Category Archives: VĂN

VÉ VÀO THIÊN ĐÀNG

KMVN: Nói đến nhà văn Trà Lũ, ở Toronto ai cũng biết. Đó là một cụ già tóc bạc phơ, dáng cao dong dõng, nói chuyện rất có duyên. Ông đã cho ra đời biết bao quyển sách mà đặc biệt những quyển sách đó đều “mang họ Đất” . Từ “Đất Lạnh Tình Nồng”, “Đất Hạnh Phúc”, “Đất Nhà”… đến “Đất Thiên Đường”. Ông có nhiều đứa con tinh thần mang tên Đất, nên chúng tôi gọi đùa ông là Bố Đất.

Nhân dịp xuân về, KMVN xin giới thiệu đến các bạn bài VÉ VÀO THIÊN ĐÀNG, một bài viết tuyệt vời của Bố Đất về mùa xuân Canada.

Tác Giả: Trà Lũ

Lá Thư Canada: VÉ VÀO THIÊN ĐÀNG
Canada đã vào xuân, một mùa xuân đến sớm. Dân chúng biết trước việc này, không phải do Nha Khí Tượng nhưng do Chú Wiarton Willie báo tin. Các cụ còn nhớ Willie không? Thưa đó là chú chuột đất groundhog. Chú chuột này nổi tiếng về thiên văn. Hằng năm, cứ ngày mồng 2 tháng Hai người ta đem chú ra ngoài nắng. Nếu chú thấy bóng của chú trên mặt đất thì đó là dấu chỉ mùa đông còn dài, nhưng nếu chú không thấy bóng của mình soi trên đất thì có nghĩa là mùa xuân đang tới trong khoảng 5 tuần lễ nữa. Năm nay chú không thấy bóng của chú, thiên hạ vỗ tay quá xá. Và quả đúng như vậy, ngay cuối tháng Hai trời bắt đầu tan hết tuyết, và ngay đầu tháng Ba trời bắt đầu nắng ấm. Cụm hoa lưu niên lilly sau nhà tôi đã chui khỏi mặt đất, đã trổ lá xanh và đã nở hoa. Bụi hoa tulip trồng trước nhà cũng đã chồi lên và cũng đã trổ bông. Ôi những búp hoa tulip mới nõn nà và dễ thương làm sao! Nằng vàng đã chan hòa khắp nơi. Không biết có phải tôi gìà và mắt già mà tôi thấy nắng buổi mai ở Canada mầu vàng rực rỡ, đẹp hết sức vậy đó..

Cứ mỗi lần nhìn thấy hoa tulip là tôi nghĩ tới nước Hòa Lan. Các cụ còn nhớ chuyện công chúa Julia của Hòa Lan sinh tại Canada năm 1945 chứ. Tôi yêu câu chuyện này qúa và yêu cái tâm của nước Canada này qúa. Hồi đó cả triều đình Hòa Lan chạy sang Canada lánh nạn Đức Quốc Xã. Hoàng hậu Hòa Lan sinh công chúa Julia ở bệnh viện thủ đô Ottawa. Theo luật quốc tế thì ai sinh ở đâu thì mang quốc tịch nơi đó. Chính quyền Canada biết cái bối rối này của Hòa Lan nên Canada đã tuyên bố bệnh viện Ottawa ở trên đất quốc tế, cho nên công chúa Julia vẫn được mang quốc tịch Hòa Lan. Sau 1945 khi hết chiến tranh, triều đình Hòa Lan hồi hương. Để tỏ lòng biết ơn Canada, từ 1946 đến nay, mổi năm Hoà Lan đều gủi hàng tấn củ tulip sang biếu Canada. Canada đã nhận và trồng thành những công viên tulip muôn mầu. Cứ đến tháng Tư thì thủ đô Ottawa biến thành một rừng hoa tulip. Các cụ ở xa, sau khi ngắm hoa anh đào ở thủ đô Hoa Thịnh Đốn, xin mời sang hội hoa tulip ở Canada nha. Đẹp dễ sợ luôn.

Nhân nói tới thông lệ đẻ đâu mang quốc tịch đó, Canada đang soạn thảo luật ngăn các bà ngoại quốc có bầu từ 7 tháng trở lên không được vào Canada dù có đủ giấy tờ hợp pháp. Lý do là để tránh việc các bà bầu này đẻ con ở Canada, rồi vì cớ con đẻ ở Canada mang quốc tịch Canada, các bà mẹ sẽ lấy cớ này xin ở lại Canada để nuôi con. Theo tài liệu của sở di trú Canada thì phụ nữ Tàu thích đến đẻ con ở Canada lắm. Nghe nói hiện nay ở Tàu đang có một phong trào dụ các bà Tàu sang đẻ con ở Canada, vì đây là đất thiên thai, đất thiên đàng.

Mà có lẽ đúng vậy, ai đến sinh sống ở Canada thì đều thành công hết, có khi thành công tột đỉnh. Chả cần phải tìm chứng cớ đâu xa, ngay trong tháng Ba vừa qua, báo chí Canada đã làm rầm lên hai tin rất tốt đẹp về người dân gốc Việt Nam.

Người thứ nhất là Giáo Sư Bùi Tiến Rũng. Ông Rũng du học ở Pháp và năm 1953 ông đậu bằng kỹ sư về cơ khí. Đậu xong ông về nước phục vụ. Rồi ông được chính phủ Ngô Đình Diệm cấp học bổng du học Hoa Kỳ, năm 1964 ông đậu bằng Tiến Sĩ chuyên về sản xuất kim loại. Về nước, ông làm giám đốc Trường Kỹ sư Công Nghệ và Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật kiêm đại diện VN tại Viễn Á Kinh Uỷ Hội ECAFE. Sau năm 1975, ông tới Canada. Trong 3 thập niên qua ông là giáo sư ưu hạng về ngành khoa học ứng dụng tại trường Đại Học Québec, UQUAC. Ông đã hợp tác với 28 chương trình kỹ nghệ lớn của nhiều nước như Anh, Pháp, Mỹ và Đông Âu. Cuối tháng Hai vừa qua, Tiến sĩ Rũng đã được Toàn Quyền Canada trao bằng khen danh dự về các công trình nghiên cứu xuất sắc và một giải thưởng hiện kim 200.000 đôla.

Báo chí Canada đã đăng những trang lớn tuyên dương sự thông thái ưu việt của một người tỵ nạn VN. Vui chưa và mừng chưa, bà con.

Đó là ngôi sao thứ nhất.

Ngôi sao VN thứ hai cũng vừa xuất hiện và được báo chí Canada dành những trang lớn ca ngợi. Đó là Nhà Văn Kim Thúy với tác phẩm RU. Tiêu đề là RU, Ru là tiếng Việt, ru la hát ru, lullaby. Tác phẩm viết bằng tiếng Pháp. Nhà văn Kim Thuý năm nay mới 43 tuổi. Bà theo cha mẹ chạy trốn VC năm 1979, bà là thuyền nhân VN được Canada nhận vào cõi thiên thai này. Bà đi học và đậu luật sư. Trong lúc nhàn rỗi bà đã viết một tập hồi ký nói về cuộc đời thời tuổi thơ, từ những ngày sống ở miền Nam, đến những ngày vượt biên sống ở trại tỵ nạn, đến ngày được vào Canada, được Canada cho ăn học nên người. Bà bảo bà không phải là nhà văn. Bà viết cuốn hồi ký này rất tình cờ. Không ngờ cuốn này lọt vào mắt xanh một nhà biên tập lớn và có tài. Ông đã giúp bà sắp xếp lại các chương mục, rồi ông giúp in thành sách và phát hành. Không ngờ sách đã thành công vĩ đại. RU đã thành một hiện tượng văn học ở thế giới nói tiếng Pháp, hiện nay RU đã được dịch sang tiếng Anh tiếng Ý và nhiều thứ tiếng khác ở 20 quốc gia, Bà Kim Thuý viết sách bằng tiếng Pháp và sinh sống ở Montréal miền nói tiếng Pháp, thế mà ngày 11 tháng Ba vừa qua, nhật báo Toronto Star, một tờ báo uy tín ở Toronto miền nói tiếng Anh đã dành hẳn một trang lớn viết về bà, in hình bà. Kim Thuý với tác phẩm RU cũng đã được giải thưởng văn chương của Toàn Quyền Canada và nhiều giải văn học của nhiều nước khác. Viết văn tình cờ và thành công bất ngờ, mà thành công lớn mới hay chứ.

Các cụ phương xa đã thấy Canada là đất vàng chưa? Canada đã biến ngòi bút Kim Thuý thành ngòi bút vàng, Canada đã biến tâm trí của Tiến Sĩ Bùi Tiến Rũng thành những kho vàng.

Tôi xin nói thêm chút nữa về nhà văn Kim Thuý. Bà này đúng là thiên tài. Bà viết cuốn RU là viết tài tử. Bà vẫn cho mình không phải là nhà văn. Bà không hành nghề viết văn. Bà là luật sư nhưng cũng không hành nghề luật sư. Các cụ có đoán hiện nay bà Kim Thuý ở đất Canada đang làm nghề gì không cơ. Thưa lạ và buồn cười lắm. Bà đang làm nghề dạy nấu ăn trên đài truyền hình. Bà dạy nấu các món VN. Và chương trình này rất nổi tiếng. Làng An Lạc của chúng tôi đang định ghi danh theo học để cải tiến cái bếp. Từ một em bé nhà nghèo thuyền nhân tỵ nạn biến thành một luật sư, một nhà văn và nay đang trở thành giáo sư dạy nấu ăn. Cái đất Canada này qủa là đất có thần, phải không các cụ.

Trên đây là chuyện thời sự văn học, bây giờ tôi xin trình các cụ chuyện thời sự xã hội. Chuyện đầu tiên là từ đầu tháng Ba, Liên Hội Người Việt Canada theo gương nhạc sĩ Trúc Hồ và Tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng bên Hoa Kỳ, đã phát động phong trào ký thỉnh nguyện thư gủi quốc hội để yêu cầu quốc hội Canada cảnh cáo CSVN về những vi phạm nhân quyền đang diễn ra tại VN. Cảnh cáo bằng cách xét lại việc viện trợ kinh tế cho VC. Đồng bào VN ở đây cũng đang hồ hợi ký tên. Hôm qua tôi nhận được một bài báo từ máy điện toán bàn về việc này. Tôi quên mất tên tác giả. Xin thành thực nhận lỗi, xin lỗi và xám hối. Đại ý tác giả nói rằng cộng đồng VN chúng ta đang làm một việc buồn cười : Một mặt yêu cầu chính quyền Canada cũng như Hoa Kỳ xét lại việc hỗ trợ về kinh tế cho VC, nóí dễ hiểu là trừng phạt VN, nhưng mặt khác thì chính chúng ta đang làm cái việc hỗ trợ kinh tế ấy cho VC. Theo thống kê thì hàng năm hơn hai triệu người Việt hải ngoại đã gửi về nước bao nhiêu tỷ đô la. Những tỷ này đã chạy vào túi bọn chóp bu VC. Chúng nhận đô la thứ thiệt nhưng in ra và phát ra tiền Hồ, tiền lèo. Bài báo kết luận là chúng ta nên xét lại việc này. Miệng ta thì bảo Hoa Kỳ và Canada hãy phạt VC còn tay ta thì cứ dúi đô la vào túi chúng nó. Ai đúng ai sai đây? Các cụ nghĩ sao cơ ?

Xin tạm ngưng chuyện nhức đầu này để bàn sang những chuyện vui. Anh John được Cụ B.95 chiếu tướng ngay. Bà cụ bảo lần họp tháng trước làng đang bàn dở chuyện tình yêu qua ngôn ngữ 3 miền. Cụ xin anh hãy nói một câu theo giọng cả 3 miền coi.

Hình như anh John đã có sẵn câu trả lời thì phải. Đươc cụ hỏi thì anh nói ngay :

– Cháu lấy vợ người Nam, nên ngôn ngữ của cháu là ngôn ngữ Nam Kỳ rặt, giọng Biên Hòa rặt, nhưng từ ngày vào làng, cháu học được tiếng Bắc, và gần đây học được tiếng Huế.

Chẳng hạn câu này là tiếng Bắc Kỳ : Đi đâu mà nhanh thế?

Đây là tiếng Huế : Đi mô mà mau rứa?

Và đây là tiếng Nam Kỳ : Đi đâu mà lẹ dzậy?

Còn đây là tiếng Việt Cộng : Đi đâu mà khẩn trương thế ?

Các cụ đã thấy cái anh John này giỏi chưa! Đáng phục quá chứ.

Cụ B.85 thì cười ngất, miệng lớn tiếng : Phục anh quá!

Rồi ông ODP xin góp ý :

Hai tiếng Việt Cộng anh John vừa nói tới làm tôi nhớ ngay tới mối giận đằng đằng đang đè nặng trong tim. Xin cho tôi chia sẻ với các bạn. Xin tạm ngưng các câu chuyện vui để tôi được nói về cái họa mất nước đang diển ra. Báo chí lâu nay nói tới việc Tàu với VN tranh chấp Biển Đông, lấn biển lấn rừng lấn biên giới. Tất cả chúng nó đều đang đóng kịch. Mọi việc đã xong hết rồi. Theo như tài liệu mà Wikileaks vừa tiết lộ thì triều đình Hà Nội đã dâng nước VN cho Tàu lâu rồi, vấn đề còn lại chỉ là vấn đề thời gian mà thôi, và một chút xiú cần bàn nữa thôi là VN sẽ ở dưới hình thức nào, một tỉnh hay một khu tự trị. Xưa nay các tài liệu của Wikileaks đều đúng. Tôi vừa được một người bạn thân gủi cho mấy trang dịch những lời phát biểu của Giang Trạch Dân tổng bí thư đảng CS Tàu và Lý Bằng thủ tướng Tàu Cộng nói trong một phiên họp tối mật với Nguyễn Văn Linh tổng bí thư đảng CS VN và Đỗ Mười thủ tướng Việt Cộng. Nghe mà sợ hãi hết sức. Vua Tàu nói thế này với bày tôi VC :

… Việc VN trở về với tổ quốc Trung Hoa vĩ đại là việc trước sau sẽ phải đến. Trong lịch sử, VN từng là quận huyện của Trung Quốc, là một nhánh của cây đại thụ Trung Hoa. Trung Quốc và VN là một. Đó là chân lý đời đời. Các đồng chí VN tỏ ra đã có sự lựa chọn đúng. Ngày nay Trung Quốc vĩ đại phải dành lại vị trí đã có của mình. Có VN nhập vào, Trung Quốc đã vĩ đại lại càng vĩ đại thêm. Thế giới hôm nay chỉ còn hai siêu cường, đó là Hoa Kỳ và Trung Quốc. Thưa các đồng chí, chỉ còn lại việc cuối cùng là chọn mô hình quản trị, tỉnh hay khu tự trị. Chỉ xin đừng bàn tới việc lập liên bang vì nếu lập liên bang thì thống nhất thế nào được với bọn Tây tạng, Nội Mông, Mãn Châu, Hồi Bột…

Không biết nhà văn Dương Thu Hương ở Paris đã nghe được cuộn băng này chưa mà thấy bà lo sợ y như tôi khi bà trả lời cuộc phỏng vấn của nhà báo Đinh Quang Anh Thái ở Cali hồi tháng Tám năm 2010. Bà nói thế này :

…Sự kiện thì nhiếu lắm, ai theo dõi tình hình VN cũng có thể biết. Về mặt đại cuộc, tôi thấy trong toàn thể lịch sử nước Việt, có lẽ cái triều đình cộng sản hiện nay là cái triều đình hèn hạ và khốn nạn hơn tất cả những triều đình bán nước trước kia mà tiêu biểu là Lê Chiêu Thống. Lê Chiêu Thống có cầu cứu Tàu nhưng chưa bán một mảnh đất, chưa ký một hợp đồng chui, không hèn đến múc độ dám phạm luật của tổ tiên là nhượng đất cho giặc…

Chưa bao giờ làng tôi im lặng và chú tâm nghe ông ODP nói như bữa nay. Qủa là son hà nguy biến. Việc dâng đất đã xong từ lâu, nay VC đang thi hành từng bước. Việc lá cờ 6 sao mới xuất hiện gần đây là việc có thật và cố ý chứ không phải vô tình do sơ sót. Ông ODP còn nói thêm chi tiết : VC đã công khai trương cờ 6 sao không phải một lần mà đã 3 lần. Lần đầu xuất hiện là ngày Đại Hội Ẩm Thực ở Vũng Tàu năm 2010, lần thứ hai là dịp Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng sang thăm Trung Quốc dịp tháng 10 năm qua, và lần thứ ba là dịp tiếp đón Phó chủ tịch Tập Cận Bình ở Hà Nội ngày 21.12 2011 vừa xong. Rõ ràng VN công khai xưng mình là một ngôi sao nhỏ trên lá cờ Đại Hán xưa nay vốn chỉ có 5 sao.

Đây là những bước thăm dò của CSVN. Cờ 6 sao xuất hiện đã 3 lần mà phản ứng của đồng bào cả trong nước cả ngoài nước không mạnh bao nhiêu nên CSVN đang định làm tới. Đó là việc CSVN đang cho viết lại sách giáo khoa về Sử Việt. Bao nhiêu đoạn xưa nay có viết rõ ràng trong sách để dạy học sinh về việc quân ta đánh đuổi giặc Tàu xâm lăng, như Hội Nghị Diên Hồng, Lam Sơn Khởi Nghĩa, Vua Quang Trung chuẩn bị đánh Tàu để đòi lại Quảng Đông Quảng Tây… tất cả những đoạn này sẽ bị cắt bỏ hết. Việc tiếp theo, đó là việc bắt các học sinh phải học tiếng Tàu từ cấp tiểu học trở lên… May thay, việc bắt học tiếng Tàu này đã gặp phản ứng dữ dội từ quần chúng nên CSVN phải lên tiếng cải chính, họ nói rằng việc dạy tiếng Tàu này là dành cho các học sinh Việt gốc Hoa mà thôi.

Ở trong nước đã nổi lên bao nhiêu sự phản đối nhưng CSVN đã ra tay đàn áp. Trong cuốn băng Wikileaks mà tôi trích dẫn trên đây có lời vua Tàu dạy lãnh tụ CSVN bài học Thiên An Môn. Theo Tầu Cộng thì việc tàn sát dân Tàu ở Thiên An Môn là việc chính đáng để bảo vệ chế độ. Các bạn VN hãy làm y như vậy. Bọn nào nghi ngoe là phải giết ngay. CSVN đang làm như thế với chính đồng bào mình. Những vu Thái Hà, Đoàn Văn Vươn, Bùi Minh Hằng, Cù Huy Hà Vũ là những vụ bọn họ đàn áp không nổi nên mới lọt tin ra ngoài. Hai bài hát của Việt Khang là hai ngọn lửa nhỏ mong rằng sẽ làm cháy lên những bó đuốc lớn:

… Giờ đây Việt nam còn hay mất mà giặc Tàu ngang tàng trên quê hương ta? Hoàng Trường Sa đã bao người dân vô tội chết ngậm ngùi vì tay súng giặc Tàu. Việt Nam tôi đâu?

… Xin hỏi anh là ai, sao bắt tôi, tôi làm điều gì sai? Sao đánh tôi chẳng một chút nương tay. Dân tộc anh ở đâu, sao đang tâm làm tay sai cho Tàu. Tôi không thể ngồi yên khi thế giới này không còn Việt nam. Anh là ai?

Nói đến đây xong thì ông ODP mở máy cho chúng tôi nghe toàn bài hai bản nhạc này. Ôi những ca sĩ hát lời Việt Khang, ôi những bài lời hát bằng Pháp văn bằng Anh Văn nghe động lòng làm sao.

Thấy dân làng đã nghe những chuyện nhức đầu trên đây đủ rồi, ông ODP liền xin chấm dứt. Ông xin cả làng tạm quên chuyện Tầu Cộng và Việt Cộng. để vào bàn ăn cơm tối. Bữa nay làng tôi ăn toàn món nhà quê rất đỗi Bắc Kỳ : Cơm gạo mới Nàng Hương ăn với tôm kho, cá kho, dưa chua, cà ghém chấm mắm tôm, và canh rau đay nấu cua. Ôi ngon làm sao!

Ngay lúc đầu họp làng có người đã đề nghị bữa nay làng nên đi ăn tiệm, nhưng ý này đã bị đa số dân làng bác bỏ ngay. Người lắc đầu mạnh mẽ nhất là anh H.O. Anh bảo:

– Lần trước tôi theo làng đi ăn buffet, cái lối ‘phủ phê’ ấy mà, bữa đó tôi trông thấy mấy cảnh chướng mắt qúa, trong lòng khó chịu vô cùng mà chẳng biết làm sao. Tôi đã nén nó trong lòng, hôm nay xin được đem ra giãi bày với làng. Này nha, ăn ở nhà hàng buffet thì bạn muốn ăn gì cứ việc lấy. bạn muốn ăn bao nhiêu cứ việc gắp . Tôi thấy mấy gia đình VN dắt con nít theo. Cả cha cả mẹ cả con nít ai cũng lấy những đĩa thức ăn đầy ú. Tôi theo dõi quan sát thì mấy người này về bàn ngồi ăn mà đâu có ăn hết. Họ chỉ ăn độ một phần rồi bỏ, đứng lên đi lấy đĩa khác. Con nít cũng vậy. Trông thấy họ đổ đĩa ăn còn đầy mà lòng buồn man mác. Thật là phí phạm của trời. Tại sao họ không lấy thử vài miếng ăn trước, nếu thích thì mới lấy nhiều lần sau. Bữa đó tôi thấy mấy gia đình VN đều vậy. Rôi khi món tôm hùm và món cua mang ra, họ bảo nhau nối đuôi lấy thật nhiều, không còn muốn để phần cho người đứng sau.Tôi mắc cỡ hết sức.

Tôi thấy lời ông H.O. đúng qúa, phải không các cụ. Chắc chúng ta phải bảo nhau cải thiện việc này.

Ông bồ chữ ODP thấy dân làng nghe chuyện ông kể về việc VC dâng nước VN cho Tầu, ai cũng buồn, nét mặt ai cũng đăm chiêu. Ông thấy có bổn phận phải làm cho bữa ăn có không khí vui. Ông lôi anh John vào cuộc. Ông hỏi anh loại thơ VN nào làm cho anh cười nhiều. Anh John đáp ngay : Tôi thích nhất cái kiểu thơ mới xuất hiện gần đây, hình như kiểu Bút Tre, là vui nhất vì nó tinh quái nhất. Nó vui là vì nó gây sự bất ngờ trong việc ngắt chữ. Đáng lẽ lời thơ phải đi liền nhau thì ông Bút Tre cắt nó ra, cắt một cách tầm bậy, như :

Anh đi công tác Ban Mê,

Thuột xong một cái là về với em

Gần đây tôi thấy có mấy câu loại này, xin trình làng :

– Đây là lời cô gái khen anh bạn trai gửi điện thư email cho cô mà lời thư hay quá :

Điện thư anh viết thật bay

bướm em mong đợi từng ngày từng đêm!

– Còn đây là chuyện nói về anh Nguyễn Trùng Dương là vô địch về môn đô vật ở tỉnh Bắc Ninh :

Bắc Ninh có cậu Nguyễn Trùng

Dương vật rất khoẻ cả vùng thất kinh!

Dân làng nghe xong thì ai cũng cười như nắc nẻ.

Anh John chưa chịu hết chuyện. Cái anh John này cũng đáo để lắm, Mọi khi thì Cụ B.95 ưa bắt anh kể chuyện vui, và chỉ có cụ mới bắt được anh làm chuyện này. Hôm nay anh John đổi chiến lược. Anh quay vào nói với cụ B.95 :

– Xưa nay cụ toàn bắt cháu kể chuyện Canada, cháu bao giờ cũng phãi nghĩ sẵn trong đầu để khi cụ hỏi là cháu kể liền. Hôm nay cháu đã làm xong bổn phận. Bây giờ đến lượt cháu, cháu xin Cụ kể cho cháu và cả làng nghe chuyện của cụ, chuyện ở Hà Nội ngày xưa, chuyện trước khi cụ bỏ Hà Nội để sang Canada này đoàn tụ.

Việc này quả là bất ngờ cho cụ B.95. Cụ bèn cười rồi nói :

– Chuyện ngoài Bắc của tôi thì toàn những chuyện buồn, chả có chuyện nào làm cho các bác cười được. Như khi vừa sang Canada năm 1995 tôi được ăn cơm gạo trắng, cơm không độn bo bo, cơm thổi bằng gạo mới chứ không phải gạo mốc, đó là nỗi sung sướng vô cùng của tôi. Đi chợ không phải mang sổ gạo, không phải xếp hàng rồng rắn mà chờ. Ở đây lại được tắm bằng xà bông thơm. Đó là những nỗi vui to lớn của tôi. À, để tôi kể thêm chuyện này : Nhân nhắc tới việc đi chợ ở Hà Nội thời tem phiếu, tôi sợ nhất là cô bán hàng. Người ta gọi cô là ‘ mậu dịch viên’. Cái cô này đúng là vua. Cô ghét ai thì khi đến lượt bán thì cô trả lới tỉnh bơ ‘ hết hàng’. Thế là rồi đời. Cái cô này chỉ nể có ông thợ điện. Ông thợ điện đi chợ thì mua cái gì cũng có. Ai cũng phải chiều ông. Lý do là ở Hà Nội, dây điện chằng chịt, mình đang thồi cơm, nấu bếp, nghe radio, vặn quạt mà mất điện thì coi như cả nhà xuống hỏa ngục. Chỉ có ông thợ điện là có phép thần, ông mới biết cách chữa… Đó ngày xưa ở Hà Nội của tôi khổ thế đó cho nên tôi vẫn bảo với con cháu rẳng tôi được sống ở Canad hạnh phúc như thế này là đang được ở trên thiên đàng. Bà cụ định thôi kể nhưng rồi mắt cụ sáng lên. À, cụ chợt nhớ ra chuyện ông giáo sư nuôi lợn. Hồi cả nước bị cấm vận, ai trong chúng cư cũng nuôi thêm gia súc để thêm miếng ăn. Nói là chúng cư chứ nó có rộng như chúng cư Canada đâu. Một căn đã nhỏ lại chia ra làm mấy hộ. Có ông giáo sư kia kê cao cái giường lên rồi ở dưới nuôi con lợn. Gặp tôi hỏi thăm thì ông ta miệng cười như méo : Không phải tôi nuôi lợn mà con lợn nó nuôi tôi. Đó, các ông các bà nghe có thảm không! Công ơn của Bác với Đảng đấy!

Nghe chuyện mà xót xa qúa, phải không các cụ?

Anh H.O. cũng xin góp vui bằng một bài thơ tả cảnh nghèo ở VN năm xưa. Bài thơ nói về cái cảnh luẩn quẩn vì nghèo :

Nghèo thì phải ăn khoai
Ăn khoai thì mất ngủ
Mất ngủ thì đông con
Đông con nên lại nghèo
Nghèo thì lại ăn khoai…

Chị Ba Biên Hòa lúc này mới góp chuyện : Sao tôi thấy chuyện gì dính tới VN cũng đều buồn hết. Tuần vừa qua tôi được bà bạn kể cho nghe một chuyện đứt ruột. Bà bạn bảo tháng trước có một bà sơ ở Đồng Hới tỉnh Quảng Bình sang Canada xin giúp đỡ cho viện mồ côi và trẻ khuyết tật. Bà bạn nghe thấy bà sơ nói thảm qúa bèn mủi lòng giúp đỡ và đã ghi địa chỉ. Nhân chuyền về VN thì bà bạn đã ra Quảng Bình thăm bà sơ và tiện thể xem viện mồ côi khuyết tật có đúng như lời bà sơ kể không. Bà bạn đã đến đúng nơi và gặp đúng người. Bà bạn bảo lời bà sơ tả chỉ mới đúng 50%. Thực trạng trông thảm thiết hơn nhiều. Có nhiều em bé thiếu chân thiếu tay. Có em bé méo mồm méo mắt. Đa số các em bé đều do cha mẹ vất vào thùng rác rồi các sơ nhặt về nuôi. Các em thèm khát tình thương tình yêu vô cùng. Em bé nào mà được tôi bồng lên ẵm vào ngực thì mặt mũi nó sáng lên, nó tỏ ra hạnh phúc vô cùng. Các sơ là những người tắm rửa thay quần áo và cho chúng ăn, chúng mặc. Đặc biệt trong góc nhà bà thấy một cô bé gầy còm nằm dưới đất. Bà sơ kể : Đây là một chuyện thương tâm hết sức mà chúng tôi không biết làm gì hơn. Cô này trông nhỏ con như vậy nhưng đã hơn 30 tuổi. Năm xưa mấy người vào rừng kiếm củi thấy một cái cũi sắt có con bé nằm trong. Nó trần như nhộng. Nó tru lên như con vật. Thì ra có bọn bất lương làm cái cũi sắt nhốt con bé này vào trong để làm mồi bắt cọp. Chắc việc nằm trong bẫy sắt này đã xảy ra lâu vì con bé không biết nói, không biết mặc quần áo, nó rống lên như con heo. Mấy người kiếm củi đã đến phá cũi và đem nó về chợ. Họ đặt con bé ở chợ 3 ngày để cầu may hy vọng tìm được bố mẹ hay tung tích của nó. Sau ba ngày, không ai nhận, mấy bà sơ động lòng thương đã đem nó về nuôi. Con bé được mấy sơ chăm sóc nhưng nó quen sống như con vật. Không biết mặc quần áo, không biết cầm đũa bát. Thức ăn phải đổ xuống đất rồi nó bốc tay ăn. Nó không chịu nằm giường, bao nhiêu giường chiếu nó đều đập phá hết. Nó không biết nói. Ban đêm nó tru lên từng cơn. Các sơ đặt tên cho cô bé là Kim Chi.

