Sen Tịnh Tâm

Nắng trong

nở nụ sen hồng

Nhịp nhàng hoa lá

mênh mông hương thiền

Nhụy vàng bát ngát

phiêu nhiên

Nhẹ giương cánh mộng

sen nghiêng nụ cười

Ngàn sau một đóa tinh khôi

Ngàn năm thơm ngát

đất trời ban sơ

Lá xanh êm…

một dòng thơ…

Chân trong bùn đục

sen mơ Niết Bàn…

Tâm không, không sắc, sắc không

Thinh không

nhuộm ánh huy hoàng hư vô

Tâm không, không bến, không bờ

Sắc không, không sắc

đơn sơ Phật Trời

Tịnh tâm sen nở nụ cười

Lệ Vân (Indian Rocks Beach, Florida, 7-5-98)

Hits: 2500

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

“Con đường sáng” của Hoàng Đạo

“Con đường sáng” của Hoàng Đạo

                                                                              

Con đường sáng là truyện dài duy nhất của nhà văn Hoàng Đạo trong Tự lực văn đoàn. Tác phẩm này được đăng từng kỳ trên báo Ngày nay trong năm 1938 và được nhà Đời nay xuất bản vào năm 1940. Câu chuyện kể lại biến chuyển tâm lý tạo chuyển biến cuộc đời của một thanh niên trí thức ở Hà Nộitrước 1945.Hoangdao

Chàng tên Duy có học thức, gia đình giàu có. Ngày nhỏ Duy có những năm tháng trưởng thành nơi thôn quê, nên tâm hồn mang bản chất trong sạch và mộc mạc, nhưng lớn lên ở giữa thị thành, có tiền bạc trong tay, có trí thức trong đầu, Duy cũng như đa số thanh niên cùng thế hệ sống trong hoàn cảnh đất nước dưới ách đô hộ của thực dân, chán nản nên buông trôi vào trụy lạc. Nhưng Duy có điểm khác với phần lớn những người chung quanh là chàng có nhiều lúc “khi tỉnh rượu lúc tàn canh, giật mình mình lại thương mình xót xa” và tuyệt vọng muốn tự tử. Cứ thế Duy mãi vùng vẫy muốn ra khỏi cái lưới vô hình bao vây quanh mình: “Duy nghĩ đến bao nhiêu bạn của chàng quằn quại ở trong vòng trụy lạc không ra thoát, khác nào như những thiêu thân sa vào màng nhện, càng giãy giụa cánh càng xơ xác và vướng chặt thêm”.

Rồi Duy dần dần tìm ra con đường cứu mình. Con đường này trước tiên là tìm môi trường sống mới, không thể quẩn quanh trong lòng đô thị sa hoa đầy cám dỗ, tiếp đến là tìm sinh hoạt mới, một cuộc sống dấn thân với những người lao động trong bùn lầy nước đọng đang cần cù xây dựng cuộc đời mà xưa nay chàng cho là thấp hèn hơn chàng và cuối cùng là tạo một cuộc đời có ích, đóng góp xây dựng cuộc sống mới cho quảng đại quần chúng đang luẩn quẩn trong vòng nghèo túng và tối tăm. Hạnh phúc của bản thân sẽ ở đấy và “con đường sáng” cũng khởi ở đấy.

Quan điểm “tạo hạnh phúc cho ta bằng cách vun đắp hạnh phúc cho người” hay so sánh như Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại khi ông xếp Hoàng Đạo vào khuynh hướng viết tiểu thuyết luận đề bên cạnh Nhất Linh: “Cái lý tưởng mà tác giả dùng làm luận đề là lý tưởng của nhà Phật: ‘Tự giác, giác tha’, làm sáng cho mình, rồi làm sáng cho người”.

Sau nhiều suy nghĩ chín chắn và quay về dĩ vãng, nhớ lại chuỗi ngày mà chàng cho rằng “thơ ngây và trong sạch”, Duy trở về quê xưa vì ở đó chàng hy vọng tìm được môi trường không vẩn bụi phồn hoa và cũng ở đó có Thơ, một cô gái quê, bạn chàng hồi để chỏm, một hình ảnh chất phác, thánh thiện như ngọn hải đăng dẫn lối cuộc sống đang bấp bênh của chàng.

Quả nhiên, Duy cảm thấy tìm ra hạnh phúc trong việc lập ấp, dựng đồn điền nghĩa là tìm ra con đường sáng cho mình. Việc chuyển biến tâm lý diễn ra từ từ, từ ý hướng vượt khỏi vòng vây trụy lạc, chống lại cám dỗ, ý muốn tự tử, vì chán ngấy cảnh phồn hoa, và rồi ánh sáng đổi mới lóe lên trong tâm tư vào một đêm nhìn nông dân lao động dưới ánh trăng:

Duy nhìn cái cảnh tượng náo nhiệt trước mắt, trong lòng vui sướng. Chàng chợt nảy ra một ý muốn náo nức, cái ý muốn cởi bỏ ngay bộ quần áo tây chật chội và xa hoa, ăn mặc như lực điền để nhập vào bọn thợ, đập lúa ném thi và cười nói với họ, để được hưởng hết cả sự vui vẻ, sung sướng của họ lúc làm việc mệt mỏi. Chàng cảm thấy cái vui trong công việc nặng nhọc ngày mùa, cái vui trong sạch nó đợi chàng từ lâu, như cánh hoa lan ép trong sách chàng đã quên đi, nay ngẫu nhiên giở ra, vẫn thấy y nguyên, còn thoang thoảng hương thơm của một quãng đời chàng tưởng không bao giờ trở lại”.

Diễn tiến tâm lý rất tự nhiên vì trước đây Duy từng có cảm giác này vì có thời gian gắn liền với sinh hoạt nông thôn, nhưng cảm giác đó mong manh chợt hiện chợt biến, nhưng lần này nó ăn sâu vào tâm trí:

Lần này, Duy không thấy lo phấp phỏng nỗi vui nhóm lên trong lòng chàng thấy mạnh mẽ và bền chặt, tưởng chừng mỗi giây phút đến lại nuôi cho mạnh mẽ và bền chặt thêm lên. Duy nhớ đến những lần trước, chàng vui vẻ nhận ra rằng những cảm giác mạnh mẽ dồn dập đến trong lòng mấy hôm nay lần lần gột rửa những tro bụi bám bẩn lên tâm hồn chàng trong năm sáu năm trụy lạc, khiến mỗi lúc một trong sạch hơn. Duy suy nghĩ về cuộc đời trụy lạc kia, không thấy tâm trí bứt rứt nữa, chàng cảm thấy chàng đã thành một con người khác, không rụt rè sợ hãi, cũng không nghiêm khắc với những điều lầm lỗi của mình nữa.

Từ đó, con đường giải phóng cho mình và cho người đồng thời xuất hiện trong tâm trí chàng trai:

Chàng tự bảo thầm: ‘Trong lòng người ta vui sướng, thì người ta sẵn lòng khoan dung với cả mọi người nghĩa là cả với ta nữa’.

Duy nhớ mang máng đọc một câu tương tự như thế ở đâu rồi, nhưng bây giờ chàng mới thấy ý tưởng đó rõ rệt và hiển nhiên như một chân lý. Duy thấy mình trở nên dễ dãi, khoan dung với mình, yêu mến tất cả những người chung quanh, cả những người thợ mạnh khỏe kia đã vô tình đem lại cho chàng một lối sống mới, một con đường đi đến hạnh phúc. Chàng còn mơ màng chưa biết rõ lối sống ấy sẽ phải thế nào, nhưng chàng đã tìm thấy một vài ý tưởng chính soi sáng con đường chàng sẽ đi. Duy thấy làm việc trong sự trong sạch của linh hồn và thể phách là cần thiết cho cuộc đời mới của chàng và vui vẻ để ý nghĩ đi sâu mãi vào con đường sáng ấy.

Duy nhận ra rằng trước kia chàng chỉ nghĩ đến chính thân mình, hôm nay tình yêu của chàng đối với Thơ khiến chàng bỗng nhiên đặt hạnh phúc của Thơ lên trên hạnh phúc của mình, bây giờ tình yêu ấy đã lan rộng ra, trùm lên cả những người thợ mà hôm qua chàng còn coi như không có liên hệ gì với chàng, cách biệt như người ở thế giới khác.

Duy nhìn những người thợ tươi cười hớn hở tự nhủ thầm: Làm cho người ta vui là lòng mình cũng vui theo.

Hoàng Đạo không phải là người theo chủ nghĩa không tưởng, để trí tưởng tượng tạo ra một con đường sáng không bao giờ có, với chủ trương viển vông của cây viết lãng mạn, mà bản thân ông là một trong những người trong Tự lực văn đoàn đã vừa hô hào đổi mới vừa hành động để thực hiện sự canh tân xã hội. Ông tham gia Hội Ánh sáng, Nhà Ánh sáng và là chánh thủ quỹ của chi đoàn Ánh sáng Hà Nội.Đoàn Ánh sáng có mục đích gì? Trong diễn văn của Nguyễn Xuân Đào, một đại diện đoàn Ánh sáng, đọc tại rạp Olympic, Hà Nội cũ, ngày 18/12/1938, đã nhấn mạnh chương trình của đoàn: “Các bạn sẽ thấy cái mộng của đời mình biến thành sự thực, các bạn sẽ thấy vui, thấy Hội Ánh sáng đem ánh sáng chiếu rọi vào tận các làng xa, xóm hẻm và cái xã hội thảm đạm của ta đây nhờ đó không lâu sẽ biến thành một xã hội tốt đẹp, vui tươi, một xã hội ánh sáng”.

Sau năm 1945, các nhà phê bình giáo điều như Hà Minh Đức, Phan Cự Đệ, Vũ Đức Phúc… đều chê Tự lực văn đoàn khởi xướng phong trào cải cách là “đường lối cải lương” và “ngây thơ” (chữ Phong Lê chê Khái Hưng và Nhất Linh khi viết về Ngọc Giao). Chẳng hạn trong Con đường sáng, Hoàng Đạo cho biếtDuy từng nản lòng khi nhìn dân quê làng xã: “Xung quanh thành kiến mạnh mẽ và kiên cố quá, sự ngu độn dày đặc quá. Duy có cái cảm tưởng mình chỉ là một con ruồi mắc trong một cái màng nhện, vùng vẫy mãi không sao ra thoát được”, thì cải cách kiểu “tiểu tư sản” có công dụng gì!

Và các tay giáo điều hoài nghi đều đặt câu hỏi, chỉ dùng luận đề tiểu thuyết, thứ văn chương lãng mạn của Tự lực văn đoàn thì làm sao cách tân được xã hội? Làm sao tìm ra “con đường sáng”? Đặt câu hỏi loại này phản ảnh thiên kiến, thành kiến và thiển kiến trong phê bình và cố tình quên mất một sự thực: các nhà văn trong văn đoàn như Nhất Linh, Khái Hưng Hoàng Đạo đã có sẵn câu trả lời bằng hành động dấn thân, can đảm và hy sinh, bất chấp lao tù của thực dân để giải phóng dân tộc ngay vào lúc văn đoàn lên tới đỉnh cao của thịnh vượng và lời hô hào cải cách của họ như một thứ tuyên ngôn cách mạng đã có tiếng vang tới hàng triệu độc giả.

Hoàng Yên Lưu

Hits: 78

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Xót Xa

 

Xót Xa

Thời gian cách anh ngỡ lòng nguội lạnh
Tình tàn phai theo khói thuốc vàng bay
Ngờ đâu em ta gặp lại đêm nay
Cho nhung nhớ đong đầy lên hồ mắt
Yêu em lắm để anh nghe lòng quặn thắt
Từng cơn đau nhói buốt cả buồng tim
Sợ xót xa nhưng cũng phải đi tìm
Nên trơ trọi bên tách café đắng
Nhớ em lắm đã nhiều đêm thức trắng
Thương em nhiều dù biết chuốc chua cay
Ôm cô đơn anh lạc bước đọa đày
Vào ngục thất trần gian nhiều đau khổ
Em có biết! lòng anh xây nấm mộ
Tháng năm buồn lá úa phủ dày thêm
Mưa phất phơ, rong rêu mọc, sương đêm
Làn gió cóng linh hồn anh đói khác
Tình thương đó, mảnh gương đời bể nát
Cho anh soi thân thể tưởng cụt què
Ngợm người xa, bè bạn lánh , em ghê
Trong chết điếng anh trơ thân tượng đá
                                  Nhật Lệ
 

Hits: 40

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Cười!


VẼ THEO TRÍ NHỚ

Một ông nọ vào trong phòng triển lãm tranh để coi tranh, bỗng ông giật mình bởi vì thấy một bức tranh vẽ hình người đàn bà khỏa thân giống vợ của mình, ông liền vội vả về nhà giận dữ hỏi bà ta:
– Có phải em làm người mẫu cho thằng cha họa sĩ kia vẽ hình khỏa thân không ?
– Ðâu có đâu, em đâu bao giờ làm người mẫu cho thằng cha họa sĩ đó, chắc là ông ta vẽ theo trí nhớ thôi…

KHÓ TÍNH?

Một ông phàn nàn với đồng nghiệp:
– Phụ nữ thật khó tính. Năm ngoái, vợ tôi báo tin sắp được làm mẹ, tôi tặng cô ta bó hoa. Vậy mà hôm qua, tôi báo tin sắp được làm bố một đứa bé nữa, cô ta lại đập cán chổi vào đầu tôi!

THIÊN THẦN

Bé hỏi mẹ:
– Mẹ ơi, có phải các thiên thần có cánh và biết bay không mẹ?
– Đúng rồi con yêu.
– Hồi sáng lúc mẹ đi chợ, con nghe bố gọi chị giúp việc là thiên thần. Thế bao giờ thì chị ấy bay?
– Ngay bây giờ đây, con ạ!
NGƯỜI VỢ TUYỆT VỜI 
Hai người bạn nói chuyện với nhau:
– Có lẽ mình phải xin ly dị.
– Sao vậy?
– Vợ mình nửa năm nay không thèm nói với mình một câu nào.
– Cậu điên à! Biết tìm đâu ra một người vợ tuyệt vời như thế.
ĐÀN BÀ GIỎI THẬT
Một bà sau khi cho tiền ông hành khất ở cuối nhà thờ liền hỏi:
“Sao ông ra nông nỗi này, vợ con ông đâu?”
“Thưa bà, vợ tôi chẳng may qua đời rồi ạ. Nếu vợ tôi còn thì tôi đâu đến nông nỗi này ạ”
Bà quay sang ông chồng:
“Thấy chưa, đàn bà là đảm đang lắm. Không có đàn bà là chỉ có nước đi ăn mày. Nhưng khi còn sống bà ấy làm gì hả ông?”
“Thưa nó đi ăn mày thay cho tôi ạ.”

Hits: 46

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Lỡ Hẹn

Lỡ Hẹn

Chiều nay em không lại
Ta buồn chén rượu cay
Lòng như chừng tê dại
Men nào làm cho say
Tiếng cười buông vụn vỡ
Âm dòn pha lê tan
Biết rằng em đã lỡ
Ta đếm từng thời gian
Chậm rơi mờ khói thuốc
Ray rứt nỗi mong chờ
Tim râm rang nhói buốt
Bơ vơ chìm theo mơ
Thôi thì thôi thế vậy
Ta về trong cơn say
 Chiều nay em không lại
Thương nhớ thương vơi đầy
                 NhatLe
 

 

Hits: 47

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Nông Dân và Bác Học

Người nông dân thách đố nhà bác học

Trong lúc đợi xe buýt, một nhà bác học tài giỏi nói với người nông dân cũng đang đợi xe rằng:

– Trong khi đợi xe chúng ta chơi trò đố nhau đi để giết thời giờ. Tôi học cao, bác là nông dân vậy tôi ăn bác một đồng thì bác ăn tôi 10 đồng nhé!bachocvanongdan

Bác nông dân suy nghĩ rồi gật đầu đồng ý. Nhà bác học đố trước:

– Tại sao bánh xe người ta làm tròn mà không làm vuông?

Người nông dân suy nghĩ một lúc, không được bèn lấy một đồng trả cho nhà bác học.

Nhà bác học hỏi tiếp:

– Tại sao chiếc tàu to lớn lại nổi được trên mặt nước?

Người nông dân chẳng hiểu gì cả và đành móc túi ra trả nhà bác học một đồng nữa.

Nhà bác học khoái chí đố tiếp:

– Vậy chớ nhờ gì mà máy bay bay được trên trời không bị rớt?

Người nông dân nghĩ “Phải chi ông đố lúa phân thì dễ, mấy cái này chẳng hiểu gì cả!” và đành lấy đồng bạc thứ ba trả cho nhà bác học và nói:

– Tới phiên tôi đố ông nhé! Vậy chớ con gì ban ngày bò lên núi bốn chân khi chiều thì bò xuống lại có tới chín chân?

Nhà bác học suy nghĩ dữ dội lục cả bộ óc vĩ đại đã chứa biết bao nhiêu thông tin về động vật cũng chẳng có con nào như thế và sau một hồi lâu đành móc 10 đồng trả người nông dân và hỏi:

– Vậy chớ con gì ban ngày bò lên núi bốn chân, chiều xuống núi lại có tới chín chân?

Người nông dân không trả lời mà chỉ lẳng lặng móc một đồng trả cho nhà bác học rồi nói:

– Tôi cũng không biết!!!

Hits: 39

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Chữ “LÀM” Của Người Phụ Nữ

Chữ “LÀM” của người phụ nữ 

Tình cờ đọc trên mạng tôi thấy người ta “bôi bác” đàn ông. Họ nói cuộc đời người đàn ông gắn liền với chữ “ĂN”.
Đại loại như là: Khi còn nhỏ thì “ăn học”. Xin tiền ba mẹ mua quà không được thì “ăn vạ”Lớn chút nữa thì “ăn chơi”, “ăn mặc”, “ăn diện” để tán tỉnh các cô. Lỡ “ăn nói bậy bạ” thì “ăn bạt tai”. Rồi thì “ăn hỏi”, “ăn cưới”, “ăn đời ở kiếp”. Khi vợ sắp sinh đành phải “ăn chay”.  Sau khi vợ sinh lại phải “ăn kiêng”.Khi bắt đầu chán vợ đâm ra “ăn vụng”. “ăn gian nói dối”. Nói với vợ là đi “ăn cơm khách” nhưng thực ra là đi “ăn bánh trả tiền”. Vợ mà biết được cho “ăn gậy”, đuổi ra khỏi nhà đi “ăn mày”. Vân vân và vân vân…Nghe mà tức anh ách!

Nhưng gẫm ra cũng đúng, mặc dù không đúng với tất cả mọi người. Trên đời cũng có nhiều đàn ông hiền lành, lo cho vợ con, có đồng nào đưa cho vợ đồng đó, vợ cho gì ăn nấy, không than vãn một câu như… tác giả bài viết này chẳng hạn. Nhưng nghe người ta bôi bác đàn ông tôi cũng thấy tức, càng nghĩ càng tức, tức anh ách.  Dự định “ăn miếng trả miếng”, tôi cũng cố nghĩ xem đàn bà “ăn” gì!!! Nghĩ mãi, tôi thấy phụ nữ chẳng thích hợp với chữ “ăn” tí ti nào cả, có chăng chỉ là “ăn hàng” nhưng chẳng bằng một chút của đàn ông “ăn nhậu”.

Vậy cuộc đời người phụ nữ gắn với chữ gì? Suy nghĩ đúng hai ngày ba đêm, lục hết sách vở tôi thấy chẳng có ai nói phụ nữ hợp với chữ gì. Các nhà hiền triết Đông Tây Kim Cổ thường bốc phụ nữ lên tận mây xanh. Tỷ như: “Trên đời này chỉ có hai cái đẹp: phụ nữ và hoa hồng”.– “Phụ nữ được tạo dựng nên để làm dịu sự hung hãn của người đàn ông”.-” Rung cảm, yêu, chịu đau khổ, hy sinh: những chữ này mãi mãi dệt nên trang đời của phụ nữ”.Nghe mà phát rét!
Trong một đêm phiền muộn (vì chưa nghĩ ra chữ thích hợp với người phụ nữ, “trả thù” cho cái việc bị nói “ham ăn”), tôi phát hiện ra rằng cuộc đời người phụ nữ gắn liền với chữ… “Làm”. Làm thì cũng có ba bảy đường làm, làm theo kiểu “nói điều hay làm việc tốt”, “làm đẹp” hay đơn giản chỉ là “làm việc”. Nhưng cũng có làm theo kiểu “làm bậy làm bạ”, “làm hung làm dữ” vân vân và vân vân.
Khác với chữ “ăn” hàm ý nhiều hư hỏng, chữ “làm” của người phụ nữ đa số là tuyệt vời. Không lẽ bạn chưa một lần thấy hạnh phúc bởi chữ “làm” của người phụ nữ của bạn hay sao?  Bởi thế thay vì tìm cách lên án phụ nữ, “trả thù” cho cái chữ “ăn” đáng ghét trên, tôi lại “trở giáo quy hàng” viết bài này ca ngợi phụ nữ.
Lúc còn nằm nôi, người-phụ-nữ-tương-lai thường biểu diễn “làm xấu” mang lại tiếng cười hạnh phúc cho cả gia đình. “Con làm xấu đi!” thế là đứa bé chun mũi, nhắm mắt… đúng là .. xấu thật. Cái trò chơi làm xấu này tiêu tốn không ít thời gian và tiếng cười của nhiều gia đình. Có điều lạ là trò chơi này chỉ có ở bé gái. Bạn có bao giờ thấy bé trai chơi trò “làm xấu” chưa?
Lớn hơn một chút khi đi mẫu giáo, lớp một, lớp hai, là “làm nũng”, con gái ở tuổi này làm nũng thì không ai bằng, lòng mình dịu lại, đang bực bội cũng phải chìu, phải không bạn. Mà cũng như làm xấu, làm nũng chỉ có ở bé gái thôi, bé trai mà làm nũng thì…không giống ai!Nhưng cũng cô bé hay làm nũng này, nếu không vừa ý sẽ “làm nung làm nẫy”, con gái làm nung làm nẫy thì đúng “ trời sợ”, “làm khó” cho bố mẹ.
Khó nhưng cũng cố chìu thôi bạn ạ, có con gái khổ như vậy đó! Mi ba mười bốn tuổi con gái đã biết “làm điệu”, “làm duyên làm dáng”, khiến không ít chàng trai mới lớn phải ngẫn ngơ.Lớn hơn chút nữa, khi có người để ý thì các cô thường “làm cao”, ra cái vẻ “Ta đây lo học là chính, nhà người liệu mà tránh xa nơi khác”.           
Thân hơn một chút, rủ đi chơi buổi đầu thì các cô lại “làm khó làm dễ” để “làm khổ” cánh đàn ông.Khi đã đến tuổi lập gia đình, mọi việc đều thuận lợi, chàng trai ngỏ lời cầu hôn thì thường bị các cô “làm lơ”. Nhưng khi thấy chàng trai lơ không nhắc đến nữa thì các cô lại nhất đình đòi “làm thiệt”.Thế là “làm lễ hỏi”, “làm lễ cưới”.
Cô gái ngày xưa lên xe hoa về nhà chồng để “làm vợ”, “làm dâu” và sau này là “làm mẹ”. Ngày xưa con gái đi làm dâu thường bị nhiều điều ấm ức, các bà mẹ chồng, có lẽ cảm thấy tình cảm đứa con trai dành cho mình bị san sẻ cho người khác nên thường quay sang “làm hung làm dữ” với cô con dâu mới, bởi thế mới này sinh nhiều bi kịch của làm dâu.

Thật thà cũng thể lái trâu
Thương nhau cũng thể nàng dâu, mẹ chồng

Câu ca dao đó đã nói lên phần nào quan hệ không mấy tốt đẹp giữa nàng dâu mẹ chồng. Nhưng dù khổ cực, ấm ức bao nhiều nàng dâu cũng chấp nhận và luôn hiếu thảo với mẹ chồng:
Phải đâu mẹ của riêng anh
Mẹ là mẹ của chúng mình đấy thôi
Mẹ tuy không đẻ không nuôi
Mà em ơn mẹ suốt đời chưa xong
Chắt chiu từ những ngày xưa
Mẹ sinh anh để bây giờ cho em
     Xuân Quỳnh
Có một chữ làm, đúng với nghĩa đen: “làm lụng”, “làm việc” thì người phụ nữ cũng không thua nam giới, có khi lại còn hơn:Có chồng ganh vác giang san nhà chồng.Khi gia đình gặp khó khăn, người phụ nữ sẳn sàng:
Quanh năm buôn bán ở mom song
Nuôi đủ năm con với một chồng
Lặn lội thân cò khi quảng vắng
Eo sèo mặt nước buổi đò đông
                         Trần Tế Xương
Công việc nhà, những công việc không tên cũng đều phải nhờ tay người phụ nữ: làm tiệc, làm bếp, làm cơm, làm rau, làm gà, làm vịt…Cả núi công việc phải làm để lo cho chồng và gia đình chồng nhưng người phụ nữ vẫn không quên thiên chức của mình, đó là “làm mẹ”.Kể từ khi hình thành trong bụng mẹ, đến khi đủ hình hài, chín tháng cưu mang, mẹ đã hy sinh xiết bao. Rồi khi vượt cạn mẹ có thể hy sinh cả mạng sống của mình để con ra đời lành lặn.
Đàn ông đi biển có đôi
Đàn bà đi biển mồ côi một mình
                              ca dao
Rồi khi nuôi con
Mẹ nuôi con biển hồ lai láng                           
Bên ướt mẹ nằm, bên ráo con lăn
Một đời vốn liếng mẹ trao
Cho con tất cả, mẹ nào giữ riêng
                             ca dao
Hai từ “làm mẹ” hàm chứa biết bao điều cao quý, thiên liêng: đó là suốt đời hy sinh, che chở, nuôi dưỡng, dạy dỗ con nên người, mẹ có thể hy sinh tất cả để con được hạnh phúc.

Khi con khôn lớn, thành gia thất, người phụ nữ bây giờ lại “làm mẹ chồng”, “làm mẹ vợ”.Rồi ngày cháu ra đời, người phụ nữ đó bây giờ được lên chức: “làm bà nội”, “làm bà ngoại”. Bà nội hay bà ngoại lại một lần nữa như làm mẹ, cũng thức suốt đêm, canh cho con, cho cháu ngủ, cũng bế bồng, ầu ơ ru cháu bằng tất cả tình thương.Nhiều năm trôi qua, nhiều thế hệ tiếp nối, người phụ nữ của ngày xưa có khi “làm bà Tổ” của một dòng họ.

Còn một chữ làm nữa mà tôi chưa nhắc đến trong phần trên, chữ làm khiến cho người phụ nữ đã đẹp lại càng đẹp hơn, đó là “làm đẹp”. Làm đẹp có lẽ được sinh ra cùng một lần với người phụ nữ.Nhiều người đàn ông trên thế gian này (may mắn là số đó không nhiều) lên án phụ nữ về chuyện quá chăm chút làm đẹp.
Có bao giờ bạn thấy người phụ nữ làm đẹp và đứng trước gương soi suốt ngày để ngắm mình không? chắc chắn là không. Người phụ nữ làm đẹp không phải cho họ mà là để cho đời, cho chúng ta đó hỡi những người đàn ông khờ khạo!. Vậy thì vì lẽ gì mà chúng ta lại lên án phụ nữ làm đẹp?
Để làm đẹp, người phụ nữ lại có hàng trăm việc phải làm: làm đầu (làm tóc), làm móng tay, làm móng chân, làm trắng da, làm môi, làm mắt, làm lông mày, làm lông mi và hàng tá cái làm khác.Làm xấu, làm nũng, làm nung làm nẫy, làm duyên làm dáng, làm điệu, làm cao, làm lơ, làm dâu, làm vợ, làm mẹ, làm đẹp…
Từ thủa trong nôi cho đến khi nhắm mắt xuôi tay, cuộc đời người phụ nữ luôn gắn với chữ “Làm”.

Nguồn : Internet

 

Hits: 57

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

HÁI HOA SEN

 

HÁI HOA SEN

Chèo thuyền
ra hái hoa sen
Búp hồng búp trắng
đua chen bên thuyền
Gương sen xanh biếc
làm duyên
Núp sau mâm lá
mắt nhìn long lanh
Tòa sen
mở cánh mong manh
Nhụy hương bát ngát
bình minh trong lành
Mái chèo tung nước
sóng xanh
Ngọc gieo trên lá
lung linh kết vòng
Chèo thuyền
định hái dăm bông
Nhìn sen thương quá
tay không chèo về
Lệ Vân (Indian Rocks Beach, Florida, 22-5-98)
 

Hits: 41

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Tuổi Bát Tuần

Tuổi Bát Tuần

   Trang Uyên

Hai mươi tuổi nữa thập nguyên trần
Thượng thọ thăng hoa tám chục xuân
Cổ thụ bóng che chòm thảo mộc
Thi gan đọ sức giữa phong trần
Gương soi sáng lạng đoàn thê tử
Giềng mối điều hòa thế chuyển luân
Cột trụ vững bền qua bỉ cực
Tạo niềm đức hạnh thục nhân quần.
 

Hits: 34

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Phủi đôi bàn tay trắng

 

Phủi  Đôi Bàn Tay Trắng 

                         Bốn mươi chín ngày của Má

Phủi đôi bàn tay trắng
buông trả lại cho đời
Bao giấc mộng xa vời
ta vẫn hằng ôm ấp
Từng đêm dài mênh mông
Mà lòng người thì cô độc
Còn chút hơi tàn tay vẫy gọi thân yêu
Thôi cũng  đừng thương  đừng tiếc
đừng  xót xa  nhiều
Hãy cố hiểu
Nước mắt chảy xuôi  cho dòng đời tiếp nối
Thương yêu nhau dù nẻo đường muôn vạn lối
Khó khăn chi cũng đừng vội nản lòng
Hẹn buổi tao phùng  cõi Tịnh  thong dong

Xuân Vũ (Mùa Thu 81)

Hits: 221

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

Có Những Việc Chính Mắt Mình Thấy Vẫn Không Hẵn Là Đúng

Có Những Việc Chính Mắt Mình Thấy Vẫn Không Hẵn Là Đúng

 Chuyện kể:

Khổng Tử có rất nhiều đệ tử, trong đó có hai người xuất sắc là Nhan Hồi và Tử Lộ. Nhan Hồi là người rất siêng năng , cần mẫn, sống giản dị, chất phát, người mà ta có thể tin tưởng được. Nhưng có điều Nhan Hồi chết rất sớm, 29 tuổi đầu bạc phơ, 32 tuổi thì mất.
Tử Lộ là người hiếu thảo. Cha mẹ già, người phải đi hái rau, gánh gạo thuê để nuôi cha mẹ. Sau khi cha mẹ chết được vua trọng dụng. Khi đã giàu sang thì cha mẹ không còn nữa, ông ngửa mặt lên trời mà than:
Cây muốn lặng mà gió không chịu ngừng
Con muốn phụng dưỡng cha mẹ nhưng không còn nữa
Thời buổi  loạn lạc, ai cũng bữa cháo, bữa rau. Thầy trò Khổng Tử cũng không ngoại lệ. Một hôm thầy trò về đến nước Tề, có một người nhà giàu nghe tiếng Không Tử đã lâu, kính trọng nên đem tặng cho ông một ít  gạo. Khổng Tử tin tưởng Nhan Hồi chân thật, khi nấu cơm sẽ không ăn lén ở trong nhà bếp( vì thật ra thời buổi khó khăn người ta dễ lừa thầy , phản bạn) vì thế ngài bảo Nhan Hồi đi nấu cơm, còn Tử Lộ thì dẫn một vài đệ tử nữa vào rừng để hái rau.  Khổng Tử ngồi trên nhà trên đọc sách, vô tình nhìn xuống nhà bếp thấy Nhan Hồi đang xới cơm và vắt một nắm cơm bỏ vào miệng ăn. Ông thật sự không tin vào con mắt của mình, người học trò mà ông đặt hết tin tưởng, chân thật, thế mà lại làm như vậy. Ông buồn và thất vọng vô . Sau khi Tử Lộ đem rau về nhà nấu xong , dọn ra ăn. Các đệ tử khoanh tay mời thầy ăn. Trước khi ăn thì Khổng Tử nói: Trong thời buổi loạn lạc, mà chúng ta được một bữa ăn như thế nầy thì thật là quá quí, thời buổi loạn lạc, đói khổ mà các trò không bỏ thầy đi cũng thật là quá quí…Nên khi thấy bữa ăn nầy thầy lại nhớ đến cha mẹ của thầy, vậy thầy xin các đệ tử cho thầy cúng cha mẹ trước rồi mới ăn có được không? Tất cả các đệ tử ai cũng nói được , chỉ có Nhan Hồi yên lặng. Sau đó Nhan Hồi xin phép thầy thưa chuyện: Khi chiều thầy giao cho con nấu cơm, cơm chín con dở nắp ra xới cơm, thì có gió lớn bay vào nhà bếp, bụi và mấy con sâu bay vào làm cho cơm bị dơ, con dích ra định bỏ .Nhưng con nghĩ thời buổi loạn lạc nầy cơm không đủ ăn, mình bỏ đi thì uổng, còn để lại thì huynh đệ phải ăn cơm dơ. Con xin phép thầy lúc nãy cơn đã ăn trước phần cơm dơ đó mà không bỏ phí, bây giờ con no rồi . Con cũng thưa thầy, cơm nầy con đã ăn trước nên không cúng được. Nghe chuyện xong đức Khổng Tử ngửa mặt lên trời than:
 Chao ôi! Thế ra trên đời nầy  có những cái đích mắt mình nhìn thấy,   cũng chưa chắc nó thật sự xấu, đúng như mình nghĩ. May quá, may mà Nhan Hồi nói ra, nếu không Khổng Tử nầy là một kẻ hồ đồ, đáng trách!!!…..
 
 

Hits: 56

Facebooktwittergoogle_pluspinterestlinkedin

KHUÔN MẶT VĂN NGHỆ MỚI