang, ngồi dưới mấy lùm dương, ngắm biển xanh mà nói chuyện trên trời. Có một đồng bạc đủ để mua một trái cóc khía ngâm đường của mấy người đẩy xe bán dạo. Có khi trèo rào vào Viện Pasteur để hái trộm mấy trái tra. Nha Trang diễm phúc có ông bác sĩ Yersin từ Pháp đến lập các viện nghiên cứu y học, lập Viện Pasteur.Ông đã nằm lại với Nha Trang. Mộ ông ở Suối Dầu và tên ông được đặt cho một trong những con đường “thế giá” nhất Nha Trang.

 

Hồi ấy bọn con trai chúng tôi cũng thường nghe nói đến các “băng”: Băng thằng Liên Xóm Mới, Băng Thằng Điền, Băng thằng Quách Thanh, Băng Lò Heo…, nhưng không biết các “băng” này chọc trời khuấy nước ra sao, và những vị yên hùng này có giống Điền Khắc Kim, Dũng Đa Kao được nhà văn Duyên Anh đem vào truyện hay không? Nha trang cũng có những lò luyện võ của võ sư Trọng Đãi hay Huỳnh Tiền gì đó, và dưới bờ biển có Judo Club của anh Hàn Phong Cao, con ông chủ khách sạn Phụng Hoàng nằm trước ga xe lửa. Sau này anh là thiếu tá Kỵ Binh Thiết Giáp và làm quận trưởng ở Phan Thiết.

 

Bọn tôi thường ghé lại các tiệm chè bên cạnh Rạp Ciné Tân Tiến, một đồng một ly mà thấy mình sang lắm. Thỉnh thoảng được cha mẹ thưởng cho ít tiền mới dám đến “kéo ghế” ở phở Hợp Lợi, nem Mỹ Hạnh trên đường Trần Quý Cáp, mì Lợi Ký, sữa đậu nành và Pate Chaud trên đường Độc Lập.

 

Ngày ấy đám con trai bọn tôi rất mê đá banh. Nha Trang có đội Công Chánh với ông bầu Năm. Có vài lần thi đấu ngang ngửa với các đội Thương Cảng, AJS  Sài gòn, gồm nhiều tuyển thủ quốc gia, có thủ môn Phạm Văn Rạng vang tiếng một thời. Trường Võ Tánh bọn tôi cũng có những cầu thủ nổi danh; các anh Lư Văn Thành, Nguyễn Văn Sự, Ngô Lam…tham gia trong đội bóng.

 

Những ngày cuối tháng chạp, bọn tôi rủ nhau dạo qua chợ Tết. Các gian hàng được bày ra ngay giữa lòng đường Phan Bội Châu, từ trước nhà sách Nguyễn Lê cho đến ngã tư cuối chợ Đầm. Bọn tôi thường đứng tán gẫu với cô bạn cùng lớp trông hàng cho mẹ. Ở tuổi ấy, chúng tôi không còn nô nức chờ đón Tết như thời tuổi thơ, lúc còn sống ở quê.

 

Nha Trang có chùa Hội Phật Học, nằm trên Mã Vòng đường lên Thành. Cách đó không xa, bên sườn đồi có chùa Hải Đức. Sau này trên đỉnh núi có xây tượng Phật khá lớn. Trước ngày khánh thành, mấy ông VC nằm vùng treo sau lưng tượng Phật lá cờ đỏ sao vàng thật to.Khi cảnh sát đến lấy xuống, bị nổ lựu đạn gài sẵn, hình như có người chết hay bị thương. Tôi nghiệp, chỉ có bọn người man rợ mới lợi dụng cả tượng Phật để giết người. Trước đó, tại rạp Tân Tiến, có lần VC ném lựu đạn làm chết và bị thương khá nhiều người, Đó là hai lần bọn tôi biết được, người CS đã đem chiến tranh và chết chóc đến trong lòng thành phố đẹp đẽ hiền hòa, khuấy động cuộc sống hồn nhiên yên ả của bọn tôi.

 

Nha Trang có nhà thờ đá, có người gọi là nhà thờ núi, vì nằm trên đỉnh đồi hướng ra Ngã Sáu, giữa  góc đường Gia Long – Phước Hải. Những đêm Giáng Sinh, dù không phải người Công Giáo, bọn tôi cũng rủ nhau đến đây xem người ta đi lễ, mừng Chúa ra đời. Sau đó kéo nhau về nhà một thằng nào đó ăn réveillon.Về sau, trong đám bọn tôi có thằng mê một cô bé có đạo dòng, xinh như mộng, bọn tôi thường nghe nó hát “lạy Chúa, con là người ngoại đạo, nhưng con tin có Chúa ngự trên cao…” Cuối cùng nó cũng cưới được cô bé và hai vợ chồng sống rất hạnh phúc cho đến bây giờ.

 

Đi về hướng Đồng Đế, qua khỏi cầu Xóm Bóng, Tháp Bà  Ponagar đứng trên đồi cao nhìn xuống dòng sông Cái chảy lững lờ. Di tích của đế chế Chiêm Thành còn lại. Giờ là nơi để nhiều người đến xin xăm, cầu nguyện một ân sủng từ bà Thiên Y Thánh Mẫu Ana hiển linh nào đó. Cũng là nơi hẹn hò, thề non hẹn biển của những cặp tình nhân vào những ngày vắng khách nhàn du.

 

Về hướng biển có Hòn Chồng, với dấu bàn tay in trên tảng đá đã được thêu dệt thành  nhiều huyền thoại, chứng kiến lời hẹn thề của bao cặp tình nhân, và chắc chắn cũng từng thấm đẫm nhiều nước mắt của những cuộc tình không trọn.

 

Nhưng trong tất cả các cái tên để nhớ, bọn tôi nhớ nhất là tên của những ngôi trường; Lê Quí Đôn, Kim Yến, Tương Lai, Văn Hóa, Đăng Khoa, Bồ Đề, Bá Ninh, Võ Tánh, Nữ Trung Học, … Ở mỗi ngôi trường, tôi đều có bạn bè  những năm đệ nhất cấp. Sau này hầu hết đều chuyển sang Võ Tánh. Ngôi trường công lập lớn nhất và nổi tiếng ở vùng duyên hải miền Trung. Nơi ước mơ của đám học trò, đặc biệt từ những vùng quê như bọn tôi thuở ấy.

 

Sau bậc trung học, đám bọn tôi tản mác khắp nơi. Một số vào Sài Gòn, ra Huế hay lên Đà Lạt tiếp tục học đại học, đa số nhập ngũ, vào các quân trường, rồi ra đi khắp bốn Vùng Chiến thuật. Chiến tranh ngày càng khốc liệt cuốn chúng tôi theo như cơn lốc xoáy. Kẻ chết, người bị thương. Những người may mắn còn sống thì miệt mài ở các chiến trường khói lửa. Năm tháng chỉ còn có súng đạn và mục tiêu trước mặt. Nha Trang, thành phố đẹp đẽ với những hang động tuổi thơ một thời cũng đành bỏ lại phía sau lưng. Có còn, chỉ trong vài phút giây hồi tưởng. Rồi ước mơ trở về sống với Nha Trang sau chiến chinh, khi giã từ vũ khí, lại đến trong đớn đau tức tưởi. Cuối tháng 3/75, Cộng sản chiếm Nha Trang, phủ lên thành phố này cả một trời tóc tang buồn thảm. Nha Trang không còn đẹp, thơ mộng. Và không còn là của chúng tôi.Bọn tôi phải ra đi, đành lòng bỏ lại NhaTrang. Thành phố đẹp đẽ suốt một thời tôi mới lớn, mãi mãi chỉ còn trong ký ức.

 

Những người đặc biệt tôi đã nhắc tên. Một số đã mất, người còn lại thì hầu hết đang sống tha phương, nhưng có lẽ bây giờ tóc ai cũng bạc. Tôi may mắn được gặp lại vài người. Ai cũng tiếc nuối một thời đẹp đẽ, dễ thương của chính mình, của bạn bè và của cả Nha Trang, xót xa cho một quê hương bỏ lại, giờ vẫn còn khốn khổ dưới bàn tay của những người Cộng sản đang học đòi làm những tên trùm tư bản, trên máu và nước mắt của dân tôi, của những người Nha trang hiền hòa dễ thương ngày trước.

 

Phạm Tín An Ninh

__._,_.___
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Bức Họa Khỏa Thân

Tác giả sinh quán tại Hội An, Quảng Nam, tốt nghiệp Đốc Sự Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, Cựu tù chinh trị, hiện định cư tại Virginia, đã góp bài cho Việt Báo Viết Về Nước Mỹ từ nhiều năm qua. Nhà văn Võ Phiến nhận xét về các nhân vật trong ba tập truyện của Phạm Thành Châu đã xuất bản, phải kêu là tuyệt vời. Sao mà họ chung tình đến thế. Sau đây, xin mời đọc một truyện ngắn tiêu biểu của tác giả.

* * *


Chuyện quái lạ sau đây, xảy ra cho người bạn của tôi khiến tôi cứ thắc mắc mãi. Có phải chết là hết hay là còn linh hồn? Nếu còn thì thế nào là siêu thoát, thế nào là oan hồn, uổng tử? Ma, quỉ là gì? Thời đại khoa học mà lại có người bị chết vì bị con quỉ hút hết tinh lực? Giống như chuyện Liêu Trai. Làm sao mà tin được!

Tôi với hắn quen nhau trên đảo Galang, Nam Dương, nơi đón nhạn những người vượt biên bằng thuyền sau khi cộng sản vào Sài Gòn năm bảy lăm. Qua Mỹ, cùng về tiểu bang Virginia, thỉnh thoảng gặp nhau thường rủ vô tiệm cà phê, chuyện trò. Hắn và tôi đều độc thân nên sống thoải mái, chẳng hề bận tâm chuyện nhà cửa, điện nước, vợ con. Thế rồi hơn cả năm không gặp hắn, tôi gọi điện thoại, chủ nhà trọ bảo hắn đã dọn đi nơi khác rồi.

Bỗng một hôm, tình cờ tôi gặp lại hắn ngoài chợ. Người hắn ốm nhom, da xanh như tàu lá, đi không vững nhưng đôi mắt còn linh động, miệng vẫn tươi cười. Tôi hỏi.

– Lối rày sao trông mầy xanh xao quá! Có bịnh hoạn gì không? Đi bác sĩ chưa?

– Chả bịnh gì cả. Không hiểu sao? Đi bác sĩ khám bịnh, thử máu, chụp hình. Chụp từ đầu đến chân. Tim, gan, phèo, phổi đều được khám xét rất kỹ. Vẫn bình thường.

– Thế thì phải có chuyện gì xảy ra cho mầy? Hay là gặp em nào, “đêm bảy ngày ba” mầy mới ra nông nổi nầy.

– Mầy đoán có phần đúng, nhưng không phải em nào làm tao xanh xao mà là một bức tranh.

– Tôi kinh ngạc.

– Tại sao một bức tranh lại có thể làm mầy suy sụp đến nguy hiểm như vậy được?

– Chuyện dài dòng lắm, đây là địa chỉ của tao, chủ nhật tới, đến tao, chỉ cho mầy bức tranh, tao kể chuyện mầy mới hiểu được.

Chủ nhật sau, tôi đến. Hắn thuê phòng dưới một tầng hầm (basement), trong phòng có treo một bức tranh thiếu nữ khỏa thân. Tôi chưa hề thấy một bức tranh tuyệt vời đến như thế. Cô gái trong tranh đẹp lồ lộ, nhưng là vẻ đẹp tinh khiết, từ đôi mắt ngây thơ đến mái tóc đen tuyền xỏa trên vai, nhất là thân thể, chân tay, làn da… đều sáng, mịn như đúc bằng ngọc bích. Cô giống như nàng tiên, cùng các bạn xuống chơi trần thế, vừa tắm suối xong, bước lên bờ một cách hồn nhiên, vô tư tưởng chừng như thế gian không có người phàm tục.

Thấy tôi cứ đứng ngẩn ngơ trước bức tranh, hắn đi nấu nước trà rồi bắt tôi ngồi xuống để nghe hắn kể.

*


Câu chuyện bắt đầu từ Việt Nam, cách đây khá lâu, khi tao còn học trường Phan Chu Trinh, Đà Nẳng. Thời trung học thì mầy cũng biết, yêu ai thì cứ yêu, không cần biết đối tượng có yêu lại hay không. Được yêu lại thì gọi là yêu nhau. Bị từ chối thì gọi là yêu đơn phương. Tao yêu đơn phương.

Năm đó tao học đệ nhị, em học đệ ngũ. Con gái đệ ngũ như hoa hồng hé nở, cô nào cũng đẹp, cũng duyên dáng. Em là con chiên Công Giáo, sáng chủ nhật đi lễ nhà thờ, tao cũng dậy sớm, ăn mặc chỉnh tề, ôm quyển tự điển to tướng, trông giống quyển thánh kinh, dĩ nhiên đã bao cái bìa, đi chen vào với gia đình em, mục đích để được đi cạnh em mà không ai quan tâm vì tưởng tao cũng là bổn đạo. Bố em là công chức Tòa Thị Chính, nơi khác đến làm việc chứ không phải người địa phương. Ông ta ốm, thấp, mặt mũi nhăn nhó, khó chịu. Tao sợ ông ta lắm vì mặc cảm yêu con gái ông ta. Thường thì thấy tao, em mỉm cười chào một cách yên lặng. Khi đến nhà thờ, tao loanh quanh đâu đó rồi quay về, vì tao đâu phải giáo dân.

Nhà em ở đầu con hẻm, nhà tao ở trong hẻm nên tối nào, đang học bài, nhớ em, tao đi qua lại trước nhà em vài lần. Tao còn làm thơ yêu em, trước khi gửi bài thơ đăng báo, tao đều gửi đến em kèm với lá thư tình. Tao gửi trực tiếp đến phòng học của em chứ không qua bưu điện. Số là một buổi tối, đi ngang nhà em, tao thấy có ánh sáng hắt ra từ một căn phòng. Nhà em có vườn rộng, buổi tối đóng cửa sớm. Tao bước lên hiên nhà em, cúi xuống nhìn qua cửa lá sách, thấy em đang học bài. Thế là từ đó, tao đến với lá thư, tao ngắm trộm em một lúc trước khi chuồi lá thư qua khe cửa. Em không biết được, nhưng sáng hôm sau, mở cửa, em sẽ thấy lá thư.

Em được thư tao nhưng không thấy phản ứng gì, gặp tao em không nhìn chỉ mím cười. Như thế thì mầy cũng hiểu là em không yêu tao, tuy có hãnh diện được tao si mê. Tao yêu em gần ba năm mà tình trạng vẫn không thay đổi. Cho đến năm tao thi xong tú tài hai, chuẩn bị vào Sài Gòn học đại học, tao mới viết một lá thư thật dài, toàn những lời si mê em. Nào là dù phương trời góc biển, tao cũng không quên em, dù sau nầy khi em không còn trẻ đẹp nữa, nếu em rủ lòng, tao sẵn sàng quì dưới chân em, làm một tên nô lệ. Cuối thư, tao xin em, trả lời cho tao vài chữ, để mắng chửi tao cũng được, miễn sao tao có bút tích của em, làm “hành trang lên đường!” Tao còn thêm một câu “Ý định xin Bình Minh một tấm hình có phải là không tưởng, là viễn vông chăng?” Góc lá thư tao ghi địa chỉ người bà con ở Sài Gòn mà tao sẽ vào trọ học. Tối đó, tao mang lá thư đến nhà em. Tưởng nghỉ hè, em đi ngủ sớm, không ngờ đến nơi, thấy đèn phòng em vẫn còn sáng, nhưng nhìn qua khe cửa lá sách, tao không thấy em. Tao đi vòng qua phía sau vườn thì phát giác phòng em còn một cửa sổ nữa. Cửa sổ nầy hé mở nhưng không có thềm nhà nên rất cao. Vì muốn nhìn em lần cuối trước khi đi xa nên tao leo lên một cây nhỏ bên cửa sổ, cố nhìn vào bên trong tìm em. Cây nầy thấp nhưng rất dẻo, tao đứng trên cành nhỏ mà không gãy. Vì sợ gây tiếng động, tao leo nhẹ như một con mèo.

Tao thấy được em, nhưng mầy biết em đang làm gì không? Nói, ắt mầy không tin, lúc đó chính tao cũng không tin ở mắt mình nữa. Em đang khỏa thân, nghĩa là không mặc áo quần gì cả. Tao nhớ rất rõ, bấy giờ, chân tay tao, cả người tao run bần bật như lên cơn sốt rét, khiến cành cây cũng rung theo, tiếng lá nghe xào xạc. Tim tao đập thình thịch, như vang dội khắp nơi. Cũng may em không để ý, vả lại tao ở trong bóng tối, em không thể nào thấy được hai con mắt tao núp sau cánh cửa. Em đứng cách tao khoảng vài mét, đèn điện sáng trưng nên hầu như tao nhìn thấy rõ từng sợi tơ mịn trên thân thể em. Ngực em nhỏ nhưng dựng đứng lên, bụng em thon, đùi em tròn…Tao không ngờ thân thể con gái hấp dẫn, tuyệt vời đến như thế. Từ lúc yêu em tao chỉ mới biết mái tóc em, dáng em đi, là những gì đẹp nhất, đến khi chiêm ngưỡng thân thể của em, từ đầu cho đến chân, tao như bị em lấy mất linh hồn. Em cứ đứng trước gương soi xoay người, nghiêng mình… giống như trình diễn thời trang nhưng lại không có áo quần gì cả! Cho đến bây giờ, em vẫn còn như trước mắt, tao nhớ suốt đời và ước mơ suốt đời, với em. Tao không biết mình chiêm ngưỡng thân thể em trong bao lâu, nhưng khi em tắt đèn đi ngủ thì hai tay tao mỏi rã rời, và lũ muỗi, chưa hề gặp được một người tử tế đến độ cho hút máu thoải mái mà không cục cựa. Khi vào đến Sài Gòn, mặt mũi, chân tay tao vẫn còn những chỗ ngứa đến mưng mủ. Trước khi ra về, tao để lá thư của tao chỗ cửa sổ. Không hiểu em sẽ nghĩ gì khi biết tao nhìn thấy thân thể em?

– Nhưng mầy có biết vì sao em lại thoát y, uốn éo trước gương soi cả buổi không? Có phải em bị một chứng bịnh nào đó về tâm sinh lý, bịnh phô bày chẳng hạn, nghĩa là em muốn được mầy ngắm thân thể em, thì em mới khoái cảm, vì biết mầy thường đến nhìn trộm em qua cửa sổ?

– Tao biết chắc là tâm lý em bình thường nhưng nguyên nhân em thoát y, cho đến bây giờ, tao vẫn không tìm ra. Để tao kể tiếp. Khi vào đến Sài Gòn độ một tuần, tao đã được thư em, tuy không ghi địa chỉ người gửi. Tao hồi hộp mở phong bì ra. Chẳng có gì cả! Tao thất vọng, nhưng nhìn kỹ, trong góc phong bì có một tấm ảnh nhỏ của em, thứ ảnh học trò thường dán trên thẻ học sinh, nhỏ cỡ lóng tay cái. Hình em tóc ngang vai, nhìn thẳng, ngây thơ, hiền lành. Đó, tấm ảnh tao dán ở góc bức tranh kia kìa. Mầy thấy hình vẽ và ảnh chụp đúng là một người, phải không? Sau ảnh em có ghi mấy giòng chữ li ti “Bình Minh báo cho anh một tin vui và một tin buồn. Tin vui là Bình Minh đã yêu một người. Tin buồn là người Bình Minh yêu không phải là anh.” Tao chẳng cần biết em yêu ai, miễn có ảnh em là tao vui rồi. Chỉ cần ngắm ảnh bán thân tí xíu của em tao có thể tưởng tượng được toàn thể thân thể em, để mà ham muốn, thèm thuồng em. Vả lại khi em chịu cho ảnh lại viết mấy chữ, chứng tỏ em không ghét tao, có thể có cảm tình với tao nhưng ít hơn người em yêu. Biết đâu, khi em bị tình phụ, tao có nhiều may mắn được làm người kế tiếp. Tình yêu học trò, khó có chuyện thành vợ chồng nên tao có quyền hi vọng. Hết niên học ở Sài Gòn, tao về Đà Nẳng nghỉ hè, mục đích thăm em. Nhưng về đến nơi thì được tin em đã chết. Nhà em đã đổi chủ, gia đình em đã dọn đi nơi nào không rõ. Người ta đồn rằng em thất tình tự tử, người thì cho rằng em bị bịnh thình lình mà chết. Tao có tìm đến thăm mộ em, thắp nhang và khấn rằng “Bình Minh có linh thiêng xin linh hồn em cho anh gặp. Anh chỉ yêu một mình em thôi. Anh sẽ không yêu ai cả, không lấy vợ…” Có lẽ vì quá mơ tưởng em nên tối đó tao chiêm bao thấy em Bình Minh đến đứng cạnh giường tao, nhìn tao mỉm cười rồi quay bước ra khỏi cửa. Từ đó tao không mơ thấy em nữa, mãi đến sau nầy…khi tao có bức tranh treo kia kìa. Mầy thấy dung nhan em ra sao? Có đáng để tao si mê em không?

Tôi nhìn kỹ và nói.

– Đúng là hai tấm hình là của một người, rất đẹp, nhưng người vẽ mới là tài hoa.

– Họa sĩ danh tiếng mà mầy!

– Nhưng làm sao mầy có bức tranh nầy? Có điều lạ là chuyện mầy kể xảy ra trước năm bảy lăm, mà bức tranh nầy, họa sĩ La Hy ký tên và đề năm chín mươi, nghĩa là họa sĩ vẽ bức tranh sau khi em Bình Minh của mầy chết đã hơn mười mấy năm. Không lẽ em Bình Minh của mầy còn sống?

– Điều chắc chắn là em Bình Minh đã chết.

– Vậy thì mầy thử kể lai lịch bức tranh nầy tao nghe. Ông họa sĩ La Hy thì tao có biết tiếng. Mầy mua bao nhiêu, khi nào? Hay là mầy ăn cắp?

– Không mua mà cũng chẳng ăn cắp. Thực ra tao cũng định ăn cắp, vì bức tranh giá trị như thế, tao không đủ tiền mua, mà chắc gì ông họa sĩ muốn bán cho một thằng chẳng ra gì như tao.

– Mầy cứ kể lai lịch bức tranh nầy và nguyên nhân nào khiến mầy xanh xao, gầy còm đến như thế?

– Đừng sốt ruột! Đầu đuôi câu chuyện như thế nầy. Khi qua đến xứ Mỹ, lúc rảnh rỗi tao có làm thơ đăng báo. Thơ tao chẳng hay ho gì, nhưng bạn thơ thường tìm đến nhau, tụ tập trò chuyện. Thế rồi cả bọn đề nghị ra một tập thơ nhiều tác giả. Nhiệm vụ tao là đến nhờ họa sĩ La Hy cái tranh bìa tập thơ. Tao chưa hề biết ông ta, chỉ giở điện thoại niên giám và gọi xin đến gặp về cái tranh bìa. Đúng hẹn, tao đến. Khi vào nhà ông thì tao muốn ngộp vì tranh. Chỗ nào cũng treo đầy tranh. Thấy tao thích tranh, ông chỉ lối cho tao lên phòng trưng bày tranh của ông rồi bỏ đó cho tao được tự do. Trước đây, khi còn ở Sài Gòn, tao đã có dịp xem tranh ông triển lãm, nhưng chưa bao giờ thấy nhiều tranh đến như thế. Bức nào cũng đẹp. Tao như bị thôi miên, như mộng du, cứ lẩn thẩn từ bức tranh nầy đến bức khác. Lúc gần đến cuối phòng, tao giật mình khi chợt thấy bức họa khỏa thân nầy. Đó là hình vẽ em Bình Minh, thần tượng của tao. Tao đứng ngắm hình em, mê mẩn tâm thần. Tao bỗng có ý mua bức tranh, nhưng nghĩ lại, chắc gì tao có đủ tiền để mua. Mua tranh chứ đâu phải như ở Việt Nam đi chợ mua cá mà trả giá. Cũng làm gì có chuyện mua trả góp như mua nhà, mua xe! Nhưng tao nhất định phải có bức tranh em Bình Minh. Trong trí tao bỗng nảy ra ý định ăn cắp. Lúc đó ông họa sĩ đã xuống dưới nhà. Tao nhìn quanh, thấy phòng đó có cửa kính mở ra sau vườn, giống như bất cứ nhà nào ở xứ Mỹ nầy. Đó là loại cửa đẩy. Tao kéo cái chốt gài, đẩy lùi cửa, một chút thôi, như thế cái chốt hở ra chứ không gài vào cái ngàm, coi như cửa không khóa, người ở ngoài có thể mở dễ dàng. Mục đích, sau nầy, khi cả nhà ông đi vắng, tao sẽ vào cửa sau và ăn trộm bức tranh. Tao quay xuống phòng khách, suýt soa khen tranh ông nhưng không hề đề cập đến bức họa khỏa thân em Bình Minh.

Tôi chận lại.

– Sao mầy không hỏi người trong tranh là ai? Có phải em Bình Minh hay là người nào khác? Nhất là cái năm mà ông ký tên ở góc bức tranh, cách ngày em Bình Minh của mầy chết cả mười mấy năm.

– Tao còn ngứa miệng, tò mò gấp mấy lần mầy, nhưng tao giữ lại kịp. Nếu tao hỏi mà chỉ mấy hôm sau, bức tranh biến mất thì ông ta biết ngay tao là thằng ăn trộm. Thế nên tao chỉ nói chuyện với ông ta về cái tranh bìa tập thơ mà thôi. Ông hẹn tao tuần sau đến lấy. Bức tranh cứ ám ảnh tao mãi. Dạo đó vào cuối mùa Thu, trời hay mưa. Tao dự định đậu xe một nơi xa, mặc áo mưa trùm kín, không ai nhận diện được, nhất là vào lúc khuya, mọi người rút cả vào trong nhà, ngủ kỹ, rất thuận tiện cho tao ra tay. Âm mưu chưa thực hiện được thì đã đến ngày tao đến nhận cái tranh bìa tập thơ. Hôm đó là sáng Chủ Nhật, hình như mọi người trong nhà đều tụ tập ở phòng khách. Sau vài thủ tục trao đổi, tao lấy cái tranh bìa rồi cáo từ, nhưng ông ta giữ lại “Anh chờ tôi một phút, tôi có món quà tặng anh” Xong ông ta vào phòng tranh, lúc trở ra ông mang theo bức họa khỏa thân của em Bình Minh. Tao vừa kinh ngạc vừa xấu hổ. Tao nghĩ là nhà ông có máy thu hình, lần trước đã thấy tao đứng nhìn say sưa bức tranh rồi lại gỡ cái chốt cửa kiếng ra. Thế là rõ ràng tao muốn ăn trộm. Cho nên tao thối thác ngay “Tôi thích bức tranh nầy lắm, nhưng trị giá của nó không phải là nhỏ, tôi không đủ sức mua, vả lại phòng trọ của tôi chật hẹp, không xứng để treo, thỉnh thoảng cho phép tôi đến ngắm là thỏa mãn lắm rồi” Ông ta bảo “Bức tranh nầy tôi không có ý định bán, tôi giữ trong nhà hoặc tặng cho anh mà thôi, và anh là người duy nhất được cái hân hạnh đó. Bà xã tôi đây cũng đồng ý như thế” Tao lấy làm quái lạ, trước giờ tao chỉ gặp ông họa sĩ là lần thứ hai, cũng không hề biết người nào khác trong gia đình ông, vậy mà lúc đó, mọi người nhìn tao với cặp mắt thân thiện chứ không mỉa mai như tao nghĩ. Vợ ông họa sĩ để tựa bức tranh vào tường, đứng nhìn với vẻ thân ái, rồi chị trịnh trọng trao cho tao. Cả nhà đứng lên, không phải tiễn tao mà tiễn bức tranh một cách lưu luyến. Tao chỉ biết nói cám ơn rồi mang bức tranh đi ngay, sợ ông ta đổi ý, đòi lại. Tao đặt bức tranh ở ghế bên cạnh, vừa lái xe vừa ngắm hình em Bình Minh cho đã con mắt. Đột nhiên tao kinh ngạc. Mầy nhìn kỹ xem, em Bình Minh nhìn thăng, không cười. Vậy mà lúc đó tao thấy rõ ràng, em đang liếc nhìn tao, miệng hé mở như đang cười với tao.

Tôi kêu lên.

– Thôi, chết mầy rồi, bức tranh nầy có hồn ma. Ông ta muốn tống khứ cái hồn ma trong tranh nầy cho mầy đó!

– Mầy suy luận giống tao, những gì tao kể tiếp theo đây mới xác nhận điều đó, chứ bấy giờ tao nghĩ rằng mắt mình nhìn lầm, vì khi quay nhìn lần nữa thì bức tranh không còn gì lạ, tao chỉ thắc mắc tại sao ông họa sĩ cho bức tranh mà không nói lý do?

Hắn đứng dậy đi thắp một cây nhang, cắm lên cái ly thủy tinh đựng gạo, coi như là cái bình nhang. Căn phòng hắn mướn, dưới tầng hầm, không có cửa sổ, không khí lạnh lẽo lại thêm mùi nhang trầm nên thâm u, ma quái khiến tôi tưởng như hồn ma cô gái trong tranh đang lắng nghe chúng tôi chuyện trò.

– Tao đem tấm ảnh học trò em Bình Minh tặng ngày trước ra so sánh. Đúng là em! Chả lẽ em còn sống? Ngày xưa, chính mắt tao thấy mộ bia em ghi rõ ngày sinh, ngày chết.

Tôi lại ngắt lời hắn.

– Nếu mầy xác nhận hình trong tranh là em Bình Minh của mầy thì sau gần hai mươi năm em phải khác, phải già hơn. Đây là tranh một cô gái độ mười tám tuổi, vẽ năm chín mươi, nên tao nghĩ người trong tranh là con gái em Bình Minh của mầy. Giả thiết như thế nầy. Năm đó em tằng tịu rồi có bầu với người yêu, là người mà em đã cho mầy biết trong thư. Rồi người yêu chạy làng. Em bán cái, bảo rằng đó là con của mầy, mấy bài thơ mầy tặng em là chứng cớ, rồi em chết, có thể vì bịnh, có thể vì thất vọng, xấu hổ. Biết đâu hiện nay ông họa sĩ đang nuôi cô bé đó.

Hắn cười.

– Tao không nghĩ câu chuyện lại rắc rối, ly kì như tiểu thuyết tình cảm hay tuồng cải lương. Nó đơn giản hơn nhiều. Cái ly kì là ở những gì tao sắp kể sau đây. Tao nghĩ, dù có giả thiết nào đi nữa thì em Bình Minh cũng thật sự chết rồi, và bức tranh đó là hình vẽ em nên chiều đó tao ghé tiệm chạp phô mua nhang đèn, hoa quả về đặt trước hình em, coi như thờ cúng em. Tao treo bức tranh lên, tối đó nằm nhìn tranh và nhớ lại buổi tối năm nào, tao leo cửa sổ và ngắm thân thể hấp dẫn của em. Tao khấn thầm, đúng hơn là như đọc câu thần chú “Em Bình Minh, hãy hiện ra! Hãy hiện ra!” mục đích nói vơ vẩn cho vui thôi. Rồi tao cảm thấy buồn ngủ. Lúc đó chưa khuya lắm, đèn ngủ trong phòng vẫn còn sáng. Hai mắt tao ríu lại, nửa tỉnh nửa mơ…Tao bỗng thấy như bức tranh đang trôi đi, đúng hơn là em Bình Minh từ trong tranh hiện ra, bay lơ lửng về phía tao. Tao tỉnh ngủ hẳn, muốn ngồi dậy, nhưng chân tay tao không cử động được. Tao nghe rõ tiếng xe chạy ngoài đường vừa thấy rõ em Bình Minh yên lặng đến nằm cạnh tao. Tao thấy chúng tao ôm nhau, tao đè lên em… Thế rồi tao ngủ thiếp đi.

Tôi nhận xét.

– Tuổi trung niên như mầy, như tao mà không có vợ thì chuyện sinh lý đòi hỏi đến độ nằm mơ là chuyện thường, nhất là cứ nhìn một bức họa khỏa thân trong một đêm vắng thì chuyện quần lót vẽ “đảo Hải Nam” tức là dấu vết của sự sung sức thải ra, là đương nhiên.

– Lúc đầu tao cũng nghĩ như mầy nên tao rất cảnh giác, tối đến, tao cố tỉnh ngủ để xem có thật em hiện ra không? Ấy vậy mà đến một lúc, tự nhiên mắt tao ríu lại, nhưng thần trí vẫn tỉnh. Tao thấy rõ ràng em từ trong tranh hiện ra. Em trong tranh lớn dần, từ từ rời khỏi khung, như bay về phía tao. Tao cố gắng kêu lên, cố vẫy vùng, nhưng biết rằng mình không cử động được. Điều đáng ngạc nhiên là những lần sau nầy em hành động như một cô gái điếm chuyên nghiệp. Trí óc sáng suốt của tao nhận biết em đang làm gì. Em hôn hít, vuốt ve tao. Nhất là lúc em cúi gập người xuống, phủ phục dưới bụng tao. Tao bị kích thích đến run rẩy, tê dại chân tay. Rồi tao cảm thấy tất cả tinh lực của tao, cùng với sự khoái cảm tột độ, cuồn cuộn tuôn trào vào miệng em. Giống như đứa bé mút bình sữa vậy. Tao quằn quại…rồi thiếp đi. Chỉ vài tuần sau là người tao khô kiệt như mầy thấy đây. Tao đâm sợ hãi, ban ngày, tao lật cho bức tranh úp mặt vô tường, nhưng đêm đến, tao không tự chủ được, lại trở bức tranh ra, lại mong đợi em, giống như có một ma lực xúi biểu tao thèm em, nhớ em. Để rồi em lại hiện ra. Chính tao biết rõ tình hình rất nguy ngập nhưng tao không có cách nào thoát khỏi tay em! Mầy có ý kiến gì không?

Thật tâm thì tôi không thể tin nỗi chuyện ma quái xảy ra trong thời phi thuyền liên hành tinh. Bên dưới những diễn biến tôi nghe được phải có sự thật nào đó mà chưa tìm ra? Cho nên tôi bảo hắn.

– Theo tao thì phải đến ông họa sĩ La Hy hỏi rõ người trong tranh, hỏi rõ nguyên nhân ông ta cho mầy bức tranh, hỏi xem ông ta có thấy gì lạ từ bức tranh đó không? Lúc đó mới có giải pháp khả dĩ. Tốt nhất là mầy đem trả bức tranh cho ông ta là yên chuyện.

– Tao cũng đã nghĩ như mầy. Nhiều lần tao đem bức tranh đi trả, nhưng hễ bỏ bức tranh lên xe, lái đi, là tao như người mất hồn, không hiểu mình đang làm gì, đi đâu đây! Cứ lơ mơ như say rượu. Tay lái như có người khác điều khiển vì tao giữ chặt cách mấy, tay lái vẫn bị giật qua trái, qua phải như giận dữ, nóng nảy. Nhiều lần xe tao đi vào đường cấm, có khi suýt tung xe người khác cho đến lúc phải quay xe về, tao mới tỉnh người. Hay là mầy với tao thử đến ông họa sĩ xem sao? Để tao gọi ông ta, xin đến gặp ngay bây giờ.

Hắn gọi điện thoại rồi bảo tôi rằng ông ta vui vẻ mời đến. Thế rồi chúng tôi đến nhà họa sĩ La Hy. Trong lúc trà nước, chúng tôi chưa lên tiếng thì ông đã cười bảo hắn.

– Tôi biết ngay làm gì anh cũng thắc mắc về chuyện tự nhiên lại tặng anh bức họa khỏa thân. Ngay bản thân tôi cũng có vài thắc mắc cần anh giải thích. Việc tặng anh bức tranh là do chính người trong tranh, đúng hơn là hồn một người chết hiện ra bảo như thế. Không phải trực tiếp bảo tôi đâu!

Chúng tôi càng ngạc nhiên nên đề nghị ông kể rõ lai lịch bức tranh cũng như người trong tranh, lý do ông ta tặng tranh. Ông yên lặng một lúc, đăm chiêu như cố nhớ lại câu chuyện cho rõ ràng, chính xác.

Chuyện xảy ra khá lâu, cách đây cũng gần vài mươi năm. Tôi tốt nghiệp Cao Đẳng Mỹ Thuật, về dạy vẽ ở Huế. Mùa hè năm đó tôi nghỉ hè tại nhà người chị ở Đà Nẳng. Vợ chồng chị tôi đều là giáo sư trung học, chưa có con. Nhà chị tôi có lầu, tôi ở một phòng riêng trên lầu, phía sau có ban công. Buổi sáng tôi thường ra ban công uống cà phê, vẽ vời linh tinh. Một hôm, đứng trên ban công, nhìn qua vườn hàng xóm, tôi thấy một cô gái đang hái hoa, có lẽ để cắm trong nhà. Tôi yên lặng nhìn cô. Một lát, vô tình nhìn lên, cô thấy tôi và cười rất tự nhiên “Chào anh!” “Chào cô bé! hôm nay không đi học sao?” “Nghỉ hè mà!” Thế rồi cô thành người hàng xóm của tôi. Tôi thường xuống thang lầu lộ thiên sau nhà, đứng bên nầy hàng rào, chuyện trò với cô. Một hôm tôi đem xuống tặng cô một bức tranh tôi vẽ cô. Cô ngạc nhiên, sao không có hình mà tôi lại vẽ giống cô? Thế rồi cô xin được lên phòng xem tranh. Tôi vạch cho cô một lối đi băng qua hàng rào, lên phòng tranh của tôi trên lầu. Sau đó tôi nhờ cô ngồi làm mẫu để tôi vẽ. Được bức nào tôi đều tặng cả cho cô. Cô đẹp tự nhiên. Tuổi cô như hoa hé nở, đầy sức sống, đầy tình yêu và tự tin. Đối với tôi, cô chỉ là người bạn nhỏ. Tuy chúng tôi thân mật và cô rất tin cẩn tôi mỗi khi gặp nhau trong phòng tranh nhưng tôi vẫn cẩn thận tránh đụng chạm và lời nói khác ý gì. Một lần tôi đề nghị cô làm mẫu khỏa thân, cô đồng ý ngay. Mỗi buổi sáng cô lên phòng tôi, cởi áo quần ra ngồi làm mẫu độ nửa giờ. Tôi hoàn toàn nhìn cô bằng đôi mắt nghệ thuật. Thân hình cô rất đẹp, không phải vì khêu gợi mà ở vẻ thanh tân, trong trắng. Thật khó nói! Giống như một viên ngọc đã được hóa công trau chuốt. Trong sáng, không một vết vẫn đục! Chân tay cô, thân thể cô là một sự hài hòa những đường nét tuyệt vời. Da cô mịn như cánh hoa hồng. Tôi như cảm nhận được mùi thơm trinh nữ từ người cô tỏa ra, thanh tao, nhẹ nhàng như hương trà, hương hoa. Thần trí tôi bay bỗng, say sưa theo từng nét cọ, từng mảng màu. Từ đó đến nay tôi chưa hề có lại giây phút rung động đến xuất thần như khi vẽ cô ta, và cũng chưa lần nào tôi vẽ đẹp đến như thế.

Bạn tôi liếc nhìn tôi. Thì ra hắn được ngắm em Bình Minh khỏa thân là trong thời gian em ngồi làm mẫu. Em uốn éo, nghiêng ngó trong gương soi là tìm cách thế sao cho họa sĩ vẽ đẹp nhất. Ông họa sĩ trầm ngâm một lúc rồi kể tiếp.

– Bức tranh vẽ xong, tôi lên khung và trao cho cô “Anh tặng em để làm kỷ niệm. Đây là bức tranh mà anh vừa ý nhất trong các tranh vẽ về em” Cô lộ vẻ sung sướng “Anh gói kỹ giùm em, thỉnh thoảng em sẽ mở ra để ngắm. Ba em thấy được, giết em chết. Để khi em lớn lên, không ở với gia đình nữa, em sẽ treo trong phòng em”.

Hai hôm sau, cô lên phòng tôi, thấy tôi đang dọn dẹp các bức tranh, dụng cụ, cô hỏi “Anh hết nghỉ hè rồi sao?” Tôi nói “Còn chứ, nhưng anh phải về Huế cưới vợ. Giá như anh cưới vợ ở Đà Nẳng, anh sẽ mời em, nhưng Huế xa quá!” Cô không nói gì nhưng mặt cô tái nhợt. Cô yên lặng xuống cầu thang ra về, nhưng mới vài bước, cô đã lảo đảo ngã ngồi xuống. Tôi vội đến đỡ cô lên, dìu đến ghế ngồi. Đó là lần duy nhất tôi chạm đến người cô. Tôi nghĩ rằng cô bị trúng gió nên đi tìm cho cô lọ dầu, nhưng khi quay lại, cô đã đi rồi. Tôi ra sân thượng, nhìn xuống, thấy cô vẫn còn phải vịn vách tường vào nhà. Tôi về Huế, tháng sau thì cưới vợ. Vợ chồng người chị tôi ở Đà Nẳng ra dự đám cưới có mang cho tôi một gói lớn, đó là những bức tranh tôi đã vẽ về cô và đã tặng cô. Chị tôi bảo “Con nhỏ hàng xóm gửi trả lại mấy bức tranh” Vì bận việc tôi không lưu ý đến. Sau ngày đám cưới chúng tôi đi Nha Trang rồi Đa Lạt, Vũng Tàu hưởng tuần trăng mật. Có điều lạ là thỉnh thoảng nhà tôi nằm mơ thấy một cô gái đến bảo “Chị thật là may mắn, hạnh phúc!” Giấc mộng cứ lặp lại nhiều lần như thế. Tôi hỏi nhà tôi “Em có từng gặp, có quen ai giống người em thấy trong mơ không? Cô ta vui hay buồn?” “Cô ta không lộ vẻ vui hay buồn. Cô gái rất lạ, em chưa hề gặp ngoài đời bao giờ”

Sau tuần trăng mật, về lại Huế, nhớ lại mấy bức tranh cô gái ở Đà Nẳng, tôi mở ra định treo lên thì thấy ở bức tranh khỏa thân có miếng giấy nhỏ, ghi giòng chữ “Em buồn quá anh ơi! Có lẽ em không sống nổi!” Tôi nghĩ rằng cô học hành, thi cử sao đó hoặc vì mấy bức tranh nầy, cha mẹ cô bắt gặp, la mắng khiến cô buồn rầu chăng, nên tôi không quan tâm lắm. Khi nhà tôi lên phòng vẽ, thấy mấy bức tranh đó cứ đứng nhìn mãi “Hình như em có gặp cô nầy ở đâu?” “Đây là cô học trò ở Đà Nẳng, em đã gặp cô ta ở đó chăng?” “Em chưa nhớ ra nhưng thấy quen quen” Mấy hôm sau, nửa khuya, nhà tôi đánh thức tôi dậy “Cô gái em thường nằm mơ thấy là cô trong mấy bức tranh anh vẽ. Vừa rồi, em lại mơ thấy cô ta, tỉnh dậy, em nhớ ra ngay, có lẽ đó là hồn ma cô ta” Tôi cười bảo “Cô ta còn sống nhăn ở Đà Nẳng, hôm nào vào Đà Nẳng, anh giới thiệu cô ta để em xác nhận có đúng là người em nằm mơ không?”.

Tháng sau, vào Đà Nẳng, chúng tôi hỏi thăm thì chị tôi bảo “Cô hàng xóm bịnh, chết rồi” Nhà tôi có ý nghi ngờ về tình cảm, liên hệ giữa tôi và cô ta. Tôi kể hết mọi chuyện và xác nhận rằng tôi chỉ xem cô như em gái và cô ta cũng không lộ tỏ cảm tình đặc biệt gì với tôi cả. Nhà tôi nghĩ rằng, có lẽ cô gái yêu thầm tôi nên khi nghe tin tôi lấy vợ, cô ta thất vọng, nghĩ quẫn nên tự tử chăng? Chúng tôi có tìm đến thăm mộ cô ta. Nhà tôi ghi nhận ngày sinh, ngày mất của cô, đến chùa xin lễ cầu siêu cho cô. Sau nầy hễ đến ngày cô mất nhà tôi thường đến chùa với lễ vật, cúng kiếng, cầu siêu cho cô rất tươm tất. Tôi không hề nằm mơ thấy cô ta nên tôi không tin có chuyện hồn ma, bóng quế, nhưng nhà tôi thì tin lắm.