Cụ nào có về VN, muốn chứng kiến tận mắt và muốn giúp đỡ con người hóa con vật này, xin đến gặp Sơ Trần Thị Lan, Nhà Dòng Mến Thánh Giá Hướng Phương, xã Quảng Phương, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình, điên thoại : 84-523-512-074.

Các cụ ạ, tôi tin rằng tiền giúp người nghèo khổ sẽ mua được vé vào thiên đàng và Niết bàn. Các cụ có tin như tôi không ?

Toronto đầu mùa xuân 2012

TRÀ LŨ (Nguồn: Internet)

 

 

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 236

Bà Trưng quê ở Châu Phong

 Tác Giả Hoàng Yên Lưu.

Theo truyền thuyết của đền thờ Hát môn tại Mê linh, đền thờ chính thờ hai vị nữ anh thư trong lịch sử nòi Việt,   Hai bà Trưng đã dựng đàn tế thiên địa trước khi “phất cờ nương tử thay quyền tướng quân” để “đuổi ngay Tô Định dẹp yên biên thành”. Bước lên đàn cao, trước mặt ba quân và dân chúng, Trưng Trắc đã thề nguyện bốn điều được coi như kim chỉ nam cho cuộc khởi nghĩa. Bốn lời thề thiêng liêng đã được Thiên nam ngữ lục ghi lại như sau:

Một xin rửa sạch nước thù
Hai xin đem lại nghiệp xưa họ Hùng
Ba kẻo oan ức lòng chồng
Bốn xin vẹn vẹn sở công lênh này

Lời nguyền sau đó đã thực hiện, dưới sự chỉ huy của hai bà Trưng, 65 thành trì của ta lại thuộc về ta khi giặc thù bị diệt, tàn quân phải lui về bên kia dãy Ngũ lĩnh. Năm Canh Tý (40 CN), Hai bà Trưng đã mở ra một giai đoạn mới trong lịch sử dân tộc: thời kỳ độc lập:

Đô kỳ đóng cõi Mê linh
Lĩnh man riêng một triều đình nước ta
Ba thu gánh vác sơn hà
Một là báo phục hai là bá vương.
                                                                                  .
 Hai vị nữ vương “Ba thu gánh vác sơn hà” (40-43 CN), khiến cho Bắc phương rung động và Hán Quang Vũ vào năm Quý Mão (43 CN) sai Phục ba tướng quân Mã Viện cùng Phiêu kỵ tướng quân, đặc phong Lâu thuyền tướng quân Đoàn Chí, mang hai đạo thủy lục gồm nhiều chục ngàn binh sĩ tinh nhuệ sang đàn áp nghĩa quân.

Cuộc kháng chiến chống thù của Hai Bà kéo dài không lâu vì binh lực nam phương mới thành lập, lòng người chưa ổn định nên chưa đủ sức chống lại quân phương Bắc đông về quân số và thiện chiến. Quân ta đánh nhiều trận oanh liệt khiến cho phương Bắc có lúc xuống tinh thần, và chính tướng giặc là Mã Viện phải nhìn nhận Giao châuQuỷ môn quan:

Quỷ môn quan! Quỷ môn quan!
Thập nhân khứ nhất nhân hoàn
(Quỷ môn quan, quỷ môn quan
Mười người qua đó, chỉ còn một thôi!)
                                                                                    .
Nhưng cuối cùng áp lực của địch quá mạnh nên Hai Bà Trưng phải rút quân về Cấm Khê. Trong tận thư hùng cuối cùng, Nhị nữ vương bị giặc vây hãm, bị thương cùng mình và theo truyền thuyết họ không để giặc bắt, đã tự trầm ở Hát giang. Đền thờ ở Hát Môn ghi hai bà hy sinh vào ngày tám tháng ba âm lịch. Còn đền thờ ở Đồng nhân, Hà nội lại ghi ngày tuẫn tiết của Trưng nữ vương là ngày 06 tháng hai.

Là bậc nữ lưu phi thường, với cái chết oanh liệt vì giống nòi, Hai Bà Trưng đã được muôn đời ngưỡng mộ và ca ngợi.

Thơ vịnh sử về hai vị nữ anh thư có khá nhiều và tại đền thờ ở Hát Môn cũng ở Đồng nhân còn bút tích, câu đối và thơ ca của nhiều danh sĩ, ca tụng chiến công của Trưng Trắc-Trưng Nhị.

Tuy nhiên, các bài thơ hay câu đối trên thường có nội dung giống nhau, đều là loại vịnh sử, ca tụng chiến công hiển hách của nhị vị nữ vương, đồng thời châm biếm Mã Viện tàn bạo và tham ô chẳng hạn những câu sau đây:

Quắc thước khoe chi mình tóc trắng
Cân đai đọ với khách quần hồng
Gièm chê luống những đầy xe ngọc
Công cán ra chi dựng tượng đồng.

 

Hay bài một khuyết danh khác:
Một bụng em cùng chị
Hai vai nước với nhà
Thành Mê khi đế bá
Sông Cấm lúc phong ba
Ngựa sắt mờ non Vệ
Cờ lau mở động Hoa
Ngàn năm bia đá tạc
Công đức nhớ hai bà

 

Bài thơ ca tụng hai bậc anh thư tuẫn quốc, đã nối truyền thống của Thánh Gióng cỡi ngựa sắt phá quân thù và mở đường cho Đinh Bộ Lĩnh dẹp yên các sứ quân dựng nền độc lập cho phương Nam. Công đức ngất trời ấy không những được tạc vào bia đá mà còn được khắc sâu và bất diệt trong lòng người Việt.

Các nhà thơ mới ít làm thơ vịnh sử nhưng nói như thế không có nghĩa là trước 45 với nguồn cảm hứng mới, bút pháp mới của phong trào thơ mới, vốn có khuynh hướng tách xa nguồn cổ điển, khó tìm ra những bài thơ gợi nguồn cảm hứng từ thiên bi hùng ca của hai vị nữ lưu anh kiệt. Nhiều nhà thơ mới mượn đề tài lịch sử để làm thơ như Phạm huy Thông (Giấc mộng Lê Hoàn, Huyền trân công chúa), Nguyễn Nhược Pháp (Mỵ Châu, Mỵ Ê) nhưng họ chỉ ghi lại cảm xúc của mình trước cuộc đời nhân vật hơn là làm việc phê phán nhân vật lịch sử để trình bày quan điểm riêng tư như trong thơ Vịnh Sử.

Theo chiều hướng này, một bài thơ mới đăng trên tờ Tri Tân vào năm 1942 có tên là Hát giang trường lệ trong đó tác giả trình bày cảm xúc của trăm họ Giao châu khi hai bà tuẫn tiết. Bài thơ không thuộc loại vịnh sử mà là một bài có dạng anh hùng ca. Ở đó vai trò trí tưởng tượng và cảm xúc của tác giả, dù pha trộn với yếu tố lịch sử, vẫn chiếm ưu thế.

Thơ mới tính chất tình cảm nổi bật, còn vịnh sử theo phương châm “văn dĩ tải đạo” nghĩa là dùng văn để tài bồi đạo đức nên ngôn ngữ và tư tưởng phải mực thước. Xin trích một đoạn Hát giang trường lệ để thấy Thơ mới và Thơ cũ dù cùng một đề tài vẫn khác nhau rõ ràng về cả hình thức lẫn nội dung

HÁT GIANG TRƯỜNG LỆ

(Sau trận đại bại của Hai Bà Trưng)

 Thảm thiết đêm ngày sông Hát khóc:
Ôi Hai Bà! Ngơ ngác tàn quân!
Thảm thiết đêm ngày sông Hát khóc:
Ôi Hai Bà! Thổn thức nhân dân!
Mã Viện tung hoành trong đất nước;
Mê Linh khói tỏa khét mùi thiêu;
Hồng Hà một dải, đầu lâu bước;
Lãng Bạc, thây người, tiếng quạ kêu
Trời mây u ám màu tang tóc;
Cây cỏ đầm đìa giọt lệ xuân,
Rừng thú, điên cuồng cơn gió lốc,
Lá lăn đường thảm, héo hon dần.
Đâu hai Bà! Sóng chiều rên rỉ!
Tà huy mò xác đáy trường giang!
Đâu chốn bùn đen vùi ngọc thể,
Long bào máu nhuộm, mảnh gươm vàng?
Toàn cõi Giao Châu lên tiếng khóc,
Đêm trường, giăng hụp… bóng sao mờ.
Già, trẻ ôm nhau lòng uất ức,
Miệng phun huyết nóng, ngậm u hu,
Tưởng chừng: vũ trụ tan thành lệ,
Mắt nhòa, hoen đỏ, nứt con ngươi,
Sấm động, tai ù, tiêu tán chí,
Chết cứng chân tay, ngã rụng rời…
.

Viết về Hai bà Trưng và khác với quan niệm cũ “nợ nước phải coi trọng hơn tình nhà, nghĩa chung phải trọng hơn tình riêng,” chúng ta nên đọc bài Trưng Nữ Vương sau đây của nhà thơ Ngân Giang:

TRƯNG NỮ VƯƠNG

Thù hận đôi lần chau khóe hạnh,
Một trời loáng thoáng bóng sao rơi
Dồn sương vó ngựa xa non thẳm
Gạt gió chim bằng vượt dặm khơi
 
Ngang dọc non sông đường kiếm mã
Huy hoàng cung điện nếp cân đai
Bốn phương gió bão dồn chân ngựa
Tám nẻo mưa ngàn táp đóa mai

 

Máu đỏ cốt xương thù vạn cổ
Ngai vàng đâu tính chuyện tương lai
Hồn người chín suối cười an ủi
Lệ nến năm canh rỏ ngậm ngùi
 
Lạc tướng quên đâu lời tuyết hận
Non Hồng quét sạch bụi trần ai
Cờ tang điểm tướng nghiêm hàng trận
Gót ngọc gieo hoa ngất mấy trời

 

Ải Bắc quân thù kinh vó ngựa
Giáp vàng khăn trổ lạnh đầu voi
Chàng ơi điện ngọc bơ vơ quá
Trăng chếch ngôi trời bóng lẽ loi
                                                                   .

Ngân Giang, tên thực là Đỗ thị Quế,   là một nhà thơ nữ trên thi đàn trước 1945 cùng nổi tiếng với Hằng Phương, Vân Đài Anh thơ… Bà sinh ở Hà nội năm 1916 và làm thơ từ những năm 1930, đã từng in các tập thơ như Giọt lệ xuân (1931), Tiếng vọng Sông Ngân (1944). Nhưng điều đặc biệt nhất ở Ngân Giang là thường làm thơ ca tụng nơi chôn rau, cắt rốn. Muốn tìm thơ về Hà nội có thể đọc Ngân Giang vì dễ dàng tìm thấy nhưng lời gấm vóc ca tụng cảnh sắc và phong tục nơi từng được coi là ngàn năm văn vật. Bài Trưng Nữ Vương sáng tác năm 1941 cũng là một cảm xúc khởi từ Hà nội ngày xưa. Phải chăng vì đền thờ hai bà, đền Đồng nhân ở ngay lòng Hà nội nên từ thuở ấu thơ không ít lần Ngân giang đã có cơ hội dự hội Kỷ niệm hai bà mở ra vào ngày mồng sáu tháng 02 âm lịch mỗi năm. Bài thơ trên có lẽ ra đời vào lúc nữ thi nhân xúc động trước cuộc đời bi hùng của Trưng Nữ Vương.

Có hiểu như thế mới thấy nhà thơ nhìn thần tượng của mình qua lăng kính tình cảm và chỉ chú trọng tới tâm trạng của nữ anh thư sau khi hoàn thành công nghiệp đế bá một phương.

Ngân giang đã nhấn mạnh tới yếu tố tình cảm của Trưng Nữ Vương như động lực chính thúc đẩy cuộc khởi nghĩa. Phân tích tình cảm một nhân vật từng trải bi kịch trong đời như Trưng nữ vương, có lẽ một cây viết nữ như Ngân giang thích hợp nhất. Nhà thơ bắc nhịp cầu cảm thông với nhân vật và tin rằng dù đã đạt vinh quang tột đỉnh, thù chồng đã trả, nợ nước đã đền nhưng Trưng nữ vương vẫn đau đớn trong lòng

Nhà thơ nhấn mạnh tới thù hận như một trong những động cơ chính khơi dậy chí chim bằng ở người phụ nữ tài ba và giục người rời khuê phòng lên mình ngựa dấn thân vào cuộc chinh chiến:

Thù hận đôi lần chau khóe hạnh,
Một trời loáng thoáng bóng sao rơi
Dồn sương vó ngựa xa non thẳm
Gạt gió chim bằng vượt dặm khơi

 

Người phụ nữ phi thường đó đã lập chiến công hiển hách, tung hoành bốn phương, đối phó với thử thách từ tám hướng dồn lại và thành công lên ngai vàng trở thành Trưng Nữ Vương

Ngang dọc non sông đường kiếm mã
Huy hoàng cung điện nếp cân đai
Bốn phương gió bão dồn chân ngựa
Tám nẻo mưa ngàn táp đóa mai
.

Nhưng khi bóng thù đã quét sạch toàn cõi Giao châu, Trưng Nữ Vương phải đối phó với bi kịch trong lòng, ngai vàng không phải là mục tiêu báo thù, nên chẳng thể làm nguôi quên nỗi đau đớn của người phụ nữ vì tình thâm nên hận sâu và vì hận sâu nên vùng dậy tuyết hận:

 Máu đỏ cốt xương thù vạn cổ
Ngai vàng đâu tính chuyện tương lai
Hồn người chín suối cười an ủi
Lệ nến năm canh rỏ ngậm ngùi

 
Không phải Trưng Nữ Vương chỉ nặng tình nhà mà nhẹ nợ nước. Nhưng tình nhà là động cơ đầu tiên và từ cái đau riêng cá nhân dẫn tới xót xa, cảm thông cái đau chung của cả dân tộc, như thế tình nhà thúc đẩy cho nợ nước thêm mạnh và nợ nước khiến cho tình riêng thêm sâu.

Lạc tướng quên đâu lời tuyết hận
Non Hồng quét sạch bụi trần ai
Cờ tang điểm tướng nghiêm hàng trận
Gót ngọc gieo hoa ngất mấy trời

 

Tất cả tạo thành sức mạnh khiến cho xâm lăng tan vỡ, chủ quyền của dân tộc được giành lại. Nhưng dù cho thành công cách mấy chăng nữa thì cũng chẳng bao giờ lấp đầy cái hố cô đơn của một tâm hồn mẫn cảm và chung thủy! Dù sóng gió thử thách, dù quyền uy trong tay, hai chữ sắt son với người cũ vẫn thắm đượm vĩnh viễn và vết thương lòng vì thế không bao giờ nguôi:

 Ải Bắc quân thù kinh vó ngựa
Giáp vàng khăn trổ lạnh đầu voi
Chàng ơi điện ngọc bơ vơ quá
Trăng chếch ngôi trời bóng lẽ loi
.

Nhà thơ không buộc phải là người giáo huấn hay một nhà đạo dức mà là kẻ dùng thơ để bày tỏ tình cảm riêng tư. Vũ Hoàng Chương nhắc lại chuyện Kinh Kha, khác với người trước thường lên tiếng chê Kinh Kha làm hỏng việc lớn của Thái tử Yên Đan, tác giả Thơ Say chỉ nói lên cái đẹp của Kinh Kha khi vung đao hành thích Tần đế:

 Một nhát dao bay ngàn thuở đẹp
Dù sai hay trúng cũng là dư! 
.

Ngân giang trong Trưng Nữ Vương cũng thế, chỉ trình bày cảm xúc của mình trước một bi kịch tình ái của một phụ nữ phi thường chứ không nhằm làm thơ vịnh Trưng Nữ Vương. Cảm xúc trung thực, tưởng tượng đầy sáng tạo, đó là các điểm thành công của tác phẩm Trưng Nữ Vương.

 Tác Giả Hoàng Yên Lưu.

 

 

 

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 763

Tà Cú- Cổ Thạch

Tà Cú- Cổ Thạch

Tà Cú- Cổ Thạch là những thắng cảnh mà đoàn hành hương sắp ghé qua trước khi làm công tác từ thiện ở Cam Ranh, một vùng kinh tế khó khăn có nhiều dân tộc thiểu số.

Tối 24 tháng 3 năm Quý tỵ vào lúc 20 giờ, đoàn xe 5 chiếc 45 chỗ đã sẵn sàng đón các phật tử lên xe khởi hành chuyến đi từ thiện và hành hương.

5 giờ sáng đoàn người đến nhà của sư trụ trì tịnh xá Ngọc Hiệp, ở đây họ rất hiếu khách, đã chuẩn bị đầy đủ chổ nghỉ chân, Tà nước, ẩm thực v.v… Để phát quà, đoàn người ỳ ạch khuân vác đồ đạc vào: gạo, áo quần, mì tôm, xì dầu, bột ngọt, đường v.v…cùng những đồ chơi trẻ em xinh xắn.

Phong cảnh nơi đây rất hữu tình với gió núi mây ngàn, vườn nhà rộng, cây cảnh mát mẻ gần 1 hecta, nhiều nhất là đu đủ với những quả oằn oại đu xung quanh cây trồng thật xinh, dừa thì cao vút, nhà nào cũng có, nghỉ chân một lát mới thấy ánh nắng bắt đầu chói chang , đúng là cái nắng ở miền núi. Đoàn người được phát quà lần lượt đến xếp hàng. Đoàn từ thiện làm việc theo lối dây chuyền; gạo mì các thứ…Sư trụ trì thì phát phong bì, bọn trẻ em được phát thêm đồ chơi chúng rất thích. Nhìn lại những người đến nhận quà quần áo lam lũ, những em bé chân đất đầu trần, đen thui đen thít. Những cụ già áo rách vai lom khom, những người đàn bà quần ống thấp ống cao đứng xếp hàng chờ đến phiên mình. Thật chẳng biết nói sao. Đúng là “kẻ ăn không hết người lần không ra”.

Trong vòng một tiếng đồng hồ quà phát xong, đoàn người hớn hở ra về. Đoàn từ thiện mồ hôi nhễ nhãi, ai cũng lấy tay quệt mặt lau trán, vậy đó nhưng thật là hoan hỷ, tâm an lạc.

Trên phát quà, dưới nhà bà con lối xóm cùng đoàn lo ẩm thực, ở đây có loại bánh ú lá gai rất ngon, đúng là đặc sản ai cũng dặn mua một ít đem về làm quà. Điểm tâm xong đoàn tiến về Sơn Long Cổ tự ơ Nha Trang, một ngôi chùa nổi tiếng. phía sau chùa trên núi leo lên 150 bậc có tượng Phật Thích Ca ngự, Ngài ngồi uy nghi đang mỉm cười với đoàn hành hương. Ai cũng lễ Ngài rồi ngắm trời mây. Từ trên cao nhìn xuống thành phố Nha Trang như thu gọn lại.

Mới chốc lát đúng ngọ, đoàn hành hương xuống núi vè khách sạn nghỉ ngơi. Buổi chiều đi tắm bùn. Khen ai khéo vẽ lắm trò chơi, tắm bùn qua 7 giai đoạn, kể ra dài dòng, chắc nhiều người đã đi và cũng biết rồi. Tối đến thả hồn theo biển Nha Trang cùng các bạn đạo, người người ai cũng thở phào nhẹ nhõm, quên đi cái mệt mỏi sau 1 ngày dài vất vả.

Sau đó Minh được anh họ con cậu Tám, một giáo viên rất nhiệt tình, chở Minh đi dạo khắp thành phố Nha Trang thăm bà con, lâu ngày gặp lại ai cũng vui mừng khôn xiết, tay trong tay xiết chặt, hỏi thăm, tâm sự vui buồn.

Sáng hôm sau từ giã phố biển đoàn xe tiến về Tà Cú- Cổ Thạch, người hướng dẫn chính là thầy Hòa ở Hoa Quang. Chùa Linh Sơn Trường Thọ nằm trên núi Tà Cú ở Hàm Tân mà một lần được em Huệ dẫn đi theo cơ quan, nhưng dạo ấy chỉ là “cưỡi ngựa xem hoa” nên chưa am hiểu mấy, nay được có cơ hội tìm hiểu rõ hơn. Tà cú là một kỳ sơn thắng cảnh thuộc xã Tân Hiệp, huyện Hàm Tân tỉnh Bình Tuy. Muốn lên đến đỉnh phải đi cáp treo, hiếm người đi bộ như xưa. Ngồi trên cáp treo mà mình hú hồn hú vía, nhìn xuống khe núi sâu hoắm, trời cao lồng lộng, cây rừng âm u, mình nhắm mắt lại tim như muốn thoát ra ngoài mà nghỉ dại “nếu mình rớt xuống đây thì làm sao” ? có trời mới cứu! nhưng không sao, hệ thống cáp rất an toàn mà lo gì!

Khi lên đến nhà ga là bắt đầu leo từng bậc thang lên đến chánh điện. Đây là một kỳ công vĩ đại mà tổ sư Hữu Đức khi xưa đã khai sơn tạo sự. Trên núi cao vút từng mây vạy mà các ngài tìm đến khai phá sáng lập nên chùa chiền để chúng ta ngày nay được hành hương chiêm bái, lễ Phật. từ chánh điện lên 200-300 bậc nữa, hì hục đoàn cũng đến chổ Tam Thế Phật. Tiến lên tiến lên thêm nữa là tượng Phật nhập niết bàn dài 49m được tạc từ năm 1962 , nghe đâu hồi đó trực thăng chở vật tư lên cho thợ tạc tượng giữa núi rừng hùng vĩ, một kỳ tích tuyệt vời mà các tổ đã kỳ công tạo dựng. Kỳ này mà Minh leo núi rất là phấn khởi kịp theo đoàn hành hương cũng là điều kỳ diệu vì chân đau do hôm trước bị ngã vậy mà cũng leo lên đến Phật Niết bàn lễ lạy ngắm trời đất, cảm thấy mình khỏe không còn đi cà nhắc nữa. Về kể cho các con nghe, con ba, thằng út cho là sự mầu nhiệm. Còn thằng lớn phát cho một câu xanh rờn “nếu vậy nhà thương dẹp hết mà nên leo núi”.

Minh phân bua với con nhà thương để chữa bệnh căn, còn bệnh nghiệp phải chữa bằng tâm linh, làm việc thiện, làm điều tốt thì mới chuyển nghiệp được. thàng con miển cưỡng nghe theo, vì nó chưa hiểu mấy, nên minh Phân tích thêm: ngày xưa tổ Huệ Khả có khối u trong đầu, mặt dù đã chạy chữa rất nhiều thầy, nhiều nhà thương nhưng nhưng đều vô hiệu, sau đó đệ tử của Tổ phát nguyện ấn tống kinh sách, làm từ thiện hồi hướng cho tổ, sau một thời gian thì khối u biến mất (theo lời thầy Phước Tiến kể)

Tà Cú đã đi qua, điểm dừng chân kế tiếp ngày hôm sau là Cổ Thạch ở mé biển Bình Thuận viết cho đúng là nằm trên núi dọc theo bờ biển. Bên trong những động đá là chánh điện thu hẹp, có nơi thờ Phật, hang thì thờ các vị thần khác. Nắng ban mai cộng với gió biển hiu hiu thổi vào thật sảng khoái, vì 6 giờ sáng thầy đã dẫn đoàn đi lễ Phật ở chùa Cổ Thạch, sau đó tiến dần ra biển rồi lên núi, đây là nơi có nhiều hang động đẹp thế mà thiên nhiên khéo tạo nên, mà các nhà sư, các tổ khi xưa đã dày công tìm kiếm để ẩn tu, “tài thật” tôi thầm nghĩ. Dưới là biển, trên là núi, càng tiến lên cao những tản đá chồng lên nhau tạo thành những hình ảnh kỳ diệu trong mỗi hang, thờ những vị thần khác nhau. Ngoài thờ Hổ, có hang thờ cả ngũ hành nương nương (kim, mộc, thủy, hỏa, thổ), thờ cả bà Cửu Thiên Huyền Nữ.v.v… riêng Ngài Di Lặc ngồi cười ngất nghểnh trên tảng đá cao mà ai cũng cố trèo lên, sờ bụng Ngài và chụp hình. Minh cùng bạn Cúc cũng ghi mấy phô làm kỷ niệm, cả đoàn cùng chụp hình. Ngoài Ngài Di Lặc còn có Ngài Quan Âm Nam Hải, Ngài đứng nhìn ra biển…ai có niềm tin lớn thì đến đây chiêm bái, lễ lạy, ai còn thiếu đức tin thì tham quan. Vì đây là danh lam thắng cảnh mà thiên nhiên ban tặng cho, cộng với những đôi tay của các nghệ nhân tạo nên kỳ tích tuyệt mỹ đã tô điểm cho các hang động ngày thêm khang trang đẹp đẻ để thờ Phật và là nơi hành hương đáng nhớ cho Phật tử khắp nơi, khách du lịch tham quan, thật Minh rất cảm kích và kính phục các vị ẩn tu ở đây, lánh xa cõi trần thế.

Cổ Thạch rất sầm uất, có đầy đủ các điều kiện phục vụ cho khách hành hương, khách du lịch, có nhà nghỉ, có khách sạn, chợ gần đó mua bán đủ thứ nhất là đồ lưu niệm mặc tình chọn lựa, ai ai cũng sắm cho mình 1 vài món mang về làm quà. Tham quan dạo cảnh xong ai muốn tắm sáng tắm chiều gì tự do, riêng mình chiều buông xuống gió biển thổi lên, sóng đánh dồn dập sợ quá, lại lạnh run nên đứng trên bờ nhìn xuống các bạn còn mua được hải sản tươi mà ngư dân vừa chài được.
Sau khi xuống núi, Minh luôn mang trong lòng sự khâm phục về Cổ Thạch, tâm đắc nhất là bài thơ vịnh chùa Cổ Thạch của Thu Lâm khắc trên đá mà Minh đứng tựa vào nhờ anh phó nhóm lưu lại cho và kết thúc Cổ Thạch :

Thạch tự mấy từng chiếu ánh quang
Danh lam dục bước khách du nhàn
Cây chen gác trống, chen hoa núi
Đá đội lầu chuông, đội gió ngàn
Sóng biển dạt dào reo mặt bãi
Chim rừng ríu rít nhộn lòng hang
Ai hay cảnh trí mang màu Phật
Sự tích kiên cường viết mấy trang…

(Mùa hè năm 1995)

Rời Cổ Thạch là một mạch về luôn tới nhà nhưng ai cũng nao nức, đi thì cũng nôn nóng mà về thì nóng hơn, giờ đây đã an toàn sau chuyến từ thiện và hành hương để rồi ngày mai đây tiếng gà gáy, tiếng đồng hồ báo thức, mặt trời lên lại đưa ta vào qũy đạo của cuộc sống. mỗi người mỗi việc, mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh…

Diệu Minh Sang

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 72

Sài gòn 40 Năm

  Song Lam

1sg222Cuối cùng thì tôi cũng về cái ổ của mình. Nằm thẳng cẳng, hai tay đan trên ngực, mắt nhắm nghiền, tôi giống hệt như những người được Chúa gọi về. Chỉ có khác đôi điều là còn thở phì phò và trái tim còn đập lổn nhổn khi trồi khi sụt. Ba tuần lễ ở Sàigon để thăm lại người mẹ ra đi năm ngoái, tôi như con thú hoang đi lạc. Mọi thứ đều lạ lẫm, trễ tràng. Sàigon thật sự không còn của riêng tôi.

Đứng thật lâu ở cửa Tây chợ Bến Thành, ngay tiệm vàng Nguyễn Thế Bài trước 75, tôi không hiểu mình muốn tìm gì, gặp ai trong lúc này. Con đường Lê Thánh Tôn ngày xưa đi học bằng xe đạp đôi lần dừng lại vì xe bị tuột sên, có ít nhất vài anh con trai tới sửa dùm. Bây giờ, đứng đây cả buổi, nhìn ngó tứ tung, chẳng có ma nào ngó tới tôi. Buồn tình, tôi đi lang thang. Đi bộ lòng vòng ngang kem Bạch Đằng, tôi ngán ngẫm chẳng thèm vào. À, nhà sách Khai Trí cũ đây rồi. Vô chút. Hình bóng cũ nào còn đây, sách vở ích gì cho buổi ấy? Tôi mua vài quyển sách dạy nhạc, Tự học Tây Ban Cầm với ước mong dợt lại bài Thu Ca ngày nào, bài dư âm kỷ niệm ngày hai đứa mới quen nhau, bài Thuyền và Biển mà mấy đứa em già chế lại hát như thế này: “Nếu phải sống xa em, anh chỉ còn bão tố. Nếu phải sống bên em, anh chỉ còn… cái khố.”

Bùng binh Sàigon ngày nào có tượng đài Trần Nguyên Hãn oai phong, tượng nữ sinh Quách thị Trang bằng đá trắng… nay đã mất tăm, mất tiêu. Xe cộ thật nhiều, ồ ạt, ào ào khiến tôi chóng mặt.

Sàigòn bây giờ đầy dẫy, ngập tràn nhà cao tầng không khác gì các đô thị văn minh Âu Mỹ. Sàigon có Bicotex Trung tâm tài chính, mà dân Saigon gọi là bà đầm bưng mâm xôi, Saigon có Center Tower 72 lầu, Saigon có đường hầm bắc qua sông Thủ Thiêm. Bến đò Thủ Thiêm bên bến sông Bạch Đằng năm xưa chạy xập xình, ành ạch sóng nước cả ngày cả đêm nay đã không còn. Con đò Thủ Thiêm đã lùi vào dĩ vãng! Trong trí nhớ người dân Sàigon vẫn còn câu hát: “Bắp non đem nướng lửa lò. Đố ai ve được con đò Thủ Thiêm”. “Con đò” Thủ Thiêm tức là cô lái đò trẻ tuổi xinh đẹp chèo đò đưa khách sang sông. Tôi thích quá chừng chữ “ve” này, mà chữ “cua” hay chữ “dê” không tài nào sánh kịp!

Sàigon có cầu vượt, có xa lộ Đông Tây, có siêu thị lớn nhỏ sang trọng không thua gì ở Mỹ. Sàigon có tất cả, nhưng Saigon không có nụ cười.

Sàigon không có nụ cười? Các bạn có cho rằng tôi nói quá sự thật không? Một lần nữa, tôi xin xác định: Saigon không có nụ cười. Trong công việc hàng ngày của tôi, tôi cười với khách hàng hàng trăm lần, nói hai chữ “cám ơn” hàng ngàn lần. Saigon không có được chuyện này.

Hàng ngàn chiếc xe gắn máy đổ xô ra đường mỗi giờ, mỗi ngày, mọi người chen lấn nhau, tranh giành nhau từng centimet đường, mặt mày hằm hè như sắp sửa gây gổ, chửi mắng nhau và mặt lạnh như… tiền Việt Nam. Vào cơ quan chính quyền, quý vị sẽ thấy được sắc mặt này: họ nhìn mình ghẻ lạnh, soi mói coi mình thuộc tầng lớp nào trong xã hội, họ nhìn qua cách ăn mặc để đoán xem mình có tiền nhiều hay ít… ôi cái nhìn xa lạ, dửng dưng, không có một chút tình cảm con người nào hết. Sao kỳ vậy cà? Tôi tự hỏi mình. Biết hỏi ai bi giờ?

Saigon có những bộ trang phục đắt tiền, những chiếc xe hơi bạc triệu, những biệt thự sang trọng với phòng master bedroom dát vàng ròng bốn số chín, nhưng Saigon không có được tình yêu thương. Saigon vắng bóng lòng nhân ái và chết tiệt sự bao dung.

Những ngày cận kề Christmas, Saigon treo đèn kết hoa cùng khắp những con đường lớn. Những công trình xây dựng còn dang dở khắp nơi gây ra sự kẹt xe dữ dội vào những giờ cao điểm. Dân Saigon ăn nhậu tối ngày, từ sáng sớm cho tới giữa khuya. Quán nhậu san sát, từ bò dê cao cấp cho đến rắn mối thằn lằn. Hình như mọi người đang lâm vào cảnh mê hồn trận cứ ăn nhậu thả cửa chừng nào chết hẳn hay. Tôi có những đêm Saigon mất ngủ triền miên vì tiếng xe gắn máy ầm ầm trong từng hang cùng ngõ hẹp. Bốn năm giờ sáng lại nghe rội rã tiếng rao hàng: “Bánh mì nóng đây, bánh mì nóng đây”. Saigon lúc nào cũng hực hở lửa nóng, rít rịt tay chân, chỉ nhờ mong ngọn gió mát bất chợt.

Tuổi trẻ Saigon bây giờ cao hơn, đẹp hơn, sang trọng hơn. Con gái ra đường không ai biết đẹp hay xấu, cao hay thấp, da trắng mịn màng hay đen thui rổ chằng chịt, vì họ trùm kín mít, chỉ chừa hai con mắt vẽ chỉ đen thui, lạnh lùng. Ai cũng chen lấn, vội vã, chụp giựt. Và hoàn toàn không có một nụ cười nào hết. Ở Saigon ba tuần, tôi không biết mình cười được bao nhiêu lần, chỉ thấy lòng trĩu nặng sầu thương.

Đã nhiều lần tôi thấy được những người già như tôi đã về hưu ngồi trong nhà thu lu bất động. Nếu không bận rộn được làm ô-sin không công cho con cháu thì họ cứ ngồi trước bực cửa nhìn ra ngoài đường. Họ ngồi đó, buồn, bất động và héo tàn.

Central Tower lộng lẫy sửa soạn chào mừng năm mới 2015, sẵn sàng giơ cao dao sắc chém ngọt khách hàng. Ly kem bạc hà chỉ có hai viên kem tròn vo lớn hơn cái trứng cút chút xíu, trả 11 dollars cho tui. Trời ơi giá cả hơn cả bên Mỹ. Nhưng lo gì. Đại gia thừa tiền lắm bạc, “bi nhiêu bi!”

Saigon cũng có những buffet đắt tiền dành cho nhà giàu mới mở mắt sau này như ở Hoàng Yến, Newworld, nhất là ở nhà hàng năm sao Newworld này, ăn trưa 26 dollars và ăn tối 42 dollars trong khi người lao động buôn gánh bán bưng chỉ mong kiếm được 2 dollars/ngày (42.000 đồng Việt Nam). Saigon ơi, nhức nhối lòng tôi.

Mở mắt chào đời ở Saigon, sống và thở với Saigon qua bao nhiêu thăng trầm của đất nước, của thời cuộc, tôi vẫn ôm Saigon vào trong lồng ngực tưởng như lúc nào cũng son trẻ của mình. Xa Saigon 40 năm, Saigon đã ngủ vùi 40 năm, Saigon đã mất đi vẻ thơ mộng, lãng mạn, đã mất đi hoàn toàn văn hóa phương Nam, để trở thành thứ lai căng chú kiết, Tây chẳng ra Tây, Tàu chẳng ra Tàu. Saigon bây giờ vẫn đang còn một triệu ba trăm ngàn người nghèo khổ đói khát lầm than. Có những cái chết vội vàng non yểu, trăm thứ bệnh lạ do thực phẩm độc hại mang đến, Saigon có trăm ngàn chuyện giả từ lông mi giả đến tôm khô, bánh tráng, gạo lúa ăn uống hàng ngày.

Bên cạnh những building cao vòi vọi, những nhà hàng sang trọng, những resort năm sao, quý bạn đọc sẽ còn thấy được những trường học xuống cấp thê thảm, những bệnh viện ghẻ lở hoang phế hàng trăm năm không sửa sang. Quý bạn đọc hãy ghé mắt vào bệnh viện T.C ở Saigon để thấy bệnh nhân nằm la liệt từ hành lang cho đến trước cửa nhà vệ sinh, nằm luôn cả dưới gầm giường. Y tế quả là quá tải và giáo dục đi đoong. Chúng tôi đến thăm đứa cháu họ tại phòng vô trùng của Trung tâm huyết học mà sững sờ: thằng nhỏ chuẩn bị trình luận án tốt nghiệp cao học kinh tế, lại được phát hiện bị ung thư máu. Tôi phát khóc khi nhìn bốn thanh niên trẻ không quá 25, mặt mũi sáng láng khôi ngô với những cái đầu trọc lóc vì vừa trải qua mấy đợt Chemo. Những khuôn mặt trắng bệt đang cần vô máu, mà xác suất sống còn chỉ có từ 20-25% đã làm tôi đau lòng, không biết phải nói gì để an ủi các cháu. Không ai trả lời được câu hỏi tại sao trong khi tiền đóng cho bệnh viện cao ngất ngưỡng được tính bằng hàng chục ngàn dollars, cha mẹ các cháu phải cầm cố nhà cửa, ruộng vườn…

Làm sao ngoảnh mặt quay lưng với cảnh đời trái ngược ở Saigon: bên cạnh cuộc sống xa hoa dư thừa phủ phê của kẻ có quyền lực, vẫn còn hằng hà sa số cuộc đời của những con người Việt Nam bần cùng đói khát kiếm ăn từng bữa toát mồ hôi, còn những mồ hoang mả lạnh, còn bao nhiêu cái chết tức tưởi, âm thầm… những người muôn năm cũ hồn ở đâu bây giờ? (Vũ Đình Liên-Ông Đồ). Người lính cũ VNCH, người thương phế binh của chế độ cũ vẫn còn sống vất vưởng, lê la đầu đường xó chợ mà sự giúp hàng năm của đồng bào hải ngoại vẫn không thấm thía vào đâu! Chương trình “Cám ơn Anh” hàng năm ở California với số thu lên đến bảy tám trăm ngàn dollars vẫn còn quá ít so với nỗi đau quá lớn, những thương tật trùng điệp của hàng chục ngàn chiến binh sau 75. Chúng ta đời đời chịu ơn họ, cái ơn sâu không bao giờ trả nổi…

Saigon thân yêu của tôi ơi. Em đã ngoài 40 từ 1975, tù dạo người Saigon ken chân vội vã chen lấn xuống tàu bạt mạng thừa sống thiếu chết vượt trùng dương tìm đường trốn chạy, biết bao người đã chìm sâu đáy nước, biết bao nhiêu người lưu lạc phương trời?

Biết nói gì với em hôm nay, Saigon 40? Hôm nay thăm lại Saigon, em chỉ còn trong tôi hình bóng cũ: Con đường Bà Huyện Thanh Quan những chiều tan học mát rượi lối đi, vòng xe quay thanh thản nói cười với bạn, tà áo dài trắng quấn quít mối tình đầu.

“Saigon ơi, tôi đã mất người trong cuộc đời. Saigon ơi, thôi đã hết thời gian tuyệt vời…” (Saigon ơi vĩnh biệt-Nam Lộc)

Tôi vẫn còn hoài hình ảnh Saigon tráng lệ, tươi đẹp trong trái tim già nua khô héo của mình. Và Saigon ơi, tôi còn mãi Saigon xưa trong trí nhớ.

II.

Tôi trở lại Valley Forge vào những ngày cuối của năm 2014, tôi nghe lòng giá buốt với cái lạnh 6 độ F về đêm và những tai ương nổ ra từ khắp thế giới trong khi năm 2015 từng bước đến gần. Hai cảnh sát viên New York bị kẻ gian sát hại ngày 20/12 là vết thương lớn cho nhân dân Mỹ, đặc biệt là cộng đồng New York. Sự sát hại đó có lẽ bắt nguồn từ sự phân biệt chủng tộc âm ỉ, dai dẳng sau khi người thanh niên Michael Brown ngả xuống từ viên đạn của người cảnh sát da trắng trong tháng 8/2014. Và chỉ một tuần sau 28/12, Air Asia của Malaysia mang biển số 8501 lại bị rớt ở đáy biển Java mang theo 162 hành khách và phi hành đoàn, trong khi vừa cất cánh từ Jakarta (Indonesia) đi Singapore được 45 phút…

Dù vậy, ở Times Square New York, trái cầu mà cả thế giới dõi mắt mong chờ count down như một thông lệ chào mừng năm mới, với hy vọng sẽ tốt đẹp hơn năm cũ, đã qui tụ hàng trăm ngàn người trẻ tuổi bất chấp cái lạnh giá mùa Đông. Ở quanh vùng chúng tôi cư ngụ, Valley Forge Casino đã chuẩn bị hàng trăm chai Champagne sẳn sàng mở nnắp để đón khách. Liệu 2015 có khá hơn chăng?Ai mà biết được?

Tôi đã não lòng với đồng hương của tôi ở Saigon Việt Nam, tức Saigon lớn. Còn Saigon nhỏ? Khi nghĩ đến Little Saigon là tôi có chút vui. Sao kỳ vậy cà? Saigon nhỏ hình thành khắp nơi trên thế giới, nơi có người Việt Nam sinh sống và thành lập cộng đồng. Phải chăng người Việt Nam tị nạn khắp nơi trên thế giới muốn tìm lại những gì đã mất? Vì Saigon lớn không còn của mình nữa, mà là của họ, của người chủ mới!

Những lần đến Little Saigon ở Cali, tôi tìm lại được hình ảnh quá khứ, rất Việt Nam. Hình ảnh chiếc áo bà ba, vành nón lá, tà áo dài thanh tú ngày xưa đã không còn thấy ở Saigon lớn, lại vẫn ung dung hãnh diện khoe khoang ở Saigon nhỏ, đặc biệt tôi tìm thấy được con người Saigon xưa với đặc trưng văn hóa Saigon và tôi có được từ họ, những nụ cười thân ái.

Làm sao nói hết được những gian khổ, nhục nhằn của người Việt Nam lưu lạc nơi xứ người từ 40 năm qua? Họ đã từ bỏ hết những gì có được trong tay để làm lại từ đầu bằng bất cứ công việc gì, vị trí nào để mưu sinh nuôi sống gia đình, gầy dựng cuộc sống mới. Biết bao mồ hôi nước mắt đã tuôn đổ cho 40 năm lưu vong? Hai ba giờ sáng phải trở dậy đáp xe buýt đến chỗ làm với đồng lương rẻ mạt, phải sinh hoạt trong những điều kiện eo hẹp, phải tiết kiệm từng đồng bạc kiếm được, và cũng không thiếu những ê chề, tủi nhục trong quãng đường dài nơi xứ người. Nhưng người Việt Nam với bản tính chịu khó, cần cù, chịu đựng gian khổ để gầy dựng tương lai cho thế hệ thứ hai.

Sau 40 năm ròng, lớp người thế hệ thứ nhất đã già rồi, một số người đã ngàn đời yên nghỉ, để lớp trẻ đầy đủ năng lực, trưởng thành vươn lên nơi quê hương thư hai này. Họ có mặt ở các ngành nghề với vai trò lãnh đạo và thật sự bước vào chính trường của Mỹ như Janet, Trí, Andrew… ở Little Saigon Nam Cali, như Nguyễn Xuân Hùng ở Texas hay Tâm Nguyễn ở San Jose… Công việc của họ hãy còn ở phía trước, trong đó có dự định đề nghị Thượng Viện Mỹ can thiệp cho người lính cũ VNCH, những thương phế binh sống vất vưởng ở quê nhà được định cư sang Mỹ, sang Uc để bù đắp phần nào thiệt thòi của họ. Chúng ta hãy cầu nguyện cho mộng ước này thành sự thật!

Người Saigon sống dễ dãi, chan hòa tình cảm với mọi người, với bà con hàng xóm láng giềng, với đồng hương đồng khói. Người viết cứ tự hỏi mình hoài: Ở Cali có nhiều hội đoàn, như Hội Nhớ Huế, Quảng Nam-Đà Nẵng, Bạc Liêu, Gò Công… mà sao không có Hội Saigon? Có thể Saigon là điểm hẹn, điểm đến của các miền đất nước chăng? Ở vùng New Jersey, có Saigon Plaza, có chợ Bến Thành… và cái Logo chợ Bến Thành dùng làm bảng hiệu cho khắp nơi có Saigon nhỏ, tức Little Saigon. Đây là niềm hãnh diện chung cho người Việt Nam, cho Saigon, cho người Saigon, cho nên 40 năm qua, tâm tình ấy vẫn đầy thương, đầy nhớ.

Bây giờ ở Little Saigon Nam Cali chắc đang có những lo toan hạnh phúc? Nào là chuẩn bị Hội Tết hàng năm, cuộc diễn hành ở phố Bolsa, cuộc thi nấu bánh chưng ở Phước Lộc Thọ, thi hoa hậu áo dài truyền thống… để đón mừng năm mới Ất Mùi 2015. Tết Việt Nam vẫn còn mãi trong lòng người Việt Nam, người Saigon!

Những chuẩn bị rậm rịch, rộn ràng của mọi người từ đầu tháng Chạp. Các bà mẹ sẽ lui cui nấu nướng sớm chiều cho ngày 30 Tết cúng rước ông bà, tổ tiên, chào đón Giao thừa. Ngoài chợ lao xao mua sắm đồ ăn thức uống, bánh trái rượu bia và nhất là hoa Tết. Trời ơi làm sao nói hết cái cảm giác vui sướng khi đi dạo chợ hoa tìm mua những cành mai đẹp nhất? Người bán người mua lao xao nói cười, chợ ngày không đủ ngày giờ, còn có chợ đêm nữa chứ! Về đêm Cali mát rượi, đi chợ đêm vừa đi vừa ăn bắp nướng thoa mỡ hành thì hạnh phúc biết bao?

Ngày Tết đến rồi, những chiếc áo dài được phơi phóng, ủi là cho thật phẳng phiu để đem ra chưng diện với mọi người. Áo gấm chữ thọ dành cho các ông, áo gấm đủ màu, đủ các loại hoa Mai lan cúc trúc dành cho các bà và các cô gái trẻ. Ai cũng mặc áo dài, từ trẻ nít cho đến cụ già, thậm chí các dân cử Mỹ lẫn Việt trên truyền hình chúc Tết đồng hương cũng diện áo dài. Áo dài được mùa. Người viết cảm thấy thật vui, thật gần gũi với họ. Ai cũng trang trọng chúc Tết nhau, nói cười thật vui như… Tết.

Người Việt Nam ở Little Saigon nói cười với nhau trong chợ, trên xe đò, ngoài bãi biển, trên xe buýt, trong buổi coi văn nghệ… dù họ chửa quen nhau, quen nhau đôi lần, gặp nhau đôi bận, họ cũng sẳn sàng chia xẻ tâm tình, mọi hoàn cảnh được phơi bày để hỏi ý kiến, thật hoàn toàn khác với những khuôn mặt “chằm vằm” của người Saigon ở Việt Nam.

Xin lỗi bạn đọc thật nhiều vì tôi cứ nhắc hoài những hình bóng ngày xưa. Quả thật quãng đường 40 năm của người Việt Nam với những kỷ niệm đã cũ, rất cũ, đã là của hôm qua. Và 40 năm lưu vong tị nạn nơi xứ người, cũng tưởng chừng như mới hôm qua. Thời gian như bóng câu qua cửa sổ. Rồi tất cả sẽ qua, sẽ qua, sẽ là của quá khứ rộn ràng trong lòng mỗi người dân Việt.

Dù thế giới hiện giờ chưa được bình an dù chưa hoàn toàn hạnh phúc, nhưng có lẽ nào ta lại hờ hững với mùa xuân đang từng bước đến gần? Ở miền Đông lạnh giá mù sương này, tôi chỉ ao ước có một nhày nào đó được hưởng sự nồng ấm tình người, tình đất ở Cali, để thấy mình trẻ lại trong ngày Tết truyền thống, với văn hóa Saigon qua tiếng pháo mừng Xuân.

Với đồng hương, bằng hữu, gia đình ở Little Saigon Nam Cali, tôi xin gởi đến quý vị những tình cảm tốt đẹp, lời chúc mừng trân trọng nhất trong ngày đầu năm Ất Mùi 2015 này. Và, với Saigon lớn của tôi ngày xưa, tôi xin chào em, Saigon 40, và chỉ xin em, tha thiết xin em, chỉ một nụ cười.

Song Lam

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 55

Sự Tích Hoa Mai Vàng

Sự Tích Hoa Mai Vàng

 

“Ngày xưa có một cô gái tên Mai con một người thợ săn vốn rất gan dạ và can đảm. Năm lên mười bốn, cô gái đã được cha rèn luyện trở thành một nữ hiệp sĩ vô cùng tài giỏi và tinh thông võ thuật. Lúc ấy có một con yêu tinh đến quấy phá một làng nọ, dân làng treo giải ai giết được yêu tinh sẽ được thưởng trọng hậu. Thế là hai cha con lên đường giết yêu tinh. Sau khi giết được yêu tinh trở về, danh tiếng của hai cha con vang dội và truyền rao khắp nơi.Vài năm sau người cha lâm bệnh nặng và sức khỏe ngày một yếu đi. Còn cô con gái thì đã bước qua tuổi mười tám, sức khỏe càng tăng lên gấp bội, võ thuật càng ngày càng tinh thông. Năm ấy yêu tinh rắn lại xuất hiện ở một vùng nọ và dân làng đến khẩn khoàn hai cha con đi giết yêu tinh. Trước khi con gái lên đường, người mẹ may cho cô một bộ đồ gấm màu vàng rất đẹp và cô gái hứa ngày trở về sẽ mặc bộ đồ vàng ấy cho mẹ nhìn thấy cô từ xa. Sau đó hai cha con trèo non lội suối tìm cho ra yêu tinh để tiêu diệt nó. Người cha vì sức yếu nên không phụ giúp được gì để cô con gái một mình chống chọi với yêu tinh. Nhưng cuối cùng cô gái cũng giết được nó. Nhưng rủi thay, trước khi chết, con yêu rắn đã vùng dậy dùng đuôi quấn và xiết chết cô gái. Cảm thương trước tấm lòng hiệp nghĩa của cô gái cũng như sự khóc lóc van nài của người mẹ tội nghiệp nên ông Táo trong nhà đã khẩn khoản xin Ngọc Hoàng cho cô gái được sống lại và trở về với gia đình trong chín ngày. Thế là từ đó, cô gái được trở về nhà trong hình hài nguyên vẹn với gia đình trong chín ngày (từ 28 tháng Chạp cho đến mồng 6 Tết thì biến mất). Về sau khi cha mẹ và người thân của cô gái mất hết, cô gái không trở về nhà nữa mà hóa thành một cây hoa mọc bên ngôi miếu mà người dân đã lập nên để cúng bái cô. Thấy cây hoa lạ mọc lên bên miếu và cứ trổ hoa vàng suốt chín ngày Tết nên dân làng lấy tên cô gái đặt cho cây hoa ấy là cây hoa mai và chiết nhánh mang về trồng khắp nơi để trừ tà đuổi quỷ, mang lại may mắn cho gia đình mỗi độ xuân về, năm hết tết đến.

Tục chơi mai ngày tết lâu dần đã trở thành nét văn hóa đẹp của người Việt Nam. Ngày nay, hoa mai tươi thắm khắp nhà nhà vào dịp Tết, và sắc giấy đỏ điều với câu đối hoà hợp được trang trí trên những cành mai vào ngày Xuân trong không khí vui vẻ, trong sáng.

Hoa Mai giản dị và trong sáng. Nhìn Mai Vàng nở lại nhớ quê hương.

Dẫn từ nguồn Inter…

 

 

 

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 38

Lá Thư Tháng Ba

 

Lá ThưTháng Ba

Tháng Ba đã là cuối mùa Đông, thế mà vẫn còn sót lại một vài cơn bão tuyết. Trận cuối cùng đổ xuống nơi đây cũng gần 7”. Rồi bỗng dưng có một ngày nắng đẹp, nhiệt độ lên đến 60 F. Tưởng thời tiết đã ấm lại, báo hiệu cho ngày  đầu Xuân, đâu ngờ nhiệt độ lại rớt một cái ào xuống còn 40F.
Nửa khuya giật mình nghe gió rít từng cơn ngoài hiên, buồn áo não. Thời tiết vô thường, Thân vô thường, Tâm vô thường:
Nơi đây một cõi vô thường
Tâm còn vọng động, vấn vương làm gì?
Mưa tháng Ba không mưa dầm thúi đất. Mà cứ từng hạt, từng hạt rả rích, rót vào lòng người tha phương, nghe từng thấm đậm chua cay.
Ly hương đã nhiều năm , mà lòng vẫn không nguôi nhớ thương quê nhà, ngày cũ. Ký ức của một thời thơ ấu, không gì có thể thay thế được. Dù rằng ở nơi đây vật chất quá dư thừa. Nhưng, đôi khi ta vẫn thèm được đi chân trần. Cái cảm giác chân chạm trên nền đất ruộng quê nhà thật khó diễn tả, tim như cứ rung lên từng hồi.
Ôi quê nhà, quê người
Trời tháng Ba có lạ
Cho ta xin chút tình xa
Gởi lại quê nhà trong tiết tháng Ba
Chỉ là giữa tháng Ba, mà các nàng hoa Anh Đào đã náo nức. Những búp non nhu nhú căng tròn như em mười sáu, mười tám thật dễ thương, quyến rủ lòng người. Chỉ cần một vài ngày ấm, là các nàng bung ra ngay, mở ra liền, ứ đọng vì chờ quá lâu. Ông thời tiếc cũng chơi khâm, cứ ấm được một hôm, thì lạnh lại cả tuần, làm cho các nàng Anh Đào buồn tiu nghỉu..
IMG_5364
Hãy chờ nhé các nàng Anh Đào, sắp tháng Tư rồi, trời ấm các em tha hồ  mở ra, bung ra ….ha ha
Thương em chín mộng một thời
Thương em chín mộng một đời thương em…
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 42

Chiều

Chiều

                     Gió chiều một thoáng thu hương

                     Lá rơi nhè nhẹ người thương nhớ người

 

“Chiều buồn len lén qua song”

Không biết chiều bên kia có len lén qua song không? Nhưng buổi chiều nơi đây thật đẹp, thật yên tĩnh, đồi vắng rừng thông bạt ngàn, ngút mắt…

Sau một ngày học tập mệt mỏi, tôi thường ra đứng sau đồi, để được nhìn cảnh Đà Lạt về chiều. Bên kia là Đồi Cù với làn cỏ xanh mịn màng, mát dịu. Dưới chân là Hồ Xuân Hương lăn tăn  sóng gợn, xa xa chút nữa  từng mảng mây chiều nằm vắt ngang đỉnh núi, mù mù như một vùng biển lạnh. Cái lạnh của ĐàLạt làm cho lòng mình se lại , ngùi ngùi…

Từ trong cõi nào hình ảnh ,nụ cười của bạn bè còn sót lại đâu đây. Có người ngồi dạo đàn ở một góc hành lang, có người đứng bên khung cữa nhỏ, dõi mắt nhìn tận nẻo trời xa. Có người đi loanh quanh trong sân trường tìm nhặt những trái thông trong trời chiều gió lộng…

Dù không là văn nhân, không là thi sĩ, nhưng tất cả chúng ta đều gặp nhau ở một điểm: dừng lại trước vẻ đẹp của thiên nhiên. Thiên nhiên xoa dịu nỗi đau của loài người, nếu chúng ta biết tận hưởng và trân trọng nó.

Tất cả rồi cũng sẽ qua, tình cảm rồi cũng phai tàn, sách vở rồi cũng sẽ bị bỏ quên…nhưng kỷ niệm vẫn còn sống mãi.

Tôi còn nhớ một buổi sáng thể dục, chúng tôi có một ngày leo núi, đó là một ngày thú vị nhất! Tất cả đều phải vượt một quãng đường dài hơn 2 km đẻ leo núi. Ngọn núi nằm ở trước mặt, ai cũng mệt nhừ, mấy cô gái thì xĩu lên xĩu xuống, nhưng khi lên tới đỉnh rồi thì ai cũng hân hoan. Mây bay la đà trên đầu, gió thổi thật mạnh, càng lên cao càng lạnh.. Chúng tôi từ từ xuống núi và băng  ngang qua Đồi Cù để về trường, về đến nơi thì trời đã về  chiều. Cũng là một buổi chiều, buổi chiều mệt mỏi, nhưng thú vị

Đà Lạt về chiều thường hay có những trận mưa buồn và  sợ nhất là mưa rừng, vừa lạnh, vừa dai dẳng. Có lần chúng tôi đi lao động ở nông trường Phi Vàng, ngồi nhìn mưa bay bay trên đầu ngọn bắp, sao tự dưng thấy thê lương và hụt hẫng. Một lần tôi cùng cô bạn gái ngồi co ro trong một hốc núi mù mù nghe mưa rơi, tôi cũng yêu lạ lùng tiếng mưa buồn, cô đơn như cánh chim lạc loài. Bây giờ các bạn ấy đã xa rồi! Tôi không buồn nhưng cũng không vui, chỉ tình cờ nhắc lại kỷ niệm ngày xưa.  Nhớ thương hai tiếng” ngày xưa”.

Ngày nay không phải là không đẹp, nhưng chỉ có ngày xưa mới làm mình thương , mình tiếc nuối. Mong bạn bè lưu giữ những kỷ niêm nầy, để mỗi lần thấy buồn, ghé chân trong hồn, và hỏi” Bạn bè ngày xưa giờ họ ở đâu rồi nhỉ”

Và chừng ấy cả một khoảng thời xưa sẽ sống lại, từng cử chỉ nhỏ nhoi cũng tha thiết đợm tình.

Chiều nay tôi cũng lại ngồi một mình, thương người, thương thân phận….Nhìn những con én lẻ loi đậu trên mấy hàng dây điện, cô đơn đến tội nghiệp. Hết mùa xuân rồi chim Én biết về đâu?

Hết Xuân, lại đến Hè, hết Hè lại Đông, hết Đông lại Xuân. Mong rằng chúng ta còn gặp nhau lần nữa.Tình bạn mãi mãi vượt thời gian…

 

Sớm mai thức dậy ngoài song

Mây xanh, nắng ấm thấy lòng thảnh thơi

Xin cám ơn, cám ơn đời

Cho tôi những sáng tuyệt vời lắm thay
Bạch Tuyết

 

 

 

 

 

Ngậm Ngùi

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 50

Tất Cả Về Mẹ

 Tất Cả Về Mẹ

Ca dao Việt Nam có câu:

“Lên non mới biết non cao
Nuôi con mới biết công lao mẫu từ “

Những câu cao, bài hát, bài thơ ca tụng tình mẹ, bài nào cũng hay, cũng dễ thương với nhiều ý nghĩa nhưng riêng tôi rất tâm đắc với câu ca dao trên…Bởi mẹ tôi, bà mẹ chân quê, chất phác nơi miền thôn dã xa xôi xứ Đồng Dài của thôn Mỹ Hội, làng Mỹ Tài cát trắng, núi đồi trơ trọi, lá khô, cỏ cháy…Nhưng mẹ đã tần tảo lên non xuống cạn như thân cò lặn lội vất vả vì con…Mẹ không ngại gian khổ một nắng hai sương nuôi con khôn lớn, cho ăn học, dựng vợ gã chồng…

Mẹ nuôi con chín tháng cưu mang, ba năm bú mớm ai cũng biết như thế nhưng hoàn cảnh mẹ tôi khác biệt hơn cả…Hai chân mẹ bị đau từ thuở nhỏ khi gánh lúa xa về bị mắc mưa…Lúc đó có cả cậu nhưng hai cậu tôi xuống ao tắm, mẹ vì mệt quá nên ngồi dựa vào hòn đá nghỉ không biết rằng hơi độc do mưa mới bốc lên làm mẹ lãnh đủ . Cũng từ đó, chân mẹ tôi bị đau nhức suốt rồi dần dần sưng to…Thêm vào đó, vì thời bấy giờ phương tiện đi lại không dễ dàng nên việc chữa trị khó khăn, thuốc men lại hiếm nên mẹ chỉ dùng các loại lá sơ sài chữa tạm dẫn đến một thời gian thì chân mẹ bị co rút lại thành tật…Vậy mà mẹ đâu màng gian khổ, quyết một lòng dạy dỗ nuôi con thành người .

Ngày thường mẹ thả bò lên núi cho ăn, lại tranh thủ cắt đôi bồ mạ đầy lá về ủ làm phân tưới gieo trồng. Nhà đông, trời giá buốt, mẹ phải xuống đồng cấy lúa , quần thì xăn tận gối, người chỉ mặc chiếc áo tơi bằng lá dừa cũ kỹ…Mẹ về đến nhà thì người đã lạnh run cầm cập nhưng nhìn mẹ lúc đó, con ngơ ngác chẳng hiểu gì cũng chẳng thể cảm nhận được sự khổ nhọc…Bây giờ nhớ lại thương mẹ làm sao vậy mà hồi đó chẳng biết làm gì? Cũng bởi các con còn quá nhỏ dại thơ ngây nên khi đi làm mẹ không yên tâm mới để các con ngồi trong cái nong ngoài hiên nhà, chị em lúc đó cũng ngoan cứ ngồi yên trong đó chẳng đi đâu. Thỉnh thoảng có hôm mợ Thãi đi chợ về thấy bẻ cho miếng bánh tráng nướng, hai chị em mon men cầm bánh chia nhau ăn chẳng giành giựt hay đánh nhau để mẹ thêm lo.
Việc mẹ đã vất vả, cái ăn cái mặc còn kham khổ hơn nào đâu như người cơm trắng cá tươi. Nhà mình nghèo, cơm độn ba phần mì, bốn phần khoai. Khi ăn, mẹ xới hết khoai vào bát mình, dành phần cơm cho con. Những năm mất mùa không có khoai mà độn phải độn bằng xác mì …Thời gian trôi qua, cuộc sống cứ như thế, mẹ cứ hy sinh tất cả, chăm con từ miếng ăn, giấc ngủ, con cái cũng lớn dần…Nhưng cuộc sống vẫn thiếu thốn…Có lần, con mẹ quá thèm đường mía nên leo lên cột với tay qua giấy bóc mía đường ăn vụng chẳng may trượt tay té móc vào khuy cửa rách bụng máu chảy rất nhiều. Mẹ hốt hoảng, chị thì khóc ầm inh ỏi, cậu Thãi nghe la vội chạy qua, thấy thế cậu lấy băng bông lau sạch vết thương rồi băng lại cẩn thận cho cháu…Tuy thế vẫn không tránh khỏi đêm đêm con bị lên cơn sốt, mẹ thức trắng, luôn thăm dò sờ tay lên trán, lấy khăn ướt chườm mong con qua cơn sốt và khỏe mạnh lại…Nhìn con nằm mê man, trán lấm tấm mồi hôi mà mắt mẹ ướt đẫm, gương mặt nhợt nhạt vì lo lắng, vì thiếu ăn, thức đêm, bàn tay gầy run run xoa lưng, vỗ về cho con dễ ngủ…Nhớ lại con thấy sung sướng quá, cảm giác ấy đến giờ vẫn còn lâng lâng…

Rồi từng đêm con ngủ, mẹ lấy chăn ấp ủ cho con…Những khi mưa đến, mái dột lá bay, mưa ướt chiếu thì ” bên ráo con nằm, bên ướt mẹ lăn “…Đúng là: “Nước biển mênh mông không đong đầy tình mẹ”. Mẹ là biển cả, mẹ là nải chuối, là buồng cau, là ánh sáng đêm thâu…Mẹ! Mẹ ơi! Tiếng mẹ yêu thương luôn ngọt bờ môi. Con gọi mẹ và reo mừng khi mẹ đi xa về…Nhìn mẹ tất bật từ việc đồng áng đến việc nhà nào lúc nào cũng luôn tay nhưng không bao giờ bỏ bê con cái. Mẹ không nề hà “ăn đắng cay, bùi ngọt phần con” ( Kinh Vu Lan )…Chỉ có mẹ, chỉ có tình thương vô bờ bến mà không giấy bút nào có thể viết hết mới có thể làm tất cả vì con như thế.
” Trọn ba năm bú nương sữa mẹ
Thân gầy mòn nào nệ với con ” ( Kinh Báo đáp công ơn Cha Mẹ )
Đến tuổi ăn học, mẹ lại dạy bảo cho con vỡ lòng…Nuôi con đã khổ nhưng làm sao dạy con nên người càng khó hơn…Khi xưa Mạnh Mẫu dạy con phải ba lần dời nhà vì lần đầu, nhà ở gần chợ, thấy người ta mổ lợn bán buôn, ông Mạnh Tử bắt chước chơi trò buôn bán. Bà mẹ phải dời nhà, nhà bây giờ ở gần nghĩa trang, thế là ông Mạnh tử bắt chước khóc khóc than than. Bà mẹ lo lắng suy nghĩ sợ con hư hỏng mất. Cuối cùng bà dọn nhà đến gần trường học và từ đó Mạnh Tử luôn chăm lo học hành trở thành bậc hiền nhân là nhờ công ơn nuôi dạy to lớn của Mẹ.

Tuy mẹ tôi không được như Mạnh Mẫu nhưng mẹ cũng biết chọn nơi cho con mình ăn học…Thế là vì mong con cái sẽ có tương lai sáng sủa, tốt đẹp hơn, Mẹ rời quê này chấp nhận thương đau cùng các cậu, các em tìm nơi đất lành chim đậu cho con ăn học. May mắn tìm được nhà ở gần trường tiểu học, trung học, các con đã không phụ công lao mẹ mà gắng công học tập…Mẹ ở trên mảnh đất mới nhưng vẫn phải tần tảo, khó nhọc, thức khuya dậy sớm. Trưa hè trời nắng chói chang, mẹ với thân hình nhỏ bé cùng đôi quang gánh trên vai, gánh nước ngọt đi bán, mồ hôi pha lẫn nước mắt nhưng mẹ không một câu than vãn trước mặt các con…Để xứng đáng với sự hy sinh của mẹ, hàng tháng con đã đem lại cho mẹ những bản danh dự được phát dưới cột cờ thứ hai đầu tháng. Nhìn mẹ mỉm cười sung sướng quên đi mệt nhọc hàng ngày lòng con cũng rộn ràng.

Khi đi thi đệ thất, các em Ký, Chương có cậu Thãi, cậu Dư chở đi. Mẹ thương xót nhìn con của mẹ phải thui thủi một mình đón xe lam đi vì điều kiện nhà quá khó khăn, mẹ không có phương tiện đưa con đi như mọi người…Mẹ chỉ có thể ở nhà ráng làm nhiều việc, kiếm thêm chút ít để lo cho các con ăn học bằng mọi người. Thời gian con thi, lòng con thì hồi hộp không biết mình sẽ làm bài như nào. Mẹ ở nhà mỏi mắt ngóng trông, lòng nôn nao từng giờ từng phút mong chờ con ở cửa. Khi thấy bóng con từ xa, mẹ vui mừng nở nụ cười hiền hòa, ngọt ngào hỏi:
– Con làm bài có được không?
Nguyễn Khắc Hiếu – Tản Đà đã viết: ” Tan buổi học, mẹ ngồi tựa cửa
Mắt trông con đôi đứa về dần “
Giờ đây, con mẹ đã về, đã thi xong, đã đậu vào trường công tại thành phố. Hồi đó tỉnh nhà có hai trường công lập, một dành cho nữ sinh, một dành cho nam sinh. Con mẹ đã đậu, nếu chẳng may rớt mất với tỷ lệ thi 200/2000 thì tiền đâu mà học trường tư? Chẳng phải nỗi vất vả cực khổ của mẹ sẽ tăng gấp nhiều lần hơn sao? Và sẽ chẳng có kết quả như ngày nay…Cảm ơn mẹ…

Mẹ bôn ba, do không có vốn nên phải buôn cái nọ bán cái kia từng chút từng chút nào là gạo, thóc, hành, tiêu, ớt, tỏi,v.v…Khi gà gáy trong đêm, con mẹ còn cuộn mình trong chăn thì mẹ đã dậy đi bộ từ chợ nhỏ đến chợ lớn khoảng 6 – 7 km mua hàng về bán. Cách hai ngày mới có phiên chợ, cuộc sống thật là khó khăn đủ mọi thứ…

Và rồi con cái lớn dần, đã biết phụ mẹ. Khi thì chở hàng xuống tận khu nhất bán, lúc thì đẩy gạo bỏ cho lò bún, hôm thì ra chợ bán hành, tiêu, ớt, tỏi vậy mà có thấy mắc cỡ gì đâu mà mẹ cứ lo lắng, sợ con mình mệt nhọc rồi xấu hổ với mọi người…

Mẹ rất tuyệt vời, dù không được ăn học đến nơi đến chốn nhưng đạo nghĩa đối nhân xử thế mẹ đều hiểu rõ. Ngoài nuôi con ăn học, mẹ còn dạy con lối sống, cách cư xử với xóm làng, biết lễ nghĩa với người trên kẻ dưới, trong gia đình phải biết nhường nhịn nhau:
” Khôn ngoan đối đáp người ngoài
Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau “
Nhà có hai chị em không hơn thua mà phải biết thương yêu đùm bọc lẫn nhau. Không được tranh giành bất cứ thứ gì nhất là tiền bạc. Bấy giờ mà mẹ đã thấu hiểu rõ lời Phật dạy, tiền bạc là của năm nhà:
1. Vua quan ( sưu, thuế )
2. Nước ( mưa bão, lũ lụt )
3. Lửa ( cháy nhà, hỏa hoạn )
4. Trộm cắp
5. Con hư (có thể là chồng hoặc vợ hư)

Vì vậy sống không nên cố chấp, hơn thua vào tiền bạc, tài sản mà nên gắng sức làm việc lành, việc thiện…Vốn dĩ khi sanh ra đã không có gì và khi chết đi chỉ:
mang theo mình mảnh vải liệm
Còn lại chăng bia mộ khắc đôi hàng”
Tất cả rời bỏ hết, chồng vợ, nhà cửa, con cái chỉ có nghiệp lành hay nghiệp dữ mang theo
“Có đức mặc sức mà ăn” chứ có tài mà không có đức cũng vô dụng…
Bây giờ, các con của mẹ đã yên bề gia thất, đã có cháu nội, cháu ngoại, có chút “sương pha bạc mái đầu” nhưng
“Con dù lớn vẫn là con của mẹ
Đi hết đời lòng mẹ vẫn theo con “
Thế nên có câu, mẹ trăm tuổi vẫn lo cho con tám mươi tuổi, con cái có gia thất, cháu nội ngoại rồi nhưng mỗi lần về thăm chơi, mẹ vẫn với vẻ mặt đầy trìu mến nhìn con và hỏi:
– “Ăn cơm chưa? Lấy cơm ăn đi con”
Con nào về, cháu nào về bà cũng nhắc nhở, lo lắng, dặn dò nhiều điều…
Mẹ đã lo, lo đến nỗi quên đi tuổi thanh xuân của mình…Các con mẹ vô phước mất cha từ tấm bé khi em chưa lọt lòng, chị mới chập chững bước đi…Mẹ bấy giờ rất đẹp, rất xinh, tướng mẹ rất sang trọng, quý phái nhưng mẹ không quan tâm đến hạnh phúc riêng của bản thân mà chỉ biết rằng hạnh phúc quý nhất của mẹ chính là các con…Các con mẹ đã thật may mắn vì có trọn tình cảm của mẹ, mẹ vừa là mẹ vừa là cha, mẹ đã không để các con rơi vào cảnh:
“Trời mưa bong bóng phập phồng
Mẹ đi lấy chồng, con ở với ai”

Thế nên với công lao dưỡng dục trời biển của mẹ, chúng con thật lòng rất biết ơn tình cảm thiêng liêng đó. Chúng con nguyện sẽ mãi kính trọng, thương yêu mẹ, mong mẹ trường thọ, khỏe mạnh để ở bên, vui đùa cùng con cháu, để chúng con có hội phụng dưỡng, báo hiếu mẹ…Tóc mẹ bây giờ đã trắng hết, trắng như bà tiên trong truyện cổ tích, rất đẹp…Các cháu rất thích ngắm nhìn và vuốt tóc mềm mượt của bà…Bà mỉm cười âu yếm …

Nhìn gương mặt hằn bao nhiêu nếp nhăn, da dẻ lấm chấm đốm đồi mồi, miệng móm mém mới hiểu rõ nỗi vất vả, khó nhọc của mẹ suốt thời gian qua…Năm tháng trôi đi vô tình, nay mẹ đã gần chín mươi …Người mẹ ngày nào tay bồng tay bế, đi ngược về xuôi, chăm lo mọi thứ nay chỉ còn biết hàng ngày ngóng trông con cháu, mong những ngày sum họp rộn ràng, nghe tiếng cười nói của con cháu, ôn lại chuyện ngày xưa, thỉnh thoảng cũng hờn cũng dỗi…Nhưng trên tất cả, mẹ vẫn là mẹ kính yêu trong lòng chúng con…Chúng con biết rằng thương mẹ lắm và cũng biết rồi sẽ có ngày:
“Mẹ già như chuối chín cây
Gió lay mẹ rụng, con phải mồ côi”
Vì thế:
“Ai còn mẹ xin đừng làm mẹ khóc
Đừng để buồn lên mắt mẹ nghe không?”
Với chúng con mà nói, còn mẹ là còn tất cả, mất mẹ là mất hết rồi…Chồng, vợ mất có thể tìm người khác…Nhưng mẹ chỉ có một trên đời, mất mẹ rồi biết tìm mẹ nơi đâu? Ai có thể thay thế được mẹ?
Sư Nhất Hạnh cũng đã nhắc ta: ” Mẹ là một dòng suối, một kho tàng vô tận.Vậy mà lắm lúc ta không biết để lãng phí một cách oan uổng…Mẹ là một món quà lớn nhất mà cuộc đời ban tặng cho ta – những kẻ đã và đang có mẹ…Mẹ thương con nên con thương mẹ, con cần mẹ và mẹ cũng cần con…Mẹ không cần con thì đó không phải là mẹ con, đó là lạm dụng danh từ mẹ con”.

Nhờ lời Sư dạy và sự thấu hiểu tấm lòng mẫu từ, các con mẹ sẽ ghi nhớ lấy lòng và cảm ơn vì mẹ đã sinh ra con, ban cho con hình hài, dạy con trí tuệ, nên người…Cảm ơn mẹ trăm ngàn lần vì mẹ là Mẹ của con…Con kính chúc mẹ luôn dồi dào sức khỏe, trí óc minh mẫn, sống vui cùng con cháu để con cháu có thời gian báo hiếu mẹ nhiều hơn, hưởng ơn đức trời biển của mẹ…Và cũng xin kính chúc những ai đã và đang làm mẹ cũng đều được vui khỏe, an lạc như mẹ mình.

Diệu Minh Sang

 
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 38

Viễn Du

Viễn Du

Lúc 12h15, chuyến bay SQ173 (Singapore Airlines) bay từ phi trường Tân Sơn Nhất đến phi trường Changi (Singapore) là 1092km, thời gian bay là 1giờ 33phút sáng ngày 14/6/2014.

Chyến bay đầy thú vị với tiếp viên dễ thương. Máy bay chở trên 300 hành khách, bên trong máy bay được thiết kế rất tối tân, người ta trang bị cho mỗi ghế của hành khách có một tivi “mini” để theo dõi chi tiết chuyến bay. Qua đó, ta biết được máy bay bay đến đâu, chiều dài quãng đường, vận tốc, tọa độ, nhiệt độ…. Có lúc vận tốc bay 11.000m, lúc 8.000m. Tọa độ bay ngang qua vịnh Bengal chẳng hạn. Nhiệt độ có lúc -20oC. Nói chung bay đến đâu, qua màn hình đều thể hiện các chi tiết trên cho ta theo dõi. Từ trên máy bay nhìn xuống: Mây trời lồng lộng, nước biển mênh mông, nhà cửa chi chít.

Ngồi được 30phút, các cô (hàng) tiếp viên người Singapore cả Malaysia đều rất lịch sự, tiếp thức ăn tí tí “con mắt to hơn cái bụng”. Vậy mà ăn rất ngon, rất no với cơm chiên, mì xào, cá, thịt heo. Nước uống tùy khách lựa chọn: coffee, trà, beer, Coca-Cola, nước cam v.v… Vừa thưởng thức, vừa xem tivi thật là thích thú. Nhưng nhìn lại các cô, chú tiếp viên rất vất vả – chăm sóc hành khách tốt.

Suốt thời gian ngồi máy bay, bây giờ máy bay đã đáp cánh từ từ xuống phi trường. Sau khi nhận hành lý, làm thủ tục nhập cảnh, tại đây xe đã chờ sẵn và đón đoàn du lịch về khách sạn Hoàng Gia (Hotel Royal) với 16 tầng lầu, không rõ mấy trăm phòng. Chị em nhà Huệ – Sang, phân ở tầng 6. Khách sạn tọa lạc trên đường Newton. Lại một khách sạn 3* khang trang, lịch sự. Đất nước Singapore toàn là những tòa cao ốc. Nơi đây tập trung cơ quan hành chánh, phố tài chính …

Ăn tối xong, hai chị em dạo phố, Quang Nhật đi chơi với bạn. Xe cộ cũng nhiều nhưng đều chạy theo line, line nào theo line nấy. Người qua đường phải có tín hiệu cho đi, mới qua được… Chị em vào Siêu thị nhưng chẳng mua gì, vì quá đắt so với Việt Nam. Hầu như, giá cao gấp 3,4 lần; có món đến 5,6 lần. Nên chị em đành về ngủ chẳng mua sắm gì, giấc ngủ thật ngon có chăn êm, nệm ấm.

Sáng ngày 15/6/2014; đoàn ăn buffet ở khách sạn. Các món ăn do người Hoa nấu, ít hợp khẩu vị với người Việt. Tuy nhiên, ai cũng ăn hết suất, ăn nhiều nữa chứ.

Singapore tách ra từ Mã Lai năm 1965, trước kia là thuộc địa của Anh. Dân số 85% là người Hoa, còn lại là Mã Lai, Ấn Độ… với dân số gần 5,5 triệu người và diện tích là 716km2. Đất hẹp, người đông nên ở đây các hoạt động hàng ngày (đi lại, mua bán), người ta chủ yếu sinh hoạt dưới lòng đất, phương tiện đi lại phổ biến là xe bus và tàu điện ngầm. Thủ tướng có công với đất nước là Lý Quang Diệu, kế tiếp là con – Lý Hiển Long – đương kim Thủ tướng. Từ năm 1965 – 1973, đất nước được kiến thiết với nền văn minh tiến bộ. Nơi đây giao tiếp bằng tiếng Anh. Nhưng hành chánh văn phòng vẫn dùng chữ Malaysia.

Singapore là quốc đảo. Dân và mọi sinh hoạt ở dưới lòng đất, tàu điện ngầm đã làm cho hoạt động dưới lòng đất trở nên huyên náo, nhộn nhịp. Còn trên mặt đất là cơ quan hành chánh Nhà nước với rất nhiều ngân hàng tập trung tại đây (Trung tâm tài chính). Nếp sống rất cao: một lon coca-cola từ tiền đô la Singapore quy ra tiền Việt tương đương 80.000đ. Một căn hộ 60m2 tương đương 3,5 tỷ VNĐ, mà không phải ai cũng mua được, điều kiện mua phải có vợ hoặc có chồng – Đó là lời của hướng dẫn viên trên đường đưa đoàn đến Công viên Sư tử biển (Merlion Park). Sư tử là biểu tượng phồn vinh của đất nước Singapore được khánh thành vào ngày 15/9/1972. Ở đây, đoàn du lịch chụp hình rất nhiều. Tham quan chừng 30phút, xe chở đoàn diễu hành ba vòng (Phúc, Lộc, Thọ), tham quan năm Tòa Thị Chính (one, two, three, four, five), Tòa Nhà Quốc Hội. Tòa nào, tòa nấy cao quá cao chừng mấy mươi tầng với lối kiến trúc hiện đại.

Đất nước văn minh, hiện đại với nhà hát nổi trên Vịnh (Esplanade Theater) có kiến trúc hình quả Sầu Riêng độc đáo; Đài phun nước Wealth, Suntec city. Đến 11h tham quan kết thúc, dùng cơm trưa: ăn buffet do người Nhật chế biến (tự mình phục vụ). Đến 14h, xe đưa đoàn vào thăm Khu phức hợp giải trí Sentosa. Có nhiều công trình rất quy mô không bút mực nào viết lại cho xiết. Việc đi lên, đi xuống chỉ sử dụng toàn cầu thang cuốn. Đến Bảo Tàng Sáp, chúng ta được xem các hình tượng được tạc rất đẹp: Người phu kéo xe; Người Ấn làm thuê cho người Hoa; Thầy đồ; Kẻ buôn bán v.v… Nhìn thoáng qua, y như người thật, có hình tượng khiến người ta giật nẩy người, cứ tưởng như mình đang đối diện với con người của những năm trước. Tiếp theo là hành trình tham quan Tháp Sư tử biển. Tháp cao 39m , trong tháp có thang máy đưa đến tầng 10, đó là đầu con sư tử biển, có người ra tận miệng của nó nữa. Đứng ở đây, chúng ta có thể chiêm ngưỡng TP Singapore xinh đẹp, dễ yêu. Đi xuống, xuống nữa hai lần thang cuốn mới vào xem phim chương trình Santosa 4D Adventureland.

Buổi tối, dùng bữa xong, Q.Nhật dẫn cô và mẹ đi tàu điện ngầm. Xuống dưới lòng đất, mới thấy người người rất nhiều, đi lại tấp nập; vốn dĩ trên mặt đất không thấy người đi lại nhiều như vậy. Ở đây, có cả chợ búa, siêu thị. Tuy ở dưới lòng đất, nhưng chúng tôi cứ ngỡ như ở trên mặt đất vì hệ thống kiến trúc rất quy mô, không tạo một chút cảm giác gì ngột ngạt, tối tăm. Quá đủ không gian rộng thoáng cho hàng ngàn, hàng chục ngàn người sinh hoạt dưới lòng đất (theo số liệu khảo sát: việc sử dụng phương tiện tàu điện ngầm có hơn 2 triệu lượt người mỗi ngày). Đi tàu điện ngầm, muốn mua vé bỏ tiền vào máy, tự động máy sẽ cho ra vé, tiền dư máy sẽ thối lại. Muốn vào ga để đi tàu điện ngầm, phải sử dụng vé để quẹt. Cứ mỗi ga, tàu sẽ dừng khoảng 3phút để hành khách lên, xuống. Cứ thế mọi người lên, xuống mỗi ngày tấp nập với tàu điện ngầm.

Đến ngày thứ ba ngày 16/6/2014, 7h30 chuông ở khách sạn báo thức. Tám giờ đi ăn sáng, cũng ăn buffet. Buổi sáng ăn cũng có tráng miệng dưa hấu, cam, dưa gan. Ôi cha! no quá sá là no. “Cơm no, rượu say” lại đi chơi tiếp đây. Chương trình là khám phá River Safari. Đến River Safari, ta gặp hơn 5.000 động vật trên cạn và dưới nước đại diện cho hơn 300 loài. Nơi đây, người ta thu nhỏ lại 8 con sông từ Mississippi hùng vĩ cho đến sông Dương tử tráng lệ, gặp những loài động vật thủy sinh và cá khổng lồ như rái cá, kỳ nhông và loài cá trê sông Mê Kông khổng lồ cực kỳ quý hiếm. Dạo qua phòng trưng bày nước ngọt và bước vào triển lãm để tìm hiểu về đời sống hoang dã độc đáo ở môi trường sông nước. Tiếp tục cuộc khám phá, mình gặp hai chú gấu trúc khổng lồ Kai Kai và Jia Jia tại rừng “Gấu trúc” xanh mượt – nơi triển lãm gấu trúc lớn nhất ở Đông Nam Á. Gấu trúc đang nằm ăn lá trúc và đưa 4 chân lên trời. Dừng lại chụp hình. Kế đến là chiêm ngưỡng hồ nước ngọt lớn nhất thế giới tại rừng ngập nước Amazon, khu rừng nhiệt đới quanh năm ngập nước với hơn 18 loài động vật vĩ đại như lợn biển (manatee) và cá hải tượng (arapaima). Đoàn du lịch của mình hôm nay lại gặp các cháu học sinh mẫu giáo người bản xứ. Chúng rất dễ thương, quần áo đồng phục, tóc đánh bím gọn gàng. Mình cùng em Huệ xin chụp hình chung với chúng và các cô giáo. Tự nhiên mình nhớ đến học sinh cũ của mình, chúng cũng ngây thơ, cũng hồn nhiên. Ôi! Cả một thiên đường tuổi thơ. Đoàn tham quan đi mãi, xa hơn thì gặp Khỉ sóc, chúng nhỏ như con sóc. Mình đưa tay ra bắt, chú khỉ cũng đưa tay ra bắt. Nhìn chúng nó chuyền từ cành này qua cành khác, thích thật.

Buổi trưa, ăn buffet ở nhà hàng người Nhật, nướng thịt. Chiều chị em lại đi tàu điện ngầm và đi bộ thật xa đến khu buôn bán của người Ấn (khu Mustafa).
Tối, về lại khách sạn, hai chị em đem quần áo ra thử và chụp hình tiếp. Cháu Q.Nhật đi chơi với bạn.

Sáng 17/6/2014, ăn sáng, dọn dẹp trả phòng. Mười giờ, đoàn cho đi tham quan Gardens by the bay “Vườn cây năng lượng” trên Vịnh Marina vừa khánh thành ngày 28/6/2012. Đây là kỳ quan mới của đất nước Singapore với hàng nghìn loại thực vật quy tụ từ khắp nơi trên thế giới. Đến với Gardens by the bay, chúng ta được ngắm toàn cảnh Singapore xinh đẹp trên độ cao 25-30m tại OCBC sky way – đường nối vào tham quan Vườn cây năng lượng. Cung đường dài 128m, đưa chúng ta đến không gian xanh, sạch, đẹp, lôi cuốn và hấp dẫn. Chúng ta được ngắm toàn Khu phố tài chính (City bank) và chụp nhiều hình lưu niệm, lại còn chụp được Cảng của Singapore là cảng bận rộn nhất trên thế giới về mặt trọng lượng và tàu hàng xử lý, cảng cũng trung chuyển 1/5 lượng hàng vận chuyển bằng container trên thế giới. Cảng ở Singapore là một trong hai cảng lớn nhất Đông Nam Á, sau nó là Hồng Kông.
Tham quan xong, chúng tôi ăn cơm ở nhà hàng Hàn Quốc với thịt nướng, lẫu thật ngon. Mười bốn giờ ra sân bay. Tiếp tục làm thủ tục xuất cảnh Singapore và đáp chuyến bay SQ186 lúc 17h40, về đến TP.HCM lúc 18h45. Đoàn xe của Hoàn Mỹ trả khách về XN Thành Mỹ.

Em Huệ làm việc ở XN Thành Mỹ, hàng năm Xí nghiệp tổ chức đi du lịch. Nhờ vậy, nên em rủ chị “ăn theo”. Có như vậy, chị cũng biết mấy nước rồi. Chị em sống chung với nhau từ tấm bé, rất hiểu nhau quý nhau. Có gì chị em cũng tâm sự với nhau. Con gái họ Võ có những nỗi niềm tâm sự gần giống nhau. Nên đi đâu chị em cũng có nhau. Em là con cậu Dư, chị là con cô Chín. Cậu Dư đã đi xa, Cô Chín bây giờ cũng yếu lắm, 88 tuổi rồi.

Viễn du một chuyến Sigapore.
Tầm nhìn chị em được mở to.
Cảng biển, giao thông… đáng tự hào.
Xứng Rồng Châu Á của năm nào

Minh Sang

 
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 41