Ở Đó Ở Đây

 Ở  Đó Ở Đây

Anh biết mùa này Sài Gòn mưa luôn
Và anh lại nhớ đến những con đường
Nơi chúng mình thường hẹn hò, đưa đón
Ôi bao kỷ niệm, bao nỗi yêu thương
Anh nhớ Sài Gòn chiều thường mưa giông
Nửa đêm chợt nhớ Tiếng Hát Hoa Hồng
Anh biết mùa này em buồn ray rứt
Nỗi buồn thật dài là nỗi chờ mong
Anh ở đây nước lũ bôi đen mặt người
Bóng tối che ngang nụ cười
Âm thầm như một cánh dơi
Em ở đó Sài Gòn trời trở gió
Anh biết em đau từng giờ
Cô đơn héo hắt hồn thơ
Anh biết tình mình còn nhiều mưa bay
Và em là nỗi nhớ đã đong đầy
Ôi những ngày dài âm thầm xa vắng
Mất gì, còn gì ở đó ở đây
                     Nguyên Nguyễn

Hits: 80

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Trời Cuối Đông Rồi Em Có Hay

 

Trời Cuối Đông Rồi Em Có Hay

Trời cuối Đông rồi em có hay?
Buồn nương theo những phiến mưa bay
Gió rung tàu chuối tung hơi lạnh
Trời cuối Đông rồi em có hay?
Áo trắng anh đất đỏ nhuộm hồng
Chiều tàn tạm nghỉ bước chân rong
Vời trông cuối nẻo sương mờ đục
Pha lẫn rừng xanh lá quyện dòng
Lá quyện dòng thương, thương nhớ ơi
Trăng non yên giấc tự lâu rồi
Nàng sao còn thức không thèm ngủ
Đêm trắng gọi thầm thương nhớ ơi
Em biết không em ở cao nguyên
Anh làm kẻ lạ mặt lạ miền
Khoát trọn cô đơn bên điếu thuốc
Nhìn màu khói xám loãng ưu phiền
Ưu phiền ôm nhẹ mấy chiều rơi
Anh gởi theo mây dạt phương trời
Bằng cả tim yêu lời thiết hỏi
Em có hay trời cuối Đông rồi?
                   Trần Nhật Lệ
 

 

Hits: 59

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Nguyễn Bá Trác và bài Hồ Trường

 

Nguyễn Bá Trác và bài Hồ

Trường

  Hạn mạn du ký là thiên ký sự gồm 14 chương kể lại cuộc Đông du của tác giả trong khoảng 6 năm (1908-1914) từ Sài Gòn sang Xiêm La – Hương Cảng – Nhật Bản – Trung Hoa – rồi về Việt Nam.NguyenBaTrac
Hạn mạn du ký trước tiên được viết bằng chữ Hán, đăng tải từ số 22 đến số 35 năm 1919, 1920; sau đó thiên ký sự này được chính tác giả dịch sang chữ Việt và đăng tải ở phần chữ Việt của Nam Phong từ số 38 đến số 43 năm 1920, 1921.
Như đã trình bày, thiên du ký của Nguyễn Bá Trác được ông gọi một cách khiêm tốn là “Hạn mạn du ký” có ý nghĩa “chuyến chơi phiếm” để che đậy một tâm sự. Ông từng là một kẻ sĩ thành danh (đậu cử nhân) theo phong trào Đông Du của Phan Bội Châu, Nguyễn Thượng Hiền… sang Nhật sang Tàu để tìm đường canh tân xứ sở và giải phóng dân tộc. Nhưng con đường cách mạng gian lao, đầy nguy hiểm, sĩ phu có tâm huyết lúc đó chịu áp lực từ nhiều phía không những trước thủ đoạn khủng bố bạo tàn của chính quyền thuộc địa mà còn bị chính quyền các quốc gia như Nhật, Trung Hoa và Xiêm xua đuổi. Một số nhà Nho, lúc trước hăng hái quên mình vì tiền đồ tổ quốc, dần dần thoái chí và trở về cộng tác với chính quyền Pháp, trong đó có Nguyễn Bá Trác.
Bà Phạm thị Ngoạn (con gái của Thượng chi Phạm Quỳnh), một trí thức có dịp hiểu biết nhiều về Nguyễn Bá Trác, trong một luận án về Nam Phong, đã viết về cây bút coi phần chữ Hán của Nam Phong tạp chí như sau:
“Sau khi ông bỏ cuộc (xuất ngoại) trở lại với quê hương, ‘ăn năn hối cải’ và được thâu dụng trong chính quyền thuộc địa…
“Nhà Nho thâm thúy này có một phong độ khác thường khi trình bày với độc giả về tình cảm, tư tưởng và ngay cả những ý nghĩ thầm kín của lòng mình. Là một nhà văn hữu hạng, ông sử dụng thật tài tình lối diễn tả hàm xúc là một nghệ thuật rất thịnh hành trong giới văn nhân thời đó; nói một đàng để độc giả hiểu một nẻo, hay nói rất ít để độc giả nghĩ rất nhiều… Mặt khác qua những sáng tác tản văn, độc giả nhận thấy ở Nguyễn Bá Trác một thái độ chán chường và hoài nghi vốn dĩ là tập quán của làng nho”.

Điều này giúp ta khẳng định được tác phẩm mà ngày nay ta gọi là Hồ Trường là do Nguyễn Bá Trác sáng tác kể cả phần chữ Hán lẫn bản dịch, nhưng ông đã gán cho nó là một Nam phương ca khúc có sẵn của miền nam Trung Hoa.
Đừng nên quên nhà Nho ký thác tâm sự thường kín đáo, mượn chuyện xưa để nói chuyện nay, lấy chuyện người để kể chuyện mình, như Nguyễn Đình Chiểu viết Lục Vân Tiên kể lể tâm sự và hành trạng của bản thân mình (xem Nỗi lòng Đồ Chiểu của Phan văn Hùm, 1902-1946) nhưng lại mở đầu tác phẩm bằng câu “trước đèn xem truyện Tây minh!”. Thực ra, trong văn học Trung Hoa nào có một tác phẩm có danh có tên là Tây Minh đâu! Do đó có thể nói chẳng có Nam phương ca khúc có sẵn nào cả mà chỉ có nỗi lòng của một nhà Nho có văn tài, khi thoái chí viết nên lời ca để thanh minh với hậu thế về thái độ “hồi chính” của mình.
Một cây viết tiền chiến, có kiến thức Âu Á rất sâu, và thuộc thế hệ rất gần với Nam Phong và Nguyễn Bá Trác (1881-1945), là Lãng nhân Phùng Tất Đắc (1907-2008), trong tác phẩm Chơi chữ đã nhận xét tinh tế về Hồ Trường và tâm sự tác giả: “Vốn chân cử nhân, lúc thiếu thời có gia nhập một đảng cách mạng. Đi phiêu lưu bên Tàu một dạo, ông từng làm ra bài Hồ Trường lâm ly khẳng khái… Sau ít năm giang hồ ông về đầu thú, phản thầy là cụ Sào Nam, tố giác bạn trong đó có Đặng văn Phương tức Đặng Đình Thanh, người Cần Thơ từng du học ở Đông Kinh, tại Đồng văn thư viện. Do đó ông cử nhân cách mạng được bổ làm quan, chẳng bao lâu đã lên tới đến chức tổng đốc”.
Trong Phan Bội Châu niên biểu (do Nguyễn Khắc Ngữ chú thích) còn ghi rằng Tiêu đẩu (Nguyễn Bá Trác) chính là người tố cáo nhà cách mạng Trần Hữu Lực khiến ông này bị bắt và bị xử bắn ở Hà Nội (cùng với Hoàng Trọng Mậu) vào năm 1915.
Có tâm trạng day dứt như thế nên sau này trong các tác phẩm thơ ca như Bài tự tình với sông Hương (Nam Phong số 2), Bài hát tâm sự (Tạp chí Khuyến học số 9, 1936), Nguyễn Bá Trác đều bày tỏ nỗi lòng “một mình biết, một mình mình hay”:

“Ai giận gió, ai hờn mây, ai cười hoa, ai ghẹo nguyệt
Mặc ai ai ta chỉ biết có mình
Khác nhau vì một chữ tình!”

Chúng ta trở lại phần trích trong Hạn mạn du ký sau đây để thấy rõ bài ca Hồ Trường ra đời trong hoàn cảnh nào:
“Một hôm trời đã chiều hôm, hiu hiu gió bể, chúng tôi (tác giả và người bạn được gọi là Nguyên quân mà người ta ngờ rằng chính là Trần Hữu Lực) làm việc vừa xong, rủ nhau đi chơi phố. Nguyên quân cao hứng muốn vào tửu lâu, tôi cũng hợp ý; bèn thuê xe đến ngay Đào Đào quán ở trong tô giới. Nguyên quân cả năm không hay uống rượu đã uống thì say, đã say thì hay hát. Hát không hiểu khúc, song tiếng trong mà cao; cứ nghêu ngao mấy câu cổ phong, tự người ngoại quốc nghe đã lấy làm kiêu điệu lắm; cho nên ngày ở Quế Lâm, thi tốt nghiệp rồi, Nguyên quân say rượu tay gõ miệng hát, anh em đồng học đều khen là danh ca. Chiều hôm ấy, rượu ngà ngà, Nguyên quân cũng đứng dậy mà hát. Cách phòng có một người khách, tên là Lưu mỗ, là người Trực Lệ, hiện làm quan võ coi lính ở Quảng Tây, nghe Nguyên quân hát, bèn vào phòng, chào nói tên họ, rồi hỏi Nguyên quân: “Tôi nhớ năm xưa có gặp Quý hữu một lần ở tại Đông Kinh nước Nhật”. Nguyên quân nói: “Lâu ngày không nhớ cho rõ”. Khách lại hỏi: “Vừa nghe Quý hữu hát ấy là điệu gì?”. Nguyên quân nói: “Ấy là một điệu đặc biệt ở phương Nam”. Khách nói: “Nghe tiếng bi mà tráng, nhiều hơi khảng khái, Nam phương có điệu hát đến như thế ru?” – Nói rồi, liền gọi thằng hầu lấy bút giấy, xin Nguyên quân viết bài hát cho mà xem. Nguyên quân cầm bút viết ngay.

Bài hát dịch ra như sau này:

Trượng phu không hay xé gan bẻ cột phù cương thường;
Hà tất tiêu dao bốn bể, luân lạc tha hương.
Trời nam nghìn dặm thẳm; mây nước một mầu sương.
Học không thành, công chẳng lập, trai trẻ bao lâu mà đầu bạc; trăm năm thân thể bóng tà dương.
Vỗ tay mà hát, nghiêng đầu mà hỏi, trời đất mang mang, ai là tri kỷ, lại đây cùng ta cạn một hồ trường.
Hồ trường! Hồ trường! Ta biết rót về đâu?
Rót về đông phương, nước bể Đông chẩy xiết, sinh cuồng lan.
Rót về tây phương, mưa Tây sơn từng trận chứa chan;
Rót về bắc phương, ngọn bắc phong vì vụt, đá chạy cát dương;
Rót về nam phương, trời nam mù mịt, có người quá chén như điên như cuồng.
Nào ai tỉnh, nào ai say, chí ta ta biết lòng ta hay;
Nam nhi sự nghiệp ở hồ thỉ, hà tất cùng sầu đối cỏ cây.”

Hạn mạn du ký kể tiếp: sau khi trò chuyện, người khách họ Lưu hiểu tâm trạng kẻ sĩ phương nam (là tác giả và Nguyên quân) phải lưu lạc nơi đất bắc vì tiền đồ tổ quốc nên thông cảm và hứa giúp đỡ bằng cách giới thiệu họ vào trường lục quân ở Quảng Tây để theo học và có nơi nương nhờ. Sau đó bộ ba từ biệt và tác giả viết tiếp:
“Tôi với Nguyên quân về nhà trọ rồi, cứ nghĩ lời Lưu quân nói, thêm ngao ngán cho cái tiền đồ của mình, đã trải mấy lần tìm đường lướt sóng, mà nay hãy còn lênh đênh trong sông khổ bến mê; ở đời không sợ hoạn nạn, chỉ lo hư sinh. Như mình đã bôn đông tẩu tây, ăn cay uống đắng, có phải là sợ hoạn nạn đâu, chỉ sợ chí lớn tài hèn, chiếc thân lưu lạc; rồi đây chẳng làm nên công trạng gì, đem nắm xương tàn, gửi với cỏ cây nơi đất khách, nhân sinh đến thế thời cũng đáng thương cho đời lắm thay! Hai người cứ ngơ ngẩn nhìn nhau, ngổn ngang trăm mối, tiền đồ chưa quyết là làm sao. Nguyên quân lại nói: ‘Chúng ta đã đến cái địa bộ này, Nam, Bắc, Đông, Tây đi đâu mà không được. Thôi! Tôi với anh, kể từ hôm nay vi thủy, hẹn bốn năm nữa chỉ là một người học sinh; còn nghĩa bằng hữu, tình cố quốc, hãy để một bên, bốn năm sau ta sẽ định’”. Thương nghị rồi, chuông đã năm giờ, chúng tôi đi nghỉ.”

Sau đây là phần chữ Hán của bài ca Hồ Trường (hồ là bình rượu, trường là chén uống rượu):

Trượng phu sanh bất năng phi can chiết hạm vị thế phù cương thường
Tiêu dao tứ hải, hồ vị hồ thử hương
Hồi đầu nam vọng mạc vô cực hề, thiên vân nhất sắc đồ thương thương
Lập công bất thành, học bất tựu, thiếu tráng hữu cơ thời hề, tọa thị bách niên thân thế khu âm dương.
Phủ chưởng cuồng ca vấn tư thế, mang mang thiên địa, an đắc tri nhất tri kỷ hề, thí lai đối chước hữu dư trường.
Dư trường trịch hướng đông minh thủy, đông minh chi thủy vạn đội khởi cuồng lan.
Dư trường trịch hướng tây sơn vũ, tây sơn chi vũ nhất trận hà uông dương.
Dư trường trịch hướng bắc phong khứ, bắc phong dương sa tẩu thạch phi thù phương.
Dư trường trịch hướng nam thiên vụ, vụ trung hữu nhân khai khẩu nhất ẩm cừ nhiên túy
Thiên địa vũ trụ hồn tương vong, dư bất túy hĩ, dư hành dư chí
Nam nhi tự cổ sự tang bồng, hà tất cùng sầu khấp phần tử

Nguyên tác và bản dịch đều là tác phẩm rất giá trị về hình thức và nội dung. Qua bài này có thể thấy được nỗi lòng của nhà Nho phải lưu lạc nơi tha hương trong cơn quốc biến và tài hoa của tác giả.
Đây là tâm trạng thực của Nguyễn Bá Trác vào khoảng 1910 trước khi ông về Quảng Tây theo học võ bị.
Còn bốn năm sau, 1914, ông về Sài Gòn đầu thú lại là việc khác, không hề gây tổn hại tới ảnh hưởng của tác phẩm đúng như Giáo sư Phạm Thế Ngũ trong Việt Nam Văn Học Sử Giản Ước Tân Biên đã nhận xét: “Trong thiên du ký, đặc biệt có một bài ca do một người bạn tác giả gặp ở Thượng Hải, cùng trong cái cảnh đào vong vì quốc sự, thường nghêu ngao hát những lúc mượn chén tiêu sầu nơi lữ điếm. Bài ca ấy, độc giả bấy giờ và nhất là bọn cách mạng lớp sau, ai cũng thích, thường học thuộc và ngâm nga.”
Hoàng Yên Lưu

 

Hits: 277

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Nắng

Nắng

 

Cám ơn những sợi nắng vàng
Giăng ngang giữa đỉnh Đông tàn, Xuân sang
 
Giữa mùa Đông giá lạnh của miền Đông Bắc Hoa Kỳ, tuyết rơi rồi gặp lạnh  đóng băng phủ khắp nơi như màn trời phủ chiếu đất.
Những cơn bão tuyết cứ một vài ngày lại kéo đến, làm cho những hoạt động của  thường ngày cũng đình trệ không ít.
Rồi một buổi sớm mai thức dậy chợt thấy những sợi nắng vàng rực rỡ giữa mùa Đông treo trên từng ngọn cây, cành lá .Lòng reo vui như ngày hội, giai điệu nắng dịu dàng len lỏi vào tim ta…
Nắng lên xóa tan sẽ xóa tan  sương mù và băng tuyết.
Nắng ấm lòng giữa những ngày Xuân, Thu, Đông. Rồi nắng thiêu đốt trong  những ngày mùa Hạ. Tất cả là vô thường, nhưng cũng là bình thường…
Nhưng trong mắt của Văn, Thi, Nhạc Sĩ thì Nắng, Mưa cũng đã trở thành những giai điệu tuyệt vời muôn đời….

Hits: 46

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Đến Với Đợi Chờ

Đến Với Đợi Chờ
Nỗi buồn căng mộng lạnh hồn
Niềm đau dàn trải nơi còn óc tim
Sáng ra vỗ cánh tung tìm
Về trong hư ảo con chim lạc đàn
Bay hoang bạc kéo lang thang
Trên vùng mây xám mang mang sầu sầu
Thất thanh hố thẩm đối đầu
Gào lên tiếng thét giọng cầu cứu đây
Em đâu? Vương đốt tay đầy
Cho ta níu thoát những ngày trống không
Thấy không ? em có thấy không?
Ta xoay như vụ giữa lòng bão tâm
Lắng nghe sóng chán vỗ ngầm
Mưa chường quất mặt nản lòng gió tru
Đưa ta từ chốn sa mù
Từ vùng hoang mạc ngục tù bơ vơ
Đến đây, đến với đợi chờ
Tình như trút đổvỡ bờ tim yêu
                   Trần Nhật Lệ
 

Hits: 37

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Bến Đò Xu

Bến Đò Xu

 

Bến đò xưa Mẹ dìu con
Về thăm quê ngoại sông còn bến nghiêng
Có thay đổi ở biển triền
Bình vôi ông Táo người khiêng lâu rồi
Cây đa cổ thụ đâm  chồi
Nay không còn gốc làm tôi ngỡ ngàng
À như giấc mộng mơ màng
Năm mươi năm cũ lại càng khác xưa
Bến đò nay khác người đưa
Cô chèo còn sống phải vừa bảy mươi
Ngày xưa tôi mến cô cười
Có lần cô bế một người là tôi
Giọng cô thánh thoát rất vui
“ Để em chuyển  cháu chị ngồi xích vô”
Phần hai thế kỷ nhớ nào
Xưa mơ ước được làm sao đi đò
Giấc mơ ấy Mẹ thường cho
Mỗi lần giỗ kỵ qua đò thăm ông
Hôm nào đò cũng người đông
Tôi ngồi lòng Mẹ xa trông nước trời
Bao người lưu lạc đâu rồi ?
Riêng tôi tóc đã bạc màu muối tiêu
Mẹ tôi tuổi đã về chiều
Tôi từ xa bến nhớ yêu con đò

Nam Sơn  (NHS)

 

Hits: 56

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Mười Bài Thơ Xuân

 
Phóng Dịch Mười Bài Thơ Xuân Của Vua Trần Nhân Tông
 
 hoa-mai-1
1 XUÂN HIỂU 
 

Thụy khởi khải song phi,
Bất tri xuân dĩ quy.
Nhất song bạch hồ điệp
Phách phách sấn hoa phi.

Sáng Sớm Mùa Xuân
Sáng ngày mở  cửa ra trông
Nắng Xuân tràn ngập mênh mông chiếu vào
Có đôi bướm trắng lượn chao
Bên hoa đuà giởn, vui sao Xuân vê
̀

2 XUÂN NHẬT YẾT CHIÊU LĂNG

Tì hổ thiên môn túc,
Y quan thất phẩm thông.
Bạch đầu quân sĩ tại,
Vãng vãng thuyết Nguyên Phong.

Nờm nợp binh Nam diễn quân hành
Bừng bừng khí thế chống xâm lăng
Lính già tóc trắng còn oai dũng
Giử nước quân dân chuyện ắt thành

 3 ĐỘNG THIÊN HỒ THƯỢNG

Động Thiên hồ thượng cảnh,
Hoa thảo giảm xuân dung.
Thượng đế liên sầm tịch,
Thái thanh thì nhất chung.

Cảnh Hồ Thiên Động

Ôi cảnh hồ Thiên Động
Hoa cỏ vương nét buồn
Trời dường như cảm động
Thỉnh thoảng vang tiếng chuông

4 XUÂN CẢNH

Dương liễu hoa thâm điểu ngữ trì,
Họa đường thiềm ảnh mộ vân phi.
Khách lai bất vấn nhân gian sự,
Cộng ỷ lan can khán thúy vi.

Cảnh Xuân

Chim hót xôn xao, hoa nở đầy
Nắng tràn mây trắng gió bay bay
Bạn đến vui chơi ngồi ngắm cảnh
Chuyện đời thôi kệ nhắc chi đây

5 XUÂN VÃN

Niên thiếu hà tằng liễu sắc không,
Nhất xuân tâm sự bách hoa trung.
Như kim khám phá đông hoàng diện,
Thiền bản bồ đoàn khán trụy hồng.

Chiều Xuân

Lúc bé nào hay lẽ Sắc Không
Trăm hoa chọn gởi chuyện trong lòng
Nay Hè Thu rõ vô thường cả
Ngồi chiếu thiền nghe Xuân ở trong

 
6 QUỸ TRƯƠNG HIỂN KHANH XUÂN BÍNH
Giá chi vũ bãi, thí xuân sam,
Huống trị kim triêu tam nguyệt tam.
Hồng ngọc đôi bàn xuân thái bính,
Tòng lai phong tục cựu An Nam.
Ngày Xuân Tặng Bánh
Múa điệu dân gian thử áo Xuân
Ngày Xuân tuyết trắng phủ chập chùng
Món ngon ngày Tết, kho tàng Việt
Trải mấy ngàn năm dầy bánh chưng
7 SƠN PHÒNG MẠN HỨNG KỲ NHỊ
Thị phi niệm trục triêu hoa lạc,
Danh lợi tâm tùy dạ vũ hàn.
Hoa tận vũ tình sơn tịch tịch,
Nhất thanh đề điểu hựu xuân tàn.
Tạp niệm theo hoa rụng
Danh lợi lạnh mưa đêm
Hoa tàn mưa đêm lạnh
Tâm ta rất bình yên
 

8  ĐĂNG BẢO ĐÀI SƠN

Địa tịch đài du cổ,
Thời lai xuân vị thâm.
Vân sơn tương viễn cận.
Hoa kính bán tình âm.
Vạn sự thủy lưu thủy,
Bách niên tâm dữ [ngữ] tâm.
Ỷ lan hoành ngọc địch,
Minh nguyệt mãn hung khâm.

LÊN NÚI BẢO ĐÀI

Đài cổ giửa vùng đất vắng xa
Xuân mới về đây mây núi qua
Đường hoa nửa nắng, râm lấp lánh
Nước chảy trôi rồi,  mọi chuyện xa

Lan can nâng sáo thổi tình ca
Bóng trăng trước ngực đẹp như ngà
Kiếp nào còn có trăng, hoa, nước
Kiếp đó còn người mộng dưới hoa

9 TẢO MAI KỲ NHẤT

Ngũ xuất viên ba kim niễn tu,
San hô trầm ảnh hải lân phù.
Cá tam đông bạch chi tiền diện,
Tá nhất biện hương xuân thượng đầu.
Cam lộ lưu phương si điệp tỉnh,
Dạ quang như thủy khát cầm sầu.
Hằng Nga nhược thức hoa giai xứ
Quế lãnh thiềm hàn chỉ ma hưu!

Ngắm Hoa Mai (Lần 1)

Năm cánh hoa  thơm, nhụy điểm vàng, 
Cành hoa tuyết trắng tháng đông sang,
Hằng Nga nếu biết mai xinh thế 
Cung quế nào thèm, Cuội dỡ dang

10 TẢO MAI KỲ NHỊ

Ngũ nhật kinh hàn lãn xuất môn,
Đông phong tiên dĩ đáo cô côn [căn].
Ảnh hoành thủy diện băng sơ bạn,
Hoa áp chi đầu noãn vị phân.
Thúy vũ ca trầm sơn điếm nguyệt,
Họa long xuy thấp Ngọc Quan vân.
Nhất chi mê nhập cố nhân mộng,
Giác hậu bất kham trì tặng quân.

Ngắm Hoa Mai (Lần 2)

Một tuần lạnh buốt chẳng bước ra
Gió Xuân chợt ghé gốc mai già
Nằm mơ người mộng hương vương vấn
Tỉnh giấc làm sao hái tặng hoa?

V3

 

Hits: 44

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Ngậm Ngùi

 

   Ngậm Ngùi

Nắng vàng nhẹ đổ bên trời
Tơ vương một thoáng chơi vơi ngậm ngùi
Nắng nhẹ đổ trên màu trang sách vở
Những năm dài Sư Phạm dốc mù sương
Thời gian nhé! Hãy cho tôi tìm lại
Thưở êm đềm hoa bướm ngập đường đi
Có dáng em ngơ ngác ở vườn thơ
Và mắt biết vương vương màu nắng nhạt
Áo lụa trắng tung bay chiều gió lộng
Với bạn bè dấu ái kiêu sa
Cho tôi nhớ thưở xưa còn đi học…

                               Bạch Tuyết

Hits: 52

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Chiều

Chiều

                     Gió chiều một thoáng thu hương

                     Lá rơi nhè nhẹ người thương nhớ người

 

“Chiều buồn len lén qua song”

Không biết chiều bên kia có len lén qua song không? Nhưng buổi chiều nơi đây thật đẹp, thật yên tĩnh, đồi vắng rừng thông bạt ngàn, ngút mắt…

Sau một ngày học tập mệt mỏi, tôi thường ra đứng sau đồi, để được nhìn cảnh Đà Lạt về chiều. Bên kia là Đồi Cù với làn cỏ xanh mịn màng, mát dịu. Dưới chân là Hồ Xuân Hương lăn tăn  sóng gợn, xa xa chút nữa  từng mảng mây chiều nằm vắt ngang đỉnh núi, mù mù như một vùng biển lạnh. Cái lạnh của ĐàLạt làm cho lòng mình se lại , ngùi ngùi…

Từ trong cõi nào hình ảnh ,nụ cười của bạn bè còn sót lại đâu đây. Có người ngồi dạo đàn ở một góc hành lang, có người đứng bên khung cữa nhỏ, dõi mắt nhìn tận nẻo trời xa. Có người đi loanh quanh trong sân trường tìm nhặt những trái thông trong trời chiều gió lộng…

Dù không là văn nhân, không là thi sĩ, nhưng tất cả chúng ta đều gặp nhau ở một điểm: dừng lại trước vẻ đẹp của thiên nhiên. Thiên nhiên xoa dịu nỗi đau của loài người, nếu chúng ta biết tận hưởng và trân trọng nó.

Tất cả rồi cũng sẽ qua, tình cảm rồi cũng phai tàn, sách vở rồi cũng sẽ bị bỏ quên…nhưng kỷ niệm vẫn còn sống mãi.

Tôi còn nhớ một buổi sáng thể dục, chúng tôi có một ngày leo núi, đó là một ngày thú vị nhất! Tất cả đều phải vượt một quãng đường dài hơn 2 km đẻ leo núi. Ngọn núi nằm ở trước mặt, ai cũng mệt nhừ, mấy cô gái thì xĩu lên xĩu xuống, nhưng khi lên tới đỉnh rồi thì ai cũng hân hoan. Mây bay la đà trên đầu, gió thổi thật mạnh, càng lên cao càng lạnh.. Chúng tôi từ từ xuống núi và băng  ngang qua Đồi Cù để về trường, về đến nơi thì trời đã về  chiều. Cũng là một buổi chiều, buổi chiều mệt mỏi, nhưng thú vị

Đà Lạt về chiều thường hay có những trận mưa buồn và  sợ nhất là mưa rừng, vừa lạnh, vừa dai dẳng. Có lần chúng tôi đi lao động ở nông trường Phi Vàng, ngồi nhìn mưa bay bay trên đầu ngọn bắp, sao tự dưng thấy thê lương và hụt hẫng. Một lần tôi cùng cô bạn gái ngồi co ro trong một hốc núi mù mù nghe mưa rơi, tôi cũng yêu lạ lùng tiếng mưa buồn, cô đơn như cánh chim lạc loài. Bây giờ các bạn ấy đã xa rồi! Tôi không buồn nhưng cũng không vui, chỉ tình cờ nhắc lại kỷ niệm ngày xưa.  Nhớ thương hai tiếng” ngày xưa”.

Ngày nay không phải là không đẹp, nhưng chỉ có ngày xưa mới làm mình thương , mình tiếc nuối. Mong bạn bè lưu giữ những kỷ niêm nầy, để mỗi lần thấy buồn, ghé chân trong hồn, và hỏi” Bạn bè ngày xưa giờ họ ở đâu rồi nhỉ”

Và chừng ấy cả một khoảng thời xưa sẽ sống lại, từng cử chỉ nhỏ nhoi cũng tha thiết đợm tình.

Chiều nay tôi cũng lại ngồi một mình, thương người, thương thân phận….Nhìn những con én lẻ loi đậu trên mấy hàng dây điện, cô đơn đến tội nghiệp. Hết mùa xuân rồi chim Én biết về đâu?

Hết Xuân, lại đến Hè, hết Hè lại Đông, hết Đông lại Xuân. Mong rằng chúng ta còn gặp nhau lần nữa.Tình bạn mãi mãi vượt thời gian…

 

Sớm mai thức dậy ngoài song

Mây xanh, nắng ấm thấy lòng thảnh thơi

Xin cám ơn, cám ơn đời

Cho tôi những sáng tuyệt vời lắm thay
Bạch Tuyết

 

 

 

 

 

Ngậm Ngùi

Hits: 50

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Tình Muộn

                              Tình Muộn

                          Rượu đã mềm môi, sầu chẳng cạn
                         Tay choàng chỉ thấy bóng cô liêu
                          Mờ trong khói thuốc toàn hư ảnh
                          Đêm trắng và ta, tóc đã chiều
                          Cố níu thời gian ngày chẳng đợi
                          Mộng đời, thôi sắc úa thu phai
                          Lòng ta như cánh rừng xơ xác
                          Rụng hết niềm yêu một kiếp dài
                          Những tưởng tàn hơi vào quạnh quẽ
                          Nào ngờ sấm sét gió mưa sang
                          Lòng ơi, nhắc mãi đừng mơ nữa
                          Trở bước là thôi đã muộn màng
                          Nhưng cố quên đi càng cố nhớ
                          Lạnh lùng càng lủa ngút trăng sao
                          Vì em như đóa hồng gai sắc
                          Cắm giữa tim ta tự thuở nào
                          Chớ giết đời ta bằng lạnh lẽo
                          Đời buồn thôi cố giấu chi nhau
                          Em ơi chỉ một lần ta sống
                          Chớ hẹn nhau còn một kiếp sau.

                                                         Nguyễn Vạn Toàn

Hits: 41

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Giòng Lạnh

Giòng Lạnh

Ta giầm thân cõi nắng mưa
Em màu môi vẫn cợt đùa nhân gian
Bể dâu một cuộc hoang tàn
Đau buồng tim đỏ, buốt làn tóc xanh
Bấy lâu mộng sớm tan tành
Tài hoa để lỡ cho đành đắng cay
Một trời tan tác hoa bay
Rượu tàn xuân, chén tỉnh say dập dềnh
Nghiêng giòng mắt ghé chênh vênh
Loạn ly, ai cũng nổi nên phận người
Phồn hoa em thả tiếng cười
Nhạc cuồng luân vũ càng khơi mạch sầu
Tô son mà giấu mộng nhầu
Thơ ngây ngày cũ về đâu bây giờ?
Yêu đương lòng trót ơ hờ
Chút vui kia cũng vui vờ chăng em?
Từ trăng lịm chết dưới đèn
Gặp nhau ai biết nỗi niền riêng ai?
Tình chưa đậm, đã mau phai
Theo đời nước chảy, còn dài cô đơn
Lênh đênh sóng dập mưa dồn
Bờ xa khói lạnh ngậm buồn lãng du

Nguyễn Vạn Toàn

 

Hits: 41

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Tất Cả Về Mẹ

 Tất Cả Về Mẹ

Ca dao Việt Nam có câu:

“Lên non mới biết non cao
Nuôi con mới biết công lao mẫu từ “

Những câu cao, bài hát, bài thơ ca tụng tình mẹ, bài nào cũng hay, cũng dễ thương với nhiều ý nghĩa nhưng riêng tôi rất tâm đắc với câu ca dao trên…Bởi mẹ tôi, bà mẹ chân quê, chất phác nơi miền thôn dã xa xôi xứ Đồng Dài của thôn Mỹ Hội, làng Mỹ Tài cát trắng, núi đồi trơ trọi, lá khô, cỏ cháy…Nhưng mẹ đã tần tảo lên non xuống cạn như thân cò lặn lội vất vả vì con…Mẹ không ngại gian khổ một nắng hai sương nuôi con khôn lớn, cho ăn học, dựng vợ gã chồng…

Mẹ nuôi con chín tháng cưu mang, ba năm bú mớm ai cũng biết như thế nhưng hoàn cảnh mẹ tôi khác biệt hơn cả…Hai chân mẹ bị đau từ thuở nhỏ khi gánh lúa xa về bị mắc mưa…Lúc đó có cả cậu nhưng hai cậu tôi xuống ao tắm, mẹ vì mệt quá nên ngồi dựa vào hòn đá nghỉ không biết rằng hơi độc do mưa mới bốc lên làm mẹ lãnh đủ . Cũng từ đó, chân mẹ tôi bị đau nhức suốt rồi dần dần sưng to…Thêm vào đó, vì thời bấy giờ phương tiện đi lại không dễ dàng nên việc chữa trị khó khăn, thuốc men lại hiếm nên mẹ chỉ dùng các loại lá sơ sài chữa tạm dẫn đến một thời gian thì chân mẹ bị co rút lại thành tật…Vậy mà mẹ đâu màng gian khổ, quyết một lòng dạy dỗ nuôi con thành người .

Ngày thường mẹ thả bò lên núi cho ăn, lại tranh thủ cắt đôi bồ mạ đầy lá về ủ làm phân tưới gieo trồng. Nhà đông, trời giá buốt, mẹ phải xuống đồng cấy lúa , quần thì xăn tận gối, người chỉ mặc chiếc áo tơi bằng lá dừa cũ kỹ…Mẹ về đến nhà thì người đã lạnh run cầm cập nhưng nhìn mẹ lúc đó, con ngơ ngác chẳng hiểu gì cũng chẳng thể cảm nhận được sự khổ nhọc…Bây giờ nhớ lại thương mẹ làm sao vậy mà hồi đó chẳng biết làm gì? Cũng bởi các con còn quá nhỏ dại thơ ngây nên khi đi làm mẹ không yên tâm mới để các con ngồi trong cái nong ngoài hiên nhà, chị em lúc đó cũng ngoan cứ ngồi yên trong đó chẳng đi đâu. Thỉnh thoảng có hôm mợ Thãi đi chợ về thấy bẻ cho miếng bánh tráng nướng, hai chị em mon men cầm bánh chia nhau ăn chẳng giành giựt hay đánh nhau để mẹ thêm lo.
Việc mẹ đã vất vả, cái ăn cái mặc còn kham khổ hơn nào đâu như người cơm trắng cá tươi. Nhà mình nghèo, cơm độn ba phần mì, bốn phần khoai. Khi ăn, mẹ xới hết khoai vào bát mình, dành phần cơm cho con. Những năm mất mùa không có khoai mà độn phải độn bằng xác mì …Thời gian trôi qua, cuộc sống cứ như thế, mẹ cứ hy sinh tất cả, chăm con từ miếng ăn, giấc ngủ, con cái cũng lớn dần…Nhưng cuộc sống vẫn thiếu thốn…Có lần, con mẹ quá thèm đường mía nên leo lên cột với tay qua giấy bóc mía đường ăn vụng chẳng may trượt tay té móc vào khuy cửa rách bụng máu chảy rất nhiều. Mẹ hốt hoảng, chị thì khóc ầm inh ỏi, cậu Thãi nghe la vội chạy qua, thấy thế cậu lấy băng bông lau sạch vết thương rồi băng lại cẩn thận cho cháu…Tuy thế vẫn không tránh khỏi đêm đêm con bị lên cơn sốt, mẹ thức trắng, luôn thăm dò sờ tay lên trán, lấy khăn ướt chườm mong con qua cơn sốt và khỏe mạnh lại…Nhìn con nằm mê man, trán lấm tấm mồi hôi mà mắt mẹ ướt đẫm, gương mặt nhợt nhạt vì lo lắng, vì thiếu ăn, thức đêm, bàn tay gầy run run xoa lưng, vỗ về cho con dễ ngủ…Nhớ lại con thấy sung sướng quá, cảm giác ấy đến giờ vẫn còn lâng lâng…

Rồi từng đêm con ngủ, mẹ lấy chăn ấp ủ cho con…Những khi mưa đến, mái dột lá bay, mưa ướt chiếu thì ” bên ráo con nằm, bên ướt mẹ lăn “…Đúng là: “Nước biển mênh mông không đong đầy tình mẹ”. Mẹ là biển cả, mẹ là nải chuối, là buồng cau, là ánh sáng đêm thâu…Mẹ! Mẹ ơi! Tiếng mẹ yêu thương luôn ngọt bờ môi. Con gọi mẹ và reo mừng khi mẹ đi xa về…Nhìn mẹ tất bật từ việc đồng áng đến việc nhà nào lúc nào cũng luôn tay nhưng không bao giờ bỏ bê con cái. Mẹ không nề hà “ăn đắng cay, bùi ngọt phần con” ( Kinh Vu Lan )…Chỉ có mẹ, chỉ có tình thương vô bờ bến mà không giấy bút nào có thể viết hết mới có thể làm tất cả vì con như thế.
” Trọn ba năm bú nương sữa mẹ
Thân gầy mòn nào nệ với con ” ( Kinh Báo đáp công ơn Cha Mẹ )
Đến tuổi ăn học, mẹ lại dạy bảo cho con vỡ lòng…Nuôi con đã khổ nhưng làm sao dạy con nên người càng khó hơn…Khi xưa Mạnh Mẫu dạy con phải ba lần dời nhà vì lần đầu, nhà ở gần chợ, thấy người ta mổ lợn bán buôn, ông Mạnh Tử bắt chước chơi trò buôn bán. Bà mẹ phải dời nhà, nhà bây giờ ở gần nghĩa trang, thế là ông Mạnh tử bắt chước khóc khóc than than. Bà mẹ lo lắng suy nghĩ sợ con hư hỏng mất. Cuối cùng bà dọn nhà đến gần trường học và từ đó Mạnh Tử luôn chăm lo học hành trở thành bậc hiền nhân là nhờ công ơn nuôi dạy to lớn của Mẹ.

Tuy mẹ tôi không được như Mạnh Mẫu nhưng mẹ cũng biết chọn nơi cho con mình ăn học…Thế là vì mong con cái sẽ có tương lai sáng sủa, tốt đẹp hơn, Mẹ rời quê này chấp nhận thương đau cùng các cậu, các em tìm nơi đất lành chim đậu cho con ăn học. May mắn tìm được nhà ở gần trường tiểu học, trung học, các con đã không phụ công lao mẹ mà gắng công học tập…Mẹ ở trên mảnh đất mới nhưng vẫn phải tần tảo, khó nhọc, thức khuya dậy sớm. Trưa hè trời nắng chói chang, mẹ với thân hình nhỏ bé cùng đôi quang gánh trên vai, gánh nước ngọt đi bán, mồ hôi pha lẫn nước mắt nhưng mẹ không một câu than vãn trước mặt các con…Để xứng đáng với sự hy sinh của mẹ, hàng tháng con đã đem lại cho mẹ những bản danh dự được phát dưới cột cờ thứ hai đầu tháng. Nhìn mẹ mỉm cười sung sướng quên đi mệt nhọc hàng ngày lòng con cũng rộn ràng.

Khi đi thi đệ thất, các em Ký, Chương có cậu Thãi, cậu Dư chở đi. Mẹ thương xót nhìn con của mẹ phải thui thủi một mình đón xe lam đi vì điều kiện nhà quá khó khăn, mẹ không có phương tiện đưa con đi như mọi người…Mẹ chỉ có thể ở nhà ráng làm nhiều việc, kiếm thêm chút ít để lo cho các con ăn học bằng mọi người. Thời gian con thi, lòng con thì hồi hộp không biết mình sẽ làm bài như nào. Mẹ ở nhà mỏi mắt ngóng trông, lòng nôn nao từng giờ từng phút mong chờ con ở cửa. Khi thấy bóng con từ xa, mẹ vui mừng nở nụ cười hiền hòa, ngọt ngào hỏi:
– Con làm bài có được không?
Nguyễn Khắc Hiếu – Tản Đà đã viết: ” Tan buổi học, mẹ ngồi tựa cửa
Mắt trông con đôi đứa về dần “
Giờ đây, con mẹ đã về, đã thi xong, đã đậu vào trường công tại thành phố. Hồi đó tỉnh nhà có hai trường công lập, một dành cho nữ sinh, một dành cho nam sinh. Con mẹ đã đậu, nếu chẳng may rớt mất với tỷ lệ thi 200/2000 thì tiền đâu mà học trường tư? Chẳng phải nỗi vất vả cực khổ của mẹ sẽ tăng gấp nhiều lần hơn sao? Và sẽ chẳng có kết quả như ngày nay…Cảm ơn mẹ…

Mẹ bôn ba, do không có vốn nên phải buôn cái nọ bán cái kia từng chút từng chút nào là gạo, thóc, hành, tiêu, ớt, tỏi,v.v…Khi gà gáy trong đêm, con mẹ còn cuộn mình trong chăn thì mẹ đã dậy đi bộ từ chợ nhỏ đến chợ lớn khoảng 6 – 7 km mua hàng về bán. Cách hai ngày mới có phiên chợ, cuộc sống thật là khó khăn đủ mọi thứ…

Và rồi con cái lớn dần, đã biết phụ mẹ. Khi thì chở hàng xuống tận khu nhất bán, lúc thì đẩy gạo bỏ cho lò bún, hôm thì ra chợ bán hành, tiêu, ớt, tỏi vậy mà có thấy mắc cỡ gì đâu mà mẹ cứ lo lắng, sợ con mình mệt nhọc rồi xấu hổ với mọi người…

Mẹ rất tuyệt vời, dù không được ăn học đến nơi đến chốn nhưng đạo nghĩa đối nhân xử thế mẹ đều hiểu rõ. Ngoài nuôi con ăn học, mẹ còn dạy con lối sống, cách cư xử với xóm làng, biết lễ nghĩa với người trên kẻ dưới, trong gia đình phải biết nhường nhịn nhau:
” Khôn ngoan đối đáp người ngoài
Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau “
Nhà có hai chị em không hơn thua mà phải biết thương yêu đùm bọc lẫn nhau. Không được tranh giành bất cứ thứ gì nhất là tiền bạc. Bấy giờ mà mẹ đã thấu hiểu rõ lời Phật dạy, tiền bạc là của năm nhà:
1. Vua quan ( sưu, thuế )
2. Nước ( mưa bão, lũ lụt )
3. Lửa ( cháy nhà, hỏa hoạn )
4. Trộm cắp
5. Con hư (có thể là chồng hoặc vợ hư)

Vì vậy sống không nên cố chấp, hơn thua vào tiền bạc, tài sản mà nên gắng sức làm việc lành, việc thiện…Vốn dĩ khi sanh ra đã không có gì và khi chết đi chỉ:
mang theo mình mảnh vải liệm
Còn lại chăng bia mộ khắc đôi hàng”
Tất cả rời bỏ hết, chồng vợ, nhà cửa, con cái chỉ có nghiệp lành hay nghiệp dữ mang theo
“Có đức mặc sức mà ăn” chứ có tài mà không có đức cũng vô dụng…
Bây giờ, các con của mẹ đã yên bề gia thất, đã có cháu nội, cháu ngoại, có chút “sương pha bạc mái đầu” nhưng
“Con dù lớn vẫn là con của mẹ
Đi hết đời lòng mẹ vẫn theo con “
Thế nên có câu, mẹ trăm tuổi vẫn lo cho con tám mươi tuổi, con cái có gia thất, cháu nội ngoại rồi nhưng mỗi lần về thăm chơi, mẹ vẫn với vẻ mặt đầy trìu mến nhìn con và hỏi:
– “Ăn cơm chưa? Lấy cơm ăn đi con”
Con nào về, cháu nào về bà cũng nhắc nhở, lo lắng, dặn dò nhiều điều…
Mẹ đã lo, lo đến nỗi quên đi tuổi thanh xuân của mình…Các con mẹ vô phước mất cha từ tấm bé khi em chưa lọt lòng, chị mới chập chững bước đi…Mẹ bấy giờ rất đẹp, rất xinh, tướng mẹ rất sang trọng, quý phái nhưng mẹ không quan tâm đến hạnh phúc riêng của bản thân mà chỉ biết rằng hạnh phúc quý nhất của mẹ chính là các con…Các con mẹ đã thật may mắn vì có trọn tình cảm của mẹ, mẹ vừa là mẹ vừa là cha, mẹ đã không để các con rơi vào cảnh:
“Trời mưa bong bóng phập phồng
Mẹ đi lấy chồng, con ở với ai”

Thế nên với công lao dưỡng dục trời biển của mẹ, chúng con thật lòng rất biết ơn tình cảm thiêng liêng đó. Chúng con nguyện sẽ mãi kính trọng, thương yêu mẹ, mong mẹ trường thọ, khỏe mạnh để ở bên, vui đùa cùng con cháu, để chúng con có hội phụng dưỡng, báo hiếu mẹ…Tóc mẹ bây giờ đã trắng hết, trắng như bà tiên trong truyện cổ tích, rất đẹp…Các cháu rất thích ngắm nhìn và vuốt tóc mềm mượt của bà…Bà mỉm cười âu yếm …

Nhìn gương mặt hằn bao nhiêu nếp nhăn, da dẻ lấm chấm đốm đồi mồi, miệng móm mém mới hiểu rõ nỗi vất vả, khó nhọc của mẹ suốt thời gian qua…Năm tháng trôi đi vô tình, nay mẹ đã gần chín mươi …Người mẹ ngày nào tay bồng tay bế, đi ngược về xuôi, chăm lo mọi thứ nay chỉ còn biết hàng ngày ngóng trông con cháu, mong những ngày sum họp rộn ràng, nghe tiếng cười nói của con cháu, ôn lại chuyện ngày xưa, thỉnh thoảng cũng hờn cũng dỗi…Nhưng trên tất cả, mẹ vẫn là mẹ kính yêu trong lòng chúng con…Chúng con biết rằng thương mẹ lắm và cũng biết rồi sẽ có ngày:
“Mẹ già như chuối chín cây
Gió lay mẹ rụng, con phải mồ côi”
Vì thế:
“Ai còn mẹ xin đừng làm mẹ khóc
Đừng để buồn lên mắt mẹ nghe không?”
Với chúng con mà nói, còn mẹ là còn tất cả, mất mẹ là mất hết rồi…Chồng, vợ mất có thể tìm người khác…Nhưng mẹ chỉ có một trên đời, mất mẹ rồi biết tìm mẹ nơi đâu? Ai có thể thay thế được mẹ?
Sư Nhất Hạnh cũng đã nhắc ta: ” Mẹ là một dòng suối, một kho tàng vô tận.Vậy mà lắm lúc ta không biết để lãng phí một cách oan uổng…Mẹ là một món quà lớn nhất mà cuộc đời ban tặng cho ta – những kẻ đã và đang có mẹ…Mẹ thương con nên con thương mẹ, con cần mẹ và mẹ cũng cần con…Mẹ không cần con thì đó không phải là mẹ con, đó là lạm dụng danh từ mẹ con”.

Nhờ lời Sư dạy và sự thấu hiểu tấm lòng mẫu từ, các con mẹ sẽ ghi nhớ lấy lòng và cảm ơn vì mẹ đã sinh ra con, ban cho con hình hài, dạy con trí tuệ, nên người…Cảm ơn mẹ trăm ngàn lần vì mẹ là Mẹ của con…Con kính chúc mẹ luôn dồi dào sức khỏe, trí óc minh mẫn, sống vui cùng con cháu để con cháu có thời gian báo hiếu mẹ nhiều hơn, hưởng ơn đức trời biển của mẹ…Và cũng xin kính chúc những ai đã và đang làm mẹ cũng đều được vui khỏe, an lạc như mẹ mình.

Diệu Minh Sang

 

Hits: 38

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Viễn Du

Viễn Du

Lúc 12h15, chuyến bay SQ173 (Singapore Airlines) bay từ phi trường Tân Sơn Nhất đến phi trường Changi (Singapore) là 1092km, thời gian bay là 1giờ 33phút sáng ngày 14/6/2014.

Chyến bay đầy thú vị với tiếp viên dễ thương. Máy bay chở trên 300 hành khách, bên trong máy bay được thiết kế rất tối tân, người ta trang bị cho mỗi ghế của hành khách có một tivi “mini” để theo dõi chi tiết chuyến bay. Qua đó, ta biết được máy bay bay đến đâu, chiều dài quãng đường, vận tốc, tọa độ, nhiệt độ…. Có lúc vận tốc bay 11.000m, lúc 8.000m. Tọa độ bay ngang qua vịnh Bengal chẳng hạn. Nhiệt độ có lúc -20oC. Nói chung bay đến đâu, qua màn hình đều thể hiện các chi tiết trên cho ta theo dõi. Từ trên máy bay nhìn xuống: Mây trời lồng lộng, nước biển mênh mông, nhà cửa chi chít.

Ngồi được 30phút, các cô (hàng) tiếp viên người Singapore cả Malaysia đều rất lịch sự, tiếp thức ăn tí tí “con mắt to hơn cái bụng”. Vậy mà ăn rất ngon, rất no với cơm chiên, mì xào, cá, thịt heo. Nước uống tùy khách lựa chọn: coffee, trà, beer, Coca-Cola, nước cam v.v… Vừa thưởng thức, vừa xem tivi thật là thích thú. Nhưng nhìn lại các cô, chú tiếp viên rất vất vả – chăm sóc hành khách tốt.

Suốt thời gian ngồi máy bay, bây giờ máy bay đã đáp cánh từ từ xuống phi trường. Sau khi nhận hành lý, làm thủ tục nhập cảnh, tại đây xe đã chờ sẵn và đón đoàn du lịch về khách sạn Hoàng Gia (Hotel Royal) với 16 tầng lầu, không rõ mấy trăm phòng. Chị em nhà Huệ – Sang, phân ở tầng 6. Khách sạn tọa lạc trên đường Newton. Lại một khách sạn 3* khang trang, lịch sự. Đất nước Singapore toàn là những tòa cao ốc. Nơi đây tập trung cơ quan hành chánh, phố tài chính …

Ăn tối xong, hai chị em dạo phố, Quang Nhật đi chơi với bạn. Xe cộ cũng nhiều nhưng đều chạy theo line, line nào theo line nấy. Người qua đường phải có tín hiệu cho đi, mới qua được… Chị em vào Siêu thị nhưng chẳng mua gì, vì quá đắt so với Việt Nam. Hầu như, giá cao gấp 3,4 lần; có món đến 5,6 lần. Nên chị em đành về ngủ chẳng mua sắm gì, giấc ngủ thật ngon có chăn êm, nệm ấm.

Sáng ngày 15/6/2014; đoàn ăn buffet ở khách sạn. Các món ăn do người Hoa nấu, ít hợp khẩu vị với người Việt. Tuy nhiên, ai cũng ăn hết suất, ăn nhiều nữa chứ.

Singapore tách ra từ Mã Lai năm 1965, trước kia là thuộc địa của Anh. Dân số 85% là người Hoa, còn lại là Mã Lai, Ấn Độ… với dân số gần 5,5 triệu người và diện tích là 716km2. Đất hẹp, người đông nên ở đây các hoạt động hàng ngày (đi lại, mua bán), người ta chủ yếu sinh hoạt dưới lòng đất, phương tiện đi lại phổ biến là xe bus và tàu điện ngầm. Thủ tướng có công với đất nước là Lý Quang Diệu, kế tiếp là con – Lý Hiển Long – đương kim Thủ tướng. Từ năm 1965 – 1973, đất nước được kiến thiết với nền văn minh tiến bộ. Nơi đây giao tiếp bằng tiếng Anh. Nhưng hành chánh văn phòng vẫn dùng chữ Malaysia.

Singapore là quốc đảo. Dân và mọi sinh hoạt ở dưới lòng đất, tàu điện ngầm đã làm cho hoạt động dưới lòng đất trở nên huyên náo, nhộn nhịp. Còn trên mặt đất là cơ quan hành chánh Nhà nước với rất nhiều ngân hàng tập trung tại đây (Trung tâm tài chính). Nếp sống rất cao: một lon coca-cola từ tiền đô la Singapore quy ra tiền Việt tương đương 80.000đ. Một căn hộ 60m2 tương đương 3,5 tỷ VNĐ, mà không phải ai cũng mua được, điều kiện mua phải có vợ hoặc có chồng – Đó là lời của hướng dẫn viên trên đường đưa đoàn đến Công viên Sư tử biển (Merlion Park). Sư tử là biểu tượng phồn vinh của đất nước Singapore được khánh thành vào ngày 15/9/1972. Ở đây, đoàn du lịch chụp hình rất nhiều. Tham quan chừng 30phút, xe chở đoàn diễu hành ba vòng (Phúc, Lộc, Thọ), tham quan năm Tòa Thị Chính (one, two, three, four, five), Tòa Nhà Quốc Hội. Tòa nào, tòa nấy cao quá cao chừng mấy mươi tầng với lối kiến trúc hiện đại.

Đất nước văn minh, hiện đại với nhà hát nổi trên Vịnh (Esplanade Theater) có kiến trúc hình quả Sầu Riêng độc đáo; Đài phun nước Wealth, Suntec city. Đến 11h tham quan kết thúc, dùng cơm trưa: ăn buffet do người Nhật chế biến (tự mình phục vụ). Đến 14h, xe đưa đoàn vào thăm Khu phức hợp giải trí Sentosa. Có nhiều công trình rất quy mô không bút mực nào viết lại cho xiết. Việc đi lên, đi xuống chỉ sử dụng toàn cầu thang cuốn. Đến Bảo Tàng Sáp, chúng ta được xem các hình tượng được tạc rất đẹp: Người phu kéo xe; Người Ấn làm thuê cho người Hoa; Thầy đồ; Kẻ buôn bán v.v… Nhìn thoáng qua, y như người thật, có hình tượng khiến người ta giật nẩy người, cứ tưởng như mình đang đối diện với con người của những năm trước. Tiếp theo là hành trình tham quan Tháp Sư tử biển. Tháp cao 39m , trong tháp có thang máy đưa đến tầng 10, đó là đầu con sư tử biển, có người ra tận miệng của nó nữa. Đứng ở đây, chúng ta có thể chiêm ngưỡng TP Singapore xinh đẹp, dễ yêu. Đi xuống, xuống nữa hai lần thang cuốn mới vào xem phim chương trình Santosa 4D Adventureland.

Buổi tối, dùng bữa xong, Q.Nhật dẫn cô và mẹ đi tàu điện ngầm. Xuống dưới lòng đất, mới thấy người người rất nhiều, đi lại tấp nập; vốn dĩ trên mặt đất không thấy người đi lại nhiều như vậy. Ở đây, có cả chợ búa, siêu thị. Tuy ở dưới lòng đất, nhưng chúng tôi cứ ngỡ như ở trên mặt đất vì hệ thống kiến trúc rất quy mô, không tạo một chút cảm giác gì ngột ngạt, tối tăm. Quá đủ không gian rộng thoáng cho hàng ngàn, hàng chục ngàn người sinh hoạt dưới lòng đất (theo số liệu khảo sát: việc sử dụng phương tiện tàu điện ngầm có hơn 2 triệu lượt người mỗi ngày). Đi tàu điện ngầm, muốn mua vé bỏ tiền vào máy, tự động máy sẽ cho ra vé, tiền dư máy sẽ thối lại. Muốn vào ga để đi tàu điện ngầm, phải sử dụng vé để quẹt. Cứ mỗi ga, tàu sẽ dừng khoảng 3phút để hành khách lên, xuống. Cứ thế mọi người lên, xuống mỗi ngày tấp nập với tàu điện ngầm.