Sau năm bảy lăm, đổi đời, chúng tôi dự định vượt biên, nhưng khi có ai đến rủ, nhà tôi đều thắp nhang, khấn xin cô về báo cho biết có nên đi hay không? Nếu không nằm mộng thì từ chối. Cho đến một hôm, nhà tôi mơ thấy cô hiện ra cười bảo “Nên đi đi!” Nhà tôi không hiểu ý gì, bất ngờ, đến trưa thì có một người không quen lắm đến rủ vượt biên, chúng tôi nhận lời. Chuyến đi thật liều lĩnh, tưởng như đun đầu cho công an bắt. Chúng tôi xuống Cần Thơ đi ăn cưới, một đám cưới thật, ngay cạnh đồn công an xã, trước chợ. Gần tối, chúng tôi xuống thuyền nhỏ. Mấy cậu công an trẻ, ăn cưới say sưa còn nói đùa “Đến nơi nhớ đánh điện về nghe! Qua đến Mỹ thì gửi về một thùng quà!” Nhà tôi cứ khấn thầm xin cô ta phù hộ. Chuyến đi vừa nguy hiểm vừa như đùa lại trót lọt một cách không thể ngờ được!

Qua đến Mỹ, nhà tôi lập một bàn thờ nhỏ, giỗ chạp tươm tất như với người thân thích, lại còn đến chùa xin lễ cầu siêu nữa. Lần trước, tự nhiên nhà tôi lại mơ thấy cô ta hiện ra bảo “Sáng mai, đưa hình em cho anh ấy đem đi!” Chúng tôi không hiểu gì cả, nhưng suy đoán rằng, sáng mai sẽ có người đến mua tranh và chắc chắn sẽ hỏi mua bức tranh vẽ về cô ta. Nhưng cả ngày hôm đó chỉ có anh đến xin cái tranh bìa cho tập thơ mà thôi. Lần trước, khi anh đến xem tranh, trong lúc anh ở trong phòng tranh thì nhà tôi bất ngờ đi vào, thấy anh đứng ngắm hình vẽ cô ta say mê đến độ có người lên mà anh cũng không biết! Chúng tôi đoán anh và cô ta phải có liên hệ gì đây, nhưng vì tế nhị nên không hỏi.

Tôi ngắt lời ông ta.

– Nghe anh kể thì chuyện xảy ra trước năm bảy lăm, sao bức tranh lại ký tên năm chín mươi?

– Khi vượt biên, chúng tôi bỏ lại toàn bộ những họa phẩm, là những gì chúng tôi quí nhất. Sang đến Mỹ, để tỏ lòng nhớ ơn cô ta trong vụ vượt biên, nhà tôi bảo tôi nên vẽ lại bức tranh về cô ta, vừa để tưởng niệm vừa như để thờ, vì thế bức tranh mới ký năm chín mươi. Khi vẽ hình cô, tuy bao nhiêu năm rồi mà tôi còn nhớ y nguyên trong đầu hình ảnh cô. Nhớ rõ từng sợi tơ, sợi tóc, từng làn da, từng hơi thở, hương thơm của cô… Bàn tay tôi như có một sức rung động lạ kỳ, như lên cơ bút, như xuất thần. Thế là chỉ trong một ngày tôi đã hoàn tất bức tranh đó, tuy không đẹp bằng bức tranh trước, nhưng rất giống.

Bạn tôi hỏi.

– Có phải cô ta tên Bình Minh không?

Họa sĩ La Hy ngạc nhiên.

– Đúng là tên Bình Minh, nhưng sao anh biết? Chúng tôi đoán không lầm, phải có mối liên hệ giữa cô ta và anh nên mới có vụ cô ta bảo tặng bức tranh cho anh. Anh có thể cho tôi biết chút ít về chuyện đó không?

Bạn tôi chỉ sơ lược rằng thời đi học ở Đà Nẳng, hắn yêu cô ta, có tỏ tình nhưng cô không đáp lại, nên khi thấy bức tranh hắn nhận ra cô ta ngay. Tuyệt đối hắn không nói gì đến chuyện hắn được ngắm cô khỏa thân hay nằm mơ thấy cô ta. Ông họa sĩ có vẻ thông cảm và hình như tin rằng những lần cô Bình Minh hiện ra trong giấc mộng của vợ ông là có thật. Ông bảo.

– Tôi nghĩ rằng linh hồn cô Bình Minh vẫn còn vươn vấn cõi đời vì một lý do nào đó.

Chuyện trò đến đấy chúng tôi cáo từ. Tôi khuyên bạn tôi nên lấy tấm hình chụp kiểu học trò của cô Bình Minh sang lớn lên rồi đem vào chùa xin thờ ở đấy. Trước hết xin chùa một lễ cầu siêu.

Thông thường, ở xứ Mỹ vì bận rộn sinh kế nên người chết dù bất cứ ngày nào cũng đều làm lễ cầu siêu, làm tuần, giỗ chạp… ở chùa vào ngày Chủ Nhật, là ngày nghỉ, cho nên vào ngày đó, ít nhất cũng năm, bảy gia đình, gồm vài ba chục người đến xin lễ cầu siêu cho thân nhân. Thật tâm tôi không tin chuyện ma quỉ, nhưng hôm đó lại có chuyện khiến tôi thêm tò mò. Số là sau lễ cầu siêu, chúng tôi chuẩn bị ra về thì nhà sư đến gọi riêng thằng bạn tôi ra sau hậu liêu, tôi cũng đi theo. Đấy là vị sư già, trên bảy mươi nhưng còn tráng kiện, sáng suốt, tính tình vui vẻ. Chúng tôi vào một căn phòng, có lẽ là phòng ăn hay tiếp khách gì đấy, gồm một dãy bàn và ghế dài, có bình trà, vài tờ báo. Vừa ngồi xuống, nhà sư đã bảo bạn tôi.

– Trông khí sắc anh không được tốt lắm, hình như anh đang bị một oan hồn, uổng tử theo quấy nhiễu, ám hại anh.

Tôi nói ngay.

– Có lẽ thầy thấy hắn ốm yếu xanh xao chứ gì?

Nhà sư cười.

– Nếu vậy thì tất cả những người đau ốm nằm bịnh viện đều bị tôi bảo rằng ma ám. Không phải vậy đâu! Tôi nhìn cái thần khí của anh ta chứ không phải vẻ xanh xao, ốm yếu bề ngoài. Có những người ốm trơ xương mà vẫn sống mãi, lại có người mập mạnh, hồng hào bỗng lăn ra chết.

Tôi vẫn không chịu.

– Thời đại khoa học không gian mà thầy. Tôi chẳng thấy ma quỉ bao giờ.

Nhà sư vẫn cười.

– Ma quỉ là vô hình, nhìn bằng mắt thường làm sao thấy được.

Nhà sư chỉ một tờ báo trên bàn.

– Nếu tôi nói theo quan niệm nhà Phật thì các anh không tin. Đây là tờ báo Công Giáo “Việt Catholic News” đưa tin. Cha Gabriele Amorth, linh mục trừ quỉ chính thức của giáo phận Rôma đã xác nhận là Đức Giáo Hoàng đã trừ quỉ cho một cô gái ở thành phố Monza, Ý Đại Lợi.

Tôi lại hỏi móc.

– Biết đâu đó là người bị bịnh tâm thần.

– Anh nói cũng có lý. Nhưng đây là cô gái khi bị quỉ nhập, đến hai toán cảnh sát mà vẫn không kềm chế được cô. Nhưng bịnh tâm thần sao Đức Giáo Hoàng chỉ trị một lần là hết bịnh ngay?

Bạn tôi nãy giờ chỉ ngồi nghe, hắn phân vân.

– Người chết, thật có linh hồn không thầy? Linh hồn có biết vui buồn, thương yêu, thù ghét gì không thầy?

– Nếu nói có thì các anh bảo tôi đã chết đâu mà biết, mà nói không thì tôi cũng chẳng vào tu hành ở đây làm gì. Tôi có cách nầy để các anh thử, nếu không có tác dụng thì các anh cứ bảo tôi nói chuyện mơ hồ, ngược lại, có hiệu quả thì xin mời các anh đến đây, chúng ta cùng tu tập. Bây giờ các anh ngồi chờ tôi một phút, có trà đây, xin mời!

Nói xong, nhà sư vào trong, một lát trở ra nói với bạn tôi.

– Đây là các lá bùa, đây là mấy câu thần chú. Anh dán trước cửa một lá, đầu giường nằm một lá, dưới chân giường một lá còn một lá anh để trong túi áo. Khi dán bùa anh đọc câu thần chú nầy. Tôi tin rằng con quỉ kia sợ oai Phật, sẽ không đến quấy phá anh nữa. Khi đọc thần chú anh nhớ khấn thêm rằng xin mời oan hồn đến chùa để nghe kinh Phật, sẽ được siêu thoát. Tôi bảo là oan hồn uổng tử cũng chưa đúng, nó là con quỉ. Nếu không làm theo tôi chỉ dẫn, anh sẽ khó thoát tay nó. Hại anh xong, nó đi tìm người khác.

Tôi hỏi.

– Tại sao nó chọn thằng bạn tôi mà không chọn người khác?

– Nó không từ một ai cả. Nhưng thường thì tùy theo cái nghiệp chướng của mỗi người. Tôi nghĩ rằng oan hồn theo ám ảnh anh đang mang một ức uất gì đấy, cũng có thể là vì những ham muốn chưa được thỏa mãn. Ham muốn tích lũy từ khi còn sống, mãnh liệt đến độ trở thành một sức mạnh thực sự có thể tác động được đến con người. Tôi đưa mấy lá bùa và câu thần chú là lấy uy danh của Phật, cấm nó không được hại anh đồng thời chúng ta sẽ cùng nhau cầu nguyện cho oan hồn đó đến chùa nghe kinh Phật, nhờ hồng ân Đức Phật độ trì cho được siêu thoát đến một cảnh giới khác.

Thấy trời đã về chiều, chúng tôi cáo từ nhà sư, ra về. Tôi theo hắn về nhà để xem hắn dán mấy lá bùa, đọc thần chú và khấn đúng như lời dặn.

Vì sốt ruột, ngay hôm sau tôi đã gọi, hỏi hắn có nằm mơ thấy em Bình Minh hiện về không? Hắn bảo không. Tôi khuyên hắn nên ra tiệm thuốc bắc, mua mấy thang về sắc uống rồi đi bác sĩ khám lại xem sao. Tôi dự định tuần sau sẽ ghé thăm, xem hắn có khá hơn không, nhưng ngay tuần đó, công ty tôi làm việc lại dời xuống tiểu bang Florida, tôi phải đi theo. Tôi thường gọi điện thoại hỏi thăm, cho hắn địa chỉ, dặn lấy cái nghỉ phép xuống với tôi, tắm biển, phơi nắng. Nhưng ít lâu sau, tôi gọi hắn thì chủ nhà bảo rằng hắn đã dọn đi nơi nào không rõ. Thực ra hắn chỉ là bạn thân thôi, chứ chẳng phải anh em ruột thịt gì mà tôi phải bận tâm, vả lại, chuyện ma quỉ đó đã như giải quyết xong, cho nên tôi không còn nhớ đến hắn nữa.

Thế rồi khoảng một tháng sau đó, tôi nhận được thư hắn, tôi thấy có gì bất thường! Tại sao không gọi điện thoại mà lại viết thư? Đến khi đọc lá thư, tôi mới hiểu rõ những gì đã xảy ra.

“N. thân mến,

“Lá thư nầy đến tay mầy thì tao không còn trên cõi đời nầy nữa. Đơn giản là tao dặn chủ nhà trọ của tao chỉ gửi thư sau khi tao đã chết. Tao muốn thế! Tao không có bà con, thân thích, chỉ có mầy là bạn, nhưng tao cũng không muốn mầy bận tâm vì tao, thân xác tao sẽ được hỏa thiêu, nắm tro tàn được gửi vào chùa. Thế là xong một kiếp người. Phải không mầy? Mục đích chính lá thư nầy là tao muốn tặng mầy bức tranh vẽ em Bình Minh thay vì gửi trả lại cho ông họa sĩ La Hy. Tao biết mầy thích bức tranh vì giá trị nghệ thuật của nó, vì tranh đẹp chứ không phải vì vẽ hình em. Mầy cứ yên tâm, em Bình Minh sẽ không hiện ra với mầy đâu. Những gì tao viết sau đây chứng minh rằng linh hồn em không còn nương náu trong bức tranh nữa.

“Sau một tuần, kể từ ngày mầy về miền Nam nắng ấm làm việc, vẫn chẳng có gì xảy ra từ bức tranh. Mỗi tối, tao vẫn nằm ngắm hình em rồi đi ngủ, dù tao có thử nói câu “Em Bình Minh, hãy hiện ra!” mà vẫn không thấy em đâu! Tao ngủ yên lành, bình thường, sức khỏe tao khá hơn. Tao nghĩ rằng em Bình Minh đã được siêu thoát hoặc đã được Đức Phật giữ lại trong chùa, nghe kinh kệ cho nhẹ bớt nghiệp chướng, oan khiên. Đôi lúc tao cảm thấy thương xót em. Trước kia nếu em đáp lại tình tao thì đâu đến nổi em phải chịu nhiều đau khổ, thất vọng đến quyên sinh. Đến chết rồi mà hồn vẫn còn vương vấn, lưu luyến người mình yêu, không thể rời được cõi trần! Và tao tưởng tượng đến một cảnh giới u u, minh minh, chỉ có một mình em, bơ vơ, cô độc. Không nói được với ai, không tiếp xúc được với ai! Em có buồn không? Có oán hận không? Oán hận ai bây giờ! Nhưng tao vẫn tự hỏi, vì sao em theo ám ảnh tao? Em muốn gì ở tao? Hay tao chỉ là nạn nhân đầu tiên, sau đó là những nạn nhân khác? Hay em cần tinh lực của tao để trở nên một con quỉ nhiều quyền phép hơn, dữ tợn hơn, không ai trị được nó?

“Dù sao thì mầy cũng như tao, đều cho rằng linh hồn em Bình Minh đã siêu thoát rồi nên mới không còn quấy rầy tao nữa. Vì tin như thế nên tao đã phạm một sai lầm chết người. Số là chủ nhà tao thuê phòng dự định bán nhà, tao phải tìm chỗ trọ khác. Chỗ trọ mới là một căn phòng, sạch sẽ, có lối đi riêng, đầy đủ tiện nghi. Trong phòng đã có sẵn một cái giường mới, rất rộng, tao thích lắm, nên bỏ giường cũ ra thùng rác trước khi dời phòng. Mầy biết sai lầm gì không? Tao không đem theo những lá bùa mà nhà sư đã cho, đến khi trở lại thì chủ nhà đã cạo bỏ lá bùa chỗ cửa ra vào. Lá bùa trong túi áo, máy giặt làm nát rồi! Ngay hôm đầu mới dọn đến, tao chưa treo bức tranh lên, vậy mà tối đó em hiện ra. Lại vẫn những cách thức như em áp dụng với tao trước đây. Tao cũng lại bị em làm tê mê đến ngây ngất, lịm đi. Hôm sau, hoảng quá, tao chạy ngay đến chùa cầu cứu, nhưng vị sư trụ trì đã đi hành hương bên Tích Lan, tháng sau mới về. Tao tìm đủ cách, ban ngày tao ngủ, ban đêm tao uống cà phê, cố mở to mắt, vậy mà hễ chạng vạng là tao lại như người mất hồn, nhớ em, mong em. Tao vừa sợ em, vừa thèm em một cách kỳ lạ. Nhất là cái cảm giác như là em đang ở cạnh tao khiến tao hoàn toàn mất tự chủ. Người tao, vừa phục hồi sức khỏe chưa được bao lâu, nay trở lại tình trạng như lần trước mầy đã gặp, e còn tệ hơn nữa, chỉ mới một tuần mà chủ nhà đã vội gọi xe cứu thương đưa tao vào bịnh viện. Cũng may tao còn bảo hiểm sức khỏe, bảo hiểm nhân thọ, nên nếu chết đi tao sẽ có chút tiền để chủ nhà lo cho tao. Tao đang viết thư cho mầy ở bịnh viện. Tình trạng tao kỳ lạ đến nỗi các bác sĩ khắp nơi xúm lại, khám nghiệm, nghiên cứu, thiếu điều muốn xẻ tao ra từng mảnh để tìm tòi, nhưng chẳng ai đưa ra một nhận xét, phương dược nào chính xác cả! Em Bình Minh mỗi tối vẫn đè tao ra mà hành sự. Có lẽ bây giờ em không cần phải nương náu trong bức tranh nữa. Em đã đủ năng lực để tự mình hiện hữu, đến độ các cô y tá, khi nghe tao ú ơ, la hét lúc nằm mơ thấy với em, các cô cố đánh thức tao, nhưng cả chục phút sau, em mới chịu buông tao ra để tao tỉnh dậy. Mỗi ngày tao đều gọi điện thoại đến chùa, hy vọng nhà sư về kịp cứu tao nhưng đến hôm nay, khi tao cảm thấy mình như ngọn đèn cạn dầu mà vẫn chưa thấy tăm hơi nhà sư. Tao không hiểu chính tao! Tâm lý tao thật lạ thường. Ban ngày tao sợ chết, nhưng tối đến, tao lại mong cho sớm được cùng em Bình Minh ra đi. Có một điều, khi tỉnh táo, tao vẫn thắc mắc, khi chết, linh hồn đi về đâu? Mà thật có linh hồn không? Hay bịnh tao chỉ là một thứ bịnh về tâm thần, về ảo giác? Một bịnh điên mới, giống như bịnh bò điên? Nhưng bịnh bò điên, nghe nói bộ óc bị hủy hoại, mủn ra như sình, còn tao thì có gì lạ đâu? Các bác sĩ đều nói thế!

“Tao cố viết thật nhiều cho mầy có đủ dữ kiện về bịnh của tao, cả dữ kiện về bức tranh em Bình Minh nữa, nhưng tao mệt quá! Bây giờ tao tạm dừng bút, nhưng không chấm dứt ý định sẽ nói với mầy. Nếu có linh hồn thật, tao sẽ hiện về cho mầy rõ, về cái cõi u minh mà người chết sẽ đến đấy. Ít ra, hễ mầy thấy trong mơ, vẻ mặt tao vui, là cõi chết không tệ lắm, hoặc ngược lại. Chúc mầy ở lại dương gian vui vẻ. Không lâu đâu, chúng ta sẽ gặp nhau. Mọi người đều đối diện với cái chết, phải không mầy? Thân mến. Bạn mầy”

*


Tôi đọc thư thằng bạn tôi mà lòng vẫn nghi ngờ. Phải có bí mật gì đây? Chuyện ma quỉ! Làm sao tin được?

Giả thiết mạnh mẽ nhất là thằng bạn tôi mắc bịnh nan y. Bịnh Aids chẳng hạn, có thế hắn mới chết nhanh đến như vậy. Người Á Đông xem chuyện tình dục như một bí mật, nên kín đáo. Vì chuyện đó mà mang bịnh là một điều nhục nhã. Và hắn xấu hổ nên mới bịa ra một chuyện ma. Biết đâu ông họa sĩ La Hy vì tình bạn, nên cùng hắn nghĩ ra những chuyện gay cấn, lâm ly để cứu danh dự cho hắn? Dù sao thì hôm lên chỗ hắn trọ, tôi cũng được chủ nhà trao cho bức tranh đúng như lời hắn dặn dò trước khi từ giã cõi trần.

Tối đó chủ nhà cho tôi ngủ tạm trong phòng thằng bạn quá cố của tôi một đêm. Tôi chẳng hề thấy ma quỉ bao giờ, mà dù thấy tôi cũng không sợ. Ma là gì? Cùng lắm cũng chỉ là cái bóng mờ ảo nào đó, nếu mình sợ là tự mình hại mình chứ ma quỉ làm gì được mình! Thế nên tối đó tôi treo bức tranh vẽ hình em Bình Minh của thằng bạn tôi trên tường, vừa ngắm vừa lầm bầm nói “Hai đứa bây, sống khôn thác thiêng, hãy hiện ra cho tao thấy, trong mơ cũng được, để xác nhận là khi chết, con người còn có linh hồn” Tôi nói đùa thôi, thực tâm tôi đang ngắm bức tranh và nghĩ đến nghệ thuật, đến tài hoa của người họa sĩ.

Tôi say sưa ngắm bức tranh, quên cả chuyện ma quỉ, cho đến khi tôi cảm thấy buồn ngủ, mắt tôi ríu lại… Bỗng nhiên tôi có cảm tưởng như bức tranh bị sút đinh, từ từ ngã xuống. Và cô Bình Minh chuồi ra khỏi khung hình, lớn dần lên. Cô trườn lên người tôi, tóc cô xỏa ra, hai tay choàng lấy tôi, như con bạch tuộc phủ lấy con mồi. Người cô lạnh ngắt, cái lạnh ghê rợn của một thây ma. Tôi cố la lên cầu cứu, mà miệng tôi cứng đơ. Tôi biết mình đang vùng vẫy, nhưng thật sự, chân tay tôi tê liệt…Và cái khoái lạc khủng khiếp khi cô gập người lại, cúi xuống dưới bụng tôi, hút lấy tinh lực của tôi, đúng y như thằng bạn tôi đã kể.

Ngay sáng hôm sau, tôi đem bức tranh trả lại họa sĩ La Hy. Dọc đường, lái xe, tôi có cảm thấy choáng váng, không tự chủ được, nhưng tôi tỉnh trí kịp. Tôi kể hết mọi chuyện, hoạ sĩ La Hy cười, cho rằng tôi nhiều tưởng tượng. Ông bảo.

– Chuyện của bạn anh, thật khó kiểm chứng! Riêng chuyện của anh, tôi nghĩ rằng, cơ thể cô gái lạnh ngắt anh thấy trong mơ chỉ là do thời tiết ở Virginia, ban đêm nhiệt độ xuống rất nhanh, khi ngủ, anh đã không đắp mền, chính cái lạnh tạo thành giấc mơ.

Hiện nay họa sĩ La Hy vẫn còn giữ bức tranh đó. Ông không bán. Ai muốn xem, xin mời đến.

Phạm Thành Châu

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Sống chậm những ngày thu

image1.jpeg

Cuối tháng 10, thu về. Có những buổi sáng sớm thức dậy mở cửa đã thấy chút hơi lạnh tràn vào phòng, cảm giác rất khoan khoái. Hà Nội may mắn có tiết trời 4 mùa, đặc biệt là mùa thu, thế nào lại rất hợp với Hà Nội. Ngày tôi sinh ra ông nội định đặt tên tôi là Thu Hà, vì tôi sinh ra vào giữa mùa thu tại Hà Nội. Nhưng mẹ bảo cái tên nghe man mác quá, mẹ tôi thì muốn một cô con gái cứng cáp và có cá tính một chút. Những ngày thu như thế này khiến tôi không màng tới thế giới, đọc tin trên báo đài, như vụ gần đây nhất là chuyện lùm xùm quanh clip một anh đàn ông đánh không thương tiếc một chị nhân viên hàng không mặt đất tại sân bay Nội Bài. Người người chia sẻ, nhà nhà chửi bới, bàn ra tán vào. Tôi tự hỏi trong một mùa đẹp và thơ như thế, sao mọi người không nhẹ nhàng với nhau hơn? Và thế là tôi cũng mặc, dành thời gian để hưởng thụ chút thu ngắn ngủi. 

Nếu bạn từng đi dọc cuối đoạn đường Hoàng Hoa Thám nối sang Phan Đình Phùng sẽ có mùi hoa sữa phảng phất. Hương ngai ngái của hoa sữa ban sáng sẽ khiến dọc cánh mũi cảm thấy cay cay, nhưng khoan khoái, khiến bất cứ kẻ mơ ngủ gà gật nào cũng phải tỉnh phút chốc như gặp một liều caffeine vậy. Tôi cũng nghe nhiều người phàn nàn về mùi hương nồng nặc vào buổi tối, trên những con đường trồng toàn cây hoa sữa. Nhưng Hà Nội vào mùa thu là thế, nhờ vào hương hoa ấy mà mãi chẳng đổi thay. Tôi cũng từng nhìn thấy mùa thu ở những đất nước khác. Ở Mỹ, trên các nẻo đường, cây hai bên đường đổi màu hàng loạt trong một cái chớp mắt. Đủ tông màu từ vàng sang đỏ hòa lẫn với nhau khiến người lữ khách phải dừng lại mà cảm nhận thứ màu như tranh vẽ ấy. Sự “thay da đổi thịt” của thiên nhiên Mỹ khi sang thu khiến tôi rùng mình kinh ngạc. Thứ sắc màu vàng, cam, đỏ ấy trở thành một biểu tượng nghệ thuật ở phương Tây và lan sang cả văn hóa phương Đông. Đến mức cứ nhắc đến thu là người ta lại mong đợi lá vàng, lại chụp ảnh những con đường trải đầy lá rụng. 

Hà Nội thì khác, mùa thu đánh thức bắt đầu từ khứu giác. Bên cạnh hương hoa sữa, còn là hương của sương sớm nữa. Có lẽ bây giờ nhắc đến hồ Tây thì hơi buồn, người ta sẽ chỉ mỉa mai thứ mùi hôi tanh của cá chết hàng loạt những ngày vừa qua. Người Hà Nội, họ chỉ thấy buồn. Vì nếu sống cùng Hà Nội, bạn hẳn đã từng bắt gặp vài người dân lột hết đồ, đứng câu cá trên cây cầu bằng đá hoặc gỗ được bắc hướng ra giữa hồ Tây. Lớp sương lạnh phủ trắng mặt hồ khiến hình ảnh đó trở nên tĩnh lặng, chậm chạp và thơ hơn bao giờ hết. Cá chết, ở góc khuất ven hồ, vẫn có người đứng đó, cầm chiếc cần câu thẩn thơ và lặng yên, như một thói quen rất Hà Nội. Bởi người Hà Nội yêu Hà Nội theo một cách rất khác, họ không chạy đi khi Hà Nội xấu xí, không quay lại xô bồ khi Thủ đô đẹp đẽ và hào nhoáng. Và nhất là trong những ngày thu sang, nắng vàng và gió se lạnh, họ chỉ muốn sống chậm hơn để cảm nhận và thương yêu Hà Nội một cách trọn vẹn nhất. 

Nếu khoảng 10 năm trước đây, tiết trời này cộng thêm thứ âm thanh rè rè trên loa phường, hay phát những bản nhạc với giọng hát của Cẩm Vân hay Thanh Hoa thì thơ quá. Bây giờ loa phường bị dẹp vì khiến dân tình khó chịu. Cũng ít nhạc sĩ chịu sáng tác bài hát về Hà Nội hơn, có lẽ bởi cuộc sống trôi qua nhanh và thay đổi từng ngày, trong khi cái hồn của Hà Nội thì cũ kỹ. Thu về, cái hồn cũ kỹ ấy như rõ nét hơn, qua những thứ hương trong gió, qua cái mùi nồng ngọt dễ chịu của nước vối được ủ trong chiếc ấm tích của bà cụ ngồi dưới quán cóc liêu xiêu, thi thoảng là tiếng rao đêm khắc khoải đầu con ngõ nhỏ (cái này thì bạn bè bảo tôi tự tưởng tượng ra, vì thời đại này đâu còn ai tự rao nữa, người ta ghi âm vào rồi bật lên cho đỡ cực!), mà rõ ràng đêm qua tôi còn nghe thấy, còn chạy xuống mua cả túi bánh mì nóng hổi bọc kỹ dưới lớp vải dày. Cũng có thể, là tôi mơ hay chăng?

(Tác giả Hoàng Giang sinh ra và lớn lên tại thủ đô Hà Nội, từng đi du học ngành truyền thông tại Mỹ, là cây bút tự do cho nhiều tờ báo dành cho giới trẻ trong và ngoài nước. ‘Trong lòng Hà Nội’ là suy nghĩ về những đổi thay của đất nước trong giai đoạn chuyển tiếp dưới góc nhìn khách quan và mới mẻ).

Hoàng Giang

 
Xin mời nghe
Hướng Về Hà Nội sáng tác của nhạc sĩ Hòang Dương qua tiếng hát Tuấn Ngọc
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Vu Lan Nhớ Mẹ

Đã mấy mùa Vu Lan con cài lên ngực áo mình đóa hoa hồng trắng. Hoa màu trắng trong, tinh khiết. Nhưng sao như những mũi kim vô hình làm cho tim con buốt đau và rướm máu. Mẹ ơi! Ngày Mẹ ra đi là ngày thiêng đường trú ân tâm linh của con cũng ra đi theo Mẹ. Con bây giờ đang côi cút giữa biển đời giông bão. Mẹ đi rồi con mỗi ngày sống trong thương nhớ và ân hận. Thấygì , đi đâu cũng nhớ đến Mẹ. Hình bóng Mẹ luôn luôn ngự trị trong tim con. Mẹ đi rồi con lủi thủi một mình Những bữa cơm vắng Mẹ nước mắt con cứ tuôn dòng, nghẹn ngào không nuốt nổi. Người ta bảo chỉ có tình yêu nam nữ mới quằn quại đau khổ như thế, khi người kia đã bỏ ra đi. Phần tâm linh của con đã tựa lâu ngày trên hình hài gầy yếu của Mẹ, nên giờ Mẹ ra đi tất cả cùng đi theo. Con hụt hẫng, khổ đau và tột cùng thương nhớ. Con ân hận vì con chưa kịp làm những điều để bù đắp công ơn sâu nặng của Mẹ. Mẹ ơi! Mẹ là một ngôn từ, một hình ảnh cao thượng, thâm sâu , thiêng liêng, huyền diệu . Mẹ là chất liệu, là máu của yêu thương, cho đi mãi mãi không đòi lại bao giờ . Con còn Mẹ là con còn tất cả, Mẹ đi rồi tất cả cùng đi theo :

Mẹ ơi Mẹ là bao dung tất cả
Mẹ ơi Mẹ là hóa giải mọi ngôn từ
Mẹ ơi Mẹ là siêu việt cả thánh thư
Mẹ ơi để biết rằng con có Mẹ.
(Thanh Nguyên)

Thật vậy không có một ngôn từ nào chính xác để diễn tả tình Mẹ thương con, vì nó bao la quá, sâu thẳm quá :

Ngôn ngữ trần gian là túi rách
Đựng sao đầy hai tiếng Mẹ ơi
(Vũ Hoàng Chương)

Mẹ tiếng gọi từ khi bập bẹ
Đến lúc trưởng thành con vẫn chưa hiểu hết chiều sâu
(Thanh Nguyên)

Cả đời Mẹ đã sống hy sinh vì đàn con. Tất cả tình yêu thương của Mẹ dành cho con, mà không đòi hỏi hay trả giá, chỉ có yêu thương mà không cần đáp lại. Cho con, cho con mãi đến ngày Mẹ kiệt lực, tàn hơi.
Đó là một ngày Mẹ tôi chợt quị xuống, nằm mấy tháng trên giường, rồi vĩnh viễn ra đi. Phải chăng những ngày tháng cuối đời Mẹ tôi nằm yên một chỗ để nghỉ ngơi, hay là để có dịp cho các con trả hiếu? Hoặc đó là cái cận tử nghiệp?Gia đình bên Ngoại tôi có truyền thống đạo Phật, ông Ngoại tôi chẳng khác nào như một Bồ Tát sống .Còn Mẹ tôi đã được ông Ngoại tôi cho qui y từ lúc 6 tuổi. Mẹ là một đệ tử tu tại gia, ăn chay trường. Một đời vì chồng,vì con, sống chân thật, luôn hành hạnh nhẫn nhục, buông xả và bố thí, thế mà đến cuối đời lại rơi vào cái cận tử nghiệp thật là nghiệt ngã.

Khi được tin Mẹ bệnh. Tôi nghỉ việc làm bay về Việt Nam ngay. Vì nếu tôi ở đây thì chắc chắn tôi sẽ không làm được việc gì, lòng tôi nóng như lửa đốt đứng ngồi không yên. Tôi vào bệnh viện vào một buổi chiều nóng bức. Mẹ tôi nằm đó, thân hình gầy nhom, chỉ còn da bọc xương thoi thóp. Tim tôi đau buốt, cả người tôi chấn động, mắt tôi mờ lệ. Tôi chỉ biết quì sụp xuống ôm chặt Mẹ tôi vào lòng mà nước mắt tuôn rơi .Ước gì tôi rước tất cả những đớn đau của Mẹ. Mẹ tôi đó ư? Cái hình hài xinh đẹp, duyên dáng ngày xưa bây giờ chỉ là một xác khô nằm bất động. Chao ôi! Vô thường, sanh ,lão bệnh, tử. Tôi đớn đau nhìn Mẹ, nước mắt cứ tuôn dòng. Lệ ròng.

Những lần nhìn những xác già nua, khô héo, bệnh tật đớn đau nằm trên giường bệnh tôi mới hiểu và chua xót cho một kiếp người, sanh, già, bệnh, chết. Những gì mình đang có hôm nay, cố nắm giữ, cố tích trử hôm nay chỉ là giả tạm, ngày mai rồi sẽ mất. Nơi đây chỉ là bào ảnh, huyễn mộng, sao ta mãi cứ lòng vòng trong vòng tròn nhân quả?

Mẹ tôi đòi về nhà không muốn ở trong bệnh viện. Mẹ sợ truyền máu, truyền đạm. Mẹ sợ ban đêm nhìn thấy những bóng người đứng bên cữa sổ gọi Mẹ đi, Mẹ sợ đủ thứ. Mà Mẹ sợ cũng phải, vì chính tôi cũng sợ: sợ Mẹ bị nhiễm trùng, sợ bình khí oxy rỉ sét, bệnh nhân lên cơn sốc vì nước biển giật giật liên hồi, gọi Bác sĩ, Y tá vẫn tỉnh bơ đứng nhìn, còn những bệnh nhân khác vì đau đớn nên rên la suốt ngày đêm, có người vì nằm lâu ngày trên giường bệnh nên sau lưng lở lói và hôi hám thật tội nghiệp.Có đến nơi đây mới hiểu được kiếp người khổ đau, mới hay lâu nay mình sống trong hạnh phúc mà không biết. Và tôi cũng hiểu được tại sao Đức Phật Thích Ca đã bỏ cả lầu vàng, điện ngọc để tìm cách cứu độ chúng sanh. Lòng tôi chùng xuống, không còn ham muốn, hơn thua gì nữa.Chỉ cầu thân tâm an lạc. Sống thảnh thơi, chết nhẹ nhàng, không đớn đau thể xác.

Chiều hôm đó chúng tôi đưa Mẹ về nhà. Chiều bệnh viện không có người phục vụ, chỉ còn một vài y tá và bác sĩ. Họ bảo chúng tôi xuất viện thì được, nhưng phải chờ xe cứu thương, bác tài không có ở đây phải chờ đến 2 tiếng sau. Cũng không có người phục vụ đẩy giường bệnh ra xe. Tôi phải chạy xuống tầng trệt ( giường Mẹ tôi ở lầu 3) tìm cái giường đẩy có bánh xe. Y tá bảo tôi sau khi sử dụng cái giường xong phải để lại chỗ cũ, phải đóng tiền thế chân vì sợ mất giường. Vì không có cầu thang máy nên tôi phải đẩy cái giường sắt từ lầu 1 lên lầu 3 theo cái dốc lài của cầu thang bộ. So với cái sức của tôi thì đây là một việc mà tôi nghĩ mình không thể nào làm được. Cái giường tuy không cồng kềnh nhưng nó toàn bằng sắt, thế mà một sức nhiệm mầu nào đó tôi đã đẩy cái giường như chạy lên cầu thang mà không biết mệt. Chị dâu, em gái tôi và tôi phải chuyển Mẹ từ giường bệnh sang giường đẩy. Ba chị em hì hục đẩy cái giường Mẹ tôi đang nằm tuột dốc; chị và em gái tôi giữ phần đầu giường, còn tôi thì đứng phía dưới để chịu. Phải giữ cái giường cho xuống từ từ, nếu không nó sẽ tuột dốc thì cả Mẹ và con sẽ không biết đi về đâu. Mô Phật cái giường đã an toàn xuống đất. Còn anh tài xế xe cứu thương thì đứng thản nhiên nhìn 3 cô đang hì hục đẩy xe một cách dễ thương.

Sau ngày ở bệnh viện về Mẹ tôi đã nằm mãi trên giường, chỉ còn là một xác khô.Tất cả đều khô, chất nhờn khô, tủy khô, máu khô. Nên thân thể Mẹ luôn đau nhức. Mẹ cứ lăn trở suốt đêm ,nằm ngửa rồi nằm nghiêng, bên trái rồi bên phải, kê gối lên cho đầu cao, rồi lấy gối ra cho đầu thấp. Tôi phải đỡ Mẹ thay đổi thế nằm như vậy suốt cả đêm , khi đỡ ngồi dậy rất khó khăn, phải biết cách đỡ nếu không thì cảm thấy rất nặng, giống như đang gồng mình. Thật ra người già khi đã kiệt lực, dù chỉ còn da bọc xương thân thể cũng rất nặng nề, thật là ( lực bất tòng tâm). Mỗi khi Mẹ trở mình thì cho uống nước vì miệng luôn luôn khô và canh chừng thay chỗ ướt. Hầu như tôi thức cả đêm, Mẹ đau nhức nên rên và gọi tôi cả đêm, đêm tôi chỉ chợp mắt chừng 2 đến 3 tiếng đồng hồ. Ban ngày chỉ nhắm mắt để đó chứ không ngủ được vì trái múi giờ. Mỗi đêm tôi chỉ ngủ có 2 tiếng đồng hồ trong suốt 2 tháng trời thế mà tôi không cảm thất mệt mỏi, người tôi cũng bình thường không sụt cân .Tôi nghĩ với một tình thương yêu mãnh liệt, hay một sự mầu nhiệm nào đó đã làm cho tôi quên sự mệt mỏi. Tôi luôn khuyên Mẹ nhắm mắt niệm Phật. Niệm, niệm để quên và làm dịu cơn đau. Đó là một cách quán tưởng mà tôi thường làm mỗi khi mình bị hụt hẫng. Tôi cũng đã đi rất nhiều chùa để cầu an, cầu sự sống cho Mẹ, nhưng đó chỉ là cách an tâm cho chính mình. Bây giờ tôi mới hiểu ngày đó tôi vô minh, tôi không có trí tuệ, tôi cầu xin trong tuyệt vọng… Tôi không hiểu vô thường là một định luật tự nhiên. Thay vì để Mẹ ra đi nhẹ nhàng thoát khỏi đau đớn của thể xác, tôi lại muốn níu kéo Mẹ ở lại mãi, tôi đã quên rằng tất cả mọi người rồi ai cũng phải ra đi.

Chỉ khi nào những bất hạnh to lớn đổ ập xuống đầu, tôi mới hiểu lâu nay mình đã sống trong mộng, đã bám víu những cái không thật. Cố chau chuốc cái xác phàm, cái hư danh, mà quên đi phần tâm linh, quên đi cái tự tánh quí báu mà mình đã có sẵn.

Mẹ tôi cứ nằm trên giường như vậy, ăn uống và vệ sinh cần thiết chỉ muốn một mình tôi làm cho Mẹ. Vì quá thương cuộc đời của Mẹ đã cực khổ từ nhỏ, thương sự cô đơn quạnh quẽ tuổi già của Mẹ mà đã bao lần tôi không thể nào bỏ Mẹ để đi theo người ta, tôi biết người ta buồn lắm, nhưng đành phải hẹn ngày sau.

Hơn một tháng sau Mẹ đã dần dần hồi phục lại đôi chút. Đỡ ngồi dậy, đi từ từ, chập chững từng bước từ nhà sau ra nhà trước như trẻ thơ, tôi vui mừng quá, mừng đến rơi nước mắt. Mẹ tôi muốn trở về Mỹ, nhưng đã bị mất quyền thẻ xanh vì đã ra khỏi nước Mỹ hơn một năm. Tôi đến tòa đại sứ Mỹ ở VN để xin phục hồi thẻ xanh, nhưng họ bảo rất khó. Phần tôi phải trở về Mỹ để đi làm vì đã nghỉ việc 2 tháng rồi. Ngày tôi đi Mẹ tôi buồn lắm, còn tôi như đứt từng đoạn ruột. Tôi an ủi Mẹ tôi : Rồi con sẽ về thăm Mẹ nữa, lần sau con sẽ về đón Mẹ sang Mỹ lại, Mẹ rán ăn uống cho khỏe mạnh để có thể ngồi máy bay hơn 20 thiếng đồng hồ. Tôi nói vậy để Mẹ an tâm, chứ lòng tôi buồn lắm vì:

Mẹ già như chuối chín cây
Gío lay Mẹ rụng con đà bơ vơ…

Tôi trở về Mỹ đi làm lại được một tháng, thì được tin Mẹ tôi trở bệnh lại nặng hơn. Tôi sợ lắm, tôi sợ rủi Mẹ tôi vĩnh viễn ra đi, tôi sẽ không bao giờ nhìn thấy Mẹ nữa. Dù sao tôi cũng phải về gặp Mẹ một lần nữa, nếu không tôi sẽ ân hận suốt đời. Lần nầy tôi xin phép nghỉ nhưng người chủ không cho, vì ông bảo tôi đã nghỉ quá nhiều.Ông không bảo đảm còn việc cho tôi khi tôi trở lại hay không. Tôi quyết định nghỉ việc, vì không có việc nầy tôi sẽ làm việc khác, còn Mẹ thì tôi chỉ có một Mẹ mà thôi.

Đêm tôi về đến VN. Mẹ tôi nằm trên giường thoi thóp, hơi đã mòn, lực đã kiệt, còn mong gì ai cứu nổi Mẹ tôi. Tôi đớn đau òa khóc, tôi sợ Mẹ tôi đi, tôi sợ lần vĩnh biệt nầy là lần đời đời, kiếp kiếp Mẹ con tôi sẽ không bao giờ gặp nhau nữa. Đêm đó tôi nằm ở dưới gạch, Mẹ nằn trên giường, tôi chồm tay lên ôm chặt tay Mẹ tôi suốt đêm. Tôi mong tôi có thể truyền nghị lực, tình thương, sức sống để Mẹ tôi được hồi phục. Và thật như vậy, như một phép nhiệm mầu, sáng hôm đó tinh thần và sắc mặt của Mẹ đã được hồi phục rất tốt. Thế mới biết tình yêu thương là một năng lượng cần thiết cho mọi người, làm cho người ta có ý chí cầu sống và được hít thở không khí hạnh phúc…

Ngày qua ngày Mẹ cũng đã  dần dần hồi phục đôi chút, và thắm thoát cũng đã một tháng, tôi phải trở về để đi làm lại .Những giờ phút chia ly thật đau đớn. Tôi ôm chặt Mẹ vào lòng, tôi sợ một ngày nào đó tôi không còn cơ hội để ôm, tôi sợ rồi mai đây người sẽ vĩnh viễn rời xa tôi mãi. Tôi đâu ngờ lần từ giả nầy là lần vĩnh biệt Mẹ tôi mãi mãi…

Hơn một tháng sau, một buổi chiều mùa Đông lạnh lẽo, ảm đạm. Tôi được tin Cậu tôi báo Mẹ tôi đã mất lúc 5 giờ sáng, chung quanh không có một ai, vợ chồng anh chị tôi thì ngủ trên lầu 4. Mẹ ra đi trong bóng tối, trong lạnh lẽo, trong sợ hãi, trong cô đơn và trong đớn đau thể xác. Tôi gào khóc lên, tôi đớn đau đến tận cùng tâm cang. Tôi suy sụp, tôi muốn đi theo Mẹ tôi. Tôi oán hận tôi, sao không bỏ hẵn việc để về chăm sóc Mẹ trong những ngày khổ đau cuối đời. Tôi oán hận những đứa con vô tình đã để Mẹ ra đi trong bóng tối cô đơn. Tôi đớn đau vì Mẹ có 7 người con, đã dùng máu và nước mắt mình để nuôi con, nhưng giờ phút sau cùng lại không có đứa nào ở bên cạnh. Tôi cũng không hiểu cả đời Mẹ tôi ăn chay, đi chùa, bố thí, sống tốt, thế mà lại có một cận tử nghiệp thật nghiệt ngã…

Bây giờ là tháng bảy Vu Lan, mùa báo hiếu. Ngoài kia trời đang mưa, những hạt mưa rả rich, thấm buốt lòng con. Con chạnh lòng thương nhớ Mẹ quá đổi. Con muốn báo hiếu, nhưng Mẹ còn đâu để báo? Giờ con chỉ còn cha già cũng gần 90, cũng không biết ngày nào ra đi nữa. Con bây giờ cũng đã hiểu được lý vô thường, vô ngã và nhân quả. Có sanh thì phải có diệt, có đến thì phải có đi, có thành, trụ, hoại, không. Nên con không còn sống đau khổ như ngày xưa, con sống nhẹ nhàng hơn Mẹ ạ! Và giờ đây lòng con cũng đã nguôi ngoai, không còn oán hận ai nữa cả, mỗi người phải gánh chịu cái nghiệp mà mình đã gieo, chỉ sớm hay muộn mà thôi. Phật pháp thật là nhiệm mầu.

Hôm nay con viết bài nầy với những xúc động tận đáy lòng con, dâng đóa hoa lòng cúng Mẹ nhân mùa báo hiếu. Con bây giờ dù mất Mẹ hay còn Mẹ, thì muôn đời , muôn kiếp Mẹ vẫn ở trong tim con:

Dù mất Mẹ hay còn Mẹ
Thì muôn đời em vẫn là con
Xin mãi nhớ suốt đời em nhé
Bóng Mẹ hiền giữa trái tim con
(Thanh Nguyên)

Vu Lan tha hương nhớ Mẹ.
Vu Lan đến cõi lòng con quạnh quẽ
Bóng người xưa như phảng phất đâu đây
Tình nghĩa ấy Mẹ ơi con thấm thía
Phương trời nầy con ngậm ngùi rơi lệ
Vì đức cù lao muôn một trả chưa xong
(Thích Quảng Độ)

Thật hạnh phúc cho những ai đang còn Cha, còn Mẹ… 

Mùa Vu Lan  năm nay tôi đã thật sự cài hai đóa hoa trắng.

