Chữ quốc ngữ: từ kể chuyện đến văn chương

Tình hình nước ta từ cuối đời Thiệu Trị (1841-1847) sang đời Tự Đức (1847-1883) diễn ra lắm nỗi bi ai. Nhìn chung, đất nước quá lạc hậu về nhiều mặt so với nhiều nơi khác trong vùng Đông Nam Á như Tân gia ba, Vọng các, Nam dương, Hương cảngTonQuynhVinh_w_500Một kẻ sĩ của thế kỷ XIX là Cao Bá Quát, vào 1843, khi tháp tùng phái bộ sang Tân gia ba được chứng kiến văn minh tiến bộ xứ người, đã nhận ra cái học “tầm chương trích cú” của thế hệ mình, chủ trương “bế quan tỏa cảng” của triều đình nhà Nguyễn đã giam giữ dân tộc trong vòng chậm tiến:

 Tân gia từ vượt con tàu,

Mới hay vũ trụ một bầu bao la.

Giật mình khi ở xó nhà

Văn chương chữ nghĩa khéo là trò chơi

Không đi khắp bốn phương trời

Vùi đầu án sách uổng đời làm trai

(bản dịch của Trúc Khê)

Tình trạng hủ bại ở Việt Nam kéo dài suốt hậu bán thế kỷ XIX dẫn tới đất nước rơi vào tay thực dân: sáu tỉnh miền Nam (từ 1862 tới 1867), hai lần Hà nội thất thủ (1873-1882) và cuối cùng là thỏa ước Patenotre ra đời, đất nước rơi vào vòng ngoại thuộc.

Đất nước từ đó chia làm ba khu vực chính trị. Miền nam là thuộc địa, miền Bắc theo chế độ bảo hộ và miền Trung còn chút ảnh hưởng của triều đình Huế nên tạm gọi là tự trị. Sự phân chia này dẫn tới tình trạng xã hội ở các miền bày ra sắc thái đối nghịch. Miền Nam sớm tiếp xúc với văn minh Âu Tây nên tiến bộ hơn miền Trung và miền Bắc.

Trong khi phía bắc đất nước còn ở trong vòng “bát cổ văn chương túy mộng trung” (tám vế văn chương giấc mộng nồng -Thơ Phan Chu Trinh) thì miền Nam đã phát sinh phong trào báo chí đề cao cải cách văn học qua việc phát triển chữ quốc ngữ.

Lịch sử ghi lại, miền Trung và miền Bắc cho tới 1915 mới bãi bỏ thi hương và 1918 là khoa thi hội cuối. Chữ quốc ngữ chỉ được đưa vào kỳ thi hương từ 1897 và chỉ buộc sĩ tử biết đánh vần, ghép chữ sau bốn kỳ quy định mà thôi như nhà thơ Trần Tế Xương (1870-1907) biếm họa:

Bốn kỳ trọn vẹn thêm kỳ nữa,

Á, ớ, u, ơ ngọn bút chì.

Nhà Nho thời ấy ở cái nôi văn học Bắc hà chỉ sáng tác văn chương bằng chữ Hán và chữ Nôm và coi chữ Quốc ngữ như một văn tự xa lạ, ngoại nhập do kẻ thù mang lại. Vì thế có lúc nhà thơ non Côi sông Vị đã mỉa mai:

Hán tự chẳng biết Hán

Tây tự chẳng biết Tây

Quốc ngữ cũng tịt mít

Thôi đi về đi cày!

Ngược lại với miền Bắc, cũng khi ấy Lục tỉnh Nam kỳ đã có nhiều trí thức thức thời, biết được vai trò quan trọng của truyền thông trong việc xây dựng văn hóa mới. Những năm cuối của thế kỷ XIX sang đầu thế kỷ XX báo chí ở Nam Kỳ đã xuất hiện khá dồi dào, lôi cuốn được nhiều độc giả nhờ chữ quốc ngữ đã được sử dụng ở phạm vi rộng vượt dần khỏi nhu cầu cai trị và chữ Hán như: Gia định báo(1865), Phan yên báo (1868), Thông loại khóa trình (1888), Nam kỳ địa phận (1908), Nông cổ mín đàm(1901), Nhật báo tỉnh (1905) Lục tỉnh tân văn (1907)…

Báo chí không còn hoàn toàn là công báo như tờ Gia định mà có nhiều tờ do tư nhân chủ trương (có tờ do người Pháp như Paul Canavaggio đỡ đầu), và các cây viết có tinh thần dân tộc rõ rệt như Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Diệp Văn Cương, Trần Chánh Chiếu, Lê Hoằng Mưu, Nguyễn Chánh Sắt… xuất hiện. Tất cả ra công xây dựng cho nền tảng chữ quốc ngữ và văn học chữ quốc ngữ.

Để dấy lên phong trào học chữ quốc ngữ và dùng chữ quốc ngữ, đồng thời thực hiện nhiệt tâm xây dựng tiền đồ văn hóa, quảng bá học thuật mới, các cây viết tiền phong đã tìm cách thu hút sự ủng hộ của quần chúng. Bằng cách nào?

– Biên soạn tự điển chữ quốc ngữ như Huỳnh Tịnh CủaTrương Vĩnh Ký đã làm.

– Bảo tồn tác phẩm quốc âm và khai thác thuật kể chuyện và thể văn vần để lôi cuốn người đọc vốn ham đạo lý cổ truyền qua nhưng câu chuyện đời xưa, chuyện giải buồn và chuyện khôi hài.

– Chuyển truyện Tàu sang chữ quốc ngữ. Do đó, Huỳnh Tịnh Của viết Chuyện giải buồn, Quan âm diễn ca, Trần sanh diễn ca, Chiêu quân cống hồ truyện, Bạch viên tôn các truyện, Văn doanh diễn ca, Thoại khanh, Châu tuấn truyện, Tống tử vưu truyện. Còn Trương Vĩnh Ký dùng Thông loại khóa trình để giảng giải đạo lý, ghi truyện Nôm ra chữ Quốc ngữ như Truyện Kiều, Lục súc tranh công, Đại nam quốc sử diễn ca… để cung cấp cho độc giả bài học lịch sử và những áng văn chương mẫu mực, hoặc viếtChuyện đời xưa, Chuyện khôi hài, và du ký để giải trí và tài bồi khả năng thưởng thức văn học cho người đọc. Ông cũng còn viết sách văn phạm tiếng Việt đầu tiên (Abrégé de grammaire annamite -Tóm lược ngữ pháp An Nam, Cours de langue annamite -Bài giảng ngôn ngữ An Nam) để biến thứ văn tự mới thành một ngôn ngữ khoa học và dễ phổ quát.

Một học giả khác là Trương Minh Ký (1855-1900) cũng với mục đích truyền bá văn chương Âu Tây và gây hứng thú cho người học chữ quốc ngữ, đã dịch Fables de la Fontaine. Truyện Phansa diễn ra quốc ngữ (S.: Guilland et Martinon, 1884) và Riche et Pauvre. Phú bần truyện diễn ca (S.: Guilland et Martinon, 1885).

Riêng Nguyễn Chánh Sắt (1869-1947)đã dịch khá nhiều chuyện xưa ra chữ quốc ngữ như Tây Hớn (Hán), Đông Hớn, Chung Vô Diệm, Tam quốc chí, Ngũ hổ bình tây, Nhạc phi, Thập nhị quả phụ chinh tây, Càn Long du Giang nam, Anh hùng náo tam môn nhai, Tái sinh duyên

Dùng các loại văn vần, những bài giáo huấn tới các câu chuyện mua vui cho độc giả, hoặc đăng báo, in thành sách hoặc đăng trên các tờ quảng cáo cho các dược phòng, các nhà văn buổi đầu ở Nam Kỳđã dấy lên làn sóng học thứ tân văn tự và dần dần phát huy tinh thần sáng tạo và dùng chữ quốc ngữ để viết tiểu thuyết, làm thơ, viết nghị luận. Có thể tóm tắt bước phát triển của văn quốc ngữ như sau:

Trên báo chí ->Trong tác phẩm kể chyện cổ, dịch phẩm -> Trong tiểu thuyết, thi ca, nghị luận.

Cũng vì thế Thiếu sơn Lê sĩ Quý (1908-1978), một nhà phê bình văn học tiền chiến trong một bài diễn thuyết vào năm 1933 tại Sài gòn, đã có ý kiến xác đáng: “Ở các nước văn minh tiên tiến thì văn học đều có trước báo chí, mà ở nước ta thì chính lại nhờ báo chí xây dựng văn học.”

Tóm lại, lịch trình diễn biến của câu văn quốc ngữ rất tự nhiên theo nhịp tiến của chữ quốc ngữ, từ lối kể chuyện mộc mạc, ngắn gọn tiến dần sang ngôn ngữ chải chuốt, có vần có điệu. Tuy nhiên, lối văn khuôn khổ, ước lệ cổ kính lần lần bớt hoa dạng với tác phẩm của các nhóm nhà văn trong Đông dương tạp chíNam phong tạp chí.

Chúng ta thử đọc lại một chuyện kể trong tập Chuyện giải buồn của Huỳnh Tịnh Của để thấy câu văn quốc ngữ cách đây hơn một thế kỷ ra sao.

Cũng nên biết Chuyện giải buồn của Huỳnh Tịnh Của gồm 2 tập, 112 truyện (in năm 1880 và 1885).

Quân tử khả khi dĩ kỳ phương

Thầy Tử Sản là người nước Trịnh, cũng là môn đệ đức Phu Tử.

Ngày kia thầy Tử Sản phát tiền cho đầu bếp đi chợ. Tên đầu bếp đem tiền đi chợ, gặp chúng bạn rủ, đánh lú thua hết. Trở về tay không thì sợ thầy quở, nó bèn kiếm chước nói dối thầy mà rằng: “Bữa nay tôi ra chợ, tôi thấy họ bán một con cá lớn đại, mập núc mà tròn quay; tôi hỏi giá, họ nói có một quan tiền, chớ mọi lần họ bán cho tới hai ba quan. Tôi nghĩ không mấy khi gặp cá ngon bán rẻ, dốc lòng tìm miếng ngon cho thầy, tôi bèn mua trụm cả quan tiền. Tôi lấy dây xỏ mang con cá mà xách về, gần tới nửa đàng, chẳng dè nó cứng đờ không cục cựa, tôi sực nhớ lời người ta nói: “Cá lên khỏi nước cá khô”. May vừa đi ngang qua hồ, tôi lật đật đem bỏ con cá xuống nước, họa là nó lấy hơi nước mà sống lại chăng. Hồi tôi mới thả, nó nằm trơ, không máy động, vừa giập bã trầu, nó quay và ngáp gió, giây phút nó vùng một cái. Tôi vừa thò tay mà bắt lại, nó đã quạt đuôi lội đi mất. Ấy là tại tôi dại, xin thú thật cùng thầy”.

Thầy Tử Sản nghe nói bèn vỗ tay mà rằng: “Đắc kỳ sở tai! Đắc kỳ sở tai!” (Chỉ nghĩa là chim trời cá nước, được thế nó thay! Được thế nó thay!)

Thằng đầu bếp ra ngoài cười thầm, học cùng chúng bạn rằng: Ai gọi thầy Tử Sản là trí! Tiền chợ thầy đưa, tao thua hết, tao kiếm điều nói láo, mà thầy cũng tin ngay. Ai gọi thầy Tử Sản là trí!

Thầy Mạnh Tử giải rằng: quân tử khả khi dĩ lý chi sở hữu, nhi bất khả khi dĩ lý chi sở vô. Nghĩa là lấy việc có lý mà dối người quân tử cũng được; chí như việc không có lý thì chẳng lẽ dối đặng.

         Hoàng Yên Lưu

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 38