Đến ngày thứ ba ngày 16/6/2014, 7h30 chuông ở khách sạn báo thức. Tám giờ đi ăn sáng, cũng ăn buffet. Buổi sáng ăn cũng có tráng miệng dưa hấu, cam, dưa gan. Ôi cha! no quá sá là no. “Cơm no, rượu say” lại đi chơi tiếp đây. Chương trình là khám phá River Safari. Đến River Safari, ta gặp hơn 5.000 động vật trên cạn và dưới nước đại diện cho hơn 300 loài. Nơi đây, người ta thu nhỏ lại 8 con sông từ Mississippi hùng vĩ cho đến sông Dương tử tráng lệ, gặp những loài động vật thủy sinh và cá khổng lồ như rái cá, kỳ nhông và loài cá trê sông Mê Kông khổng lồ cực kỳ quý hiếm. Dạo qua phòng trưng bày nước ngọt và bước vào triển lãm để tìm hiểu về đời sống hoang dã độc đáo ở môi trường sông nước. Tiếp tục cuộc khám phá, mình gặp hai chú gấu trúc khổng lồ Kai Kai và Jia Jia tại rừng “Gấu trúc” xanh mượt – nơi triển lãm gấu trúc lớn nhất ở Đông Nam Á. Gấu trúc đang nằm ăn lá trúc và đưa 4 chân lên trời. Dừng lại chụp hình. Kế đến là chiêm ngưỡng hồ nước ngọt lớn nhất thế giới tại rừng ngập nước Amazon, khu rừng nhiệt đới quanh năm ngập nước với hơn 18 loài động vật vĩ đại như lợn biển (manatee) và cá hải tượng (arapaima). Đoàn du lịch của mình hôm nay lại gặp các cháu học sinh mẫu giáo người bản xứ. Chúng rất dễ thương, quần áo đồng phục, tóc đánh bím gọn gàng. Mình cùng em Huệ xin chụp hình chung với chúng và các cô giáo. Tự nhiên mình nhớ đến học sinh cũ của mình, chúng cũng ngây thơ, cũng hồn nhiên. Ôi! Cả một thiên đường tuổi thơ. Đoàn tham quan đi mãi, xa hơn thì gặp Khỉ sóc, chúng nhỏ như con sóc. Mình đưa tay ra bắt, chú khỉ cũng đưa tay ra bắt. Nhìn chúng nó chuyền từ cành này qua cành khác, thích thật.

Buổi trưa, ăn buffet ở nhà hàng người Nhật, nướng thịt. Chiều chị em lại đi tàu điện ngầm và đi bộ thật xa đến khu buôn bán của người Ấn (khu Mustafa).
Tối, về lại khách sạn, hai chị em đem quần áo ra thử và chụp hình tiếp. Cháu Q.Nhật đi chơi với bạn.

Sáng 17/6/2014, ăn sáng, dọn dẹp trả phòng. Mười giờ, đoàn cho đi tham quan Gardens by the bay “Vườn cây năng lượng” trên Vịnh Marina vừa khánh thành ngày 28/6/2012. Đây là kỳ quan mới của đất nước Singapore với hàng nghìn loại thực vật quy tụ từ khắp nơi trên thế giới. Đến với Gardens by the bay, chúng ta được ngắm toàn cảnh Singapore xinh đẹp trên độ cao 25-30m tại OCBC sky way – đường nối vào tham quan Vườn cây năng lượng. Cung đường dài 128m, đưa chúng ta đến không gian xanh, sạch, đẹp, lôi cuốn và hấp dẫn. Chúng ta được ngắm toàn Khu phố tài chính (City bank) và chụp nhiều hình lưu niệm, lại còn chụp được Cảng của Singapore là cảng bận rộn nhất trên thế giới về mặt trọng lượng và tàu hàng xử lý, cảng cũng trung chuyển 1/5 lượng hàng vận chuyển bằng container trên thế giới. Cảng ở Singapore là một trong hai cảng lớn nhất Đông Nam Á, sau nó là Hồng Kông.
Tham quan xong, chúng tôi ăn cơm ở nhà hàng Hàn Quốc với thịt nướng, lẫu thật ngon. Mười bốn giờ ra sân bay. Tiếp tục làm thủ tục xuất cảnh Singapore và đáp chuyến bay SQ186 lúc 17h40, về đến TP.HCM lúc 18h45. Đoàn xe của Hoàn Mỹ trả khách về XN Thành Mỹ.

Em Huệ làm việc ở XN Thành Mỹ, hàng năm Xí nghiệp tổ chức đi du lịch. Nhờ vậy, nên em rủ chị “ăn theo”. Có như vậy, chị cũng biết mấy nước rồi. Chị em sống chung với nhau từ tấm bé, rất hiểu nhau quý nhau. Có gì chị em cũng tâm sự với nhau. Con gái họ Võ có những nỗi niềm tâm sự gần giống nhau. Nên đi đâu chị em cũng có nhau. Em là con cậu Dư, chị là con cô Chín. Cậu Dư đã đi xa, Cô Chín bây giờ cũng yếu lắm, 88 tuổi rồi.

Viễn du một chuyến Sigapore.
Tầm nhìn chị em được mở to.
Cảng biển, giao thông… đáng tự hào.
Xứng Rồng Châu Á của năm nào

Minh Sang

 

Hits: 41

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Về Thăm Quảng Ngãi

Về Thăm Quảng Ngãi

Hôm nay bước lại đồi Thiên
Đồi từng như cũ, chùa nguyên năm nào
Gọi là Thiên Ấn vì sao?
Nó giống chiếc Ấn thuở nào của vua
Tôi từng lên núi năm xưa
Ba mươi năm chẵn tưởng vừa hôm qua
Xứ nầy có đá La Hà
Tựa như Thạch Trận quân ra giữ gìn
Thiên Bút tuyệt diệu như in
Bút trời vẽ chữ gọi trình phê vân
Trà Giang nước đổi bao lần
Người đi xa tít ngại ngần về quê

 

Nhớ non nước chẳng nhọc hề
Đường xa vạn dặm trở về cố hương
Núi sông còn mấy dặm trường
Dọc theo quốc lộ hành hương chùa chiền

Chiều nay tìm đến Đồi Thiên
Chợ Chùa kính viếng bình yên thế nào?
Nghĩa Hành, Thu Lộ ra sao?
Trở về xóm cũ chiêm bao gặp người!

Tôi không khóc, người không cười
Thiết tha hỏi mãi buồn vui thế nào?

Đi đâu ? Ở tận nơi nao ?
Thời gian thấm thoát, thoảng nào ba mươi!

Nam  Sơn  ( NHS )

Hits: 64

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Xuân Cảm Tác

Xuân Cảm Tác

Cũng một mùa xuân sao khác nhau.
Xuân xưa hoa lá trỗ muôn màu.
Xuân nay héo hắt cành trơ trụi.
Cảnh cũ người đâu, dạ luống sầu.

Xuân nhớ Mẹ

1.
Ngày xuân nhớ mẹ năm nào,
Bây giờ mẹ đã nằm vào áo quan.
Xuân nay nhớ mẹ khóc than,
Đời con thiếu mẹ như đàn thiếu dây.
Một mình lầm lũi từ đây,
Tha phương cầu thực, kiếp đầy nổi trôi.
2.
Một thoáng tam niên vĩnh biệt,
Mẹ đi rồi, xuân mất biệt từ lâu.
Đời con mãi mãi bể dâu,
Đường đi lối bước đêm sâu mịt mờ.
Nơi đây sống kiếp ơ thờ,
Mai sau thoát khỏi bờ mê lối về.

Carolyn Đỗ

Hits: 63

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

KHUÔN MẶT VĂN NGHỆ MỚI