Hai đóa tang lòng. Vì Song Đường đã vĩnh viễn ra đi…

Carolyn Đỗ

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Ngày Xuân Nói Chuyện Kiều

Hoàng Yên Lưu

Những câu thơ viết bằng chữ Việt thời cổ tức chữ Nôm, trích trong truyện Kiều, tả cảnh hội Đạp thanh với những nét chấm phá về mùa xuân gợi nhớ tới bức tranh cổ Thanh minh thượng hà đồ của Trương Trạch Đoan nhưng lại có nét gần với cảnh sắc quê hương ta ở miền thượng du Bắc Việt nơi tác giả có nhiều năm bôn ba vào buổi Lê mạt-Nguyễn sơ:

Ngày xuân con én đưa thoi,
Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi.
Cỏ non xanh tận chân trời,
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.
Thanh minh trong tiết tháng ba,
Lễ là tảo mộ, hội là đạp Thanh.
Gần xa nô nức yến anh,
Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân.
Dập dìu tài tử, giai nhân,
Ngựa xe như nước áo quần như nêm.

Tác giả những vần hoa mỹ trên là nhà thơ Nguyễn Du, một thi nhân có cảm xúc tế nhị, tình cảm đậm đà, lại nửa đời lang bạt đất Bắc rồi về Trung sau khi mưu việc phù Lê không thành. Sang triều Gia Long, ông lại đi sứ Trung hoa… nếm trải nhiều bước đoạn trường, thưởng thức nhiều cảnh sắc thiên nhiên nên kiến thức càng phong phú, tình càng sâu, ý càng lắng đọng.
Nhờ có cơ hội tiếp xúc với thiên nhiên và con người, chứng kiến cuộc bể dâu trong vòng trên dưới ba chục năm trải ba triều đại (Lê mạt-Tây sơn-Nguyễn sơ) nên tác phẩm của ông khắc họa cả một xã hội, đủ hạng người, đủ tình đời. Do đó, trong Truyện Kiều có đủ thứ cảm xúc sinh động: vui, buồn, chán, ghét, gồm cả bi, hoan, ly, hợp… Nhờ thế, ngưởi đọc có thể tìm thấy hình bóng mình, cảnh ngộ và tâm nguyện của mình trong kiệt tác và khi rảnh rỗi hay lúc có tâm sự ta có thể vừa giải trí vừa tìm cố vấn nếu có Truyện Kiều trong tay.
Gần hai trăm năm lưu hành, không phải tác phẩm chỉ được giới trí thức hân thưởng mà người bình dân cũng dùng Kiều trong lúc cảm xúc dâng cao.
Nam thanh nữ tú ngày xưa ngẫu hứng ngâm Kiều, đố Kiều.
Muốn ngỏ ý kín đáo với người mình yêu, khi có dịp gặp gỡ chàng trai có thể mượn câu Kiều:

Tiện đây xin một đôi điều
Đài gương soi thấu dấu bèo cho chăng?
Muốn dặn dò khi từ biệt, chàng trai có thể nhắn nhủ bóng bẩy người yêu trọn đạo thủy chung:
Gìn vàng giữ ngọc cho hay
Cho đành lòng kẻ chân mây cuối trời.

Nhớ quê người ta ngâm Kiều:

Đoái trông muôn dặm tử phần,
Hồn quê theo ngọn mây Tần xa xa!

Nhớ mẹ, lữ khách mượn Kiều bày tỏ tấc lòng:

Tiếc người tựa cửa hôm mai
Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ?

Mọi người đều công nhận Truyện Kiều là một đại tác phẩm trong văn học của ta. Ngoài giá trị văn chương đã làm thỏa mãn biết bao nhà phê bình trong nước và ngoài nước, người tìm nó thưởng thức văn chương cũng nhiều mà kẻ ngâm nga lúc xúc cảnh sinh tính cũng không ít. Nó cũng là sách giáo khoa giúp người muốn viết văn, làm thơ. Học nó là bảo tồn tiếng Việt và như một học giả từng nói “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn.”

Mùa xuân nói về khía cạnh giải trí của Truyện Kiều thích hợp hơn cả. Giá trị “mua vui cũng được một vài trống canh” của Truyện Kiều đã được ca tụng từ lâu, ngay từ những thập niên đầu thế kỷ 19 khi tác phẩm xuất hiện cho tới ngày nay.

Đố Kiều
Lúc trai gái hội họp hoặc mượn câu Kiều để tỏ tình hoặc mượn Kiều để đố vui thăm dò đối tượng xem có phải người thanh lịch văn vẻ và hiểu biết hay không. Vì thế lối đố kiều rất được dân gian ưa chuộng. Cô gái có thể hỏi chàng trai, người tự hào là đã biết thưởng thức những vần thơ của Nguyễn Du:

Truyện Kiều anh học đã lầu
Đố anh kể được một câu năm người

Nếu là trai thanh, có thể đáp ngay gái lịch:
Này chồng, này mẹ, này cha
Này là em ruột, này là em dâu

Câu hỏi có thể oái oăm hơn:
Truyện Kiều anh đã thuộc nhiều
Đố anh kể được truyện Kiều nghìn năm

Chàng trai “hay chữ” tính toán rất nhanh, biết rằng trong Truyện Kiều có đúng mười lần chữ Trăm năm nên không ngần ngại khéo cắt xén thành 22 câu nối vần được với nhau, cộng lại đủ 1000 năm như sau :
“Trăm năm” trong cõi người ta
Thúy Kiều là chị em là Thúy Vân
Đã nguyền hai chữ đồng tâm
“Trăm năm” thề chẳng ôm cầm thuyền ai
Trót vì cầm đã bén dây
Chẳng “Trăm năm” cũng một ngày nước non
“Trăm năm” tính cuộc vuông tròn
Phải dò cho đến ngọn nguồn lạch sông
Tóc tơ căn vặn tấc lòng
“Trăm năm” tạc một chữ đồng mới hay
Ngẫm duyên kỳ ngộ xưa nay
Tiết “Trăm năm” nỡ một ngày bỏ đi
Chở che đùm bọc thiếu gì
“Trăm năm” danh tiết cũng vì đêm nay
Rằng “Trăm năm” cũng từ đây
Của tin gọi một chút này làm ghi
Người đâu gặp gỡ làm chi
“Trăm năm” biết có duyên gì hay không
Lỡ làng nước đục bụi trong
“Trăm năm” giữ một tấm lòng với ai
Một nhà phúc lộc gồm hai
Nghìn năm dằng dặc quan giai lần lần

Đố chữ, đố nghĩa, còn có lối “đố vui để chọc”. Có anh thư sinh tự hào thuộc làu Kiều từ câu đầu tới câu chót, gặp hai chị em cô gái tinh nghịch. Cô chị làm bộ ít học hỏi chàng rằng:
– Này anh ơi, anh học nhiều hiểu rộng… Cô Kiều của chúng ta, trong 15 năm luân lạc có lúc nào mang bầu hay không?
Thư sinh nghiêm mặt:
– Nói bậy, nàng Kiều dù bị đày đọa “thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần” nhưng Nguyễn Du chẳng bao giờ tả những chi tiết bất nhã đó trong một tác phẩm văn chương cao nhã!
Cô em cười thành tiếng rồi nói:
– Thế…Thế anh giảng giùm em câu này:

Thất kinh nàng chửa biết là làm sao

Cụ Tố Như đã nói rõ Kiều “thất kinh” và “chửa” nên hoảng hốt hỏi “biết là làm sao… bây giờ?” sao anh bảo cụ tránh né?  (Xem tiếp kỳ sau)

Hoàng Yên Lưu

 

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Du Lotus Au Sapin

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Bài Ca Yêu Nước

Bài Ca Yêu Nước

Thượng tuần tháng Tư, hội viên cao tuổi nhất làng An lạc của chúng tôi, cụ B.95 đã điện thoại lặp lại câu khen Chị Ba Biên Hòa: Lời chị bảo về mùa xuân năm xưa sao mà nó đúng thế. À chuyện này vui lắm.

Số là năm 1995 khi cụ từ VN sang đây, cụ ở chung với gia đình người con bảo lãnh, nhà này có vườn trước vườn sau. Cụ thích làm vườn nên cụ tình nguyện trồng các loại rau ở vườn sau. Cụ sang vào tháng Năm nên bắt tay làm vườn vào tháng Sáu. Vườn rau của cụ xanh mướt. Cụ thích quá sức. Năm sau, cuối tháng Ba, trời chớm vào xuân, thấy hết tuyết và có nắng ấm, cụ liền vội vã mang cuốc xẻng ra làm vườn. Chị Ba thấy vậy bèn ngăn lại: Cụ ơi ở Canada không ai làm vườn vào tháng Ba cả vì ở đây đã có câu nói: “Bao giờ mùa xuân tới mà hiền lành dễ thương như con cừu non thì ta phải cẩn thận, vì con cọp dữ đang tới sau lưng nó”. Quả đúng vậy, năm đó tháng Tư 1996 trời đã đổ tuyết xuống ào ạt khắp nơi, vừa tuyết vừa gió, chao ơi là lạnh. Theo thói quen, ở Canada không ai làm vườn vào tháng Tư cả, phải đợi đến tháng Năm sau ngày lễ nghỉ Victoria Day. Sau ngày này thì không còn lo sợ tuyết và gió lạnh nữa, thiên hạ mới bắt đầu trồng hoa.

Dân làng tôi thường trồng hoa phía trước cửa và trồng rau phía sau nhà. Người say mê trồng các loại rau, nhất là rau thơm là Cụ B.95 và Cụ Chánh tiên chỉ làng. Xưa nay tôi vẫn nói Canada là đất thiên đàng vì bây giờ ở đây ai cũng trồng được mọi thứ có gốc VN, từ rau muống, rau cần, rau đay, rau lang, rau rút đến mọi loài rau thơm, húng, ngò, ngò gai, thì là, kinh giới, tía tô và dấp cá. Cụ Chánh bảo các thứ rau thơm này có thể mua ở chợ, nhưng mang về tới nhà là các rau thơm đã mất hết mùi thơm chỉ còn vị mà thôi. L‎ý do ư? Vì các thứ rau đã bị rửa nước và xịt nước nhiều lần. Nước đã làm bay hết mùi thơm. Quả đúng vậy các cụ ạ. Rau thơm trên vườn, hái xong ta còn thấy mùi thơm, trước khi ăn ta mới rửa thì hương thơm vẫn còn trọn vẹn. Các cụ cứ thử mà xem, vì đây là kinh nghiệm của 2 cụ già, cái gốc ăn uống của các cụ rất lớn.

Ngoài tin nhập đề trên đây, tháng Tư này còn có bao nhiêu tin gây chấn động, do 2 đài phát thanh Chị Ba Biên Hòa và anh John phát ra.

Tin thứ nhất là lời bà già tiên tri Baba Vanga người xứ Bulgaria. Bà là người vô học và bị mù. Bà già thọ 85 tuổi, mất năm 1996. Nhưng bà được coi là một Nostradamus thứ hai. Về quá khứ bà nói trúng rất nhiều việc.

Chẳng hạn năm 1989 bà đã nói trước là tòa tháp đôi ở New York sẽ bị sụp ngày 9.11.2001. Và đã đúng y như vậy. Chẳng hạn bà báo trước trận sóng thần Tsunami năm 2004 tàn phá miền duyên hải nước Nhật, và đã xảy ra đúng như vậy. Chẳng hạn năm 1980 bà báo trước là tàu ngầm nguyên tử của Nga sẽ bị chìm vào năm 2000. Chẳng hạn năm 1990 bà đã nói trước là tổng thống Hoa Kỳ thứ 44 sẽ là một tổng thống người Da Đen. Quả đã đúng vậy.

Và điều tiên báo của bà trước khi chết năm 1996, hiện đang ứng nghiệm cho năm 2016 này. Tin này đang gây chấn động dữ dội: Bà đã báo trước là năm 2016 Âu Châu sẽ bị người Hồi Giáo xâm chiếm, rồi Âu Châu sẽ bị tàn phá hoàn toàn, năm 2025 Âu Châu sẽ thành bãi sa mạc, năm 2043 Âu Châu sẽ là trung tâm Hồi Giáo…

Nghe đến đây thì dân làng xôn xao và lo lắng, vì ai cũng có anh em bà con đang sống ở Âu Châu. Bà đã nói đúng việc dân Hồi Giáo xâm nhập Âu Châu mấy tháng đầu năm 2016, thế thì việc Âu Châu hóa thành bãi sa mạc chắc sẽ xảy ra… Thấy dân làng bắt đầu chửi bọn Hồi Giáo quá khích, anh John bèn lên tiếng: cái lỗi này, xét tới ngọn nguồn thì phải trách cụ tổ Abraham. Ai bảo cụ lấy vợ lẽ làm gì ! Các cụ còn nhớ chuyện này trong sách sử của 3 tôn giáo lớn Do Thái Giáo, Thiên Chúa Giáo và Hồi Giáo chứ ? Thuở ấy cụ tổ Abraham chỉ có một vợ tên là Sarah cũng gốc Do thái như cụ. Hai người lấy nhau đã lâu mà vẫn không có con. Bà vợ Sarah có một người tớ gái gốc Ả Rập tên là Nagar xinh đẹp. Bà Sarah liền tiến Hagar cho chồng để làm vợ lẽ. Hagar đẻ con tức thì, đẻ ra cậu con trai đặt tên là Ishmael. Đây là người con trai trưởng của Abraham. Chắc ngài Abraham suốt ngày ôm vợ lẽ nên máu ghen của nàng Sarah nổi lên. Sarah đã chạy chữa ngoại khoa nên về sau cũng có bầu và đẻ ra cậu con trai đặt tên là Isaac. Thế là cuộc chiến nội bộ xảy ra và cô vợ lẽ phải dắt cậu con trai ra đi. Cậu cả này đẻ ra Hồi Giáo. Giá mà cụ Abraham ban đầu đừng lấy vợ lẽ thì đâu có sinh chuyện như ngày nay, làm gì Âu Châu bị đe dọa thành bãi sa mạc trong một chục năm nữa…

Chị Ba Biên Hòa nghe đến đây bèn gật gù khen chồng mình nói rất đúng: Các ông chồng không bao giờ nên có vợ bé. Nói rộng hơn: các ông không rượu chè cờ bạc hút xách và không mê gái, nghĩa là các ông không mê tứ đổ tường là những ông chồng l‎‎ý tưởng nhất. Phe các bà nghe xong liền vỗ tay râm ran và gật đầu nhất trí với Chị Ba.

Anh John nghe vợ nói xong, anh có ‎‎ý trêu vợ nên xin kể một chuyện tiếu lâm của Pháp. Anh bảo đây là chuyện bên Tây, xin các bà nhớ kỹ nha. Rằng có một ông giám đốc kia là một công chức gương mẫu, sáng đi làm đúng giờ, chiều về nhà đúng giờ. Bữa đó may mắn ông trúng vé số lotto được 500 đồng. Ông bèn tự thưởng cho mình một bữa ăn trưa tại một nhà hàng sang trọng. Trên đường tới tiệm ăn, ông gặp một ông già ăn mày đầu tóc bạc phơ mặt mũi bơ phờ hốc hác. Ông liền động lòng thương và muốn chia sẻ một chút tiền may mắn của mình, ông liền móc ví trao cho ông già 200 đồng. Vừa trao ông vừa hỏi:

– Với số tiền lớn này ông có đi đánh bạc không ? Ông lão trả lời không vì ông khồng hề biết đánh bạc.

– Thế ông có đi uống rượu không?

– Thưa không, vì tôi không hề biết uống rượu

– Thế ông có đi hút cần sa ma túy không?

-Thưa không, vì tôi không thích

-Thế ông có đi xuống khu đèn hồng không?

-Thưa không, vì xưa nay tôi sợ đàn bà lắm

Nghe ông già trả lời 4 câu không như trên thì ông giám đốc kia vô cùng sửng sốt và giật mình. Ông liền nhớ ngay tới bà vợ là người luôn đòi ông phải 4 không như trên. Ông giám đốc liền vui vẻ mời ông già hành khất vào tiệm để cùng ăn trưa. Ông giải thích việc mời đột ngột này: Tôi muốn giới thiệu ông với một người luôn ao ước có một người chồng không tứ đổ tường. Khi đã an vị trong nhà hàng, ông giám đốc bèn rút điện thoại ra gọi cho vợ:

– Em ơi, anh có 2 điều vui để báo cho em: Thứ nhất anh vừa trúng số lotto. Thứ hai anh vừa gặp được mẫu người l‎‎ý tưởng của em. Em ra đây ngay nha.

Anh John kể đến đây rồi xin hết chuyện. Phe các bà nghe xong liền phán: Chuyện gì vừa khô vừa nhạt như nước ốc! Anh John cười chống chế: Vì đó là chuyện đạo đức mà !

Mấy cô Huế liền ghé tai Chị Ba hỏi nhỏ: Anh vừa kể chuyện khiêu khích các bà vợ chúng mình, tối nay về nhà Chị Ba có phạt anh John cái gì không?

– Có chứ! Tôi sẽ bắt ngủ ngoài phòng khách! Anh chồng tôi cũng gớm lắm chứ không hiền như mấy cô nghĩ đâu. Ảnh kể câu chuyện này là có ‎‎ý nói liền ông mà không biết chút xíu về tứ đổ tường là chỉ có nước đi ăn mày !

Cô Tôn Nữ nghe xong câu này liền la lên: Dữ ha!

Vì thấy đề tài này mà để phe các ông khai thác thì sẽ dài vô tận nên Chị Ba nói nhỏ: Truyện này dài lắm, để hôm nào chị em chúng mình bàn riêng với nhau. Bây giờ để tui nói tiếp tin thời sự cho Cụ B.95 nghe.

Tin nóng bỏng tiếp theo là vụ ‘ Hồ Sơ Panama’, một quả bom nguyên tử vừa nổ ra vào đầu tháng này. Nó nổ lớn hơn vụ Wikileaks năm 2010 trăm ngàn lần. Các cụ tỷ phú khắp thế giới những tưởng vừa giấu tiền vừa trốn thuế qua Tổ Hợp Mossaack Fonseca ở Panama trong 40 năm qua sẽ được an toàn vĩnh viễn, ai ngờ chìa khóa hồ sơ mật này đã lọt vào tay một tờ báo bên Đức là Suddeutsche Zeitung, và báo này đã chia tin này cho 107 tổ chức báo chí thế giới. Hồ sơ mật này có hơn 11 triệu tài liệu nằm trong 2,6 terabyte dữ liệu. Cả thế giới rung động. Nghe nói 2 ông Putin của Nga và Tập Cận Bình của Tàu đang run nhiều nhất. Chắc báo chí mới đọc phớt qua nên mới biết sơ sơ vì kho có trên 11 triệu tài liệu cơ mà. Tuy mới sơ sơ mà ông thủ tướng nước Iceland phải vội vã từ chức ngay. Nghe nói báo chí có thấy 1 tên người VN, và điều đặc biệt ông này là công dân Canada, tên là Eric Van Nguyen. Canada có hồ sơ trốn thuế và rửa tiền của ông này và 7 người đồng bọn từ năm 2014. Hy vọng trong hồ sơ mới tiết lộ này chúng ta sẽ biết được nhiều việc động trời, biết đâu gốc của nó có thể là từ Hà Nội. Mà nếu từ Hà Nội thì bà con ơi, VC sẽ ăn nói làm sao đây. Xưa nay VC luôn miệng nói mình là đầy tớ của nhân dân thế mà sao đầy tớ bây giờ mập phì, nhà cao cửa rộng, của ăn của để có khắp nơi, trong khi ông chủ là nhân dân thì gầy còm xơ xác, chạy ăn từng ngày…

Ông ODP vừa nghe tới tiếng Việt Cộng một cái là giơ tay xin nói ngay một chuyện còn nóng về đề tài này: Ông Lê Dinh, một nhạc sĩ, văn sĩ và nhà báo nổi tiếng ở hải ngoại, hiện cư ngụ ở Montreal gần chúng ta, vừa viết một bài báo rất sâu sắc, ông luận về 2 tiếng Việt Cộng hay vô cùng. Theo nghĩa khởi đầu thì VC là một người Việt theo Cộng Sản. Nhưng thời gian đã chứng minh là tiếng Việt Cộng không mang ‎ý‎ nghĩa đơn sơ đó mà nó mang một ‎ý nghĩa khủng khiếp, ‎ý‎ nghĩa ma quỷ và sự chết. Năm 1954, Việt Cộng chiếm miền Bắc, tức thì một triệu đồng bào bỏ của chạy lấy người trốn vào trong Nam. Năm 1975, Việt Cộng chiếm miền Nam, tức thì một triệu người cũng bỏ của chạy lấy người, rồi kéo thêm hai triệu người nữa. Ngày xưa bọn Tàu cai trị VN cả ngàn năm mà không có ai bỏ nước trốn đi, rồi thời Thực dân Pháp cai trị 100 năm cũng không hề có vụ bỏ nước ra đi… Nhà văn Lê Dinh viết rất hay: Rằng anh giận tôi thì anh có thể chửi tôi bằng bất cứ từ nào, như vô học, du côn, dốt nát, nhưng xin anh đừng chửi tôi là ‘thằng Việt Cộng’nha vì tiếng Việt Cộng đồng nghĩa với ác quỷ, ma quái, man di mọi rợ, lưu manh thảo khấu. Các cụ nhớ tìm đọc bài luận về chữ Việt Cộng của nhà văn Lê Dinh nha, hay lắm.

Và tin cộng đồng VN là các buổi lễ tưởng niệm Quốc Hận Tháng Tư Đen được tổ chức rất trọng thể ở khắp nơi. Tại Toronto có hai buổi, ngày Thứ Bảy 23 ở tòa Đô chính và Thứ Bảy 30 tại tòa thị chính Mississauga bên cạnh. Các buổi lễ gồm việc tôn vinh các anh hùng VNCH đã nằm xuống, tố cáo tội ác bán nước của VC, tố cáo hành vi xâm lăng của Trung Cộng, diễn hành cờ vàng và đặt vòng hoa nơi đài chiền sĩ trận vong. Đồng hương ta tham dự rất đông.

maybay dhl
Phi cơ hãng DHL (Ảnh trên Net)

Nhân nói tới ngày quốc hận 30/4, tôi xin nói tới những giải cờ vàng đặc biệt. Không biết các cụ có xem thấy trên mạng hình máy bay bưu điện quốc tế của Đức DHL không ? Đây là việc tình cờ hay là một điềm lạ? Ngày đầu tháng Tư này, hãng máy bay DHL có đường bay quốc tế tới 220 quốc gia trình làng các máy bay khổng lồ sơn màu vàng tươi. Dưới hàng chữ danh hiệu DHL là một giải cờ vàng 3 sọc đỏ vĩ đại chạy dài theo thân máy bay. Các cụ có ‎thấy không: màu cờ vàng của VNCH chúng ta là màu tươi nhất và nổi nhất trong rừng cờ quốc tế hiện nay. Xin chào mừng và ca ngợi hãng hàng không DHL mang quốc kỳ VNCH bay khắp thế giới.

À, còn một tin vui này nữa cũng xuất hiện đầu tháng Tư này. Đó là việc Hội Chợ Expo City ở Osaka đã tôn vinh món phở của Việt Nam là món ngon quốc tế, bằng cách Nhật Bản từ nay gọi ngày 4 tháng Tư là ‘Ngày của PHỞ 4/4’. Một trong những l‎‎ý do chọn ngày 4/4 là vì con số 4, tiếng Anh là Four, chữ Four đọc lên nghe mài mại như chữ Phở. Danh từ PHỞ đã dược quốc tế hóa, đã nằm trong các tự điển lớn của thế giới. Ai cũng biết đến nó. Ngày xưa hồi 1980 tôi rủ một anh bạn Canada đi ăn tối, anh hỏi món ăn chính là món gì, tôi trả lời là món Phở, Vietnamese Soup. Bạn tôi ngạc nhiên lắm vì ăn tối mà chỉ ăn soup sao. Theo thực đơn các nhà hàng Canada ở đây thì món soup chỉ là món khai vị, không bao giờ là món chính cả. Tôi bảo anh bạn Canada cứ đi ăn thử đã, đừng có thắc mắc. Đến khi một tô phở lớn nghi ngút khói và thơm lừng được bưng ra, đầy những lát thịt vừa tái vừa chín, vừa gân vừa nạm, thì ông bạn vái tôi một cái dài. Tôi chỉ dẫn ông cách ăn. Trước hết là nếm nước phở, nếm từ từ thong thả, bạn có thấy nhiều hương vị không. Rồi bạn ăn thử một miếng thịt, ngon chứ. Bây giờ mới là lúc bạn quyết định sẽ thêm những gia vị gì nha. Nước mắm nè, tiêu này, ớt này, húng quế này, lá ngò này. Bạn tôi nhìn sang bàn bên cạnh thấy mấy bà mấy cô VN đua nhau xịt thêm tương đen tương đỏ và vắt chanh, bạn tôi liền định bắt chước, tôi đã giơ tay ngăn lại. Chớ, bạn chớ làm thế. Nước tô phở của bạn đang có màu trong lóng lánh, đây là một tuyệt tác của mỗi nhà hàng, bây giờ bạn cho tương đen tương đỏ vào là bạn biến nó ra một tô hủ tíu tả pí lù, gián tiếp bạn chê nhà hàng không biếp nêm nếm. Anh bạn Canada đã nhớ mãi lời dặn này của tôi nên về sau mê phở rồi, mỗi khi anh giới thiệu gia đình đi ăn phở, anh đều chỉ dẫn cẩn thận như tôi. Bây giờ anh, gia đình anh và bạn bè anh đều mê phở. Họ còn biết gọi thêm món tái, món gân, món nạm, món gầu. Tôi hy vọng là món phở 4/4 vừa được vinh danh bên Nhật cũng sẽ được hướng dẫn cách ăn trúng cách như vậy. Đừng theo lối tả pí lù tương đen tương đỏ nha bà con !

Ông ODP nghe tôi nói về phở thì thêm chuyện phở di cư. Rằng năm 1954, phở Bắc đã di cư vào Nam, để lại miền Bắc một tô phở nghèo nàn gọi là ‘phở không người lái’ và ‘phở mì chính’. Năm 1975 Phở Miền Nam ra giải phóng phở miền Bắc đem theo thịt bò và giá sống.

Gần đây tôi được đọc một loạt bài phóng sự về Phở ở California, do 2 nữ phóng viên Thiên An và Ngọc Lan viết, bài viết thật là hay và công phu. Không ngờ các bạn trẻ này đã có những nhận xét thật chính xác và chính truyền của phở. Tôi định năm nay nếu đi Cali nhất định tôi sẽ mời 2 cô phóng viên Thiên An và Ngọc Lan cùng đi ăn ‘Phở 86’ để cùng chia sẻ thêm những hương vị mặn mà và ngọt thanh của nước phở, món thịt tái filet mignon để riêng ăn riêng hương vị sẽ ra sao, món gầu giòn có chút mỡ và xí quách dai dai beo béo như thế nào…

Dân làng chúng tôi còn đang mê mải bàn về phở thì Cụ Chánh hiện ra với một xấp giấy trên tay. Cụ nói:

Lão già hay quên nên xin cho lão nói ngay việc này. Lão xin tặng mỗi người một tập tài liệu vừa hiếm vừa qu‎ý. Có thể các bạn đã đọc rồi mà không lưu trữ, vậy xin các bạn cất bài này vào kho, để bên gia phả, để dành cho các con và các cháu. Thưa, đây là bài diễn văn của Khoa học gia Dương Nguyệt Ánh. Ngày 30/4 năm ngoái, bà đã từ Hoa Kỳ sang Canada, bà đến với cộng đồng VN ở Montreal và đã ứng khẩu một bài nói chuyện hay tuyệt vời. Bài này đã gây xúc động khắp nơi. Bà là nhà khoa học nên lời bà nói đâu ra đấy, không sai không sót một chút nào, bà trộn vào bài những lời tâm huyết và lòng yêu quê hương Việt Nam sâu sắc. Lão đã đọc bài này nhiều lần, luôn luôn thấy nó hay thấm thía, luôn luôn làm lão xúc động. Chẳng hạn sau khi vẽ ra một hình ảnh bi đát là CSVN làm tan hoang đất nước và băng hoại xã hội, Bà Ánh lên tiếng hỏi:

…Trong bối cảnh này, câu hỏi lớn nhất là người Việt hải ngoại cần phải làm gì cho tương lai dân tộc. Mà tương lai của dân tộc thì luôn luôn nằm trong tay những người trẻ. Vậy câu hỏi chính xác hơn là chúng ta phải làm gì để khuyến khích tuổi trẻ hải ngoại tiếp tay với những người tuổi trẻ trong nước bảo vệ quê hương và tiếp tục tranh đấu cho nhân quyền…

Các bạn đã nghĩ ra câu trả lời chưa?

Bà đã nói lời kết như sau:

“…Những lời nói sau cùng tôi xin được dành cho những người trẻ VN, và xin mượn tựa đề một tác phẩm của cố văn sĩ Duyên Anh có tên là ‘Mơ Thành Người Quang Trung’, một trong những anh hùng chống Bắc xâm vĩ đại nhất của lịch sử VN. Vâng, tất cả chúng ta xin hãy mơ thành người Quang Trung.”

Nói xong Cụ Chánh phát cho dân làng mỗi người một xấp bài diễn văn đầy hoa đầy lửa yêu nước này. Vừa đưa bài cụ vừa nói: Xin trao cho các con cháu chắt chúng ta ngọn lửa.

TRÀ LŨ

LTS: Độc giả đã có ‘Chuyện Cười Trà Lũ Toàn Tập’ chưa ? Tiếng cười là thuốc trường sinh, 1 tiếng cười bằng 10 thang thuốc bổ. Toàn tập gồm 4 cuốn, có hơn 1800 chuyện cười đông tây kim cổ khác nhau. Giá $85 mỹ kim ở Mỹ và Canada. Xin liên lạc trực tiếp với tác giả: petertralu@gmail.com

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

NHỚ NHỮNG DÒNG SÔNG

Thái Cát

SongThuong
 
          Băm tám năm tóc đen chừ đã bạc. Mắt muộn phiền phai nhạt nét tinh anh. Tuổi xế chiều làm mỏi mòn thân xác. Nhưng tâm tư thương nhớ vẫn xây thành. Bờ biển California uốn quanh núi đá. Chẳng khác ngày nào nắng hạ 75. Khi mới đặt chân xuống miền đất lạ. Đã thấy quê nhà sao quá xa xăm. Đất nước bốn ngàn năm: Bao tủi hổ. Tang bồng hăm bảy tuổi: Lấm châu thân. Sống hay chết phó trao cho mệnh số. Chen lên tàu liều “di tản” một lần. Nước chua. Thịt hộp. Cơm hấp trộn bơ. Nhưng vẫn thờ ơ vì thiếu nước mắm! Thôi! Cũng đành! Thèm và nhớ bâng quơ! Nhớ vị nước mắm Nam Ô! Vũng Nồm… Cách Thử… Nhớ vô Gò Bồi! Bâng khuâng nhớ đến rã rời! Lẩm cẩm viết vội mấy lời nhớ thương! Xa nhà mới nhớ quê hương. Xa quê mới nhớ ruộng vườn núi sông!
 
 
 
Nhớ Sông Côn (1)
 
Nỗi nhớ chợt vượt biển Đông. Tìm làn nước mát của dòng sông Côn. Khởi thủy trên đất Kontum. Gia Lai chuyển xuống – Đắc Kron Bung thượng nguồn. An Khê những bản cùng buôn. An Lão cũng có suối tuôn hai dòng. Xuôi nam rồi chuyển sang đông. Vĩnh Sơn qua khỏi lượn vòng Vĩnh Kim. Bốn nhánh Kon Trút nhập tìm. Cùng về làng Mó bình yên đề huề. Chảy xuyên Vĩnh Thạnh xa ghê! Vượt qua Tây Thuận hội tề Tây Giang. Trung Hòa thuộc xã Bình Tường. Sông Cút trên núi Thu Dương ngược về. Lớn dần từ suối đến khe. Sông Côn hòa nhập cận kề Phú Phong. Hà Giao uốn khúc Xích Long. Thiên tài áo vải Quang Trung vẫy vùng. Anh hùng khí đoản số cùng! Sông Bèo đã đợi trên vùng Bình Nghi. Nước hồ Núi Một cuốn đi. Nhơn Hòa Bình Định vậy thì theo nhau. An Nhơn, Tuy Phước trôi mau. Thành con sông Cái đổ sâu vào đầm. Các nhánh sông nhỏ cũng ham. Tân An thong thả, Gò Chàm nhẹ trôi. Hợp nhau thành sông Gò Bồi. Vào đầm Thị Nại để rồi chảy ra. Vịnh Quy Nhơn sóng triều xa. Bờ biển Gềnh Ráng nhạt nhòa sương mai.
 
Gò Bồi ngày Tết mồng hai. Cùng nhau tổ chức gái trai hội hè. Bơi đua. Bắt vịt. Vui ghê! Dân chài lại trỗ tay nghề chèo thi! Đua thuyền tập thể bốn vi. Đoạt cờ là chính, kể chi rượu nồng! Trên bờ trống giục thùng thùng. Dưới sông các “bậu” vật tung mái chèo! Người xem cổ võ hò reo! Rồi tiếng pháo nổ, cờ treo rỡ ràng! Hân hoan khắp cả xóm làng. Ngày mồng hai Tết họ hàng vui chơi!
 
Mồng ba Tết, nợ đời phải trả. Chèo thuyền ra biển cả lưới câu. Cá to ở dưới vực sâu. Tôm cua biển cạn. Hến hàu hồ sông. Hò ơi! Sóng vỗ phập phòng! Sông Côn vẫn mãi một dòng chảy xuôi!
 

Sông Côn, đoạn qua An Nhơn. (Nguồn: Internet)
 
 
Lại giang (2)
 
Chao ơi! Bao nỗi ngậm ngùi! Lại Giang ngoảnh lại ngắm trời Bồng Sơn! Nằm trong địa phận Hoài Nhơn. Gầm cầu khói lửa oán hờn thiên thu. Đạn bom trút xuống mịt mù. Làng quê Khánh Trạch bây chừ ra răng? Dừa, tre gãy đổ từng hàng. Nhà tan cửa nát điêu tàn thảm thương. Bốn mươi năm rất vô thường. Những dừa, tre đã ven đường tươi xanh. Bồng Sơn rộn rã thị thành. Tam Quan kia cũng rất nhanh phục hồi. Lại Giang Hoài Hải ra khơi. Về nguồn An Lão tài bồi Kim Sơn. Lên Vĩnh Đức, Châu Sơn, Long Khánh. Quá Xuân Phong gắng tới Xã Canh. Qua bao đồi núi thác ghềnh. Gặp hai sông nhỏ: Nước Đinh, Nước Ráp. Trở về xuôi cheo leo làng mạc. Phụ lưu sông Nước Sáng lạnh băng. Sông Nước Điệp sóng lăn tăn. Khi mùa mưa đến đố ngăn được nào. Hai sông này nhập vào An Lão. Cùng chảy về ranh giới Hoài Nhơn. Gặp con sông Trắng Kim Sơn. Nguồn từ Ân Nghĩa Hoài Ân tràn trề. Ngược sông Trắng trở về Phú Hữu. Rồi quành lên sông Lớn giữa đường. Thong thả gặp sông Nước Lương. Được hai sông nhỏ từ nguồn Đắc Mang. Sông Nước Rong một dòng róc rách. Sông Nước Mang lau lách đìu hiu. Nước hai sông cũng khá nhiều. Nước Lương nhờ vậy xoay chiều sóng trôi. Xuyên vách núi sườn đồi dốc đá. Rất âm thầm qua xã Dak Mang. Khói sương xếp lớp bày hàng. Đầu nguồn sẽ thấy một làng An Sơn.  Sông An Lão, Kim Sơn hòa trộn. Trở thành con sông lớn Lại Giang. Chẳng cần vượt núi băng ngàn. Chảy quanh co ngang qua làng Khánh Trạch. Cửa An Dũ Hoài Hương tiễn khách. Nhớ biển đông Hoài Hải chia tay. Hoài Thanh gọi gió chuyển mây. Cuối đầm ngóng đợi thêm gầy Kim Giao!
 
 
 
Sông Hà Thanh
 
Sông Hà Thanh phát sanh từ Canh Thuận. Lưng chừng núi Am buồn trông xuống Canh Vinh. Canh Hiền, Canh Hiệp dưỡng sinh. Vân Canh tô điểm ý tình Hà Thanh. Chuyển mình rời khỏi núi xanh. Chảy vào Tuy Phước, vòng quanh Diêu Trì. Quy Nhơn cũng có nhánh đi. Là sông Trường Úc nằm về phía trong. Hà Thanh, Trường Úc hai dòng. Đổ vào Thị Nại là xong số phần.
 
 
Sông Hà Thanh, đoạn qua Quy Nhơn. (Nguồn: Internet)
 
 
Sông Mỹ Cát (3)
 
Núi Hòn Nóc có nhiều suối nhỏ. Đến mùa mưa tuôn đổ vào hồ. Hội Sơn chứa nước đầy no. Tràn qua khe lớn thẳng ro một dòng. Nước chảy mạnh nên cần đắp đập. Từ Cát Sơn xuống tới Cát Lâm. Chỉ dùng vài tháng trong năm. Mùa hè nắng hạn đập nằm khô trơ. Sông cạn ráo vì hồ thiếu nước. Đập Cây Gai chuyển hướng quay ngang. Tây-Đông một thế thênh thang. Đến đập Cây Ké đổi sang Đông-Bắc. Khúc phân giang Phù Mỹ Phù Cát. Sông Kiên Duyên réo rắc Vĩnh Kiên. Sông Đập Sung, sông Đập Bao, sông Đập Hiền. Hợp thành sông Kiên Duyên Bình Trị. Chảy lấn qua địa hạt Phù Mỹ. Rồi phân giang: Sông Cả phía Nam. Phía Bắc là Lu Xiêm Giang. Hai sông chảy dịu dàng vào đầm Nước Ngọt.

Gõ vi tính nên không dùng bút. Chỉ lâu lâu lắc chuột khi cần. Google mở tắt rần rần. Buồn buồn xếp đại mấy vần cho vui!

Thái Cát
California December 9, 2013
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Chỉ Có Nơi Đó

    Đến một bữa, Năm Hiệp trở chứng, kêu vợ:

    – Chằng Lửa à!

Cô vợ tên là Bé Năm nhưng không phiền hà gì cái biệt danh quá cỡ đó, chạy vào, trả đũa:

– Gì đó “thầy”?

Hiệp cũng không chạy danh xưng móc lò này, dù gì xưa kia anh chàng đã có một lúc làm thầy giáo.

– Anh không đào củi nữa đâu! Hết chỗ đào rồi.

Từ ngày ở tù cải tạo về đến giờ, Năm Hiệp ở quê vợ, ấp Cái Đôi, xã Long Vĩnh, quận Long Tòan của tỉnh Vĩnh Bình. Một hóc bà tó, thưa dân, ít ruộng, nhiều rừng, nước mặn, muỗi bầy. Hai vợ chồng tay trắng cùng với hai thằng nhóc con ở đậu với ông bà già vợ. Vợ mua lúa xay gạo bán quanh xóm, có khi chở ra bán ngòai Động Cao, Cồn Cù. Lời không nhiều, chỉ đủ xây xài nhưng chưa bao giờ lỗ. Chỉ trừ một lần, bán chịu cho anh chàng bán thịt heo ở ngỏai. Tưởng tay có máu mặt, ai dè là người, không phải mượn đầu heo nấu cháo mà là mượn nguyên con, mổ thịt đem bán rồi trả tiền sau để kiếm cơm. Gặp thời buổi đói rách, người người quyết chí ăn chay, còn không thì ăn cá, ăn cua, thiếu gì quanh đó, vì vậy anh chàng bán thịt ế suốt, mắc nợ trả không nỗi, trốn mất. Cả đám áo rách ôm nhau kêu trời. Bé Năm lò mò ra đó nên cũng ké được một chân làm chủ. Chủ nợ!

Năm Hiệp, gia tài chẳng có gì. Cha mẹ ruột ở Biên Hòa, đã bị dồn về kinh tế mới Xuyên Mộc trong tỉnh Bà Rịa, không trông cậy được gì. Năm Hiệp chỉ có chút chữ nghĩa và nghề bắn súng, đánh trận. Cộng sản cấm không cho làm những món đó thành ra Năm Hiệp lơ ngơ, chẳng biết làm sao. Bèn đi lung tung làm mướn. Đào ao, cuốc cỏ, lên giồng khoai, phụ dọn rừng…Riết rồi, chủ cũng xơ xác bằng tớ nên chủ đành gồng mình làm ên, còn không thì tới đâu thì tới. Có nghĩa là liều mạng, là thí mạng cùi đó!

Năm Hiệp không dám thí mạng cùi ngồi “chờ xem con Tạo xoay vần đến đâu” vì chờ kiểu này, con Tạo hay con gì cũng xoay đến chỗ nhăn răng mà thôi. Bởi vậy, Năm Hiệp phải tự xoay qua nghề đốn củi bán cho lái buôn ở thị xã Trà Vinh chạy ghe xuống mua. Rừng thì rộng nhưng phần nhiều là dừa nước, ráng, lức, chà là, không làm củi được. Những cây lớn làm củi được như Mắm, Giá, Già, Vẹt thì ít quá, mọc chen lẫn rải rác trong những lọai kia. Cây bần mọc ven theo mé biển khá nhiều, lái buôn không mua vì gỗ xốp, không đượm lửa nên gần như còn nguyên. Mấy tay thợ mộc có lúc kẹt quá cũng đành bỏ công xẻ gỗ mấy cây lớn để làm quan tài!

Cây ít, tiều phu bất đắc dĩ quá đông nên đến phiên Năm Hiệp chỉ còn trơ lại những gốc. Cũng may, đám tiều đến trước có nhiều tên đau lưng nên chỉ đứng xổng chặt lấy phần trên, bỏ lại rất nhiều gốc dài. Năm Hiệp mượn cây búa đẽo của ông bà già vợ đi chặt lại những gốc đó. Chặt sát mặt đất. Chặt ngồi. Một thời gian, hết gốc, Hiệp phải xài thêm một đồ nghề nữa mới đốn được củi: cây xuổng nhỏ! Lại đến những gốc đã chặt mấy bữa, rồi lấy xuổng đào gốc, đào tới đâu, chặt tới đó, gốc, rễ lấy tuốt, không bỏ cái nào. Đào củi là vậy đó. Có điều, cả nhà chỉ có một cây búa đẽo đó, có lẽ do một ông vua Hùng Vương nào đó ban tặng nên quá sức tưởng tượng, mài cả buổi vẫn trơ ra, không biết bén là gì! Thời buổi mua đinh còn phải xin giấy cho phép thì làm sao mua nỗi cây búa đốn cây! Vậy mà Năm Hiệp chặt được một thước củi mỗi ngày, chở xuồng ra mé sông lớn, xếp vào cự để sẳn chờ ghe buôn vài bữa ghé lấy một lần. Tay chân trầy xước, nổi u nổi nần nhưng lòng vẫn thảnh thơi.

Bây giờ, không xong rồi. Củi rễ không còn bao nhiêu nữa. Năm Hiệp nhất định phải tìm một lối thóat.

Cuối cùng, Hiệp quyết định về với ông bà già ruột đang làm rẫy ở kinh tế mới Xuyên Mộc thuộc địa phận Bà Rịa. Hiệp nghĩ đó là vùng đất mới, trồng này trồng kia chắc sẽ đủ ăn, khỏi phải làm thuê, làm mướn cho ai và may ra, lập được một vườn tiêu hay một vườn điều thì sẽ khá giả hơn. Một buổi chiều, vợ chồng Hiệp và thằng nhóc út, cu Cường, bao bồng xuống Kinh Đào để đi ghe vào Đôn Châu, ở tạm nhà Dì Tư, chờ xe đò hừng đông hôm sau lên thị xã Trà Vinh. Từ đó, lại xếp hàng mua vé về Xa Cảng Miền Đông, rồi đổi xe về Xuyên Mộc, Bà Rịa. Chằng Lửa chiều chồng, theo về kinh tế mới Xuyên Mộc với ước vọng lập vườn tiêu, vườn điều. Thằng nhóc lớn, cu Đông, bà ngọai phụ nuôi từ khi lọt lòng đi không đành, quyết chí ở lại với ông bà ngọai. Ông bà cũng quen tay, quen chân thằng cháu nên nhờ người đem cu Đông qua trốn bên Giồng Bửng, cách một giang ruộng rộc. Vợ chồng Năm Hiệp nhắm không xong đành bỏ con lại cho ông bà. Cu Đông trèo lên nhánh cây, thấy xe đò chạy rồi mới lót tót về nhà. Mừng dữ!

Sau hai ngày ăn đường ngủ tạm, cả đám tới nơi, tả tơi như một đám ăn mày. Đây là một vùng đồi, đất đỏ, rừng cây chập chùng. Xa xa, ngọn núi Mây Tàu lờ mờ, buồn bã. Ngày xưa, nơi này là chiến trường đẫm máu của trận Bình Giả. Không như Trà Vinh, vùng này rất hiếm nước, giếng sâu ít nhất phải 10 thước (được một điều là đất đỏ không bị chài, xập như đất cát quê mình nên đào tới đâu cũng được). Chỉ có một con sông chảy ngang qua đây tên là sông Ray, có lẽ gọi theo thổ âm của người thiểu số Châu Ro quanh đó. Sông này chỉ dài khoảng 150 cây số, bắt nguồn từ vùng núi Xuân Lộc, chảy qua hai quận Long Đất và Xuyên Mộc của tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu rồi lặng lờ đổ ra biển bằng cửa Lộc An, phía trên Vũng Tàu một chút. Đây là cửa biển cây cối rậm rạp, không có người ở, ngày xưa tàu Cộng Sản Bắc Việt đã mấy lần chở vũ khí, đạn dược vào chỗ này. Ở hạ lưu không biết thế nào chớ ở Xuyên Mộc, sông Ray chẳng khác gì một đường thóat nước: Không bao giờ có nước lớn, nước ròng mà chỉ có nước ròng, tức là suốt đời chỉ chảy một chiều xuống. Mùa nắng, nước trong vắt, cạn lúp xúp, đi bộ qua được. Mùa mưa, nước trên nguồn đổ xuống đục ngầu, chảy như thác, lòng sông rộng ra, không ai dám lội qua. Ngoài ra, điểm đặc biệt nhất của sông Ray ở chặng này là lòng sông chỗ nào cũng đầy những đá nhỏ, đá lớn lổm nhổm. Nhiều tảng đá lớn hơn mặt bàn hoặc có khi bằng cái chòi giữa ruộng. Bởi vậy, tiếng là sông nhưng đừng mong đi xuồng trên đó!

 Cha mẹ và anh em của Năm Hiệp đã bị lùa về đây bốn năm trước. Nhờ chế độ tập đòan vừa xập tiệm, họ đã ra công phá rừng để sở hửu được một mớ đất đai, trồng bắp, trồng mì, khoai đậu, lây lất qua ngày.

Vợ chồng Năm Hiệp được ông bà già cắt cho hơn mẫu đất và cũng trồng trọt mưu sinh như mọi người. Mọi chi tiêu đều lấy từ hoa màu thu họach được. Thân phận nông dân ở đâu cũng bấp bênh như vậy. Ở vùng kinh tế mới này, đất cao trồng lúa khó khăn nên gạo trở thành món ăn xa xỉ. Gạo bán theo lon sửa bò, mỗi lon giá 500 đồng. 4 lon tính thành 1 kí lô. Không tính bằng giạ, lít như ở miền Tây.

Gần như quanh năm, ngoài những hôm đặc biệt mới được ăn “cơm trắng”, người dân đều phải dùng bữa bằng khoai mì hoặc bắp. Khoai mì thì luộc ăn liền hoặc xắt lát, phơi khô, xay thành bột rồi làm bánh hấp, bánh nướng, đủ kiểu. Bắp thì cũng luộc ăn liền hoặc lảy hột, phơi khô. Bắp khô có hai cách ăn: Để nguyên hột, ngâm nước vôi một đêm rồi đem hầm một buổi đến khi hột bắp hơi mềm, nứt ra, gọi là “bắp bung”, hoặc xay bắp khô thành hột nhỏ, lớn hơn hột gạo một chút, nấu như nấu xôi, gọi là “bắp hầm”. Những món cổ truyền này cứ đổi qua đổi lại cho đỡ ngán và ăn với đồ ăn thường xuyên là mắm ruốc. Thỉnh thoảng mới mua nỗi chút xíu thịt heo ba rọi bằng hai ngón tay.

Năm Hiệp chạy ô mồ lại gặp ô mả. Vườn tiêu, vườn điều đâu chưa thấy, chỉ thấy hì hục trối chết kiếm ăn! Mờ trời, vác cuốc lên rẫy, cuốc tới đứng bóng. Cỏ gì quá cỡ, mọc nhanh hơn cây trồng, tức gớm. Đám này cuốc chưa xong, đám kia cỏ đã ngấp nghé cao hơn bắp, mì. Nếu cuốc không kịp thì rẫy bái coi như bỏ. Bởi vậy, mờ trời Năm Hiệp đã vội vác cuốc lên rẫy. Đến đứng bóng, về nhà, ăn một mớ bánh bột khoai mì hoặc bắp hầm, bắp bung và ngủ một giấc chừng một tiếng rồi lại trở lên rẫy, cuốc đến chiều tối. Cũng lạ, ở xứ này ai cũng có thói quen ngủ trưa như thế. Có phải nhờ vậy mới đủ sức chịu đựng cuộc sống lầm than này?

Hình như không có cuộc sống nào lầm than hơn nữa. Quần quật quanh năm suốt tháng như vậy nhưng Năm Hiệp chỉ có được một cái quần tây và một cái áo sơ mi cũ xèm để mặc đi làm hằng ngày. Thật ra, đó là bộ đồ đi xóm nhưng gia tài chỉ có một bộ đó nên phải mặc đi làm. Mỗi buổi trưa về nghỉ, Năm Hiệp giặt cho bớt mồ hôi rồi phơi lên hàng rào để buổi chiều mặc lại. Cứ thế lây lất đến ngày thu hoạch, trích ra một phần khá lớn trong số tiền bán được nhỏ nhoi để mua một bộ đồ khác thay cho bộ cũ vừa mục rách.

Trời cho hoa màu đầy rẫy nhưng giá bán như bèo. Đại lý thu mua quốc doanh ép giá tận cùng, con buôn thì gian lận đong đo. Thành ra, bán cho phía nào cũng chết. Mì, bắp, đậu làm ra hằng tấn nhưng vẫn không có áo mặc, cơm ăn!

 Chằng Lửa chuyến này bỏ nghề bán gạo, ra nghề trồng rau. Cô con một, trắng da, dài tóc của ông bà già Năm Cầm, từ nhỏ chưa biết dãi nắng, dầm mưa, vậy mà từ khi làm vợ của chàng trung úy “ngụy” Năm Hiệp, cô nàng đã biết đủ đường gian nan. Nuôi chồng ở tù cải tạo sáu năm, nuôi con khôn lớn chờ chồng. Đến khi chồng được thả về, lại chung vai chịu đựng đói nghèo, khinh miệt. Hình ảnh người vợ của kẻ chiến bại bi thương thế đó. Nhưng mãi là thiên tình sử đẹp nhất trần gian.

Lựa một khỏanh đất tương đối bằng phẳng, ít đá, ven một lạch nước, Chằng Lửa dọn đất trồng cải. Đất mới, cải tốt xanh. Từ đó, mỗi buổi trưa, Chằng Lửa gánh cải ra bán chợ, kiếm thêm vài đồng. Từ rẫy, về nhà, đến chợ, con đường đất đỏ nắng bụi, mưa lầy, lên dốc, xuống đồi, xa lắm.

Nhà ông già Lợi ở lô kế bên có miếng đất rẫy, trồng làm hàng ranh là chuối Bơm (một loại chuối) và giữa rẫy có một chỗ hoằng, nước mạch đọng lại quanh năm, môn ngọt mọc đầy. Loại môn này có cọng và lá như cây bạc hà, ăn vào ngứa miệng chịu không nỗi, chỉ để nấu cho heo. Vợ chết từ lâu, già Lợi ở hui hút với cô con gái độc nhất tên Tâm. Cô bé này lớn bộn, thiếu điều lấy chồng được rồi nhưng có tật làm biếng và ăn hàng. Mọi việc giao hết cho ông già, cô bé chỉ quanh quẩn ở nhà nấu mì, hầm bắp và đi chợ ăn bánh! Một bữa, cô bé sáng kiến kêu Chằng Lửa qua bán cho chuối và môn.

Chằng Lửa chưng hửng, hỏi:

– Tiền đâu mà mua! Mà bán bao nhiêu?

Tâm nói:

– Bán rồi trả cho em sau. Chuối xanh, 200 đồng 1 buồng. Môn, 1 gánh 1500 đồng, chị cứ cắt, chừng nào gánh không nỗi thì thôi!

Từ ngày đó, Chằng Lửa có đồ bán chợ liên tục. Hết cải, tới chuối, môn. Có điều, muốn đồng lời cao hơn, gánh môn trên vai Chằng Lửa phải nặng thêm. Thân cò lặn lội, không ngờ.

 Dọc theo hai bên bờ sông Ray, tre gai và cây le (giống như cây trúc) mọc chi chít nên măng có quanh năm. Một số người sống nhờ nghề xắn măng này. Ở những bụi tre rậm rạp quá, vào không được, họ làm một cái câu liêm, cán dài, chọt vào giựt cho đứt cái mụt măng rồi từ từ lôi ra. Một hôm, Năm Hiệp và người cha (ông già Sáu Tri) rủ nhau thử đi đổi nghề. Lần quần suốt buổi sáng, gai tre cào rách da, hai cha con chẳng thấy một mụt măng nào. Không hiểu bằng cách nào, đám xắn măng chuyên nghiệp lại kiếm được nhiều đến thế! Nghe nói măng mọc dưới đất, chỉ trồi lên một chút, phải quen mắt mới thấy được. Giống như đi bắt giộp, chem chép ở rừng lá Long Tòan vậy. Nhắm không xong, cha con trở về. Ngang qua giang rừng, hai cha con thấy một cây lớn, cành lá xum xuê, trái nhỏ từng chùm, giống như nhãn, chín vàng đầy cây. Ông già Sáu Tri ngắm nghía một hồi rồi nói:

– Chắc là trái Trường đấy. Thứ này mắc lắm.

Hiệp mừng húm:

– Vậy thì hên quá. Đem ra chợ đong lon mà bán thì nguyên cây này chắc gấp trăm lần măng!

Cây cao, trèo lên không được, hai cha con bèn hì hục đốn cây đó hết một buổi và hân hoan bứt sạch trái, vác về và hối cô Dương, em Năm Hiệp, gánh ngay ra chợ. Vài giờ sau, Dương về, hai đầu thúng trống không. Cả nhà hớn hở vây quanh. Dương để gánh xuống, nhăn nhó:

– Xém bị chửi! Trái này ngứa miệng, không phải trái Trường. Đổ bỏ hết rồi!

Cả nhà chưng hửng. Chắc chim chóc cũng chê nên mới còn nguyên cây. Giấc mơ cơm áo phút chốc tan tành.

Bù lại, nhờ mò mẫm ven sông chuyến này Năm Hiệp mới thấy một ông già đang chài cá. Khác với chài của dân miền Tây, cái chài của ông già đan bằng cước lưới và chân chài dùng chì cuốn và thả thẳng xuống, chớ không câu lên từng chặng làm “túi chài”. Đây là việc hết sức lạ lùng với Năm Hiệp. Ngoài một vài chỗ ngập đầu, sông thường sâu tới đầu gối, nước trong vắt nhưng đá nhỏ, đá lớn lổm chổm mà chài được sao? Thì ra, ông già vãi chài trùm luôn những tảng đá rồi nhanh chóng lội xuống nước, ém chân chì sát mặt đất. Đàn cá bất ngờ bị bao vây, chạy lung tung. Con nhanh cẳng thì đâm vào mắt lưới chài giống như dính vào lưới bén, con nhát gan, trốn vào chân hóc đá thì ông già thụt cây đuổi ra và chụp bằng tay. Gặp chỗ nước sâu huốt đầu, ông già sau khi ém lưới cẩn thận, vạch một chỗ chui vào trong chài và lặn vào hang đá, bắt cá. Ở những nơi sâu như vậy mới có cá lớn. Ở những chỗ cạn chỉ có cá nhỏ, cỡ hai ngón tay. Thành ra đi chài ở đây cũng là đi tắm suốt ngày! 

 Nhờ sẳn nghề đan lưới, đan chài -học được khi ở tù- Năm Hiệp bắt chước làm một cái chài. Ban đêm, sau khi cơm nước xong, Năm Hiệp chong đèn dầu ngồi đan tới khuya. Miệt mài như vậy suốt mấy tháng mới xong. Đêm chót tra chân chài, Hiệp đâp chì lạch cạch suốt đêm. Sáng ra, Thạch Men, ông hàng xóm xéo xéo bên kia con đường, nói:

– Tưởng trúng mánh vớ được con gì chớ!

Hiệp nghe xót xa. Đói khổ quá nên ý nghĩ hình như chỉ quanh quẩn miếng ăn. Giống như ông già Sáu Tri đêm nào cũng nằm mơ thấy ăn tiệc, nhưng sang hơn người thường vì được cùng bàn với De Gaule, Nixon, Tưởng Giới Thạch! Còn anh chàng Thạch Men này cũng khác người. Con cái lủ khủ, vợ vẫn tiếp tục sanh năm một. Đứa lớn dìu đứa bé, nheo nheo nhóc nhóc, khóc la tối ngày. Cu Lân, đứa lớn nhất, mười mấy tuổi rồi vẫn thò lò mũi xanh, hít ra hít vô nhất định không hỉ. Hôm coi cải lương ở chợ, tuồng tích éo le, đám đàn bà con gái khóc rấm rứt. Cu Lân cũng có trong đám khóc đó nhưng nó khóc hù hụ, nước mắt nước mũi tèm lem, hỉ mũi vụt lung tung. Mấy bà đang khóc, thấy ghê, dạt hết qua một bên.

Cha mẹ Cu Lân là những người ung dung lạ thường. Mẹ nó, gốc Nùng, mỗi ngày cùng với nó và con Chuồn, em nó, đến rẫy cuốc trồng lẹt xẹt một buổi rồi về nhà hát hò nghêu ngao. Cha nó, người Kmer, lòng vòng chài cá, xắn măng, nhà xiêu vách nát không màng mặc dù quanh đây cây rừng, tranh, lá không thiếu. Anh ta chỉ thích nằm lơ mơ hút thuốc mà nhìn lên mái nhà. Trên đó có một khoảng trống hóac vì cơn gió lốc hai ba tháng trước đã thổi bay mất mấy miếng tranh! Ở giữa nhà là một cái gò mối lớn như cái mả! Vùng đất đỏ này, mối vô số. Mối làm hang rồi đùn đất lên thành gò khắp nơi. Nếu là người khác, họ đã tìm chỗ khác, cất chòi, dọn đi. Thạch Men thì tử thủ, đặt nhang đèn trên gò mối, hương khói mịt mù. Thế đó, nhà Thạch Men vẫn sống an vui, không ước mơ, không thở than.

Kế nhà Thạch Men là nhà bà Phớt. Tên thật của bà là Lớt, không hiểu tại sao ai cũng gọi chệch ra như vậy. Bà này góa chồng từ lâu, ở đùm túm với mấy đứa con, có đứa đã đến tuổi lấy vợ. Hằng ngày, đứa lớn hạ cây, xẻ gỗ bán cho đám buôn gỗ hoặc đánh xe bò chở mướn này kia. Còn một, hai đứa nhỏ thì phụ với mẹ cuốc cỏ, trồng đậu, trồng mì, giống như mọi gia đình trong vùng này.

Tháng rồi, một ông sồn sồn tên Cả, ở đâu đó trong xóm công nhân đồn điền cao su mới thành lập gần đó, đến mé suối này mượn đất của nhà bà Lớt, dựng chòi ở trồng dưa hấu. Quyết ăn thua, ông trồng cả công đất. Đất đồi, nắng đốt, ông Cả tưới suốt ngày vẫn như không, thiệt khổ. Dây dưa hấu bò ra được một gang, ốm tong teo như chủ và nằm ì ra chờ chết. Vậy mà ông Cả còn tiếc của, bỏ công làm cờ bằng tàu lá chuối, che nắng cho từng cây.

Bà Phớt thì rất hào phóng khi cho mượn không miếng đất. Đã vậy, hằng đêm, bả đều rủ một bà góa khác ở ngoài đầu đường, tên Thư, cùng đến chòi ông Cả để biếu xén điếu thuốc, gói trà và nghe ông Cả ngâm thơ. Bà nói, ổng ngâm thơ hay lắm. Không biết là thơ gì, chỉ thấy hai bà lụm cụm cầm đèn bảo dò dẫm lên dốc, xuống đồi trong bóng đêm, thiệt tội. Nghe người ta xầm xì, “hai bả nuôi con chim cu trong suối, ban ngày bận việc, phải đem đồ cho ăn mỗi đêm”, Thạch Men một bữa, tỉnh bơ hỏi:

– Hai bà có nuôi con cu trong suối hả?

Hai bà chửi láp giáp, đồ vô duyên, rồi đi tuốt. Thạch Men lòng ngay, chẳng hiểu tại sao!

Bà Thư có ba đứa con. Đứa út là con trai, Hai đứa lớn là gái, làm đĩ ở Sài Gòn, gặp lúc thời buổi khó khăn ế ẩm, quay về sống tạm với mẹ. Cũng quanh quẩn làm rẫy chờ thời. Trong nhà có một người đàn ông đứng tuổi, đám nhỏ gọi là cậu Nhu. Bà Thư nói với chòm xóm, đây là người em họ của bà, ở ngoài Bắc, bộ đội phục viên, không vợ không con nên chạy vào ở với gia đình chị. Nhờ cái lý lịch tốt, Nhu được bầu làm tập đoàn trưởng của xã. Thật ra chỉ là danh hảo vậy thôi. Đâu có hợp tác, sản xuất, điều hành gì. Tối ngày, cậu Nhu chỉ ở trong nhà, hút thuốc, uống rượu và hát nhạc xung phong!

Đến một hôm, khoảng nửa đêm, con trai bà Phớt chạy đập cửa từng nhà cho hay cậu Nhu tự nhiên nổi khùng bỏ chạy lên rừng Hòa Hương gần đó. Cả xóm vội vã đốt đuốc và kéo vào rừng tìm cậu. Cậu Nhu lúc đó đã đứng đu đưa trên một nhánh cây lớn, đôi mắt thất thần. Cậu rú lên những tiếng thảm thiết:

– Tôi giết nó, tôi giết nó. Đừng bắt tôi, đừng bắt tôi. Tôi sợ quá!

Vài thanh niên khỏe mạnh trèo nhanh lên cây, cột dây vào mình cậu Nhu và dìu cậu xuống. Nếu sẩy tay, sợi dây sẽ giúp cậu không bị rơi. Cậu Nhu chòi đạp lung tung, miệng vẫn la làng, đừng bắt tôi, đừng bắt tôi. Rừng đêm âm u, đèn đuốc chập chờn, cảnh tượng càng thêm rùng rợn.

Cuối cùng, người ta cũng đưa được cậu Nhu xuống đất. Cậu ngồi chài bài, đôi mắt long lên, chẳng khác chó điên. Cậu chắp tay lạy lung tung, vừa lạy vừa đập đầu xuống nền đất đỏ khô cằn và nói lảm nhảm:

– Chính tôi đã bắn nó vì nó cướp người yêu của tôi. Nó phải chết!

Mẹ con bà Thư thấy cậu có vẻ bị điên, sợ quá bèn nhờ mọi người đem cậu về giao cho công an xã giữ giùm. Ai dè, trong đêm đó, cậu tự dưng khai với công an rằng ngày xưa, trên đường xâm nhập miền Nam, cậu là sĩ quan trong tiểu đoàn gì đó, yêu thiết tha một cô y tá trong đơn vị. Cô này cũng nói yêu cậu chân thành. Không ngờ, một hôm, cậu bắt gặp cô y tá và một tên sĩ quan khác đang làm tình trong lùm cây giữa rừng. Cậu căm hận, bắn chết cả hai rồi băng rừng, trốn về lại miền Bắc, đào ngũ luôn. Nhờ quen biết nhiều nên cậu đã yên thân suốt thời gian chiến tranh. Đến khi Cộng Sản chiếm được miền Nam, để khỏi lo lắng hoài, cậu nghĩ cần phải bỏ miền Bắc, vào sống ở miền Nam. Cậu tìm kiếm tin tức và cuối cùng, liên lạc được với một người cùng làng đã di cư vào Nam hồi năm 1954, là bà Thư. Vậy là, cậu Nhu trở thành một người thân trong gia đình bà Thu và cũng là một cán bộ cao cấp trong tập đoàn xã địa phương.

Ban đầu, công an xã tưởng cậu Nhu nổi điên, nói bậy. Đến chừng, cậu Nhu cứ nói hoài, công an đành báo cáo lên trên xin thẩm tra. Té ra là thiệt! Cậu Nhu không điên mà chỉ vì hồn oan về đòi nợ máu. Từ đó, cậu Nhu bị đưa đi mất biệt, không ai để ý đi đâu.

Có điều, trong nơi tạm giam, cậu cũng tự dưng khai là đã dùng lời đe dọa đâm chết nếu đi tố cáo để liên tiếp cưỡng hiếp hết ba mẹ con bà Thư từ đó đến giờ! Ba mẹ con tức tưởi xác nhận cậu Nhu nói đúng và đưa cho công an con dao phá rừng, di tích một thời của ông cậu chết tiệt!

Chuyện trên trời, dưới đất không thiếu trên vùng đất khổ này nhưng chẳng có ai để tâm lâu. Miếng cơm, manh áo làm cho ai cũng lơ ngơ, láo ngáo, chẳng ra cái giống gì! Thỉnh thoảng, bình tâm nhìn lại nhau để thấy tức cười không chịu nỗi. Lạ thay, cười mà nước mắt cứ rưng rưng!

Nhà Năm Hiệp từ khi có cái miệng chài, đỡ túng thiếu hơn một chút mặc dù vẫn phải ăn mì, ăn bắp thay cơm. Đêm đêm, Năm Hiệp một mình mò mẫm chài cá theo bờ sông trong tiếng nước chảy róc rách, tiếng côn trùng râm ran, âm u lạnh người. Quanh con sông đá tảng này nổi tiếng nhiều ma vì ngày đó đã loang máu và ngổn ngang thây người trong trận Bình Giả. Miếng cơm, manh áo đã giúp cho Năm Hiệp trở thành một tên gan lì.

Chằng Lửa lại có thêm nghề bán cá. Rau, chuối, môn ngứa, cá, cứ thế lây lất qua ngày. Có cá, Cu Cường không còn phải ăn thịt chuột, thịt sóc thường xuyên như trước. Không tiền mua thịt, Năm Hiệp nỗ lực đặt bẫy mỗi ngày. Quanh đây không thiếu khỉ, heo rừng, gà rừng nhưng chỉ bắt được sóc, là những tên khờ nhất. Chằng Lửa kho, chiên đủ kiểu cho con ăn không ngán.

Cứ thế, cu Cường lớn dần và bắt đầu đi học. Tiền bánh cho con là cái bắp chuối hay xấp lá chuối. Trên đường đến trường, cu Cường ghé chợ đổi lấy miếng bánh gì đó. Mấy bà hàng rau cần bắp chuối để xắt ra trộn vào rau sống, và lá chuối là để gói hàng.

Rồi bé Tường Vi chào đời. Đất trời đã chìu lòng cầu xin, ban cho vợ chồng Năm Hiệp đứa bé gái này. Tiếng khóc, tiếng cười của Bé đã làm sáng lên cuộc đời khốn cùng tối tăm.

Đến một ngày, nhìn hai đứa con nheo nhóc, tóc tai chờm bơm, bụi đỏ đầy người, hai vợ chồng thủ thỉ chào thua giấc mộng lập vườn và thu xếp trở về quê cũ. Đành rao bán nhà, bán đất và những thứ lặt vặt, kể cả miệng chài! Chẳng ai thèm mua vì ai cũng tính dông. May sao, hơn một tháng sau bán được cho một tay mới từ Nghệ An vào đây lập nghiệp. Bán đổ, bán tháo nên chỉ đủ tiền về xe và dư chút đỉnh mua vài bộ đồ!

Vậy là một đám xốc xếch trở về quê cũ Cái Đôi. Sáu năm trời coi như giấc mơ khủng khiếp. Bà con chòm xóm tay bắt, mặt mừng. Cứ như mới thoát chết trở về! Ăn nhờ ở đậu với ông bà già vợ vài ba tháng, vợ chồng Năm Hiệp lại ra riêng. Bà con, chòm xóm xúm nhau giúp dựng lại căn nhà lá nhỏ. Hiệp mở nghề sửa xe đạp sau khi đi qua Đôn Châu học lóm vài bữa. Chằng Lửa trở lại nghề cũ, mua lúa đem chà gạo bán loanh quanh hoặc bán cho mối mang. Cũng may lúc đó xe đạp Xã Hội Chủ Nghĩa toàn là đồ dỡm, hư liền liền và gạo thóc, mối mang tranh nhau thu mua chở lậu về Sài Gòn, bán không kịp. Nhờ vậy, vợ chồng nhà Năm Hiệp không đến nỗi đói rách như lúc mới trở về. Dần dà về sau, Chằng Lửa mở thêm nghề bán bánh trái, dầu lửa, tạp lục trong nhà, Năm Hiệp theo một người bạn trong xóm, xoay qua nghề xe ôm. Rồi từ nghề xe ôm, Năm Hiệp gặp một người khách chỉ cho nghề nuôi cua, một nghề không ai trong xóm bấy giờ tin là có thật! Rồi vợ chồng Năm Hiệp đỡ khổ hơn chút nữa. Bà con trong ấp Cái Đôi cũng từ đó đỡ nghèo hơn chút nữa nhờ nghề nuôi cua.

Thì ra, không như Xuyên Mộc, cuộc sống ở Cái Đôi thật dễ dàng mặc dù không dư dã gì nhiều. Chỉ cần ra ngoài sông, ngoài mương lặn hụp một lát là có đủ cá tép ăn uống phủ phê. Chỉ cần đi đào hang bắt cua hoặc cắm cần câu cua một buổi là có đủ tiền mua trà lá lặt vặt hằng ngày. Chỉ cần gieo mạ, cấy vài công lúa là có đủ gạo thóc trong nhà. Dễ dàng như vậy đó mà ngày nọ Năm Hiệp đã không thấy. Chỉ thấy vườn tiêu, vườn điều của miền đất đỏ xa xôi để xém chút nữa vợ chồng con cái nhà hắn tiêu điều luôn.

Vậy là, cóc chết ba năm quay đầu về núi, Năm Hiệp đi sáu năm mang đầu máu trở lại Cái Đôi. Trở lại để thấy thấm thía tình xóm chòm thân thương quá, cuộc sống êm đềm quá. Đúng rồi, Cái Đôi, chỉ có nơi đó suốt đời Năm Hiệp không bao giờ quên. Thương lắm ©

 Phạm Chinh Đông

 

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Ngày xuân kể chuyện câu đối

Câu đối là nghệ thuật của trí tuệ, đồng thời cũng là nghệ thuật chơi chữ, nghệ thuật của đấu trí, thử tài. Chuyện kể rằng: Buổi sáng nọ, có cậu bé khoảng mười tuổi đi học qua một bễ lò rèn. Thấy cậu bé dừng lại chăm chú xem, lại thấy trong túi có sách vở, biết là học trò, ông thợ rèn hay chữ bèn ra cho cậu một vế đối: – Than trong lò, sắt trong lò, lửa trong lò, thổi phì phò đúc nên dùi sắt. Cậu bé ngẫm nghĩ một lát, rồi đọc to: – Nghiên ở túi, bút ở túi, giấy ở túi, viết lúi húi giành được tam khôi. Bác thợ rèn phục quá, liền thưởng cậu ba quan tiền. Sau này, cậu bé thi đỗ bảng nhãn và là nhà sử học đầu tiên ở nước ta. Ông là Lê Văn Hưu, tác giả bộ “Đại Việt sử” ký gồm 30 quyển, viết xong năm 1272.

Nguồn: Internet

Sáu Không sưu tầm

 

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

CON NGƯỜI THẬT CỦA PHẠM DUY

Một bài tham luận rất chính xác

CON NGƯỜI THẬT CỦA PHẠM DUY

Bác sĩ Nguyễn Văn Bảo

Lời nói đầu
Nghĩa tử là nghĩa tận. Trước một “nhân vật của quần chúng” (a person of the public) vừa nằm xuống, giữ im lặng là thái độ nghiêm chỉnh nhất. Nhưng sự ra đi của Phạm Duy là một ngoại lệ. Nhiều người khen qúa độ. Nhiều người chê qúa lời. Nhiều người muốn khen, chê đúng mức mà không lên tiếng vì e ngại phản ứng của cả đôi bên. Đài BBC cũng tường thuật rất tỉ mỉ về đám tang của ông.
Hãy thử tìm con người đích thực của PD qua tác phẩm, hành động và lời nói của ông để biết nguyên do của cái dư luận ồn ào sau tin ông qua đời.

A/ NHỮNG LÝ DO KHIẾN PD ĐƯỢC NHIỀU NGƯỜI NHẮC TỚI

1/ Ông là một nhạc sĩ được ngưỡng mộ bởi hàng triệu người Việt từ thế hệ trẻ tới thế hệ gìa, từ giới bình dân tới giới trí thức, từ thời chiến tới thời bình, từ chủ nghĩa Cộng Sản tới chủ nghĩa Tự Do, từ chính quyền độc tài tới chính quyền dân chủ, từ trong nước tới hải ngoại.

2/ Cảm tình của quần chúng đối với ông rất phức tạp. Nhiều người khen. Nhiều người chê. Nhiều người vừa khen vừa chê. Nhiều người trước khen nay chê. Nhiều người trước chê nay khen.
Phe Việt Cộng, sau nửa thế kỷ căm thù ông, nay mua chuộc ông để làm mồi cho chiêu bài “Hòa Giải Dân Tộc”.
Phe Tự Do, qua nửa thế kỷ quý mến ông, nay ruồng bỏ ông vì nghĩ rằng ông bị kẻ thù mua chuộc.
Những biểu lộ ấy (khen-chê, yêu-ghét, mua chuộc-ruồng bỏ) rất thường tình. Thiên hạ không ngẫu nhiên (mà có lý do thầm kín) gán ghép cho ông. Ông cũng không cố ý gây ra. Lối phát ngôn vụng về và nếp sống buông thả của ông đóng một vai trò quan trọng trong sự phán xét của họ.

3/ Những tác phẩm của ông, từ dân ca, tình ca, quân ca, đạo ca, nhi ca v. v.. đều có gíá trị độc đáo: mang âm giai ngũ cung hài hòa của dân tộc và lời ca truyền cảm của ca dao.

4/ Nhạc phổ thơ của ông là một tuyệt kỷ. Giới truyền thông đã liệt ông vào hàng “phù thủy” của loại nhạc này. Dù phổ nguyên văn bài thơ (như Ngậm Ngùi của Huy Cận..) hoặc chỉ lấy ý thơ (như Tiếng Sáo Thiên Thai của Thế Lữ..) ông cũng làm cho thơ tăng thêm gía trị.

5/ Đời tư của ông có một vài tì vết. Ông sống buông thả theo thú vui xác thịt, bất chấp hậu quả (vụ Khánh Ngọc và Julie Quang) khiến những người đạo đức khinh bỉ và những người đối lập khai thác.

6/ Lòng yêu dân, yêu quê, yêu nước trong những tác phẩm của ông rất hiển hiện. Một người có tình yêu giả tạo không thể nào làm được những bài Tình Ca, Tình Hoài Hương, Quê nghèo, Về Miền Trung, Bà Mẹ Gio Linh, Nhớ Người Thương Binh, Vợ Chồng Quê, Em Bé Quê, Ngày Trờ Về, Con Đường Cái Quan, Mẹ Việt Nam, v.v…

B/ KIỂM ĐIỂM NHỮNG LỜI KHEN
Hầu hết những người khen đều công nhận rằng ông là một “đại thụ” của nền tân nhạc Việt và là một nhạc sĩ có thiên tài, có lòng yêu dân, yêu quê, yêu nước chân thành. Có người đã tặng ông những đức tính mà thực sự ông không có (như khiêm nhượng, cao siêu). Thậm chí, có người còn vinh danh ông là chiến sĩ chống Cộng hoặc nhà tư tưởng thâm thúy. Những nhận xét như vậy chỉ đúng nửa vời:

1/ Quả thực ông là một đại thụ của nền tân nhạc Việt. Nhưng đại thụ ấy có tỳ vết: ông đã 2 lần vi phạm luân lý Việt (vụ Khánh Ngọc và Julie Quang).

2/ Ông không khiêm nhượng mà còn háo danh. Một thí dụ: Trong cuốn video Paris By Night 19, ông trả lời ký giả Lê Văn của đài BBC: “Tôi muốn hậu thế nhắc đến tôi như một người Việt Nam”. Khiêm nhượng thay câu trả lời! Nhưng cũng trong cuốn video ấy ông nói: “Tôi sẽ làm trường ca Hàn Mặc Tử bởi vì tôi đã có 10 bài Đạo Ca cho Phật giáo thì tôi cũng phải có một bài cho Công giáo mới công bằng”. Thế ra ông là người ban phát ân huệ cho 2 tôn giáo này! Nét háo danh đã lộ liễu trong lời nói vụng về ấy.

3/ Ông không phải là một chiến sĩ chống Cộng mà chỉ là một nhạc sĩ muốn được sinh hoạt văn nghệ mà không bị chỉ đạo bởi chính quyền. Ông bỏ Kháng Chiến về Thành không phải vì muốn xả thân cho lý tưởng chống Cộng mà vì muốn gia đình được sống thoải mái trong chính thể Dân Chủ và bản thân được tự do sáng tác theo tiếng nói của con tim.
Ông đã hưởng trọn vẹn ân huệ của những người đã hy sinh để bảo vệ chế độ dân chủ tự do cho gia đình ông sống yên vui. Bù lại, ông đã đền đáp công ơn của họ bằng vài trăm bài ca bất hủ xưng tụng những thứ cao đẹp mà họ trân qúy. Tuy ông không hy sinh xương máu cho chính nghĩa tự do nhưng ông đã góp phần không ít vào việc tô điểm nó. Tuy ông có nhiều điểm đáng khen nhưng không nên tặng ông cái vinh dự mà ông không xứng (chiến sĩ chống Cộng).

4/ Ông không phải là một nhân vật thâm thúy. Suốt đời, ông chưa nói được một câu nào xứng đáng cho danh hiệu ấy. Một bài nhạc của ông có câu: “Đừng cho không gian đụng thời gian”. Ông mượn ý đó trong thuyết Tương Đối của Albert Einstein (Einstein cho rằng chỉ có không gian, không có thời gian vì thời gian chỉ là phương tiện để đo lường không gian; thí dụ: hai thiên hà cách xa nhau một tỷ năm ánh sáng). Có người đã xin ông giải thích câu đó nhưng ông chỉ trả lời loanh quanh, vô nghĩa, chứng tỏ ông đã không hiểu ông muốn nói gì.
Thật là khôi hài khi một anh chàng văn sĩ VC nói câu này trong đám tang của ông: “Nhạc PD còn thì tiếng ta còn, tiếng ta còn thì nước ta còn”. Hắn nhái câu thậm xưng của Phạm Quỳnh trong thập niên 1930: “Chuyện Kiều còn thì tiếng ta còn, tiếng ta còn thì nước ta còn”.
(Cũng nên mở một dấu ngoặc ở đây để nói rằng đừng vì một câu của một lãnh tụ CS ca ngợi ông mà chụp cái mũ “thân Cộng” cho ông).

C/ KIỂM ĐIỂM NHỮNG LỜI CHÊ
Những lời chê ông nở rộ trong 2 thời kỳ:

1/ Thời kỳ thứ nhất từ năm 1950 tới 2005:
Khi ông bỏ Kháng Chiến về Thành, VC đã chê ông là phản động.
Ông đã không phản động mà chỉ phản Cộng.
Phản Cộng vì Cộng không thể cung cấp những nhu cầu căn bản (cơm ăn, áo mặc) cho gia đình ông và không cho phép ông phục vụ văn nghệ theo sở trường mà còn buộc ông phải khai tử một bài hát vô tội (innocent): bài Bên Cầu Biên Giới. Giản dị thế thôi !

2/ Thời kỳ thứ hai từ 2005 cho tới nay:
Khi ông quyết định trở về VN để sống nốt tuổi gìa, một số nạn nhân bị CS đày đọa đã chê ông là phản bội những anh hùng chống Cộng.
Công bằng mà xét thì ông không phản bội ai cả. Lý do ông trở về quê bây giờ cũng giản dị như lý do ông về Thành thuở xưa.
Ở Hoa Kỳ, các con của ông không có nghề ngỗng gì ngoài nghề ca hát mà nghề này thì không cung ứng đủ những nhu cầu vật chất cho chúng. Cộng đồng người Mỹ gốc Việt không bao bọc nổi vài trăm ca nhạc sĩ Việt. Những người lớn tuổi, đã về hưu, gắng gượng mới có tiền dự những buổi đại nhạc hội được tổ chức xuân thu nhị kỳ vì giới trẻ trung thì thích nhạc Mỹ do nó phong phú hơn, sống động hơn, giật gân hơn, hợp nhĩ hơn. Bản quyền sáng tác nhạc không được tôn trọng. Đĩa nhạc được sao chép và bán rẻ rúng công khai trong mọi tiệm nhạc. Sống nhờ trợ cấp xã hội thì không cam lòng. Chìa tay nhận 2000$ để phổ nhạc vài bài thơ “con cóc” của “vô thượng thiền sư” Thanh Hải thì tủi thân cho một nhạc sĩ tài danh như ông.

Giữa lúc nghèo túng thì cơ hội chợt tới: một khế ước trị giá 400 ngàn đô-la trong 4 năm để sưu tầm, hòa âm, trình diễn tất cả những bài ca do ông sáng tác tại VN từ 1945 tới 1975. Khế ước đó không buộc ông phải hòa âm những bản nhạc của VC hoặc sáng tác những bài ca mới cho VC. Thính giả của ông sẽ chỉ là những người thích nghe nhạc Phạm Duy bất kể chính kiến. Có thể ông đã biết một cái bẫy vô hình ẩn sau khế ước đó: sách lược “Hòa Giải Dân Tộc” của VC đang ở cao điểm trong thời gian này. Một người có “khí tiết” ắt không chấp thuận. Nhưng Phạm Duy không phải hạng người có khí tiết. Ông không thích sống “gương mẫu” mà thích sống thoải mái, buông thả, sung túc như thường tình.

Thế là ông đưa gia đình về quê hương sống ung dung trong 8 năm cho tới khi ông từ trần. Ông rất thích câu của ai đó nói rằng: “Về đi thôi! Kiếp sau biết có hay không?”. Tính tình của ông khác đời ở chỗ: rất thích thú khi được khen và rất ít phiền hà khi bị chửi.

Trong 8 năm ấy ông đã gặp đủ hạng người, trong mọi lứa tuổi: ca nhạc sĩ đã quen hoặc chưa quen, thính giả yêu nhạc của ông dù đã biết hoặc chưa hề biết tên ông, lãnh tụ CS kể cả những người đã từng cấm hát nhạc của ông như Võ Văn Kiệt, Tố Hữu và Trần Bạch Đằng, người đã tuyên bố một câu vô liêm sỉ năm 1989: “PD hãy tự sát đi, chúng tôi sẽ cho phổ biến nhạc của ông ta”. Dĩ nhiên ông không thể từ chối gặp mặt những lãnh tụ CS đã mở đường cho ông trở về. Cũng không đáng phàn nàn nếu ông muốn gặp một vài lãnh tụ CS đã chơi thân với ông trong thời kháng chiến chống Pháp. Ông rất dễ tính và vô tư trong việc gặp bạn cũ, chuyện làm quà chỉ là chuyện tếu hoặc kỷ niệm xưa, không bàn về chính trị. Chả có gì đáng trách cho những cuộc gặp gỡ lấy lệ hoặc xã giao như vậy.
Có một điểm son đáng ghi nhận: ông không hề bợ đỡ một lãnh tụ CS nào và cũng không hề nói xúc phạm tới bất cứ ai của chính thể VNCH trong suốt thời gian 8 năm ấy (cựu phó tổng thống Nguyễn Cao Kỳ đã phạm lỗi này).
Tôi muốn tóm tắt thái độ của Phạm Duy trong một câu sơ sài: Khi sáng tác thì tận tình, khi vui chơi thì tận hưởng, khi nói năng thì thì tận tục. Duyên Anh đã thuật lại rằng PD, trong lúc đùa rỡn với bạn bè, đã nói trong hơi men: “Ai ngu mới thích nghe nhạc của tôi. Chúng đã được làm trong cầu tiêu”. Có lẽ ông đã làm những bài Tục Ca trong cầu tiêu.

D/ KẾT LUẬN:
Nhạc sĩ tài danh Phạm Duy là một người đáng thương hại nhiều hơn là đáng trách cứ. Cuộc đời của ông trôi nổi qua nhiều vinh nhục, thăng trầm. Ông thích sống buông thả và chỉ có một tham vọng tích cực (productive): sáng tác những bản nhạc có giá trị.
Lối phát ngôn của ông thuộc loại Tú Xương (“Một thày, một cô một chó cái” hoặc “Cao lâu thường ăn quịt, thổ đĩ lại chơi lường”). Từ 50 năm nay, chả có ai coi ông như một “quý nhân”. Họ mến ông vì ông đã cống hiến cho họ nhiều bài ca bất hủ, và đi chung với họ trên một đoạn đường dài nhất của cuôc đời để cùng nhau “khóc cười theo mệnh nước nổi trôi”.
Ông chưa bao giờ là công cụ của CS. Trong 5 năm theo Kháng Chiến chống Pháp, ông chưa hề làm một khúc ca xưng tụng một lãnh tụ CS nào mà chỉ xưng tụng những anh hùng, liệt sĩ chống ngoại xâm. Tới khi cáo hồ ló đuôi thì ông bỏ chúng về Thành.

Ông cũng chưa bao giờ là công cụ của chính quyền độc tài. Trong 25 năm sống trong chính thể Quốc gia, ông chưa hề làm một ca khúc suy tôn lãnh tụ nào. Những bài hát “xây dựng nông thôn” là những bài làm ra bởi một tác gỉa công chức hơn là bởi một nhạc sĩ chuyên nghiệp; chúng đã không thọ lâu.

Khoảng 100 bài ca bất hủ của ông đã đi sâu vào mọi làng xóm của thôn quê, mọi ngõ ngách của thành thị rồi “di tản” ra ngoại quốc để ve vuốt nỗi cô đơn của vài triệu người sống lưu vong.

Cuộc “trở về quê” của ông chỉ tổn thương cho thanh danh của cá nhân ông, không có ảnh hưởng đáng kể tới tinh thần chống cộng của quần chúng. Chả có ai “hòa giải dân tộc” với VC chỉ vì Phạm Duy đã hồi hương. Sự hòa giải ấy sẽ không bao giờ xảy ra. Nói cách khác, chỉ có hòa giải khi nào chính thể CS bị giải thể hoàn toàn. Còn nữa, chỉ có lực lượng của quần chúng ở trong nước mới có khả năng giải thể chúng. Vậy thì chả nên quá quan tâm tới cái sách lược “Hòa Giải Dân Tộc” của chúng. Nó đã chết ngay sau khi vừa sinh ra. Chả nên chia sớt bớt nỗi căm thù VC rồi xối vào những ca nhạc sĩ như Phạm Duy, Từ Công Phụng, Khánh ly, Lệ Thu, Chế Linh v.v… Có một cái gì “bất đắc dĩ” trong viêc trở về của họ (như đã nói ở trên). Vả lại, họ không đem đô-la về nước để góp thêm ngoại tệ cho VC (như một số thương gia và những kẻ ham du hí) mà còn tiêu bớt ngoại tệ của chúng (lãnh thù lao bằng đô-la). Hãy thông cảm cho họ (thông cảm không có nghĩa là cổ võ cho người khác trở về) miễn là họ chỉ thân thiện với dân, chỉ hát cho dân nghe những bài ca mà chúng ta chấp nhận và không nói lảm nhảm, xúc phạm tới tinh thần chống Cộng.

Riêng đối với Phạm Duy, hãy để cho ông yên nghỉ, gọi là đáp lễ những bài ca bất hủ mà ông đã cống hiến trong suốt cuộc đời ông. Nghĩa tử là nghĩa tận! Có cả ngàn người (phần lớn là thường dân) đã tiễn đưa ông tới nơi an nghỉ cuối cùng. Vài nhóm trong số người này vừa khóc vừa đồng ca trước mồ ông một số bài chọn lọc, trong đó có bài Tình Ca và một bài chưa được chính quyền VC cho phép (Những Gì Sẽ Đem Theo Về Cõi Chết). Từ vạn dặm, chúng ta hãy gửi tới ông một chút thương cảm, một chút ngậm ngùi, một chút vị tha. Người yêu chuộng tự do lúc nào cũng tôn trọng tự do ngôn luận (trong đó có tự do chọn lựa lối sống) hơn bất cứ điều gì trên đời

Người Viết:  Bác sĩ Nguyễn Văn Bảo

Sáu Không sưu tầm

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin