Nguyễn Hữu Tiến và Việc Bảo Tồn Văn Hóa Cổ

 

Trong nhóm Nam Phong, Đông châu Nguyễn Hữu Tiến được coi là cây viết uy tín và nhiệt tâm, bền lòng dùng ngòi bút bảo tồn tinh hoa văn học và văn hóa cũ trước trào lưu văn hóa Tây phương du nhập ào ạt vào đất nước ta những năm đầu thế kỷ XX.

Nguyễn Hữu Tiến sinh năm 1875 quán làng Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, tỉnh Hà đông, nay thuộc Hà nội, tạ thế 1941 tại quê hương.Ông thi hương đậu tú tài nhưng không theo hoạn lộ mà chuyển sang con đường báo chí và biên khảo.Khi Nam Phong ra đời, ông đã được mời cộng tác và đã hỗ trợ chủ bút Phạm Quỳnh, một cây bút tân học để tăng thêm giá trị cho một tờ báo chủ trương dung hòa Đông Tây.Gia nhập làng báo, Nguyễn Hữu Tiến đóng góp đều bài vở, vừa biên khảo vừa dịch thuật và sáng tác, cho tờ Nam Phong trong hơn 17 năm trời.
Điều hậu thế không bao giờ quên, Nguyễn Hữu Tiến đã dành trọn cuộc đời, nhiệt tình trong việc xây dựng chữ quốc ngữ và nền văn học chữ quốc ngữ, đồng thời bảo tồn tinh hoa văn hóa cũ xây dựng trên học thuyết Khổng Mạnh.Ông đã cùng Nguyễn Đôn Phục dịch hai bộ Luận ngữ và Mạnh Tử ra quốc âm. Ông đã dịch những tác phẩm liên quan đến văn hóa Trung hoa của những tác giả tân học như Trung quốc luân lý học sử, Văn học sử nước Tàu, Trung quốc phong tục sử.Đối với văn hóa và văn học nước nhà, Đông châu Nguyễn Hữu Tiến cũng dành nhiều trang báo để biên khảo và nghiên cứu.Năm 1915, ông đã xuất bản tập biên khảo nổi tiếng về nữ sĩ Hồ Xuân Hương với cái tên Giai nhân di mặc (Nét mực giai nhân để lại).Trong Giai nhân di mặc, Nguyễn Hữu Tiến giới thiệu gần như đầy đủ tác phẩm của “bà chúa thơ nôm” mà ông sưu tầm được và kể lại nhiều sự tích về nữ sĩ này. Tiếc thay, nhiều điều ông khẳng định về nhà thơ nữ tài danh này lại không dẫn nguồn tư liệu chuẩn mực nào, nên tác phẩm của ông chỉ được coi như một truyện ký hơn là một biên khảo có giá trị.Một tác phẩm quan trọng khác của Nguyễn Hữu Tiến là Cổ xúy nguyên âm (1917). Tác phẩm này gồm những bài giảng về các thể loại văn học cũ và tuyển tập thi ca cổ chọn lọc từ văn học cổ điển Việt Nam.Trên Nam Phong, ông giữ mục thi ca bình chú Nam âm thi ca khảo biện và giới thiệu nhiều thi nhân từ Ôn như hầu, Nguyễn Hữu Chỉnh tới Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến, và Dương Khuê.Trong Cổ xúy nguyên âm ông viết: “Văn chương là một bức gấm đại hồng, thêu dệt các giọng thanh âm trong một nước cho nên văn nên vẻ, mà lại là một bức tranh tả chân vẽ vời tính tình con người ta ra cho như thực như in”.Tác giả kỳ vọng: “May ra trong đám ca đàn thi xã các bậc thiếu niên sau này có thể nhân đó mà thêu dệt, mà vẽ vời làm cho văn chương tổ quốc ta có ngày thắm như gấm, tươi như hoa, mới là bức tranh truyền thần! Mới là bức thêu tuyệt diệu”.Quả như tấm lòng mong mỏi của bậc tiền bối, các nhà thơ lớp sau trong Phong trào thơ mới (1932-1945) đã xây dựng cho thi đàn Việt Nam một vườn thượng uyển đầy hoa thơm cỏ lạ với những tác phẩm “thắm như gấm, tươi như hoa” cho đến nay còn chinh phục bao nhiêu thế hệ sau.Năm 1927, cũng trên Nam Phong, Nguyễn Hữu Tiến dịch Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ và Lĩnh Nam dật sử, tác giả là một người Mán ở Đà Giang đã được Trần Nhật Duật (danh tướng đời Trần) dịch ra chữ Hán. Dịch phẩm này giúp ích các nhà nghiên cứu sử Việt giai đoạn bang giao giữa nước ta (thời Lý Nhân Tông) và nhà Tống (thời Tống Thần Tông) có thêm tài liệu quý.Nhận định về Nguyễn Hữu Tiến, đối với việc dịch thuật tác phẩm liên quan đến Trung quốc, nhà phê bình Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại đã viết những dòng chân xác sau đây:“Ông là một nhà văn cho chúng ta biết về học thuật tư tưởng nước Tàu nhiều hơn cả các nhà văn lớp cũ. Những bài khảo cứu biên tập và dịch thuật của ông đăng rất đều trong tạp chí Nam Phong đều là những bài về lịch sử, về phong tục, về văn minh và luân lý và tôn giáo, văn chương nước Tàu; ông lại nghiên cứu và dịch thuật rất công phu riêng về học thuyết Khổng Mạnh và các bực danh nho Trung hoa trong những tác phẩm Mạnh tử quốc văn giải thích, Lịch sử sự nghiệp Tư Mã Quang, Gương đức dục của Lương Khải Siêu…”
Trong Mục lục phân tích Nam Phong, học giả Nguyễn Khắc Xuyên cũng có cùng nhận xét vai trò quan trọng của Nguyễn Hữu Tiến: “Như các nhà khảo cứu văn học Việt Nam đã nhận xét về Đông châu, nếu với nền Pháp văn thịnh hành ở nước ta, người ta ít chú trọng tới những bài giới thiệu thái tây của Phạm Quỳnh, thì với nền Hán học suy vong, người ta càng cần đến những bài dịch thuật và khảo cứu về học thuật và tư tưởng nước Tàu. Phải chăng đó là khía cạnh có thể trường tồn được của Nguyễn Hữu Tiến?”Nguyễn Hữu Tiến trong vai nhà báo, tỏ ra quan tâm tới những gì nóng bỏng xảy ra quanh mình. Ông từng viết trên Nam Phong đề cập tới thắc mắc chung của độc giả về văn học và xã hội như những bài: Thơ mới và thơ cũ (NP số 193), Một đạo luật bảo vệ tầm tơ (NP số 200), Tình trạng sinh hoạt dân quê hiện nay (NP số 209).Có điều ít người để ý là Nguyễn Hữu Tiến là nhà nho có khuynh hướng nghệ sĩ. Ông là tác giả một vở tuồng ca tụng tình yêu lý tưởng xây dựng trên luân lý cũ. Đó là bộ Đông A Song Phụng (1916). Hai chữ “Đông” “A” ghép lại là chữ “Trần”, trong vở tuồng này tác giả kể lại hai cuộc tình dưới thời nhà Trần (vì thế mới có tên là song phụng):Câu chuyện xoay quanh một sự kiện dã sử ghi lại: Hưng đạo vương gả con gái nuôi là Nguyên quận chúa cho danh tướng Phạm Ngũ Lão và đưa Trinh quận chúa vào cung để vua Trần Nhân Tông lập làm hoàng hậu (tức là Khâm từ hoàng hậu).Vở tuồng cổ chia làm hai đoạn sáu cảnh, nhưng đã vượt ra được cái hình thức quá cũ, quá gò bó của sân khấu xưa nên lời lẽ sáng sủa và bóng bảy hơn những vở trước đó.Học giả Phan Kế Bính trên Đông dương tạp chí số 96, đã xem diễn tuồng này và nhận xét: “Tuy trong các câu ngâm, câu vãn còn có nhiều câu chưa hợp điệu, làm con hát khi cất tiếng khó bắt giọng. Nhưng cái mục đích cốt yếu nhất của tác giả là diễn một đoạn tình duyên của Phạm Ngũ Lão và Nguyên quận chúa (con Trần Hưng Đạo). Diễn sự tích đó tất phải truy nguyên đến Hưng đạo vương và phải đem Trần triều chư tướng vào bàng thấn, mà rút đến thành thân là hết chuyện”.Khi Nam Phong đóng cửa, không phải Nguyễn Tiến Lãng (1909-1979) (thay Phạm Quỳnh làm chủ bút Nam Phong. Ông Lãng sau này làm con rể PQ) viết lời từ biệt độc giả mà chính Nguyễn Hữu Tiến làm việc này. Ông viết nhiều hàng cảm động, và sau đây trích một số dòng cuối cùng của bài NP cáo biệt:“Mười tám năm…thực đã hiến cho văn đàn người Nam một cái sự nghiệp thật khai mạc đáng ghi nhớ, là cái sự nghiệp làm tăng tiến cho tiếng mẹ đẻ. Sự nghiệp Nam Phong cống hiến cho quốc dân trong mười tám năm trời, nay tóm lại không ngoài hai cái tính cách: một là bắt đầu làm cho tăng tiến trình độ tiếng Nam, hai là duy trì chủ nghĩa quốc gia cho dân tộc.Nay đến lúc chia tay, cái hôn vĩnh biệt nồng nàn, Nam Phong xin chỉ vào tập sách 210 số có tên bản chí mà dặn cùng các bạn yêu văn, bạn học và bạn tri âm một lời rằng:
Bàn văn luận đạo bấy nay
Bạn cùng tri kỷ còn đây là tình.”
(Tổng thuật sự nghiệp Nam Phong -NP số 210, 16-12-1934)Tổng luận về vai trò Nguyễn Hữu Tiến trong văn học đầu thế kỷ XX, không ý kiến nào có giá trị bằng những dòng sau đây của Vũ Ngọc Phan viết cách đây gần một thế kỷ trong Nhà văn hiện đại vào một năm cuối của thập niên 1930 sang đầu thập niên 1940:“Những bài biên tập và dịch thuật của Nguyễn Hữu Tiến thật rất nhiều và rất công phu; nếu những bài ấy thu góp lại, sẽ là những bộ sách giáo khoa có giá trị về văn minh học thuật Đông phương. Trong lúc Hán học tàn cục này, những sách của ông lại càng quý lắm, vì chỉ trong vài mươi năm nữa là không có người làm nổi được những việc ông đã làm.Không nói đến những người bình thường, một nhà văn Việt Nam nếu muốn cho những văn phẩm của mình có những điều đặc biệt của Đông phương thì không thể nào không biết đến học thuật tư tưởng Tàu được. Những học thuật tư tưởng ấy đã làm nền móng cho cái học cũ của ta hàng mấy nghìn năm nay, tuy ngày nay chúng ta đã theo đòi học mới, nhưng ảnh hưởng cũ chưa chắc đã tiêu tan được, vì nó đã ăn sâu vào phong tục tập quán của chúng ta, làm cho chúng ta không còn phân biệt là của mình hay của người khác nữa.Những học thuyết tư tưởng cùng lịch sử nước Tàu, về đường văn học và chính trị mà Nguyễn Hữu Tiến đã biên dịch chính là những điều rất quý để người tân học hiểu biết cái học căn bản của nước ta, cái học mà người Đông phương không thể nào sao lãng được”. 
Hoàng Yên Lưu
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 61

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

KHUÔN MẶT VĂN NGHỆ MỚI