Ngày Xuân Nói Chuyện Kiều

Hoàng Yên Lưu

Những câu thơ viết bằng chữ Việt thời cổ tức chữ Nôm, trích trong truyện Kiều, tả cảnh hội Đạp thanh với những nét chấm phá về mùa xuân gợi nhớ tới bức tranh cổ Thanh minh thượng hà đồ của Trương Trạch Đoan nhưng lại có nét gần với cảnh sắc quê hương ta ở miền thượng du Bắc Việt nơi tác giả có nhiều năm bôn ba vào buổi Lê mạt-Nguyễn sơ:

Ngày xuân con én đưa thoi,
Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi.
Cỏ non xanh tận chân trời,
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.
Thanh minh trong tiết tháng ba,
Lễ là tảo mộ, hội là đạp Thanh.
Gần xa nô nức yến anh,
Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân.
Dập dìu tài tử, giai nhân,
Ngựa xe như nước áo quần như nêm.

Tác giả những vần hoa mỹ trên là nhà thơ Nguyễn Du, một thi nhân có cảm xúc tế nhị, tình cảm đậm đà, lại nửa đời lang bạt đất Bắc rồi về Trung sau khi mưu việc phù Lê không thành. Sang triều Gia Long, ông lại đi sứ Trung hoa… nếm trải nhiều bước đoạn trường, thưởng thức nhiều cảnh sắc thiên nhiên nên kiến thức càng phong phú, tình càng sâu, ý càng lắng đọng.
Nhờ có cơ hội tiếp xúc với thiên nhiên và con người, chứng kiến cuộc bể dâu trong vòng trên dưới ba chục năm trải ba triều đại (Lê mạt-Tây sơn-Nguyễn sơ) nên tác phẩm của ông khắc họa cả một xã hội, đủ hạng người, đủ tình đời. Do đó, trong Truyện Kiều có đủ thứ cảm xúc sinh động: vui, buồn, chán, ghét, gồm cả bi, hoan, ly, hợp… Nhờ thế, ngưởi đọc có thể tìm thấy hình bóng mình, cảnh ngộ và tâm nguyện của mình trong kiệt tác và khi rảnh rỗi hay lúc có tâm sự ta có thể vừa giải trí vừa tìm cố vấn nếu có Truyện Kiều trong tay.
Gần hai trăm năm lưu hành, không phải tác phẩm chỉ được giới trí thức hân thưởng mà người bình dân cũng dùng Kiều trong lúc cảm xúc dâng cao.
Nam thanh nữ tú ngày xưa ngẫu hứng ngâm Kiều, đố Kiều.
Muốn ngỏ ý kín đáo với người mình yêu, khi có dịp gặp gỡ chàng trai có thể mượn câu Kiều:

Tiện đây xin một đôi điều
Đài gương soi thấu dấu bèo cho chăng?
Muốn dặn dò khi từ biệt, chàng trai có thể nhắn nhủ bóng bẩy người yêu trọn đạo thủy chung:
Gìn vàng giữ ngọc cho hay
Cho đành lòng kẻ chân mây cuối trời.

Nhớ quê người ta ngâm Kiều:

Đoái trông muôn dặm tử phần,
Hồn quê theo ngọn mây Tần xa xa!

Nhớ mẹ, lữ khách mượn Kiều bày tỏ tấc lòng:

Tiếc người tựa cửa hôm mai
Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ?

Mọi người đều công nhận Truyện Kiều là một đại tác phẩm trong văn học của ta. Ngoài giá trị văn chương đã làm thỏa mãn biết bao nhà phê bình trong nước và ngoài nước, người tìm nó thưởng thức văn chương cũng nhiều mà kẻ ngâm nga lúc xúc cảnh sinh tính cũng không ít. Nó cũng là sách giáo khoa giúp người muốn viết văn, làm thơ. Học nó là bảo tồn tiếng Việt và như một học giả từng nói “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn.”

Mùa xuân nói về khía cạnh giải trí của Truyện Kiều thích hợp hơn cả. Giá trị “mua vui cũng được một vài trống canh” của Truyện Kiều đã được ca tụng từ lâu, ngay từ những thập niên đầu thế kỷ 19 khi tác phẩm xuất hiện cho tới ngày nay.

Đố Kiều
Lúc trai gái hội họp hoặc mượn câu Kiều để tỏ tình hoặc mượn Kiều để đố vui thăm dò đối tượng xem có phải người thanh lịch văn vẻ và hiểu biết hay không. Vì thế lối đố kiều rất được dân gian ưa chuộng. Cô gái có thể hỏi chàng trai, người tự hào là đã biết thưởng thức những vần thơ của Nguyễn Du:

Truyện Kiều anh học đã lầu
Đố anh kể được một câu năm người

Nếu là trai thanh, có thể đáp ngay gái lịch:
Này chồng, này mẹ, này cha
Này là em ruột, này là em dâu

Câu hỏi có thể oái oăm hơn:
Truyện Kiều anh đã thuộc nhiều
Đố anh kể được truyện Kiều nghìn năm

Chàng trai “hay chữ” tính toán rất nhanh, biết rằng trong Truyện Kiều có đúng mười lần chữ Trăm năm nên không ngần ngại khéo cắt xén thành 22 câu nối vần được với nhau, cộng lại đủ 1000 năm như sau :
“Trăm năm” trong cõi người ta
Thúy Kiều là chị em là Thúy Vân
Đã nguyền hai chữ đồng tâm
“Trăm năm” thề chẳng ôm cầm thuyền ai
Trót vì cầm đã bén dây
Chẳng “Trăm năm” cũng một ngày nước non
“Trăm năm” tính cuộc vuông tròn
Phải dò cho đến ngọn nguồn lạch sông
Tóc tơ căn vặn tấc lòng
“Trăm năm” tạc một chữ đồng mới hay
Ngẫm duyên kỳ ngộ xưa nay
Tiết “Trăm năm” nỡ một ngày bỏ đi
Chở che đùm bọc thiếu gì
“Trăm năm” danh tiết cũng vì đêm nay
Rằng “Trăm năm” cũng từ đây
Của tin gọi một chút này làm ghi
Người đâu gặp gỡ làm chi
“Trăm năm” biết có duyên gì hay không
Lỡ làng nước đục bụi trong
“Trăm năm” giữ một tấm lòng với ai
Một nhà phúc lộc gồm hai
Nghìn năm dằng dặc quan giai lần lần

Đố chữ, đố nghĩa, còn có lối “đố vui để chọc”. Có anh thư sinh tự hào thuộc làu Kiều từ câu đầu tới câu chót, gặp hai chị em cô gái tinh nghịch. Cô chị làm bộ ít học hỏi chàng rằng:
– Này anh ơi, anh học nhiều hiểu rộng… Cô Kiều của chúng ta, trong 15 năm luân lạc có lúc nào mang bầu hay không?
Thư sinh nghiêm mặt:
– Nói bậy, nàng Kiều dù bị đày đọa “thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần” nhưng Nguyễn Du chẳng bao giờ tả những chi tiết bất nhã đó trong một tác phẩm văn chương cao nhã!
Cô em cười thành tiếng rồi nói:
– Thế…Thế anh giảng giùm em câu này:

Thất kinh nàng chửa biết là làm sao

Cụ Tố Như đã nói rõ Kiều “thất kinh” và “chửa” nên hoảng hốt hỏi “biết là làm sao… bây giờ?” sao anh bảo cụ tránh né?  (Xem tiếp kỳ sau)

Hoàng Yên Lưu

 

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *