Phật Và Phân

Phật Và Phân

Tô Đông Pha và Phật Ấn thiền sư là hai người bạn. Một hôm Tô Đông Pha hỏi Phật Ấn thiền sư:

Đại Sư à! Ngài nhìn tôi ngồi ở đây giống cái gì?
Phật Ấn trả lời:
Xem ra giống một vị Phật.
Tô Đông Pha nói:
Nhưng ngược lại tôi nhìn thấy ngài ngồi giống một đống phân.
Phật Ấn cười nói:
Ũa vậy à!
 Tô Đông Pha:
Ha ha ngài tôn tôi là Phật, tôi nói ngài là đống phân mà ngài không giận sao?
Phật Ấn:
Tôi phải nên vui mừng mới đúng, vì sao mà nổi giận được. Bỡi vì Tâm mình là Phật thì thấy ai cũng là Phật. Còn Tâm mình là phân thì thấy ai cũng giống phân ha ha…
Thế giới đi theo cặp mắt của mỗi người mà hiện ra. Người như thế nào thì sẽ thấy thế giới như thế ấy. Tâm như thế nào sẽ sanh ra kết luận như vậy.

Hồ Ly Và Bồ Đào Viên

 

Một con Hồ Ly nhìn thấy trong vườn nho Bồ Đào kết nhiều trái.

Hồ Ly cười nói: Ha ha vào đó chén một bữa no nê. Nhưng mà nó mập quá không chui lọt hàng rào. Do đó nó nhịn 3 ngày, 3 đêm không ăn uống để thân thể nhỏ ốm chui vào vườn đào.

Sau đó nó nói:

Ồ! cuối cùng ta cũng chui vào được rồi. Trời ơi ngon quá, cực kỳ ngon ha ha, mình ăn cho đã đời rồi mới  chui ra.

 Thế là Hồ Ly chén đã đời nên chui ra không lọt. Chàng Hồ Ly phải nhịn đói lại 3 ngày, 3 đêm mới chui ra được.

Ngẫm việc đời, con người lúc đến trần trụi, lúc ra đi cũng trụi trần. Cứ mãi quẩn quanh, quanh quẩn, rồi cuối cùng cũng phải Buông bỏ rồi đi…. Sống là một nghệ thuật, tự mình làm an lạc chính mình…

 

 

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 50

Khuynh hướng quốc gia của Phạm Quỳnh trong du ký

 

Khuynh hướng quốc gia của Phạm Quỳnh trong du ký

Hoàng Yên Lưu

Phạm Quỳnh ở tuổi chưa đầy ba mươi (sinh 1892) bộc lộ tinh thần quốc gia rõ rệt. Những hoạt động trong giai đoạn từ 1917 tới khi vào Huế làm quan (1932), từ viết báo, diễn thuyết, viết du ký đều chứng tỏ ông rất nhiệt tình thực hiện mộng tưởng của một trí thức ôm ấp hoài bão quốc gia rất cao. Đọc Một tháng ở Nam Kỳ, một thiên du ký ông viết vào năm 1919, có thể thấy rõ điều này.phamquynh013013-188x300
Khi vào Nam, trong một tháng Phạm Quỳnh không những chú ý tới cảnh sắc Lục tỉnh và con người của sông Tiền, sông Hậu mà còn để tâm quan sát tinh vi tới sinh hoạt văn học chữ quốc ngữ thể hiện bằng báo chí và cả tình trạng kinh tế của mảnh đất phồn vinh này. Nhiều lần ông nhắc tới cái họa China và họa Chà và mong mỏi có biện pháp sớm chấm dứt hiểm họa cho đất nước ta vì bị các thế lực kinh tế này lũng đoạn. Ông từng viết:
“Cái ‘China họa’ (le péril chinois) ở xứ Bắc mình tuy đã thâm lắm mà tỉ với Nam Kỳ còn chưa thấm vào đâu: Hải Phòng tức là Chợ Lớn Bắc Kỳ có 8.991 người Khách, mà Chợ Lớn Nam Kỳ có những 75.000 Khách với 4.873 người Minh Hương! Hà Nội có 3.377 người Khách với 825 người Minh Hương, mà Sài Gòn có những 22.079 người Khách với 677 người Minh Hương! Coi đó thì biết cái nguy cho xứ Nam Kỳ to là dường nào… Nay nhân nói về Khách Hải Phòng, chỉ muốn so sánh qua cái số người Tàu trong Nam ngoài Bắc, cho biết cái vạ China ở hai xứ hơn kém nhau thế nào. Song dù hơn, dù kém, dù ít, dù nhiều, cũng vẫn là một cái vạ lớn cho nước Nam mình, quốc dân ta nên sớm tỉnh ngộ mà mưu trừ đi, mới mong có ngày thu phục được mối thương quyền mà ra tranh đua trên thị trường thế giới.”
Trong phần dưới ông nói tới mối họa thứ hai mà nhà nông Nam Việt phải gánh vác:
“Cái hiểm tượng ấy là cái hiểm tượng bọn Chà và (Tây đen) cho vay, trong Nam kỳ gọi là bọn “xả tri” (tức ngoài ta gọi là “xét ty” = chetty). Bọn Chà cho vay này cũng hại cho người dân bằng bọn “Chệt” buôn gạo kia, khiến cho có người đã nói rằng: “Dân Nam kỳ có hai cái họa lớn: là cái họa Chệt và cái họa Chà”. Dân làm ruộng thì ở đâu cũng vậy, suốt năm chỉ trông vào mùa gặt mà tiêu dùng cả năm. Ngộ gặp năm mất mùa, hay là giữa năm túng tiền tiêu thì biết hỏi vào đâu? Tất phải đến khất vay bọn “xả-tri”, bọn đó bắt lãi rất nặng, đã túng thì thế nào chẳng phải vay. Đến hạn trả được thì chớ, không trả được thì lãi phụ vào gốc thành món nợ mới, mỗi ngày lại một nặng lên. Nhiều người cùng không trả được bị tịch ký mất cả ruộng đất, lắm khi đến thất nghiệp, cùng vô sở xuất. Ấy cái “họa Chà” ghê như vậy, chẳng kém gì cái “họa Chệt” trên kia, một cái hại riêng từng người, một cái hại chung cả xứ, hai cái cùng độc bằng nhau.”
Hiển nhiên quan niệm trên xuất phát từ nhiệt tâm của một người trí thức phải chứng kiến đất nước đang trì trệ, người dân phải sống trong cảnh “một cổ đôi ba tròng”, và phản ánh đúng thực tế nhưng cách diễn tả không khỏi có người cho rằng đó là sản phẩm của một chủ trương bảo thủ, có phần hữu khuynh và cực đoan.
Để hiểu rõ hơn nhiệt tâm đối với vận mệnh quốc gia của Phạm Quỳnh trong tuổi thanh niên, xin đọc phần trích sau đây trong du ký Một tháng ở Nam kỳ khi ông bàn về cuộc Nam Tiến của dân tộc ta:

Cuộc “Nam tiến” của dân tộc ta
“Thử xét cả cuộc lịch sử dân An Nam ta là một cuộc “Nam tiến” vô hồi vô hạn. Giống Giao chỉ nguyên phát tích tự đất trung châu xứ Bắc Kỳ, rồi mỗi ngày một bành trướng mãi ra, mà bành trướng về phía Bắc không sao được, gặp những rừng núi ngăn trở, lại có giống mạnh hơn không thể tranh nổi, thì tất phải tràn về phía Nam, càng ngày càng lan rộng mãi ra gặp những dân thổ trước thì tiêu diệt cho tàn, hoặc dung hóa cho hết: Chiêm thành, Chân lạp khi xưa hiển hách biết bao mà nay còn gì? Người đã bị ta diệt, còn sót lại tấm thành cổ góc miếu xưa, để làm cái chứng cho đời sau rằng xưa kia đã có một giống người sinh trưởng trước ta ở chốn đó! Ôi! Khốc liệt thay cái lẽ sinh tồn cạnh tranh của trời đất.
Giống Chiêm thành không phải là giống hèn: tức là một giống thượng võ, văn minh cũng chẳng kém gì mình, cứ xem những đền đài lăng tháp còn lại thì đủ biết. Chỉ vì mình kiên nhẫn và mình nhiều người hơn nó, lại bị cái lẽ sinh tồn nó bắt buộc phải liều sống liều chết mà tràn vào phía nam cho được, không thì chật hết chỗ không biết sống vào đâu, nên mình đánh nó, mãi nó phải thua, nhưng trước sau biết bao nhiêu thắng phụ, kể đến ngót một nghìn năm mới tiêu diệt được hết, ước đến thế kỷ thứ 16 thì đã gồm được suốt dải đất Trung kỳ, bước tới nơi đồng bằng Lục tỉnh.
Lục tỉnh bấy giờ còn là Thủy chân lạp. Giống chân lạp tức là giống Cao miên ngày nay. Người Chân lạp còn ở rải rác mọi nơi, thành từng làng xóm nho nhỏ ở giữa đồng ruộng mênh mông: những tên đất tên tỉnh ở miền tây-nam xứ Nam Kỳ ngày nay phần nhiều là gốc tự tiếng Chân lạp cả như Sadec, Sóc trăng, Cần thơ, Bạc liêu, vân vân không phải là tên chữ mà cũng không phải là tiếng Nôm của mình.
Người mình tới nơi mỗi ngày một xua đuổi dân Cao miên lên chốn Cao Nguyên; còn những bình nguyên đất tốt mình chiếm cứ lấy. Đến đầu bản triều thì cả đất Thủy chân lạp (tức là Nam kỳ) đã về ngay giống mình rồi. Bấy giờ lại đi ngược lên mà tràn sang Lục chân lạp, là đất Cao miên ngày nay. Giống Cao miên yếu hèn, vả cũng ít người mình tới đâu nó chạy tới đó, nên sự cạnh tranh không kịch liệt lắm, nhưng cũng lắm phen người Cao miên sang cầu cứu ở Xiêm viện quân Xiêm sang giúp: Nên ta phải đánh nhau với Xiêm mấy trận, Xiêm bị thua. Vua Miên chạy trốn, triều đình ta bèn đặt bảo hộ ở đất Cao Miên, dựng thành trấn Nam Vang: về triều Thiệu trị-Tự Đức, nước ta thường có quan khâm sai tổng đốc ở Nam Vang (Phnom Penh). Thử coi cái sức bành trướng của dân mình có ghê không, khác nào cái vết dầu trên tờ giấy trắng vậy. Trước còn nhỏ mà sau cứ thấm dần ra mãi, không có gì ngăn lại được.
Coi đó thì biết sự ‘Nam tiến’ là cái phép lớn trong lịch sử giống Việt Nam ta. Trong hơn hai nghìn năm ta chỉ tiến về phía Nam mà ta mới sống được. Cái cuộc Nam tiến đó đến Nguyễn triều đã tạm gọi là xong. Nhưng nhà Nguyễn còn là mới khai thác được một nửa xứ Nam Kỳ mà thôi. Còn một nửa kia từ sông Hậu giang trở xuống phải đợi đến nhà nước Đại Pháp sang mới bắt đầu mở mang nốt. Nên trong địa dư xứ Nam Kỳ rõ biệt hẳn ra hai phần: cái phần tự sông Tiền giang (Fleuve Antérieur) trở lên là đất cũ của bản triều đã mở mang từ trước, nhân dân tụ họp đã lâu, ruộng đất thành thuộc gần khắp, cách cày cấy trồng trọt nhiều nơi làm mỗi năm hai mùa đã gần giống như ngoài Bắc, người dân cũng đã chịu cảm hóa của triều đình sâu, xưa kia đã từng sản được nhiều người tài giỏi có công với xã tắc; cái phần tự sống Tiền giang trở xuống là phần đất mới khai thác tự sau khi nhà nước Đại pháp sang chiếm lãnh, trước sau chưa có một chút lịch sử gì, có lắm nơi tỉnh thành chỉ mới thành lập được mười lăm năm nay, nhưng phần đất này đất phì nhiêu có một, hễ phát hoang tới đâu là thành ruộng tới đó, cày cấy tốt quá, thóc gạo không biết bao nhiêu mà kể. Hiện nay những tỉnh giàu nhất, lớn nhất ở Nam kỳ là thuộc về phần đó, còn phần trên tuy có văn vật hơn mà đã cho là đất kiệt đất cũ rồi.”

Đọc phần trích giảng trên và theo dõi toàn thiên hồi ký Một tháng ở Nam Kỳ, thấy rõ ông chủ bút Nam Phong lúc nào cũng muốn gắn liền báo chí với vai trò mở mang kiến thức cho độc giả và hô hào bảo vệ những tài sản quý báu của dân tộc, kể cả tài sản kinh tế.
Qua đó cũng có thể thấy rõ hơn:
– Lối văn của Phạm Quỳnh so với thời đại ông là lối văn chuẩn mực nhưng ngày nay người đọc dễ dàng cảm nhận sự dài dòng, sử dụng nhiều từ Hán Việt trong lối hành văn cách đây gần một thế kỷ (1919-2013).
– Quan niệm của Phạm Quỳnh về lịch trình diễn tiến cuộc Nam tiến của dân tộc ta cũng như động lực của tiến trình này nhìn chung là cổ điển (quan niệm của Quốc sử quán) và nhiều phần chính xác. Tuy nhiên, cách lý luận và niềm tự hào, cũng như tham vọng của ông đôi khi phản ánh chủ nghĩa quốc gia cực đoan, nhất là khi ông đề cập tới việc nước ta thôn tính và đồng hóa Chiêm thành và Chân lạp và trong phần chúng tôi không trích dẫn, ông còn dự đoán chúng ta sẽ bành trướng sang Xiêm!
Cũng đừng nên quên Phạm Quỳnh viết những dòng trên khi công trình khảo cứu về ngồn gốc dân tộc Việt Nam cũng như lịch trình của cuộc Nam Tiến của ta còn chưa có biên khảo quy mô và khách quan hơn như của Đào Duy Anh, Trần Trọng Kim, H. Maspero, Léonard Aurousseau, Nguyễn văn Tố và Phan Khoang…
Hoàng Yên Lưu

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 42

Tú Mỡ, xuôi dòng thời cuộc!

 

Tú Mỡ, xuôi dòng thời cuộc!

Hoàng Yên Lưu

Trước 1945, Tú Mỡ nổi tiếng với Giòng nước ngược, dùng ngòi bút để vẽ ra bức tranh xã hội nửa phong kiến, nửa thực dân, đầy hủ tục; phê phán những điều trái tai gai mắt, với cuộc sống ngổn ngang thói hư tật xấu trong buổi giao thời Đông Tây; và đấu tranh cho mục đích cải thiện xã hội cấp thiết của Tự lực văn đoàn. tumoNhờ thế ông được độc giả cho tới ngày nay còn yêu quý thái độ quả cảm và những vần thơ sắc bén, thấm tình yêu điều thiện, nồng nàn chính nghĩa của ông.

Nhưng sau 1945, với nhiều tác phẩm chạy theo thời cuộc từ bút danh “Bút chiến đầu” của Hồ Trọng Hiếu, thơ trào phúng của Tú Mỡ đã lột xác, trở thành những bài vè và chỉ là những đoạn thời sự được viết bằng văn vần. Cũng vì thế một người đồng thời với ông, nhà thơ Xuân Sách (1932-2008) trong tập Chân dung nhà văn, đã viết vài câu châm biếm ông bằng giọng nhẹ nhàng nhưng thấm thía:

Một nắm xương khô cũng gọi Mỡ

Quanh năm múa bút để mua vui

Tưởng cụ vẫn bơi dòng nước ngược

Nào ngờ trở gió lại trôi xuôi!

Do đó, ngày nay chẳng mấy ai nhớ tác giả Giòng nước ngược cũng là tác giả Nụ cười kháng chiến(1952), Nụ cười chính nghĩa (1958) và Bút chiến đấu (1960) nữa.

Cũng vì sau 1945, những bài vè cạn dòng cảm hứng của Tú Mỡ phần lớn chạy theo tin tức và giáo điều nên khi “xuất xưởng” mau chóng trở thành phản tác dụng, và không những không gây được tiếng cười, sự đồng tình của độc giả về đối tượng tác giả châm biếm hoặc lên án, mà “gậy ông đập lưng ông”: chính nhà thơ chịu búa rìu dư luận vì nụ cười giả dối, lời chỉ trích hàm hồ, sai lầm một cách nực cười!

Điển hình cho nụ cười đầy những lời đao to búa lớn, đổi trắng thay đen của Bút chiến đấu là một bài trường ca tố cáo “tội ác Mỹ Ngụy” nhân vụ “đầu độc ở Phú Lợi”.

Sau 1975, ở Sài Gòn, bộ máy tuyên truyền nhắc đi nhắc lại “thảm kịch Phú Lợi” bằng những lời thống thiết, gay gắt nhất. Truyền thông ngày ấy đã lên án thủ đoạn bạo tàn của “chế độ thực dân mới” vào một năm giữa thập niên 1950 ở nhà tù Phú Lợi (ở Bình Dương), nơi giam giữ tù nhân chính trị.

Câu chuyện kinh hoàng, kể rằng chính quyền đã sát hại hơn 1000 tù nhân ở Phú Lợi và gây tổn hại cho 4000 tù nhân khác bằng thủ đoạn đầu độc. Ai nghe cũng ghê tởm tội ác, nhất là đọc thơ Tú Mỡ, khi ông ở xa Phú Lợi hơn 1000 km, tận Hà Nội, chỉ đọc báo biết tin này đã dùng cả một tập thơ dài để vẽ “thảm kịch Phú Lợi” bằng những lời đầy máu lửa và hận thù:

Biến đau thương thành sức mạnh

Chuyển căm thù quyết định thi đua

Triệu người cùng một động cơ

Trả thù Phú lợi phất cờ Cần lao…

Bọn tớ thầy giết người Phú lợi

Phải có ngày đền tội nhân dân

Máu đền nợ máu cho cân

Sát nhân giả tử là tuân luật hình

Điều quả báo ứng linh chứng thực

Kẻ nào dùng thuốc độc, súng gươm

Giết người trung thực hiền lương

Tránh sao thuốc độc súng gươm giết mình!

Lời Tú Mỡ khi ấy chẳng khác gì giọng điệu đấu tố lúc ấy đang lan tràn ở thôn quê đồng bằng sôngHồng và sông Thái Bình.

Nhưng sự thực có vụ đầu độc ở Phú Lợi hay không?

Một nhà nghiên cứu hiện đại là Vu Gia trong tác phẩm Tú Mỡ, người gieo tiếng cười, do nhà xuất bảnThanh niên, TP. HCHM, ấn hành năm 2008, cho biết “thảm kịch” tù chính trị bị đầu độc ở Phú Lợi vào năm 1956 hoàn toàn là hư cấu của bộ máy tuyên truyền mà thôi.

Ông Vu Gia cho biết, vào năm 1987, ông được giám đốc Nhà xuất bản Sông Bé giao cho ông và một cây bút khác (Hàng Chức Nguyên) viết một cuốn sách về vụ đầu độc ở Phú Lợi. Hai cây viết trẻ khi ấy đã mời những cựu tù nhân Phú Lợi tới họp tại ngay nhà tù Phú Lợi (ở cách thị xã Thủ Dầu một chừng 3 cây số ngày nay đã biến thành một công viên) để tìm nhân chứng trong “vụ đầu độc’ và dự định lập bia cho những liệt sĩ đã chết vì “bị đầu độc”. Nào ngờ các cựu tù được mời tới, sau 1975 đều là nhân vật cao cấp, vai vế trong chế độ mới, đã khẳng định không hề có vụ đầu độc nào cả, và chẳng có ai chết để lập bia, mà chuyện đầu độc chỉ là sản phẩm của chiến tranh tâm lý. Một nhân chứng kể lại: “Nhân có lễ lạt chi đó, tù nhân chúng tôi được ăn no một bữa thịt heo. Tối về có người bị bội thực, ói mửa. Anh em ra hái rau muống giã nước cho bạn uống”. Từ đó có người tung tin ra ngoài là bị đầu độc. Tin này được thổi phồng và xảy ra, một vài cuộc biểu tình tố cáo tội ác của Đế quốc ở Phú Lợi. Nhưng rồi nội vụ vì “bé xé ra to” và “hư cấu” nên mau chóng rơi vào quên lãng trừ guồng máy tuyên truyền lâu lâu lâu lại nhắc lại.

Tuy có lúc Tú Mỡ phải xuôi dòng, thì ta cũng nên thông cảm với ông. Vào thập niên 1950, ông đã già trước tuổi (sinh 1900), thân cô thế cô, con cái đông, bạn bè thân thiết trong Tự lực văn đoàn có người bị giết (Khái Hưng), có kẻ lưu vong (Nhất Linh và Hoàng Đạo), sau 1954 con cái có người di cư vào Nam (như phu nhân của nhà văn tự do Doãn Quốc Sĩ là bà Hồ thị Thảo, con gái của Tú Mỡ) trong khi áp lực xã hội quá mạnh và quá khắc nghiệt (điển hình là vụ đàn áp Nhân văn-Giai phẩm), nên ông không thể không thuận dòng để sinh tồn.

Điều không nên quên là trong cảnh “may thuê viết mướn kiếm ăn lần hồi”, viết theo chỉ thị, Tú Mỡkhông thể làm khác nhưng vẫn giữ thủy chung với Tự lực văn đoàn, một văn đoàn bị phê phán kịch liệt sau 1945 dựa vào giáo điều do ông Trường Chinh đưa ra:

Sau cơn khủng bố trắng 30-31, một sự buồn rầu, u uất tràn ngập tâm hồn nhân dân Việt Nam. Văn chương lãng mạn Tự lực văn đoàn ra đời. Giai cấp tư sản dân tộc không dám đấu tranh bằng chính trị và quân sự chống đế quốc nữa, bèn chuyển sang đấu tranh bằng văn hóa chống phong kiến quan liêu (các báo Phong hóa, Ngày nay và sách Tự lực văn đoàn) chủ nghĩa lãng mạn trong văn học nghệ thuật đi đôi với phong trào vui vẻ trẻ trung có tính chất trụy lạc của thanh niên trí thức thành thị.” (Cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân Việt Nam)

Trước giáo điều sắt thép như trên, giới cầm bút ở miền Bắc khi ấy đều lên án Tự lực văn đoàn, nhất là mạt sát Nhất Linh thậm tệ. Riêng Tú Mỡ vẫn giữ vững sự chung thủy với người bạn kính mến Nguyễn Tường Tam.

Người ta kể lại vào 1950 trong một cuộc họp giữa các nhà văn ngoài kháng chiến để phê bình sinh hoạt văn học 32-45, cụ thể là Tự lực văn đoàn, do Tô Hoài làm tổ trưởng, Tú Mỡ là người duy nhất dám đứng lên để bênh vực Nhất Linh khiến cho Tô Hoài đứng tim.

Vào tuổi 70, Tú Mỡ nhìn lại quãng đời hoạt động văn hóa của mình, vẫn khẳng định mục tiêu của Tự lực văn đoàn là đúng: “Kể về công, anh em đã thực hiện được mục đích của đoàn, điều chính là làm giàu thêm văn sản trong nước, đã có một đóng góp đáng kể vào văn học Việt Nam, tạo cho đoàn một tiếng tăm vang dội một thời, một thành tích mà các văn đoàn ra đời sau không đạt được, một chân giá trị riêng trong một giai đoạn nhất định mà giới văn học ngày nay phải công nhận”.

Chương trình xây dựng nhà ánh sáng của Tự lực văn đoàn bị nhóm phê bình giáo điều chỉ trích là cải lương, là thỏa hiệp với thực dân, nhưng Tú Mỡ từng hô hào xây dựng nhà ánh sáng trên tờ Phong hóa:

Các ngài hãy để tiền trăm bạc ngàn

Giúp đoàn ánh sáng món tiền

Dựng nhà cao ráo khắp miền thôn quê

Cho dân nghèo sống thỏa thuê

Ấy là quả phúc nên vê cho tròn

(Quả phúc)

Sau 1945, Tú Mỡ vẫn tự hào về chương trình này và coi nó là ý hướng tiến bộ của nhóm ông.

Trong Hồi ký trontg bếp núc của Tự lực văn đoàn Tú Mỡ tỏ lòng thương tiếc văn đoàn và anh em trong văn đoàn, ông viết bằng cả tấm lòng của kẻ “trải qua một cuộc bể dâu”:

Cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc ta bùng nổ. Cái thất tinh hội “Tự lực văn đoàn” tan tác trong cơn phong ba như những sao đổi ngôi…

Chỉ còn ba chúng tôi người cũ trong Tự lực văn đoàn là may mắn, tan rồi lại hợp (chỉ Tú Mỡ, Thế Lữ và Xuân Diệu), còn các anh khác biệt vô âm tín.

Tôi không biết anh Khái Hưng có ra được vùng tự do mà tìm được con đường sống như anh đã nói với tôi hay không? Bẵng đi mấy năm mới được tin anh chết nhưng không rõ anh chết ở đâu, vì sao mà chết?

Sau đó lại được tin anh Hoàng Đạo đã rơi rụng trên đất Quảng Châu (Trung Quốc) sau một thời gian phiêu bạt, ốm yếu nơi đất khách quê người.

Anh Trần Tiêu cũng mất tại quê hương.

Thế là Thất tinh hội đã rơi rụng mất ba.”

Đối với Nhất Linh, Tú Mỡ tỏ lòng cảm thương cái chết của người tri âm này và cho tới những năm cuối đời và trong một bài thơ cuối cùng ông vẫn nhắc tới nỗi lòng thương bạn và kỷ niệm khó quên khi theoNhất Linh làm báo Phong Hóa tại một căn nhà nhỏ ở ấp Thái Hà vào năm 1932:

Duyên văn nghệ là duyên tri ngộ

Từng vui buồn sướng khổ có nhau

Khi cà phê, khi phở tái, khi thuốc sái, khi trà tàu

Khi sắm vai trên sân khấu, khi làm báo suốt đêm thâu…

Không nên quên Hồi ký trong bếp núc của Tự lực văn đoàn hoàn thành 12-08-1969 nhưng 20 năm sau nó mới được phép ra mắt bạn đọc trên hai kỳ Tạp chí Văn học 1987 khi Tú Mỡ đã chết được hai chục năm.

Hoàng Yên Lưu

 

 

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 132

Mộng Du

Mai vàng, giá rét : vào Xuân
Bâng khuâng nắng cũ, tần ngần phố xưa.
Tháng năm…, lòng đã quên chưa ?
Đắm say ngày ấy thuyền đưa chẳng về !
Cho tôi tìm chút say mê
Nắng như còn rọi hẹn thề khói sương.
Tóc xanh, mây trắng vô thường
Áo xưa nhòa bóng còn hương, bàng hoàng !
Bóng chiều nghiêng, bước lang thang
Nghìn sau ai nữa nắng vàng mộng du ?

Nguyễn Vạn Toàn

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 193

Sự Tích Hoa Mai Vàng

Sự Tích Hoa Mai Vàng

 

“Ngày xưa có một cô gái tên Mai con một người thợ săn vốn rất gan dạ và can đảm. Năm lên mười bốn, cô gái đã được cha rèn luyện trở thành một nữ hiệp sĩ vô cùng tài giỏi và tinh thông võ thuật. Lúc ấy có một con yêu tinh đến quấy phá một làng nọ, dân làng treo giải ai giết được yêu tinh sẽ được thưởng trọng hậu. Thế là hai cha con lên đường giết yêu tinh. Sau khi giết được yêu tinh trở về, danh tiếng của hai cha con vang dội và truyền rao khắp nơi.Vài năm sau người cha lâm bệnh nặng và sức khỏe ngày một yếu đi. Còn cô con gái thì đã bước qua tuổi mười tám, sức khỏe càng tăng lên gấp bội, võ thuật càng ngày càng tinh thông. Năm ấy yêu tinh rắn lại xuất hiện ở một vùng nọ và dân làng đến khẩn khoàn hai cha con đi giết yêu tinh. Trước khi con gái lên đường, người mẹ may cho cô một bộ đồ gấm màu vàng rất đẹp và cô gái hứa ngày trở về sẽ mặc bộ đồ vàng ấy cho mẹ nhìn thấy cô từ xa. Sau đó hai cha con trèo non lội suối tìm cho ra yêu tinh để tiêu diệt nó. Người cha vì sức yếu nên không phụ giúp được gì để cô con gái một mình chống chọi với yêu tinh. Nhưng cuối cùng cô gái cũng giết được nó. Nhưng rủi thay, trước khi chết, con yêu rắn đã vùng dậy dùng đuôi quấn và xiết chết cô gái. Cảm thương trước tấm lòng hiệp nghĩa của cô gái cũng như sự khóc lóc van nài của người mẹ tội nghiệp nên ông Táo trong nhà đã khẩn khoản xin Ngọc Hoàng cho cô gái được sống lại và trở về với gia đình trong chín ngày. Thế là từ đó, cô gái được trở về nhà trong hình hài nguyên vẹn với gia đình trong chín ngày (từ 28 tháng Chạp cho đến mồng 6 Tết thì biến mất). Về sau khi cha mẹ và người thân của cô gái mất hết, cô gái không trở về nhà nữa mà hóa thành một cây hoa mọc bên ngôi miếu mà người dân đã lập nên để cúng bái cô. Thấy cây hoa lạ mọc lên bên miếu và cứ trổ hoa vàng suốt chín ngày Tết nên dân làng lấy tên cô gái đặt cho cây hoa ấy là cây hoa mai và chiết nhánh mang về trồng khắp nơi để trừ tà đuổi quỷ, mang lại may mắn cho gia đình mỗi độ xuân về, năm hết tết đến.

Tục chơi mai ngày tết lâu dần đã trở thành nét văn hóa đẹp của người Việt Nam. Ngày nay, hoa mai tươi thắm khắp nhà nhà vào dịp Tết, và sắc giấy đỏ điều với câu đối hoà hợp được trang trí trên những cành mai vào ngày Xuân trong không khí vui vẻ, trong sáng.

Hoa Mai giản dị và trong sáng. Nhìn Mai Vàng nở lại nhớ quê hương.

Dẫn từ nguồn Inter…

 

 

 

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 38

Lá Thư Tháng Ba

 

Lá ThưTháng Ba

Tháng Ba đã là cuối mùa Đông, thế mà vẫn còn sót lại một vài cơn bão tuyết. Trận cuối cùng đổ xuống nơi đây cũng gần 7”. Rồi bỗng dưng có một ngày nắng đẹp, nhiệt độ lên đến 60 F. Tưởng thời tiết đã ấm lại, báo hiệu cho ngày  đầu Xuân, đâu ngờ nhiệt độ lại rớt một cái ào xuống còn 40F.
Nửa khuya giật mình nghe gió rít từng cơn ngoài hiên, buồn áo não. Thời tiết vô thường, Thân vô thường, Tâm vô thường:
Nơi đây một cõi vô thường
Tâm còn vọng động, vấn vương làm gì?
Mưa tháng Ba không mưa dầm thúi đất. Mà cứ từng hạt, từng hạt rả rích, rót vào lòng người tha phương, nghe từng thấm đậm chua cay.
Ly hương đã nhiều năm , mà lòng vẫn không nguôi nhớ thương quê nhà, ngày cũ. Ký ức của một thời thơ ấu, không gì có thể thay thế được. Dù rằng ở nơi đây vật chất quá dư thừa. Nhưng, đôi khi ta vẫn thèm được đi chân trần. Cái cảm giác chân chạm trên nền đất ruộng quê nhà thật khó diễn tả, tim như cứ rung lên từng hồi.
Ôi quê nhà, quê người
Trời tháng Ba có lạ
Cho ta xin chút tình xa
Gởi lại quê nhà trong tiết tháng Ba
Chỉ là giữa tháng Ba, mà các nàng hoa Anh Đào đã náo nức. Những búp non nhu nhú căng tròn như em mười sáu, mười tám thật dễ thương, quyến rủ lòng người. Chỉ cần một vài ngày ấm, là các nàng bung ra ngay, mở ra liền, ứ đọng vì chờ quá lâu. Ông thời tiếc cũng chơi khâm, cứ ấm được một hôm, thì lạnh lại cả tuần, làm cho các nàng Anh Đào buồn tiu nghỉu..
IMG_5364
Hãy chờ nhé các nàng Anh Đào, sắp tháng Tư rồi, trời ấm các em tha hồ  mở ra, bung ra ….ha ha
Thương em chín mộng một thời
Thương em chín mộng một đời thương em…
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 42

Ở Đó Ở Đây

 Ở  Đó Ở Đây

Anh biết mùa này Sài Gòn mưa luôn
Và anh lại nhớ đến những con đường
Nơi chúng mình thường hẹn hò, đưa đón
Ôi bao kỷ niệm, bao nỗi yêu thương
Anh nhớ Sài Gòn chiều thường mưa giông
Nửa đêm chợt nhớ Tiếng Hát Hoa Hồng
Anh biết mùa này em buồn ray rứt
Nỗi buồn thật dài là nỗi chờ mong
Anh ở đây nước lũ bôi đen mặt người
Bóng tối che ngang nụ cười
Âm thầm như một cánh dơi
Em ở đó Sài Gòn trời trở gió
Anh biết em đau từng giờ
Cô đơn héo hắt hồn thơ
Anh biết tình mình còn nhiều mưa bay
Và em là nỗi nhớ đã đong đầy
Ôi những ngày dài âm thầm xa vắng
Mất gì, còn gì ở đó ở đây
                     Nguyên Nguyễn
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 80

Trời Cuối Đông Rồi Em Có Hay

 

Trời Cuối Đông Rồi Em Có Hay

Trời cuối Đông rồi em có hay?
Buồn nương theo những phiến mưa bay
Gió rung tàu chuối tung hơi lạnh
Trời cuối Đông rồi em có hay?
Áo trắng anh đất đỏ nhuộm hồng
Chiều tàn tạm nghỉ bước chân rong
Vời trông cuối nẻo sương mờ đục
Pha lẫn rừng xanh lá quyện dòng
Lá quyện dòng thương, thương nhớ ơi
Trăng non yên giấc tự lâu rồi
Nàng sao còn thức không thèm ngủ
Đêm trắng gọi thầm thương nhớ ơi
Em biết không em ở cao nguyên
Anh làm kẻ lạ mặt lạ miền
Khoát trọn cô đơn bên điếu thuốc
Nhìn màu khói xám loãng ưu phiền
Ưu phiền ôm nhẹ mấy chiều rơi
Anh gởi theo mây dạt phương trời
Bằng cả tim yêu lời thiết hỏi
Em có hay trời cuối Đông rồi?
                   Trần Nhật Lệ
 

 

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 59

Nguyễn Bá Trác và bài Hồ Trường

 

Nguyễn Bá Trác và bài Hồ

Trường

  Hạn mạn du ký là thiên ký sự gồm 14 chương kể lại cuộc Đông du của tác giả trong khoảng 6 năm (1908-1914) từ Sài Gòn sang Xiêm La – Hương Cảng – Nhật Bản – Trung Hoa – rồi về Việt Nam.NguyenBaTrac
Hạn mạn du ký trước tiên được viết bằng chữ Hán, đăng tải từ số 22 đến số 35 năm 1919, 1920; sau đó thiên ký sự này được chính tác giả dịch sang chữ Việt và đăng tải ở phần chữ Việt của Nam Phong từ số 38 đến số 43 năm 1920, 1921.
Như đã trình bày, thiên du ký của Nguyễn Bá Trác được ông gọi một cách khiêm tốn là “Hạn mạn du ký” có ý nghĩa “chuyến chơi phiếm” để che đậy một tâm sự. Ông từng là một kẻ sĩ thành danh (đậu cử nhân) theo phong trào Đông Du của Phan Bội Châu, Nguyễn Thượng Hiền… sang Nhật sang Tàu để tìm đường canh tân xứ sở và giải phóng dân tộc. Nhưng con đường cách mạng gian lao, đầy nguy hiểm, sĩ phu có tâm huyết lúc đó chịu áp lực từ nhiều phía không những trước thủ đoạn khủng bố bạo tàn của chính quyền thuộc địa mà còn bị chính quyền các quốc gia như Nhật, Trung Hoa và Xiêm xua đuổi. Một số nhà Nho, lúc trước hăng hái quên mình vì tiền đồ tổ quốc, dần dần thoái chí và trở về cộng tác với chính quyền Pháp, trong đó có Nguyễn Bá Trác.
Bà Phạm thị Ngoạn (con gái của Thượng chi Phạm Quỳnh), một trí thức có dịp hiểu biết nhiều về Nguyễn Bá Trác, trong một luận án về Nam Phong, đã viết về cây bút coi phần chữ Hán của Nam Phong tạp chí như sau:
“Sau khi ông bỏ cuộc (xuất ngoại) trở lại với quê hương, ‘ăn năn hối cải’ và được thâu dụng trong chính quyền thuộc địa…
“Nhà Nho thâm thúy này có một phong độ khác thường khi trình bày với độc giả về tình cảm, tư tưởng và ngay cả những ý nghĩ thầm kín của lòng mình. Là một nhà văn hữu hạng, ông sử dụng thật tài tình lối diễn tả hàm xúc là một nghệ thuật rất thịnh hành trong giới văn nhân thời đó; nói một đàng để độc giả hiểu một nẻo, hay nói rất ít để độc giả nghĩ rất nhiều… Mặt khác qua những sáng tác tản văn, độc giả nhận thấy ở Nguyễn Bá Trác một thái độ chán chường và hoài nghi vốn dĩ là tập quán của làng nho”.

Điều này giúp ta khẳng định được tác phẩm mà ngày nay ta gọi là Hồ Trường là do Nguyễn Bá Trác sáng tác kể cả phần chữ Hán lẫn bản dịch, nhưng ông đã gán cho nó là một Nam phương ca khúc có sẵn của miền nam Trung Hoa.
Đừng nên quên nhà Nho ký thác tâm sự thường kín đáo, mượn chuyện xưa để nói chuyện nay, lấy chuyện người để kể chuyện mình, như Nguyễn Đình Chiểu viết Lục Vân Tiên kể lể tâm sự và hành trạng của bản thân mình (xem Nỗi lòng Đồ Chiểu của Phan văn Hùm, 1902-1946) nhưng lại mở đầu tác phẩm bằng câu “trước đèn xem truyện Tây minh!”. Thực ra, trong văn học Trung Hoa nào có một tác phẩm có danh có tên là Tây Minh đâu! Do đó có thể nói chẳng có Nam phương ca khúc có sẵn nào cả mà chỉ có nỗi lòng của một nhà Nho có văn tài, khi thoái chí viết nên lời ca để thanh minh với hậu thế về thái độ “hồi chính” của mình.
Một cây viết tiền chiến, có kiến thức Âu Á rất sâu, và thuộc thế hệ rất gần với Nam Phong và Nguyễn Bá Trác (1881-1945), là Lãng nhân Phùng Tất Đắc (1907-2008), trong tác phẩm Chơi chữ đã nhận xét tinh tế về Hồ Trường và tâm sự tác giả: “Vốn chân cử nhân, lúc thiếu thời có gia nhập một đảng cách mạng. Đi phiêu lưu bên Tàu một dạo, ông từng làm ra bài Hồ Trường lâm ly khẳng khái… Sau ít năm giang hồ ông về đầu thú, phản thầy là cụ Sào Nam, tố giác bạn trong đó có Đặng văn Phương tức Đặng Đình Thanh, người Cần Thơ từng du học ở Đông Kinh, tại Đồng văn thư viện. Do đó ông cử nhân cách mạng được bổ làm quan, chẳng bao lâu đã lên tới đến chức tổng đốc”.
Trong Phan Bội Châu niên biểu (do Nguyễn Khắc Ngữ chú thích) còn ghi rằng Tiêu đẩu (Nguyễn Bá Trác) chính là người tố cáo nhà cách mạng Trần Hữu Lực khiến ông này bị bắt và bị xử bắn ở Hà Nội (cùng với Hoàng Trọng Mậu) vào năm 1915.
Có tâm trạng day dứt như thế nên sau này trong các tác phẩm thơ ca như Bài tự tình với sông Hương (Nam Phong số 2), Bài hát tâm sự (Tạp chí Khuyến học số 9, 1936), Nguyễn Bá Trác đều bày tỏ nỗi lòng “một mình biết, một mình mình hay”:

“Ai giận gió, ai hờn mây, ai cười hoa, ai ghẹo nguyệt
Mặc ai ai ta chỉ biết có mình
Khác nhau vì một chữ tình!”

Chúng ta trở lại phần trích trong Hạn mạn du ký sau đây để thấy rõ bài ca Hồ Trường ra đời trong hoàn cảnh nào:
“Một hôm trời đã chiều hôm, hiu hiu gió bể, chúng tôi (tác giả và người bạn được gọi là Nguyên quân mà người ta ngờ rằng chính là Trần Hữu Lực) làm việc vừa xong, rủ nhau đi chơi phố. Nguyên quân cao hứng muốn vào tửu lâu, tôi cũng hợp ý; bèn thuê xe đến ngay Đào Đào quán ở trong tô giới. Nguyên quân cả năm không hay uống rượu đã uống thì say, đã say thì hay hát. Hát không hiểu khúc, song tiếng trong mà cao; cứ nghêu ngao mấy câu cổ phong, tự người ngoại quốc nghe đã lấy làm kiêu điệu lắm; cho nên ngày ở Quế Lâm, thi tốt nghiệp rồi, Nguyên quân say rượu tay gõ miệng hát, anh em đồng học đều khen là danh ca. Chiều hôm ấy, rượu ngà ngà, Nguyên quân cũng đứng dậy mà hát. Cách phòng có một người khách, tên là Lưu mỗ, là người Trực Lệ, hiện làm quan võ coi lính ở Quảng Tây, nghe Nguyên quân hát, bèn vào phòng, chào nói tên họ, rồi hỏi Nguyên quân: “Tôi nhớ năm xưa có gặp Quý hữu một lần ở tại Đông Kinh nước Nhật”. Nguyên quân nói: “Lâu ngày không nhớ cho rõ”. Khách lại hỏi: “Vừa nghe Quý hữu hát ấy là điệu gì?”. Nguyên quân nói: “Ấy là một điệu đặc biệt ở phương Nam”. Khách nói: “Nghe tiếng bi mà tráng, nhiều hơi khảng khái, Nam phương có điệu hát đến như thế ru?” – Nói rồi, liền gọi thằng hầu lấy bút giấy, xin Nguyên quân viết bài hát cho mà xem. Nguyên quân cầm bút viết ngay.

Bài hát dịch ra như sau này:

Trượng phu không hay xé gan bẻ cột phù cương thường;
Hà tất tiêu dao bốn bể, luân lạc tha hương.
Trời nam nghìn dặm thẳm; mây nước một mầu sương.
Học không thành, công chẳng lập, trai trẻ bao lâu mà đầu bạc; trăm năm thân thể bóng tà dương.
Vỗ tay mà hát, nghiêng đầu mà hỏi, trời đất mang mang, ai là tri kỷ, lại đây cùng ta cạn một hồ trường.
Hồ trường! Hồ trường! Ta biết rót về đâu?
Rót về đông phương, nước bể Đông chẩy xiết, sinh cuồng lan.
Rót về tây phương, mưa Tây sơn từng trận chứa chan;
Rót về bắc phương, ngọn bắc phong vì vụt, đá chạy cát dương;
Rót về nam phương, trời nam mù mịt, có người quá chén như điên như cuồng.
Nào ai tỉnh, nào ai say, chí ta ta biết lòng ta hay;
Nam nhi sự nghiệp ở hồ thỉ, hà tất cùng sầu đối cỏ cây.”

Hạn mạn du ký kể tiếp: sau khi trò chuyện, người khách họ Lưu hiểu tâm trạng kẻ sĩ phương nam (là tác giả và Nguyên quân) phải lưu lạc nơi đất bắc vì tiền đồ tổ quốc nên thông cảm và hứa giúp đỡ bằng cách giới thiệu họ vào trường lục quân ở Quảng Tây để theo học và có nơi nương nhờ. Sau đó bộ ba từ biệt và tác giả viết tiếp:
“Tôi với Nguyên quân về nhà trọ rồi, cứ nghĩ lời Lưu quân nói, thêm ngao ngán cho cái tiền đồ của mình, đã trải mấy lần tìm đường lướt sóng, mà nay hãy còn lênh đênh trong sông khổ bến mê; ở đời không sợ hoạn nạn, chỉ lo hư sinh. Như mình đã bôn đông tẩu tây, ăn cay uống đắng, có phải là sợ hoạn nạn đâu, chỉ sợ chí lớn tài hèn, chiếc thân lưu lạc; rồi đây chẳng làm nên công trạng gì, đem nắm xương tàn, gửi với cỏ cây nơi đất khách, nhân sinh đến thế thời cũng đáng thương cho đời lắm thay! Hai người cứ ngơ ngẩn nhìn nhau, ngổn ngang trăm mối, tiền đồ chưa quyết là làm sao. Nguyên quân lại nói: ‘Chúng ta đã đến cái địa bộ này, Nam, Bắc, Đông, Tây đi đâu mà không được. Thôi! Tôi với anh, kể từ hôm nay vi thủy, hẹn bốn năm nữa chỉ là một người học sinh; còn nghĩa bằng hữu, tình cố quốc, hãy để một bên, bốn năm sau ta sẽ định’”. Thương nghị rồi, chuông đã năm giờ, chúng tôi đi nghỉ.”

Sau đây là phần chữ Hán của bài ca Hồ Trường (hồ là bình rượu, trường là chén uống rượu):

Trượng phu sanh bất năng phi can chiết hạm vị thế phù cương thường
Tiêu dao tứ hải, hồ vị hồ thử hương
Hồi đầu nam vọng mạc vô cực hề, thiên vân nhất sắc đồ thương thương
Lập công bất thành, học bất tựu, thiếu tráng hữu cơ thời hề, tọa thị bách niên thân thế khu âm dương.
Phủ chưởng cuồng ca vấn tư thế, mang mang thiên địa, an đắc tri nhất tri kỷ hề, thí lai đối chước hữu dư trường.
Dư trường trịch hướng đông minh thủy, đông minh chi thủy vạn đội khởi cuồng lan.
Dư trường trịch hướng tây sơn vũ, tây sơn chi vũ nhất trận hà uông dương.
Dư trường trịch hướng bắc phong khứ, bắc phong dương sa tẩu thạch phi thù phương.
Dư trường trịch hướng nam thiên vụ, vụ trung hữu nhân khai khẩu nhất ẩm cừ nhiên túy
Thiên địa vũ trụ hồn tương vong, dư bất túy hĩ, dư hành dư chí
Nam nhi tự cổ sự tang bồng, hà tất cùng sầu khấp phần tử

Nguyên tác và bản dịch đều là tác phẩm rất giá trị về hình thức và nội dung. Qua bài này có thể thấy được nỗi lòng của nhà Nho phải lưu lạc nơi tha hương trong cơn quốc biến và tài hoa của tác giả.
Đây là tâm trạng thực của Nguyễn Bá Trác vào khoảng 1910 trước khi ông về Quảng Tây theo học võ bị.
Còn bốn năm sau, 1914, ông về Sài Gòn đầu thú lại là việc khác, không hề gây tổn hại tới ảnh hưởng của tác phẩm đúng như Giáo sư Phạm Thế Ngũ trong Việt Nam Văn Học Sử Giản Ước Tân Biên đã nhận xét: “Trong thiên du ký, đặc biệt có một bài ca do một người bạn tác giả gặp ở Thượng Hải, cùng trong cái cảnh đào vong vì quốc sự, thường nghêu ngao hát những lúc mượn chén tiêu sầu nơi lữ điếm. Bài ca ấy, độc giả bấy giờ và nhất là bọn cách mạng lớp sau, ai cũng thích, thường học thuộc và ngâm nga.”
Hoàng Yên Lưu

 

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 272

Nắng

Nắng

 

Cám ơn những sợi nắng vàng
Giăng ngang giữa đỉnh Đông tàn, Xuân sang
 
Giữa mùa Đông giá lạnh của miền Đông Bắc Hoa Kỳ, tuyết rơi rồi gặp lạnh  đóng băng phủ khắp nơi như màn trời phủ chiếu đất.
Những cơn bão tuyết cứ một vài ngày lại kéo đến, làm cho những hoạt động của  thường ngày cũng đình trệ không ít.
Rồi một buổi sớm mai thức dậy chợt thấy những sợi nắng vàng rực rỡ giữa mùa Đông treo trên từng ngọn cây, cành lá .Lòng reo vui như ngày hội, giai điệu nắng dịu dàng len lỏi vào tim ta…
Nắng lên xóa tan sẽ xóa tan  sương mù và băng tuyết.
Nắng ấm lòng giữa những ngày Xuân, Thu, Đông. Rồi nắng thiêu đốt trong  những ngày mùa Hạ. Tất cả là vô thường, nhưng cũng là bình thường…
Nhưng trong mắt của Văn, Thi, Nhạc Sĩ thì Nắng, Mưa cũng đã trở thành những giai điệu tuyệt vời muôn đời….
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 46

Đến Với Đợi Chờ

Đến Với Đợi Chờ
Nỗi buồn căng mộng lạnh hồn
Niềm đau dàn trải nơi còn óc tim
Sáng ra vỗ cánh tung tìm
Về trong hư ảo con chim lạc đàn
Bay hoang bạc kéo lang thang
Trên vùng mây xám mang mang sầu sầu
Thất thanh hố thẩm đối đầu
Gào lên tiếng thét giọng cầu cứu đây
Em đâu? Vương đốt tay đầy
Cho ta níu thoát những ngày trống không
Thấy không ? em có thấy không?
Ta xoay như vụ giữa lòng bão tâm
Lắng nghe sóng chán vỗ ngầm
Mưa chường quất mặt nản lòng gió tru
Đưa ta từ chốn sa mù
Từ vùng hoang mạc ngục tù bơ vơ
Đến đây, đến với đợi chờ
Tình như trút đổvỡ bờ tim yêu
                   Trần Nhật Lệ
 
Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 37

Bến Đò Xu

Bến Đò Xu

 

Bến đò xưa Mẹ dìu con
Về thăm quê ngoại sông còn bến nghiêng
Có thay đổi ở biển triền
Bình vôi ông Táo người khiêng lâu rồi
Cây đa cổ thụ đâm  chồi
Nay không còn gốc làm tôi ngỡ ngàng
À như giấc mộng mơ màng
Năm mươi năm cũ lại càng khác xưa
Bến đò nay khác người đưa
Cô chèo còn sống phải vừa bảy mươi
Ngày xưa tôi mến cô cười
Có lần cô bế một người là tôi
Giọng cô thánh thoát rất vui
“ Để em chuyển  cháu chị ngồi xích vô”
Phần hai thế kỷ nhớ nào
Xưa mơ ước được làm sao đi đò
Giấc mơ ấy Mẹ thường cho
Mỗi lần giỗ kỵ qua đò thăm ông
Hôm nào đò cũng người đông
Tôi ngồi lòng Mẹ xa trông nước trời
Bao người lưu lạc đâu rồi ?
Riêng tôi tóc đã bạc màu muối tiêu
Mẹ tôi tuổi đã về chiều
Tôi từ xa bến nhớ yêu con đò

Nam Sơn  (NHS)

 

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 56

Mười Bài Thơ Xuân

 
Phóng Dịch Mười Bài Thơ Xuân Của Vua Trần Nhân Tông
 
 hoa-mai-1
1 XUÂN HIỂU 
 

Thụy khởi khải song phi,
Bất tri xuân dĩ quy.
Nhất song bạch hồ điệp
Phách phách sấn hoa phi.

Sáng Sớm Mùa Xuân
Sáng ngày mở  cửa ra trông
Nắng Xuân tràn ngập mênh mông chiếu vào
Có đôi bướm trắng lượn chao
Bên hoa đuà giởn, vui sao Xuân vê
̀

2 XUÂN NHẬT YẾT CHIÊU LĂNG

Tì hổ thiên môn túc,
Y quan thất phẩm thông.
Bạch đầu quân sĩ tại,
Vãng vãng thuyết Nguyên Phong.

Nờm nợp binh Nam diễn quân hành
Bừng bừng khí thế chống xâm lăng
Lính già tóc trắng còn oai dũng
Giử nước quân dân chuyện ắt thành

 3 ĐỘNG THIÊN HỒ THƯỢNG

Động Thiên hồ thượng cảnh,
Hoa thảo giảm xuân dung.
Thượng đế liên sầm tịch,
Thái thanh thì nhất chung.

Cảnh Hồ Thiên Động

Ôi cảnh hồ Thiên Động
Hoa cỏ vương nét buồn
Trời dường như cảm động
Thỉnh thoảng vang tiếng chuông

4 XUÂN CẢNH

Dương liễu hoa thâm điểu ngữ trì,
Họa đường thiềm ảnh mộ vân phi.
Khách lai bất vấn nhân gian sự,
Cộng ỷ lan can khán thúy vi.

Cảnh Xuân

Chim hót xôn xao, hoa nở đầy
Nắng tràn mây trắng gió bay bay
Bạn đến vui chơi ngồi ngắm cảnh
Chuyện đời thôi kệ nhắc chi đây

5 XUÂN VÃN

Niên thiếu hà tằng liễu sắc không,
Nhất xuân tâm sự bách hoa trung.
Như kim khám phá đông hoàng diện,
Thiền bản bồ đoàn khán trụy hồng.

Chiều Xuân

Lúc bé nào hay lẽ Sắc Không
Trăm hoa chọn gởi chuyện trong lòng
Nay Hè Thu rõ vô thường cả
Ngồi chiếu thiền nghe Xuân ở trong

 
6 QUỸ TRƯƠNG HIỂN KHANH XUÂN BÍNH
Giá chi vũ bãi, thí xuân sam,
Huống trị kim triêu tam nguyệt tam.
Hồng ngọc đôi bàn xuân thái bính,
Tòng lai phong tục cựu An Nam.
Ngày Xuân Tặng Bánh
Múa điệu dân gian thử áo Xuân
Ngày Xuân tuyết trắng phủ chập chùng
Món ngon ngày Tết, kho tàng Việt
Trải mấy ngàn năm dầy bánh chưng
7 SƠN PHÒNG MẠN HỨNG KỲ NHỊ
Thị phi niệm trục triêu hoa lạc,
Danh lợi tâm tùy dạ vũ hàn.
Hoa tận vũ tình sơn tịch tịch,
Nhất thanh đề điểu hựu xuân tàn.
Tạp niệm theo hoa rụng
Danh lợi lạnh mưa đêm
Hoa tàn mưa đêm lạnh
Tâm ta rất bình yên
 

8  ĐĂNG BẢO ĐÀI SƠN

Địa tịch đài du cổ,
Thời lai xuân vị thâm.
Vân sơn tương viễn cận.
Hoa kính bán tình âm.
Vạn sự thủy lưu thủy,
Bách niên tâm dữ [ngữ] tâm.
Ỷ lan hoành ngọc địch,
Minh nguyệt mãn hung khâm.

LÊN NÚI BẢO ĐÀI

Đài cổ giửa vùng đất vắng xa
Xuân mới về đây mây núi qua
Đường hoa nửa nắng, râm lấp lánh
Nước chảy trôi rồi,  mọi chuyện xa

Lan can nâng sáo thổi tình ca
Bóng trăng trước ngực đẹp như ngà
Kiếp nào còn có trăng, hoa, nước
Kiếp đó còn người mộng dưới hoa

9 TẢO MAI KỲ NHẤT

Ngũ xuất viên ba kim niễn tu,
San hô trầm ảnh hải lân phù.
Cá tam đông bạch chi tiền diện,
Tá nhất biện hương xuân thượng đầu.
Cam lộ lưu phương si điệp tỉnh,
Dạ quang như thủy khát cầm sầu.
Hằng Nga nhược thức hoa giai xứ
Quế lãnh thiềm hàn chỉ ma hưu!

Ngắm Hoa Mai (Lần 1)

Năm cánh hoa  thơm, nhụy điểm vàng, 
Cành hoa tuyết trắng tháng đông sang,
Hằng Nga nếu biết mai xinh thế 
Cung quế nào thèm, Cuội dỡ dang

10 TẢO MAI KỲ NHỊ

Ngũ nhật kinh hàn lãn xuất môn,
Đông phong tiên dĩ đáo cô côn [căn].
Ảnh hoành thủy diện băng sơ bạn,
Hoa áp chi đầu noãn vị phân.
Thúy vũ ca trầm sơn điếm nguyệt,
Họa long xuy thấp Ngọc Quan vân.
Nhất chi mê nhập cố nhân mộng,
Giác hậu bất kham trì tặng quân.

Ngắm Hoa Mai (Lần 2)

Một tuần lạnh buốt chẳng bước ra
Gió Xuân chợt ghé gốc mai già
Nằm mơ người mộng hương vương vấn
Tỉnh giấc làm sao hái tặng hoa?

V3

 

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 44

Ngậm Ngùi

 

   Ngậm Ngùi

Nắng vàng nhẹ đổ bên trời
Tơ vương một thoáng chơi vơi ngậm ngùi
Nắng nhẹ đổ trên màu trang sách vở
Những năm dài Sư Phạm dốc mù sương
Thời gian nhé! Hãy cho tôi tìm lại
Thưở êm đềm hoa bướm ngập đường đi
Có dáng em ngơ ngác ở vườn thơ
Và mắt biết vương vương màu nắng nhạt
Áo lụa trắng tung bay chiều gió lộng
Với bạn bè dấu ái kiêu sa
Cho tôi nhớ thưở xưa còn đi học…

                               Bạch Tuyết

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 52

Chiều

Chiều

                     Gió chiều một thoáng thu hương

                     Lá rơi nhè nhẹ người thương nhớ người

 

“Chiều buồn len lén qua song”

Không biết chiều bên kia có len lén qua song không? Nhưng buổi chiều nơi đây thật đẹp, thật yên tĩnh, đồi vắng rừng thông bạt ngàn, ngút mắt…

Sau một ngày học tập mệt mỏi, tôi thường ra đứng sau đồi, để được nhìn cảnh Đà Lạt về chiều. Bên kia là Đồi Cù với làn cỏ xanh mịn màng, mát dịu. Dưới chân là Hồ Xuân Hương lăn tăn  sóng gợn, xa xa chút nữa  từng mảng mây chiều nằm vắt ngang đỉnh núi, mù mù như một vùng biển lạnh. Cái lạnh của ĐàLạt làm cho lòng mình se lại , ngùi ngùi…

Từ trong cõi nào hình ảnh ,nụ cười của bạn bè còn sót lại đâu đây. Có người ngồi dạo đàn ở một góc hành lang, có người đứng bên khung cữa nhỏ, dõi mắt nhìn tận nẻo trời xa. Có người đi loanh quanh trong sân trường tìm nhặt những trái thông trong trời chiều gió lộng…

Dù không là văn nhân, không là thi sĩ, nhưng tất cả chúng ta đều gặp nhau ở một điểm: dừng lại trước vẻ đẹp của thiên nhiên. Thiên nhiên xoa dịu nỗi đau của loài người, nếu chúng ta biết tận hưởng và trân trọng nó.

Tất cả rồi cũng sẽ qua, tình cảm rồi cũng phai tàn, sách vở rồi cũng sẽ bị bỏ quên…nhưng kỷ niệm vẫn còn sống mãi.

Tôi còn nhớ một buổi sáng thể dục, chúng tôi có một ngày leo núi, đó là một ngày thú vị nhất! Tất cả đều phải vượt một quãng đường dài hơn 2 km đẻ leo núi. Ngọn núi nằm ở trước mặt, ai cũng mệt nhừ, mấy cô gái thì xĩu lên xĩu xuống, nhưng khi lên tới đỉnh rồi thì ai cũng hân hoan. Mây bay la đà trên đầu, gió thổi thật mạnh, càng lên cao càng lạnh.. Chúng tôi từ từ xuống núi và băng  ngang qua Đồi Cù để về trường, về đến nơi thì trời đã về  chiều. Cũng là một buổi chiều, buổi chiều mệt mỏi, nhưng thú vị

Đà Lạt về chiều thường hay có những trận mưa buồn và  sợ nhất là mưa rừng, vừa lạnh, vừa dai dẳng. Có lần chúng tôi đi lao động ở nông trường Phi Vàng, ngồi nhìn mưa bay bay trên đầu ngọn bắp, sao tự dưng thấy thê lương và hụt hẫng. Một lần tôi cùng cô bạn gái ngồi co ro trong một hốc núi mù mù nghe mưa rơi, tôi cũng yêu lạ lùng tiếng mưa buồn, cô đơn như cánh chim lạc loài. Bây giờ các bạn ấy đã xa rồi! Tôi không buồn nhưng cũng không vui, chỉ tình cờ nhắc lại kỷ niệm ngày xưa.  Nhớ thương hai tiếng” ngày xưa”.

Ngày nay không phải là không đẹp, nhưng chỉ có ngày xưa mới làm mình thương , mình tiếc nuối. Mong bạn bè lưu giữ những kỷ niêm nầy, để mỗi lần thấy buồn, ghé chân trong hồn, và hỏi” Bạn bè ngày xưa giờ họ ở đâu rồi nhỉ”

Và chừng ấy cả một khoảng thời xưa sẽ sống lại, từng cử chỉ nhỏ nhoi cũng tha thiết đợm tình.

Chiều nay tôi cũng lại ngồi một mình, thương người, thương thân phận….Nhìn những con én lẻ loi đậu trên mấy hàng dây điện, cô đơn đến tội nghiệp. Hết mùa xuân rồi chim Én biết về đâu?

Hết Xuân, lại đến Hè, hết Hè lại Đông, hết Đông lại Xuân. Mong rằng chúng ta còn gặp nhau lần nữa.Tình bạn mãi mãi vượt thời gian…

 

Sớm mai thức dậy ngoài song

Mây xanh, nắng ấm thấy lòng thảnh thơi

Xin cám ơn, cám ơn đời

Cho tôi những sáng tuyệt vời lắm thay
Bạch Tuyết

 

 

 

 

 

Ngậm Ngùi

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Hits: 50

KHUÔN MẶT VĂN NGHỆ MỚI